Đề thi học sinh giỏi về bài Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

4.6 (91.76%) 51 votes

Đề bài :
Một nhà thơ Pháp đã viết : “ Nghệ  thuật chỉ làm nên câu thơ, trái tim mới làm nên người nghệ sĩ.” Anh/ chị hiểu câu trên như thế nào ?Dựa vào đoạn trích ” Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ( trích Chinh phụ ngâm- Nguyên tác chữ Hán Đặng Trần  Côn, bản dịch Đoàn Thị Điểm ) hãy làm  sáng tỏ ý kiến trên. ( Anđré Chénien)
Hướng dẫn :
Trên cơ sở những hiểu biết về lí luận văn học, những kiến thức đã học về tác phẩm Chinh phụ ngâm và đoạn trích Tình cảnh lẻ  loi của người chinh phụ (trích Chinh phụ ngâm – Nguyên tác chữ  Hán Đặng Trần Côn, bản diễn Nôm Đoàn Thị Điểm) để làm sáng tỏ cách hiểu của mình.
Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đảm bảo những nội dung sau:

  1. Giải thích ý kiến
  • “Nghệ thuật chỉ  làm nên câu thơ ”: Nghệ thuật ờ đây có thể hiểu là cái đẹp của lời thơ, ý thơ, tứ thơ và các yếu tố tổ chức câu thơ như thể thơ, ngôn ngữ, hình ảnh, gieo vần, ngắt nhịp, giọng điệu; các biện pháp tu từ và các phương thức biểu đạt…
  • Trái tim mới làm nên thi sĩ”: Trái tim là thế giới của đời sống tâm hồn, tình cảm, tâm nguyện của người nghệ sĩ gửi gắm vào sáng tác nghệ thuật nói chung, thơ ca nói riêng. Chính trái tim người nghệ sĩ mới làm nên cái hồn cho thơ.
  • “Nghệ thuật ” và “trái tim ” là những chất liệu để là nên những câu thơ hay và sản sinh ra những nhà thơ vĩ đại.

– Ý kiến của Anđré Chénien khẳng định và đề cao thiên chức của nhà thơ và quá trình sáng tạo nghệ thuật: Mỗi một nhà thơ phải có một trái tim biết yêu thương cái đẹp cái thiện, phải biết đấu tranh với cái xấu, cái ác để bênh vực và bảo vệ cho quyền sống và nhân phẩm của con người nhất là những con người đau khổ, bất hạnh. Và nhà thơ cũng phải biết “khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có”.
 

Bản quyền bài viết này thuộc về https://vanhay.edu.vn. Mọi hành động sử dụng nội dung web xin vui lòng ghi rõ nguồn
  1. Phân tích đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (trích Chinh phụ ngâm – Nguyên tác chữ Hán Đặng Trần Côn, bản diễn Nôm của Đoàn Thị Điểm) để làm sáng tỏ cách hiểu của mình.

a. Nghệ thuật của khúc ngâm được thể hiện ở những sáng tạo ấn tượng:
+ Thể thơ song thất lục bát với sự kết hợp hai câu thơ bảy chữ kiểu Đường thi hàm súc, trang nhã, đăng đối gợi cảnh, gợi tình tạo nên nhịp thơ buồn thương man mác.
+ Ngôn ngữ thơ tài hoa, đài các, tinh xác nhuần nhị; tính uyên bác, trang trọng được thể hiện ở hệ thống điển tích, điển cố.
+ Lời thơ mượt mà, luyến láy đằm thắm chất trữ tình được chuyển tải bằng hệ thống từ láy tượng thanh, tượng hình: phất phơ, đằng đẵng, dằng dặc, thăm thẳm, đau đáu,trùng trùng…
+ Hình ảnh thơ ước lệ, giàu tính tạo hình, biến hoá linh hoạt phù hợp với bức chân dung u sầu, ai oán của người chinh phụ.
– Nghệ thuật miêu tả thế giới nội tâm sắc sảo, tài hoa bằng ngôn ngữ độc thoại nội tâm, tả cảnh ngụ tình để xây dựng được chân dung tâm trạng và số phận của người chinh phụ.
+ Các biện pháp tu từ, nhạc điệu đã làm nên giá trị nghệ thuật của khúc ngâm.
b. Trái tim của nhà thơ trong trích ngâm:
+ Một trái tim biết yêu thương, đồng cảm với nỗi bất hạnh của người phụ nữ có chồng đi chinh chiến.
+ Một trái tim biết trân trọng tình yêu thuỷ chung và khát vọng cuộc sống bình yên, hạnh phúc của người chinh phụ.
+ Trái tim biết lên tiếng bênh vực cho quyền sống con người, gián tiếp tố cáo chiến tranh phong kiến phi nghĩa đã gây nên nỗi đau khổ, bất hạnh cho người chinh phụ, người phụ nữ nói chung.
+ Trái tim ấy ánh lên hào quang của giá trị nhân văn, luôn tri âm với đồng loại và sẽ đồng vọng mãi với nhiều thế hệ.

