Viết đoạn văn khoảng 200 từ trình bày suy nghĩ của về tính trung thực

Đề bài : Viết đoạn ván khoảng 200 từ trình bày suy nghĩ của anh/ chị về tính trung thực.

Đoạn văn mẫu NLXH  bàn về lòng trung thực của con người trong cuộc sống :

Đôi lúc hiện thực bản thân tàn khốc đến nỗi giết chết dũng khí vốn đã nhỏ bé của bạn, khiến bạn không dám nhìn thẳng vào đó và thừa nhận, để rồi khi cùng đựờng, bạn vội vã tìm đến với những thứ giả tạo sáo rỗng, tự lừa mình và tự dối người. Nhưng, bạn hãy nhớ, dù cho khát khao trốn tránh sự thật của bạn có lớn đến đâu chăng nữa, dù cho tiểu xảo che mắt thiên hạ có hoàn mĩ đến độ nào thì sự thật vẫn chỉ có một .Vậy, tại sao ta không tự tập cho mình thói quen sống thật, sống trung thực? Hà cớ gì ta phải mệt mỏi với chính mình khi lúc nào củng “tốt khoe xấu che”? Trung thực là tính cách không phải tự nhiên mà có, cũng không phải là thứ dành cho những kẻ hèn nhát, dễ nản lòng. Trung thực là dám nhìn thẳng, dám chấp nhận, dám làm dám chịu và còn là cơ sở tạo nên niềm tin. Có niềm tin con người mới có thể tạo ra cho mình hy vọng để yên tâm, và cống hiến trọn vẹn. Vậy nên, ngay từ giờ phút này, hãy chung tay loại bỏ thói dối trá ra khỏi đời sống xã hội, hãy cùng nhau tạo nên một thế giới nơi con người tin tưởng và sống với nhau bình đẳng và bác ái.

(Lê Phùng Tú Lệ)

Dẫn theo thầy Phan Danh Hiếu, Nguyễn Phước Bảo Khôi ( chủ biên )

Xem thêm Những đoạn văn Nghị luận xã hội hay : Nghị luận xã hội

Bài văn mẫu phân tích Câu cá mùa thu Nguyễn Khuyến

Đề bài : Phân tích bài thơ “Câu cá mùa thu” (Thu điếu) của  nhà thơ Nguyễn Khuyến

Bài viết

Nguyễn Khuyến là bậc túc nho tài năng, có cốt cách thanh cao, có tấm lòng yêu nước thương dân nhưng lại bất lực trước thời cuộc. Ông được mệnh danh là “nhà thơ của dân tình làng cảnh Việt Nam”. Nhắc đến ông, không ai lại không nhớ đến chùm thơ thu nức tiếng gồm ba bài, trong đó có “Câu cá mùa thu” (“Thu điếu”). Bài thơ tiêu biểu cho vẻ đẹp hồn thơ Nguyễn Khuyến :

“Ghi nguyên văn bài thơ”

Bài thơ nằm trong chùm thơ có đề tài về mùa thu gồm ba bài nức tiếng : “Thu vịnh” (“Vịnh mùa thu”), “Thu điếu” (“Câu cá mùa thu”) và “Thu ẩm” (“Mùa thu uống rượu”), sáng tác khi Nguyễn Khuyến đã từ quan về ở ẩn tại quê nhà. Tác phẩm được viết bằng chữ Nôm, theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, có bố cục bốn phần : Đề, thực, luận, kết.

Ngay từ đầu bài thơ, người đọc đã thấy không gian quen thuộc của một buổi câu cá:

“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”.

Không gian ấy được mở ra bởi hai hình ảnh vừa đối lập vừa cân đối, hài hòa : “ao thu” và “thuyền câu”. Đó là những hình ảnh quá đỗi thân thuộc với người dân vùng đồng bằng chiêm trũng Bắc bộ. Là “ao” chứ không phải là “hồ”, ao nhỏ hơn so với hồ. Bởi vậy mà chiếc thuyền câu “bé tẻo teo” xuất hiện giữa cái “ao”, tuy đối lập mà không trở nên lạc lõng, bất xứng; chúng làm nên một bức tranh thu hài hòa, cân đối. Ở câu đầu, thi nhân diễn tả cụ thể đặc điểm của “ao thu”. Có lẽ là đã vào cuối thu nên không khí ao thu đã nhuốm hơi thở của tiết trời mùa đông, trở nên “lạnh lẽo”. Từ láy “lạnh lẽo” vừa gợi ra thời tiết se lạnh vừa diễn tả cái tĩnh lặng của không gian. Cả mặt nước tĩnh lặng khiến cho làn nước mùa thu vốn đã trong lại càng trong hơn. Thi nhân dùng từ “trong veo” để nói cái trong ấy. Nước đã trong lại tĩnh lặng không gợn sóng nên dường như ngồi trên chiếc thuyền câu, ông có thể ngắm được rong rêu và cả bầu trời trong xanh phía dưới mặt ao. Cảnh thu thật đẹp, thật trong trẻo, thanh sơ. Hai câu thơ mà có đến bốn tiếng có vần “eo”, không chỉ có tác dụng miêu tả không khí lạnh lẽo, không gian eo hẹp rất đặc trưng của ao hồ vùng chiêm trũng Bắc bộ, mà còn gợi ra cảm giác buồn bã, cô đơn trong lòng người. Như vậy, ngay từ những nét vẽ đầu tiên, người đọc đã cảm nhận được những rung cảm của tâm hồn thi sĩ trước cảnh đẹp mùa thu.

Hai câu thực tiếp tục những nét vẽ về mùa thu :

“Sóng biếc theo làn hơi gợn tí

Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo”

Tác giả vận dụng tài tình nghệ thuật lấy động tả tĩnh. Tả cái động “hơi gợn tí” của sóng và “khẽ đưa vèo” của lá rơi càng khắc họa nên cái tĩnh lặng của mùa thu làng quê Việt Nam xưa. Không gian có tĩnh lặng thì người ta mới nghe thấy những âm thanh rất nhỏ, rất khẽ ấy. Không chỉ miêu tả cái tĩnh lặng, hai câu thơ còn tiếp tục làm nổi bật vẻ đẹp trong trẻo, nên thơ của mùa thu. Sóng ở đây là “sóng biếc”, sóng của làn nước trong ánh lên màu xanh ngọc bích. Điểm xuyết giữa bức tranh thu ấy là màu vàng của chiếc lá thu rơi. Cũng như các nhà thơ khác, mùa thu gắn liền với lá vàng. Thế nhưng, Nguyễn Khuyễn khác hẳn họ ở chỗ, màu vàng lá thu trong câu thơ của ông chỉ điểm xuyết ít ỏi, chỉ len lỏi giữa màu xanh của làn nước, bầu trời, ngõ trúc…Ông không lấy màu vàng làm sắc màu chủ đạo, và màu vàng trong câu thơ cũng không phải là màu gợi ra sự héo úa, chết chóc. Nó đơn thuần là màu vàng đặc trưng của mùa thu Việt Nam, không hề mang hơi hướng của màu vàng trong thơ ca về mùa thu của thi nhân Trung Hoa xưa. Xuân Diệu cũng đã từng phát hiện ra điều này : “Cái thú vị của bài “Thu điếu” là ở các điệu xanh, xanh ao, xanh bờ, xanh sóng, xanh tre, xanh trời, xanh bèo, có một màu vàng đâm ngang của chiếc lá thu rơi…”. Đọc hai câu thực này, người đọc cũng không thể không chú ý vào chữ “vèo”. Thu đến, những chiếc lá đã bắt đầu rời khỏi cành mà không còn lưu luyến. Chỉ cần một làn gió nhẹ, chiếc lá vàng đã nhanh chóng đánh “vèo” xuống mặt ao. Không biết, sau này, Tản Đà có ảnh hưởng của Nguyễn Khuyến hay không mà cũng viết : “Vèo trông lá rụng đầy sân” (“Cảm thu, tiễn thu”) và từng tâm sự rằng cả một đời thơ, ông chỉ vừa ý với câu thơ ấy. Tóm lại, hai câu thực vẫn tiếp tục là bức tranh thu trong trẻo, tĩnh lặng, nên thơ; qua đó người đọc cảm nhận được tình yêu thiên nhiên tha thiết của nhà thơ.

Đến hai câu luận, không gian của bức tranh thu được mở rộng cả về chiều cao và chiều sâu :

“Tầng mây lơ lửng, trời xanh ngắt

Ngõ trúc quanh co, khách vắng teo”.

Trên cao là bầu trời cao, rộng, thoáng đãng, “xanh ngắt” với những áng mây “lơ lửng” giữa không trung. Cái màu “xanh ngắt” là nét đặc trưng đặc biệt của bầu trời thu quê hương cụ Tam Nguyên Yên Đổ, bởi vậy mà bài thơ nào trong chùm thơ thu cũng có màu xanh ấy :

“Trời thu xanh ngắt mấy từng cao”.

(Thu vịnh)

“Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt”.

(Thu ẩm)

Trên nền trời xanh là những áng mây “lơ lửng”. Từ láy này diễn tả những áng mây dường như không trôi theo làn gió mà ngưng đọng lại lưng chừng trời; đồng thời gợi ra trạng thái mơ màng của con người. Dưới mặt đất là “ngõ trúc” “quanh co”, ngoằn ngoèo, sâu hun hút, không hề có bóng người lại qua. Từ “quanh co” không chỉ tả con ngõ nhỏ sâu hun hút mà còn gợi cho người đọc liên tưởng đến những suy nghĩ không thông thoát của con người, khiến con người buồn, bởi vậy cảnh tuy đẹp mà tĩnh lặng, đượm buồn. Đằng sau bức tranh phong cảnh, ta vẫn cảm nhận được tâm hồn tha thiết với thiên nhiên.

Tới hai câu kết, người đọc mới thấy bóng dáng của người đi câu cá :

“Tựa gối buông cần lâu chẳng được

Cá đâu đớp động dưới chân bèo”.

Con người hiện ra trong tư thế nhàn “tựa gối buông cần”. “Buông” cần chứ không phải là “ôm” cần, bởi từ này diễn tả con người đang  thả lỏng cần câu, ngồi câu mà không chú ý đến việc câu. Đó chính là hình ảnh của nhà thơ trong những ngày từ quan lui về ở ẩn. Chốn quan trường khiến ông “chướng tai gai mắt”, ông tìm về quê nhà với thú vui điền viên. Ông đi câu chẳng qua là để tìm một chốn thanh tĩnh mong thoát khỏi những ý nghĩ về thời cuộc. Thế nhưng, có lẽ, Nguyễn Khuyến không thể làm được. Đi câu mà chẳng hề chú ý đến việc câu, tâm trí ông phải chăng cứ miên man trong những suy nghĩ không nguôi về non sông, đất nước, bởi thế mà hình như ông giật mình khi nghe tiếng cá “đâu” đó đớp động dưới chân bèo. Tiếng cá đớp mồi dưới chân bèo đã rất khẽ, rất nhẹ, lại còn là tiếng ở đâu đó vọng lại, thế mà vẫn đủ sức làm ông giật mình. Phải thật sự tập trung suy nghĩ thì mới như thế. Ở đây, hình ảnh người đi câu cá mang đậm dáng dấp của những “ngư, tiều, canh, mục” đời xưa, họ đều là những con người muốn lánh đục tìm trong, chờ thời đợi thế, những nhà nho yêu nước mà bất lực trước thời cuộc.

Với bút pháp thủy mặc Đường thi và vẻ đẹp thi trung hữu họa của bức tranh phong cảnh đồng thời với việc vận dụng tài tình nghệ thuật đối, Nguyễn Khuyễn đã vẽ nên bức tranh thu trong trẻo, thanh sơ, tĩnh lặng và đượm nỗi buồn man mác từ cõi lòng thi nhân.

Tóm lại, “Thu điếu” thực sự là bài thơ “điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam” (Xuân Diệu). Qua bài thơ, ta hiểu được tấm lòng yêu thiên nhiên, đất nước và tâm trạng thời thế của tác giả. Bài thơ nói riệng, chùm thơ thu nói chung sẽ còn mãi trong lòng người yêu thơ bao thế hệ.

(Tài liệu sưu tầm )

Xem thêm :

Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về Câu cá mùa thu

Giáo án bài Vào phủ Chúa Trịnh soạn theo phương pháp mới

Soạn bài vào phủ Chúa Trịnh , giáo án theo định hướng phát triển năng lực, xây dựng ài học theo tiến trình hoạt động của học sinh

(Tài liệu sưu tầm )

Ngày soạn: 20/8/2017

Tuần 1: Tiết 1,2: Đọc văn:

VÀO PHỦ CHÚA TRỊNH

(Trích Thượng kinh kí sự)

 

-Lê Hữu Trác-

Mục tiêu bài học: Giúp HS hiểu

  1. Kiến thức:

– Bức tranh chân chân thực, sống động về cuộc sống xa hoa, đầy quyền uy nơi phủ chúa Trịnh và thái độ tâm trạng của nhân vật “tôi” khi bước vào phủ chúa chữa bện cho Trịnh Cán.

– Vẻ đẹp tâm hồn của Hải Thượng Lãn Ông; lương y; nhà nho thanh cao, coi thường danh lợi.

– Những nét đặc sắc của bút pháp kí sự: tài quan sát miêu tả sinh động những sự việc có thật; lối kể chuyện lôi cuốn, hấp dẫn; lựa chọn chi tiết đặc sắc; đan xen văn xuôi và thơ.

  1. Kĩ năng:

Đọc hiểu thể kí sự trung đại theo đặc trưng thể loại.

  1. Thái độ:

Thái độ phê phán nghiêm túc lối sống xa hoa nơi phủ chúa.

Trân trọng lương y, có tâm có đức.

  1. Định hướng phát triển năng lực HS:

– Năng lực chung: NLGQ vấn đề, NL hợp tác, NL tự học, NL sáng tạo

– NL đặc thù: Nl giao tiếp tiếng Việt, Nl cảm thụ văn học

Chuẩn bị bài học:

GV: SGK, SGV, tài liệu tham khảo

 HS:   SGK, tài liệu tham khảo

Học sinh: SGK, đọc tài liệu tham khảo

Tổ chức hoạt động dạy học:

Ổn định tổ chức lớp. SS:…………….Vắng:…………………………………………………..

Kiểm tra: SGK, vở ghi

Tiến trình dạy hoc:

                                                   Hoạt động 1: Khởi động

PP, kĩ thuật dạy học: Nêu vấn đề, gợi mở

GV? Trong chương trình Ngữ Văn lớp 9, các em đã được học đoạn trích nào mà nội dung của nó phản ánh hiện thực xa hoa trong phủ chúa, sự nhũng nhiễu của quan lại thời Lê- Trịnh?

Hs trả lời: Đoạn trích Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh(Vũ trung tùy bút – Phạm Đình Hổ)

GV: Bài học hôm nay sẽ giúp các em có cái nhìn cụ thể, sinh động về quang cảnh và cung cách sinh hoạt trong phủ chúa cũng như thái độ phê phán của tác giả qua đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh (Thượng kinh kí sự– Lê Hữu Trác)

GV giới thiệu nội dung chính hình thành kiến kiến thức:

1. Quang cảnh và cung cách sinh hoạt trong phủ chúa

Thái độ và tâm trạng tác giả khi vào phủ chúa Trịnh

Nghệ thuật viết kí sự và giá trị của đoạn trích

Hoạt động 2: Hình thành kiến thức

PP, kĩ thuật dạy học:  Thuyết trình,Phát vấn, đàm thoại, nêu vấn đề, thảo luận

Hoạt động của Gv và Hs Nội dung cần đạt
* Bước 1: GV hướng dẫn HS tìm hiểu vài nét về tác giả.

GV yêu cầu HS đọc và tóm tắt những ý chính trong phần tiểu dẫn (trang 3).

 

 

Định hướng:

–         Vài nét về tác giả?

–         Vị trí, nội dung, thể loại của tác phẩm “Thượng kinh ký sự”?

–         Vị trí và nội dung của đoạn trích?

 

HS trao đổi trả lời định hướng 1

GV chốt ý.

GV bổ sung:

Chữ lãn (lười) thể hiện rất rõ con người LHT: ghét danh lợi,  yêu cây cỏ, thích bầu bạn cùng thiên nhiên, chuyên tâm làm thuốc, chữa bệnh cứu người, viết sách để dạy học trò.

Bước 2: Hướng dẫn tìm hiểu vài nét về tác phẩm.

HS tìm hiểu trả lời định hướng 2.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bước 3: Tìm hiểu đoạn trích.

Gv yêu cầu Hs nêu nội dung vị trí, bố cục  đoạn trích

 

 

 

 

 

Bước 1: HD học sinh đọc và tóm tắt các sự việc chính.

GV yêu cầu HS tóm tắt lại các sự việc chính được tác giả ghi chép.

HS:Tóm tắt lại sự việc chính theo bước chân nhân vật tôi.

 

 

 

 

Bước 2: Tìm hiểu về quang cảnh trong phủ chúa

 

GV: Nhìn lại con đường theo chân tác giả vào phủ chúa Trịnh, em thấy ấn tượng nhất điều gì về quang cảnh nơi phủ chúa?

HS trình bày ấn tượng

 

GV định hướng.

 

I. Tìm hiểu chung.

1. Tác giả Lê Hữu Trác

– Lê Hữu Trác ( 1724 – 1791 ): Sống vào nửa cuối TK XVIII.

– Biệt hiệu: Hải Thượng Lãn Ông (ông già lười ở đất Thượng Hồng)

– Quê quán: làng Liêu Xá huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương(nay là Hưng Yên.). Gần 30 tuổi ông về sống tại quê mẹ ở Hương Sơn Hà Tĩnh

– Gia đình: Có truyền thống học hành, thi cử, đỗ đạt.

– Con người:

+  Là một vị lương y lỗi lạc, y đức ngời sáng.

+ Là một nhà văn, nhà thơ lớn có đóng góp đáng ghi nhận với nền văn học nước nhà.

+  Là một con người khiêm tốn, nhân hậu, yêu thích núi non, cây cỏ, bầu bạn cùng thiên nhiên, chuyên tâm vào việc làm thuốc, chữa bệnh cứu người, viết sách để dạy học trò, sáng tác thơ văn để di dưỡng tinh thần.

– Cuộc đời: Gắn bó sâu nặng với quê mẹ ở Hương Sơn, Hà Tĩnh.

 2.  Tác phẩm.

Nhan đề: Thượng kinh kí sự (Kí sự đến kinh đô)

– Xuất xứ: Nằm cuối tác phẩm “Hải Thượng y tông tâm lĩnh” (66 quyển, sách về y học đồng thời cũng là một tác phẩm văn học lớn).

– Thể loại: Tập kí sự bằng chữ Hán, viết năm 1782, khắc in 1885.

àĐánh dấu sự phát triển mới của thể kí Việt Nam thời trung đại.

– ND: Ghi chép câu chuyện, sự việc có thật khi LHT từ Hà Tĩnh lên kinh đô Thăng Long chữa bệnh cho cha con chúa Trịnh Sâm (khoảng thời gian: tháng giêng năm 1782 – 2/11/1872).

3. Đoạn trích VPCT:

– Tác giả ghi lại những điều mắt thấy tai nghe khi vào phủ để bắt mạch, kê đơn chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cánvà chúa Trịnh Sâm .

– Bố cục: 2 phần.

+ P1 (…xem mạch Đông cung cho thật kĩ): Cuộc sống nơi phủ chúa.

+ P2 (còn lại): Cảnh LHT bắt mạch, kê đơn cho thế tử Trịnh Cán.

II: Đọc hiểu văn bản

1. Đọc và tóm tắt các sự việc chính.

Thánh chỉ (sáng mồng 1 tháng 2) à vào cung (cửa sau) à nhiều lần cửa à vườn cây à hành lang quanh co à điếm “Hậu mã quân túc trực”à cửa lớn à hành lang phía tây à “Đại đường”, “quyền bổng”, “gác tía”, “phòng trà” à trở ra điếm “Hậu mã” ăn cơm à mấy lần trướng gấm  à hậu cung à hầu mạch, dâng đơn à về nơi trọ.

2. Đọc hiểu chi tiết

1. Quang cảnh và cung cách sinh hoạt trong phủ chúa Trịnh

a) Quang cảnh

Đường vào phủ: Mấy lần cửa, mỗi cửa đều có vệ sĩ canh gác, ai ra vào phải có thẻ. Con đường đi là những dãy hành lang quanh co nối nhau liên tiếp. Vườn hoa trong phủ cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm, gió đưa thoang thoảng mùi hương

– Trong phủ: Nhà Đại Đường, Quyển bổng, Gác tía với đồ nghi trượng sơn son thếp vàng, sập thếp vàng, võng điều, mâm vàng chén bạc, đồ ăn toàn của ngon vật lạ.

