Tìm hiểu một vài nét nghệ thuật trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du

5 (100%) 1 vote

chuyên đề: Tìm hiểu một vài nét nghệ thuật trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du

Đặt mua tài liệu môn văn lớp 9, 10, 11, 12 TẠI ĐÂY.

Phần I: Đặt vấn đề

Bản quyền bài viết này thuộc về https://vanhay.edu.vn. Mọi hành động sử dụng nội dung web xin vui lòng ghi rõ nguồn

I: Lý do chọn chuyên đề:

” Truyện Kiều” của Nguyễn Du là một ngôi sao sáng chói nhất trong nền văn học cổ điển Việt Nam. Tác phẩm được xếp vào một trong những kiệt tác bất hủ của Văn học thế giới. Vị trí đó đã nói lên tất cả giá trị của ” Truyện Kiều”.

Xưa nay đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu phê bình lớn về ” Truyện Kiều” và đã có không ít những cách đánh giá, nhìn nhận khác nhau. Về nội dung tư tưởng còn có nhiều ý kiến khác nhau nhưng về nghệ thuật thì xưa nay ai ai cũng cho là tuyệt diệu.

Phải nói nét độc đáo nhất trong nghệ thuật ” Truyện Kiều” là bút pháp xây dựng nhân vật. Với tài năng sáng tạo bậc thầy, Nguyễn Du đã thành công trong việc xây dựng một hệ thống nhân vật đa dạng, phong phú và sinh động. Thành công của Nguyễn Du đã đánh dấu bước phát triển của nghệ thuật xây dựng nhân vật của loại hình tự sự trong Văn học Trung đại (đặc biệt là với thể loại Truyện Nôm), đồng thời cũng khẳng định sức sáng tạo tuyệt vời của Nguyễn Du trong quá trình chuyển đổi cốt truyện của Thanh Tâm Tài Nhân thành tác phẩm của mình.

Trong chương trình sách giáo khoa Ngữ Văn 9 hiện nay ” Truyện Kiều” của Nguyễn Du có một vị trí không nhỏ. Có một bài giành riêng cho giới thiệu tác giả; tóm tắt, nêu giá trị tác phẩm và 5 đoạn trích. Qua thực tế giảng dạy và tham khảo ý kiến của các đồng nghiệp đã từng giảng

 

“Truyện Kiều”, tôi thấy: khi tìm hiểu ” Truyện Kiều” các đồng chí đều thiên về phân tích giá trị nội dung của các đoạn trích, còn việc tìm hiểu giá trị nghệ thuật thì vẫn còn hời hợt chưa thực sự cho đây là một vấn đề quan trọng. Hơn nữa, đối với học sinh thì việc phân tích, tìm hiểu ” Truyện Kiều” là một vấn đề tương đối khó, đòi hỏi có một kỹ năng học tập phù hợp, cụ thể với thực tiễn giảng dạy của đặc trưng bộ môn.

Vì những lý do trên mà tôi quyết định chọn chuyên đề này. Trước hết là để tìm hiểu sâu sắc thiên tài nghệ thuật của Nguyễn Du trong ” Truyện Kiều”.

Hơn nữa tôi chọn chuyên đề này sẽ đóng góp một phần nhỏ bé về kinh nghiệm giảng dạy ” Truyện Kiều”, đồng thời giúp học sinh tìm hiểu, phân tích “Truyện Kiều” với cái nhìn toàn diện hơn.

II- Đối tượng – phạm vi nghiên cứu.

1- Đối tượng nghiên cứu: Một số nét nghệ thuật trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du.

2- Phạm vi nghiên cứu: Thế giới nhân vật trong  ” Truyện Kiều” và một vài nét sáng tạo về nghệ thuật miêu tả thiên nhiên và xây dựng nhân vật của Nguyễn Du trong  ” Truyện Kiều”.

III- Phương pháp nghiên cứu:

Trong quá trình nghiên cứu, tôi sử dụng các phương pháp sau:

1- Phương pháp thống kê.

– Bức tranh thiên nhiên trong Truyện Kiều chủ yếu tập trung ở đoạn trích”Cảnh ngày xuân”, “Kiều ở lầu Ngưng Bích”.

– Thế giới nhân vật trong Truyện Kiều đa dạng sinh động, đủ các loại người, chia làm hai tuyến nhân vật.

+ Tuyến nhân vật chính diện: Gia đình Thuý Kiều (Vương Ông, Vương Bà, Vương Quan, Thúy Kiều, Thuý Vân) Thuý Kiều, Từ Hải, sư Giác Duyên…

 

+ Tuyến nhân vật phản diện: Mã Giám Sinh, Tú Bà, Bạc Bà, Hoạn Thư, Sở Khanh, mụ mối, Hồ Tôn Hiến, Khuyển, Ưng….

+ Nhân vật trung gian: Thúc Ông, Thúc Sinh.

2- Phương pháp phân tích:

Tôi tiến hành tìm hiểu những thủ pháp nghệ thuật được Nguyễn Du sử dụng qua việc khảo sát, phân tích các bức tranh thiên nhiên, các khía cạnh: ngoại hình, hành động, ngôn ngữ, dáng điệu, cử chỉ và nội tâm ở những nhân vật tiêu biểu.

3- Phương pháp so sánh:

Để làm nổi bật sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Du trong Truyện Kiều, tôi tiến hành so sánh Truyện Kiều với một số Khúc Ngâm, các truyện Nôm, đặc biệt là so sánh với “Kim Vân Kiều truyện” tác phẩm văn học Trung Quốc mà Nguyễn Du đã dựa vào cốt truyện đó để sáng tạo Truyện Kiều.

4- Phương pháp khái quát hoá.

Để có cái nhìn đúng đắn về giá trị nghệ thuật “Truyện Kiều” trong lĩnh vực miêu tả bức tranh thiên nhiên và xây dựng nhân vật, tôi sử dụng phương pháp khái quát hoá, rút ra những kết luận cần thiết từ những biểu hiện cụ thể.

Phần II: Giải quyết vấn đề.

A- Bút pháp miêu tả thiên nhiên:

I- Miêu tả thiên nhiên trực tiếp.