  1. Đánh giá chung
  • Chinh phụ ngâm luôn mãi chứa đựng những nỗi khắc khoải nhân sinh, đánh thức lương tri nhân loại về ý thức đấu tranh đòi quyền sống cho con người.
  • Ý kiến của Anđré Chénien giúp ta cảm nhận sâu sắc hơn, hiểu và biết trân trọng tấm lòng và và những sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ cho đời

Học sinh biết chọn những dẫn chứng tiêu biểu, hay để làm sáng tỏ những ý kiến của mình.
Xem thêm :

Bài viết liên quan

42 Comments

      • Hiện nay, Chinh phụ ngâm có 7 bản dịch và phỏng dịch bằng các thể thơ lục bát (3 bản) hoặc song thất lục bát (4 bản) của các dịch giả Đoàn Thị Điểm, Phan Huy Ích, Nguyễn Khản, Bạch Liên am Nguyễn và hai tác giả khuyết danh[1]. Bản dịch thành công nhất và phổ biến nhất xưa nay, theo thể song thất lục bát, có độ dài 412 câu (theo bản in chữ Nôm cũ hiện còn, ký hiệu 1902:AB.26) hoặc 408 câu (một bản in khác lưu tại Thư viện Paris) có người cho là Đoàn Thị Điểm (1705-1748), có người cho là của Phan Huy Ích (1751-1822) và những phát hiện mới gần đây có xu hướng nghiêng về dịch giả Phan Huy Ích[1][4] ?.

    • Hiện nay, Chinh phụ ngâm có 7 bản dịch và phỏng dịch bằng các thể thơ lục bát (3 bản) hoặc song thất lục bát (4 bản) của các dịch giả Đoàn Thị Điểm, Phan Huy Ích, Nguyễn Khản, Bạch Liên am Nguyễn và hai tác giả khuyết danh[1]. Bản dịch thành công nhất và phổ biến nhất xưa nay, theo thể song thất lục bát, có độ dài 412 câu (theo bản in chữ Nôm cũ hiện còn, ký hiệu 1902:AB.26) hoặc 408 câu (một bản in khác lưu tại Thư viện Paris) có người cho là Đoàn Thị Điểm (1705-1748), có người cho là của Phan Huy Ích (1751-1822) và những phát hiện mới gần đây có xu hướng nghiêng về dịch giả Phan Huy Ích[1][4] ?.

