Giáo án bài Truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy

XÂY DỰNG BÀI HỌC MINH HỌA THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

BÀI:           TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU, TRỌNG THỦY

Bước 1: Xác định vấn đề cần giải quyết trong bài học

Đọc hiểu truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy theo đặc trưng thể loại.

Bước 2: Xây dựng nội dung bài học

Văn bản: Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy.

Bước 3. Xác định mục tiêu bài học

– Kiến thức:

+ Những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy

+ Đặc điểm cơ bản của thể loại truyền thuyết.

Kỹ năng:

+ Huy động những hiểu biết về thể loại truyền thuyết để đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại.

+ Nhận diện đề tài, chủ đề, cảm hứng chủ đạo của tác phẩm.

+ Đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại:

*Về nghệ thuật:

– Tóm tắt cốt truyện.

– Nhận diện và phân tích nhân vật.

– Nêu và đánh giá các chi tiết kì ảo hoang đường trong truyên.

– Phân tích, đánh giá nghệ thuật kể chuyện.

* Về nội dung:

– Nêu và nhận xét về hiện thực được phản ánhtrong tác phẩm.

– Đánh giá về tư tưởng tình cảm của tác giả được thể hiện trong tác phẩm.

+ Vận dụng những kiến thức và kĩ năng đã học để đọc những truyền thuyết khác của VHDG Việt Nam; viết đoạn văn hoặc bài văn nghị luận về tác phẩm; rút ra những bài học về lý tưởng sống, cách sống từ truyền thuyết đã học và liên hệ vận dụng vào thực tiễn cuộc sống của bản thân.

– Thái độ:

+ Có ý thức trách nhiệm công dân, tình yêu đất nước.

+ Cảnh giác trước những âm mưu của kẻ thù trong công cuộc giữ nước.

+ Biết dung hòa giữa các mối quan hệ riêng – chung: tình yêu cá nhân và bổn phận với dân tộc.

Bước 4. Xác định và mô tả mức độ yêu cầu của mỗi loại câu hỏi/bài tập có thể sử dụng để kiểm tra, đánh giá năng lực và phẩm chất của học sinh trong dạy học.

Mức độ nhận biết Mức độ thông hiểu Mức độ vận dụng và vận dụng cao
Truyền thuyết ADV & MCTT được chia làm mấy phần?

 

– Xác định những chi tiết, sự việc tiêu biểu.

Nêu nội dung chính của từng phần.

 

 

Dựa vào những chi tiết, sự việc đó, hãy tóm tắt truyền thuyết ADV& MCTT.

– Phân tích, đánh giá nội dung của từng phần.

 

 

Dựa trên những hiểu biết về cốt truyện, kể lại truyện theo lời văn của em.

 

Tưởng tượng và viết tiếp câu chuyện về cuộc gặp gỡ của các nhân vật sau khi chết.

– Có những nhân vật nào trong tác phẩm? Xác định nhân vật chính.

 

 

– Chỉ ra hành động của các nhân vật đó.

– Phân tích đặc điểm của các nhân vật để thấy thái độ tình cảm của nhân dân với các nhân vật đó .

 

– Nêu ý nghĩa của những hành động đó.

– Nhận xét, đánh giá về nhân vật.

 

 

 

Nếu viết lại tác phẩm này, có những hành động nào của các nhân vật mà em sẽ thay đổi? Tại sao em lại thay đổi như thế?

Chỉ ra những chi tiết hoang đường, kì ảo trong tác phẩm. Phân tích ý nghĩa của những chi tiết kì ảo đó. Đánh giá tác dụng của các chi tiết hoang đường kì ảo đó trong việc xây dựng nhân vật và thể hiện tư tưởng của tác giả.
Tác giả dân gian đã gửi gắm tư tưởng, tình cảm, thái độ gì qua tác phẩm? Lí giải tư tưởng, tình cảm, thái độ đó của tác giả dân gian. Em có nhận xét gì về tư tưởng, tình cảm, thái độ của tác giả dân gian trong tác phẩm?

 

Bước 5. Biên soạn các câu hỏi/bài tập cụ thể theo các mức độ yêu cầu đã mô tả

 

Mức độ nhận biết Mức độ thông hiểu Mức độ vận dụng và vận dụng cao
– Truyền thuyết ADV & MCTT được chia làm mấy phần?

 

– Tác phẩm có những chi tiết, sự việc tiêu biểu nào?

