Đề đọc hiểu và Nghị luận xã hội về bài thơ Tự Tình Hồ Xuân Hương

Bộ đề luyện thi về bài thơ Tự tình Ngữ văn 11. Đề đọc hiểu và nghị luận xã hội 200 chữ về bài Tự Tình Hồ Xuân Hương

Đọc hiểu (3,0 điểm)

Đọc bài thơ sau và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 4:

Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,

Trơ cái hồng nhan với nước non.

Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.

Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám,

Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.

Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,

Mảnh tình san sẻ tí con con!

(Tự tình II,Hồ Xuân Hương, Ngữ văn 11, tập 1, NXBGDVN 2010, tr.18).

  1. Bài thơ trên được viết theo thể thơ nào?
  2. Xác định các từ Hán Việt trong bài thơ.
  3. Xác định biện pháp tu từ  cú phápđược sử dụng trong 2 câu đầu của bài thơ? Nêu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ đó.
  4. Từ xuân trong hai câu thơ Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại có nghĩa là gì?

Phần Làm văn Nghị luận xã hội (2,0 điểm )

Từ nội dung bài thơ Tự tình, anh chị hãy viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về ước mơ hạnh phúc của người phụ nữ Việt Nam.

Đáp án : 

Đề đọc hiểu (3,0 điểm)

Câu 1. Bài thơ viết theo thể thất ngôn bát cú đường luật/ tám câu bảy chữ đường luật/ thất ngôn bát cú.

-Điểm 0,5: Trả lời đúng theo cách trên.

-Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời.

Câu 2.Từ Hán Việt là hồng nhan.

-Điểm 0,5: Trả lời đúng.

-Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời.

Câu 3.Biện pháp tu từ đảo ngữ (trơ cái hồng nhan…). HS không nêu rõ dẫn chứng ( )cho 0,25 đ).

Ý nghĩa: thái độ buồn, chán và bực dọc của nhân vật trữ tình.

-Điểm 1,0: Trả lời đúng và khá đủ; diễn đạt hợp lý.

– Điểm 0,5: Nêu được ý hiểu và biện pháp tu từ.

– Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời.

Câu 4.

Từ xuân hiểu theo 2 nghĩa: từ (xuân lại lại): mùa xuân của trời đất; từ (xuân đi) chỉ tuổi xuân, tuổi trẻ của người con gái.

-Điểm 1,0: Trả lời đúng và khá đủ; diễn đạt hợp lý.

– Điểm 0,5: Nêu một ý nghĩa trong hai.

– Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời

Phần Làm văn Nghị luận xã hội  (2,0 điểm)

* Yêu cầu chung: Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng về đoạn văn nghị luận xã hội để viết đoạn khoảng 200 chữ, tương đương ½ trang giấy thi. Đoạn văn viết có cảm xúc; diễn đạt dễ hiểu, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.

* Yêu cầu cụ thể:

a) Đảm bảo cấu trúc đoạn văn nghị luận (0,5 điểm):

– Điểm 0,5 điểm: Đoạn văn đầy đủ phần Mở đoạn, Thân đoạn, Kết đoạn. Câu Mở đoạn nêu được đúng chủ đề; phần Thân đoạn, các câu văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; câu Kết đoạnnêu được ý khái quát về vấn đề.

– Điểm 0,25: Viết được đoạn văn nhưng chưa đảm bảo mạch lạc, chính xác về bố cục ba phần.

– Điểm 0: Không biết viết đoạn văn hoặc quá ngắn, sơ sài vài câu.

b) Nêu đúng vấn đề: (1,25 điểm)

Suy nghĩ về ước mơ hạnh phúc của người phụ nữ, yêu cầu thí sinh diễn đạt cụ thể nội dung trả lời của câu hỏi 3, phần đọc hiểu.Thí sinh có thể viết theo cách trình bày đoạn văn khác nhau nhưng cần làm rõ các gợi ý sau:được sống trong tình yêu, hạnh phúc trọn vẹn, được bình đẳng, được yêu thương, được trân trọng vàbảo vệ…

– Điểm 1,25 : Cơ bản đáp ứng được các nội dung; diễn đạt rõ ràng; liên kết câu chặt chẽ.

– Điểm 0,75: Đáp ứng 1/2 đến 2/3 các nội dung; diễn đạt, liên kết câu còn lúng túng.

– Điểm 0,25: Đáp ứng được 1/3 các nội dung trên; có thể còn lỗi câu và dùng từ, chính tả.

– Điểm 0: hiểu sai lạc nội dunghoặc không viết được đoạn văn.

c) Sáng tạo (0,25 điểm)

– Điểm 0,25: cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo (viết câu, sử dụng từ ngữ, hình ảnh và các yếu  tố biểu  cảm,…)  ;  thể hiện được cảm xúc chân thành và sâu sắc về nội dung.

– Điểm 0: cách diễn đạt lan man; mắc nhiều lỗi dùng từ, dựng câu; chữ viết cẩu thả hoặc sai chính tả nhiều.

Đề văn sưu tầm

Xem thêm :

Những đề thi và bài văn mẫu phân tích bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương : tự tình

Bộ đề luyện thi và bài văn mẫu về bài thơ Tự tình 2 – Hồ Xuân Hương

Dàn ý phân tích bài thơ, bộ đề ôn thi , những bài văn mẫu về bài thơ Tự tình- Ngữ văn 11. Ôn tập Bài tự tình 2

Hướng dẫn soạn bài Tự tình Ngữ văn lớp 11

TỰ TÌNH

Hồ Xuân Hương –

 Ôn tập kiến thức cơ bản về bài thơ tự tình 2

Giới thiệu tác giả, tác phẩm:

Hồ Xuân Hương là một trong những nhà thơ nữ tiêu biểu của nền văn học trung đại Việt Nam, được mệnh danh là “bà chúa thơ nôm”. Bà là một “thiên tài kì nữ” nhưng cuộc đời đầy éo le, bất hạnh. Thơ Hồ Xuân Hương là thơ của phụ nữ viết về phụ nữ, trào phúng mà vẫn rất trữ tình. Một trong những bài thơ tiêu biểu viết về tâm trạng, nỗi niềm của người phụ nữ trước duyên phận, cuộc đời mình là “Tự tình” (II).

 Khái quát về bài thơ

“Tự tình” (II) là bài thơ thuộc chùm thơ “Tự tình” gồm ba bài của bà. Đây là chùm thơ nữ sĩ viết để tự kể nỗi lòng, tâm tình của mình. Tác phẩm được viết bằng chữ Nôm, làm theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật với bố cục bốn phần: đề, thực, luận, kết. Bài thơ thể hiện thái độ, tâm trạng vừa đau đớn, vừa phẫn uất trước thực tại đau buồn, tuy vậy, bà vẫn gắng gượng vươn lên, nhưng rồi vẫn rơi vào bi kịch. Dựa vào nội dung bài thơ, ta có thể đoán bài thơ được sáng tác khi bà đã gặp phải những éo le, bất hạnh trong tình duyên.

 Dàn ý phân tích Nội dung, nghệ thuật bài thơ tự tình 2:

Hai câu đề:

  1. Nghệ thuật:
  • Câu 1: Khắc họa thời gian nghệ thuật : “đêm khuya”; từ láy “văng vẳng”; nghệ thuật lấy động tả tĩnh.
  • Câu 2: Đảo ngữ nhấn mạnh từ “trơ”; kết hợp từ độc đáo “cái hồng nhan”; đối lập cái cá nhân nhỏ bé với cái rộng lớn (“cái hồng nhan” đối với “nước non”).
    1. Nội dung: Bối cảnh không gian, thời gian và tâm trạng cô đơn, buồn tủi, bẽ bàng về duyên phận của nhân vật trữ tình.

Hai câu thực:

  1. Nghệ thuật: Phép đối (câu 3 với câu 4); cụm từ “say lại tỉnh”; nghệ thuật tả cảnh ngụ tình (sự tương quan giữa hình ảnh vầng trăng và thân phận nữ sĩ).
  2. Nội dung: Gợi lên hình ảnh người phụ nữ trong đêm khuya vắng lặng với bao xót xa, cay đắng, với nỗi chán chường, đau đớn, ê chề.

Hai câu luận:

  1. Nghệ thuật: Phép đối (câu 5 với câu 6); phép đảo; động từ mạnh (“xiên ngang”, “đâm toạc”); nghệ thuật tả cảnh ngụ tình.
  2. Nội dung: cảnh thiên nhiên trong cảm nhận của người mang sẵn nỗi niềm phẫn uất và sự bộc lộ cá tính, bản lĩnh không cam chịu, như muốn thách thức số phận của Hồ Xuân Hương.

Hai câu kết:

  1. Nghệ thuật: Ngôn ngữ đời thường giản dị, tự nhiên; lặp từ; nghệ thuật tăng tiến.
  2. Nội dung: Tâm trạng chán chường, buồn tủi mà cháy bỏng khát vọng hạnh phúc – cũng là nỗi lòng của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa.

Nghệ thuật cả bài thơ : Sử dụng từ ngữ độc đáo, sắc nhọn; tả cảnh ngụ tình; phép đối, đảo; đưa ngôn ngữ đời thường vào thơ.

Ý nghĩa văn bản:

Bản lĩnh Hồ Xuân Hương được thể hiện qua tâm trạng đầy bi kịch : vừa buồn tủi, phẫn uất trước tình cảnh éo le, vừa cháy bỏng khao khát được sống hạnh phúc.

 Bộ đề luyện tập và hướng dẫn làm bài

         Dựa vào kiến thức cơ bản và phương pháp làm bài nghị luận văn học về bài thơ, đoạn thơ, học sinh luyện tập với đề sau:

Đề 1. Phân tích bài thơ “Tự tình” (II) của nữ sĩ Hồ Xuân Hương.

Đề 2. Phân tích vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình trong bài thơ “Tự tình” (II) của nữ sĩ Hồ Xuân Hương.

 Hướng dẫn luyện tập đề 1 :

Tìm hiểu đề

Dạng đề : Phân tích một bài thơ.

Yêu cầu của đề:

  • Yêu cầu về nội dung : Làm rõ nội dung, nghệ thuật của bài thơ.
  • Yêu cầu về thao tác : Phân tích là thao tác chính, cần kết hợp các thao tác khác như:

chứng minh, bình luận, so sánh…

  • Yêu cầu về tư liệu : Tư liệu chính là những câu thơ trong bài thơ đã cho, tư liệu có liên quan để bổ sung cho ý phân tích.

Lập dàn ý

Mở bài : Giới thiệu tác giả Hồ Xuân Hương, dẫn vào bài thơ “Tự tình” (II). Nêu vấn đề: Bài thơ có giá trị sâu sắc về nội dung và nghệ thuật, trích bài thơ.

Thân bài :

Khái quát : Nêu xuất xứ, thể loại, hoàn cảnh sáng tác, bố cục bài thơ, nội dung chính của bài thơ.

Phân tích nội dung, nghệ thuật bài thơ : Các ý chính cần phân tích

Hai câu đề :

* Phân tích:

  • Câu 1: Khắc họa thời gian nghệ thuật : “đêm khuya”; từ láy “văng vẳng”; nghệ thuật lấy động tả tĩnh.
  • Câu 2 : Đảo ngữ nhấn mạnh từ “trơ”; kết hợp từ độc đáo “cái hồng nhan”; đối lập cái cá nhân nhỏ bé với cái rộng lớn (“cái hồng nhan” đối với “nước non”).

* Làm rõ : Bối cảnh không gian, thời gian và tâm trạng cô đơn, buồn tủi, bẽ bàng về duyên phận của nhân vật trữ tình.

Hai câu thực :

* Phân tích : Phép đối (câu 3 với câu 4); cụm từ “say lại tỉnh”; nghệ thuật tả cảnh ngụ tình (sự tương quan giữa hình ảnh vầng trăng và thân phận nữ sĩ).

* Làm rõ : Gợi lên hình ảnh người phụ nữ trong đêm khuya vắng lặng với bao xót xa, cay đắng, với nỗi chán chường, đau đớn, ê chề.

Hai câu luận:

* Phân tích : Phép đối (câu 5 với câu 6); phép đảo; động từ mạnh (“xiên ngang”, “đâm toạc”); nghệ thuật tả cảnh ngụ tình.

* Làm rõ : cảnh thiên nhiên trong cảm nhận của người mang sẵn nỗi niềm phẫn uất và sự bộc lộ cá tính, bản lĩnh không cam chịu, như muốn thách thức số phận của Hồ Xuân Hương.

Hai câu kết:

* Phân tích : Ngôn ngữ đời thường giản dị, tự nhiên; lặp từ; nghệ thuật tăng tiến.

* Làm rõ : Tâm trạng chán chường, buồn tủi mà cháy bỏng khát vọng hạnh phúc – cũng là nỗi lòng của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa.