Miêu tả là bút pháp khá quen thuộc đối với bất kỳ nhà văn hay nhà thơ nào dù ở nước ngoài hay trong nước. Nhờ bút pháp này mà nó làm cho mỗi bài văn, bài thơ thêm cụ thể hơn, sinh động hơn, gần gũi hơn, hấp dẫn hơn. Có rất nhiều loại bút pháp miêu tả: Có thể là tả cảnh, có thể là tả người… có thể tả trực tiếp, có thể tả gián tiếp (mượn cảnh để tả tình) và

không phải tác giả nào cũng thành công ở tất cả các loại bút pháp như vậy, nhưng riêng Nguyễn Du miêu tả là một thiên tài bậc thầy của nền văn học dân tộc.

Trong chương trình Ngữ Văn 9 bậc Trung học cơ sở, những nét sáng tạo nghệ thuật độc dáo của Nguyễn Du được thể hiện cụ thể qua mỗi đoạn trích trong “Truyện Kiều”.

– ở phần đầu đoạn trích “Cảnh ngày xuân” Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp miêu tả thiên nhiên trực tiếp.

“Ngày xuân con én đưa,

Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.

Cỏ non xanh tận chân trời,

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”.

Bốn câu thơ đầu Nguyễn Du đã mở ra một không gian nghệ thuật hữu sắc, hữu hương, hữu tình, nên thơ. Giữa bầu trời bao la, mênh mông là những cánh én bay qua, bay lại như “thoi đưa”. Cánh én ngày xuân thân mật biết bao. Hai chữ “đưa thoi” rất gợi hình, gợi cảm. Nhà thơ miêu tả cánh én như con thoi vút qua, vút lại chao liệng như muốn nói thời gian đang trôi nhanh, mùa xuân đang trôi nhanh, ngày vui trôi rất nhanh.

Sau cánh én “đưa thoi” là ánh xuân, là “thiều quang” của mùa xuân khi “chín chục đã ngoài 60”. Cách tính thời gian và miêu tả vẻ đẹp mùa xuân của các thi nhân xưa nay thật là hay và ý vị. Nào là “xuân hướng lão” (ức Trai), nào cảnh mưa bụi, tiếng chim kêu trong Đường thi, còn là “xuân hồng” (Xuân Diệu), “Mùa Xuân chín” (Hàn Mạc Tử) …với Nguyễn Du là mùa xuân đã bước sang tháng thứ ba, “thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi”. Hai chữ “thiều quang” gợi lên cái màu hồng của ánh xuân, cái ấm áp của khí xuân, cái mênh mông bao là của đất trời.

Nếu hai câu thơ trên là thời gian, là không gian xuân thoáng đạt, thì 2 câu dưới là bức hoạ tuyệt đẹp về mùa xuân.

“Cỏ non xanh tận chân trời,

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”

Vần cổ thi Trung Hoa được Tố Như vận dụng một cách sáng tạo: “Phương thảo liên thiên bích – lê chi sổ điểm hoa”: Hai chữ “Trắng điểm” là nhân tự, cách chấm phá điểm xuyết của thi pháp cổ gợi lên vẻ đẹp thanh xuân trinh trắng của thiên nhiên cỏ hoa; bút pháp nghệ thuật phối sắc tài tình: Thảm cỏ xanh non trải rộng tới chân trời là gam màu nền cho bức tranh xuân. Trên nền màu xanh non ấy điểm xuyết một vài bông hoa lê trắng. Màu sắc có sự hài hoà đến tuyệt diệu. Tất cả đều gợi lên vẻ đẹp riêng của mùa xuân: mới mẻ, tinh khôi giầu sức sống.

Như vậy, bằng vài nét chấm phá, miêu tả bậc thầy “Cảnh ngày xuân” trở thành bức tranh xuân hoa lệ, là vần thơ tuyệt bút mà Nguyễn Du trao tặng cho đời, điểm tô cho cuộc sống của mỗi chúng ta. Phải chăng thi sĩ Chế Lan Viên đã học tập Tố Như để viết nên vần thơ xuân tuyệt đẹp này:

“Tháng giêng hai xanh mướt cỏ đồi,

Tháng giêng hai vút trời bay cánh én…”

(“ý nghĩ mùa xuân”)

Đó là bức tranh xuân được Nguyễn Du cảm nhận vào buổi sáng, còn bức tranh xuân trong buổi chiều thì sao?

II- Tả cảnh ngụ tình:

Thi nhân xưa thường hay mượn cảnh để tả tình, nhìn cảnh mà thấy được tình. Trong bức tranh “Cảnh ngày xuân” cũng vậy:

“Tà tà bóng ngả về tây,

Chị em thơ thẩn dan tay về.

Bước dần theo ngọn tiểu khê,

Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.

Nao nao dòng nước uốn quanh,

Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.”

Bức tranh ở đây không còn tươi rói, tinh khôi nữa mà dường như đã nhuốm màu tâm trạng. Nguyễn Du thật khéo khi miêu tả thiên nhiên, vẫn là cây cầu nhỏ, khe nước nhỏ, vẫn là cái thanh, cái dịu của mùa xuân, nhưng ông đã tả chúng dưới một góc nhìn khác, một thời điểm khác, nên giữa cảnh và tình có sự giao hoà đồng điệu với nhau. (Trong cái “nao nao” của dòng nước như có cả cái nao nao của lòng Kiều vì sự linh cảm).

Nguyễn Du dùng hàng loạt từ láy để tả sắc thái cảnh vật và tâm trạng của nhân vật: tà tà, thơ thẩn, thanh thanh, nao nao, nho nhỏ, ta như thấy được cảm giác bâng khuâng, xao xuyến của chị em Thúy Kiều trên đường trở về sau một ngày du xuân.

Bút pháp tả cảnh ngụ tình ta không chỉ gặp trong “cảnh ngày xuân” mà ta còn thấy trong đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”.

“Trước lầu Ngưng Bích khoá xuân,

Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung.

Bốn bề bát ngát xa trông,

Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia.”

Bức tranh lầu Ngưng Bích có những cồn cát nhấp nhô, bát ngát, những bụi sắc đỏ thổi bốc lên và xa xa là những dãy núi non trùng điệp và có cả ánh trăng. Cảnh thiên nhiên mêng mông, vắng lặng, trơ trọi, rợn ngợp ở lầu Ngưng Bích là để làm nổi bật tâm trạng, nỗi buồn, niềm cô đơn buồn tủi của nàng Kiều.

Có thể nói bức tranh trước lầu Ngưng Bích không còn đơn thuần là bức tranh thiên nhiên mà là bức tranh “tâm cảnh” – Trong cảnh có tình,

trong tình có cảnh. Thi  nhân xưa đã từng nói:

“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?”.