– Nêu nội dung chính của từng phần.

 

 

– Dựa vào những chi tiết, sự việc đó, hãy tóm tắt truyền thuyết ADV& MCTT.

– Phân tích, đánh giá nội dung của từng phần.

 

 

– Dựa trên những hiểu biết về cốt truyện, kể lại truyện theo lời văn của em.

 

Em hãy tưởng tượng và viết tiếp câu chuyện về cuộc gặp gỡ của các nhân vật sau khi chết.

– Có những nhân vật nào trong tác phẩm? Ai là nhân vật chính?

 

+ Chỉ ra những hành động của ADV trong quá trình xây thành chế nỏ?

 

+ ADV đã có những hành động, thái độ như thế nào khi kén rể và trước sự xâm lược của Triệu Đà?

 

+ Trước bi kịch mất nước, ADV đã có những hành động gì?

 

 

 

 

 

+ Chỉ ra những hành động của Mị Châu với Trọng Thủy.

+ Trước sự truy đuổi của quân Triệu Đà, Mị Châu đã làm gì?

 

 

+ Khi bị rùa vàng kết tội, Mị Châu đã làm gì?

 

 

 

+ Nêu sự hóa thân của MC sau khi chết.

 

 

 

 

+ Nêu những hành động của Trọng Thủy để tìm cách lấy cắp nỏ thần?

 

+ Nêu kết cục dành cho Trọng Thủy?

 

 

 

 

 

 

 

 

+ Em thấy ADV là một vị vua như thế nào trong quá trình xây thành chế nỏ?

+ Qua những hành động của ADV, em thấy nguyên nhân nào khiến ADV để mất nước?

 

+ Em đánh giá như thế nào về những hành động đó?

+ Thái độ, tình cảm của tác giả dân gian dành cho nhân vật ADV như thế nào?

 

+ Em thấy MC là người như thế nào trong tư cách là vợ của Trọng Thủy?

+ Em thấy MC là người như thế nào trong tư cách là một công chúa của nước Âu Lạc?

 

+ Em có nhận xét gì về lời kết tội của rùa vàng?

 

 

 

+ Hình ảnh ngọc trai giếng nước có ý nghĩa gì?

 

 

 

+ Động cơ nào khiến Trọng Thủy trở thành con rể của ADV?

 

+ Kết cục đó có hợp lý không? Vì sao?

 

 

 

 

 

 

 

 

+ Em rút ra bài học gì từ quá trình để mất nước của ADV?

 

 

+ Nếu em là ADV, em có hành động như vậy không? Tại sao?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

+ Em đồng tình hay phản đối lời kết tội của rùa vàng dành cho MC? Tại sao?

 

+ Em nhận xét gì về thái độ của nhân dân khi xây dựng hình ảnh “ngọc trai – giếng nước”?

 

 

 

 

 

 

+ Nếu là Trọng Thủy, em có hành động như vậy không? Tại sao?

+ Em đánh giá như thế nào về con người của Trọng Thủy?

 

Nếu viết lại tác phẩm này, có những hành động nào của các nhân vật mà em sẽ thay đổi? Tại sao em lại thay đổi như thế?

 

Chỉ ra những chi tiết hoang đường, kì ảo trong tác phẩm Phân tích ý nghĩa của những chi tiết kì ảo đó? Đánh giá tác dụng của các chi tiết hoang đường kì ảo đó trong việc xây dựng nhân vật và thể hiện tư tưởng của tác giả.
Tác giả dân gian đã gửi gắm tư tưởng, tình cảm, thái độ gì qua tác phẩm? Lí giải tư tưởng, tình cảm, thái độ đó của tác giả dân gian. Em có nhận xét gì về tư tưởng, tình cảm, thái độ của tác giả dân gian trong tác phẩm?

 

 

Bước 6. Thiết kế tiến trình dạy học

       Hoạt động của GV và HS                         Yêu cầu cần đạt
Hoạt động 1. Khởi động

+ Theo em, trong cuộc sống, khi tình yêu cá nhân mâu thuẫn với lợi ích quốc gia, em sẽ lựa chọn điều gì? Tại sao em lại lựa chọn như vậy?

+ Thiết lập mục đích: Đọc một tác phẩm truyền thuyết bàn về mối quan hệ giữa tình yêu cá nhân và lợi ích quốc gia, để hiểu về ý nghĩa của những lựa chọn của mỗi người.

