Bài văn phân tích nét đặc sắc truyện Vợ chồng A Phủ hay và đầy đủ

Phân tích đặc sắc truyện truyện Vợ Chồng A Phủ Ngữ văn lớp 12.

Bài văn mẫu hay và đầy đủ nhất.

Bài làm

Mở bài Vợ chồng A Phủ

Vợ Chồng A Phủ- Cổ tích và hiện thực.

Là một gương mặt rất tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại, Tô Hoài không chỉ đóng góp các tác phẩm nhiều vế số lượng, đa dạng về thể loại, giàu có về đề tài, phong phú và nhất quán về tư tưởng, mà còn góp vào nền văn xuôi một phong cách tự sự độc đáo. Nghiên cứu phong cách Tô Hoài, người ta đã nói đến sự hoà hợp giữa yếu tô phong tục với yếu tố hiện đại, giữa chất thơ với chất hồi kí, giữa một ngôn ngữ chân xác dân dã với một giọng trần thuật trầm tĩnh tinh thông và cũng không thiếu phần tinh quái… Tuy nhiên, sẽ là khiếm khuyết nếu như không để cập đến một sự hoà hợp khác đã tạo nên phong cách tự sự ấy: sự hoà hợp giữa yếu tố cổ tích và yếu tố hiện thực.

Thân bài

Trong phạm vi bài viết này, tôi không mô tả toàn bộ những biểu hiện của mối kết hợp ấy trong văn xuôi Tô Hoài nói chung. Quy mô ấy thuộc về một công trình khác, ở đây tôi chỉ chủ yếu trình bày những khảo sát từ Vợ chồng A phủ một văn phẩm hết sức tiêu biểu cho tự sự Tô Hoài để làm nổi bật sự hoà hợp độc đáo ấy mà thôi.

Chẳng có gì vô lí khi nói rằng: nhìn từ nhân vật và cốt truyện, Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài có dáng dấp một “cổ tích đời mới”. Mị và A Phủ dường như bước thẳng vào văn học hiện đại từ những truyện cổ miền núi. Họ gần gũi với những môtíp nhân vật quen thuộc trong văn học dân gian các dân tộc thiểu số. Nếu Mị thuộc kiểu nhân vật cô gái nghèo, thì A Phủ thuộc kiểu nhân vật người mổ côi. Mị là con dâu gạt nợ, còn A Phủ là đứa ờ trừ nợ. Trong những tác phẩm dân gian, hình tượng kiểu này thường được dựng theo một cấu trúc nghịch lí. Những cô gái nghèo kia thường có đủ mọi phẩm hạnh: xinh đẹp, giỏi giang, nết na. Họ chỉ thiếu có một thứ là Hạnh phúc. Và chỉ bởi một nguyên nhân: sinh ra phải cửa nhà nghèo. Còn những chàng mồ côi thường không có một cái gì hết: không cha mẹ, không nhà cửa, không sản nghiệp, không người thân thích, không nơi nương tựa… tóm lại, hoàn toàn “vô sản”. Nhưng lại có trong mình tất cả những phẩm chất tốt đẹp nhất của người lao động. Có tất cả mà lại không có gì cả, không có gì cả rồi lại có tất cả, đó là các phía khác nhau của nghịch lí ở họ. Nghịch lí này thể hiện mơ ước hạnh phúc nghìn đời của dân gian. Dĩ nhiên, để thực hiện ước mơ con người phải nhờ sự trợ giúp của các yếu tố kì diệu. Thường đó là những lực lượng siêu nhiên. Chúng thường biến cái không thể thành có thể. Mị và A Phủ phải sống trong địa ngục trần gian của nhà Thống lí Pá Tra ở Hổng Ngài, nhờ khát vọng sống mãnh liệt mà thoát được đến Phiềng Sa. Những tưởng đã tự do hạnh phúc. Nhưng chưa thoát hẳn kìm kẹp của phong kiến lại đã rơi ngay vào nanh vuốt của đế quốc. Vào lúc bế tắc nhất thì A Châu đã xuất hiện. Đây là yếu tồ kì diệu kiểu mới. Không phải ông tiên, ông bụt, hay vật có phép màu theo lối siêu nhiên, mà hoàn toàn hiện thực. A Châu dẫn dắt họ đấu tranh giành lại cuộc sống. Đến đây, họ mới thực sự được đổi đời. Dó chẳng phải chính là một kiểu kết thúc có hậu hay sao? Với môtíp nhân vật và cốt truyện như thế ta thấy Vợ chồng A Phủ không chỉ bắt rễ được vào đời sóng của người vùng cao mà đã thực sự hấp thu được tinh hoa của văn hoá nơi này. Rồi nhờ chúng hoà nhập được với môtíp đổi đời rất phổ biến áy của văn học cách mạng thời bấy giờ mà Vợ chồng A Phủ có được một sự hoà hợp: vừa mới mẻ hiện đại vừa đượm vẻ truyền thống.

Với một cái cốt như thế, tip nhân vật như thế, nếu lại được kể bằng hệ thõng thú pháp cổ tích nữa thì chắc chắn Vợ chồng A Phủ sẽ nhanh chóng gia nhập vào kho tàng truyện cổ tích Việt Nam. Tuy nhiên, tác phẩm có dáng dấp cổ tích chứ không phải cổ tích. Trước sau, Vợ chồng A Phủ vẫn cứ là một truyện ngắn hiện đại. Thành công trong việc mô tả đời sống hiện •hực lừ góc nhìn phong tục, mô tả một thế giới thiên nhiên đầy chất thơ và nhất  là thành công trong khác hoạ nhân vật kĩ lưỡng theo nguyên tắc hiện thực đã khiến cho các yếu tổ cổ tích mờ khuất đi, chìm sâu vào xương cốt của truyện. Nói một cách khác, nhờ hoá giải được yếu tố cổ tích và yếu tố hiện thực mà nó đã đồng hoá được những môtíp văn hoá xa xưa vào một diện mạo hiện đại. Hoi thở hiện đại trước sau vẫn là bầu sinh khí nhất quán dồi dào trùm khắp cả thiên truyện.

Được như thế một phần rất lớn là nhờ Tô Hoài đã dụng công mô tả nhân vật tuân theo cái lôgíc hiện thực của nó. Đúng vậy, tạo nên diện mạo hiện đại không chỉ nhờ sự dồi dào của những chi tiết chân thực mà quan trong hơn chính là cái lôgíc hiện thực bao trùm đó. Không thể không thấy thành công này của Tô Hoài trên cả hai tuyến nhân vật trong truyện.

Tuy là hai nhân vật thuộc tuyến phản diện, thực chất thống lí Pá Tra và A Sử chỉ là một, kẻ này là hậu thân của kẻ kia, chúng đều là hiện thân của cái ác. Người đọc dễ dàng liên tưởng đến những điển hình phản diện ở miền xuỏi của văn học hiện thực phê phán như Nghị Lại (của Nguyễn Công Hoan), Nghị Ọuế (của Ngô Tất Tố), Nghị Hách (của Vũ Trọng Phụng), Bá Kiến (của Nam Cao)… mà thấy rằng Tô Hoài đã góp thêm một điển hình của miền núi để hoàn thiện bộ sưu tập phản diện ấy. Là một thông lí, một lãnh chúa ở vung cao, cha con Pá Tra vừa là hậu sinh của đám quan lang tù trưởng độc ác trong cổ tích, vừa chính là người anh em của những điển hình  ghê sợ nói trên. Tuy vậy, người đọc vẫn thấy rằng: dù cùng một huyết thống, nhưng so với những tiền nhân kia, cha con Pá Tra vẫn có gì khiến ta rùng mình hơn. Không hẳn do những thủ đoạn tàn ác dã man trong lối nô dịch hoá con người của chúng Cũng không hẳn do cái vẻ hoang dã dị mọ của chúng. Có lẽ chủ yếu là do cái cung cách làm việc ác đã đến mức thản nhiên lạnh lùng của cha con tên chúa đất này. Chúng làm việc ác cũng như việc thiện. Thiện ác không còn ranh giới trong ý niệm của mỗi đứa. Khi người ta có thể làm việc ác một cách thản thiên lạnh lùng, đó là khi cái ác đã ngấm vào trong máu. Nhân tính đã hoàn toàn thành thú tính. Đó chẳng phải là một thành công rất đáng kể của ngòi bút Tô Hoài sao? Ta đã chứng kiến hàng loạt hành vi ghê rợn: chúng có thể vừa hút thuốc phiện vừa tra tấn người, vừa ăn uống vừa tiêu khiển bằng cách thưởng thức cảnh hành hạ con người, có thể co chân đạp thẳng vào mặt vợ, có thể trói và bỏ đói một người lực lưỡng ngoài trời sương muối cho đến tiểu tuỵ, đến chết rũ xương… Chỉ riêng cách A Sử trói Mị thôi cũng đủ ớn người. Chưa có người chồng nào lại trói vợ cẩn thận và chu đáo như A Sử . Cứ như hắn đang bó một bó củi, đang trói, đang xích một con chó, vậy thôi. Trói vợ, trang điểm (sửa cái vòng bạc trên cổ có những tua chí xanh đỏ, thắt lại cái thắt lưng có cái  khóa bằng bạc ,tắt đèn, khép cửa., đi chơi hội. Đó là một chuỗi việc làm của A Sử. Thế cả. Như nhau. Không phân biệt. Không bận lòng. Thà cứ hầm hầm tức giận, thì ít nhiều nó còn có tính người. Đáng này, không. Không mảy may xúc động. Cứ bình tĩnh. Cứ thản nhiên. Cứ lạnh tanh. Thật kinh khủng! Phải thừa nhận rằng: dù dùng môtíp đã quen thuộc và có phần công thức của truyện cổ dân gian, nhưng nhờ hết sức chân thực trong chi tiết và hết sức hợp lí trong mạch vận động mà Tô Hoài đã tạo được ấn tượng cực kì sâu đậm khi mô tả chân tướng cái ác ở đây. Hình tượng, vì thế, có một sức sống thật độc đáo.

Song, truyện ngắn này là Vợ chồng A Phủ. Trung tâm của nó vẫn phải là cặp nhân vật chính diện đó. Nhất là Mị, đây mới là linh hồn của tác phẩm, nơi tập trung nhiều nhất tinh lực của ngòi bút Tô Hoài. Nói Tô Hoài đã tuân thủ nghiêm nhặt lôgíc hiện thực trong khắc hoạ hình tượng, thì chù yếu là ở nữ nhân vật này. Mà thật lạ lùng, lôgíc ấy lại là những cặp nghịch lí, cùng với những vận động biện chứng đến lắt léo của nó. Không cần đọc kĩ lắm cũng có thể thấy rằng: một mặt, Mị cam chịu, nhẫn nhục đến bạc nhược; mặt khác, Mị lại kiên gan quyết liệt đến bướng bỉnh. Hai mặt phản trái nhưng lại giải thích cho nhau. Như một cây rừng héo úa tàn rụi, nhưng sâu trong mao mạch của thân, nhựa vẫn chảy thầm. Vừa có cái gì chết mòn , chết mỏi đi, vừa có cái gì không chịu chết hẳn. Không có một con người bên trong vẫn mạnh mẽ, mãnh liệt, khống thể giải thích cho thoả đáng vì sao khi gặp cơ hội, Mị lại có thể nổi loạn được. Song, oái oăm hơn cả, khó thấy hơn cả vẫn là nghịch lí sau: những lúc thèm sống nhất, Mị chỉ muốn chết; khi không tưởng đến cái chết nữa chỉnh là lúc Mị chán sống cùng cực. Cấu trúc nghịch lí này với những chuyển hoá tinh vi của nó chính là lôgíc độc đáo của tính cách Mị. Không nghiên cứu và am hiểu sâu sắc thế giới tinh thần của người phụ nữ, không tôn trọng tính phức tạp như là chân tướng vốn dĩ của bản thân hiện thực và tính cách, Tô Hoài khó đạt được thành công này.

Trước đến nay, đề cập đến nhân vật MỊ là người ta nghĩ ngay đến sức sống tiềm tàng và thường chỉ chú trọng hai sự kiện về sau là mùa xuân đến và giải thoát cho A Phủ. Thực ra, hình tượng Mị sẽ là phi lôgíc, phi hiện  thực, nếu thiếu đi hai sự kiện trước đó: từ chối cuộc hôn nhân và toan tự tử. Phải qua một chuỗi bốn sự kiện: 1 – Từ chối hôn nhân, 2 -toan tự tử, 3 – Thèm đi hội, 4 – Cứu A Phủ, ta mới thấy đầy đủ lôgíc hiện thực ẩn bên trong hình tượng này.

Người đọc đã trông thấy Mị khi trang sách mới mở ra: một dáng điệu chất chứa bi kịch – ngồi quay sợi gai trên tảng đá, lúc nào cũng cúi mặt, không nói, buồn rười rượi. Một dáng điệu sẽ đổ bóng xuống toàn bộ thiên truyện. Nhưng lời nói đầu tiên của Mị mà người đọc nghe được trong thiên truyện lại là lời từ chối cuộc hôn nhân. Khi thống lí Pá Tra đến gạ bô Mị gả con gái cho con trai hắn, thì Mị đã bảo bố rằng: “Con nay đã biết cuốc nương làm ngô, con phải làm nương ngô giả nợ thay cho bố. Bố đừng bán con cho nhà giàu”. Câu nói ấy đã cho người đọc biết Mị là ai. Thực ra, cách nghĩ của Mị là một ảo tưởng. Không cần từng trải lắm cũng có thể thấy là không thể. Cả bố và mẹ Mị, hai nhân lực làm quần quật suốt một đòi còn không trả nổi, huống chi một mình Mị. Nhưng ảo tưởng ấy lại thể hiện một niềm tự tin của tuổi trẻ trong Mị. Niềm tin chỉ có ở một sức sống mãnh liệt. Mặt khác, trong cách nghĩ của Mị chứa đựng một lựa chọn dứt khoát, ngang bướng: thà làm việc cực nhọc trên nương rẫy mà được tự do, còn hơn làm dâu cho nhà giàu mà phải thành nô lệ. Mị sẵn sàng đánh đổi; thà nhọc nhằn còn hơn nhục nhằn. Không tha thiết vói tự do, làm sao MỊ có thể nói thẳng băng như vậy. Lời nói ấy cũng cho thấy Mị quyết phản ứng với cái tình thế mà số phận đang dồn đẩy mình vào. Lựa chọn một ngôn ngữ nhân vật như thế, Tô Hoài đã bám rất sát lôgíc bên trong của hình tượng mình đang khắc hoạ. Bởi đây chính là cái mầm sẽ mọc thành cả một cái cây sum suê sau này.

Nhưng tất cả dã an bài. MỊ không cưỡng lại được. Mị buộc phải thành con dâu gạt nợ rồi. Sau khi bị bắt về nhà Thông lí. theo lối cướp dâu, Mị đã cố chịu, mà không chịu nổi. Nhà Thống lí là một địa ngục trần gian. Mị không có quyển làm người, chi có quyền duy nhất: quyển làm việc, quyền làm nô lệ, quyền làm trâu ngựa. Mị quyết định tự tử. Đây là lần đầu tiên, ngòi bút Tô Hoài lách sâu vào cái nghịch lí phức tạp của tâm lí nữ giới trong Mị. Nhìn bề ngoài, tự tử là hành vi liêu cực của kẻ chán đời, chán sống. Nhưng thực chất, nó chì là biểu hiện lộn ngược của lòng yêu đời. Nó cho thấy lựu chọn cực đoan của Mị: Thà được chết như một con người còn hơn phải sống như một con vật. Cực đoan này chỉ có ở những người giàu tự trọng, có ý thức rất cao về cuộc sống cũng như phẩm giá của mình. Cho nên nó chính là hành vi của sức sống mãnh liệt. Thế nhưng, Mị đã thành nạn nhân của tình thế bi đát: sống thì không muốn, chết lại không được. Lòng hiếu thuận không cho phép Mị chết. Giống như Thuý Kiều hai trăm năm trước, lựa chọn của Mị về thực chất cũng là bán mình chuộc cha. Không được chết, Mị đành phải sống. Nhưng, Mị sẽ sống như một người đã chết: đào sâu chôn chặt mối tình đầu, từ bỏ tất cả, không trông chờ, không hi vọng, không phản ứng, không giao lưu, không đoái hoài cả đến thời gian lẫn không gian… Câm lặng như một cái bóng, lùi lũi như con rùa nuôi ở xó cửa. Thân xác héo hon, tinh thần tàn lụi. Với Mị, sống chỉ còn có một nghĩa, đó là kéo dài những ngày chưa chết mà thôi. Rõ ràng, không tính đến sự kiện từ chối hôn nhân và toan tự tử đó, không thể thấy hết cái cấu trúc nghịch lí của hình tượng này.

Tôn trọng nguyên tắc hiện thực, Tô Hoài đã thể hiện kĩ  tác động của môi trường, của hoàn cảnh đến con người Mị. Công việc lao dộng khổ sai triền miên bất tận làm tê liệt ý thức làm người. Đánh đập, giày xéo, hành hạ làm tiêu tan dần ý thức phẩm giá. Cấm đoán, giam hãm để bóp nghẹt mọi nhu cầu sống. Dùng bóng ma của thần quyền như một  cái bóng đè để hù doạ và ức hiếp niềm tự tin, triệt tiêu tinh thần phản kháng… Địa ngục trần gian cứ ngày một ngày hai giết dần giết mòn phần Người trong Mị. Diễn tả quá trình này, Tô Hoài đã chạm đến những mạch ngầm hết sức tinh vi và tế nhị của tâm hồn người đàn bà. Căn phòng chật chội, tăm tối, ngột ngạt MỊ ở, về thực chất chỉ là cái nhà tù, giam cầm tuổi xuân của Mị, thậm chí, là cái nhà mồ, chôn sống tuổi xuân của Mị. Mị cũng không thiết. Nhu cầu giao lưu vui sống, nhu cầu làm đẹp rất đặc trưng của phái nữ ở MỊ cứ chết dần. Mị cũng không màng. Như thế, không biết vô tình hay cố ý mà ngòi bút Tô Hoài đã làm hiện lên một quy luật: khi niềm thiết tha với cuộc sống mất đi, nó cũng cuốn theo luôn cả một phần nữ tính?

Dầu vậy, khát vọng sống trong Mị chưa bao giờ tắt hẳn. Nó vẫn âm ỉ cháy đâu đó đằng sau cái dáng lầm lũi câm lặng của Mị. Mầm lửa ấy gặp được cơn gió lành tất sẽ bùng lên. Và, nó đã bùng lên lần thứ nhất trong câu chuyện này khi mùa xuân ấy đến. Thèm đi chơi hội là một sự kiện được ngòi bút tự sự đầy chất thơ của Tô Hoài mô tả rất chu đáo. Nếu hoàn cảnh phi nhân tính đã khiến cho Mị héo hắt là một tác dộng hiện thực, thì những yếu tố nhân văn đây đó của môi trường xung quanh làm hồi sinh dần dần những gì tưởng dã chết trong Mị, lại là một tác động hiện thực khác. Tô Hoài diễn tả ca hai chiều này khá đều tay. Mà xem ra, vế sau có phần sắc nét hơn. Ông ít dùng lối phân tích tâm lí trực tiếp bằng những độc thoại nội tâm triền miên kiểu Nam Cao. Biện pháp tự sự được tác giả Tô Hoài dùng nhiều hơn cả là ngoại hiện.