Kiều đang trong tâm trạng buồn cô đơn tê tái nên nàng nhìn đâu cũng thấy buồn. Tám câu cuối trong đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” Nguyễn Du tả khung cảnh thiên nhiên xung quanh lầu Ngưng Bích là để tả tâm trạng Thuý Kiều. Đây là một bức tranh phong phú và sinh động về ngoại cảnh và tâm cảnh. Nổi bật trong đoạn thơ là tâm trạng đau buồn da diết của Thuý Kiều:

“Buồn trông cửa bể chiều hôm,

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?”

Cánh buồn thấp thoáng xa xa trên mặt biển trong buổi chiều tà gợi lên ở nàng nỗi buồn da diết về quê nhà xa cách hay là trông ngóng một cái gì mơ hồ sẽ đến nhưng vô vọng.

“Buồn trông ngọn nước mới sa,

Hoa trôi man mác biết là về đâu?”

Phải chăng một cánh hoa trôi giữa dòng nước mênh mông là buồn về số phận “hoa trôi bèo dạt” của nàng?

“Buồn trông nội cỏ rầu rầu,

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.”

Cảnh tượng cánh đồng cỏ úa tàn, chân mây mặt đất mờ mịt, xanh xanh phải chăng là nỗi buồn thương vô vọng của nàng?

“Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.”

Gió cuốn mặt duềnh làm cho sóng vỗ ầm ầm …Cảnh tượng ấy “kêu quanh ghế ngồi” là tâm cảnh, nàng cảm thấy như sóng vỗ dưới chân mình. Đây là tâm trạng hãi hùng, lo sợ trước những tai hoạ đang rình rập ập xuống đầu nàng.

Như vậy, bằng nghệ thuật tả cảnh ngụ tình tài hoa, độc đáo, Nguyễn Du đã khắc hoạ được một bức tranh sinh động về ngoại cảnh và tâm cảnh, trong đó nổi lên tâm trạng nàng Kiều bề bộn bao nỗi buồn đau, chua xót, lo sợ, vô vọng…

B- Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du:

I- Miêu tả nhân vật qua ngoại hình.

1- Bút pháp tương trưng, ước lệ.

Đây là một loại bút pháp khá quen thuộc của văn học cổ Việt Nam được thể hiện rõ ở những nhân vật chính diện. Trong “TruyệnKiều” ngoại hình nhân vật là những qui phạm, những hình ảnh, chữ nghĩa có sẵn, tiêu biểu là trong nghệ thuật miêu tả: Thuý Kiều, Thuý Vân, Kim Trọng, Từ Hải.

Trong đoạn trích “chị em Thuý Kiều”, trước khi miêu tả vẻ đẹp của từng người, Nguyễn Du đem đến cho chúng ta những cảm nhận chung về vẻ đẹp của hai chị em. Đúng là những trang tuyệt sắc giai nhân:

“Đầu lòng hai ả tố nga,

Thuý Kiều là chị em là Thuý Vân.

Mai cốt cách tuyết tinh thần,

Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”.

Bút pháp ở đây mang tính ước lệ, tượng trưng, tác giả mượn vẻ đẹp của tự nhiên để nói lên vẻ đẹp của con người, cả hai chị em đều có vóc dáng thanh tao, tâm hồn trong trắng như tuyết. Song mỗi người lại có một vẻ đẹp riêng và đều đạt đến độ hoàn mỹ “mười phân vẹn mười”.

ở đây Thuý Vân là:

“Vân xem trang trọng khác vời,

Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang.

Hoa cười ngọc thốt đoan trang,

Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da.”

Không chỉ tươi tắn trẻ trung mà còn kiều diễm. Nguyễn Du lấy thiên nhiên làm tiêu chuẩn cho sắc đẹp của con người. ở đây, Thuý Vân được so sánh với trăng, hoa, mây, tuyết, ngọc – những biểu tượng của thiên nhiên. Thuý Vân khuôn mặt tròn trịa, đầy đặn, sáng đẹp như trăng rằm, tiếng nói trong như ngọc, mái tóc mượt mà óng ả hơn mây, da trắng hơn tuyết. Đó là vẻ đẹp của một cô gái phúc hậu, đoan trang, một vẻ đẹp khiến thiên nhiên phải nhún nhường, phải chịu thua bức chân dung đẹp và có hồn, vừa bộc lộ tính cách, vừa dự báo số phận nhân vật: một tương lai êm đềm, hạnh phúc sẽ đến với Thuý Vân, chỉ có thể có được ở con người mắt nhìn người sâu sắc và nghệ thuật miêu tả bậc thầy của Nguyễn Du.

Chân dung Thuý Kiều nổi bật trên nền chân dung Thuý Vân:

“Kiều càng sắc sảo mặn mà,

So về tài sắc lại là phần hơn.

Làn thu thuỷ nét xuân sơn,

Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”.

Thuý Vân đã được miêu tả như một cô gái đẹp hoàn hảo. Thuý Kiều vượt lên trên cái đẹp hoàn hảo ấy để trở thành một cái đẹp tuyệt đỉnh. Vẫn bằng bút pháp ước lệ, tượng trưng, khi tả Thuý Kiều, Nguyễn Du chuyển sang chấm phá theo kiểu “điểm nhãn”, cốt nêu bật cái thần của vẻ đẹp Thuý Kiều, tập trung vào đôi mắt:

“Làn thu thuỷ nét xuân sơn,

Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”.

Đôi mắt Kiều được ví như ” làn nước mùa thu”, làn nước mùa thu vừa trong sáng, vừa long lanh, vừa dợn sóng, lại được ẩn dưới nét lông mày thanh tú, mền mại như dẫy núi mùa xuân, càng thêm cái hài hoà kiều diễm. Quả là, Kiều có vẻ đẹp “sắc sảo mặn mà” nàng không chỉ là bậc mĩ nhân có thể khiến cho”thành nghiêng nước đổ ” nàng còn có sự sắc sảo về

trí tuệ, mặn mà về tâm hồn. Nếu vẻ đẹp của Thuý Vân khiến cho thiên nhiên phải nhường nàng, thì vẻ đẹp của Thuý Kiều làm cho hoa cũng phải “ghen”, liễu cũng phải “hờn”.

Ca dao từng có câu:

“Một vừa hai phải ai ơi,

Tài tình chi lắm cho trời đất ghen”.

