Ôn tập bài Tràng giang- Huy Cận

By | 14 Tháng Tám, 2016

Hướng dẫn ôn tập bài Tràng Giang- Huy Cận

Phần 1 : Kiến thức cơ bản

1 . Vài nét về tác giả

Trước Cách mạng, Huy Cận đã là nhà thơ mới lãng mạn nổi tiếng với các tập Lửa thiêng, Vũ trụ ca, Kinh cầu tự. Sau Cách mạng, ông là một trong những người lãnh đạo nền văn hoá, văn nghệ Việt Nam, đồng thời sáng tác nhiều tập thơ hoà điệu giữa con người, xã hội và thơ ca:    Trời mỗi ngày lại sáng; Đất nở hoa ,Bài thơ cuộc đời, Hạt lại gieo; Ngôi nhà giữa nắng; Chiến trường gần,   chiến trường xa; Hai bàn tĩay em,…

–    Thơ Huy Cận nhiều bài hàm súc, giàu chất triết lí, bài hay xen lẫn với bài vừa (Hồ Chí Minh). Ông là một trong những gương mặt tiêu biểu cho thơ ca Việt Nam hiện đại.

2. Bài thơ Tràng Giang

2.1 . Hoàn cảnh sáng tác

Mùa hè – thu năm 1939, chàng thanh niên 20 tuổi Huy Cận đang là sinh viên trường Cao đẳng Nông lâm (Canh Nông) Hà Nội, chiều chiều thứ bảy, chủ nhật, chàng thích một mình đạp xe đạp từ Yên Phụ (Huy – Xuân ở dốc Hàng Than) ngược đê lên mạn Chèm Vẽ (huyện Từ Liêm). Ngắm cảnh sông Hồng bát ngát, dọc hai bờ đê tít tắp, cảnh làng mạc cô liêu, trong tâm hồn thi sĩ lại nổi lên nỗi sầu không gian, sầu vũ trụ miên man, và dậy lên nỗi nhớ quê hương Hà Tĩnh. Đêm về, chàng viết bài thơ Chiều trên sông theo thể lục bát, sau đổi thành thất ngôn, 4 khổ và đặt nhan đề mới: Tràng giang với câu thơ đề từ cũng của chính mình: Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài.

2.2 Bài thơ mới mang vẻ đẹp cổ điển: sự kết hợp hài hoà giữa hai yếu tố cổ điển và hiện đại là đặc sắc nghệ thụật bao trùm của bài thơ. Nỗi sầu, cô đơn của cái “tôi” cá nhân trước thiên nhiên, vũ trụ thấm đượm: tình đời, tình người, lòng yêu quê hương, đất nước thầm kín, tha thiết là chủ đề tư tưởng của bài thơ

2.3   Thể thơ: thất ngôn, 4 khổ/bài, mỗi khổ 4 câu.

2.4  Bố cục; có thể không chia đoạn, có thể chia mỗi khổ là 1 đoạn, như bộ tứ bình bằng thơ mỗi bức đều nói cảnh tình sông nước và tập trung thể hiện nổi báng khuâng trời rộng sông dài.

Khổ 1: cảnh sóng gợn, thuyền trôi, củi trôi và nỗi buồn điệp điệp.

Khổ 2: cảnh cồn bến hoang vắng trong nắng chiều bát ngát.

Khổ 3: cảnh hàng bèo trồi trên dòng sông mênh mònơ. cảnh bãi bờ xanh, vàng tít táp.

Khổ 4: cảnh bầu trời mây trắng, cánh chim nghiêng, sóng sỏng dợn dợn gợi nỗi nhớ nhà.

2.5 Vẻ đẹp cổ điển và hiện đại :

Yếu tố cổ điển Yếu tố hiện đại
–    Thể thơ thất ngôn, 4 khổ như bức tứ bình tả cảnh ngụ tình.

–    Sử dụng nhiều từ Hẫn Việt, nhiều thi liệu truyền thống.

–    Mang dáng dấp Đường thi ở sự hàm sức, cô đọng, tao nhã, cao sâu, khái quát.

–   Hình ảnh ước lộ, tượng trưng.

–    Nỗi buồn sầu cô đơn nhưng lại bâng khuâng man mác – nỗi buồn thòi đại.

–   Cảnh vật gần gũi, thân thuộc.

–     Trực tiếp thể hiện cái “tôi” cô đơn trước vũ trụ, lòng yêu quê hường đất nước thầm kín, tha thiết.

–   Hình ảnh gần gũi, chân thực.

2.6 . Phân tích ý nghĩa của nhan đề Tràng giang.Vì sao tác giả đổi nhan đề từ Chiều trên sông thành Tràng giang?-    Nhan đề Chiều trên sông quá lành, cụ thể, bình thường, ít gợi ấn tượng!