    • Tám câu tiếp:
      a. Cảnh đêm:
      “Gà eo óc gáy sương năm trống
      Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên”
      Không gian vây quanh người chinh phụ được miêu tả bằng cả âm thanh và hình ảnh.
      * Từ láy “eo óc” chỉ tiếng gà gáy tang tóc, âm thanh ấy thưa thớt, buồn bã gợi không gian rộng lớn, trống trải, hiu quạnh. Một đêm có “năm trống” (năm canh) thì người chinh phụ thức trọn năm canh, đối diện với chính mình trong nỗi cô đơn khắc khoải, nghe tiếng gà gáy lòng nàng càng nặng trĩu sầu đau. Tác giả đã sử dụng nghệ thuật lấy động tả tĩnh để khắc họa tình cảnh lẻ loi của người vợ có chồng đi lính.
      * Hình ảnh cây hòe trong màn đêm “phất phơ rủ bóng” cũng gợi lên cảm giác man mác buồn, xót xa. Vây quanh người phụ nữ nhỏ bé đáng thương và cô độc là những bóng dáng mập mờ lay động, như có như không, cũng như tin tức về người chồng ngoài biên ải xa xôi và cuộc sống hôn nhân dang dở. Tất cả đều mờ mịt, khiến nàng hoang mang, lo sợ.
      * Người chinh phụ nhìn cây hòe giống như người phòng khuê bắt gặp cành dương liễu. Người phụ nữ trong “Khuê oán” của Vương Xương Linh chợt ân hận và xót xa cho hạnh phúc dở dang. Còn người chinh phụ trong “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn lại đắm chìm trong lo lắng, suy tư.
      => Ngóng trông người chinh phu, người chinh phụ thức trắng đêm, vùi mình vào nỗi cô đơn hiu quạnh trong không gian lạnh lẽo, hoang vắng. Cả âm thanh và hình ảnh trong đêm khuya khiến nàng càng tủi thân, chán chường và lo lắng.
      b. Người chinh phụ thấm thía bi kịch cuộc đời mình:
      “Khắc giờ đằng đẵng như niên
      Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.”
      * Người chinh phụ bị bủa vây trong nỗi cô đơn, cuộc sống của nàng thật tẻ nhạt và nặng nề. Ngày lại ngày, giờ lại giờ, nàng chỉ biết mòn mỏi nhớ thương, bồn chồn lo lắng. Khoảng thời gian không tình yêu, không hơi ấm hạnh phúc ẩy đối với nàng mới khó khăn làm sao! Người chinh phụ nhận thấy thời gian trôi thật chậm chạp, một ngày dài lê thê như một năm. Câu thơ gợi cho người đọc nỗi nhớ của Kim Trọng với Thúy Kiều trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du: “Sầu đong càng lắc càng đầy/ Ba thu dọn lại một ngày dài ghê.” Với nhân vật trữ tình, khi vắng đi người thương, thời gian đi những bước chậm chạp, uể oải.
      * Những ngày tháng lẻ loi dài dằng dặc của người chinh phụ đong đầy sầu khổ. Những mối lo toan về người chồng đang ở xa liệu có mạnh khỏe, bình an cùng những thương nhớ, xót xa cho thân phận mình, cho cuộc sống hôn nhân dở dang của nàng tưởng như không có hồi kết. Quả đúng “Sầu đong càng lắc càng đầy”, nỗi buồn nhớ trong người chinh phụ tích tụ lại, bao la hơn không gian, mênh mông hơn thời gian, không thể đong đếm được. “Miền biển xa” là hình ảnh mang tính ước lệ tượng trưng cho những tâm tư vô hình mà vô hạn của người phụ nữ có chồng đi lính.
      => Bằng bút pháp ước lệ tượng trưng và nghệ thuật so sánh, sử dụng từ ngữ khéo léo, tài tình, tác giả tô đậm tâm trạng người chinh phụ, từng cung bậc cảm xúc rõ ràng và sâu sắc.
      c. Người chinh phụ cố vùng thoát khỏi nỗi buồn:
      “Hương gượng đốt hồn đà mê mải
      Gương gượng soi lệ lại châu chan
      Sắt cầm gượng gảy ngón đàn
      Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng”
      * Người chinh phụ muốn thoát khỏi ưu phiền, bèn đốt hương, nhưng lại không kìm lòng được mà mê man trong quá khứ.
      * Trong quãng thời gian vắng chồng, người chinh phụ chẳng buồn đoái hoài đến phấn son hoa lệ: “Vắng chàng điểm phấn trang hồng với ai?” Nhưng đêm nay, mong muốn xóa tan những nỗi lo, nhớ, nàng soi gương, thấy đôi mắt chứa chan sầu bi, đôi môi không thể gượng nổi một nụ cười nhạt. Khoảng thời gian dài trông mong chồng và nỗi đau luôn âm ỉ trong lòng đã hủy hoại nhan sắc của người phụ nữ đang trong độ tuổi xuân sắc. Nàng khóc cho tuổi xuân héo tàn, cho dung nhan võ vàng, cho số phận bi đát. Những giọt lệ không thể giúp nàng lấy lại hạnh phúc, tình yêu và tuổi trẻ.
      * Cảm thấy việc đốt hương, soi gương không thể giúp quên đi chuyện buồn, người chinh phụ tìm đến tiếng đàn. Nàng mong tiếng đàn rộn ràng có thể xóa tan âu lo, phiền muộn nhưng ghi gảy đàn, nàng lại nơm nớp lo sợ dây đàn đứt.
      + Sắt cầm: đàn sắt và đàn cầm hòa âm với nhau, tượng trưng cho cảnh vợ chồng hòa thuận.
      + Dây uyên: Uyên ương là biểu tượng cho lứa đôi gắn bó, hòa hợp.
      + Phím loan: Chim loan phượng cũng là biểu tượng cho tình yêu đôi lứa.
      => Tác giả sử dụng loạt hình ảnh mang tính ước lệ tượng trưng nhằm nói lên nỗi lo khôn nguôi của người chinh phụ về tình cảm vợ chồng, về người chinh phu đang cách xa ngàn dặm.
      * Điệp từ “gượng” cho thấy sự cố gắng gượng gạo và chán nản ở người chinh phụ, nàng vùng vẫy trong nỗi cô đơn nhưng lại bị chính nỗi cô đơn bóp chặt. Những thú vui của tầng lớp quý tộc giờ đây lại không thể đem lại cho nàng niềm vui, hơn thế nữa chúng lại như liều thuốc kích thích khối u sầu khổ trong lòng nàng. Nàng chỉ mong được sum vầy, nhưng buổi đoàn tụ trong tưởng tượng của nàng lại quá đỗi xa xỉ trong hoàn cảnh này.

  1. Cô ơi đề trường em cho so sánh vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách của người phụ nữ qua 10 cầu đầu của bài Tình cảnh lẻ loi và bài trao duyên á Côô, cô giúp em với

    • bài tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ miêu tả nỗi lòng cô đơn lẻ loi và niềm khát khao được sống trong tình yêu và hạnh phúc lứa đôi của ng chinh phụ. ko thể hiện vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách nhé Bel, bởi vậy ko thể so sánh hai nhân vật này được

    • điệp từ Gượng : sự gượng gạo miễn cưỡng, diễn tả sự gắng gượng của người chinh phụ , cố gắng vượt qua nỗi cô đơn nhưng càng cố gắng càng rơi vào bi kịch

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*