Phân tích bức tranh tứ bình trong bài Việt Bắc Tố Hữu SGK văn 12

Bức tranh tứ bình Việt Bắc

Mở bài cho bài thơ Việt Bắc

Việt Bắc là một trong những đỉnh cao của Tố Hữu và cũng là của thơ ca Việt Nam thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp. Mượn lời đối đáp của một đôi bạn tình trong phút chia tay, bài thơ thể hiện tình sâu nghĩa nặng của các dân tộc Việt Bắc đối  với cách mạng, với Đảng và Bác Hồ; đồng thời bộc lộ tình cảm mặn nồng thủy chung của người cán bộ cách mạng, cán bộ kháng chiến đối với Việt Bắc mà nhà thơ gọi một cách trân trọng là “quê hương cách mạng”. Rời Việt Bắc, bao nhiêu nỗi nhớ dâng đầy trong lòng người ra đi. Người cán bộ cách mạng không quên dành một khoảng nhớ thiết tha cho thiên nhiên và con người Việt Bắc. Nội dung ấy được thể hiện bằng năm cặp thơ lục bát vừa mượt mà, đằm thắm, vừa êm ả như ca dao lại vừa trang trọng như những vần thơ cổ điển:

Ta về, mình có nhớ ta 
Ta về ta nhớ những hoa cùng người 
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi 
Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng. 
Ngày xuân mơ nở trắng rừng 
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang 
Ve kêu rừng phách đổ vàng 
Nhớ cô em gái hái măng một mình 
Rừng thu trăng rọi hoà bình 
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung. 

Thân bài

 

Đoạn thơ này thể hiện nỗi nhớ của người miền xuôi đối  với quê hương cách  mạng nhưng nếu tách ra thì nó giống như một bài thơ hoàn chỉnh – bài thơ ca ngợi thiên nhiên và con người Việt Bắc, mảnh đất đã từng gắn bó máu thịt với người cán bộ miền xuôi. Những câu thơ tự nhiên như tuôn chảy từ trong lòng,  không một chút dụng công mà thiên nhiên Việt Bắc cũng như con người nơi đây hiện lên trên trang thơ đẹp như một bộ tứ bình. Vì sao vậy? Có lẽ vì thi nhân đã bao nhiêu năm trời sống cùng đồng bào Việt Bắc, mến thương từng  hoạt động của họ, đã bao nhiêu mùa ngắm nhìn phong cảnh, thuộc các mùa  hoa của núi rừng. Nói cách khác,thiên nhiên và con người Việt Bắc đã có chỗ đứng danh dự trong tâm hồn nhà thơ, làm nên máu thịt của thi sĩ để lúc này,  khi chia tay Việt Bắc, cảm xúc yêu thương đã đến độ chín ấy như tự nó chảy trên trang giấy mà thành thơ vậy. Phải chăng đó là chân lí mà Chế Lan Viên đã [từng khái quát: “Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”?

Đoạn thơ gồm năm cặp thơ lục bát thì cặp thơ đầu tiên giới thiệu chung về nội dung và cảm xúc, vừa là lời thoại lại vừa là cái có đế tác giả bày tỏ lòng mình:

Ta về, mình có nhớ ta 
Ta về ta nhớ những hoa cùng người 

Cuộc chia tay giữa những người kháng chiến và Việt Bắc, giữa miền ngược và miền xuôi đã trở thành cuộc chia tay giữa những người yêu nhau với lối hát giao duyên, vói cách xưng hô “mình” – “ta” thân thiết, trìu mến. Đây cũng chính là sự nổi tiếp giọng điệu trữ tình thông nhất trong toàn bài. Cách điệp từ ” ta về”  ở đau câu đã tạo ra một sự đăng đối rat tinh tế. Câu trên là hòi người, câu dưới lại là giãi bày lòng mình với một giọng điệu chân tình, ngọt ngào, tha thiết. Đặt câu hỏi trước khi giãi bày tâm sự, tác giả Tố Hữu đà khiến cho tình cảm của kẻ ở người đi có quan hệ hai chiều và nhờ đó mà quân quýt, khắng khít, khiến cho lòng người vương vấn nhiều hơn. Có lẽ đó cùng là lí do khiên cho cách xưng hô “mình” — “ta” cứ trở đi trở lại trong hai dòng thơ và chiếm tới một nửa dung lượng của câu thơ sáu chữ. Cùng với phong vị phảng phất ca dao, câu thơ đã tạo ra một lối nói đưa đẩy mặn mà, thắm thiết. Nỗi nhớ về những tháng ngày gắn bó với cảnh và người Việt Bắc cứ hiện dần lên trong tâm trí người đi: nhớ trước nhất  là “hoa cùng người”. Từ “cùng” được sử dụng không chỉ biểu hiện sự phong phú của vẻ đẹp miền đất này mà còn gợi lên một cảm giác giao hòa, đăng đốì. Hoa và người cùng hòa quyện, cùng sóng đôi trong nỗi nhớ cũng như cái đẹp thiên nhiên Việt Bắc không thể tách ròi vẻ đẹp của con người noi đây.

Bốn cặp lục bát tiếp theo thực sự là một bộ tranh tứ bình ngợi ca thiên nhiên và con người Việt Bắc – một bộ tranh lộng lẫy những sắc màu và ánh sáng, được hiện lên qua nỗi nhớ của tác giả. Đầu tiên là hình ảnh một cánh rừng xanh với hoa chuối đỏ, mà lại đỏ tươi như những bó đuốc bập bùng cháy xua đi cái giá rét của mùa đông;

“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi” Câu thơ miêu tả mùa đông nơi núi rừng Việt Bắc nhưng không gợi lên cái lạnh lẽo, hoang vu, thê lương mà thể hiện ấn tượng về một cuộc sống đang hồi sinh trên quê hương cách mạng. Mùa đông xuất hiện trong câu thơ tươi tắn và ấm áp. Trên cái nền xanh mênh mông của núi rừng Việt Bắc bỗng tràn ngập một gam màu rực rờ, ấm nóng với hình ảnh của hoa chuối rừng. Nó giống như những đổm lửa lớn mang một vẻ đẹp lạ kì, đầy ân tượng. Như sự tiếp nối của thời gian, đông qua thì xuân đến, hai câu tiếp theo, nhà thơ tiếp tục miêu tả mùa xuân Việt Bắc:

 

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Tác giả giúp ta cảm nhận một màu trắng lung linh, tinh khiết làm bừng sáng cả không gian, bừng sáng cả đất trời, bừng sáng cả bức tranh thơ. Tác giả tả cảnh mùa xuân bằng màu trắng tinh khôi, một màu trắng choáng ngợp như dâng tràn sức sống mới mẻ của mùa xuân đẹp đẽ, thơ mộng đên bâng khuâng. Nó khiến ta không thể không liên tưởng đến màu trắng cùng trong trẻo nhu thế trong câu thơ của Nguyễn Du:

Cỏ non xanh tận chân trời

 Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

(‘Truyện Kiều)

Có lẽ Tố Hữu rất tâm đắc vói hình ảnh mơ nở trắng rừng này nên trong bài thơ Theo chân Bác, nó lại xuất hiện một lần nữa:

Ôi sáng xuân nay xuân 41

Trắng rừng biên giới nở hoa mơ.

Sẽ thật thiếu sót nếu không miêu tả mùa hè Việt Bắc. Nơi đây có những vẻ đẹp, lãng mạn, mộng mơ mà không nơi nào có. Đó chính là hình ảnh:

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Ai đã từng đến Việt Bắc hẳn còn nhó vẻ đẹp kì ảo của rừng phách. Những ngày cuối xuân, rừng phách tràn ngập một màu xanh nhưng kì diệu thay, những nụ hoa vàng đã núp mình trong những kẽ lá ,Khi hè sang , chúng nhất loạt trổ hoa. Chỉ vài ba ngày, cả rừng phách như được nhuộm một sắc vàng kì ảo. Nhà thơ dùng chữ “đổ’ thật hay, với từ này, màu vàng như một thứ nước nhuộm vàng cả mặt đất và chân trời, nó khiến ta liên tưởng đến câu thơ của Xuân Diệu: “Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá”. Nhưng cái hay của câu tho Tố Hữu là chỗ: Khi tiếng ve kêu thì rừng phách đổ vàng. Tố Hữu làm ta liên tưởng đên mối quan hệ kì lạ giữa sắc màu và âm thanh . Ta có cảm giác bản nhạc của mùa hè – ve kêu – đã tạo nên một sắc vàng kì ảo. Và dường như, sắc vàng của rừng phách đã gọi dậy tiếng ve. Một sự tương giao kì lạ trong thiên nhiên. Chỉ mấy câu thơ mà bạn đọc đã cảm nhận được nhiều sự chuyển biến: chuyển đổi về không gian từ xanh sang vàng, chuyển đổi về thời gian từ xuân sang hạ, chuyên đổi về cảm giác từ thính giác sang thị giác,…

Cuối cùng, sau những gam màu rực rõ, tươi vui, Tố  hữu đem đến cho người đọc cảm giác mênh mông, êm ái qua màu vàng dịu mát của ánh trăng huyền diệu tỏa xuống cánh rừng trong một đêm thu:

Rừng thu trăng rọi hòa bình

Điều kì diệu là rừng ấy , trăng ấy lại hiện lên trong nỗi nhó nên nó càng lung linh, thơ mộng. Trăng tròn vành vạnh trong đêm rằm tháng tám, tỏa sáng núi rừng, phủ lên cỏ cây hoa lá màu trắng sữa tinh khiết. Bầu trời thu cao rộng, núi rừng trong sắc thu cũng thật yên bình. Điều quan trọng là bầu trời rộng lớn và vầng trăng thu tròn trịa ấy  đã để thương, để nhớ trong lòng tác giả với những kỉ niệm thật lãng mạn, nên thơ nơi “Quê hương cách mạng dựng nên Cộng hòa”.

Qua đoạn thơ như một bộ tranh tứ bình trên, ta thấy thiên nhiên Việt Bắc đâu có phải là nơi xa xôi, hẻo lánh, hoang vu mà với Tố  Hữu nó thật sự đẹp như một xứ mơ, như xứ sở của truyện thần tiên mà cũng gần gũi, thân thương như ca dao, cổ tích.

Hình ảnh thiên nhiên đẹp như một xứ mơ ấy chính là cái nền để con người xuất hiện. Bức tranh thiên nhiên không lạnh lẽo hoang vu mà trái lại rất  ấrn áp là bởi trên đó đã xuất hiện những hình ảnh của con người Việt Bắc. Người Việt Bắc hiện lên trong thơ Tố Hữu không gây cảm giác lạ như những chàng thợ săn, những ông mo, bà ké trong những tiểu thuyết đường rừng trước năm 1945. Họ hiện lên trên trang thơ với vẻ đẹp của người lao động cần cù, chịu khó. Đó là một tư thế hiên ngang trên đèo cao lộng gió và ánh sáng:

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng

Con người chính là trung tâm của bức tranh thiên nhiên với tư thế àm chủ đất trời, tự do và phóng khoáng. Có cảm giác như trên vùng rẻo cao lồng lộng ấy, giữa một màu xanh ngút ngàn của cây cỏ/ con người tỏa sáng như một mặt trời thứ hai giữa thiên nhiên. Đọc câu thơ, trưóc mắt người đọc như hiện ra bức tranh sinh động về Việt Bắc mà nối bật trên đó là hình ảnh con người, những người dân lao động đang làm nương, làm rẫy. Bóng dáng con người xuất hiện trong câu thơ thật độc đáo (không xuất hiện trực tiếp mà qua ánh nắng phản chiêu từ “dao gài thắt lưng” – một công cụ lao động quen thuộc của người Việt Bắc). Một câu thơ tám chữ có sự trầm bổng của thanh điệu: mở đầu là vần bằng rồi lên cao dần ở chữ “nắng ánh” là vần trắc và rồi lại hạ thấp ờ chữ “lưng” ở cuối dòng thơ. Có cảm giác như nhịp điệu câu thơ lên xuống chính là nhịp điệu đều đặn của những tâm lưng nhấp nhô lúc ẩn lúc hiện sau bóng cây, nhịp điệu của lao động hòa lẫn với sự trùng điệp bất tận của núi đồi.

Cũng có khi con người xuất hiện trực tiếp qua dáng ngồi cần mẫn, chăm chú đan nón, đẹp như một nghệ nhân:

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

Như vậy, con người lao động Việt Bắc không chỉ có tư thế khỏe khoắn, khóang đạt mà còn ẩn chứa sự tài hoa, khéo léo trong đôi bàn tay chăm chỉ , chịu thương chịu khó của mình. Chữ “chuốt” thật hay. Nó không chi thể hiện sự cần cù mà còn giúp ta cảm nhận được cái đẹp nảy sinh từ đôi bàn tay ấy. Chữ “từng” gợi tả đức tính cần mẫn, cách làm ti mỉ, công phu. Có khéo tay mới “chuốt từng sợi giang” mỏng và bóng để đan thành những chiếc nón xinh xắn, một trong những sản phẩm thú công mĩ nghệ đặc trưng của Việt Bắc. Con người cần cù và tài hoa ấy  thật đáng nhớ vì như Nguyễn Đình Thi từng ca ngợi:

Tay người như có phép tiên

Trên tre lá cũng dệt nghìn bài thơ.

Hình ảnh con người Tây Bắc lại tiếp tục hiện ra qua câu thơ “Nhớ cô em gái hái măng một mình”, một câu thơ hay ở vần điệu, sự hiệp vần “gái” – “hái” (vần lưng) và cách điệp phụ âm đầu trong các từ măng – một — mình” tạo cho câu thơ nhạc điệu riêng. Cô gái Việt Bắc trẻ trung, xinh tươi, lạc quan yêu đời, đi hái măng giữa rừng vầu, rừng nứa một mình trong khúc nhạc rừng, tuy chỉ có “một mình” mà chẳng cô đơn. Con người ấy đang làm chủ thiên nhiên, làm chủ cuộc đời. Giữa một không gian nghệ thuật đầy màu sắc và âm thanh của suối rừng, cô gái Việt Bắc xuất hiện thật hồn nhiên và đáng yêu lạ! Đến câu kết của đoạn thơ “Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”, ta thấy hiện lên vẻ đẹp tâm hồn của con người Việt Bắc.” Ai” là đại từ phiếm chỉ gợi lên bao hoài niệm, bâng khuâng. Tiếng hát ân tình thủy chung giữa “ta” và “mình”, giữa “ta” với “ai” được thử thách trong cay đắng ngọt bùi, trong máu lửa “Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng” nên không bao giờ có thể quên được.

Đoạn thơ của Tố Hữu viết về thiên nhiên và con người Việt Bắc là đoạn thơ tràn đầy tình cảm nhớ nhung và thương mến vói niềm tự hào đô’i với Việt Bắc “Quê hương cách mạng dựng nên Cộng hòa”, và chiến khu bất khả xâm phạm “Rừng che hộ đội, rừng vây quân thù”. Có thể nói, Tố Hữu không chỉ ca ngợi Việt Bắc mà còn viết nên những vần thơ đẹp nhất ca ngợi đất nước và con người Việt Nam trong lửa đạn. Nguyễn Đình Thi nhận xét “những hình ảnh thơ này đã làm bừng sáng cả núi rừng Việt Bắc, và nó dường như cũng làm xôn xao cả khoảng trời hồi tưởng của thi nhân và người đọc”. Người lao động xuât hiện trên trang thơ Tô’ Hữu không phải là anh hùng, những người làm nên chiến công phi thường trong kháng chiên. Trái lại, họ chỉ là những người lao động bình thường với những vẻ đẹp gần gũi, đáng yêu. Viết về họ, Tố Hữu bộc lộ lòng yêu thương thắm thiết và sự cảm phục sâu xa.

Bốn cặp câu lục bát còn là bức tranh tứ bình làm nên bộ tứ bình về bốn mùa trong năm. Bốn cặp thơ lục bát này có cùng một kết câu: câu lục tả cảnh, câu bát tả người. Cặp nọ nối tiếp cặp kia, mùa nọ nối tiếp mùa kia, hài hòa, cân xứng, nhịp nhàng như bước đi của vũ trụ. Nó làm ta nhớ đến những đoạn thơ rất hay trong Chinh phụ ngâm, Truyện Kiều hay bài thơ Nhớ rừng của Thế Lữ. Nó làm ta liên tưởng đến những bức tranh tứ thời, tứ mùa, tứ quý, tứ linh; nói cách khác, nó làm cho đoạn thơ nhuốm màu sắc cổ điển. Bình luận về bộ tranh tứ bình này của Tố Hữu nhà thơ Xuân Diệu khẳng định “Không thua kém bất kì bộ tranh thơ nào trong văn chương phương Đông”.

Tuy nhuốm màu cổ điển nhưng bức tranh thơ này của Tố  Hữu vẫn có những nét rất hiện đại. Phủ lên bức tranh ấy không phải là cái màu trang trọng quý phái như tranh tứ bình cổ điển mà trái lại, nó bình dị thậm chí vô cùng dân dã như một biểu tượng của cái đẹp nhân dân. Các bộ tranh tứ bình thời cổ điển thường bắt đẩu bằng mùa xuân và khép lại bằng mùa đông như diễn tả nhịp đi đều đặn, tròn trịa của vũ trụ trong một năm. Trái lại, bộ tranh của Tố Hữu bắt đầu từ mùa đông và kết thúc từ mùa thu — thời điểm Tố Hữu viết bài thơ này. Phải chăng Tố Hữu muốn dùng nó như biểu tượng cho bước đi của cách mạng từ mùa đông giá lạnh khó khăn đến mùa thu huy hoàng thắng lợi? Cách viết ấy vừa có cái lí của logic tâm trạng lại vừa thóat khỏi những quy phạm của văn chương cổ điển.

Kết bài cho bài thơ Việt Bắc Tố Hữu

Đoạn thơ vẽ nên bức tranh về cảnh vật và con người Việt Bắc mà ai đã đọc dù chỉ  một lần sẽ không thể nào quên. Nó đem lại cho bài thơ Việt Bắc vốn ấm áp tình người có thêm cái huy hoàng xanh tươi của núi rừng Việt Bắc. Nói cách khác, nó đã góp phần hoàn chỉnh bức tranh Việt Bắc trong trái tim người ra đi. Đây là một đoạn thơ ngắn mà lời thơ vừa bình dị, trang nhã vừa giản dị hàm súc. Cảnh vừa như thực lại vừa như mơ, vừa như một cuộn phim lại vừa nhịp nhàng, thanh thoát như một bức tranh tả cảnh. Nó đã bộc lộ nét tài hoa của “nhà thơ của cách mạng, của lí tưởng cộng sản”. Từ những vấn đề của cuộc sống cách mạng và kháng chiến, Tố  Hữu có thể viết những tứ thơ nên nhạc, nên tình làm xôn xao tâm hồn bạn đọc và nói như Xuân Diệu “Tố Hữu đã đưa thơ chính trị đạt đến  trình độ là thơ rất đỗi trữ tình”.

(Nguyễn Thu Huyền)

Dẫn theo Trần Liên Quang, Đỗ Thị Yên

Xem thêm : Dàn ý phân tích, đề thi và bài văn mẫu về Việt Bắc Tố Hữu,  phân tích bài thơ Việt Bắc SGK Ngữ văn 12 :  Việt Bắc Tố Hữu

 

Cảm nhận đoạn thơ trong bài Việt Bắc Tố Hữu: Nhớ khi giặc đến giặc lùng

Bình giảng đoạn thơ sau trong bài Việt Bắc của Tố Hữu:

Nhớ khi giặc đến giặc lùng 
Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây 
Núi giăng thành luỹ sắt dày 
Rừng che bộ đội rừng vây quân thù 
Mênh mông bốn mặt sương mù 
Ðất trời ta cả chiến khu một lòng. 

Ai về ai có nhớ không? 
Ta về ta nhớ Phủ Thông, đèo Giàng 
Nhớ sông Lô, nhớ phố Ràng 
Nhớ từ Cao-Lạng nhớ sang Nhị Hà… 
Những đường Việt Bắc của ta 
Ðêm đêm rầm rập như là đất rung 
Quân đi điệp điệp trùng trùng 
Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan 
Dân công đỏ đuốc từng đoàn 
Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay. 
Nghìn đêm thăm thẳm sương dày 
Ðèn pha bật sáng như ngày mai lên. 
Tin vui chiến thắng trăm miềm 
Hoà Bình, Tây Bắc, Ðiện Biên vui về 
Vui từ Ðồng Tháp, An Khê 
Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng. 

Bài văn mẫu

Mở bài cho bài thơ Việt Bắc

Trong gian khổ, khó khăn, ý chí quật cường và tính thần đoàn kết của dân tộc ta càng được nhân lên gấp bội. Cũng chính nhờ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, nhân dân ta đã đánh tan những thế lực ngoại xâm hùng mạnh nhất. Cuộc kháng chiến trường kì chống thực dân Pháp của cả dân tộc đã khép lại song lớp lớp thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau vẫn luôn được nhắc nhớ về quá khứ hào hùng của cha ông. Theo dòng hồi tưởng của nhà thơ Tố Hữu trong bài Việt Bắc, bạn đọc lại một lần nữa cảm nhận về cuộc kháng chiến của dân tộc ta với sức mạnh vô song của khôi đại đoàn kết của tình quân dân để tạo nên những chiên công lẫy lừng. Tình đoàn kết và sức mạnh của nhân dân ta được thể hiện rất đậm nét trong đoạn thơ: ( Chép nguyên văn đoạn thơ )

Nhớ khi giặc đến giặc lùng 
Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây 

…..Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng. 

Thân bài

Trong mạch hồi tưởng của tác giả, những kỉ niệm thời kháng chiến cứ dần dẩn hiện lên trong tâm trí nhà thơ trong đó có nỗi nhớ về những ngày tháng cách mạng còn trong trứng nước, về con người Việt Bắc ân tình, thủy chung và cả những nỗi nhớ về những trận đánh:

Nhớ khi giặc đến giặc lùng 
Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây 

Làm sao quên được cái cảnh càn quét, săn lùng của kẻ thù như một bầy chó săn khát máu. Đã bao lần chúng tắm nhân dân ta trong những bể máu, trong tiếng kêu khóc đau thương dậy cả đất trời. Quân giặc tìm mọi cách đàn áp, khủng bố hòng làm nhụt chí vùng lên tự giải phóng của nhân dân ta. Không chi trong thơ Tố  Hữu mà trong tác phẩm của những nhà thơ khác, bao tiếng thơ ai oán, căm hờn đã nêu bật tội ác quân xâm lược:

Quê hương ta từ ngày khủng khiếp

Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn

Ruộng ta khô                                                              I

Nhà ta cháy

Chó ngộ một đàn

Lưỡi dài lê sắc máu

Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang.

(Hoàng Cầm – Bên kia sông Đuống)

Những âm mưu nham hiểm và dã tâm của kẻ thù không thể  cản trở điíỌQ lòng yêu quê hương đât nước của nhân dân ta. Trong giờ khăc quyết định sổ phận của mình, quân dân ta đã vùng lên. Không chỉ con người mà cả rừng núi cũng chung sức đánh Tây. Thiên nhiên đất trời Việt Bắc đã trở thành những người đồng đội, những chiên sĩ anh hùng trong cuộc chiến:

Núi giăng thành lũy sắt dày

Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù.

Những dãy núi trùng điệp dàn trải như thành lũy kiên cố bất khả xâm phạm che chở bộ đội, dân quân, du kích,… Núi rừng vừa bao vây quân thù, vừa chở che bộ đội. Núi rừng vốn là những vật vô tri, song dưới con mắt của nhà thơ, trong cuộc kháng chiến trường kì toàn dân, toàn diện, núi rừng thiên nhiên cũng trở nên có ý chí, có tình người. Chúng cùng quân dân ta tham gia chiến đấu. Tư thế hiên ngang kiêu hùng của những vách núi làm cho kẻ thù bất lực. Cái dáng ngay thẳng của tre nứa đầy dũng khí đâm thẳng lên trời xanh như thách thức kẻ thù. Với nghệ thuật nhân hóa, Tố Hữu đã biên núi rừng, thiên nhiên thành những người lính anh dũng kiên cường:

Mênh mông bốn mặt sương mù 
Ðất trời ta cả chiến khu một lòng. 

Khung cảnh chiến đấu vừa hào hùng vừa thơ mộng, đất trời bao la chìm trong sương mù dày đặc. Màn sương ấy như che chở cho quân ta và cản bước quân thù. Cả núi rừng Việt Bắc giờ đây đang cùng chung một nhịp đập trái tim. Tât cả đang hướng về cuộc chiến đấu , hướng về sứ mệnh bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ quê hương yêu dấu. Cụm từ “cả chiến khu một lòng” đã nhấn mạnh tình đoàn kết quân dân, sự gắn bó giữa con người và thiên nhiên. Tất cả bừng lên ngọn lửa căm hờn, ngọn lừa hừng hực tinh thần quyết chiến, quyết thắng. Qua câu thơ này, Tố Hữu thế hiện lòng tự hào trước sức mạnh của dân tộc ta. Khi Tổ quốc, quê hương cần, tất cả thiên nhiên và con người đều sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng hi sinh. Sáu câu thơ đã phần  nào thể hiện lòng yêu mến, tự hào và cảm phục của nhà thơ trước mảnh đất và con người Việt Bắc nói riêng cũng nhân dân Việt Nam nói chung.

Sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân cùng ý chí quyết chiến quyết thắng đã tạo nên sức mạnh của nhân dân ta, làm nên những chiến công anh hùng. Hàng loạt những địa danh được nhắc tới. Mỗi  nơi đều gắn với một thắng lợi vinh quang. Đây Phủ Thông, kia đèo Giàng, rồi những trận thủy chiến trên sông Lô… Cuộc kháng chiến đã nổ ra khắp mọi nơi. Những chiến thắng đó không những trải dài theo chiều rộng không gian mà còn trải cả trong chiều dài nỗi nhớ. Nhà thơ đặt câu hỏi, nói đúng hơn là người ở lại hỏi người ra đi: “Ai về ai có nhớ không?”. Người ra đi làm sao mà quên được những trận đánh, những chiến công ấy bởi trong những vinh quang đó có máu của đồng đội, bạn bè. Nhớ về những chiến công cũng là tường nhớ về những người anh hùng đã ngã xuống để hôm nay, đồng đội, bạn bè và con cháu được sống và được tự hào về thắng lợi, về sức mạnh anh hùng của dân tộc. Bằng biện pháp liệt kê, nhà thơ đã nhắc lại những chiên công hào hùng của quân và dân ta. Thật tự hào và đáng trân trọng xiết bao.

Từ những chiến công, trong nỗi nhớ của người ra đi và người ở lại, những đêm hành quân thật hùng dũng đã hiện về:

Những đường Việt Bắc của ta

Đêm đêm rầm rập như là đất rung

Cả núi rừng, đất trời vang dậy bước hành quân. Thiên nhiên chuyên mình cũng chính là lúc nhân dân ta chuyển sang giai đoạn phản công của cuộc kháng chiến. Từng đoàn quân nối nhau ra tiền tuyến. Trong trái tim họ, những lời thề vang vọng, mãi thúc giục họ đi lên, chiến đấu và chiến thắng kẻ thù.