Nghệ thuật cả bài thơ : Sử dụng từ ngữ độc đáo, sắc nhọn; tả cảnh ngụ tình; phép đối, đảo; đưa ngôn ngữ đời thường vào thơ.

 III. Kết bài:

Kết luận về nội dung, nghệ thuật và nêu ý nghĩa bài thơ.

 Bài văn mẫu phân tích bài thơ tự tình 2- Hồ Xuân Hương

Hồ Xuân Hương là một trong những nhà thơ nữ tiêu biểu của nền văn học trung đại Việt Nam, được mệnh danh là “bà chúa thơ nôm”. Bà là một “thiên tài kì nữ” nhưng cuộc đời đầy éo le, bất hạnh. Thơ Hồ Xuân Hương là thơ của phụ nữ viết về phụ nữ, trào phúng mà vẫn rất trữ tình. Một trong những bài thơ tiêu biểu viết về tâm trạng, nỗi niềm của người phụ nữ trước duyên phận, cuộc đời mình là “Tự tình” (II). Bài thơ có giá trị sâu sắc về nội dung và nghệ thuật :

(Ghi nguyên văn bài thơ)

“Tự tình” (II) là bài thơ thuộc chùm thơ “Tự tình” gồm ba bài của bà. Đây là chùm thơ nữ sĩ viết để tự kể nỗi lòng, tâm tình của mình. Tác phẩm được viết bằng chữ Nôm, làm theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật với bố cục bốn phần: đề, thực, luận, kết. Bài thơ thể hiện thái độ, tâm trạng vừa đau đớn, vừa phẫn uất trước thực tại đau buồn, tuy vậy, bà vẫn gắng gượng vươn lên, nhưng rồi vẫn rơi vào bi kịch. Dựa vào nội dung bài thơ, ta có thể đoán bài thơ được sáng tác khi bà đã gặp phải những éo le, bất hạnh trong tình duyên.

           Mở đầu bài thơ là hình ảnh người phụ nữ không ngủ, một mình ngồi giữa đêm khuya:

“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

Trơ cái hồng nhan với nước non.”

Giữa đêm khuya, người phụ nữ thao thức không ngủ được và nàng nghe âm thanh tiếng trống canh dồn dập. “Đêm khuya” là thời gian của hạnh phúc lứa đôi, của sum họp gia đình, vậy mà ở đây, trớ trêu thay, người phụ nữ lại đơn độc một mình. Nàng cô đơn quá nên thao thức không ngủ, nàng nghe âm thanh tiếng trống canh “văng vẳng”. Từ láy này miêu tả âm thanh từ xa vọng lại. Với nghệ thuật lấy động tả tĩnh, người đọc cảm nhận được không gian đêm khuya tĩnh lặng, im lìm và người phụ nữ thật cô đơn, tội nghiệp. Trong xã hội xưa, tiếng trống canh là âm thanh dùng báo hiệu thời gian một canh giờ trôi qua. Nữ sĩ nghe âm thnah tiếng trống canh “dồn” – tiếng trống dồn dập, khẩn trương – có lẽ là vì nàng đang ngồi đếm thời gian và lo lắng thấy nó trôi qua một cách dồn dập, tàn nhẫn. Nó chẳng cần biết tuổi xuân của nàng sắp vuột mất mà nàng thì vẫn đang phải “trơ cái hồng nhan” ra giữa “nước non”. Dường như, nỗi cô đơn, xót xa ấy luôn dày vò nữ sĩ nên thời gian trở thành nỗi ám ảnh không nguôi trong tâm hồn bà. Trong chùm “Tự tình”, nỗi ám ảnh về thời gian còn hiện hữu trong âm thanh “tiếng gà”. Người phụ nữ ấy cũng trằn trọc cho đến sáng để rồi nghe âm thanh “tiếng gà văng vẳng gáy trên bom” mà đau đớn, mà oán hận. Ở đây, “hồng nhan” là nhan sắc của người phụ nữ vẫn còn ở độ mặn mà, cái mà bất cứ ai cũng trân trọng. Thế mà, nó lại kết hợp với từ “cái”- một danh từ chỉ loại thường gắn với những thứ vật chất nhỏ bé, tầm thường. Nàng tự thấy nhan sắc của mình quá nhỏ bé, rẻ rúng bởi nó chẳng khác gì một thứ đồ ít giá trị, lại chẳng được ai đoái hoài đến. Nó phải “trơ” ra, phô ra, bày ra một cách vô duyên, vô nghĩa lí giữa đất trời. Từ “trơ” đứng đầu câu cho ta cảm nhận được nỗi xót xa, đau đớn, tủi hổ, bẽ bàng của người phụ nữ một mình giữa đêm khuya, không ai quan tâm, đoái hoài. Tuy có bẽ bàng, tủi hổ nhưng ta vẫn thấy ẩn khuất trong câu thơ một nữ sĩ mạnh mẽ, cá tính dám đem cái tôi cá nhân để đối lập với cả “nước non” rộng lớn. Hồ Xuân Hương là thế, không bao giờ chịu bé nhỏ, yếu mềm. Hai câu đầu bằng cách khắc họa thời gian, không gian nghệ thuật và cách kết hợp từ độc đáo đã thể hiện rõ nỗi cô đơn, đau đớn, tủi hổ bẽ bàng trước tình duyên hẩm hiu của chính mình.

            Hai câu thực khắc họa sâu sắc sự phẫn uất trước tình cảnh éo le:

“Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,

Vầng trăng bóng xế, khuyết chưa tròn”.

Giữa đêm khuya, cô đơn và buồn tủi, nàng tìm đến rượu để quên đi tất cả nhưng nào quên được “say lại tỉnh”. Say, có thể quên đi được một chốc, nhưng đâu có thể say mãi, rồi sẽ lại “tỉnh” ra. Tỉnh ra lại càng ý thức sâu sắc hơn nỗi cô đơn, xót xa, lại càng buồn hơn. Ẩn sau cái hành động tìm đến rượu để giải tỏa nỗi sầu là cả niềm phẫn uất sâu sắc trước số phận bất hạnh. Cụm từ “say lại tỉnh” cho thấy cái bế tắc, quẩn quanh trong nỗi buồn, cô đơn của người phụ nữ. nàng cô đơn nên tìm đến vầng trăng bên ngoài kia mong sự đồng cảm. nàng thấy vầng trăng đã “xế” bóng “khuyết chưa tròn”. Nàng nhìn thấy số phận bất hạnh của mình trong hình ảnh vầng trăng : nàng cũng đã ở tuổi “xế” chiều mà tình duyên vẫn hẩm hiu, lận đận, “chưa tròn”. Ở hai câu này, bằng phép đối, nghệ thuật tả cảnh ngụ tình, nữ sĩ đã khắc họa nên tâm trạng bế tắc và nỗi phẫn uất sâu sắc trước duyên phận hẩm hiu, lỡ làng.

            Sang hai câu luận, dường như sự phẫn uất ấy biến thành sự chống trả kịch liệt:

“Xiên ngang mặt đất rêu từng đám,

Đâm toạc chân mây đá mấy hòn.”

Hai câu thơ được cấu tạo đặc biệt: đảo vị ngữ là những động từ mạnh lên đầu câu. “Xiên ngang” và “đâm toạc” là hành động của những vật vô tri vô giác. Trong tự nhiên, rêu là sự vật bé nhỏ, yếu mềm, thế mà ở đây dường như nó mạnh mẽ hơn, cứng cỏi thêm để “xiên ngang mặt đất”. “Đá” là vật bất động, thế mà ở đây cũng đang to hơn, nhọn hơn, đang cựa quậy, “nổi loạn” phá tan không gian tù túng bị giới hạn bởi “chân mây”. Hình ảnh thiên nhiên động, thiên nhiên “nổi loạn” này không chỉ xuất hiện một lần mà còn có trong nhiều những tác phẩm khác của bà. Lí giải cho sự xuất hiện những hình ảnh thiên nhiên như thế là ở cá tính mạnh mẽ của nữ sĩ. Thiên nhiên được miêu tả thể hiện rõ tâm trạng con người, như đại thi hào Nguyễn Du từng đúc kết về mối quan hệ giữa cảnh và tình : “Cảnh buồn người có vui đâu bao giờ”. Cảnh được miêu tả là “nổi loạn”, là “phá bĩnh” thể hiện tâm trạng người phụ nữ lúc này cũng muốn “nổi loạn”, quẫy đạp để phá tan số phận bất hạnh, tình duyên hẩm hiu của mình. Dường như, người phụ nữ đang gồng mình lên để chống trả kịch liệt số phận. Đó chính là thái độ phản kháng mạnh mẽ của nữ sĩ trước thực tại đau buồn. Đằng sau sự phản kháng mạnh mẽ ấy là khao khát sống, khao khát hạnh phúc lứa đôi mãnh liệt của nữ sĩ. Hai câu thơ, với phép đối, phép đảo nhấn mạnh hai động từ mạnh đầu câu và nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đã cho thấy sự cố gắng vươn lên đấu tranh với số phận, đồng thời cho thấy khát khao sống, khát khao hạnh phúc lứa đôi mãnh liệt ở nữ sĩ xinh đẹp, tài năng mà cuộc đời không ưu ái. Người đọc thật sự khâm phục trước bản lĩnh cứng cỏi, không chịu đầu hàng số phận của người phụ nữ cá tính ấy.

           Đến hai câu cuối bài thơ, tuy nàng đã cố gắng vươn lên nhưng không thoát khỏi cái thở dài ngán ngẩm trước bi kịch :

“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,

Mảnh tình san sẻ tí con con”.

Nàng thở dài “ngán nỗi”. Nàng chán ngán bởi “xuân đi xuân lại lại”. Mùa xuân và vẻ đẹp của nó phai đi nhưng rồi sẽ quay trở lại theo quy luật của tạo hóa. Nhưng “xuân” của người phụ nữ, tuổi trẻ và sắc đẹp của nàng thì không thể nào trở lại được, mà cứ mỗi một mùa xuân trôi đi là lại thêm một lần nữa tuổi xuân của đời người ra đi, thế nên nàng “ngán”. Cụm từ “lại lại” như một sự thở dài ngao ngán trước sự trôi chảy tàn nhẫn của thời gian. Nó cứ trôi đi, không thèm để ý đến cái bi kịch đang cướp đi tuổi trẻ của nàng : “mảnh tình san sẻ”. Tình yêu của nàng vốn dĩ mỏng manh, bé nhỏ, chỉ là một “mảnh”, thế mà còn phải san sẻ”, chia năm sẻ bảy ra thật tội nghiệp. bởi vậy mà nó chỉ còn là một “tí” ‘con con”. Nghệ thuật tăng tiến theo chiều giảm dần khiến người đọc thấy rõ cái bi kịch xót xa của nữ sĩ và cảm thương cho con người tài hoa mà bạc mệnh. Bi kịch ấy đeo đẳng lấy người phụ nữ khiến nàng không chỉ thốt lên ngao ngán một lần. Trong “Tự tình” (III) nàng cũng từng thở dài :

“Ngán nỗi ôm đàn những tấp tênh”.

Đây cũng là một cách nói khác của bi kịch tình yêu bị chia năm sẻ bảy. Nàng có chồng – “ôm đàn” – nhưng lấy chồng mà vẫn “tấp tênh” như chẳng có, “một tháng đôi lần có cũng không”. Hai câu kết bài thơ với những từ ngữ giản dị, tự nhiên và nghệ thuật tăng tiến, người đọc cảm nhận được cái chán ngán khi rơi vào bi kịch của nữ sĩ. Tuy thế, dư âm của cái khát khao sống, khát khao hạnh phúc lứa đôi mãnh liệt ở hai câu trước vẫn khiến người đọc cảm phục bản lĩnh cứng cỏi của “bà chúa thơ Nôm”.

Với ngôn ngữ thơ nôm giản dị, tự nhiên nhưng cũng sắc nhọn, với các biện pháp nghệ thuật đảo, đối, dùng động từ mạnh, tả cảnh ngụ tình…bài thơ thể hiện tâm trạng vừa đau đớn, vừa phẫn uất trước duyên phận, nhưng vẫn cố gắng vươn lên với khát khao sống, khát khao hạnh phúc mãnh liệt, tuy vẫn rơi vào bi kịch.

Tóm lại, “Tự tình” (II) thể hiện bản lĩnh Hồ Xuân Hương qua tâm trạng đầy bi kịch : vừa buồn tủi, phẫn uất trước tình cảnh éo le, vừa cháy bỏng khao khát được sống hạnh phúc. Đọc bài thơ, ta vừa thương xót cho số phận bất hạnh, vừa khâm phục bản lĩnh cứng cỏi của nữ sĩ. Bài thơ là minh chứng tiêu biểu cho tài năng ngôn ngữ của “bà chúa thơ Nôm”.