– Hoạt động 2. Hình thành kiến thức

I. Hướng dẫn học sinh tìm hiểu những nét khái quát về truyền thuyết ADV & MCTT

– Truyền thuyết ADV & MCTT được chia làm mấy phần? Nội dung chính của từng phần?

 

 

– Tác phẩm có những chi tiết, sự việc tiêu biểu nào?Dựa vào những chi tiết, sự việc đó, hãy tóm tắt truyền thuyết ADV& MCTT.

II, Hướng dẫn học sinh đọc hiểu truyền thuyết:

1, Hướng dẫn học sinh tìm hiểu về nhân vật ADV:

+ Chỉ ra những hành động của ADV trong quá trình xây thành chế nỏ?

 

 

 

 

+ ADV đã có những hành động, thái độ như thế nào khi kén rể và trước sự xâm lược của Triệu Đà?

 

+ Trước bi kịch mất nước, ADV đã có những hành động gì?

+ Qua những hành động của ADV, em thấy nguyên nhân nào khiến ADV để mất nước?

 

+ Em đánh giá như thế nào về những hành động đó?

+ Thái độ, tình cảm của tác giả dân gian dành cho nhân vật ADV như thế nào?

+ Em rút ra bài học gì từ quá trình để mất nước của ADV?

+ Nếu em là ADV, em có hành động như vậy không? Tại sao?

2, Hướng dẫn hs tìm hiểu nhân vật Mị Châu

+ Chỉ ra những hành động của Mị Châu với Trọng Thủy.

+ Trước sự truy đuổi của quân Triệu Đà, Mị Châu đã làm gì?

+ Khi bị rùa vàng kết tội, Mị Châu đã làm gì?

+ Nêu sự hóa thân của MC sau khi chết.

+ Em thấy MC là người như thế nào trong tư cách là vợ của Trọng Thủy?

+ Em thấy MC là người như thế nào trong tư cách là một công chúa của nước Âu Lạc?

+ Em có nhận xét gì về lời kết tội của rùa vàng?

+ Hình ảnh ngọc trai giếng nước có ý nghĩa gì?

3, Hướng dẫn HS tìm hiểu nhân vật Trọng Thủy

+ Nêu những hành động của Trọng Thủy để tìm cách lấy cắp nỏ thần?

+ Nêu kết cục dành cho Trọng Thủy?

+ Kết cục đó có hợp lý không? Vì sao?

+ Nếu là Trọng Thủy, em có hành động như vậy không? Tại sao?

4, Hướng dẫn HS tìm hiểu những chi tiết kì ảo.

Em hãy nêu những chi tiết kì ảo trong tác phẩm?

– Hãy phân tích ý nghĩa của những chi tiết kì ảo đó?

– Đánh giá tác dụng của các chi tiết hoang đường kì ảo đó trong việc xây dựng nhân vật và thể hiện tư tưởng của tác giả.

5, Hướng dẫn Hs tìm hiểu những bài học lịch sử trong tác phẩm.

– Tác giả dân gian đã gửi gắm tư tưởng, tình cảm, thái độ gì qua tác phẩm?

– Lí giải tư tưởng, tình cảm, thái độ đó của tác giả dân gian.

– Em có nhận xét gì về tư tưởng, tình cảm, thái độ của tác giả dân gian trong tác phẩm?

Hs nêu đúng tên tác phẩm truyền thuyết đã học và đã đọc.

Hs nêu quan điểm của mình bằng dạng nói hoặc dạng viết (ngắn).

I. Tìm hiểu chung

I. Vài nét về truyền thuyết ADV & MCTT

 

 

 

 

1.Bố cục: 3 đoạn

– Đoạn1: ADV xây thành chế nỏ bảo vệ vững chắc đất nước :Từ đầu đến “bèn xin hoà”

– Đoạn2: Cảnh nước mất nhà tan ; Tiếp đến  “dẫn vua xuống biển”

– Đoạn3: Mượn hình ảnh “Ngọc trai- giếng nước” để thể hiện thái độ của tác giả dân gian đối với Mị Châu : Đoạn còn lại

 

2.Tóm tắt:Truyền thuyết miêu tả quá trình xây thành, chế nỏ bảo vệ đất nước của ADV và bi kịch mất nước nhà tan. Đồng thời, thể hiện thái độ, tình cảm của tác giả dân gian với từng nhân vật.