Nguyễn Du cũng linh cảm như vậy về số phận nàng Kiều và ông đã lồng sự linh cảm đó trong bút pháp tài hoa miêu tả nàng. Vẻ đẹp của nàng đã làm cho tạo hoá thiên nhiên phải ghen ghét đố kị nên số phận nàng sẽ có éo le, đau khổ, gian truân…

Nhân vật tiếp theo cũng được Nguyễn Du miêu tả với ước pháp ước lệ, tượng trưng là Kim Trọng được miêu tả với nét bút phác hoạ về các phương diện cần thiết khi nói đến một nhân vật thư sinh phong kiến: con tuấn mã; chú tiểu đồng, trang phục, danh tính, gia thế tài năng, học thức. Chàng xuất hiện :

” Đề huề lưng túi gió trăng,

Sau chân theo một vài thằng con con.

………..

Họ Kim tên Trọng vốn nhà trâm anh.

Nền phú hậu bậc tài danh,

Văn chương nết đất thông minh tính trời.

Phong tư tài mạo tót vời,

Vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa.”

Nguyễn Du đã giành cho chàng những ngôn ngữ đẹp nhất, trang trọng nhất, những tình cảm ưu ái nhất khi nói về chàng. Chàng không những là người phong nhã, thanh lịch mà còn có một xuất thân quyền quý “nhà trâm anh”, “nền phú hậu”, một người có sự phú bẩm rộng rãi của tạo hoá, sự phong phú về tài hoa, trí tuệ “phong tư tài mạo” cũng như trong ứng

xử tuyệt vời của chàng. Chàng được xây dựng như một người mẫu lý tưởng.

Và đây, nhân vật Từ Hải, một nhân vật xuất hiện trước mắt mọi người và Thuý Kiều với tầm vóc, dung mạo khác thường:

“Râu hùm, hàm én, mày ngài,

Vai năm tấc rộng thân mười thước cao”.

Ngôn ngữ miêu tả ngoại hình ở đây cũng không vượt ra ngoài tính chất công thức ước lệ với những chi tiết đã được quan niệm thẩm mỹ phong kiến quy định cho loại nhân vạt anh hùng. Nguyễn Du đã khắc hoạ nhân vật bằng những nét khoẻ mạnh, cao lớn, đường bệ lẫm liệt đã nói lên vẻ phi thường, vẻ hơn đời của Từ Hải.

“Đường đường một đấng anh hào,

Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài”

Vẻ đẹp của Từ Hải được Nguyễn Du miêu tả với những từ tôn xưng: Đấng anh hào; những từ có khí phách mạnh mẽ: Đường đường, hơn sức, gồm tài, đội trời, đạp đất, vẫy vùng…

Nói tóm lại, cũng là bút pháp ước lệ, tượng trưng, nhưng mỗi nhân vật lại có một nét khác biệt trong tính cách: Thuý Vân đoan trang phúc hậu; Thuý Kiều sắc sảo mặn mà, Kim Trọng hoà hoa phong nhã; Từ Hải gắn với tính cách phi thường của bậc anh hùng hảo hán. Tất cả những nhân vật chính diện này Nguyễn Du đều giành cho họ những tình cảm trân trọng, đẹp đẽ, ông dùng những từ ngữ đẹp nhất để ngợi ca họ.

2- Bút pháp hiện thực.

Bút pháp này được sử dụng ở những nhân vật phản diện đó là những nét vẽ chân thực, sinh động có tính cá thể, tạo nên những diện mạo đặc sắc: Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Tú Bà…Mã Giám Sinh là một nhân vật tiêu biểu được chọn giảng trong chương trình sách giao khoa ngữ văn 9.

ở đoạn trích “Mã Giám Sinh mua Kiều” chân dung của y hiện lên thật nực cười:

“Quá niên trạc ngoại tứ tuần,

Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao”.

Câu thơ miêu tả khách quan mà vẫn không che dấu được cái ý ngầm mỉa mai bên trong. Cách phục sức dụng công cố làm ra vẻ phong lưu, lịch sự của tay con buôn đó phảng phất tính giả tạo và có phần trai lơ, đàng điếm. Miêu tả ngoại hình anh chàng họ Mã nhưng không thể xác định được chính xác về dung mạo như Kim Trọng, Từ Hải… tác giả chỉ chú trọng miêu tả phục sức bề ngoài già mà cố tô cho thành trẻ, là con buôn nhưng lại muốn mượn vẻ phong lưu của một công tử đi hỏi vợ. Những từ “nhẵn nhụi”, “bảnh bao” vốn đã không hàm ý đẹp lại có ở một kẻ ngoại tứ tuần, càng gợi một cái gì không lương thiện, có ý chế giễu, mỉa mai. Còn trong “Kim Vân Kiều truyện” Thanh Tâm Tài Nhân chỉ giới thiệu qua nhưng là một lời miêu tả khá ưu đãi với Mã Giám Sinh: “Mụ Hàm nói xong đi ra, hồi lâu đưa mấy người đến, trong bọn có một người đẹp đẽ, bước tới chào và ngắm nghía Thuý Kiều mãi”.

Như vậy, ta có thể thấy chỉ bằng vài nét chấm phá Nguyễn Du đã phác hoạ khái quát chân dung của một loại người xấu xa trong xã hội, dung mạo của một con buôn lưu manh chuyên nghiệp, bất nhẫn vì tiền.

II- Miêu tả nhân vật qua cử chỉ, hành động.

So với thế giới nhân vật trong “Kim Vân Kiều truyện” hành động của các nhân vật trong “Truyện Kiều” chỉ được kể lại vắn tắt nhưng vẫn bộc lộ rõ bản chất từng nhân vật trong quá trình sáng tác Nguyễn Du đã lược bỏ những cử chỉ hành động không phù hợp với tính cách nhân vật đồng thời ông cũng sáng tạo thêm nhiều những chi tiết mới để soi sáng cho tính cách. ở phần này, tôi lựa chọn một số nhân vật với những cử chỉ, hành động tiêu biểu để thể hiện tính cách.

Mã Giám Sinh sau khi làm lễ “vấn danh” được mụ mối đưa vào “lầu trong” lúc này bản chất con người hắn mới dần dần được bộc lộ:

“Ghế trên ngồi tót sỗ sàng,”

Chỉ bằng cử chỉ “ngồi tót” Nguyễn Du đã phơi bày chân tướng vô học bản chất con buôn của Mã Giám Sinh. Đó là một cử chỉ vội vàng và khiếm nhã, không phù hợp với địa vị người đi hỏi vợ và không đúng với phẩm cách văn hoá của một Giám Sinh.