Thiên nhiên ở Hồng Ngài hồi xuân, lòng Mị cũng dần dần hồi sinh. Cõi lòng băng giá của Mị cứ tan băng, cứ ấm dần theo từng tác động cùa nắng xuân, của màu sắc biến ảo ở hoa thuốc phiện trên nương, của ánh trăng đêm hò hẹn ngoài nương, của ánh trăng đêm hò hẹn ngoài rừng, của tiếng khèn, tiếng sáo, tiếng hát gọi bạn tình của trai gái ngoài kia… Có lẽ sau bao nhiêu năm, hình ảnh “trong các làng Mèo đỏ, những chiếc váy hoa đã đem ra phơi trên mỏm đá xoè như những cánh bướm sặc sỡ” lại mới lọt vào mắt Mị.Ấn tượng mạnh về chiếc váy hoa sặc sỡ cho thấy nhu cầu làm đẹp đã chết từ lâu đang trở về trong cô gái héo mòn này. Và trong sâu thảm lòng Mị vẫn có một tiếng hát, mà không có thứ đòn roi cường quyền nào, không có bóng ma thần quyền nào có thể hủy diệt được. Tiếng hát trong hồn người vốn là một sự kết tinh kì diệu của sức sống con người. Bị vùi sâu chôn chặt tận đáy lòng bao năm, nay tiếng hát ấy đang cựa mình thức dậy. “Mị ngồi nhẩm thầm bài hát của người đang thổi”. Nhu cầu giao cảm, giao lưu, nhu cầu sống đang trở về. Khát vọng sống bừng dậy thì nữ tính cũng hồi sinh. Phần nữ tính đã về lại nguyên vẹn trong Mị chính là điểm sâu sắc nhất của cuộc hồi sinh này. Không khí tấp nập, ồn ào của bữa cơm ngày tết, cảnh uống rượu, cảnh người đi chơi… cứ làm lòng Mị phơi phới trở lại, càng lúc càng rạo rực lên, cồn cào lên. Mị lại sống với thời gian và không gian thực tại. Trong này là địa ngục trần gian ngoài kia là thiên đường tuổi trẻ. Cảm nhận về hiện tại cay đắng đi liền với hồi ức về quá khứ hạnh phúc (“Lòng Mị thì đang sống về ngày trước”). Cả hai cứ đan chéo nhau trong Mị. Tâm trạng bị xúc động mạnh của Mị hiện ra thành những hành vi và ý tưởng kì dị. “Mị lén lấy hũ rượu, cứ uống ực từng bát một” (về điểm này, đáng tiếc là, không ít bản cứ in nhầm thành “uống ừng ực”). Chỗ tinh vi chính là “uống ực từng bát một”. Bởi đó không còn là uống rượu. Đó thực chất là một cách nuốt cay đắng tủi cực vào trong lòng, một dạng phẫn đời, hận đời, phá phách mình một cách mù quáng. Tô Hoài đã thực sự là một người dò la được vào những uẩn khúc tế vi của tâm hồn người phụ nữ khi cho nhân vật cất lên những tiếng nổi bên trong: “Mị trẻ lắm, MỊ vẫn còn trẻ”. Khi một người đàn bà không thiết sống, không còn chút đoái hoài nào đến chính mình, bỗng dưng lại nhận ra mình còn trẻ lắm, thì đó là môt cảm xúc bi kịch. Người ấy đang bị giày vò, hành hạ. Người ấy đang cay đắng nhận ra hiện tại khốn cùng mà oan uổng của bản thân mình, đang chua xót cho thân mình và oán hận, phẫn uất vói số kiếp của mình. Ấy là lúc lòng ham sống đã trở về mạnh mẽ. Nó rọi vào hiện tại của họ một cái nhìn sắc nhọn, bỏng rát, nó xé toang tất cả. Nó khiến họ nhận ra thực tại thê thảm của mình. Đỉnh điểm của bi kịch lúc này chính là “Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay”. Thế đấy, những lúc thèm sống như một con người, Mị chỉ muốn chết ngay lập tức. Có còn thứ nghịch lí nào biện chứng hơn thế nữa không?

Nhưng tiếng sáo rập rờn bên ngoài như tiếng gọi thiết tha của sự sống, của hạnh phúc, của tự do đã kéo Mị ra khỏi cái thời khắc bi kịch nhất của lòng mình. Mị thèm đi chơi hội. Mị xắn miếng mỡ bỏ vào đĩa đèn cho ngọn đèn sáng hơn. Mị vấn lại tóc, nhất là cử chỉ Mị tìm “cái váy hoa vắt ở phía trong vách” – có lẽ từ khi về làm dâu đến giờ nó chưa từng được mặc đến, đèn sáng hơn, nhu cầu làm đẹp tắt đi, nó cũng bị bỏ quên trong xó tối. Tuy nhiên lòng ham sống của Mị lập tức bị trả giá. MỊ bị A Sử trói đứng vào cột nhà. Thế là, ngọn đèn vừa sáng lên, liền bị dập tắt. Sau cái vố kinh hoàng này, người đọc nghĩ rằng nó có thể tắt hẳn.

Dĩ nhiên là không hoàn toàn tắt hẳn. Trước khi đề cập sự kiện cuối cùng, không thể không dành một chút thời gian ghi nhận một khía cạnh tinh vi khác trong việc thể hiện cái lôgíc hiện thực trong hình tượng nhân vật của Tô Hoài. Không biết bằng khả năng đồng cảm hay bằng những quan sát nghiên cứu hiện thực kĩ lưỡng, mà tác giả còn mô tả được một mất mát tất yếu khác nữa ở trong Mị: lòng thương người. Còn gì đáng sợ cho bằng, khi ở người phụ nữ, sự nhạy cảm với nỗi khốn khổ của người khác bỗng dưng bị tê liệt? Chẳng phải bị giày xéo cùng cực những phần Người tốt đẹp nhất Mị cứ mai một dần sao? Mất đi tình thương, chẳng phải là mất mát cuối cùng, mất mát lớn nhất ở một người phụ nữ sao? Tác giả diễn tả sự mất mát tình thương ở Mị hợp lí bao nhiêu, thì thể hiện sự hồi sinh của tình thương ấy khi Mị cứu A Phủ lại thuyết phục bấy nhiêu. Nếu xem Mị có một sức sống tiềm tàng, thì sự vụt dậy của tình thương này đã châm ngòi làm bùng lên sức mạnh ấy. Lôgíc hiện thực của tính cách Mị đang được tái hiện với những mạch vận động biện chứng nhất của nó.

Đêm nào Mị ra cời than hơ tay chẳng thấy A Phủ bị trói thế, chẳng nghe tiếng thở phè phè của A Phủ thế. “Nhưng Mị vẫn thản nhiên thổi lửa, hơ tay”. “Nếu là cái xác chết đứng đấy, cũng thế thôi”. Nỗi khổ của kẻ khác không còn khiến Mị động lòng. Lòng Mị đã chết. Nhưng hôm nay thì khác. Đúng lúc Mị lé mắt nhìn sang thì thấy “một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hõm má đã xám đen lại” của A Phủ. Giọt nước mắt yếu đuối của phái mạnh lại nhen lên sức mạnh của phái yếu. Đó chẳng phải là một quy luật kì diệu của sự sống này? Mị liền nhận ra đó chính là những giọt nước mắt cay cực, bất lực và tuyệt vọng của một con người. Tình thương đã cất lên trong Mị một lời độc thoại: … cơ chừng này chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết rét, chết đói, phải chết. Ấy là lời độc thoại của một con người trước một con người. Nghe kĩ, ta còn thấy trong đó lời độc thoại khác, độc thoại của một người đàn bà trước một người đàn ông. Mị đang ý thức về tình thế khốn cùng và sự yếu đuối đàn bà của bản thân cũng như nỗi cùng đường đầy oan uổng của một người đàn ông vốn mạnh mẽ cường tráng nhất Hồng Ngài: “Ta là thân đàn bà, nó đã bắt về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi… Người kia việc gì phải chết thế, A Phủ”. Có thể nói đó là lời chất vấn đối với thực tại tàn bạo và bất công. Khi người đàn bà vốn cam chịu bỗng ném vào bóng tối một câu hỏi như thế là khỏi đầu cho một cuộc nổi loạn. Trong phút chốc, chúng ta thấy có một sự biến đổi kì lạ trong Mị, mà tác giả của nó chính là tình thương. Phải, chính tình thương đã biến Mị từ một người cam chịu thành một người liều lĩnh, từ một người đàn bà nô lệ thành một người đàn bà nổi loạn. Ý nghĩ cứu A Phủ đến với Mị chính vào lúc đó. Và mới chỉ nảy sinh ý định cứu người thôi, cứu A Phủ, nghĩa là tình thương đã lập tức biến thành hành động. Sau khi dây trói đứt hết. A Phủ bỗng khuỵu xuống rồi lại quật sức vùng lên, chạy, thì người đàn bà đơn độc ấy mới thương bản thân mình. Ý nghĩ cứu mình lúc này mới đến với Mị. Mị nói nhanh: “A Phủ cho tôi đi”. Lúc trước chỉ thương người, giờ mới là thương mình. Hành động của Mị như thế trước sau chỉ tuân theo một lôgíc thôi: lôgíc của tình thương, ở đây có một diễn biến rất thú vị. Ngay lúc trước, nghĩ đến cái chết (cha con Thống lí biết Mị cứu A Phủ tất sẽ trói Mị cho đến chết). Mị không sợ. Không sợ chết là biểu hiện của một sức sống mãnh liệt đã lấn át hoàn toàn nỗi chết. Lúc này, A Phủ vừa chạy rồi, ta lại thấy Mị nói với theo A Phủ: “ở đây thì chết mất”. Té ra, Mị lại sợ chết. Tự mâu thuẫn quá chăng? Phi lí quá chăng? Không. Chính nỗi sợ chết này là tiếng nói hồn nhiên nhất của một lòng ham sống, của niềm thiết tha với cuộc sống. Nghĩa là sau nhiều diễn biến phức tạp đầy mâu thuẫn và nghịch lí, nó đã trở thành nguyên dạng, đầy đủ và chính đáng. Đặc sắc của tự sự Tô Hoài trong tác phẩm này chính là ở đấy. Hai người nô lệ vừa thoát khỏi xích xiềng, vội dìu nhau lao vào bóng tối. Đương nhiên, không giống như bóng tối trùm lên đời chị Dậu của Ngô Tất Tố. Vì họ tin rằng mình sẽ đi xuyên bóng tối ấy. Bên kia bóng tối là tự do. Dù có là ảo tưởng đi nữa, thì trong tình thế ngặt nghèo này, họ dứt khoát phải thế. Đấy cũng là một lôgíc.

Đáng tiếc là khi chuyển thành phim Vợ chồng A Phủ, chính Tô Hoài đã lí giải hành vi cứu A Phủ của Mị chủ yếu xuất phát từ tình yêu. Đành rằng từ truyện sang phim là hai sáng tạo khác nhau, chứa đựng những quan niệm cũng khác nhau, và trong cuộc đời có thể có những động cơ như vậy. Nhưng trong tác phẩm như thế này, nhất là trong lôgíc hiện thực của hình tượng nhân vật Mị, lí giải như thế tính thuyết phục giảm đi rất nhiều. Chẳng những nó làm giảm đi nét cao quý trong hành vi hoàn toàn vị tha của MỊ, mà nó còn vi phạm đến mạch vận động biện chứng mà ngòi bút tác giả luôn tuân thủ.

Kết luận

Dầu sao, chỉ dừng lại ở phần Mị thoát khỏi Hồng Ngài không thôi cũng đủ thấy chiều sâu hiện thực đã đem lại sức sống hiện đại cho những môtíp  cổ tích như thế nào. Một bút lực tự sự dồi dào đã khiến cho những yếu tố cổ tích kia tìm được một dạng thức tồn tại rất hiện đại. Nó chứng tỏ Tô Hoài  đã làm giàu nghệ thuật của mình bằng việc chủ động hấp thu tinh hoa văn hoá truyền thống dân tộc để sáng tạo ra những giá trị mới. Từ Vợ chồng A Phủ ta có thể thấy một cơ chế tương tự trong việc hoá giải yếu tố cổ tích với yếu tố hiện đại trong tự sự Tô Hoài ở hàng loạt tác phẩm khác của ông như Miền Tây, Mười năm, Đảo dưa đỏ v.v… Nhất là những truyện đồng thoại mà đứng đầu là Dế Mèn phiêu lưu kí và loạt truyện cổ tích viết theo lối mới gần đây. Nó thực sự trở thành một nét đặc sắc trong tự sự Tô Hoài.

TS. Chu Văn Sơn

Núi Bò, 1990 – Văn Chỉ, 1992

 

Bài văn Phân tích tác phẩm Vợ Chồng A phủ- đầy đủ và chi tiết

Đề bài : Cảm nhận của anh/ chị về truyện ngắn Vợ Chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài

Bài văn mẫu tham khảo

Giới thiệu chung

Cuối năm 1952, nhà văn Tô Hoài đi yới bộ đội trong chiến dịch Tây Bắc. Sau khi tìm hiểu chung, Tô Hoài quyết định đi sâu vào những khu du kích của đồng bào các dân tộc thiểu số trên vùng núi cao. Chuyến đi kéo dài tám tháng đã để lại những ấn tượng sâu sắc và tình cảm tốt  đẹp cho nhà văn. Tô Hoài kể lại: “Cái kế quả lớn nhất và trước nhất của chuyến đi tám tháng ấy là đất nước và con người miền Tây đã để thương để nhớ cho tôi nhiều quá, tôi không thể bao giờ quên. Tôi không thể bao giờ quên được lúc vợ chồng A Phủ tiễn tôi tại dốc núi làng Tà Sùa rồi cùng vẫy tay gọi theo : “Chéo lù ! Chéo lù !” (Trở lại ! Trở lại !). Không bao giờ tôi quên được lúc vợ chồng Lý Nủ Chu tiễn chúng tôi dưới chân núi Cao Phạ cũng vẫy tay kêu : “Chéo lù ! Chéo lù !”. Hai tiếng : “Trở lại ! Trở lại !” chẳng những nhắc tôi có ngày trở lại, phải đem trở lại cho những người thương ấy của tôi một kỷ niệm tấm lòng mình, một cái gì làm thể hiện lại cả cuộc đời người Mèo trung thực, chí tình, dù gian nan thế nào bao giờ cũng đợi cán bộ, đợi bộ đội, bao giờ cũng mong anh em trở lại Hình ảnh Tây Bắc đau thương dũng cảm lúc nào cũng thành nét, thành người, thành việc trong tâm trí tôi […]. Ý thiết tha với đề tài này là một lẽ quyết định. Vì thế tôi viết Truyện Tây Bắc.

Truyện Tây Bắc gồm ba truyện (Cứu đất cứu mường, Mường Giơn và Vợ chồng A Phủ) viết năm 1953, ngay sau chuyến thâm nhập thực tế Tây Bắc của tác giả. Tập truyện này được trao Giải Nhất giải thưởng của Hội Vần nghệ Việt Nam năm 1954-1955.  .

Vợ chồng A Phủ là truyện ngắn đặc sắc nhất trong tập Truyện Tây Bắc, cũng là một trong những truyện ngắn hay nhất của văn xuôi Việt Nam giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp. Tác phẩm là bức tranh chân thực về cuộc sống và số phận đau khổ của người nông dân nghèo miền núi dưới ách áp bức của các thế lực phong kiến và thực dân, đồng thời là một bài ca về sức sống và khát vọng tự đo của con người miền núi, là hình ảnh con đường giải phóng và cuộc đổi đời của họ trước Cách mạng.

Dưới đây chỉ phân tích nửa đầu của truyện : quãng đời ở Hồng Ngài của Mị và A Phủ, đây cũng là phần thành công hom cả của tác phẩm. Trong phần này, tác giả tập trung giới thiệu và miêu tả vể cuộc sống và số phận của hai nhân vật chính : Mị và A Phủ, thể hiện sức sống tiềm tàng và sự gặp gỡ của hai con người cùng một cảnh ngộ nô lệ.

Mị và cuộc đồi làm dâu gạt nợ trong nhà Pá Tra

Mị xuất hiện ngay trong mấy dòng đầu của truyện. Tô Hoài sử dụng thủ pháp miêu tả phác hoạ ngoại hình để gợi mơ nội tâm nhân vật và đặt nhân vật trong sự  đối lập với khung cảnh xung quanh giữa cảnh giàu có, tấp nập của nhà thống lý pá Tra “nhiều nương, nhiều bạc, nhiều thuốc phiện nhất làng” thì  Mị luôn được đặt ở vị trí cạnh tảng đá và bên tàu ngựa. MỊ như gắn vào với những cảnh vật ấy  tạo nên một cảnh sống riêng, cái mảng im lìm, tăm tối, cực nhoc của kiếp sống đoạ đày, nó phơi bày ra bên cạnh cái giàu sang, tấp nập của nhà thống lý, nhưng chính nó là một phần trong bức tranh trọn vẹn của nhà thống lý. Chân dung nhân vật được khắc hoạ bằng một nét đậm : “Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên, cỏ ấy cũng cúi mật, mặt buồn rười rượi

Sau khi đã giới thiệu nhân vật bằng một vài nét phác hoạ chân dung gây chú ýcho người đọc, tác giả mới kể lại câu chuyên Mị-về làm dâu gạt nợ cho nhà Pá Tra

Mị là cô gái trẻ, đẹp và giàu lòng yêu đời, lại chăm chỉ và hiếu thảo. Mị đang sống những ngày tươi đẹp của tuổi yêu đương, dù trong cảnh nghèo khó. Không ít chàng trai đã theo đuổi cô gái nghèo ấy. Mùa xuân đến, Mị đang sổng trong niềm sung sướng hồi hộp chờ nghe tiếng sáo quen thuộc của người yêu. chính trong một đêm xuân như thế, Mị đã bị bắt cóc vế làm dâu gạt nợ cho nhù thống lý Pá Tra. Nguyên do chỉ vì món nợ truyền kiếp của bố mẹ Mị. Ngày trước hai người lấy nhau, không có tiền cưới, phải đến vay tiến thống lý, bố của Pá Tra. Mị phải mang món nợ truyền kiếp ấy như một thứ “tội tổ tông” của người nghèo, từ lúc sinh ra đời ! Tô Hoài đã tố cáo một hình thức bóc lột phổ biến của bọn phong kiến ờ miền núi cũng như ở miền xuôi ; nạn cho vay nặng lãi. Nó đã cột chặt bao nhiêu người nghèo vào số phận nô lộ, phụ thuộc vào bọn chủ nợ giàu có.

Tĩong thời gian đầu bị bắt về làm vợ A Sử, Mị đã phản kháng quyết liệt : hàng mấy tháng ròng, đêm nào Mị cũng khóc, rồi MỊ định tự tử bằng lá ngón. Nhưng có chết thì món nơ vẫn còn. Bố già còn khổ hơn bao nhiêu lần bây giờ. Thế la Mị không đành lòng chết.