Tất cả những lo toan bề bộn của cuộc sống hằng ngày đều được dẹp lại sau lưng. Từng dòng chữ trong câu thơ như cũng đang run lên theo nhịp bước quân hành của những đoàn quân ra trận. Những người chiến sĩ anh hùng cứ tiến lên phía trước, tiến đến một ngày mai tươi sáng, vẻ đẹp hùng dũng của đoàn quân được tái hiện rất cụ thể qua phép so sánh:

Đêm đêm rầm rập như là đất rung

Hình tượng người lính trong đêm hành quân gợi nhớ tới câu thơ của Quang Dũng

Tây Tiên đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm.

(‘Tây Tiên )

Trong bài Tây Tiến, hình ảnh người lính hiện lên hào hùng trong gian khổ. thơ Tô’ Hữu, những khó khăn gian khổ đã phẩn nào được làm mò để nêu bật chân dung của một đoàn quân dũng mãnh:

Quân đi điệp điệp trùng trùng

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan.

Từng đoàn binh “điệp điệp, trùng trùng” tiên đi. Trong họ là cả một bầu dũng khí Cảnh tượng đoàn quân đông đảo, trùng điệp như những dây núi kế tiếp nhau. Miêu tả cảnh hành quân, nhà thơ sử dụng cụm từ “điệp điệp, trùng trùng”. Có lẽ chẳng còn từ ngữ nào có thể diễn tả được sức mạnh của đoàn binh hơn thế. Trong đoàn quân đó có những con người không chi biết cầm súng chiên đấu mà còn có tâm hổn lãng mạn. Họ làm bạn với trăng sao. Trong đêm tốì, ánh sao soi đường cho các chiến sĩ, chia sẻ với họ những tâm tư tình cảm. Cảnh thật đẹp và mơ mộng quả, không gian đang sục sôi bỗng như lặng đi  trước một cảnh tượng đậm chất lãng mạn. Âm điệu câu thơ trở nên trầm lắng. Hình ảnh “ánh sao đầu súng” không mới. Chính Hữu đã từng viết:

Đầu súng trăng treo

Song sự chuyến đổi nhịp nhàng giữa hai câu thơ: “Quân đi điệp điệp trùng trùng / Ánh sao đầu súng bạn cùng mũi nan” khiến hình ảnh người lính bỗng đẹp thêm lên. Ở họ có cốt cách của người chiến sĩ và tâm hổn của người thi sĩ. Họ thật đáng cảm phục biết bao. Trong đêm tối hình ảnh đoàn binh hiện lên càng rõ nét. Họ làm chủ đất trời, vũ trụ bao la. Đó là những con người anh hùng của mảnh đất anh hùng. Cùng với bộ đội chủ lực, những đoàn dân công cũng xung phong ra tiền tuyến:

Dân công đỏ đuốc từng đoàn

Bước chân nát đá, mụôn tàn lửa bay.

Anh đuốc bập bùng sáng lên trong đêm tối. Đoàn dân công trên con đường ra trận được miêu tả thật hùng dũng, hiên ngang. Họ muốn đem tiếng  hát của mình, sức lực của mình góp chung vào sự nghiệp chung của dân tộc. Khắc họa hình tượng những đoàn dân công, tác giả sử dụng hình ảnh “Bước chân nát đá” cho thấy sức manh của họ thật phi thường. Muôn tàn lửa bay sau lưng họ như những khó khăn đã bị dẹp lại phía sau. Đoàn binh và những người dân công là hình ảnh tượng trưng cho quân dân Việt Nam. Vói sức mạnh phi thường, dân tộc ta đã vượt qua:

Nghìn đêm thăm thẳm sương dày

để đón chào tương lai tươi sáng:

Đèn pha bật sáng như ngày mai lên.

Khó khăn gian khổ như bóng đêm đã khép lại. Trước mắt đoàn quân, ánh đèn pha bật sáng như niềm tín tưởng vào thắng lợi tất yêu của cuộc kháng chiến và tương lai tươi sáng của dân tộc. Đoàn quân cứ bước đi trong niềm tin và hi vọng. Toàn bộ tâm trí và dũng khí của họ đều hướng về tương lai. Có thể  nói, câu thơ thế hiện niềm lạc quan của nhà thơ và cũng là dự cảm về ngày chiến thắng.

Kết bài cho bài Việt Bắc

Chỉ với một đoạn thơ ngắn, Tố Hữu đã tái hiện được vẻ đẹp anh hùng của nhân dân, núi rừng Việt Bắc nói riêng và sức mạnh anh hùng của dân tộc Việt Nam nói chung trong cuộc kháng chiến chổng thực dân Pháp. Sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc chính là sức mạnh làm nên chiến thắng. Vì thế, đoạn thơ nói riêng, cả bài Việt Bắc nói chung mang âm hưởng sử thi khá đậm nét. Và đây cũng chính là một nét tiêu biếu của phong cách thơ TốHữu: vừa giàu chất lí tưởng vừa ngọt ngào tha thiết và thâm đẫm chất dân tộc.

(Phạm Thúy Hồng)

Dẫn theo : Trần Liên Quang, Đỗ Thị Yên

Xem thêm : Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về   việt bắc

 

Phân tích bài thơ Việt Bắc đầy đủ

Đề bài : Cảm nhận của anh/ Chị về đoạn thơ ( … )trong bài Việt Bắc của Tố Hữu.

Bài văn mẫu phân tích bài Việt Bắc hay và đầy đủ nhất.

Bài làm :

Mở bài cho bài thơ Việt Bắc

Việt Bắc là một đỉnh cao của thơ Tố Hữu, một trong những thi phẩm xuất sắc của nền thơ Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945. Hồn thơ Tố Hữu thường nhạy bén với những sự kiện trọng đại trong đời sống dân tộc và cách mạng, cất lên khúc ca của thời đại và tiếng lòng của đông đảo mọi người trong những thời điểm lịch sử quan trọng. Việt Bắc chính là một bài thơ như vậy.

Thân bài

  1. Hoàn cảnh ra đời bài thơ Việt Bắc

Tháng 7 năm 1954, cuộc kháng chiến của dân tộc ta chống thực dân Pháp xâm lược đã kết thúc thắng lợi.-Hoà bình được lập lại, nửa đất nước được giải phóng. Tháng 8 năm 1954, trong niềm vui lớn và niềm tự hào trước thắng lợi và hoà bình, Tố Hữu viết bài thơ Ta đi tới. Lời thơ như tiếng reo náo nức : “Ngẩng đầu lên : trong sáng tuyệt trần – Tháng Tám mùa thu xanh thắm”. Tháng 10 năm 1954, Thủ, đô được giải phóng, các cơ quan Trung ương của Đảng và Chính phủ chuẩn bị rời chiến khu Việt Bắc về Thủ đô Hà Nội. Lịch sử dân tộc và cách mạng sang một trang mới. Ở thời khắc này, người ta có nhu cầu nhìn lại chặng đường vừa qua, đồng thời hướng về con đường đi tiếp. Bài thơ Việt Bắc ra đời đáp ứng nhu cầu ấy của xã hội, là tiếng lòng của rất nhiều người. Bài thơ vừa là sự tổng kết một giai đoạn lịch sử (cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp), vừa thể hiện niềm hy vọng, niềm tin vào tương lai tươi sáng của đất nước trong thời kỳ mới. Nhưng trước hết, Việt Bắc là một bản trường ca đầy ân tình — tình quê hương, đất nước, tình nghĩa giũa những con người kháng chiến, ân tình của người cán bộ cách mạng với Việt Bắc và của Việt Bắc với cách mạng. Vì thế, có thể nói Việt Bắc là bản tổng kết một giai đoạn lịch sử bằng thơ.

2. Kết cấu

Để có được một khúc hát ân tình tha thiết, Tố Hữu đã sáng tạo cách kết cấu rất phù hợp với nội dung tư tưởng – cảm xúc ấy : Lời đối đáp trong một cuộc tiễn đưa của kẻ ở, người về. Bài thơ sáng tạo một hoàn cảnh đặc biệt để hai nhân vật trữ tình bộc lộ tình cảm» cảm xúc dạt dào, đó là cuộc chia tay đầy lưu luyến, có kẻ ở người đi, bâng khuâng bịn rịn : “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”. Đây là cuộc chia tay của những người đã lừng gắn bó dài lâu, nghĩa tình sâu nặng, mặn nồng, từng chia sẻ mọi ngọt bùi, đắng cay, nay trong giờ phút chia tay, cùng nhau gợi lại bao kỷ niệm đẹp đẽ, cùng cất lên nỏi niểm hoài niệm thiết tha vể những ngày qua, kháng định nghĩa tình bền chạt và hẹn ước về tương lai. Cách cấu tứ này trong ca dao, dân ca dùng để diễn tả những tâm trạng của tình yêu đôi lứa. Tình nghĩa riêng tư đã được Tố Hữu vận dụng sáng tạo vào việc thể hiện những nghĩa tình cách mạng rộng lớn. Nhưng cần lưu ý rằng đối đáp chỉ là kết cấu bên ngoài, ở bể mặt, còn ở chiều sâu chính là sự thống nhất của tình cảm, cảm xúc trong một tiếng nói chung. Hai nhân vật “mình”, “ta” thực chất chỉ là sự phân thân của một cái tôi trữ tình thống nhất. Lời đáp không chỉ nhằm giải đáp cho những điều đặt ra của lời hỏi mà còn là sự tán đồng, mở rộng, làm cụ thể và phong phú thêm những ý tình trong lời hỏi, có khi trở thành lời đồng vọng, không phân biệt ngựời hỏi, người đáp, cùng ngân vang những tình cảm chung :

Ta với mình, mình với ta

Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh

Mình đi, mình lại nhớ mình

Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu…

Bằng một âm điệu ngọt ngào, êm ái, trở đi trở lại nhịp nhàng như lời ru trong thể thơ lục bát, với sự trùng điệp của nhiều từ nhớ, mình, ta và nhiềụ từ ngữ diễn tả các trạng thái tình .cảm, cảm xúc đầy lưu luyến lúc phân ly, đoạn thơ đưa người đọc vào thế giới tám tình đầy ân nghĩa. Trong không khí ấy, mọi cảnh vật thiên nhiên và khung cảnh sinh hoạt của con người, cho đến các hoạt động kháng chiến đều đậm đà ý vị tình nghĩa, bao bọc trong ánh hồi quang của hoài niệm với nỗi nhớ thiết tha, tất cả tạo nên một không gian – thời gian tâm tưởng và giọng điệu trữ tình thiết tha, đằm thắm, ân tình của đoạn thơ.

3. Bài thơ mở ra trong một cảnh chia tay với tâm trạng bâng khuâng, bồn chồn, bịn rịn, lưu luyến của kẻ ở người đi – hai người đã từng gắn bó sâu nặng, bền lâu qua mười lăm năm “Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”. Khung cảnh ấy gợi nhớ đến những cuộc hát đối đáp trong đêm giã bạn ở vùng quê quan họ hay trong sinh hoạt dân ca ộr nhiều vùng. Người ở lại lên tiếng trước, như nhạy cảm với hoàn cảnh đổi thay, gợi nhắc những kỷ niêm gắn bó, những cội nguồn nghĩa tình :

Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.

Mình về mình có nhớ không

Nhìn cây nhớ hủi, nhìn sông nhớ nguồn ?

Nhưng người ra đi cũng một tâm trạng ấy, nên nỗi nhớ không chỉ hướng về người khác mà còn là nỗi nhớ chính mình : “Mình đi, mình lại nhớ mình”. Lời hỏi,của người ở lại đã khơi dậy cả một quá vãng đầy kỷ niệm, khơi nguồn cho dòng mạch nhớ thương tuôn chảy. Như ở trên đã nói, đối đáp ở đây chỉ là một thủ pháp khơi, gợi bộc lộ tâm trạng và tạo ra sự hô ứng, đồng vọng trong tình cảm của người ở và người về.

Sau những lời mở đầu, người ở lại tiếp tục gợi lại những kỷ niệm gắn bó đầy ân tình của “mười lăm năm ấy”. Cũng vẫn dưới dạng câu hỏi nhưng đã gợi cụ thể hơn vể thời gian, không gian của những kỷ niệm :

Mình đi, có nhớ những ngày

Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù

Mình về, có nhớ chiến khu

Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai ?

Mình đi, có nhớ những nhà

Hắt hiu ¡au xám, đậm đà lòng son

Mình về, còn nhớ núi non

Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh


Là lời hỏi, nên không miêu tả cụ thể mà chỉ dùng bút pháp gợi tả. Nhưng sau những câu thơ, những hình ảnh cô đúc là bao nhiêu kỷ niệm, bao nhiêu nghĩa tình chất chứa, dồn nén. Câu thơ lục bát ở đây đạt đến độ tinh luyện, đúc chữ, đúc hình ảnh, nhất là trong những câu sử dụng rất hiệu quả phép đối : “Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai”, “Trám bùi để rụng, măng mai để già”, “Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son”.

Lời hỏi của Việt Bắc — người ở lại – đã khơi dậy, làm tuôn trào cả một bầu kỷ niệm tràn đầy tình nghĩa với người ra đi, với bao nhiêu hình ảnh, sự việc chất chứa của một thời không thể quên. Nếu lời hỏi chỉ nhằm khơi gợi, thì lời đáp lại dào dạt, dồn dập như một dòng cảm xúc tuôn trào. Bởi vậy, lời hỏi chỉ có mười hai dòng thơ, mà lời đáp phải dùng tới bảy mươi dòng (từ dòng 21 đến dòng 90).

Bao trùm trong tâm trạng của cả kẻ ở, người đi là nỗi nhớ da diết, mênh mang với nhiều sắc thái khác nhau (trong chín mươi dòng thơ đã có tới ba mươi lăm từ “nhớ”). Niềm hoài niệm thiết tha đã làm sống dậy những kỷ niệm sâu nặng nghĩa tình với thiên nhiên, con người Việt Bắc, với cuộc sống kháng chiến gian khổ mà hào hùng. Cuộc sống và cảnh vật qua hoài niệm đã hiện ra lúc thì rõ nét “Nhớ người mẹ nắng cháy lưng”, “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi”, “Nhớ cô em gái hái măng một mình”), lúc lại mơ màng vời vợi (“Nhớ gì như nhớ người yêu – Trăng lên đầu núi nắng chiều lưng nương”, “Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù”, “Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều – Chày đêm nện cối đều đều suối xa”,…), lúc lại cô đọng, đúc kết những trải nghiệm, như một biểu tượng (“Miếng cơm chấm muối, môi thù nặng vai”, “Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”).

  1. Trong hoài niệm bao trùm, có ba mảng thống nhất, hoà nhập, không tách rời, đó là nỗi nhớ thiên nhiên núi rừng Việt Bắc, nỗi nhớ con người, cuộc sống ở Việt Bắc và những kỷ niệm về cuộc kháng chiến anh hùng.

Thiên nhiên Việt Bắc hiện lên với những vẻ đẹp đa dạng trong thời gian và không gian khác nhau, trong các thời tiết sương sớm, nắng chiều, trâng khuya, trong bốn mùa thay đổi mà mùa nào cũng có vẻ đẹp riêng.

Thiên nhiên Việt Bắc khi thì đậm đà, thi vị trong những hình ảnh thơ mộng : “Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương”, “bản khói cùng sương”, “Sớm khuya bếp lửa người thương đi về”  khi lại hùng tráng, lớn lao, vững chãi cùng với con người trong cuộc chiến đấu : “Núi giăng thành lũy sắt dày – Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù – Mênh mông bốn mặt sương mù , Đất trời ta cả chiến khu một lòng.

Nhưng nhớ thiên nhiên cũng là nhớ con người, bởi con người Việt Bắc không tách rời mà luôn hoà nhập, gắn bó với thiên nhiên Việt Bắc. Hình ảnh con người với cuộc sống lao động và sinh hoạt hằng ngày, cũng như trong những hoạt động kháng chiến đã làm cho thiên nhiên không còn vắng vẻ, hiu quạnh, mà thêm tươi sáng, ấm áp, mạnh mẽ đầy sức sống. Đoạn thơ dưới đây vẫn được coi là một bộ tứ bình đẹp mà hết sức tự nhiên, dung dị về thiên nhiên Việt Bắc trong sự hài hoà với hình ảnh con người:

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình.

Rừng thu trăng rọi hoà bình

Nhớ ai tiếng hát ăn tình thủy chung.


Chỉ tám câu thơ mà đã làm hiện lên thật sinh động bao nhiêu vẻ đẹp của núi rừng Việt Bắc, trong bốn mùa đổi thay, với đủ màu sắc, ánh sáng, âm thanh, thật đa dạng mà rất hài hoà, màu đỏ tươi của hoa chuối rừng nổi bật trên nền xanh rì của núi rừng, như một điểm sáng tươi làm bớt đi sự đơn điệu triền miên của màu xanh nơi rừng núi. Cảnh vật và sắc màu đột ngột chuyển sang cảnh mùa xuân với màu trắng của hoa mơ bung nở khập rừng, rổi lại tràn ngập một màu vàng của rừng phách khi hè về và cuối cùng đọng lại trong hình ảnh trong trẻo, dịu mát của rừng đêm dưới ánh trăng thu hoà bình. Đặc biệt, trong mỗi bức tranh của bộ tứ bình này đều có hình ảnh con người hiện ra thật hài hoà với thiên nhiên, trong cồng việc lao động và sinh hoạt thường ngày và toát lên một vẻ đẹp dung dị. Cả âm thanh cũng vậy, có tiếng ve ran trưa hè xốn xang, lại có tiếng hát trong trẻo của con người dưói trăng thu.

Cuộc sống của đồng bào Việt Bắc hiện ra trong những nét thanh bình êm ả (“Nhớ sao tiếng mõ rừng chiểu – Chày đêm nện cối đều đều suối xa”) và cả trong nghèo khó, cơ cực (“Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng – Nhớ người mẹ nắng cháy lưng – ĐỊu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô”,…). Đẹp nhất là ở nghĩa tình của con người, ở sự san sẻ, cùng chung mọi gian khổ và niềm vui, cùng gánh vác nhiệm vụ. Nghĩa tình càng đẹp hơn trong cuộc sống gian nan, thiếu thốn, càng sắt son, thấm thía trong khó khăn, thử thách.

Theo mạch cảm xúc, hoài niệm, bài thơ dẫn vào khung cảnh Việt Bắc kháng chiến với những cảnh rộng lớn, những hoạt động tấp nập, sôi động của cuộc kháng chiến, được vẽ với bút pháp của những tráng ca. Câu thơ lục bát đang đi những điệu êm ả ngọt ngào ở trên bỗng chuyển thành nhịp dồn dập, sôi nổi, náo nức :

Những đường Việt Bắc của ta

Đêm đêm rầm rập như là đất rung

Quân đi điệp điệp trùng trùng

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan.

Dân công đỏ đuốc từng đoàn

Bước chân nát đá, muôn tấn lửa bay.

Nghìn đêm thăm thẳm sương dày

Đèn pha bật sáng như ngày mai lên.

Mọt cuộc hợp của Trung ương, Chính phủ trong hang núi mà rạng rở ánh sáng — không chỉ là Ánh nắng trưa hoà với ánh rực rỡ của lá cờ đỏ sao vàng mà còn là ánh sáng của niềm tin hi vọng. Những công việc tưởng chừng sự vụ, khô khan của một cuộc họp mà chứa đựng bao nhiêu ý nghĩa, bởi đó là chuyện thiết thực với cuộc sống của đất nước và con người, từ việc “điều quân chiến dịch” đến việc mở đường, phát động quần chúng nông dân, cho đến nhũng việc cụ thể, tỷ mỷ như giữ đê, phòng hạn, gửi dao lên cho miền ngược, thêm trường học cho các khu. Kết thúc phần một là âm hưởng trang trọng mà thiết tha khi thâu tóm lại hình ảnh Việt Bắc quê hương cách mạng, đầu não của cuộc kháng chiến, biểu tượng của niềm tin tưởng và hy vọng của con người Việt Nam từ mọi miền đất nước, đặc biệt là những nơi còn “u ám quân thù” :

Ở đâu u ám quân thù

Nhìn lên Việt Bắc : Cụ Hồ sáng soi

Ở đâu đau đớn giống nò

Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền.

Về bút pháp, đoạn thơ này thiên về tạo những hình ảnh rộng lớn, hùng tráng, kỳ vĩ, phảng phất màu sắc huyền thoại cùng với những câu thơ có chất diễn ca lịch sử, tạo âm hưởng mạnh mẽ, hào hùng, trang trọng, đĩnh đạc

  1. Nổi bật và bao trùm trong bút pháp nghệ thuật của bài Việt Bắc là tính dân tộc hết sức đâm đà, nhuần nhị.

Thể thơ lục bát truyền thống đã được vận dụng trong một bài thơ dài, vừa tạo ra âm hưởng thống nhất mà lại biến hoá đa dạng, linh hoạt. Xuân Diệu nhận xét : “Không phải một cây bút trong tay Tố Hữu nữa, mà nhiều ngọn bút nở cùng một lúc, bút tả tình, bút tả cảnh, bút tả người. Người ta thấy văn chương cách mạng, văn chương nói chiến đấu gian khổ, quyết tâm cũng lại là cái văn chương chí nghĩa, chí tình, cái vãn chương nên thơ, nên nhạc”. Câu thơ lúc thì dung dị, dân dã gần với ca dao, lúc thì cân xứng, nhịp nhàng, trau chuốt mà trong sáng, nhuần nhị đến độ cổ điển.

Chất liêu văn học và văn hoá dân gian được vận dụng phong phú, đa dạng, đặc biệt là ca dao trữ tình. Những lối nói giàu hình ảnh, các cách chuyển nghĩa truyền thống (so sánh, ẩn dụ, tượng trưng, ước lệ) được sử dụng thích hợp, tạo nên phong vị dân gian và chất cổ điển của bài thơ. Rất nhiều cặp hình ảnh sóng đôi trong những mô tip của ca dao — dân ca đã được vận dụng một cách tài tình để biểu hiện nhhững quan hệ tình cảm mới của đời sống cách mạng, làm cho nó mang một ý vị dân tộc đậm đà. Đó là những cặp hình ảnh như : mây – núi, sông — nguồn, cây — núi. mái đình – cây đa, đèn – trăng,… và nhiều cặp hình ảnh mới được nhà thơ sáng tạo theo mô hình ấy : “Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai”, “Trám bùi để rụng, măng mai để già”, “Chàm nâu thêm đậm, phấn son chẳng nhoà”. Ở phần hai của bài thơ – lời hẹn ước về tương lai – ta lại gặp bóng dáng của nhiều bài ca dao về các sản vật của mỗi vùng quê, thậm chí nhiều câu thơ Tố Hữu đã thực sự trờ thành những câu ca dao mới của loại này, như :

Ai vê mua vại Hương Canh

Ai lên mình gửi cho anh với nàng

Chiếu Nga Sơn, gạch Bát Tràng

Vải tơ Nam Định, lụa hàng Hà Đông.

Áo em thêu chỉ biếc hồng

Mùa xuân ngày hội lùng tùng thêm tươi  

Lối đối đáp trong ca dao dân ca được vận dụng sáng tạo, dưa người đọc nhập vào không khí đầy ân tình, thiết tha của một cuộc chia tay, có lưu luyến bùi ngùi với bao nhiêu kỷ niộm còn nóng hổi, nhưng không hề có nỗi ngậm ngùi. Bởi đây là cuộc chia tay trong niềm vui thắng lợi, trong sự trưởng thành của cách mạng, chia tay mà vẫn đinh ninh “Ngược xuôi đôi mặt một lời song song”, và cuộc từ biệt được kết thúc bằng lời hẹn ước đẩy tin tưởng vé sự gắn bó mật thiết giữa miền xuôi và miền ngược trong tương lai.

Một thủ pháp độc đáo làm giàu thêm tính dân tộc trong ngôn ngữ của bài thơ là việc sử dụng sáng tạo cặp đại từ mình và ta, nhất là từ mình.

 

Trong tiếng Việt , từ “mình” là chỉ bản thân (ngôi thứ nhất), nhưng cũng còn chỉ đối tượng giao tiếp than thiết, gần gũi – chí người bạn đời yêu mến (ngôi thứ hai) thường là chỉ dùng trong các quan hệ tình yêu, vợ chồng. Trong bài Việt Bắc, “mình” chủ yếu dược dùng ở nghĩa thứ hai, điều đó tạo nên quan hệ gắn bó của hai nhân vật đối đáp, nhưng có chỗ lại là chỉ ngôi thứ nhất : “Ai lên mình gửi cho anh với nàng”, và có những lúc biến hoá, chuyển hoá đa nghĩa, vừa là chủ thể, vừa là đối tượng, hoà nhập làm một như trong các câu : “Mình đi, mình có nhớ mình” và “Mình đi mình lại nhớ mình”.

Chúng ta cũng có thể thấy sự chuyển nghĩa ở đại từ “ta”. Trong bài thơ, “ta” là ngôi thứ nhất, nhưng “ta” trong nhiều trường hợp là chỉ chung hai người, chỉ chúng ta” (“Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây”, “Lòng ta ơn Bác đời đời”).

Nhưng tính dân tộc của bài thơ Việt Bắc không phải chỉ ở hình thức nghệ thuật, mà còn ở chiều sâu tư tưởng – cảm xúc, thống nhất hài hoà với nghệ thuật biểu hiện ấy.

Kết bài

Bài thơ là khúc ca vừa hào hùng vừa thắm thiết của thời đại cách mạng, kháng chiến, nhưng cũng là khúc tâm tình thiết tha, sâu nặng của cả dân tộc. Mọi quan hệ, mọi tình cảm của con người trong thời đại cách mạng – sự gắn bó của người cán bộ kháng chiến với Việt Bắc, của nhân dân Việt Bắc với cách mạng, với Bác Hồ, đã hoà nhập, nối tiếp truyền thống ân nghĩa, thuỷ chung trong đạo lý và lối sống, trong tâm thức của dân tộc từ ngàn xưa. Bài thơ Việt Bắc một lần nữa cho thấy sự thống nhất chặt chẽ của hai yếu tố, hai nguồn mạch cách mạng và dâíì tộc tạo nên sức mạnh to lớn và sức chinh phục rộng rãi của thơ Tố Hữu trong một thời gian dài.

Nguyễn Văn Long

Xem thêm : Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về   việt bắc

Giáo án bài Việt Bắc – Tố Hữu, soạn theo 5 hoạt động

Soạn bài Việt Bắc Ngữ văn lớp 12. Giáo án theo cấu trúc mới. Soạn giáo án theo định hướng phát triển năng lực của học sinh.

Tiết 24: Đọc văn: VIỆT BẮC      

 Tố Hữu

MỤC TIÊU

  1. Kiến thức

– Khúc hồi tưởng ân tình về Việt Bắc trong những năm cách mạng và kháng chiến gian khổ.

– Tính dân tộc đậm nét: thể thơ lục bát; kiểu kết cấu đối đáp; ngôn ngữ, hình ảnh đậm sắc thái dân gian, dân tộc.