– Nội cung: 5-6 lần trướng gấm, trong phòng thắp nến , giữa phòng có một cái sập thếp vàng, ghế rồng, nệm gấm, đèn sáp, hương hoa ngào ngạt.

=> Ấn tượng về phủ chúa là chốn thâm nghiêm, kín cổng cao tường, vô cùng xa hoa tráng lệ. Màu sắc chủ đạo là màu đỏ, vàng, rực rỡ đua nhau lấp lánh. Cuộc sống trong phủ chúa là cuộc sống hưởng lạc của vua chúa với cung tần, mĩ nữ, cảnh đẹp, món ngon. Không khí trong phủ chúa là một không khí ngột ngạt tù đọng, chỉ thấy hơi người, phấn sáp, đèn nến, “hương hoa ngào ngạt” mà thiếu hẳn sự thanh thoát của khí trời.


HĐ 3: Luyện tập

kĩ thuật dạy học: GV nêu vấn đề, gợi ý

GV chỉ vào sơ đồ tóm tắt ở phần 1 và yêu cầu: Nhìn lại con đường tác giả vào phủ chúa Trịnh, anh chị thấy ấn tượng nhất điều gì về quang cảnh trong phủ chúa?

Gv gọi một số HS trình bày ấn tượng của mình về quang cảnh nơi phủ chúa

GV gợi ý: Rất nhiều cửa, rất quanh co, rất nhiều người, rất giàu sang và xa hoa…

HS tự tìm các chi tiết làm rõ phần gợi ý của Gv

HĐ 4:  Vận dụng

PP kĩ thuật dạy học: GV nêu vấn đề, gợi ý

Trình bày suy nghĩ về cảnh giàu sang trong phủ chúa?

 

                                           Hoạt động 5:  Hoạt động tìm tòi, mở rộng

 

PP, kĩ thuật dạy học: Nêu vấn đề, gợi mở

GV nêu nhiệm vụ:

– Tìm đọc đoạn trích Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh, tác phẩm thượng kinh kí sự

– Viết đoạn văn nêu cảm nhận của anh (chị ) về quang cảnh trong phủ chúa

 

Hướng dẫn học tập

– Nắm vững những nét khái quát về tác giả, tác phẩm, quang cảnh trong phủ chúa.

– Soạn tiếp: Tìm hiểu về cung cách sinh hoạt trong phủ chúa,thái độ tâm trạng tác giả khi vào phủ.

 

Tiết 2.

Mục tiêu bài học: Giúp học sinh

  1. Kiến thức:

-Hiểu được bức tranh chân thực, sinh động về cuộc sống xa hoa, quyền quý nơi phủ chúa Trịnh và cách quan sát, ghi chép cùng tâm trạng, thái độ, sự đánh giá của nhân vật tôi khi vào phủ  chúa chữa bệnh cho Trịnh Cán.

– Phẩm chất đáng trân trọng của lê Hữu Trác với tư cách là nhà nho, nhà văn, danh y.

– Phát hiện được những nét riêng của ngòi bút kí sự Lê Hữu Trác: tài quan sát, miêu tả sinh động những sự việc có thất; lối kể chuyện lôi cuốn hấp dẫn; chọn lựa chi tiết đặc sắc, đan xen văn xuôi và thơ.

Kĩ năng: Đọc hiểu thể kí trung đại theo đặc trưng thể loại

Thái độ: Trân trọng, cảm phục tài năng đức độ và cốt cách của một nhà nho, một danh y, một nhà văn trong con người Lê Hữu Trác

Chuẩn bị của Gv và HS

Gv: SGK,SGV, thiết kế, chuẩn kiến thức kĩ năng

Hs: Chuẩn bị bài theo hệ thống câu hỏi trong sgk

Tổ chức các hoạt động học tập.

Ổn định tổ chức

Kiểm tra bài cũ: Ấn tượng của anh(chị) về quang cảnh trong phủ chúa?

Tiến trình dạy học

 Hoạt động 1: Khởi động

PP: Nêu vấn đề, gợi mở

 

            GV: Đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh thể hiện giá trị hiện thực sâu sắc qua việc tái hiện bức tranh sinh động về quang cảnh và cung cách sinh hoạt trong phủ chúa. Bài học hôm nay chúng ta tiếp tục tìm hiểu về cung cách sinh hoạt trong phủ chúa để thấy được quyền uy thế lưc của chúa Trịnh và cái nhìn hiện thực sắc sảo của danh y Lê Hữu Trác

Hoạt động 2: HĐ hình thành kiến thức

 Phương pháp thực hiện:GV tổ chức giờ dạy theo cách kết hợp các phương pháp: Thuyết trinhg, Đàm thoại, nêu vấn đề. gợi tìm, kết hợp các hình thức trao đổi thảo luận, trả lời các câu hỏi. 

       

Hoạt động của GV và Hs Nội dung cần đạt
Bước 1: Tìm hiểu cung cách sinh hoạt trong phủ chúa.

GV? Lần đầu tiên vào phủ chúa, HTLO nhận xét cảnh sống ở đây thực khác hẳn người thường. Em có nhận thấy điều đó qua cung cách sinh hoạt?

HS: Đọc, phát hiện những biểu hiện khác thường trong cung cách sinh hoạt trong phủ chúa

GV gọi HS trả lời, nhận xét, định hướng.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

GV: Hãy chọn và phân tích một vài chi tiết thú vị trong đoạn trích?

 

 

 

 

 

 

2-3 HS lựa chọn chi tiết theo ý mình rồi phân tích

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

GV: Khi kê đơn cho thế tử, tâm trạng tác giả diễn biến như thế nào?

HS trả lời.

Bước 2: TÌm hiểu thái độ và tâm trạng tác giả khi vào phủ chúa

GV thuyết giảng: Cách chữa bệnh của các vị thầy thuốc khác và quan chánh đường là Có bệnh thì trước hết phải đuổi bệnh. Khi đã đuổi cái tà đi thì hãy bổ, thì mới là cái phép đúng đắn nhất.  LHT lí giải về căn bệnh của thế tử là do ở trong chốn màn che trướng phủ, ăn quá no mặc quá ấm nên phủ tạng yếu đi, …nguyên khí hao mòn, thương tổn quá mức. Đó là căn bệnh có nguồn gốc từ cái xa hoa no đủ, hưởng lạc. Bệnh từ trong mà phát ra do nguyên khí bên trong ko

vững mà âm hỏa đi càn

 

Qua đó hiểu được điều gì về con người LHT?

 

 

Bước 3: Tìm hiểu Nt

GV: Có người cho rằng Thượng kinh kí sự là một cuốn sổ tay cá nhân của thầy thuốc LHT ghi chép các tư liệu về chuyến lên kinh chữa bệnh cho cha con thế tử? Ý kiến của em?

HS tự do nêu ý kiến

GV định hướng

Bước 4:

Hướng dẫn HS tổng kết

 

GV: Nét đặc sắc trong bút pháp kí sự của tác phẩm?

 

GV goi 1 HS Tkết lại ND

b) Cung cách sinh hoạt

– Đến phủ chúa phải có thánh chỉ, có thẻ mới được vào. Để dẫn người vào phủ có một tên đầy tớ chạy đàng trước hét đường, lính đem cáng đón người thì chạy như ngựa lồng khiến người ngồi trong cáng dù được đón khám bệnh mà như chịu cực hình bị xóc một mẻ khổ ko nói hết.

– Phủ chúa có cả một guồng máy phục vụ đông đúc, tấp nập. Những người giữ cửa quyền báo rộn ràng, người có việc quan qua lại như mắc cửi, vệ sĩ canh giữ cửa cung, quan truyền chỉ chuyên việc truyền mệnh…Các danh y của sáu cung, hai viện được tiến cử từ mọi nơi ngồi chờ đợi, túc trực ở phòng trà, các phi tần chầu chực xung quanh thánh thượng, người hầu đứng xung quanh thế tử, trong màn là che ngang sân là các cung nhân đứng xúm xít.

– Phủ chúa là nơi quyền uy tối thượng, bởi vậy tất cả những lời xưng hô, bẩm tấu đều phải rất kính cẩn, lễ phép. Trong phủ còn có lệ kị húy rất đặc biệt, kiêng nhắc đến từ  thuốc,….

– Khám bệnh cho thế tử phải tuân theo một loạt các phép tắc. Bắt đầu là Tôi nín thở đứng chờ ở xa. Rồi thầy thuốc phải quỳ 4 lạy theo lệnh của quan chánh đường. Lại theo lệnh quan, thầy thuốc già yếu được phép ngồi bắt mạch,…

à Phủ chúa quả thực ko chỉ đẹp lộng lẫy, thâm nghiêm mà còn là chốn uy quyền tối thượng với cung cách sống lễ nghi, khuôn phép tạo nên không khí trang nghiêm ,kính cẩn đến ngột ngạt. Tất cả những gì thường chỉ thấy xuất hiện trong cung vua thì nay xuất hiện trong phủ chúa. Chúa được gọi là Thánh thượng, lệnh chúa được gọi là Thánh chỉ,…=> uy quyền lấn lướt vua của chúa Trịnh Sâm.

 

Có những chi tiết trong tác phẩm tưởng thoáng qua như ghi chép khách quan đơn thuần song lại bộc lộ một nhãn quan kí sự sâu sắc của tác giả.

–   Chi tiết về nội cung thế tử: đường đi tối om, mấy lần trướng gấm, quang cảnh xung quanh phòng: phòng rộng, giữa là sập thếp vàng,…Những chi tiết đó đã nói lên nguồn gốc, căn nguyên của căn bệnh, đồng thời tự nó cũng phơi bày trước mắt người đọc sự hưởng lạc, ăn chơi của phủ chúa.

–   Chi tiết thầy thuốc già yếu trước khi khám bệnh được truyền lạy thế tử để nhận lại một lời khen tặng từ một đứa trẻ năm , sáu tuổi: Ông này lạy khéo. Chi tiết này cùng lời chú thích về phòng trà của tác giả dường như thoáng chút hài hước. Người ta khoác cho một đứa trẻ con những danh vị, uy quyền của chốn phủ chúa, song câu ban tặng cho thấy mối quan tâm của thế tử chỉ là lạy khéo mà thôi – vì đó chỉ là một đứa trẻ à tất cả biến thành trò hề.

–   Chi tiết Thánh thượng đang ngự, xung quanh có phi tần chầu chực, có mấy người cung nhân đang đứng xúm xít….tự nó phơi bày hiện thực hưởng lạc nơi phủ chúa mà ko cần thêm một lời bình luận nào

Viết kí mà chân thực như viết sử.

2. Thái độ và tâm trạng tác giả khi vào phủ chúa Trịnh

– Cách nhìn, thái độ của tác giả đối với cuộc sống chốn phủ chúa:

+ Thể hiện gián tiếp qua việc miêu tả, ghi chép đầy đủ, tỉ mỉ con đường vào phủ, từ lúc được lệnh truyền cho đến khi y lệnh về chờ thánh chỉ. Sự xa hoa trong bức tranh hiện thực được miêu tả tự nó phơi bày ra trước mắt người đọc.

+ Thể hiện trực tiếp qua cách quan sát, lời bình, những suy nghĩ của tác giả. Từng là con quan, biết đến chốn phồn hoa, đô hội, vậy mà tác giả ko thể tưởng tượng được mức độ của sự tráng lệ, xa hoa nơi phủ chúa. Ông nhận xét: Cảnh giàu sang của vua chúa thực khác hẳn người thường. Tác giả còn làm một bài thơ miêu tả sự rực rỡ sang trọng với lời khái quát cuối bài Cả trời Nam sang nhất là đây. Quan Chánh Đường mời ăn cơm ở điếm Hậu mã là dịp để tác giả mục sở thị  sự ăn nơi phủ chúa – toàn của ngon vật lạ, mâm vàng chén bạc lấp lánh sáng: Tôi bây giờ mới biết cái phong vị của nhà đại gia.

è   Nhận xét :

– Ngạc nhiên trước vẻ đẹp cao sang quyền quý.

– Thờ ơ, dửng dưng với những quyến rũ vật chất, ko đồng tình với cuộc sống no đủ nhưng thiếu khí trời và tự do

 

–   Tâm trạng của tác giả khi kê đơn cho thế tử:

+ Hiểu rõ căn bệnh của thế tử                                                  + Bắt được bệnh rồi nhưng chữa thế nào đây lại là một cuộc đấu tranh giằng co bên trong con người HTLO. Người thầy thuốc hiểu rõ bệnh của thế tử và tìm cách chữa từ cội nguồn gốc rễ. Nhưng nếu chữa khỏi sẽ bị danh lợi ràng buộc, ko thể về núi. Ông nghĩ đến phương thuốc hòa hoãn, chữa bệnh cầm chừng vô thưởng vô phạt. Song y đức, trách nhiệm nghề  nghiệp, lương tâm, tấm lòng đối với ông cha và phẩm chất trung thực của người thầy thuốc đã lên tiếng. Ông dám nói thẳng và chữa thật căn bệnh của thế tử. Ông kiên quyết bảo vệ quan điểm của chính mình mặc dù ko thuận với số đông.

–      Những phẩm chất tốt đẹp của LHT:

+ Đó là một người thầy thuốc giỏi, già dặn kinh nghiệm, có lương tâm và đức độ.

+ Một nhân cách cao đẹp, khinh thường lợi danh, yêu thích tự do.

3. Nghệ thuật viết kí sự và giá trị của đoạn trích

Là tác phẩm kí nghệ thuật đích thực đầu tiên của VHVN, có giá trị văn học rõ nét

– phản ánh hiện thực xa hoa hưởng lạc lấn lướt quyền vua của nhà chúa – mầm mống dẫn tới sự thối nát của triều đình phong kiến Việt Nam.

– Bộc lộ cái tôi của LHT: một nhà nho, một nhà thơ, đồng thời là một danh y.

– Bút pháp kí sự đặc sắc của tác giả: quan sát tỉ mỉ, ghi chép trung thực, tả cảnh sinh động, kể chuyện lôi cuốn, không bỏ sót những chi tiết nhỏ, sự đan xen tác phẩm thơ ca làm cho kí sự của ông đậm chất trữ tình.

– Có những chi tiết đặc sắc tạo nên cái thần của cảnh, việc.

– Sự đan xen thơ ca làm tác phẩm đậm chất trữ tình.

 

 

 

 

III. Tổng kết

 

1. NT

– Đoạn trích đã thể hiện nét đặc sắc trong NT kí của LHT.

+ Kết hợp việc ghi chép chi tiết với việc mtả sinh động những điều “mắt thấy tai nghe”, bộc lộ thái độ đánh giá kín đáo.

+  Kết hợp giữa văn xuôi và thơ ca làm tăng tính chất trữ tình cho tác phẩm.

+ Kết hợp nhiều phương thức biểu đạt như tự sự, miêu tả, biểu cảm làm gia tăng khả năng phản ánh hiện thực khách quan của tác phẩm.

2. Về ND

Bằng tài quan sát tinh tế và ngòi bút ghi chép chi tiết chân thực,  tác giả đã vẽ lại bức tranh sinh động về cuộc sống xa hoa quyền quý của phủ chúa Trịnh. Qua đó người đọc thấy được tài năng, đức độ và cốt cách của một nhà nho, một danh y, một nhà văn trongcon người LHT.

 

 

                                               Hoạt động 3: HĐ Luyện tập

 Phương pháp thực hiện: GV tổ chức giờ dạy theo cách phát phiếu học tập, HS viết tại lớp

HS đọc bai tập trong sgk

Gv hướng dẫn

     Đoạn trích “Chuyện cũ trong phủ chúa TRịnh”

+ Phản ánh hiện thực xa hoa trong phủ chúa, sự nhũng nhiễu của quan lại thời Lê- Trịnh

+ Thể hiện thái độ phê phán, bất bình của tác giả.

+ Ghi chép tản mạn, chủ quan , không gò bó theo hệ thống kết cấu song vẫn tuân theo mạch tư tưởng, cảm xúc chủ đạo là phê phán thói ăn chơi xa xỉ, tệ nhũng nhiễu nhân dân của vua chúa và quan lại.

– Kí sự của Lê Hữu Trác được ghi chép theo trật tự thời gian của các sự việc

 

                                            Hoạt động 4 : Hoạt động  vận dụng

    Phương pháp thực hiện: GV tổ chức giờ dạy theo cách đưa câu hỏi , HS về nhà  chuẩn bị, giáo viên kiểm tra, gợi ý

* Câu hỏi: Bài học đã cho em những nhận thức gì về chế độ phong kiến ngày xưa? Em thấy chế độ ta ngày nay có những điểm ưu việt gì trong mối quan hệ giữa các cấp lãnh đạo với nhân dân?

 

                                           Hoạt động 5:  Hoạt động tìm tòi, mở rộng

Phương pháp thực hiện: – GV tổ chức giờ dạy theo cách đưa câu hỏi , HS về nhà sưu tầm qua tài liệu tham khảo, qua mạng, …

Câu hỏi:

1/ Tìm đọc một số tác phẩm khác của Lê Hữu Trác

2/ Phân tích vẻ đẹp của nhân cách Lê Hữu Trác được thể hiện trong tác phẩm.

3/ Sưu tầm một số tranh ảnh về nhà văn.

 

    D/ Dặn dò:                                      

          Học bài cũ

          Soạn bài mới.

Xem thêm : Trọn bộ giáo án Ngữ văn soạn theo hướng đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá

Giáo án ngữ văn 10 

Giáo án ngữ văn 11

Giáo án ngữ văn 12

Nếu muốn tải File giáo án Ngữ văn 10-11-12 đầy đủ, chuẩn cấu trúc, thầy cô bấm vào đây : Tải giáo án Ngữ văn 10-11-12

Xem thêm : Vào phủ chúa trịnh

Phân tích đoạn thơ cuối bài Đàn ghi-ta của Lor-ca : Không ai chôn cất tiếng đàn…

Những đề thi và bài văn hay phân tích bài Đàn ghi ta của lor ca. Hình tượng nhân vật Lor ca, Cảm nhận về bài thơ. Tuyển tập tài liệu ôn thi THPT Quốc gia .

Đề bài :Cảm nhận của anh/chị về  đoạn thơ sau trong bài thơ “Đàn ghi-ta của Lor-ca” của Thanh Thảo:

không ai chôn cất tiếng đàn
tiếng đàn như cỏ mọc hoang
giọt nước mắt vầng trăng
long lanh trong đáy giếng

đường chỉ tay đã đứt
dòng sông rộng vô cùng
Lorca bơi sang ngang
trên chiếc ghi ta màu bạc

chàng ném lá bùa cô gái di-gan
vào xoáy nước
chàng ném trái tim mình
vào lặng yên bất chợt

li-la li-la li-la…

  1. Lập dàn ý :

I/ Mở bài : Giới thiệu Thanh Thảo dẫn vào bài thơ “Đàn ghi-ta của Lor-ca”. Nêu vấn đề : Bài thơ có giá trị sâu sắc về nội dung và nghệ thuật, tiêu biểu là đoạn thơ sau : ( chép đoạn thơ vào)

II/ Thân bài :

1/ Khái quát về bài thơ, đoạn thơ :

            – Giới thiệu vài nét về Lor-ca…

-Nêu hoàn cảnh sáng tác, nội dung, bố cục vị trí đoạn thơ ở đề bài.

2/ Phân tích nội dung, nghệ thuật đoạn thơ :

a/ Bốn câu thơ đầu là suy ngẫm của nhà thơ Thanh Thảo về cuộc đời và sự nghiệp của Lor-ca. Trích thơ, phân tích các ý:

– “Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn” là lời di chúc của Lor-ca

– “Không ai chôn cất tiếng đàn….mọc hoang” là nỗi xót thương cái chết của một thiên tài, xót tiếc cho hành trình cách tân dang dở của Lor-ca và nghệ thuật Tây Ban Nha

– “Giọt nước mắt….đáy giếng”là cái chết không thể tiêu diệt được tâm hồn và sáng tạo nghệ thuật của Lor-ca

    b/ Những câu thơ còn lại tiếp tục là những suy tư của nhà thơ Thanh Thảo về cái chết, cuộc giã từ của Lor-ca. Trích thơ, phân tích các ý:

– Đường chỉ tay bé nhỏ, dòng sông rộng mênh mang, hay là phận người thì ngắn ngủi mà thế giới thì vô cùng. Lor-ca đi vào cõi khác với hình ảnh: “Lor-ca bơi sang ngang – trên chiếc ghi ta màu bạc”.

– Các hành động ném lá bùa, ném trái tim vào xoáy nước, vào cõi lặng yên đều mang nghĩa tượng trưng cho sự giã từ và giải thoát, chia tay thực sự vời những ràng buộc và hệ luỵ trần gian…

   c/ Nghệ thuật :

Bút pháp vừa tả thực, vừa tượng trưng

– Chuỗi âm “li-la li-la li-la” kết thúc bài thơ gợi lên tiếng vang của chùm hợp âm vĩ thanh, sau khi phần chính của bản nhạc đã được diễn tấu xong, hoặc khi ca khúc đã dừng lời.

