Chuyên đề Ngữ văn 10 theo định hướng phát triển năng lực, chủ đề văn bản thuyết minh

Chuyên đề Ngữ văn 10 theo định hướng phát triển năng lực, chủ đề văn bản thuyết minh

Chuyên đề: VĂN BẢN THUYẾT MINH

 

Chuẩn kiến thức, kỹ năng

– Trình bày, phân tích được các hình thức kết cấu cơ bản của văn bản thuyết minh.

– Xây dựng được kết cấu cho bài văn thuyết minh về các đối tượng theo kiểu giới thiệu, trình bày.

– Thấy được sự cần thiết của việc lập dàn ý khi làm văn nói chung và viết bài làm văn thuyết minh nói riêng.

– Hiểu thế nào là tính chuẩn xác, tính hấp dẫn của văn bản thuyết minh.

– Hiểu rõ tầm quan trọng của phương pháp thuyết minh và những yêu cầu đối với việc vận dụng phương pháp thuyết minh.

– Nắm được một số phương pháp thuyết minh cụ thể.

– Tóm tắt được một văn bản thuyết minh có nội dung đơn giản về một sản vật, một danh lam thắng cảnh, một hiện tượng văn học.

– Rèn kỹ năng nhận diện, phân tích và xây dựng kết cấu, bố cục văn bản thuyết minh theo ba kiểu vừa học.

– Vận dụng các kỹ năng về văn thuyết minh và lập dàn ý cho một bài văn thuyết minh có đề tài gần gũi với cuộc sống hoặc công việc học tập.

– Rèn kĩ năng và có ý thức viết văn bản thuyết minh có tính chuẩn xác và hấp dẫn.

– Rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn có liên kết câu và đúng kiểu bài văn thuyết minh.

– Thích thú đọc và viết văn thuyết minh trong nhà trường cũng như theo yêu cầu của cuộc sống.

Từ đó học sinh có thể hình thành các năng lực sau:

+ Năng lực thu thập thông tin liên quan đến văn bản.

+ Năng lực giải quyết những tình huống đặt ra trong văn bản.

+ Năng lực trình bày miệng, trình bày suy nghĩ, cảm nhận cá nhân về ý nghĩa của văn bản.

+ Năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận về nội dung, nghệ thuật của văn bản.

+ Năng lực tạo lập văn bản.

 Lập bảng mô tả các mức độ đánh giá của chủ đề: Văn bản thuyết minh

 

Nhận biết Thông hiểu Vận dụng
Vận dụng thấp Vận dụng cao
– Nắm được các khái niệm của văn bản thuyết minh, phương pháp thuyết minh, các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh.

– Nhận biết được bố cục ba phần của bài văn thuyết minh.

– Nhận diện về các biểu hiện của tính chuẩn xác, hấp dẫn của văn bản thuyết minh qua các ví dụ cụ thể.

– Nhận biết một số phương pháp thuyết minh cụ thể.

 

– Hiểu và lựa chọn hình thức kết cấu cho văn bản thuyết minh phù hợp với đối tượng thuyết minh.

– Hiểu được cách lập dàn ý cho bài văn thuyết minh.

– Hiểu thế nào là tính chuẩn xác, hấp dẫn của văn bản thuyết minh.

– Hiểu rõ tầm quan trọng của phương pháp thuyết minh và những yêu cầu đối với việc vận dụng phương pháp thuyết minh.

– Hiểu được cách tóm tắt văn bản thuyết minh.

– Sưu tầm và phân tích một số văn bản thuyết minh để nhận ra tính hợp lí trong kết cấu của văn bản thuyết minh.

– Lập được dàn ý cho một bài văn thuyết minh có đề tài gần gũi quen thuộc.

– Sưu tầm và tìm hiểu một số văn bản thuyết minh và chỉ ra tính chuẩn xác, hấp dẫn.

– Lấy ví dụ có sử dụng các phương pháp thuyết minh đã học và nhận xét về sự lựa chọn, vận dụng phối hợp các phương pháp thuyết minh.

– Chọn một văn bản thuyết minh và tóm tắt văn bản thuyết minh đó.

– Xây dựng được kết cấu cho văn bản phù hợp với đối tượng thuyết minh.

– Tự đưa ra vấn đề thuyết minh và luyện tập lập dàn ý cho bài văn thuyết minh.

– Viết một đoạn văn thuyết minh về một thắng cảnh hoặc một di tích lịch sử có tính chuẩn xác, hấp dẫn.

– Viết một đoạn văn có vận dụng các phương pháp thuyết minh vừa học.

– Vận dụng những kiến thức đã học về văn bản thuyết minh để tạo lập văn bản thuyết minh.

 

 

III. Câu hỏi/Bài tập minh họa:

                          Bài: Tính chuẩn xác, hấp dẫn của văn bản thuyết minh

Nhận biết Thông hiểu Vận dụng
Thấp Cao
– Thế nào là tính chuẩn xác của văn bản thuyết minh?

– Nêu một số biện pháp làm cho văn bản thuyết minh có tính chuẩn xác?

– Thế nào là tính hấp dẫn của văn bản thuyết minh?

– Nêu một số biện pháp tạo tính hấp dẫn cho văn bản thuyết minh?

– Nêu mục đích của văn bản thuyết minh chuẩn xác, hấp dẫn.

– Hiểu được vai trò của tính chuẩn xác đối với văn bản thuyết minh.

– Hiểu được những biện pháp đảm bảo tính chuẩn xác của văn bản thuyết minh.

–  Hiểu được vai trò của tính hấp dẫn đối với văn bản thuyết minh.

– Hiểu được những biện pháp đảm bảo tính hấp dẫn của văn bản thuyết minh.

– Hiểu được mục đích của tính chuẩn xác, hấp dẫn trong văn bản thuyết minh.

Cho một đoạn văn thuyết minh và chỉ ra tính chuẩn xác trong đoạn văn đó.

Cho một đoạn văn thuyết minh và chỉ ra tính hấp dẫn trong đoạn văn đó.

– Cho một đoạn văn thuyết minh chuẩn xác, hấp dẫn và cho biết tác giả đã sử dụng những biện pháp gì.

 

 

 

 

 

 

 

 

Viết một đoạn văn thuyết minh về một thắng cảnh hoặc một di tích lịch sử có tính chuẩn xác, hấp dẫn.

– Tạo lập văn bản thuyết minh.

 

ĐỀ KIỂM TRA:

MA TRẬN ĐỀ

 

      Mức độ

Chủ đề

Nhận biết Thông hiểu Vận dụng Tổng
Thấp Cao
I. Đọc hiểu Nhận biết được nội dung thuyết minh.

Các phương pháp thuyết minh

Tính chuẩn xác, hấp dẫn trong văn bản thuyết minh.

 

Số câu

Số điểm:

Tỷ lệ

 

3

30%

3

30

30%

 

 

 

 

 

 

II. Làm văn

 

Giới thiệu được thân thế sự nghiệp, những đóng góp, cống hiến  của một tác giả văn học,  một danh nhân, một nhà khoa học…

Nêu được thời gian, địa điểm, không gian, những đặc điểm nổi bật của di tích thắng cảnh.

Hiểu được những đóng góp, giá trị, ý nghĩa của những cống hiến, đóng góp tác giả văn học,  một danh nhân, một nhà khoa học…, của thắng cảnh, di tích lịch sử. Vận dụng các kiểu kết cấu, bố cụ, các phương pháp thuyết minh để làm bài

 

 

Viết hoàn chỉnh một bài văn thuyết minh có bố cục chặt chẽ, chính xác, hấp dẫn.

Số câu

Số điểm:

Tỷ lệ

 

2

20%

 

2

20%

 

2

20%

 

1

10%

1

10

100%

 

ĐỀ VÀ HÌNH THỨC RA ĐỀ

Hình thức: Tự luận; Thời gian 90 phút

Đề:

Đọc hiểu ( 3đ):

 Đọc đoạn văn thuyết minh sau và cho biết:

“ Từ trong Đảo Ngọc giữa hồ, nhũng cây đa, cây si, cây sanh, cây đề và những cây gạo mà đầu đình làng nào cũng sum sê. Những gốc gạo hiền lành, xù xì như tảng đá vì những nhát dao tước vỏ cây từ thủa trong phố còn những cột đèn dầu thắp ở ngã tư dường thập đạo, người ta lấy vỏ gạo về làm thuốc bóp chân sái, tay gãy – những bài thuốc ai cũng thuộc”

( Cây Hồ Gươm-Tô Hoài)

  1. Đoạn văn nói về điều gì?
  2. Phương pháp thuyết minh của đoạn văn?
  3. Tính chuẩn xác, hấp dẫn của đoạn văn?
  4. Làm văn:

Anh (chị ) hãy viết bài văn dài khoảng 300 từ thuyết minh về tác giả Nguyễn Trãi.