(Tài liệu sưu tầm )

Mời các bạn xem thêm: Bộ đề luyện thi và những bài văn hay về bài thơ Tự Tình 2 : Tự tình

Giáo án bài Tự Tình- Hồ Xuân Hương theo định hướng phát triển năng lực

Giáo án bài Tự Tình- Hồ Xuân Hương theo định hướng phát triển năng lực

Soạn bài Tự tình II, Ngữ văn 11.

TỰ TÌNH

Ngày soạn: 26/8/2016

Tuần         :    1

Tiết PPCT:    3 – 4

 

                                                               – Hồ Xuân Hương-

Mục tiêu cần đạt:

. Kiến thức:

Tâm trạng bi kịch, tính cách và bản lĩnh của Hồ Xuân Hương.

Khả năng Việt hóa thơ Đường: dùng từ ngữ độc đáo, sắc nhọn; tả cảnh sinh động; đưa ngôn ngữ thời Đường vào thơ ca.

Kĩ năng: Đọc – hiểu một bài thơ trữ tình theo đặc trưng thể loại.

Thái độ: Cảm thông với tâm sự HXH nói riêng và thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến nói chung .

Về định hướng phát triển năng lực:

– Năng lực sáng tạo: HS xác định được ý tưởng, tâm sự của HXH được gửi gắm trong bài thơ; trình bày được suy nghĩ và cảm xúc của mình đối với giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ.

– Năng lực hợp tác: Thảo luận nhóm để thể hiện cảm nhận của cá nhân và lắng nghe ý kiến của bạn để tự điều chỉnh cá nhân mình.

– Năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mỹ: HS nhận ra được những giá trị thẩm mỹ trong tác phẩm; hiểu được những giá trị của bản thân qua việc cảm hiểu tác phẩm; hình thành và nâng cao những xúc cảm thẩm mỹ…

Phương pháp và phương tiện dạy học

  1. Phương pháp dạy học

– Phương pháp đọc hiểu, đọc diễn cảm, phân tích, bình giảng, kết hợp so sánh

– Tích hợp phân môn: Làm văn, tiếng Việt, làm  văn

  1. Phương tiện dạy học

– Sgk. Giáo án, đọc tài liệu tham khảo.

Nội dung và tiến trình lên lớp:

  1. Ổn định lớp
  2. Kiểm tra bài cũ.
  3. Tổ chức dạy và học bài mới:

    3.1. Hoạt động khởi động: Khi xã hội phong kiến Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng, làm cho cuộc sống của người nông dân vô cùng khổ cực, đặc biệt là người phụ nữ. Và không ít nhà thơ, nhà văn đã phản ánh điều này trong tác phẩm như: “ Truyện kiều “ ( Nguyễn Du), “ Chinh phụ ngâm “ ( Đặng trần Côn ), “ Cung oán ngâm khúc “ ( Nguyễn Gia Thiều ), …Đó là những lời cảm thông của người đàn ông nói về người phụ nữ, vậy người phụ nữ nói về thân phận của chính họ như thế nào, ta cùng tìm hiểu bài “ Tự tình II “ của Hồ Xuân Hương.

 3.2. Hoạt động hình thành kiến thức mới

 

Hoạt động của học sinh Hướng dẫn của giáo viên Nội dung cần đạt
– Nêu vài nét về cuộc đời tác giả Hồ Xuân Hương ?

 

– Sự nghiệp sáng tác của HXH?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– Tìm những từ chỉ không gian, thời gian và tâm trạng của nhân vật trữ tình trong 2 câu thơ đầu?

–  Nhận xét cách dùng từ và ngắt nhịp câu thơ 2?

 

 

 

 

 

 

 

 

– Chén rượu có làm vơi đi nỗi lòng của nhà thơ không? Em hãy cho biết tâm trạng của nhà thơ

– Hình tượng thiên nhiên trong hai câu thơ 5+6 góp phần diễn tả tâm trạng và thái độ của nhân vật trữ tình trước số phận như thế nào?

+ Tác giả sử dụng biện pháp nghệ nào?

+ tại sao khi nhìn xuống đất tác giả lại chú ý đến rêu, khi nhìn lên cao lại chú ý đến đá?

– Hai câu kết nói lên tâm sự gì của tác giả?

– Nghệ thuật tăng tiến ở câu thơ cuối có ý nghĩa như thế nào?

–  Giải thích nghĩa của hai “xuân” và hai từ “lại” trong câu thơ ?

 

– GV yêu cầu hs đọc phần tiểu dẫn sgk

 

 

– GV gợi ý câu trả lời cho HS thông qua thông tin đã cung cấp ở phần tiểu dẫn

– GV nhận xét, bổ sung và chốt ý

 

 

 

– GV hướng dẫn HS khái quát nội dung

– GV hướng dẫn Hs đọc câu thơ đọc ngặt nhịp trong câu 2

– GV hướng dẫn HS cảm nhận các chi tiết trong câu thơ.

 

 

 

 

 

 

 

GV đọc lại hai câu thực đưa ra câu hỏi hs trả lời và cảm nhận.

 

 

GV cho HS xem hình cây rêu đang mọc xanh tươi khi vươn khỏi mặt đất.

 

GV gợi ý cho HS tìm ra biện pháp nghệ thuật trong câu thơ.

 

GV hướng dẫn hs tìm hiểu hai câu cuối.

– GV gợi ý cho HS tìm ra biện pháp nghệ thuật

 

 

 

 

– GV nhận xét và đưa ra kết luận

 

 

 

– GV hướng dẫn HS củng cố bài và đọc phần ghi nhớ.

 

I. Tìm hiểu chung:

   1. Tác giả:

– HXH là thiên tài kì nữ nhưng cuộc đời gập nhiều bất hạnh.

– Thơ HXH là thơ của phụ nữ viết về phụ nữ, trào phúng mà trữ tình, đậm chất dân gian từ đề tài, cảm hứng ngôn từ và hình tượng.

   2. Sự nghiệp sáng tác:

– Sáng tác cả chữ Hán và chữ Nôm nhưng thành công ở chữ Nôm.

→ được mệnh danh là “ bà chúa thơ Nôm”.

– Bài thơ “Tự tình” nằm trong chùm thơ tự tình gồm 3 bài của Hồ Xuân Hương.

II. Đọc – hiểu:

1. Hai câu đề:

– Thời gian : đêm khuya

– Không gian vắng vẻ với bước đi dồn dập của thời gian “ tiếng trống canh dồn “

→ Tâm trạng cô đơn, tủi hổ của Hồ Xuân Hương.

Nghệ thuật đối lập:

Cái hồng nhan >< nước non.

Cái – hồng nhan, từ “ trơ”

à Cách dùng từ: Cụ thể hóa, đồ vật hóa, rẻ rúng hóa cuộc đời của chính mình.

=> Nhấn mạnh sự bẻ bàng,  tủi hổ đòng thời thể hiện sự bền gan thách đố cùng số phận.

  2. Hai câu thực:

– “ say lại tỉnh “ -> vòng quẩn quanh

– Trăng khuyết: chưa tròn

-> Tuổi xuân đã đi qua nhưng tình duyên vẫn chưa trọn vẹn

-> Nỗi đau thân phận

3. Hai câu luận:

– Rêu: nhỏ bé, yếu ớt

– Động từ mạnh: Xiên ngang, đâm toạc-> Tả cảnh thiên nhiên kì lạ phi thường, đầy sức sống: Muốn phá phách, tung hoành

– Mạnh mẽ, quyết liệt, tìm mọi cách vượt lên số phận.

– Phép đảo ngữ và nghệ thuật đối-> sự phẫn uất, phản kháng của tâm trạng nhân vật trữ tình.

4. Hai câu kết:

Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại,

Mảnh tình san sẻ tí con con.

– Hai câu kết khép lại lời tự tình.

àNỗi đau về thân phận lẽ mọn, ngán ngẩm về tuổi xuân qua đi không trở lại, nhưng mùa xuân của đất trời vẫn cứ tuần hoàn.

–  Đó là nỗi lòng của người phụ nữ ngày xưa khi với họ hạnh phúc chỉ là chiếc chăn bông quá hẹp.

à Câu thơ nát vụn ra, vật vã đến nhức nhối vì cái duyên tình hẩm hiu, lận đận của nhà thơ. Càng gắng gượng vươn lên càng rơi vào bi kịch.

III. Tổng kết:

Qua bài thơ ta thấy được bản lĩnh HXH được thể hiện qua tâm trạng đầy bi kịch: vừa buồn tủi vừa phẫn uất trước tình cảnh éo le, vừa cháy bỏng khao khát được hạnh phúc và tài năng đọc đáo của” Bà Chúa Thơ Nôm” trong nghệ thuật sử sụng từ ngữ và xây dựng hình tượng.

 

3.3. Hoạt động thực hành ứng dụng

Bài tập: Cảm nhận của anh/ chị về thân phận người phụ nữ xưa qua bài thơ “ tự tình”

3.4. Hoạt động bổ sung

– Tìm những bài thơ của Hồ Xuân Hương thể hiện cá tính mạnh mẽ, cá tính trong cách sử dụng từ ngữ và xây dựng hình tượng.

Hướng dẫn soạn bài tiếp theo

Soạn bài mới: Câu cá mùa thu

(Tài liệu sưu tầm )

Xem thêm :

  1. Trọn bộ giáo án Ngữ văn khối 10
  2. Giáo án Ngữ văn khối 11
  3. Giáo án Ngữ văn khối 12

Đề kiểm tra Ngữ văn 11 theo định hướng phát triển năng lực, chủ đề thơ trung đại Việt Nam

Đề kiểm tra Ngữ văn 11 theo định hướng phát triển năng lực, chủ đề thơ trung đại Việt Nam

CHỦ  ĐỀ THƠ TRUNG ĐẠI VIỆT NAM

(Ngữ văn: 11)

XÁC ĐỊNH CHUẨN KIẾN THỨC KĨ NĂNG

  • Hiểu được những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của những bài thơ trong chủ đề.
  • Hiểu một số đặc điểm cơ bản của thơ trung đại Việt Nam.
  • Bước đầu nhận diện được một số phong cách thơ trung đại ở một số phương diện như: đề tài, cảm hứng, thể loại và ngôn ngữ.
  • Biết cách đọc hiểu một văn bản thơ trung đại.
  • Vận dụng được những hiểu biết về thơ trung đại Việt Nam vào đọc hiểu những văn bản tương tự ngoài chương trình SGK.

Từ đó có thể hình thành các năng lực sau:

+ Năng lực thu thập thông tin liên quan đến văn bản.

+ Năng lực giải quyết những tình huống đặt ra trong các văn bản.

+ Năng lực đọc hiểu thơ trung đại Việt Nam theo đặc điểm thể loại.

+ Năng lực trình bày suy nghĩ cảm nhận của cá nhân về ý nghĩa của văn bản.

+ Năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận về nội dung và nghệ thuật của văn bản.

 

 II.BẢNG MÔ TẢ CÁC MỨC ĐỘ ĐÁNH GIÁ CHỦ ĐỀ “THƠ TRUNG ĐẠI VIỆT NAM” THEO ĐỊNH HƯỚNG NĂNG LỰC

 

Nhận biết Thông hiểu Vận dụng
Vận dụng thấp Vận dụng cao
– Nêu thông tin về tác giả (cuộc đời, con người, phong cách nghệ thuật), tác phẩm (xuất xứ, hoàn cảnh ra đời). – Vận dụng hiểu biết về tác giả (cuộc đời, con người), hoàn cảnh ra đời của tác phẩm  để lí giải nội dung và nghệ thuật của bài thơ. – Vận dụng đặc điểm phong cách nghệ thuật của nhà thơ vào hoạt động tiếp nhận và đọc hiểu văn bản.
– Nhận ra đề tài cảm hứng và  thể thơ. – Hiểu được cội nguồn nảy sinh cảm hứng.

Hiểu được đặc điểm cơ bản của thể thơ

– Vận dụng hiểu biết về đề tài, cảm hứng thể thơ vào phân tích, lí giải giá trị nội dung và nghệ thuật. – Từ đề tài, cảm hứng, thể thơ…tự xác định được con đường phân tích một văn bản mới cùng thể tài (thể loại, đề tài).
– Nhận diện chủ thể trữ tình, đối tượng trữ tình, thế giới hình tượng( thiên nhiên, cảnh vật, không gian, thời gian…) trong bài thơ.

 

– Hiểu được tâm trạng, tình cảm của nhân vật trữ tình trong bài thơ.

 

– Phân tích được ý nghĩa của thế giới hình tượng đối với việc thể hiện tình cảm, cảm xúc của nhân vật trữ tình

– Giải thích được  tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ.

– Biết đánh giá tâm trạng, tình cảm của nhân vật trữ  tình.