III/ Kết bài : Kết luận chung về hình tượng Lor-ca, cảm nghĩ về bài thơ,

B. Bài văn tham khảo

Mở bài:

Thanh Thảo là một trong những gương mặt tiêu biểu cho thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Sau 1975, nhất là trong thời kỳ đổi mới văn học, ông có  nhiều nỗ lực trong cách tân thơ Việt với xu hướng đào sâu vào cái tôi nội cảm qua hình thức thơ tự do, hiện đại bằng những hình ảnh và ngôn từ mới mẻ. Bài thơ “Đàn ghi ta của Lor-ca” là một tiêu biểu mà nổi bật là mười ba dòng thơ cuối trong bài thơ:

dẫn chứng thơ 13 dòng thơ

Thân bài :

Phần khái quát

– Khái quát

Lor-ca không chỉ là một nhà thơ, nhạc sĩ, kịch tác gia thiên tài mà còn là nhà chống phát xít kiên cường. Ông bị sát hại năm 1936. Thanh Thảo là một nhà thơ có mối quan tâm đặc biệt đối với những con người có nhân cách và nghĩa khí dù số phận có thể ngang trái. Trong mạch cảm hứng ấy, trường hợp Lor-ca  được xem là thành công hơn cả, mà ngay mười hai dòng đầu của bài thơ cũng đã rất đặc sắ

Bài thơ lấy cảm hứng từ những giây phút bi phẫn trong cuộc đời của Lor-ca và câu nói  “khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn” (Ghi nhớ – Lor-ca) để sáng tác bài thơ này. Bài thơ in trong tập “Khối vuông Ru-bích”(1985). Bài thơ diễn tả hình ảnh Lor-ca và tâm trạng của nhà thơ Thanh Thảo trước cái chết bi thảm của nhà thơ thiên tài Tây Ban Nha. Bài thơ gồm hai phần với sáu khổ thơ và một câu kết. Đoạn thơ trên là hai khổ cuối của bài thơ.

Phân tích cụ thể đoạn thơ :

Lorca đã hi sinh nhưng những kẻ thất bại lại chính là bè lũ phát xít. Bởi chúng chỉ có thể hủy diệt được thân xác của Lorca nhưng không thể hủy diệt được sức sống của anh đang bung nở giữa bản hòa tấu trầm hùng mang âm hưởng của những tiếng Ghi-ta nồng nàn vi diệu. Với thủ pháp nghệ thuật so sánh và liên tưởng, Thanh Thảo đã làm sống dậy một không gian sinh tồn đầy sức sống mãnh liệt.

không ai chôn cất tiếng đàn
……………………………..
long lanh trong đáy giếng

Để hiểu những câu thơ trên, cần căn cứ vào lời di chúc của Lor-ca “Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn”. Di chúc của Lorca không người thực hiện (nỗi xót xa của Thanh Thảo). Không ai hiểu, không ai tri âm với Lorca. Lorca muốn sau khi mình qua đời, sự sáng tạo cũng chấm dứt thì hãy chôn nghệ thuật của mình đi để kẻ hậu sinh khỏi bị cái bóng của mình ngăn cản. Đó là đạo đức của một vĩ nhân-sẵn sàng hy sinh dang vọng cá nhân để cộng đồng phát triển.

Dựa vào cứ liệu ấy, nhà thơ Thanh Thảo đã viết lên khổ thơ trên.Tất cả những hình ảnh trong khổ thơ đều có tính tượng trưng, đa nghĩa. “Tiếng đàn như cỏ mọc hoang” là nỗi xót thương cái chết của một thiên tài, là nỗi xót tiếc cho hành trình cách tân dang dở không chỉ với bản thân Lor-ca mà còn với nền văn chương Tây Ban Nha. Bởi lẽ, nhà cách tân Lor-ca đã chết,nghệ thuật thiếu vắng người dẫn đường, vắng bóng người định hướng, nghệ thuật thành thứ “cỏ mọc hoang“. Hình ảnh so sánh “cỏ mọc hoang “gợi sức sống mãnh liệt và hoang dại của nghệ thuật chân chính như loài cỏ mọc hoang không gì có thể ngăn nổi chúng. Bởi có gì nhiều bằng cỏ? Có gì xanh bằng cỏ? Có gì mãnh liệt bằng cỏ trên mặt đất bao la? Đây chính là sự bất tử, sự vĩnh hằng của nghệ thuật. Dù Lor-ca hi sinh nhưng sản phẩm tinh thần mà ông để lại đó chính là tâm hồn mình, nghệ thuật của mình. Những bài ca tranh đấu của Lorca vẫn đồng hành cùng thời gian và đi cùng năm tháng thăng trầm của lịch sử và nó mãi mãi được hát vang trong lòng của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới.

Tác phẩm nghệ thuật là con đẻ của người nghệ sỹ nhưng khi nghệ sỹ đã trao nó cho công chúng thì sự sống chết mất còn là do sức sống của chính tác phẩm quyết định. Nhiều khi trái tim nghệ sỹ đã ngừng đập nhưng nghệ thuật của họ vẫn tồn tại có khi vĩnh hằng (chỉ riêng nghệ thuật có thể đứng ngoài cái chết – Sê đư rin).

Tuy nhiên, đỉnh điểm của lời ca ngợi vẫn là hai câu thơ:

                                                giọt nước mắt vầng trăng

                                                long lanh trong đáy giếng     

Câu thơ viết theo lối sắp đặt- bị lược bỏ những quan hệ từ làm cho bạn đọc tha hồ liên tưởng, sáng tạo cùng tác giả. Nước mắt biểu tượng cho tình thương, cho sự tri âm. Vầng trăng biểu tượng cho nghệ thuật (của Lorca). Hai câu thơ khẳng định quân thù dù quẳng xác Lorca xuống giếng để phi tang nhưng tình yêu và cái đẹp trong thơ Lorca đã kết thành thứ ánh sáng kì ảo vĩnh hằng trong tâm hồn các thế hệ sau. Không chỉ bất tử, tiếng đàn của chàng ca sĩ hát rong còn mang vẻ đẹp của giọt nước mắt vầng trăng. Một hình ảnh mang nhiều liên tưởng gợi nhiều thi vị. Phải chăng đó chính là vẻ đẹp của nghệ thuật được kết tinh từ những giọt mồ hôi, từ máu và nước mắt của sự lao động nghệ thuật chân chính qua bao thời gian công sức đã nhào nặn thành viên ngọc lấp lánh mang hình hài của giọt nước mắt vầng trăng tinh khiết. Hay đó chính là vẻ đẹp của cuộc đời Lorca đã hóa thân thành viên ngọc quý lung linh tỏa sáng giữa đời. Bất ngờ thay, nơi đáy giếng tối tăm và lạnh lẽo, nơi mà bọn phát xít ngỡ tưởng đã vùi lấp được linh hồn và thể xác của người công dân Lorca, lại là nơi tỏa sáng tâm hồn anh. Hình ảnh thơ đẹp và buồn được viết theo lối tượng trưng nhằm bày nỗi xót thương cái chết của một thiên tài và nỗi xót tiếc hành trình cách tân nghệ thuật dang dở không chỉ với bản thân Lor-ca mà còn với nền văn chương Tây Ban Nha. Lời thơ bộc lộ niềm trân trọng và niềm tin bất tử, bất diệt vào tiếng đàn Lor-ca.

Những câu thơ còn lại tiếp tục là những suy tư của nhà thơ Thanh Thảo về cái chết, cuộc giã từ của Lor-ca:

đường chỉ tay đã đứt
……………………………

li-la li-la li-la…

 Đường chỉ tay đã đứt như biểu tượng cho thái độ chấp nhận định mệnh như một quy luật phũ phàng. Định mệnh hữu hạn đặt dấu chấm hết cho số phận một con người. Dòng sông rộng vô cùng là biểu tượng cho dòng sông số phận cũng là ranh giới giữa cuộc sống và cái chết, dòng sông vô hạn của thực tại và hư vô. Chiếc ghi ta màu bạc là biểu tượng cho cái đẹp của nghệ thuật. Nó trở thành con thuyền chở Lorca sang ngang đi vào cõi siêu sinh bất tử. Màu bạc của đàn ghi ta hư ảo một màu huyền thoại nhưng cũng có thể thấy sắc bạc ấy như sáng lên, ánh lên long lanh, lấp lánh của khát vọng tự do, những cách tân nghệ thuật mà Lor-ca một thời theo đuổi. Chàng nghệ sĩ ấy đã bỏ lại cuộc đời, ném lại tình yêu và số phận mình vào xoáy nước của cuộc đời đầy máu và nước mắt để ra đi. Ở giữa ranh giới giữa sự sống và cái chết, giữa thực tại và siêu thoát, Lor-ca đã giã từ cuộc đời. Tác giả đã thể hiện Lor-ca với hai hành động: ném lá bùa cô gái Di-gan ném trái tim mình. Hai hành động này đã mở ra những cảm nghĩ về Lor-ca từ rất nhiều bình diện. Lor-ca đã hiện diện bằng trái tim đầy tình thương yêu nhưng mặt khác ta cũng thấy Lor-ca không còn nuối tiếc cái lá bùa hộ mệnh vào xoáy nước. Hành động ấy còn mang ý nghĩa tượng trưng: Lor-ca đã biểu hiện thái độ hoàn toàn chủ động trước cái chết. Lor-ca không chỉ thắng được bọn phát xít mà còn chiến thắng cả định mệnh.

Chuỗi âm thanh kết thúc bài thơ li-la li-la li-la là sự giao thoa giữa thanh âm và thi ảnh. Nó không chỉ gợi một cú vê ghi ta vang vọng sau khi lời ca đã ngừng mà còn gợi hoa Tử đinh hương- loài hoa có màu tím ngắt được người phương Tây ưa chuộng. Chuỗi âm thanh liên tiếp gợi hình ảnh những đoá hoa Tử đinh hương với những bông nở liên tiếp. Đó là hoa của Thanh Thảo, hoa của người đời dâng trước tượng đài Lorca, hay đó là những đoá hoa thể hiện sự sống đang nảy nở từ cái chết đau thương của nhà thi sĩ hay là những đoá hoa thể hiện sự sống bất diệt của nghệ thuật Lorca.

Kết bài : Tóm lại, đoạn thơ đã thể hiện khá rõ nét kiểu tư duy thơ của Thanh Thảo: giàu suy tư, mãnh liệt và phóng túng trong cảm xúc, âm điệu thơ luôn biến hoá, hình tượng thơ “mờ nhoè” trộn lẫn giữa thực và mộng (nhuốm màu sắc siêu thực) tạo thành một cấu trúc có tính mời gọi trái tim độc giả. Qua đó, nhà thơ khẳng định sự bất tử trong tiếng đàn nghệ thuật của Lor-ca, đồng thời thể hiện niềm ngưỡng mộ và đồng cảm sâu sắc, là nỗi đau vô hạn trước số phận bi thảm của nhà thơ .

(Tài liệu sưu tầm )

Xem thêm tuyển tập đề thi và những bài văn hay về tác phẩm Đàn ghi ta của lor ca: Đàn ghi ta của lor ca

Giáo án Ngữ văn 12 theo chủ đề :Thao tác lập luận và phương thức biểu đạt

Xây dựng chủ đề dạy học môn văn lớp 12. Soạn bài Luyện tập vận dụng kết hợp các phương thức biểu đạt. Luyện tập vận dụng kết hợp các thao tác lập luận

Tuần

theo chủ đề

Số tiết Chủ đề Tiết PPCT Tiết theo chủ đề Tên bài
14 3 Chủ đề 14

Thao tác lập luận và phương thức biểu đạt

38-39 42-43 Luyện tập vận dụng kết hợp các phương thức biểu đạt
15 42 44 Luyện tập vận dụng kết hợp các thao tác lập luận

MỤC TIÊU CẦN ĐẠT

1. Kiến thức-Kĩ năng-Thái độ

            a.Kiến thức

Sau bài học, người học hiểu được:

– Yêu cầu và tầm quan trọng của việc vận dụng kết hợp các phương thức biểu đạt trong bài văn nghị luận.

– Cách vận dụng kết hợp các phương thức biểu đạt trong bài văn nghị luận.

 Yêu cầu và tầm quan trọng của việc vận dụng kết hợp các thao tác lập luận trong bài văn nghị luận

– Cách vận dụng kết hợp các thao tác lập luận trong bài văn nghị luận : xuất phát từ yêu cầu và mục đích nghị luận.

 

Kĩ năng

Sau bài học, người học có thể:

– Nhận diện được tính phù hợp và hiệu quả của việc vận dụng kết hợp các phương thức biểu đạt trong một số văn bản.

– Vận dụng kết hợp các phương thức biểu đạt để viết bài văn nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí, về một hiện tượng đời sống, về một tác phẩm văn học và về một ý kiến bàn về văn học.

Nhận diện được tính phù hợp và hiệu quả của việc vận dụng kết hợp các thao tác lập luận trong một số văn bản.

– Biết vận dụng kết hợp các thao tác lập luận để viết bài văn nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí, về một hiện tượng đời sống, về một tác phẩm văn học và về một ý kiến bàn về văn học.

Thái độ:

Sau bài học, người học ý thức:

-Vận dụng kiến thức để tạo lập văn bản.

  1. Hình thành năng lực:

– Năng lực thu thập thông tin liên quan các thao tác lập luận và các phương thức biểu đạt

– Năng lực đọc – hiểu các văn bản để phát hiện các thao tác lập luận và các phương thức biểu đạt .

– Năng lực trình bày suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân có sử dụng các thao tác lập luận và các phương thức biểu đạt.

– Năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận những vấn đề trong cuộc sống

– Năng lực phân tích, so sánh các thao tác lập luận và các phương thức biểu đạt.

– Năng lực tạo lập văn bản nghị luận.

  1. Phát triển phẩm chất:

-Biết nhận thức được tầm quan trọng của các thao tác lập luận và các phương thức biểu đạt.

-Có ý thức tìm tòi, phát hiện, vận dụng các thao tác lập luận và các phương thức biểu đạt.

 

B.KẾ HOẠCH THỰC HIỆN CHỦ ĐỀ

  1. Thời gian thực hiện

-Thực hiện trong 02 tuần: 14, 15

-Số tiết thực hiện trên lớp: 03

+ 2 tiết: Luyện tập vận dụng kết hợp các phương thức biểu đạt

+ 1 tiết: Luyện tập vận dụng kết hợp các thao tác lập luận

  1. Chuẩn bị của giáo viên và học sinh

a/Chuẩn bị của giáo viên

-Giáo án

-Phiếu bài tập, trả lời câu hỏi

-Những ngữ liệu tiêu biểu để nhận biết các thao tác lập luận và các phương thức biểu đạt

-Bảng phân công nhiệm vụ cho học sinh hoạt động trên lớp

-Bảng giao nhiệm vụ học tập cho học sinh ở nhà

b/Chuẩn bị của học sinh

-Đọc trước ngữ liệu trong SGK để trả lời câu hỏi tìm hiểu bài

-Các sản phẩm thực hiện nhiệm vụ học tập ở nhà (do giáo viên giao từ tiết trước)

-Đồ dùng học tập

  1. Lập bảng mô tả mức độ nhận thức

 

 

Nhận biết

 

Thông hiểu

 

Vận dụng

Vận dụng thấp Vận dụng cao
Xác định các phương thức biểu đạt trong văn bản Giải thích được khái niệm về phương thức biểu đạt Nhận diện được tính phù hợp và hiệu quả của việc vận dụng kết hợp các phương thức biểu đạt trong một số văn bản.

 

Vận dụng kết hợp các phương thức biểu đạt để viết bài văn nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí, về một hiện tượng đời sống, về một tác phẩm văn học và về một ý kiến bàn về văn học.

 

Xác định các thao tác lập luận trong văn bản Giải thích được khái niệm về các thao tác lập luận Nhận diện được tính phù hợp và hiệu quả của việc vận dụng kết hợp các thao tác lập luận trong một số văn bản.

 

Vận dụng kết hợp các thao tác lập luận để viết bài văn nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí, về một hiện tượng đời sống, về một tác phẩm văn học và về một ý kiến bàn về văn học.

 

THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC DẠY HỌC

 HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM

GV hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài học theo chủ đề bằng câu hỏi trải nghiệm, gợi nhớ các kiến thức đã học ở THCS sau:

1/ Từ bậc THCS, chúng ta đã học những phương thức biểu đạt nào?Phân biệt sự khác nhau của các kiểu văn bản trên? Các kiểu văn bản trên có thể thay thế cho nhau được không? Tại sao?Các phương thức biểu đạt trên có thể được phối hợp với nhau trong một văn bản cụ thể hay không? Tại sao? Nêu một vì dụ để minh hoạ.

 

2/ Văn bản sau đã sử dụng kết hợp các thao tác lập luận nào?

“Theo Health, Pokemon Go là trò chơi thực tế ảo đòi hỏi người chơi phải cầm smartphone di chuyển theo bản đồ định vị để bắt được những con thú ảo. Chỉ sau một thời gian ngắn phát hành, trò chơi này đã thu hút hàng chục triệu tín đồ tham gia. Ban đầu, mục đích tốt đẹp của các nhà sản xuất Pokemon Go là muốn kéo những đứa trẻ thụ động ra khỏi nhà, khuyến khích chúng vận động nhiều hơn, tuy nhiên càng ngày trò chơi này càng bộc lộ nhiều tác hại đến sức khỏe người dùng…”

(Theo http://suckhoe.vnexpress.net/tin -tuc/cac-benh/choi-pokemon-go-hai-suc-khoe-the-nao)

Gợi ý trả lời:

HS kể 6 phương thức biểu đạt;

-Các kiểu văn bản trên khác nhau ở hai điểm chính là:Thứ nhất, khác nhau về phương thức biểu đạt.Thứ hai, khác nhau về hình thức thể hiện.

-Các kiểu văn bản trên không thể thay thế cho nhau được, vì:Phương thức biểu đạt khác nhau;Hình thức thể hiện khác nhau;Mục đích khác nhau..

Các phương thức biểu đạt trên có thể phối hợp với nhau trong một văn bản cụ thể, vì: Trong văn bản tự sự có thể sử dụng phương thức miêu tả, thuyết minh, nghị luân… và ngược lại.

2. Thao tác giải thích: Pokemon Go làtrò chơi thực tế ảo đòi hỏi người chơi phải cầm smartphone di chuyển theo bản đồ định vị để bắt được những con thú ảo.

–  Thao tác phân tích: mục đích tốt đẹp của các nhà sản xuất Pokemon Go là muốn kéo những đứa trẻ thụ động ra khỏi nhà, khuyến khích chúng vận động

–  Thao tác bác bỏ: càng ngày trò chơi này càng bộc lộ nhiều tác hại đến sức khỏe người dùng

Từ đó, giáo viên giới thiệu bài học: Qua 2 bài tập trên, chúng ta nhận thấy trong văn bản, người ta thường sử dụng kết hợp nhiều phương thức biểu đạt, kết hợp nhiều thao tác lập luận. Chủ đề hôm nay chúng ta sẽ luyện tập 2 nội dung này.

HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH KIẾN THỨC MỚI

 TIẾT 42-43/ Tuần: 14

LUYỆN TẬP VẬN DỤNG KẾT HỢP CÁC PHƯƠNG THỨC BIỂU ĐẠT

TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN.

Nội dung Mô tả hoạt động của thầy và trò Tư liệu, phương tiện, đồ dùng
Hoạt động của thầy Hoạt động của trò
Họat động: Luyện tập trên lớp (25 phút).
I. Luyện tập trên lớp

Bài tập 1

a) Trong bài văn nghị luận có lúc cần vận dụng kết hợp các phương thức biểu đạt tự sự, miêu tả và biểu cảm

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

b) Yêu cầu của việc kết hợp các phương thức biểu đạt trong văn nghị luận:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bài tập 2

Vận dụng kết hợp phương thức biểu đạt thuyết minh trong văn nghị luận

– Thuyết minh là thao tác giới thiệu, trình bày chính xác, khách quan về tính chất, đặc điểm của sự vật, hiện tượng.

– Tác dụng, ý nghĩa của việc sử dụng thao tác thuyết minh.

+ Hỗ trợ đắc lực cho sự bàn luận của tác giả,  đem lại những hiểu biết thú vị .

+ Giúp người đọc hình dung vấn đề một cách cụ thể và hình dung về mức độ nghiêm túc của vấn đề.

Bài tập 3 :  Viết bài văn nghị luận

* Thao tác 1 :

Hướng dẫn HS luyện tập trên lớp

 

* Nhóm 1

Vì sao trong một bài văn nghị luận chúng ta có những lúc cần vận dụng kết hợp các phương thức biểu đạt : tự sự, miêu tả, biểu cảm ?