Những năm tháng làm dâu trong nhà Pá Tra là một chuỗi dài triền miên những cực nhọc vất vả nối tiếp không dứt đến mức dường như đã làm tê liệt cả ý thức về bản thân và những mong muốn thay đổi số phận ở MỊ. “Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi. Bây giờ thì MỊ tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa, là con ngựa phải đổi ở cái tàu ngựa nhà này đến ở cái tàu ngựa nhà khác, ngựa chỉ biết việc ăn cỏ, biết đi làm mà thôi”. Củng cố thêm cái ách áp bức nặng nể ấy còn là sự áp chế về tinh thần bởi mê tín, thần quyền. Mị bị ràng buộc bởi ý nghĩ rằng bố con Pá Tra đã “trình ma”, mình đã là người nhà nó thì chỉ còn biết ở cho đến lúc chết rũ xác trong nhà nó mà thôi. Chân dung Mị được khắc đậm một nét này : “cúi mặt không nghĩ ngợi nữa”, “Mỗi ngày MỊ càng không nói, lùi lũi nhu một con rùa nuôi trong xó cửa”, lúc nào cũng “cúi mặt, mặt buồn rười rượi”. Căn buồng Mị nằm lúc nào cũng âm u, chạng vạng với cái cửa sổ “một lỗ vuông bằng bàn tay” là một biểu tượng gắn với cuộc đòi nhân vật. Cái cửa sổ “Lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay nắng. Mị nghĩ rằng mình đành ngồi trong cái lỗ vuông ấy mà trông ra, đến bao giờ chết thì thôi”. Thậm chí MỊ cũng khổng có ý nghĩ về cái chết nữa : “Lần lần, mấy năm qua, mấy năm sau, bố Mị chết. Nhưng Mị cũng không còn tưởng đến MỊ có thể ăn lá ngón tự tử nữa”. Mị sống như một cái bóng vật vờ, sống mà như đã chết, không còn cả ý thức về thời gian nữa. Mị không còn nhớ mình vể làm dâu nhà Pá Tra đã bao nhiêu năm. Với MỊ sự chuyển đổi của thời gian, trong một ngày hay trong một năm, cũng chẳng gợi cho cô một ấn tượng, cảm xúc gì, vẫn chỉ là một cái màu nhờ nhờ trăng trắng ‘ không biết là sương hay là nắng”, cái sắc màu mờ mờ đùng đục của nhũng hoàng hôn đằng đẵng buồn tẻ và tê tái.

Trong đoạn đầu của , truyện, cuộc sống của Mị bị giam hãm trong cái không gian chật hẹp và tù đọng của nhà Pá Tra, với một nhịp điệu buồn tẻ, nặng nể của những công việc khổ sai lặp đi lặp lại, trong một thời gian ngưng đọng như không dĩ vãng vá không tương lai. Lời trần thuật với nhịp chậm, trầm lắng tạo ra giọng điệu cớ chiêu sâu thấm đượm nỗi xót xa và thương cảm.

Sự trỗi dậy mãnh liệt của lòng ham sống và khát vọng hạnh phúc ở Mị

Phải chăng tâm hồn Mị đã hoàn toàn nguội lạnh ? Cô Mị một thời trẻ đẹp, khát khao hạnh phúc đã hoàn toàn cam chịu thân phận nò lệ, sống mà như đã chết. Không, ngòi bụt của Tô Hoài không chỉ phơi bày cái đen tối, ảm đạm của cuộc đời mà còn thiếu tha hướng tới phía sự sống và ánh sáng. Ngòi bút của nhà văn đã tìm sâu vào tận cùng của ý thức và trong đáy sâu tiềm thức nhân vật để khơi bừng lên chút ánh sáng và hơi ấm của niềm ham sống, khát khao hạnh phúc.

Sự thức tỉnh đời sống ý thức của Mị trước hết là nhờ tác động của hoàn cảnh, một hoàn cảnh khá “điển hình” – đấy là mùa xuân về trên miền núi cao Tây Bắc. Mùa xuân gợi dậy ở con người và thiên nhiên sực sống tiểm tàng và nhũng khắt vọng. Người Mông ăn Tết khi ngô lúa đã gặt xong, mùa xuân có thêm niềm vui thu hoạch mùa màng. Cái Tết năm ấy đến vào lúc gió và rét dữ đội, nhưng vẫn không ngăn được những sắc màu của mùa xuân trong thiên nhiên và cẫ ở con người. Sự sống của tạo vật và con người như được mùa xuân khơi dậy, làm bừng tỉnh. Và thời điểm để ngọn lửa sống trong lòng Mị bừng lên đã đến. Đấy là mộl “đêm tình mùa xuân”. Tiếng sáo gọi bạn tình cứ thiết tha, bổi hồi “tai MỊ văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng”. Với Mị, tiếng sáo gọi bạn là biểu tượng lôi cuốn nhất của mùa xuân, của khát vọng hạnh phúc : “Ngày trước, MỊ thổi sáo giỏi. Mùa xuân này, Mị uống rượu bên bếp và thổi sáo. MỊ uốn chiếc lả trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết nào nhiêu người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị”. Cái nồng nàn của đêm xuân lại được tăng thêm bởi bữa rượu ngày tết, trong tiếng chiêng đánh ầm ĩ vá những người lên đồng, người hát : “Ngày Tết, MỊ cũng uống rượu. Mị lén lấy hũ rượu, cứ uống ực từng bát. Rồi say…”. Chính trong một trạng thái đã được kích thích bởi men rượu, bởi những âm thanh náo động của bữa cơm cúng ma trong nhà Pá Tra và sự lôi cuốn của tiếng sáo gọi bạn ngoài đừờng,

MỊ đã vượt ra khỏi tâm trạng thờ ơ, nguội lạnh lâu nay của mình. Dấu hiệu đẩu tiên là Mị sống lại với những hổi tưởng về những ngày xuân quá khứ, những kỷ niệm đẹp về ngày trước, những ngày hạnh phúc ngắn ngủi của tuổi trẻ. Bằng việc nhớ lại quá khứ, MỊ đã vượt qua tình trạng sống “phi thời gian”, sống mà như đã chết bấy lâu nay, rồi MỊ sống lại vứi niềm ham sống của tuôi trẻ : Mị thấy phơi  phới trở lại trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước. Mị trẻ lắm Mị vẫn còn trẻ. MỊ muốn đi chơi”. Sức sống bấy lâu nay bị đè nén, tướng đã tắt lim thì nav bỗng trỗi dậy. Phản ứng đầu tiên của Mị là ý nghĩ : “Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa”. Ý nghĩ về cái chết lúc này là sự phản kháng với hoàn cảnh, nó chứng tỏ rằng MỊ đã ý thức lại được tình cảnh đau xót dai dẳng của mình. Trong khi ấy thì tiếng sáo -. biểu tượng của khát vọng tình yêu và tự do – cứ theo sát diễn biến tâm trạng của MỊ. Nó là ngọn gió thổi bùng lên đốm lửa trong lòng Mị. Tiếng sáo từ chỗ là một hiện tượng ngoại cảnh (“tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lửng lơ bay ngoài đường”) đã xâm nhập thế giới nội tâm của MỊ, trở thành một hiện hữu ở trong tâm linh nhân vật : “Trong đầu MỊ đang rập rờn tiếng sáo”.

Đến đây, tính cách nhân vật có bước phát triển quyết định : từ những sôi sục trong tâm tư, MỊ đã hành động. Đầu tiên là một hành động có nhiều ý nghĩa : “Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ, xắn một miếng bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng”. Đấy là hành động của sự thức tỉnh. MỊ thắp sáng ngọn đèn trong căn phòng vốn âm u, mờ mịt của mình, cũng tức là Mị thắp lên một ánh sáng trong cuộc đời tăm tối triền miên của mình trong nhà Pá Tra. Và hành động này thúc đẩy hành động tiếp theo như những đợt sóng tiếp nhau. Dường như không đếm xỉa gì đến những trói buộc khắt khe của nhà Pá Tra, đến A Sử, Mị tự mình hành động như một con người tự do, theo tiêng gọi cua lòng mình : quấn lại tóc, rút lấy cái váy hoa, sửa soạn đi chơi Tết.

Giữa lúc lòng ham sống trỗi dậy mạnh mẽ thì nó bị dập xuống phũ phàng : A Sử bước vào, thản nhiên, lầm lì trỏi đứng Mị vào cây cột nhà : tóc MỊ xoã xuống A Sử cuốn luôn tóc lên cột, rồi y “tắt đèn, đi ra, khép cửa buồng lại”. Cái kỹ càng, rành rẽ của từng động tác biểu hiện một sự tàn ác đến thản nhiên của A Sử.

Suốt cái đêm bị trói vào cột ấy, Mị đã sống trong sự giằng xé giữa niểm khao khát sống tự do và thực tại nghiệt ngã. Ban đầu, Mị như quên những vòng dây trói và những đau đớn thể xác mà vẫn sống với tiếng sáo, “tiếng sáo đưa MỊ đi theo những cuộc chơi, những đám chơi” ở ngoài kia, đến nỗi MỊ “vùng bước đi”. Nhưng rồi những vòng dây trói thít chặt và nỗi đau đớn đến tê dại toàn thân đã kéo Mị trở về với thực tại. Thay thế cho tiếng sáo gọi bạn, chỉ còn “tiếng chân ngựa đạp vào vách. Ngựa vẫn đứng yên, gãi chân nhãi cỏ. MỊ thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa”, Thực tại phũ phàng đã bóp chết những khao khát tự do và hạnh phúc ở Mị.

Ngòi bút của Tô Hoài đã thấm nhuần tinh thần nhân đạo, thể hiện ờ niềm tin và sự trân trọng niềm khất khao vươn lên đời sống tự do và hạnh phúc của những con người bị đoạ đày đaụ khổ. Đấy là sự tiếp nối tinh thần nhân đạo truyền thống trong văn học dân tộc.

Đến đây, giữa lúc xung đôt đã đến mức căng thẳng, tác giả tạm thời mở nút cho tình tiết này bằng sự xuất hiện của Ạ Phủ trong cuộc đánh nhau của toán thanh niên làng bên với A Sử. Đây cũng là cách giới thiệu nhân vật một cách tự nhiên và gây sự chú ý ngay từ đầu.

A Phủ, người ở trừ nợ cho nhà thống lý Pá Tra

Cũng như Mị, A Phủ được tác giả giới thiệu bằng sự xuất hiộn đột ngột, gây chú ý cho người đọc, rồi mới kể về lai lịch của anh. A Phủ xuất hiện trong cuộc đánh nhau của trai làng bên với bọn A Sử.

Lũ phá đám ta đêm qua đây rồi.

-A Phủ đâu ? A Phủ đánh chết nó đi !

Một người to lớn chạy vụt ra vung tay ném con quay rất to vào mặt A Sử. Con quay gỗ ngát lăng vào giữa mặt. Nó vừa kịp bưng tay lên, A Phủ đã xộc tới, nắm cái vòng cổ, kẻo dập đầu xuống, xé vai áo, đánh tới tấp”. A Phủ xuất hiện đối đầu với A Sử thật hiên ngang và trận đòn đánh mới áp đảo, hả hê làm sao ! (Chú ý câu văn mô tả cảnh này bằng một loạt động từ chỉ hành động với nhịp nhanh, mạnh, dồii đập : chạy vụt ra, vung tay ném, xộc tới nắm, kéo dập đầu, xé, đánh tới tấp).

A Phủ là một thanh niên nghèo, suốt đời đi làm thuê làm mướn, không có ruộng, không có cả đến cái vòng bạc đeo cổ để đi chơi Tết. Cha mẹ đã chết cả trong một trận dịch đậu mùa; A Phủ từng đã bị bắt bán xuống vùng người Thái,… Nhưng chính cuộc sống cùng cực ấy đã hun đúc nên ở A Phủ một sức sống mạnh mẽ, lòng ham chuộng tự do và một tính cách thật gan góc, cùng với một khả năng lao động đáng quý. A Phủ thạo và ham thích những công việc lao động nặng nhọc và khó khăn, nguy hiểm : “biết đúc lưỡi cày, biết đục cuốc, lại cày giỏi và đi săn bò tót rất bạo”, “đốt rừng, cày nương, cuốc nương, săn bò tót, bẫy hổ, chăn bò, chăn ngựa, quanh năm một thân một mình bôn ba rong ruổi ngoài gò ngoài rừng”. A Phủ là đứa con của núi rừng tự do. Cuộc sống phóng khoáng, ưa tự do, gần gũi thiên nhiên và chất phác củạ A Phủ cũng là một nét tính cách đặc trưng của người, Mông.

Việc A Phủ bị bắt làm người ở gạt nợ càng làm tăng thêm sức tố cáo của tác phẩm : ‘một chàng trai khoẻ mạnh, gan góc, vốn không nợ nần gì nhà Pá Tra, lại lao động giỏi, sống tự do như chim trơi giữa núi rừng, vậy mà cuối cùng cũng không thoát khỏi ách áp bức của chúa đất, phải rơi vào thân phận kẻ nô lệ suốt đời trong nhà Pá Tra. Hơn thế nữa, cho đến cả đối con, đời cháu cũng vậy, bao giờ trả hết nợ mới thôi .

Cảnh bọn chức việc trong làng xử kiện A Phủ lại thêm một bức tranh cụ thể, sống động, giàu sức tố cáo về một tập tục là hiện thân của ách áp chế kiểu trung cổ ở miền núi. Cuộc xử kiện diễn ra trong khói thuốc phiện mù mịt “tuôn ra các lỗ cửa sổ tun hút xanh như khói bếp” và “Người thì đánh, người thì quỳ lạy, kể lể, chửi bới. Xong một lượt đánh, kể, chửi, lại hut”, cứ thế suốt từ trưa cho đến hết đêm. Còn A Phủ gan góc quỳ chiu đòn chỉ im như tượng đá.

Sự gặp gỡ của hai người cùng cảnh ngộ nô lệ

Mị  và A Phủ cùng cảnh nô lệ trong nhà Pá Tra, nhưng không phải họ đã gặp gỡ nhau ngay được, cho đến lúc một tình huống xảy đến với A Phủ. A Phủ đi chăn bò để hồ bắt mất một con. Pá Tra trói đứng A Phủ vào cọc ở giữa nhà, một tình cảnh bị trói chờ chết như năm nào Mị đã phải chịu. Lúc đầu, nhìn A Phủ bị trói, MỊ vẫn chưa có một suy nghĩ gì. Nào phải đâu Mị là người nhẫn tâm, chỉ vì những hành động tội ác trong nhà Pá Tra là chuyên diễn ra hằng ngày và Mị cũng chỉ là một nạn nhân bất lực mà thôi. Hơn nữa, Mị vẫn đang chìm trong trạng thái sống gần như vô cảm. Nhưng đến một đêm, khi Mị trở dậy thổi lửa sưởi : “Ngọn lửa bập bùng sáng lên, MỊ lé mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại”. Chính dòng nước mắt ấy của A Phủ, dòng nước mắt tuyệt vọng, đau đớn của người trai Mông gan góc quả cảm đã đánh thức đời sống ý thức và tình cảm ở Mị. MỊ bừng tỉnh, thoát khỏi tình trạng vô cảm, mà dấu hiệu đầu tiên của sự thức tỉnh ấy cũng lại là sự hồi tưởng. Ký ức sống dậy, Mị nhớ lại những nỗi đau đớn khi bị trói đứng vào cột. “Nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ, không biết lau đi được Mị nhớ đến một người đàn bà khác đã từng bị trói đến chết. Từ sự xót thương người đồng cảnh ngộ, ở Mị đã hình thành mối đồng cảm giai cấp tự nhiên. Ý nghĩ cứu A Phủ đã manh hơn cả nỗi lo sợ cho chính mình. Tình cảm và ý nghĩ ấy dẫn tới hành  động quyết định của Mị : cắt dây trói cứu A Phủ. Cắt dây trói cứu A Phủ, Mị cũng đã tự cắt sợi dây trói buộc đời mình với nhà Pá Tra.

Để tự cứu mình, Mị đã chạy theo A Phủ thoát khỏi địa ngục nhà Pá Tra. Đến đây cái vòng trói buộc cuộc đời Mị và A Phủ đã được tháo gỡ nút thứ nhất. Mặc dù đây chỉ là những hành động đấu tranh tự phát, nhưng cũng chính từ những khát vọng tự do và sự phản kháng mạnh mẽ ấy mà họ sẽ nhanh chóng đến vói cách mạng, để giải phóng triệt để cho số phân của mình và của những người nghèo khổ khác.

Mấy lời kết luận

Thành công của truyện Vợ chồng A Phủ trước hết là ở cốt truyện mang ý nghĩa tiêu biểu cho số phận và con đường giác ngộ của người nông dân miền núi, cũng như của nhân dân lao động nói chung trong sự gặp gỡ cách mạng. Mô típ cốt truyện này rất tiêu biểu cho các tác phẩm văn xuôi trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp, cũng như cả trong văn học từ 1945 đến 1975. Nhưng tác phẩm gây được ấn tượng sâu sắc là ở nghệ thuật xây dựng nhân vật. Nhân vật vừa mang tính tiêu biểu cho tầng lớp, giai cấp vừa có được những nét cá tính khá rõ. A Phủ thì mạnh mẽ, gan góc mà bộc trực, cả tin, chất phác. Mị giàu sức sống nhưng trầm lắng hơn, có một đời sống nội tâm sôi nổi dưới vẻ ngoài lặng lẽ.

Ở truyện Vợ chồng A Phủ, Tô Hoài đã có một bút pháp miêu tả tâm lý khá sắc sảo, tinh tế, nhất là ở phần đầu của truyện. Những đoạn miêu tả diễn biến trong tâm hồn Mị, sự thức tỉnh của lòng ham sống và khát vọng hanh phúc của MỊ là những đoạn văn đặc sắc. Điêu này càng có ý nghĩa khi ta đặt trong tình hình chungcủa văn xuôi thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp mà nghệ thuật miêu tả tâm lý chưa phải đã được chú ý đúng mức.

Vợ chồng A Phủ còn lôi cuốn người đọc bởi chất thơ trong sáng. Chất thơ ấy toát lên từ chủ đề của tác phẩm, từ tâm hồn đôn hậu, chất phác của nhân vật chính và thấm đượm trong những bức tranh thiên nhiên nhiều màu sắc và đường nét uyển chuyển, hài hoà, những cảnh sinh hoạt, phong tục giàu chất trữ tình của đồng bào miền núi,…

Với Vợ chồng A Phủ và tập Truyện Tây Bắc, có thể nói lần đầu tiên bức tranh về cuộc sống ở miền núi được mô tả chân thực trong văn học nước ta. Trước Cách mạng tháng Tám, không phải không có những tác phẩm vể đề tài miền núi, nhưng chủ yếu vẫn là những “truyện đường rừng” mà trong đó miền nui hiện ra như một thế giới bí hiểm, với những tập tục lạc hậu và lạ lùng, những câu chuyện rùng rợn gợi trí tò mò của khách miền xuôi.

Tô Hoài đã vượt qua những hạn chế trong những tác phẩm đầu của mình viết về miền núi như Núi cứu quốc, Xuống làng. Nhà văn không còn dừng ở sự quan sát từ bên ngoài mà đã hoà nhập sâu sắc vào cảnh sống, vào số phận và cuộc đối các nhân vật của mình, tạo ra một cái nhìn và giọng điệu trần thuật gần gũi, thống nhất giữa người kể chuyện và nhân vật. Qiá trị nhân đạo của tác phẩm càng giàu thêm bởi ngòi bút của nhà văn đã đồng cảm, trân trọng và khơi dậy ở trong nhân vật của mình những phẩm chất đẹp đẽ, những giá trị chân chính, những khát vọng sống hạnh phúc và tự do. Đồng thời, tư tưởng nhân đạo cách mạng giúp cho nhà văn hướng đến sự mô tả quá trình giải phóng của nhân dân lao động theo con đường cách mạng một quy luật tất yếu. Các nhân vật anh Núp (Đất nước đứng lên), chị Tư Hậu (Một truyện chép ở bệnh viện), chị Sứ (Hòn Đất), chị út Tịch (Người mẹ cầm súng) sẽ là sự tiếp nối tự nhiên của Mị và A Phủ, trở thành những tính cách anh hùng.