  1. Kĩ năng

– Đọc- hiểu thơ trữ tình theo đặc trưng thể loại.

– Rèn luyện kĩ năng cảm thụ thơ.

  1. Thái độ

Nhận thức về tình nghĩa thủy chung cách mạng của con người Việt Bắc; từ đó, tự rút ra bài học cho bản thân.

  1. Năng lực

Phát triển năng lực cho HS như: Giao tiếp Tiếng Việt, tiếp nhận văn bản, cảm thụ thẩm mĩ, tự học và thực hành ứng dụng.

  1. Phẩm chất

Hình thành cho HS những phẩm chất như: Có tinh thần yêu nước, có trách nhiệm với bản thân, cộng đồng, đất nước, nhân loại.

PHƯƠNG TIỆN

– GV: SGK, SGV, thiết kế bài dạy.

– HS: SGK, vở soạn, vở ghi bài.

PHƯƠNG PHÁP

          – Phương pháp dạy học nhóm, phương pháp giải quyết vấn đề.

– Kĩ thuật chia nhóm, kĩ thuật giao nhiệm vụ, kĩ thuật đặt câu hỏi, kĩ thuật động não, kĩ thuật hỏi và trả lời.

TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC

* Định hướng: Đối với lớp 12a5 và 12a6 dạy các bước 1,2,3

Hoạt động khởi động

Ổn định lớp

Kiểm tra bài cũ

Kiểm tra vở soạn của học sinh

Bài mới

Hoạt động hình thành kiến thức mới

Hoạt động của GV và HS Nội dung cần đạt Năng lực
* Hướng dẫn HS tìm hiểu phần tiểu dẫn

* Bước 1: Giao nhiệm vụ cho học sinh:

– Dựa vào Tiểu dẫn, hãy nêu hoàn cảnh sáng tác bài thơ?

 – Nêu vị trí đoạn trích học?

* Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ

Học sinh suy nghĩ và trả lời các câu hỏi

* Bước 3: Thảo luận, nhận xét

Giáo viên cho học sinh thảo luận, sau đó nhận xét.

* Bước 4: Kết luận và hình thành kiến thức

* Hướng dẫn HS tìm hiểu sắc thái tâm trạng của các nhân vật trữ tình

* Bước 1: Giao nhiệm vụ cho học sinh:

– Hoàn cảnh sáng tác của bài thơ cho ta biết được tâm trạng gì của các nhân vật trữ tình?

 

 

 

 

 

 

 

Diễn biến tâm trạng được tổ chức như thế nào trong bài thơ?

* Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ

Học sinh suy nghĩ và trả lời các câu hỏi

* Bước 3: Thảo luận, nhận xét

Giáo viên cho học sinh thảo luận, sau đó nhận xét.

* Bước 4: Kết luận và hình thành kiến thức

 

* Hướng dẫn HS tìm hiểu vẻ đẹp của cảnh núi rừng và con người Việt Bắc

* Bước 1: Giao nhiệm vụ cho học sinh:

– Cảnh vật núi rừng Việt Bắc được khắc hoạ trong đoạn thơ nào? Cảnh vật hiện lên như thế nào?

 

 

 

– Nỗi nhớ núi rừng Việt Bắc được so sánh với điều gì? Diễn tả một nỗi nhớ như thế nào?

 

– Đoạn thơ có sử dụng hình thức nghệ thuật gì nổi bật? Biện pháp này muốn diễn tả điều gì?

 

 

 

 

 

– Đẹp nhất trong nỗi nhớ là có sự hoà quyện giữa những điều gì? Được thể hiện trong đoạn thơ nào?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– Thiên nhiên Việt Bắc hiện lên với vẻ đẹp như thế nào?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– Hình ảnh những con người được miêu tả như thế nào?

 

 

 

 

 

 

 

– Qua việc miêu tả đó, tác giả muốn nói lên điều gì?

 

– Trong nỗi nhớ của nhà thơ, đồng bào Việt Bắc hiện lên với những phẩm chất cao đẹp nào? Được thể hiện trong những câu thơ nào?

 

 

– Diễn tả hình ảnh người mẹ, tác giả muốn thể hiện tình cảm gì của mình?

 

 

– Tác giả còn nhớ về những tháng ngày như thế nào?

 

 

 

– Những tình cảm nào được thể hiện trong các câu thơ trên?

* Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ

Học sinh suy nghĩ và trả lời các câu hỏi

* Bước 3: Thảo luận, nhận xét

Giáo viên cho học sinh thảo luận, sau đó nhận xét.

* Bước 4: Kết luận và hình thành kiến thức

I. Tìm hiểu chung

    1. Hoàn cảnh sáng tác

– Tháng 10 – 1954, những người kháng chiến từ căn cứ mìêm núi về miền xuôi.

– Trung ương Đảng quyết định rời chiến khu Việt Bắc về lại thủ đô.

– Nhân sự kiện có tính chất lịch sử ấy, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ Việt Bắc .

2. Đoạn trích

Đoạn trích nằm ở phần đầu của bài thơ.

 

 

 

 

 

 

 

 

II. Đọc – hiểu văn bản

  1. Sắc thái tâm trạng

– Hoàn cảnh sáng tác tạo nên một sắc thái tâm trạng đặc biệt:

“Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

à đầy xúc động, bâng khuâng không nói nên lời.

– Đây cũng là cuộc chia tay của những người từng gắn bó:

“Mười lăm năm ấy, thiết tha mặn nồng”

à có biết bao kỷ niệm ân tình thuỷ chung.

– Chuyện ân tình cách mạng được Tố Hữu thể hiện khéo léo như tâm trạng của tình yêu đôi lứa.

– Diễn biến tâm trạng được tổ chức theo lối đối đáp giao duyên trong ca dao – dân ca: bên hỏi, bên đáp, người bày tỏ, người hô ứng.

– Hỏi và đáp điều mở ra bao nhiêu kỷ niệm về cách mạng và kháng chiến gian khổ mà anh hùng, bao nỗi niềm nhớ thương.

– Thực ra, bên ngoài là đối đáp, còn bên trong là lời độc thoại, là biểu hiện tâm tư tình cảm của chính nhà thơ, của những người tham gia kháng chiến.

2. Vẻ đẹp của cảnh núi rừng và con người Việt Bắc

 

* Cảnh vật núi rừng Việc Bắc

“Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương

Nhớ từng bản khói cùng sương

Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.

Nhớ từng rừng nứa bờ tre

Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy”.

-> Cảnh núi rừng Việt Bắc hiện lên với vẻ đẹp vừa hiện thực vừa mơ mộng

– Nỗi nhớ Việc Bắc được so sánh “như nhớ người yêu”.

-> Nỗi nhớ thật da diết, mãnh liệt, cháy bỏng.

– Điệp từ “nhớ” được đặt ở đầu câu như liệt kê ra từng nỗi nhớ cụ thể: nhớ ánh nắng ban chiều, ánh trăng buổi tối, những bản làng mờ trong sương sớm, những bếp lửa hồng trong đêm khuya, những núi rừng, sông suối mang những cái tên thân thuộc.

-> Nỗi nhớ bao trùm khắp cả không gian và thời gian.

*  Bức tranh tứ bình

– Đẹp nhất trong nỗi nhớ là sự hoà quyện thắm thiết giữa cảnh với người:

Ta về mình có nhớ ta

Ta về ta nhớ những hoa cùng người.

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình.

Rừng thu trăng rọi hoà bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.

– Thiên nhiên Việt Bắc hiện lên với vẻ đẹp đa dạng, sinh động, thay đổi theo từng mùa:

+ Mùa xuân: trong sáng, tinh khôi và đầy sức sống với “mơ nở trắng rừng

+ Mùa hè: rực rỡ, sôi động với âm thanh “rừng phách đổ vàng

+ Mùa thu: yên ả, thanh bình, lãng mạn với hình ảnh “trăng rọi hoà bình

+ Mùa đông: tươi tắn, không lạnh lẽo với hình ảnh “hoa chuối đỏ tươi

– Gắn bó với thiên nhiên là những con người bình dị:

+ Người đi làm nương rẫy (Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng)

+ Người khéo léo trong công việc đan nón (Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang)

+ Người đi hái măng giữa rừng tre nứa (Nhớ cô em gái hái măng một mình)

-> Bằng những việc làm nhỏ bé, họ góp phần tạo nên sức mạnh vĩ đại của cuộc kháng chiến

– Trong nỗi nhớ của nhà thơ, đồng bào Việt Bắc hiện lên với những phẩm chất cao đẹp:

+ Hình ảnh “Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son”

-> Tuy họ nghèo về vật chất nhưng lại giàu về nghĩa tình.

+ Hình ảnh người mẹ:

“Nhớ người mẹ nắng cháy lưng

Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô”

-> Nỗi xót xa về cuộc sống cơ cực của đồng bào miền núi.

+ Những tháng ngày:

“Thương nhau chia củ sắn lùi

Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”

-> Họ đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi với người cán bộ kháng chiến.

* Âm hưởng trữ tình tạo khúc ca ngọt ngào, đằm thắm của tình yêu thương đồng chí, đồng bào, tình yêu thiên nhiên, đất nước

 

 

 

Giao tiếp Tiếng Việt, tiếp nhận văn bản.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Giao tiếp Tiếng Việt, tiếp nhận văn bản và cảm thụ thẩm mĩ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Giao tiếp Tiếng Việt, tiếp nhận văn bản và cảm thụ thẩm mĩ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Giao tiếp Tiếng Việt, tiếp nhận văn bản và cảm thụ thẩm mĩ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

  1. Hoạt động luyện tập

– Chọn bình giảng một đoạn thơ?

  1. Hoạt động vận dụng

– Phân tích giá trị biểu cảm của các xưng hô mình – ta trong bài thơ.

  1. Hoạt động tìm tòi, sáng tạo

– Tìm đọc toàn bộ bài thơ Việt Bắc.

– So sánh với một số bài thơ cùng thời.

* Chuẩn bị bài mới: Việt Bắc (TT)              

* RÚT KINH NGHIỆM

Tiết 25: Đọc văn: VIỆT BẮC (tiếp)

                                                          Tố Hữu

MỤC TIÊU

  1. Kiến thức

– Bản anh hùng ca về cuộc kháng chiến; bản tình ca về nghĩa tình cách mạng và kháng chiến.

– Tính dân tộc đậm nét: thể thơ lục bát; kiểu kết cấu đối đáp; ngôn ngữ, hình ảnh đậm sắc thái dân gian, dân tộc.

  1. Kĩ năng

– Đọc- hiểu thơ trữ tình theo đặc trưng thể loại.

– Rèn luyện kĩ năng cảm thụ thơ.

  1. Thái độ

Nhận thức về tình nghĩa thủy chung cách mạng của con người Việt Bắc; từ đó, tự rút ra bài học cho bản thân.

  1. Năng lực

Phát triển năng lực cho HS như: Giao tiếp Tiếng Việt, tiếp nhận văn bản, cảm thụ thẩm mĩ, tự học và thực hành ứng dụng.

  1. Phẩm chất

Hình thành cho HS những phẩm chất như: Có tinh thần yêu nước, có trách nhiệm với bản thân, cộng đồng, đất nước, nhân loại.

PHƯƠNG TIỆN

– GV: SGK, SGV, thiết kế bài dạy.

– HS: SGK, vở soạn, vở ghi bài.

PHƯƠNG PHÁP

          – Phương pháp dạy học nhóm, phương pháp giải quyết vấn đề.

– Kĩ thuật chia nhóm, kĩ thuật giao nhiệm vụ, kĩ thuật đặt câu hỏi, kĩ thuật động não, kĩ thuật hỏi và trả lời.

TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC

* Định hướng: Đối với lớp 12a5 và 12a6 dạy các bước 1,2,3

Hoạt động khởi động

Ổn định lớp

Kiểm tra bài cũ

Phân tích vẻ đẹp bức tranh tứ bình trong đoạn thơ?

Bài mới

Hoạt động hình thành kiến thức mới

Hoạt động của GV và HS Nội dung cần đạt Năng lực
* Hướng dẫn HS tìm hiểu Khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong chiến đấu, vai trò của Việt Bắc trong cách mạng và kháng chiến.

* Bước 1: Giao nhiệm vụ cho học sinh:

– Bức tranh Việt Bắc ra quân hùng vĩ được miêu tả trong đoạn thơ nào?

 

 

 

 

 

 

– Nhận xét về những hình ảnh, từ ngữ và biện pháp nghệ thuật mà tác giả sử dụng trong đoạn thơ?

 

 

 

 

 

– Những nghệ thuật trên diễn tả điều gì?

 

 

– Đoạn thơ có âm hưởng như thế nào? Thể hiện được điều gì?

 

 

– Khí thế chiến thắng của dân tộc được thể hiện trong những câu thơ nào?

 

 

 

 

 

 

 

– Tác giả đã liệt kê những gì?

 

– Tố Hữu còn đi sâu lí giải những cội nguồn sức mạnh đã làm nên chiến thắng. Điều đó được nói trong những câu thơ nào? những nguyên nhân đó là gì?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– Vai trò của Việt Bắc trong cách mạng và kháng chiến được thể hiện trong những câu thơ nào?

 

 

 

– Tác giả đã nêu lên những vai trò gì của Việt Bắc?

 

 

 

 

 

 

 

– Trong những câu thơ cuối đoạn trích, tác giả còn khẳng định những gì?

* Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ

Học sinh suy nghĩ và trả lời các câu hỏi

* Bước 3: Thảo luận, nhận xét

Giáo viên cho học sinh thảo luận, sau đó nhận xét.

* Bước 4: Kết luận và hình thành kiến thức

 

 * Hướng dẫn HS tổng kết.

* Bước 1: Giao nhiệm vụ cho học sinh:

 

 

–  Nêu chủ đề của đoạn thơ?

 

 

 

 

– Đoạn trích Việt Bắc có những nét nghệ thuật đặc sắc nào?

* Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ

Học sinh suy nghĩ và trả lời các câu hỏi

* Bước 3: Thảo luận, nhận xét

Giáo viên cho học sinh thảo luận, sau đó nhận xét.

* Bước 4: Kết luận và hình thành kiến thức

2. Khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong chiến đấu, vai trò của Việt Bắc trong cách mạng và kháng chiến

 

a. Khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong chiến đấu

 

– Bức tranh Việt Bắc ra quân hùng vĩ:

Những đường Việt Bắc của ta

Đêm đêm rầm rập như là đất rung.

Quân đi điệp điệp trùng trùng.

Ánh sao đầu súng, bạn cùng mũ nan.

Dân công đỏ đuốc từng đoàn

Bước đi nát đá, muôn tàn lửa bay.

Nghìn đêm thăm thẳm sương dày

Đèn pha bật sáng như ngày mai lên.

Những hình ảnh không gian rộng lớn:  + Từ láy (rầm rập, điệp điệp, trùng trùng)

+ Biện pháp so sánh (như là đất rung)

+ Cường điệu (bước chân nát đá)

+ Biện pháp đối lập (Nghìn đêm … >< … mai lên)

+ Những động từ (rấm rập, đất rung, lửa bay)

à Diễn tả được khí thế hào hùng của cuộc kháng chiến chống Pháp: không khí sôi động với nhiều lực lượng tham gia, những hoạt động tấp nập…

– Âm hưởng hùng ca, mang tính sử thi của đoạn thơ

à Thể hiện được sức mạnh của cả một dân tộc đứng lên chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

– Dân tộc ấy vượt qua bao khó khăn, thử thách, hi sinh để đem về những kì tích:

+ “Tin vui thắng trận trăm miền.

Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về

   Vui từ Đồng Tháp, An Khê,

Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng”

+ “Ai về ai có nhớ không?

Ta về ta nhớ Phủ Thông, đèo Giàng

   Nhớ sông Lô, nhớ phố Ràng

Nhớ từ Cao – Lạng, nhớ sang Nhị Hà…”

à Liệt kê những chiến công gắn liền với những địa danh lịch sử.

– Tố Hữu còn đi sâu lí giải những cội nguồn sức mạnh đã làm nên chiến thắng:

+ Đó là sức mạnh của lòng căn thù: “Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai”

+ Đó là sức mạnh của tình nghĩa thuỷ chung: “Mình đây ta đó đắng cay ngọt bùi”

+ Sức mạnh của tình đoàn kết:

“Nhớ khi giặc đến giặc lùng

Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây.

Núi giăng thành luỹ sắt dày,

Rừng che bộ đội rừng vây quân thù.

Mênh mông bốn mặt sương dày,

Đất trời ta cả chiến khu một lòng”

à Khối đại đoàn kết toàn dân (“Đất trời ta cả chiến khu một lòng”), sự hoà quyện gắn bó giữa con người với thiên nhiên (Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây): tất cả tạo thành hình ảnh một đất nước đứng lên tiêu diệt kẻ thù.

  b. Vai trò của Việt Bắc trong cách mạng và kháng chiến

“Mình về, còn nhớ núi non,

Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh

Mình đi, mình có nhớ mình,

Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa.”

–  Việt Bắc là quê hương của cách mạng, là căn cứ địa vững chắc, là đầu não của cuộc kháng chiến, nơi hội tụ tình cảm, suy nghĩ, niềm tin và hi vọng của mọi người Việt Nam yêu nước.

Việt Bắc là chiến khu kiên cường, nơi nuôi dưỡng bao sức mạnh đấu tranh, nơi khai sinh những địa danh mãi mãi đi vào lịch sử dân tộc.

– “Ở đâu u ám quân thù,

Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi

Ở đâu đau đớn giống nòi,

Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền.

Mười lăm năm ấy, ai quên

Quê hương Cách mạng dựng nên cộng hoà”

– Khẳng định Việt Bắc là nơi có “Cụ Hồ sáng soi”, có “Trung ương chính phủ luận bàn việc công”

– Khẳng định niềm tin yêu của cả nước với Việt Bắc bằng những vần thơ mộc mạc, giản dị mà thắm thiết nghĩa tình.

III. Tổng kết

1. Nội dung

Qua nỗi nhớ của người cán bộ kháng

chiến đối với chiến khu Việt Bắc, tác giả đã thể hiện được nghĩa tình thắm thiết giữa cán bộ kháng chiến với chiến khi Việt Bắc. Đồng thời ca ngợi vẻ đẹp của phong cảnh và con người Việt Bắc, đề cao chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng.

2. Nghệ thuật

Đoạn trích Việt Bắc đậm đà tính dân tộc từ hình thức nghệ thuật đến nội dung tình cảm. Việt Bắc là một bài thơ tiêu biểu nhiều mặt cho hồn thơ, phong cách thơ của Tố Hữu.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Giao tiếp Tiếng Việt, tiếp nhận văn bản và cảm thụ thẩm mĩ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Giao tiếp Tiếng Việt, tiếp nhận văn bản và cảm thụ thẩm mĩ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Năng lực tự học

 

 

 

 

Hoạt động luyện tập

– Chọn bình giảng một đoạn khoảng từ tám đến mười câu thơ (chẳng hạn đoạn từ câu 9 đến câu 16, từ câu 35 đến câu 42, từ câu 43 đến câu 52,…).

Hoạt động vận dụng

– Phân tích giá trị biểu cảm của các xưng hô mình – ta trong bài thơ.

Hoạt động tìm tòi, sáng tạo

– Tìm đọc toàn bộ bài thơ Việt Bắc.

– So sánh với một số bài thơ cùng thời

* Chuẩn bị bài mới:  Phát biểu theo chủ đề.

* RÚT KINH NGHIỆM

Giáo án sưu tầm

Xem thêm : Việt Bắc,  Giáo án ngữ văn 12

 

Giáo án Ngữ văn 12 theo chủ đề : Thơ kháng chiến chống Pháp 1945-1954 và xây dựng CNXH 1955-1965

Xây dựng chủ đề dạy học môn Văn lớp 12. Giáo án bài Tây tiến, Việt Bắc,Đất nước, Dọn về làng,Tiếng hát con tàu.

Chủ đề 7

Thơ kháng chiến chống Pháp 1945-1954 và xây dựng CNXH 1955-1964

Tuần

theo chủ đề

Số tiết Chủ đề

Chủ đề 7

Thơ kháng chiến chống Pháp 1945-1954 và xây dựng CNXH 1955-1964

Tiết PPCT Tiết theo chủ đề Tên bài
7 7 19-20 20-21 Tây Tiến

 

8 22 22 Việt Bắc (Phần I: Tác giả)

 

25-26 23-24 Việt Bắc (Tiếp)

 

9 34-25 25-26 Đọc thêm: – Đất nước.

– Dọn về làng.

-Tiếng hát con tàu

 

 

MỤC TIÊU CẦN ĐẠT

  1. Kiến thức – kỹ năng

-Nhận ra đề tài, chủ đề, khuynh hướng tư tưởng ,cảm hứng thẩm mỹ, giọng điệu ,tình cảm của nhân vật trữ tình,những sáng tạo đa dạng về ngôn ngữ, hình ảnh, những đặc sắc về nội dung của một số bài thơ hoặc đoạn trích (Tây Tiến của Quang Dũng , Việt Bắc -Tố Hữu, bài đọc thêm : Đất nước -Nguyễn Đình Thi, Dọn về làng-Nông Quốc Chấn, Tiếng hát con tàu-Chế Lan Viên )

-Nhận biết được một số đặc điểm cơ bản của thơ ca Việt Nam từ 1945 đến 1954 và thơ ca xây dựng CNXH 1955-1965

-Biết cách đọc -hiểu một tác phẩm thơ hiện đại theo đặc trưng thể loại.

-Vận dụng được kiến thức về thơ trữ tình Việt Nam hiện đại vào bài văn phân tích thơ trữ tình

  1. Học sinh hình thành năng lực

+ Năng lực thu thập thông tin liên quan đến văn bản.

+ Năng lực giải quyết những tình huống đặt ra trong các văn bản.

+ Năng lực đọc – hiểu thơ hiện đại Việt Nam theo đặc điểm thể loại.

+ Năng lực trình bày suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về ý nghĩa của văn bản.

+ Năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận về nội dung và nghệ thuật của văn bản.

  1. Phát triển phẩm chất:
  • Biết quý trọng tình yêu quê hương đất nước, tình cảm thủy chung cách mạng…
  • Biết suy nghĩ, trăn trở về những vấn đề trách nhiệm của tuổi trẻ với đất nước
  • Có ý thức tìm tòi về thể loại, từ ngữ, hình ảnh trong thơ hiện đại Việt Nam

B.KẾ HOẠCH THỰC HIỆN CHỦ ĐỀ

  1. Thời gian thực hiện
  • Thực hiện trong 03 tuần: 07, 08,09
  • Số tiết thực hiện trên lớp:07

-2 tiết  : Tây Tiến – Quang Dũng ( tiết 20,21)

-3 tiết : Việt Bắc -Tố Hữu ( tiết 22,23,24)

-2 tiết : Đọc thêm : Đất nước, Dọn về làng, Tiếng hát con tàu ( tiết 25,26)

  1. Chuẩn bị của giáo viên và học sinh
  • a/Chuẩn bị của giáo viên
  • -Giáo án
  • -Phiếu bài tập, trả lời câu hỏi
  • -Hình ảnh về đoàn quân Tây Tiến, Đất Nước…
  • -Bảng phân công nhiệm vụ cho học sinh hoạt động trên lớp
  • -Bảng giao nhiệm vụ học tập cho học sinh ở nhà
  • b/Chuẩn bị của học sinh
  • – Đọc trước văn bản các tác phẩm để trả lời câu hỏi tìm hiểu bài

–  Các sản phẩm thực hiện nhiệm vụ học tập ở nhà (do giáo viên giao từ tiết trước)

  • – Đồ dùng học tập
  1. Lập bảng mô tả mức độ nhận thức
Nhận biết Thông hiểu Vận dụng thấp Vận dụng cao
-Tác giả, hoàn cảnh sáng tác ,xuất xứ … Hiểu được đặc điểm từng  thể loại thơ Phân tích được nội dung nghệ thuật của từng bài Vận dụng những hiểu biết bài thơ  để viết bài làm văn nghị luận về 1 bài thơ đoạn thơ .
Xác định thể loại thơ Hiểu được đặc trưng thể loại thơ trữ tình Phân tích cảm xúc chủ đạo của tác giả trong mỗi bài Nhận ra được phong cách sáng tác của từng tác giả sau khi học xong các bài thơ
Xác định bố cục bài thơ . Hiểu được mạch cảm xúc của nhà thơ trong mỗi bài Đánh giá nét đặc sắc của mỗi bài về phương diện nghệ thuật. Hiểu được nội dung của các bài thơ khác  nằm ngoài chương trình SGK.
Phát hiện các chi tiết, biện pháp nghệ thuật đặc sắc của từng văn bản. Lý giải ý nghĩa, tác dụng của từng biện pháp nghệ thuật. Đánh giá giá trị nghệ thuật của từng bài . So sánh nét tương đồng và dị biệt giữa các chi tiết, hình ảnh thơ trong các đoạn thơ cùng chủ đề.

 

THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC DẠY HỌC

 

  • HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM

GV hướng dẫn học sinh tìm hiểu về bài học bằng câu hỏi trắc nghiệm sau:

Đọc thuộc lòng và diễn cảm bài thơ Đồng chí và trả lời các câu hỏi sau:

Câu 1: Ai là tác giả của bài thơ này?

a.Tố Hữu

b.Chính Hữu

c.Thôi Hữu

d.Hoàng Hữu

 

Gợi ý trả lời:b

Câu 2: Bài thơ khắc hoạ chân dung của ai? Trong thời kì nào?

a.Anh bộ đội cụ Hồ trong thời kì trước cách mạng

b.Anh bộ đội cụ Hồ trong thời kì Cách mạng tháng Tám năm 1945

c.Anh bộ đội cụ Hồ trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp

d.Anh bộ đội cụ Hồ trong thời kì kháng chiến chống đế quốc Mĩ

Gợi ý trả lời:c

Từ đó, giáo viên giới thiệu vào bài: Cách mạng tháng Tám thành công không những mở ra kỉ nguyên độc lập tự do cho dân tộc mà còn đưa văn học Việt Nam sang một trang mới-Văn học cách mạng. Trọng đó, văn học chống Pháp 1946-1954 và văn học thời kì đầu xây dựng CNXH ở miền Bắc 1955-1965 đã có nhiều thành tựu quan trọng. Hôm nay, chúng ta cùng tìm hiểu một số tác giả, tác phẩm nổi bật để làm sáng tỏ thành tựu đó.

HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH KIẾN THỨC MỚI

 

TIẾT 20,21/TUẦN 7-ĐỌC VĂN

TÂY TIẾN-( Quang Dũng)

 

Nội dung Mô tả hoạt động của thầy và trò Tư liệu, phương tiện, đồ dùng
Hoạt động của thầy Hoạt động của trò
Họat động 1: NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA THƠ HIỆN ĐẠI …(10 phút).
A. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA THƠ HIỆN ĐẠI VIỆT NAM 1946-1954,1955-1964

I. Hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa

– Kháng chiến chống Pháp, đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên;

– Miền Bắc bước vào thời kì đầu xây dựng CNXH

– Hình thành thế hệ nhà văn-chiến sĩ.