 

 

 

 

 

 

 

 

* Nhóm 2

Muốn cho việc vận dụng các phương thức biểu đạt có kết quả cao thì chúng ta cần chú ý điều gì ? Cho ví dụ ?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

* Nhóm 3

Đọc đoạn trích trong SGK để trả lời câu hỏi.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

* Nhóm 4

Viết bài nghị luận  ngắn theo chủ đề SGK nêu ra (chú ý thực hiện theo những gợi ý trong SGK).

HS trao đổi nhóm, trả lời, lớp trao đổi thống nhất kết luận

* Nhóm 1

Trong bài văn nghị luận có lúc cần vận dụng kết hợp các phương thức biểu đạt tự sự, miêu tả và biểu cảm vì :

– Khắc phục hạn chế của văn nghị luận đó là sự khô khan, thiên về lý tính khó đọc.

+ Yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm đem lại sự cụ thể, thuyết phục cho văn nghị luận .

Tạo sự hấp dẫn cho văn nghị luận.

* Nhóm 2

Yêu cầu của việc kết hợp các phương thức biểu đạt trong văn nghị luận:

– Bài văn phải thuộc một kiểu văn bản chính, ở đây kiểu văn bản chính dứt khoát phải là văn nghị luận.

– Kể, tả, biểu cảm chỉ là những yếu tố kết hợp. Chúng không được làm mất làm mờ đi đặc trưng nghị luận của bài văn.

– Các yếu tố kể, tả, biểu cảm  trong bài văn nghị luận phải chịu sự chi phối và phải phục vụ quá trình nghị luận, bàn bạc

* Nhóm 3

– Trong đoạn trích, người viết muốn khẳng định về sự cần thiết của chi tiêu GNP (bên cạnh GDP) .

Để làm làm cho bài viết của mình thuyết phục ngoài việc sử dụng các thao tác lập luận, người viết còn vận dụng thao tác thuyết minh, giới thiệu một cách rõ ràng, chính xác về chỉ số GDP và GNP ở Việt Nam.

* Nhóm 4

Chủ đề : Nhà văn mà tôi hâm mộ.

(Văn bản mẫu : tham khảo bài viết về nhà văn Thạch Lam  của Nguyễn Tuân).

 
Họat động 2:  Luyện tập ở nhà ( 15 PHÚT)
II. Luyện tập ở nhà

Bài tập 1:

Cả 2 nhận định đều đúng vì :

– Một bài văn nghị luận chỉ hấp dẫn khi sử dụng kết hợp các phương thức biểu đạt nếu không nó rất dễ xa vào trừu tượng, khô khan….

– Tác phẩm nghị luận chỉ vận dụng một phương pháp sẽ rơi vào đơn điệu, nhàm chán, khô cứng.

Bài tập 2 :

Viết bài theo chủ đề : Gia đình trong thời hiện đại.

* Thao tác 1 :

– Hướng dẫn luyện tập ở nhà.

Yêu cầu HS về nhà viết bài nghị luận  theo chủ đề : Gia đình trong thời hiện đại. Yêu cầu : bài viết phải vận dụng kết hợp ít nhất là một trong 4 phương thức biểu đạt đã học

 

 

 

 

HS về nhà viết bài nghị luận  theo chủ đề

 

 

Họat động 4: HƯỚNG DẪN TỰ HỌC – DẶN DÒ ( 5 PHÚT)

Kết hợp luyện tập trên lớp và luyện tập ở nhà để phát triển kĩ năng làm văn nghị luận.

– Chuẩn bị bài: LUYỆN TẬP VẬN DỤNG KẾT HỢP CÁC THAO TÁC NGHỊ LUẬN


TIẾT THỨ 4
4/ Tuần: 15

LUYỆN TẬP VẬN DỤNG KẾT HỢP CÁC THAO TÁC NGHỊ LUẬN

Nội dung Mô tả hoạt động của thầy và trò Tư liệu, phương tiện, đồ dùng
Hoạt động của thầy Hoạt động của trò
Họat động 1: Luyện tập trên lớp (15 phút).
I. Luyện tập trên lớp

1. Ôn tập về các thao tác lập luận và những đặc trưng cơ bản của thao tác lập luận

– Thao tác lập luận phân tích :

 

 

 

 

– Thao tác lập luận so sánh :

 

 

 

 

 

 

 

– Thao tác lập luận giải thích :

 

 

 

 

– Thao tác lập luận chứng minh :

 

 

 

 

 

 

– Thao tác lập luận bác bỏ :

 

 

 

 

 

 

 

– Thao tác lập luận bình luận :

 

 

 

 

 

– Tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh : những yếu tố này có thể đem lại sự cụ thể, sống động cho văn nghị luận.

* Thao tác 1 :

Tổ chức luyện tập trên lớp

Yêu cầu HS trả lời các câu hỏi, bài tập trong SGK. HS có thể hoạt động tập thể theo nhóm, tổ hoặc cá nhân.

– HS trả lời: căn cứ vào mục đích để phân biệt các thao tác trên.

 

Một số gợi ý :

– Hãy nhắc lại những tao tác lập luận mà anh (chị) đã học cùng những đặc trưng cơ bản của từng thao tác.

– Đối với các yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm, GV cần có những giải thích thật thấu đáo. Vì những yếu tố này tưởng là xa lạ với văn nghị luận nhưng kỳ thực nếu biết vận dụng hợp lý chúng sẽ làm văn nghị luận bớt khô khan, trừu tượng.

 

 

 

 

 

 

 

HS Tái hiện kiến thức và trình bày.

HS trả lời: 6 thao tác.

(giải thích, chứng minh, bình luận, phân tích, so sánh, bác bỏ).

 

– Thao tác lập luận phân tích: chia đối tượng ra thành nhiều yếu tố, bộ phận nhỏ để có thể nhận biết đối tượng một cách cặn kẽ, thấu đáo.

– Thao tác lập luận so sánh : Làm rõ thông tin về sự vật bằng cách đem nó đối chiếu với đối tượng sự vật khác quen thuộc hơn, cụ thể hơn để chỉ ra sự giống nhau và khác nhau giữa chúng

– Thao tác lập luận giải thích : là giảng giải về các vấn đề liên quan đến đối tượng một cách cụ thể, rõ ràng cho người nghe, người đọc hiểu tường tận.

– Thao tác lập luận chứng minh : Mục đích của chứng minh là làm người ta tin tưởng về những ý kiến, nhận xét có đầy đủ căn cứ từ trong những sự thật hoặc chân lý hiển nhiên

– Thao tác lập luận bác bỏ : Chính là dùng lý lẽ và chứng cứ để gạt bỏ những quan điểm, ý kiến sai lệch hoặc thiếu chính xác từ đó nêu ý kiến đúng của mình để thuyết phục người nghe.

– Thao tác lập luận bình luận : Nhằm đề xuất và thuyết phục người đọc tán đồng với nhận xét đánh giá, bàn luận của mình về một hiện tượng trong đời sống hoặc trong văn học.

 
Họat động 2: Luyện tập vận dụng tổng hợp các thao tác lập luận.( 25 PHÚT)
2. Luyện tập vận dụng tổng hợp các thao tác lập luận.

– Các thao tác lập luận trong đoạn trích Tuyên ngôn độc lập

– Các thao tác này được vận dụng tổng hợp, kết hợp rất linh hoạt trong đoạn trích.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

3. Viết bài văn nghị luận vận dụng tổng hợp các thao tác lập luận

Tham khảo bài viết trong SGK

* Thao tác 1 :

Tổ chức luyện tập vận dụng tổng hợp các thao tác lập luận.

– GV yêu cầu HS xem xét một đoạn văn bản trong SGK và trả lời câu hỏi, yêu cầu chỉ ra cụ thể từng thao tác, đưa ra dẫn chứng cho từng thao tác (không phải trả lời một cách chung chung).

3.  GV hướng dẫn HS thực hành, viết văn bản có sự kết hợp các thao tác nghị luận.

 

* HS trả lời cá nhân

– Các thao tác lập luận trong đoạn trích Tuyên ngôn độc lập

+ Thao tác lập luận phân tích.

+ Thao tác lập luận chứng minh.

+ Thao tác lập luận bình luận.

+ Thao tác tự sự miêu tả, biểu cảm.

– Các thao tác này được vận dụng tổng hợp, kết hợp rất linh hoạt trong đoạn trích.

3. – HS đọc kỹ đề bài

– HS viết bài dựa trên gợi ý của SGK (trong khoảng 15 – 20 phút).

– HS trình bày bài làm trước lớp. (tuỳ theo lượng thời gian mà GV yêu cầu số lượng HS trình bày nhiều hay ít)

– HS chỉ ra trong bài đã sử dụng thao tác lập luận nào.

– HS khác sẽ nhận xét, bổ sung hoặc điều chỉnh, hoàn thiện các văn bản đã được trình bày.

II. Luyện tập ở nhà

 

 

* Thao tác 2 :

– Hướng dẫn luyện tập ở nhà

Bài tập 1 : Sưu tầm 2 đoạn văn (hoặc bài văn hay) trong đó tác giả đã sử dụng kết hợp các thao tác lập luận.

Bài tập 2 : Viết bài văn nghị luận có vận dụng tổng hợp ít nhất 3 thao tác lập luận khác nhau theo chủ đề : Một tác phẩm văn học mới ra đời và đang được nhiều người quan tâm bàn luận.

Bài tập 3 : Đọc văn bản đọc thêm Mấy nhận xét nhỏ về nghệ thuật viết tiểu thuyết (Nguyễn Đình Thi) để nắm về việc vận dụng tổng hợp các thao tác lập luận.

-Bài tập 1 : Sưu tầm trong sách báo nhất là các sách nghiên cứu, phê bình văn học.

-Bài tập 2 : HS tự viết ở nhà

-Bài tập 3 : Đọc và phân tích, rút ra bài học kinh nghiệm.

Họat động 4: HƯỚNG DẪN TỰ HỌC – DẶN DÒ ( 5 PHÚT)

Kết hợp luyện tập trên lớp và luyện tập ở nhà để phát triển kĩ năng làm văn nghị luận.

– Chuẩn bị bài: Chủ đề 15-Thơ hiện đại Việt Nam sau 1975 và thơ nước ngoài

 HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH

1/Lập bảng tổng hợp về các phương thức biểu đạt:

 

STT Kiểu văn bản Phương thức biểu đạt Ví dụ về hình thức văn bản cụ thể
1 Văn bản tự sự
2 Văn bản miêu tả
3 Văn bản biểu cảm
4 Văn bản thuyết minh
5 Văn bản nghị luân
6 Văn bản điều hành (hành chính – công vụ)

 

Trả lời:

 

STT Kiểu văn bản Phương thức biểu đạt Ví dụ về hình thức văn bản cụ thể
1 Văn bản tự sự Trinh bày các sự việc (sự kiên) có quan hê nhân quả dẫn đến két cục, biểu lô ý nghĩa

Mục đích: Biểu hiện con người, quy luật đời sống, bày tỏ tinh cảm, thái đô

Bản tin báo chí

Bản tường thuật, tường trinh

Tác phẩm lịch sử

Tác phẩm văn học nghệ thuật: truyện, tiểu thuyết, kí sự…

2 Văn bản miêu tả Tái hiện các tính chất, thuộc tính sự vật, hiện tượng làm cho chúng hiển hiện

Mục đích: Giúp con người cảm nhận và hiểu được chúng

Văn tả cảnh, tả người, tả sự vật

Đoạn văn miêu tả trong tác phẩm tự

sự

3 Văn bản biểu cảm Bày tỏ trực tiếp hoặc gián tiếp tinh cảm, cảm xúc của con người đối với con người, thiên nhiên, xã hội, sự vật.

Mục đích: Bày tỏ tinh cảm và khơi gợi sự đồng cảm.

Điện mừng, lời thăm hỏi, chia buồn. văn tế, điếu văn.

Thư từ biểu hiện tinh cảm giữa người với người.

Tác phẩm văn học; thơ trữ tinh, tuỳ bút, bút kí…

4 Văn bản thuyết minh Trình bày thuộc tính, cấu tạo, nguyên nhân, kết quả, tính có ích hoặc có hại của sự vât, hiên tượng.

Mục đích: Giúp người đọc có tri thức khách quan và có thái độ đúng đắn đối với chúng.

Bản thuyết minh sản phẩm hàng hoá.

Lời giới thiêu di tích, thắng cảnh, nhân vât.

Văn bản trinh bày tri thức và phương pháp trong khoa học tự nhiên và xã hội.

5 Văn bản nghị luân Trinh bày tư tưởng, quan điểm đối với tự nhiên, xã hội, con người và tác phẩm văn học bằng các luân điểm, luân cứ và cách lâp luân.

Mục đích: Thuyết phục mọi người tin theo cái đúng, cái tốt, từ bỏ cái sai, cái xấ’u.

Cáo, hịch, chiếu, biểu.

Xã luân, binh luân, lời kêu gọi.

Sách lí luân.

Lời phát biểu trong hội thảo về khoa học xã hội.

Tranh luân về một vấ’n đề chính trị, xã hội, văn học.

6 Văn bản điều hành (hành chính – công vụ) Trình bày theo mẫu chung và chịu trách nhiêm pháp lí về các ý kiến, nguyên vọng của cá nhân, tâp thể đối với cơ quan quản lí; hay ngược lại, bày tỏ yêu cầu, quyết định của người có thẩm quyền đối với người có trách nhiêm thực thi, hoặc thoả thuận giữa công dân với nhau về lợi ích và nghĩa vụ.

Mục đích: Đảm bảo các quan hê binh thường giữa người và người theo quy định và pháp luât.

Đơn từ, Báo cáo, Đề nghị, Biên bản, Tường trinh, Thông báo, Hợp đồng, Quảng cáo, Bản tin…

 

  1. Nêu khả năng kết hợp giữa các phương thức:

 

Tự sự Miêu tả Biểu cảm Nghị luận Thuyết minh
Có sử dụng bốn phương thức còn lại

Ngoài ra, tự sự còn có thể kết hợp với miêu tả nội tâm, đối thoại và độc thoại nội tâm (có vai trò quan trọng của người kể và ngôi kể)

– Có sử dụng các phương thức tự sự, biểu cảm, thuyết minh – Có sử dụng các phương thức tự sự, miêu tả, nghị luân – Có sử dụng các phương thức tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh – Có sử dụng các phương thức miêu tả, nghị luận

HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG

+ Bài tập ứng dụng: Xác định các thao tác lập luận trong văn bản sau:

BÀI TOÁN TỔNG HỢP CỦA CUỘC ĐỜI

(1)Nguyên tố cơ bản của sinh mệnh là thời gian. Thời gian là một chuỗi con số khô khan đơn điệu nhưng lại thần kì. Muốn đem chuỗi số này đến một môi trường tốt để phát huy tới cực điểm, đòi hỏi phải học được cách giải tổng hợp.

Từ phép cộng trừ nhân chia bậc tiểu học tới phép phân giải nhân thức bậc trung học, lại tới phép hàm số và vi tích phân của bậc đại học, khái niệm toán học đã được thăng cấp, tuổi tác của bản thân cũng tăng lên, sự lí giải cuộc đời cũng dần dần phức tạp. Hằng số và biến số của cuộc đời dù khó giải và nắm vững, nhưng con đường đời nói chung đều phải dựa vào viêc vận dụng phép giải tổng hợp bốn phép tính cộng trừ nhân chia.

(2) Chúng ta hãy suy nghĩ nghiêm túc về biểu thức toán học sau:

[80 x 365 – (15 + 15) x 365] x 1|3 = 6083 (ngày).

Ý nghĩa của biểu thức này là: giả dụ một người có thể sống tới 80 tuổi, trừ đi 15 năm chưa hiểu biết gì và 15 năm già nua cuối đời, lại trừ đi khoảng 2|3 thời gian phải dùng vào viêc ăn, ngủ, sinh hoạt… thì thời gian của một đời người thực sự có ích, thực sự học tâp và làm viêc, cống hiến… cũng chỉ có 6083 ngày mà thôi! Thời gian sống có ích của mỗi đời người là rất ngắn! Một nhân vât dù kiêt xuất đến đâu chăng nữa cũng bị câu thúc bởi khoảng thời gian có hạn này. Vì vây, ai nhân thức được điều này thì người ấy có cơ hội thành công và ngược lại, kẻ nào đủng đỉnh rong chơi thì đó chính là hành động tự vứt bỏ những cơ hội trời cho! Một gợi ý khác của biểu thức này là, trong khoảng thời gian hữu hạn này, một người không thể thành công trong nhiều lĩnh vực, mà nhất thiết phải biết lựa chọn những lĩnh vực hoặc nghề nghiêp thích hợp và phải biết loại bỏ những sở đoản. Chỉ có như vây, con người mới thành công.

Trả lời:

– Đoạn văn (1) dùng lập luận phân tích;

– Đoạn văn (2) dùng lập luận chứng minh.

HOẠT ĐỘNG BỔ SUNG

  1. Xác định sự kết hợp giữa các phương thức biểu đạt trong bài thơ Sóng ( Xuân Quỳnh)
  2. Sử dụng các thao tác lập luận viết đoạn văn nghị luận xã hội. Nghị luận về một đoạn thơ.

Xem thêm : Trọn bộ giáo án Ngữ văn soạn theo hướng đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá

Giáo án ngữ văn 10 

Giáo án ngữ văn 11

Giáo án ngữ văn 12

Xem thêm : Các  phương thức biểu đạt thao tác lập luận

Nếu muốn tải File đầy đủ, theo đúng định dạng, thầy cô bấm vào đây :

Tải trọn bộ giáo án Ngữ văn 10-11-12 Chuẩn cấu trúc 2018

Giáo án Ngữ văn 12 theo chủ đề :Thơ kháng chiến chống Mỹ 1965-1975

 Xây dựng chủ đề dạy học, giáo án ngữ văn lớp 12, soạn bài Đất nước Nguyễn Khoa Điềm , Sóng, Bác ơi.

Giáo án theo định hướng phát triển năng lực học sinh

Tuần

theo chủ đề

Số tiết Chủ đề Tiết PPCT Tiết theo chủ đề Tên bài
12 4 Chủ đề 12

Thơ kháng chiến chống Mỹ 1965-1975

28-29 36-37 Đất nước (Trích Mặt đường khát vọng).
13 37 38 Sóng

 

41 39 – Bác ơi!
13

 Thơ kháng chiến chống Mỹ 1965-1975

MỤC TIÊU CẦN ĐẠT

1. Kiến thức-Kĩ năng-Thái độ

            a.Kiến thức

Sau bài học, người học hiểu được:

– Cảm nhận được những suy tư sâu sắc của nhà thơ về đất nước và trách nhiệm của mỗi người đối với quê hương, xứ sở. Hiểu được sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất chính luận và trữ tình, sự vận dụng các chất liệu văn hóa và văn học dân gian, sự phong phú, linh hoạt của giọng điệu thơ.

-Vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu qua hình tượng “Sóng”

-Đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng hình tượng ẩn dụ, giọng thơ tha thiết, sôi nổi, nồng nàn, nhiều suy tư, trăn trở.

-Cảm nhận được tình cảm của nhà thơ Tố Hữu, của nhân dân Việt Nam trước sự ra đi của vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc.

 Kĩ năng

Sau bài học, người học có thể:

– Đọc – hiểu tác phẩm thơ trữ tình theo đặc trưng thể loại.

– Làm quen với giọng thơ giàu chất trí tuệ, suy tư.

Thái độ:

Sau bài học, người học ý thức:

-Bồi dưỡng tình yêu quê hương đất nước, trân trọng và yêu mến văn hóa văn học dân gian của dân tộc.

– Có tình yêu đôi lứa trong sáng, chân thành.

-Hiểu hơn về con người Hồ Chí Minh với đầy đủ những phẩm chất cao đẹp.

2.Hình thành năng lực:

– Năng lực thu thập thông tin liên quan đến thơ kháng chiến chống Mỹ 1965-1975

– Năng lực đọc – hiểu  các tác tác phẩm thơ Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ 1965-1975.

– Năng lực trình bày suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về giai đoạn văn học.

– Năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận về thành tựu, hạn chế, những đặc điểm cơ bản, giá trị của những tác phẩm văn học của giai đoạn này

– Năng lực phân tích, so sánh đặc điểm của thơ chống Mỹ với giai đoạn trước đó ( chống Pháp và xây dựng CNXH)

– Năng lực tạo lập văn bản nghị luận.

  1. Phát triển phẩm chất:

-Biết nhận thức được ý nghĩa của thơ ca kháng chiến chống Mỹ

-Biết trân quý những giá trị văn hóa truyền thống mà thơ ca kháng chiến chống Mỹ đem lại

-Có ý thức tìm tòi về thể loại, từ ngữ, hình ảnh trong thơ ca kháng chiến chống Mỹ

B.KẾ HOẠCH THỰC HIỆN CHỦ ĐỀ

  1. Thời gian thực hiện

-Thực hiện trong 02 tuần: 12, 13

-Số tiết thực hiện trên lớp: 04

+ 2 tiết: Đất Nước (Trích Mặt đường khát vọng).