(Tài liệu sưu tầm , tác giả Nguyễn Văn Long )

Xem thêm :Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về   vợ chồng a phủ

Cảm nhận về hành động Mị chạy theo A Phủ trong “ Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài

Tuyển tập đề thi về tác phẩm Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài. Tổng hợp tài liệu ôn thi môn Văn.

Đề bài :Cảm nhận của anh chị về hành động Mị chạy theo A Phủ trong “ Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài

Hướng dẫn cách làm 

a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận
Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Hành động Mị chạy theo A Phủ trong “ Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài .
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; thể hiện sự cảm nhận sâu sắc và vận dụng tốt các thao tác lập luận để triển khai các luận điểm (trong đó phải có thao tác phân tích, so sánh); biết kết hợp giữa nêu lí lẽ và đưa dẫn chứng.

Dàn ý chi tiết

Mở bài :
– Giới thiệu tác giả, tác phẩm Vợ chồng A phủ của Tô Hoài
– Giới thiệu vấn đề nghị luận: hành động Mị chạy theo A Phủ

Thân bài : Phân tích hành động Mỵ chạy theo A phủ
-Vài nét về nhân vật Mỵ :
+Là cô gái xinh đẹp, con dâu gạt nợ, bị bóc lột, đày đọa về thể xác và tâm hồn
+Cô sống vật vờ y một cái bóng “lùi lũi như 1 con rùa nuôi xó cửa”…
– Lí giải hành động Mỵ chạy theo A Phủ:
+Nhà văn đã phát hiện ra rằng bên trong tâm hồn người con gái ấy vẫn còn ẩn chứa một sức sống tiềm tàng, chỉ chờ có dịp là bùng nổ mạnh mẽ . Ngay sau khi bị rơi vào cảnh làm con dâu gạt nợ cô định tự tử vì ý thức được cuộc sống tủi nhục của mình và không chấp nhận cuộc sống ấy . Nhưng sự uất ức đến nỗi muốn chết ấy lại là một biểu hiện của lòng ham sống và khát vọng tự do, vì không muốn tiếp tục một cuộc sống đầy đoạ nên cô đã tìm đến cái chết như một phương tiện giải thoát
+Tuy nhiên với tấm lòng nhân hậu đầy cảm thông, nhà văn vẫn nhận ra rằng khát vọng hạnh phúc trong Mị có thể bị vùi lấp, lãng quên đâu đó nhưng không thể bị tiêu tan .Vào một đêm tình mùa xuân trong ngày Tết, những yếu tố ngoại cảnh đánh thức kí ức và gợi lại kỉ niệm yêu đương bị lùi vấp bấy lâu trong tâm hồn lầm lũi thường ngày, trở thành tiếng gọi của sự sống mỗi lúc một rõ , một tha thiết. Thế là từ ngoại cảnh đã tác động đến cảm xúc , tâm trạng và cuối cùng là hành động .
+Trong cái trạng thái nửa say, nửa tỉnh, lại thêm sự thôi thúc của tiếng sáo réo rắt đã dẫn Mị đến một hành động chưa từng thấy kể từ khi cô bước chân vào nhà thống lý Pá tra “cô quấn lạ tóc và với tay lấy váy mới , chuẩn bị đi chơi”.Nhưng khi bị trói Mị bỗng ý thức được cảnh ngộ hiện tại của mình và trong lòng lại trào lên một nỗi đau xót, tủi nhục. Mị lại thổn thức , miên mang nghĩ về thân phận không bằng con trâu , con ngựa của mình rồi dần thiếp đi .
+ Khi Mị chứng kiến cảnh A Phủ bị bắt trói ,ban đầu Mị thật thản nhiên. Mị dường như đã trở nên vô cảm trước tất cả. Nhưng khi Mị lé mắt trông sang thấy mắt A Phủ cũng vừa mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại…”thì Mị lại chợt bừng tỉnh “trông người lại nghĩ đến ta”. Hình ảnh ấy khiến Mị bỗng nhớ đến câu chuyện rùng rợn về những người đàn bà bị trói đứng cho đến chết trong nhà thống lí cũng trên cái cọc này và hồi ức đưa cô về với những lần chính mình bị đánh, bị trói trước đây…Ý nghĩ A Phủ rất có thể sẽ bị chết trong đêm nay đã hoàn toàn đánh thức tình thương và lòng căm hận trong long Mị. Từ thương người đến thương thân và tình thương ấy cứ lớn dần, lớn dần để rồi dẫn Mị đến với ý thức ngày càng rõ rệt hơn về một sự thật thật tàn bạo và vô lí, bất công .Ý thức đó đã thôi thúc Mị đứng dậy cắt dây trói cho A Phủ và bất giác chạy theo anh, cùng trốn khỏi Hồng Ngài
+ Hành động bộc phát nhưng thật quyết liệt đó của Mị một phần là do sự thúc bách của tình thế khiến cô không thể làm khác, bởi cô hiểu rõ “ ở đây thì chết mất”. Nhưng mặt khác, đó cũng là quá trình tất yếu của một quá trình dồn nén, bức xúc cả về thể chất lẫn tinh thần đối với Mị. Đồng thời đó cũng vừa là biểu hiện, vừa là kết quả của một sức sống tiềm tàng, mạnh mẽ đã được trỗi dậy trong con người Mị, kết thúc cả quãng đời đày ải, tối tăm của cô trong nhà thống lí để bắt đầu một cuộc đời mới.
Nghệ thuật xây dựng nhân vật, nghệ thuật miêu tả nội tâm rất tinh tế…
Đánh giá chung:
-Nhân vật Mỵ, A Phủ có số phận đáng thương, những cuộc đời nghiệt ngã và đầy bất hạnh. Nhưng không dừng lại ở việc khai thác những nỗi đau khổ, những bất công của xã hội, của cuộc sống đã đẩy cuộc đời họ vào những bế tắc cùng cực. Mà ở đấy, các nhà văn đã tô đậm vẻ đẹp phẩm chất và tâm hồn người phụ nữ.
-Bằng tình yêu cuộc sống, khát vọng được sống mãnh liệt và với những phẩm chất tốt đẹp vốn có của người phụ nữ, họ đã vượt qua những rào cản, những bất công xã hội, vượt qua số phận bất hạnh để tìm đến hạnh phúc
– Nhà văn Tô Hoài đã góp lên tiếng nói chung- tiếng nói nhân đạo đối với họ. Không những thể hiện sự quan tâm, thông cảm, đồng cảm với những số phận bất hạnh này mà những nhà văn còn trân trọng, ngợi ca những phẩm chất cao quý của người phụ nữ-luôn hướng về ánh sáng, hướng về cái đẹp .
Đề văn sưu tầm

Xem thêm những đề văn khác về tác phẩm Vợ chồng A Phủ tại đây :  vợ chồng a phủ

Cảm nhận về hình ảnh tiếng sáo đêm xuân trong “Vợ chồng A Phủ”- Tô Hoài

Bộ đề luyện thi về các tác phẩm lớp 12. Tuyển tập những đề văn về tác phẩm  Vợ Chồng A Phủ- Tô Hoài.

Đề bài : Cảm nhận về hình ảnh tiếng sáo đêm xuân trong “Vợ chồng A Phủ”- Tô Hoài

Mở bài :

  • Giới thiệu tác giả Tô Hoài và Vợ Chồng A Phủ
  • Dẫn dắt chi tiết tiếng sáo trong đêm tình mùa xuân

(Giới thiệu từ hình tượng người nông dân trong văn học sau 1945 với khuynh hướng viết khẳng định sức sống của họ để hướng họ đến với ánh sáng của cách mạng- dẫn đến hình ảnh “Tiếng sáo đêm xuân” trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ”)

Thân bài

  1. Khái quát về tác giả, tác phẩm.
  2. Phân tích hình ảnh “Tiếng sáo đêm xuân”.

-Tiếng sáo xuất hiện lần thứ nhất ở ngoài đầu núi “Ngoài đầu núi lấp ló đã có tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi”

-> Ý nghĩa: Tiếng sáo đã đánh thức tâm hồn cô Mị bởi tiếng sáo “thiết tha bổi hổi” và cô đã “nhẩm thầm bài hát của người đang thổi”

Mày có con trai con gái rồi

Mày đi làm nương

Ta không có con trai, con gái

Ta đi tìm người yêu”

-Lần thứ 2: Tiếng sáo văng vẳng ở đầu làng “tai Mị nghe tiếng sáo văng vẳng đầu làng”.

-> Ý nghĩa: Tâm hồn cô Mị như được hồi sinh. Mị nhớ lại ngày xưa “Ngày trước, Mị thổi sáo giỏi. Mùa xuân này Mị uống rượu bên bếp và thổi sáo. Mị uốn chiếc lá trên môi thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết bao nhiêu người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị”.

-Tiếng sáo gọi bạn yêu lửng lơ bay ngoài đường:

“Anh ném pao, em không bắt

Em không yêu, quả pao rơi rồi”.

->Ý nghĩa: Tiếng sáo đã giục giã cô Mị hành động. Mị muốn đi chơi “Mị vẫn còn trẻ, Mị muốn đi chơi. Bao nhiêu người có chồng rồi vẫn đi chơi ngày Tết huống chi Mị và ASử không có lòng với nhau và vẫn phải ở với nhau”.Và cô Mị sửa soạn đi chơi “Mị quấn lại tóc, Mị với lấy cái váy hoa vắt ở trong vách”.

– Khi Mị bị trói, tiếng sáo vẫn vang vọng: “Em không yêu quả pao rơi rồi/ Em yêu người nào, em bắt pao nào”

->Ý nghĩa: Tiếng sáo vẫn thôi thúc tâm hồn Mị “đưa Mị theo những cuộc chơi, những đám chơi”.

– Cuối cùng : “Tiếng sáo, tiếng chó sủa xa xa”.

->Ý nghĩa: Tiếng sáo như cũng đang lặng dần với tâm trạng khổ đau của cô gái Mèo đầy bất hạnh.

3, Nhận xét, so sánh:

– Điểm giống nhau:

+ Nội dung: Cùng nói về âm thanh, sắc điệu của tiếng sáo trong sự cảm nhận của Mị vào đêm tình mùa xuân từ đó thể hiện sức sống tiềm tàng đang trỗi dậy trong tâm hồn của cô Mị.

+ Nghệ thuật: Miêu tả chi tiết giàu hình ảnh, giàu sức gợi, dùng chi tiết ấy để miêu tả diến biến tâm lí rất tinh tế của nhân vật.

-Điểm khác nhau:

+ Mỗi chi tiết xuất hiện trong hoàn cảnh cụ thể khác nhau thể hiện cho những cung bậc cảm xúc trong tâm trạng của cô Mị.

+ Thể hiện tài năng của nhà văn trong việc miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật.

Kết bài : Khái quát về ý nghĩa tiếng sáo trong đêm tình mùa xuân

Xem thêm :Tổng hợp những chi tiết đặc sắc trong các tác phẩm thi THPT Quốc gia

Tổng hợp những đề thi về các tác phẩm trọng tâm lớp 12

Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về vợ chồng a phủ

Những khám phá mới mẻ trong cách kết truyện Vợ chồng A Phủ và Vợ nhặt

Bộ đề luyện thi về các tác phẩm lớp 12. Tuyển tập những đề văn về tác phẩm Vợ Nhặt và Vợ Chồng A Phủ

Đề Bài : Những khám phá mới mẻ trong cách kết truyện trong “Vợ chồng A Phủ”- Tô Hoài và “Vợ nhặt”- Kim Lân.

Đáp án

Mở bài : Đặt vấn đề 

Nhà văn Nguyễn Minh Châu có lần nói đại ý rằng “Người cầm bút có biệt tài là có thể chọn trong cái dòng đời xuôi chảy  một khoảnh khắc với một vài sự diễn biến sơ sài nhưng đó có khi lại là cái khoảnh khắc chứa cả một đời người, một đời nhân loại. Đúng như vậy, trong cái dòng đời xuôi chảy ấy các nhà văn sẽ tìm được một khoảnh khắc –một khoảnh khắc – một điểm sáng nghệ thuật có ý nghĩa làm nổi bật tính cách của nhân vật và góp phần quan trọng trong việc thể hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Kết truyện “Vợ chồng A Phủ” với hình ảnh Mị cứu A Phủ rồi “Hai người lẳng lặng đỡ nhau lao chạy xuống dốc núi” và “Vợ nhặt”  với hình ảnh “Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới” chính là điểm sáng ấy. Tuy nhiên mỗi nhà văn lại có những khám phá mới mẻ.

Thân bài : Giải quyết vấn đề

1, Khái quát chung về 2 tác giả và 2 tác phẩm

(Hs vận dụng kĩ năng làm đề so sánh).

-Khái quát chung về hai tác giả: Tô Hoài và Kim Lân đều là những tác giả tiêu biểu của văn xuôi thời kì kháng chiến chống Pháp. Tô Hoài có những trang văn viết chân thực với quan niệm “Viết văn là  một quá trình đấu tranh để nói ra sự thật. Đã là  sự thật thì không tầm thường dù phải đập vỡ những thần tượng trong lòng người đọc”. Kim Lân lại có những trang việt chân thực về đời sống làng quê với những thú vui tao nhã của người nông dân quê mình mà ông gọi đó là “thú đồng quê” hay “phong lưu đồng ruộng”. Ông cũng viết chân thực về những người nông dân quê mình chất phác, hóm hỉnh mà rất tài hoa.

– Khái quát về hai tác phẩm: Cả hai tác phẩm đều viết về hình tượng người nông dân trong quá trình đến với cách mạng. Ở họ là một cuộc sống khó khăn bất hạnh nhưng vẫn sáng lên những phẩm chất cao đẹp và điều đặc biệt là họ đang trong quá trình đến với cách mạng.

– Viết về sự nhận thức về cách mạng của người nông dân cả hai tác phẩm đều mang đến cách kết truyện bằng hình ảnh rất ấn tượng mang lại ý nghĩa sâu sắc.

  1. Phân tích chi tiết kết truyện của hai tác phẩm.

Chi tiết kết thúc truyện (đoạn trích) trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ”

Dẫn dắt cụ thể về hoàn cảnh ra đời và nội dung cơ bản.

-Hoàn cảnh sáng tác: Tác phẩm được in trong tập “Truyện Tây Bắc” (1953). Năm 1952, Tô Hoài cùng với những chiến sĩ cách mạng lên miền núi Tây Bắc giúp người dân kháng chiến chống Pháp. Sau thời gian tám tháng gắn bó với cuộc sống của người dân vùng cao, ông đã am hiểu sâu sắc cuộc sống nơi đây. Điều đó đã khơi nguồn cảm hứng giúp ông viết cụ thể , chân thực về cuộc sống của họ.

-Nội dung chính: Tác phẩm là câu chuyện của những người dân vùng cao, họ không cam chịu sự đè nén, áp bức của bọn địa chủ phong kiến mà đã vùng lên đấu tranh để giành lấy quyền sống, quyền tự do.

 Dẫn dắt đến chi tiết:

Tác phẩm phản ánh cuộc sống của người nông dân miền núi qua nhân vật Mị và A Phủ. Mị là con dâu gạt nợ của nhà thống lí phải sống một thân phận nô lệ, bị đày đọa cả về thể xác và tinh thần. A Phủ vì đánh con quan nên bị bắt về nhà thống lí, bị đánh đập rồi phải trở thành người ở trừ nợ cho nhà thống lí. Hai thân phận nô lệ ấy đã gặp nhau và  giải thoát cho nhau. Một đêm mùa đông trên núi cao dài và buồn, Mị trở dậy ngồi sưởi lửa hơ tay thì bắt gặp “Một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại” của A Phủ. Giọt nước mắt ấy đã tác động đến nhận thức và tình cảm của nhân vật Mị khiến cô đã có hành động táo bạo “Lấy con dao nhỏ cắt lúa cắt nút dây mây” giải thoát cho A Phủ. Sau đó Mị cũng chạy theo A Phủ bởi “Ở đây thì chết mất”.  Rồi  “Hai người lẳng lặng đỡ nhau lao chạy xuống dốc núi”.

 Phân tích nội dung và ý nghĩa của chi tiết.

– Đây là chi tiết quan trọng trong tác phẩm bởi trước hết đã thể hiện cho tấm lòng đồng cảm của các nhân vật. Khi nhìn thấy giọt nước mắt của A Phủ, Mị đã nhớ lại tình cảnh của mình những lần trước Mị cũng bị trói ở đó “nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ mà không  lau đi được”. Cô đồng cảm sâu sắc với A Phủ, đó là niềm đồng cảm của những con người cùng cảnh ngộ. Từ người khác, nghĩ đến hoàn cảnh của mình rồi từ lòng thương mình dẫn đến thương người để rồi cô có hành động táo bạo, quyết liệt ấy.

– Những chi tiết ấy đã thể hiện cho sức sống tiềm tàng mãnh liệt của con người ở đây là người nông dân miền núi dưới sự áp bức đè nén của bọn phong kiến chúa đất. Nếu như trước đây “Sống lâu trong cái khổ Mị quen khổ rồi”, Mị sống cũng như chết, cam chịu, Mị mất hết ý thức về quyền sống thì  bây giờ giọt nước mắt của A Phủ đã làm cho sức sống của cô như được trỗi dậy. Hành động Mị cắt dây trói giải thoát cho A Phủ cũng là giải thoát cho chính mình có thể là hành động tự phát lúc bấy giờ bởi trong hoàn cảnh cụ thể, Mị nhận thấy không thể sống ở đây được. Rồi Mị sẽ phải trói vào cái cột kia cho đến chết. Nghĩ đến đó Mị rùng mình và khi cái chết đang gần kề trong con người ấy bỗng trỗi dậy niềm ham sống mãnh liệt. Nhưng xét đến cùng đó là hành động tự giác, ý thức vùng lên ấy đã được “chuẩn bị” tâm lí từ trước. Phải có sức sống của cô Mị trỗi dậy khi có ý định ăn lá ngón tự tử đặc biệt phải có sự vùng lên mạnh mẽ trong đêm tình mùa xuân thì bây giờ cô Mị mới có hành động táo bạo liều lĩnh như vậy. Hành động của Mị chính là kết quả tất yếu của cả một quá trình nhận thức.

– Hành  động giải thoát của Mị và A Phủ thể hiện sự nhận thức sâu sắc của người nông dân về quyền sống, quyền tự do. Trước đây với Mị sống hay chết cũng như nhau bởi “Sống lâu trong cái khổ Mị quen khổ rồi”. Bây giờ Mị và A Phủ không mãi cam chịu thân phận nô lệ nữa, họ muốn một cuộc sống tự do, sống đúng nghĩa cuộc sống của một con người chứ không phải kiếp sống trâu ngựa trong nhà quan nữa. Mị sợ cái chết “ Ở đây thì chết mất”, sợ cái chết cũng là ý thức cao độ về quyền sống mà nhất là cuộc sống tự do. Với A Phủ cũng thế, lúc này khát khao tự do ở trong anh cũng trở nên mãnh liệt. Trước đây, A Phủ cũng đã có nhiều cơ hội để anh trốn thoát, khi anh rong ruổi một mình ngoài gò ngoài rừng để chăn bò, chăn ngựa. Nhưng cũng giống như Mị, khi đó anh sống trong sự cam chịu, nhẫn nhục. Còn bây giờ khi cái chết đang đến gần anh đã quật sức vùng lên chạy, A Phủ muốn giải thoát cuộc sống nô lệ để đến với tự do.