II. Những thành công nội dung và nghệ thuật thơ kháng chiến chống Pháp

1/ Nội dung:

– Cảm hứng chính của thơ kháng chiến chống pháp là tình yêu quê hương đất nước, lòng căm thù giặc, ca ngợi cuộc kháng chiến và con người kháng chiến; thơ xây dựng CNXH có cảm hứng ngợi ca công cuộc xây dựng đất nước, khát vọng trở về với nhân dân…

– Hình ảnh quê hương và con người kháng chiến (anh vệ quốc quân, bà mẹ chiến sĩ, phụ nữ nông thôn, em bé liên lạc) được thể hiện chân thực gợi cảm.

2/Nghệ thuật:

a/ Ngôn ngữ thơ kháng chiến là thứ ngôn ngữ gần gũi với tiếng nói hàng ngày của quần chúng nhân dân;

– Ngôn ngữ thơ thời kháng chiến chống Pháp giản dị, mang tính khẩu ngữ, giàu chất hiện thực;

– Từ địa phương cũng được đưa vào trong thơ rất nhuần nhị, nhiều trường hợp đã góp phần tạo nên chất liệu hiện thực với sắc thái riêng, độc đáo;

– Nhiều địa danh cũng được đưa vào trong thơ rất sáng tạo;

b/ Thể thơ trong thơ thời kì kháng chiến cũng đa dạng và phong phú

– Thể thơ lục bát truyền thống

– Thơ tự do đã được các nhà thơ thời kháng chiến chống Pháp sử dụng rất thành công.

c/ Thơ ca thể hiện xu hướng khác nhau:

– Xu hướng đại chúng (Tố Hữu là đại diện)

– Xu hướng thơ hướng nội, tự do, không vần (Nguyễn Đình Thi là đại diện).

– Xu hướng lãng mạn cách mạng (Quang Dũng là đại diện)…

B. CÁC TÁC PHẨM

TÂY TIẾN

I. Tìm hiểu chung:

  1. Tác giả:

  – Tên thật : Bùi Đình Diệm (1921 – 1988).

–  Quê hương: Phượng Trì – Đan Phượng – Hà Tây.

–  Cuộc đời :

+ Là người đa tài: Làm thơ, viết văn, vẽ tranh …

+ Được biết nhiều với tư cách là nhà thơ.

+ Phong cách sáng tác: vừa hồn nhiên vừa tinh tế, lãng mạn và hào hoa.

– Sáng tác chính: Mây đầu ô (1968), Thơ văn Quang Dũng (1988)

   2. Văn bản:

a. Hoàn cảnh sáng tác :

–  Trích tác phẩm “Mây đầu ô”.

–  Viết vào năm 1948 ở Phù Lưu Chanh (Hà Tây), khi Ông đã chuyển sang đơn vị khác và nhớ về đơn vị cũ là đoàn quân Tây Tiến.

–   Đặc điểm đoàn quân Tây Tiến

b. Bố cục :

– Phần 1:  à Nhớ con đường hành quân trên cái nền thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ.

– Phần 2:  à Nhớ kỉ niệm ấm áp tình quân dân và cảnh sông nước miền tây thơ mộng.

– Phần 3: à Nhớ hình tượng người lính Tây Tiến

– Phần 4: à Tấm lòng và sự gắn bó với Tây Tiến.

* Thao tác 1 :

 

GV: Yêu cầu HS xem lại bài Khái quát văn học Việt Nam từ 1945 đến hết thế kỷ XX để trả lời các câu hỏi sau:

1.      1/Hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa của đất nước trong giai đoạn 1945-1954, 1955-1964?

 

2.      2/Những thành công nội dung và nghệ thuật thơ kháng chiến chống Pháp và xây dựng CNXH ở miền Bắc?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

* Thao tác 2 :

Hướng dẫn HS tìm hiểu chung về tác giả và tác phẩm

– Dựa vào phần tiểu dẫn, hãy nêu những nét khái quát về nhà thơ Quang Dũng và bài thơ Tây Tiến?

– Theo dõi HS trả lời, hướng dẫn ghi chép ngắn gọn theo SGK

– Thuyết giảng thêm về số phận bài thơ

 

 

 

 

* Thao tác 2 : Hướng dẫn HS đọc hiểu bài thơ

– Gọi HS đọc điễn cảm bài thơ- chú ý âm hưởng, sắc thái tình cảm, cảm xúc từng đoạn.

– Yêu cầu lớp theo dõi câu hỏi 1( SGK), tìm hiểu ý chính từng đoạn và mạch liên kết trong bài thơ?

 

 

 

 

 

 

 

*Học sinh trả lời cá nhân

 

 

Hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa

– Kháng chiến chống Pháp, đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên;

– Miền Bắc bước vào thời kì đầu xây dựng CNXH

– Hình thành thế hệ nhà văn-chiến sĩ.

 

 

– Cảm hứng chính của thơ kháng chiến chống pháp …..thơ xây dựng CNXH ……

– Hình ảnh quê hương và con người kháng chiến ……..

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

a/ Ngôn ngữ thơ kháng chiến là giản dị, mang tính khẩu ngữ, giàu chất hiện thực; Từ địa phương cũng được đưa vào trong thơ rất nhuần nhị,

b/ Thể thơ đa dạng và phong phú

– Thể thơ lục bát truyền thống

– Thơ tự do đã được các nhà thơ thời kháng chiến chống Pháp sử dụng rất thành công.

c/ Thơ ca thể hiện xu hướng khác nhau:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

HS theo dõi SGK, làm việc cá nhân trả lời.

( Tác giả: Con người, cuộc đời, sáng tác…

   Tác phẩm: Hoàn cảnh ra đời:

– Về đơn vị Tây Tiến…

– Về hoàn cảnh, thời điểm sáng tác…

– Về vị trí, xuất xứ…)

 

 

 

 

 

 

– 1-2 HS đọc diễn cảm.

– Lớp lắng nghe và định hướng trả lời câu hỏi1

– 1-2 HS trả lời, lớp theo dõi, góp ý thêm.

– Theo dõi định hướng của GV, ghi chép nội dung vào vở

Đặc điểm đoàn quân Tây Tiến :

–  Thành lập năm 1947, Quang Dũng là đại đội trưởng.

–  Nhiệm vụ : Phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt – Lào.

–  Địa bàn : Đồi núi Tây Bắc Bộ Việt Nam và Thượng Lào.

–  Thành phần : Sinh viên, học sinh, dân lao động thành thị thuộc mọi ngành nghề khác nhau.

–  Điều kiện sống :Gian khổ, thiếu thốn.

-Tinh thần: Hào hùng, lãng mạn – lạc quan, yêu đời.

Sưu tầm tranh, ảnh  chân dung Quang Dũng (phóng to); tâp thơ “Mây đầu ô” (1986).

 

 

Họat động 2: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN- Đoạn 1 ( 15 PHÚT)
II. Đọc–hiểu:

1. Đoạn 1 : Nỗi nhớ về những chặng đường hành quân của bộ đội Tây Tiến và khung cảnh núi rừng miền Tây.

a. Hai câu thơ mở đầu:

“ Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi…”

– Hình ảnh “Sông Mã” như gợi thức nỗi nhớ ùa về trong tâm hồn nhà thơ.

– Nhớ “Chơi vơi” ( 2 thanh bằng, nhẹ, lan toả, không hình không khối)

b. Bức tranh thiên nhiên miền Tây vừa hùng vĩ, hiểm trở , hoang vu, nghiệt ngã vừa độc đáo thú vị:

– Cảnh vật hiện ra hùng vĩ, hiểm trở (Mở ra  trong nhiều chiều không gian, thời gian)

+ Nhiều tên đất lạ lẫm, gợi 1 vùng xa xôi, hẻo lánh: Sông Mã, Sài Khao, Mường Lát, Mường Hịch, Pha Luông, Mai Châu…

+ Nhiều đèo dốc hiểm trở:

“ Dốc …………. mưa xa khơi…”

=> Sử dụng từ láy giàu chất tạo hình, gợi tả, gợi cảm, những câu thơ toàn thanh trắc …=> Một bức tranh hoành tráng với tất cả sự hiểm trở và dữ dội, hoang vu và heo hút của núi rừng miền Tây

+ Nhiều vẻ hoang dại, bí ẩn, khắc nghiêt: Với mưa rừng, “Sương lấp đoàn quân mỏi”, “Thác gầm thét”, “Cọp trêu người.”

Hình ảnh đoàn quân Tây Tiến trong đoạn thơ :

+ Đó là những chiến sĩ anh hùng bất khuất không quản ngại vượt qua bao chặng đường gian khổ , bao nhiêu hi sinh mất mát lớn lao:

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

  Gục lên súng mũ bỏ quên đời…”

=> Nổi bật chất bi tráng

+ Nhưng đó còn là những chàng trai hào hoa lãng mạn tinh nghịch với bao hăm hở khám phá, chinh phục.

Hai câu kết đoạn thơ : “ Nhớ ôi…nếp xôi”=> Gợi không khí đầm ấm tình quân dân, như xua đi bao mệt mỏi của cuộc hành trình,tạo cảm giác êm dịu, ấm áp, chuẩn bị tâm thế cho đoạn sau  

* Thao tác 1 :

Hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản

Đọc diễn cảm.

+ Yêu cầu giọng đọc: hùng tráng và tình cảm, chậm và đanh xen với mềm mại, dịu dàng, tuỳ theo từng đoạn, từng câu. Chú ý ngắt nhịp đúng một số câu độc đáo. Ví dụ: Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm; Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống, Sông Mã gầm lên / khúc độc hành…

+ GV và 4, 5 HS nối nhau đọc toàn văn bản thơ 1 lần. Nhận xét kết quả đọc.

 

– Hướng dẫn HS đọc và cảm nhận đoạn 1:

Đọc đoạn 1 của bài thơ và nêu câu hỏi: Bức tranh thiên nhiên và hình ảnh đoàn quân Tây Tiến hiện ra như thế nào ở đoạn mở đầu?

– Cho HS trao đổi nhóm, trình bày

– Theo dõi HS trả lời, định hướng tiếp cận và khắc sâu kiến thức

– Gợi mở cho HS phân tích làm rõ giá trị nghệ thuật đặc sắc của đoạn thơ

– Diễn giảng bình thêm giá trị biểu đạt của một vài chi tiết thơ giúp hs cảm thụ sâu

 

 

 

HS thảo luận nhóm, ghi kết quả vào phiếu học tập và đại diện nhóm trả lời

– Lớp theo dõi ,nhận xét, bổ sung

– Vận dụng bài học về kỉ năng nghị luận về một bài thơ để khai thác giá trị đoạn thơ

 

( Từ láy: Khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút đều tả độ cao theo hướng nhìn lên trong cuộc hành trình.Khổ thơ là một bằng chứng về “Thi trung hữu hoạ”-> Gợi tả mặt dốc lồi lõm, nhấp nhô, khúc khuỷu, càng lên cao càng dựng đứng hun hút, thăm thẳm như lên đến đỉnh trời, chót vót chênh vênh giữa mây trời, như sắp chạm đến đỉnh trời!-> Gợi bao nỗi vất vả nhọc nhằn nhưng cũng không kém phần thú vị, tinh nghịch)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

( Tác giả tả thực về sự hi sinh mất mát: Gợi cảm giác cái chết như lẫn vào bức tranh chung của những gian khổ nhọc nhằn. Người chiến sĩ như đột ngột dừng chân trong cuộc hành trình của đơn vị. Câu thơ gợi một kí ức buồn trên những chặng đường hành quân của bộ đội TT)

 

 

 

Họat động 3: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN – Đoạn 2 ( 15 PHÚT)
II. Đọc–hiểu:

   2. Nhớ về tình kỉ niệm quân dân:

* 4 câu đầu: Gợi nhớ lại đêm liên hoan văn nghệ của đơn vị.

– “ bừng”: bừng tỉnh, bừng sáng: cả doanh trại bừng dậy, qua rồi cuộc sống gian khổ. Đó còn là sự bừng sáng của tâm hồn.

– “hội đuốc hoa”:

  ® đêm liên hoan văn nghệ như một ngày hội.

® đuốc hoa :hoa chúc (T.Hán) :tiệc cưới® Đêm liên hoan văn nghệ qua cái nhìn trẻ trung, tinh nghịch, yêu đời của người lính như một tiệc cưới.

Những cô gái Thái: dáng điệu e ấp, tình tứ  trong bộ xiêm áo uốn lượn ® như cô dâu trong tiệc cưới, là nhân vật trung tâm, là linh hồn của đêm văn nghệ.

Những người lính:

+ Kìa em: ngỡ ngàng, ngạc nhiên cả sự hân hoan, vui sướng trước vẻ đẹp của cô gái Tây Bắc

+ Say mê âm nhạc với vũ điệu mang màu sắc của xứ lạ ® Tâm hồn lãng mạn dễ kích thích, hấp dẫn.

=> Bằng những nét bút mềm mại, tinh tế, tác giả đã vẽ nên đêm liên hoan văn nghệ diễn ra trong không khí ấm áp tình người, tưng bừng, nhộn nhịp có ánh sáng, màu sắc. Gợi nét lãng mạn, tình quân dân thắm thiết.

* 4 câu sau:

– Dòng sông đậm màu sắc cổ tích, huyền thoại nổi bật lên dáng hình mềm mại của cô gái Thái trên chiếc thuyền độc mộc. Và như hoà hợp với con người, những bông hoa rừng cũng “đong đưa” làm duyên trên dòng nước lũ.

– Nghệ thuật: láy vắt dòng® câu thơ trở nên mềm mại, uyển chuyển, níu kéo nhau.

® Thiên nhiên và con người như hoà vào nhau tạo thành bức tranh hữu tình.

HẾT TIẾT I

* Thao tác 1 :

Hướng dẫn HS tiếp cận và cảm thụ đoạn thứ 2:

– Nêu vấn đề: Đoạn thơ thứ 2 mở ra một  thế giới thiên nhiên vả con người khác với đoạn 1. Hãy phân tích làm rõ?

– Cho HS thảo luận nhóm, gọi đại diên trả lời. GV theo dõi, gợi mở, định hướng giúp các em cảm thụ được giá trị đoạn thơ.

– Diễn giảng thêm giúp HS cảm thụ đoạn thơ

 

 

-Hs thảo luận nhóm, ghi lại kết quả vào phiếu học tập, đại diện trả lời.

– Lớp theo dõi, đàm thoại

( Bình: Đọc đoạn thơ ta như lạc vào một thế giới của cái đẹp, thế giới của cõi mơ, của âm nhạc. Bốn câu thơ đầu ngân nga như tiếng hát, như nhạc điệu cất lên từ tâm hồn ngây ngất mê say của những người lính Tây Tiến. ..trong đoạn thơ này chất thơ, chất nhạc hoà quyên với nhau đến mức khó mà tách bạch được… Xuân Diệu cho rằng đọc bài thơ Tây Tiến, ta có cảm tưởng như ngậm âm nhạc trong miệng)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

* Tóm lại: Bốn câu thơ đầu ngân nga như tiếng hát, như nhạc điệu cất lên từ tâm hồn ngây ngất, say mê của những người lính. Trong đoạn thơ sau, chất thơ và chất nhạc hoà quyện với nhau đến mức khó tách biệt.

Họat động 3: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN -Đoạn 3 ( 25 PHÚT)
II. Đọc–hiểu:

   3. Chân dung người lính Tây Tiến:

a/ 4 câu đầu:

– Bên ngoài: có vẻ kì dị, lạ thường: không mọc tóc, da xanh màu lá ® chiến trường khắc nghiệt vì thiếu thốn, vì bệnh sốt rét đang hoành hành.=>GIAN KHỔ.

– Bên trong: dữ oai hùm, mắt trừng ®thậm xưng thể hiện sự dũng mãnh. Bề ngoài thì lạ thường nhưng bên trong không hề yếu đuối, vẫn oai phong lẫm liệt ở tư thế “ dữ oai hùm”=>Ý CHÍ.

– Người lính Tây Tiến là những chàng trai lãng mạn, hào hoa với trái tim rạo rực, khao khát yêu đương: gởi mộng, mắt trừng=>LÃNG MẠN.

* Càng gian khổ=> càng căm thù=> tạo thành ý chí + nhờ tâm hồn lãng mạn giúp người lính vẫn sống, vẫn tồn tại trong đạn bom khắc nghiệt.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

b/ 4 câu sau:

– “ Chiến trường….đời xanh”: thái độ dứt khoát ra đi với tất cả ý thức trách nhiệm, không tính toán. Sẵn sàng hiến dâng tuổi thanh xuân cho đất nước

“ mồ viễn xứ”, “ áo bào thay chiếu”: từ Hán Việt: nấm mồ của người chiến sĩ trở thành mộ chí tôn nghiêm.

“áo bào”: cái chết sang trọng.

– Cái bi nâng lên thành hùng tráng bởi lí tưởng của người nằm xuống. Cái chết bi hùng, có bi nhưng không luỵ.

– Sông Mã: gợi điển tích Kinh Kha®khí khái của người lính. Cái chết đậm chất sử thi bi hùng bởi tiếng gầm của sông Mã.

* Cả đoạn thơ là cảm hứng bi tráng về cuộc đời chiến đấu gian khổ, tư tưởng lạc quan và sự hi sinh gian khổ, anh dũng của người lính.

 

* Thao tác 1 :

– Hướng dẫn Hs đọc hiểu đoạn 3: GV đọc đoạn thơ

– Nêu vấn đề cho HS thảo luận : ( Câu hỏi 4 SGK ).

* Nhóm 1,3: Bốn câu đầu

-Hình ảnh đối lập quân xanh màu lá dữ oai hùm cho người đọc thấy phẩm chất gì của người lính Tây Tiến?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– Hai câu thơ Mắt trừng ………kiều thơm

cần được hiểu như thế nào?Vì sao có thời người ta phê phán ý thơ này, cho là buồn rớt, mộng rớt hoặc cường điêu thiếu tự nhiên?

 

– Gọi đại diện 2 nhóm trả lời, các nhóm khác theo dõi góp ý nhận xét

-Hs thảo luận nhóm, ghi lại kết quả vào phiếu học tập, đại diện trả lời.

– Lớp theo dõi, đàm thoại

( Bình: Đọc đoạn thơ ta như lạc vào một thế giới của cái đẹp, thế giới của cõi mơ, của âm nhạc. Bốn câu thơ đầu ngân nga như tiếng hát, như nhạc điệu cất lên từ tâm hồn ngây ngất mê say của những người lính Tây Tiến. ..trong đoạn thơ này chất thơ, chất nhạc hoà quyên với nhau đến mức khó mà tách bạch được… Xuân Diệu cho rằng đọc bài thơ Tây Tiến, ta có cảm tưởng như ngậm âm nhạc trong miệng)

 

* Nhóm 2,4:

HS theo dõi đoạn thơ;

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

… Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

-Hình ảnh những nấm mồ lính nằm rải rác nơi biên cương gợi cho em suy nghĩ gì?

-Hai câu thơ:Áo bào … độc hành

mang lại ấn tượng gì cho người đọc?Hình ảnh dòng sông Mã ở đây có gì khác với hình ảnh dòng sông Mã ở câu đầu bài thơ?

 

 

Đại diện nhóm trình bày, các nhóm khác theo dõi, góp ý.

* Nhóm 1,3:

– Hình ảnh đối lập giữa vật chất và tinh thần, bên ngoài và bên trong cho ta thấy một mặt tình trạng sức khoẻ tồi tệ của lính Tây Tiến vì sốt rét, vì thiếu đói, mặt khác càng cho thấy phẩm chất tinh thần phi thường của họ. Cách nói thậm xưng dữ oai hùm có phần cường điệu nhưng lại rất phù hợp với cảm hứng lãng mạn ngợi ca, phi thường hoá nhân vật trữ tình của tác giả.

-2 câu thơ tiếp theo tả tâm trạng của người lính Tây Tiến trong những đêm xa nhà, xa quê, xa nước trên đất bạn Lào. Trong giấc mơ, trong nỗi nhớ của những chàng trai thủ đô đầy mơ mộng, đa tình thì chuyện gửi mộng qua biên giới, chuyên mơ về một bóng hồng (kiều thơm) Hà Nội quê xa, cũng chẳng có gì lạ.

– Mắt trừng là cách nói cường điệu của bút pháp lãng mạn để chỉ tâm trạng băn khoăn, trằn trọc, khó ngủ vì nhớ quê, nhớ nhà, nhớ Hà Nội, nhớ người thương của họ.

– là tâm trạng chân thật của người lính xa nhà. Họ nghĩ và mông lung, quay quắt nhớ như vậy nhưng không hề nản chí, để rồi sáng ngày mai lại tiếp tục lao vào trận mới, sẵn sàng đón nhận hi sinh, chẳng hề tiếc tuổi thanh xuân (đời xanh) của mình.

 

 

 

* Nhóm 2,4:

-Hình ảnh những nấm mồ lính nằm rải rác dọc biên giới hai nước cho thấy sự hi sinh thầm lặng và to lớn như thế nào của các tình nguyện quân Viêt Nam vì độc lập, tự do của đất nước Lào.

-Hai câu thơ cuối, bằng bút pháp lãng mạn, bằng cảm hứng bi tráng đã dựng lại cái chết, sự hi sinh oanh liệt của các chiến sĩ Tây Tiến. Hình ảnh áo bào thay chiếu cũng gần gũi với hình ảnh điển tích da ngựa bọc thây nhưng lại nói lên sự thật đau lòng. Người lính ra đi trong hoàn cảnh chiến trường khắc nghệt, thiếu thốn đến mức không có nổi một cỗ quan tài, một tấm chăn, manh chiếu bọc thi hài. Lúc sống mặc như thế nào thì lúc anh về đất đành vẹn nguyên quần áo ấy mà chôn.

Họat động 4: TÌM HIỂU  ĐOẠN CUỐI VÀ TỔNG KẾT ( 15 PHÚT)
II. Đọc–hiểu:

   4. Lời thề gắn bó với Tây Tiến và đồng đội:

– “Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy …”=>thời điểm mơ mộng hào hùng một đi không trở lại.

– Câu kết “ Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi” thể hiện tinh thần “ một đi không trở lại” => Gợi không khí một thời đại ra đi kháng chiến “thà chết chớ lui” của tuổi trẻ VN trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc,

 

 

 

* Thao tác 1 :

-Hướng dẫn Hs đọc, cảm nhận đoạn kết

Nêu câu hỏi 5, yêu cầu HS suy nghĩ , trả lời

 

? Nhận xét âm điệu của 4 câu thơ cuối? nội dung ?

? Cảm xúc của tác giả bộc lộ như thế nào qua bốn câu thơ cuối ?

?Tình cảm của tác giả như thế nào?

Ai lên…về xuôi”: Kỷ niệm không thể nào quên.

 

* HS trả lời cá nhân

-Bài thơ kết thúc bằng 4 câu thơ nói lời nhắn gửi mà như lời thề son sắt. Lời thề của những người lính Tây Tiến sau khi đã hoàn thành nhiêm vụ, trở về đất nước quê hương; thề với những đồng đội đã hi sinh trên đất bạn, thề với lòng mình, với quá khứ hào hùng.

-Cách nói người đi không hẹn ước, hồn về Sẩm Nứa chẳng về xuôi, mùa xuân chia phôi thăm thẳm, “lên Tây Tiến…” chính là thể hiên tâm trạng buồn thương, luyến nhớ, bâng khuâng khi nghĩ về một khoảng thời gian ăm ắp kỉ niêm, về những địa danh, về cuộc hành quân tiến về phía Tây lịch sử… giờ đây và mãi mãi suốt đời không thể nào quên.

III. Tổng kết:

1/ Nghệ thuật:

– Cảm hứng và bút pháp lãng mạn.

– Cách sử dụng ngôn từ đặc sắc: các từ chỉ địa danh, từ tượng hình, từ Hán Việt,…

– Kết hợp chất hợp và chất họa.

2) Ý nghĩa văn bản :

Bài thơ đã khắc họa thành công hình tượng người lính Tây Tiến trên nền cảnh núi rừng miền Tây hùng vĩ, dữ dội. Hình tượng người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp lãng mạn, đậm chất bi tráng sẽ luôn đồng hành trong trái tim và trí óc mỗi chúng ta.

* Thao tác 2 :

Hướng dẫn HS tổng kết dựa theo phần ghi nhớ trong SGK

 

HS làm việc cá nhân , trả lời

 

HS suy nghĩ trả lời

 

HS ghi phần ghi nhớ vào vở

 

* Tổng kết bài học theo những câu hỏi của GV.

 

Họat động 4: HƯỚNG DẪN TỰ HỌC – DẶN DÒ ( 5 PHÚT)

– Vẻ đẹp của hình tượng người lính Tây Tiến : Hào hùng , hào hoa.

– Cảm hứng lãng mạn và chất bi tráng của bài thơ.

– Chuẩn bị bài: Tác giả Tố Hữu

 

TUẦN 8– TIẾT 22

                                                                        TÁC GIẢ TỐ HỮU

 

 

Nội dung Mô tả hoạt động của thầy và trò Tư liệu, phương tiện, đồ dùng
Hoạt động của thầy Hoạt động của trò
Họat động: TÌM HIỂU CHUNG (10 phút).
I. Vài nét về tiểu sử:

– Thời thơ ấu:

– Thời thanh niên:

– Thời kỳ sau CM tháng Tám:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

II. Đường cách mạng, đường thơ:

1. Từ ấy: (1937- 1946)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

2. Việt Bắc: (1946- 1954)

 

 

 

 

 

 

 

3. Gió lộng: (1955- 1961)

 

 

 

 

 

 

4. Ra trận (1962- 1971), Máu và hoa ( 1972- 1977):

 

 

 

 

 

 

 

5.Một tiếng đờn (1992 ), Ta với ta  (1999 ):

 

* Thao tác 1 :

Hướng dẫn HS tìm hiểu về tiểu sử tác giả.

GV cho HS đọc lướt để có ấn tượng chung, ghi nhớ những ý chính

Cuộc đời của Tố Hữu có thể chia làm mấy giai đoạn?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thao tác 2: Hướng dẫn HS tìm hiểu Đường cách mạng, đường thơ của Tố Hữu.

GV cần nhấn mạnh bảy chặng đường đời của TH gắn liền với bảy chặng đường cách mạng và bảy tập thơ của TH ( nhất là 5 tập thơ đầu)

GV chia lớp thành 4 nhóm, hướng dẫn HS thảo luận: Về nội dung chính của 5 tập thơ đầu.

 

-Nhóm 1: Tập Từ ấy

 

Sau khi HS trình bày, GV nhấn mạnh Từ ấy là chất men say lí tưởng, chất lãng mạn trong trẻo, tâm hồn nhạy cảm, sôi nổi của cái tôi trữ tình

– Nhóm 2: Tập Việt Bắc

 

– Nhóm 3: Tập Gío lộng

 

– Nhóm 4: Ra trận, Máu và hoa

– Nhóm 5: Một tiếng đờn (1992 ), Ta với ta

– GV gọi HS đại diện nhóm trả lời ngắn gọn

– GV chốt lại các tập thơ của TH là sự vận động của cái tôi trữ tình, là cuốn biên niên sử ghi lại đời sống dân tộc, tâm hồn dân tộc trong sự vân động của tiến trình lịch sử.