+ 1 tiết: Sóng ( Xuân Quỳnh)

+ 1 tiết: Đọc thêm: Bác ơi! ( Tố Hữu)

  1. Chuẩn bị của giáo viên và học sinh

a/Chuẩn bị của giáo viên

-Giáo án

-Phiếu bài tập, trả lời câu hỏi

– Ảnh chân dung Nguyễn Khoa Điềm (phóng to); tâp trường ca Mặt đường khát vọng và một số tâp thơ của Nguyễn Khoa Điềm.

– Sưu tầm một số câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ có liên quan đến những câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm.

– Sưu tầm tranh, ảnh về nhà thơ Xuân Quỳnh, ngâm bài thơ Sóng.

– Phim về Lễ tang Hồ Chí Minh

-Bảng phân công nhiệm vụ cho học sinh hoạt động trên lớp

-Bảng giao nhiệm vụ học tập cho học sinh ở nhà

b/Chuẩn bị của học sinh

-Đọc trước ngữ liệu trong SGK để trả lời câu hỏi tìm hiểu bài

-Các sản phẩm thực hiện nhiệm vụ học tập ở nhà (do giáo viên giao từ tiết trước)

-Đồ dùng học tập

  1. Lập bảng mô tả mức độ nhận thức

 

Nhận biết Thông hiểu Vận dụng thấp Vận dụng cao
-Tác giả, hoàn cảnh sáng tác ,xuất xứ … Hiểu được đặc điểm từng  thể loại thơ Phân tích được nội dung nghệ thuật của từng bài Vận dụng những hiểu biết bài thơ  để viết bài làm văn nghị luận về 1 bài thơ, đoạn thơ .
Xác định thể loại thơ Hiểu được đặc trưng thể loại thơ trữ tình Phân tích cảm xúc chủ đạo của tác giả trong mỗi bài Nhận ra được phong cách sáng tác của từng tác giả sau khi học xong các bài thơ
Xác định bố cục bài thơ . Hiểu được mạch cảm xúc của nhà thơ trong mỗi bài Đánh giá nét đặc sắc của mỗi bài về phương diện nghệ thuật. Hiểu được nội dung của các bài thơ khác  nằm ngoài chương trình SGK.
Phát hiện các chi tiết, biện pháp nghệ thuật đặc sắc của từng văn bản. Lý giải ý nghĩa, tác dụng của từng biện pháp nghệ thuật. Đánh giá giá trị nghệ thuật của từng bài . So sánh nét tương đồng và dị biệt giữa các chi tiết, hình ảnh thơ trong các đoạn thơ cùng chủ đề.

THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC DẠY HỌC

 HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM

GV hướng dẫn học sinh tìm hiểu về thơ kháng chiến chống Mỹ từ năm 1965 đến năm 1975 bằng câu hỏi trắc nghiệm sau:

  1. Ai là tác giả của bài thơ Tiểu đội xe không kính:

a/ Thanh Hải

b/ Phạm Tiến Duật

c/ Chính Hữu

d/ Viễn Phương

2/ Tập thơ nào của Tố Hữu ra đời trong kháng chiến chống Mỹ:

a/ Ra trận

b/ Ta với ta

c/ Một tiếng đờn

d/ Từ ấy

Gợi ý trả lời: 1b;2a

Từ đó, giáo viên giới thiệu vào bài: 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã trở thành nguồn cảm hứng vô tận cho các nhà thơ Việt Nam sáng tác. Chúng ta đã tìm hiểu chủ đề thơ chống Pháp và thơ trong thời kì đầu xây dựng CNXH trên miền Bắc. Hôm nay, chúng ta tiếp tục tìm hiểu CHỦ ĐỀ THƠ CHỐNG MỸ 1965-1975.

HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH KIẾN THỨC MỚI

Tiết 36 – 37/Tuần 12

ĐẤT NƯỚC

(Trích  trường ca Mặt đường khát vọng )

– Nguyễn Khoa Điềm –

 

Nội dung Mô tả hoạt động của thầy và trò Tư liệu, phương tiện, đồ dùng
Hoạt động của thầy Hoạt động của trò
Họat động: TÌM HIỂU NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA THƠ CHỐNG MỸ 1965-1975 (15 phút).
A. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA THƠ CHỐNG MỸ 1965-1975 I. Hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa

– Kháng chiến chống Mỹ, đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh;

– Miền Bắc trở thành hậu phương lớn cho miền Nam;

– Chủ tịch HCM từ trần ( 2-9-1969)

– Sự xuất hiện và đóng góp của các nhà thơ trẻ: Nguyễn Khoa Điềm, Xuân Quỳnh, Phạm Tiến Duật…

II. Những thành công nội dung và nghệ thuật thơ kháng chiến chống Pháp

1/ Nội dung:

– Thơ ca tập trung phản ánh cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc

– Thể hiện khuynh hướng mở rộng và đào sâu hiện thực;

– Ca ngợi tình yêu Đất Nước, ý thức công dân.

– Niềm thương tiếc vô hạn trước sự ra đi của Chủ tịch HCM;

– Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.

2/Nghệ thuật:

a/ Ngôn ngữ thơ kháng chiến chống Mỹ:

– Có sự tiếp nhận các yếu tố khẩu ngữ, yếu tố văn xuôi

– Vận dụng sáng tạo các biện pháp tu từ;

– Xây dựng được hình ảnh thơ tiêu biểu: Hình ảnh Đất Nước; hình ảnh bà Mẹ; …

b/ Thể thơ trong thơ thời kì kháng chiến chống Mỹ cũng đa dạng và phong phú

– Thể thơ lục bát truyền thống

– Thơ tự do ;

– Trường ca

c/ Thơ ca thể hiện xu hướng khác nhau:

– Xu hướng đại chúng (Tố Hữu là đại diện)

– Xu hướng thơ đậm chất trữ tình chính luận (Nguyễn Khoa Điềm là đại diện).

– Xu hướng thơ đằm thắm, dịu dàng, mãnh liệt (Xuân Quỳnh là đại diện)…

B. CÁC TÁC PHẨM

       ĐẤT NƯỚC ( Nguyễn Khoa Điềm)

I. Tìm hiểu chung:

1. Tiểu sử tác giả :

a. Cuộc đời:

– Sinh ra trong một gia đình trí thức, giàu truyền thống yêu nước và tinh thần cách mạng.

– Học tập và trưởng thành trên miền Bắc, tham gia chiến đấu và hoạt động văn nghệ ở miền Nam.

b. Tác phẩm chính: (SGK)

c. Phong cách sáng tác :

– Giàu chất suy tư , xúc cảm dồn nén .

– Giọng thơ trữ tình chính luận .

2. “Trường ca mặt đường khát vọng”:

a. Hoàn cảnh sáng tác: Hoàn cảnh sáng tác : Hoàn thành ở chiến khu Trị -Thiên 1971 .

 b. Đoạn trích:

– Xuất xứ: “Đất nước” Trích chương V của trường ca.

– Bố cục văn bản : Hai phần

+ Phần I : 42 câu đầu : Đất nước được cảm nhận từ nhiều phương diện lịch sử văn hoá dân tộc, chiều sâu của không gian, chiều dài của thời gian.

+ Phần II: 47 câu cuối : Tư tưởng cốt lõi, cảm nhận về đất nước : Đất nước của Nhân dân .

–          Thể loại :Trường ca

(Trường ca là một tác phẩm được viết bằng thơ trên phương thức kết hợp nhuần nhuyễn hai yếu tố tự sự và trữ tình, có tính hoành tráng về cả phương diện nội dung, tư tưởng và cấu trúc nghệ thuật tác phẩm, được nhà thơ viết nên bằng một dung lượng cảm hứng mạnh mẽ, cảm xúc tuôn trào gắn liền với những chấn động lớn lao của lịch sử, của dân tộc và thời đại.)

* Thao tác 1 :

GV: Yêu cầu HS xem lại bài Khái quát văn học Việt Nam từ 1945 đến hết thế kỷ XX để trả lời các câu hỏi sau:

1.      1/Hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa của đất nước trong giai đoạn 1965-1975?

 

2.      2/Những thành công nội dung và nghệ thuật thơ kháng chiến chống Mỹ?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hướng dẫn HS tìm hiểu chung về tác giả và tác phẩm

-Hướng dẫn HS tìm hiểu phần Tiểu dẫn.

– Gọi 1 HS đọc TD.

 

– Phần TD trình bày những nội dung chính nào?

– GV nhận xét sau đó nhấn mạnh những thông tin chủ yếu về tiểu sử, phong cách thơ.

*GV Tích hợp kiến thức  lịch sử để hướng dẫn học sinh tìm hiểu quê hương nhà thơ, chiến trường Trị Thiên năm 1971.

– Kiến thức lịch sử: Để phát triển phong trào cách mạng ở Quảng Trị và Thừa Thiên Huế, tháng 4 năm 1966, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định tách Trị – Thiên ra khỏi khu V, thành lập Khu ủy Trị – Thiên – Huế bao gồm Đảng bộ tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên và thành phố Huế đặt dưới sự lãnh đạo của Ban chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị.

 *GV Tích hợp kiến thức Lí luận văn học để hướng dẫn học sinh tìm hiểu phong cách sáng tác của nhà thơ, thể loại Trường ca

 

 

HS Tái hiện kiến thức và trình bày.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– HS đọc tiểu dẫn, chú ý những thông tin quan trọng.

– HS chú ý tiểu sử tác giả, phong cách sáng tác để trả lời.

 

 

 

 

 

 

– HS tóm những ý chính, ghi vở.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– HS đọc văn bản chú ý thể hiện giọng thơ trữ tình-chính luận.

 

– HS phân chia bố cục theo nội dung.

 

 

 

Hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản.

-GV đọc VB và gọi một HS đọc lại VB

– Hãy chia bố cục?

 

Ảnh chân dung Nguyễn Khoa Điềm (phóng to); tâp trường ca Mặt đường khát vọng và một số tâp thơ của Nguyễn Khoa Điềm.

 

Họat động 2: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN ( 30 PHÚT)
II. Đọc hiểu văn bản :

* Phần 1: Nêu lên cách cảm nhận độc đáo về quá trình hình thành, phát triển của đất nước; từ đó khơi dậy ý thức về trách nhiệm thiêng liêng với nhân dân, đất nước.

 

 1. Đất nước được cảm nhận bằng chiều dài của thời gian, chiều rộng của không gian và chiều sâu của lịch sử văn hoá dân tộc.

  a. Cội nguồn đất nước :

– “Khi ta lớn lên”- “Đất nước đã có rồi”

(Quá khứ )               (Hiện tại )

=> Giọng thơ nhẹ nhàng, âm hưởng đầy quyến rũ đã đưa ta về với cội nguồn của đất nước : Một đất nước vừa cụ thể vừa huyền ảo đã có từ rất lâu đời.

  b. Sự cảm nhận đất nước ở phương diện lịch sử – văn hoá :

– Đất nước được cảm nhận gắn liền với nền văn hoá lâu đời của dân tộc:

+ Câu chuyện cổ tích, ca dao.

+ Phong tục của người Việt: ăn trầu, bới tóc(nét đẹp tình nghĩa, vẻ đẹp thuần phong, mĩ tục; Vẻ đẹp nhân hậu của người phụ nữ VN.)

– Đất nước lớn lên đau thương vất vả cùng với cuộc trường chinh không nghỉ ngơi của con người:

+ Cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, gắn với hình ảnh cây tre- biểu tượng cho sức sống bất diệt của dân tộc.

+ Cái kèo, cái cột, hạt gạo: Biểu tượng cho c/s giản dị, gắn liền với nền văn minh lúa nước, lao động vất vả.

– Đất nước gắn liền với những con người sống ân tình thuỷ chung. (Gừng cay, muối mặn: -> Lối sồng thủy chung, đậm tình nghĩa.)

=> Hình ảnh, từ ngữ giàu sức liên tưởng, gợi cảm. Ngôn từ đậm chất d/gian, sử dụng nhiều thành ngữ, cdao.

– Từ ngữ “ĐN” được viết hoa -> Tình cảm yêu thương, trân trọng.

– Giong thơ: thâm trầm, trang nghiêm, tha thiết trữ tình, gợi quá trình sinh ra và lớn lên, trưởng thành của ĐN.

=> ĐN gắn liền với nền văn hóa lâu đời. ĐN gần gũi thân thương gắn bó với đời sống c/ng VN.

*Đất nước được hình thành từ những gì bé nhỏ, gần gũi, riêng tư trong cuộc sống của mỗi con người.

 

 

 

c. Sự cảm nhận đất nước ở phương diện chiều sâu của không gian:

– Không  gian gần gũi ( sinh hoạt, học tập và làm việc ..)( Nơi anh  đến trường,.. nơi em tắm)

– Tình yêu đôi lứa: kỉ niệm hò hẹn, nhớ nhung“..đánh rơi chiếc khăn… nhớ thầm”

(Lối chiết tự đầy ý nhị vừa mang tính cá thể vừa hết sức táo bạo , tác giả đã định nghĩa đất nước thật độc đáo). =>Là sự thống nhất giữa cá nhân với cộng đồng.

– Đất nước còn là không gian rộng lớn, tráng lệ hùng vĩ của núi cao, biển cả. (Thiên nhiên:Núi sông, rừng biển hùng vĩ, tráng lệ “hòn núi bạc,.. Nước, ..biển khơi)

– Không gian sinh tồn của dân tộc qua nhiều thế hệ “..nơi dân mình đoàn tụ”

=> ĐN là những gì gần gũi thân quen gắn bó với cuộc sống mỗi người lại vừa mênh mông rộng lớn.

 d. Sự cảm nhận ĐN ở phương diện chiều dài thời gian : ĐN được cảm nhận từ quá khứ  với huyền thoại “ Lạc Long Quân và Âu Cơ” cho đến hiện tại với những con người không bao giờ quên nguồn cội dân tộc, truyền thuyết Hùng Vương và ngày giỗ Tổ .

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

e. Suy ngẫm của tác giả về trách nhiệm của thế hệ mình với ĐN : phải biết hi sinh để bảo vệ đất nước.

– ĐN hiện lên vừa thiêng liêng sâu xa , lớn lao vừa gần gũi thân thiết với sự sống mỗi người. Đất nước là sự hòa quyện không thể tách rời giữa cá nhân và cộng đồng dân tộc. Vì thế mỗi người phải có trách nhiệm với đất nước.

– Nghệ thuật:

. Điệp ngữ “phải biết” => giọng thơ chính luận.

. Âm điệu “em ơi em”=> trữ tình thiết tha.

. Dùng từ “hoá thân”(# hi sinh): hiến dâng, hoà nhập, sống còn vì đất nước => sâu sắc, giàu ý nghĩa.

. Lời thơ giản dị nhưng mang ý nghĩa sâu xa.

=> Ý thơ mang tính chất tâm sự nhiều hơn là kêu gọi, giáo huấn nên sức truyền cảm rất mạnh.

 

* Thao tác 1 :

Hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản

 

– ĐN gắn liền với những văn hoá gì của dân tộc?

 

– ĐN trưởng thành như thế nào?

 

*GV Tích hợp kiến thức Văn học dân gian, lịch sử thời Vua Hùng, phong tục của dân tộc để hướng dẫn học sinh tìm hiểu 9 câu thơ đầu.

 

 

-Nhận xét về cách sử dụng những chất liệu văn hóa, văn học dân gian của Nguyễn Khoa Điềm?

-GV trích hai đoạn thơ của Nguyễn Đình Thi và Chế Lan Viên để HS so sánh nhận ra điểm mới trong cách tiếp cận đất nước của Nguyễn Khoa Điềm

*GV Tích hợp kiến thức Làm Văn học ( thao tác lập luận so sánh) hướng dẫn học sinh tìm hiểu nét mới về cảm nhận ĐN ở 9 câu thơ đầu.

 

GV Tích hợp kiến thức Tiếng Việt ( chiết tự, liệt kê), vận dụng ca dao…để hướng dẫn HS tìm hiểu ĐN được cảm nhận trên phương diện không gian và thời gian

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

-Tổ chức thảo luận nhóm

Nhóm 1: Xác định không gian nghệ thuật để cảm nhận về ĐN thể hiện trong đoạn thơ: Đất là nơi anh…nỗi nhớ thầm.Tác giả sử dụng nghệ thuật như thế nào trong 4 câu thơ?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhóm 2: Xác định không gian nghệ thuật để cảm nhận về ĐN thể hiện trong đoạn thơ: Đất là nơi con chim…dân mình đoàn tụ.Tác giả sử dụng nghệ thuật như thế nào trong đoạn thơ?

 

 

 

 

Nhóm 3: Xác định thời gian nghệ thuật để cảm nhận về ĐN thể hiện trong đoạn thơ: Lạc Long Quân…Mai này..mơ mộng..Tác giả sử dụng nghệ thuật như thế nào trong đoạn thơ?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhóm 4: Phân tích 4 câu cuối: Em ơi em…muôn đời.– Tác giả suy nghĩ như thế nào về trách nhiệm của mình đối với ĐN?

GV Tích hợp kiến thức Tiếng Việt ( phép điệp, giọng thơ chính luận và trữ tình), để hướng dẫn HS tìm hiểu trách nhiệm đối với Đất Nước

GV Tích hợp kiến thức Giáo dục công dân lớp 10( bài CÔNG DÂN VỚI SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC) để hướng dẫn học sinh tìm hiểu trách nhiệm đối với Đất Nước.

 

 

– HS dựa vào phần đầu của đoạn trích để xác định các phương diện cảm nhận ĐN.

– HS chú ý 2 câu đầu của đoạn trích để xác định.

 

Kiến thức văn hoá dân gian:

– Truyện cổ dân gian: Cổ tích Trầu cau, truyền thuyết Thánh Gióng;

– Tục ngữ: miếng trầu là đầu câu chuyện; Miếng trầu nên dâu nhà người

– Ca dao: Muối ba năm…Gừng chín tháng…

-Thành ngữ: Một nắng hai sương

– HS Tìm những chi tiết, hình ảnh thể hiện nền văn hóa của dân tộc.

– HS dựa vào lịch sử thời Vua Hùng để trả lời: Ăn trầu là phong tục cổ truyền của người Việt. Tương truyền có từ thời Hùng Vương và gắn liền với một câu chuyện cổ tích nổi tiếng: Chuyện Trầu Cau.

 

 

 

 

HS trả lời:

Nhà thơ không chỉ ra một bài nào cụ thể, không trích nguyên văn những câu trọn vẹn mà chỉ dẫn ra, gợi ra một vài hình ảnh, từ ngữ tiêu biểu, để từ đó mở ra cho người đọc những trường liên tưởng sâu rộng về đời sống dân tộc qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước

HS trả lời:

-Nguyễn Đình Thiàcảm nhận đất nước ở những đường nét hoành tráng của không gian, với giọng điệu ngợi ca đầy tự hào

– HS xác định những không gian địa lí được thể hiện ở phần đầu.

 

Đại diện nhóm 1 trả lời:

– Không  gian gần gũi ( sinh hoạt, học tập và làm việc ..)( Nơi anh  đến trường,.. nơi em tắm)

– Tình yêu đôi lứa: kỉ niệm hò hẹn, nhớ nhung“..đánh rơi chiếc khăn… nhớ thầm”

(Lối chiết tự đầy ý nhị vừa mang tính cá thể vừa hết sức táo bạo , tác giả đã định nghĩa đất nước thật độc đáo). =>Là sự thống nhất giữa cá nhân với cộng đồng.

 

 

 

 

 

 

Đại diện nhóm 2 trả lời:

– không gian rộng lớn, tráng lệ hùng vĩ của núi cao, biển cả. (Thiên nhiên: Núi sông, rừng biển hùng vĩ, tráng lệ “hòn núi bạc,.. Nước, ..biển khơi)

– Không gian sinh tồn của dân tộc qua nhiều thế hệ “..nơi dân mình đoàn tụ”

Đại diện nhóm 3 trả lời:

–                      Thời gian quá khứ:

+ Nhớ Lạc Long Quân..

+ Cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ

–                      Thời gian hiện tại:

+Trong anh và em hôm nay…

+ Sự gắn bó giữa cá nhân với cộng đồng

-Thời gian tương lai:

+Mai này con ta lớn lên…

+ Tháng ngày mơ mộng: hi vọng về một ngày nước nhà thống nhất, hoà bình

Đại diện nhóm 4 trả lời:

. Điệp ngữ “phải biết” => giọng thơ chính luận.

. Âm điệu “em ơi em”=> trữ tình thiết tha.

. Dùng từ “hoá thân”(# hi sinh): hiến dâng, hoà nhập, sống còn vì đất nước => sâu sắc, giàu ý nghĩa.