 

– Khái quát hoá về đời sống tâm hồn nhân cách của nhà thơ.

 

– So sánh cái “tôi” trữ tình của các nhà thơ, trong các bài thơ.

– Giải thích được tâm trạng, cảm xúc của tác giả.

– Biết bình luận, đánh giá đúng đắn những ý kiến nhận định về các tác phẩm thơ đã được học.

– Liên hệ với những giá trị sống hiện tại của bản thân và những người xung quanh.

– Biết cách tự nhận diện, phân tích và đánh giá thế giới hình tượng và tâm trạng của nhân vật trữ tình trong những bài thơ khác, tương tự, cùng thể tài.

– Phát hiện các chi tiết, biện pháp nghệ thuật đặc sắc (từ ngữ, biện pháp tu từ, câu thơ, hình ảnh, nhịp điệu, bút pháp…) – Lí giải ý nghĩa, tác dụng của biện pháp nghệ thuật. – Đánh giá giá trị nghệ thuật của tác phẩm – Khái quát giá trị đóng góp của tác phẩm đối với thể loại, nghệ thuật thơ,  xu hướng hiện đại hóa văn học nói chung và thơ  ca nói riêng.

– Tự phát hiện và đánh giá giá trị nghệ thuật của các tác phẩm tương tự không có trong chương trình.

– Đọc diễn cảm toàn bộ tác phẩm (thể hiện được tình cảm, cảm xúc của nhà thơ trong tác phẩm). – Đọc sáng tạo (không chỉ thể hiện tình cảm, cảm xúc của tác giả mà còn bộc lộ những cảm nhận, cảm xúc, trải nghiệm riêng của bản thân).

– Đọc nghệ thuật (đọc có biểu diễn).

– Viết bài bình thơ, giới thiệu thơ.

– Sưu tầm những bài văn hay, tương tự của tác giả và của giai đoạn văn học này.

– Sáng tác thơ.

– Viết bài tập nghiên cứu khoa học.

– Tham gia các câu lạc bộ thơ, ngày hội thơ.

 

III.CÂU HỎI-BÀI TẬP MINH HOẠ  

                                  Bài thơ “Tự tình(II) (Hồ Xuân Hương)

 

Nhận biết Thông  hiểu Vận  dụng
Thấp Cao
– Nêu những nét chính về cuộc đời  của nhà thơ Hồ Xuân Hương?

– Nêu những hiểu biết của  em về phong cách thơ Hồ Xuân Hương?

– Kể tên những tập thơ tiêu biểu của Hồ Xuân Hương?

– Bài thơ Tràng Giang được tác giả “Tự tình” (II)  sáng tác trong hoàn cảnh nào?

– Bài thơ được sáng tác theo thể thơ nào? Hãy chỉ ra những biểu hiện của thể thơ đó?

– Xác định nhân vật trữ tình trong bài thơ?

– Chỉ ra các thủ pháp nghệ thuật được tác giả sử sụng trong bài thơ?

 

 

 

 

-Thời gian và không gian nghệ thuật trong bài thơ có tác dụng nghệ thuật gì?

-Giá trị biểu cảm của các từ ngữ:văng vẳng, dồn,trơ,cái hồng nhan,  say lại tỉnh?

-Mối tương quan giữa hình tượng “trăng bóng xế” mà vẫn “khuyết chưa tròn” với thân phận nữ sĩ?

-Hiệu quả nghệ thuật  của phép đảo ngữ và các động từ mạnh trong hai câu thơ 5 và 6?

-Hình tượng thiên nhiên trong hai câu 5 và 6 góp phần diễn tả tâm trạng, thái độ của nhà thơ như thế nào ?

-Hiệu quả nghệ thuật của từ xuân,từ lại;nghệ thuật tăng tiến: Mảnh tình-san sẻ-tí-con con trong việc diễn tả tâm sự của tác giả ở 2 câu kết?

 

 

– Căn cứ vào những hiểu biết về tác giả Hồ Xuân Hương và bài thơ “Tự tình” ,giải thích ý nghĩa nhan đề “Tự tình” ?

 

-Phân tích hoàn cảnh và tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bốn câu thơ đầu ?

 

 

 

 

 

Phân tích “tinh thần nổi loạn” của Hồ Xuân Hương qua bốn câu thơ cuối bài thơ?

 

 

 

-Phân tích tài năng sử dụng ngôn ngữ của Hồ Xuân Hương trong bài thơ “Tự tình?

 

 

 

-Đọc diễn cảm bài thơ “Tự tình”?

-Viết bài văn ngắn giới thiệu về phong cách thơ “Bà chúa thơ Nôm” Hồ Xuân Hương?

 

-Bằng hiểu biết của bản thân về cuộc đời và thơ Hồ Xuân Hương,hãy viết đoạn văn ngắn về chủ đề:“Nỗi buồn thân phận”

 

 

 

 

-Có ý kiến cho rằng Hồ Xuân Hương là “đứa con ngỗ ngược của chế độ phong kiến”.Hãy bình luận và kiến giải ?

 

 

 

-Bài thơ (“Tự tình” )nói lên bi kịch duyên phận vừa cho thấy khát vọng sống,khát vọng hạnh phúc của Hồ Xuân Hương.(Ngữ văn 11,tập 1,tr.19)Hãy phân tích để làm sáng tỏ nhận định trên.

-Đọc nghệ thuật.(ngâm thơ kết hợp biểu diễn)

 

 

IV.ĐỀ KIỂM TRA CHO CHỦ ĐỀ “THƠ TRUNG ĐẠI VIỆT NAM”

                               Ma trận đề kiểm tra

      Mức độ

Chủ đề

Nhận biết Thông hiểu Vận dụng Tổng
Thấp Cao
I.    Đọc –  hiểu

 

 

-Xác định chủ thể trữ tình trong bài thơ?

 

-Xác định các biện pháp nghệ thuật đựơc sử dụng trong bốn câu cuối bài thơ?

 

 

 

 

 

-Phân tích hiệu quả của các thủ pháp nghệ thuật đó?

-Bằng hiểu biết của bản thân về cuộc đời và thơ Hồ Xuân Hương,hãy viết đoạn văn ngắn về chủ đề:“Nỗi buồn thân phận”

 

Số câu

Số điểm:

Tỷ lệ

2

2,0

20%

1

1,0

10%

 

1

1

10%

 

4

4

40%

II.Làm văn

 

– Những nét chính về tác giả Hồ Xuân Hương,tác phẩm Tự tình.

 

– Phân tích được hoàn cảnh tâm trạng  của nhân vật trữ tình trong 4 câu thơ đầu.

-Phân tích được khát vọng sống, khát vọng  nổi loạn của nhà thơ ở bốn câu cuối.

-Những đặc sắc trong nghệ thuật của bài thơ về mặt:thể loại ,thủ pháp nghệ thuật, ngôn ngữ….

– Trình bày nhận xét,đánh giá, quan điểm  của mình về ý kiến cần NL.

– Liên hệ một số bài thơ khác của Hồ Xuân Hương  và cùa nhà thơ khác có chung đề tài

-Biết liên hệ  với vấn đề mang tính thời đại

 

Số điểm:

Tỷ lệ

1

10%

4

40%

1

10%

6

60%

Tổng chung:

Số câu

Số điểm:

Tỷ lệ

 

2

3,0

30%

 

1

1,0

10%

 

1

5,0

50%

 

1

1,0

10%

 

5

10

100%


  V.ĐỀ KIỂM TRA

(Thời gian làm bài: 90 phút)

Phần I: Đọc – hiểu (4 điểm)

Đọc bài thơ sau  và trả lời câu hỏi nêu ở bên dưới:

“Tự tình”(II)

Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,
Trơ cái hồng nhan với nước non.
Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn,
Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám.
Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,
Mảnh tình san sẻ tí con con!        

———————————————

Câu 1: Xác định chủ thể trữ tình trong bài thơ?

Câu 2: Chỉ ra các thủ pháp nghệ thuật được sử dụng trong bốn câu thơ cuối?

Câu 3: Phân tích hiệu quả nghệ thuật của các thủ pháp nghệ thuật được sử dụng trong bốn câu thơ cuối?

Câu 4: Bằng hiểu biết của bản thân về cuộc đời và thơ Hồ Xuân Hương,hãy viết đoạn văn ngắn về chủ đề:”Nỗi buồn thân phận”

 

II.Phần 2: Tự luận( 6 điểm)

 

Bài thơ (“Tự tình” II )nói lên bi kịch duyên phận vừa cho thấy khát vọng sống,khát vọng hạnh phúc của Hồ Xuân Hương.(Ngữ văn 11,tập 1,tr.19)

Hãy phân tích để làm sáng tỏ nhận định trên.

___________________________HẾT____________________________

VI.HƯỚNG DẪN CHẤM,BIỂU ĐIỂM.

1.Hướng dẫn chấm

Thí sinh có thể cảm nhận viết theo những cách khác nhau ,nhưng cần thuyết phục, đảm bảo theo yêu cầu của thể loại và đề bài.

-Cần khuyến khích những bài viết có chiều sâu,sáng tạo.

2.Biểu điểm

 

Câu Nội dung Điểm
I.

Đọc hiểu

a. Yêu cầu về kĩ năng:

– Học sinh có kĩ năng đọc hiểu văn bản.

– Diễn đạt rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.

b. Yêu cầu về kiến thức:

1 Chủ thể trữ tình trong bài thơ là người phụ nữ trong xã hội phong kiến đầy rẫy những bất công,éo le (Có thể là chính bản thân nhà thơ).Khi tuổi xuân đang trôi đi mà hạnh phúc lứa đôi vẫn chưa trọn vẹn. 01
2 Các thủ pháp nghệ thuật được sử dụng trong bốn câu cuối

-Đảo ngữ:Xiên ngang mặt đất /rêu từng đám

                 Đâm toạc chân mây/đá mấy hòn

-Biện pháp tăng tiến :Mảnh tình-san sẻ-tí-con con

-Kết hợp với cách dùng động từ mạnh:xiên ngang,đâm toạc;Cách dùng từ lại,từ xuân

 

01
3  Hiệu quả nghệ thuật:

-Đảo ngữ:Xiên ngang mặt đất /rêu từng đám

                 Đâm toạc chân mây/đá mấy hòn

Kết hợp với cách dùng động từ mạnh:xiên ngang,đâm toạc.Nhấn mạnh khát vọng nổi loạn,khát vọng sống và hạnh phúc lứa đôi của nhà thơ .Góp phần tô đậm cá tính của tác giả.

-Biện pháp tăng tiến :Mảnh tình-san sẻ-tí-con con.Cách dùng từ lại,từ xuân diễn tả bi kịch của nhà thơ,khát vọng đáng trân trọng cuối cùng vẫn bị xã hội chà đạp ,vùi dập.

 

 

 

 

01

 

 

4 Học sinh có nhiều cách viết khác nhau,nhưng cần làm rõ những ý sau:

-Người phụ nữ trong xã hội xưa không có quyền làm chủ bản thân mình.Số phận của họ do kẻ khác định đoạt(“ba chìm bảy nổi với nước non”,”rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn”).

-Những khát vọng sống,khát vọng hạnh phúc đáng trân trọng nhưng đều bị xã hội chà đạp và vùi dập

 

01

 

 

 

 

II

Làm văn

a. Yêu cầu về kĩ năng:

– Học sinh biết cách làm bài nghị luận văn học kết hợp với nghị luận xã hội.

– Vận dụng tốt các thao tác lập luận.

– Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.

– Khuyến khích những bài viết sáng tạo.

b. Yêu cầu về kiến thức:

– Giới thiệu khái quát về tác giả Hồ Xuân Hương, tác phẩm Tự Tình (II)

Khái quát về bi kịch duyên phận và khát vọng sống,khát vọng hạnh phúc của nhà thơ.

0,5
*Bốn câu thơ đầu:Hoàn cảnh và tâm trạng

-Không gian :đêm khuya,lúc nửa đêm về sáng khi vạn vật chìm trong bóng tối .

-Âm thanh:tiếng trống canh dồn đập,gợi cảm nhận sự trôi chảy của thời gian.Từ láy “văng vẳng” tô đậm sự im lặng ,nhờ thủ pháp lấy động tả tĩnh.

-Cảm nhận thân phận qua những từ ngữ như:”trơ” (sự bẽ bàng),cách gọi “cái hồng nhan” (tự trào mỉa mai,chua xót cho bản thân);Thủ pháp đối lập giữa Cái hồng nhan/với nước non  nhấn mạnh sự cứng cỏi,tư thế kiêu hãnh của người phụ nữ cô đơn buồn tủi.

-Tâm trạng cô đơn,chán chường,tìm đến rượu như một sự cứu cánh nhưng kết cục vẫn bế tắc.Vọng nguyệt muốn tìm tri âm ,nhưng chỉ thêm bẽ bàng khi liên tưỏng đến thân phận”khuyết chưa tròn”.

