Tất tần tật về bài Vội Vàng Xuân Diệu, dàn ý và bài văn mẫu

Phân tích bài Vội vàng, Xuân Diệu

Bố cục bài thơ

Bài thơ Vội vàng có thể chia bố cục thành ba đoạn với những nội dung tương ứng sau:

Đoạn đầu (từ câu thơ đầu đến “Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”): Tình yêu tha thiết đối với thiên đường trên nơi trần thế ‘của nhà thơ.

Đoạn giữa (từ câu tiếp theo đến “Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa”): Nỗi băn  khoăn, tiếc nuối của nhà thơ về sự ngắn ngủi của đời  người trước sự trôi đi nhanh chóng của thời gian.

Đoạn cuối (còn lại): Lời giục giã vội vàng, cuống quýt của nhà thơ.

Nhiều bài thơ của Xuân Diệu có lối cấu tứ dựa theo sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa mạch cảm xúc và mạch luận lí. Bố cục của Vội vàng thể hiện rõ mạch cảm xúc và mạch luận lí ấy của cái tôi nhà thơ. Mùa xuân của đất trời đầy hương sắc, rạo rực và tràn trề nhựa sống như mời gọi và khiến nhà thơ “sung sướng”, ngất ngây, đắm say cảnh sắc ấy. Nhưng bất ngờ nhận ra tất cả chi thực sự thần tiên trong cái xuân thì của nó, nên thi sĩ cảm thây “vội vàng một nửa”, “không chờ nắng hạ mới hoài xuân” (đoạn 1). Thi sĩ đã lí giải những điều mình nhận ra và cảm nhận được. Đó là sự nghịch lí giữa đời người và thời gian. Đời người thì ngắn ngủi trong khi đó thời gian qua đi rất nhanh, kéo theo sự già nua I và “hẽì”, “mẩì” cả tuổi xuân và “tôi” (đoạn 2). Và đê’ chiên thắng được thời gian, chỉ  có một cách duy nhất là phải sống nhanh lên, vội vàng lên, đừng phí tuổi trẻ để kịp tận hưởng những gì đẹp nhất  của cuộc đời (đoạn cuốì).

Phân tích bài thơ

Mở đầu bài thơ Vội vàng là khổ thơ ngũ ngôn thể hiện ước muốn kì lạ,  phi hiện thực của thi sĩ: đoạt quyền của tạo hóa.

Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất;

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi.

Ước muốn ấy rất lạ và không thể thành hiện thực. Tuy nhiên, ước muốn  ấy đã cho thấy sự táo  bạo và phong cách độc đáo trong cái tôi của nhà thơ. Chính điều đã chứng tỏ rằng khát vọng giữ lại hương sắc cuộc đời của nhà thơ rất mãnh liệt.

Tiếp sau bổn câu thơ ngũ ngôn, nhà thơ đã vẽ ra một bức tranh trần thế  tuyệt mĩ. Bức tranh ấy chính là sự lí giải của nhà thơ vì sao mình lại có những ước muốn lạ kì như trên. Bức tranh cuộc sống ấy  không chỉ đẹp mà nó còn rất quen thuộc, nó có ngay cạnh tất cả chúng ta:

Của ong bướm này đây tuần tháng mật;

Này đây hoa của đồng nội xanh rì;

Này đây lá của cành tơ phơ phất

Của yến anh này đây khúc tình si;

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,

Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửa;

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;

Hình ảnh thiên nhiên và sự sống được hiện ra với đầy đủ nét tươi trong, thanh khiết và tràn trề nhựa sống. Mọi vật như chứa đựng hoi thở nồng ấm và cả niềm hạnh phúc của cuộc đời, nó hiện hữu trong thế có đôi có cặp rất hữu tình: ong bướm, hoa lá, yến anh… Nhà thơ đã cảm nhận được vẻ đẹp diệu kì của thiên nhiên, cuộc sống và thổi vào đó một tình yêu say đắm. Tình yêu đó được bộc lộ ra ở giọng điệu, nhịp thơ tuôn chảy, sôi nổi và một so sánh rất mới mẻ, thể hiện sự táo bạo trong tình yêu thiên nhiên của nhà thơ: “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”.

Tuy nhiên, ngay chính lúc cảm xúc “sung sướng”, ngất ngây đang dâng trào, giao hòa với mọi vật thì cũng là lúc nhà thơ bắt đầu cảm thây nuôi tiếc trước sự trôi cháy của thòi gian:

Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa:

Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.  

Cảm nhận về sự trôi chảy của thòi gian, nhà thơ đã có những phát hiện rất mới mẻ về quy luật của nó. Đó là quy luật “một đi không trở lại”. Và như thế thì tuổi trẻ cũng vậy: “tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại”. Nên nhà thơ đã phủ nhận cách cảm nhận trước đây của người xưa về thời gian: “Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn”. Với Xuân Diệu, thời gian là tuyến tính, mỗi phút giây qua đi là mất đi vĩnh viễn. Chính thế, nên ông đã lây sinh mệnh cá nhân, hơn thế là  tuổi trẻ –  khoảng ngắn ngủi nhất của đời người – làm thước đo thời gian. Điều này người xưa chi thấp thóang trong dự cảm, Xuân Diệu thì ráo riết, quyết liệt khẳng định:

Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua       
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già, 
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất. 
Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật, 
Không cho dài thời trẻ của nhân gian; 
Nói lam` chi rằng xuân vẫn tuần hoàn, 
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lạị 
Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi, 
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời; 

 

Rõ ràng đoạn thơ trên đã cho thấy mùa xuân chính là cái đẹp của thiên nhiên tuổi trẻ là cái đẹp của con người. Theo đó, mùa xuân của đất trời thì sẽ qua đi, còn tuổi xuân của con người thì chẳng bao giờ “thắm lại”, Nói như một triết gia khác thì: “Không ai tắm hai lần trên một dòng sông”.

Chính sự nhận thức về thời gian trôi chảy, lây tuổi trẻ, khoảng ngắn ngủi nhất của cuộc đời, để đo đêm thời gian đã khiến nhà thơ nhìn đâu cũng thấy sự li biệt, thấy mất mát. Nhà thơ thấy thời gian như ngọn gió, bay nhanh, lướt qua và mang đi tất cả. Nêu tạo vật đang ớ thời kì đẹp nhất, sung mãn nhất thì cũng có nghĩa là lúc chúng đối mặt với sự tàn phai, hủy diệt bới ngọn gió thời gian ấy. Cho nên, đâu đâu cũng thấy mùi, vị chia phôi của thời gian:

Mùi tháng, năm đều rớm vị chia phôi, 
Khắp sông, núi vẫn than thầm tiễn biệt…. 
Con gió xinh thì thào trong lá biếc, 
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi ? 
Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi, 
Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa ? 

Qua những câu thơ trên, ta thây rõ như cả đất trời, núi sông, vạn vật đang dáng lên một âm thanh thảng thốt đáng sợ nhất: âm thanh của sự chia phôi li biệt.

Con người không thể đoạt quyển tạo hóa, không thế “buộc gió” hay “tắt ‘”nắng” được, cũng càng không thể nắm giữ lại thời gian. Để chiến  thắng được qua đi nhanh của thời gian, thi sĩ thấy cách duy nhất là phải chạy đua với thời gian bằng cường độ sống vội vàng và quyết liệt:

Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm.

Hơn thế  ta phải có khát vọng sống mãnh liệt, phải nhanh lên tận hiến và tận hưởng cuộc sống bằng tất cả các giác quan:

Ta muốn ôm 
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn; 
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn, 
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu, 
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều 
Và non nước, và cây, và cỏ rạng, 
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng 
Cho no nê thanh sắc của thời tươi; 
– Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!

Việc sử dụng hàng loạt các điệp từ, những động từ, tính từ mạnh và câu thơ cuối đã toát lên tất cả cái mạnh mẽ, quyết liệt, táo bạo và hối hả đến cuồng say của cái tôi rất Xuân Diệu! Quả thật, Xuân Diệu là một “nguồn sống dào dạt chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này” (Hoài Thanh).

Đặc sắc nghệ thuật

Đặc sắc nghệ thuật của Vội vàng là ờ sự kết hợp đan xen giữa mạch cảm xúc và mạch triết luận một cách hài hòa, nhuần nhuyễn. Bài thơ còn thể hiện nét mới mẻ tong cách vận dụng thể thơ tự do, nhịp điệu đa dạng, linh hoạt thủ pháp trùng diệp, đặc biệt là hình ảnh mới lạ trong cách so sánh đầy cá tính sáng tạo.

Chủ đề tư tưởng

Vội vàng thể hiện một quan niệm rất mới của cái tôi thơ mới về thời gian, tuổi trẻ, hạnh phúc: Thời gian qua đi rất nhanh và một khi đi thì không trở lại, tuổi trẻ là phần đẹp nhất của đời người thì “chẳng hai lần thắm lại”. Vậy, để tận hưởng vẻ đẹp của tuổi trẻ, của cuộc đòi thì phải sống “vội vàng”. Đây cũng là niềm khao khát sống mãnh liệt và cũng là triết lí sống của nhà thơ.

Bộ đề luyện thi về bài Vội Vàng

Câu 1. Trình bày về kết cấu và mạch cảm xúc của bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu.

Gợi ý trả lời: Tham khảo mục 1

Câu 2. Anh/chị hãy nhận xét ngắn gọn về cái tôi trữ tình trong bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu.

Gợi ý trả lời

  • Một cái tôi có ý thức cá nhân mạnh mẽ: ham sống, yêu đời, khát khao giao cảm.
  • Một cái tôi tràn đầy cảm xúc lãng mạn.
  • Một cái tôi mới mẻ về quan niệm thẩm mĩ, thời gian và tuổi trẻ, nhân sinh.
  • Một cái tôi độc đáo thể hiện qua hình thức nghệ thuật: thể thơ, giọng điệu, hình ảnh, từ ngữ.

Đề 3 :Phân tích hình ảnh thiên nhiên và cái tôi trữ tình trong đoạn thơ sau

Tôi muốn tắt nắng đi 
Cho màu đừng nhạt mất; 
Tôi muốn buộc gió lại 
Cho hương đừng bay đi. 

Của ong bướm này đây tuần tháng mật
Này đây hoa của đồng nội xanh rì; 
Này đây lá của cành tơ phơ phất; 
Của yến anh này đây khúc tình si. 
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi; 
Mỗi sáng sớm, thần vui hằng gõ cửa; 
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần; 
Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa: 
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân. 

(Vội vàng – Xuân Diệu, Ngữ văn 11, Tập hai, NXB Giáo dục, 2008 tr 22)


Bài văn tham khảo

Xuân Diệu, một cái tên tiêu biếu trong phong trào Thơ mới ở Việt Nam, ông cống hiến cho nền văn học nước ta trên dưới 1.000 bài thơ. Mỗi bài thơ đều mang một cái tôi riêng, một tính cách riêng của ông, trong số đó Vội vàng là bài thơ thâu tóm toàn bộ lối sống  riêng biệt của Xuân Diệu một lối sống vội vàng, một lối sống cuống quýt, sống để đắm say tình yêu, say đắm cảnh trời, muốn  tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình bằng những vần thơ êm lãng mạn, tràn đầy sức sống, với những ước muốn táo bạo, mạnh mẽ mang  đầy cá tính của một nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh) . Sự sáng tạo mạnh mẽ, và tình yêu say đắm cuộc đời, thiên nhiên được thể hiện rõ  nét qua những dòng thơ đầu của thi phẩm:

Tôi muốn tắt nắng đi 
Cho màu đừng nhạt mất; 
Tôi muốn buộc gió lại 
Cho hương đừng bay đi. 

Của ong bướm này đây tuần tháng mật
Này đây hoa của đồng nội xanh rì; 
Này đây lá của cành tơ phơ phất; 
Của yến anh này đây khúc tình si. 
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi; 
Mỗi sáng sớm, thần vui hằng gõ cửa; 
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;

Xuân Diệu, một cái tên hết sức quen thuộc trong làng thơ Việt Nam, ông sinh năm 1916, mất 1985, quê ở làng Trảo Nha, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh .Ông bắt đầu sự nghiệp thơ văn với bút danh Trảo Nha. Đói với thơ ca đương thời, Xuân Diệu đem lại một sức sống mới, thể hiện quan niệm sống mới lạ cũng những cách tân nghệ thuật đầy sáng tạo. Ông là nhà thơ của tình yêu,, của mùa xuân và tuổi trẻ với giọng thơ sôi nổi đắm say, yêu đời tha thiết. Ở hồn thơ Xuân Diệu, ta luôn bắt gặp một sự đồng điệu tuyệt vời giữa những trái tim trẻ tuổi trẻ lòng mà như Thơ Xuân Diệu còn là một nguồn sống dào dạt chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này, Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình. Khi vui cũng như khi buồn, người đều nồng nàn tha thiết.

Quả thực, với cặp mắt xanh non, ngơ ngác, vói niềm yêu đòi đến vổ vập, cuồng nhiệt, “Tôi chỉ là một cây kim nhỏ bé mà vạn vật là muôn đá nam châm”, Xuân Diệu đã phát hiện ra bao vẻ đáng yêu của con người, của cuộc sống đủ thanh âm, hương sắc này. Với Xuân Diệu, tất cả đều là tình yêu thứ nhất  là mùa xuân đầu, là tình không tuổi và xuân không ngày tháng. Thế nên phải vội vàng, phải gấp gáp, phải hưởng thụ tất cả thôi:”Em mười tám tuổi hai mươi tuổi / Đừng để mất một cái gì mà không hưởng”. Quá vội vàng, quá tham lam nhưng thật dễ đồng cảm và thương quý một trái tim yêu thiết tha cuộc sống Đó chính là quan niệm sống rất riêng, rất cá tính của Xuân Diệu trước Cách mạng mà Vội vàng là một tuyên ngôn cho quan điểm nhân sinh ấy. Cùng chính từ hồn thơ đó, Xuân Diệu đã thổi vào phong trào Thơ mới một sức sống mãnh liệt, nồng nàn xiết bao!

Ngày từ nhan đề của bài thơ Vội vàng, ta đã cảm nhận được sự hăm hở, sôi nổi cùa Xuân Diệu đối với cuộc ống này. Một cách sống khác biệt, sống đế chạy đua với thời gian, chạy đua với thực tại để rồi níu kéo và có những ước muố trái ngược với quy luật tự nhiên và dường như muôn tước đoạt quyền của tạo hóa nhằm muốn bắt thiên nhiên ngừng lại để tận hưởng hương sắc của mùa xuân.

Tôi muốn tắt nắng đi 
Cho màu đừng nhạt mất; 
Tôi muốn buộc gió lại 
Cho hương đừng bay đi. 

Mở đầu bài tha là một khổ thơ ngũ ngôn thể hiện mạnh mẽ được khát vọng sống xen lẫn trong đó là sự lặp lại hai lần cấu trúc “Tôi muốn… cho../’ đã gợi iên sự cuống quýt, vội vàng của Xuân Diệu khi ông đã dần ý thức được sự trôi qua lặng lẽ của thời gian. Khi ấy, thi nhân quá khát khao, ước vọng nên đã thốt lên thành lời “tôi muốn”… Ngay sau đó là những vần thơ vói những hành động táo bạo vô cùng và sự hăm hở hết sức lạ thường mà chỉ có ở Xuân Diệu đó là hành động “tắt nắng”, “buộc gió”. “Tắt nắng” và “buộc gió” là những hành động phi lí không thể thực hiện được. Nhưng trong thơ ca, có rất nhiều hành động phi lí lại trở nên có lí và dễ đồng cảm mà ước muốn táo bạo của Xuân Diệu là một điển hình. Bởi vì đôi với Xuân Diệu, khi ông đã có khát khao sống được trọn vẹn chữ sống, ông luôn muôn giữ cho mình cái màu của nắng, cái hương của mùa xuân để đừng bao giờ nhạt mất và bay đi. Đây cũng chính là đoạn thơ thế hiện rõ nhất cái tôi của tác giả. Hơn thế nữa, Xuân Diệu luôn khát khao, thèm sống đến ngông cuồng, táo bạo:  “Muôn nỗi ấm với muôn ngàn nỗi mát/ Ta đều ăn nhấm nhía rất ngon lành”. Như vậy hương – sắc kia của cuộc sống đẹp biết nhường nào thì lí do gì mà không yêu được chứ? Nhung quy luật nghiệt ngã muôn thuở hương có nồng nàn, màu có sặc sỡ rồi cũng sẽ tàn phai, héo úa. Thế nên thi nhân phải ước muôn đoạt quyền tạo hóa “tắt nắng”,buộc gió” để giữ lại hương sắc cho đời thì thật đáng trân trọng biết bao tình yêu ấy!

