Đề và đáp án thi học sinh giỏi môn văn lớp 10-11 Hà Tĩnh 2019

Đang tải...
5 (100%) 1 vote
         

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Bản quyền bài viết này thuộc về https://vanhay.edu.vn. Mọi hành động sử dụng nội dung web xin vui lòng ghi rõ nguồn

                  HÀ TĨNH

 

ĐỀ THI  CHÍNH THỨC

 

(Đề thi có 01 trang, gồm 02 câu)

KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI TỈNH

LỚP 10, 11 THPT NĂM HỌC 2018 – 2019

 

Môn thi: NGỮ VĂN LỚP 11

Thời gian làm bài: 180 phút

 

     

 

 

Câu 1. (8,0 điểm)

Chỉ trong sự tự do cá nhân, tình thương yêu và sự tử tế mới có thể đơm hoa kết trái”

(J. Krishnamurti, Giáo dục và ý nghĩa cuộc sống, NXB Hồng Đức, 2017)                                                 

Suy nghĩ của anh/chị về ý kiến trên.

Câu 2. (12,0 điểm)

Đến Thơ mới, trong thơ ca Việt Nam mới có từng cái tôi trữ tình cá thể. Mỗi thi sĩ Thơ mới tiêu biểu là một gương mặt, một điệu tâm hồn không thể lẫn”.

(Giáo trình Văn học Việt Nam hiện đại, Tập 1, NXB Đại học Sư phạm, tr 145)

Anh/chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Qua các bài Thơ mới trong chương trình Ngữ Văn 11, hãy làm sáng tỏ nhận định trên.

 

——— HẾT ——–

 

 

 

 

 

–         Thí sinh không được sử dụng tài liệu.

–         Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.

 

 

 

 

Họ và tên:…………………………………… Số báo danh:……………………………..

 

 

                            (Hướng dẫn chấm có 04 trang)

Hướng dẫn chung

– Do đặc trưng của kì thi nên Giám khảo cần nắm vững được nội dung, yêu cầu của đề bài để đánh giá một cách tổng quát năng lực của thí sinh: Năng lực hiểu biết, vận dụng, sáng tạo và khả năng tạo lập văn bản;

– Chủ động, vận dụng linh hoạt Hướng dẫn chấm, cân nhắc từng trường hợp cụ thể để cho điểm: nếu thí sinh làm bài theo cách riêng nhưng đáp ứng được yêu cầu cơ bản hoặc có những kiến giải một cách sáng tạo, thuyết phục thì giám khảo vẫn có thể cho điểm tối đa; tránh việc đếm ý cho điểm;

– Khuyến khích những bài viết có cảm xúc và sáng tạo, giàu chất văn, có lối tư duy phản biện; kết cấu chặt chẽ, mạch lạc.

– Những bài viết mắc vào lỗi kiến thức, chính tả, dùng từ, ngữ pháp thì tùy vào mức độ để cho điểm.

Hướng dẫn cụ thể

Câu                              Hình thức, kĩ năng và nội dung kiến thức Điểm
  Yêu cầu về kĩ năng: HS phải biết huy động vốn hiểu biết về đời sống và kĩ năng làm văn nghị luận xã hội để hoàn chỉnh bài viết. Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt trong sáng, lưu loát, không mắc lỗi chính tả và ngữ pháp.

Yêu cầu về kiến thức: Bài viết cần đảm bảo một số ý cơ bản sau đây

6,0
Câu 1

(8,0 điểm)

Chỉ trong sự tự do cá nhân, tình thương yêu và sự tử tế mới có thể đơm hoa kết trái.

1. Giải thích

Tự do cá nhân là một khái niệm dùng trong triết học mô tả tình trạng khi một cá nhân không bị ép buộc, có cơ hội để lựa chọn và hành động theo đúng với ý chí, nguyện vọng của chính mình, trên cơ sở nhận thức được qui luật phát triển của tự nhiên và của xã hội.

– Tình thương yêu là một dạng tình cảm tốt đẹp của con người được bộc lộ trong mối quan hệ của con người đối với chính mình hoặc đối với thế giới xung quanh.

– Sự tử tế là biểu hiện thành hành động, lời nói.. của lòng tốt thuần khiết, sự lương thiện trong con người.

