Đề kiểm tra học kì 2 môn Ngữ văn lớp 10

Rate this post

Trường TH,  THCS và THPT                                        ĐỀ KIỂM TRA HỌC KỲ 2 ( 2017 – 2018 )

      TRƯƠNG VĨNH KÝ                                                    Môn:  VĂN –  Khối: 10

Bản quyền bài viết này thuộc về https://vanhay.edu.vn. Mọi hành động sử dụng nội dung web xin vui lòng ghi rõ nguồn

                                                                                            Thời gian làm bài:  90  phút

(Đề thi gồm 2 trang)

 

Họ và tên học sinh: …………………………………………………………………….. Lớp: …………………….

PHẦN ĐỌC – HIỂU (3.0 điểm) 

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 4:

 (…) Với những người có văn hóa, “cảm ơn” là lời nói được sử dụng hàng ngày, những lời luôn được cất lên bằng tất cả thái độ lịch sự và tình cảm chân thực nhất. Nhưng tiếc rằng, vẫn còn không ít thanh niên chưa nghĩ như vậy. Họ coi cảm ơn chỉ là những lời khách sáo, vì thế, chẳng cần phải nói ra. Hình như các bạn ấy vẫn nghĩ đơn giản rằng nói lời cảm ơn hay làm những cử chỉ biểu lộ lòng biết ơn là “vẽ chuyện”, chỉ làm mất đi sự thân tình và tăng thêm xa cách mà thôi.

Thế nhưng, cuộc sống hiện đại và yêu cầu về quy tắc giao tiếp giữa người với người đòi hỏi chúng ta phải tập làm quen với lời “làm ơn” và sau đó là “cảm ơn”. Thật hạnh phúc khi ta làm được một việc có ý nghĩa, một điều tốt đem lại hạnh phúc cho người khác và kéo mọi người lại gần nhau hơn. Và cũng sẽ hạnh phúc không kém khi chúng ta thấy mình đã không dửng dưng, bạc bẽo vì đã biết tri ân người giúp đõ mình bằng những lời nói xuất phát tự đáy lòng, chân thành, lịch thiệp: “Cảm ơn”.

(Theo bài viết tham gia diễn đàn Đem mọi người đến gần nhau hơn,

Báo Thanhnienonline, ngày 11.11.2006)

Câu 1: Văn bản trên sử dụng phong cách ngôn ngữ nào? (0,5 điểm)

Câu 2: Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản. (0,5 điểm)

Câu 3: Hình như các bạn ấy vẫn nghĩ đơn giản rằng nói lời cảm ơn hay làm những cử chỉ biểu lộ lòng biết ơn là “vẽ chuyện”, chỉ làm mất đi sự thân tình và tăng thêm xa cách mà thôi.

Anh (chị) có đồng tình với quan niệm của các bạn trẻ ấy không? Vì sao? (1,0 điểm)

Câu 4: Nếu được phát biểu trên diễn đàn này, anh (chị) sẽ gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất của mình đến ai? Vì sao? (1,0 điểm)

(Học sinh viết ngắn gọn trong khoảng 3 – 5 dòng)

PHẦN LÀM VĂN (7.0 điểm)

Câu 1 (3,0 điểm)

Anh (chị) hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 từ) trình bày suy nghĩ của mình về giá trị của lời cảm ơn trong cuộc sống.

Câu 2 (4,0 điểm)

Nêu cảm nhận của anh (chị) về tâm trạng của người chinh phụ trong đoạn thơ sau:

“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
Ngoài rèm, thước chẳng mách tin,
Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?
Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương.
Gà eo óc gáy sương năm trống,
Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên.
Khắc giờ đằng đẵng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.
Hương gượng đốt hồn đà mê mải,
Gương gượng soi lệ lại châu chan.
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,
Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng….”

(Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ – Trích Chinh phụ ngâm,

Đặng Trần Côn, bản dịch Đoàn Thị Điểm(?))