Đây mới chỉ là khúc dạo đầu cho bản tình ca. Tinh yêu, niềm khát khao giao cảm của nhà thơ sẽ được tuôn trào trong những dòng thơ rất mãnh liệt, đắm say. Ta hã  lắng lòng mình đế thưởng thức khúc nhạc du dương tình ái ấy.

Của ong bướm này đây tuần tháng mật;

Này đây hoa của đồng nội xanh rì; 
Này đây lá của cành tơ phơ phất; 
Của yến anh này đây khúc tình si. 
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi; 
Mỗi sáng sớm, thần vui hằng gõ cửa; 
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần; 

 

Nếu như khổ thơ đầu tác giả sử dụng những hành động táo bạo thì ở khổ thơ này là  những câu thơ mang đầy sự liên tưởng, thi vị. Các hình ảnh xuất hiện trong khổ thơ là tất cả các sự vật đều đang ở thì  đẹp nhất, tươi non nhất Nói như Thế Lữ: “Xuân Diệu là một người của đời, một người ở giữa loài người. Lầu thơ của ông xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian”

Ta ôm bó, cánh tay ta làm rắn,

Làm dây da, quẫn quýt cả mình xuân.

Không muốn đi ,mãi mãi ờ vườn trân,

Chân  hóa rễ để hút mùa dưới đất.

Là người sinh ra để sống ,để yêu, Xuân Diệu luôn cảm nhận cuộc sống bằng mọi giác quan. Với ngôn từ rất Tây, cách nói rất Tây, Xuân Diệu đã vẽ nên một thiên đường trên mặt đất. Trong thiên đường ấy, Xuân Diệu như một con ong say mật ngọt cuộc đời. Bằng nghệ thuật điệp từ, điệp lại năm lần từ “này đây”‘ như một nốt nhạc chủ đạo, Xuân Diệu muốn khẳng định: ở ngay tại đây, ngay chốn trần gian này, cuộc sống, thiên nhiên luôn tồn tại những điều kì diệu nhất. Không phải tìm kiếm đâu xa, hãy tận hưởng những mật ngọt ấy. Cùng với việc sở hữu một kho từ vựng mới mẻ đậm sắc phương Tây và nhuốm màu tình ái, Xuân Diệu vẽ nên những hình ảnh căng tràn sức sông, tất cả như đang cựa quậy, trào sôi mãnh liệt. Các chú ong, chú bướm đang say và bị cuốn hút bởi những tuần tháng mật ngọt ngào. Cánh đồng nội thì được phủ lên một màu xanh mơn mởn “xanh rì” làm nền đế các bông hoa chen nhau đua nở, cùng khoe sắc màu rực rỡ của mình. Trên những tán cây, điểm trang là sự trỗi lên của các “cành tơ” non đến nõn nà quyến rũ. sắc màu, đường nét, không thế thiếu thanh âm. Và đây, một khúc nhạc tình si lãng mạn đã được hòa âm bởi các chú chim yến, anh làm cho cảnh xuân thêm lung linh, thơ mộng và tràn đầy sức sống. Pha vào đó là một nguồn ánh sáng ấm áp dịu dàng của mùa xuân làm chớp đôi mi của người con gái xinh đẹp.

Thế đấy, hồn thơ Xuân Diệu khiến cho cảnh vật như cũng có linh hổn. Từ ong bướm, cỏ cây, vạn vật đều không phải là vô tri mà luôn chứa đựng linh hồn và cảm xúc như con người. Vậy còn chần chừ gì nữa? Hãy tận hưởng, hãy mở lòng mình để đón nhận những ngày vui.

Mỗi sáng sớm, thần vui hằng gõ cửa; 
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần; 

Mỗi ngày một niềm vui, vui đến ngất ngây như “rượu tối tân hôn”, Xuân Diệu hằng khát khao như thế. Vậy nên thi nhân luôn làm mới mình, làm mới cảm xúc hằng ngày, hằng giờ. Với Xuân Diệu cuộc đời không đơn điệu mà lúc nào cũng tràn ngập niềm vui, mỗi ngày mới đến là niềm vui cũng gõ cửa ùa vào mà ở đây hình ảnh tác giả sử dụng là vị thần độ lượng, luôn muôn đem đến hạnh phúc niềm vui cho từng người: “Mỗi buổi  sớm thần Vui hằng gõ cửa”. Vị thần ấy không ở đâu xa, không phải trong cổ tích xa xăm mà ngay quanh ta. Vấn đề là ta có mở cửa ra mà đón nhận hay không.

Ý thơ Xuân Diệu thật thi vị vô cùng. Chất thi vị đó chính là tình yêu của thi nhân đối với cuộc sống. Thật đáng trân trọng nhường nào! Cũng bởi quá yêu cuộc sống mà Xuân Diệu đã đi ngược lại với lôi miêu tả của thơ ca truyền thống. Nêu thơ xưa thường lấy thiên nhiên làm trung tâm, làm thước đo chuẩn mực cho mọi vẻ đẹp của con người, thì ngày nay Xuân Diệu lại lấy  con người làm chuẩn mực của thiên nhiên. Đặc biệt thức ngon nhất trong cuộc sống trần thế này, với Xuân Diệu không nằm ngoài Xuân – Tình – Thiếu nữ. Ba điều đẹp nhất của trần thế ấy đều hài hòa với nhau trong thơ Xuân Diệu. Ta hãy xem thi nhân làm phép so sánh:

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;

Một lối so sánh táo bạo, rất Tây, rất Xuân Diệu không trộn lẫn vào đâu được. Bằng trường liên tưởng vô cùng sáng tạo, tác giả đã tạo nên cái hồn cho tháng giêng, cái tháng bắt đầu của mùa xuân rực rỡ, thơ mộng nhất. Cả tháng giêng như một bữa tiệc hấp dẫn mà thi nhân nhấm nháp, thưởng thức một cách khoái khẩu “ngon như một cặp môi gần”. Tác giả cảm nhận được sự ngọt ngào từ đôi môi cũng  như cảm nhận được sự ngọt ngào của tết xuân đem lại cho đời.

Xuân Diệu làr thế đấy, hễ yêu là phải yêu đến “toàn tâm toàn ý toàn hồn”. Thế nên, thi nhân thường thức nhận bằng mọi giác quan đê khao khát, để hưởng thụ đến vồ vập say mê. Xuân Diệu từng nói : Ta kẻ đưa răng bấu mặt trời/ Kẻ uống tình yêu dập cả môi” . Yêu như thế thì thật không ai vượt qua khỏi. Ngôi vị ông hoàng của tình yêu thật xứng đáng dành cho ông.

 

Mùa xuân đẹp lắm, tuyệt vời lắm. Ai cũng không muốn nó mất đi để rồi thương nhớ. Nhưng điểu đó chỉ là mơ ước đen khi nó mất rồi thì tất cả những sự vật đều phải  ngậm ngùi xót xa và từ đó những câu thơ của Xuân Diệu ở những dòng thơ sau trở nên buồn bã. Buồn cũng bởi vì yêu và rồi lại khát khao cuồng nhiệt hơn nữa. Nói tóm lại, nếu Vội vàng là tuyên ngôn của quan niệm sống gấp, sống vội thì khổ thơ đầu đã  thay lời cho sự lí giải căn nguyên tại sao Xuân Diệu lại phải sống như vậy. Đơn giản chỉ  vì chữ “tình” bời quá yêu cuộc đời, khát khao vô biên mà ra.

Vội vàng là một tâm trạng đắm say của một con ngưòi ham sống mãnh liệt. Bài thơ là một quan niệm sống mang đầy triết lí rất phi lí nhưng cũng đẩy nghĩa lí. Bài thơ rất tự do, hình ảnh giàu sức gợi cảm, âm điệu và liên tưởng rất thực. Từ ngữ là những  làn sóng sáng tạo vỗ vào bờ bên tâm hồn người đọc không ngớt. Sống là hạnh phúc, là phải vội vàng và ta đã hiểu vì sao Xuân Diệu xuất hiện và vì sao tuổi trẻ cần thơ mói, cần nét sống vội vàng của ông?

(Lê Ngọc Sơn – THPT Mỹ Quý, Tháp Mười Đồng Tháp)

Dẫn theo Trần Liên Quang, Đỗ Thị Yên

Xem thêm : Tổng hợp kiến thức trọng tâm cần nắm vững, những bài phân tích hay nhất, đề thi dàn ý hay và bám sát về bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu

Link : Vội vàng

Kiến thức cơ bản và bài văn mẫu về bài thơ Vội Vàng SGK Ngữ văn 11

Ôn tập bài Vội vàng- Xuân Diệu.

ÔN TẬP KIẾN THỨC CƠ BẢN:

Giới thiệu tác giả và tác phẩm:

Xuân Diệu là nghệ sĩ lớn, nhà văn hóa lớn có sức sáng tạo mãnh liệt, bền bỉ và sự nghiệp văn học phong phú. Ông đem đến cho thơ ca đương thời một sức sống mới, một nguồn cảm xúc mới với những cách tân nghệ thuật đầy sáng tạo. Ông là nhà thơ của mùa xuân, tình yêu và tuổi trẻ với một giọng thơ sôi nổi, đắm say yêu đời tha thiết. Tiêu biểu cho giọng thơ ấy là bài thơ “Vội vàng”. (Nêu vấn đề theo đề bài)

Khái quát về bài thơ:

         “Vội vàng” là bài thơ tiêu biểu của Xuân Diệu trước cách mạng, in trong tập “Thơ thơ” (năm 1938), là bản tuyên ngôn về lẽ sống vội vàng của nhà thơ. Bài thơ gồm bốn đoạn thơ, có thể chia làm hai phần. Phần một gồm ba đoạn thơ đầu, là niềm ngất ngây trước cảnh sắc trần gian và nêu những lí giải vì sao phải sống vội vàng; phần hai là đoạn thơ cuối, nêu cách “thực hành” lẽ sống “vội vàng”.

Nội dung, nghệ thuật bài thơ:

Phần đầu: Niềm ngất ngây trước cảnh sắc trần gian và nêu những lí giải vì sao phải sống vội vàng.Khổ thơ ngũ ngôn đầu bài thơ: thể hiện một ước muốn kì lạ của thi sĩ – ước muốn quay ngược quy luật tự nhiên:

                                                      “Tôi muốn tắt nắng đi

                                                       Cho màu đừng nhạt mất;

                                                       Tôi muốn buộc gió lại

                                                       Cho hương đừng bay đi.”

Muốn “tắt nắng”, muốn “buộc gió” là những ước muốn kì lạ, chỉ có ở Xuân Diệu. Bởi thi sĩ sợ “màu nhạt mất”, “hương bay đi” – sợ rằng hương sắc, vẻ đẹp của trần gian sẽ phai nhạt mất. Ông muốn níu giữ tất cả hương sắc, vẻ đẹp của trần gian. Nhưng làm sao cưỡng được quy luật, làm sao con người tắt được nắng và buộc được gió, đó thật sự là một ước muốn không thể. Cái ước muốn lạ lùng, kì dị ấy đã hé mở một tình yêu vô bờ với trần gian thắm đượm hương sắc này.

Khổ thơ thứ hai: Phát hiện và say sưa ca ngợi một thiên đường ngay trên mặt đất với bao nguồn hạnh phúc kì thú:

                                            “Của ong bướm này đây tuần tháng mật;

                                              Này đây hoa của đồng nội xanh rì;

                                              Này đây lá của cành thơ phơ phất;

                                              Của yến anh này đây khúc tình si;

                                              Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,

                                              Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửa;

                                             Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;

                                             Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa.

                                             Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”.

Bảy câu thơ đầu khổ thơ là cảnh sắc trần gian:

“Của ong bướm này đây tuần tháng mật;

                                             Này đây hoa của đồng nội xanh rì;

                                             Này đây lá của cành tơ phơ phất;

                                            Của yến anh này đây khúc tình si;

                                            Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,

                                            Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửa;

                                            Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;”

Bằng những điệp từ “này đây”; nhịp thơ dồn dập, sôi nổi, trần gian hiện ra với đầy đủ vẻ đẹp, sắc hương của nó. “Này đây” là “tuần tháng mật” của ong bướm, là thời gian chúng hút nhụy hoa để lấy mật, thời gian chúng vui sống mãnh liệt nhất. “Này đây” là “hoa” của đồng nội “xanh rì”. Đó là hoa cỏ tươi thắm giữa một cánh đồng xanh mơn mởn, tràn đầy sức sống. “Này đây” nữa là “lá” của một “cành tơ” căng tràn nhựa sống, phơ phất trong gió xuân. Còn những đôi chim “yến anh” đang say đắm trong “khúc tình si”. “Và này đây” nữa là “ánh sáng chớp hàng mi”. Một liên tưởng độc đáo: ánh sáng trần gian tựa như hàng mi của một cô gái đẹp, mỗi khi cô gái chớp mắt thì cả trần gian như si mê. Còn nữa, mỗi sáng sớm, thần Vui lại gõ cửa trần gian, mang đến niềm vui cho nhân loại. Bởi vì thế mà “tháng giêng” “ngon” như “cặp môi gần”. Tháng giêng mơn mởn non tơ, tháng giêng quyến rũ như một người tình rạo rực. Trần gian hiện lên trong cảm nhận của nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới” là như thế: tươi đẹp, mơn mởn sức sống, chan chứa niềm vui, niềm hạnh phúc, ngập tràn tình yêu. Trần gian này chính là một thiên đường thực thụ, không phải tìm đâu xa. Trần gian này lúc nào cũng tươi xanh mơn mởn như đang giữa mùa xuân. Thi sĩ như ngất ngây, say đắm trong hương sắc của nó.

Trần gian là một thiên đường, vì thế mà Xuân Diệu tuyên bố:

                                                “Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa.

                                                 Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”. 

Tôi không “sung sướng” sao được khi được sống giữa một thiên đường như thế? Nhưng cũng vì thế mà tôi phải “vội vàng một nửa”. Không vội vàng thì sợ không kịp mất. Tôi “không chờ” cho đến “nắng hạ” mới tiếc nhớ “mùa xuân”, tôi sẽ không để cho tuổi xuân qua đi rồi mới tiếc nhớ thời tươi đẹp ấy. Tôi phải sống ngay từ bây giờ, ngay khi đang còn trẻ, còn đầy sức xuân, khi tâm hồn còn ngập tràn tình yêu. Lời tuyên bố này thể hiện một quan niệm mới: trong thế giới này, đẹp nhất, quyến rũ nhất là con người giữa tuổi trẻ và tình yêu.

Khổ thơ thứ ba: Trần gian tươi đẹp là thế, tại sao lại phải “vội vàng”? Khổ thơ thứ ba lí giải cho sự “vội vàng” ấy:

“Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua

Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già;

Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.

Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,

Không cho dài thời trẻ của nhân gian,

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,

Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại !

Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,

Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;

Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi,

Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt…

Con gió xinh thì thào trong lá biếc,

Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?

Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi,

Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa ?

Chẳng bao giờ, ôi ! Chẳng bao giờ nữa…”

Ba câu đầu là quan niệm về sự trôi chảy của thời gian, sự phôi pha của kiếp người:

“Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua

 Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già;

Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.”

Từ “xuân” trong ba câu thơ trên có thể được hiểu là mùa xuân, cũng có thể là “tuổi xuân”, tuổi trẻ của con người. Những cụm từ “đương tới” – “đương qua”, “còn non” – “sẽ già” diễn tả sự trôi chảy của thời gian. Nếu như con người thời trung đại thấy thời gian tuần hoàn với chu kì bốn mùa xuân, hạ, thu, đông; hết một vòng, thời gian lại quay về điểm xuất phát ban đầu; thì Xuân Diệu đem đến một quan niệm mới mẻ: thời gian tuyến tính. Thời gian là một dòng chảy vô thủy vô chung, mỗi khoảnh khắc qua đi là mất đi vĩnh viễn. Và cuộc đời tôi cũng sẽ chẳng còn gì nếu tuổi xuân qua mất.

Bởi thế, mà có chút trách móc, tiếc nuối trong bốn câu tiếp:

 “Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,

Không cho dài thời trẻ của nhân gian,

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,

Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại !”

“Lòng tôi rộng” lắm, với tôi, tuổi trẻ dài bao nhiêu cũng chưa đủ. Nhưng “lượng trời”, tạo hóa lại cứ “chật”, cứ “keo kiệt” với con người: “không cho dài thời trẻ của nhân gian”. Tuổi trẻ ngắn ngủi quá, mong manh hữu hạn quá. Hai câu trên thoáng chút trách móc. Hai câu dưới nồng nhiệt phủ định quan niệm thời gian tuần hoàn của người xưa, bộc lộ niềm tiếc nuối: đời người không có hai lần tuổi trẻ thì làm gì có chuyện thời gian tuần hoàn ! Tuổi trẻ, tuổi đẹp nhất của đời người lại ngắn ngủi quá !

Niềm tiếc nuối ấy thể hiện rõ hơn trong hai câu tiếp:

“Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,

Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;”

Vũ trụ, đất trời cứ trường tồn mà lại “chẳng còn tôi mãi”, thế nên tôi “bâng khuâng”, ngậm ngùi “tiếc” cả đất trời.

Thời gian cứ thế trôi đi không thể trở lại, kiếp người lại ngắn ngủi, hữu hạn, tất cả rồi sẽ phải phai tàn theo thời gian:

“Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi,

Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt…

Con gió xinh thì thào trong lá biếc,

Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?

Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi,

Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa ?”

“Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi” là một cảm nhận mới lạ, độc đáo. “Tháng năm”, thời gian được cảm nhận bằng “mùi”, “vị chia phôi”. Thi sĩ thấy hiển hiện mỗi khoảnh khắc của thời gian đang lìa bỏ hiện tại để trở thành quá khứ. Chính thời gian cũng đang chia tay với tất cả, mỗi phút giây của nó qua đi là đang mất đi vĩnh viễn. Cho nên, thi sĩ nghe thấy một lời than luôn âm vang khắp núi sông, một lời than triền miên, bất tận: “than thầm tiễn biệt”. Thời gian trôi qua mau chóng, tất cả rồi sẽ phai tàn, héo úa theo nó. “Con gió xinh” tưởng không bao giờ mất, thế mà cũng phải “bay đi”; tiếng chim hót “reo thi” tưởng không bao giờ ngừng nghỉ, thế mà cũng phải “đứt”. Tất cả, tất cả đều phôi pha, phai tàn trước dòng chảy nghiệt ngã của thời gian. Thế nên, câu thơ cuối khổ thơ vang lên đầy nuối tiếc: “Chẳng bao giờ, ôi ! Chẳng bao giờ nữa…”. Chẳng thể nào kịp nữa nếu không nhanh lên, gấp lên, không “vội vàng” lên. Đến đây, nhà thơ đã hoàn thành xong lời lí giải vì sao phải sống “vội vàng” : cuộc sống trần gian đẹp như một thiên đường; trong khi đó, thời gian một đi không trở lại, và đời người – đặc biệt là tuổi trẻ của con người – lại quá ư ngắn ngủi, hữu hạn, nên chỉ còn một cách là phải sống vội. Đây là quan niệm nhân sinh mới mẻ của một tâm hồn luôn khát khao giao cảm với đời.

          Phần hai: cách “thực hành” lẽ sống “vội vàng”.

Khổ thơ cuối: Nhà thơ nêu cách “thực hành” lẽ sống “vội vàng”

                                                    “Mau đi thôi ! mùa chưa ngả chiều hôm.

                                                                   Ta muốn ôm,

                                                      Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn.

                                                      Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,

                                               

                                                      Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,

                                                      Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều,

                                                      Và non nước, và cây, và cỏ rạng.

                                                      Cho chếch choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,

                                                     Cho no nê thanh sắc của thời tươi.

                                                     Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi.”

Mở đầu đoạn thơ là lời giục giã :

                                                    “Mau đi thôi ! mùa chưa ngả chiều hôm.”

Nhà thơ giục giã mọi người mà cũng là giục giã chính mình: hãy mau lên, gấp lên để tận hưởng cuộc sống. “Mau đi thôi!” là câu cảm thán thể hiện sự khẩn trương, hối hả. “Mùa chưa ngả chiều hôm” là cách nói hình ảnh chỉ con người khi đang còn trẻ, chỉ trần gian khi đang ở độ xuân, chưa phai tàn hết hương sắc. Nhà thơ giục giã hãy nhanh lên, gấp lên khi đang còn trẻ, đang còn tràn trề nhựa sống, đừng hoài phí giây phút nào nữa. Giục giã đã trở thành môtip quen thuộc trong thơ Xuân Diệu:

“Nhanh lên chứ, vội vàng lên với chứ!

Em, em ơi, tình non sắp già rồi.”

(“Giục giã”)

“Gấp đi em, anh rất sợ ngày mai,

Đời trôi chảy, lòng ta không vĩnh viễn.”

Lời giục giã khẩn trương, gấp gáp này đã hé mở lòng yêu đời, ham sống đến tha thiết, rạo rực của một con người luôn sợ thời gian.

Sáu câu thơ tiếp theo bộc lộ những hành động sống vội vàng:

“Ta muốn ôm,

                                               Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn,

                                               Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,

                                               Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,

                                               Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều,

                                               Và non nước, và cây, và cỏ rạng.”

Xuân Diệu muốn “ôm, riết, say, thâu” tất cả sự sống, tất cả trần gian vào mình. Thi sĩ như căng hết cảm giác, xúc giác để sống mãnh liệt, sống hết mình, sống nồng nàn, say mê. Ông phải hành động thật mạnh mẽ, thật mãnh liệt để cảm nhận hết vẻ tươi xinh mơn mởn của đất trời, thu nhận hết hương sắc của trần gian.  “Ta muốn ôm” là một câu thơ đặc biệt: chỉ có ba tiếng, lại được đặt ngay giữa dòng thơ, gợi cho người đọc hình dung ra một con người ham hố đang đứng giữa đất trời, dang rộng vòng tay, mở rộng tâm hồn để đón nhận hết tất cả sự sống, tất cả đất trời vào lòng mình. Câu thơ có cấu tạo đặc biệt này đã thể hiện rõ lòng yêu đời cuồng nhiệt, đắm say của Trảo Nha.

Hệ thống động từ “ôm, riết, say, thâu” chỉ những hành động sống vội vàng, mãnh liệt có mức độ tăng tiến đã diễn tả đầy đủ quan niệm “Sống toàn tâm, toàn trí, toàn hồn; Sống toàn thân và thức nhọn giác quan”. Qủa thực, đó là lòng yêu đời đến cuồng nhiệt của thi nhân.

Thêm nữa, nhà thơ miêu tả trần gian bằng những hình ảnh “sự sống mới bắt đầu mơn mởn”, “mây đưa”, “gió lượn”, “cánh bướm – tình yêu”, “non nước”, “cây”, cỏ rạng”. Trần gian ấy thật tươi đẹp, tràn đầy sức sống, rạo rực tình yêu. Cách miêu tả trần gian ấy cũng bộc lộ lòng yêu đời đến đắm say, rạo rực của Xuân Diệu.

Đặc biệt, câu thơ “và non nước, và cây, và cỏ rạng” là một câu thơ độc đáo cho thấy Xuân Diệu xứng đáng với mệnh danh “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ Mới”. Câu thơ lặp lại ba lần từ “và” (nếu như trong văn học trung đại sẽ là một câu thơ dở) là dụng ý nghệ thuật của nhà thơ. Ông muốn thể hiện một “cái tôi” ham hố, tham lam muốn vơ hết, thu hết, ôm hết tất cả trần gian, đất trời. Tóm lại, những hành động sống vội vàng, mạnh mẽ muốn “ôm, riết, thâu” cả trần gian, Trảo Nha khẳng định, với ông “vội vàng” là sống hết mình, cống hiến hết mình, là “Sống toàn tâm, toàn trí, toàn hồn; Sống toàn thân và thức nhọn giác quan”.

Với Xuân Diệu, sống là hành động thật mãnh liệt, hết mình để có thể :

Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,

                                       Cho no nê thanh sắc của thời tươi.

                                      – Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”

Với ông, sống là phải cảm nhận, hưởng thụ hết “mùi thơm”, “ánh sáng”, “thanh sắc của thời tươi”, nghĩa là phải hưởng thụ hết vẻ đẹp, hương sắc của trần gian, phải sống sao cho “thời tươi” của đời người thật ý nghĩa, thật đẹp để sau này không hối tiếc. Các tính từ “chếnh choáng”, “đã đầy”, “no nê”  có mức độ tăng tiến khiến chúng ta hình dung Xuân Diệu như một con ong lảo đảo vui sướng sau khi hút mật ngọt từ nhụy hoa. Ông muốn sống thật hăng say, sống thật mãnh liệt, lúc nào cũng căng tràn nhiệt huyết, để “thời tươi” – tuổi trẻ – được đẹp đẽ nhất, được “chếnh choáng”, “đã đầy”, “no nê”  với niềm vui sướng từ mật ngọt hương đời.

Ông còn hình dung tuổi xuân của đời người như một cô gái đẹp và gọi tên nó một cách tha thiết “hỡi xuân hồng”. Cách hình dung cuộc sống như thế cùng với hành động thật vồ vập “cắn” đã thể hiện sự quý trọng thời trẻ của đời người, đồng thời bộc lộ rõ lòng yêu cuộc đời đắm say như yêu người yêu của mình.

Tóm lại, với những câu thơ độc đáo, những từ ngữ và nhịp điệu dồn dập, sôi nổi, hối hả, cuồng nhiệt, nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới” đã nêu ra cách “thực hành” lẽ sống “vội vàng” của mình: Vội vàng là chạy đua với thời gian, là quý trọng từng giây phút của tuổi trẻ, đừng để hoài phí giây phút nào; vội vàng là sống mạnh mẽ, đủ đầy với từng phút giây của sự sống, “Sống toàn tâm, toàn trí, toàn hồn; Sống toàn thân và thức nhọn giác quan”.

Nghệ thuật cả bài:

Bài thơ có sự kết hợp hài giữa mạch cảm xúc và mạch luận lí. Mạch cảm xúc thể hiện ở lòng yêu đời đắm say, tha thiết, rạo rực của nhà thơ; mạch luận lí là lời lí giải về lẽ sống vội vàng. Mạch cảm xúc làm cho lí lẽ không trở nên khô khan, triết học, còn mạch luận lí làm cho  mạch thơ được tự nhiên, nhuần nhị. Cùng với cách nhìn, cách cảm mới, những sáng tạo độc đáo về hình ảnh thơ và cách sử dụng ngôn từ, nhịp điệu sôi nổi dồn dập, hối hả, cuồng nhiệt, nhà thơ đã trình bày một quan niệm nhân sinh mới mẻ mà vẫn dạt dào cảm xúc, sục sôi nhiệt huyết.

Ý nghĩa văn bản:

Quan niệm nhân sinh, quan niệm thẩm mĩ mới mẻ của Xuân Diệu – nghệ sĩ của niềm khát khao giao cảm với đời.

(Tài liệu sưu tầm )

Xem thêm :

Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về  vội vàng

Giáo án văn 11 theo chủ đề: Thơ lãng mạn 1930-1945

Soạn giáo án Ngữ văn 11 theo chủ đề dạy học, soạn bài Đây thôn Vĩ Dạ, Tràng Giang, Vội Vàng theo định hướng phát triển năng lực 

CHUYÊN ĐỀ: THƠ LÃNG MẠN 1930-1945

BƯỚC 1: CHUYÊN ĐỀ: THƠ LÃNG MẠN 1930-1945

BƯỚC 2: XÂY DỰNG NỘI DUNG CHỦ ĐỀ BÀI HỌC

Gồm các văn bản thơ:  Vội vàng– Xuân Diệu, Tràng giang– Huy Cận, Đây thôn Vĩ Dạ– Hàn Mặc Tử, Chiều xuân- Anh Thơ, Tương tư- Nguyễn Bính.

Thời gian: 5 tiết

BƯỚC 3: XÂY DỰNG MỤC TIÊU BÀI HỌC

Kiến thức:

  • Những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm thơ lãng mạn 1930-1945.
  • Đặc điểm cơ bản của các tác phẩm thơ lãng mạn 1930-1945.

Kĩ năng:

  • Huy động tri thức về tác giả, hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm, ngôn ngữ…để đọc hiểu văn bản.
  • Đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại:

+ Nhận diện thể thơ và giải thích ý nghĩa của việc sử dụng thể thơ

+ Nhận diện sự phá cách trong việc sử dụng thể thơ (nếu có)

+ Nhận diện đề tài , chủ đề , cảm hứng chủ đạo của bài thơ.

+ Nhận diện và phân tích tâm trạng, tình cảm của nhân vật trữ tình trong bài thơ.

+ Phân tích được vẻ đẹp nội dung và  nghệ thuật của một bài thơ trữ tình hiện đại Việt Nam.

+ Đánh giá những sáng tác độc đáo của mỗi nhà thơ qua các bài thơ đã học.

  • Đọc diễn cảm, đọc sáng tạo những đoạn thơ hay.
  • Nhận diện , phân tích và đánh giá những nét đặc sắc về nghệ thuật của các bài thơ trong chủ đề (hình ảnh, chi tiết, biện pháp tu từ, vần nhịp…)
  • Nhận biết được sự giống nhau và khác nhau giữa thơ trung đại và hiện đại về đề tài, cảm hứng, thể loại và ngôn ngữ.
  • Vận dụng những kiến thức , kĩ năng đã học đề đọc những bài thơ lãng mạn 1930-1945 khác của Việt Nam; nêu những kiến giải, suy nghĩ về các phương diện nội dung nghệ thuật của các bài thơ được học trong chủ đề; viết đoạn văn hoặc bài văn nghị luận về những bài thơ đã học trong chủ đề rút ra những bài học về lý tưởng sống, cách sống từ những bài thơ đã học và liên hệ, vận dụng vào thực tiễn cuộc sống của bản thân.

Thái độ:

  • Giáo dục một thái độ sống tích cực, một nhân cách sống trong sáng, yêu đời, biết cống hiến tuổi trẻ cho lý tưởng và xã hội.
  • Yêu đời, yêu thiên, yêu cuộc sống, yêu nước.
  • Có ý thức xác định lẽ sống, lý tưởng sống cao đẹp.

Năng lực:

Định hướng góp phần hình thành các năng lực: năng lực giao tiếp (nghe nói, đọc, viết), năng lực thẩm mĩ (cảm thụ và sáng tạo) năng lực hợp tác, năng lực tự học, …

BƯỚC 4: XÁC ĐỊNH VÀ MÔ TẢ MỨC ĐỘ YÊU CẦU CỦA MỖI LOẠI CÂU HỎI/BÀI TẬP CÓ THỂ SỬ DỤNG ĐỂ KIỂM TRA , ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC VÀ PHẨM CHẤT HỌC SINH TRONG DẠY HỌC.

 

Mức độ nhận biết Mức độ thông hiểu Mức độ vận dụng và vận dụng cao
Nêu những nét chính về tác giả Chỉ ra những biểu hiện về con người tác giả được thể hiện trong tác phẩm. Nêu những hiểu biết thêm về tác giả qua việc đọc hiểu bài thơ.
Nêu hoàn cảnh sáng tác  bài thơ. Phân tích tác động của hoàn cảnh ra đời đến việc thể hiện nội dung tư tưởng của bài thơ. Nêu những việc sẽ làm nếu ở hoàn cảnh tương tự của tác giả.
Chỉ ra ngôn ngữ được sử dụng để sáng tác bài thơ Lý giải một số từ ngữ, hình ảnh…trong các câu thơ. Đánh giá việc sử dụng ngôn ngữ của tác giả trong bài thơ.
Xác định thể thơ Chỉ ra những đặc điểm về bố cục, vần, nhịp… Đánh giá tác dụng của thể thơ trong việc thể hiện nội dung bài thơ.
Xác định nhân vật trữ tình. – Nêu cảm xúc của nhân vật trữ tình trong từng câu/cặp câu thơ.

– Khái quát bức tranh tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ.

Nhận xét về tâm trạng của nhân vật trữ tình trong câu/cặp câu/ bài thơ.
Xác định hình tượng nghệ thuật được xây dựng trong bài thơ. -Phân tích những đặc điểm của hình tượng nghệ thuật thơ.

-Nêu tác dụng của hình tượng nghệ thuật trong việc giúp nhà thơ thể hiện cái nhìn về cuộc sống và con người

-Đánh giá cách xây dựng hình tượng nghệ thuật.

– Nêu cảm nhận/ ấn tượng riêng của bản thân về hình tượng nghệ thuật.

Chỉ ra câu/ cặp câu thơ thể hiện rõ nhất tư tưởng của nhà thơ. Lí giải tư tưởng của nhà thơ trong câu/ cặp câu thơ đó. Nhận xét về tư tưởng của tác giả được thể hiện trong bài thơ.

 

BƯỚC 5: BIÊN SOẠN CÁC CÂU HỎI/ BÀI TẬP CỤ THỂ THEO CÁC MỨC ĐỘ YÊU CẦU ĐÃ MÔ TẢ.

 

Với bài thơ Vội vàng có thể sử dụng các câu hỏi sau:

Mức độ nhận biết Mức độ thông hiểu Mức độ vận dụng và vận dụng cao
Nêu những nét chính về tác giả Xuân Diệu. Xuân Diệu là người như thế nào? Bài thơ giúp em hiểu thêm gì về tác giả?
Nêu xuất xứ của bài thơ. – Trình bày những hiểu biết của em về tập thơ? Tập thơ đó có vị trí như thế nào trong đời thơ Xuân Diệu.
Nhan đề của bài thơ là gì? Giải thích ý nghĩa của nhan đề đó Lý giải tại sao nhà thơ lại đặt nhan đề là “Vội vàng”
Đọc và xác định thể thơ? Em hiểu thế nào về thể thơ tự do. Hãy kể tên một số bài thơ cùng loại.
Nhân vật trữ tình trong bài thơ là ai? -Những từ ngữ nào trong bài thơ giúp em xác định được nhân vật trữ tình.

– Cảm hứng chủ đạo của nhân vật trữ tình trong bài thơ là gì?

Em có nhận xét gì về tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ?
1. Tình yêu cuộc sống tha thiết:

 

– Mở đầu bài thơ, tác giả thể hiện một khát vọng kì là đên ngông cuồng. Đó là khát vọng gì? Từ ngữ  nào thể hiện điều này?

 

– Vậy bức tranh mùa xuân hiện ra như thế nào? Chi tiết nào thể hiện điều này?

 

Nghệ thuật đó có tác dụng gì?

 

Có gì mới trong cách sử dụng nghệ thuật của tác giả?

 

 

 

– Hãy cho biết  tâm trạng của tác giả qua đoạn thơ trên?

 

2. Nỗi băn khoăn về sự ngắn ngủi của kiếp người:

 

Chi tiết nào thể hiện được điều đó? – Từ quan niệm thời gian là tuyến tính, nhà thơ đã cảm nhận được điều gì?

 

– Quan niệm về thời gian của người xưa và Xuân Diệu có gì khác?

 

  – Quan niệm sống của Xuân Diệu là gì qua đoạn thơ đó?

 

  3.Lời giục giã cuống quýt vội vàng để tận hưởng tuổi xuân của mình

 

– Đọc đoạn thơ 3 – Cảm nhận được sự trôi chảy của thời gian, Xuân Diệu đã làm gì để níu giữ thời gian?

– Hãy nhận xét về đặc điểm của hình ảnh, ngôn từ, nhịp điệu trong đoạn thơ mới?

 

Giáo dục KNS: Trình bày những ấn tượng sâu đậm của cá nhân về hồn thơ Xuân Diệu ?

 

  Giáo dục KNS: Bài thơ thể hiện quan niệm sống đẹp của một tâm hồn khao khát sống hay chỉ là lối sống tiêu cực gấp gấp.

 

Tổng kết – Hãy nêu đặc sắc nghệ thuật của bài thơ? – Hãy rút ra ý nghĩa của văn bản  ?

 

 

 

Với bài thơ Tràng giang có thể sử dụng các câu hỏi sau:

Mức độ nhận biết Mức độ thông hiểu Mức độ vận dụng và vận dụng cao
Nêu những nét chính về tác giả Huy Cận. Huy Cận là người như thế nào? Bài thơ giúp em hiểu thêm gì về tác giả?
– Nêu hoàn cảnh sáng tác của bài thơ.

 

 

– Hoàn cảnh đó sẽ có ảnh hưởng như thế nào đến tâm trạng của tác giả? Em hãy kể vắn tắt một số hiểu biết của em về giai đoạn lịch sử lúc bây giờ?
Nêu xuất xứ của bài thơ. – Trình bày những hiểu biết của em về tập thơ? Tập thơ đó có vị trí như thế nào trong đời thơ Huy Cận.
Nhan đề của bài thơ là gì? Giải thích ý nghĩa của nhan đề đó Mối quan hệ giữa nhan đề và âm hưởng của bài thơ?
Đọc và xác định thể thơ? Em hiểu thế nào về thể thơ đó. Hãy kể tên một số bài thơ cùng loại.
Nhân vật trữ tình trong bài thơ là ai? -Những từ ngữ nào trong bài thơ giúp em xác định được nhân vật trữ tình?

– Cảm hứng chủ đạo của nhân vật trữ tình trong bài thơ là gì?

Em có nhận xét gì về tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ?
1/Ba khổ thơ đầu:Bức tranh thiên nhiên và tâm trạng của nhà thơ
Khổ 1:

– Đọc khổ thơ

– Nhận xét về hình ảnh,nhạc điệu,cách gieo vần của khổ thơ? – Hãy phân tích những hình ảnh sông nước,thuyền,cành củi khô để thấy được biểu hiện tâm trạng của tác giả?

 

Khổ 2:

– Đọc khổ thơ

– Cảnh sông được miêu tả như thế nào?

– Từ “đâu” gợi ta có cảm giác gì về dấu hiệu sự sống?

– Suy nghĩ của em về âm thanh được nói đến trong câu này?

– Nhận xét về hình ảnh “trời sâu chót vót”?

– Thủ pháp nghệ thuật tương phản phát huy tác dụng gì?

– Tâm trạng của tác giả biểu hiện ntn?

Khổ 3:

– Đọc khổ thơ

– Tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật nào?

 

– Hình ảnh cánh bèo manh tính ước lệ tượng trưng cho điều gì?

– Câu hỏi tu từ cho ta thấy gì về sự giao kết tình người?

 

– Vì sao trong ba khổ thơ đầu nhà thơ bày tỏ nỗi buồn sâu lắng,thống thiết trước thiên nhiên? (Gv có thể gợi mở cho các em về bối cảnh đất nước)

2/Tình yêu quê hương

 

– Đọc khổ thơ

– Xác định những từ ngữ mang vẻ đẹp cổ điển?

 

 

– Vì sao nói thiên nhiên trong bài thơ đậm màu sắc cổ điển mà vẫn gần gũi thân thuộc?

– Tình yêu thiên nhiên ở đây có thấm đượm lòng yêu nước thầm kín không? Vì sao?

– Phân tích điểm khác nhau về nỗi nhớ trong thơ xưa và trong thơ HC(Gv giới thiệu bàiHoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu)

Tổng kết:

– Liệt kê những thủ pháp nghệ thuật được sử dụng trong bài thơ?

 

– Hãynhận xét những đặc sắc nghệ thuật của bài thơ?

 

Em hãy rút ra ý nghĩa văn bản?

Giáo dục KNS Em hãy trình bày suy nghĩ, cảm nhận về vẻ đẹp của giọng điệu, gương mặt thơ Huy Cận trong dòng Thơ Mới.

 

Với bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ có thể sử dụng các câu hỏi sau:

Mức độ nhận biết Mức độ thông hiểu Mức độ vận dụng và vận dụng cao
Nêu những nét chính về tác giả Hàn Mặc Tử. Hàn Mặc Tử là người như thế nào? Bài thơ giúp em hiểu thêm gì về tác giả?
– Nêu hoàn cảnh sáng tác của bài thơ.

 

 

– Hoàn cảnh đó sẽ có ảnh hưởng như thế nào đến tâm trạng của tác giả? Kể một số giai thoại về tình yêu củaHàn Mặc Tử liên quan đến hoàn cảnh sáng tác bài thơ.
Nêu xuất xứ của bài thơ. – Trình bày những hiểu biết của em về tập thơ? Tập thơ đó có vị trí như thế nào trong đời thơ Hàn Mặc Tử.
Nhan đề của bài thơ là gì? – Giải thích ý nghĩa của nhan đề đó Lý giải tại sao nhà thơ lại đổi nhan đề bài thơỞ đây thônVĩ thành Đây thôn Vĩ Dạ?
Đọc và xác định thể thơ? Em hiểu thế nào về thể thơ đó. Hãy kể tên một số bài thơ cùng loại.
Nhân vật trữ tình trong bài thơ là ai? -Những từ ngữ nào trong bài thơ giúp em xác định được nhân vật trữ tình?

– Cảm hứng chủ đạo của nhân vật trữ tình trong bài thơ là gì?

Em có nhận xét gì về tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ?
1/Bức tranh thôn Vĩ
a. Vĩ Dạ hừng đông
– Đọc khổ thơ

– Tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật gì?

– Câu hỏi đầu tiên gợi điều gì?

– Cảnh Thôn Vĩ hiện lên ra sao?

– Bóng dáng của người con gái Huế xuất hiện gây thêm ấn tượng gì cho lời mời gọi?
b. Vĩ Dạ đêm trăng
– Đọc khổ thơ

– Tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật gì?

– Nhận xét về cách sử dụng biện pháp tu từ?

– Tâm trạng của chủ thể trữ tình thay đổi ntn?

– Hình ảnh bến sông trăng gợi cho em cảm giác gì về vẻ đẹp của thiên nhiên

– Phân tích bức tranh thiên nhiên ở khổ 2,nó có sự khác biệt gì so với khổ 1?

– Đằng sau phong cảnh ấy là tâm sự gì của nhà thơ?

2/Tâm trạng của nhà thơ:
– Đọc khổ thơ

– Tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật gì?

– Em hiểu ntn về câu thơ “Áo em….”?

 

   – Câu hỏi cuối cùng bộc lộ tâm trạng gì và nó có liên quan ntn với câu hỏi mở đầu?

– Mối tình của tác giả có liên quan như thế nào đến những tâm sự trong bài thơ này?

 

KẾ HOẠCH BÀI HỌC

 

  1. Mục tiêu bài học:
  2. Kiến thức:
  • Những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của 5 tác phẩmthơ lãng mạn 1930-1945. Mỗi tác phẩm tập trung làm rõ cho một đặc điểm nổi bật của thơ mới

+ Vội vàng: Thơ mới luôn khẳng định, đề cao cái tôi cá nhân,thơ mới mang cảm hứng tình yêu và  thiên nhiên.

+ Tràng giang: Thơ mới thấm thía nỗi buồn cô đơn.

+ Đây thôn Vĩ Dạ: Thơ mới thể hiện niềm khát khao hướng về cuốc sống trần thế.

+ Hai bài đọc thêm:….

  • Khái quát đặc điểm cơ bản của các tác phẩm thơ lãng mạn 1930-1945.

 

  1. Kĩ năng:

Đọc hiểu  một tác phẩm trữ tình  theo đặc trưng thể loại.

Phân tích một bài thơ mới.

  • Nhận biết được sự giống nhau và khác nhau giữa thơ trung đại và hiện đại về đề tài, cảm hứng, thể loại và ngôn ngữ.
  • Vận dụng những kiến thức , kĩ năng đã học đề đọc những bài thơ lãng mạn 1930-1945 khác của Việt Nam; nêu những kiến giải, suy nghĩ về các phương diện nội dung nghệ thuật của các bài thơ được học trong chủ đề; viết đoạn văn hoặc bài văn nghị luận về những bài thơ đã học trong chủ đề rút ra những bài học về lý tưởng sống, cách sống từ những bài thơ đã học và liên hệ, vận dụng vào thực tiễn cuộc sống của bản thân.

Giáo dục KNS:-Tư duy sáng tạo: Phân tích, bình luận triết lí, khát vọng sống.

-Tự nhận thức về mục đích, giá trị cuộc sống đối với mỗi cá nhân.

-Giao tiếp: cảm thông chia sẻ cùng tâm trạng tác giả

  1. Thái độ:
  • Giáo dục một thái độ sống tích cực, một nhân cách sống trong sáng, yêu đời, biết cống hiến tuổi trẻ cho lý tưởng và xã hội.
  • Yêu đời, yêu thiên, yêu cuộc sống, yêu nước.
  • Có ý thức xác định lẽ sống, lý tưởng sống cao đẹp.

  4.Hình thành các năng lực cho học sinh

– Năng lực thu thập thông tin liên quan đến văn bản.

– Năng lực giải quyết những tình huống đặt ra trong các văn bản.

– Năng lực đọc – hiểu một tác phẩm thơ trữ tình theo đặc trưng thể loại.

– Năng lực trình bày suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về ý nghĩa của văn bản.

– Năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận về nội dung và nghệ thuật của văn bản.

  1. Chuẩn bị của GV và HS:
  2. Chuẩn bị của GV

Sgk, giáo án, đọc tài liệu tham khảo, phiếu học tập, máy chiếu, tranh ảnh…

  1. Chuẩn bị của HS.

– Hs chủ động tìm hiểu bài qua hệ thống câu hỏi sgk.

– Giấy Ao, bút phớt…

III. Tiến trình dạy học:

Bước 1 : Khởi động

– Em hãy kể tên một số nhà thơ trong phong trào thơ mới mà em biết ?

– Trả lời các câu hỏi

+Ai là nhà Nhà thơ mới nhất trong những nhà thơ mới?

+ Trong dàn đồng ca đa điệu buồn  của thơ mới ai được xem là điệu buồn ảo não nhất ?

+ Nhà thơ nào đã đề cập đến tôn giáo trong thơ.

+ Ai được mệnh danh là nhà thơ của đồng quê.

Học sinh trả lời, GV xác  nhận kiến thức và dẫn dắt giới thiệu chung  về chuyên đề, sau  đó dẫn dắt giới thiệu về Xuân Diệu và bài Vội vàng.

Xuân diệu hồn nhiên yêu đời, yêu cuộc sống, say mê với cái đẹp, nhạy cảm với sự trôi chảy của thời gian. Nhưng càng  yêu say đắm, Xuân Diệu sợ cuộc sống, sợ tình yêu và vẻ đẹp sẽ bỏ mình bay đi mất. Chính vì thế mà trong thơ ông có những thái độ hốt hoảng, lo âu, yêu sống một cách vội vàng cuống quýt, vồ vập.

“Vội vàng” tiêu biểu cho trạng thái cảm xúc ấy của Xuân Diệu.

 

Bước 2 : Hình thành kiến thức

VỘI VÀNG

 

(Xuân Diệu)

 

Hoạt động I: Tìm hiểu chung:

– Mục tiêu:

+ Giúp HS hiểu XD là nhà thơ lớn, nhà văn hóa lớn, có sức sáng tạo mãnh liệt, bền bỉ và sự nghiệp văn học phong phú.

+ Giúp HS nắm được xuất xứ, bố cục của bài thơ.

– Nhiệm vụ:  Học sinh làm việc cá nhân, phát huy kĩ năng đọc sgk

– Phương thức:Yêu cầu Hs đọc phần tiểu dẫn, gạch chân những chi tiết quan trọng về tác giả Xuân Diệu.

Gv hướng dẫn học sinh tự đọc sgk và tìm các ý cơ bản theo yêu cầu.

– Sản phẩm:

+ XD là nhà thơ lớn, nhà văn hóa lớn, có sức sáng tạo mãnh liệt, bền bỉ và sự nghiệp văn học phong phú.

+ Xuất xứ, bố cục của bài thơ.

  1. 1. Tác giả.

GV:

– Yêu cầu Hs đọc phần tiểu dẫn, gạch chân những chi tiết quan trọng về tác giả XD

HS: thực hiện theo yêu cầu của GV.

GV: yêu cầu HS trình bày trước lớp nội dung quan trọng về XD.

HS: trình bày, Hs khác lắng nghe, nhận xét.

GV: nhận xét, bổ sung và chốt ý:

 

– Xuân Diệu (1916- 1985) tên khai sinh là Ngô Xuân Diệu.

– Quê: Can Lộc – Hà Tĩnh nhưng sông với mẹ ở Quy Nhơn.

– Là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới.

– Là nghệ sĩ lớn, nhà văn hóa lớn có sức sáng tạo mãnh liệt, bền bỉ và có sự nghiệp văn học phong phú.

 

  1. Tác phẩm

GV: Hãy cho biết xuất xứ của bài thơ?Chia bố cục bài thơ và nêu nội dung chính từng phần?

HS: đọc tiểu dẫn và trả lời câu hỏi, các HS khác theo dõi và nhận xét.

GV: nhận xét khả năng tiếp nhận và sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ học tập của tất cả học sinh trong lớp.

GV: nhận xét, bổ sung và chốt ý:

– Xuất xứ:  In trong tập Thơ thơ (1938)- tập thơ đầu tay và cũng là tập thơ khẳng định vị trí của Xuân Diệu – “Nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”.

-Bố cục: 3 đoạn.

+ 13 câu đầu: Tình yêu cuộc sống trần thế “tha thiết”.

+ 16 câu (câu 14à29): Nỗi băn khoăn về sự ngắn ngủi của kiếp người.

+ 10 câu cuối: Lời giục giã cuống quýt vội vàng để tận hưởng tuổi xuân của mình…

 

PHƯƠNG ÁN KT ĐÁNH GIÁ GV đánh giá học sinh về khả năng tiếp nhận và sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ và tốc độ làm việc, HS đánh giá lẫn nhau thông qua việc gọi học sinh nhận xét câu trả lời của bạn

 

HOẠT ĐỘNG 2: Đọc- hiểu văn bản( tập trung cho đặc điểm thơ mới khẳng định đề cao cái tôi cá nhân)

– Mục tiêu: Giúp HS cảm nhận được:

+  Tình yêu cuộc sống tha thiết:

. Khát vọng kì lạ đến ngông cuồng:

. Bức tranh mùa xuân hiện ra như một khu vườn tràn ngập hương sắc thần tiên, như một cõi xa lạ:

. Nghệ thuật và hiệu quả NT.

– Tâm trạng của tác giả qua đoạn thơ trên

– Nỗi băn khoăn về sự ngắn ngủi của kiếp người:

– Quan niệm về thời gian của người xưa.

– Quan niệm về thời gian của Xuân Diệu.

– Từ quan niệm thời gian là tuyến tính, nhà thơ đã cảm nhận thời gian như 1 dòng chảy, thời gian trôi đi tuổi trẻ cũng sẽ mất. Thời gian tuyến tính à Xuân Diêu thể hiện cái nhìn biện chứng về vũ trụ, thời gian.

– Nhiệm vụ:  Học sinh thảo luận nhóm, theo bàn, theo cặp đôi, kỹ thuật trình bày 1 phút, làm việc cá nhân.

– Phương thức:Gv giao nhiệm vụ, yêu cầu HS trao đổi, thảo luận theo nhóm, theo bàn, theo cặp đôi và làm việc cá nhân.

Gv hướng dẫn học sinh khai thác văn bản và tìm các chi tiết, hình ảnh …

– Sản phẩm:

+ Sản phẩm thảo luận của HS.

GV: Chia lớp thành 3 nhóm yêu cầu HS thảo luận.

Nhóm 1: Phiếu học tập số 1

– Mở đầu bài thơ, tác giả thể hiện một khát vọng kì lạ, ngông cuồng. Đó là khát vọng gì?

– Từ ngữ  nào thể hiện điều này?

Nhóm 2: Phiếu học tập số 2

– Bức tranh mùa xuân hiện ra như thế nào trong 13 câu thơ đầu?

– Chi tiết nào thể hiện điều này?

Nhóm 3: Phiếu học tập số 3

– Để miêu tả bức tranh thiên nhiên đầy xuân tình, tác giả sử dụng nghệ thuật gì?

– Có gì mới trong cách sử dụng nghệ thuật của tác giả?

– Nghệ thuật đó có tác dụng gì?

 

HS:  tiến hành thảo luận, cử nhóm trưởng điều hành thảo luận, thư k‎ý ghi chép sản phẩm thảo luận.

GV: theo dõi, quan sát, phát hiện kịp thời những khó khăn của học sinh để giúp đỡ kịp thời.

HS: trình bày sản phẩm thảo luận trước lớp, HS khác lắng nghe, nhận xét, bổ sung.

GV: nhận xét, đánh giá về kết quả hoạt động và quá trình thảo luận của học sinh. Khả năng tiếp nhận, tham gia tích cực, chủ động, sáng tạo, hợp tác của Hs trong việc thực hiện nhiệm vụ.

GV: tổng hợp, phân tích, đánh giá kết quả hoạt động và quá trình thảo luận của học sinh. Chốt ý:

  1. Tình yêu cuộc sống tha thiết:

– Khát vọng kì lạ đến ngông cuồng:

“ Tắt nắng ; buộc gió” + điệp ngữ “tôi muốn” : khao khát đoạt quyền tạo hóa, cưỡng lại quy luật tự  nhiên, những vận động của đất trời.

Cái tôi cá nhân đầy khao khát đồng thời cũng là tuyên ngôn hành động với thời gian.

– Bức tranh mùa xuân hiện ra như một khu vườn tràn ngập hương sắc thần tiên, như một cõi xa lạ:

+ Bướm ong dập dìu

+ Chim chóc ca hót

+ Lá non phơ phất trên cành.

+ Hoa nở trên đồng nội

Vạn vật đều căng đầy sức sống, giao hòa sung sướng. Cảnh vật quen thuộc của cuộc sống, thiên nhiên qua con mắt yêu đời của nhà thơ đã biến thành chốn thiên đường, thần  tiên.

– Nghệ thuật:

 + Điệp ngữ: này đây    tuần tháng mật.

kết hợp với hình ảnh,  Hoa … xanh rì

âm thanh, màu sắc:      Lá cành tơ …

Yến anh … khúc tình si

Ánh sang chớp hàng mi

+ So sánh: tháng giêng ngon nhứ cặp môi gần: táo bạo. Nhà thơ phát hiện ra vẻ đẹp kì diệu của thiên nhiên và thổi vào đó 1 tình yêu rạo rực, đắm say ngây ngất.

Sự phong phú bất tận của thiên nhiên, đã bày ra một khu địa đàng ngay giữa trần gian  – “một thiên đàng trần thế”

GV Yêu cầu HS thảo luận cặp đôi(thời gian 1 phút): Hãy cho biết  tâm trạng của tác giả qua đoạn thơ trên?

HS: trao đổi, thảo luận, và trình bày sản phẩm.

GV: tổng hợp, phân tích, đánh giá kết quả hoạt động và quá trình thảo luận của học sinh.

GV: nhận xét khả năng tham gia tích cực của học sinh trong trình bày, trao đổi, thảo luận về kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập. GV  bổ sung và chốt ý:

– Tâm trạng đầy mâu thuẫn nhưng thống nhất: Sung sướng >< vội vàng: Muốn sống gấp, sống nhanh, sống vội tranh thủ thời gian.

Giáo viên hướng dẫn nắm đoạn “Xuân Diệu là nhà thơ …trong thơ” và cắt nghĩa từ “mới nhất” ở những phương diện nào? (nội dung và nghệ thuật).

  1. Nỗi băn khoăn về sự ngắn ngủi của kiếp người:

GV Yêu cầu HS thảo luận theo bàn (thời gian 3 phút):

– Quan niệm về thời gian của người xưa như thế nào?

– Quan niệm về thời gian của Xuân Diệu có gì khác?

– Từ quan niệm thời gian là tuyến tính, nhà thơ đã cảm nhận được điều gì? Chi tiết nào thể hiện được điều đó?

HS: trao đổi, thảo luận, và trình bày sản phẩm.

GV: tổng hợp, phân tích, đánh giá kết quả hoạt động và quá trình thảo luận của học sinh.

GV: nhận xét khả năng tham gia tích cực của học sinh trong trình bày, trao đổi, thảo luận về kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập. GV  bổ sung và chốt ý:

– Người xưa, các nhà thơ trung đại(HXH).

…”Xuân vẫn tuần hoàn” à Thời gian qua đi rồi trở lại, thời gian vĩnh cửu à quan niệm này xuất phát từ cái nhìn tĩnh, siêu hình, lấy sinh mệnh vũ trụ làm thước đo.

–  Xuân Diệu lại cho rằng:

Xuân đương tới – đương qua

Xuân còn non – sẽ già

à thời gian như 1 dòng chảy, thời gian trôi đi tuổi trẻ cũng sẽ mất. Thời gian tuyến tính à Xuân Diêu thể hiện cái nhìn biện chứng về vũ trụ, thời gian.

GV yêu cầu HS sử dụng kỹ thuật trình bày 1 phút: Từ quan niệm thời gian là tuyến tính, nhà thơ đã cảm nhận được điều gì? Chi tiết nào thể hiện được điều đó?

 HS: Động não suy nghĩ, trình bày sản phẩm.

GV: tổng hợp, phân tích, đánh giá kết quả hoạt động và quá trình thực hiện của học sinh.

GV: nhận xét khả năng tham gia tích cực của học sinh trong quá trình trình bày về kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập. GV  bổ sung và chốt ý:

– Cái nhìn động:

+ Xuân Diêu cảm nhận sự mất mát ngay chính sinh mệnh mình.

Xuân hết nghĩa là tôi cũng mất

…tuổi trẻ chẳng 2 lần thắm lại

Mùa xuân, tuổi trẻ không tồn tại mãi, nó ngắn ngủi vô cùng, tuổi trẻ đẹp nhất của đời mỗi người. Xuân Diệu lấy tuổi trẻ làm thước đo thời gian. Thời gian mất nghĩa là tuổi trẻ cũng mất à Cảm nhận sâu sắc, thấm thía.

+Hình ảnh sự vật:   Cơn gió xinh … phải bay đi

Chim rộn ràng … đứt tiếng reo.

tàn phai, héo úa, chia phôi, tiễn biệt.

 

– Mau: gấp gáp, vội vàng, cuống quýt, hưởng thụ.

Quan niệm mới, tích cực thấm đượm tinh thần nhân văn.

PHƯƠNG ÁN KT ĐÁNH GIÁ GV đánh giá học sinh về khả năng tiếp nhận, sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ và tốc độ làm việc, HS đánh giá lẫn nhau thông qua việc gọi học sinh nhận xét câu trả lời của bạn

…………………..

(lần lượt các bài tiếp theo)

HOẠT ĐỘNG 3 : Củng cố- luyện tập

– Mục tiêu:Giúp HS củng cố kiến thức về tác giả, tác phẩm, đặc trưng của  thơ lãng mạn 30-45.

– Nhiệm vụ:  Học sinh trao đổi, thảo luận và làm việc nhóm.

– Phương thức:Gv giao nhiệm vụ, yêu cầu HS trao đổi thảo luận nhóm.

– Sản phẩm:

+ Đáp án của HS.

Yêu cầu:

  • Chỉ ra những đặc trưng nổi bật của thơ lãng mạn30-45 (về nội dung và nghệ thuật).
  • Để khai thác một bài thơ lãng mạn 30-45 ta cần phải chú ý những gì?

 

PHƯƠNG ÁN KT ĐÁNH GIÁ GV đánh giá học sinh về khả năng tiếp nhận, sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ và tốc độ làm việc, HS đánh giá lẫn nhau thông qua việc gọi học sinh nhận xét câu trả lời của bạn

 

 

HOẠT ĐỘNG 4: Vận dụng (Có thể làm ở nhà)

– Mục tiêu: Giúp HS củng cố kiến thức, kĩ năng đã học đề để đọc những bài thơ lãng mạn 1930-1945 khác của Việt Nam; nêu những kiến giải, suy nghĩ về các phương diện nội dung nghệ thuật của các bài thơ được học trong chủ đề; viết đoạn văn hoặc bài văn nghị luận về những bài thơ đã học trong chủ đề rút ra những bài học về lý tưởng sống, cách sống từ những bài thơ đã học và liên hệ, vận dụng vào thực tiễn cuộc sống của bản thân.

– Nhiệm vụ:  Học sinh trao đổi, thảo luận tìm tòi và làm việc cá nhân.

– Phương thức:Gv giao nhiệm vụ, yêu cầu HS trao đổi, làm việc cá nhân (Có thể làm ở nhà)

– Sản phẩm:

+ Bài viết của HS.

Em hãy viết một đoạn văn (khoảng 100 từ) phát biểu cảm nhận của bản thân về hình ảnh thơ mà em ấn tượng nhất trong các bài thơ lãng mạn mà em đã học

PHƯƠNG ÁN KT ĐÁNH GIÁ GV đánh giá học sinh về khả năng tiếp nhận, sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ và tốc độ làm việc, HS đánh giá lẫn nhau thông qua ý thức tự giác làm việc và sản phẩm nộp Gv.

 

HOẠT ĐỘNG 5: Mở rộng sáng tạo (Có thể làm ở nhà)

– Mục tiêu: Giúp HS củng cố kiến thức, kĩ năng đã học đề để đọc những bài thơ lãng mạn 1930-1945 khác của Việt Nam; nêu những kiến giải, suy nghĩ về các phương diện nội dung nghệ thuật của các bài thơ được học trong chủ đề; viết đoạn văn hoặc bài văn nghị luận về những bài thơ đã học trong chủ đề rút ra những bài học về lý tưởng sống, cách sống từ những bài thơ đã học và liên hệ, vận dụng vào thực tiễn cuộc sống của bản thân.

– Nhiệm vụ:  Học sinh trao đổi, thảo luận và làm việc cá nhân.

– Phương thức:Gv giao nhiệm vụ, yêu cầu HS trao đổi, làm việc cá nhân (Có thể làm ở nhà)

– Sản phẩm:

+ Bài viết của HS.

So sánh sự giống nhau và khác nhau giữa thơ trung đại và hiện đại về đề tài, cảm hứng, thể loại và ngôn ngữ.

PHƯƠNG ÁN KT ĐÁNH GIÁ GV đánh giá học sinh về khả năng tiếp nhận, sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ và tốc độ làm việc, HS đánh giá lẫn nhau thông qua ý thức tự giác làm việc và sản phẩm nộp Gv.

Giáo án sưu tầm

Xem thêm :

Giáo án ngữ văn 10 

Giáo án ngữ văn 11

Giáo án ngữ văn 12

Tổng hợp kết bài mẫu về các tác phẩm lớp 11-Hay và đầy đủ

Tuyển tập những kết bài mẫu tham khảo.Kết bài về các tác phẩm lớp 11 : Hai đứa trẻ, Chữ người tử tù, Hạnh phúc một tang gia, Chí Phèo, Vội vàng, Tràng giang, Đây thôn Vĩ Dạ, Từ ấy

Tổng hợp những kết bài hay về tác phẩm Hai đứa trẻ ( Thạch Lam)

  1. Thạch Lam đã mô tả thế giới nội tâm của nhân vật bằng ngòi bút tinh vi. Tài năng của nhà văn đã làm sống dậy những cảm xúc vốn mong manh, hư ảo của hồn người. Vượt qua bóng đêm, vượt của sự buồn tẻ của kiếp người, Hai đứa trẻ chính là bài ca về niềm tin yêu cuộc sống. Niềm tin yêu đó được kết tinh từ ánh sáng tư tưởng tiến bộ, từ ánh  sáng lòng nhân ái của nhà văn. “Không có ước mơ nào là quá muộn” nhà văn Anatole France đã nói như vậy. Còn Eleannor Roosevelt thì phát biểu “Tương lai thuộc về những ai tin tưởng vào cái đẹp của ước mơ”. Tôi tin ánh sáng nhà văn Thạch Lam nhen lên  trong tâm hồn hai đứa trẻ sẽ trở thành ngọn đuốc soi rọi cho con người bước qua bóng  tối. Niềm tin vào sự đổi thay của cuộc đời chính là chỗ dựa để con người sống có mơ  ước, sống có ý nghĩa.
  2. Không có những tình huống li kì, những tính cách sắc nét, không đi sâu những cảnh áp bức bóc lột, những số phận thương tâm,…mọi thứ trong Hai đứa trẻ cứ nhẹ nhàng diễn ra trên từng trang viết, lặng lẽ đưa ra những hình ảnh xoàng xĩnh quen thuộc ở một phố huyện nghèo qua con mắt một đứa trẻ. Nhưng chính vẻ đẹp của những cái bình thường, lặng lẽ, xoàng xĩnh ấy qua ngòi bút tinh tế, giọng văn nhỏ nhẹ của tác giả lại tạo nên sức hút kì lạ. Bức tranh đời sống nghèo trong truyện vừa rất mực chân thực, vừa chan chứa niềm cảm thương, chân thành của Thạch Lam đối với những người lao động nghèo khổ sống quẩn quanh, bế tắc, bị chôn vùi trong kiếp tối tăm. Tất cả để lại ấn tượng, sự đồng cảm sâu sắc nơi người đọc một cách rất tự nhiên nhưng lắng đọng, khó quên vô cùng.

Tổng hợp những kết bài hay về tác phẩm Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân)

  1. “Vang bóng một thời” là một tiếng vọng đầy cuốn hút trong trào lưu văn học lãng mạn 1930 – 1945 và “Chữ người tử tù” là một tiếng nói góp phần làm nên sự thành công của tập truyện này. Có thể nói rằng, những đặc trưng của phương pháp sáng tác lãng mạn chủ nghĩa không phải đã tập trung đầy đủ ở đây nhưng nhà văn đã thực sự đem chúng ta đến một thế giới mà trong đó nhân vật lãng mạn vượt lên khỏi hoàn cảnh để sống khác biệt với những tầm thường, tăm tối quanh mình. Cái Đẹp, cái Thiện và sự tài hoa đã cùng nhau châu tuần về đó.
  2. Chữ người tử tù đã thể hiện tư tưởng thẩm mĩ của Nguyễn Tuân. Cái đẹp, cái tài đã chiến thắng tất cả. Nó nâng đỡ và dìu dắt con người xích lại với nhau tạo nên sức mạnh chiên thắng mọi gông xiềng, quyền uy và thế lực. Nghệ thuật khắc họa nhân vật của cụ Nguyễn đầy ấn tượng đã tạo ra cho tác phẩm những bức tranh, hình ảnh đầy kịch tính với một ngôn ngữ khỏe khoắn, gân guổc đầy cảm giác và tân kỳ. Người ta thường nói đến phong cách của Nguyẽn Tuân gói gọn trong chữ “ngông” song thực tế không phải vậy. vẻ đẹp của quản ngục là biểu tượng cho thiên lương của con người, ở đây nó còn là hiện thân của cái đẹp. Nói như Vũ Ngọc Phan giá trị của tác phẩm “gần đạt đến sự toàn mĩ” là từ nhân vật này chăng?

Tổng hợp những kết bài hay về đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia (Số đỏ)

Có thể kết luận rằng: Từ cái “chết thật” của “ông cụ già” đến đám ma giả của tang gia, và từ cái đám ma giảtang gia đến niềm vui thật của bọn người hám danh, hám lợi, đạo đức giả được kể trong chương truyện này là cả một hành trình sáng tạo của một tài năng lớn – tài năng trào phúng Vũ Trọng Phụng.

Tổng hợp những kết bài hay về tác phẩm  Chí Phèo (Nam Cao)

  1. Chí Phèo – một tấn bi kịch của một người nông dân nghèo bị tha hóa trong xã hội cũ, một con người điển hình. Ở cuối tác phẩm, “đột nhiên thị thoáng thấy hiện ra một cái lò gạc cũ bỏ không, xa nhà cửa, và vắng người qua lại…”, chi tiết ấy muốn nói với chúng ta rằng, một ngày gần đây thôi,Thị Nở lại bụng mang dạ chửa vượt cạn giữa đồng không mông quạnh,giữa con mắt thờ ơ của người dân làng Vũ Đại,lai một Chí Phèo con xuất hiện. Điều này chứng tỏ rằng “Chí Phèo” không phải là bi kịch của một con người mà là bi kịch của người nông dân tồn tai trong lòng nông thôn trước Cách mạng tháng Tám. Mang đậm giá trị tố cáo rất cao, lên án giai cấp phong kiến thống trị tha hoá, những bị kịch như vậy sẽ còn tiếp.
  2. Hình tưcmg nhân vật Chí Phèo đế lại trong lòng người đọc nhiều niềm xúc động và lòng cảm thông sâu sắc đối với nhũng kiếp người tàn tạ trước Cách mạng tháng Tám. Cùng với những chị Dậu, anh Pha, lão Hạc,… hình tượng nhân vật Chí Phèo khẳng định tính tất yếu phải có một cuộc cách mạng dân tộc và cách mạng giai cấp đế đòi lại quyền sống cho người dân Việt Nam khi đó. Cho đến ngày nay, những nhân vật văn học ấy vẫn là những lời nhắc nhở, cảnh tỉnh chúng ta phải biết yêu hon, trân trọng hon hạnh phúc mình đang có và ra sức cống hiến xây dựng cuộc đời tươi đẹp này.

Tổng hợp những kết bài hay về tác phẩm Vội vàng (Xuân Diệu)

  1. Nhà thơ Thế Lữ, trong lời Tựa cho tập Thơ Thơ củaXuân Diệu, đã có nhận xét khá tinh tế: “Xuân Diệu là một người của đời, một người ở giữa loài người. Lầu thơ của ông xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian” . Qua những ý thơ của Vội vàng, ta càng cảm nhận sâu sắc hơn lời nhận xét ấy. Sống là hạnh phúc. Muốn đạt tới hạnh phúc phải sống vội vàng. Thế là, vội vàng là cách đến với hạnh phúc, là chính hạnh phúc, và hình như cũng là cái giá phải trả cho hạnh phúc vậy ! Tahiểu vì sao khiXuân Diệuxuất hiện, lập tức thi sĩ đã thuộc về tuổi trẻ!
  2. Với bài thơ “Vội vàng”,  Xuân  Diệu đã phảvào  nền  thi  ca  Việt  Nam  một trào lưu “Thơ mới”. Mới lạnhưng táo bạo, độc dáo ởgiọng điệu và cách dùng từ, ngắt nhịp, nhất là cách cảm nhận cuọc sống bằng tất cảcác giác quan, với một trái tim chan chứa tình yêu. “Vội vàng” đã thểhiện một cảm quan nghệthuật rất đẹp, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Đó là lòng yêu con người, yêu  cuộc đời. Đó là tình yêu cảnh  vật,  yêu  mùa  xuân  và  tuổi  trẻ…  Và  là  ham  muốn  mãnh  liệt muốn níu giữthời gian, muốn tận hưởng vịngọt ngào của cảnh sắc đất trời “tươi non mơn mởn”. Phải chăng trời đất sinh ra thi sĩ Xuân Diệu trên xứsởhữu tình này, là đểca hát vềtình yêu, đểnhảy múa trong những điệu nhạc tình si?! Thơ Xuân Diệu -vội vã với nhịp đập của thời gian

Tổng hợp những kết bài hay về tác phẩm Tràng giang (Huy Cận)

  1. Bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận với sựkết hợp bút pháp hiện thực và cổđiển đã vẽlên một bức tranh thiên nhiên u buồn, hiu quạnh.Qua đó khắc họa được tâm trạng cô liêu, đơn độc của con người và một tình yêu quê hương, mong ngóng vềquê hương chân thành, sâu sắc của Huy Cận.
  2. Tràng giang – Bài thơ sẽ còn mãi đi vào lòng người với phong cách tiêu biểu rất “Huy Cận”, với vẻ đẹp cổ điển trang nhã sâu lắng và vẻ đẹp hiện đại mang nặng một tấm lòng yêu nước, yêu quê hương.

Tổng hợp những kết bài hay về tác phẩm Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử)

  1. Đây thôn Vĩ Dạlà một bức tranh đẹp vềcảnh và người của miền quê đất nước qua tâm hồn thơ mộng, giàu tưởng tượng và đầy yêu thương của nhà thơ với nghệthuật gợi liên tưởng, hòa quyện thiên nhiên với lòng người. Trải qua bao năm tháng, cái tình Hàn Mặc Tửvẫn còn tươi nguyên, nóng hổi, lay động day dứt lòng người đọc. “Tình yêu trong ước mơ của con người đau thương ấy có sức bay bổng lạkì” nhưng nó cũng giản dị, trong sáng, tươi đẹp như làng quê Vĩ Dạ. Xin thành kính thắp một nén nhang trước một nghệsĩ tài hoa, một trái tim suốt cuộc đời thổn thức vì tình yêu, một tâm hồn thi sĩ đã thăng hoa nỗi đau thương, bất hạnh của đời mình thành những đóa hoa thơ mà trong đó thơm ngát nhất, thanh khiết nhất là Đây thôn Vĩ Dạ
  2. “Đây thôn Vĩ Dạ” là một bức tranh đẹp vềcảnh và người của một miền quê đất nước qua tâm hồn thơ mộng, giàu trí tưởng tượng và đầy yêu thương của một nhà thơ đa tình đa cảm. Bằng thủpháp nghệthuật liên tưởng cùng với những câu hỏi tu từ xuyên suốt bài thơ, tác giả Hàn Mặc Tửđã phác họa ra trước mắt ta một khung cảnh nên thơ, đầy sức sống và ẩn trong đấy là nỗi lòng của chính nhà thơ: nỗi đau đớn trước sựcô đơn, buồn chán trần thế, đau cho số phận ngắn ngủi của mình. Dầu vậy nhưng ông vẫn sống hết mình trong sựđau đớn của tinh thần và thể xác. Điều đó chứng tỏ ông không buông thả mình trong dòng sông số phận mà luôn cố gắng vượt lên nó để khi xa lìa cõi đời sẽ không còn gì phải hối tiếc.
  3. “Thơ đi từ cái thực tới cái ảo ảnh, từảo ảnh đi tới cái huyền diệu, từ huyền diệu đi tới chiêm bao. Bao trùm cả bài thơ là thế giới mơ”, đó là lời của Hàn Mặc Tử về thơ và có lẽ chính là vềĐây thôn Vĩ Dạ. Với hình ảnh độc đáo giàu sức gợi, giàu giá trị thẩm mĩ, ngôn ngữ ngữ cực tả luôn trong trong sáng, súc tích, cách sử dụng xuyên suốt những câu hỏi tu từ, cách sử dụng nhịp điệu thơ theo cảm xúc có khi là tha thiết đắm say, có khi là chậm rãi buồn tẻ, Đây thôn Vĩ Dạ thể hiện tình yêu tha thiết của tác giả đối với xứ Huế, nơi nhà thơ đã từng có nhiều kỷ niệm ngọt ngào, đồng thời thểhiện khát khao được sống, được yêu của một con người. Nhà thơ đã vẽ nên một bức tranh phong cảnh thật đẹp về thiên nhiên xứ Huế, từ đó thể hiện tình yêu và khát vọng sống mãnh liệt.

Tổng hợp những kết bài hay về tác phẩm Từ ấy (Tố Hữu)

  1. “Từ ấy” là tiếng reo vui không chỉ của nhà thơ, mà còn là của cả một thế hệ thanh niên khi tìm thấy lí tưởng của Đảng, nguyện chiến đấu hết mình vì lí tưởng, vì nhân dân, vì đất nước. Họ là những người chiến sĩ trẻ, mang trong mình nhiệt huyết, mang trong mình lí tưởng, và lòng yêu thương đồng bào, yêu thương đất nước. Có thể nói, thơ của Tố Hữu là thơ của nhân dân, những lí tưởng cao đẹp được diễn tả bằng những từ ngữ lãng mạn nhưng cũng vô cùng giản dị, gần gũi, là đại diện cho một lớp nhà thơ mới
  2. Bài thơ “Từ ấy” của Tố Hữu là một bài thơ vừa có tính triết lý sâu sắc, vừa rất gần gũi, bình dị, thân thuộc. Sau mấy chục năm đọc lại, những vần thơ đó vẫn là một câu hỏi thấm thía mà những người cộng sản hôm nay không thể không suy ngẫm một cách nghiêm túc để tự mình tìm ra lời giải đáp thấu đáo. Giữa cái chung và cái riêng, giữa cộng đồng -tập thể và cá nhân, giữa vật chất tầm thường và tinh thần –tư tưởng của người cộng sản.

Tài liệu sưu tầm. Nguồn : Page Cô Diễm Hằng

Xem thêm :

  1. Tổng hợp những mở bài mẫu hay nhất
  2. Cách viết phần kết bài trong bài văn nghị luận
  3. Tuyển tập những kết bài về các tác phẩm lớp 12

Đề thi hay và khó về những bài thơ mới Ngữ văn lớp 11

Đề thi hay và khó về những bài thơ mới lớp 11. Phân tích những bài thơ  mới ngữ văn 11 để làm sáng tỏ nhận đinh của Hoài Thanh :”Họ yêu vô cùng thứ tiếng trong mấy mươi thế kỉ đã chia sẻ vui buồn với cha ông. Họ dồn tình yêu quê hương trong tình yêu tiếng Việt”

Đề bài :

Họ yêu vô cùng thứ tiếng trong mấy mươi thế kỉ đã chia sẻ vui buồn với cha ông. Họ dồn tình yêu quê hương trong tình yêu tiếng Việt.”
(Một thời đại trong thi ca – Hoài Thanh)
Anh/ chị hãy làm sáng tỏ ý kiến của Hoài Thanh, qua việc phân tích một số bài thơ Mới  đã học trong chương trình Ngữ văn 11 như: Vội vàng – Xuân Diệu, Tràng giang – Huy Cận, Đây thôn Vĩ Dạ – Hàn Mặc Tử, Tương tư – Nguyễn Bính.

Hướng dẫn cách làm

Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Lòng yêu nước thương nòi qua tình yêu tiếng Việt của các nhà thơ Mới.

1. Giới thiệu vấn đề
– Hoài Thanh là một trí thức yêu nước, một nhà phê bình văn học xuất sắc nhất của nền văn học Việt Nam hiện đại. Sở trường của ông là phê bình thơ. Cách bình của Hoài Thanh không bằng lí trí mà bằng tình cảm, không bằng lí lẽ khô khan mà bằng cách diễn đạt giàu hình ảnh và cảm xúc; ngắn gọn mà nói đúng được cái thần thái độc đáo của mỗi hồn thơ, câu thơ.
– Trước Cách mạng, ông có cuốn Thi nhân Việt Nam (viết chung với Hoài Chân), một tuyển Thơ mới xuất sắc, lời bình tinh tế, tài hoa, có giá trị tổng kết sâu sắc cả một phong trào thơ lãng mạn trong cuộc cách tân hiện đại hóa thơ ca. Khi nói về các nhà thơ của phong trào Thơ mới, Hoài Thanh nhận xét: “Họ yêu vô cùng thứ tiếng trong mấy mươi thế kỉ đã chia sẻ vui buồn với cha ông. Họ dồn tình yêu quê hương trong tình yêu tiếngViệt.”