*Bốn câu cuối:Khát vọng sống,khát vọng hạnh phúc.

-Hình ảnh bé nhỏ:”rêu từng đám”,’đá mấy hòn” gợi sự hèn mọn,nhỏ bé về thân phận.

-Nỗi niềm căm phẫn,không cam chịu số phận.Qua nghệ thuật đảo ngữ và cách dùng động từ mạnh”xiên ngang” và “đâm toạc“nhấn mạnh khát vọng nổi loạn.

-Tiềm tàng khát vọng sống và hạnh phúc lứa đôi.Từ “ngán” cho thấy sự bất mãn,chán chường.Nhận thức sự tuần hoàn của mùa xuân đất trời và sự hữu hạn của tuổi xuân con người.

-Trở lại bi kịch bẽ bàng ,thấm thía qua thủ pháp tăng tiến :Mảnh tình-san sẻ-tí-con con.Mảnh tình vốn đã bé nhỏ lại bị san sẻ chỉ còn lại tí con con đầy chua chát.

 

02

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

02

* – Liên hệ một số bài thơ khác của Hồ Xuân Hương  và của nhà thơ khác có chung đề tài

-Biết liên hệ ,mở rộng những vấn đề mang tính thời đại

01

 

 

 

 

 

 

 

Qua bài thơ ta thấy được bản lĩnh Hồ Xuân Hương được thể hiện qua tâm trạng đầy bi kịch: vừa buồn tủi vừa phẫn uất trước tình cảnh éo le, vừa cháy bỏng khao khát hạnh phúc. 0,5

 

………..Hết………….

(Tài liệu sưu tầm )

Xem thêm :

  1. Trọn bộ giáo án Ngữ văn khối 10
  2. Giáo án Ngữ văn khối 11
  3. Giáo án Ngữ văn khối 12

Đề thi học sinh giỏi quốc gia môn Văn tỉnh Thanh Hóa , đề 2

Đề thi học sinh giỏi môn văn : Quan niệm của anh/chị về sự bình yên trong cuộc sống. Chữ bầu lên nhà thơ. Tự tình II (Hồ Xuân Hương) và Tây Tiến (Quang Dũng),

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

THANH HÓA

 

ĐỀ CHÍNH THỨC

Số báo danh:

………………….

 

 

KỲ THI CHỌN ĐỘI TUYỂN DỰ THI HSG QUỐC GIANĂM HỌC 2014 – 2015

 

MÔN THI: NGỮ VĂN

Ngày thi: 09/10/2014

Thời gian: 180 phút (không kể thời gian giao đề)

(Đề gồm 02 câu, có 01 trang)

 

 

Câu 1 (8,0 điểm)

Sự bình yên

Một vị vua treo giải thưởng cho nghệ sĩ nào vẽ được một bức tranh đẹp nhất về sự bình yên. Nhiều họa sĩ đã cố công thể hiện tài năng của mình. Nhà vua ngắm tất cả các bức tranh nhưng chỉ thích có hai bức và ông phải chọn lấy một. Một bức tranh vẽ hồ nước yên ả. Mặt hồ là tấm gương tuyệt mỹ vì có những ngọn núi cao chót vót bao quanh. Bên trên là bầu trời xanh với những đám mây trắng mịn màng. Tất cả những ai ngắm bức tranh này đều cho rằng đây là một bức tranh bình yên thật hoàn hảo. Bức tranh kia cũng có những ngọn núi, nhưng những ngọn núi này trần trụi và lởm chởm đá. Ở bên trên là bầu trời giận dữ đổ mưa như trút kèm theo sấm chớp. Đổ xuống bên vách núi là dòng thác nổi bọt trắng xóa. Bức tranh này trông thật chẳng bình yên chút nào. Nhưng khi nhà vua ngắm nhìn, ông thấy đằng sau dòng thác là một bụi cây nhỏ mọc lên từ khe nứt của một tảng đá. Trong bụi cây một con chim mẹ đang xây tổ. Ở đó giữa dòng thác trút xuống một cách giận dữ, con chim mẹ đang bình thản đậu trên tổ của mình… Bình yên thật sự. “Ta chấm bức tranh này!” – Nhà vua công bố.

(Dẫn theo nguồn từ Internet)

Từ ý nghĩa câu chuyện đến quan niệm của anh/chị về sự bình yên trong cuộc sống.

Câu 2 (12,0 điểm)

Nhà thơ Lê Đạt cho rằng:

Chữ bầu lên nhà thơ.

Bằng cảm nhận về hai bài thơ: Tự tình II (Hồ Xuân Hương) và Tây Tiến (Quang Dũng), anh/chị hãy bình luận ý kiến trên.

……………………………………………HẾT…………………………………………..

HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ THI CHỌN ĐỘI TUYỂN HỌC SINH GIỎI QUỐC GIA LỚP 12 THPT            

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

THANH HÓA

 

 

     

NĂM HỌC 2014 – 2015

MÔN THI: NGỮ VĂN

Ngày thi: 09/10/2014

 (Đáp án gồm có 04 trang)

 

Câu Ý Nội dung Điểm
1   Từ ý nghĩa câu chuyện Sự bình yên đến quan niệm của anh/chị về sự bình yên trong cuộc sống. 8,0
Yêu cầu chung
– Câu này kiểm tra năng lực viết bài nghị luận xã hội của thí sinh; đòi hỏi thí sinh phải huy động những hiểu biết về đời sống xã hội, kĩ năng tạo lập văn bản và khả năng bày tỏ thái độ, chủ kiến của mình để làm bài.

– Thí sinh có thể làm bài theo nhiều cách khác nhau nhưng phải có lí lẽ và căn cứ xác đáng, được tự do bày tỏ quan niệm riêng của mình, nhưng phải có thái độ chân thành nghiêm túc, phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội.

Yêu cầu cụ thể
a. Giải thích ý nghĩa câu chuyện 1,5
 

 

 

 

– Chỉ ra ý nghĩa của hai bức tranh vẽ về sự bình yên:

+ Bức tranh thứ nhất: vẽ hồ nước yên ả -> Bình yên là sự êm ả, tĩnh lặng do không gian ngoại cảnh đem lại.

+ Bức tranh thứ hai: vẽ bên trong khung cảnh dữ dội là hình ảnh một con chim mẹ đang xây tổ, bình thản đậu trên tổ của mình -> Bình yên là sự yên an, bình thản, tĩnh lặng trong tâm hồn trước giông bão của cuộc sống.

– Ý nghĩa của câu chuyện: từ sự lựa chọn bức tranh thứ hai của nhà vua, câu chuyện chia sẻ một quan niệm về sự bình yên. Sự bình yên trong tâm hồn mới là sự bình yên đích thực.

 

 

 

 

b. Bày tỏ quan niệm của bản thân về sự bình yên trong cuộc sống  5,0
Từ nhận thức và những trải nghiệm riêng, thí sinh có thể bày tỏ quan niệm của mình về sự bình yên trong cuộc sống: quan niệm ấy có thể giống, không giống hoặc chỉ giống một phần với quan niệm được rút ra từ ý nghĩa của câu chuyện. Dù quan niệm như thế nào cũng phải có lí lẽ, căn cứ xác đáng và có thái độ bàn luận nghiêm túc, thiện chí.  

 

 

 

c. Bài học sống 1,5
Từ quan niệm về sự bình yên trong cuộc sống, thí sinh cần nêu lên được định hướng nhận thức và hành động để bản thân có thể đạt được sự bình yên đích thực.  
2   Cảm nhận về hai bài thơ: Tự tình II (Hồ Xuân Hương) và Tây Tiến (Quang Dũng) để bình luận ý kiến của Lê Đạt: Chữ bầu lên nhà thơ. 12,0
    Yêu cầu chung
  – Câu này kiểm tra năng lực viết bài nghị luận văn học của thí sinh; đòi hỏi thí sinh phải huy động kiến thức về lí luận văn học, tác phẩm văn học, kĩ năng tạo lập văn bản, khả năng cảm nhận văn chương của mình để làm bài.

– Thí sinh có thể cảm nhận và kiến giải theo những cách khác nhau, nhưng phải có lí lẽ, căn cứ xác đáng.

 

 

  Yêu cầu cụ thể
a. Giải thích ý kiến 3,0
  * Cắt nghĩa ý kiến:

Chữ: không chỉ hiểu đơn giản là vỏ âm thanh mà quan trọng đó chính là ngôn ngữ được sử dụng, tổ chức một cách nghệ thuật.

Chữ bầu lên nhà thơ: là khẳng định vai trò của ngôn ngữ đối với nhà thơ. Ngôn ngữ góp phần: chuyên chở điệu hồn thi nhân; khẳng định tài năng, phong cách của người nghệ sĩ; tôn vinh vị thế nhà thơ.

1,5
  * Lí giải ý kiến:

– Ngôn ngữ là chất liệu, yếu tố đầu tiên của văn học. Ngôn ngữ thơ là tinh hoa tối cao của ngôn ngữ, là kiến trúc ngôn từ đặc biệt.

– Bản chất của thơ là trữ tình. Tiếng lòng của nhà thơ chỉ có thể được vang lên, được hữu hình hóa thành câu chữ, âm thanh, nhịp điệu.

– Lao động thơ thực chất là lao động chữ nghĩa, đòi hỏi tài năng, sự sáng tạo và tâm huyết của nhà thơ.

1,5
b. Cảm nhận về hai bài thơ: Tự tình II (Hồ Xuân Hương) và Tây Tiến (Quang Dũng) 7,0
  * Thí sinh không phải cảm nhận toàn bộ bài thơ mà chỉ tập trung cảm nhận những nét đặc sắc trong cách sử dụng, tổ chức ngôn ngữ ở hai tác phẩm để thấy được vai trò của nó trong việc tôn vinh mỗi nhà thơ.

– Cảm nhận bài thơ Tự tình II:

+ Sử dụng các từ thuần Việt giàu hình ảnh, màu sắc, đường nét với sắc thái đặc tả mạnh: những động từ chỉ tình thái (dồn, trơ, xế, xiên ngang, đâm toạc,…), những tính từ chỉ trạng thái (say, tỉnh, khuyết, tròn,…).

+ Phối hợp, tổ chức ngôn ngữ một cách sáng tạo: nghệ thuật đối, đảo ngữ, cách ngắt nhịp,…

=> Bằng cách sử dụng, tổ chức ngôn ngữ sáng tạo, tài tình, Hồ Xuân Hương đã bộc lộ được tâm trạng bất mãn với cuộc đời, số phận và niềm khát khao hạnh phúc lứa đôi.

– Cảm nhận bài thơ Tây Tiến:

+ Phối hợp, hòa trộn nhiều sắc thái phong cách ngôn ngữ với những lớp từ vựng đặc trưng. Có ngôn ngữ trang trọng mang màu sắc cổ kính (đoàn binh, viễn xứ, biên cương, khúc độc hành,…); lại có ngôn ngữ thông tục, sinh động của tiếng nói hàng ngày (bỏ quên đời, cọp trêu người, không mọc tóc, chẳng tiếc đời xanh,…).

+ Kết hợp từ độc đáo, mới lạ tạo nghĩa mới hoặc sắc thái mới cho từ ngữ (nhớ chơi vơi, súng ngửi trời, mưa xa khơi, hoa đong đưa, dáng kiều thơm,…).

+ Sử dụng hệ thống các địa danh vừa tạo ấn tượng về tính cụ thể, xác thực của bức tranh thiên nhiên và cuộc sống con người lại vừa gợi được sự hấp dẫn xứ lạ phương xa.

+ Sử dụng thể hành với những câu thơ phối hợp đan xen thanh điệu bằng, trắc tạo nên giọng điệu thơ bi tráng.

=> Những nét đặc sắc, tài hoa trong cách sử dụng ngôn ngữ của Quang Dũng đã khắc họa nỗi nhớ da diết của nhà thơ về người lính Tây Tiến hào hùng và hào hoa trên nền thiên nhiên miền Tây hùng hiểm và thơ mộng.

5,0

 

 

2,5

 

 

 

 

 

 

 

 

 

2,5

* Đánh giá vai trò của ngôn ngữ ở hai bài thơ trong việc “bầu lên nhà thơ”:

– Cách sử dụng, tổ chức ngôn ngữ độc đáo trong bài Tự tình II đã góp phần tôn vinh nhà thơ Hồ Xuân Hương xứng đáng là nhà thơ của phụ nữ, “Bà chúa thơ Nôm” (Xuân Diệu).

– Những nét đặc sắc trong nghệ thuật sử dụng chất liệu ngôn từ ở bài thơ Tây Tiến đã góp phần khẳng định sự tài hoa, tinh tế của nhà thơ Quang Dũng – “áng mây trắng xứ Đoài”.