V.Hướng dẫn chấm, đáp án

Đọc hiểu ( 3đ):

 

Câu Đáp án Điểm
1 Các loài cây trồng giữa Đảo Ngọc Hồ Tây 1
2 Phương pháp liệt kê

Phương pháp chú thích

0.5

0.5

3 Kể tên đúng các loài cây có trên Đảo Ngọc Hồ Tây

So sánh làm nổi bật đặc điểm của cây gạo

0.5

0.5

Làm văn( 7đ):

 

Ý Nội dung Điểm
Yêu cầu về kĩ năng:

Biết cách làm bài văn thuyết minh (thuyết minh về tác giả văn học đã được học) có bố cục, kết cấu chặt chẽ; diễn đạt lưu lóat; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp; đảm bảo các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh và tính chuẩn xác, hấp dẫn của văn văn thuyết minh; ngoài ra có sự kết hợp giữa yếu tố biểu cảm và tự sự.

Yêu cầu về kiến thức:

Trên cơ sở nắm được kiến thức về tác giả văn học Nguyễn (đã học). Học sinh sẽ thuyết minh về tác giả này với những nội dung cụ thể (về cuộc đời, sự nghiệp thơ văn; ảnh hưởng và vị trí của Nguyễn Trãi..). Học sinh có thể thuyết minh bằng nhiều cách khác. Dưới đây là những gợi ý:

a Giới thiệu khái quát về Nguyễn Trãi, những  ấn tượng sâu đậm của bản thân về ông… 0.5
b – Giới thiệu một số thông tin cá nhân: họ tên, quê quán, năm sinh, năm mất, con người, gia đình, …

– Giới thiệu hoàn cảnh lịch sử, thời đại có tác động qua lại đối với cuộc đời và sự nghiệp của tác giả.

– Những biến có thăng trầm (thuở nhỏ, trưởng thành với công danh, cảnh nứơc mất nhà tan, cùng Lê Lợi đánh giặc, xây dựng hòa bình, ở ẩn và án tru di tam tộc (Lệ Chi Viên)

– Giới thiệu sự nghiệp sáng tác của tác giả: các giai đoạn và các tác phẩm tiêu biểu (giá trị nội dung tác phẩm (không bắt buộc). Nguyễn Trãi vừa là nhà văn, nhà thơ, vừa là nhà quân sự, chính trị, ngoại giao, lịch sử, đại lí…

+ Là nhà văn chính luận kiệt xuất (biểu hiện: tác phẩm tiêu biểu, tư tưởng yêu nứơc, thương dân, suốt đời phấn đấu vì lý tưởng đó,…)

+ Là nhà thơ trữ tình sâu sắc (biểu hiện qua: tình yêu thiên nhiên, cuộc sống,  yêu nứơc thương dân, tấm lòng vì dân, vì nứơc, tình cảm với quê hương, tình cha con, vua tôi, tình bạn bè; tác phẩm tiêu biểu…)

– Những đóng góp của Nguyễn Trãi có giá trị tư tưởng và nghệ thuật qua các tác phẩm.

1.0

 

0.5

 

1.0

 

 

1.0

 

 

 

0.5

 

 

 

1.0

 

 

1.0

c Vị trí, tầm vóc và sự ảnh hưởng của Nguyễn Trãi trong lịch sử văn học dân tộc. 0.5
Lưu ý:

– Về cơ bản bài thuyết minh này chủ yếu học sinh làm rõ: Nguyễn Trãi là nhân vật toàn tài, là anh hùng dân tộc (nhà văn chính luận kiệt xuất,…), là danh nhân văn hóa (những đóng góp)….

– Chỉ cho điểm tối ra đối với những bài làm đạt cả kĩ năng và kiến thức.

 Xem thêm : Trọn bộ giáo án Ngữ văn soạn theo hướng đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá

(Tài liệu sưu tầm )

Giáo án ngữ văn 10 

Giáo án ngữ văn 11

Giáo án ngữ văn 12

Thuyết minh về trại hè 26-3

Ngày 26-3-2016, trường THPT Hoa Lư A – Ninh Bình chúng mình tổ chức cắm trại 26-3 và chuyên đề ngoại khóa cấp tỉnh với nội dung Đoàn viên thanh niên trường THPT Hoa Lư A với kĩ năng công tác đoàn và chủ quyền biển, hải đảo Việt Nam. Qua hoạt động ngoại khóa này, chúng mình được biết thêm nhiều kiến thức bổ ích về vấn đề chủ quyền biển, hải đảo hiện nay cũng như vai trò, trách nhiệm của thanh niên với vấn đề chủ quyền biển, đảo.

Sau đây, mình xin giới thiệu với các bạn bài thuyết minh về trại hè 26-3 của lớp mình: 12C – K41- THPT Hoa Lư A – Ninh Bình (Bản quyền thuộc về Thế Anh – 12C – Hoa Lư A)

THUYẾT TRÌNH VỀ TRẠI

Chi đoàn 12C: Đảo Vân Đồn

Kính thưa ban giám khảo, các thầy cô giáo và cùng toàn thể các bạn !

Chào mừng hội trại 26/3 Kỉ niệm 85 thành lập đoàn TNCS Hồ Chí Minh của Đoàn trường THPT Hoa Lư A, sau đây là phân thuyết trình về trại của chi đoàn 12C:

Cuộc đấu tranh gìn giữ biển đảo quê hương đã để lại những dấu ấn không thể phai mờ trong lòng dân tộc. Nhìn lại chặng đường dài của những trang sử hào hùng ấy, bất chợt em có cảm giác rất lạ: bồi hồi, tiếc thương, cảm động. Và trên hết là kính phục sự quả cảm, anh dũng của các chiến sĩ đang ngày đêm chiến đấu bảo vệ quê hương.

Tập thể chi đoàn 12C chúng em trước hết muốn dành tình cảm cho những người lính biển, những người ngày đêm đang vững chắc cây súng trên mình bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc.

Chi đoàn 12C chúng em rất vinh dự khi được mang tên Đảo Vân Đồn (Huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh) một huyện đảo nhỏ nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Quảng Ninh. Với diện tích 551,3 km2, Vân Đồn là một quần đảo vòng quanh phía Đông và Đông Bắc vịnh Bái Tử Long, gồm khoảng 600 hòn đảo lớn nhỏ. Đảo lớn nhất là đảo Cái Bầu, diện tích chiếm hơn nửa diện tích đất đai của huyện. Huyện đảo Vân Đồn có vị trí tiếp giáp là: phía Tây Bắc giáp với vùng biển huyện Tiên Yên, đông bắc giáp với vùng biển huyện Đầm Hà, phía tây giáp Thành phố Cẩm Phả, phía Đông giáp vùng biển huyện Cô Tô, phía Tây Nam giáp vịnh Hạ Long, thành phố Hạ Long và vùng biển Cát Bà thuộc thành phố Hải Phòng, phía nam là vùng biển ngoài khơi Vịnh Bắc Bộ. Với vị trí địa lí như vậy, Vân Đồn có vai trò quan trọng trong việc khai thác, phát triển kinh tế biển, chính trị, xã hội.