2.Giải thích đề
– “Họ” ở đây là các nhà Thơ mới như Thế Lữ, Huy Thông, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính…Đó là thế hệ nhà thơ lãng mạn Việt Nam (1932 – 1941), những trí thức có lương tri đang sống và sáng tác trong thời kì nước ta bị thực dân Pháp đô hộ.
– Trong hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ, có nhiều cách biểu lộ lòng yêu nước…. Các nhà Thơ mới đành gửi lòng yêu nước thương nòi của mình vào tình yêu tiếng Việt. Vì họ nghĩ rằng, tiếng Việt đã hứng vong hồn dân tộc những thế hệ qua. Vận mệnh dân tộc đã gắn bó với vận mệnh tiếng Việt. Họ dùng tiếng nói của dân tộc để sáng tác thơ, duy trì tiếng nói và các thể thơ mang hồn cốt dân tộc. Qua thơ, họ ngợi ca thiên nhiên đất nước, gửi gắm nỗi buốn mất nước.
3. Phân tích một số bài Thơ mới để làm sáng tỏ.
a. Vai trò, đặc điểm, vị trí của tiếng Việt
– Tiếng Việt là tiếng nói của dân tộc ta, đã hình thành từ lâu đời, trải qua bao thăng trầm lịch sử, tiếng Việt càng trở nên giàu và đẹp, thể hiện được tâm hồn và sức sống của người Việt Nam:
– Chưa thể trở thành chiến sĩ cách mạng, nhà thơ cách mạng, các nhà Thơ mới đã dùng tiếng Việt sáng tác thơ ca, như một cách giữ gìn, kế thừa và tôn vinh tiếng nói và văn hóa của dân tộc.
b. Chứng minh các nhà Thơ mới có tình yêu tha thiết tiếng Việt, dồn tình yêu quê hương trong tình yêu tiếng Việt
– Qua thơ, các nhà Thơ mới đã phát triển, đổi mới ngôn từ, làm cho tiếng Việt trở nên rất phong phú, trong sáng, tinh tể, hiện đại. Trong khi văn học trung đại sáng tác văn học bằng chữ Hán, chữ Nôm (ảnh hưởng chữ Hán) và các thể thơ chủ yếu là Đường luật; thì các nhà Thơ mới làm thơ bằng tiếng Việt, chữ quốc ngữ, tôn vinh các thể thơ truyền thống như: thơ lục bát, thơ bốn chữ, thơ năm chữ…Họ coi tiếng nói của cha ông là là hương hỏa quý giá, mang hồn thiêng dân tộc, nên đã trau chuốt từ ngữ, hình ảnh: (Vội vàng- Xuân Diệu)
– Nhờ đổi mới về hình thức nghệ thuật ngôn từ (như câu chữ, hình ảnh, nhịp điệu, các cách tu từ…), các nhà Thơ mới đã thể hiện được sinh động trong thơ những hình ảnh, cảnh sắc, thần thái của cảnh trí đất nước mà trong thơ cổ vẫn chỉ là ước lệ. Chính là, các nhà Thơ mới đã dồn tình yêu nước vào tình yêu tiếng Việt:
– Không chỉ vẽ nên những cánh sắc quê hương đất nước với những tình cảm trong sáng, qua thơ các nhà Thơ mới còn gửi gắm nỗi buồn mất nước thầm kín mà thiết tha: Tràng giang – Huy Cận
4.Bìnhluận
– Tình yêu tiếng Việt, yêu nghệ thuật thơ ca, yêu bản sắc văn hóa dân tộc của các nhà Thơ mới rất phong phú sâu sắc. Đó một biểu hiện tinh tế của tình yêu quê hương đất nước.
– Có thể còn có những tác giả, tác phẩm Thơ mới có thái độ chán chường ủy mị yếu đuối, nhưng đó chỉ là nét cá biệt, không phải là tinh thần của Thơ mới. Thơ mới bộc lộ cái tôi cá nhân sầu buồn, đó là nỗi sầu buồn nhân văn, khi hướng tình cảm của mình về quê hương đất nước. Bởi vậy tình yêu quê hương đất nước, dồn trong tình yêu tiếng Việt của các nhà Thơ mới, đã góp phần rung lên tiếng tơ lòng muôn điệu của những tâm hồn Việt. Tình yêu đó rất đáng trân trọng
(Đề sưu tầm)

Đề thi học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 11

Bộ đề ôn luyện thi học sinh giỏi môn Văn lớp 11.

KÌ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI KHỐI 11
Năm học: 2016-2017
MÔN: NGỮ VĂN
(Thời gian: 150 phút)

Câu I (8,0đ):
Cháy lên để tỏa sáng.

Câu II (12,0đ):
Nhà văn I.X Tuốc- ghê- nhép cho rằng: Cái quan trọng trong tài năng văn học là tiếng nói của mình, là cái giọng riêng biệt của chính mình không thể tìm thấy trong cổ họng của bất kì một người nào khác
.( Dẫn theo Khrapchenco. Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học. Nhà xuất bản tác phẩm mới, 1978).
Anh (chị) hãy bình luận ý kiến trên và làm sáng tỏ cái giọng riêng biệt của Xuân Diệu qua một số bài thơ tiêu biểu.
ĐÁP ÁN ĐỀ CHỌN HỌC SINH GIỎI KHỐI 11
Năm học: 2016 – 2017
MÔN: NGỮ VĂN
I Cháy lên để tỏa sáng.

1 Giải thích (1,0 điểm)
– Cháy: là niềm đam mê nhiệt huyết hết mình
– Tỏa sáng: làm nên thành tựu, nâng cao tầm vóc, giá trị bản thân, được mọi người ngưỡng mộ, tôn vinh.
-> Cả câu: Đề cao niềm đam mê nhiệt huyết làm nên thành tựu giúp bản thân mình tỏa sáng của mỗi người 0,25

2 Bàn luận (6,0 điểm)
– Con người cần “cháy” hết mình với công việc:
+ Có niềm đam mê, nhiệt huyết con người sẽ làm việc quên thời gian và mệt mỏi, tạo ra hiệu quả cao. Ngược lại, thiếu đam mê, làm việc gượng ép, miễn cưỡng sẽ ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả công việc.
+ Có đam mê con người đồng thời sẽ có khát vọng, ước mơ làm những điều đẹp đẽ, có ích thậm chí là kì tích, là những phát minh sáng chế đem lại lợi ích cho cộng đồng, nhân loại (như các nhà bác học say mê nghiên cứu, phát minh…)
+ Có đam mê người ta cũng sẵn sàng dâng hiến công sức trí tuệ cho cộng đồng thậm chí sẵn sàng hi sinh riêng tư vì cái chung (như AnhXtanh hi sinh hạnh phúc cá nhân cho việc nghiên cứu)
+ Khi có đam mê nhiệt huyết con người trở nên năng động, sáng tạo, có niềm tin vào bản thân, có ý chí quyết tâm vượt qua thử thách khó khăn để hoàn thành công việc hoặc thực hiện được ước mơ…(Bill Gates vì niềm đam mê máy tính mà sẵn sàng bỏ học ĐH trong sự can ngăn của nhiều người… nhưng ông quyết tâm vượt qua và ông đã thành công).
– Thành công từ những đam mê sẽ giúp con người “tỏa sáng”:
+ Nâng cao tầm vóc, giá trị bản thân
+ Được mọi người ngưỡng mộ, tôn vinh
– Tuy nhiên:
+ Không nên đam mê thái quá để mình bị cuốn theo một vòng xoáy nào đó không dứt ra được mà vòng xoáy đó lại ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống của ta (ví dụ mê chơi game mà chểnh mảng học hành); con người quá say mê làm giàu hay làm việc gì đó muốn khẳng định bản thân một cách nóng vội thì cũng dễ dẫn đến tham lam, phạm tội…
+ Phê phán những người học tập, làm việc thiếu lòng nhiệt tình; không có ước mơ và cũng không có động lực và quyết tâm thực hiện ước mơ hay hoàn thành công việc…

3 Bài học nhận thức và hành động (1,0 điểm))
– Cháy hết mình, đam mê nhiệt huyết với học tập, lao động là yếu tố quan trọng giúp con người thành công, khẳng định được vị trí của mình trong cuộc sống và xã hội nên con người cần nuôi dưỡng đam mê.
– Con người cần phải học tập, trau dồi kiến thức, rèn luyện kĩ năng sống tích cực, bồi đắp tâm hồn để thắp sáng đam mê. 0,5
Câu 2 :Bình luận ý kiến của nhà văn I.X Tuốc- ghê- nhép và làm sáng tỏ cái giọng riêng biệt của Xuân Diệu qua một số bài thơ tiêu biểu

1 Giới thiệu vấn đề ( 1,0 điểm)
– Nhà văn I.X Tuốc- ghê- nhép cho rằng: Cái quan trọng trong tài năng văn học là tiếng nói của mình, là cái giọng riêng biệt của chính mình không thể tìm thấy trong cổ họng của bất kì một người nào khác.
– Xuân Diệu, nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới. Qua sáng tác của mình, ông đã in được dấu vào nền văn học với một giọng riêng biệt, độc đáo hiếm thấy. 0,5

0,5
II

2 Giải thích ý kiến (2,0 điểm)
– Tài năng văn học: Khả năng văn học, sự giỏi giang, điêu luyện của người nghệ sĩ ngôn từ trong sáng tạo nghệ thuật. Tài năng văn học còn là cách nói hoán dụ để chỉ những nhà văn nhà thơ có tài.
– Nói : Là thể hiện thành lời một nội dung nào đó, giọng : Là cách phát âm, cách nói. Tiếng nói của mình, cái giọng riêng biệt của chính mình : Là cách diễn đạt, cách thể hiện độc đáo của một cá nhân về vấn đề nào đó.
– Không thể tìm thấy trong cổ họng của bất kì một người nào khác: Duy nhất, không thể có người thứ hai giống mình.
=> Nhận định là cách nói hình ảnh có tính chất đúc kết về cái quan trọng của những tài năng văn học lớn. Đó là: Một nghệ sĩ có tài phải là người có phong cách riêng độc đáo, không lẫn với bất cứ ai, không giống với bất cứ người nào. 1,0

3 Bình luận ý kiến (3,0điểm)
– Phong cách nghệ thuật của nghệ sĩ là một cái gì đó bền vững, xuyên suốt, lặp đi lặp lại trong các sáng tác trên cả hai phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật. Nói cách khác phong cách là biểu hiện tài nghệ của người nghệ sĩ ngôn từ trong việc đem đến cho người đọc một cái nhìn mới mẻ chưa từng có về cuộc đời thông qua những phương thức, phương tiện nghệ thuật mang đậm dấu ấn cá nhân người sáng tạo.
– Phong cách nghệ thuật biểu hiện ở cái nhìn có tính chất khám phá, ở giọng điệu riêng biệt, ở hệ thống hình tượng, ở các phương diện nghệ thuật…
– Điều quan trọng trong tài năng của người nghệ sĩ là cái riêng biệt, độc đáo mà không ai có thể bắt chước, làm theo. Đây vừa là yêu cầu, vừa là tiêu chuẩn để đánh giá vị trí của nghệ sĩ ấy trên văn đàn. Cái riêng ấy sẽ giúp họ ghi được dấu ấn trên nền văn học, được người đọc yêu mến, tôn vinh. 1,5
4 Phân tích một số bài thơ tiêu biểu của Xuân Diệu để làm rõ phong cách nghệ thuật độc đáo của ông. (5,0 điểm)
– Thơ Xuân Diệu thể hiện đầy đủ nhất cho ý thức cá nhân của cái tôi thơ mới nhưng đồng thời cũng mang đậm bản sắc riêng của cái tôi trong thơ Xuân Diệu. Đó là cái tôi tích cực, mãnh liệt, lúc nào cũng thèm yêu, khát sống, khát khao tận hưởng, cống hiến ngay trên thiên đường trần thế này. Cái tôi mang giọng điệu vồ vập, vội vàng, cuống quýt…Dù khi vui hay khi buồn đều nồng nàn, tha thiết.
– Cái nhìn của Xuân Diệu là cái nhìn tình tứ nên thiên nhiên luôn hiện ra với vẻ đẹp xuân tình.
– Thơ Xuân Diệu tiêu biểu cho tinh thần lãng mạn. Mỗi tiếng thơ như một cơn lũ cảm xúc tuôn chảy, câu nọ gọi câu kia, hình ảnh này gọi hình ảnh kia trong một hơi thơ dồi dào, lôi cuốn.
– Mỗi thi phẩm của Xuân Diệu đều có một cấu tứ khá chặt chẽ, không chỉ phơi trải tình cảm một cách đơn thuần, thi sĩ còn đưa ra những quan niệm, những triết lí về tình yêu, tuổi trẻ, hạnh phúc, thời gian…
– Xuân Diệu có những nỗ lực, có những cách tân thơ tiếng Việt bằng sự bền bỉ học hỏi và vận dụng cấu trúc thơ phương Tây, sáng tạo những điệu nói, những cách nói mới, phát huy được triệt để các giác quan trong cảm nhận.
Lưu ý: Học sinh chọn các bài thơ tiêu biểu như Vội vàng, Thơ duyên, Đây mùa thu tới… để minh họa cho từng đặc điểm trên của phong cách thơ Xuân Diệu.

5 Đánh giá (1,0 điểm)
– Phong cách độc đáo chính là yếu tố quyết định tài năng và sức sống của tác phẩm văn học.
– Xuân Diệu đã khẳng định được vị trí của mình trên văn đàn bởi giọng điệu riêng biệt của chính mình mà không thể tìm thấy trong cổ họng của bất kì một người nào khác 0,5
0,5

Lưu ý chung: Thí sinh có thể làm bài theo những cách khác nhau, nhưng phải đảm bảo những yêu cầu về kiến thức. Trên đây chỉ là những ý cơ bản thí sinh cần đáp ứng; việc cho điểm cụ thể từng câu cần dựa vào sự vận dụng đáp án một cách khoa học và linh hoạt của người chấm.

————————Hết———————-

Đề sưu tầm

Xem thêm tuyển tập đề thi học sinh giỏi môn Văn :http://vanhay.edu.vn/hoc-sinh-gioi

Đề thi bán kì 2 – Ngữ văn lớp 11

Đề đọc hiểu Đây thôn Vĩ Dạ. phân tích thái độ sống tích cực của một cái Tôi ham sống đến cuồng nhiệt qua đoạn thơ  Vội Vàng- Xuân Diệu

BÀI VIẾT SỐ 6

ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ II LỚP 11 MÔN NGỮ VĂN

Thời gian: 90 phút

Phần I. Đọc – hiểu (4 điểm)
Đọc đoạn thơ sau đây và trả lời câu hỏi:

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

(Đây thôn Vĩ Dạ – Hàn Mặc Tử, Ngữ văn 11 tập hai, NXB Giáo dục 2006, trang 39)

Câu 1. Câu thơ “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” gợi cho anh/chị những cách hiểu nào? (1.5 đ)

Câu 2. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn thơ. (0.5 đ)

Câu 3. Xác định biện pháp tu từ và nêu tác dụng của biện pháp tu từ ấy trong câu thơ “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. (1 đ)

Câu 4. Đặt tiêu đề cho đoạn thơ? (1 đ)

Phần II. Làm văn (6 điểm)

Anh/chị hãy phân tích thái độ sống tích cực của một cái Tôi ham sống đến cuồng nhiệt qua đoạn thơ sau:

“Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm,

Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Và non nước, và cây, và cỏ rạng

Cho chuếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng

Cho no nê thanh sắc của thời tươi;

– Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”

(Vội vàng – Xuân Diệu, Ngữ văn 11 tập hai, NXB Giáo dục, 2006, trang 23)

________________________________Hết_____________________________________________

 

HƯỚNG DẪN CHẤM 

Phần I: Đọc hiểu (4 điểm)

Ý chính cần có Điểm
Câu 1: Câu thơ “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” mở đầu bài thơ mang hình thức là một câu hỏi gợi nên nhiều cách hiểu:  
– Là lời cô gái xứ Huế gửi tới nhân vật trữ tình (nhà thơ) vừa là lời mời cũng vừa là lời trách cứ nhẹ nhàng 0.5
– Là lời tác giả tự phân thân tự hỏi mình, tự trách mình 0.5
– Là cái cớ khơi nguồn cảm xúc của nhân vật trữ tình hồi tưởng về thôn Vĩ 0.5
Câu 2: Phương thức biểu cảm/ Biểu cảm 0.5
Câu 3. Các biện pháp nghệ thuật tu từ được sử dụng: so sánh

– Hình ảnh so sánh “Xanh như ngọc” giàu sức tạo hình và biểu cảm, gợi cho người đọc liên tưởng về hình ảnh khu vườn xanh non, giàu sức sống với vẻ đẹp tinh khôi, trong trẻo

 

1.0
Câu 4: Thiên nhiên và con người Vĩ Dạ lúc bình minh, Cảnh và người thôn Vĩ…. (Học sinh có thể đặt nhiều tiêu đề khác nhau tuy nhiên tiêu đề cần thể hiện được nội dung của đoạn thơ) 1.0

 

Phần II: Làm văn (6 điểm)

Nội dung Điểm
a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận

Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, biết tách đoạn trong phần thân bài, kết bài kết luận được vấn đề.

 

0,75
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận:

Thái độ sống tích cực của một cái Tôi ham sống đến cuồng nhiệt

0,5
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; thể hiện sự cảm nhận sâu sắc và vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng-

+ Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm

+ Cảm nhận khái quát về bài thơ: Vội vàng là lời giục giã hãy sống mãnh liệt, sống hết mình, hãy quý trọng từng giây từng phút của cuộc đời mình nhất là những năm tháng tuổi trẻ của một hòn thơ yêu đời, ham sống đến cuồng nhiệt.

+ Cảm nhận và phân tích đoạn thơ: Là đoạn thơ cuối, tiếp nối mạch cảm xúc mãnh liệt, dào dạt tuôn trào của một hồn thơ khát khao giao cảm với đời, say mê với vẻ đẹp của cuộc sống trần thế nhưng cũng chất chứa nhiều băn khoăn và lo âu về sự trôi chảy của thời gian; là lời giục giã cuống quýt chạy đua với thời gian.

 

+ Đoạn thơ thể hiện một cái Tôi cá nhân táo bạo và bản lĩnh (đại từ nhân xưng Ta, lặp lại cụm từ Ta muốn, hệ thống các động từ và tính từ mạnh)

+ Đánh giá thành công về mặt nghệ thuật: Hệ thống từ ngữ, giọng điệu, nhịp điệu thơ

+ Đoạn thơ thể hiện triết lí sống tích cực, cuồng nhiệt, say mê, chạy đua với thời gian quý trọng từng giây phút cuộc đời tuổi trẻ của Xuân Diệu khác với quan niệm “sống gấp” tiêu cực của một bộ phận giới trẻ hiện nay.

4.0

 

0.5

 

1.0

 

 

1.0

 

 

0.5

 

0.5

 

0.5

e. Chính tả, dùng từ, đặt câu. Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu. 0,75

Xem thêm :

  1. Tuyển tập đề thi Ngữ văn khối 10
  2. Tuyển tập đề thi Ngữ văn khối 11
  3. Tuyển tập đề thi Ngữ văn khối 12
  4. Tuyển tập đề thi , soạn bài Vội vàng

So sánh đoạn thơ trong Vội vàng- Xuân Diệu và Từ ấy -Tố Hữu

So sánh đoạn thơ trong Vội vàng- Xuân Diệu và Từ ấy -Tố Hữu.

Đề bài :

Nêu cảm nhận của anh (chị) về hai đoạn thơ sau :

“ Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn,

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Và non nước, và cây, và cỏ rạng,

Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,

Cho no nê thanh sắc của thời tươi,

– Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”

(Vội vàng Xuân Diệu)

“Tôi buộc lòng tôi với mọi người

Để tình trang trải với trăm nơi

Để hồn tôi với bao hồn khổ

Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời.

Tôi đã là con của vạn nhà

Là  em của vạn kiếp phôi pha

Là anh của vạn đầu em nhỏ

Không áo cơm, cù bất cù bơ…”

(Từ ấy Tố Hữu)

Định hướng cách giải quyết:

  1. Giới thiệu

Hai đoạn thơ trích từ hai bài thơ của hai tác giả đã nêu lên quan niệm sống tích cực, đẹp đẽ của một nhà thơ Mới và một nhà thơ cách mạng tiêu biểu nhất của nền thi ca Việt Nam hiện đại.

  1. Cảm nhận đoạn thơ trong bài thơ “Vội vàng” (Xuân Diệu)

– Về nội dung:  Quan niệm sống của Xuân Diệu xuất phát từ tình yêu cuộc sống, con người tha thiết và một cảm quan đặc biệt về thời gian. Vẻ đẹp cuộc sống trong cái nhìn của nhà thơ hiện ra với những hình ảnh vô cùng đẹp đẽ : mây đưa, gió lượn, cánh bướm, tình yêu, cỏ rạng ngời trong nắng. Nhà thơ đã nhân hoá những vẻ đẹp thiên nhiên đó để nó mang hương sắc của tuổi xuân, tuổi trẻ. Tuy nhiên, những vẻ đẹp ấy sẽ phai tàn cùng với sự trôi chảy của thời gian. Vì vậy, sống là phải chủ động, hết mình, đắm say, mãnh liệt, thức nhọn mọi giác quan để tận hưởng tất cả những vẻ đẹp của cuộc sống, của niềm vui, tình yêu và hạnh phúc. Chú ý phân tích các từ : ôm-riết-say- thâu-hôn-cắn và điệp từ ta muốn để thấy rõ cảm xúc ham hố, vồ vập cả nhà thơ trước vẻ đẹp cuộc sống trần gian.

– Về nghệ thuật: Góp phần thể hiện nội dung cảm xúc của đoạn thơ, nhà thơ đã sử dụng thành công những câu thơ tự do mang điệu nói, nhịp thơ dồn dập, lôi cuốn; cách sử dụng những động từ táo bạo, mới mẻ; phép lặp từ… để khắc hoạ ước muốn giao cảm tận độ vô biên của thi sĩ với cuộc sống.

  1. Cảm nhận đoạn thơ trong bài “Từ ấy” (Tố Hữu)

– Về nội dung: Quan niệm sống và cũng là quan niệm nghệ thuật của Tố Hữu thể hiện trong đoạn thơ là kết quả của sự giác ngộ lí tưởng cộng sản. Nó đã chỉ rõ con đường đời và con đường nghệ thuật của nhà thơ là phải đứng vào hàng ngũ những người lao động để gắn bó, cùng chiến đấu vì lí tưởng cộng sản. Tố Hữu quan niệm : sống là tự nguyện đặt cái “tôi” của mình trong mối quan hệ gắn bó với quần chúng nhân dân. Tâm hồn thi sĩ trải rộng với cuộc đời, cùng hoà nhịp, đồng cảm với những con người đau khổ như những người ruột thịt. Sống là chiến đấu, là hi sinh vì sự nghiệp cách mạng, vì quần chúng, nhân loại cần lao. (Chú ý phân tích các từ : “tôi buộc”, “tôi đã là con”, “là anh”, “là em”, “trăm nơi”, “hồn khổ”, “vạn nhà”, “kiếp phôi pha”…)

– Về nghệ thuật: Góp phần thể hiện nội dung cảm xúc của đoạn thơ, nhà thơ đã sử dụng thành công phép lặp, những từ ngữ giàu tính tạo hình, biểu cảm  ngôn ngữ thơ giàu nhạc điệu, nhịp thơ dồn dập, mạnh mẽ….

  1. Những điểm tương đồng và khác biệt của hai đoạn thơ

* Tương đồng:

– Hai đoạn thơ đều thể hiện quan niệm sống tích cực, đẹp đẽ của một thế hệ tuổi trẻ được thức tỉnh ý thức cá nhân, khát khao được khẳng định mình bằng một cuộc sống có ý nghĩa. Đó là lẽ sống cao đẹp của những con người gắn bó với cuộc đời, với nhân dân, đất nước.

– Hai nhà thơ đã vận dụng những thành tựu nghệ thuật của công cuộc hiện đại hóa thơ ca đương thời.

* Khác biệt:

– Đoạn thơ của Xuân Diệu thể hiện quan niệm sống của một nhà thơ Mới. Nó thể hiện sự  trân trọng của nhà thơ với vẻ đẹp  cuộc sống, tuổi trẻ, niềm vui, hạnh phúc ở cuộc đời. Đó là một quan niệm giàu giá trị nhân văn.

– Đoạn thơ của Tố Hữu nêu lên lẽ sống của một nhà thơ cách mạng đã nhận thức sâu sắc mối liên hệ giữa cá nhân mình với quần chúng lao khổ để chiến đấu vì một lí tưởng chung. Đó là lẽ sống cao đẹp của con người ưu tú khi được giác ngộ cách mạng.

Xem thêm :

  1. Tuyển tập những bài văn hay, soạn bài Vội Vàng– Xuân Diệu
  2. Tuyển tập những bài văn hay, soạn bài Từ ấy– Tố Hữu

 

Đề thi học sinh giỏi :Triết lí nhân sinh trong bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu

Đề bài : Triết lí nhân sinh trong bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu.

Đáp án :

Yêu cầu về kĩ năng trình bày (0,5 điểm)
Đảm bảo một văn bản nghị luận có bố cục rõ ràng, hợp lí; tổ chức sắp xếp ý một cách lôgic, chặt chẽ; diễn đạt trôi chảy, mạch lạc; chữ viết rõ ràng, cẩn thận; không quá ba lỗi chính tả, không mắc lỗi dùng từ cơ bản…
Yêu cầu về kiến thức (11,5 điểm)
1. Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm, và triết lý nhân sinh trong tác phẩm. (1,0 điểm)
2. Triết lý nhân sinh trong Vội vàng: (1,0 điểm)
Triết lý nhân sinh trong bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu là triết lý sống mãnh liệt, sống là tận huởng, tận hiến. Triết lý nhân sinh đó được tắm đẫm trong cảm xúc trữ tình thành một dòng tâm trạng sống động. Cụ thể:
a. Vẻ đẹp của thiên đường nơi trần thế: (2,5 điểm)
– Thiên nhiên là một khu vườn đầy xuân sắc, xuân tình, tuơi trẻ, đầy sức sống: “tuần tháng mật, hoa đồng nội…khúc tình si”→ nhà thơ đã phát hiện có một thiên đường ngay trên mặt đất này với những hoa thơm, trái ngọt của mùa xuân.
– Vẻ đẹp thiên đường trần thế là do chính con người tạo ra.
– Chính đối mắt “xanh non”, “biếc rờn” của nhà thơ mới đã khám phá, phát hiện ra vẻ đẹp kỳ diệu của thiên nhiên. Hưởng thụ thiên nhiên như hưởng thụ ái tình.
b. Trong cuộc sống trần thế, con người là đẹp nhất. Đặc biệt là trong độ tuổi trẻ và tình yêu: (2,5 điểm)
– Với Xuân Diệu, con người là chuẩn mực cho vẻ đẹp chứ không phải thiên nhiên là chuẩn mực cho vẻ đẹp của con người như thơ xưa.
– Nhà thơ đã sáng tạo ra những hình ảnh độc đáo, táo bạo “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”→ hưởng thụ thiên nhiên như hưởng thụ ái tình.
c. Con người phải biết tận huởng, sống hết mình với tuổi thanh xuân của mình: (2,5 điểm)
– Xuân Diệu là người rất nhạy cảm với bước đi của thời gian bởi chính nhà thơ ý thức được sâu sắc về giá trị của sự sống cá thể trong cuộc đời:
“Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại”.
→ Khát khao được sống sôi nổi, mãnh liệt, hết mình, tận hưởng phần ngon nhất của đời người: tuổi trẻ, tình yêu.
– Khát vọng sống đến vồ vập, cuống quýt: “ta muốn ôm’, “ta muốn riết”, “ta muốn say”, “ta muốn thâu”, “cho chếnh choáng”, “đã đầy”, “no nê”, “muốn cắn”…
3. Nghệ thuật: (1,0 điểm)
– Ngoài việc sử dụng các biện pháp nghệ thuật: sử dụng đại từ nhân xưng, động từ mạnh…
-Triết lí nhân sinh mới lạ của bài thơ còn biểu hiện qua việc sử dụng những hình ảnh biểu tượng: Mùa xuân – tuổi trẻ. Dùng các hình ảnh biểu tượng là thủ pháp nghệ thuật quan trọng của văn học lãn mạn. Mùa xuân là biểu tượng của hạnh phúc, tình yêu và tuổi trẻ…tình yêu là biểu tượng cho hạnh phúc thế gian. Con người không phải tìm hạnh phúc ở cõi Niết Bàn của phật hay nơi thiên đường của Chúa mà hạnh phúc khởi phát từ trong lòng người và tồn tại trên mặt đất.
4. Khái quát vấn đề: (1,0 điểm)
Triết lý nhân sinh trong bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu thể hiện rõ “cái tôi” của nhà thơ, một “cái tôi” điển hình cho thời đại thơ mới. Đó là một ý thức sâu sắc về giá trị đời sống cá thể (một ý thức nhân bản, nhân văn cao). Một niềm thiết tha với cuộc sống trần thế. Một khát khao mãnh liệt và một tâm thế sống cuồng nhiệt, tích cực.

Xem thêm :Tuyển tập đề thi học sinh giỏi môn văn

Tuyển tập đề thi về bài Vội Vàng

Đề thi học sinh giỏi về bài Vội Vàng- Xuân Diệu và Sóng- Xuân Quỳnh

Đề thi học sinh giỏi về bài Vội Vàng- Xuân Diệu và Sóng- Xuân Quỳnh

“Ngàn trái tim mang trong một trái tim” (Cảm xúc – Xuân Diệu)

“Em trở về đúng nghĩa trái tim em” (Tự hát – Xuân Quỳnh)

Đặc trưng nào của thơ đã được hai thi sĩ nhắc đến trong những ý thơ trên. Sự gặp gỡ và khác biệt của họ khi thể hiện đặc trưng ấy trong Vội vàngSóng?

Gợi ý:

  1. Giải thích

– Trái tim trong thơ là biểu tượng của tâm hồn.

+ Câu thơ của Xuân Diệu: muốn nhấn mạnh tâm hồn nhà thơ thật bao dung, nhân hậu không chỉ chứa đựng những tình cảm, những cảm xúc phong phú của riêng mình mà tập trung cho những buồn vui của cuộc đời rộng lớn, của số phận nhân loại.

+ Câu thơ của Xuân Quỳnh: muốn nói đến ước muốn sống chân thật với những khát vọng chân thành; tâm hồn nhà thơ xúc động mãnh liệt với những buồn vui, khổ đau hạnh phúc của mình, của đời “đúng nghĩa trái tim”.

– Học sinh có thể dựa vào lí luận đặc trưng của thơ để giải thích lí do sao hai câu thơ trên đều nói đến “trái tim”.

+ Đặc trưng của văn học là tình cảm. Văn học xuất phát từ tình cảm, từ tâm hồn tác giả tìm đến tâm hồn người đọc. Văn học cần sự đồng cảm, đồng điệu.

+ Nhà thơ, nhà văn phải biết sống chân thành, nhạy cảm với đời, với người thì tác phẩm của họ mới phong phú, giàu giá trị và tìm được sự đồng điệu trong tâm hồn người đọc.

  1. Chứng minh

Học sinh có thể phân tích hai tác phẩm và phát biểu những cảm nhận khác nhau nhưng phải xuất phát từ nội dung, tư tưởng chủ đề của tác phẩm và của đề thi.

Giống nhau

Cả hai nghệ sĩ đều trăn trở để làm sáng tỏ những điều sâu thẳm trong trái tim mình.

Khác nhau

*Vội vàng: Xuân Diệu muốn thể hiện điều sâu thẳm nhất trong tâm hồn mình đó là khát vọng sống mãnh liệt, một niềm ham sống vô biên, khao khát vô cùng.

– Ca ngợi cuộc sống muôn màu, muôn vẻ, hấp dẫn và quyến rũ.

– Ca ngợi tình yêu và tuổi trẻ.

– Giục giã vội vàng sống từng phút, từng giây, cố níu giữ thời gian cũng như niềm tiếc nuối mùa xuân, tuổi trẻ đều là biểu hiện của những khát vọng sống sâu xa trong trái tim của nhà thơ. Niềm khát sống ấy thể hiện qua cái nhìn của nhà thơ với hiện thực khách quan.

* Ở Sóng, Xuân Quỳnh muốn chứng minh một tình yêu vô bờ vừa truyền thống vừa hiện đại từ sâu thẳm trái tim của người phụ nữ.

– Nét đẹp truyền thống của người phụ nữ: đằm thắm, dịu dàng, hồn hậu, chung thuỷ.

– Nét đẹp hiện đại của người phụ nữ: táo bạo, mãnh liệt, dù có phấp phỏng lo âu trước cái vô tận của thời gian nhưng vẫn vững tin vào sức mạnh của tình yêu.

  1. Đánh giá

– Người sáng tác thơ cần có cảm xúc chân thành.

– Nhưng cách thể hiện cảm xúc của mỗi tác giả có thể khác nhau. Chính điều đó đã góp phần làm nên sự đa dạng, phong phú cho văn học.

– Người đọc khi tìm hiểu tác phẩm phải có sự đồng điệu với tâm hồn thi nhân

Xem thêm :

  1. Tuyển tập đề thi học sinh giỏi môn Văn
  2. Tuyển tập đề thi về bài Sóng Ngữ văn 12
  3. Tuyển tập đề thi về bài Vội vàng Ngữ văn 11