2,0
c. Bình luận ý kiến 2,0
  – Lời chia sẻ của Lê Đạt chính là tâm niệm sâu sắc của người nghệ sĩ luôn ý thức cao về nghề: chọn lựa chữ, nghiêm khắc với chữ trong thơ cũng chính là sự chọn lựa của tình yêu và trách nhiệm với ngòi bút của mình.

– Ý kiến cũng là một định hướng, gợi mở cho người đọc khi đến với thơ: đọc thơ cần giải mã được cấu trúc ngôn từ để lắng nghe điệu hồn thi nhân; để trân trọng tài năng, sự lao động sáng tạo của nhà thơ.

– Tuy nhiên, khẳng định vai trò của ngôn ngữ với nhà thơ không có nghĩa là coi việc làm thơ chỉ là gò câu, đúc chữ, rơi vào chủ nghĩa hình thức cực đoan.

Lưu ý chung

1. Đây là đáp án mở, thang điểm không quy định chi tiết đối với từng ý nhỏ, chỉ nêu mức điểm của phần nội dung lớn nhất thiết phải có.

2. Chỉ cho điểm tối đa theo thang điểm với những bài viết đáp ứng đầy đủ những yêu cầu đã nêu mỗi câu, đồng thời phải được triển khai chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, có cảm xúc.

3. Khuyến khích những bài viết có sáng tạo. Chấp nhận bài viết không giống đáp án, có những ý ngoài đáp án nhưng phải có căn cứ xác đáng và lí lẽ thuyết phục.

4. Không cho điểm cao đối với những bài chỉ nêu chung chung, sáo rỗng.

5. Cần trừ điểm đối với những lỗi về hành văn, ngữ pháp và chính tả.

……………………………………………HẾT…………………………………………..

Xem thêm :

  1. Tuyển tập đề thi học sinh giỏi môn Văn
  2. Tuyển tập đề thi về bài Tự tình– Hồ Xuân Hương
  3. Tuyển tập đề thi về bài Tây tiến- Quang Dũng

 

Đề thi bán kì môn Ngữ văn lớp 11, có ma trận ,đáp án

Đề thi bán kì môn Ngữ văn lớp 11, có ma trận ,đáp án. Nghị luận xã hội về lối sống thực dụng.Bài thơ Tự tình (bài II) vừa nói lên bi kịch duyên phận vừa cho thấy khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của Hồ Xuân Hương

ĐỀ KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG GIỮA HỌC KÌ I

 NĂM HỌC 2016 – 2017 

MÔN: NGỮ VĂN 11.

(Thời gian làm bài: 90 phút, không kể thời gian giao đề)

PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm):

Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi :

  Một lần đi thăm thầy giáo lớn tuổi, trong lúc tranh luận về quan điểm sống, một sinh viên đã nói:

          – Sở dĩ có sự khác biệt là vì thế hệ các thầy sống trong những điều cũ kĩ của một thế giới lạc hậu, ngày nay chúng em được tiếp xúc với những thành tựu khoa học tiên tiến, thế hệ các thầy đâu có máy tính, không có Internet, vệ tinh viễn thông và các thiết bị thông tin hiện đại như bây giờ…

          Người thầy giáo trả lời:

          – Những phương tiện hiện đại giúp chúng ta nhưng không làm thay đổi chúng ta. Còn điều em nói là đúng. Thời trẻ, những người như chúng tôi không có những thứ em vừa kể nhưng chúng tôi đã phát minh ra chúng và đào tạo những con người thừa kế và áp dụng chúng.

          Cậu sinh viên chợt cúi đầu, im lặng.

(Theo Hạt giống tâm hồn, tập 5, NXB Tổng hợp TP.HCM).

Câu 1. Văn bản trên được viết theo phương thức biểu đạt chính nào?

Câu 2. Theo cậu sinh viên, điều gì làm nên sự khác biệt về quan điểm sống giữa thế hệ của cậu và thế hệ của người thầy giáo lớn tuổi?

Câu 3. Người thầy giáo muốn nói gì với cậu sinh viên qua câu: “Thời trẻ, những người như chúng tôi không có những thứ em vừa kể nhưng chúng tôi đã phát minh ra chúng và đào tạo những con người thừa kế và áp dụng chúng”.

Câu 4. Chi tiết “Cậu sinh viên chợt cúi đầu, im lặng” nói lên điều gì?

Câu 5. Nêu một bài học mà anh/chị cho là thấm thía sau khi đọc văn bản trên.

PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm):

Phải chăng lối sống thực dụng đang làm băng hoại đạo đức của con người, đặc biệt là giới trẻ hiện nay?

Anh/chị hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 200 từ) trình bày suy nghĩ của mình về  ý kiến trên.

Câu 2 ( 5,0 điểm): Bài thơ Tự tình (bài II) vừa nói lên bi kịch duyên phận vừa cho thấy khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của Hồ Xuân Hương. Anh (chị) hãy phân tích bài thơ để làm sáng tỏ điều đó.

HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG GIỮA HỌC KÌ I

NĂM HỌC 2016 – 2017

MÔN: NGỮ VĂN 11.

(Thời gian làm bài: 90 phút, không kể thời gian giao đề)

 

—–HẾT—

Phần I. Đọc hiểu (3,0 điểm) 

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản là tự sự.

– Điểm 0,5: Ghi lại đúng phương thức biểu đạt

– Điểm 0: Ghi câu khác hoặc không trả lời

Câu 2. Điều làm nên sự khác biệt về quan điểm sống giữa thế hệ của cậu và thế hệ của người thầy giáo lớn tuổi: là do thời đại, hoàn cảnh sống.

– Điểm 0,5: Trả lời đúng theo cách trên hoặc diễn đạt tương tự

– Điểm 0,25:Trả lời chạm được vào ý nhưng chưa diễn đạt rõ ràng/ HS trích dẫn nguyên câu : “Sở dĩ có sự khác biệt…như bây giờ…”

– Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời

Câu 3. Qua câu: “Thời trẻ, những người như chúng tôi không có những thứ em vừa kể nhưng chúng tôi đã phát minh ra chúng và đào tạo những con người thừa kế và áp dụng chúng”, người thầy giáo muốn cậu sinh viên hiểu: Mặc dù thế hệ những người thầy giáo đã sống trong thời đại có thể là thời của những điều cũ kĩ, của một thế giới lạc hậu, nhưng họ đã kiến tạo nên thế giới văn minh, hiện đại mà cậu sinh viên đang sống.

– Điểm 0,5: Trả lời đầy đủ 2 ý trên

– Điểm 0,25: Câu trả lời chung chung, chưa thật rõ ý; Có thể diễn đạt theo cách khác nhưng phải hợp lí, chặt chẽ

– Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời

Câu 4.Chi tiết “Cậu sinh viên chợt cúi đầu, im lặng” cho thấy cậu sinh viên đã hoàn toàn bị thuyết phục trước lời nói có ý nghĩa sâu sắc của người thầy, từ đó cậu cũng cảm nhận được vai trò của thế hệ đi trước với thế hệ đi sau.

– Điểm 1,0: Trả lời đầy đủ 2 ý trên; Có thể diễn đạt theo cách khác nhưng phải hợp lí, chặt chẽ

– Điểm 0,5: Câu trả lời chung chung, chưa thật rõ ý

– Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời

Câu 5. HS nêu được bài học cho bản thân. Nội dung bài học phải gắn với chủ đề của văn bản

– Điểm 0,5: Đáp ứng tốt các yêu cầu trên.

– Điểm 0,25: Đáp ứng ½ yêu cầu  câu trả lời chung chung , chưa rõ ý.

– Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời

Làm văn (7,0 điểm)

Câu 1. (2,0 điểm)

* Yêu cầu chung: Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng về dạng bài nghị luận xã hội để tạo lập văn bản. Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.

* Yêu cầu cụ thể:

a) Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận (0,25 điểm):

– Điểm 0,25 điểm: Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết luận. Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn đề và thể hiện được nhận thức của cá nhân.

– Điểm 0,25: Trình bày đầy đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết luận, nhưng các phần chưa thể hiện được đầy đủ yêu cầu như trên; phần Thân bài chỉ có 1 đoạn văn.

– Điểm 0: Thiếu Mở bài hoặc Kết luận, Thân bài chỉ có 1 đoạn văn hoặc cả bài viết chỉ có 1 đoạn văn.

b) Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm):

– Điểm 0,25: Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Lối sống thực dụng đang là vấn đề đáng báo động, lên án. Nó trở thành một vấn đề tiêu cực của nhiều đối tượng người trong xã hội hiện đại.

– Điểm 0: Xác định sai vấn đề cần nghị luận, trình bày lạc sang vấn đề khác.

c) Chia vấn đề cần nghị luận thành các luận điểm phù hợp; các luận điểm được triển khai theo trình tự hợp lí, có sự liên kết chặt chẽ; sử dụng tốt các thao tác lập luận để triển khai các luận điểm (trong đó phải có thao tác giải thích, chứng minh, bình luận); biết kết hợp giữa nêu lí lẽ và đưa dẫn chứng; dẫn chứng phải lấy từ thực tiễn đời sống, cụ thể và sinh động (1,0 điểm):

– Đảm bảo các yêu cầu trên; có thể trình bày theo định hướng sau:

+ Giải thích ý nghĩa câu nói:

Lối sống thực dụng là lối sống coi nặng giá trị vật chất, chạy đua theo những nhu cầu trước mắt, đặt lợi ích của bản thân lên trên tất cả, gần với sự ích ki, trục lợi.

+ Phân tích vẩn đề:

++ Biểu hiện của lối sống thực dụng: sống buông thả, thờ ơ, hành xử thô bạo, vi phạm pháp luật nhà nước, coi trọng tiền bạc, xem nhẹ những giá trị đạo đức, nhân cách, tâm hồn.

++ Nguyên nhân của lối sống thực dụng: do ý thức của bản thân; do môi trường giáo dục còn chưa chú trọng đến đạo đức, nhân cách, kĩ năng sống; do gia đình thiếu sát sao, quan tâm; do xã hội chưa tổ chức được những hoạt động hữu ích thu hút giới trẻ,…

++ Tác hại của lối sống thực dụng: Lối sống thực dụng sẽ làm tha hóa con người, khơi dậy những ham muốn bản năng, cơ hội, chạy theo hưởng lạc, những lợi ích trực tiếp trước mắt, xa rời những mục tiêu phấn đấu.

+ Giải pháp: Làm thế nào loại trừ được lối sống thực dụng?:

++ Sống phải có khát vọng, lí tưởng, có hoài bão, mục đích sống, động lực để phấn đấu.

Dám nghĩ, dám làm, không uổng phí thời gian, loại bỏ lối sống ích kỉ, vượt qua cám dỗ đời thường.

++ Gia đình, nhà trường và xã hội cần quan tâm hơn tới giáo dục tạo động lực phấn đấu và

thu hút, trọng dụng giới trẻ vào những việc làm có ích.

+ Bài học nhận thức và hành động:

++ Cần đấu tranh với bản thân loại trừ lối sống thực dụng.

++Có những hành động tích cực, chủ động để nắm bắt cơ hội, hướng tới tương lai của chính mình. Hội nhập với cuộc sống hiện đại nhưng không đánh mất những giá trị truyền thống tốt đẹp.

– Điểm 1,0: Cơ bản đáp ứng được các yêu cầu trên, song một trong các phần (giải thích, chứng minh, bình luận) còn chưa đầy đủ hoặc liên kết chưa thật chặt chẽ.

– Điểm 0,75: Đáp ứng 1/2 đến 2/3 các yêu cầu trên.

– Điểm 0,5: Đáp ứng được 1/3 các yêu cầu trên.

– Điểm 0: Không đáp ứng được bất kì yêu cầu nào trong các yêu cầu trên.

d) Sáng tạo (0,25 điểm)

– Điểm 0,25: Có nhiều cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo (viết câu, sử dụng từ ngữ, hình ảnh và các yếu tố biểu cảm,…) ; thể hiện được quan điểm và thái độ riêng, sâu sắc nhưng không trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

– Điểm 0: Không có cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo; không có quan điểm và thái độ riêng hoặc quan điểm, thái độ trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

e) Chính tả, dùng từ, đặt câu (0,25 điểm):

– Điểm 0,25: Không mắc quá 3 lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

– Điểm 0: Mắc nhiều lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

Câu 2. (5,0 điểm):

* Yêu cầu chung: Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng về dạng bài nghị luận văn học để tạo lập văn bản. Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; thể hiện khả năng cảm thụ văn học tốt; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.

* Yêu cầu cụ thể:

a) Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận (0,5 điểm):

– Điểm 0,5 điểm: Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết luận. Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn đề và thể hiện được ấn tượng, cảm xúc sâu đậm của cá nhân.

– Điểm 0,25: Trình bày đầy đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết luận, nhưng các phần chưa thể hiện được đầy đủ yêu cầu như trên; phần Thân bài chỉ có 1 đoạn văn.

– Điểm 0: Thiếu Mở bài hoặc Kết luận, Thân bài chỉ có 1 đoạn văn hoặc cả bài viết chỉ có 1 đoạn văn.

b) Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,5 điểm): Phân tích bài thơ để thấy được bi kịch duyên phận và khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của Hồ Xuân Hương

– Điểm 0,5: Xác định đúng vấn đề cần nghị luận.

– Điểm 0,25: Xác định chưa rõ vấn đề cần nghị luận, chỉ nêu chung chung.

– Điểm 0: Xác định sai vấn đề cần nghị luận, trình bày lạc sang vấn đề khác.

c) Chia vấn đề cần nghị luận thành các luận điểm phù hợp; các luận điểm được triển khai theo trình tự hợp lí,có sự liên kết chặt chẽ; sử dụng tốt các tho tác lập luận để triển khai các luận điểm (trong đó phải có thao tác phân tích, chứng minh); biết kết hợp giữa nêu lí lẽ và đưa dẫn chứng (3,0 điểm).

– Điểm 3,0: Đảm bảo các yêu cầu trên; có thể trình bày theo định hướng sau:

+ Giới thiệu về tác giả, tác phẩm; trích dẫn ý kiến.

+ Giải thích  ý kiến: (0,5 điểm).Ý kiến khẳng định hai tâm trạng  tưởng chừng trái ngược nhau nhưng thống nhất trong bản lĩnh, tính cách Hồ Xuân Hương: vừa buồn tủi vừa phẫn uất trước duyên phân phận éo le dang dở vừa cho thấy khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của bà.

+ Phân tích bài thơ để chứng minh

++ Bài thơ Tự tình nói lên bi kịch duyên phận của Hồ Xuân Hương

+++ Bi kịch về duyên phận của Hồ Xuân Hương thể hiện ở nỗi niềm buồn tủi của bà.

Nỗi niềm buồn tủi của Hồ Xuân hương được gợi lên từ sự tĩnh lặng của đêm khuya thanh vắng. “Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn/ Trơ cái hồng nhan với nước non”. Câu thơ vừa nói lên sự dầu dãi, cay đắng vừa gợi lên sự bạc phận, sự bẽ bàng.

Nỗi niềm buồn tủi của bà còn thế hiện qua tâm trạng chán chường: Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại Mảnh tình san sẻ tí con con! Tuổi xuân qua đi tuổi xuân không trở lại. Nỗi lòng của bà cũng là nỗi lòng của những người phụ nữ trong xã hội xưa.

+++ Bi kịch về duyên phận thể hiện qua nỗi xót xa của Hồ Xuân Hương.

Nhà thơ đã cảm nhận được sự bẽ bàng của duyên phận: “Trơ cái hồng nhan với nước non”. Trơ là tủi hổ, trơ là bẽ bàng. Dù câu thơ chỉ nói về một vế hồng nhan nhưng vẫn gợi lên vế bạc phận. Vì vậy, Hồ Xuân Hương càng thấy xót xa, bẽ bàng và cay đắng.

++ Bài thơ tự tình nói lên khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của Hồ Xuân Hương.

Rơi vào hoàn cảnh ấy, nhiều người có thể tuyệt vọng hoặc phó mặc buông xuôi. Thế nhưng, nữ sĩ Hồ Xuân Hương thì không thế. Trước sự trớ trêu của cuộc đời, của số phận, nhà thơ vẫn luôn khát khao hạnh phúc.

+++ Lòng khát khao hạnh phúc được thể hiện ở việc tác giả muốn cưỡng lại sự nghiệt ngã của số phận. Từ trơ kết hợp với từ nước non thể hiện sự bền gan thách đố và cũng là thể hiện sự khát vọng vượt lên sự nghiệt ngã của cuộc đời.

+++ Khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc còn thể hiện ở sức sống mãnh liệt của Hồ Xuân Hương: Xiên ngang mặt đất rêu từng đám. Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn. Hai câu thơ gợi cảnh thiên nhiên và cảnh được cảm nhận qua tâm trạng như cũng mang nỗi niềm phẫn uất của con người. Cách sử dụng từ xiên ngang, đâm toạc thể hiện thể hiện được sức sống mãnh liệt của thiên nhiên cũng là thể hiện sức sống mãnh liệt của nữ sĩ trong tình cảnh bi thương.

+ Đánh giá chung:

– Qua lời tự tình, bài thơ nói lên cả bi kịch và khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của Hồ Xuân Hương. Bài thơ có ý nghĩa nhân văn sâu sắc: Trong buồn tủi, người phụ nữ gắng vượt lên trên số phận nhưng cuối cùng vẫn rơi vào bi kịch.

– Tác giả sử dụng từ ngữ giản dị mà đặc sắc, hình ảnh giàu sức gợi cảm. Tất cả có tác dụng diễn tả những biểu hiện phong phú, tinh tế của tâm trạng của nữ sĩ.

– Bài thơ giúp ta hiểu hơn tại sao Hồ Xuân Hương lại được mệnh danh là “Bà chúa thơ Nôm”.
– Điểm 2,5 – 3,0: Cơ bản đáp ứng được các yêu cầu trên, song một trong các luận điểm (phân tích, so sánh) còn chưa được trình bày đầy đủ hoặc liên kết chưa thực sự chặt chẽ.

– Điểm 1,5 -2,25 : Đáp ứng 1/2 đến 2/3 các yêu cầu trên.

– Điểm 0,5 – 1,25: Đáp ứng được 1/3 các yêu cầu trên.

– Điểm 0,25: Hầu như không đáp ứng được yêu cầu nào trong các yêu cầu trên.

– Điểm 0: Không đáp ứng được bất kì yêu cầu nào trong các yêu cầu trên.

d) Sáng tạo (0,5 điểm)

– Điểm 0,5: Có nhiều cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo (viết câu, sử dụng từ ngữ, hình ảnh và các yếu tố biểu cảm,…); văn viết giàu cảm xúc; thể hiện khả năng cảm thụ văn học tốt; có quan điểm và thái độ riêng sâu sắc nhưng không trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

– Điểm 0,25: Có một số cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo; thể hiện được một số suy nghĩ riêng sâu sắc nhưng không trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

– Điểm 0: Không có cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo; không có quan điểm và thái độ riêng hoặc quan điểm, thái độ trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

e) Chính tả, dùng từ, đặt câu (0,5 điểm):

– Điểm 0,5: Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

– Điểm 0,25: Mắc một số lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

– Điểm 0: Mắc nhiều lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

Nguồn bài viết : SỞ GD&ĐT NAM ĐỊNH TRƯỜNG THPT NAM TRỰC

GV :Hoàng Thị Phượng

Xem thêm :

  1. Tuyển tập đề thi Ngữ văn khối 10
  2. Tuyển tập đề thi Ngữ văn khối 11
  3. Tuyển tập đề thi Ngữ văn khối 12
  4. Tuyển tập đề thi , soạn bài Tự Tình– Hồ Xuân Hương

Đề thi học sinh giỏi về bài Tự Tình- Hồ Xuân Hương

Bàn về thơ, Xuân Diệu có nói: “thơ là hiện thực. thơ là cuộc đời, thơ còn là thơ nữa”

Anh/chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Bằng việc phân tích bài thơ Tự tình ( II) của Hồ Xuân Hương, anh/chị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.

Hướng dẫn cách làm:

Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách nhưng cần phải đảm bảo được các ý sau:

Mở bài :

+Dẫn dắt và giới thiệu nhận định: “thơ là hiện thực. thơ là cuộc đời, thơ còn là thơ nữa”

+ Giới thiệu bài thơ Tự Tình của Hồ Xuân Hương

Thân bài

Luận điểm 1 : Giải thích nhận định

“Thơ là hiện thực, thơ là cuộc đời ”,

+ Thơ ca phải bắt nguồn từ hiện thực đời sống, từ những vui buồn, đau  khổ, hạnh phúc của cuộc đời, của số phận cá nhân con người.

+ Thơ ca phải hướng tới cuộc đời, con người chứ không phải là cái gì đứng tách riêng biệt khỏi đời sống

“Thơ còn là thơ nữa”

+ Nếu chỉ là sự phản ánh đời sống một cách đơn thuần thì thơ không phải là thơ. Thơ phảỉ mang những đặc trưng riêng về nội dung lẫn hình thức.

– Đặc trưng về nội dung: Thơ là sự thổ lộ tình cảm mãnh liệt đã được ý thức; tình cảm trong thơ phải là tình cảm cao đẹp, nhân văn; chất thơ của thơ…

– Đặc trưng về hình thức: Ngôn ngữ thơ có nhịp điệu; được cấu tạo đặc biệt, biểu hiện bằng biểu tượng; ngôn từ lạ hoá, giàu nhạc tính…

Cần chỉ rõ: đây là nhậnđịnh đúng, có ý nghĩa như một tiêu chí để xác định một tác phẩm thơ đích thực. Một tác phẩm thơ có giá trị phải là một tác phẩm bắt nguồn từ cuộc sống, hướng đến cuộc sống nhưng đã được nghệ thuật hoá về nội dung lẫn hình thức

Luận điểm 2 :Phân tích bài thơ Tự tình (bài II) để  làm sáng tỏ nhận định

Bài thơ Tự tình ra đời từ bi kịch cá nhân của Hồ Xuân Hương, cũng là bi kịch của rất nhiều người phụ nữ trong xã hội cũ: Thân phận làm lẽ, không được tự do quyết định hạnh phúc của chính mình.

Học sinh cần phân tích để thấy được bi kịch cá nhân trong bài thơ được thể hiện một cách mãnh liệt và sâu sắc. Đó là nỗi cô đơn, đau khổ, có khi dũng cảm vươn lên nhưng cuối cùng cũng đành bất lực. Mặc dù bắt nguồn từ số phận cá nhân nhưng tình cảm trong bài thơ lại mang tính phổ quát, là nỗi đau chung của người phụ nữ trong xã hội cũ. Đó là tình cảm nhân văn cao đẹp.

+Trong cái tĩnh mịch u buồn của đêm giá lạnh thoáng nghe tiếng trống canh văng vẳng từ môt chòi canh xa vọng đến,những cơn sóng cảm xúc đang cuộn xoáy trong lòng khiến nữ sĩ suy tư trăn trở, thao thức thâu đêm. Tiếng trống cầm canh lâu lâu lại điểm, báo thời gian đang trôi qua:

 Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,
Trơ cái hồng nhan với nước non.

+Bài thơ thể hiện được cá tính riêng của tác giả: cái tôi mạnh mẽ, ý thức phản kháng, chống đối số phận.

Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám,
Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.
Rêu yếu ớt là thế mà từng đám, từng đám vẫn tung sức sống xiên ngang mặt đất đón ánh mặt trời. Đá im lìm là vậy mà hòn nọ tảng kia như đua nhau đâm toạc chân mây để khẳng định sự hiện diện của mình. Cách đặt câu. đảo ngược đưa tính từ lên trước đã nhấn mạnh sức sống bất diệt , sức trỗi dậy mạnh mẽ của thiên nhiên.
->>Con người cô độc, bất hạnh trong thời điểm đó, không gian đó dường như chợt bừng tỉnh, muốn làm theo rêu theo đá, xiên ngang, đâm toạc tất cả những gì ngăn trở, ràng buộc, giam hãm, huỷ hoại thân phận mình, cuộc đời mình.

Chiều sâu của bài thơ không bộc lộ trên bề mặt câu chữ mà nó nằm ở tầng sâu của tác phẩm. Người đọc phải có sự đồng cảm, có cảm nhận tinh tế mới phát hiện được.

-Ngôn ngữ thơ điêu luyện, bộc lộ được tài năng và phong cách của tác giả:

+ Sử dụng từ ngữ, hình ảnh giàu sức tạo hình, giàu giá trị biểu cảm, đa nghĩa: Trơ; cái hồng nhan, vầng trăng bóng xế, xuân…

– Thủ pháp nghệ thuật đảo ngữ: câu hỏi 2, câu 5 và câu 6

– Sử dụng động từ mạnh: xiên ngang, đâm toạc.

+ Cách ngắt nhịp mới mẻ

Kết bài :

Đánh giá

  • Ý kiến của Xuân Diệu là đúng đắn và sâu sắc.
  • Liên hệ mở rộng bằng một số tác phẩm khác.

Tự tình (bài II) là một bài thơ hay, bộc lộ rõ tài năng và phong cách Hồ Xuân Hương.

Xem thêm :

Đề thi học sinh giỏi ngữ văn 11 Tỉnh Vĩnh Phúc

Giới thiệu với các em đề thi chọn học sinh giỏi cấp trường, Sở Giáo dục Đào tạo Vĩnh Phúc :

Đề thi tương đối khó, dành cho trường THPT chuyên, các em suy ngẫm kĩ trước khi làm bài, tham khảo đáp án ở dưới nhé:

 Thời gian làm bài: 180 phút, không kể thời gian giao đề.