 

 

 

HS Tái hiện kiến thức và trình bày.

–          Ba giai đoạn:

– Thời thơ ấu: Tố Hữu sinh ra trong một gia đình Nho học ở Huế – mảnh đất thơ mộng, trữ tình còn lưu giữ nhiều nét văn hoá dân gian.

– Thời thanh niên: Tố Hữu sớm giác ngộ cách mạng và hăng say hoạt động, kiên cường đấu tranh trong các nhà tù thực dân

– Thời kỳ sau CM tháng Tám: Tố Hữu đảm nhiệm những cương vị trọng yếu trên mặt trận văn hoá văn nghệ, trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và nhà nước.

-Nhóm 1: Tập Từ ấy

1. Từ ấy: (1937- 1946)

– Niềm hân hoan của tâm hồn trẻ đang gặp ánh sáng lý tưởng cách mạng, tìm thấy lẽ sống và quyết tâm đi theo ngọn cờ của Đảng.

– Gồm có 3 phần: Máu lửa,  Xiềng xích, Giải phóng.

 

 

 

Nhóm 2: Tập Việt Bắc

 

2. Việt Bắc: (1946- 1954)

– Tiếng hùng ca thiết tha về cuộc kháng chiến chống Pháp và con người kháng chiến.

– Thể hiện những tình cảm lớn.

Nhóm 3: Tập Gió lộng

 

3. Gió lộng: (1955- 1961)

– Hướng về quá khứ để ghi sâu ân tình cách mạng- ngợi ca cuộc sống mới trên miền Bắc.

– Tình cảm thiết tha, sâu đậm với miền Nam ruột thịt.

 

-Nhóm 4: Tập Ra trận, Máu và hoa

 

4. Ra trận (1962- 1971), Máu và hoa ( 1972- 1977):

– Bản hùng ca về “Miền Nam trong lửa đạn sáng ngời”.

– Ghi lại chặng đường cách mạng đầy gian khổ, hi sinh, khẳng định niềm tin, niềm tự hào phơi phới khi “toàn thắng về ta”.

5.Một tiếng đờn (1992 ), Ta với ta  (1999 ):

Những suy tư, chiêm nghiệm mang tính phổ quát về con người, cuộc đời.

– Niềm tin vào lí tưởng và con đường cách mạng, tin vào chữ nhân luôn tỏa sáng trong mỗi tâm hồn con người.

Sưu tầm tranh, ảnh về Tố Hữu

 

Họat động 2: Phong cách thơ Tố Hữu ( 35 PHÚT)
II. Phong cách thơ Tố Hữu:

1.Về nội dung: Thơ Tố Hữu mang phong cách trữ tình chính trị sâu sắc.

-Trong việc biểu hiện tâm hồn, thơ Tố Hữu luôn hướng tới cái ta chung

– Trong việc miêu tả đời sống, thơ Tố Hữu mang đậm tính sử thi.

– Những điều đó được thể hiện qua giọng thơ mang tính chất tâm tình, tự nhiên, đằm thắm, chân thành

2. Về nghệ thuật: Thơ Tố Hữu mang phong cách dân tộc đậm đà.

– Về thể thơ:

+ Vận dụng thành công thể thơ  lục bát truyền thống của dân tộc

+ Thể thất ngôn trang trọng mà tự nhiên

-Về ngôn ngữ: Dùng từ ngữ và cách nói dân gian, phát huy tính nhạc phong phú của tiếng Việt.

IV. Kết luận:

Thơ Tố Hữu là bằng chứng sinh động về sự kết hợp hài hoà hai yếu tố cách mạng và dân tộc trong sáng tạo nghệ thuật, sáng tạo thi ca.

Thao tác 1: Hướng dẫn HS tìm hiểu phong cách thơ Tố Hữu.

 

– Phong cách thơ TH thể hiện ở những mặt nào?

– Tại sao nói thơ Tố Hữu mang phong cách trữ tình chính trị? Sau khi HS trả lời GV giải thích  trữ tình chính trị thể hiện ở những điểm nào.

 

 

 

– Em chứng minh thơ Tố Hữu mang phong cách dân tộc đậm đà?

 

 

 

 

 

 

 

– Thao tác 2: Hướng dẫn HS kết luận

– Cảm nhận chung của em về nhà thơ Tố Hữu?

– Định hướng và lưu ý HS phần ghi nhớ SGK

HS tìm hiểu phong cách thơ Tố Hữu dưới sự hướng dẫn của GV.

 

HS trả lời ở 2 mặt về nội dung và nghệ thuật

 

 

 

HS trả lời

 

 

 

 

 

Dự kiến HS trả lời về thể thơ, về ngôn ngữ.

 

 

 

HS trả lời

Họat động 3: HƯỚNG DẪN TỰ HỌC – DẶN DÒ ( 5 PHÚT)

Nhắc lại các chặng đường thơ và phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu.

– Chuẩn bị bài: VIỆT BẮC

 

TUẦN: 8-Tiết: 23,24

Đọc văn:                                                                      VIỆT BẮC

 

 

Nội dung Mô tả hoạt động của thầy và trò Tư liệu, phương tiện, đồ dùng
Hoạt động của thầy Hoạt động của trò
Họat động: TÌM HIỂU CHUNG (10 phút).
Phần hai: Tác Phẩm (2 tiết)

I.Tìm hiểu chung:

1. Hoàn cảnh sáng tác: ( SGK)

=> Chính hoàn cảnh sáng tác đã chi phối tạo nên một sắc thái tâm trạng đặc biệt  đầy xúc động, bâng khuâng da diết trong bài thơ. Cách chọn kết cấu theo lối đối đáp cũng là để thể hiện sắc thái đó.

2.Vị trí: Thuộc phần I ( Bài thơ gồm 2 phần:

– Phần 1: Tái hiện những kỉ niệm cách mạng và kháng chiến.

– Phần 2: Gợi viễn cảnh tươi sáng của đất nước và ca ngợi công ơn của đảng Bác Hồ đối với dân tộc.

3. Bố cục đoạn trích : 2 phần

+ Lời nhắn gửi của người ở lại

+ Lời đáp của người ra đi – ân tình sâu nặng với Việt Bắc.

4. Sắc thái tâm trạng:

– Hoàn cảnh sáng tác tạo nên một sắc thái tâm trạng đặc biệt:

“Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

à đầy xúc động, bâng khuâng không nói nên lời.

– Đây cũng là cuộc chia tay của những người từng gắn bó:

“Mười lăm năm ấy, thiết tha mặn nồng”

à có biết bao kỷ niệm ân tình thuỷ chung.

– Chuyện ân tình cách mạng được Tố Hữu thể hiện khéo léo như tâm trạng của tình yêu đôi lứa.

5. Kết cấu :

– Diễn biến tâm trạng được tổ chức theo lối đối đáp giao duyên trong ca dao – dân ca: bên hỏi, bên đáp, người bày tỏ, người hô ứng.

– Hỏi và đáp điều mở ra bao nhiêu kỷ niệm về cách mạng và kháng chiến gian khổ mà anh hùng, bao nỗi niềm nhớ thương.

– Thực ra, bên ngoài là đối đáp, còn bên trong là lời độc thoại, là biểu hiện tâm tư tình cảm của chính nhà thơ, của những người tham gia kháng chiến.

* Thao tác 1 :

Hướng dẫn HS tìm hiểu chung về tác giả và tác phẩm

* Tiết 1

HĐ 1: Hướng dẫn HS tìm hiểu phần chung về tác phẩm.

– Em cho biết hoàn cảnh ra đời của bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu? Theo em hoàn cảnh ra đơi đã chi phối đến sắc thái tâm trạng âm hưởng gịong điệu trong bài thơ như thế nào?

– Vị trí đoạn trích?

– Gọi HS đọc diễn cảm bài thơ, dựa theo kết cấu đối đáp, tìm bố cục?

– Diễn giảng thêm về hiệu quả của lối kết cấu đối đáp (Hô ứng đồng vọng, mở ra một vùng kỉ niệm đầy ắp về VB).

HS dựa vào SGK nêu hoàn cảnh ra đời, căn cứ vào mạch cảm xúc lối kết cấu, nhận xét

 

 

 

 

 

 

 

1-2 HS đọc diễn cảm bài thơ, xác định bố cục

Sưu tầm tập thơ Việt Bắc. Ảnh chân dung Tố Hữu thời kì kháng chiến chống Pháp, trên chiến khu Viêt Bắc
Họat động 2: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN ( 35 PHÚT)
II. Đọc–hiểu:

1.  Tám câu thơ đầu: Khung cảnh chia tay và tâm trạng của con người.

a. Bốn câu trên: Lời ướm hỏi, khơi gợi kỉ niệm về một giai đoạn đã qua, về không gian nguồn cội, tình nghĩa; qua đó, thể hiện tâm trạng của người ở lại.

– Câu hỏi ngọt ngào, khéo léo “mười lăm năm” cách mạng gian khổ hào hùng, cảnh và người VB gắn bó nghĩa tình với những người kháng chiến; đồng thời khẳng định tấm lòng thủy chung của mình: Tố Hữu đã khơi rất sâu vào nguồn mạch đạo lý ân nghĩa thủy chung của dân tộc để thể hiện tình cảm cách mạng. M­ười lăm năm ấy là trở về với cội nguồn những năm tiền khởi nghĩa sâu nặng biết bao ân tình.

– Nghĩa tình của kẻ ở- người về được biểu hiện qua các đại từ mình- ta quen thuộc  trong thơ ca dân gian gắn liền với tình yêu đôi lứa, cách xưng hô: mình- ta tạo nên sự thân mật, gần gũi. Điệp từ nhớ, láy đi, láy lại cùng với lời nhắn nhủ “mình có nhớ ta”, “mình có nhớ không” vang lên day dứt khôn nguôi.

– Các từ thiết tha, mặn nồng thể hiện bao ân tình gắn bó.

b. Bốn câu thơ tiếp: Tiếng lòng người về xuôi bâng khuâng lưu luyến.

–  Tuy không trả lời trực tiếp câu hỏi của người ở lại nhưng tâm trạng bâng khuâng, bồn chồn, cùng với cử chỉ ‘cầm tay nhau” xúc động bồi hồi đã nói lên tình cảm : chưa xa đã nhớ, sự bịn rịn luyến lưu của người cán bộ với cảnh và người Việt Bắc.

– Lời hỏi của người ở lại đã khéo nhưng câu trả lời còn khéo léo hơn thế. Không phải là câu trả lời có hay không mà là những cử chỉ. Câu thơ bỏ lửng “cầm tay…” diễn tả thái độ nghẹn ngào không nói lên lời của người cán bộ giã từ Việt Bắc về xuôi.

– Hình ảnh “áo chàm”- nghệ thuật hoán dụ, trang phục quen thuộc của người dân Việt Bắc. Rất có thể đó là hình ảnh thực, nhưng cũng có thể là hình ảnh trong tưởng tượng của người cán bộ kháng chiến để rồi mỗi lần hình ảnh áo chàm bay về trong tâm trí của người cán bộ là mỗi lần bao nỗi nhớ thân thương lại dội về.

=> khúc dạo đầu của bản tình ca về nỗi nhớ.

c. 12 câu tiếp:

*Việt Bắc gợi nhớ một thời gian khổ:

-Những hình ảnh: “suối lũ”, “mưa nguồn”, “mây mù”, “miếng cơm chấm muối…

 

 

* Gợi nhớ tình đồng bào:

– Chi tiết “Trám bùi….để già” ®

 

 

– “Hắt hiu…lòng son” ®

 

 

–          “Mình đi, mình có nhớ mình“®

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

HẾT TIẾT I

* Thao tác 1 :

Hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản

 

Thao tác 1: Tổ chức cho HS thảo luận nhóm:

Nhóm 1+2: Tìm hiểu nội dung, nghệ thuật 4 câu đầu.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhóm 3+4: Tìm hiểu nội dung, nghệ thuật 4 câu sau.Lời hỏi của người ở lại gợi lên những kỉ niệm gì?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

? Hãy tìm những chi tiết gợi nhớ một thời gian khổ? Ptích.

? Theo em chọn chi tiết nào để gợi nhớ đến tình đồng bào?

? Nghệ thuật của câu thơ bên ?

 

 

* 1 HS đọc, cả lớp theo dõi.

 

* Nhóm 1+2

4 câu đầu: Lời của nhân dân VBắc:

– Mình- ta: hai đại từ, hai cách xưng hô quen thuộc của ca dao như một khúc giao duyên đằm thắm ® tạo không khí trữ tình cảm xúc.

– Mình- ta đặt ở đầu câu thơ tạo cảm giác xa xôi, cách biệt, ở giữa là tâm trạng băn khoăn của người ở lại.

– Câu 4 gợi tình cảm cội nguồn, nhớ núi nhớ nguồn là nhớ đến Việt Bắc- ngọn nguồn của cách mạng.

– Từ “nhớ” lặp lại 4 lần làm tăng dần nỗi nhớ về cội nguồn, nhớ về vùng đất đầy tình nghĩa.

=>4 câu đầu tạo thành 2 câu hỏi rất khéo: 1 câu hỏi về không gian, 1 câu hỏi về thời gian, gói gọn một thời cách mạng, một vùng cách mạng.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

* Nhóm 3+4 :Tiếng lòng người ra đi:

– Người Việt Bắc hỏi “thiết tha“, người ra đi nghe là “tha thiết” => sự hô ứng về ngôn từ tạo nên sự đồng vọng trong lòng người.

-“bâng khuâng”, “bồn chồn“=>tâm trạng vấn vương, không nói nên lời vì có nhiều kỉ niệm với Việt Bắc.

–          “ Áo chàm đưa buổi phân li

        Cầm tay nhau /biết/ nói gì hôm nay

+ Nhịp thơ đang đều đặn, uyển chuyển đến đây thay đổi ngập ngừng thể hiện tâm trạng bối rối.

+ Hoán dụ gợi hình ảnh quen thuộc người dân VB và diễn tả tình cảm tha thiết sâu nặng của đồng bào Việt Bắc đối với cán bộ về xuôi.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

* HS trả lời cá nhân

-Những hình ảnh: “suối lũ”, “mưa nguồn”, “mây mù”, “miếng cơm chấm muối”Þ Đây là những hình ảnh rất thực gợi được sự gian khổ của cuộc kháng chiến, vừa cụ thể hoá mối thù của cách mạng đối với thực dân.

 

– Chi tiết “Trám bùi….để già” ® diễn tả cảm giác trống vắng gợi nhớ quá khứ sâu nặng. Tác giả mượn cái thừa để nói cái thiếu.

– “Hắt hiu…lòng son” ® phép đối gợi nhớ đến mái tranh nghèo. Họ là những người nghèo nhưng giàu tình nghĩa, son sắt, thuỷ chung với cách mạng.

–  “Mình đi, mình có nhớ mình“® ý thơ đa nghĩa một cách thú vị. Cả kẻ ở, người đi đều gói gọn trong chữ “mình” tha thiết. Mình là một mà cũng là hai, là hai nhưng cũng là một bởi sự gắn kết của cách mạng, của kháng chiến.

=> Chân dung một Việt Bắc gian nan mà nghĩa tình , thơ mộng, rất đối hào hùng trong nỗi nhớ của người ra đi.

Họat động 3: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN- Nhớ thiên nhiên và con người (20 PHÚT)
II. Đọc–hiểu:

   2. Phần còn lại: Lời của người cán bộ về xuôi:

a. Lời đáp lại của người ra đi: Mình- ta đã có sự chuyển hoá.

– Phép điệp mình- ta: xoắn xuýt hoà quyện vào nhau.

– Đáp lại lời băn khoăn của người việt Bắc: “Mình đi, mình lại nhớ mình” một câu trả lời chắc nịch.

– Khẳng định tình nghĩa dạt dào không bao giờ vơi cạn: “Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu

=> Tình nghĩa của người cán bộ về xuối đối với nhân dân Việt Bắc sâu đậm, không phai nhạt theo thời gian.

b. Nhớ cảnh và nhớ người:

* Nhớ day dứt, cồn cào như nhớ người yêu: nhớ khoảnh khắc thiên nhiên đẹp, nhớ những bếp lửa nhà sàn đón đợi người thương, nhớ những nẻo đường kháng chiến, nhớ đời sống cần lao, nhớ những sinh hoạt kháng chiến, những lớp bình dân học vụ, nhớ những âm thanh rất đặc trưng của miền núi.

* Bộ tranh tứ bình về 4 mùa Việt Bắc: có lẽ đẹp nhất trong nỗi nhớ về Việt Bắc.

– Thiên nhiên:

+ Chữ “rừng” xuất hiện trong tất cả các dòng lục® cảnh thiên nhiên chốn núi rừng Việt Bắc.

+ Mỗi bức tranh vẽ một mùa với màu sắc chủ đạo.

=> Bức tranh thiên nhiên tươi sáng, phong phú, sinh động, thay đổi theo thời tiết, theo mùa.

– Con người bình dị, cần cù: người đi làm nương rẫy, người đan nón, người hái măng, ấn tượng nhất là tiếng hát ân tình, thuỷ chung…bằng những công việc tưởng chừng nhỏ bé của mình nhưng họ đã góp phần tạo nên sức mạnh vĩ đại của cuộc kháng chiến.

+ Từ nhớ lặp lại ® giọng thơ ngọt ngào, sâu lắng.

=>Ứng với mỗi bức tranh thiên nhiên là hình ảnh con người làm cho bức tranh ấm áp hẳn lên. Tất cả ngời sáng trong tâm trí nhà thơ.

* Thao tác 1 :

Hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản

GV:

Câu thơ đầu sử dụng biện pháp nghệ thuật gì? Tác dụng?

Người ra đi đáp lại lời băn khoăn của người Việt Bắc như thế nào?

GV bổ sung:

Mình: bản thân, chúng ta, người khác (người thân thiết).Anh đi anh có nhớ tôi không? có nhớ những kỉ niệm của chúng ta không? anh có nhớ chính anh không?

 

 

Hướng dẫn HS phát hiện ra vẻ đẹp về bức tranh thiên nhiên 4 mùa- trong nỗi nhớ của người về xuôi.

 

 

 

 

 

 

Nhóm 1 cảm nhận về mùa đông.

 

 

 

Nhóm 2 cảm nhận về mùa xuân.

 

 

 

Nhóm 3 cảm nhận về mùa hạ.

 

Nhóm 4 cảm nhận về mùa thu.

 

Hình ảnh con người hiện nên trong 4 mùa ấy ra sao?

 

Em có cảm nhận gì về cách miêu tả giữa thiên nhiên và con người?

 

HS trả lời cá nhân:

 

– Phép điệp mình- ta: xoắn xuýt hoà quyện vào nhau® tình cảm thuỷ chung, sâu nặng, bền chặt.

– Đáp lại lời băn khoăn của người việt Bắc: “Mình đi, mình lại nhớ mình” …

– Khẳng định tình nghĩa dạt dào không bao giờ vơi cạn: “Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhóm 1 trình bày:

·     Mùa đông: màu xanh bạt ngàn của núi rừng, điểm lên nét đỏ tươi của hoa chuối.

 

Nhóm 2 trình bày:

 

·     Mùa xuân với hoa mơ trắng xoá.

 

Nhóm 3 trình bày:

 

·     Mùa hè với màu vàng của rừng phách: Ve kêu trong rừng phách đổ lá; Ve kêu là cho rừng phách trút lá.

 

Nhóm 4 trình bày:

 

·     Mùa thu với ánh trăng huyền ảo trải đầy khắp núi rừng.

 

Họat động 4: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN – Việt Bắc anh hùng ( 20 PHÚT)
II. Đọc–hiểu:

c. Khung cảnh và vai trò của Việt Bắc trong cách mạng và kháng chiến:

*  Hai mươi hai câu tiếp theo nói về cuộc kháng chiến anh hùng:

“Nhớ khi giặc đến giặc lùng

………………..

Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng”

– Trong hoài niệm bao trùm có ba mảng thống nhất hòa nhập đó là: nỗi nhớ thiên nhiên- nỗi nhớ con người cuộc sống ở Việt Bắc- nỗi nhớ về cuộc chiến đấu anh hùng chống TDP xâm lược.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

*  Mười sáu câu cuối đoạn: Vai trò của Việt Bắc trong cách mạng và kháng chiến:

+ Việt Bắc là quê hương của cách mạng, là căn cứ địa vững chắc, …

+ Việt Bắc là chiến khu kiên cường….

– “Ở đâu u ám quân thù,

………………………………

Quê hương Cách mạng dựng nên cộng hoà”

+ Khẳng định Việt Bắc là nơi có “Cụ Hồ sáng soi”, có “Trung ương chính phủ luận bàn việc công”

+ Khẳng định niềm tin yêu của cả nước với Việt Bắc …

* Thao tác 1 :

Hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản

Nhận xét về vai trò của VB?

 

 

 

 

 

Không khí chiến đấu được miêu tả như thế nào?

 

Những địa danh được nêu lên liên tiếp trong những câu cuối đoạn nói lên điều gì?

 

 

 

 

 

 

 

 

Niềm vui chiến thắng được diễn tả ra sao?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trong đoạn thơ cuối, hình ảnh và vai trò lịch sử của Viêt Bắc đã được khắc sâu như thế nào?

Hình ảnh Cụ Hồ và mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào được nhắc lại nhằm dụng ý nghê thuật gì?

 

 HS đọc diễn cảm 4 đoạn còn lại với giọng điệu phù hợp: nhanh hơn, chắc khoẻ, hào sảng, ngẫm nghĩ, tự hào (đoạn cuối).

 

* HS trả lời cá nhân

 

Những điạ danh chiến thắng liên tiếp được nhắc tới gắn liền với những trận đánh và chiến công vang dội.

 

 

* HS trả lời cá nhân

Theo dòng hồi tưởng, người đọc được sống lại những giây phút  của cuộc kháng chiến với không gian rộng lớn, những hoạt động tấp nập, sôi động được vẽ bằng bút pháp của những tráng ca. Cảnh Việt Bắc đánh giặc được miêu tả bằng những bức tranh rộng lớn, kì vĩ.

+  Rừng núi mênh mông hùng vĩ trở thành bạn của ta, chở che cho bộ đội ta, cùng quân và dân ta đánh giặc.

+ Chiến khu là căn cứ vững chắc, đầy nguy hiểm với quân thù.

+ Nghệ thuật so sánh, nhân hoá: núi giăng…luỹ sắt, rừng che, rừng vây…

+ Những cái tên, những địa danh ở chiến khu Việt Bắc: phủ Thông, đèo Giàng, sông Lô, Cao- Lạng…vang lên đầy mến yêu, tự hào, cũng trở thành nỗi nhớ của  người cán bộ kháng chiến về xuôi.

– Không khí chiến đấu sôi nổi hào hùng, khí thế hừng hực trào sôi:

+ Sức mạnh của quân ta  với các lực lượng bộ đội, dân công… sự hợp lực của nhiều thành phần tạo thành khối đoàn kết vững chắc.

+ Các từ: Rầm rập, điệp diệp, trùng trùng…thể hiện khí thế dồn dập.

+  Hình ảnh người chiến sĩ được gợi lên qua chi tiết giàu chất tạo hình: “ánh sao đầu mũ bạn cùng mũ nan”-> ánh  sáng của sao dẫn đường, ánh sáng của niềm tin, của lí tưởng.

+ Thành ngữ “Chân cứng đá mềm” đã được nâng lên thành một bước cao hơn “bước chân nát đá muôn tàn lửa bay”.

+ Chiến công tưng bừng vang dội khắp nơi: Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên, đèo De, núi Hồng… Niềm vui chiến thắng chan hoà bốn phương: Vui từ…vui về…vui lên…

+ Đoạn thơ ngập tràn ánh sáng: ánh sao, ánh đuốc, ánh đèn pha… như ánh sáng của niềm tin tưởng, niềm vui tràn ngập.

+ Nhịp thơ dồn dập gấp gáp, ấm hưởng hào hùng náo nức tạo thành khúc ca chiến thắng.

 

* HS trả lời cá nhân

+ Việt Bắc là quê hương của cách mạng, là căn cứ địa vững chắc, là đầu não của cuộc kháng chiến, nơi hội tụ tình cảm, suy nghĩ, niềm tin và hi vọng của mọi người Việt Nam yêu nước..

+ Việt Bắc là chiến khu kiên cường, nơi nuôi dưỡng bao sức mạnh đấu tranh, nơi khai sinh những địa danh mãi mãi đi vào lịch sử dân tộc.

– “Ở đâu u ám quân thù,

………………………………

Quê hương Cách mạng dựng nên cộng hoà”

+ Khẳng định Việt Bắc là nơi có “Cụ Hồ sáng soi”, có “Trung ương chính phủ luận bàn việc công”

+ Khẳng định niềm tin yêu của cả nước với Việt Bắc bằng những vần thơ mộc mạc, giản dị mà thắm thiết nghĩa tình.

Hình ảnh cuối đoạn: Cụ Hồ, mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào được nhắc lại để hồi đáp câu hỏi cuối cùng của người ở lại; mặt khác, khẳng định vai trò vị trí lịch sử của chiến khu Viêt Bắc, quê hương cách mạng dựng nên nhà nước dân chủ cộng hoà đầu tiên ở Viêt Nam và Đông Nam Á; vị trí và vai trò lịch sử không nơi nào thay thế được.

Họat động 5: TỔNG KẾT ( 10 PHÚT)
3) Nghệ thuật:

Bài thơ đậm đà tính dân tộc, tiêu biểu cho phong cách thơ Tố Hữu:

4) Ý nghĩa văn bản:

            Bản anh hùng ca về cuộc kháng chiến; bản tình ca về nghĩa tình cách mạng và kháng chiến.

* Thao tác 1 :

Hướng dẫn HS tổng kết bài học.

 

Em hãy chứng minh đoạn trích thể hiện nghệ thuật đậm đà tính dân tộc?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

?Sau khi học xong về nội dung và nghệ thuật , em rút ra chủ đề đoạn trích?

GV đặt câu hỏi HS tổng kết trên hai mặt nghệ thuật và nội dung

HS trình bày cá nhân

– Thể thơ lục bát:

– Lối đối đáp, cách xưng hô mình – ta tạo nên sự phân đôi – thống nhất trong tâm trạng của chủ thể trữ tình:

+ Trong tiếng Việt, từ “mình”: chỉ bản thân ( ngôi thứ nhất) hoặc chỉ đối tượng giao tiếp( ngôi thứ hai). Trong đoạn thơ, chủ thể được dùng ở ngôi thứ hai  è phân đôi. Nhưng cũng có lúc chuyển  hóa:  Vừa là chủ thể ( bản thân), vừa là đối tượng giao tiếp ( người  khác) è Thống nhất:

“ Mình đi, mình có nhớ mình . . .

Mình đi, mình lại nhớ mình . . .”