– giọng thơ lại chân thành, tha thiết, là sự tự ý thức về trách nhiện của mình với đất nước: phải yêu thương, san sẻ, và khi cần phải biết hi sinh cho đất nước

Tích hợp GDCD: Suy ngẫm của tác giả về trách nhiệm của thế hệ mình với ĐN, bản thân thấy được trách nhiệm của cá nhân với đất nước trong giai đoạn hiện nay…

Họat động 3: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN ( 35 PHÚT)
II. Đọc–hiểu:

   2. Phần 2: tư tưởng “Đất nước của Nhân dân” được thể hiện qua ba chiều cảm nhận về đất nước.

a. Đất nước do nhân dân sáng tạo ra : Tg cảm nhận ĐN qua những địa danh thắng cảnh gắn với cuộc sống tính cách số phận của nhân dân. (Từ không gian địa lí)

– Tình nghĩa thuỷ chung thắm thiết (núi Vọng Phu, hòn trống mái)

+ Vợ nhớ chồng ànúi vọng phu

+ Vợ chồng yêu nhau àhòn trống mái

– Sức mạnh bất khuất (Chuyện Thánh Gióng) : Gót ngựa ThánhGióngà  Ao đầm để lại

– Cội nguồn thiêng liêng (hướng về đất Tổ Hùng Vương): Chin mươi chín  con voi àdựng đất tổ Hùng Vương

– Truyền thống hiếu học (Cách cảm nhận về núi Bút non nghiêng)

– Hình ảnh đất nước tươi đẹp (Cách nhìn dân dã về núi con Cóc, con Gà , dòng sông)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

=> ĐN hiện lên vừa gần gũi vừa thiêng liêng.

 

à Cảnh quan thiên nhiên gắn liền với đời sống, tâm hồn, lịch sử dân tộc.

– Từ đó, tác giả đi đến một kết luận mang tính khái quát:

“ Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi

 Những cuộc đời đã hoá núi sông ta.”

à Theo tác giả: Những thắng cảnh đẹp, những địa danh nổi tiếng khắp mọi miền của đất nước đều do nhân dân tạo ra, đều kết tinh của bao công sức và khát vọng của nhân dân, của những con người bình thường, vô danh.

– Nghệ thuật liệt kê, điệp từ đã khẳng định nhân dân là đối tượng quan trọng nhất tạo nên dáng hình đất nước

b. Đất nước là do nhân dân chiến đấu và bảo vệ : Nhìn vào bốn nghìn năm ĐN mà nhấn mạnh đến những con người vô danh (Từ thời gian lịch sử)

 

– Họ đã sống và đã chết / giản dị và bình tâm …

–  Họ đã làm nên đất nước => Họ chính là nhân dân, những người anh hùng vô danh , bình dị…

– Đại từ “Họ” đặt đầu câu + nhiều động từ “giữ, truyền, gánh”

à Vai trò của nhân dân trong việc giữ gìn và lưu truyền văn hoá qua các thế hệ.

 

c. Đất nước là do nhân dân gìn giữ và lưu truyền

– Nhân dân đã gìn giữ và lưu truyền cho thế hệ sau mọi giá trị tinh thần và vật chất =>  Nhân dân chính là người làm nên đất nước

=>Đất nước là của nhân dân, của ca dao thần thoại=> Đây là một định nghĩa giản dị mà độc đáo.

 

 

 

 

 

 

d. Đóng góp của nhân dân : Tg chọn 3 dẫn chứng để nói về truyền thống của nhân dân (Từ bản sắc văn hóa).

+ Lãng mạn, chung thủy say đắm trong tình yêu. (Yêu em từ thuở trong nôi . )

+ Quí trọng  tình nghĩa(Biết quý công…)

+  Quyết liệt trong căm thù và sẵn sàng chiến đấu (biết trồng tre …)

=> Sự phát hiện thú vị, cái nhìn mới mẻ và độc đáo của tg về ĐN trên các phương diện địa lí, lịch sử, văn hoá với nhiều ý nghĩa mới : Muôn vàn vẻ đẹp của ĐN đều là kết tinh của bao công sức và khát vọng của nhân dân , của những con người vô danh , bình dị. Khẳng định đất nước của nhân dân.

– Kết thúc đoạn thơ là hình ảnh dòng sông với những điệu hò:

“Ơi những dòng sông bắt nước từ đâu

………………………………………………………

Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi”

à như muốn kéo dài thêm giai điệu ngân nga với nhìêu cung bậc của bản trường ca về Đất Nước.

 

* Thao tác 1 :

*GV Tích hợp kiến thức địa lí, văn học dân gian để hướng dẫn học sinh tìm hiểu danh lam thắng cảnh trải dài từ Bắc và Nam nhằm khẳng định sự hoá thân của Nhân dân vào dáng hình Đất nước

 

 

– Phần sau của đoạn thơ tập trung làm nổi bật tư tưởng ĐN của nhân dân. Tư tưởng ấy đã quy tụ mọi cách nhìn nhận và đưa đến những phát hiện và mới của tg về địa lí lịch sử và văn hoá của ĐN như thế nào?

+ Tg đã cảm nhận đất nước qua những địa danh , thắng cảnh nào?

+ Những địa danh gắn với cái gì , của ai?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– Vì sao có thể nói qua cách cảm nhận ấy, ĐN vừa thiêng liêng vừa gần gũi?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

+ Vì sao khi nói về bốn nghìn năm lịch sử của ĐN, tác giả không điểm tên các triều đại cùng bao nhân vật anh hùng trong sử sách ( như Nguyễn Trãi trong Bình Ngô Đại Cáo đã nhắc đến: Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần…)?  Đối tượng mà tác giả muốn nhắc đến là ai? Vì sao tác giả lại nhắc đến họ? (Họ là những con  người như thế nào?)

*GV Tích hợp kiến thức Làm Văn học ( thao tác lập luận so sánh) hướng dẫn học sinh tìm hiểu nét mới về tư tưởng Đất Nước nhân dân

 

 

*GV Tích hợp kiến thức Tiếng Việt( Cách dùng đại từ, phép điệp, động từ) hướng dẫn học sinh tìm hiểu nét mới về tư tưởng Đất Nước nhân dân

– Nêu hiệu quả nghệ thuật của phép điệp cấu trúc : Họ giữ … Họ truyền …Họ gánh …Họ đắp đập ?

-Tổ chức thảo luận nhóm

Nhóm 1: Chỉ ra các bài ca dao được sử dụng trong 2 câu thơ:Dạy anh biết…lặn lội.

 

 

 

 

Nhóm 2: Chỉ ra các bài ca dao được sử dụng trong 2 câu thơ:Biết trồng tre…dài lâu

 

 

 

Nhóm 3: Phân tích nội dung, nghệ thuật 4 câu thơ cuối

 

Tích hợp kiến thức địa lí,HS trả lời :

– Hòn Vọng Phu: ở Đồng Đăng, Lạng Sơn, Thanh Hoá…

– hòn Trống Mái là núi đá nhỏ trên biển Sầm Sơn thuộc tỉnh Thanh Hoá

-Chín mươi chín con voi : đứng từ trên núi Hi Cương- nơi có đền thờ các vua Hùng- trông ra có những quả đồi thấp hơn như chín mươi chín con voi quây quần hướng về núi Hi Cương.

– Núi Bút non Nghiên : Là núi có hình cây bút và nghiên mực ở Quảng Ngãi
– Những con rồng …dòng sông xanh thẳm : là truyền thuyết về sông Cửu Long với 9 cửa sông đổ ra biển trên 2 nhánh sông Tiền và sông Hậu
– Con cóc, con gà…: Là tên của một trong vô số hòn núi nổi lên trên mặt biển có hình con coc, con gà,… ở Vịnh Hạ Long

–  Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm : Là tên những người có công với dân, với nước đãn thành những sơn danh, địa danh ở Nam bộ :
+ Bà Đen : Tên ngọn núi Bà Đen ở Tây Ninh

+Bà Điểm : Tên một đia danh ở Hóc Môn – thành phố HCM- HS liên hệ, phát hiện các danh lam, thắng cảnh.

 

– Lối sống, cội nguồn, truyền thống.

– HS liên hệ với tác phẩm “ Bình Ngô đại cáo” để lí giải.

– HS trả lời.

+Nhìn vào bốn nghìn năm ĐN , tác giả không kể các triều đại mà nhấn mạnh đến những con người vô danh

+ Đây là điểm mới mẻ của NKĐ

 

– HS trả lời.

+một mặt tiếp tục thể hiện sự khám phá mới mẻ, độc đáo của nhà thơ về Đất Nước trong bề rộng không gian địa lí và tầng sâu của những truyền thống văn hoá, tạo nên sự thống nhất trong cách thể hiện Đất Nước

– mặt khác còn khẳng định nhân dân chính là lực lượng đông đảo vừa kiến tạo bảo tồn, lưu giữ truyền thống giàu tình nghĩa, giàu tình yêu thương, cần cù lao động- đó là những giá trị văn hoá tinh thần cao quý của Đất Nước.

Tích hợp kiến thức văn hoá dân gian, nhất là ca dao

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đại diện nhóm 1 trả lời:

–          Tác giả vận dung 2 bài ca dao :

+Yêu em từ thuở trong nôi

+Cầm vàng mà lội qua sông

 

Đại diện nhóm 2 trả lời:

–          Tác giả vận dung 2 bài ca dao : Thù này ắt hẳn còn lâu/ Trồng tre nên gậy gặp đâu đánh què.

 

Đại diện nhóm 3 trả lời:

–   Nhiều yếu tố ngoại lai đã được Việt hoá để góp phần xây đắp nên nền văn hoá Việt Nam (Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu / Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát) và văn hoá Việt Nam luôn có sự thống nhất trong sự đa dạng (Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thẩc / Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi)

Sưu tầm một số câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ có liên quan đến những câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm.

 

Họat động 3: Tổng kết (10 PHÚT)
III. Tổng kết:

1/ Nghệ thuật :

– Sử dụng chất liệu văn hóa dân gian: ngôn từ, hình ảnh bình dị, dân dã, giàu sức gợi.

– Giọng điệu thơ biến đổi linh hoạt.

– Sức truyền cảm lớn từ sự hòa quyện của chất chính luận và chất trữ tình.

2/ Ý nghĩa văn bản:

Một cách cảm nhận mới về đất nước, qua đó khơi dậy lòng  yêu nước, tự hào dân tộc, tự hào về nền văn hóa đậm đà bản sắc Việt Nam.

* Thao tác 1 :

Nhóm 4: Trình bày thành công nghệ thuật và ý nghĩa văn bản?

-Cách cảm nhận về đất nước có gì mới mẻ?

-Về ngôn ngữ, đoạn thơ chủ yếu khai thác chất liệu nào?

Em hãy nêu chủ đề của đoạn trích?

Hướng dẫn HS tổng kết bài học.

Đại diện nhóm 4 trả lời:
Họat động 4: HƯỚNG DẪN TỰ HỌC – DẶN DÒ ( 5 PHÚT)

– Hình ảnh đất nước  được thể hiện như thế nào trong chín câu thơ đầu đoạn trích?

– Tư tưởng “Đất nước của Nhân dân” được thể hiện tập trung trong những câu thơ nào? Trình bày cảm nhận của anh (chị) về những câu thơ đó.

 

Tiết 34,35

SÓNG

                                                                                                – Xuân Quỳnh –

 

 

Nội dung Mô tả hoạt động của thầy và trò Tư liệu, phương tiện, đồ dùng
Hoạt động của thầy Hoạt động của trò
Họat động: TÌM HIỂU CHUNG (10 phút).
I. Tìm hiểu chung:

1. Tác giả:

– Cuộc đời bất hạnh; luôn khao khát tình yêu, mái ấm gia đình và tình mẫu tử.

– Đặc điểm hồn thơ: tiếng nói của người phụ nữ giàu yêu thương, khao khát hạnh phúc đời thường, bình dị; nhiều âu lo, day dứt, trăn trở trong tình yêu.

2. Tác phẩm:

a. Hoàn cảnh sáng tác :

– Được viết tại biển Diêm Điền (Thái Bình) năm 1967.

b. Đề tài và chủ đề:

– Đề tài: Tình yêu.

– Chủ đề: Mượn hình tượng sóng để diễn tả tình yêu của người phụ nữ. Sóng là ẩn dụ cho tâm hồn người phụ nữ đang yêu.

 

* Thao tác 1 :

Hướng dẫn HS tìm hiểu chung về tác giả và tác phẩm

? Dựa vào Tiểu dẫn, hãy giới thiệu đôi nét về tác giả XQ ?

Trình chiếu các đoạn clip về XQ

? Nêu hoàn cảnh sáng tác của bài thơ?

 

? Hãy xác định đề tài của bài thơ?

? Bài thơ của Xuân Quỳnh có phải chỉ nói về sóng biển ?

 

 

HS Tái hiện kiến thức và trình bày.

+ HS đọc mục Tiểu dẫn, nêu cảm nhận về cuộc đời và phong cách thơ Xuân Quỳnh.

Xuân Quỳnh là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của thế hệ các nhà thơ trẻ thời chống Mĩ… thơ Xuân Quỳnh… về văn học nghệ thuật.

Bài thơ Sóng:

Kết quả chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền, Thái Bình (cuối 1967), đưa vào tập thơ Hoa dọc chiến hào – tập thơ riêng đầu tiên của Xuân Quỳnh (1968).

 
Họat động 2: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN- Khổ 1 và 2 ( 15 PHÚT)
II. Đọc – hiểu văn bản :

1/Sóng và em – những nét tương đồng:

a. Sóng là đối tượng để nhận thức tình yêu:

–  Khổ 1:

+ Tiểu đối: Dữ dội – dịu êm; ồn ào – lặng lẽ

à mở đầu bằng 4 tính từ: Miêu tả trạng thái đối lập của sóng và liên tưởng đến tâm lí phức tạp của người phụ nữ khi yêu (khi sôi nổi, mãnh liệt khi dịu dàng, sâu lắng).

+ Phép nhân hoá:

“Sông – không hiểu mình”

“Sóng – tìm ra bể”

à Con sóng mang khát vọng lớn lao: Nếu “sông không hiểu nổi mình” thì sóng dứt khoát từ bỏ nơi chật hẹp để “tìm ra tận bể”, tìm đến nơi cao rộng, bao dung.

 

=> Hành trình “tìm ra tận bể” của sóng cúng chính là quá trình tự khám phá, tự nhận thức, chính bản thân, khát khao sự đồng cảm, đồng điệu, chủ động trong tình yêu.

 

 

 

 

– Khổ 2:

+ Quy luật của sóng: Sóng: ngày xưa, ngày sau: vẫn thế

à sự trường tồn của sóng trước thời gian: vẫn dạt dào, sôi nổi.

+ Quy luật của tình cảm:

“Khát vọng tình yêu – bồi hồi trong ngực trẻ”

à Tình yêu là khát vọng lớn lao, vĩnh hằng của tuổi trẻ và nhân loại.

=> Xuân Quỳnh đã liên hệ tình yêu tuổi trẻ với con sóng đại dương. Cũng như sóng, con người đã đến và mãi mãi đến với tình yêu. Đó là quy luật muôn đời. =>Yêu là tự nhận thức, là vươn tới miền bao la,vô tận.

HẾT TIẾT I

* Thao tác 1 :

Hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản

+GV lưu ý khi đọc: nhịp thơ khá đều đặn và biến đổi: 3/ 2; 2/1/2, 2/3… giọng thơ suy tư, chiêm nghiêm và không kém phần băn khoăn, day dứt và nồng nhiệt, chân thành.

+ GV cùng 3- 4 HS đọc toàn bài; nhân xét kết quả đọc.

 

 

 

 

Thao tác 2: Tổ chức cho HS tìm hiểu khổ 1 và 2

+ HS đọc diễn cảm lại 2 khổ thơ đầu.

+ GV hỏi:

Những tính từ dữ dội và dịu êm, ồn ào và lặng lẽ nói lên điều gì? của cái gì? nghĩa đen và nghĩa bóng (ẩn dụ)?

 

 

 

Vì sao câu trên là sông? câu dưới là sóng?

Quan niêm về tình yêu gắn liền với sông và sóng có ý nghĩa gì?

 

 

Khổ thơ thứ hai, nêu nhận xét gì mới về sóng và về tình yêu tuổi trẻ?

 

 

 

 

 

* 1 HS đọc, cả lớp theo dõi.

* HS trả lời cá nhân

-Các đặc điểm trái ngược và thống nhất của sóng theo không gian, theo thời gian.

– Đó cũng là tính khí thất thường, rắc rối của những cô gái mới lớn khi sắp bắt đầu một mối tình. Đó là quy luật của sóng nước, sóng biển cũng là quy luật tâm lí của thiếu nữ.

-Cách mở đầu bài thơ bằng nhận xét mô tả trực tiếp những đặc tính của thiên nhiên – những phẩm chất và quy luật của con người khiến người đọc ngỡ ngàng, ngạc nhiên và thú vị.

+ Sông và sóng chứ không phải sóng và sóng vì đó là nguyên bản của tác giả.

-Hơn nữa, sóng sông khác sóng biển. Có ra đến biển, có gặp sóng trên biển lớn mới trải hết mọi cung bậc của sóng .

 

* HS trả lời cá nhân

– Nhận xét về sóng: đó là quy luật vận động của tình yêu, của muôn đời, vĩnh hằng.

– Cũng như khát vọng tình yêu mãi mãi rung động, xao xuyến, bồi hồi trái tim tuổi trẻ. Nhận xét được nói lên thẳng thắn, mạnh bạo và chân thành.

 

Họat động 3: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN – các khổ thơ còn lại( 30 PHÚT)
II. Đọc–hiểu:

   b. Sóng là đối tượng để suy tư về nguồn gốc và nỗi nhớ trong tình yêu đôi lứa:

– Khổ 3: Suy tư về tình yêu

 

 

 

 

 

 

à quay về lòng mình, nhu cầu tìm hiểu, phân tích, khám phá tình yêu

– Khổ 4: Đi tìm câu hỏi tu từ cho câu hỏi ở khổ 3:

=> Đây là cách cắt nghĩa tình yêu  rất chân thành và  đầy nữ tính.

 

 

 

 

 

– Khổ 5: Nỗi nhớ của sóng và em

+ Bao trùm cả không gian : dưới lòng sâu, sóng trên mặt nước 

+ Thao thức trong mọi thời gian: ngày đêm không ngủ được 

à Phép đối, phép điệp, nhân hóa, giọng thơ dào dạt, náo nức, mãnh liệt: diễn tả nỗi nhớ da diết, không thể nào nguôi, cứ cuồn cuộn, dào dạt như sóng biển triền miên.

+ Sóng nhớ bờ mãnh liệt, tha thiết, còn em nhớ anh đắm say hơn bội phần :

 Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức 

à Cách nói cường điệu nhưng hợp lí: nhằm tô đậm nỗi nhớ (choáng ngợp cõi lòng không chỉ trong ý thức mà thấm sâu vào trong tiềm thức).

=> Bày tỏ tình yêu một cách chân thành, tha thiết mà mạnh dạn, mãnh liệt.

– Khổ 6: Lòng chung thuỷ

+ Cách nói khẳng định :

++em : dẫu xuôi – phương bắc; dẫu ngược – phương nam,

++em : vẫn Hướng về anh một phương

→ Lời thề  thủy chung tuyệt đối trong tình yêu : dù đi đâu về đâu vẫn hướng về người mình đang thương nhớ đợi chờ.

+ Các điệp ngữ : dẫu xuôi về, dẫu ngược về  + điệp từ  phương, cách nói ngược xuôi Bắc, ngược Nam

à Diễn tả hành trình vất vả của sóng nhằm khẳng định niềm tin đợi chờ trong tình yêu.

– Khổ 7 : Bến bờ hạnh phúc .

+ Mượn hình ảnh của sóng :

« Ở ngoài kia đại dương » – « Con nào chẳng tới bờ »

à quy luật tất yếu.

+ Sóng tới bờ dù cách trở: Tình yêu là sức mạnh giúp em và anh vượt qua gian lao, thử thách để đạt đến bến bờ hạnh phúc.

=> XQ thể hiện cái tôi của một con người luôn có niềm tin mãnh liệt vào tình yêu.

* Thao tác 1 :

Hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản

Tổ chức cho HS thảo luận nhóm:

 

+ Nhóm 1, 2 thảo luận khổ 3, 4 ?

GV: Cái hay của đoạn thơ là sự đầu hàng của nhận thức, là sự bất lực của lí trí: em cũng…..ta yêu nhau.

GV: Thơ Xuân Diệu: “Làm sao cắt nghĩa được tình yêu”

Nhà toán học Pascan: “trái tim có những lí lẽ riêng mà lí trí không thể nào hiểu nổi”

? Nỗi nhớ trong tình yêu được diễn tả như thế nào?