 

 

II, Đọc hiểu truyền thuyết:

1, Nhân vật ADV

a. Vai trò của ADV trong sự nghiệp giữ nước.

*. Quá trình xây thành, chế nỏ:

– Thành đắp tới đâu lại đổ tới đó

– Lập bàn thờ, giữ mình trong sạch để cầu đảo bách thần.

– Nhờ cụ già mách bảo, sứ Thanh Giang (tức Rùa Vàng) giúp nhà vua xây thành “nửa tháng thì xong”

– Trước sự băn khoăn của nhà vua “Nếu có giặc ngoài thì lấy gì mà chống”, Rùa Vàng đã cho ADV cái vuốt để làm lẫy nỏ (ADV là người có ý thức, trách nhiệm)

* ADV được thần linh giúp đỡ vì: có ý thức đề cao cảnh giác, lo xây thành, chuẩn bị vũ khí từ khi giặc chưa đến. Qua đó, tác giả dân gian ngợi ca nhà vua, tự hào về chiến công xây thành, chế nỏ chiến thắng ngoại xâm của dtộc.

b. Ý nghĩa của những chi tiết kỳ ảo

– Khẳng định việc làm của ADV là hợp lòng trời, hợp lòng dân.

– Công cuộc dựng nước, giữ nước của ADV có tính chất chính nghĩa

– Thần thánh hoá sức mạnh của vũ khí, khẳng định tinh thần cảnh giác, chuẩn bị chống giặc của ADV

 

 

 

Hoạt động 3. Luyện tập

Cho đoạn văn sau: (Mị Châu sau khi chết -> ADV cầm sừng tê bảy tấc rẽ nước xuống biển khơi)

1. Đoạn trích có những chi tiết kì ảo nào?

2. Qua những chi tiết kì ảo đó, tác giả dân gian thể hiện tư tưởng, thái độ gì?

3. Viết một đoạn văn nêu suy nghĩ của em về nhân vật Mị Châu qua đoạn trích trên.

 

 

 

 

 

 

Giáo án sưu tầm

Xem thêm : Trọn bộ giáo án ngữ văn theo chủ đề dạy học

Giáo án ngữ văn 10 

Giáo án ngữ văn 11

Giáo án ngữ văn 12

 

Xem thêm những đề thi về   Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy.

Đề thi bán kì Ngữ văn lớp 10

ĐỀ THI BÁN KỲ I MÔN: VĂN- LỚP 10 

Đọc hiểu Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa, nghị luận xã hội 200 chữ :Mọi thứ rồi sẽ qua đi, chỉ còn tình người ở lại. Nhập vai nhân vật Trọng Thủy sau khi chết, xuống dưới thủy cung kể tiếp truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy? 

Thời gian làm bài: 120 phút.

Phần 1: Đọc hiểu ( 3,0 điểm)

Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi:

… Bao giờ cho tới mùa thu

trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm

bao giờ cho đến tháng năm

mẹ ra trải chiếu ta nằm đếm sao

 

Ngân hà chảy ngược lên cao

quạt mo vỗ khúc nghêu ngao thằng Bờm

bờ ao đom đóm chập chờn

trong leo lẻo những vui buồn xa xôi

 

Mẹ ru cái lẽ ở đời

sữa nuôi phần xác, hát nuôi phần hồn

bà ru mẹ, mẹ ru con

liệu mai sau các con còn nhớ chăng

( Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa, Nguyễn Duy)

  1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ trên? (0,5đ)
  2. Xác định 2 biện pháp tu từ được tác giả sử dụng trong bốn câu thơ đầu? Nêu tác dụng của chúng? ( 0,5đ)
  3. Nêu nội dung chính của đoạn thơ trên?(1,0đ)
  4. Viết đoạn văn khoảng 5 đến 7 dòng nhận xét về quan niệm của tác giả thể hiện trong hai câu thơ: Mẹ ru cái lẽ ở đời- sữa nuôi phần xác, hát nuôi phần hồn ( 1,0đ)

Phần 2: Làm văn (7,0đ )

Câu 1( 2,0 điểm)

Farađây có nói: “Mọi thứ rồi sẽ qua đi, chỉ còn tình người ở lại”.

Viết đoạn văn nghị luận khoảng  200 từ, trình bày suy nghĩ của anh/ chị về câu nói trên?