– Ý cả câu: Chính sự tự do cá nhân là nguyên nhân bên trong, động lực và môi trường để phát triển, nảy nở những tình cảm và hành động tốt đẹp của con người trong cuộc sống.

2. Bình luận

2.1  Sự tự do cá nhân được biểu hiện như thế nào

–  Sự tự do cá nhân ở đây được hiểu là sự tự do bên trong của con người, tự do về tâm hồn và tự do về tư tưởng.

–  Con người được tự do về tâm hồn: Chỉ có tâm hồn mới thuần túy là của chính con người. Khi con người được phát triển bằng đường chỉ dẫn của tâm hồn sẽ trở thành chính mình. Lúc ấy, con người được tự do.

– Con người được tự do về tư tưởng: Con người tự do thoát khỏi những khuôn mẫu tư duy, thoát khỏi tư duy số đông, độc lập với đám đông, có khả năng đưa ra cách nhìn, cách suy nghĩ, kiến giải của bản thân.

 2.2 Vì sao sự tự do cá nhân làm nảy nở và phát triển tình yêu thương và hành động tử tế.

a. Sự tự do cá nhân làm nảy nở và phát triển tình yêu thương và hành động tử tế

– Con người từ nhỏ cho đến khi trưởng thành đều có một khát vọng được tự do,nghĩa là được sống với những tâm tư, nguyện vọng, ưu điểm và nhược điểm. Nghĩa là, khi đó con người được sống với sự tôn trọng chính mình một cách cao nhất, yêu thương mình một cách trọn vẹn nhất. Tình yêu thương theo đó cũng được hình thành cùng với sự tôn trọng chính mình và tôn trọng tự do của người khác. Yêu thương chính mình là gốc rễ của sự yêu thương người khác, thương người như thể thương thân.

–  Khi con người được tự do, họ ý thức được mỗi con người là một cá thể đơn nhất, duy nhất không lặp lại ở phiên bản thứ hai. Chính vì thế, con người biết nhận ra và tôn trọng sự khác biệt của người khác, đó là cội nguồn sâu xa của lòng tốt, của tình thương yêu và hành động tử tế. Tình yêu thương và hành động tử tế nhất chính là giúp người khác được sống là chính mình, với những sở trường, sở đoản, mong ước, khát vọng riêng…

-Khi con người thực sự tự do, con người sẽ tự mình giải phóng khỏi những định kiến, những ràng buộc của xã hội, hiểu được những giá trị khác nhau của cuộc sống và của bản thân, sống bằng những trải nghiệm của bản thân. Khi đó, tình cảm thương yêu được nảy nở một cách tự nhiên, hành động tử tế không xuất phát từ động cơ , mục đích vụ lợi nào. Khi đó tình yêu thương và sự tử tế mới có thể đơm hoa kết trái.

b. Mất sự tự do cá nhân sẽ hủy diệt tình yêu thương và sự tử tế

– Nếu không có sự tự do cá nhân, con người sẽ bị ám ảnh, chi phối bởi những định kiến, ràng buộc, hoặc phải tuân thủ những khuôn mẫu lý tưởng của cộng đồng hoặc những giá trị được đặt ra ở ngoài mình, điều đó khiến cho họ luôn có sự so sánh bản thân với người khác, tạo nên một xã hội với những cạnh tranh, xung đột, ghen ghét, đố kị…  Về lâu dài, điều này cản trở sự phát triển của những tình cảm tốt đẹp, lương thiện và hành động tử tế của con người đối với con người..

– Con người không được tự do nghĩa là không có cơ hội được sống với những khát vọng, ý nguyện, mong muốn của bản thân. Họ buộc phải hành động theo kỉ luật, sự cưỡng ép. Và vì thế, hành động của họ có thể được chấp nhận như một hành động tử tế nhưng đó chỉ là nhất thời, đối phó, nó không xuất phát từ tình cảm thực sự chân thành bên trong. Hành động đó đi liền với sự trống rỗng của tâm hồn, và tình yêu thương chỉ là giả tạo, giả dối.

– Con người không được tự do luôn có xu hướng trở thành con người công cụ, nô lệ, hành động theo số đông, theo những nguyên tắc, máy móc và điều này khiến cho con người trở nên vô cảm, theo đó tình yêu thương và hành động tử tế cũng bị triệt tiêu dần…

2.2. Mở rộng

Sự tự do cá nhân không chỉ là gốc rễ bên trong của việc phát triển tình yêu thương và sự tử tế của mỗi người mà còn là nền tảng để phát triển một xã hội tử tế.