Trại hè thanh niên 12C được thiết kế với chủ đề: “Thanh niên với chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ Quốc”. Cao nhất là lá cờ đỏ sao vàng Tổ Quốc tung bay trong gió, luôn nhắc nhở mỗi đoàn viên, thanh niên chúng ta phải đặt Tổ Quốc, quê hương lên trên hết và cần ra sức cố gắng nỗ lực học tập để vươn cao, vươn xa hơn nữa. Song hành cùng lá cờ Tổ Quốc là huy hiệu Đoàn, biểu tượng cho tinh thần thanh niên: xung kính, sáng tạo…

Tiếp theo, bên trong trại là hình ảnh cánh buồm, hình ảnh thu nhỏ của Tổ Quốc (chữ S), ngọn hải đăng… Ngọn hải đăng đưa đường chỉ lối cho những con tàu vượt muôn trùng biển khơi. Dù trong phong ba bão táp vẫn hiên ngang, cùng các anh chiến sĩ bảo vệ vùng biển thiêng liêng của Tổ Quốc. Tiếp đến là hình ảnh chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại của chúng ta, hình ảnh mâm ngũ quả. Phía kia là góc sáng tạo trẻ của đoàn viên thanh niên chi đoàn 12C. Góc sáng tạo trẻ này là những sự sáng tạo đổi mới, thể hiện sức trẻ, sự say mê, lòng nhiệt huyết của thanh niên chi đoàn trong công cuộc nghiên cứu, tìm tòi và sáng tạo.

          Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến đã viết:

“Nếu Tổ quốc đang bão giông từ biển

Có một phần máu thịt ở Hoàng Sa

Ngàn năm trước con theo cha xuống biển

Mẹ lên rừng thương nhớ mãi Trường Sa…”

Chiến tranh đã lùi xa nhưng những phẩm chất tốt đẹp của người lính Cụ Hồ vẫn còn lưu giữ và nối tiếp qua các thế hệ con người Việt Nam. Và ngày hôm nay, những phẩm chất ấy lại sáng ngời khi các chiến sĩ hải quân thân yêu đang mang trọng trách vẻ vang gìn giữ nền hòa bình cho dân tộc, cho Tổ quốc Việt Nam . Nơi Trường Sa sương gió, các chiến sĩ ta đang ngày đêm bảo vệ vùng trời Tổ Quốc. Tôi chưa một lần đến Trường Sa, chỉ biết nơi đó qua sách địa lý, là quần đảo cách đất liền 250 hải lý .Tôi còn biết đến Trường Sa qua những bài hát về Trường Sa thân yêu, hát về biển đảo Tổ quốc, ấn tượng sâu sắc hơn cả là khí phách của các anh lính đảo vượt lên trên tất cả những thiếu thốn về lương thực và nguồn nước ngọt, vượt qua những cơn lốc xoáy và gió giật mạnh, khi thì rét run người với cái lạnh hay cái nóng rám da của vùng biển đảo. Trong tất cả những khó khăn ấy, điều khó khăn nhất là các anh phải vượt qua chính bản thân mình. Giữa mênh mông chông chênh của biển khơi, sự bao la vô hạn của không gian khiến người ta cảm thấy chơi vơi và cô đơn hơn bao giờ hết.Tuy vậy, những người lính ấy đã biến niềm nhớ nhung, niềm yêu thương gia đình thành động lực để hoàn thành tốt nhiệm vụ. Bởi các anh đang ngày đêm đem sự bình yên cho Tổ Quốc, cho cả dân tộc, trong đó có người thân của chính các anh. Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình, những chàng trai không những đem đến niềm tự hào, niềm hạnh phúc cho những người thân yêu mà cả dân tộc cũng hạnh phúc nhờ sự yên bình mà các anh mang lại.

Là con dân Việt Nam, mang trong mình dòng máu Việt ấm nồng, hai từ Tổ Quốc trong tim mỗi người vang lên như là điều thiêng liêng, bất hủ nhất. Biển đảo quê hương vẫn ngày đêm vỗ sóng từ nơi xa, như những giai điệu ca ngợi về một đất nước Việt Nam huyền thoại, ca ngợi về tình yêu quê hương đất nước của những chiến sĩ hải quân đang miệt mài canh giữ biển trời quê hương. Dù chiến tranh đã lùi xa nhưng biển Đông vẫn dậy sóng. Biển luôn cần sự nỗ lực của các anh lính biển, luôn cần sự sẻ chia, tiếp sức của mỗi chúng ta.

Xin mượn âm thanh của gió, của sóng biển, chúng em xin gửi tới các chiến sĩ hải quân nơi đầu sóng, ngọn gió sự đồng cảm, kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất.

Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô và các bạn đã chú ý lắng nghe phần thuyết trình của chi đoàn 12C chúng em. Kính chúc các thầy cô giáo mạnh khỏe, hạnh phúc, công tác tốt. Chúc hội trại chúng ta thành công tốt đẹp. Em xin chân thành cảm ơn!

Bài thi vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết tình huống thực tiễn dành cho học sinh Trung học

Bài thi vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết tình huống thực tiễn  dành cho học sinh Trung học

 

I.TÊN TÌNH HUỐNG:

 Tình huống: Một lần làm hướng dẫn viên du lịch

Chú em là người làm ăn xa quê nay muốn về nước để phát triển nền du lịch ở quê hương Ninh Bình. Nhân dịp có một đoàn khách lớn từ miền Nam xa xôi ra thăm quan du lịch, em được chú nhờ làm một hướng dẫn viên du lịch nhí để giới thiệu cho họ rõ hơn về các địa điểm du lịch ở quê hương em và một số các hình thức sinh hoạt văn hóa khác.

II.MỤC TIÊU GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG

   -Nhóm chúng em có quyết định giải quyết tình huống với mục đích như sau:

       + Nâng cao hiểu biết của chính bản thân mình qua cách giải quyết tình huống đó

       + Giúp cho đoàn khách đó có thể hiểu hơn về quê hương Ninh Bình nơi em sinh ra lớn lên đặc biệt là về ngành du lịch; giới thiệu sơ lược về lịch sử địa lý qua các triều đại phong kiến và qua hai cuộc kháng chiến hào hùng chống Pháp và chống Mĩ của quê hương Ninh Bình yêu dấu.

       + Cung cấp cho đoàn khách đó thêm một số  hiểu biết về nền công nghiệp và nông nghiệp quê em thông qua một số kiến thức thực tế.

       + Ngoài ra còn có thể giới thiệu về một số các hình thức sinh hoạt văn hóa trên quê hương Ninh Bình của em

        + Giới thiệu những khu du lịch, khu di tích lịch sử, hay cả những danh thắng trên quê hương em.

III.TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG  

  • Trong quá trình giải quyết tình huống chúng em có sử dụng một số tư liệu sau

+  Tư liệu về các cảnh quan du lịch của tỉnh Ninh Bình của các nhà xuất bản trong cả nước

+  Vốn kiến thức của chính bản thân mình

+   Sử dụng kiến thức môn Văn để có thể giới thiệu  hay về các thắng cảnh, các di tích lịch sử, khu du lịch và bảo tồn thiên nhiên.

+   Sử dụng kiến thức về môn Giáo dục công dân để củng cố chính sự tự tin của bản thân trong khi nói và biết yêu thiên nhiên, yêu rừng, yêu môi trường. Qua đó mới có thể vận dụng hay kiến thức của môn  Văn để giới thiệu.

+   Sử dụng kiến thức về môn Lịch sử để giới thiệu sơ qua về lịch sử quê hương em qua các triều đại phong kiến như: Đinh, Tiền Lê, Lí, Trần, thời Tây Sơn và nhà Nguyễn.

+   Sử dụng kiến thức về môn Địa lý để giới thiệu về vị trí địa lý của các địa điểm du lịch nổi tiếng ở quê em như Tràng An-Bái Đính, Tam cốc bích động, chiến khu Quỳnh Lưu, nhà thờ đá Phát Diệm.

+  Các kiến thức thực tiễn trong cuộc sống hàng ngày, qua cách thu thập các bài ca dao dân ca để hiểu thêm về những giá trị nhân  văn trong cuộc sống, về các món ăn đặc sản nổi tiếng như thịt dê núi và cơm cháy, với chén rượu Kim Sơn nức tiếng gần xa.

+ Tìm hiểu qua mạng In-tơ-net.

IV.GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG

  • Nhóm chúng em sẽ giải quyết tình huống bằng cách viết một bài văn ngắn giới thiệu sơ qua về Lịch sử, Địa lý, các hoạt động sinh hoạt văn hóa của người dân nơi đây cùng nét dẹp về văn hóa ẩm thực có nét đẹp giao thoa độc đáo.
  • Bài văn đó yêu cầu sử dụng chủ yếu môn Văn, với sự pha trộn giữa văn nghị luận và thuyết minh; sử dụng bao quát các môn học như Công nghệ, Lịch sử, Địa lý và môn Giáo dục công dân.
  • Yêu cầu về nội dung: Nội dung phong phú, đa dạng, lời văn trong sáng, giản dị, hướng người nghe đến một hình ảnh đẹp mà vẫn thân thiện giản dị của đất và người Ninh Bình
  1. THUYẾT MINH TIẾN TRÌNH GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG

–  Đầu tiên chúng em xem xét kĩ hướng dẫn và các đề mục trong bài thi theo công văn hướng dẫn.