Câu 2 ( 5,0 điểm)

Nhập vai nhân vật Trọng Thủy sau khi chết, xuống dưới thủy cung kể tiếp truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy? Từ truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy, em rút ra được bài học gì cho bản thân sau khi học xong tác phẩm?

 

ĐÁP ÁN- VĂN 10

Phần Đáp án Điểm
I 1. phương thức biểu cảm/ biểu cảm 0,5
2.

 – Lặp cấu trúc (2 dòng Bao giờ cho tới…).

– Nhân hóa (trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm).

– Tác dụng nhấn mạnh, khơi gợi khao khát về những kỉ niệm thời thơ ấu vô cùng gần gũi, thân quen của bản thân tác giả.

 

 

0,25

 

0,25

3. Nội dung chính của đoạn thơ: Thể hiện hồi tưởng của tác giả về thời thơ ấu bên mẹ với những niềm vui bé nhỏ, giản dị; đồng thời cho thấy công lao của mẹ, ý nghĩa lời ru của mẹ, nhắn nhủ thế hệ sau phải ghi nhớ công lao ấy. 1,0
4. HS viết đoạn văn ngắn chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, không mắc lỗi…Nội dung diễn đạt được các ý chính sau:

+ Lời ru của mẹ chứa đựng những điều hay lẽ phải, những kinh nghiệm, bài học về cách ứng xử, sống đẹp ở đời..

+ Sữa mẹ nuôi phần thể xác, lời ru của mẹ nuôi dưỡng tâm hồn. => Đó là ơn nghĩa, tình cảm, công lao to lớn của mẹ.

1,0
II Câu 1:

– Giải thích:

+ Mọi thứ đều sẽ qua đi. Khi nhìn lại cuộc sống sẽ thấy mọi việc đến rồi đi như: niềm vui, nỗi buồn, sự khen ngợi, chê trách,…

+ Tình người là những tình cảm cao đẹp của con người, gắn kết những trái tim. Đó là tình yêu đôi lúa, tình cảm gia đình, bạn bè,… Cao hơn cả là tình người nói chung. Hay có thể là những tình cảm bình dị, gần gũi từ sự quan tâm chăm sóc nhau trong cuộc sống cho đến những tình cảm lớn lao mang tính giai cấp cộng đồng.

– Bàn luận, đánh giá:

+ Câu nói có tác dụng nhắc nhở con người: mọi thứ đều có không gian, thời gian nhất định. Có một quy luật cơ bản là không có điều gì tồn tại mãi mãi.

+ Cuộc sống chỉ tồn tại lâu bền khi được nuôi dưỡng bởi tình người. ( dẫn chứng)

+ Tuy nhiên, trong thực tế có những người chạy theo quyền lực, danh lợi,… sống thiếu chân thành, đề cao cái tôi cá nhân, lợi dụng, xu nịnh kẻ khác mà đánh mất nhân tâm, đánh mất tình người . Đó là lối sống ti tiện thiếu tình người ( dẫn chứng)

– Bài học:
+ Ý nghĩa của câu nói: Hãy sống yêu thương nhau. Đó là đạo đức của con người. Sống với lòng bao dung vị tha, sẵn sàng bỏ qua mọi lỗi lầm của người khác.

+ Liên hệ và rút ra bài học cho bản thân về động cơ và cách sống sao cho tình người còn mãi.

Câu 2:

* Về kĩ năng: HS biết vận dụng kĩ năng tự sự để viết bài nghị luận văn học. Kết cấu chặt chẽ, bố cục rõ ràng, diễn đạt lưu loát, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp…

* Về kiến thức: HS có nhiều cách trình bày nhưng bài làm cần thể hiện được:

MB:

+ Ngôi kể thứ nhất, lời kể bám sát chi tiết tiêu biểu của truyện:

+ Giới thiệu truyện.

TB:

+ Nhớ lại âm mưu cầu hôn Mị Châu để chiếm Âu Lạc.

+ Lợi dụng tình yêu, sự trong trắng, cả tin của Mị Châu đánh tráo nỏ thần.

+ Đem quân đánh Âu Lạc lần thứ 2.

+ Theo dấu lông ngỗng dẫn đường, đuổi theo An Dương Vương và Mị Châu.

+ Hối hận trước cái chết của Mị Châu: Khi gặp Mị Châu dưới thủy cung cầu xin nàng tha thứ; muốn nối lại tình cảm,…Mị Châu tha thứ nhưng không chấp nhận tình cảm của Trọng Thủy.