– Muốn có tự do cá nhân thực sự, con người cần có tri thức, bản lĩnh. Càng hiểu biết con người càng tự do.

– Cần xây dựng một môi trường giáo dục ở gia đình, nhà trường và xã hội hướng tới sự khai phóng con người cá nhân. Bởi sự tự do cá nhân không chỉ là cội nguồn của tình yêu thương và hành động tử tế mà còn là động lực thúc đẩy sự phát triển của nhân loại.

– Phân biệt tự do cá nhân thực sự với tự do hoang dã. Tự do hoang dã là thứ tự do thoát khỏi lương tâm, tự do không có văn hóa. Tự do không đồng nghĩa với việc bất chấp luật pháp cùng những chuẩn mực giá trị, đạo đức bền vững của nhân loại. Tự do đi liền với trách nhiệm.

3. Bài học nhận thức và hành động

–  Cần đảm bảo sự dung hòa giữa tự do cá nhân và sự kiểm soát của xã hội trong việc điều chỉnh tình cảm, hành vi của mỗi con người.

– Tình yêu thương cần xuất phát từ sự chân thành, trong sáng của lương tâm mới thực sự bền vững và có giá trị.

– Hành động tử tế của mỗi con người bắt đầu từ những việc nhỏ nhặt trong đời sống hàng ngày, được thực hiện một cách tự nhiên như những thói quen tốt.

 

 

 

 

1,0

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1,0

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

2,0

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

2,0

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1,0

 

Câu 2

(12,0 điểm)

 Đến Thơ mới, trong thơ ca Việt Nam mới có từng cái tôi trữ tình cá thể. Mỗi thi sĩ Thơ mới tiêu biểu là một gương mặt, một điệu tâm hồn không thể lẫn”

1.Giải thích :

1.1 Giải thích thuật ngữ :

Thơ mới: Thuật ngữ được Phan Khôi dùng đầu tiên, để chỉ một lối thơ tự do, phân biệt với Thơ cũ – thứ thơ cách luật gò bó, chặt chẽ về niêm luật. Sau đó, thuật ngữ này được dùng để chỉ một phong trào thơ ca lãng mạn Việt Nam (1932 – 1945).

Cái tôi trữ tình: là sự thể hiện cách nhận thức và cảm xúc đối với thế giới và con người thông qua việc tổ chức các phương tiện của thơ trữ tình, tạo ra một thế giới tinh thần độc đáo, mang tính thẩm mĩ. Cái tôi trữ tình thống nhất chứ không đồng nhất với cái tôi tác giả.

– Ý nghĩa nhận định: Nhận định được tạo nên bởi hai mệnh đề có quan hệ bổ sung ý nghĩa cho nhau nhằm khẳng định: Thơ mới là một cuộc cách mạng trong lịch sử thi ca Việt Nam với đóng góp nổi bật là sự xuất hiện của từng cái tôi trữ tình cá thể. Mỗi thi sĩ tiêu biểu là một gương mặt, một điệu tâm hồn riêng cùng góp phần làm nên phong cách một trào lưu văn học.

1.2 Cơ sở hình thành nên phong trào Thơ mới và cái tôi trữ tình cá thể trong Thơ mới

– Văn học dân tộc tiềm tàng một sức sống mạnh mẽ. Suốt tiến trình của thơ ca trung đại, đặc biệt là giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII- nửa đầu thế kỉ XIX, nhiều nhà thơ phá vỡ tính qui phạm, không còn sáng tác thơ ca để nói chí tỏ lòng mà đề cập những khát khao đời thường bình dị, nhân bản.

– Đầu thế kỉ XX, cùng với sự xâm lược của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam có nhiều biến chuyển kéo theo đó là sự chuyển biến của văn học. Một lớp công chúng có đời sống tinh thần và thị hiếu mới hình thành đòi hỏi một thứ văn chương mới.