 

 

 

 

 

+ Nhóm 3, 4 thảo luận khổ 5, 6, 7

GV: Nỗi nhớ trong tình yêu là cảm xúc tự nhiên của con người, đã được miêu tả rất nhiều trong thơ ca xưa cũng như nay:

Nhớ ai bổi hổi bồi hồi

Như đứng đống lửa, như ngồi đống than (Ca dao)

Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời (Chinh phụ ngâm)

Anh nhớ tiếng, anh nhơ hình, anh nhớ ảnh. Anh nhớ em, anh nhớ lắm. Em ơi!. (Xuân Diệu)

? Tìm các biện pháp tu từ được sử dụng để tác giả thể hiện nỗi nhớ?

 

 

* 1 HS đọc, cả lớp theo dõi.

* HS đại diện nhóm trả lời

* Nhóm 1, 2

Hai khổ 3, 4:

Nghĩ về sóng và cội nguồn tình yêu lứa đôi.

+Điệp từ: “em nghĩ” và câu hỏi: “Từ nơi nào sóng lên”

à quay về lòng mình, nhu cầu tìm hiểu, phân tích, khám phá tình yêu

– Khổ 4: Đi tìm câu hỏi tu từ cho câu hỏi ở khổ 3:

Câu hỏi tu từ:

Gió bắt đầu từ đâu?

Khi nào ta yêu nhau?

à XQ dựa vào quy luật tự nhiên để truy tìm khởi nguồn của tình yêu nhưng nguồn gốc của sóng cũng như tình yêu đều bất ngờ, đầy bí ẩn, không thể lí giải.

Nhóm 3, 4 :

-Vẫn bắt đầu cảm xúc và suy nghĩ từ hình tượng sóng để nói về em.

-Tình yêu bao giờ cũng được thử thách trong sự xa cách trong không gian và trong thời gian. Và nỗi nhớ thương, trăn trở, khao khát được gặp gỡ là phẩm chất đặc biêt thường trực của tình yêu.

-Cái hay của khổ thơ là lại liên hệ đến sóng, nhân hoá sóng: con sóng nào cũng thao thức vỗ mãi suốt đêm ngày vì nhớ bờ không nguôi, không ngủ.

-Còn nỗi nhớ của em còn hơn thế: cả trong mơ còn thức.

-Nỗi nhớ thường trực, không khi nào chịu yên. Cách nói nhấn mạnh đến cái phi lí trong tâm lí mà có lí trong tình em: nhớ cả trong mơ, càng trong mơ càng dậy lên nỗi nhớ.

-Nhớ và hướng về anh, thuỷ chung như nhất với anh. Phẩm chất tình cảm này của em được diễn tả bằng cách nói tưởng chừng phi lí: xuôi bắc, ngược nam và cái phương anh đã chứng minh tấm lòng son sắt của trái tim cô gái đang yêu thời hiên đại..

-Sóng nào chẳng cố hướng vào bờ để tìm sự ngơi nghỉ, dừng chân? cũng như tình em chỉ hướng về anh, chỉ nghĩ về anh, không biết mêt mỏi, không nghĩ về mình, đầy sự chia sẻ, hi sinh.

 

 

   3. Những suy tư, lo âu, trăn trở trước cuộc đời và khát vọng tình yêu:

– cuộc đời tuy dài >< năm tháng vẫn đi qua.

– Biển dẫu rộng >< mây vẫn bay về xa.

-> Đó là sự nhạy cảm và lo âu, trăn trở của XQ về sự hữu hạn của đời người và sự mong manh của hạnh phúc.

+ Làm sao …..       khao khát sẻ chia và hòa nhập

Thành trăm       vào cuộc đời.

+ Giữa biển …..     khát vọng được sống mãi

Để ngàn …..     trong TY, bất tử với TY

=> khát vọng khôn cùng về tình yêu bất diệt

     Nhóm 5,6: cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu khổ 8, 9?

? Em hiểu như thế nào về khổ thơ này?

Cuộc đời tuy dài thế

…………………………..

Mây vẫn bay về xa

? Lo âu, trăn trở tất yếu dẫn đến khát khao gì ở XQ?

 

* HS đọc diễn cảm 2 khổ thơ cuối cùng.

Nhóm 5,6:

– Từ những suy nghĩ về tình yêu, hi sinh, và chung thuỷ suốt đời, nhà thơ mở rộng hơn, nghĩ về mối quan hê giữa cái hữu hạn và cái vô hạn, giữa cuộc đời mỗi người, tình yêu mỗi lứa đôi và cuộc đời chung, và thiên nhiên vũ trụ và thời gian vô cùng.

– Câu hỏi day dứt thể hiên khao khát tình yêu cao cả và bất tử và tìm cách thực hiên chính là mong muốn được tan ra, được hoá thân và hoà nhâp thành trăm ngàn con sóng nhỏ giữa biển lớn tình yêu của nhân dân và nhân loại.

Họat động 4: Tổng kết:( 10 PHÚT)
III. Tổng kết:

   1. Nghệ thuật :

– Thể thơ 5 chữ truyền thống; cách ngắt nhịp, gieo vần độc đáo, giàu sức liên tưởng.

– Xây dựng hình tượng ẩn dụ, giọng thơ tha thiết.

2. Ý nghĩa văn bản:

Vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu hiện lên qua hình tượng sóng: tình yêu thiết tha, nồng nàn, đầy khát vọng và sắt son chung thủy, vượt lên mọi giới hạn của đời người.

* Thao tác 1 :

Hướng dẫn HS tổng kết bài học

? Hãy chỉ ra ý nghĩa của văn bản?

 

? Đánh giá về nghệ thuật của bài thơ ? Nhận xét  về thể thơ, nhịp thơ và hình tượng “sóng” ?

 

Hướng dẫn HS tổng kết bài học

 

* HS trả lời cá nhân

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

* Tổng kết bài học theo những câu hỏi của GV.

 

Họat động 4: HƯỚNG DẪN TỰ HỌC – DẶN DÒ ( 5 PHÚT)

– Tìm những bài thơ sử dụng hình ảnh Sóng và biển để diễn tả tình yêu.

– Bài thơ được kết cấu theo cách triển khai hai hình tượng sóng đôi là Sóng và em. Hãy nhận xét về ý nghĩa của kết cấu ấy.

– Chuẩn bị bài: ĐỌC THÊM BÁC ƠI
Nội dung Mô tả hoạt động của thầy và trò Tư liệu, phương tiện, đồ dùng
Hoạt động của thầy Hoạt động của trò
Họat động 1: ĐỌC THÊM BÁC ƠI (15 phút).
I. Tìm hiểu khái quát:

1. Hoàn cảnh ra đời:

Ngày 02/9/1969, Bác Hồ từ trần, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho cả dân tộc Việt Nam. Trong hoàn cảnh ấy, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ “Bác ơi”.

2. Bố cục: chia 3 phần:

– Bốn khổ đầu: Nỗi đau xót trước sự kiện Bác qua đời.

– Sáu khổ tiếp: Hình tượng Bác Hồ.

– Ba khổ cuối: Cảm nghĩ khi Bác qua đời.

* Thao tác 1 :

Hướng dẫn HS tìm hiểu chung về tác giả và tác phẩm

GV Hướng dẫn HS tìm hiểu hoàn cảnh sáng tác bài thơ “Bác ơi”.

– Em hãy cho biết hoàn cảnh ra đời của bài thơ?

– GV nhận xét, chốt ý

 

 

 

 

– HS đọc tiểu dẫn SGK/167 và trả lời

– HS căn cứ vào văn bản, chia bố cục, và nêu đại ý từng phần.

-Các HS khác theo dõi và nêu cách chia của mình.

 

 
II/ Đọc – hiểu văn bản:

1) Bốn khổ đầu: Nỗi đau xót lớn lao trước sự kiện Bác qua đời.

a. Lòng người:

– Xót xa, đau đớn: chạy về, lần theo lối sỏi quen thuộc, bơ vơ đứng nhìn lên thang gác.

– Bàng hoàng không tin vào sự thật: “Bác đã đi rồi sao Bác ơi

b. Cảnh vật:

– Hoang vắng, lạnh lẽo, ngơ ngác (phòng im lặng, chuông không reo, rèm không cuốn, đèn không sáng…)

– Thừa thãi, cô đơn, khi không còn bóng dáng của Người.

c. Không gian thiên nhiên và con người như có sự đồng điệu “ Đời tuôn nước mắt/ trời tuôn mưa”® Cùng khóc thương trước sự ra đi của Bác.

Þ Nỗi đau xót lớn lao bao trùm cả thiên nhiên đất trời và lòng người.

 

2) Sáu khổ tiếp: Hình tượng Bác Hồ.

a. Giàu tình yêu thương đối với mọi người.

b. Giàu đức hy sinh.

c. Lẽ sống giản dị, tự nhiên, khiêm tốn.

Þ Hình tượng Bác Hồ cao cả, vĩ đại mà giản dị, gần gũi.

3) Ba khổ cuối: Cảm nghĩ của mọi người khi Bác ra đi:

a. Bác ra đi để lại sự thương nhớ vô bờ

b. Lý tưởng, con đường cách mạng của Bác sẽ còn mãi soi đường cho con cháu.

c. Yêu Bác® quyết tâm vươn lên hoàn thành sự nghiệp CM.

Þ Lời tâm nguyện của cả dân tộc Việt Nam.

* Thao tác 2 :

Hướng dẫn HS đọc văn bản

– 1 HS đọc bài thơ, các HS khác đọc thầm, theo dõi

 

Thao tác 3: Tổ chức cho HS thảo luận nhóm:

Nhóm 4:

 

Nhóm 1:

HS tìm hiểu 4 khổ thơ đầu

+ Nỗi đau xót lớn lao khi Bác qua đời được thể hiện như thế nào? (Cảnh vật? Lòng người?) Giữa cảnh vật và con người có gì tương đồng?

+ Nhận xét, khái quát ý cho HS nắm

 

 

 

 

 

Nhóm 2:

HS tìm hiểu 6 khổ tiếp theo

+Hình tượng Bác Hồ được thể hiện như thế nào?

(GV gợi mở: về tình thương yêu, lý tưởng, lẽ sống…)

+ Nhận xét, khái quát ý

Nhóm 3:

HS tìm hiểu 3 khổ cuối

+ Hãy cho biết cảm nghĩ của mọi người khi Bác ra đi?

+ Nhận xét, khái quát ý

 

 

– Trên cơ sở những gợi ý và phân công về nhà, dưới sự hướng dẫn của GV, trình bày ý kiến theo nhóm

 

 

 

 

 

 

-Nhóm 1 cử người trình bày ý kiến

Tiếp thu nhận xét của GV, thấy được chỗ được và chưa được trong trả lời của nhóm

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

-HS nhóm 2 cử người trình bày ý kiến qua chuẩn bị đã được phân công

 

 

 

 

– Nhóm 3 trình bày, bổ sung

 

 

 

 

 

 

III/ Tổng kết:

1. Bài thơ là tình cảm ngợi ca Bác, đau xót, tiếc thương khi Bác qua đời. Đó cũng là tấm lòng kính yêu Bác Hồ của Tố Hữu, cũng là của cả dân tộc Việt Nam

2. Bài thơ tiêu biểu cho giọng thơ tâm tình, ngọt ngào, tha thiết của thơ Tố Hữu.

* Thao tác 4:

Hướng dẫn HS tổng kết về tác phẩm đã học.

Yêu cầu HS đọc lại bài thơ, tổng hợp kiến thức để đưa ra nhận xét chung

Thao tác 3:

Hướng dẫn HS tổng kết bài học

 

* HS trả lời cá nhân

 

 

 

 

 

 

 

* Tổng kết bài học theo những câu hỏi của GV.

Họat động 4: HƯỚNG DẪN TỰ HỌC – DẶN DÒ ( 3 PHÚT)

-Nêu những phẩm chất đáng quý của Hồ Chí Minh ?

– Học thuộc bài thơ, nắm vững nội dung bài học.

 

  • HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH
  1. Tại sao nói Đất Nước là máu xương của mình?

Trả lời:

Nói Đất Nước là máu xương của mình: đất nước là một phần cơ thể, tạo nên sự sống cho mỗi con người. đất nước là một phần cơ thể, tạo nên sự sống cho mỗi con người. Đồng thời, đất nước là máu xương của tổ tiên, của bao thế hệ ông cha, của dân tộc ngàn đời giành lại từ tay kẻ thù xâm lược.

2/Tại sao khi nói đến tình yêu, Xuân Quỳnh lại tra hỏi về “sóng-gió” ?

Trả lời:

Khi nói đến tình yêu, Xuân Quỳnh lại tra hỏi về “sóng-gió”vì nhà thơ muốn gửi bức thông điệp : bước vào tình yêu là bước vào sóng gió. Nếu thuyền tình không chắc, người cầm lái con thuyền không vững tay, thì con thuyền ấy sẽ đắm chìm. Bao nhiêu người trẻ đã trầm luân trong đau khổ, bất hạnh của tình yêu, là vì không vượt qua được sóng-gió…

+ Bài tập viết văn bản:Phân tích đoạn thơ sau trong bài Sóng của Xuân Quỳnh :

Trước muôn trùng sóng bể
Em nghĩ về anh, em
Em nghĩ về biển lớn
Từ nơi nào sóng lên?

– Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu?
Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau

 Lập dàn ý :

I/ Mở bài : Giới thiệu Xuân Quỳnh dẫn vào bài thơ “Sóng”. Nêu vấn đề : Bài thơ có giá trị sâu sắc về nội dung và nghệ thuật, tiêu biểu là đoạn thơ sau : ( chép đoạn thơ vào)

II/ Thân bài :

1/ Khái quát về bài thơ, đoạn thơ :

-Nêu hoàn cảnh sáng tác, kết , vị trí, nội dung, bố cục vị trí đoạn thơ ở đề bài.

2/ Phân tích nội dung, nghệ thuật đoạn thơ :

a/ Bốn câu thơ đầu : Sóng- đối tượng để suy tư ( trích thơ)

– Ba câu đầu nêu hoàn cảnh ( trước muôn trùng sóng bể) và tâm trạng ( nghĩ về anh – em; nghĩ về biển lớn )

– Câu thứ tư : Hỏi về nguồn gốc của sóng ( từ nơi nào sóng lên ?)

b/ Bốn câu thơ cuối : cô gái thắc mắc về nguồn gốc của tình yêu( trích thơ)

– Lí giải về nguồn gốc của sóng, không trả lời được, sóng là qui luật của tự nhiên đầy bí ẩn.

– Liên tưởng, lí giải về sự khởi đầu của tình yêu, không lí giải được, tình yêu cũng đầy bí ẩn như sóng.

– Thể hiện quan niệm : tình yêu là qui luật của tâm hồn, không thể ép buộc, bán mua, không thể chiếm đoạt…Là bài học nhân sinh thiết thực cho tuổi trẻ.

c/ Nghệ thuật : thể thơ 5 chữ, âm điệu sâu lắng, dạt dào ; biện pháp tu từ nhân hóa, ẩn dụ đối lập,…

III/ Kết bài : Kết luận về nội dung, nghệ thuật đoạn thơ, liên hệ hoàn cảnh sáng tác nêu ý nghĩa đoạn thơ.

+ Bài tập viết đoạn văn: Cảm xúc của tác giả Tố Hữu trong đoạn thơ sau:

 

Bác đã đi rồi sao, Bác ơi!
Mùa thu đang đẹp, nắng xanh trời
Miền Nam đang thắng, mơ ngày hội
Rước Bác vào thăm, thấy Bác cười!

 

Trái bưởi kia vàng ngọt với ai
Thơm cho ai nữa, hỡi hoa nhài!
Còn đâu bóng Bác đi hôm sớm
Quanh mặt hồ in mây trắng bay…

Trả lời:

Cảm xúc của tác giả trong đoạn thơ là xót xa, tiếc nuối khi Bác đã về với thế giới của người hiền. Đồng thời, tác giả còn thể hiện cảm hứng ngợi ca lãnh tụ. Bác ra đi, trong khi đó ở ngoài kia đang là trời đầu thu, đang là chiến thắng và hi vọng. Khung cảnh và lòng người trở nên tương phản, đối lập, gợi bao nỗi day dứt về tính chất phi lí, không thể chấp nhận được của sự mất mát. Cuộc đời càng đẹp đẽ, hấp dẫn thì sự ra đi của Bác càng gợi bao đau xót, nhức nhối tâm can.

 

  • HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG

1/Phân tích đọan thơ sau đây trong đọan trích “Đất nước” của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm

Đất là nơi anh đến trường
Nước là nơi em tắm
Đất Nước là nơi ta hò hẹn
Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm
Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”
Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi”
Thời gian đằng đẵng
Không gian mệnh mông
Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ
Đất là nơi Chim về
Nước là nơi Rồng ở
Lạc Long Quân và Âu Cơ
Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng
Dàn bài gợi ý :

I/ Mở bài : Giới thiệu Nguyễn Khoa Điềm dẫn vào trường ca “Mặt đường khát vọng” và đoạn trích “Đất Nước”. Nêu vấn đề : đoạn trích có giá trị sâu sắc về nội dung và nghệ thuật, tiêu biểu là đoạn thơ sau : ( chép đoạn thơ vào)

II/ Thân bài :

1/ Khái quát về chương “Đất Nước”, đoạn thơ :

-Nêu hoàn cảnh sáng tác, nội dung trường ca “Mặt đường khát vọng” …

-Nêu kết cấu trường ca “Mặt đường khát vọng”, vị trí, nội dung, bố cục đoạn trích “Đất Nước”, vị trí đoạn thơ ở đề bài.

-Nêu ý chính của đoạn thơ : Cảm nhận của tác giả về đất nước nhìn từ góc độ địa lý, không gian, thời gian và lịch sử dân tộc.

2/ Phân tích nội dung, nghệ thuật đoạn thơ :

a/ Bốn câu thơ đầu : tác giả giải thích về đất nước ( trích thơ)

-Sử dụng nghệ thuật chiết tự để giải thích : đất nước là con đường, nhà trường, dòng sông, bến nước…

– Sử dụng chất liệu thực tế, vận dụng ca dao tình yêu gợi liên tưởng hình ảnh luỹ tre làng, giếng nước, từ đó đất nước còn gắn bó với tình cảm riêng tư.

b/ Hai câu tiếp , tác giả tiếp tục giải thích về đất nước( trích thơ)

– Vận dụng sáng tạo câu hò Bình Trị Thiên để nói về đất nước.

– Khẳng định: Đất nước là núi, là rừng, là biển với tài nguyên phong phú.

c/ Ba câu thơ tiếp: Nhận định đất nước trường tồn với thời gian và không gian, là nơi dân mình làm ăn sinh sống.

d/ Bốn câu thơ cuối : Vận dụng truyền thuyết về cội nguồn dân tộc để giải thích về đất nước.

e/ Cả đoạn thơ : Đất nước là sự hoà quyện không thể tách rời giữa cá nhân và cộng đồng dân tộc. Tác giả vận dụng sáng tạo các chất liệu văn hoá, văn học dân gian, chiết tự…khiến cho việc giải thích Đất nước trở nên sâu sắc.

III/ Kết bài : Kết luận về nội dung, nghệ thuật đoạn thơ, liên hệ hoàn cảnh sáng tác nêu ý nghĩa đoạn thơ.

 

2.Bài tập viết văn bản:

Phân tích 4 khổ thơ đầu bài thơ Bác ơi ( Tố Hữu) để thấy được nghệ thuật diễn tả nỗi đau xót lớn lao trước sự kiện Bác Hồ qua đời.
GỢI Ý:

  1. Bác Hồ là một đề tài, nguồn cảm hứng lớn trong nhiều chặng đường sáng tác của Tố Hữu. “Bác ơi” là một tác phẩm xuất sắc viết về Bác Hồ trong tập thơ “Ra trận”.

Bài thơ được viết khi lãnh tụ của Đảng và dân tộc ta là Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa qua đời. Bài thơ là lời khóc Bác bằng thơ, bộc lộ nỗi đau xót, tiếc thương tràn đầy.

  1. Nỗi đau xót: mở đầu bài thơ Tố Hữu tái hiện lại khung cảnh những ngày Bác mất :

“Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa

Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa…”

Khung cảnh thực nhưng có ý nghĩa tượng trưng. Cả dân tộc đau xót khóc Bác, trời đất tạo vật cũng sụt sùi tiếc thương một con người – tinh hoa của dân tộc, tinh hoa của đất trời.

– Nỗi đau xót được diễn tả bằng hình ảnh biểu thị động tác có sức gợi tả tâm trạng: Chạy về thăm Bác, lần theo lối sỏi quen, đến bên thang gác, đứng nhìn lên…

– Nỗi đau xót được diễn tả bằn cách nói giảm: về thăm Bác, Bác đã đi rồi sao.
– Nỗi đau xót được diễn tả bằng hình ảnh thực tại trong cảm nhận của nhà thơ:

Ướt lạnh vườn rau mấy gốc dừa

Chuông ôi, chuông như còn reo nữa?