Cũng cùng bọn người xấu xa, lừa lọc, Sở Khanh đã trở thành một lỗi lo sợ cho những bạn gái nào đang độ tuổi yêu đương… chỉ bằng một hành động “lẻn”, một cử chỉ “lẩm nhẩm gật đầu”, Nguyễn Du đã lột trần bộ mặt đáng ghê sợ của Sở Khanh khi đánh lừa Kiều:

“Tường đông lay động bóng cành,

Rẽ song đã thấy Sở Khanh lẻn vào”.

Rồi nghe Kiều ân cần kể lể, hắn:

“Lắng nghe lẩm nhẩm gật đầu,

Ta đây nào phải ai đâu mà rằng”.

Cử chỉ “lẩm nhẩm” của Sở Khanh có một cái gì đó rất ám muội, không được ngay thẳng nên nó không mang dáng vẻ của một con người tử tế.

Đó là cử chỉ của những loại người lưu manh, xảo trá còn Hồ Tôn Hiến, một viên quan đại thần thì sao? Hắn được sai đi dẹp loạn đã tìm cách mua chuộc Kiều, lừa hại chết Từ Hải. Sau đó, hắn còn ép Kiều hầu hạ dưới màn, làm nhục Kiều:

“Nghe càng đắm, ngắm càng say,

Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình”.

Đằng sau vẻ uy nghiêm của một viên quan đại thần, trước vẻ đẹp của Kiều, Hồ Tôn Hiến cũng phải “ngây vì tình”, hành động “ngây” đã bộc lộ rõ một hình ảnh si mê thấp hèn…

Ngoài những cử chỉ của những loại người trên trong “Truyện Kiều” chúng ta còn thấy có cử chỉ “xăm xăm” của Thuý Kiều, “thoăn thoắt” của

Kim Trọng khi họ đến với nhau. Nhân dịp gia đình Kiều về quê mừng thọ đã cho rằng đây một thời cơ tốt để gặp Kiều:

“Thời chân chân thức sẵn bày,

Gót sen thoăn thoắt dạo ngang mái tường”.

Còn Kiều, vì tình yêu, vì khao khát hạnh phúc, được tâm sự với người yêu, nàng đã:

“Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình”.

Với cử chỉ “xăm xăm”, “thoăn thoắt”, Kiều và Kim Trọng đã bộc lộ rõ họ là những con người dám sống cho tình yêu, họ đã vượt ra khỏi lễ giáo phong kiến để hành động theo sự mách bảo của trái tim.

Tóm lại, những từ “tót”, “lẻn”, “lẩm nhẩm”,”xăm xăm”, “thoăn thoắt”, là những từ rất chính xác, rất đắt chỉ có ở Nguyễn Du, chứ không có ở “Kim Vân Kiều truyện”. Nhờ thế nhân vật trong “Truyện Kiều” hiện lên cụ thể, sinh động hơn nhiều so với nhân vật của Thanh Tâm Tài Nhân.

Với Nguyễn Du, miêu tả nhân vật qua nội tâm, khám phá các trạng thái tâm lý của một con người đã trở thành một yếu tố đặc biệt quan trọng để xây dựng tính cách và đã có thành tựu rực rỡ.

III- Miêu tả nội tâm nhân vật qua ngôn ngữ tự sự:

ở đoạn “Mã Giám Sinh mua Kiều” trong cảnh mua bán Thuý Kiều là hiện thân của con người lương thiện bị chà đạp của tài sắc bị dập vùi thảm thương. Nguyễn Du càng căm ghét tên buôn người Mã Giám Sinh bao nhiêu thì càng cảm thương sâu sắc trước nỗi đau xót nhục nhã ê chề của cô gái tài hoa bấy nhiêu, Kiều là một trang quốc sắc thiên hương, vậy mà bị đem ra mua bán như món hàng ngoài chợ. Nguyễn Du kể mà như nhập vào nhân vật, cũng đau sót với nhân vật:

“Nỗi mình thêm tức nỗi nhà,

Thềm hoa một bước lệ hoa mấy hàng.

Ngại ngùng dín gió e sương,

Ngừng hoa bóng thẹn trông gương mặt dầy.

Mối càng vén tóc bắt tay,

Nét buồn như cúc, điệu gầy như mai”.

Sáu dòng thơ mô tả nỗi uất ức, xót xa, tủi nhục của một trang tuyệt sắc giai nhân trước sự mua bán trơ trẽn của bọn buôn người. Từ đầu đến cuối, Kiều không hề nói một lời, chỉ có nỗi buồn hiện ra qua từng bước chân, nét mặt. ở đoạn này trong “Kim Vân Kiều truyện” Thanh Tâm Tài Nhân để Thuý Kiều lên tiếng năm lần, trong đó có hai lần tham gia vào mặc cả như sau:

“Thuý Kiều nói:

– Bán mình mà không được việc thì bán để làm gì?

Người ấy nói:

– Thôi xin đưa bốn trăm lạng.

Thuý Kiều nói:

– Không phải năm trăm lạng là không được”.

Rõ ràng sự câm lặng, những giọt nước mắt lặng lẽ của Thuý Kiều, trong Truyện Kiều của Nguyễn Du hoàn toàn phù hợp với hoàn cảnh và tâm trạng bi kịch, với tính cách của nàng.

Đoạn “Thúc Sinh từ biệt Thuý Kiều”, bút pháp miêu tả nội tâm nhân vật của Nguyễn Du lại hiện lên rõ nét:

“Người lên ngựa kẻ chia bào,

Rừng phong thu đã nhốm màu quan san.

Dặm hồng bụi cuốn chinh an,

Trông người đã khuất đã mấy ngàn dây xanh.

Người về chiếc bóng năm canh,

Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.

Vầng trăng ai xẻ làm đôi,

Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường”.

