Cảm nhận 24 câu đầu bài thơ Việt Bắc Tố Hữu

Rate this post

Lưu ý : Bài ôn tập có nhiều phần, các em đọc những phần khác ở link này : https://vanhay.edu.vn/tag/viet-bac
Đề 1. Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ sau trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu:
“Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng…
Mình đi mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu”
Yêu cầu của đề
Nội dung: trước khi phân tích đoạn thơ, học sinh cần nắm được nội dung khái quát toàn bộ đoạn trích thuộc phần đầu bài thơ. Nhà thơ đã tái hiện được một thời kì cách mạng và kháng chiến gian khổ mà hào hùng của dân tộc, nghĩa tinh gắn bó thắm thiết của những người kháng chiến với Việt Bắc, với nhân dân, với đất nước; qua đó thấy rõ từ tình cảm thuỷ chung truyền thống của dân tộc, Tố Hữu đã nâng lên thành tình cảm mới của thời đại, đó là ân tình cách mạng – cội nguồn sức mạnh quan trọng tạo nên thắng lợi của cách mạng và kháng chiến. Khi phân tích thơ cần tách khổ và hình thành luận điểm theo cấu tứ của đoạn thơ: lời người đi – lời người ở qua cách xưng hô mình – ta tưởng rất riêng của tình yêu đôi lứa nhưng lại là tình cảm lớn của những người kháng chiến. Cụ thể như sau:
Cái tôi trữ tình – nhà thơ và những người tham gia kháng chiến.
Tình cảm bâng khuâng lưu luyến của người ở – người đi trong buổi chia tay.
Lời hỏi của người ở lại với người ra đi có nhớ về một chiến khu gian khó mà thuỷ chung?
Những đặc sắc nghệ thuật của đoạn thơ.
Các thao tác lập luận kết hợp: phân tích – chứng minh – bình luận.
Lập dàn ý
Mở bài:

Đặt mua tài liệu môn văn lớp 9, 10, 11, 12 TẠI ĐÂY.
  • Việt Bắc là đầu não của cuộc kháng chiến chống Pháp, đây chính là căn cứ địa vững chắc của trung ương Đảng và Chính phủ trong suốt 15 năm thuở còn kháng Nhật. Nơi đây, đồng bào các dân tộc Việt Bắc đã cưu mang, che chở cho Đảng, Chính phủ và bộ đội những ngày kháng chiến vô cùng gian khó.
  • Tháng 10 năm 1954, những người kháng chiến từ căn cứ Việt Bắc trở về xuôi, Trung ương Đảng và Chính phủ về Hà Nội. Liệu những người chiến thắng có giữ tấm lòng thuỷ chung, ân nghĩa với mảnh đát đã từng cưu mang gắn bó hay không? Đấy là vấn đề tư tường lớn đặt ra chó các cán bộ và chiến sĩ. Tố Hữu viết bài thơ Việt Bắc để đáp lại nỗi niềm ấy. Việt Bắc là đỉnh cảo của thơ Tố Hữu và cũng là thi phẩm xuất sắc của văn học Việt Nam thời kì kháng chiến chống Pháp; là khúc tình ca, anh hùng ca về cách mạng, về cuộc kháng chiến, về con người kháng chiến, mà cội nguồn sâu xa của nó là tình yêu quê hương đất nước; là niềm tự hào về sức mạnh nhân dân, là truyền thống ân nghĩa, đạo lí thuỷ chung của dân tộc Việt Nam.
  • Một trong những đoạn gây xúc động lòng người là phần đầu bài thơ, tái hiện một giai đoạn lịch sử gian khổ vẻ vang của cách mạng và kháng chiến ở chến khu Việt Bắc, nay đã trở thành kỉ niệm sâu nặng của những người kháng chiến.

Thân bài
Luận điểm 1: Phân tích cấu tứ của đoạn thơ

Bản quyền bài viết này thuộc về https://vanhay.edu.vn. Mọi hành động sử dụng nội dung web xin vui lòng ghi rõ nguồn
  • Đoạn thơ nằm trong cấu tứ chung của cả bài thơ, đó là tâm trạng đầy xúc động bâng khuâng của người đi kẻ ở, cả hai từng sống và gắn bó suốt mười lăm năm, có biết bao kỉ niệm ân tình ân nghĩa, sẻ chia đắng cay ngọt bùi trong cuộc kháng chiến đầy gian khổ.
  • Tố Hữu đã rất khéo léo thể hiện ân tình ân nghĩa ấy dưới hình thức đối đáp của hai nhân vật trữ tình mình – ta trong ca dao truyền thống tưởng như rất riêng của tình yêu đối lứa những lại hoá thành một vấn đề lớn trong mối quan hệ của tình đồng chí đồng bào, của tình yêu quê hương đất nước. Lời đối đáp giao hoà đồng vọng trong tầm hồn mỗi người vì cả hai đều là người kháng chiến.
  • Nhà thơ sử dụng sáng tạo hai đại từ mình – ta là thủ pháp nghệ thuật độc đáo, tài hoa góp phần vào sự phân đôi và thống nhất của chủ thể trữ tình. Mình là ta, ta là mình; là những người kháng chiến, là đồng bào Việt Bắc, là nhà thơ. Tất cả thâm nhập, chuyển hoá vào lời độc thoại, đối thoại, diễn tả chung tâm trạng, tâm tư tình cảm của nhà thơ và của những người tham gia kháng chiến. Họ đã sống gắn bó, tình nghĩa, sướng khổ có nhau; cùng chung kỉ niệm mong ước, cùng chung cảm xúc buổi phân li; cùng xúc động băn khoăn, dằn vặt giữa cái đã qua và cái sắp tới; giữa phần đi và phần ở lại trong mỗi con người.