KB:

+ Kết thúc truyện: Trọng Thủy vô cùng đau khổ, ân hận, dày vò bản thân.

– Bài học:

+ Tinh thần yêu nước và bảo vệ đất nước.

+ Cảnh giác trước âm mưu của kẻ thù.

 

 

0,5

 

 

 

 

 

 

 

 

1,0

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

0,5

 

 

 

 

 

0,5

 

 

 

 

0,75

 

 

 

 

2,0

 

 

 

 

 

 

 

 

0,75

 

 

1,0

Xem thêm :

Đề thi khảo sát chất lượng học kì 1 môn Ngữ văn lớp 10

Đề kiểm tra học kì 1 môn Ngữ văn lớp 10. Đề đọc hiểu Thuật hứng Nguyễn Trãi, kể lại Truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy theo ngôi kể thứ nhất

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐỀ CHÍNH THỨC

 

NAM ĐỊNH

 

       ĐỀ KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG HỌC KỲ I

NĂM HỌC 2016 – 2017

Môn: Ngữ văn – Lớp: 10- THPT

(Thời gian làm bài: 90 phút)

                                           Đề thi gồm có 02  trang

 

 

PHẦN ĐỌC – HIỂU (3,0 ĐIỂM):

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 4:

Thuật hứng (Bài XXIV)

Nguyễn Trãi

Công danh đã được hợp(1) về nhàn

Lành dữ âu chi(2) thế nghị(3) khen

Ao cạn vớt bèo cấy muống

Đìa thanh(4) phát cỏ ương sen

Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc(5)

Thuyền chở yên hà(6) nặng vạy(7) then

Bui(8) có một lòng trung lẫn(9) hiếu

Mài chẳng khuyết, nhuộm chẳng đen(10)

(Trích theo: Nguyễn Trãi – Nhà văn và tác phẩm trong nhà trường – NXB Giáo dục- trang 38)

Chú giải:

  • Hợp: tiếng cổ có nghĩa là đáng, nên.
  • Âu chi: lo chi.
  • Nghị: dị nghị, ở đây hiểu là chê. Thế nghị khen: người đời chê khen.
  • Đìa thanh: đìa là vũng nước ngoài đồng. Thanh là trong.
  • Đầy qua nóc: đầy quá nóc nhà, nóc kho.
  • Yên hà: khói, ráng.
  • Vạy: oằn, cong. Nặng vạy then: chở nặng làm thang thuyền oằn xuống.
  • Bui: tiếng cổ, nghĩa là chỉ có.
  • Lẫn: (hoặc liễn, miễn): tiếng cổ nghĩa là với hoặc và.
  • Mài chẳng khuyết…: mài cũng không mòn, nhuộm cũng không đen. Ý nói lòng trung hiếu bền vững.

 

Câu 1 (0,5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên.

Câu 2 (0,5 điểm): Nếu là người biên soạn, anh (chị) sẽ chú giải từ phong nguyệt như thế nào ?

Câu 3 (1,0 điểm): Hình ảnh con người Nguyễn Trãi trong hai câu thơ sau:

Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc

Thuyền chở yên hà nặng vạy then

Câu 4 (1,0 điểm): Anh (chị) có đồng tình với quan niệm sống Nguyễn Trãi nói đến trong câu thơ “Công danh đã được hợp về nhàn” không ? Vì sao?

PHẦN LÀM VĂN (7,0 ĐIỂM):

Câu 1 (2,0 điểm):

Trong văn bản của phần đọc – hiểu, Nguyễn Trãi đã nói đến chữ trunghiếu. Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh (chị) về chữ trung hoặc chữ hiếu trong thời đại nay.

Câu 2 (5,0 điểm):

  1. Hãy tưởng tượng mình là nhân vật An Dương Vương hoặc Mị Châu (trong Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy), tự kể cuộc đời mình.
  2. Từ câu chuyện trên, anh (chị) có suy nghĩ gì về trách nhiệm của tuổi trẻ đối với việc bảo vệ chủ quyền đất nước.

——————–Hết———————-

(Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm)

Họ và tên thí sinh:…………………………..Số báo danh:……………………………………

Giám thị thứ nhất:……………………… .Giám thị thứ hai:………………………………….

 

HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG HỌC KỲ I

NĂM HỌC: 2016 – 2017 – Môn: Ngữ văn – lớp: 10

PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm):

Câu 1: Văn bản trên viết theo phương thức biểu đạt chính là biểu cảm/ Phương thức biểu đạt chính là biểu cảm/ Phương thức biểu cảm/ Biểu cảm

– Điểm 0,5: Trả lời đúng một trong những cách trên.

– Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời.

Câu 2: Phong nguyệt có nghĩa là gió trăng, trong đó phong là gió, nguyệt là trăng/ Phong nguyệt có nghĩa là gió trăng/ Phong nguyệt là trăng gió.

– Điểm 0,5: Trả lời đúng một trong những cách trên

– Điểm 0,25: Chỉ giải thích được một trong hai chữ: phong hoặc nguyệt

– Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời

Câu 3: Hình ảnh con người Nguyễn Trãi trong hai câu thơ 5 và 6 là:

+ Một con người gần gũi, gắn bó, yêu thiên nhiên, yêu quê hương tha thiết

+ Một người nghệ sĩ có tâm tâm hồn lãng mạn, phóng khoáng

– Điểm 1,0: Trả lời đúng 2 ý trên

– Điểm 0,5: Trả lời đúng 1 trong 2 ý trên

– Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời

Lưu ý: Trên đây là 2 ý cơ bản nhất, HS có thể diễn đạt theo những cách khác nhau. Nếu HS có những kiến giải khác nhưng hợp lý vẫn cho điểm. VD: Nguyễn Trãi  gắn bó với thiên nhiên (0,5 điểm), không màng danh lợi (0,25 điểm)…

Câu 4: HS có thể đồng tình hoặc không đồng tình với quan niệm sống Nguyễn Trãi nói đến trong câu thơ “Công danh đã được hợp về nhàn” miễn là giải thích hợp lý. Có thể triển khai theo hướng như sau:

+ HS đồng tình với quan niệm sống trên vì: Đã đạt được công danh rồi, hoàn thành được sự nghiệp, ước mơ, lý tưởng của mình, đã cống hiến được nhiều cho xã hội, con người cũng cần được nghỉ ngơi, được tận hưởng cuộc sống.

+ HS không đồng tình với quan niệm sống trên vì: Cuộc sống con người là luôn cố gắng, không dừng lại, không bằng lòng với chính mình, luôn cống hiến hết mình cho xã hội; cho phép mình nghỉ ngơi ta sẽ bị lạc hậu, sẽ đánh mất giá trị của bản thân.

– Điểm 1,0: HS trình bày được quan điểm của mình và giải thích một cách hợp lý, chặt chẽ.

– Điểm 0,75: HS trình bày được quan điểm của mình và giải thích một cách tương đối hợp lý

– Điểm 0,5: HS trình bày được quan điểm của mình và có giải thích nhưng chưa thuyết phục

– Điểm 0,25: HS chỉ trình bày quan điểm của mình mà không giải thích.

– Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời.

PHẦN LÀM VĂN (7,0 ĐIỂM):

Câu 1 (2,0 điểm):

* Yêu cầu chung: HS biết kết hợp kiến thức và kĩ năng về dạng bài nghị luận xã hội để tạo lập văn bản. Đoạn văn phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng, văn viết có cảm xúc, diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết, không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.

* Yêu cầu cụ thể:

a) Đảm bảo cấu trúc đoạn văn nghị luận (0,25 điểm):

– Điểm 0,25: Đảm bảo hình thức của một đoạn văn nghị luận.

– Điểm 0: Không có hình thức của một đoạn văn nghị luận.

b) Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm)

– Điểm 0,25: Xác định đúng vấn đề nghị luận: Bình luận về chữ trung hoặc hiếu trong thời đại nay.

– Điểm 0: Xác định sai vấn đề nghị luận, lạc sang vấn đề khác.

c) Chia vấn đề nghị luận thành các ý phù hợp; triển khai theo trình tự hợp lí, có sự liên kết chặt chẽ, sử dụng tốt các thao tác lập luận để triển khai vấn đề, có dẫn chứng cụ thể và sinh động.(1,0 điểm)

HS có thể trình bày theo định hướng sau:

* Nếu HS bàn về chữ trung:

+ Giải thích: Trung ở đây được hiểu là trung thành, nguyện hi sinh hết mình vì đất nước, nhân dân.