Phòng lặng, rèm buông, tắt ánh đèn!

– Nỗi đau xót thể hiện bằng liên tưởng:

Mùa thu đang đẹp , nắng xanh trời

Miền Nam đang thắng mơ ngày hội

Rước Bác vào thăm thấy Bác cười.

Trái bưởi kia vàng ngọt với ai…

3- Tâm trạng đau đớn tới thảng thốt, không tin ở cái tin sét đánh phũ phàng kia. Dường như không còn Bác, cũng không nên tồn tại những gì là thơm ngọt, đẹp đẽ. Bác ra đi đồng nghĩa với lạnh, lặng, tắt… tâm trạng đau đớn đến tột cùng. Bác ra đi, trong khi đó ở ngoài kia đang là trời đầu thu, đang là chiến thắng và hi vọng. Khung cảnh và lòng người trở nên tương phản, đối lập, gợi bao nỗi day dứt về tính chất phi lí, không thể chấp nhận được của sự mất mát. Cuộc đời càng đẹp đẽ, hấp dẫn thì sự ra đi của Bác càng gợi bao đau xót, nhức nhối tâm can.

 

  • HOẠT ĐỘNG BỔ SUNG

1/ Bài tập ứng dụng:

Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ

Sông không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể

 

Ôi con sóng ngày xưa

Và ngày sau vẫn thế

Nỗi khát vọng tình yêu

Bồi hồi trong ngực trẻ

(Ngữ Văn 12 Nâng cao, Tập một, tr.122 – 123, NXB Giáo Dục – 2008)

Đọc đoạn thơ trên và thực hiện các yêu cầu sau:

  1. Nêu ý chính của đoạn thơ.
  2. Nêu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ đối lập, nhân hoá, ẩn dụ trong đoạn thơ.
  3. Đoạn thơ thể hiện quan niệm gì về tình yêu của nhà thơ Xuân Quỳnh ?

 

Trả lời:

  1. Ý chính của đoạn thơ :

– Từ việc khám phá các trạng thái khác nhau của sóng, tác giả diễn tả các cung bậc của người phụ nữ đang yêu và thể hiện một quan niệm mới mới về tình yêu .

– Mượn quy luật muôn đời của sóng, tác giả khẳng định khát vọng của tình yêu thường trực trong trái tim tuổi trẻ.

  1. Hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ đối lập : dữ dội hoà quyện với dịu êm, ồn ào đan xen với lặng lẽ; ngày xưa-ngày nay , nhân hoá : Sông không hiểu nổi mình-Sóng tìm ra tận bể , ẩn dụ : sóng chính là em :

-Tình yêu tha thiết, chân thành không chịu chấp nhận sự tầm thường, nhỏ hẹp, đơn điệu, một chiều mà nó phải là sự hoà hợp, sự đan xen của nhiều yếu tố, thậm chí là những yếu tố đối cực nhau: vừa mâu thuẫn, vừa thống nhất, vừa xung đột, vừa hài hoà.

-Tình yêu của con người, luôn khao khát vươn tới sự lớn lao đích thực.

– Khẳng định một điều có tính quy luật về sự tồn tại bất diệt của khát vọng tình yêu trong trái tim người con gái

  1. Đoạn thơ thể hiện quan niệm về tình yêu của nhà thơ Xuân Quỳnh :

– Yêu là tự nhận thức, là vươn tới cái cao rộng, lớn lao…

– Tình yêu mãi là khát vọng muôn đời của con người, nhất là đối với tuổi trẻ.

 Xem thêm : Trọn bộ giáo án Ngữ văn soạn theo hướng đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá

Giáo án ngữ văn 10 

Giáo án ngữ văn 11

Giáo án ngữ văn 12

Nếu muốn tải File đầy đủ, theo đúng định dạng, thầy cô bấm vào đây :

Tải trọn bộ giáo án Ngữ văn 10-11-12 Chuẩn cấu trúc 2018

Xem thêm :

Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về  Đất nước Nguyễn Khoa Điềm

Đề thi và những bài văn hay về Sóng Xuân Quỳnh

Truyện ngắn đoạt giải: Để gió cuốn đi

ĐỂ GIÓ CUỐN ĐI

Trần Thị Thúy Nga,

– Đồ mồ côi

– Đồ không có bố mẹ!

Tiếng cười vang lên giòn giã, những cánh tay cứ đua nhau lên chỉ vào nó và hét to. Gương mặt nó biến sắc, đồng tử nhăn lại, đôi mắt đỏ hoe. Nó thét thật to:

– Chúng mày im đi. Rồi nhanh như cắt nó lao nhanh về phía những đứa trẻ đang cười nói túm tóc và bắt đầu cuộc chiến. Toàn thân đau nhức, toàn vết bầm dập dù đã biết trước sau mỗi lần đánh nhau với tụi nó là nó sẽ như thế nhưng nó không còn cách nào khác không thể để bọn chúng nói như vậy. Nó khóc, khóc càng lúc càng to. Tại sao nó không có bố mẹ?

Những mảng kí ức ùa về khiến nó khẽ rùng mình, một giọt nước mắt lăn dài trên gò má, đưa tay lau đi giọt nước mắt ấy nó nhanh chóng ra chợ phụ bà nó dọn dẹp để chuẩn bị về. Mười hai năm trôi qua từ khi mới sáu tuổi bị bọn trẻ trêu đùa bây giờ nó đã 18 tuổi. Cái tuổi tươi đẹp, hạnh phúc của người con gái. Liệu nó có được như thế không? Nó – Trần Linh Đan, sống với bà Năm, người bà đã nhận nuôi từ khi nó mới bé tí trong căn nhà nhỏ ở cuối dãy của thị trấn. Nó đang trầm ngâm suy tư thì bị một giọng nói quen thuộc cắt ngang dòng suy nghĩ.

– Đan ơi xuống ăn cơm.

– Giọng bà Năm vang lên trầm ấm. Nó nhanh nhẹn đáp lại:

– Cháu xuống luôn.

Thu dọn đống bừa bộn trên bàn nó chạy nhanh xuống bếp. Mâm cơm đã dọn xong trên bàn. Bà là vậy đấy luôn quan tâm, chăm lo cho nó từng chút một, luôn giành cho nó tình yêu thương vô bờ bến. Cũng chính nhờ bà mà nó có ngày hôm nay, nhờ bà mà nó có thêm sức mạnh để tiếp tục cuộc sống. Bà là người tuyệt vời nhất với nó. Tiếng nói cười của hai bà cháu khiến cả căn phòng nhỏ trở nên nhộn nhịp ấm cúng.

– Cháu bà từ mai đã là học sinh lớp 12 rồi đấy!

Nó nhoẻn miệng cười đáp: Tất cả là nhờ có bà.

Bà nó chỉ cười nhẹ, đôi mắt ánh lên sự đau đớn. Mai là ngày khai giảng cuối cùng trong những năm cấp ba của nó, tự nhiên nó cảm thấy buồn.

Màn đêm buông xuống, căn phòng nhỏ đã tràn ngập bóng tối nhưng vẫn có một cô gái đang ngồi dựa lưng vào tường, tai đeo phone, mắt nhắm hờ gương mặt dường như vô cảm. Ánh sáng leo lét của chiếc đèn ngủ không đủ để soi sáng cả căn phòng nhưng đủ để ta nhìn rõ ánh mắt nhọc nhằn đang nhìn xa xăm, đủ để cho ta thấy rõ một tâm hồn đang phải gồng mình lên để chịu đựng những nỗi đau mà chỉ nó mới cảm nhận được. Lớp vỏ ngoài thật hoàn hảo để che đi vết thương tâm hồn khi hàng ngày nó nói rất nhiều và rất hay cười. Bên trong đó là cô gái luôn khao khát có một gia đình đầm ấm. Mặt trời đã bắt đầu rạng ló đón một ngày mùa thu trong lành. Khẽ trở mình vươn vai thật mạnh, nó dậy trong tâm trạng háo hức đón năm học mới. Chuẩn bị xong xuôi nó chạy xuống bếp giúp bà chuẩn bị đồ ra chợ.

– Nay cháu dậy sớm vậy.

– Nay trời đẹp mà bà.

Hai bà cháu lại cười khúc khích với nhau.

– Nay chắc cháu về muộn, bà cứ ăn cơm trước đi nhé!

– Biết rồi cô nương, năm nào cháu chả thế.

Nói rồi nó thu dọn đồ rồi chở ra chợ cho bà. Nó không vòng về mà đạp luôn xe đến trường. Trên chiếc xe đạp thân yêu, nó tận hưởng không khí trong lành của buổi sáng mùa thu. Thật là dễ chịu. Buổi khai giảng kết thúc trong tiếng vỗ tay hoan hỉ của hàng loạt học sinh. Nó chạy về lớp cùng lũ bạn, không như dự tính của nó, năm nay nó phải về nhà sớm, lũ bạn của nó rất bận thì phải. Đang đi trên đường về nó thấy xe nặng dần, dừng lại nhìn xuống hoá ra là bị thủng xăm, nó lẩm bẩm: “Sao đen vậy trời” rồi lủi thủi dắt xe vào trong quán sửa xe của bác Hùng. Về nhà nó phát hiện là nhà mình có khách. Chưa kịp bước chân vào nhà thì một giọng nói vang lên:

– Con bé thế nào rồi ạ! nó có sống tốt không mẹ!- người phụ nữ nói.

– Nó vẫn sống tốt, các con không phải lo, thôi các con về đi.

Lần này là giọng của một người đàn ông: “thế thì tốt rồi”.

Dúi vào tay bà Năm một số tiền, người đàn ông và người phụ nữ ấy xin phép ra về.

Nó nhanh chóng chạy nấp sau hiên nhìn chiếc xe khuất dần. Lại một lần nữa đập vào mắt nó cảnh tượng bà đang khóc. Nó dường như không thể tin nổi những gì tai mình nghe mắt mình thấy. Nó không hiểu là đã có chuyện gì. Lúc sau, nó vào nhà với nét mặt thẫn thờ, thấy nó về bà hỏi: Sao cháu về sớm thế?

Nó không trả lời câu hỏi : “cháu thấy hơi mệt, cháu đi nghỉ tí nhá”.

Bà nó lo lắng: “cháu không khoẻ à”.

Nó cười : “Cháu không sao, nghỉ tí là khoẻ ạ”.

Bước từng bước vào phòng, đặt người xuống chiếc giường trong đầu nó chỉ hiện ra những lời nói lúc nãy và hình ảnh của bà. Nó thiếp đi trong bộ dạng mệt mỏi. Đến tối bà gọi nó dậy ăn cơm, thấy nó có vẻ không vui bà hỏi:

– Cháu vẫn còn mệt à!

Nó không nói gì, lưỡng lự một lúc cuối cùng nó cũng quyết định hỏi bà:

– Thật sự bà không biết bố mẹ cháu là ai à?

Bất giác đôi đũa trên tay bà nó rơi xuống, người bà bắt đầu run lên với nụ cười gượng gạo:

– Không bà không biết. Bà nói chuyện này với cháu lâu rồi mà.

Nhìn vào ánh mắt ấy nó biết bà đang giấu nó chuyện gì quan trọng. Trong phòng, bà Năm đang chăm chú nhìn vào bức ảnh một gia đình nhỏ đôi mắt ánh lên tia đau đớn. Thời gian cứ thế trôi qua, lực học của nó càng ngày càng sa sút. Trong lớp không chú ý nghe giảng, về nhà không chịu làm bài tập, mặc dù cô giáo và các bạn khuyên nhủ, hỏi han nhưng kết quả của nó chẳng thay đổi gì. Cuối cùng cô giáo cũng tìm đến nhà nó. Nghe cô giáo nói xong mà bà Năm không khỏi bàng hoàng. Không hiểu vì lý do gì mà cháu bà lại như thế. Mọi chuyện lại còn tồi tệ hơn khi nó phát hiện tấm ảnh. Đó là vào một buổi sáng chủ nhật bà nó quên không cầm theo túi tiền khi đang bán hàng ở ngoài chợ, nó nhanh chóng chạy về nhà vào phòng bà để tìm. Nhìn thấy túi tiền, nhưng vì vội vàng nó đã làm khung ảnh trên bàn rơi xuống, ba tấm hình văng ra. Cúi xuống nhặt tấm hình lên nó vô cùng ngạc nhiên khi nhìn thấy một tấm hình là hình ảnh người đàn ông và người phụ nữ đến nhà hôm trước, còn một tấm là hình ảnh một gia đình nhỏ, tim nó đau thắt laị khi nhìn thấy đứa trẻ trong hình, đó không phải là nó hồi nhỏ sao. Lật mặt sau tấm hình, đập vào mắt nó là dòng chữ đã bị phai mờ nhưng vẫn có thể nhìn  rõ ” Con gái yêu- 25/6/1994″ người nó như không còn tí sức lực nào, đôi chân mềm nhũn ra, nó ngã khuỵ xuống đất, đó không phải là ngày sinh nhật của nó sao. Người trong hình có phải là bố mẹ nó không, từng giọt nước mắt chảy xuống tấm hình, giờ đây nó chẳng nhìn thấy gì ngoài nước mắt.

15 phút, rồi 30 phút trôi qua mà chưa thấy nó đâu, bà Năm thấy trong lòng thấp thỏm không yên, nhờ cô bên cạnh trông hộ hàng rồi chạy về nhà. Tiếng bà Năm gọi Đan khi bà chưa vào đến cổng: “Đan ơi Đan”. Đổi lại tiếng gọi của bà chỉ là sự im lặng, sao bà thấy lo lắng quá. Chạy vào trong nhà tìm ở các phòng cũng không có, giờ chỉ còn lại phòng của bà, vén chiếc màn gió lên, ngay lập tức hình ảnh đứa cháu gái với gương mặt giàn giụa nước mắt tay cầm bức ảnh đang thẫn thờ ngồi bệt dưới đất. Đến bên đứa cháu tội nghiệp, lòng bà đau thắt lại, một nỗi sợ hãi chạy qua người khiến bà rùng mình. Bà lên tiếng phá tan không gian tĩnh lặng: “Đan à, bà xin lỗi”.

Nó lạnh lùng đáp: “Bà nói đi chuyện này là thế nào”

Không dám nhìn thẳng vào đôi mắt Đan, bà chỉ liên tục nói lời xin lỗi.

– Bà nói cho cháu biết đi. Cháu xin bà mà. Nó nói trong tiếng khóc.

Hít một hơi thật sâu, bà Năm lên tiếng:

– Đúng vậy, người trong bức ảnh là bố mẹ của cháu. Cách đây 15 năm vào cái đêm định mệnh, cái đêm ngày 25/6/1997 có một đôi vợ chồng trẻ đang trên đường trở về nhà với đứa con tròn 3 tuổi của mình cùng chiếc bánh sinh nhật nhưng thật không may một vụ tai nạn thảm khốc đã sảy ra vì cố gắng bảo vệ đứa con mà hai người đã ra đi vĩnh viễn. Tai nạn đó sảy ra nguyên nhân phần nào do ta và hai người con.

– Không tôi không muốn nghe nữa xin bà đừng nói gì nữa. Nó hét lên trong tiếng nấc. Trái tim nhỏ bé của nó như có hàng trăm mũi kim xuyên qua, quá đau lòng giờ thì nó đã hiểu tại sao bà lại nhận nuôi nó, người đàn ông và người phụ nữ kia lại quan tâm đến nó. Đứng dậy với bức ảnh trong tay nó chạy thật nhanh ra khỏi nhà, nó không muốn ở đây. Nó căm hận chính mình, tại sao lại tin và yêu thương người đã hại gia đình nó. Còn bà Năm, bà còn đau gấp trăm lần, một nỗi đau mà không thể khóc. Chạy đuổi theo Đan bà không ngừng gọi: “Nghe bà giải thích đã Đan ơi”.

Nhưng bóng dáng nó đã khuất đi, chỉ còn mình bà ôm nỗi đau tuyệt vọng. Màn đêm đã buông xuống nhưng bóng dáng nhỏ bé, gầy guộc thân thuộc ấy không ngừng tìm kiếm Đan. Còn nó, đôi chân mệt nhoài đang lạc bước giữa dòng người đông đúc. Nhìn những đứa trẻ được bố mẹ âu yếm bồng bế, trái tim nó vỡ thành trăm mảnh. Tại sao lại yêu thương nó nhiều đến thế để giờ đây nó trở thành thế này.

Đan, Đan ơi! bên kia đường mà Đan đứng, vẫn ánh mắt đó, ánh mắt yêu thương xen lẫn đau xót nhìn nó. Nó hận nhiều lắm nhưng thương yêu cũng nhiều lắm. Người bà đã tần tảo nuôi nó để bây giờ tóc đã bạc, da đã nhăn, sức khoẻ đã yếu dần. Nó muốn chạy đến ôm bà quá mà đôi chân không thể cất bước. Mưa, mưa rơi hoà lẫn với dòng nước mắt thật bi kịch. Bên kia đường bà vẫn đứng, đứng để chờ những giọt nước mắt xoá nhoà đi những đau đớn, đứng để chờ những giọt nước mưa cuốn trôi đi những tội lỗi. Cuối cùng lý trí đã chiến thắng, nó muốn sang kia đường để nghe lời giải thích từ bà. Một chiếc xe lao tới, ánh sáng chói của chiếc đèn làm nó không nhìn thấy gì. Nó nhắm mắt lại như muốn rời bỏ thế giới này, bàn tay thân thuộc ấy đã đẩy nó ra để một mình hứng chịu tất cả. Mở mắt ra, trời đất trước mắt như xụp xuống, nó biết phải làm gì bây giờ. Bà nó đã nằm trên mặt đường. Nó muốn chết, nó muốn thượng đế mang nó đi, chỉ cần nó chết thì tất cả ,mọi  người mà nó yêu thương sẽ không sao. Bò đến chỗ bà, toàn thân nó run lập cập, nói không nên lời: “Bà ơi… bà sao vậy… bà đừng làm cháu sợ”.

Bà nói trong đau đớn:

– Cháu không sao là tốt rồi. Nhưng có chuyện này bà nhất định phải nói cho cháu.

– Bà đừng nói gì cả, muốn nói gì thì bà phải khoẻ lên rồi nói sau cũng được. Nó nói trong tiếng nấc.

– Nhất định bà phải nói. Hôm sảy ra vụ tai nạn, bà bị nghi là bị đau ruột thừa nên con bà chở đi bệnh viện, khi chụp chiếu không phải thì con bà đưa bà về nhà. Trên đường trở về thì xe bố mẹ cháu đi ngược chiều với một xe tải khác, bố mẹ cháu muốn tránh nên đã chuyển hướng nhưng lại đâm phải xe của con bà. Khi xuống xe thì bà thấy bố mẹ cháu đã …, vì quá sợ hãi nên con bà định bỏ chạy nhưng đúng lúc ấy đứa trẻ đã khóc, thì ra đứa trẻ vẫn còn sống. Bà và con đã quyết định đưa cháu về nuôi. Lúc ấy, trên tay mẹ cháu vẫn cầm tấm ảnh mới chụp.

– Cháu sai rồi… cháu xin lỗi bà… bà ơi bà!  Nó hét lên trong đau đớn. vì quá nhiều chuyện đến với nó, nó không chịu được cú sốc quá lớn mà đã ngất đi trong khuôn mặt đẫm nước mắt. Nó tỉnh dậy trong bệnh viện với mùi thuốc sát trùng nồng nặc. Nó giật giây nước chuyền lao như điên ra khỏi phòng, khóc thét lên tìm bà.

– Bà ơi, bà đâu rồi. Nó gào lên

Người đàn ông đến giữ chặt tay nó, đó là con bà. Nó luống cuống hỏi: “chú ơi bà đâu rồi”

Nó cứ như điên như dại vậy.

– Cháu cứ bình tĩnh, bà không sao rồi, cháu không phải lo, giờ cháu về phòng nghỉ đi. Giờ nó mới thôi khóc: “Không chú dẫn cháu đến chỗ bà đi”

Nhìn thấy bà đang truyền nước, gương mặt xanh xao, nó thấy mình thật vô dụng. Nhờ có bà mà nó mới có ngày hôm nay, vậy mà nó lại đối sử với bà như vậy. Nó lại khóc, nó muốn quên hết đau đớn, nó muốn bà khoẻ lại, muốn những ngày tháng hai bà cháu cùng chở hàng ra chợ, cùng nhau bán hàng.

Nửa năm sau trên sân trường…

– Đan ơi, mày làm được bài không?

– Đương nhiên rồi! Mày thì sao?

– Tao cũng thế!

Nó và con bạn trò chuyện vui vẻ. Nó cười thật tươi, nụ cười hạnh phức nhất của nó, nó thấy mình thật may mắn vì được rất nhiều người thương yêu và đặc biệt nó biết được rằng bố mẹ rất yêu thương nó. Nó nhìn về phía trước, ngôi nhà mà nó và bà đang sống nở một nụ cười thật hạnh phúc.