-Kết thúc truyện cũng thể hiện cho tinh thần đấu tranh của người dân chống lại bọn địa chủ phong kiến với quy luật có áp bức thì có đấu tranh. Bọn địa chủ phong kiến với bao chính sách tàn bạo với chế độ cho vay nặng lãi, tục cướp dâu đã biến Mị trở thành con dâu gạt nợ. Với cường quyền của chúng cũng biến A Phủ thành kiếp tôi đòi. Lúc này người nông dân không còn chịu dưới những luật lệ hà khắc. Họ nhận thấy rõ tội ác của bọn địa chủ phong kiến. Mị nhận ra “Chúng nó thật độc ác”. Điều này không phải là điều dễ dàng với người nông dân lúc bấy giở bởi đã từ lâu lắm cô Mị chẳng còn ý thức chỉ suốt ngày “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”, chỉ làm bạn với căn buồng kín mít lúc nào nhìn ra cũng chỉ thấy trăng trắng không biết là sương hay là nắng, rồi cứ ở đó mà nhìn ra đến bao giờ chết thì thôi. Nhưng hôm nay cô Mị thấy mình và A Phủ cùng bao nhiêu nông dân thật đáng thương và bọn địa chủ phong kiến và bọn địa chủ phong kiến kia thật tàn bạo. Suy nghĩ “chúng nó thật độc ác” như một lời kết tội của những người nông dân dành cho kẻ thù. Chính vì vậy họ không thể cam chịu mà phải trốn thoát khỏi nơi áp bức cường quyền ấy.

-Chính điều đó hướng tới hành động quyết liệt hướng tới tự do. Đó là tiền đề để Mị và A Phủ đến với cách mạng. Như vậy cuộc sống của người nông dân không còn là những ngày khổ đau, tăm tối. Cách mạng là yếu tố quan trọng để họ được đổi đời.

-Viết về sự giải thoát của Mị và A Phủ, nhà văn Tô Hoài cũng thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc. Bằng tấm lòng yêu thương của nhà văn với người nông dân ông đã không để cho nhân vật của mình phải cam chịu trong vòng nô lệ mà mở ra cho họ một hướng giải thoát. Ý thức vê quyền sống, quyền tự do đã giúp họ nhận thức về cuộc sống và họ đã tự vùng dậy để giải thoát cho chính mình.

 Đánh giá:

– Hành động Mị và A Phủ giải thoát và cùng nhau trốn khỏi Hồng Ngài là chi tiết đặc biệt quan trọng thể hiện cho sức sống mạnh mẽ của nhân vật. Đồng thời là bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời của nhân vật góp phần quan trọng trong việc thể hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Nếu không có chi tiết ấy thì cuộc đời của Mị và A Phủ vẫn trong tăm tối của kiếp sống nô lệ, cuộc sống của người nông dân vẫn mãi cam chịu và sáng tác của Tô Hoài vẫn là sự bế tắc. Chính ánh sáng của cách mạng đã giúp nhà văn hướng cho nhân vật của mình đến một hướng giải thoát.

– Hành động đó cũng thể hiện rõ cho phong cách của nhà văn Tô Hoài. Ông có vốn am hiểu phong phú sâu sắc về đời sống của những người nông dân vùng cao và viết chân thực về cuộc đời của họ. Không khí của cuộc cách mạng trên mảnh đất Tây Bắc đã khiến nhà văn phản ánh được sức sỗng mãnh liệt của họ.

Chi tiết kết thúc truyện trong tác phẩm “Vợ nhặt”.

Dẫn dắt cụ thể về hoàn cảnh ra đời và nội dung cơ bản.

Hoàn cảnh sáng tác: Tác phẩm có tiền thân là tiểu thuyết “Xóm ngụ cư” được viết ngay sau khi cách mạng Tháng Tám thành công nhưng còn dang dở và bị mất bản thảo. Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc (1954), Kim Lân dựa vào một phần của cốt truyện cũ để viết tác phẩm “Vợ nhặt”. Tác phẩm được đưa vào tập “Con chó xấu xí” (Xuất bản 1962).

-Nội dung chính: Tác phẩm phản ánh chân thực cuộc sống của người dân vùng đồng bằng Bắc Bộ trong nạn đói kinh hoàng năm 1945. Nhưng trong hoàn cảnh đó người nông dân vẫn đùm bọc yêu thương, vẫn khao khát mái ấm gia đình và luôn có một niềm hi vọng vào tương lai.

 Dẫn dắt đến chi tiết: Truyện viết về cuộc sống của những người dân ở xóm ngụ cư trong nạn đói mà tiêu biểu là cuộc sống của gia đình Tràng. Vì cái đói cái nghèo nên Tràng không thể có một đám cưới đàng hoàng và bữa cơm đón nàng dâu mới của nhà Tràng cũng rất thảm hại “Giữa cái mẹt rách chỉ có độc một lùm rau chuối thái rối và một đĩa muối ăn với cháo”. Trong bữa ăn họ nghe thấy tiếng trống thúc thuế, qua lời của người vợ, Tràng đã nhớ lại có lần mình gặp Việt Minh và “Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới”,

Phân tích ý nghĩa của chi tiết

-Hình ảnh lá cờ ở cuối tác phẩm mang nhiều ý nghĩa sâu sắc. Kết thúc ấy có cơ sở từ thực tiễn đời sống. Câu chuyện có bối cảnh là nạn đói năm 1945- một thời điểm lịch sử có thật trong đất nước ta vào những năm tháng chuẩn bị cho cuộc cách mạng và đó là những ngày tiền khởi nghĩa với phong trào phá kho thóc Nhật chia cho dân nghèo. Vậy nên trong hoàn cảnh đói khát cùng cực ấy người nông dân nhận ra kẻ thù gây đau khổ cho mình là bọn Pháp và Nhật. Thực dân Pháp thi hành những “luật pháp dã man’, vơ vét của cải còn phát xít Nhật thì bắt nhân dân ta nhổ lúa trồng đay, trồng thầu dầu rồi cùng với thiên tai, lũ lụt…Tất cả đều là căn nguyên dẫn đến tảm cảnh nạn đói năm 1945. Những người dân sống trong hoàn cảnh đó họ sẽ ý thức được mình phải đứng lên đấu tranh tìm con đường cho mình. Họ sẽ tìm đến với cách mạng như một điều tất yếu.

+ Truyện kết thúc nhưng đã mở ra cho người đọc nhiều suy ngẫm. Truyện không nói cụ thể rõ ràng là cuộc sống của Tràng, bà cụ Tứ, người vợ nhặt sẽ đi đến đâu, cuộc sống của họ tiếp theo sẽ như thế nào để gượng ép trói buộc suy nghĩ của bạn đọc thiên về một hướng và nhiều khi chỉ suy nghĩ theo chiều hướng ấy. Và thật khéo léo khi Kim Lân để “lửng”. Kết thúc “lửng” ấy chứa đựng bao suy nghĩ của tác giả. Phải chăng nhà văn  Kim Lân đang thầm kín bày tỏ sự trân trọng với cách tiếp cận, nhận thức của độc giả đồng thời cũng hướng họ rằng nên phải suy nghĩ, chiêm nghiệm để viết tiếp câu chuyện ấy với sự phù hợp và đúng đắn nhất theo quan điểm nhận thức của mỗi người. Việc tạo ra kết thúc mở cũng khơi sâu sự tìm tòi khám phá một góc độ của cuộc sống, của xã hội thay vì chỉ là đọc trên giấy và hiểu tác phẩm một cách đơn thuần. Rõ ràng với ánh sáng “le lói ở cuối đường hầm” kia người đọc có quyền hiểu và ngẫm theo nhiều cách. Theo quan điểm của bản thân có thể suy ngẫm Tràng sẽ được theo cách mạng, theo ánh sáng của Đảng cùng với quần chúng khởi nghĩa và rồi cuộc sống của anh và gia đình cùng những người nông dân Việt Nam sẽ ấm no hơn, hạnh phúc hơn khi cách mạng giành  thắng lợi.

+ Kết truyện của Kim Lân đã mở ra một tương lai tươi sáng cho người dân. Không giống như văn học hiện thực phê phán trước cách mạng.Trước đây, nhà văn Nam Cao đã để cho nhân vật Chí Phèo cảm nhận hương vị của cuộc sống, để cho hắn cảm nhận tình yêu thương…nhưng rồi Chí Phèo lại rơi vào bi kịch bế tắc. Nhà văn Ngô Tất Tố cũng để nhân vật của mình- Chị Dậu vùng lên chống lại ách áp bức của bọn địa chủ nhưng rồi cuối cùng trước mắt chị là “trời tối đen như mực giống như cái tiền đồ của chị”. Họ đều rơi vào luẩn quẩn, bế tắc không lối thoát. Ở “Vợ nhặt”, Kim Lân đã để cho những người nông dân hướng về tương lai. Liệu tác phẩm có thể kết thúc trong cảnh “bữa cơm ngày đói” với khung cảnh trông thật thảm hại “Giữa cái mẹt rách chỉ có độc một lùm rau chuối thái rối và một đĩa muối ăn với cháo” và “không ai nói câu gì. Họ cắm đầu ăn cho xong lần. Họ tránh nhìn mặt nhau. Một nỗi tủi hờn len vào tâm trí mỗi người”. Nếu kết thúc như thế thì cái đói, cái nghèo vẫn bao trùm, cuộc sống của nhân dân vẫn rơi vào bế tắc. Nhưng Kim Lân không dừng lại ở đó. Ông đã hướng họ vào ánh sáng của tương lai, của cách mạng “Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới”,”. Thật là ông đã để những con người trong hoàn cảnh khốn cùng cận kề cái chết nhưng họ không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng đến sự sống, vẫn hi vọng tin tưởng ở tương lai. Những người đói ấy vẫn khao khát về cuộc sống ấm no, đầy đủ hơn. Nhà văn đã để người dân nhận thức đúng về cách mạng khơi lên tinh thần đấu tranh . Thực tiễn lịch sử cách mạng Tháng tám 1945 đã thắng lợi thì con người và đặc biệt là người nông dân càng có thêm động lực niềm tin vào tương lai tươi sáng ấm no. Thật là một cách kết truyện sáng mở ra cuộc sống tươi sáng cho con người.

+ Cách kết truyện của Kim Lân cũng mang lại giá trị nhân đạo sâu sắc. Nhà văn luôn cảm nhận được ở những người nông dân dù cận kề cái chết nhưng họ luôn nghĩ đến sự sống từ đó mà mở ra cho họ một con đường đi đến tương lai.

3.Nhận xét những điểm chung và riêng:

-Những điểm chung:

+ Cả hai cách kết truyện đều mở ra một tươi lai tươi sáng cho người nông dân. Đều hướng họ đến với ánh sáng cách mạng.

+ Các chi tiết ấy đều được viết bằng bút pháp lãng mạn cách mạng.

Có điểm chung ấy là bởi cả Kim Lân và Tô Hoài đều là  những nhà văn cách mạng. Họ được  lí tưởng cách mạng soi sáng nên nhìn cuộc sống bằng cái nhìn lạc quan nên họ đã nhìn thấy sức mạnh của người nông dân trong hoàn cảnh khó khăn. Tô Hoài và Kim Lân đều nhìn thấy ánh sáng của cách mạng với người nông dân. Hai nhà văn đã khẳng định chỉ có ánh sáng của cách mạng mới giúp người dân thoát khỏi cuộc sống tăm tối khổ đau.

-Những điểm riêng:

+ Tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” từ sức sống tiềm tàng của bản thân họ đã tự giải thoát cho mình.

+Tác phẩm “Vợ nhặt”, trong cuộc sống nghèo đói  bởi tội ác của bọn thực dân và phái xít, họ đã nhìn thấy con đường để thoát khỏi cuộc sống đói khát cùng cực ấy.

Có nét khác nhau ấy là bởi mỗi tác phẩm gắn với mỗi hoàn cảnh  cụ thể khác nhau. Tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” viết về người nông dân miền núi bị áp bức bởi bọn địa chủ phong kiến miền núi, họ bị mất tự do và họ đã vùng lên giải thoát cho mình để tìm đến tự do. Còn “Vợ nhặt” viết về nạn đói do những chính sách tàn bạo của bọn thực dân pháp và phát xít Nhật nên Kim Lân đã cho họ nhìn thấy con đường để thoát khỏi tình cảnh đói nghèo ấy.

Bài viết sưu tầm

Kết bài :

Đánh giá chung về hai chi tiết

Xem thêm :Tổng hợp những đề thi về các tác phẩm trọng tâm lớp 12

Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về vợ chồng a phủ

Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về vợ nhặt

Cảm nhận về hình ảnh giọt nước mắt của chí Phèo và A Phủ

Đề: cảm nhận về hình ảnh giọt nước mắt của Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao và  giọt nước mắt của A Phủ trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài.

Bài làm.

Đề tài về người nông dân từ lâu đã trở thành cảm hứng sáng tác của nhiều nhà văn. Ngô Tất Tố khắc họa tình cảnh của người nông dân trong nạn sưu cao thuế nặng qua nhân vật Chị Dậu trong “Tắt đèn”. Kim Lân lại viết về cuộc sống nghèo đói của người nông dân trong nạn đói qua “Vợ nhặt”. Cùng chung cảm hứng sáng tác ấy, Nam Cao và Tô Hoài đã tìm đến người nông dân để bày tỏ lòng cảm thông sâu sắc trước số phận đáng thương của họ mà tiêu biểu là qua hai tác phẩm “Chí Phèo” và “Vợ chồng A Phủ”. Qua truyện mỗi nhà văn không chỉ cho ta thấy được số phận khổ cực của người nông dân mà cao hơn cả là cho ta thấy phẩm chất tốt đẹp, đáng quý của họ. Điều đó được thể hiện rất rõ khi Nam Cao và Tô Hoài dụng công miêu tả những giọt nước mắt trong hai tác phẩm. Đó là giọt nước mắt của Chí Phèo và A Phủ.

Nam Cao và Tô Hoài đều là hai nhà văn tiêu biểu trong nền văn học Việt Nam. Sáng tác của Nam Cao tập trung ở giai đoạn trước cách mạng với hai đề tài chính là về người nông dân và người trí thức nghèo. Còn Tô Hoài có nhiều sáng tác nổi bật sau cách mạng tháng Tám. Ông có một lượng tác phẩm đồ sộ đạt kỉ lục trong kho tàng văn học Việt Nam. Truyện “Chí Phèo” và “Vợ nhặt” đều viết về cuộc sống khổ cực của người nông dân bị đè nén áp bức. Tuy nhiên ở họ luôn có những phầm chất cao đẹp. Tiêu biểu cho những con người ấylà nhân vật Chí Phèo và A Phủ. Trong số rất nhiều chi tiết, hình ảnh quan trọng thì hình ảnh giọt nước mắt của hai nhân vật ấy mang lại nhiều sức gợi và gợi nhiều suy nghĩ trong người đọc.

Ta cần hiểu “chi tiết nghệ thuật” là những biểu hiện cụ thể lắm khi nhỏ nhặt nhưng lại mang sức chứa lớn về cảm xúc và tư tưởng, tạo ra sức hấp dẫn cho người đọc. Thường có những chi tiết miêu tả thiên nhiên, chi tiết miêu tả không gian, chi tiết miêu tả về hành động, nội tâm của nhân vật…Chi tiết đóng vai trò quan trọng trong một tác phẩm văn học. Nó tạo ra tính hình tượng, thẩm mĩ cho tác phẩm. Chi tiết còn mang bản chất sáng tạo của người nghệ sĩ thể hiện quan niệm về con người và cuộc sống của nhà văn góp phần làm nổi bật chủ đề tưởng của tác phẩm. Chi tiết cũng là tiền đề cho sự phát triển của cốt truyện, là bước ngoặt trong hành động của nhân vật. Như vậy, tất cả các chi tiết ấy đều là kì công, tìm tòi, sáng tạo của mỗi nhà văn. Với vai trò quan trọng như vậy, chi tiết nghệ thuật giọt nước mắt trong “Chí Phèo” và “Vợ chồng A Phủ” đã góp phần làm rõ chủ đề tư tưởng, những thông điệp mà mỗi nhà văn muốn gửi tới bạn đọc.

Trước hết đến với hình ảnh trong tác phẩm “Chí Phèo”. Tác phẩm viết về nhân vật Chí Phèo, một người nông dân bị đày đọa đến mức bị tha hóa. Dưới sự tàn bạo của bọn địa chủ phong kiến, Chí Phèo từ một anh canh điền hiền lành lương thiện bị tha hóa đến cùng đường. Nhưng rồi chính con người ấy lại được thức tình nhờ sự chăm sóc ân cần của Thị Nở. Khi Chí Phèo say, Thị Nở đã mang cho hắn một bát cháo hành làm hắn rất ngạc nhiên “Thằng này rất ngạc nhiên. Hết ngạc nhiên hắn thấy mắt mình hình như ươn ướt”. Chí Phèo đã khóc bởi đây là lần đầu hắn được người ta cho. Xưa nay hắn phải đi cướp bóc, dọa nạt người khác chứ đã bao giờ có ai cho không hắn cái gì. Hơn nữa đây lại là của một người đàn bà cho hắn, hắn cầm bát cháo hành khói bốc lên nghi ngút mà lòng bâng khuâng. Lần đầu tiên hắn được ăn cháo hành  và cũng là lần đầu tiên hắn được chăm sóc bởi bàn tay của một người đàn bà. Giọt nước mắt ấy thể hiện một niềm vui, xúc động bởi hắn còn được người ta quan tâm. Trong các xã hội làng Vũ Đại hắt hủi, xa lánh, coi Chí như một con quỷ dữ thì vẫn còn có một người như thị quan tâm đến hắn. Hắn xúc động bởi xã hội loài người vẫn đón nhận hắn. Đó còn là giọt nước mắt của niềm vui, niềm hạnh phúc bởi hắn thấy mình còn có ý nghĩa trong cuộc đời, cuộc sống vẫn còn có ý nghĩa. Chí vui sướng hạnh phúc khi nghĩ rằng Thị Nở chấp nhận được hắn thì mọi người cũng sẽ yêu quý hắn. Và giọt nước mắt ấy còn khơi nguồn cho sự thức tỉnh bởi chính từ ấy mà Chí đã biết hối hận về tội ác trước đây và có khao khát làm người lương thiện, làm người có ý nghĩa trong cuộc sống. Giọt nước mắt hạnh phúc của Chí Phèo tạo ra bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời của Chí. với giọt nước mắt ấy, có lẽ cuộc sống của Chí sẽ đổi khác. Chí sẽ thành người lương thiện được mọi người chấp nhận. Chí muốn làm người lương thiện “Trời ơi hắn thèm lương thiện”, “hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao” và mong muốn Thị Nở sẽ mở đường cho hắn. Con quỷ dữ của làng Vũ Đại ấy đã được thức tỉnh và khát khao được hoàn lương.

Thế nhưng hạnh phúc đến với Chí Phèo chưa được bao lâu thì hắn đã bị hắt hủi, bị Thị Nở cự tuyệt. Chỉ với mấy lời nói tưởng chừng như gián tiếp của bà cô thị đã đẩy Chí một lần nữa vào hố sâu của sự xa lánh, bị tước đoạt quyền làm người. Sau khi bị Thị Nơ cự tuyệt, Chí Phèo đã “ngồi ngẩn mặt ra không nói gì”. Chí Phèo muốn níu kéo Thị Nở nhưng bị thị gạt tay ra, hắn đau đớn “ôm mặt khóc rưng rức”. Chí Phèo khóc là bởi hắn đã bị Thị Nở cự tuyệt, và cũng đồng nghĩa với việc Chí bị cả xã hội loài người cự tuyệt. Bởi một người xấu ma chê, quỷ hờn như thị mà cũng không chấp nhận Chí thì trong cái xã hội ấy có ai sẽ có thể chấp nhận được y. Chí đã từng mơ ước chính Thị sẽ cái cầu nối đưa hắn trở về với thế giới loài người nhưng bây giờ chính thị lại cắt đứt cái cầu nối kì diệu ấy. Hắn “ôm mặt khóc rưng rức” bởi cứ thoảng thấy hương vị của cháo hành, hương vị của tình yêu thương, chăm sóc. Càng nghĩ, Chí càng cảm thấy đau đớn, xót xa. Hắn khóc bỏi đau khổ, tuyệt vọng. Ý định làm người  lương thiện của y vừa mới chớm nở thì nay đã vụt tắt. Giọt nước mắt của Chí còn thể hiện cho sự căm phẫn đối với xã hội bất lương lúc bấy giờ mà tiêu biểu là qua Bá Kiến và bà cô Thị Nở. Đó còn là sự thức tỉnh của Chí Phèo khi nhận ra bi kịch của mình. Hắn nhận ra mình không thể trở thnahf người lương thiện được nữa. Chí nhận ra kẻ thù của mình chính là Bá Kiến. Đây là những giọt nước mắt đau đớn, giọt nước mắt ấy đã tạo ra bước ngoặt quan trọng trong nhận thức và hành động của Chí Phèo, từ đó dẫn đến việc Chí tự kết liễu được mình sau khi đâm chết Bá Kiến. Viết về sự thức tỉnh ấy của chí Phèo, Nam Cao thể hiện tiếng nói nhân đạo sâu sắc, nhà văn đã nhận ra bên trong mỗi con người tưởng như đã bị tha hóa, tưởng như đã mất đi phần lương tiện thì ở họ vẫn nhen nhóm lên ánh sáng của lương tri. Nhà văn cũng dụng công khi nói về giọt nước mắt của sự hoàn lương mà ông thường ca ngợi đó là “giọt châu của loài người”.  Giọt nước mắt của sự thức tỉnh ấy cũng được Nam Cao nói đến trong tác phẩm “Đời thừa” qua nhà văn Hộ. Nam Cao đã miêu tả giọt nước mắt của nhân vật Hộ “Nước mắt hắn bật ra như nước một quả chanh người ta bóp mạnh”. “Hắn khóc. Hắn khóc nức nở, khóc như thể không ra tiếng khóc”. Hộ khóc vì ân hận khi nhận ra hành động thô bạo của mình với vợ con. Như vậy sáng tác của Nam Cao đều rất dụng công miêu tả sự thức tỉnh nhân phẩm trong mỗi con người.

Đến với nhà văn Tô Hoài trrong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ”. Tác phẩm viết về cuộc sống đau khổ của người dân miền núi trong đó có A Phủ, họ phải chịu thống trị của bọn phong kiến miền núi. A Phủ vì đánh con quan nên bị bắt và bị nộp phạt và trở thành người ở trong nhà quan thống lí. Một lần chăn bò, A Phủ sơ ý đã hổ bắt mất một con bò, quan thống lí đã trói A Phủ vào cột nhà gần với nơi Mị (người con dâu gạt nợ cho nhà thống lí) thưòng trở dậy ngồi thổi lửa hơ tay vào mỗi đêm. Giọt nước mắt của A Phủ được cảm nhận bởi Mị khi cô ngồi sưởi lửa. Một lần ngồi sưởi lửa, Mị lé mắt trông sang thấy “Hai mắt A Phủ vừa mở. Một dòng nước mắt bò xuống hai hõm má đã xám đen lại”. Đó là giọt nước mắt hiếm hoi của một người đàn ông mà lại là một người gan bướng như A Phủ, Giọt nước mắt ấy thể hiện cho nỗi đau đớn đến tận cùng. Đau đớn vì những sợi dây mây thít chặt vào người nhưng có lẽ đau đớn hơn cả là trong lúc này A Phủ nghĩ đến tình cảnh đáng thương của mình. A Phủ khóc nhưng không hề cam chịu. Đó là giọt nước mắt của con người giàu nghĩa khí. Giọt nước mắt của A Phủ lại “lấp lánh” thể hiện cho khát vọng được sống, được tự do. A Phủ là một chàng trai mạnh mẽ, đã dám đánh lại con quan thống lí Pá Tra mà trong hoàn cảnh này lại khóc. Khát khao được sống, được tự do trong con người của một chàng trai miền núi như đang trào dâng mãnh liệt để rồi nó bật thành những giọt nước mắt. Giọt nước mắt của A Phủ cũng phần nào giống với Chí Phèo bởi nó thể hiện sự căm phẫn tận cùng tội ác của bọn địa chủ phong kiến. Chính bọn địa chỉ phong kiến đã tước đi quyền sống của Chí Phèo, của A Phủ và của bao người nông dân khác.

Nhưng nếu như giọt nước mắt của Chí Phèo làm hắn rơi vào bế tắc thì giọt nước mắt của A Phủ đã tìm được sự đồng điệu cảm thông. Nhà văn không để cho nhân vật của mình rơi vào “bước đường cùng” mà giúp cho họ một hướng đi khi đã giúp họ có những thay đổi trong tình cảm và nhận thức. Giọt nước mắt của A Phủ đã tác động đến nhận thức và tình cảm của Mị. Nhìn A Phủ khóc, Mị đã nhớ lại “đêm năm trước, A Sử trói Mị, Mị cũng phải đứng như thế kia. Nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ mà không biết lau đi được”. Cô đồng cảm sâu sắc với A Phủ, đó là niềm đồng cảm của những con người cùng cảnh ngộ. Từ người khác, nghĩ đến hoàn cảnh của mình rồi từ lòng thương mình dẫn đến thương người. Từ đó Mị có sự thay đổi nhận thức rất quan trọng. Mị nhận thấy sự bất công vô lí của xã hội, thấy sự oan ức trong tình cảnh của APhủ “người kia việc gì mà phải chết”. Mị cũng nhận ra sự tàn bạo của bọn của bọn địa chủ phong kiến “chúng nó thật độc ác”. Như vậy chính từ giọt nước mắt của A Phủ đã làm lay động, thức tỉnh tâm hồn Mị. Đó chính là tiền đề quan trọng để tạo ra bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời Mị và A Phủ. Từ những nhận thức đáng quý ấy, Mị đã có hành động quyết liệt là cứu thoát A Phủ và tự giải thoát cho chính mình. Nếu không có sự thức tỉnh từ giọt nước mắt của A Phủ thì cô Mị không thể có hành động táo bạo và quyết liệt như vậy và cuộc sống của người nông dân miền núi vẫn là sự bế tắc cùng đường.  Chi tiết “giọt nước mắt của A Phủ’ là một chi tiết nhỏ nhưng mang lại rất nhiều ý nghĩa, nó góp phần quan trọng trong việc thể hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Hình ảnh đó cũng thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc khi nhà văn đã đồng cảm sẻ chia với những bất hạnh của con người. Đồng thời Tô Hoài cũng trân trọng khát vọng tự do ở người nông dân. Và chỉ bằng chi tiết nhỏ đó thôi nhà văn cũng đã hé mở về cuộc sống tốt đẹp cho họ.

Như vậy, chi tiết về giọt nước mắt của Chí Phèo và giọt nước mắt của A Phủ đều thể hiện được những nỗi đau và sự bế tắc của những người nông dân trong tình cảnh bị đè nén. Đằng sau đó là một niềm khát khao về sự sống, khát khao tự do. Tuy nhiên hai tác phẩm được viết trong những hoàn cảnh cụ thể khác nhau với dụng ý nghệ thuật khác nhau nên mỗi chi tiết có sức biểu đạt và ý nghĩa riêng. Giọt nước mắt của Chí Phèo thể hiện sự thức tỉnh của người nông dân nhưng cuối cùng lại rơi vào bế tắc. Điều đó thể hiện rõ nét đặc trưng của văn học phê phán thời kì trước cách mạng Tháng Tám. Giọt nước mắt của A Phủ làm lay động thức tỉnh con người và hướng họ đến cuộc đời tươi sáng. Đó chính là dấu ấn của văn học sau 1945, khi các nhà văn đã được cách mạng soi sáng nên nhìn cuộc đời bằng cái nhìn lạc quan để mở ra cuộc sống tốt đẹp cho người nông dân. Qua điều đó Tô Hoài muốn khẩng định chỉ cách mạng mới đem lại cho người nông dân một cuộc đời mới.

Qua việc khắc họa những chi tiết tiêu biểu như trên, nhà văn Nam Cao và Tô Hoài đã khẳng định tài năng của mình trong việc xâu dựng các chi tiết điển hình để xây dựng thành công tâm lí nhân vật từ đó mà góp phần quan trọng vào việc khắc họa chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Với ý nghĩa đó, tác phẩm “Chí Phèo”- Nam Cao, “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài trở thành những tác phẩm tiêu biểu trong dòng văn học Việt Nam.

Hs Vũ Thị Đan Hạ – Lớp 12 năm học 2015- 2016.

Dẫn theo  :Phạm Thị Thanh Nhàn

Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về vợ chồng a phủ, Chí Phèo,

Dạng đề so sánh văn học

Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về các tác phẩm lớp 12 ( phần 2 )

Tổng hợp những Kết bài Nghị luận văn học Ngữ văn 12 hay nhất :  Tây Tiến, Đất nước, Vợ nhặt, Vợ chồng A Phủ, Rừng xà nu, Chiếc thuyền ngoài xa, Việt Bắc, Sóng, Người lái đò sông Đà, Ai đã đặt tên cho dòng sông

Tài liệu bài luyện tập rèn kĩ năng viết mở bài, kết bài trong văn nghị luận

1, Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Tây Tiến– Quang Dũng

  1. Từ sự kết hợp một cách hài hoà giữa cái nhìn hiện thực với cảm hứng lãng mạn, Quang Dũng đã dựng lên bức chân dung, một bức tượng đài người lính cách mạng vừa chân thực vừa có sức khái quát, tiêu biểu cho vẻ đẹp sức mạnh dân tộc ta trong thời đại mới, thời đại cả dân tộc đứng lên làm cuộc kháng chiến vệ quốc thần kỳ chống thực dân Pháp. Đó là bức tượng đài được kết tinh từ âm hưởng bi tráng của cuộc kháng chiến ấy. Đó là bức tượng đài được khắc tạc bằng cả tình yêu của Quang Dũng đối với những người đồng đội, đối với đất nước của mình. Vì thế từ Tây Tiến, từ bức tượng đài đã vút lên khúc hát ngợi ca của nhà thơ cũng như của cả đất nước về những người con anh hùng ấy.
  2. Quang Dũng vào “làng” thơ cách mạng với bài Tây Tiến . Như có mối duyên gì ràng buộc, bài thơ ấy gắn bó với người làm ra nó đến mức cứ nói đến Quang Dũng là người ta nhớ đến bài thơ Tây Tiến và ngược lại.Có lẽ bởi từ sự kết hợp một cách hài hoà giữa cái nhìn hiện thực với cảm hứng lãng mạn, Quang Dũng đã dựng lên bức chân dung, một bức tượng đài người lính cách mạng vừa chân thực vừa có sức khái quát, tiêu biểu cho vẻ đẹp sức mạnh dân tộc ta trong thời đại mới, thời đại cả dân tộc đứng lên làm cuộc kháng chiến vệ quốc thần kỳ chống thực dân Pháp.
  3. Đọc xong những ý thơ mà tôi có cảm giác vẻ đẹp của thiên nhiên, con người miền Tây còn chập chờn, mien man đâu đó. Bằng tình cảm sâu đậm của mình với mảnh đất này, Quang Dũng đã tạo nên mối tơ tình đồng điệu, gắn bó giữa độc giả với nhà thơ, giữa độc giả với thiên nhiên, con người miền Tây trong những năm tháng kháng chiến gian nan. Quả là “ Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy / Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”.

2. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Đất Nước- Nguyễn Khoa Điềm:

Những vần thơ rất đẹp trong Đất Nướcđã vượt qua thử thách của thời gian, tiếp tục toả sáng, giúp thế hệ học sinh hôm nay hiểu hơn về thế hệ cha ông trong những ngày tháng hào hùng nhất của dân tộc. Trong thời đại mới, những giá trị của ngày hôm qua góp phần khơidậy lòng tự hào và ý thức trách nhiệm, tình cảm cho mỗi con người trong khát vọng đưa Đất Nước đi xa đến những tháng ngày mơ mộng

3. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Việt Bắc Tố Hữu

  1. Như vậy nhà thơ Tố Hữu đã thể hiện những tâm sự của mình nói riêng và của tất cả những chiến sĩ và nhân dân Việt Bắc nói chung. Mười lăm năm kháng chiến với biết bao nhiêu kỉ niệm và giờ đây khi phải xa nhau thấy lòng mình thật muốn vỡ òa trong nức nở. Chân không muốn rời xa. Qua đây ta thấy được tình nghĩa đoàn kết keo sơn của con người Việt Nam mà cụthể đó là tình quân dân. Để đạt được những thắng lợi trên mặt trận ấy thì không thể nào quên ơn những người nhân dân Việt Bắc được
  2. Trong câu chuyện với một nhà nghiên cứu văn học người Pháp, Tố Hữu tâm sự rằng: “Mình phải lòng đất nước và nhân dân của mình. Nói về đất nước, nói về nhân dân như nói về người mình yêu”. Phải chăng, tâm sự đó là những lời mà Tố Hữu nói về Việt Bắc, nói về những vần thơ chan chứa tình quân dân gắn bó, tình yêu nước thiết tha. Những tình cảm thiêng liêng ấy cứ vấn vương mãi trong lòng người đọc.

4. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Sóng- Xuân Quỳnh

  1. Sóng – bài thơ thành công trong phương thức biểu hiện cảm xúc của thi sĩ. Kết cấu song trùng, sự tương xứng giữa hai hình tượng Sóng và Em là sáng tạo nghệ thuật đặc sắc, giàu tính thẩm mĩ của Xuân Quỳnh. Với sự sáng tạo ấy, Xuân Quỳnh đã nói lên một cách nồng thắm mà không kém phần tế nhị những khát khao rạo rực của trái tim yêu. Đó cũng là những khát khao đời thường, dung dị, cao quý. Tiếng nói ấy chân thành, tự nhiên mà sâu sắc được diễn tả qua hình tượng thơ gợi cảm, đa nghĩa. Xuân Quỳnh thực sự là thi sĩ của tình yêu, thi sĩ của những rung động nữ tính trong trái tim.
  2. Bài thơ Sóng là bài thơ giàu giá trị nội dung và nghệ thuật. Thành công của bài thơ là nhờ vào thủ pháp nghệ thuật nhân hóa, ẩn dụ, so sánh, đối lập… nhất là thể thơ ngũ ngôn giàu nhịp điệu. Nhịp điệu của sóng, nhịp điệu của tâm hồn. Tất cả đã làm hiện lên vẻ đẹp rất Xuân Quỳnh giàu trắc ẩn suy tư và khát vọng trong tình yêu. Đọc xong bài thơ “Sóng” ta càng ngưỡng mộ hơn những người phụ nữ Việt Nam, những con người luôn thuỷ chung, luôn sống hết mình vì một tình yêu. Xuân Quỳnh xứng đáng là một nhà thơ nữ của tình yêu lứa đôi, chị đã làm phong phú hơn cho nền thơ ca nước nhà

5. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài  Ai đã đặt tên cho dòng sông– Hoàng Phủ Ngọc Tường

Hoàng Phủ Ngọc Tường đã dẫn người đọc vào cuộc hành trình khám phá nét đẹp của thiên nhiên Huế. Lần lượt theo dòng chảy của Hương giang, tôi bắt gặp khung cảnh thiên nhiên Huế lúc nguyên sơ, trong trẻo, lúc mượt mà khi kì ảo, lúc dịu dàng say đắm khi thâm trầm trang nghiêm. Sông Hương tôn lên vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên Huế, hòa nhập với không khí của văn hóa Huế. Tất cả đều sống động qua tình yêu tha thiết của Hoàng Phủ Ngọc Tường với con sông này. Qua hình tượng sông Hương tôi còn cảm nhận vẻ đẹp cái tôi Hoàng Phủ Ngọc Tường: một cái tôi trí tuệ uyên bác qua những tri thức phong phú với nhiều lĩnh vực, một cái tôi tài hoa phóng túng với những liên tưởng bất ngờ. Và trên hết là một cái tôi sâu nặng tình yêu và tự hào với Huế – quê hương của mình.Tất cả làm nên sức sống của thiên kí này.

6. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Người lái đò sông Đà– Nguyễn Tuân

Phong cách Nguyễn Tuân độc đáo và phong phú.Ở tùy bút “Người lái đò sông Đà” chúng ta thấy phong cách giá trị của ông thể hiện rõ nhất là sự nhọn sắc của giác quan nghệ sĩ đi đôi với một kho chữ nghĩa giàu có và đầy màu sắc, lối văn rất mực tài hoa. Dòng sông Đà “hung bạo và trữ tình” cùng hình tượng người lái đò tài hoa chảy mãi trong dòng văn học nước nhà như niềm yêu mến và tự hào về con người, cỏ cây sông núi quê hương của nhà văn Nguyễn Tuân

7. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Vợ chồng A Phủ– Tô Hoài

Gấp lại những trang sách mà dư âm về nhân vật Mị, về cô gái Mèo với sức sống mãnh liệt trong đêm tình mùa xuân, về số phận đáng thương của người dân dưới xã hội phong kiến đương thời vẫn còn in đậm trong tâm hồn tôi. Mị hay Vợ chồng A Phủ mãi là những rung động sâu sắc mà Tô Hoài để lại nơi người đọc.

8. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Vợ nhặt– Kim Lân

  1. “Cái đẹp cứu vớt con người” (Đôxtôiepki). Vâng, “vợ nhặt” củanhà văn Kim Lân thể hiện rõ sức mạnh kì diệu ấy. Ánh sáng của tình người, lòng tin yêu vào cuộc sống là con nguồn mạch giúp Kim Lân hoàn thành tác phẩm. Ông đã đóng góp cho văn học Việt Nam nói chung, về đề tài nạn đói nói riêng một quan niệm mới về lòng người và tình người. Đọc xong thiên truyện, dấu nhấn mạnh mẽ nhất trong tâm hồn bạn đọc chính là ở điểm sáng tuyệt vời ấy.
  1. Bằng ngòi bút miêu tả chân thực, sinh động, cách khắc họa tâm lý nhân vật sắc sảo,độc đáo và cốt truyện đầy bất ngờ Kim Lân đã vẽ lại trước mắt người đọc khung cảnh đói nghèo tràn lan của xã hội Việt Nam những năm 1945. Qua đó tác giả cũng nhấn mạnh tình yêu thương giữa người với người luôn bất diệt.