–  Nhân vật trung tâm của văn học là bộ phận trí thức Tây học, chịu ảnh hưởng của văn hóa phương tây. Đó là các trí thức trẻ muốn bứt phá, đạp tung xiềng xích để khẳng định cái tôi cá nhân. Cái tôi cá nhân này là một trrong những động lực tạo nên một thời đại mới trong thi ca.

– Nằm trong mạch vận động ấy, Thơ mới ra đời như một tất yếu lich sử. Sự thoát khỏi hệ thống thi pháp trung đại cùng với sự thức tỉnh của ý thức cá nhân đã giải phóng sự sáng tạo của người nghệ sĩ.

1.3. Vì sao nói đến Thơ mới, thơ ca Việt Nam mới có từng cái tôi trữ tình cá thể, mỗi thi sĩ Thơ mới tiêu biểu là một gương mặt, một điệu tâm hồn không thể lẫn

– Thơ ca trung đại là thơ của cái ta, thơ nói chí tỏ lòng. Các nhà thơ trung đại chưa lấy con người cá nhân làm đối tượng phô bày và bộc lộ cảm xúc, cũng chưa nhìn thế giới bằng con mắt của cá nhân mình. Toàn bộ thế giới tinh thần của thơ trung đại nằm trong vòng chữ ta, thể hiện ý thức, cảm xúc của con người cộng đồng.

–  Thơ mới thoát khỏi hệ thống thi pháp trung đại, tập trung thể hiện tình cảm, cảm xúc của dòng chảy nội tâm. Đối tượng trung tâm của Thơ mới là thế giới nội cảm của con người. Cho nên, nếu thơ trung đại là thơ hướng ngoại thì thơ mới là thơ hướng nội. Đó là cái tôi nội cảm, cái tôi cá thể với muôn vàn cảm xúc vừa tự nhiên, vừa độc đáo.

– Thơ mới là thơ giải phóng cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ, mỗi nhà thơ đều nhìn thế giới bằng con mắt của cá nhân mình.  Mỗi nhà thơ mới là một chủ thể sáng tạo độc đáo trong nghệ thuật với việc cá thể hóa trong cách cảm thụ thế giới và cách biểu hiện thế giới.

Vì vậy, thi đàn Thơ mới xuất hiện những gương mặt tiêu biểu mang điệu tâm hồn không thể lẫn: Thế Lữ rộng mở, Lưu Trọng Lư mơ màng, Huy Thông hùng tráng, Nguyễn Bính quê mùa, Chế Lan Viên kỳ dị…

2. Chứng minh sự thể hiện của cái tôi trữ tình cá thể, với điệu tâm hồn không thể lẫn trong các bài thơ trong chương trình Ngữ Văn 11 :

* Vội vàng của Xuân Diệu :

–  Cái tôi diển hình cho thời đại Thơ mới đồng thời mang đậm bản sắc riêng. Đó là cái tôi tích cực, mãnh liệt. Cái tôi ấy bám riết lấy trần gian, chạy đua với thời gian, lúc nào cũng thèm yêu, khát sống. Cái tôi ấy lúc nào cũng khao khát tận hưởng và tận hiến ngay trên thiên đường trần thế này; không chỉ giãi bày cảm xúc mà còn thể hiện quan niệm, triết lý về con người, về cuộc đời.

– Cái tôi ấy nhìn cuộc sống vừa như mảnh vườn tình ái (xuân sắc, xuân tình, quyến rũ) vừa như sa mạc cô liêu ( tàn phai, rơi rụng ,mất mát). Vì vậy,  dòng cảm xúc  được vận động từ khát khao mãnh liệt sang niềm vui sướng ngất ngây đến lo sợ tiếc nuối và vội vàng cuống quýt.

–  Cái tôi độc đáo cá thể hóa trong cách biểu đạt : sự kết hợp giữa mạch cảm xúc và mạch luận lý, những sáng tạo độc đáo về hình ảnh thơ tân kỳ, mới lạ, chiuh ảnh hưởng của thơ ca lãng mạn Pháp, những sáng tạo độc đáo về ngôn từ, nhịp điệu….

* Tràng giang của Huy Cận :

– Cái tôi Huy Cận là cái tôi cô đơn được hình dung như một kẻ lữ thứ bơ vơ trong không gian vô cùng thời gian vô thủy vô chung. Đó là cái tôi khao khát hòa điệu (được đồng điệu và được hòa nhập giữa con người với con người, con người với thiên nhiên và thiên nhiên tạo vật với nhau) nhưng không tìm thấy sự hòa điệu.  Đó là tiếng nói sầu tui của một cái tôi không được hòa điệu đang bơ vơ trong cõi người.