Đoạn thơ nói lên sự chia biệt giữa Thúc Sinh và Thuý Kiều. Đây là một cuộc chia cách đầy lưu luyến giữa một đôi trẻ. Họ đã từng có những tháng ngày bên nhau đầy hạnh phúc mặn nồng. Mặc dù, Thúc Sinh không phải là mối tình đầu lãng mạn cao đẹp như với chàng Kim, nhưng ở bên Thúc Sinh, Kiều có một cuộc sống êm ấm, trong sạch, hoà thuận cả hai cùng không muốn rời nhau nhưng họ vẫn phải xa nhau. Lần này Thúc Sinh từ biệt Thuý Kiều để về nói cho Hoạn Thư biết việc mình đã lấy Kiều làm lẽ. Kiều linh cảm cuộc chia tay lành này lành ít giữ nhiều. Vì thế mà “người lên ngựa” đã đi rồi, chỉ còn lại mình Kiều với nỗi buồn chia cách. Thiên nhiên quanh nàng cũng trở nên mênh mông dàn trải, hiu hắt: một mầu quan san (mầu của chia ly, cách biệt), một ngàn dâu vô tận, một vầng trăng đơn chiếc, không trọn vẹn…cũng nói về cảnh chia ly, trong “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn cũng có hình ảnh tương tự:

“Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy,

Thấy xanh xanh biếc mấy ngàn dâu.

Ngàn dâu xanh ngát một mầu,

Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai…”

Trong thơ của Nguyễn Du Kiều hiện lên với những tâm sự rất chân thành sâu sắc, điều đó chứng tỏ Nguyễn Du đã phải nhập thân vào nhân vật mới viết được những dòng xúc động như thế.

Đoạn miêu tả tiếng đàn của Kiều khi bị Hồ Tôn Hiến làm nhục sau khi lừa Kiều, xúi giục Từ Hải ra hàng và chàng đã bị chết đứng:

“Một cung gió thẩm mưa sầu,

Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay”.

Nguyễn Du đã dùng tiếng đàn bi thảm “gió thảm mưa sầu”, “nhỏ máu” để cụ thể hoá tâm trạng và vận mệnh của Kiều. Trong các lần gẩy đàn của Kiều, không lần nào tiếng đàn bi thiết, đau thương như lần này. Tiếng đàn bật máu, tiếng đàn mang cái chết của Từ Hải và cái chết trong

tâm hồn Kiều. Một cõi lòng đã dập tắt mọi niềm hạnh phúc, ước mơ. Chúng ta thấy dường như Nguyễn Du cũng đang tan nát cõi lòng, cũng đang nhỏ máu tâm hồn cùng nàng Kiều.

Qua những đoạn thơ trên, Thuý Kiều hiện lên với tất cả trạng thái phức hợp: Có nỗi buồn tủi, xót xa, đau đớn, ê chề, hổ thẹn, nhớ nhung với những rung động rất đời, rất thực.

Như vậy, có thể nói với bút pháp miêu tả bậc thầy, Nguyễn Du đã xây dựng lên chân dung Thuý Kiều không chỉ tuyệt thế giai nhân mà còn có thế giới nội tâm phong phú, sinh động, khiến nàng trở nên gần gũi với đời thực hơn – điều này chỉ có ở Nguyễn Du chứ không thể có trong Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân – Trung Quốc.

IV- Miêu tả nội tâm nhân vật qua ngôn ngữ độc thoại:

ở đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” Nguyễn Du thành công khi sử dụng loại ngôn ngữ độc thoại nội tâm để khám phá chiều sâu tư tưởng, tình cảm con người, hiểu được tâm trạng nỗi niềm của Kiều khi ở lầu Ngưng Bích:

“Tưởng người dưới Nguyệt chén đồng,

Tin sương luống những rầy trông mai chờ”.

Người đầu tiên xuất hiện trong nỗi nhớ của Kiều là chàng Kim, nàng tưởng nhớ hình ảnh hai người uống rượu thề nguyện dưới đêm trăng mới hôm nào, trước đó:

“Vầng trăng vằng vặc giữa trời,

Đinh ninh hai miệng một lời song song”.

Và Kiều thấy thương Kim Trọng vẫn chưa biết Kiều đã không giữ trọn lời thề, vẫn đêm ngày trông chờ nàng một cách uổng công. Từ nhớ chàng Kim, nàng lại thấy thương mình:

“Bên trời góc bể bơ vơ,

Tấm son gột rửa bao giờ cho phai?”.

Nàng thấm thía với tình cảnh bơ vơ, trơ trọi của mình nơi “bên trời góc bể” và nuối tiếc mối tình đầu trong trắng, “tấm son” ở đây là tấm lòng chung thuỷ sắc son của Thuý Kiều đối với Kim Trọng. Bao giờ có thể quên được mối tình đó. Cũng có thể hiểu tấm lòng trong trắng của Thuý Kiều bị dập vùi, hoen ố, biết bao giờ mới có thể gột rửa được?

Như vậy, ta có thể thấy Kiều đã nhớ Kim Trọng với một tâm trạng đau đớn, xót xa, nàng quả là một người tình chung thuỷ.

Trong dòng suy nghĩ miên man, nàng hết nhớ người yêu lại nhớ đến cha mẹ:

“Xót người tựa cửa hôm mai,

Quạt nồng ấm lạnh những ai đó giờ?

Sân lai cánh mấy nắng mưa,

Có khi gốc tử đã vừa người ôm”.

Kiều đã hình dung ra cảnh tượng sớm hôm cha mẹ tựa cửa ngóng trông tin tức của nàng. Nàng lại day dứt không nguôi là giờ đây ai là người phụng dưỡng cha mẹ đang ngày một già yếu.

Chỉ bốn câu thơ độc thoại nội tâm, Nguyễn Du đã khắc hoạ được tấm lòng hiếu thảo của Thuý Kiều đối với cha mẹ.

Suốt quãng đời mười lăm năm đoạn trường lưu lạc, Nguyễn Du đã nhiều lần để Kiều độc thoại để từ đó bộc lộ chính mình.

Có lúc, nàng đau đớn, dằn vặt, xót xa sau những đêm bướm lả ong lơi và cuộc say đầy tháng:

“Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh,

Giật mình mình lại thương mình xót xa”.

Có khi nàng băn khoăn, trăn trở, hãi hùng về cuộc sống, về tương lai, về thân phận luôn ám ảnh day dứt nàng:

“Một mình lưỡng lự canh chày,

Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh”.

Rồi khi nàng khuyên Từ Hải ra hàng, ngôn ngữ độc thoại đã bộc lộ rõ những nét tâm lý rất thực của một cô gái nửa đời nếm trải đủ mùi đắng cay:

“Nghĩ mình mặt nước cánh bèo,

Đã nhiều lưu lạc lại nhiều gian truân.