 

9. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Rừng xà nu– Nguyễn Trung Thành

Rừng xà nu là truyện của một người nhưng qua đó ta thấy được số phận của cả một dân tộc . Đó là bức tranh hoành tráng , hoành tráng trong hình ảnh, với vóc dáng vạm vỡ của cao cả của rừng núi và của con người và hoành tráng trong âm hưởng với lời văn đầy nhịp điệu, khi vang động, khi tha thiết trang nghiêm .

10. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Chiếc thuyền ngoài xa– Nguyễn Minh Châu

Qua truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu đã nêu lên bài học về cái nhìn đa diện, cái nhìn khám phá trong sáng tạo nghệ thuật đối với các nghệ sĩ chân chính. Từ tình huống truyện có ý nghĩa khám phá, phát hiện về sự thật đời sống và qua sự thay đổi nhận thức của Phùng, của Đẩu, tác giả đã khẳng định mối quan hệ giữa nghệ thuật và hiện thực. Theo ông, bổn phận của người nghệ sĩ là phải phát hiện ra bản chất của cuộc đời. Cái Đẹp, cái Thiện trước hết phải là sự chân thực, Cuộc sống vốn phức tạp, chúng ta không thể đơn giản, sơ lược khi nhìn nhận con người và cuộc sống mà cần có cái nhìn tỉnh táo, sâu sắc cùng với sự tìm tòi, phát hiện để hiểu đúng bản chất của nó.

Tài liệu sưu tầm và tổng hợp

Xem thêm :

  1. Tổng hợp những kết bài hay về các tác phẩm lớp 12 ( phần 1 )
  2. Tuyển tập những kết bài mẫu  về các tác phẩm lớp 11 
  3. Cách viết phần kết bài trong văn nghị luận
  4. Tuyển tập những mở bài hay nhất về các tác phẩm lớp 12

Nghị luận ý kiến bàn về nhân vật Mỵ trong Vợ chồng A Phủ Tô Hoài

Ôn thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn. Bộ đề luyện thi về Vợ chồng A Phủ- Tô Hoài.

Đề bài:

Nhà văn Nguyễn Khải đã từng nói: “Ở đời này không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có sức mạnh để bước qua ranh giới ấy

(Mùa lạc, SGK Văn học 12, tr.138. NXB Giáo dục, 2000)

Anh/chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy phân tích nhân vật Mị  trong đoạn trích “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài để làm sáng tỏ ý kiến trên.

Hướng dẫn giải :

Mở bài :

  • Giới thiệu tác giả Tô Hoài và truyện Vợ chồng A Phủ
  • Giới thiệu ý kiến của Nguyễn Khải : “Ở đời này không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có sức mạnh để bước qua ranh giới ấy

Thân bài :

 

Giải thích ý kiến:

Câu nói ấy là như thế nào?

Con đường cùng: con đường không còn lối đi, bế tắc, không lối thoát.

– Ranh giới: đường phân chia giới hạn giữa hai khu vực

-> Ý nghĩa của cả câu nói: Trong cuộc sống, có khi con người chúng ta gặp phải những khó khăn tưởng như không thể vượt qua được. Nhưng đó không phải là đường cùng, đó chỉ là một ranh giới, một thử thách ý chí mà nếu con người có ý chí, nghị lực, có niềm tin, có quyết tâm thì sẽ vượt qua.

Tại sao Nguyễn Khải lại nói như thế?

– Xuất phát từ thực tế, có những khi con người ta phải trải qua một cảnh ngộ cuộc sống tưởng không thể vượt qua được và họ đã bi quan, coi như đó là bước đường cùng của cuộc đời mình. Tức là ở vào những giờ phút (thậm chí vào những ngày tháng) nhất định họ mất niềm tin vào cuộc sống.

– “Chỉ có những ranh giới” tức là những khó khăn, thử thách đó con người có thể vượt qua.

– “Điều cốt yếu…vượt qua”: có niềm tin, có cố gắng, biết huy động sức mạnh sẽ vượt qua được ranh giới. Sức mạnh ấy có từ sự nỗ lực của bản thân (yếu tố chủ quan) và từ hoàn cảnh cuộc sống tạo điều kiện hỗ trợ cho sức mạnh của con người (yếu tố khách quan)

Phân tích, chứng minh

– Ranh giới mà Mị phải vượt qua: Đó là sự trói buộc về thể xác và sự đè nén về tinh thần, đặc biệt là sự đè nén về tinh thần.. Những người phụ nữ trong xã hội cũ ở miền núi tự cho rằng mình đã là con dâu trong nhà người ta  (dù là do hoàn cảnh bắt buộc) tất phải chấp nhận sống, chết, may thì được hưởng hạnh phúc, không may thì phải chấp nhận đau khổ. Sự nhẫn nhục và cam chịu đã ăn sâu vào máu thịt của họ và Mị không nằm ngoài quy luật ấy. Mĩ đã nghĩ: “ta là thân đàn bà, nó bắt ta về trình ma nhà nó thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi”.

– Sức mạnh khiến Mị vượt qua ranh giới:

+ Sức mạnh nội tại: trong Mị luôn tiềm tàng một sức sống mãnh liệt (Thí sinh phân tích sức sống tiềm tàng của Mị bộc lộ trong những hoàn cảnh: khi mới bị bắt về làm dâu gạt nợ Mị đau khổ muốn ăn lá ngón tự tử; trong đêm tình mùa xuân, Mị muốn đi chơi xuân…; khi cởi trói cho A Phủ và cũng A Phủ chạy trốn)

+ Sự tác động của hoàn cảnh khách quan: không khí đón Tết ở Hồng Ngài (đặc biệt là tiếng sáo) và cảnh A Phủ bị trói (đặc biệt là giọt nước mắt của A Phủ). Có một hoàn cảnh thuận lợi, thích hợp nhưng nếu con người không có sẵn sức mạnh nội tại  thì hoàn cảnh đó cũng chẳng có ý nghĩa gì. Nhân vật Mị sẵn có trong mình một sức mạnh tiềm tàng và khi gặp hoàn  cảnh khách quan thuận lợi thì sức mạnh đó được khơi dậy, được phát huy.

Đánh giá khái quát:

– Câu nói của Nguyễn Khải đã thể hiện một cái nhìn lạc quan về cuộc đời, một lối sống tích cực, có trách nhiệm. Câu nói như một lời khuyên, động viên con người đừng bao giờ chán nản, buông xuôi mà phải có nghị lực, niềm tin trước những khó khăn, thử thách trong cuộc sống

– Nhân vật Mị trong đoạn trích “Vợ chồng A Phủ” là một người phụ nữ có số phận đau khổ cực nhục, có sức sống tiềm tàng mãnh liệt. Sức sống mãnh liệt và khát vọng tự do đã giúp Mị vượt qua được ranh giới cuộc đời nô lệ để tự giải phóng cho mình. Qua đó nhà văn thể hiện niềm tin vào sức mạnh, bản lĩnh sống của con người.

– Khắc họa tâm lí nhân vật tinh tế, sắc sảo, chân thực.

Kết bài :

  • Đánh  giá chung
  • Khẳng định ý kiến trên là đúng đắn.

Xem thêm :Bộ đề luyện thi về Vợ chồng A Phủ- Tô Hoài : http://vanhay.edu.vn/tag/vo-chong-a-phu

Đề thi thử THPT Quốc gia môn Ngữ văn – đề số 50

Bộ đề thi thử THPT Quốc gia môn văn có đáp án. Nghị luận xã hội 200 chữ Giữa thế giới không nhiều may mắn – Ta học cách vừa lòng với mình. Nghị luận phân tích nhân vật Mị trong Vợ Chồng A Phủ

ĐỀ THỬ NGHIỆM THPT QUỐC GIA 2017

Thời gian làm bài: 120 phút

ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

 Đọc bài thơ sau đây và thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 4

Hy vọng

Nhiều khi đá dạy ta mềm mỏng

Sự tàn nhẫn nhắc ta điều lành

Nỗi buồn đánh thức hy vọng

Giữa thế giới không nhiều may mắn

Ta học cách vừa lòng với mình

Chia sẻ sự bình tâm của cỏ

Mãi khi giữa đêm chợt thức

Bập bềnh ý nghĩ xót xa:

Anh còn có thể, không thể…?

Thăm thẳm ngày xưa bình an

Vời vợi ngày mai chói nắng…

(Thơ Nguyễn Khoa Điềm, Tuyển tập 40 năm do tác giả chọn, NXB Văn học, 2012)

  1. Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài thơ ?
  2. Anh/chị hiểu thế nào về hai câu thơ: “Giữa thế giới không nhiều may mắn – Ta học cách vừa lòng với mình” ?
  3. Chỉ ra và nêu hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong ba câu thơ đầu.
  4. Theo anh/chị, thông điệp mà nhà thơ muốn gửi gắm qua bài thơ là gì ?

 LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm)

Viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ) bày tỏ suy nghĩ của anh/chị về quan niệm sống được thể hiện qua hai câu thơ được nêu ở phần Đọc hiểu: “Giữa thế giới không nhiều may mắn – Ta học cách vừa lòng với mình” .

Câu 2 (5,0 điểm)

Trong bài cảm nghĩ về chuyện “Vợ chồng A Phủ“, tác giả Tô Hoài chia sẻ:  ” Nhưng điều kì diệu là dẫu trong cùng cực đến thế nào mọi thế lực của tội ác cũng không giết được sức sống con người. Lay lắt, đói khổ, nhục nhã, Mị vẫn sống, âm thầm, tiềm tàng mãnh liệt.”  ( Tác phẩm văn học 1930 – 1975, Tập hai, NXB Khoa học Xã hội, 1990, tr.71).

Qua việc phân tích nhân vật Mị trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” ( đoạn trích được học) của Tô Hoài, anh/ chị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.

 

ĐÁP ÁN ĐỀ THỬ NGHIỆM THPT QUỐC GIA

 ĐỌC HIỂU (2,0 điểm)

  1. Phương thức biểu đạt chính của bài thơ là biểu cảm. (0,5)
  2. Hai câu thơ: “Giữa thế giới không nhiều may mắn – Ta học cách vừa lòng với mình” là sự bày tỏ một thái độ sống, quan niệm sống của tác giả – giữa một thế giới nhiều cạm bẫy, nhiều hiểm họa, không nhiều may mắn, nhà thơ lựa chọn cách sống vừa lòng với mình, trân trọng những gì mình có để sống an nhiên giữa cuộc đời. (0,5)
  3. Chỉ ra và nêu hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong ba câu thơ đầu.

– Ba câu thơ đầu sử dụng nghệ thuật ẩn dụ và tương phản: đá – mềm mỏng, sự tàn nhẫn – điều lành, nỗi buồn – hy vọng. (0,5)

­– Hiệu quả: nhấn mạnh tính chất biện chứng, đa diện của cuộc sống. Giữa những sự vật tưởng chừng đối lập nhau lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, đặc biệt trong những sự vật, hiện tượng tưởng chừng tiêu cực, bi quan lại lóe lên những hi vọng tươi đẹp, lạc quan. Từ đó, tác giả gửi gắm thông điệp về niềm hi vọng trong bài thơ. (0,5)

  1. Thông điệp mà nhà thơ muốn gửi gắm qua bài thơ nằm ở chính nhan đề của bài thơ: hi vọng. Dù cuộc đời có đầy chông gai và thử thách, không nhiều may mắn, không dễ dàng, nhưng ngay cả trong những điều tưởng chừng bi quan, tăm tối, thất vọng nhất vẫn có thể tìm thấy niềm hi vọng. Hãy trân trọng quá khứ, trân trọng bản thân với những gì mình đang có ở hiện tại và nuôi giữ niềm hi vọng vào tương lai. (1,0)

LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm)

Yêu cầu chung:

Đảm bảo yêu cầu viết đoạn văn.

Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau song cần bám sát vào quan niệm sống được thể hiện qua hai câu thơ ở phần Đọc – hiểu, từ đó bày tỏ quan điểm, suy nghĩ của mình về quan điểm sống đó.

Yêu cầu về kiến thức:

Có thể tham khảo gợi ý sau:

  1. Nêu ra quan niệm sống được tác giả Nguyễn Khoa Điềm thể hiện trong hai câu thơ:, học cách vừa lòng với chính mình để tìm được sự an nhiên giữa cuộc đời nhiều chông gai, ít may mắn. (0,25)
  2. Bình luận về quan niệm sống trên: (1,25)

–  Mặt tích cực: (0,5)

+ Thái độ sống bình thản, an nhiên là biểu hiện của bản lĩnh con người vững vàng trước sóng gió cuộc đời. Có được thái độ sống đó, con người sẽ bình tĩnh để không a dua theo thời thế, để không bị cám dỗ bởi những phù hoa của xã hội.

+ Biết gạn lọc những giá trị của đời sống, trân trọng những gì mình đang có; giữa thế giới không nhiều may mắn, ta không trông chờ vào niềm hạnh phúc an nhiên ngoài mình, mà tìm thấy ngay trong bản thân, chủ động trước cuộc đời.

– Mặt tiêu cực: (0,5)

+ Thái độ sống an nhiên nếu thái quá sẽ thành dửng dưng, sẽ trở nên ích kỉ lạnh lùng. Đó sẽ là nguyên nhân dẫn đến căn bệnh vô cảm.

+ Học cách vừa lòng với mình không có nghĩa là bằng lòng và dậm chân tại chỗ, nếu như vậy con người sẽ trì trệ, xã hội không phát triển.

– Đánh giá: (0,25) quan niệm sống qua hai câu thơ vừa có mặt tích cực vừa có mặt hạn chế.

Rút ra bài học (0,25)

– Cần sống có bản lĩnh, biết trân trọng những gì mình có song cũng cần phấn đấu vươn lên để chinh phục thế giới, chinh phục khó khăn thử thách để khẳng định bản lĩnh của mình.

Câu 2 (5,0 điểm)

Yêu cầu kĩ năng:

– Biết cách làm bài NLVH

– Diễn đạt mạch lạc, trong sáng, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

– Vận dụng các thao tác lập luận: giải thích, phân tích, bình luận, so sánh

Yêu cầu kiến thức:

Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau,

Giới thiệu tác giả, tác phẩm và giải thích ý kiến (1,0 điểm)

Về tác giả Tô Hoài và tác phẩm Vợ chồng A Phủ

Giải thích ý kiến

Lời chia sẻ của chính tác giả Tô Hoài đã bày tỏ sự cảm phục sức sống tiềm tàng mãnh liệt ngay trong hoàn cảnh khốn cùng, bị đày đọa của Mị – nhân vật trung tâm của truyện ngắn Vợ chồng A Phủ.  Qua lời chia sẻ, tác giả đã:

– Phản ánh cuộc sống khổ nhục của người dân miền núi ( cùng cực, lay lắt, đói khổ, nhục nhã, bị đọa đày) qua đó gián tiếp tố cáo chế độ phong kiến thực dân miền núi đày đọa con người.

– Đặc biệt Tô Hoài đề cao bản chất tốt đẹp và khẳng định sức sống ngoan cường, bất diệt (không thể giết được sức sống con người, vẫn sống, âm thầm tiềm tàng mãnh liệt) của người dân miền núi nhất là những người trẻ tuổi. Đó cũng là nội dung chính, chủ đề làm nên giá trị của tác phẩm Vợ chồng A Phủ.

Phân tích nhân vật Mị để làm sáng tỏ ý kiến (3,0 điểm)

Mị là hiện thân cho những con người bị đày đọa, biến thành nô lệ

– Mị có phẩm chất tốt đẹp:

+ Mị là một thiếu nữ xinh đẹp, tài hoa, hồn nhiên, yêu đời, yêu tự do, ý thức được quyền sống của mình.

+ Phẩm chất tốt đẹp nhất của Mị là giàu lòng vị tha, đức hi sinh: Mị thà chết còn hơn sống khổ nhục, nhưng rồi Mị chấp nhận sống khổ nhục còn hơn là bất hiếu.

– Mị bị cha con thống lí (đại diện cho ách thống trị của PK miền núi) đày đọa về thể xác lẫn tinh thần:

+ Mị là con dâu gạt nợ, sản phẩm cho nạn cho vay nặng lãi của bọn chúa đất miền núi. Mị bị đối xử như một nô lệ, lao động triền miên như một cái máy. Mị sống khổ nhục hơn cả trâu ngựa, thường xuyên bị A Sử đánh đập tàn nhẫn. Mị sống như một tù nhân trong căn buồng chật hẹp, tối tăm.

+ Mị bị thế lực phong kiến thực dân miền núi hù dọa, trói buộc bởi thần quyền (cúng trình ma, nhận ma). Mị muốn sống cũng chẳng được sống cho ra người, muốn chết cũng không xong. “ Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi” dường như Mị đã cam chịu thân phận khốn khổ, sống như cái bóng, như “con rùa nuôi trong xó cửa“. Mị sống mà như chết.

+ Mị còn bị nô dịch về tư tưởng bởi bóng ma thần quyền: “Ta là thân đàn bà, nó đã bắt về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết đợi ngày chết rũ xương ở đây thôi”…

Nhưng sức sống trong Mị vẫn tiềm tàng mạnh mẽ, không thể bị hủy diệt

Nhưng dù trong bất cứ tình huống nào, thế lực phong kiến thực dân miền núi không thể tiêu diệt được sức sống ngoan cường, mãnh liệt luôn tiềm ẩn trong Mị.

– Sức sống của Mị đã bùng dậy trong đêm tình xuân ở Hồng Ngài:

+ Bên trong hình ảnh “con rùa nuôi trong xó cửa vẫn đang còn một con người khát khao tự do, khát khao hạnh phúc. Gió rét dữ dội cũng không ngăn được sức xuân tươi trẻ trong thiên nhiên và con người, tất cả đánh thức tâm hồn Mị. Mị uống rượu để quên hiện tại đau khổ. Mị nhớ lại thời con gái, Mị sống lại với niềm say mê yêu đời của tuổi trẻ. Trong khi đó, tiếng sáo( biểu tượng của tình yêu và khát vọng tự do) từ chỗ là hiện tượng ngoại cảnh đã đi sâu vào tâm tư Mị.

+ Mị thắp đèn như thắp lên ánh sáng chiếu rọi vào cuộc đời tăm tối. Mị chuẩn bị đi chơi nhưng bị A Sử trói lại. Tuy bị trói nhưng Mị vẫn tưởng tượng và hành động như một người tự do, Mị vùng bước đi. (Dẫn chứng phần sức sống tiềm tàng của Mị trong đêm mùa xuân ở Hồng Ngài)

– Đỉnh cao của sức sống, khát vọng tự do ngoan cường mãnh liệt là hành động của Mị trong đêm đông cứu A Phủ:

+ Lúc đầu thấy A Phủ bị trói, Mị vẫn thản nhiên. Nhưng khi Mị thấy dòng nước mắt trên má A Phủ, nhớ lại cảnh ngộ của mình trong đêm mùa xuân năm trước, Mị đồng cảm, thương xót A Phủ. Phân tích nét tâm lí: Mị thấy cái chết sắp tới với A Phủ là uất ức, phi lí. Mị không sợ hình phạt của Pá Tra , ý thức căm thù và lòng nhân ái giúp Mị thắng nỗi sợ hãi, biến Mị thành con người dũng cảm trong hành động cắt dây trói cứu A Phủ.