Luận điểm 2: Tình cảm bâng khuâng lưu luyến của người ở – người đi trong buổi chia tay
Lời người ở lại hỏi người ra đi:
Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?
Người ở lại nhạy cảm với hoàn cảnh đổi thay, dường như gợi nhắc cho người ra đii những kỉ niệm gắn bó suốt mười lăm năm biết bao gian khó, hi sinh mà thiết tha mặn nồng… nay trở về xuôi liệu có nhớ không? Các điệp ngữ mình có nhớ ta, mình có nhớ không với giọng điệu lưu luyến da diết khôn nguôi về một thời cách mạng, nhắc nhớ người ra đi đạo lí uống nước nhớ nguồn.
Tế nhị và sâu sắc biết bao, người ra đi chỉ biết cầm tay nghẹn ngào khó nói:
Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay Nghe tiếng ai tha thiết mà trong lòng bâng khuâng, bước chân bồn chồn, dùng dằng chưa muốn cất bước. Làm sao có thể ra đi mà quên cội nguồn “Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”. Người ra đi không nói thành lời nhưng biết bao ngậm ngùi, thương nhớ qua cái “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”. Cái cầm tay không lời mà chất chứa bao nỗi niềm người đi. Nhịp thơ lục bát nhẹ nhàng, diễn tả thần tình một thoáng ngập ngừng của tình cảm. Chút ngập ngừng tạo ra một phút lặng cho chuỗi câu hỏi tiếp theo được vang lên dồn dập tha thiết hơn.
Luận điểm 3: Lời người ở hỏi người đi có nhớ về một chiến khu gian khó mà thuỷ chung
Mình đi có nhớ những ngày Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù?
Mình về, có nhớ chiến khu Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?
Mình về, rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng, măng mai để già Mình đi, có nhớ những nhà Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son Mình về, còn nhớ núi non Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh Mình đi, mình có nhớ mình Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?
Mười hai dòng thơ nhắc nhở những ngày tháng gian khó ở chiến khu Việt Bắc;  mười hai dòng thơ tạo thành sau câu hỏi như khơi sâu vào những kỉ niệm:
+ Mình đi có nhớ những ngày: Mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù, đó     là đặc                                                 trưng  của
thiên nhiên Việt Bắc trong những ngày khắc nghiệt, gợi ra những gian nan vất vả của những ngày kháng chiến.
+ Mình về có nhớ những con người Việt Bắc nghèo mà thuỷ chung, tình nghĩa, đồng cam cộng khổ cùng kháng chiến : Miếng cơm chấm muối mối thù nặng vai, Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son?
+ Mình về có nhớ mảnh đất chiến khu từ khi kháng Nhật thuở còn Việt Minh, nơi ấy là căn cứ địa vững chắc cho kháng chiến với những địa danh như Tân Trào, Hồng Thái, và những kỉ niệm mái đình, cây đa?
Thiên nhiên, mảnh đất, con người biết bao ân tình, ân nghĩa, người đi sao có thể lãng quên. Luận điểm 4: Lời khẳng định của người ra đi

Ta với mình, mình với ta

Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh

Mình đi, mình lại nhớ mình

Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu…

  • Ta – mình; mình – ta quấn quýt, quyện hoà, ta với mình là một, lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh. Đinh ninh là sự khẳng định chắc chắn, mãi mãi mặn mà, gắn bó thuỷ chung với Việt Bắc. Việt Bắc là cái nôi cội nguồn cách mạng làm sao có thể quên. Sự so sánh Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu khẳng định sự thuỷ chung sắt son với Việt Bắc như tình yêu đôi lứa bền chặt, mãi mãi không bao giờ cạn như nguồn nước kia.

Luận điểm 5: Đánh giá về nghệ thuật

  • Các câu lục bát mang âm hưởng của ca dạo tạo nên âm hưởng ngân nga réo rắt, trầm ổng và thấm sâu và hồn người đọc
  • Sử dụng khéo léo cách xưng hô mình – ta tạo nên cuộc đối đáp trong buổi chia li đầy nghĩa tình. Mình là ta mà ta cũng là mình, đi hay về rồi tất cả cùng hướng đến người về xuôi.
  • Những hình ảnh hoán dụ, câu hỏi tu từ khiến cho tình cảm của người ở người đi càng trở nên sâu sắc, gắn bó, lưu luyến mà không nỡ dời xa.

Kết bài
Đoạn thơ là khúc hát ân tình, ân nghĩa của người ra đi và người ở lại. Là tình cảm thắm thiết sâu nặng của những người kháng chiến dù ở trong niềm vui hiện tại vẫn không quên cội nguồn của thắng lợi. Đó là truyền thống đạo lí đẹp đẽ của của dân tộc Việt Nam. Đoạn thơ mang đậm phong cách trữ tình – chính trị. Nhà thơ nói về vấn đề lớn của dân tộc nhưng được diễn tả
qua ngôn ngữ mềm mại, giản dị, chí nghĩa, chí tình, nên thơ, nên nhạc gây ấn tượng sâu đậm trong tâm trí người đọc.
Xem thêm : Phân tích bức tranh tứ bình Việt Bắc, nghị luận ý kiến bàn về bài Việt Bắc, những nhận định hay về bài thơ, Giáo án bài Việt Bắc, sáng kiến kinh nghiệm bài Việt Bắc, Đề thi học sinh giỏi. Tất cả đều có ở link này :https://vanhay.edu.vn/tag/viet-bac

Bài viết liên quan

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*