–   Nhan đề Tràng giang hay hơn nhiều : gợi ra ấn tượng khái quát và trang trọng, vừa cổ điển (từ Hán Việt: giang — sông) vừa thân mật (tràng – dài); nhưng không dùng trường (Hán Việt) sợ lầm với Trường Giang (Dương Tử – một dòng sông  lớn của Trung Quốc). Mặt khác tạo vần lưng ang, gợi âm hưởng dài rộng, lan toả, ngân vang trong lòng người đọc, ánh lên vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại.

–   Cảnh không chỉ là cảnh sông Hồng – sông lớn nữa mà là cảnh tràng giang khái quát trong không gian và thời gian.

–   Câu thơ đề từ của chính tác giả định hướng cảm xúc chủ đạo của bài thơ: bâng khuâng: nỗi buồn – sầu lan toả. nhẹ nhàng mà lắng sâu trước cảnh sông dài trời rộng (tràng giang), đồng thời tạo nên vẻ đẹp hài hoà vừa cổ điển tràng giang với hiện đại (nỗi buồn nhớ bâng khuâng) của chàng thanh niên thời Thơ mới.

3. Phân tích bài thơ

Các ý chính cần đạt :

–   Mớ đầu bài thơ là cảnh sông nước mênh mông, bất tận. Cảnh và tình cứ đăng đối nhau, song song cùng biểu hiện:

+ Sóng gợn trên tràng giang – nỗi buồn điệp điệp – không dứt, hết đợt này đến đợt khác như sóng, theo sóng nhỏ gợn.

+ Thuvền, nước cùng trôi — sầu dâng trăm ngả.

+ Cành củi khô trôi vật vờ trên dòng sông – tâm hồn cô đơn, lạc lõng.

–   Giữa tràng giang, điếm nhìn nhà thơ hướng vào sóng nhỏ, tuy rất nhiều nhưng hiện ra rồi tan, mãi mãi. Con thuyền thật trôi trên dòng sông gợi ra kiếp người nhỏ bé đơn côi, vồ định. Thuyền và nước chi song song chứ không gắn bó gì với nhau, bởi nước xuôi trăm ngả, thuyền theo ngả nào? Thuyền đi với dòng để chia li với dòng.

–    Lưu ý cách viết củi một cành khô gây ấn tượng đậm hơn một cành củi khô. Cành củi có thật trôi  ra biển, bập bềnh nương theo sóng (củi rều) cũng là hình ảnh biểu trưng của kiếp người nhỏ nhoi, lạc lõng, cô đơn, vô định.

–    Khổ thơ vẽ lên cảnh sông nước bao la, vô định, rời rạc, hờ hững. Những đường nét nước song song, buồn điệp điệp, sầu trăm ngả, lạc mấy dòng không hứa hẹn điểm hội tụ, gặp gỡ mà chỉ là chia tán, xa vời; nhỏ nhoi và bất lực là hình ảnh con thuyền và cành củi khô cùng trôi trên dòng sông rộng. Tất cả đều ngấm vị buồn sầu- nỗi sầu không gian. Đó là vẻ đẹp cổ điển của bài thơ. vẻ đẹp hiện đại là ở những hình ảnh chi tiết hiện thực: cành củi khô quen thuộc, là sự thiếu gắn bó, cảm giác chia lia của tâm hồn nhà thơ khi ngắm cảnh vĩnh hằng.

Khổ 2

–    Khổ 2 tiếp tục mạch tình ý của khổ 1  mặt khác có thêm những sáng tạo mới.

–    Câu thơ đầu là một nét vẽ mềm mại, uốn lượn, nhịp nhàng bởi các vần lưng liên tiếp: lơ thơ, nhỏ. gió, đìu hiu. Vẫn tiếp tục cảnh vật   nhỏ  bé, cô  độc,  vô định: cồn nhỏ thấp thoáng. Từ đìu hiu học từ Chinh phụ ngâm (Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò!) gợi sự cô đơn, lạnh vắng, hiu hắt.

–    Từ đâu ở câu thứ hai có 2 cách hiểu: – không có; – ở đâu? Có nhưng không rõ. Dù hiểu cách nào thì cảnh vật cũng chỉ tăng thêm sự vắng lặng vì không rõ, không có âm thanh, hoạt động của cuộc sống con người vì chợ chiều, chợ đã tan lại tận làng xa trong, ngoài đê. Tóm lại chỉ có cảnh và cảnh vắng.