+ Ngay sau đó, Mị đứng lặng trong bóng tối với bao giằng xé trong lòng. Nhưng rồi khát vọng sống trỗi dậy thật mãnh liệt, Mị vụt chạy theo A Phủ, đến với tự do.

– Với bút pháp hiện thực sắc sảo, nghệ thuật phân tích tâm lí nhân vật tinh tế( đặt nhân vật trong những tình huống độc đáo, nhập thân vào nhân vật, thể hiện tâm trạng khi tuần tự, khi đột biến…) Tô Hoài đã xây dựng thành công nhân vật Mị, thể hiện sâu sắc sức sống tiềm tàng mãnh liệt, không thể bị hủy diệt của con người.

Đánh giá , bình luận ý kiến (1,0 điểm)

– Lời chia sẻ của chính tác giả Tô Hoài về nhân vật Mị đã thể hiện cảm xúc đặc biệt của ông với nhân vật của mình đồng thời cũng bộc lộ sự khám phá, trân trọng ngợi ca sức sống ngoan cường, sức mạnh kỳ diệu của những người dân miền núi dưới ách thống trị đọa đày của bọn quan làng. Văn học gắn bó với đời sống, nhân vật văn học từ cuộc sống bước vào tác phẩm, tác phẩm chính là kết quả của chuyến đi thực tế kéo dài 8 tháng của Tô Hoài với đồng bào các dân tộc Tây Bắc năm 1952. Lời chia sẻ giản dị, xúc cảm về con người và miền đất để thương để nhớ trong Tô Hoài đã chứa đựng thông điệp nghệ thuật đầy ý nghĩa, thể hiện niềm tin bất diệt vào con người, nổi bật giá trị hiện thực, nhân đạo của tác phẩm.

+ Cuộc đời đau khổ, tủi nhục của Mị có ý nghĩa tiêu biểu cho kiếp sống khốn khổ của người dân miền núi dưới ách thống trị của các thế lực phong kiến và thực dân. Điều đó đem lại giá trị hiện thực sâu sắc cho tác phẩm.

+ Nhưng có áp bức có đấu tranh, nhân vật Mị chính là điển hình sinh động cho sức sống tiềm tàng, sức vươn lên mạnh mẽ của con người từ trong hoàn cảnh tăm tối, hướng tới ánh sáng của nhân phẩm và tự do. Thể hiện niềm tin mãnh liệt vào con người, khẳng định sức sống tiềm tàng của con người ngay trong hoàn cảnh khốn cùng, bị đọa đày; khẳng định các thế lực dù tàn bạo đến đâu cũng không thể tiêu diệt được sức sống con người; khát vọng sống của con người là bất diệt, truyện ngắn có giá trị nhân đạo sâu sắc, tiến bộ.

– Thể hiện niềm tin của nhà văn vào con người và khát vọng sống mãnh liệt ở họ. Đó là biểu hiện của tư tưởng nhân đạo ở Tô Hoài.

Xem thêm :

Đề thi thử THPT Quốc gia môn Ngữ văn số 47

Bộ đề ôn thi ngữ văn lớp 12. Đề đọc hiểu Nghị luận xã hội 200 chữ chủ đề: Theo đuổi ước mơ. Phân tích nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ để chứng minh ý kiến.

 SỞ GD&ĐT TUYÊN QUANG                     ĐỀ KIỂM TRA NĂM 2017

TRƯỜNG THPT XUÂN HUY                               MÔN: NGỮ VĂN 12

                                 (Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian giao đề)

 

XÁC ĐỊNH MỤC TIÊU KIỂM TRA

Đọc hiểu văn bản:

Về kiến thức:

–  Xác định được phương thức biểu đạt.

– Xác định được vấn đề được đề cập tới trong đoạn trích.

– Xác định được biện pháp tu từ và  tác dụng của biện pháp tu từ.

– Hiểu được nội dung, thông điệp được đề cập đến trong đoạn trích.

*  Về kĩ năng : 

– Vận dụng kĩ năng đọc- hiểu văn bản để nhận biết chính xác phương thức biểu đạt, nội dung được đề cập tới trong đoạn trích.

– Kĩ năng trình bày vấn đề, viết đoạn văn ngắn.

Làm văn:

Về kiến thức:

– Nắm được nội dung cơ bản của vấn đề xã hội được đề cập đến trong đoạn trích phần đọc- hiểu.

– Nắm được nội dung và nghệ thuật của tác phẩm văn học: Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài.

  *  Về kĩ năng :  Trình bày rõ ràng mạch lạc ý kiến của bản thân về vấn đề nghị luận xã hội và nghị luận văn học .

HÌNH THỨC ĐỀ KIỂM TRA.

Hình thức: Tự luận.

HS làm bài trên lớp, thời gian: 120 phút.

III. MA TRẬN (Thiết lập ma trận).

 

Mức độ

Chủ đề

Nhận biết Thông hiểu Vận dụng TỔNG
Cấp độ thấp Cấp độ cao
 Đọc hiểu

 

– KT :

+ Nhớ được  các phương thức biểu đạt, biện pháp tu từ.

– KN :

+ Biết chọn phương thức biểu đạt đúng.

 

– KT :

+  Hiểu được nội dung được đề cập đến trong đoạn trích.

+ Hiểu được giá trị của biện pháp tu từ.

KN:

+ Đọc kĩ đoạn trích  để hiểu và trả lời đúng.

KT:

Viết đoạn văn ngắn trình bày suy nghĩ  của bản thân về một vấn đề xã hội.

 

KN:

Biết viết đoạn văn bày tỏ suy nghĩ về vấn đề xã hội.  Diễn đạt lưu loát, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.

 
Số câu: 01 02 01 04
Số điểm: 0,5 1,5 1,0 3,0
Tỉ lệ: 5% 15% 10% 30 %
Làm văn Nghị luận

 xã hội

– KT:

Vận dụng kiến thức về nghị luận xã hội viết 01 đoạn văn khoảng 200 chữ bày tỏ suy nghĩ về một vấn đề xã hội.

– KN:

Biết cách làm bài văn nghị luận xã hội. Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt lưu loát; luận điểm rõ ràng, lí lẽ và dẫn chứng hợp lí; lời văn trong sáng, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.

 
Số câu: 01 01
Số điểm: 2,0 2,0
Tỉ lệ: 20 % 20 %
Làm văn

Nghị luận văn học

– KT :

Vận dụng kiến thức  về  tác phẩm văn học, cách làm bài nghị luận văn học, cách làm bài nghị luận về một ý kiến bàn về văn học  để làm bài văn nghị luận về một ý kiến bàn về văn học.

– KN :

Biết cách làm bài nghị luận  về một ý kiến bàn về văn học, Biết cách phân tích tác phẩm văn học để làm sáng tỏ ý kiến bàn về văn học.

Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt lưu loát; lời văn trong sáng, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.

 
Số câu: 01 01
Số điểm: 5,0 5,0
Tỉ lệ: 50 % 50 %
 

TỔNG

 

 

01 02 02 01 6
0,5 1,5 3,0 5,0 10
5% 15% 30% 50 % 100 %

ĐỀ KIỂM TRA THEO MA TRẬN

   PHẦN ĐỌC- HIỂU (3 điểm)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

Năm tháng qua đi, bạn sẽ nhận ra rằng ước mơ không bao giờ biến mất. Kể cả những ước mơ rồ dại nhất trong lứa tuổi học trò – lứa tuổi bất ổn định nhất. Nếu bạn không theo đuổi nó, chắc chắn nó sẽ trở lại một lúc nào đó, day dứt trong bạn, thậm chí dằn vặt bạn mỗi ngày.

Nếu vậy, sao bạn không nghĩ đến điều này ngay từ bây giờ?

Sống một cuộc đời cũng giống như vẽ một bức tranh vậy. Nếu bạn nghĩ thật lâu về điều mình muốn vẽ, nếu bạn dự tính được càng nhiều màu sắc mà bạn muốn thể hiện, nếu bạn càng chắc chắn về chất liệu mà bạn sử dụng thì bức tranh trong thực tế càng giống với hình dung của bạn. Bằng không, có thể nó sẽ là những màu mà người khác thích, là bức tranh mà người khác ưng ý, chứ không phải bạn.

Đừng để ai đánh cắp ước mơ của bạn. Hãy tìm ra ước mơ cháy bỏng nhất của mình, nó đang nằm ở nơi sâu thẳm trong tim bạn đó, như một ngọn núi lửa đợi chờ được đánh thức…

(Theo Phạm Lữ Ân, Nếu biết trăm năm là hữu hạn, NXB Hội Nhà văn, 2012, tr. 43 – 44)

Câu 1.  (0,5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích.

Câu 2.  (1,0 điểm) Nêu tác dụng của phép tu từ được sử dụng trong đoạn văn sau: “Sống một cuộc đời cũng giống như vẽ một bức tranh vậy. Nếu bạn nghĩ thật lâu về điều mình muốn vẽ, nếu bạn dự tính được càng nhiều màu sắc mà bạn muốn thể hiện, nếu bạn càng chắc chắn về chất liệu mà bạn sử dụng thì bức tranh trong thực tế càng giống với hình dung của bạn. Bằng không, có thể nó sẽ là những màu mà người khác thích, là bức tranh mà người khác ưng ý, chứ không phải bạn”.

Câu 3.  (0,5 điểm) Anh/ Chị hiểu như thế nào về ý kiến: “Đừng để ai đánh cắp ước mơ của bạn.”?

Câu 4 . (1,0 điểm)  “Ước mơ cháy bỏng nhất” của anh/ chị là gì? Anh/ Chị sẽ làm gì để biến ước mơ đó thành hiện thực? (Trả lời trong khoảng 5-7 dòng.)

LÀM VĂN ( 7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm)

Từ nội dung của đoạn trích ở phần đọc hiểu, anh/ chị hãy viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ) với chủ đề: Theo đuổi ước mơ.

Câu 2. ( 5,0 điểm)

Trong bài Cảm nghĩ về truyện “Vợ chồng A Phủ, Tô Hoài viết: “Nhưng điều kỳ diệu là dẫu trong cùng cực đến thế mọi thế lực của tội ác cũng không giết được sức sống con người. Lay lắt đói khổ, nhục nhã, Mị vẫn sống, âm thầm, tiềm tàng, mãnh liệt.” (Tác phẩm văn học 1930 – 1975, Tập hai, NXB Khoa học Xã hội, 1990. tr.71)

Phân tích nhân vật Mỵ trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ (đoạn trích được học) của Tô Hoài để làm sáng tỏ nhận xét trên?

HƯỚNG DẪN CHẤM, THANG ĐIỂM

Phần I Câu Đáp án, hướng dẫn chấm Điểm tối đa
Đoc- hiểu 1 Phương thức biểu đạt chính trong đoạn trích là  nghị luận 0,5
  2 Phép tu từ so sánh: Sống một cuộc đời cũng giống như vẽ một bức tranh vậy

Tác dụng: Chỉ ra sự tương đồng giữa “sống một cuộc đời” với “vẽ một bức tranh” giúp người đọc dễ hình dung ra cách sống chủ động để biến ước mơ của mình thành hành động

1,0
  3 Ước mơ là những khát khao những mong đợi hoặc những ý tưởng đẹp đẽ mà con người muốn biến thành hiện thực. Con người cần phải biết giữ gìn, bảo vệ không để những thử thách, khó khăn trong cuộc sống làm thui chột đi những ước mơ và cũng không để người khác ngăn cản chúng ta hiện thực hóa ước mơ ấy 0,5
  4 Nội dung câu trả lời cần chặt chẽ, hợp lí không trái với chuẩn mực

đạo đức và pháp luật

1,0
Phần

II

Câu Nghị luận xã hội 2,0
Làm văn 1 a/ Yêu cầu về kĩ năng:

– Biết cách viết đoạn văn nghị luận xã hội.  Kết cấu rõ ràng: có đủ các phần mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn.

 

0,25

    b/ Yêu cầu về kiến thức:

– Trên cơ sở xác định được nội dung đề yêu cầu. Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách, nhưng cần làm rõ được các ý cơ bản sau:

Ước mơ là gì?

– Thế nào là theo đuổi ước mơ?

– Tại sao lại nên theo đuổi ước mơ?

– Làm thế nào để biến ước mơ thành hiện thực

 

 

 

 

0,25

0,25

0,50

0,25

    c. Sáng tạo: có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề cần nghị luận. 0,25
    d. Chính tả, dùng từ, đặt câu: đảm bảo qui tắc chính tả, dùng từ, đặt câu. 0,25
  Câu Nghị luận văn học 5,0
  2 a/ Yêu cầu về kĩ năng:

Biết cách làm bài nghị luận về một tác phẩm văn học. Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt lưu loát. Chữ viết rõ ràng.

 

0,25

    b/ Yêu cầu về kiến thức:

– Trên cơ sở xác định được nội dung đề yêu cầu. Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách, nhưng cần làm rõ được các ý cơ bản sau:

 

 

    1. Giới thiệu chung: 0,25
    a. Tác giả- tác phẩm: Tô Hoài là một trong số rất ít nhà văn Việt Nam viết thành công về đồng bào dân tộc ở miền núi. Với truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” (rút trong tập truyện Tây Bắc, 1953) Tô Hoài đã làm cho người đọc xúc động trước cuộc sống nô lệ đầy tủi nhục của đồng bào dân tộc Tây Bắc dưới ách thống trị của quan lang chúa đất và bọn thực dân đồng thời cho thấy sức sống tiềm tàng mãnh liệt cũng như con đường mà họ đã đến với cách mạng.

b. Vấn đề cần nghị luận: Đúng như tác giả Tô Hoài đã nói “Nhưng điều kỳ diệu là dẫu trong cùng cực đến thế mọi thế lực của tội ác cũng không giết được sức sống con người. Lay lắt đói khổ, nhục nhã, Mị vẫn sống, âm thầm, tiềm tàng, mãnh liệt”.

Thông qua cuộc đời cô Mị nhà văn đã chứng minh cho nhận xét ấy.

    2. Giải thích, chứng minh
    a. Giải thích:

– Trong cùng cực,lay lắt, đói khổ: Cuộc sống tủi nhục của người dân miền núi dưới ách thống trị của quan lang chúa đất.

–  Sức sống tiềm tàng, mãnh lệt: Khẳng định sức sống bất diệt của con người.

0,25
    b. Chứng minh

*  Cuộc sống cùng cực, lay lắt, đói khổ của Mị

–  Sự xuất hiện của Mị “một cô gái ngồi quay sợi bên tảng đá trước cửa, cánh tàu ngựa. Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi”.

->Gợi một mảng sống, một cuộc đời  im lìm, tăm tối, một số phận éo le, ngang trái.

–  Hoàn cảnh sống của Mị:

+ Thân phận: Làm dâu gạt nợ, sống kiếp sống trâu ngựa chôn vùi tuổi trẻ tình yêu trong nhà thống lí Pa tra.

+Nguyên nhân:  Bố mẹ Mị lấy nhau không đủ tiền cưới, phải đến vay nhà thống lí- bố của thống lí Pá tra- mỗi năm nộp  lãi một nương ngô- đến khi vợ chết con lớn vẫn chưa trả hết nợ. Nên thống lí đến bảo bố Mị, cho Mị về làm dâu thì xóa hết nợ-> Mị bị A sử bắt về trình ma: Mị trở thành con dâu gạt nợ

+   Mị khi trở thành con dâu gạt nợ: Nhẫn nhục, cam chịu trong địa ngục trần gian, bị tê liệt về ý thức, bị “vật hoá”=> Mị sống vô cảm , thờ ơ nguội lạnh với tất cả, cô lãng quên quá khứ, không gắn bó với hiện tại,  cô tồn tại với trạng thái như đã chết trong lúc còn đang sống.

* Sức sống, âm thầm, tiềm tàng, mãnh liệt của Mị

– Sức sống âm thầm, tiềm tàng, mãnh liệt trong đêm tình mùa xuân:

+ Ba nhân tố tác động: Cảnh mùa xuân, tiếng sáo hiện tại- quá khứ, hũ rươu ngày tết Mị lén lấy uống ừng ực từng bát.

+ Ý thức sống, khao khát sống quay trở về

+ Hành động của Mị khi ý thức sống, khao khát sống  quay trở về

+ Sự xuất hiện của A Sử

– Sức sống âm thầm, tiềm tàng, mãnh liệt trong đêm cởi trói cho A Phủ.

+   Tâm trạng Mị trước cảnh Aphủ bị trói:Mị thản nhiên thổi lửa, hơ tay-> chỉ có Mị với ngọn lửa-> Thái độ thản nhiên đáng sợ, một sự vô cảm đến tê dại.

+ Sự biến đổi tâm lí của Mị khi nhìn thấy dòng nước mắt của A phủ: Mị nhớ-> cảm nhận  được nỗi oan khuất của A phủ, của mình-> nhận thấy tội ác của cha con thống lí.

+ Hành động của Mị lấy dao cắt lứa cắt đứt giây mây giải thoát cho A phủ

-> Hành động tưởng như bất ngờ mà hợp lí vì khi con người ý thức được sự độc ác của kẻ biến mình thành nộ lệ, khi tình thương người trỗi dậy-> con người có thể hi sinh vì người khác- nét phẩm chất đáng quý đáng tự hào của người phụ nữ dân tộc nói riêng và của người phụ nữ VN nói chung.

->Cắt dây trói cho A phủ đồng nghĩa với việc Mị đang tự cắt hai thứ dây trói vô hình trói buộc cuộc đời Mị với gia đình thống lí Pá tra bao nhiêu năm qua

+  Hành động của Mị sau khi nhìn  A Phủ quật sức vùng lên chạy : Mị chạy theo Aphủ -> chạy theo tiếng gọi của tự do. Mị đã tự giải thoát khỏi kiếp nô lệ bằng sức mạnh của khát vọng sống tiềm ẩn. Khát vọng sống ấy chỉ cần có nhân tố: cuộc gặp gỡ với A phủ : Cuộc gặp gỡ quan trọng: cuộc vượt thoát ngoạn mục, tất yếu từ không gian tăm tối, ngục tù đến với ánh sáng của tự do

 

 

0,5

 

 

 

 

 

1,0

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

0,75

 

 

 

 

 

1,0

    c. Đánh giá chung:

Tô Hoài đã rất thành công trong việc miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật. Vợ chồng A Phủ thu hút người đọc bằng chính sức sống tiềm tàng trong một tính cách không đơn giản ở nhân vật Mị.

– Cách kể chuyện: Hấp dẫn lôi cuốn nhờ cách sắp xếp tình tiết, xây dựng cốt truyện tự nhiên, hợplí.

– Ngôn ngữ sinh động, chọn lọc và sáng tạo, câu văn giàu chất tạo hình và thấm đẫm chất thơ

0,25
    3. Tổng kết:Tóm lại,  qua truyện ngắn Vợ chống A Phủ , tác giả đã thể hiện thành công cuộc sống nô lệ “Lay lắt đói khổ, nhục nhã của Mị nói riêng và đồng bào Tây Bắc nói chung dưới thời phong kiến thực dân ở miền núi, đồng thời khẳng định, ngợi ca sức sống tiềm tàng mãnh liệt của người dân miền núi từ trong hoàn cảnh tăm tối, hướng tới ánh sáng tự do. 0,25
    c. Sáng tạo: có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề cần nghị luận. 0,25
    d. Chính tả, dùng từ, đặt câu: đảm bảo qui tắc chính tả, dùng từ, đặt câu. 0,25
    ĐIỂM TOÀN BÀI THI:     10,00 điểm
     

 Xem thêm :