–  Bắt đầu đưa ra chủ đề cho tình huống tình,đưa ra tên tình huống và cách giải quyết tình huống sao cho hợp lí.

–  Tìm hiểu các thông tin cần thiết cho việc giải quyết tình huống.

–  Sử dụng các tư liệu được tìm kiếm từ trên mạng và qua trang web Google và Wikipedia.

–  Bắt tay vào thảo luận trong nhóm để chọn ra những ý chính của bài và thảo luận các tài liệu nên sử dụng trong quá trình làm bài.

–  Phác thảo các ý chính của bài thi trong từng đề mục khác nhau.

– Đưa ra giải pháp giải quyết tình huống sao cho thật hoàn chỉnh, hợp lí.

– Sử dụng máy tính soạn thảo bài thi.

  1. Ý NGHĨA CỦA VIỆC GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG
  • Việc giải quyết tình huống trên đã giúp chúng em củng cố và sử dụng tốt các kiến thức được thấy cô truyền thụ trên lớp.
  • Ngoài ra việc giải quyết tình huống này giúp chúng em nâng cao khả năng ứng xử của chính bản thân mình, hoàn thiện khả năng giao tiếp.
  • Tiến bộ trong việc làm việc nhóm, xây dựng cho chúng em một tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống.
  • Giúp nâng cao thêm hiểu biết của chính mình về nền du lịch của tỉnh Ninh Bình.
  • Giúp cho mọi người hiêu thêm yêu thêm về quê hương Ninh Bình của em
  • GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG:

Em sinh ra và lớn lên ở một vùng đất giàu truyền thống lịch sử. Nơi đây nổi danh với cánh rừng Cúc Phương đại ngàn, với ngôi chùa Bái Đính nức danh xa gần, với những cánh sóng vỗ nơi biển  Kim Sơn, Yên Khánh, với núi Ngọc Mỹ Nhân giữa lòng thành phố,với Dục Thúy ngơ ngẩn lòng người. Quê hương Ninh Bình của chúng em rất nổi tiếng về du lịch. Nơi đây ,cảnh và người luôn chào đón những vị khách quý từ phương xa đến thăm thú và vui chơi du lịch.

Quê em nằm ở cửa ngõ cực nam miền Bắc và khu vực đồng bằng Bắc Bộ, Việt Nam. Mặc dù được xếp vào khu vực đồng bằng Bắc Bộ nhưng Ninh Bình chỉ có 2 huyện duyên hải là Yên Khánh và Kim Sơn không thuộc miền núi. Vùng đất này từng là kinh đô của Việt Nam ở thế kỷ X, là địa bàn quan trọng về quân sự qua các thời kỳ Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Tây Sơn. Với vị trí đặc biệt về giao thông, địa hình và lịch sử văn hóa, Ninh Bình là tỉnh có tiềm năng du lịch phong phú và đa dạng. Ninh Bình được ví như một Việt Nam thu nhỏ.

Ninh Bình nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm: mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 9; mùa đông khô lạnh từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau; tháng 4, tháng 10 là mùa xuân và mùa thu, tuy không rõ rệt như các vùng nằm phía trên vành đai nhiệt đới Ninh Bình xưa cùng với Thanh Hóa thuộc bộ Quân Ninh, nước Văn Lang. Qua thời thuộc Hán, Lương, một phần nhỏ vùng đất này thuộc Cửu Chân, phần còn lại thuộc Giao Chỉ, thời thuộc Đường, bắt đầu hình thành Trường Châu.

Năm 968, vua Đinh Tiên Hoàng dẹp xong loạn 12 sứ quân lên ngôi hoàng đế đóng đô tại Hoa Lư và đổi tên gọi Trường Châu thành Trường An. Năm 1010, Lý Thái Tổ dời kinh đô về Thăng Long, Ninh Bình nằm trong phủ Trường An, sau đổi là châu Đại Hoàng vào cuối thế kỷ 12. Đời nhà Trần đổi thành lộ, rồi lại đổi thành trấn Thiên Quan.

Đời Lê Thái Tông, Ninh Bình sáp nhập vào Thanh Hóa; đời vua Lê Thánh Tông trở thành thủ phủ trấn trấn Sơn Nam xong rồi lại thuộc về Thanh Hóa cho tới đời vua Minh Mạng nhà Nguyễn. Thời nhà Nguyễn, địa bàn Ninh Bình là 2 phủ Trường Yên và Thiên Quan.

Năm 1831, Ninh Bình trở thành một trong số 13 tỉnh ở Bắc Kỳ với 6 huyện Yên Khánh, Nho Quan, Kim Sơn, Gia Khánh, Gia Viễn và Yên Mô, thuộc Liên khu 3. Vùng đất Ninh Bình là kinh đô của Việt Nam thế kỷ X, mảnh đất gắn với sự nghiệp của 6 vị vua thuộc ba triều đại Đinh – Lê – Lý với các dấu ấn lịch sử: Thống nhất giang sơn, đánh Tống – dẹp Chiêm và phát tích quá trình định đô Hà Nội. Do ở vào vị trí chiến lược ra Bắc vào Nam, vùng đất này đã chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử oai hùng của dân tộc mà dấu tích lịch sử còn để lại trong các đình, chùa, đền, miếu, từng ngọn núi, con sông. Đây còn là vùng đất chiến lược để bảo vệ Thăng Long của triều đại Tây Sơn, là căn cứ để nhà Trần 2 lần chiến thắng giặc Nguyên – Mông, đất dựng nghiệp của nhà Hậu Trần.

Dãy núi đá vôi ngập nước tạo ra nhiều hang động kỳ thú như: Tam Cốc, Bích Động, động Vân Trình, động Tiên, động Tam Giao, Tràng An, động Mã Tiên… Bích Động được mệnh danh là “Nam thiên đệ nhị động”, Địch Lộng là “Nam thiên đệ tam động”. Ở phía nam thành phố Ninh Bình có một quả núi giống hình một người thiếu nữ nằm ngửa nhìn trời gọi là núi Ngọc Mỹ Nhân. Một yếu tố khác vô cùng quan trọng, góp phần không nhỏ làm nên diện mạo đa dạng, phong phú của văn hoá Ninh Bình, đó là sự lưu lại dấu ấn văn hoá của các tao nhân mặc khách khi qua vùng sơn thanh thuỷ tú này. Các đế vương, công hầu, khanh tướng, danh nhân văn hoá lớn như Trương Hán Siêu, Trần Thái Tông, Lê Thánh Tông, Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Tản Đà, Xuân Quỳnh về đây, xếp gương, đề bút, sông núi hoá thành thi ca.

Quê hương em là nơi có bề dày lịch sử và có một loạt các khu du lịch sinh thái như: Tràng An, Tam cốc bích động khu bảo tồn thiên nhiên đất và nước Vân Long, chiến khu Quỳnh Lưu, chùa Bái Đính, nhà thờ đá Phát Diệm.

Cố đô Hoa Lư là quần thể di tích quốc gia đặc biệt liên quan đến sự nghiệp của các nhân vật lịch sử thuộc ba triều đại nhà Đinh, nhà Tiền Lê và khởi đầu nhà Lý, tính từ Đinh Tiên Hoàng đến Lý Thái Tông trong lịch sử Việt Nam. Xưa nơi đây là kinh đô đầu tiên của nhà nước phong kiến Trung ương tập quyền ở Việt Nam với các dấu ấn lịch sử: thống nhất giang sơn, đánh Tống – dẹp Chiêm và phát tích quá trình định đô Hà Nội. Năm 1010 vua Lý Thái Tổ dời kinh đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Thăng Long (Hà Nội), Hoa Lư trở thành Cố đô. Các triều vua Lý, Trần, Lê, Nguyễn sau đó dù không đóng đô ở Hoa Lư nữa nhưng vẫn cho tu bổ và xây dựng thêm ở đây nhiều công trình kiến trúc như đền, lăng, đình, chùa, phủ…Với bề dày thời gian hơn 1000 năm, Cố đô Hoa Lư là nơi lưu trữ các di tích lịch sử qua nhiều thời đại hào hùng của đất nước.