(Theo Sách giáo khoa Ngữ văn 10, Tập hai, NXB Giáo dục Hà Nội)

———–HẾT————-

ĐÁP ÁN VĂN 10, HỌC KỲ 2, 2017 -2108

Câu 1

Phong cách ngôn ngữ chính luận

– Điểm 0,5: Trả lời đúng phương án trên.

– Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời.

Câu 2

Phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản: nghị luận

– Điểm 0,5: Trả lời đúng phương án trên.

– Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời.

Câu 3

Đây là câu hỏi nhằm phát huy khả năng tư duy của học sinh, các em có nhiều hướng trả lời, Gv linh hoạt chấm điểm. Khuyến khích cho điểm tối đa khi các em trả lời nghiêm túc, phù hợp quy chuẩn đạo đức.

– Điểm 1,0:Trả lời đúng yêu cầu trên.

– Điểm 0,5: Có suy nghĩ đúng đắn nhưng chưa giải thích rõ.

– Điểm 0: Trả lời sai, lệch lạc hoặc không trả lời.

Câu 4

Đây là câu hỏi nhằm phát huy khả năng tư duy của học sinh, các em có nhiều hướng trả lời, Gv linh hoạt chấm điểm. Khuyến khích cho điểm tối đa khi các em trả lời nghiêm túc, phù hợp quy chuẩn đạo đức.

– Điểm 1,0:Trả lời đúng yêu cầu trên.

– Điểm 0,5: Có suy nghĩ đúng đắn nhưng chưa giải thích rõ.

– Điểm 0: Trả lời sai, lệch lạc hoặc không trả lời.

PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (3,0 điểm)

* Yêu cầu chung:

– Viết đúng thể loại văn nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí.

– Có đủ 3 phần: nêu vấn đề, triển khai vấn đề, kết thúc vấn đề.

– Biết vận dụng, phối hợp nhiều thao tác nghị luận (giải thích, chứng minh, bình luận…)

– Lập luận chặt chẽ, diễn đạt mạch lạc, trình bày sạch sẽ, chữ viết rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, ngữ pháp.

* Yêu cầu cụ thể:

Đảm bảo cấu trúc đoạn văn nghị luận (0.5 điểm)

Điểm 0,5: Trình bày đầy đủ các phần Mở đoạn, Thân đoạn, Kết đoạn. Phần Mở đoạn biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân đoạn biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết đoạn khái quát được vấn đề và thể hiện được nhận thức của cá nhân.

– Điểm 0,25: Trình bày đầy đủ ba phần Mở đoạn, Thân đoạn, Kết đoạn nhưng các phần chưa thể hiện được đầy đủ yêu cầu trên.

– Điểm 0: Thiếu Mở đoạn hoặc Kết luận, Thân đoạn viết lan man.

Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,5 điểm)

Điểm 0,5: Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: giá trị của lời cảm ơn trong cuộc sống con người.

– Điểm 0,25: Xác định chưa rõ vấn đề cần nghị luận, chỉ nêu chung chung.

– Điểm 0: Xác định sai vấn đề cần nghị luận, trình bày lạc sang vấn đề khác.

Chia vấn đề cần nghị luận thành các luận điểm phù hợp: Các luận điểm được triển khai theo trình tự hợp lí, có sự liên kết chặt chẽ; sử dụng tốt các thao tác lập luận để triển khai các luận điểm (trong đó phải có thao tác giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận): biết kết hợp giữa nêu lí lẽ và đưa dẫn chứng; dẫn chứng phải lấy từ thực tiễn đời sống, cụ thể và sinh động (1,0 điểm):

– Điểm 1, 0: Đảm bảo các yêu cầu trên; có thể trình bày theo định hướng sau:

Ta cần nói lời cảm ơn khi nào? (Khi ta nhận được một món quà, một sự giúp đỡ, một lời góp ý chân thành, một lời động viên,một sự chia sẻ và cảm thông…

 

Phân tích, chứng minh, bình luận – mở rộng, nâng cao :

+ Vì sao con người cần phải biết nói lời cảm ơn? Khi cảm ơn bạn sẽ nhận được nhiều hơn cái đã nhận: đó là sự quý mến trân trọng. Lúc ấy, bạn sẽ đẹp hơn trong mắt mọi người, vì đó là cách cư xử không chỉ hợp đạo lý làm người mà còn là văn hóa giao tiếp. Lời nói cảm ơn của chúng ta giúp tô điểm cho các mối quan hệ xã hội, đem mọi người đến gần nhau hơn.