+ Như vậy,lời hỏi, lời đáp trong đoạn thơ thực chất là lời độc thoại của tâm trạng ( phân thân) èTác dụng: Tâm trạng của chủ thể trữ tình được bộc lộ đầy đủ hơn.,

–  Ngôn từ mộc mạc, giàu sức gợi,…

 

* Tổng kết bài học theo những câu hỏi của GV.

Họat động 4: HƯỚNG DẪN TỰ HỌC – DẶN DÒ ( 5 PHÚT)

– Việt Bắc là khúc ân tình cách mạng. Thiên nhiên Việt Bắc thơ mộng trữ tình, con người Việt Bắc thủy chung, gần gũi, giản dị… Tất cả khắc sâu trong lòng nhà thơ.

– Chuẩn bị bài: Đọc thêm: – Đất nước-Dọn về làng-Tiếng hát con tàu
Đọc thêm:                                  ĐẤT NƯỚC.                                            ( Nguyễn Đình Thi).

Họat động 1: Tìm hiểu chung ( 5 PHÚT)

I/ Giới thiệu chung :

1. Tác giả : Tìm hiểu trong SGK  (tr124)

  2. Xuất xứ: SGK

3. Bố cục :

a. Phần 1 (7 câu) :

b. Phần 2 (8 câuà câu 2)

c. Phần 3 (còn lại) .

* Thao tác 1 :

Hướng dẫn học sinh tìm hiểu chung

 

– Em hãy sơ lược vài nét về tác giả Nguyễn Đình Thi ?

(trình bày nét chủ yếu)

 

 

 

* HS trả lời cá nhân

Bố cục :

a. Phần 1 (7 câu) : Tâm trạng đầy bâng khuâng luư luyến khi nhớ về mùa thu ở Hà Nội.

b. Phần 2 (8 câuà câu 2) Cảm xúc về mùa thu, suy nghĩ về đất nước, con người VN.

c. Phần 3 (còn lại) Nhận thức tình yêu quê hương – đất nước. Ý thức căm thù và quật khởi quật cường.

Họat động 3: ĐỌC THÊM VĂN BẢN ( 10 PHÚT)
II/ Đọc hiểu văn bản :

1. 7 câu đầu : (Thu Hà Nội)

a. Hình ảnh thiên nhiên: mát trong, gió, hương cốm…

=> mùa thu đặc trưng HN

b.  Hình ảnh con người “Người ra đi / đầu không ngoảnh lại => thể hiện ý chí quyết tâm.

2. 14 câu tiếp theo : (Thu chiến khu)

a. Cảm nhận về sự thay đổi của mùa thu: Câu thơ 5 chữ “mùa thu nay khác rồi”

b. Nhịp thơ: Lời thơ ngắn gọn, chắc khoẻ nhằm khẳng định sự thay đổi của hoàn cảnh xã hội, trong nhận thức của con người.

c. Chú ý các biện pháp nghệ thuật tu từ, ngôn ngữ thơ.

– Đứng – vui – nghe : niềm vui, sự hân hoan phơi phới.

– Nghệ thuật nhân hoa, lối nói ẩn du

– Sự phối hợp thanh trắc thanh bằng

=>Bức tranh thu đẹp, lóng lánh niềm vui sướng, tự hào.

– Cụm từ “Nước chúng ta” – trang nghiêm, trang trọng.

– Lặp từ “Những” – hình ảnh đất nước trù phú, mênh mông.

– Tự láy “đêm đêm”, “rì rầm” – sự liên tưởng về mỗi quan hệ giữa hiện tại và quá khứ.

  3. Những câu thơ còn lại :  

a. Đất nước trong đau thương :

– Cánh đồng quê – chảy máu.

– Dây thép gai – đâm nát trời chiều.

– Bát cơm chan đầy nước mắt.

– Đứa đè cổ – đứa lột da.

  b. Đất nước quật khởi :

– Sức mạnh quật khởi:

+ Yêu nước.

+ Căm thù.

+ Lạc quan CM.

– Hình ảnh quật khởi: (khổ cuối)

+ Hình thức thể hiện : thơ 6 chữ cô đúc, rắc rỏi.

+ Bút pháp nhân hoá, kết hợp với sự linh hoạt, nhuần nhị trong việc đưa thành ngữ “tức nước vỡ bờ” vào thơ.

=> Tạo nên vẻ đẹp hào hùng, tráng lệ về con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam. Đoạn thơ đã khái quát được sức vươn dậy thần kỳ của dântộc Việt Nam chúng ta.

   Tóm lại, Đất Nước là một tác phẩm thơ gây một ấn tượng mạnh nhờ vào chất chính luận – trữ tình hoà quyện tự nhiên, uyển chuyển.

Tác phẩm đã khắc chạm thành công một tượng đài kỳ vỹ bằng thơ về con người Việt Nam. Tổ quốc Việt Nam.

* Thao tác 1 :

Hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản

– Đoạn đầu thể hiện điều gì ?

Nghệ thuật thể hiện qua câu, chữ tiêu biểu?

 

 

– Các em hãy chỉ ra các biện pháp nghệ thuật đặc sắc trong từng khổ thơ ? Biện pháp nghệ thuật ấy nhằm biểu đạt nội dung gì ?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– Em thích nhất những câu thơ nào ? Lý giải vì sao em yêu thích nó ?

 

 

 

 

 

– Bằng cảm nhận riêng của bản thân, em khai thác giá trị đặc sắc trong 4 câu thơ cuối của bài thơ.

 

 

(Người giảng dạy nhấn mạnh giá trị to lớn của tác phẩm thơ ĐẤT NƯỚC trong nền văn chương dân tộc)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thao tác 2:

Hướng dẫn HS tổng kết bài học

 

Bám vào 7 câu đầu thơ đầu, suy nghĩ, trả lời.

 

 

 

 

 

 

 

Lần tìm cái hay trong từng khổ thơ, chỉ ra các biện pháp nghệ thuật thơ đặc sắc. Nghệ thuật ấy đã thể hiện nội dung cần thiết nhất.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Do cảm nhận cá nhân, học sinh trình bày một cách thuyết phục nhất.

 

 

 

 

 

 

 

Đọc – suy nghĩ trả lời câu hỏi.

 

Chú tâm, lắng nghe.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

* Tổng kết bài học theo những câu hỏi của GV.

 

 

Đọc thêm:                                  DỌN VỀ LÀNG-TIẾNG HÁT CON TÀU

 

Nội dung Mô tả hoạt động của thầy và trò Tư liệu, phương tiện, đồ dùng
Hoạt động của thầy Hoạt động của trò
Họat động 1: TÌM HIỂU Bài “Dọn về làng”. (10 phút).
Bài “Dọn về làng”.

I. Tìm hiểu chung.

1. Tác giả:

2. Tác phẩm:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

II. Đọc hiểu văn bản:

1. Chủ đề: Miêu tả cuộc sống gian khổ của nhân dân Cao Bắc Lạng và tội ác dã man của giặc Pháp Đồng thời thể hiện niềm vui khi quê hương được giải phóng.

2. Nội dung:

a Nỗi thống khổ của nhân dân và tội ác của giặc

b. Niềm vui của dân khi được giải phóng:

– Hôm nay …………cười vang

…………………………………

Mờ mờ khói bếp bay lên mái nhà lá

-> Niềm vui ấy không của riêng ai (nhân dân, bộ đội, tất cả mọi người… và nhất là nhân vật trữ tình).

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

3. Nghệ thuật:

– Cách nói sinh động cụ thể- hình ảnh gần gũi…

* Thao tác 1 :

Hướng dẫn HS tìm hiểu chung về tác giả và tác phẩm

Học sinh đọc SGK.

– Phần Tiểu dẫn trình bày nội dung gì?  Nêu tóm tắt những điều cần lưu ý

H/s tự tham khảo.

Đại diện nhóm phát biểu, bổ sung

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đại diện nhóm trả lời theo sự chuẩn bị ở nhà:

H/s khác nêu hình ảnh minh hoạ -> h/s khái quát bình luận chung: khát vọng tự do của dân tộc ta.

 

Biện pháp đối lập (vd).

–          Giàu liên tưởng, âm thanh ánh sáng (vd).

Xác định chủ đề của bài thơ?

Nêu những nội dung cơ bản của tác phẩm?

Nhận xét gì về tội ác của giặc?

Niềm vui của dân khi được giải phóng thể hiện qua những chi tiết nào?

Nhận xét chung về nghệ thuật?

 

 

 

 

 

 

 

HS Tái hiện kiến thức và trình bày.

– Nông Quốc Chấn (tên khai sinh là Nông Văn Quỳnh).

– Sinh năm:1923 Quê: Cốc Đán – Ngân Sơn- Bắc Cạn. Là nhà thơ dân tộc Tày.

– Từng giữ nhiều chức vụ quan trọng: Chủ tịch Hội văn học khu Việt Bắc,Thứ trưởng Bộ Văn Hoá thông tin – Hiệu trưởng Trường Đại học Văn hoá Hà Nội.

* Sự nghiệp: Tiếng ca người Việt Bắc(1959). Suối và biển(1984)…

*Tác phẩm: – Viết về quê hương tác giả trong những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp đau thương mà anh dũng. Bài thơ được trao giải nhì tại Đại  hội liên hoan Thanh niên sinh viên thế giới tại Béc-lin.

 

H/s trả lời theo sgk.

H/s khác phát biểu suy nghĩ độc lập của mình:

–          Gợi nỗi đau tột cùng…

–          Niềm vui tràn trề…

H/s tự ghi theo suy nghĩ.

 

H/s đọc diễn cảm

H/s trả lời theo bảng phụ đã được chuẩn bị sẵn:

     H/s trả lời miệng:

H/s chọn đọc minh hoạ.

H/s thảo luận phát biểu và tự ghi vào vở theo dàn ý trên bảng:

H/s đọc và nêu nội dung  chính của  phần còn lại.

– Chạy hết núi lại khe,  cay đắng đủ mùi -> Cách diễn đạt cụ thể của người miền núi về nỗi thống khổ của mình.

+ Tội ác của giặc:

–                         …Giặc Tây lại đến lùng

–                         Từng cái lán nó đốt đi trơ trụi…

Khoét sâu vào mối thù với quân xâm lược. Thể hiện nhận thức tỉnh táo của người dân: biết được âm mưu của kẻ thù, biết nén đau thương để vượt lên nỗi đau khổ của chính mình.

 
Họat động 2: Bài TIẾNG HÁT CON TÀU( 20 PHÚT)
Bài TIẾNG HÁT CON TÀU

I. Tìm hiểu chung:

1. Tác giả:  Chế Lan Viên (1920 – 1989):

2. Tác phẩm: Rút từ tập“Ánh sáng và phù sa”.

– Bài thơ được gợi cảm hứng từ một sự kiện lịch sử những năm 1958- 1960: cuộc vận động đồng bào miền xuôi xây dựng kinh tế ở miền núi Tây Bắc.

II. Hướng dẫn đọc thêm:

1.      Lời đề từ:

– Con tàu: biểu tượng cho khát vọng ra đi.

– Tây Bắc:vừa có ý nghĩa tả thực vừa có ý nghĩa biểu tượng cho miền đất xa xôi của Tổ quốc.

=> Đến với nhân dân, với Tây Bắc chính là trở về với lòng mình, với tình cảm sâu nặng, gắn bó.

 

 

 

 

 

  2. Sự trăn trở và lời mời gọi lên đường (Hai khổ đầu)

 

 

3. Kỉ niệm về với nhân dân trong 10 năm kháng chiến (Chín khổ thơ tiếp):

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– Đoạn thơ kết lại bằng những câu thơ đậm chất triết lí và những kỉ niệm về tình yêu, về người con gái Tây bắc: Không chỉ thể hiện nỗi nhớ về một tình yêu mà còn là những suy ngẫm triết lí về quy luật của tình yêu:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

4. Khúc hát lên đường sôi nổi, mê say (Bốn khổ cuối):

– Điệp từ., điệp ngữ, láy lại… Âm hưởng sôi nổi.

– Hình ảnh thơ phong phú, biến hóa sáng tạo, chủ yếu là những hình ảnh ẩn dụ, biểu tượng

→ Khao khát, bồn chồn, giục giã lên đường sôi nổi, mê say đáp lại lời mời gọi của hai khổ thơ đầu.

B. Nghệ thuật :

C/ Ý nghĩa văn bản :

* Thao tác 1 :

Hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản

HS đọc tiểu dẫn nêu vài nét chính về tác giả Chế Lan Viên?

Lưu ý phong cách nghệ thuật Chế lan Viên.

 

Nêu hoàn cảnh sáng tác bài thơ?

Bài thơ mang đậm phong cách sáng tác của Chế Lan Viên.

 

 

Em hiểu như thế nào về nhan đề bài thơ? Thực tế có con tàu đi Tây Bắc không?

Vậy con tàu có ý nghĩa như thế nào? Tây Bắc có ý nghĩa gì?

Từ đó rút ra ý nghĩa của lời đề từ.

Nên tìm hiểu bài thơ theo bố cục như thế nào?

 

Nhóm 1: Hai khổ đầu tác giả thể hiện nội dung gì? Biện pháp nghệ thuật nào được sử dụng?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

* Nhóm 2

Nét độc đáo của khổ 5 là gì? Biện pháp nghệ thuật gì?

Ý nghĩa của khổ 5?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

* Nhóm 3

Những con người Tây Bắc hiện lên như thế nào?

 

 

 

Tình quân dân được thể hiện trong đoạn thơ như thế nào?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

* Nhóm 4

Phân tích những câu thơ mang đậm tính triết lí trong bài thơ?

 – Khi ta ở chỉ là nơi đất ở

    Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn.

    -Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

GV diễn giảng bốn khổ cuối

 

 

 

 

 

Hướng dẫn HS tổng kết bài học

 

 

* 1 HS đọc, cả lớp theo dõi.

* HS trả lời cá nhân

– Thơ Chế Lan Viên nóng hổi tính thời sự, giàu chất sử thi, chất anh hùng ca và chất chính luận, có vẻ đẹp trí tuệ độc đáo.

– Phong cách thơ Chế Lan Viên độc đáo: có vẻ đẹp trí tuệ, khai thác triệt để những tương quan đối lập, giàu chất suy tưởng, triết lí với thế giới hình ảnh đa dạng, phong phú, đầy sáng tạo.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

* HS  đại diên nhóm trả lời

 

Nhóm 1:

– Thủ pháp phân thân, hàng loạt câu hỏi tu từ róng riết:

…  Anh đi chăng? Anh có nghe…? Tàu gọi anh đi sao chửa ra đi?

– Nhiều hình ảnh đối lập, giọng thơ giục giã, hối thúc, trăn trở

– Tác giả vừa kêu gọi mọi người vừa tự phê, tự vấn trên con đường về với tổ quốc, nhân dân, về với cội nguồn sáng tạo của người nghệ sĩ.

 

* Nhóm 2

* Viết về kháng chiến, về nhân dân bằng lòng biết ơn sâu xa:

+ Hàng loạt hành ảnh so sánh:

– “Kháng chiến 10 năm qua // ngọn lửa…nghìn năm sau…soi đường”

– “Con gặp lại ND// nai về suối cũ

                             // cỏ đón giêng hai

                            // chim én gặp mùa

                           // trẻ thơ…gặp sữa

                           // chiếc nôi…tay đưa…”

→Về với nhân dân là về với những gì thân thuộc, gần gũi nhất, về với ngọn nguồn thiết yếu của sự sống trong sự che chở cưu mang,về với niềm vui, niềm hạnh phúc từng khao khát chờ mong.( Trong trẻo, ngọt lành,ấm áp, bình yên )

* Gợi kỷ niệm với nhân dân trong kháng chiến:

– Chi tiết cụ thể chân thực, gợi cảm

+ những hình ảnh liên tưởng bất ngờ gợi bao hình ảnh đẹp mới lạ

– Cách xưng hô thân thiết ruột thịt, ấm áp tình cảm.

– Những từ nữ chỉ thời gian gợi sự hi sinh thầm lặng, lớn lao

→Lòng biết ơn sâu sắc gắn bó chân thành với những xúc động thấm thía của những người kháng chiến đối với nhân dân, đất nước.

* Nhóm 4

-TY là kết tinh cao độ của những kỉ niệm và sự gắn bó máu thịt với Tây Bắc cũng là với kháng  chiến, với đất nước.

– Những câu thơ cô đúc như những châm ngôn,triết lí nhưng  không khô khan mà từ quy luật của tình cảm, của trái tim, được cảm nhận bằng trái tim.

– Kết hợp cảm xúc và suy tưởng, nâng cảm xúc suy tưởng lên thành những suy ngẫm triết lí- đó là thành công của đoạn thơ, cũng là nét đặc sắc trong thơ CLV.

 

HS chú ý lắng nghe, theo dõi

* HS trả lời cá nhân

– Nghệ thuật : bài thơ thể hiện những nét chính trong phong cách thơ CLV: sự sáng tạo hình ảnh mới lạ, liên tưởng phong phú bất ngờ, cảm xúc gắn với suy tưởng triết lí Tổng kết:

– Ý nghĩa văn bản : Bài thơ thể hiện khát vọng, niềm hân hoan trong tâm hồn nhà thơ khi trở về với nhân dân với đất nước cũng là tìm về với ngọn nguồn nuôi dưỡng sự sáng tạo nghệ thuật của hồn thơ.

Họat động 4: HƯỚNG DẪN TỰ HỌC – DẶN DÒ ( 5 PHÚT)

– Sau khi đọc hiểu bài thơ, hãy trình bày các hiểu của em về tác giả, hoàn cảnh sáng tác của 3 bài thơ?

– Chú ý những nét đặc sắc trong phong cách thơ của mỗi tác giả.

– Chú ý vẻ đẹp nội dung và nghệ thuật của 3 bài thơ ( Phần tri thức đọc- hiểu )

– Chuẩn bị bài: CHỦ ĐỀ: NGHỊ LUẬN VĂN HỌC

 

HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG

  1. Bài tập ứng dụng:

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa,

 Kìa em xiêm áo tự bao giờ

 Khèn lên man điệu nàng e ấp

 Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

 

                                    Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

                                    Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”.

Đọc đoạn thơ trên và thực hiện các yêu cầu sau:

  1. Đoạn thơ trên thể hiện tâm trạng gì của tác giả?
  2. Các từ “xiêm áo”, “khèn”,“man điệu”, “e ấp” có vai trò gì trong việc thể hiện những hình ảnh vẻ đẹp văn hoá miền núi và tâm trạng người lính Tây Tiến?
  3. Câu thơ Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa được sử dụng nghệ thuật gì? Nêu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ đó.

 

Trả lời:

  1. Đoạn thơ trên thể hiện tâm trạng của tác giả : đó là nỗi nhớ những kỉ niệm về tình quân dân trong đêm liên hoan văn nghệ và cảnh sông nước miền Tây thơ mộng.

2/ Các từ “xiêm áo”, “khèn”,“man điệu”, “e ấp”  có vai trò trong việc thể hiện những hình ảnh vẻ đẹp văn hoá miền núi và tâm trạng người lính Tây Tiến :

a/ Vẻ đẹp thể hiện bản sắc dân tộc, nhất là văn hoá miền núi. Đó là vẻ đẹp của các cô gái Tây Bắc trong  trang phục lạ: xiêm áo, vừa e thẹn, vừa tình tứ trong một vũ điệu lạ: man điệu, nhạc cụ lạ : khèn, dáng điệu lạ: e ấp.

b/ Tâm trạng người lính: vừa ngạc nhiên, vừa đắm say trong tiến khèn, điệu múa.Tâm hồn các anh vẫn phơi phới niềm lạc quan yêu đời, đầy ắp niềm vui và mộng mơ, quên đi bao nỗi nhọc nhằn, gian khổ.

3/ Câu thơ Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa  được sử dụng nghệ thuật  đối lập. Hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ :  gợi vẻ đẹp hoang sơ, vữa dữ đội, vừa thơ mộng của núi rừng, đồng thời thể hiện bút pháp thi trung hữu hoạ” ( trong thơ có hoạ) của Qung Dũng.

  1. Bài tập ứng dụng:

Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

Mình về mình có nhớ không

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?

Tiếng ai tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”

Đọc đoạn thơ trên và thực hiện các yêu cầu sau:

  1. Đoạn thơ trên thể hiện tâm trạng gì của mình ta? Mười lăm năm ấy là khoảng thời gian nào ? Tại sao gợi nhớ Mười lăm năm ấy ?,
  2. Nêu ý nghĩa tu từ của các từ láy trong đoạn thơ?
  3. Hình ảnh áo chàm sử dụng biện pháp tu từ gì? Nêu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp đó ?
  4. Cách ngắt nhịp của câu thơ Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay có gì lạ? Nêu hiệu quả nghệ thuật của cách ngắt nhịp đó.

 

Trả lời:

  1. Đoạn thơ trên thể hiện tâm trạng nhớ thương, lưu luyến, bồi hồi xúc động của mình ta. Mười lăm năm ấy là khoảng thời gian kể từ khởi nghĩa Bắc Sơn năm 1940 đến chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954. Gợi nhớ Mười lăm năm ấy vì đó là khoảng thời gian Việt Bắc là căn cứ cách mạng, thời gian gắn bó lâu dài, có tình cảm tha thiết, sâu nặng giữa nhân dân Việt bắc với cán bộ kháng chiến.
  2. Ý nghĩa tu từ của từ láy thiết tha gợi tâm trạng thương nhớ của ngườ ở lại. Các từ láy tha thiết ,  bâng khuâng , bồn chồn gợi tâm trạng tả tâm trạng của người cán bộ: nhớ, buồn vì phải chia tay với Việt Bắc, nơi đã gắn bó suốt “mười lăm năm” với bao “đắng cay ngọt bùi”. Những người cán bộ cũng hồi hộp, không yên trong lòng vì sắp được trở về quê hương sau thời gian dài xa cách.

 

  1. Hình ảnh áo chàm sử dụng biện pháp tu từ hoán dụ để chỉ người Việt Bắc. Hiệu quả nghệ thuật của biện pháp hoán dụ: gợi tâm trạng lưu luyến trong giây phút chia tay giữa nhân dân Việt Bắc với cán bộ kháng chiến.
  2. Cách ngắt nhịp của câu thơ Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay lạ ở chỗ từ nghịp bình thường 2/2/2/2, Tố Hữu chuyển sang nhịp 3/3/2. Hiệu quả nghệ thuật của cách ngắt nhịp : gợi tâm trạng bịn rịn, xúc động đến nghẹn ngào không nói nên lời trong giây phút chia tay của người cán bộ kháng chiến.
  3. Bài tập ứng dụng:

Súng nổ rung trời giận dữ

Người lên như nước vỡ bờ

Nước Việt Nam từ máu lửa

Rũ bùn đứng dậy sáng loà./.

                                                 (Đất nước Nguyễn Đình Thi, Ngữ văn 12,

Tập một, NXB Giáo Dục, Việt Nam, 2013, tr.125)

Đọc đoạn thơ trên và thực hiện các yêu cầu sau:

  1. Nêu ý chính của đoạn thơ trên ?
  2. Tại sao trong đoạn thơ, tác giả sử dụng mỗi câu thơ đều 6 tiếng ?
  3. Viết đoạn văn ngắn bày tỏ suy nghĩ về bức tượng đài của đất nước qua đoạn thơ.

 

Trả lời:

  1. Ý chính của đoạn thơ trên : Bức tượng đài về đất nước
  2. Trong đoạn thơ, tác giả sử dụng mỗi câu thơ đều 6 tiếng với cách ngắt nhịp đều đặn, dồn dập tạo bức tượng đài đất nước cân đối, hài hoà, chắc chắn, bền vững với thời gian.
  3. Viết đoạn văn ngắn bày tỏ suy nghĩ về bức tượng đài của đất nước qua đoạn thơ.

Đàm bảo các nội dung :

-Đất nước có lòng căm thù giặc sâu sắc ( câu 1)

-Đất nước có sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc ( câu 2)

-Đất nước đau thương ( câu 3)

-Đất nước đi từ bóng tối ra ánh áng, từ nô lệ đến tự do ( câu 4)

 

4..Bài tập ứng dụng:

Trên Tây Bắc! Ôi mười năm Tây Bắc
Xứ thiêng liêng rừng núi đã anh hùng
Nơi máu rỏ tâm hồn ta thấm đất
Nay rạt rào đã chín trái đầu xuân.

Ơi kháng chiến! Mười năm qua như ngọn lửa
Nghìn năm sau, còn đủ sức soi đường,
Con đã đi nhưng con cần vượt nữa
Cho con về gặp lại mẹ yêu thương.

Đọc đoạn thơ trên và thực hiện các yêu cầu sau:

  1. Nêu ý chính của đoạn thơ?
  2. Nêu ý nghĩa từ “máu rỏ”, “chín trái đầu xuân ”  trong đoạn thơ.
  3. Nêu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ so sánh ở đoạn thơ thứ 2 ?

Trả lời:

  1. Ý chính của đoạn thơ : Về với Tây Bắc là về với kỉ niệm kháng chiến. Đó là niềm khát khao mãnh liệt và niềm hạnh phúc lớn lao khi trở về với nhân dân cùng với những kỉ niệm sâu nặng đầy tình nghĩa trong những năm kháng chiến.
  2. Ý nghĩa từ “máu rỏ” : gợi giá trị to lớn của đau thương, mất mát, hi sinh thầm lặng của bao người, “chín trái đầu xuân ” gợi thành quả lao động . Nơi máu rỏ là nơi trái chín, nơi đau thương, hi sinh là nơi sự sống sinh sôi, nảy nở nhờ quá trình lao động bền bỉ, hăng say . Điều đó gợi sức sống bất diệt của vùng đất kháng chiến, của con người Việt Nam.
  3. Hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ so sánh ở đoạn thơ thứ 2 : Nhà thơ so sánh kháng chiến như ngọn lửa . Cuộc kháng chiến đã đi qua Mười năm nhưng sức ấm nóng vẫn còn lan toả đến Nghìn năm sau. Kháng chiến trở thành ngọn đuốc soi đường đi cho dân tộc và cho Con- nhà thơ cách mạng.- tìm về lại với Mẹ-Nhân dân.

 

  • HOẠT ĐỘNG BỔ SUNG
  1. Bài tập viết đoạn văn: Phân tích ý nghĩa tu từ của từ “về đất” trong bài thơ Tây Tiến

Trả lời

Ý nghĩa tu từ của từ “về đất” trong đoạn thơ : “về đất” là cách nói giảm, diễn tả sự hi sinh của người lính. Tác giả sử dụng cách nói về đất  thay cho từ chết là cách nói giảm nhẹ làm vơi đi sự mất mát đau thương nhưng lại hàm chứa một ý nghĩa lớn lao. Về đất  là về với tổ tiên khi người ta làm tròn trách nhiệm với quê hương, đất nước; về đất còn là sự hoà nhập, là sự hoá thân vào hồn thiêng sông núi để trở thành cái vĩnh viễn bất tử.

  1. Bài tập viết đoạn văn:

Thương nhau chia củ sắn lùi

Bát cơm sẻ nửa,chăn sui đắp cùng.