–    Câu 3-4 mở ra không gian 3 chiều được nối bằng các động từ, tính từ đầy sáng tạo và ngược hướng: xuống, lên, dài, rộng, sâu. Sâu chót vót là một cách viết sáng tạo, mới mẻ, không chỉ vì nó ngược với cao chót vót mà còn xuất phát từ thực tế điểm nhìn của tác giả đứng trên đê cao nhìn lên trời, nhìn xuống mặt sông, ánh nắng chiều từ phương tây rọi lại gợi ra cảm giác này.

–    Câu thơ cuối có ba chữ bến cô liêu, không cụ thể là bến đò nào mà chỉ tả cái vắng vè, cô đơn của bến đò không khách, hô ứng với gió đìu hiu ở câu đầu. Trên trời: gió đìu hiu ; dưới sông: bến cô liêu. Tất cả trời đất và dòng sông đều vắng lặng, cô đơn, hiu hắt buồn.

–    Con người ở đây trở nên bé nhỏ, có phần rợn ngợp trước thiên nhiên, vũ trụ rộng lớn. vĩnh hàng và cảm thấy lạc loài giữa cái mênh mông của đất trời, cái xa vắng của thời gian (Hoài Thanh).

  Khổ 3

Hình ảnh bèo trôi dạt vốn là chi tiết lấy từ cảnh thật trên sông nhưng đặt thành câu hỏi dạt về đâu thì lại có ý nghĩa biểu trưng của những kiếp người bèo dạt mây trôi chốn xa xôi trong câu hát quan họ cổ truyền.

Điệp từ không (2 lần) tiếp tục tô đậm cái mênh mông, lặng lẽ, cô đơn của cảnh vật vì không có hoạt động của cuộc sống con người, bổ sung cho cái vắng lặng của đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều, và bến cô liêu, gió đìu hiu, cành củi lạc ở những khổ trên.

–    Rõ ràng nỗi buồn trước cành vật của nhà thơ luôn song hành và gắn chặt với nổi buồn nhân thế, nối buồn qué hương đất nước dược thổ hiện kín đáo.

Khổ 4 :

Đây là khổ thơ kết đặc sắc, hài hoà cổ điển và hiện đại.                                                                                *

Hình ảnh bầu trời cao với lớp lớp mây trắng đùn ra như những núi bạc thật đẹp hùng vĩ. Chữ đùn. nhà thơ học được từ thơ Đỗ Phủ: Mặt đất mây đùn cửa ải xa (Thu hứng – Nguyễn Công Trứ dịch) và nhà thơ đã sử dụng lần nữa : Bóng tối đùn ra trận gió đen (trong Các vị La Hán chùa Tây Phương).

Hình ảnh cánh chim nhỏ nghiêng đi như không chịu đựng được sức nặng của bóng chiều đang sa xuống đối lập với cảnh bầu trời cao rộng, hùng vĩ trên để tôn thêm vẻ đẹp của cả hai.

Lòng quê và sóng dợn, vời con nước, trước hết gợi nhớ những câu Kiều: Lòng quê đi một  bước dường một đau\ Nỗi riêng lớp lớp sóng dồi: Bốn phương mây trắng một màu -Trông về cố quốc biết đâu là nhà.

–    Điệp lừ dợn dợn (không phải là rờn rợn — giảm nghĩa) : nghĩa là cái dợn – sợ hãi, dợn sóng, dợn lòng cứ tăng mãi lên, mạnh mãi lên, nhanh nhiều mãi lên theo những con sóng. Nếu ở câu đầu là sóng gợ tí (nhỏ, khẽ, nghiêng về tả cảnh thật), thì ở đây: sóng dợn, nghiêng về tả cảm xúc, nhân hoá.

–    Câu thơ cuối Huy Cận học từ ý thơ Thôi Hiệu: Nhật mộ hương quan hà xứ thị – Yên ba giang thượng sử nhân sầu. (Hoàng Hạc lâu)

Quê hương khuất bóng hoàng hôn

Bên sông khói sóng cho buồn lòng ai!

(Tản Đà dịch)

Thôi Hiệu phải có khói sóng mới gợi dâng nỗi buồn nhớ quê; còn Huy Cận thì chẳng cần có chút yên ba nào cũng đã nhớ nhà! Cách nói phủ định để khẳng định mạnh mẽ hơn.

Huy cận và thôi Hiệu ai buồn hơn ai, làm sao xác định được? Điều quan trọng là Huy Cận có ý thơ khác. Một đằng là ý thức về thực tại; một đằng là ý thức về tình người; dù cả hai người cùng đang ngắm cảnh chiều trên sông và cùng nhớ quê nhà.

Xem thêm : Tài liệu khối 11 , Tràng Giang

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *