Đề thi học kì 2 môn ngữ văn lớp 10 có ma trận đáp án

1 (20%) 1 vote

ĐỀ THI HỌC KỲ 2, NĂM HỌC 2016- 2017

MÔN:   NGỮ VĂN 10

Bản quyền bài viết này thuộc về https://vanhay.edu.vn. Mọi hành động sử dụng nội dung web xin vui lòng ghi rõ nguồn

                                                                             Thời gian: 120 phút, không kể phát đề
MỤC TIÊU

  1. Kiến thức: Kiểm tra mức độ đạt chuẩn kiến thức của học sinh cụ thể như sau:

– Kiến thức làm văn:  phương thức biểu đạt
– Kiến thức văn học: Tác giả, tác phẩm, đoạn trích trong tác phẩm
– Kiến thức đời sống:  Những hiểu biết và trải nghiệm hình thành và phát triển nhân cách, đạo đức, lối sống.

  1. Kĩ năng:

– Kĩ năng đọc hiểu văn bản
– Kĩ năng tạo lập văn bản (viết đoạn văn nghị luận xã hội, viết bài văn nghị luận văn học)
HÌNH THỨC ĐỀ KIỂM TRA: Tự luận
III. THIẾT LẬP MA TRẬN
 

 
 
Nội dung                     
Mức độ cần đạt  
Tổng số
   Nhận biết Thông hiểu  
Vận dụng
Vận dụng
    cao
 
I. Đọc hiểu – Ngữ liệu: Văn bản nghị luận
– Tiêu chí lựa chọn ngữ liệu: 01 văn bản  có độ dài khoảng150 chữ
Nhận diệnphương thức biểu đạt,nhận biết thông tin trong văn bản.  Hiểu được một vài khía cạnh của nội dung văn bản
 
Nhận xét, đánh giá thái độ của tác giả thể hiện trong đoạn trích
 
Tổng
Số câu
 
2    1  1 4
Số điểm 1,0 1,0 1,0 3,0
Tỉ lệ 10% 10% 10% 30%
    II. Làm văn  
Câu 1. Nghị luận xã hội
Khoảng 200 chữ
– Trình bày suy nghĩ về vấn đề xã hội đặt ra trong văn bản ở phần đọc hiểu
Viết đoạn văn nghị luận xã hội
Câu 2.
Nghị luận văn học
Nghị luận về một đoạn thơ
Viết bài văn nghị luận văn học
 
Tổng
Số câu 1 1 2
Số điểm  
2,0
 
5,0
 
7,0
Tỉ lệ 20% 50% 70%
Tổng cộng Số câu 2 1 2 1 6
Số điểm 1,0 1,0 3,0 5,0 10,0
Tỉ lệ 10% 10% 30% 50% 100%

 
BIÊN SOẠN CÂU HỎI THEO MA TRẬN
Đọc – hiểu (3.0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu
“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xuống thấp. Vì vậy, các đấng thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên. Kẻ sĩ quan hệ với quốc gia trọng đại như thế, cho nên quý chuộng kẻ sĩ không biết thế nào là cùng. Đã yêu mến cho khoa danh, lại đề cao bằng tước trật. Ban ân rất lớn mà vẫn cho là chưa đủ. Lại nêu tên ở tháp Nhạn, ban cho danh hiệu Long hổ,bày tiệc Văn hỉ. Triều đình mừng được người tài, không có việc gì không làm đến mức cao nhất.
(Trích Hiền tài là nguyên khí của quốc gia- Thân Nhân Trung, Ngữ văn 10, tập 2, tr.31)
Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính trong đoạn trích trên.
Câu 2. Nêu những việc làm của các đấng thánh đế minh vương thể hiện sự trọng đãi hiền tài trong đoạn trích.
Câu 3. Anh/chị hiểu như thế nào về câu Hiền tài là nguyên khí của quốc gia?
Câu 4. Nhận xét về thái độ của tác giả đối với người hiền tài được thể hiện trong đoạn trích.
Làm văn (7.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm)
Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về vai trò của hiền tài được gợi ra từ đoạn trích ở phần Đọc– hiểu.
Câu 2 (5.0 điểm)
Cảm nhận của anh/chị về tâm trạng người chinh phụ trong đoạn thơ sau:
Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
     Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?
Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
     Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương.
(Trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ, Ngữ văn 10, tập 2, tr 87)
 
HƯỚNG DẪN CHẤM

Phần Câu Nội dung Điểm
I. Đọc hiểu 1 Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận 0.50
2 Những việc làm của các đấng thánh đế minh vương  để trọng đãi người hiền tài: ban khoa danh, ban chức tước và cấp bậc, nêu tên ở tháp Nhạn, ban danh hiệu Long hổ, bày tiệc Văn hỉ. 0.50
3 Câu “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” được hiểu là:
– Hiền tài: người tài cao, học rộng, có đạo đức
– Nguyên khí: khí chất ban đầu làm nên sự sống còn của sự vật
Hiền tài là nguyên khí của quốc gia: Hiền tàilà những người có vai trò quyết định đối với sự thịnh suy của đất nước.
1.00
0.25
0.25
0.50
 
4  Hs nhận xét về thái độ của tác giả:

Khẳng định vai trò của hiền tài
– Trân trọng, đề cao hiền tài
1.00
0.50
0.50
II.Làm văn 1 Nghị luận về vai trò của hiền tài
a. Đảm bảo thể thức của một đoạn văn
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận
c. Triển khai hợp lí nội dung đoạn văn: vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng. Có thể viết đoạn văn theo định hướng sau:
– Hiền tài là những người tài cao, học rộng, có đạo đức.
– Vai trò của hiền tài:
+Hiền tài là nguyênkhí của quốc gia: hiền tài là khí chất ban đầu làm nên sự sống còn và phát triển của đất nước. Hiền tài có quan hệ lớn đến sự thịnh suy của đất nước.
+ Trí tuệ vượt trội cùng với khát vọng của hiền tài sẽ tạo ra những đột phá, những bước ngoặt lớn cho đất nước.
+ Ở thời đại nào thì hiền tài cũng có vai trò quan trọng đối với đất nước. Vì thế, luôn cần có những chính sách trọng đãi hiền tài.
– Rút ra bài học nhận thức và hành động
d. Sáng tạo: cách diễn đạt độc đáo, có suy nghĩ riêng về vấn đề nghị luận
e. Chính tả, dùng từ đặt câu: đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa tiếng Việt
2.00
0.25
0.25
1.00
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
0.25
 
0.25
 
2 Tâm trạng của người chinh phụ trong đoạn thơ
a. Đảm bảo cấu trúc của một bài văn nghị luận: có đầy đủ Mở bài, Thân bài, Kết bài. Mở bài giới thiệu được tác giả, tác phẩm; Thân bài triển khai được các luận điểm làm rõ được nhận định; Kết bài khái quát được nội dung nghị luận.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; thể hiện sự cảm nhận sâu sắc và vận dụng tốt các thao tác lập luận; có sự kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng. Thí sinh có thể giải quyết vấn đề theo hướng sau:
* Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích
* Cảm nhận tâm trạng của người chinh phụ
– Đoạn thơ thể hiện tâm trạng cô đơn, buồn rầu của người chinh phụ với những biểu hiện cụ thể:
+ Đi đi lại lại trong hiên vắng để chờ đợi tin tức của chồng. Nhưng càng trông càng mất hút.
+ Những hành động lặp đi lặp lại một cách vô nghĩa: “rủ thác đòi phen”: buông rèm rồi lại cuốn rèm.
+ Đèn là người bạn duy nhất của người chinh phụ. Tả đèn là để nhấn mạnh sự trôi chảy của thời gian và sự cô đơn của con người
– Nghệ thuật: Điệp ngữ bắc cầu; câu hỏi tu từ phù hợp với việc diễn tả nỗi buồn triền miên, kéo dài lê thê trong thời gian như không bao giờ dứt, khiến cho lời than thở và nỗi khắc khoải đợi chờ trong nàng day dứt không yên.
– Tác giả còn diễn tả nội tâm của người chinh phụ qua ngoại hình: vẻ mặt buồn rầu, không nói nên lời, dáng vẻ ủ rủ, thật đáng thương và tội nghiệp.
* Đánh giá chung
Đoạn thơ thể hiện sự đồng cảm của tác giả với nỗi buồn, sự cô đơn và khát khao hạnh phúc lứa đôi của người chinh phụ khi chồng phải đi chiến trận biền biệt không về. Đó chính là giá trị nhân đạo, nhân văn sâu sắc của đoạn trích nói riêng và tác phẩm nói chung.
d. Sáng tạo: cách diễn đạt độc đáo, có suy nghĩ riêng về vấn đề nghị luận
e. Chính tả, dùng từ đặt câu: đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa tiếng Việt
5.00
0.50
 
 
 
 
0.50
3.00
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
0.50
 
0.50

( Đề sưu tầm)
Xem thêm :
Đề thi khối 10
Đề thi khối 11
Đề thi khối 12

Bài viết liên quan

42 Comments

      • Hiện nay, Chinh phụ ngâm có 7 bản dịch và phỏng dịch bằng các thể thơ lục bát (3 bản) hoặc song thất lục bát (4 bản) của các dịch giả Đoàn Thị Điểm, Phan Huy Ích, Nguyễn Khản, Bạch Liên am Nguyễn và hai tác giả khuyết danh[1]. Bản dịch thành công nhất và phổ biến nhất xưa nay, theo thể song thất lục bát, có độ dài 412 câu (theo bản in chữ Nôm cũ hiện còn, ký hiệu 1902:AB.26) hoặc 408 câu (một bản in khác lưu tại Thư viện Paris) có người cho là Đoàn Thị Điểm (1705-1748), có người cho là của Phan Huy Ích (1751-1822) và những phát hiện mới gần đây có xu hướng nghiêng về dịch giả Phan Huy Ích[1][4] ?.

    • Hiện nay, Chinh phụ ngâm có 7 bản dịch và phỏng dịch bằng các thể thơ lục bát (3 bản) hoặc song thất lục bát (4 bản) của các dịch giả Đoàn Thị Điểm, Phan Huy Ích, Nguyễn Khản, Bạch Liên am Nguyễn và hai tác giả khuyết danh[1]. Bản dịch thành công nhất và phổ biến nhất xưa nay, theo thể song thất lục bát, có độ dài 412 câu (theo bản in chữ Nôm cũ hiện còn, ký hiệu 1902:AB.26) hoặc 408 câu (một bản in khác lưu tại Thư viện Paris) có người cho là Đoàn Thị Điểm (1705-1748), có người cho là của Phan Huy Ích (1751-1822) và những phát hiện mới gần đây có xu hướng nghiêng về dịch giả Phan Huy Ích[1][4] ?.