Câu 1 (3,0 điểm)

Cổ nhân có câu:

“Thiếu niên đăng khoa nhất bất hạnh dã” (Tuổi trẻ mà đỗ đạt cao là điều bất hạnh thứ nhất).

Là một người trẻ sống trong thời hiện đại, anh chị suy nghĩ như thế nào về lời nói của người xưa?

Câu 2 (7,0 điểm)

Đừng nói: Trao cho tôi đề tài

Hãy nói: Trao cho tôi đôi mắt
( Raxun Gamzatop)

Anh/chị hiểu lời khuyên đó như thế nào? Bằng hiểu biết về tác phẩm tự tình  2 (Hồ Xuân Hương) và thương vợ   (Tú Xương), anh/chị hãy chỉ ra những điểm tương đồng của hai tác phẩm và làm sáng tỏ “đôi mắt” riêng của mỗi nhà thơ.

CÁC EM THAM KHẢO ĐÁP ÁN SAU:

 Câu 1 

Bước 1:

+Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề

+Trích dẫn câu nói của cổ nhân

Thân bài:

Bước 1: Giải thích ý kiến của cổ nhân

– Đỗ đạt cao: thành công lớn trong thi cử, nói rộng ra là giành được những thắng lợi, vinh quang, có công danh, địa vị trong xã hội.

– Bất hạnh: điều không may mắn, mang lại hiểm nguy, khiến con người phải khổ.

Ý cả câu: là một lời cảnh tỉnh đối với những người trẻ tuổi sớm đỗ đạt thành công, chỉ ra mặt trái và hậu quả khôn lường của những vinh quang đến khi con người ta còn chưa đủ từng trải và chín chắn.

Bước 2: Phân tích, lý giải ý kiến của cổ nhân 

Cơ sở để người xưa khẳng định tuổi trẻ đỗ đạt cao là điều bất hạnh thứ nhất:

+ Tuổi trẻ thường nôn nóng, nếu thành công sớm tất dễ sinh chủ quan, kiêu căng, tự mãn, đó là mầm mống của sự thất bại lâu dài.

+ Tuổi trẻ là lứa tuổi còn thiếu kinh nghiệm sống, chưa được rèn luyện nhiều trong đời sống thực tiễn. Trong khi đó, đỗ đạt cao thường gắn với những nhiệm vụ và trọng trách được giao. Tài năng còn mỏng, kinh nghiệm còn non, đảm đương chưa nổi, dễ làm hỏng đại sự. Khi đó, họ không chỉ mang lại bất hạnh cho cá nhân mà còn mang lại bất hạnh cho nhiều người.

  1. Đánh giá, bình luận mặt đúng và mặt sai của câu nói

Mặt đúng:

Ý kiến trên đúng đắn và sâu sắc bởi nó giúp con người, đặc biệt là những người trẻ tuổi tỉnh táo trước thành công, đồng thời có tác dụng cổ vũ tuổi trẻ dám đón nhận thất bại để trưởng thành.

Mặt sai:

– Tuy nhiên, sẽ là phiến diện nếu chỉ nhìn thấy mặt trái của thành công đối với tuổi trẻ. Bởi đỗ đạt cao, thành công đến một cách chân chính còn có tác dụng động viên người trẻ tin tưởng và phấn đấu. Mặt khác, bản thân tuổi trẻ cũng có nhiều ưu điểm và thế mạnh, nên cần tránh sự cực đoan chỉ chú trọng đến độ tuổi và kinh nghiệm khi đánh giá con người.

+ Liên hệ bản thân, rút ra bài học nhận thức và hành động.

Lưu ý:Các em có thể có những ý kiến riêng, miễn sao phải phù hợp với yêu cầu của đề bài, diễn đạt trong sáng mạch lạc thì dù chọn cách nào thì  cũng được điểm tối đa.

Câu 2 

Mở bài : Giới thiệu, trích dẫn ý kiến

Thân Bài:

  1. Giải thích ý kiến

Đề tài:là lĩnh vực đời sống được nhà văn nhận thức, lựa chon, khái quát, bình giá và thể hiện trong văn bản

– Đôi mắt: tượng trưng cho cái nhìn, sự cảm nhận, đánh giá mang màu sắc riêng, thể hiện thế giới quan, nhân sinh quan độc đáo của người nghệ sĩ.

Cả câu của Raxun Gamzatop thực chất muốn khuyên các nhà văn trẻ: cái quyết định tạo nên sức hấp dẫn của tác phẩm, giá trị của tài năng không phải ở đề tài. Vấn đề quan trọng là nhà văn phải có cái nhìn riêng, những khám phá riêng độc đáo về đề tài đó.

  1. Phân tích Tự tình II (Hồ Xuân Hương) và Thương vợ (Tú Xương) để làm sáng tỏ ý kiến trên

2.1. Tự tình II Thương vợđiểm gặp gỡ về phương diện đề tài

– Hai tác phẩm đều có sự gặp gỡ về đề tài: đó là hình tượng người phụ nữ. Đây vốn là một đề tài quen thuộc, từ văn học dân gian đến những sáng tác tiêu biểu của văn học trung đại đều dành sự quan tâm lớn cho hình tượng này.

– Điểm chung của Hồ Xuân Hương và Tú Xương khi viết về đề tài người phụ nữ

+ Phát hiện và cảm thông với nỗi khổ của người phụ nữ. Đó là nỗi khổ vì cuộc sống cơ cực, vất vả gánh vác lo toan chèo chống cả một gia đình mà thiếu sự đồng cảm sẻ chia về trách nhiệm (Thương vợ). Nỗi khổ vì cô đơn, khao khát hạnh phúc nhưng chỉ nhận lại sự bẽ bàng duyên phận (Tự tình II).

+ Khắc hoạ vẻ đẹp và khẳng định phẩm chất của người phụ nữ. Đó là tấm lòng khoan dung khi không nề hà trách nhiệm với gia đình dù phải đối diện với những gian lao trong cuộc sống (Thương vợ). Vẻ đẹp của một con người biết ý thức sâu sắc về giá trị bản thân để kiêu hãnh và mạnh mẽ ngay trong những tình thế bi đát nhất (Tự tình II).

2.2. Cách nhìn, cách cảm nhận riêng, khám phá riêng của mỗi nhà thơ

Hồ Xuân Hương với Tự tình II mang cái nhìn của người trong cuộc, hình tượng người phụ nữ trong thơ là chính con người của nhà thơ: vừa chân thành, thiết tha, vừa ngạo nghễ thách đố; vừa buồn đau tuyệt vọng vừa cứng cỏi mạnh mẽ. Tất cả đều biểu hiện một sự tự ý thức đầy cá tính, làm thay đổi ấn tượng về người phụ nữ trong xã hội xưa.

– Tú Xương với bài Thương vợ: mang cái nhìn của người khác phái – một nhà nho đầy tự trọng và một người đàn ông có tình, có ý thức về trách nhiệm của bản thân. Thế nên, cái nhìn ấy vừa trân trọng vừa xót xa. Qua cái nhìn ấy, chân dung bà Tú hiện lên hoàn chỉnh: từ quan hệ bươn trải với đời, đến quan hệ với gia đình, từ con người của công việc làm ăn đảm đang tháo vát đến con người của đức độ, thảo hiền, đầy tinh thần vị tha, xả kỉ.

– Cái nhìn độc đáo của Hồ Xuân Hương và Tú Xương khi viết về đề tài người phụ nữ còn thể hiện tài năng và tấm lòng của người nghệ sĩ.

+ Cả “Bà chúa thơ Nôm” (theo cách gọi của Xuân Diệu) lẫn “ông hoàng của thơ Nôm” (theo cách gọi của Nguyễn Tuân) đều thể hiện tài năng nghệ thuật đặc sắc của mình.  Tiếp thu một cách có sáng tạo chất liệu ngôn ngữ và hình ảnh trong thơ ca dân gian để xây dựng hình tượng người phụ nữ vừa mang những vẻ đẹp truyền thống lại vừa có những nét riêng độc đáo; lựa chọn các chi tiết nghệ thuật đặc sắc với lối diễn đạt  vừa giản dị, tự nhiên vừa sắc sảo để tạo sức hấp dẫn cho hình tượng.

+ Cái nhìn đó thể hiện bản lĩnh cứng cỏi và tấm lòng thiết tha với cuộc đời, với tình duyên của nữ sĩ họ Hồ; cho thấy nhân cách nhà nho trong sáng, vị tha của Tú Xương khi ông từ bỏ vẻ cao đạo của thói thường để thấu hiểu cuộc sống đời thường và sẻ chia, cảm thông với người phụ nữ.

  1. Đánh giá, nâng cao

Cái nhìn độc đáo, sự khám phá riêng của mỗi nhà thơ dù cùng viết về một đề tài chính là bản chất của nghệ thuật đích thực, là yêu cầu nghiệt ngã của sáng tạo văn chương mà chỉ những tài năng chân chính mới đủ sức vượt qua.

– Những cảm nhận mới mẻ của Hồ Xuân Hương và Tú Xương đã góp phần làm phong phú vẻ đẹp của hình tượng người phụ nữ trong thơ ca Việt Nam thời trung đại.

– Ý kiến của Raxun Gamzatop là bài học đối với người nghệ sĩ, đồng thời là gợi ý đối với những người đọc chân chính của văn chương: khi đọc một tác phẩm, không nên chỉ chạy theo “chủ nghĩa đề tài” mà cần có ý thức phát hiện cái nhìn riêng của từng tác giả.

Xem thêm: Tuyển tập đề thi về các tác phẩm lớp 11

Xem thêm : Bộ đề ôn thi học sinh giỏi môn văn

Những bài văn hay Phân tích Tự tình II (Hồ Xuân Hương) và Thương vợ (Tú Xương) 

 

Câu hỏi Đọc hiểu về bài thơ Tự tình Hồ Xuân Hương

Đọc bài thơ sau và trả lời câu hỏi

Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,

Trơ cái hồng nhan với nước non.

Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.

Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám,

Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.

Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại.

Mảnh tình san sẻ tí con con!

tự tình

Câu 1: Em hiểu gì về nhan đề bài thơ?

Câu 2: Tác dụng của từ láy “văng vẳng” và từ “dồn” trong việc  thể hiện tâm trạng nhà thơ?

Câu 3: Nghĩa của từ “trơ” trong câu thơ “Trơ cái hồng nhan với nước non” là gì?

 Câu 4: Tác dụng của biện pháp đảo ngữ và các động từ được sử dụng trong hai câu

   Xiên ngang, mặt đất rêu từng đám

Đâm toạc chân mây đá mấy hòn

Câu 5: văn bản trên được viết theo phong cách ngôn ngữ  nào ?sử dụng phương thức biểu đạt nào là chủ yếu?

Câu 6: Hãy liên kể tên một số tác phẩm khác cùng viết về thân phận người phụ nữ mà em đã học?

Đáp án

Câu 1: Nhan đề bài thơ “Tự tình II”: tự bộc lộ tâm tình. Ở đây nhà thơ tự đối diện với chính mình để tự vấn, xót thương (0,5 điểm)

Câu 2: Gợi bước đi vội vã, dồn dập, gấp gáp của thời gian, gợi không gian quạnh hiu, vắng lặng (0,5 điểm) và tâm trạng rối bời, lo âu, buồn bã, cô đơn của con người khi ý thức được sự trôi chảy của thời gian, của đời người (0,5 điểm).

Câu 3: Từ “trơ”:

  • Nghĩa trong câu thơ: trơ trọi, cô đơn, có gì như vô duyên, vô phận, rất bẽ bàng và đáng thương (0,5 điểm) .

– Sự bền gan, thách thức, sự kiên cường, bản lĩnh của con người (0,5 điểm).

Câu 4: – Miêu tả hình ảnh thiên nhiên như muốn vùng lên, phá ngang, phẫn uất với đất trời (0,25 điểm)

– Đó là hình ảnh thiên nhiên qua cảm nhận của người mang sẵn niềm phẫn uất và sự bộc lộ cá tính, bản lĩnh không cam chịu như muốn thách thức số phận của Hồ Xuân Hương (0,25 điểm).

Câu 5: phong cách ngôn ngữ nghệ thuật 0,25đ/  phương thức biểu cảm 0,25đ

Câu 6: Một số tác phẩm viết về thân phận người phụ nữ: Bánh trôi nước (Hồ Xuân Hương), Chinh phụ ngâm khúc (Đặng Trần Côn), Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều) (0,5 điểm)

(Tài liệu sưu tầm )

Xem thêm: Tuyển tập đề thi về các tác phẩm lớp 11 Tự tình