+ Phê phán không ít người chỉ biết nhận và cho đó là điều đương nhiên mình được hưởng, không biết bày tỏ lòng biết ơn hoặc ngại nói lời cảm ơn với người đã giúp đỡ mình.

– Bài học nhận thức và hành động:

+  Cảm ơn đúng lúc, đúng chỗ. Phải thực sự chân thành khi nói. Phải là phản xạ tự nhiên của mỗi người, tập thành thói quen trong giao tiếp ứng xử.

– Điểm 0,75: Cơ bản đáp ứng được các yêu cầu trên, song một trong các luận điểm (giải thích, phân tích, bình luận) còn chưa được đầy đủ hoặc liên kết chưa thực sự chặt chẽ.

– Điểm 0,5: Đáp ứng được 1/2 đến 2/3 các yêu cầu trên.

– Điểm 0,25: Đáp ứng được 1/3 các yêu cầu trên.

Điểm 00: Không đáp ứng được bất kì yêu cầu nào trong các yêu cầu trên.

Sáng tạo (0,5 điểm)

– Điểm 0,5: Có nhiều cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo (viết câu, sử dụng từ ngữ, hình ảnh và các yếu tố biểu cảm,…); có quan điểm và thái độ riêng sâu sắc nhưng không trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

– Điểm 0,25: Có một số cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo; thể hiện được một số suy nghĩ riêng sâu sắc nhưng không trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

– Điểm 00: Không có cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo; không có quan điểm và thái độ riêng hoặc quan điểm, thái độ trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

  1. Chính tả, dùng từ, đặt câu (0.5 điểm)

– Điểm 0,5: Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

– Điểm 0,25: Mắc một số lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

– Điểm 0: Mắc nhiều lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

Câu 2 (4,0 điểm)

* Yêu cầu chung:

– Nắm vững phương pháp làm một bài văn nghị luận văn học: phân tích một đoạn thơ.

– Cách lập luận chặt chẽ, diễn đạt mạch lạc, thuyết phục, lời văn trong sáng, dễ hiểu.

– Trình bày sạch sẽ, chữ viết rõ ràng, bố cục sáng rõ.

* Yêu cầu cụ thể:

Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận (0,5 điểm):

– Điểm 0,5: Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết luận. Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết luận khái quát được vấn đề và thể hiện được ấn tượng, cảm xúc sâu đậm của cá nhân.

– Điểm 0,25: Trình bày đầy đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết luận, nhưng các phần chưa thể hiện được đầy đủ yêu cầu trên; phần Thân bài chỉ có 1 đoạn văn.

– Điểm 0: Thiếu Mở bài hoặc Kết luận; Thân bài chỉ có 1 đoạn văn hoặc cả bài viết chỉ có 1 đoạn văn.

Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,5 điểm):

– Điểm 0,5: Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích 16 câu thơ đầu đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” (Đặng Trần Côn, bản dịch Đoàn Thị Điểm (?))

– Điểm 0,25: Xác định chưa rõ vấn đề cần nghị luận, chỉ nêu chung chung.

– Điểm 0: Xác định sai vấn đề cần nghị luận, trình bày lạc sang vấn đề khác.

Chia vấn đề cần nghị luận thành các luận điểm phù hợp: Các luận điểm được triển khai theo trình tự hợp lí, có sự liên kết chặt chẽ; sử dụng tốt các thao tác lập luận để triển khai các luận điểm; biết kết hợp giữa nêu lí lẽ và đưa dẫn chứng (2.0 điểm)

Yêu cầu về kĩ năng:

Nắm vững phương pháp làm bài phân tích tác phẩm thơ, bố cục rõ, diễn đạt trôi chảy, mạch lạc, …

Yêu cầu về kiến thức:

* Về nội dung:

– Trích dẫn chính xác đoạn thơ.

– Giới thiệu được tác giả, tác phẩm, xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm, chủ đề của đoạn trích.

– Phân tích:

+ Nỗi cô đơn của người chinh phụ được thể hiện qua nếp sinh hoạt hằng ngày:

Một mình đi dạo hiên vắng

Ngồi buông rèm, cuốn rèm (rủ thác)

=> Những hành động lặp đi lặp lại không mục đích, vô nghĩa thể hiện tâm trạng rối bời, nhung nhớ, cô đơn lẻ loi của người chinh phụ.

+ Nỗi cô đơn của người chinh phụ còn được thể hiện qua những yếu tố ngoại cảnh:

Chim thước: là loài chim báo tin lành nhưng chẳng thấy

Đèn: vật vô tri không thể hiểu được tấm lòng người chinh phụ

+ Nỗi sầu muộn triền miên của người chinh phụ được thể hiện qua thời gian tâm lí:

Âm thanh: Tiếng gà eo óc, tiếng trống năm canh.

Hình ảnh: Bóng cây hòe phất phơ.

Hành động:

Gượng đốt hương để tìm sự thanh thản nhưng tâm hồn lại thêm mê man.

Gượng soi gương nhưng nước mắt đầm đìa.

Gượng gảy đàn gợi đến hình ảnh lứa đôi những lại mang đến điều chẳng lành (dây uyên – đứt, phím loan – ngại chùng)

Từ láy: eo óc, phất phơ, đằng đẵng, dằng dặc – giàu sức tạo hình, tạo nhạc.

Biện pháp so sánh đã làm bật lên chiều dài vô tận của thời gian và chiều rộng mênh mông của không gian.

→ Tâm trạng người chinh phụ ở 16 câu thơ đầu: cô đơn lẻ loi, rối bời nhung nhớ đến ngẩn ngơ, buồn sầu.

– Cảm nhận chung về giá trị đặc sắc của đoạn thơ.

  1. Sáng tạo (0,5 điểm)

– Điểm 0,5: Có nhiều cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo (viết câu, sử dụng từ ngữ, hình ảnh và các yếu tố biểu cảm,…); có quan điểm và thái độ riêng sâu sắc nhưng không trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

– Điểm 0,25: Có một số cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo; thể hiện được một số suy nghĩ riêng sâu sắc nhưng không trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

– Điểm 00: Không có cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo; không có quan điểm và thái độ riêng hoặc quan điểm, thái độ trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

  1. Chính tả, dùng từ, đặt câu (0,5 điểm)

– Điểm 0,5: Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

– Điểm 0,25: Mắc một số lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

– Điểm 0: Mắc nhiều lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

 

Bài viết liên quan

42 Comments

      • Hiện nay, Chinh phụ ngâm có 7 bản dịch và phỏng dịch bằng các thể thơ lục bát (3 bản) hoặc song thất lục bát (4 bản) của các dịch giả Đoàn Thị Điểm, Phan Huy Ích, Nguyễn Khản, Bạch Liên am Nguyễn và hai tác giả khuyết danh[1]. Bản dịch thành công nhất và phổ biến nhất xưa nay, theo thể song thất lục bát, có độ dài 412 câu (theo bản in chữ Nôm cũ hiện còn, ký hiệu 1902:AB.26) hoặc 408 câu (một bản in khác lưu tại Thư viện Paris) có người cho là Đoàn Thị Điểm (1705-1748), có người cho là của Phan Huy Ích (1751-1822) và những phát hiện mới gần đây có xu hướng nghiêng về dịch giả Phan Huy Ích[1][4] ?.

    • Hiện nay, Chinh phụ ngâm có 7 bản dịch và phỏng dịch bằng các thể thơ lục bát (3 bản) hoặc song thất lục bát (4 bản) của các dịch giả Đoàn Thị Điểm, Phan Huy Ích, Nguyễn Khản, Bạch Liên am Nguyễn và hai tác giả khuyết danh[1]. Bản dịch thành công nhất và phổ biến nhất xưa nay, theo thể song thất lục bát, có độ dài 412 câu (theo bản in chữ Nôm cũ hiện còn, ký hiệu 1902:AB.26) hoặc 408 câu (một bản in khác lưu tại Thư viện Paris) có người cho là Đoàn Thị Điểm (1705-1748), có người cho là của Phan Huy Ích (1751-1822) và những phát hiện mới gần đây có xu hướng nghiêng về dịch giả Phan Huy Ích[1][4] ?.

    • Tám câu tiếp:
      a. Cảnh đêm:
      “Gà eo óc gáy sương năm trống
      Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên”
      Không gian vây quanh người chinh phụ được miêu tả bằng cả âm thanh và hình ảnh.
      * Từ láy “eo óc” chỉ tiếng gà gáy tang tóc, âm thanh ấy thưa thớt, buồn bã gợi không gian rộng lớn, trống trải, hiu quạnh. Một đêm có “năm trống” (năm canh) thì người chinh phụ thức trọn năm canh, đối diện với chính mình trong nỗi cô đơn khắc khoải, nghe tiếng gà gáy lòng nàng càng nặng trĩu sầu đau. Tác giả đã sử dụng nghệ thuật lấy động tả tĩnh để khắc họa tình cảnh lẻ loi của người vợ có chồng đi lính.
      * Hình ảnh cây hòe trong màn đêm “phất phơ rủ bóng” cũng gợi lên cảm giác man mác buồn, xót xa. Vây quanh người phụ nữ nhỏ bé đáng thương và cô độc là những bóng dáng mập mờ lay động, như có như không, cũng như tin tức về người chồng ngoài biên ải xa xôi và cuộc sống hôn nhân dang dở. Tất cả đều mờ mịt, khiến nàng hoang mang, lo sợ.
      * Người chinh phụ nhìn cây hòe giống như người phòng khuê bắt gặp cành dương liễu. Người phụ nữ trong “Khuê oán” của Vương Xương Linh chợt ân hận và xót xa cho hạnh phúc dở dang. Còn người chinh phụ trong “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn lại đắm chìm trong lo lắng, suy tư.
      => Ngóng trông người chinh phu, người chinh phụ thức trắng đêm, vùi mình vào nỗi cô đơn hiu quạnh trong không gian lạnh lẽo, hoang vắng. Cả âm thanh và hình ảnh trong đêm khuya khiến nàng càng tủi thân, chán chường và lo lắng.
      b. Người chinh phụ thấm thía bi kịch cuộc đời mình:
      “Khắc giờ đằng đẵng như niên
      Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.”
      * Người chinh phụ bị bủa vây trong nỗi cô đơn, cuộc sống của nàng thật tẻ nhạt và nặng nề. Ngày lại ngày, giờ lại giờ, nàng chỉ biết mòn mỏi nhớ thương, bồn chồn lo lắng. Khoảng thời gian không tình yêu, không hơi ấm hạnh phúc ẩy đối với nàng mới khó khăn làm sao! Người chinh phụ nhận thấy thời gian trôi thật chậm chạp, một ngày dài lê thê như một năm. Câu thơ gợi cho người đọc nỗi nhớ của Kim Trọng với Thúy Kiều trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du: “Sầu đong càng lắc càng đầy/ Ba thu dọn lại một ngày dài ghê.” Với nhân vật trữ tình, khi vắng đi người thương, thời gian đi những bước chậm chạp, uể oải.
      * Những ngày tháng lẻ loi dài dằng dặc của người chinh phụ đong đầy sầu khổ. Những mối lo toan về người chồng đang ở xa liệu có mạnh khỏe, bình an cùng những thương nhớ, xót xa cho thân phận mình, cho cuộc sống hôn nhân dở dang của nàng tưởng như không có hồi kết. Quả đúng “Sầu đong càng lắc càng đầy”, nỗi buồn nhớ trong người chinh phụ tích tụ lại, bao la hơn không gian, mênh mông hơn thời gian, không thể đong đếm được. “Miền biển xa” là hình ảnh mang tính ước lệ tượng trưng cho những tâm tư vô hình mà vô hạn của người phụ nữ có chồng đi lính.
      => Bằng bút pháp ước lệ tượng trưng và nghệ thuật so sánh, sử dụng từ ngữ khéo léo, tài tình, tác giả tô đậm tâm trạng người chinh phụ, từng cung bậc cảm xúc rõ ràng và sâu sắc.
      c. Người chinh phụ cố vùng thoát khỏi nỗi buồn:
      “Hương gượng đốt hồn đà mê mải
      Gương gượng soi lệ lại châu chan
      Sắt cầm gượng gảy ngón đàn
      Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng”
      * Người chinh phụ muốn thoát khỏi ưu phiền, bèn đốt hương, nhưng lại không kìm lòng được mà mê man trong quá khứ.
      * Trong quãng thời gian vắng chồng, người chinh phụ chẳng buồn đoái hoài đến phấn son hoa lệ: “Vắng chàng điểm phấn trang hồng với ai?” Nhưng đêm nay, mong muốn xóa tan những nỗi lo, nhớ, nàng soi gương, thấy đôi mắt chứa chan sầu bi, đôi môi không thể gượng nổi một nụ cười nhạt. Khoảng thời gian dài trông mong chồng và nỗi đau luôn âm ỉ trong lòng đã hủy hoại nhan sắc của người phụ nữ đang trong độ tuổi xuân sắc. Nàng khóc cho tuổi xuân héo tàn, cho dung nhan võ vàng, cho số phận bi đát. Những giọt lệ không thể giúp nàng lấy lại hạnh phúc, tình yêu và tuổi trẻ.
      * Cảm thấy việc đốt hương, soi gương không thể giúp quên đi chuyện buồn, người chinh phụ tìm đến tiếng đàn. Nàng mong tiếng đàn rộn ràng có thể xóa tan âu lo, phiền muộn nhưng ghi gảy đàn, nàng lại nơm nớp lo sợ dây đàn đứt.
      + Sắt cầm: đàn sắt và đàn cầm hòa âm với nhau, tượng trưng cho cảnh vợ chồng hòa thuận.
      + Dây uyên: Uyên ương là biểu tượng cho lứa đôi gắn bó, hòa hợp.
      + Phím loan: Chim loan phượng cũng là biểu tượng cho tình yêu đôi lứa.
      => Tác giả sử dụng loạt hình ảnh mang tính ước lệ tượng trưng nhằm nói lên nỗi lo khôn nguôi của người chinh phụ về tình cảm vợ chồng, về người chinh phu đang cách xa ngàn dặm.
      * Điệp từ “gượng” cho thấy sự cố gắng gượng gạo và chán nản ở người chinh phụ, nàng vùng vẫy trong nỗi cô đơn nhưng lại bị chính nỗi cô đơn bóp chặt. Những thú vui của tầng lớp quý tộc giờ đây lại không thể đem lại cho nàng niềm vui, hơn thế nữa chúng lại như liều thuốc kích thích khối u sầu khổ trong lòng nàng. Nàng chỉ mong được sum vầy, nhưng buổi đoàn tụ trong tưởng tượng của nàng lại quá đỗi xa xỉ trong hoàn cảnh này.

  1. Cô ơi đề trường em cho so sánh vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách của người phụ nữ qua 10 cầu đầu của bài Tình cảnh lẻ loi và bài trao duyên á Côô, cô giúp em với

    • bài tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ miêu tả nỗi lòng cô đơn lẻ loi và niềm khát khao được sống trong tình yêu và hạnh phúc lứa đôi của ng chinh phụ. ko thể hiện vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách nhé Bel, bởi vậy ko thể so sánh hai nhân vật này được

    • điệp từ Gượng : sự gượng gạo miễn cưỡng, diễn tả sự gắng gượng của người chinh phụ , cố gắng vượt qua nỗi cô đơn nhưng càng cố gắng càng rơi vào bi kịch

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*