Viết đoạn văn phân tích ý nghĩa nghệ thuật các từ “chia ” “sẻ ” “cùng ”  trong 2 câu thơ trên? Hình ảnh bà mẹ Việt Bắc hiện ra như thế nào?

Trả lời:

Ý nghĩa nghệ thuật các từ “chia ” “sẻ ” “cùng ”  trong đoạn thơ :  Người Việt Bắc luôn chia sẻ khó khăn, thiếu thốn cùng người cách mạng: một củ sắn chia nhau bên bếp lửa đêm đông, một bát cơm sẻ nửa và một chiếc chăn sui đắp chung. Đắng cay cùng hưởng, ngọt bùi cùng chia. Tất cả những khoảnh khắc ấy cứ sáng mãi trong lòng người ra đi, sống trong tâm trí người ở lại, ghi dấu ấn một thời không thể xoá nhoà. Đây là một hình ảnh đậm đà tình giai cấp. Hình ảnh bà mẹ Việt Bắc hiện ra qua hình ảnh hoán dụ nắng cháy lưng, các động từ địu, bẻ. gợi người đọc liên tưởng đến sự tần tảo chắt chiu, cần cù lao động của người mẹ chiến sĩ trong kháng chiến đã đùm bọc, cưu mang cán bộ cách mạng. Đó còn là hình ảnh tiêu biểu cho cái đẹp, ân tình trong cuộc sống kháng chiến không thể phai nhòa trong kí ức của người về xuôi.

  1. Bài tập viết văn bản:

Phân tích 10 câu thơ sau trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu: 

Ta về mình có nhớ ta

Ta về ta nhớ những hoa cùng người

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình.

Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung

                                   

Gợi ý:

Trên cơ sở hiểu biết về Tố Hữu và bài thơ Việt Bắc, học sinh biết phân tích những chi tiết nghệ thuật để làm rõ nỗi nhớ cảnh và người dân Việt Bắc; có thể sắp xếp, trình bày theo nhiều cách khác nhau, nhưng cần nêu được các ý chính sau:

– Nội dung:

+ Cảnh thiên nhiên Việt Bắc trong nỗi nhớ của nhà thơ được tái hiện ở cả bốn mùa với màu sắc và vẻ đẹp khác nhau: mùa đông tươi tắn; mùa xuân trong sáng, tinh khôi và đầy sức sống; mùa hè rực rỡ, sôi động; mùa thu lãng mạn, yên ả, thanh bình.

+ Người Việt Bắc trong nỗi nhớ của nhà thơ hiện lên thật đẹp, cần cù, chăm chỉ và rất đỗi ân tình, luôn là chủ thể của bức tranh thiên nhiên.

+ Cảnh và người hoà quyện, gắn bó nhau. Con người làm cho cảnh trở nên gần gũi, sinh động, có hồn. Nhờ cảnh, vẻ đẹp con người được tôn vinh.

– Nghệ thuật: Hình ảnh đẹp; âm điệu ngọt ngào, tha thiết; cách xưng hô gần gũi, quen thuộc; phép điệp ngữ, liệt kê…

– Đánh giá:

+ Đoạn thơ thể hiện nỗi nhớ sâu nặng về thiên nhiên và con người Việt Bắc trong cuộc kháng chiến gian khổ mà hào hùng của dân tộc.

+ Là đoạn thơ hay nhất trong bài Việt Bắc, thể hiện rõ nét phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu.

(Tài liệu sưu tầm )

Xem thêm :

Trọn bộ giáo án Ngữ văn soạn theo hướng đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá

Giáo án ngữ văn 10 

Giáo án ngữ văn 11

Giáo án ngữ văn 12

Xem thêm tuyển tập đề thi và những bài văn hay về  Việt Bắc, Tây Tiến, Đất nước Đất nước Nguyễn Khoa Điềm

Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về các tác phẩm lớp 12 ( phần 2 )

Tổng hợp những Kết bài Nghị luận văn học Ngữ văn 12 hay nhất :  Tây Tiến, Đất nước, Vợ nhặt, Vợ chồng A Phủ, Rừng xà nu, Chiếc thuyền ngoài xa, Việt Bắc, Sóng, Người lái đò sông Đà, Ai đã đặt tên cho dòng sông

Tài liệu bài luyện tập rèn kĩ năng viết mở bài, kết bài trong văn nghị luận

1, Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Tây Tiến– Quang Dũng

  1. Từ sự kết hợp một cách hài hoà giữa cái nhìn hiện thực với cảm hứng lãng mạn, Quang Dũng đã dựng lên bức chân dung, một bức tượng đài người lính cách mạng vừa chân thực vừa có sức khái quát, tiêu biểu cho vẻ đẹp sức mạnh dân tộc ta trong thời đại mới, thời đại cả dân tộc đứng lên làm cuộc kháng chiến vệ quốc thần kỳ chống thực dân Pháp. Đó là bức tượng đài được kết tinh từ âm hưởng bi tráng của cuộc kháng chiến ấy. Đó là bức tượng đài được khắc tạc bằng cả tình yêu của Quang Dũng đối với những người đồng đội, đối với đất nước của mình. Vì thế từ Tây Tiến, từ bức tượng đài đã vút lên khúc hát ngợi ca của nhà thơ cũng như của cả đất nước về những người con anh hùng ấy.
  2. Quang Dũng vào “làng” thơ cách mạng với bài Tây Tiến . Như có mối duyên gì ràng buộc, bài thơ ấy gắn bó với người làm ra nó đến mức cứ nói đến Quang Dũng là người ta nhớ đến bài thơ Tây Tiến và ngược lại.Có lẽ bởi từ sự kết hợp một cách hài hoà giữa cái nhìn hiện thực với cảm hứng lãng mạn, Quang Dũng đã dựng lên bức chân dung, một bức tượng đài người lính cách mạng vừa chân thực vừa có sức khái quát, tiêu biểu cho vẻ đẹp sức mạnh dân tộc ta trong thời đại mới, thời đại cả dân tộc đứng lên làm cuộc kháng chiến vệ quốc thần kỳ chống thực dân Pháp.
  3. Đọc xong những ý thơ mà tôi có cảm giác vẻ đẹp của thiên nhiên, con người miền Tây còn chập chờn, mien man đâu đó. Bằng tình cảm sâu đậm của mình với mảnh đất này, Quang Dũng đã tạo nên mối tơ tình đồng điệu, gắn bó giữa độc giả với nhà thơ, giữa độc giả với thiên nhiên, con người miền Tây trong những năm tháng kháng chiến gian nan. Quả là “ Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy / Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”.

2. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Đất Nước- Nguyễn Khoa Điềm:

Những vần thơ rất đẹp trong Đất Nướcđã vượt qua thử thách của thời gian, tiếp tục toả sáng, giúp thế hệ học sinh hôm nay hiểu hơn về thế hệ cha ông trong những ngày tháng hào hùng nhất của dân tộc. Trong thời đại mới, những giá trị của ngày hôm qua góp phần khơidậy lòng tự hào và ý thức trách nhiệm, tình cảm cho mỗi con người trong khát vọng đưa Đất Nước đi xa đến những tháng ngày mơ mộng

3. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Việt Bắc Tố Hữu

  1. Như vậy nhà thơ Tố Hữu đã thể hiện những tâm sự của mình nói riêng và của tất cả những chiến sĩ và nhân dân Việt Bắc nói chung. Mười lăm năm kháng chiến với biết bao nhiêu kỉ niệm và giờ đây khi phải xa nhau thấy lòng mình thật muốn vỡ òa trong nức nở. Chân không muốn rời xa. Qua đây ta thấy được tình nghĩa đoàn kết keo sơn của con người Việt Nam mà cụthể đó là tình quân dân. Để đạt được những thắng lợi trên mặt trận ấy thì không thể nào quên ơn những người nhân dân Việt Bắc được
  2. Trong câu chuyện với một nhà nghiên cứu văn học người Pháp, Tố Hữu tâm sự rằng: “Mình phải lòng đất nước và nhân dân của mình. Nói về đất nước, nói về nhân dân như nói về người mình yêu”. Phải chăng, tâm sự đó là những lời mà Tố Hữu nói về Việt Bắc, nói về những vần thơ chan chứa tình quân dân gắn bó, tình yêu nước thiết tha. Những tình cảm thiêng liêng ấy cứ vấn vương mãi trong lòng người đọc.

4. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Sóng- Xuân Quỳnh

  1. Sóng – bài thơ thành công trong phương thức biểu hiện cảm xúc của thi sĩ. Kết cấu song trùng, sự tương xứng giữa hai hình tượng Sóng và Em là sáng tạo nghệ thuật đặc sắc, giàu tính thẩm mĩ của Xuân Quỳnh. Với sự sáng tạo ấy, Xuân Quỳnh đã nói lên một cách nồng thắm mà không kém phần tế nhị những khát khao rạo rực của trái tim yêu. Đó cũng là những khát khao đời thường, dung dị, cao quý. Tiếng nói ấy chân thành, tự nhiên mà sâu sắc được diễn tả qua hình tượng thơ gợi cảm, đa nghĩa. Xuân Quỳnh thực sự là thi sĩ của tình yêu, thi sĩ của những rung động nữ tính trong trái tim.
  2. Bài thơ Sóng là bài thơ giàu giá trị nội dung và nghệ thuật. Thành công của bài thơ là nhờ vào thủ pháp nghệ thuật nhân hóa, ẩn dụ, so sánh, đối lập… nhất là thể thơ ngũ ngôn giàu nhịp điệu. Nhịp điệu của sóng, nhịp điệu của tâm hồn. Tất cả đã làm hiện lên vẻ đẹp rất Xuân Quỳnh giàu trắc ẩn suy tư và khát vọng trong tình yêu. Đọc xong bài thơ “Sóng” ta càng ngưỡng mộ hơn những người phụ nữ Việt Nam, những con người luôn thuỷ chung, luôn sống hết mình vì một tình yêu. Xuân Quỳnh xứng đáng là một nhà thơ nữ của tình yêu lứa đôi, chị đã làm phong phú hơn cho nền thơ ca nước nhà

5. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài  Ai đã đặt tên cho dòng sông– Hoàng Phủ Ngọc Tường

Hoàng Phủ Ngọc Tường đã dẫn người đọc vào cuộc hành trình khám phá nét đẹp của thiên nhiên Huế. Lần lượt theo dòng chảy của Hương giang, tôi bắt gặp khung cảnh thiên nhiên Huế lúc nguyên sơ, trong trẻo, lúc mượt mà khi kì ảo, lúc dịu dàng say đắm khi thâm trầm trang nghiêm. Sông Hương tôn lên vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên Huế, hòa nhập với không khí của văn hóa Huế. Tất cả đều sống động qua tình yêu tha thiết của Hoàng Phủ Ngọc Tường với con sông này. Qua hình tượng sông Hương tôi còn cảm nhận vẻ đẹp cái tôi Hoàng Phủ Ngọc Tường: một cái tôi trí tuệ uyên bác qua những tri thức phong phú với nhiều lĩnh vực, một cái tôi tài hoa phóng túng với những liên tưởng bất ngờ. Và trên hết là một cái tôi sâu nặng tình yêu và tự hào với Huế – quê hương của mình.Tất cả làm nên sức sống của thiên kí này.

6. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Người lái đò sông Đà– Nguyễn Tuân

Phong cách Nguyễn Tuân độc đáo và phong phú.Ở tùy bút “Người lái đò sông Đà” chúng ta thấy phong cách giá trị của ông thể hiện rõ nhất là sự nhọn sắc của giác quan nghệ sĩ đi đôi với một kho chữ nghĩa giàu có và đầy màu sắc, lối văn rất mực tài hoa. Dòng sông Đà “hung bạo và trữ tình” cùng hình tượng người lái đò tài hoa chảy mãi trong dòng văn học nước nhà như niềm yêu mến và tự hào về con người, cỏ cây sông núi quê hương của nhà văn Nguyễn Tuân

7. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Vợ chồng A Phủ– Tô Hoài

Gấp lại những trang sách mà dư âm về nhân vật Mị, về cô gái Mèo với sức sống mãnh liệt trong đêm tình mùa xuân, về số phận đáng thương của người dân dưới xã hội phong kiến đương thời vẫn còn in đậm trong tâm hồn tôi. Mị hay Vợ chồng A Phủ mãi là những rung động sâu sắc mà Tô Hoài để lại nơi người đọc.

8. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Vợ nhặt– Kim Lân

  1. “Cái đẹp cứu vớt con người” (Đôxtôiepki). Vâng, “vợ nhặt” củanhà văn Kim Lân thể hiện rõ sức mạnh kì diệu ấy. Ánh sáng của tình người, lòng tin yêu vào cuộc sống là con nguồn mạch giúp Kim Lân hoàn thành tác phẩm. Ông đã đóng góp cho văn học Việt Nam nói chung, về đề tài nạn đói nói riêng một quan niệm mới về lòng người và tình người. Đọc xong thiên truyện, dấu nhấn mạnh mẽ nhất trong tâm hồn bạn đọc chính là ở điểm sáng tuyệt vời ấy.
  1. Bằng ngòi bút miêu tả chân thực, sinh động, cách khắc họa tâm lý nhân vật sắc sảo,độc đáo và cốt truyện đầy bất ngờ Kim Lân đã vẽ lại trước mắt người đọc khung cảnh đói nghèo tràn lan của xã hội Việt Nam những năm 1945. Qua đó tác giả cũng nhấn mạnh tình yêu thương giữa người với người luôn bất diệt.

 

9. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Rừng xà nu– Nguyễn Trung Thành

Rừng xà nu là truyện của một người nhưng qua đó ta thấy được số phận của cả một dân tộc . Đó là bức tranh hoành tráng , hoành tráng trong hình ảnh, với vóc dáng vạm vỡ của cao cả của rừng núi và của con người và hoành tráng trong âm hưởng với lời văn đầy nhịp điệu, khi vang động, khi tha thiết trang nghiêm .

10. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Chiếc thuyền ngoài xa– Nguyễn Minh Châu

Qua truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu đã nêu lên bài học về cái nhìn đa diện, cái nhìn khám phá trong sáng tạo nghệ thuật đối với các nghệ sĩ chân chính. Từ tình huống truyện có ý nghĩa khám phá, phát hiện về sự thật đời sống và qua sự thay đổi nhận thức của Phùng, của Đẩu, tác giả đã khẳng định mối quan hệ giữa nghệ thuật và hiện thực. Theo ông, bổn phận của người nghệ sĩ là phải phát hiện ra bản chất của cuộc đời. Cái Đẹp, cái Thiện trước hết phải là sự chân thực, Cuộc sống vốn phức tạp, chúng ta không thể đơn giản, sơ lược khi nhìn nhận con người và cuộc sống mà cần có cái nhìn tỉnh táo, sâu sắc cùng với sự tìm tòi, phát hiện để hiểu đúng bản chất của nó.

Tài liệu sưu tầm và tổng hợp

Xem thêm :

  1. Tổng hợp những kết bài hay về các tác phẩm lớp 12 ( phần 1 )
  2. Tuyển tập những kết bài mẫu  về các tác phẩm lớp 11 
  3. Cách viết phần kết bài trong văn nghị luận
  4. Tuyển tập những mở bài hay nhất về các tác phẩm lớp 12

Nghị luận ý kiến của GS Nguyễn Đăng Mạnh về bài Việt Bắc_Tố Hữu

Đề thi thử, kì thi THPT Quốc gia năm 2017

Phần Nghị luận văn học

Đề bài :

Nhận định về bài thơ “Việt Bắc”, tác giả Nguyễn Đăng Mạnh viết: “Sức hấp dẫn mạnh nhất của thơ Tố Hữu đối với công chúng đông đảo là tính dân tộc, tính truyền thống đậm đà và nhuần nhuyễn”. Anh/Chị hãy làm rõ nhận định đó qua đoạn thơ sau:

“Ta về mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người.
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình.
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.”

(Việt Bắc, Tố Hữu)

HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI

* Mở bài:
– Giới thiệu vài nét về tác giả Tố Hữu, hoàn cảnh sáng tác bài thơ Việt Bắc
– Nhận định về bài thơ “Việt Bắc”, tác giả Nguyễn Đăng Mạnh viết: “Sức hấp dẫn mạnh nhất của thơ Tố Hữu đối với công chúng đông đảo là tính dân tộc, tính truyền thống đậm đà và nhuần nhuyễn”. Điều đó được thể hiện qua đoạn thơ sau:

“Ta về mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người.
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình.
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.”

(Việt Bắc, Tố Hữu)

* Thân bài:
– “Việt Bắc” là khúc tình ca và cũng là khúc hùng ca mà cội nguồn sâu xa của nó là tình cảm quê hương đất nước, là truyền thống ân nghĩa, đạo lý thuỷ chung của dân tộc.
– Tính dân tộc thể hiện ở mọi yếu tố từ nội dung đến hình thức của sáng tác văn học. Tính dân tộc trong thơ Tố Hữu trước hết được xem xét toàn diện từ sự mô tả cuộc sống và đấu tranh độc đáo của dân tộc ta, sự phác họa con người Việt Nam với truyền thống đạo đức, đặc điểm tâm lý và tái hiện phong cảnh đất nước. Bằng ngôn ngữ nghệ thuật, thể thơ và nhạc điệu mang đậm màu sắc dân tộc.
+ Về nội dung, dễ dàng nhận thấy trước hết là tính dân tộc biểu hiện trong sự phản ánh màu sắc dân tộc của thiên nhiên, của đời sống vật chất và tinh thần của xã hội. Nội dung căn bản của tính dân tộc là ở tinh thần dân tộc, tính cách dân tộc và cái nhìn dân tộc đối với cuộc đời.
+ Về hình thức, tính dân tộc biểu hiện ở chỗ: mỗi nền văn học dân tộc có hệ thống thể loại truyền thống, có các phương tiện miêu tả, biểu hiện riêng, nhất là có ngôn ngữ dân tộc thể hiện bản sắc riêng trong tư duy và tâm hồn của dân tộc mình.
– Cảm hứng chủ đạo của đoạn thơ là nỗi nhớ về Việt Bắc:
“Ta về mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người.”
+ Tác giả sử dụng điệp ngữ hai lần “ta về”. Cùng một thời điểm chia tay nhưng ở trên là hỏi người, ở dưới là giãi bày lòng mình. Cặp từ “ta”, “mình” được xưng hô như cách đối đáp giao duyên của trai gái trong ca dao, dân ca khiến cho cuộc chia tay của người cán bộ và Việt Bắc thành cuộc “giã bạn” của lứa đôi. “Ta” là người cán bộ kháng chiến, “mình” là nhân dân Việt Bắc đang lưu luyến chia tay. Câu hỏi tu từ “mình có nhớ ta” thể hiện sự lưu luyến của người đi, kẻ ở.
+ “Nhớ hoa” là nhớ thiên nhiên Việt Bắc thơ mộng làm đắm say lòng người. “Nhớ người” là nhớ người dân Việt Bắc từng cưu mang, gắn bó, đồng cam cộng khổ với cán bộ cách mạng.
Bức tranh mùa đông:
“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”
– Hoa chuối rừng đỏ như son nổi bật trên nền xanh bạt ngàn của lá. Sự “tương phản” của hai màu xanh, đỏ làm cho núi rừng bớt hoang vu, lạnh lẽo mà trở nên ấm áp hơn. Hoa chuối là bông hoa có thật chứ không mông mênh chóng tàn như những loài hoa khác.
– Vượt qua mùa đông lạnh giá, con người lên nương, lên rừng. Nghệ thuật đảo ngữ “nắng ánh” (động từ) là các luồng sáng của nắng chói lên bởi sự phản quang của lưỡi dao rừng thắt trên lưng người dân khi họ đi khai thác lâm, thổ sản. Đó là cái đẹp rất đời thường, rất giản dị của người lao động.
“Bức tranh mùa xuân:
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.”
– Hoa mơ tinh khôi, thanh khiết phủ trắng cả cánh rừng, gợi cảm giác choáng ngợp trước cảnh thơ mộng. Âm điệu mạnh mẽ của hai chữ trắng rừng bộc lộ cảm giác ngỡ ngàng, hạnh phúc của con người. Một bài thơ khác, Tố Hữu cũng viết rất hay về mùa xuân của núi rừng Việt Bắc:
“Ôi sáng xuân nay xuân, xuân 41
Trắng rừng biên giới nở hoa mơ.
Bác về nín lặng con chim hót
Thánh thót bờ lau vui ngẩn ngơ”
(Xuân 41)
– Hình ảnh người lao động chuốt từng sợi giang rất nhịp nhàng, khoan thai. Động từ “chuốt” là làm cho thật nhẵn sợi giang để đan nón. Hai từ “chuốt” và “từng” gợi tả đức tính cẩn thận, tỉ mỉ, chịu thương chịu khó của người đan nón. Họ làm ra sản phẩm để phục vụ cho lao động và còn để tặng cán bộ kháng chiến.
Bức tranh mùa hạ:
“Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình.”
– Câu thơ sáu chữ xôn xao cả màu sắc lẫn âm thanh. Khi tiếng ve râm ran, cả một rừng phách như hối hả, nhanh chóng thay màu, cùng đồng loạt “đổ vàng”. Hai động từ “kêu” và “đổ” thể hiện không khí rạo rực rất đặc trưng của mùa hạ. Đổ vàng là ngả vàng hàng loạt hoặc là cây trút lá vàng. Hai câu thơ gợi nhắc ý thơ của Xuân Diệu:
“Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá
Thu đến nơi nơi động tiếng huyền.”
(Trích Thơ duyên)
– Hình ảnh người lao động: Cô gái đi hái măng, khơi dậy trong ta những rung động ngọt ngào, sâu lắng. Đọc câu thơ, ta nghe như có tiếng nhạc ngân nga bởi nghệ thuật gieo vần lưng (gái, hái) và điệp phụ âm đầu “m”(măng, một, mình). Cô gái say sưa lao động trong một không gian vui tươi, trong trẻo. Sự hiện diện của cô gái càng tăng thêm nét duyên dáng, trẻ trung cho bức tranh mùa hạ.
Bức tranh mùa thu:
“Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.”
– Ánh trăng vàng êm dịu trải dài lên cảnh vật, gợi không khí thanh bình, yên ả. Từ “hòa bình” vừa khẳng định cuộc sống êm đềm, vừa nói đến sự thanh tĩnh của rừng khuya. Đêm trăng thu huyền ảo nơi núi rừng Việt Bắc thấp thoáng ước mơ thầm kính về cuộc sống thanh bình êm ả.
– Trên cái nền gợi cảm ấy văng vẳng “tiếng hát ân tình thủy chung” của ai đó nghe thật bâng khuâng, xao xuyến. Tiếng hát ấy chính là tấm lòng của người Việt Bắc, dù nghèo khó nhưng suốt đời thủy chung với cách mạng.
– Mỗi câu lục bát làm thành một bức tranh trong bộ tứ bình. Mỗi bức tranh có vẻ đẹp riêng hòa kết bên nhau tạo vẻ đẹp chung. Đó là sự hài hòa giữa âm thanh, màu sắc… Tiếng ve của mùa hè, tiếng hát của đêm thu, màu xanh của rừng già, sắc đỏ của hoa chuối, trắng tinh khôi của rừng mơ, vàng ửng của hoa phách… Trên cái nền thiên nhiên ấy, hình ảnh con người hiện lên thật bình dị, thơ mộng trong công việc lao động hàng ngày.
– Nhận xét của tác giả Nguyễn Đăng Mạnh hoàn toàn xác đáng. Trước hết qua đoạn thơ, trên phương diện nội dung ta thấy, phong cảnh thiên nhiên đất nước mang bản sắc Việt Nam.
+ Thiên nhiên không chỉ có vẻ đẹp tự tại, không chỉ hé mở cho những tâm hồn riêng lẻ mà gắn liền với quê hương đất nước với đời sống lao động và chiến đấu, với sinh hoạt với những vui buồn của mỗi người Việt Nam. Bức tranh tứ bình trong bài thơ “Việt Bắc” được xem là một trong những bức họa đẹp nhất của núi rừng con người Việt Bắc.
– Trên phương diện hình thức nghệ thuật, tính dân tộc trong nghệ thuật của thơ Tố Hữu được thể hiện ở những nét chính sau đây: ngôn ngữ, nhạc điệu, hình ảnh, thể thơ đậm đà tính dân tộc.Lối cấu tứ, kết cấu giàu sắc thái ca dao,thể thơ dân tộc được vận dụng nhuần nhuyễn và sáng tạo.
+ Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học. Tính dân tộc trong ngôn ngữ được thể hiện một cách đặc sắc trong đoạn thơ bức tranh tứ bình. Nhà thơ đã vận dụng một cách nhuần nhuyễn và sáng tạo cặp đại từ nhân xưng “mình”, “ta” của ca dao xưa. Ở đầu đoạn thơ, cặp đại từ “mình”, “ta” được sử dụng một cách sinh động, linh hoạt mang nhiều sắc thái ngữ nghĩa. Cách xưng hô “mình”, “ta” trong lời đối đáp vốn là cách xưng hô của những đôi bạn tình trong ca dao tình yêu.
+ Việt Bắc được viết theo thể thơ lục bát với lối kết cấu như lời đối đáp của một đôi trai gái lúc xa nhau. Lục bát là thể thơ dân tộc, nó ăn sâu bắt rễ trong nhân dân mang cốt cách thuần túy Việt Nam. Tố Hữu đã vận dụng điêu luyện sáng tạo thể thơ lục bát, mang âm điệu dịu dàng duyên dáng của ca dao dân ca. Tiếng hát, tiếng ngâm, lời ru đã chắp cánh cho thơ Tố Hữu bay đến mọi miền của đất nước. Thể thơ lục bát với những ưu thế của nó đã giúp tác giả chuyển tải được những tình cảm thiết tha của cả người đi và kẻ ở trong buổi tiễn biệt.
+ Tính dân tộc trong đoạn thơ còn thể hiện ở nhạc điệu, cách gieo vần. Âm điệu thơ của Tố Hữu có đặc trưng riêng đó là sự ngọt ngào, tha thiết. Nó mượt mà, uyển chuyển, đằm thắm như lời ru của mẹ bằng lối đối đáp ân tình. Tố Hữu rất tài tình trong việc phối hợp các âm thanh, từ ngữ, tiết tấu, vần điệu của ngôn ngữ tiếng Việt để tạo nên một ngôn ngữ thơ giàu nhạc điệu, chứa đựng cảm xúc dân tộc.
+ Cũng trong đoạn thơ, ta bắt gặp những hình ảnh quen thuộc, gần gũi với cuộc sống lao động và chiến đấu của nhân dân. Đó là hình ảnh “hoa mơ”, “hoa chuối”, “rừng xanh”, “đèo”, “trăng rọi hòa bình”,…hết sức nồng ấm và luôn ăn sâu trong tâm khảm của người Việt.
* Kết bài:
– Với những nét chấm phá đơn sơ giản dị, vừa cổ điển vừa hiện đại, đoạn thơ trên của Tố Hữu đã làm nổi bật được bức tranh cảnh và người qua bốn mùa của chiến khu Việt Bắc. Cảnh và người hòa hợp với nhau tô điểm cho nhau, làm cho bức tranh trở nên gần gũi thân quen, sống động và có hồn hơn. Tất cả đã tan chảy thành nỗi nhớ nhung quyến luyến thiết tha trong tâm hồn người cán bộ về xuôi.
– Có thể nói, đây là một trong những đoạn thơ đặc sắc nhất, tài hoa nhất thấm đẫm tinh thần dân tộc trong bài “Việt Bắc”. Nó góp phần làm cho bài thơ xứng đáng là viên ngọc sáng long lanh trong kho tàng văn học hiện đại Việt Nam.