Bằng tay chịu tiếng vương thần,

Thênh thênh đường cái thanh vân hẹp gì!

Công tư vẹn cả hai bề,

Dần dà rồi cũng liệu về cố hương.

Cũng ngồi mệnh phụ đường đường,

Nở nang mày mặt rỡ ràng mẹ cha…”.

Qua đoạn thơ, ta thấy tâm lý của Kiều hiện lên rất thực: nàng biết khi Từ Hải ra hàng thì phải chịu thiệt thòi, phải mang tiếng vương thần, song bên cạnh đó là cả một tương lai tươi sáng, rực rỡ đã nói lên nhiều điều lợi, dù sao Kiều chỉ là một nạn nhân mà nguyện vọng duy nhất là được sống yên ổn, lương thiện và trong sạch.

Có thể nói với những yếu tố ngôn ngữ độc thoại như trên, nàng Kiều hiện lên như một người trần tục với tất cả những tình cảm, suy nghĩ, lo toan rất thực, rất đời thường, nàng trở nên gần gũi với người đọc hơn. Đạt được điều đó phải chăng đó chính là trình độ bậc thầy của Nguyễn Du trong việc khám phá thế giới nội tâm con người, đặc biệt là những người phụ nữ.

V- Khắc hoạ tính cách nhân vật qua ngôn ngữ đối thoại.

Để nhân vật của mình được hiện lên đầy đủ, toàn diện, Nguyễn Du đã miêu tả họ với cái nhìn nhiều chiều, có khi là miêu tả ngoại hình, có khi miêu tả nội tâm, có khi lại thông qua ngôn ngữ đối thoại của họ để thấy được tính cách sống động của mỗi nhân vật.

ở đoạn trích “Thuý Kiều báo ân, báo oán” ngôn ngữ đối thoại được thể hiện rõ ràng hơn cả. Có hai cuộc đối thoại: đối thoại giữa Kiều với Thúc Sinh và đối thoại giữa Kiều với Hoạn Thư và giữa Hoạn Thư với Kiều.

Kiều được Từ Hải – người anh hùng cứu ra khỏi lầu xanh, giúp nàng báo ân, trả oán. Đưa nàng từ thân phận của một kỹ nữ chốn lầu xanh nhơ bẩn lên thân phận của một mệnh phụ phu nhân, bước lên địa vị một quan toà cầm cán cân công lý. Trong phiên toà nàng cho gọi những người đã từng có ân, có oán với nàng đến.

Người đầu tiên được Kiều mời đến là Thúc Sinh, thấy hình ảnh tội nghiệp của Thúc Sinh nàng đã cất lên tiếng hàm ơn:

“Nàng rằng: Nghĩa nặng nghìn non,

Lâm Tri người cũ chàng còn nhớ không?

Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng,

Tại ai há dám phụ lòng cố nhân?”.

Rõ ràng là Kiều vẫn rất nhớ tấm lòng và sự giúp đỡ mà Thúc Sinh đã giành cho nàng trong cơn hoạn nạn. Nàng gọi đó là “nghĩa nặng nghìn non”. Nghĩa là nàng vẫn nhớ tới công ơn của Thúc Sinh đã đưa Kiều ra khỏi lầu xanh, cứu nàng thoát khỏi cuộc đời ô nhục đem lại cuộc sống gia đình êm ấm.

Đối thoại với Thúc Sinh, Kiều nói bằng một ngôn ngữ rất trang trọng: “nghĩa nặng nghìn non”, “chẳng vẹn chữ tòng”…hầu hết là những từ Hán Việt, lại dùng cả điển cố… Cách nói đó phù hợp với chàng thư sinh họ Thúc và biểu lộ được tấm lòng biết ơn chân thành của Kiều.

Thuý Kiều cũng nói với Thúc Sinh rằng: Kẻ gây ra sự chia cách giữa hai người không phải do chàng mà là do vợ chàng. Nói với Thúc Sinh về Hoạn Thư, Kiều không sao nguôi được sự oán giận với những khổ đau mà Hoạn Thư đã gây ra cho nàng, vết thương đó còn đang quá xót xa trong lòng nàng, cho nên nàng không thể không cả giận:

“Vợ chàng quỷ quái tinh ma,

Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau.

Kiến bò miệng chén chưa lâu,

Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa”.

Nếu nói với Thúc Sinh, Kiều nói bằng một ngôn ngữ trang trọng, thì nói về Hoạn Thư, Kiều lại nói bằng một ngôn ngữ hết sức nôm na bình dị, Kiều sử dụng những thành ngữ quen thuộc, đó là lời ăn tiếng nói của nhân dân.

Qua ngôn ngữ đối thoại của Kiều với Thúc Sinh, ta thấy tính cách của nàng đã bộc lộ khá rõ ràng, nàng xử đúng người đúng tội, báo nhân đối với người đáng báo ân, đồng thời thấy được nàng là một người sống có tình có nghĩa, có trước có sau.

Sau khi trả ơn Thúc Sinh, bà quản gia nhà họ Hoạn và sư Giác Duyên, Thuý Kiều mới bước vào cuộc báo thù:

“Dưới cờ gươm tuốt nắp ra,

Chính danh thủ phạm tên là Hoạn Thư”.

Thuý Kiều thoắt trông thấy Hoạn Thư đã cất tiếng chào mỉa mai: “Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây!” Kiều dùng cách xưng hô như hồi còn làm hoa nô cho nhà họ Hoạn trong hoàn cảnh thứ bậc đã đổi ngôi.

Tiếp theo lời chào mỉa mai là những lời mắng nhiếc, xỉ vả:

“Đàn bà dễ có mấy tay,

Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan!

Dễ dàng là thói hồng nhan,

Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều”.

Với một kẻ như Hoạn Thư:

“Bề ngoài thơn thớt nói cười,

Bề trong nham hiểm giết người không dao”.

thì những lời mắng nhiếc xỉ vả ấy của Kiều là đích đáng lắm.

Trước những lời nói mỉa mai, đay nghiến đó của Kiều, Hoạn Thư đã xử trí ra sao?

Lúc đầu, “Hoạn Thư hồn lạc phách xiêu”, nhưng sau đó “Hoạn Thư đã liệu đều kêu ca”. Trước hết Hoạn Thư gỡ tội cho mình bằng cách dựa vào tâm lý thường tình của người phụ nữ:

“Rằng: tôi chút phận đàn bà,

Ghen tuông thì cũng người ta thường tình”.