– Cái tôi ấy nhìn thế giới là một cõi trời đất mênh mang, trống vắng, với không gian vô cùng vô tận, thời gian vô thủy vô chung. Đó là một thế giới phi hòa điệu trong đó thiên nhiên, con người, tạo vật rơi vào trạng thái phân li,lạc lõng, rời rạc, không giao cảm. Vì vậy, cảm xúc bao trùm là nỗi buồn mà Huy Cận gọi đó là nỗi sầu vạn kỉ, nỗi buồn sầu vũ trụ và thế nhân. Đó là nỗi sầu của cái tôi cô đơn trước vũ trụ rộng lớn, trong đó còn phảng phất nỗi buồn sông núi.

– Cái tôi độc đáo trong cách biểu đạt : Sử dụng nhuần nhuyễn những yếu thơ cổ điển trong một bài thơ mới, vể đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại của bài thơ.

* Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử

– Cái tôi Hàn Mặc Tử yêu đời, ham sống mãnh liệt mà đầy uẩn khúc.  Một hồn thơ quằn quại yêu và đau. Đó là lời bày tỏ tình yêu đối với cuộc đời của một tâm tình tuyệt vọng

– Cái tôi ấy chia thế giới thành hai không gian đối lập: trong này (là địa ngục bóng tối, là mất mát, khổ đau…) và ngoài kia (là trần gian tràn đầy thanh sắc, là ánh sáng, là niềm vui, là hạnh phúc…). Thôn Vĩ là hình ảnh thu nhỏ của ngoài kia mà Hàn Mặc Tử khao khát hướng về bằng tình yêu tuyệt vọng. Càng tuyệt vọn, thế giới ấy hiện lên càng đẹp, càng đẹp càng khiến thi nhân tuyệt vọng. Vì vậy,  cảm xúc của bài thơ vận động từ nỗi nhớ thôn Vĩ đến mặc cảm chia lìa và tình yêu tuyệt vọng.

– Cái tôi độc đáo trong cách biểu đạt : Hình ảnh sáng tạo, gắn với trí tưởng tượng phong phú, vừa thực vừa ảo, chịu ảnh hưởng của tư duy tượng trưng siêu thực, ngôn ngữ thơ cực tả….

3. Đánh giá

–  Đây là một nhận định chính xác, mang tính khoa học. Sự xuất hiện của cái tôi trữ tình cá thể với gương mặt, điệu tâm hồn riêng, với sự cách tân trên phương diện nội dung và nghệ thuật đã tạo nên bước ngoặt mới trong tiến trình phát triển của thơ ca dân tộc.

Mang tinh thần chung của thời đại Thơ mới nhưng mỗi tác giả, mỗi bài thơ mới  có nét riêng độc đáo không lặp lại. Cái riêng kết hợp với cái chung tạo nên sự đa dạng, phong phú, độc đáo của Phong trào Thơ mới. Thơ Mới làm nên thành tựu hết sức vĩ đại nhưng không quay lưng đoạn tuyệt  mà kết tinh và bám rễ sâu sắc với thơ ca dân tộc

Sự xuất hiện của cái tôi với ý thức cá nhân mạnh mẽ mang tính cách mạng đã đem lại thành tựu rực rỡ cho phong trào Thơ mới. Tuy nhiên, cái tôi Thơ mới mang bi kịch về nỗi cô đơn, sự bế tắc nên càng đi sâu càng lạnh…

– Từ đó đặt ra bài học cho người sáng tạo và tiếp nhận : bản chất của lao động nghệ thuật là sáng tạo, người nghẹ sĩ phải tạo được dấu ấn riêng trong tác phẩm của mình. Người đọc khi đến với tác phẩm biết khám phá, trân trọng những sáng tạo ấy, lấy hồn ta để hiểu hồn người….

 

 

 

 

 

 

 

 

 

3,5

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1,5

 

 

 

 

 

 

2,5

 

 

3,5

 

 

 

1,0

 

 

 

 

 

—– HẾT —–

 

, ,

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Đang tải...