Khu du lịch Tràng An là một địa điểm du lịch  khá đặc sắc với những hang động khô hay ngập nước với dòng sông Son bốn mùa xanh mát.

Tràng An là một khu du lịch sinh thái nằm trong Quần thể danh thắng Tràng An thuộc tỉnh Ninh Bình đã được Chính phủ Việt Nam xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt quan trọng. Nơi đây còn được gọi là thành Nam của cố đô Hoa Lư, gồm hệ thống dãy núi đá vôi có tuổi địa chất khoảng 250 triệu năm, qua thời gian dài phong hóa bởi sự biến đổi của trái đất, khí hậu, biển tiến, biển thoái đã mang trong mình hàng trăm thung lũng, hang động, hồ đầm. Trong danh thắng này còn có nhiều hệ sinh thái rừng ngập nước, rừng trên núi đá vôi và các di tích gắn với lịch sử của kinh đô Hoa Lư xưa.

Liên khu danh thắng Tràng An – Tam Cốc – cố đô Hoa Lư hiện được quy hoạch chung vào Quần thể danh thắng Tràng An, là đại diện di sản của Việt Nam ứng cử di sản thế giới với những giá trị nổi bật về cảnh quan thiên nhiên, lịch sử văn hóa và kiến tạo địa chất. Nơi đây được kỳ vọng trở thành một di sản thế giới hỗn hợp với cả 2 tiêu chí văn hóa và thiên nhiên đầu tiên tại Việt Nam và cũng là địa danh được đầu tư để trở thành một khu du lịch tầm cỡ quốc tế

Cùng góp mặt  vào những cảnh quan du lịch đó là một di tích lịch sử gắn với thời kì chống Pháp của nhân dân ta. Nơi đây gắn với người anh hùng liệt sĩ Lương Văn Tụy, với người bí thư Cộng sản Đinh Tất Miễn, với một lịch sử chiến đấu của dân tộc.

Chiến khu Quỳnh Lưu (Khu căn cứ cách mạng Quỳnh Lưu) là một căn cứ cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ kháng Nhật và Pháp tại Ninh Bình, đồng thời được coi là quê hương của phong trào cách mạng ở Ninh Bình với vai trò là nơi thành lập đội tuyên truyền giải phóng quân tỉnh Ninh Bình, thành lập chi bộ tỉnh ủy lâm thời và cũng là nơi sinh ra những chiến sỹ cách mạng đầu tiên và tiêu biểu như bí thư Đinh Tất Miễn và anh hùng Lương Văn Tụy. Nơi đây được công nhận là một khu di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia Chiến khu Quỳnh Lưu là một vùng đất rộng, thuộc địa bàn 7 xã của Nho Quan và Gia Viễn tỉnh Ninh Bình. Toàn bộ khu vực có diện tích 107 Km2 với 37 080 người (theo thống kê dân số năm 1999) Phía đông bắc có sông Hoàng Long bao quanh; phía đông nam và tây nam là những dãy núi liên tiếp. Từ xã này sang xã khác là các đồi cây rậm rạp và đường mòn xen kẽ. Đường 12B từ Nho Quan qua Quỳnh Lưu về Gềnh (Tam Điệp); đường 38B từ thành phố Ninh Bình qua Thiên Tôn, Trường Yên về ngã 3 Anh Trỗi; Đại lộ Tràng An đoạn Chùa Bái Đính – rừng Cúc Phương đi qua; đường quốc lộ 45 nối từ phố Rịa vào Thanh Hóa.

Quê hương chúng em còn nổi tiếng với nhà thờ đá Phát Diệm uy nghi trầm mặc nức tiếng gần xa

Nhà thờ chính tòa Phát Diệm (thường gọi là Nhà thờ đá Phát Diệm) là một quần thể nhà thờ Công giáo rộng khoảng 22 ha, nằm tại thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình, cách Hà Nội khoảng 120 km về hướng Nam. Hiện nay, tỉnh Ninh Bình và các nhà nghiên cứu Nhật Bản đang hoàn thiện hồ sơ về kiến trúc nhà thờ Phát Diệm để đề nghị UNESCO công nhận nhà thờ Phát Diệm là di sản văn hóa thế giới. Nhà thờ đá Phát Diệm được báo chí đánh giá là một trong những nhà thờ đẹp nhất Việt Nam, được ví như “kinh đô công giáo” của Việt Nam. Đây là một công trình lớn, là nhà thờ chính tòa của giáo phận Phát Diệm rộng lớn ở phía bắc Việt Nam. Nhà thờ được xây dựng toàn bằng đá.   Nhà thờ Phát Diệm được khởi công vào năm 1875 và đến năm 1898 thì cơ bản hoàn thành. Nét độc đáo của công trình này ở chỗ: mặc dù là nhà thờ Công giáo nhưng được mô phỏng theo những nét kiến trúc đình chùa truyền thống của Việt Nam. Quần thể kiến trúc này được chủ trì xây dựng dần dần bởi linh mục Phêrô Trần Lục (còn gọi là cụ Sáu) – linh mục ở giáo phận Phát Diệm từ năm 1865) và các giáo dân Công giáo trong hơn 30 năm .

Nhà thờ được xây dựng với trình độ kỹ thuật và điều kiện giao thông của những năm cuối thế kỷ 19. Từ hướng Nam đi vào nhà thờ Phát Diệm gồm các phần: Ao hồ, Phương Ðình, Nhà thờ đá

Không những về Thiên Chúa Giáo mà về Phật giáo quê hương em cũng rất phát triển. Bằng chứng là ngôi chùa Bái Đính nức danh xa gần.

Chùa Bái Đính là một quần thể chùa lớn được biết đến với nhiều kỷ lục châu Á và Việt Nam được xác lập như chùa có tượng Phật bằng đồng dát vàng lớn nhất châu Á, chùa có hành lang La Hán dài nhất châu Á, chùa có tượng Di lặc bằng đồng lớn nhất Đông Nam Á… Đây là ngôi chùa lớn nhất và sở hữu nhiều kỷ lục nhất ở Việt Nam. Các hạng mục xây dựng, mở rộng khu chùa mới được các đại biểu tham dự đại lễ Phật đản thế giới 2008 làm lễ khánh thành giai đoạn 1, năm 2010 chùa Bái Đính là nơi tổ chức Đại lễ cung nghinh xá lợi Phật đầu tiên từ Ấn Độ về Việt Nam. Dự kiến, Đại lễ Phật đản Liên hiệp quốc – Vesak 2014 do Việt Nam đăng cai sẽ diễn ra tại chùa Bái Đính. Chùa nằm ở cửa ngõ phía tây khu di tích cố đô Hoa Lư, bên quốc lộ 38B, thuộc xã Gia Sinh – Gia Viễn – Ninh Bình, cách thành phố Ninh Bình 15 km

Khác với cảnh sắc nhộn nhịp mà vẫn uy nghi của ngôi chùa Bái Đính, rừng Quốc gia Cúc Phương lại là một khu rừng mang đậm vẻ nguyên sơ, bí ẩn mà chưa nơi nào có được.

Vườn Quốc gia Cúc Phương (hay rừng Cúc Phương) là một khu bảo tồn thiên nhiên, khu rừng đặc dụng nằm trên địa phận ranh giới 3 khu vực Tây Bắc, châu thổ sông Hồng và Bắc Trung Bộ thuộc ba tỉnh: Ninh Bình, Hòa Bình, Thanh Hóa. Vườn quốc gia này có hệ động thực vật phong phú đa dạng mang đặc trưng rừng mưa nhiệt đới. Nhiều loài động thực vật có nguy cơ tuyệt chủng cao được phát hiện và bảo tồn tại đây. Đây cũng là vườn quốc gia đầu tiên tại Việt nam

Quê hương em còn nổi tiếng với người con anh hùng Đinh Tiên Hoàng đã có công lao lập nên triều đình nhà Đinh. Để tưởng nhớ công lao của người con ưu tú của quê hương ấy, người dân quê em đã lập đền thờ.

Đền Đinh Tiên Hoàng thuộc quần thể di tích cố đô Hoa Lư toạ lạc ở xã Trường Yên, Hoa Lư, Ninh Bình. Đền nằm trên khuôn viên rộng 5ha, thuộc vùng bảo vệ đặc biệt của khu di tích. Đền được xây dựng theo kiểu nội công ngoại quốc., quay hướng đông. Trước mặt đền là núi Mã Yên có hình dáng giống cái yên ngựa. Trên núi có lăng mộ vua Đinh. Đền nằm cách đền vua Đinh Tiên Hoàng 300 mét, thuộc thành Đông kinh đô Hoa Lư xưa. Đền vua Lê qui mô nhỏ hơn đền vua Đinh nên không gian trong đền khá gần gũi. Ở nơi đây vào mùng mười tháng ba Âm lịch người dân quê em lại tổ chức lễ hội để tưởng nhớ vị hoàng đế Đinh Tiên Hoàng đã làm rạng danh quê hương đất nước.

Vùng đất Ninh Bình còn nổi tiếng với những bài ca dao dân ca. Ví dụ như câu

Ai là con cháu Rồng tiên

Tháng hai mở hội trường yên thì về

Về thăm đô cũ Đinh Lê

Non xanh nước biếc bốn bề như tranh

Hay như câu

Chẳng thơm cũng thể hoa nhài

Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An

Vùng đất  Ninh Bình quê em cũng là nơi giàu văn hóa với những câu tục ngữ được coi là” túi khôn”  của nhân dân quê em.

Chớp núi Bùng thì chớ, chớp núi Lớ thì mưa.

Bánh giầy nếp cái, con gái họ Ngô.

Nước giếng Me, chè núi Quéo, kẹo Bình Hào.

Ngoài ra, quê hương em còn nổi tiếng với những bài đồng dao cho thiếu nhi:

Đỗ Thích thí Đinh Đinh

Lê gia xuất thánh minh

Cạnh đầu đa hoành tử

Đạo lộ tuyệt nhân tình

Quê hương em cũng nổi tiếng với rất nhiều lễ hội phong phú và đặc sắc như:

+Lễ hội đền vua Đinh vua Lê.

+Lễ hội đền Thái Vi.

+ Lễ hội Báo bản  Nộn Khê.

+ Lễ hội đền Nguyễn Công Trứ.

Ai về với Ninh Bình quê em mà chưa một lần thưởng thức món thịt dê cơm cháy nổi tiếng thì quả thật là phí. Có thể nói rằng món ăn đó là những sợi dây kết nối những du khách với người dân bản địa hết sức thật thà chất phác, giản dị mà vẫn nồng hậu, thủy chung.

Quê hương Ninh Bình hằng yêu dấu của em là như vậy đó. Mong rằng quê hương em sẽ ngày càng phát triển trên đà đổi mới, thay da đổi thịt

Bài phát biểu của em đến đây là hết. Chúc các cô các bác có một chuyến du lịch vui vẻ và hạnh phúc

 

 

Phương pháp làm bài văn thuyết minh về món ăn

  Phương pháp làm bài văn thuyết minh về món ăn

 I.  Lí thuyết về văn thuyết minh

1. Nhận biết :

Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong đời sống nhằm cung cấp tri thức về: đặc điểm, tính chất, nguyên nhân…của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội

2. Các phương pháp thuyết minh:
+ Phương pháp nêu định nghĩa:
+Phương pháp liệt kê:
+Phương pháp nêu ví dụ:
+Phương pháp dùng số liệu:
+Phương pháp so sánh:
+ Phương pháp phân loại, phân tích:
II> Các bước  làm bài văn thuyết minh về món ăn:
– Bước 1:
+ Xác định đối tượng thuyết minh : đó là món ăn nào?
+ Sưu tầm, ghi chép và lựa chọn các tư liệu về món ăn

– Nguồn gốc, ý nghĩa tên gọi món ăn, đặc sản.
– Đặc điểm riêng của món ăn, đặc sản: dáng vẻ, màu sắc, hương vị.
– Cách thức chế biến, thưởng thức.
+ Lựa chọn phương pháp thuyết minh phù hợp

– Bước 2: Lập dàn ý
– Bước 3: Viết bài văn thuyết minh

III> Bài tập vận dụng
Đề bài:

Huế là xứ sở nổi tiếng về văn hoá ẩm thực, đặc biệt có món ăn rất ngon và bình dân ấy là cơm hến.Bằng vốn hiểu biết của mình ,anh (chị) hãy giới thiệu về món ăn đó?

HƯỚNG DẪN

1.Yêu cầu về kĩ năng.

-Viết bài văn thuyết minh rõ ràng,chuẩn xác và hấp dẫn.

-Phương phap:thuyết minh

-phạm vi tư liệu:tìm hiểu bên ngoài đời sống + sách báo.

2.Yêu cầu về nội dung.

a)Xác định yêu cầu trọng tâm của đề:giới thiệu về món cơm hến-món ăn rất ngon và bình dân của xứ Huế

Nói đến ẩm thực Huế thì không thể không nhắc đến cơm hến. Món cơm hến được xem như là món ăn thân quen của người dân làng chài xứ Huế…từ địa phương gọi là dân vạn đò.

b)Triển khai các luận điểm ,luận cứ: Cần triển khai theo những phương diện sau

-Nguồn gốc của cơm hến:Cồn Hến-Vĩ Dạ-tp Huế.

-Nguyên liệu và cách chế biến.

+Nguyên liệu:cơm+hến+các phụ gia khác

+Cách chế biến:

.Cơm: nấu chín tơi,không dẻo ,không dính ,không nát…

.Hến:nấu rời cái hến xong rồi xào hến.

.Phụ gia:

– Rau ăn kèm gồm: xà lách, các loại rau thơm… lặt rửa sạch cắt sợi lớn, lỏi chuối non, bạc hà, khế chua ngọt… cắt sợi hoặc xắt lát mỏng.
– Gia vị và phụ gia: ớt bột xào với chút dầu phi tỏi, ớt tươi, tỏi tươi băm, muối mè rang, muối, đậu phụng để vỏ lụa chiên dòn, ruốc Huế pha loãng với ít nước sôi, gừng non cắt lát mỏng, da heo cắt sợi vừa chiên dòn hoặc tóp mỡ, khoai lang trắng luộc chín để nguội cắt nhỏ…

-Nghệ thuật thưởng thức.

+Trộn đều cơm và hến với các phụ gia khác.

+Phải ăn cay mới ngon.

+Đến làng Cồn ăn mới thú vị.

-Ý nghĩa và danh tiếng của món cơm hến:Món cơm hến được các bà, các mẹ gánh đi khắp nơi trong thành Huế bán rong. Còn ở cồn Hến thì khách ăn tại quán. Dù mang tiếng là đặc sản xứ Huế nhưng cơm hến thực sự là món ăn cho người nghèo bởi giá cả hết sức bình dân: 1.500 đồng/tô.Món ăn bình dị mà chứa đựng bao kỳ công của những người chế biến. Có thể nó đây là nét ẩm thực truyền thống , là niềm tự hào của người dân xứ huế.

-Nêu cảm nghĩ về món ăn :Tôi không sinh ra và lớn lên ở Huế. Nhưng suốt hai năm qua, đó là quãng thời gian không dài nhưng đã làm cho tôi gắn bó với Huế quá đỗi. Tôi thích đạp xe một mình vào buổi chiều dưới những con đường đan dày vòm lá. Sau đó tạt vào một quán nhỏ thưởng thức một bát bánh canh hoăc một tô cơm hến, ăn xong miệng còn đọng lại dư vị nồng nồng, âm ấm. Tôi thích vào những ngày chủ nhật, khi những cơn mưa dư ba đổ về, cùng bạn bè làm những món ăn dân dã mà ấm cúng. Thật thiếu sót nếu chúng ta đến Huế mà chưa một lần đến thưởng thức món cơm hến Huế dân dã, nổi tiếng này…

Có thể bạn quan tâm :

Thuyết minh về Bình ngô Đại cáo ,

Thuyết minh về Chuyện chức Phán sự Đền Tản Viên

 bài văn mẫu thuyết minh về Tam Cốc Bích Động

 

Thuyết minh về Tam Cốc Bích Động

Các em có thể tham khảo bài viết về Tam cốc Bích động dưới đây nhé:

Lưu ý: đây không phải là bài văn mẫu, bài viết chỉ mang tính chất tham khảo

Có thể nói  Di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh chùa và động Bích Động là sự kết hợp hài hòa giữa cảnh đẹp kỳ thú của hang động, núi non với sự tài hoa, khéo léo của con người .Thắng cảnh Tam Cốc được ví như “Vịnh Hạ Long trên cạn” được ngợi ca là “Nam thiền đệ nhị động”.Tam Cốc – Bích Động thuộc cố đô Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, cách thủ đô Hà Nội khoảng 100km về phía Nam.Cảnh sắc ở đây không chi đượm mùi Thiền mà còn gợi nhớ, còn ghi những dấu tích lịch sử hơn nghìn năm về trước: nơi trú quân của Đinh Bộ Lĩnh trong những năm tháng đánh dẹp “nhị thập sứ quân”, nơi Thái hậu Dương Vân Nga du xuân cùng Thập đạo tướng quân Lê Hoàn.

Thiên nhiên Tam Cốc – Bích Động là điểm du lịch nổi tiếng cho những du khách muốn tẩy sạch “bụi trần”. Cái thú là đến với Tam Cốc bằng thuyền con. Tam Cốc gồm có ba hang: hang cả, hang Hai và hang Ba. Hang nào cũng lung linh huyền ảo sắc màu với hàng nghìn nhũ đá với bao huyền tích. Cảnh rồng cuộn hổ quỳ, cảnh tiên nga tắm mát, cảnh tiều phu gánh củi, cảnh ngư õng râu tóc bạc phơ ngồi trên thạch bàn câu cá, cảnh đàn công vũ hội, v.v… thấp thoáng, ẩn hiện trên vòm hang vách động, như dẫn hồn du khách vào thế giới Bồng Lai. Sóng vỗ nhẹ vào mạn thuyền, vào vách hang lúc nghe rì rào róc rách, lao xao rì rào hòa cùng tiếng gió thì thầm thì thào như tiếng thần Núi từ cõi linh thiêng từ ngàn xưa vọng về.

Hang Cả là hang đẹp nhất của Tam Cốc. Con thuyền nan nhè nhẹ luồn vào hang Cả dài 127 mét. nằm trong lòng một trái núi lớn; hai bên hai dãy núi tựa dãy trường thành che chắn dòng sông uốn khúc, nước xanh trong. Cửa hang rộng hơn 20 mét. vách hang uốn vòng cung vòm hang, về mùa hè, không khí trong hang mát lạnh, ai cũng cảm thấy khoan khoái, thư thái cả tâm hồn.

Qua hang cả, ta nhìn thấy một màu xanh bao la của đồng lúa. Xa xa bên sườn non, từng đàn dê hiền lành nhởn  nhơ ăn lá cây. Vách núi cheo leo, lủng lẳng những nhành phong lan, hoặc đỏ hồng, hoặc tím biếc, hoặc trắng phau như đàn bướm sặc sỡ đang dập dờn bay.

Đi tiếp ta sẽ đến hang Hai, hang Ba, như lần bước vào cõi thâm u tĩnh lặng của thần Sông, thần Núi. Du khách bâng khuâng tự hỏi: “Có phải nơi đây Thái hậu Dương Vân Nga mừng đón Lê Đại Hành đại phá giặc Tống từ ải Bắc trở về..?” Suối Tiên chính là đây, cách hang Cà non 4km. Dòng suối trong vắt có thể nhìn thấu đến tận đáy. Từng đàn cá nhỏ và dài nối đuôi  nhau bơi lượn, ẩn hiện giữa bao lớp rong rêu. Tắm nước suối Tiên, da thiếu nữ sẽ ánh lên màu ngà ngọc. Hoa súng tím hồng lơ thơ nhô lên làm cành Suối Tiên thêm hữu tình, thơ mộng.

Từ suối Tiên ta đến thăm Bích Động. Nam thiên đệ nhị động là đây. Bích Động nghĩa đen là Động Xanh. Xanh trời, xanh ruộng, xanh suối, xanh núi, xanh hang, xanh động mênh mông

Bích Động có ba ngôi chùa được xây cất, tôn tạo trên sườn non vách núi: chùa Hạ, chùa Trung, chùa Thượng. Qua Thạch Kiều uốn cong, du khách nhìn thấy một cây si xanh biếc bốn mùa mọc trên một mỏm đồi, được gọi là Bánh Dày. Theo truvền thuyết, ai đói khổ đến ôm gốc cây si này sẽ được ấm no.

Từ chùa Hạ leo qua khoảng 60 bậc đá thì đến chùa Trung, ngôi chùa bán mái. Chính diện nằm thụt vào vách núi, hang sâu. Tường chùa được xây toàn bằng lá. Một chiếc khánh đá rất to có từ xa xưa.

Vượt qua hơn 30 bậc đá nữa, ta sẽ tới chùa Thượng. Tể tướng Nguyễn Nghiêm thân phụ của thi hào Nguyễn Du, từng lưu lại văn thơ: “Núi đá, vườn cây tới đình chùa”.

Các chùa ở Bích Động có nhiều mộ tháp bằng đá nhấp nhô trong vuờn chùa. Có rất nhiều tượng Phật rất cổ kính quý giá. Vườn chùa xanh um, cây ăn trái, hàng trăm loài hoa đẹp đua sắc khoe hương quanh năm. Bích Động có 5 ngọn núi bao quanh, chầu về gọi là Ngũ Nhạc Sơn. Chỉ một tiếng chuông chùa ngân lên tức thì có năm tiếng chuông từ vách núi Ngũ Nhạc Sơn vọng lại.

Du khách nào may mắn đến vãn cảnh Bích Động hái được vài đóa Sơn Kim Cúc bé xíu như chiếc cúc vàng; đem về nhà ướp vào trà, pha nước suối Tiên, chỉ một chén nhỏ mắt sẽ sáng lên.

Và cảm xúc sẽ trở nên tròn đầy nếu du khách tinh ý lựa chọn ghé thăm nơi đây giữa mùa lúa chín- khi những hạt vàng cong mình trĩu xuống dòng sông. Đứng trên độ cao hơn trăm mét, phóng mắt ngắm nhìn dòng sông Ngô Đồng và những bóng thuyền đang chở “vàng” đi xuôi ngược, chắc chắn nét hương lúa, hồn người hòa quyện vào thiên nhiên ấy sẽ để lại ấn tượng không bao giờ quên trong lòng du khách.

( sưu tầm)

Xem thêm : Tuyển tập đề thi ngữ văn 10

Thuyết minh Chuyện chức phán sự đền Tản Viên.Nguyễn Dữ

Thuyết minh Chuyện chức phán sự đền Tản Viên.Nguyễn Dữ

Bài làm

“Chuyện chức phán sự đền Tản Viên”  là truyện ngắn xuất sắc trong tập “Truyền kỳ mạn lục” của Nguyễn Dữ. Đây là tác phẩm đặc sắc, ca ngợi tính cách dũng cảm, kiên cường, chính trực, dám chống lại cái ác đến cùng, trừ hại cho dân của Ngô Tử Văn-một trí thức nước Việt.

“Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” viết bằng chữ Hán theo thể văn xuôi truyền kỳ. Đây là thể loại văn học phản ánh hiện thực cuộc sống qua những yếu tố kỳ ảo hoang đường. Nhân vật trong bộ truyền kỳ gồm cả người, ma quỷ, thần thánh, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, có thể xâm nhập thế giới của nhau. Bộ truyện “Truyền kì mạn lục” được sáng tác vào khoảng thế kỉ XVI, lúc xã hội phong kiến Việt Nam rơi vào suy thoái, khủng hoảng, nhân dân bất bình với tầng lớp thống trị, nhiều nho sĩ rơi vào tâm trạng hụt hẫng, nuối tiếc cho thời thịnh trị dưới sự cai trị của vua Lê Thánh Tông. Nguyễn Dữ sáng tác bộ truyện trong khoảng thời gian ông đã cáo quan ở ẩn vừa để phản ánh tình trạng xã hội, vừa để bộc lộ quan điểm sống và tấm lòng của ông với cuộc đời.

Nhân vật chính của tác phẩm “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” . Ngô Tử Văn được giới thiệu là người tính tình cương trực, thẳng thắn, khảng khái, nóng nảy, thấy sự gian tà thì không thể chịu được. . Minh chứng rõ ràng cho tính cách cứng cỏi của Ngô Tử Văn là hành động đốt đền tà của chàng. Trong khi mọi người đều lắc đầu, lè lưỡi, không dám làm gì quỷ thần ở ngôi đền gần làng quấy hại nhân dân thì Tử Văn cương quyết, công khai, đường hoàng, ung dung, tắm rửa sạch sẽ, khấn trời rồi châm lửa đốt hủy ngôi đền. Hành động đó xuất phát từ ‎ muốn diệt trừ yêu ma, trừ hại cho dân, từ lòng tự tin vào chính nghĩa của Ngô Tử Văn, chứng tỏ cốt cách khảng khái của kẻ sĩ.

Sự cương trực, khảng khái của Ngô Tử Văn còn bộc lộ rõ qua thái độ của chàng với hồn ma tên tướng giặc. Tướng giặc khi sống là kẻ xâm lược nước ta, tàn hại dân ta, khi chết rồi vẫn quen thói ỷ mạnh hiếp yếu, cướp nơi trú ngụ của thổ thần nước Việt, lại còn gian trá bày trò đút lót rồi tác yêu tác quái với nhân dân trong vùng. Hắn bị Tử Văn đốt đền là đáng đời nhưng lại hiện hình, xảo quyệt làm như mình là kẻ bị hại, dùng tà phép khiến cho chàng bị sốt nóng sốt rét, đầu lảo đảo. Hồn ma tướng giặc buông lời mắng mỏ, đe dọa, quyết kiện Tử Văn xuống tận Diêm Vương. Trước sự ngang ngược trắng trợn, quyền phép đáng sợ của hồn ma tướng giặc, Ngô Tử Văn vẫn điềm nhiên, không hề run sợ mà tự tin, không coi những lới đe dọa ra gì, thậm chí chẳng thèm tiếp lời hồn ma tướng giặc. Do Tử Văn dũng cảm, trừ hại cho dân nên thần linh mới phù trợ giúp đỡ chàng.

Chàng bị lôi xuống địa phủ. Cảnh địa phủ rùng rợn với quỷ sứ hung ác, con sông đầy gió tanh sóng xám. Tử Văn bị bọn quỷ sai lôi đi rất nhanh, bị phán xét lạnh lùng là kẻ “tội sâu ác nặng, không được liệt vào hàng khoan giảm”, bị kết thêm tội ngoan cố bướng bỉnh nhưng chàng chẳng hề run sợ, không hề nhụt chí, một mực kêu oan, đòi phải được phán xét công khai, minh bạch. Khi đối diện trước Diêm vương uy nghiêm, Tử Văn đấu tranh vạch tội tên tướng giặc bằng những lí lẽ cứng cỏi, bằng chững không thể chối cãi, giọng điệu rất đanh thép vững vàng. Chàng đã bảo vệ lẽ phải mà bất chấp tính mạng của mình, không chịu khuất phục trước uy quyền, kiên quyết đấu tranh cho công lí và lẽ phải đến cùng. Kết quả, chàng đã chiến thắng hồn ma gian tà của tên tướng giặc, bảo toàn được sự sống của mình, được tiến cử vào chức phán sự đền Tản Viên, chịu trách nhiệm giữ gìn bảo vệ công lí. Chiến thắng ấy của Ngô Tử Văn có ‎ nghĩa vô cùng to lớn, đã trừng trị đích đáng hồn ma tướng giặc xảo trá, làm sáng tỏ nỗi oan khuấ, phục hồi chức vị cho thổ thần nước Việt, giải trừ tai họa cho nhân dân.

Qua cuộc đấu tranh không khoan nhượng, chống lại cái ác, Ngô Tử Văn đã nổi bật lên là người chính trực, khảng khái, dũng cảm bảo vệ công lí đến cùng, là một kẻ sĩ cứng cỏi của nước Việt. Từ đó, tác giả Nguyễn Dữ đã khẳng định niềm tin chính nghĩa nhất định thắng gian tà, thể hiện tinh thần tự tôn dân tộc, bộc lộ quyết tâm đấu tranh triệt để với cái xấu cái ác.

Truyện thông qua cuộc đấu tranh của Ngô Tử Văn còn ngầm phản ánh thế giới thực của con người với đầy rẫy sự việc xấu xa như nạn ăn của đút,tham quan dung túng che dấu cho cái ác hoành hành, công lí bị che mắt.

Truyện gây ấn tượng bằng một loạt những chi tiết kì ảo, cốt truyện giàu kịch tính, cách xây dựng nhân vật sắc nét, ngôn ngữ kể chuyện trau chuốt, súc tích. Truyện ca ngợi nhân vật Ngô Tử Văn, một trí thức nước Việt khảng khái, nhân cách cứng cỏi, cao đẹp, qua đó bộc lộ niềm tin vào công lí, vào việc chính thắng tà.

(tài liệu sưu tầm )

Xem thêm : Tuyển tập đề thi ngữ văn 10

Chuyện chức phán sự đền tản viên

Đề thi bán kì II ngữ văn, 2014-2015. Lớp 10

Đề thi bán kì II năm học 2014-2015 , Môn ngữ văn lớp 10 , Thời gian làm bài 60 phút

Câu I: (4 điểm)

Tìm và phân tích biện pháp tu từ (ẩn dụ hoặc hoán dụ ) trong những câu sau:

a. Vì sao trái đất nặng ân tình

Nhắc  mãi tên người Hồ Chí Minh.

( Tố Hữu)

b. Con cò lặn lội bờ sông

Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non

Nàng về nuôi cái cùng con

Cho anh đi trẩy nước non Cao Bằng

( ca dao )

Câu II: (6 điểm)

Hãy viết bài văn thuyết minh ( ngắn gọn )về tác phẩm Chuyện chức Phán sự đền Tản Viên của Nguyễn Dữ.

Lưu ý: Đây là đề thi theo cấu trúc cũ, các bạn có thể vào link này để cập nhật những đề thi theo cấu trúc năm nay nhé :  Tuyển tập đề thi ngữ văn 10

Hướng dẫn chấm môn ngữ văn lớp 10

Câu 1:

  1. Câu thơ sử dụng biện pháp hoán dụ ( 0,5 đ) : trái đất (0,5đ) để biểu thị đông đảo quần chúng nhân dân →liên hệ giữa vật chứa đựng và vật được chứa đựng ( 1đ)…..phân tích
  2. Bài ca dao sử dụng biện pháp ẩn dụ ( 0,5 đ) : hình ảnh con cò ( 0,5 đ) để biểu thị hình ảnh người phụ nữ Việt Nam thời xưa…. Phân tích ( 1đ)

Câu 2:

Về kĩ năng: HS biết vận dụng kiến thức đã học để viết bài văn thuyết minh về tác phẩm văn học, bố cục chặt chẽ, diễn đạt lưu loát…

Về nội dung, bài viết cần đảm bảo các ý cơ bản sau:

1 .Giới thiệu khái quát về tên tác giả, tập truyền kì mạn lục, thể loại truyền kì

2.Giới thiệu về giá trị nội dung và nghệ thuật của Chuyện chức Phán sự đền Tản Viên

  • Nội dung: HS tóm tắt ngắn gọn nội dung cốt truyện
  • Ý nghĩa tác phẩm:

-Tác phẩm thể hiện niềm tin công lí: chính nghĩa nhất định sẽ thắng gian tà

– Thể hiện niềm tự hào dân tộc

-Ngợi ca Ngô Tử Văn ( dũng cảm, cương trực, dám đấu tranh bảo vệ công lí…)

-Phê phán hồn ma tên Bách Hộ họ Thôi, phê phán thánh thần quan lại cõi âm tham của hối lộ ,tiếp tay cho cái xấu…

→thông qua đó tác phẩm phản ánh và phê phán hiện thực xã hội đương thời.

Đặc sắc nghệ thuật:

– Cách kể chuyện lôi cuốn với những tình tiết giàu kịch tính, sử dụng nhiều yếu tố hoang đường kì ảo tạo sức hấp dẫn…

-Nhân vật được xây dựng sắc nét, sinh động…Lưu ý: Giám khảo cần linh hoạt khi chấm điểm, vì thời gian chỉ 60 phút nên học sinh có thể thuyết minh ngắn gọn nhưng phải đủ những ý cơ bản. Nếu HS sa đà vào việc kể nội dung tác phẩm hoặc phân tích lan man thì cho không quá 3đ.