Hoạn Thư nói rằng tội của tôi là tội ghen tuông, mà tội ấy thì ở người đàn bà nào mà chẳng có. Vậy là, đã đánh thức được ở Kiều lòng thông cảm với người cùng giới. Quả thực, ngay từ đầu Hoạn Thư đã tỏ ra thông minh giảo hoạt.

Tiếp theo, Hoạn Thư lại gợi chút “ân tình” ngày xưa: một là, đã cho Kiều xuống Quan Âm các “giữ chùa chép kinh”, không bắt làm thị tì nữa; hai là, khi Kiều bỏ trốn mang theo chuông vàng khánh bạc, Hoạn Thư cũng không cho người đuổi bắt. Cách nói rất khéo chỉ gợi sự thật và chuyện cũ ra, chỉ người trong cuộc mới biết.

“Nghĩ cho” là nhớ lại cho, suy nghĩ lại cho:

“Nghĩ cho khi gác viết kinh,

Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo”.

Đối với Kiều, Hoạn Thư đã từng nói với Thúc Sinh: “Rằng: tài lên trọng mà tình lên thương”. Tuy “chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai”, nhưng trong thâm tâm, Hoạn Thư rất “kính yêu” Thuý Kiều. Cuối cùng Hoạn Thư tự nhận tội của mình và xin Kiều rộng lòng tha thứ:

“Trót lòng gây việc chông gai,

Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng?”

 

Lời gỡ tội của Hoạn Thư vừa có lí, vừa có tình. Lời cầu xin đúng mực, chân thành, Kiều đã phải thừa nhận cái thông minh, giảo hoạt của Hoạn Thư và ban một lời khen:

“Khen cho: thật đã nên rằng,

Khôn ngoan đến mức nói năng phải lời”.

Không thể là người “nhỏ nhen” Kiều đã tha tội cho Hoạn Thư:

“Đã lòng tri quá thì nên,

Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay”.

Sự việc diễn ra quá bất ngờ, ngoài sức tưởng tượng của nhiều người. Vốn là một người phụ nữ trung hậu, đã từng nếm trải bao cay đắng và ngang trái trong cuộc đời, vả lại Kiều cũng tự biết rằng mình đã xâm phạm đến hạnh phúc của người khác. Tha tội cho Hoạn Thư, Kiều tỏ ra vô cùng cao thượng.

Như vậy, với màn báo ân báo oán ta thấy hết được những sáng tạo của ngòi bút thiên tài Nguyễn Du. Cảnh pháp trường thời trung cổ được miêu tả ước lệ mà không kém phần uy nghiêm. Lời thoại rất gọn mà sắc đã làm nổi bật tâm lý, tính cách nhân vật Thúc Sinh lành mà nhát sợ; Hoạn Thư thì khôn ngoan, sắc sảo; Kiều rất trung hậu, cao thượng, bao dung.

Nguyễn Du đã sáng tạo lên những lời thoại biến hoá đã nói lên chuyện ân oán, cái lẽ đời xưa nay, ca ngợi sự thuỷ chung tình nghĩa, lên án bọn bạc ác tinh ma. Cảnh báo ân, báo oán là một tình tiết rất đậm làm nổi bật tinh thần nhân đạo của “Truyện Kiều”.

 

Phần III: Kết luận và kiến nghị.

1- Kết luận:

Như vậy, bằng quá trình lao động nghệ thuật công phu và đầy sáng tạo, với cái nhìn sắc sảo khách quan về cuộc sống, Nguyễn Du đã xây dựng được những nét tính cách đa dạng, hoàn chỉnh và rõ nét. Nhân vật trong “Truyện Kiều” là nhân vật của cuộc đời hiểu theo ý nghĩa xã hội sâu sắc, đúng đắn. Đó không phải là những con người “nhất thành bất biến” đơn giản một chiều chịu sự chi phối của một quan niệm chủ quan. Bên cạnh cái “cốt lõi” của mỗi con người, ta bắt gặp những biến thiên phong phú của những tính cách đa dạng. Qua tìm hiểu “Truyện Kiều” chúng ta có thể thấy nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nguyễn Du rất phong phú đa dạng…

2- Kiến nghị:

Để giúp học sinh có thể hiểu một cách sâu sắc, toàn diện mọi giá trị của “Truyện Kiều” chỉ với 5 tiết trong chương trình Ngữ văn 9 hiện nay. Tôi mạnh dạn đưa ra một số đề xuất như sau:

Thứ nhất, tôi rất mong ban chỉ đạo chuyên môn các cấp mở các lớp tập huấn cho giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn 9 sinh hoạt theo những chuyên đề lớn (Thao giảng các tiết về tác giả, tác phẩm lớn), để từ đó giúp tập thể giáo viên có cái nhìn đồng bộ và có phương pháp tối ưu hơn khi giảng dạy “Truyện Kiều”.

Thứ hai, tôi mong ban chỉ đạo chuyên môn cần tạo điều kiện thuận lợi hơn để khuyến khích giáo viên mở các chuyên đề ngoại khoá về những giá trị đặc sắc của “Truyện Kiều”.

Thứ ba, ở các trường THCS hiện nay, ngoài sách giáo khoa, sách giáo viên thì có rất ít sách tham khảo mở rộng kiến thức về “Truyện Kiều”. Tôi mong ban chỉ đạo chuyên môn có thể giới thiệu cho các giáo viên một vài đầu sách tham khảo khác để bạn đọc xa gần có thể hiểu thêm “Truyện Kiều”.

*Lời cảm ơn

Với điều kiện và khả năng có hạn, qua quá trình giảng dạy và bồi dưỡng học sinh lớp 9, tham khảo các sách “Kỷ niệm 200 năm sinh Nguyễn Du” (Nxb KHXH- 1967), “Truyện Kiều đối chiếu” (Phạm Đan Quế – Nxb Hà Nội -1991) và một số tài liệu khác, tôi cũng mạnh dạn đưa ra một vài ý kiến về một vài nét nghệ thuật của Nguyễn Du trong “Truyện Kiều”. Trong quá trình viết và thực hiện chuyên đề tôi đã được các đồng chí đồng nghiệp trong tổ chuyên môn đóng góp nhiều ý kiến quý báu. Tuy nhiên, cũng không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế. Rất mong được các đồng chí và các bạn bổ sung để chuyên đề của tôi được hoàn thiện hơn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*