Nguồn tài liệu : FB thầy Phan Thế Hoài

Full bộ đề thi thử THPT Quốc gia môn văn, đề số 85

ĐỀ THI THỬ  THPT QUỐC GIA 2017 TRƯỜNG THPT BÌNH HƯNG HÒA, TP. HCM

I. ĐỌC HIỂU

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4:


Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhất
Nhưng Anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng
Và Anh chết trong khi đang đứng bắn
Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng.
Chợt thấy anh giặc hoảng hốt xin hàng
Có thằng sụp dưới chân anh tránh đạn
Bởi anh chết rồi, nhưng lòng dũng cảm
Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tiến công.
Anh tên gì hỡi Anh yêu quý
Anh vẫn đứng lặng im như bức thành đồng
Như đôi dép dưới chân anh giẫm lên bao xác Mỹ
Mà vẫn một màu bình dị, sáng trong
Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ
Anh chẳng để lại gì cho riêng Anh trước lúc lên đường
Chỉ để lại cái dáng đứng ViệtNamtạc vào thế kỷ
Anh là chiến sĩ Giải phóng quân.


(Dáng đứng Việt Nam, Lê Anh Xuân)


Câu 1. Chỉ ra những phương thức biểu đạt của đoạn thơ trên.
Câu 2. Ngôn ngữ được sử dụng trong đoạn thơ trên có đặc điểm gì?
Câu 3. Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ: “Anh vẫn đứng lặng im như bức thành đồng”.
Câu 4.
Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ
Anh chẳng để lại gì cho riêng Anh trước lúc lên đường
Chỉ để lại cái dáng đứng ViệtNamtạc vào thế kỷ
Anh là chiến sĩ Giải phóng quân.
Đoạn thơ trên đã gợi cho Anh/chị tình cảm gì của người chiến sĩ giải phóng quân?

II. LÀM VĂN


Câu 1. Từ văn bản, Anh/Chị hãy viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về đức hi sinh trong xã hội ngày nay.
Câu 2:
Những đường Việt Bắc của ta

Vui lên Việt Bắc, đèo De núi Hồng.
Cảm nhận của Anh/Chị về âm vang hào hùng của chiến thắng Điện Biên Phủ qua đoạn thơ trên.


HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI


Câu 1. Phương thức biểu cảm, tự sự.
Câu 2. Ngôn ngữ được sử dụng trong đoạn thơ trên có đặc điểm: tính hình tượng, tính truyền cảm, tính cá thể.
Câu 3. Biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ là so sánh.
– Tác dụng: làm nổi bật tư thế hiên ngang của người chiến sĩ mặc dù đã hy sinh; thể hiện thái độ ngưỡng mộ, khâm phục đối với người chiến sĩ.
Câu 4.
* (Gợi ý):
Khổ cuối bài thơ, giọng thơ chùng xuống như khúc tưởng niệm những con người bất diệt đã hy sinh vì nghĩa lớn. Ý thơ là lời khẳng định về ý nghĩa của cái chết. Dáng đứng của Anh và cuộc đấu tranh sôi sục của nhân dân Miền Nam đã tạc vào lịch sử một dấu son chói lọi. Sự ra đi của người chiến sĩ trên đường băng Tân Sơn Nhất năm nào sẽ là bệ phóng đưa đất nước lên tầm cao mới. Bài thơ ra đời năm 1968 mãi đến 7 năm sau Miền Nam mới hoàn toàn giải phóng và Lê Anh Xuân cũng hy sinh từ dạo ấy nhưng thi sĩ đã dự báo trước một mùa xuân sẽ đến trong tương lai.
II. LÀM VĂN
Câu 1:


* (Đoạn văn tham khảo):
Hy sinh, là hành động đánh đổi một thứ quan trọng với bản thân cho một điều khác được coi là đáng quí hơn. Sự hi sinh vẫn thường diễn ra ở bất cứ ngóc ngách nào của cuộc sống.Hàng ngày, ta cũng có thể thấy những hành động hy sinh, cho dù rất nhỏ: hành khách nhường chỗ ngồi cho một bà cụ, cha mẹ hy sinh thời gian để đưa đón đứa con đi học xa đến vài chục cây số, hay những thợ đào đường ban đêm để không làm ảnh hưởng đến sinh họat của người dân. Nhờ những sự hy sinh nhỏ bé này, mà một tập thể, xã hội mới có thể phát triển lành mạnh và bền vững. Thế nhưng không phải hành động hy sinh nào cũng được biểu dương, ca ngợi hết lời. Lý do là vì sự hy sinh cũng có nhiều nguồn gốc, nguyên nhân. Một người làm việc thu gom rác rưởi, bị người khác coi thường có phải vì anh ta nghĩ nghề đó sẽ giúp ích cho xã hội không? Những sinh viên đang ngồi trên ghế nhà trường có đáng được coi là anh hùng không khi họ bị đẩy ra ngoài chiến trận, ngầm mắng chửi thứ chiến tranh phi lý đã hủy hoại cuộc đời họ? Tồi tệ hơn, lại có những thứ hy sinh giả tạo, tưởng như là hy sinh nhưng thực chất lại để mua tiếng tốt về mình. Nguy hiểm nhất có lẽ là việc chúng ta tự cho rằng mình đang hi sinh vì người khác. Vậy nên, sự hự sinh thực sự có ý nghĩa khi nó thấm đẫm chất nhân văn cao cả.
(Bài viết của Hoàng Thùy Trang, Lớp 12, Trường THPT Chuyên Hà Nội – Amsterdam, người biên soạn có biên tập lại)


Câu 2:
* Mở bài:
Giới thiệu tác giả tác phẩm

Giới thiệu đoạn thơ và vấn đề nghị luận :Âm vang hào hùng của chiến thắng Điện Biên Phủ qua đoạn thơ trên.
* Thân bài:
– Đoạn thơ đã miêu tả cảnh quân và dân ta trong giai đoạn tổng phản công giành thắng lợi. Những câu thơ lồng lộng, ngợp say tạo nên bản hùng ca về cuộc chiến đấu chống Pháp gian khổ mà bất khuất của dân tộc:
“Những đường Việt Bắc của ta
Đêm đêm rầm rập như là đất rung”.
+ Khung cảnh sôi động của cuộc kháng chiến được miêu tả qua hình ảnh con đường; “những đường Việt Bắc của ta”. Cụm từ “của ta” thể hiện sự sở hữu cùng niềm tự hào dân tộc khi mỗi con đường, ngọn núi, dòng sông… đã thực sự trở về với với người dân Việt Nam. Đây cũng là cảm hứng chung từng xuất hiện trong bài “Đất Nước” của Nguyễn Đình Thi:
“Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta”.
+ Đối với Tố Hữu con đường là biểu tượng cho sự hợp sức chung lòng, sự mở rộng, lớn mạnh không ngừng. Lực lượng cách mạng từ trong những khó khăn trứng nước đã dần dần phát triển cả về chất và lượng, để rồi ngày hôm nay hợp lại tạo thành một khối đông đảo. Hình ảnh so sánh “Đêm đêm rầm rập như là đất nung” cùng với từ láy tượng thanh “rầm rập” miêu tả tiếng bước chân nhanh, mạnh, dứt khoát của một tập thể đông người, mỗi bước chân càng khiến trời đất dung chuyển và cuộc hành quân ra trận đã biến thành cuộc diễu binh mà mỗi con người trong đó như được nâng lên với tầm vóc vũ trụ. Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn được thể hiện rõ nét.
– Ở 4 dòng thơ tiếp theo, Tố Hữu đã tập trung miêu tả sức mạnh của hai đối tượng cụ thể nhưng có đóng góp lớn làm lên chiến thắng Việt Bắc hôm nay, đó là những anh bộ đội cụ Hồ và những người dân công:
“Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan
Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay”
+ Từ láy “điệp điệp, trùng trùng” có tác dụng miêu tả những đoàn quân như nối tiếp nhau trải dài không dứt, hết lớp này đến lớp khác. Họ không chỉ được miêu tả như tập thể đầy sức mạnh mà còn hiện lên chân thực, lãng mạn qua hình ảnh “ánh sao đầu súng” quen thuộc trong thơ ca thời kì chống Pháp. Nó khiến người đọc nhớ đến câu thơ “đầu súng trăng treo” trong bài thơ của Chính Hữu. Hình ảnh thơ của Tố Hữu có thể hiểu là ánh sao trời lấp lánh nơi đầu mũi súng, cũng có thể hiểu là ánh sao gắn trên mũ của những người lính trên đường hành quân ra mặt trận. Nếu hình ảnh thơ trong bài “Đồng chí” của Chính Hữu nêu cao mục đích đấu tranh là để bảo vệ hòa bình thì hình ảnh “ánh sao đầu súng” tượng trưng cho lí tưởng của những người lính. Từ “cùng” đã nối cảm hứng lãng mạn với chất hiện thực của cuộc chiến khi con người vượt lên khó khăn để sống và chiến đấu theo lý tưởng của mình. Trên con đường ra trận không chỉ có những người lính mà còn có những đoàn dân công trực tiếp vận chuyển lương thực vũ khí ra chiến trường:
“Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay”.
+ Biện pháp đảo ngữ đã nhấn mạnh lực lượng đông đảo thứ hai và cũng là những người quan trọng làm nên bản hùng ca cách mạng, đó là những đoàn dân công. Họ đi trong đêm, dưới những bó đuốc đỏ rực, dưới những tàn lửa bập bùng bay theo chiều gió như trải dài không ngớt tạo thành một không gian lung linh huyền ảo, mang âm hưởng huyền thoại. Cách nói thậm xưng “bước chân nát đá” khiến người đọc liên tưởng đến thành ngữ “chân cứng đá mềm”, đã nhấn mạnh sức mạnh thể chất và tinh thần của những con người hàng ngày tải lương ra chiến trường, chiến thắng mọi khó khăn gian khổ để góp phần làm nên chiến thắng. Dường như cả thiên nhiên đất trời và con người cùng hòa chung một ý chí quyết tâm “Rùng cây núi đá ta cùng đánh Tây”. Từ đó, Tố Hữu đã khái quát về thời khắc thiêng liêng của dân tộc:
“Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
Đèn pha bật sáng như ngày mai lên”.
+ “Nghìn đêm” là số từ chỉ ước lệ, miêu tả một quảng thời gian dài cả đất nước chìm trong màn đêm tăm tối của xiềng xích và áp bức nhưng đó cũng chính là khoảng thời gian mà chúng ta âm thầm chuẩn bị cho một cuộc kháng chiến hào hùng. Và từ trong gian khổ, ánh bình minh đã hé rạng, báo hiệu một ngày mới đang lên với niềm vui và sự hy vọng, lạc quan về một tương lai tươi sáng. Cả đoạn thơ ngập tràn ánh sáng: khi thì ánh sáng lấp lánh rực rỡ của ánh sao trời, cũng là ẩn dụ cho lý tưởng cách mạng của người chiến sĩ, khi thì hàng ngàn vạn ánh đuốc đỏ rực trong đêm… tất cả đã tạo nên một thứ ánh sáng khổng lồ soi tỏ màn đêm đen đang bao trùm. Biện pháp so sánh tạo nên cảm hứng lạc quan tràn đầy hy vọng cho con người. Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn được thể hiện ở niềm tin bất diệt vào tương lai tươi sáng cho đất nước.
– Bốn câu thơ cuối là những chiến thắng dồn dập trong giai đoạn tổng phản công:
“Tin vui thắng trận trăm miền
Hòa bình Tây Bắc, Điện Biên vui về
Vui từ Đồng Tháp, An Khê
Vui lên Viết Bắc, đèo De, núi Hồng”
+ Cả đoạn thơ thứ tám bài “Việt Bắc” mang âm hưởng dồn dập với điệp từ “vui” được nhắc tới bốn lần ở cả bốn dòng thơ: vui từ, vui về, vui lên… mở ra niềm hạnh phúc vỡ òa trước những chiến thắng vang dội và liên tiếp vọng về. Biện pháp liệt kê đã chỉ ra những chiến thắng nối tiếp nhau không dứt của quân và dân ta, chiến thắng này chưa qua thì chiến thắng khác đã dồn dập… Người đọc có thể cảm nhận được trái tim náo nức say mê của quân và dân “Việt Bắc” trong những ngày tháng oanh liệt hào hùng đó, niềm vui đó hòa chung với niềm vui toàn dân tộc và góp phần khẳng định chắc chắn về một ngày mai hòa bình trên khắp mọi nẻo đường cách mạng.
-> Với lối thơ lục bát ngọt ngào như ca dao, với chất thơ trữ tình cách mạng, thật sôi nổi, hào hùng, thiết tha, nhà thơ Tố Hữu trong đoạn thơ này đã thể hiện nổi bật khí thế hào hùng của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp ở Việt Bắc; đồng thời đoạn thơ còn thể hiện niềm lạc quan cách mạng, ý chí chiến đấu và chiến thắng kẻ thù, làm nên những chiến thắng vẻ vang, mang niềm vui về cho dân tộc. Đoạn thơ như một đoạn sử thi của cuộc kháng chiến chống Pháp.
* Kết bài:
– Mười hai câu thơ ngắn gọn với giọng thơ dồn dập gấp gáp, mạnh mẽ Tố Hữu đã dựng lên bức tranh Việt Bắc ra trận thật đẹp làm sống dậy những ngày tháng hào hùng của nhân dân ta trên căn cứ địa thần thành.
– Đoạn thơ này chính là khúc hùng ca về một thời oanh liệt của dân tộc Việt Nam ta. Tất cả là kỷ niệm sâu sắc trong lòng tác giả và người về xuôi.

(Đề sưu tầm)

Xem thêm : Bộ đề thi thử THPT Quốc gia môn văn có đáp án

Nghị luận ý kiến bàn về bài thơ Việt Bắc- Tố Hữu

Đề bài :Xuân Diệu cho rằng: “Tố Hữu đã đưa thơ chính trị lên đến trình độ là thơ rất đỗi trữ tình”. Anh (chị) hãy làm sáng tỏ ý kiến ấy qua đoạn thơ sau:

– “Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?
– Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”

Hướng dẫn cách làm :

* Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn thơ và ý kiến của Xuân Diệu về bài thơ Việt Bắc.
– Tố Hữu là lá cờ đầu của nền thi ca cách mạng Việt Nam. Thơ ông gắn liền với từng chặng đường lịch sử của đất nước. Việt Bắc là một trong những bài thơ hay của ông viết sau chiến thắng Điện Biên Phủ, là khúc ca hào hùng của cuộc kháng chiến chống Pháp, là khúc hát ân nghĩa thủy chung của tình quân dân thắm thiết.
– Mỗi thời kỳ lịch sử đi qua, Tố Hữu đều để lại dấu ấn riêng mang đậm hồn thơ trữ tình chính trị. Chính vì vậy khi nhận xét về bài thơ Việt Bắc, Xuân Diệu cho rằng: “Tố Hữu đã đưa thơ chính trị lên đến trình độ là thơ rất đỗi trữ tình”. Điều đó được thể hiện qua đoạn thơ sau:

– Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?
– Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

* Thân bài:

Ý 1 : Giải thích ý kiến, nhận định
– Thơ chính trị: Là thơ trực tiếp đề cập đến những vấn đề chính trị, những sự kiện chính trị nhằm mục đích tuyên tuyền, cổ động. Chính vì thế, thơ chính trị thường có nguy cơ rơi vào khô khan, áp đặt.
– Ý kiến của Xuân Diệu: Tố Hữu đã “trữ tình hóa” thơ chính trị, để thơ chính trị thực sự là thơ, có sức rung cảm sâu xa. Đây là ý kiến đánh giá rất cao về thơ Tố Hữu.

Ý 2 : Phân tích đoạn thơ để chứng minh nhận định

Trước khi phân tích đoạn thơ, học sinh cần nêu khái quát về tác phẩm : Hoàn cảnh sáng tác, nội dung, bố cục, thể thơ, nguồn cảm hứng,…(nếu những thông tin này đã viết ở phần mở bài rồi thì không nhắc lại trong phần thân bài nữa)
– Đoạn thơ mở ra với cảnh chia tay lưu luyến đầy xúc động của những người đã từng gắn bó suốt mười lăm năm ấy, có biết bao kỉ niệm ân tình. Bao trùm trong tâm trạng kẻ ở người đi là nỗi nhớ da diết mênh mang với nhiều sắc thái khác nhau. Bốn câu thơ đầu là lời của người Việt Bắc:
Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn ?
+ Nhà thơ để cho người ở lại lên tiếng trước. Hai đại từ “mình” – “ta” được lặp lại nhiều lần. Đó là cách xưng hô thân mật lấy trong ca dao, dân ca, là lời xưng hô trong tình yêu lứa đôi, nghe thiết tha bâng khuâng được Tố Hữu sử dụng rất linh hoạt. “Mình” là người cán bộ về xuôi, “ta” là người Việt Bắc.
+ Cụm từ “mười lăm năm ấy” gợi nhắc câu Kiều của Nguyễn Du:
Mười lăm ấy biết bao nhiêu tình.
đó là sự kế thừa thơ ca truyền thống của dân tộc của Tố Hữu. Câu hỏi tu từ “có nhớ ta”, “có nhớ không” nghe da diết, nhắn nhủ, tâm tình.
– Ở bốn câu đầu này, người Việt Bắc hỏi người cán bộ có nhớ Việt Bắc không. Nghĩa là có nhớ quê hương cách mạng, cội nguồn cách mạng không? Hỏi mà là nhắc nhở, nhắn gửi người về đừng quên Việt Bắc, đừng quên chính mình. Lời hỏi cũng là lời nhắc nhở, nhắn gửi người về đừng quên Việt Bắc.
– Bốn câu thơ tiếp là lời người cán bộ về xuôi. Đáp lại lời của người Việt Bắc,người cán bộ cất tiếng thiết tha:
Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân ly
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay.
+ “Ai” là đại từ phiếm chỉ, chỉ người Việt Bắc.
+ Các từ láy: “tha thiết”, “bâng khuâng”, “bồn chồn” đặc tả chính xác tâm trạng vấn vương, lưu luyến, bịn rịn.
+ “Áo chàm”: Nghệ thuật hoán dụ để chỉ đồng bào Việt Bắc, vì người Việ Bắc thường mặc áo chàm. Màu chàm là màu đơn sơ, chân thực, không lòe loẹt mà giản dị, chân thành, chung thủy. Câu thơ “Áo chàm…phân li” ngắt nhịp 3/3 tạo khoảng lặng lắng đọng cảm xúc. Đó có thể là khoảnh khắc người dân Việt Bắc không thốt nên lời hay đang buông tiếng nấc nghẹn ngào tha thiết.
+ Câu hỏi tu từ và dấu “chấm lửng” ở cuối câu: “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…” thể hiện tình cảm tha thiết. Ngôn ngữ bàn tay nóng ấm gắn với trái tim đầy xúc động. Biết nói gì, không phải là không biết nói gì, không có gì để nói mà là biết nói sao cho thỏa nỗi nhớ thương.
– “Việt Bắc” chỉ với tám dòng thơ mở đầu, người đọc cảm nhận một cách khá đầy đủ âm hưởng chung của cả bài thơ, âm hưởng khúc hát đối đáp, khúc hát ru nhẹ nhàng sâu lắng. Cùng với ngôn ngữ đậm màu sắc trữ tình của ca dao chúng ta có thể cảm nhận một cách sâu sắc đặc trưng trữ tình chính trị của thơ Tố Hữu.
– Ý kiến của Xuân Diệu rất xác đáng và tinh tế, đánh giá, ghi nhận đúng vị trí đặc biệt và thành tựu lớn lao của đời thơ Tố Hữu.
– Thơ Tố Hữu đúng là thơ chính trị, bởi đề tài trong thơ Tố Hữu là những vấn đề chính trị, hồn thơ Tố Hữu luôn hướng tới cái ta chung với lẽ sống lớn, tình cảm lớn và niềm vui lớn của Đảng, dân tộc, cách mạng.
– Nhưng thơ Tố Hữu cũng rất đỗi trữ tình. Tố Hữu đã đưa thơ trữ tình chính trị lên đến đỉnh cao. Có được điều ấy là nhờ những vấn đề chính trị trong thơ Tố Hữu đã được thực sự chuyển hóa thành những vấn đề của tình cảm, cảm xúc rất mực tự nhiên, chân thành, đằm thắm với một giọng thơ ngọt ngào, tâm tình, giọng của tình thương mến.
* Kết bài:
– Đoạn thơ trên sử dụng thể thơ lục bát đậm đà bản sắc dân tộc. Lối hát đối đáp tạo ra giai điệu trữ tình phong phú cho bài thơ. Nhiều biện pháp tu từ được tác giả vận dụng khéo léo (Hoán dụ, câu hỏi tu từ, điệp từ,…). Ngôn ngữ trong sáng, nhuần nhị, và có nhiều nét cách tân.
– Tám câu thơ đầu khái quát cảm xúc bao trùm bài thơ: Tình cảm gắn bó, ân tình, thủy chung sâu nặng giữa người dân Việt Bắc và chiến sĩ cách mạng được diễn tả chân thật, tha thiết, trìu mến. Chính tình quân dân cao quý này đã góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng.

Tài liệu sưu tầm

Xem thêm tuyển tập đề nghị luận ý kiến bàn về văn học :http://vanhay.edu.vn/tag/nghi-luan-y-kien-ban-ve-van-hoc

Full tài liệu về bài thơ Việt Bắc : http://vanhay.edu.vn/tag/viet-bac

Tính dân tộc trong đoạn thơ Việt Bắc – Tố Hữu :Mình về mình có nhớ ta

Tài liệu ôn thi THPT Quốc gia môn văn. Đề minh họa kì thi THPT Quốc gia soạn theo cấu trúc mới.

Bộ đề ôn thi về bài Việt Bắc- Tố Hữu

Đề bài :

Tính dân tộc của thơ Tố Hữu qua đoạn thơ sau:

 Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?

– Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

                                                                        ( Việt Bắc – Tố Hữu)

Đáp án :

Mở bài :

– Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Tính dân tộc của thơ Tố Hữu qua 8 dòng đầu bài thơ Việt Bắc.

Thân bài :  Có thể trình bày theo định hướng sau:

Luận điểm 1 : Giới thiệu vài nét  về tác giả, tác phẩm và vị trí đoạn thơ Việt Bắc

Hoàn cảnh sáng tác:

  • Tháng 10-1954, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, các cơ quan TW Đảng và chính phủ từ Việt Bắc về lại Hà Nội.
  • Trong không khí bịn rịn nhớ thương của kẻ ở người đi, Tố Hữu làm bài thơ này.

Kết cấu:

– Theo lối hát giao duyên ( đối đáp)

– Mình- ta: nhân vật trữ tình tự phân thân để giãi bày tâm sự

– Mình: + Có thể là nhà thơ

+ Những cán bộ khác từ miền xuôi lên VB

– Ta :  + Nó thể là con người VB

+ Là núi đồi, nương, suối

Cũng có lúc là một: trong sự biến hoá

Đoạn trích : Nằm ở phần đầu bài thơ

 

Luận điểm 2 : Bàn luận về tính dân tộc của thơ Tố Hữu qua đoạn thơ:
Ý1. Sơ lược về tính dân tộc trong thơ Tố Hữu:
– Tính dân tộc là những dấu ấn độc đáo, không lặp lại, biểu hiện những gì là bản sắc, là những nét riêng biệt đặc thù của một dân tộc.
-Tính dân tộc trong văn học được thể hiện ở phương diện nội dung và  nghệ thuật

+ Ở phương diện nội dung: phản ánh những vấn đề của hiện thực đời sống cách mạng, những tình cảm chính trị có sự gắn bó, hòa nhập với truyền thống tình cảm và đạo lí của dân tộc.
+ Ở phương diện nghệ thuật: sử dụng các thể thơ dân tộc, lối nói truyền thống của dân tộc (cách so sánh, ẩn dụ, hiện tựợng chuyển nghĩa, cách diễn đạt gần với ca dao dân ca).

Ý2. Tính dân tộc của thơ Tố Hữu qua đọan thơ:

– Ở phương diện nội dung:

  • Đoạn thơ tái hiện cuộc chia tay lưu luyến giữa người dân Việt Bắc và người cán bộ cách mạng.
    Bốn câu thơ đầu là lời ướm hỏi dạt dào tình cảm của người ở lại,khơi gợi kỉ niệm về một giai đoạn đã qua, về không gian nguồn cội nghĩa tình, thể hiện tâm trạng nhớ thương, tình cảm gắn bó, thủy chung của quê hương Việt Bắc, con người Việt Bắc dành cho người về xuôi.
  • Bốn câu sau là tiếng lòng của người cán bộ cách mạng về xuôi: tâmtrạng bâng khuâng, bồn chồn đầy lưu luyến, bịn rịn của người kháng chiến đối với cảnh và người Việt Bắc.
  • Nghĩa tình sâu nặng của người kháng chiến đối với chiến khu ViệtBắc, của quần chúng đối với cách mạng trong thơ Tố Hữu là sự kế thừa tình cảm, đạo lý sống của con người Việt Nam “Uống nước nhớ nguồn”, ân nghĩa thủy chung.

– Ở phương diện nghệ thuật:

  • Thể thơ lục bát: Tố Hữu đã vận dụng và phát huy được ưu thế củathể thơ lục bát, một thể thơ dân tộc có nhạc điệu nhẹ nhàng, uyển chuyển rất phù hợp để bộc lộ tình cảm, cảm xúc của kẻ ở, người về.
  • Kết cấu đối đáp quen thuộc của ca dao.
  • Sử dụng tài tình đại từmình – ta.
    Lối nói truyền thống được thể hiện qua biện pháp hoán dụ. Câu thơgiàu nhạc điệu với hệ thống từ láy, cách ngắt nhịp…
    Tất cả đã làm nên giọng thơ tâm tình ngọt ngào, tha thiết. Đoạnthơ là khúc hát ru kỉ niệm, khúc hát ân nghĩa, ân tình.

Kết bài : . Đánh giá chung
– Đoạn thơ nói riêng và bài thơ Việt Bắc nói chung là minh chứng cho sự thành công của thơ Tố Hữu trong việc kết hợp hai yếu tố: Cách mạng và Dân tộc trong hình thức đẹp đẽ của thơ ca.
– Tính dân tộc là một trong những đặc điểm nổi bật làm nên phong cách thơ Tố Hữu. Thơ Tố Hữu mang vẻ đẹp của thơ ca truyền thống nhưng vẫn mang đậm hồn thơ của thời đại Cách mạng.

Xem thêm rất nhiều đề thi về bài Việt Bắc ở link này :http://vanhay.edu.vn/tag/viet-bac