    • Tám câu tiếp:
      a. Cảnh đêm:
      “Gà eo óc gáy sương năm trống
      Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên”
      Không gian vây quanh người chinh phụ được miêu tả bằng cả âm thanh và hình ảnh.
      * Từ láy “eo óc” chỉ tiếng gà gáy tang tóc, âm thanh ấy thưa thớt, buồn bã gợi không gian rộng lớn, trống trải, hiu quạnh. Một đêm có “năm trống” (năm canh) thì người chinh phụ thức trọn năm canh, đối diện với chính mình trong nỗi cô đơn khắc khoải, nghe tiếng gà gáy lòng nàng càng nặng trĩu sầu đau. Tác giả đã sử dụng nghệ thuật lấy động tả tĩnh để khắc họa tình cảnh lẻ loi của người vợ có chồng đi lính.
      * Hình ảnh cây hòe trong màn đêm “phất phơ rủ bóng” cũng gợi lên cảm giác man mác buồn, xót xa. Vây quanh người phụ nữ nhỏ bé đáng thương và cô độc là những bóng dáng mập mờ lay động, như có như không, cũng như tin tức về người chồng ngoài biên ải xa xôi và cuộc sống hôn nhân dang dở. Tất cả đều mờ mịt, khiến nàng hoang mang, lo sợ.
      * Người chinh phụ nhìn cây hòe giống như người phòng khuê bắt gặp cành dương liễu. Người phụ nữ trong “Khuê oán” của Vương Xương Linh chợt ân hận và xót xa cho hạnh phúc dở dang. Còn người chinh phụ trong “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn lại đắm chìm trong lo lắng, suy tư.
      => Ngóng trông người chinh phu, người chinh phụ thức trắng đêm, vùi mình vào nỗi cô đơn hiu quạnh trong không gian lạnh lẽo, hoang vắng. Cả âm thanh và hình ảnh trong đêm khuya khiến nàng càng tủi thân, chán chường và lo lắng.
      b. Người chinh phụ thấm thía bi kịch cuộc đời mình:
      “Khắc giờ đằng đẵng như niên
      Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.”
      * Người chinh phụ bị bủa vây trong nỗi cô đơn, cuộc sống của nàng thật tẻ nhạt và nặng nề. Ngày lại ngày, giờ lại giờ, nàng chỉ biết mòn mỏi nhớ thương, bồn chồn lo lắng. Khoảng thời gian không tình yêu, không hơi ấm hạnh phúc ẩy đối với nàng mới khó khăn làm sao! Người chinh phụ nhận thấy thời gian trôi thật chậm chạp, một ngày dài lê thê như một năm. Câu thơ gợi cho người đọc nỗi nhớ của Kim Trọng với Thúy Kiều trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du: “Sầu đong càng lắc càng đầy/ Ba thu dọn lại một ngày dài ghê.” Với nhân vật trữ tình, khi vắng đi người thương, thời gian đi những bước chậm chạp, uể oải.
      * Những ngày tháng lẻ loi dài dằng dặc của người chinh phụ đong đầy sầu khổ. Những mối lo toan về người chồng đang ở xa liệu có mạnh khỏe, bình an cùng những thương nhớ, xót xa cho thân phận mình, cho cuộc sống hôn nhân dở dang của nàng tưởng như không có hồi kết. Quả đúng “Sầu đong càng lắc càng đầy”, nỗi buồn nhớ trong người chinh phụ tích tụ lại, bao la hơn không gian, mênh mông hơn thời gian, không thể đong đếm được. “Miền biển xa” là hình ảnh mang tính ước lệ tượng trưng cho những tâm tư vô hình mà vô hạn của người phụ nữ có chồng đi lính.
      => Bằng bút pháp ước lệ tượng trưng và nghệ thuật so sánh, sử dụng từ ngữ khéo léo, tài tình, tác giả tô đậm tâm trạng người chinh phụ, từng cung bậc cảm xúc rõ ràng và sâu sắc.
      c. Người chinh phụ cố vùng thoát khỏi nỗi buồn:
      “Hương gượng đốt hồn đà mê mải
      Gương gượng soi lệ lại châu chan
      Sắt cầm gượng gảy ngón đàn
      Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng”
      * Người chinh phụ muốn thoát khỏi ưu phiền, bèn đốt hương, nhưng lại không kìm lòng được mà mê man trong quá khứ.
      * Trong quãng thời gian vắng chồng, người chinh phụ chẳng buồn đoái hoài đến phấn son hoa lệ: “Vắng chàng điểm phấn trang hồng với ai?” Nhưng đêm nay, mong muốn xóa tan những nỗi lo, nhớ, nàng soi gương, thấy đôi mắt chứa chan sầu bi, đôi môi không thể gượng nổi một nụ cười nhạt. Khoảng thời gian dài trông mong chồng và nỗi đau luôn âm ỉ trong lòng đã hủy hoại nhan sắc của người phụ nữ đang trong độ tuổi xuân sắc. Nàng khóc cho tuổi xuân héo tàn, cho dung nhan võ vàng, cho số phận bi đát. Những giọt lệ không thể giúp nàng lấy lại hạnh phúc, tình yêu và tuổi trẻ.
      * Cảm thấy việc đốt hương, soi gương không thể giúp quên đi chuyện buồn, người chinh phụ tìm đến tiếng đàn. Nàng mong tiếng đàn rộn ràng có thể xóa tan âu lo, phiền muộn nhưng ghi gảy đàn, nàng lại nơm nớp lo sợ dây đàn đứt.
      + Sắt cầm: đàn sắt và đàn cầm hòa âm với nhau, tượng trưng cho cảnh vợ chồng hòa thuận.
      + Dây uyên: Uyên ương là biểu tượng cho lứa đôi gắn bó, hòa hợp.
      + Phím loan: Chim loan phượng cũng là biểu tượng cho tình yêu đôi lứa.
      => Tác giả sử dụng loạt hình ảnh mang tính ước lệ tượng trưng nhằm nói lên nỗi lo khôn nguôi của người chinh phụ về tình cảm vợ chồng, về người chinh phu đang cách xa ngàn dặm.
      * Điệp từ “gượng” cho thấy sự cố gắng gượng gạo và chán nản ở người chinh phụ, nàng vùng vẫy trong nỗi cô đơn nhưng lại bị chính nỗi cô đơn bóp chặt. Những thú vui của tầng lớp quý tộc giờ đây lại không thể đem lại cho nàng niềm vui, hơn thế nữa chúng lại như liều thuốc kích thích khối u sầu khổ trong lòng nàng. Nàng chỉ mong được sum vầy, nhưng buổi đoàn tụ trong tưởng tượng của nàng lại quá đỗi xa xỉ trong hoàn cảnh này.

  1. Cô ơi đề trường em cho so sánh vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách của người phụ nữ qua 10 cầu đầu của bài Tình cảnh lẻ loi và bài trao duyên á Côô, cô giúp em với

    • bài tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ miêu tả nỗi lòng cô đơn lẻ loi và niềm khát khao được sống trong tình yêu và hạnh phúc lứa đôi của ng chinh phụ. ko thể hiện vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách nhé Bel, bởi vậy ko thể so sánh hai nhân vật này được

    • điệp từ Gượng : sự gượng gạo miễn cưỡng, diễn tả sự gắng gượng của người chinh phụ , cố gắng vượt qua nỗi cô đơn nhưng càng cố gắng càng rơi vào bi kịch

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*