+ Bàn luận:

  • Chữ trung: Trung thành với đất nước, nguyện hết mình hi sinh vì đất nước là yêu cầu đầu tiên đối với một công dân. Trong thời đại nay, trung với nước là phải học tập, rèn luyện, đem tài năng, sức lực của mình để dựng xây và bảo vệ chủ quyền của đất nước.
  • Phê phán những kẻ bất trung.

+ Bài học nhận thức và hành động, liên hệ với bản thân

* Nếu HS bàn về chữ hiếu:

+ Giải thích: Hiếu là hiếu nghĩa với các bậc sinh thành hoặc những người có ơn nghĩa sâu nặng với mình.

+ Bàn luận:

  • Chữ hiếu: Hiếu nghĩa với các bậc sinh thành, hoặc những người có ơn nghĩa sâu nặng với mình là yêu cầu cần có đối với mỗi con người. Điều này làm nhân cách của mỗi chúng ta. Hiếu phải được thể hiện bằng những lời nói, hành động cụ thể.
  • Hiếu có thể được hiểu rộng là tôn trọng, yêu thương nhân dân.
  • Phê phán những kẻ bất hiếu.

+ Bài học nhận thức và hành động, liên hệ với bản thân

– Điểm 1,0: Đảm bảo các yêu cầu trên.

– Điểm 0,75: Cơ bản đáp ứng đầy đủ các yêu cầu trên, song còn một vài ý chưa đầy đủ, hoặc liên kết chưa chặt chẽ (đáp ứng được 2/3 yêu cầu trên).

– Điểm 0,5: Đáp ứng được 1/2 yêu cầu trên.

– Điểm 0,25: Đáp ứng được 1/4 – 1/3 yêu cầu trên.

– Điểm 0: Không đáp ứng được bất kì yêu cầu nào trong các yêu cầu trên.

d) Sáng tạo (0,25 điểm):

– Điểm 0,25: Có cách diễn đạt độc đáo, sáng tạo (viết câu, sử dụng từ ngữ, hình ảnh, các yếu tố biểu cảm…), thể hiện được quan điểm, thái độ riêng, sâu sắc của người viết nhưng không trái với chuẩn mực đạo lí, pháp luật. (VD: HS có thể so sánh chữ trung trong quan niệm của người xưa và hôm nay…)

– Điểm 0: Không có cách diễn đạt độc đáo, sáng tạo (viết câu, sử dụng từ ngữ, hình ảnh, các yếu tố biểu cảm…), không có quan điểm, thái độ riêng, sâu sắc của người viết hoặc quan điểm, thái độ trái với chuẩn mực đạo lí, pháp luật.

e) Chính tả, dùng từ, đặt câu (0,25 điểm):

– Điểm 0,25: Không mắc lỗi diễn đạt, dùng từ, đặt câu hoặc chỉ 1-2 lỗi nhỏ.

– Điểm 0: Mắc nhiều lỗi diễn đạt, dùng từ, đặt câu.

Câu 2 (5,0 điểm):

* Yêu cầu chung: HS biết kết hợp kiến thức và kĩ năng về dạng bài văn tự sự để tạo lập văn bản. Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng, văn viết có cảm xúc, diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết, không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.

* Yêu cầu cụ thể:

a) Đảm bảo cấu trúc bài tự sự (0,5 điểm):

– Điểm 0,5: Trình bày đầy đủ 3 phần: Mở bài, Thân bài, Kết bài. Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được câu chuyện; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm nổi bật câu chuyện; phần Kết bài kết câu chuyện hợp lý, tạo được ấn tượng, cảm xúc cho người đọc.

– Điểm 0,25: Trình bày đầy đủ 3 phần: Mở bài, Thân bài, Kết bài nhưng các phần chưa thể hiện được đầy đủ yêu cầu như trên.

– Điểm 0: Thiếu Mở bài hoặc Kết bài, Thân bài chỉ có một đoạn hoặc cả bài chỉ có một đoạn.

b) Xác định đúng ngôi kể (0,25 điểm)

– Điểm 0,25: Xác định đúng ngôi kể người viết là An Dương Vương hay Mị Châu.

– Điểm 0: Xác định sai hoặc không xác định được ngôi kể.

c) Người viết hóa thân vào nhân vật để kể lại Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy. (2,5 điểm)

* Nếu nhập vai nhân vật Mị Châu, HS có thể trình bày theo định hướng sau:

+ Giới thiệu nhân vật người kể chuyện – Mị Châu

+ Giới thiệu tình huống truyện

+ Các sự việc tiêu biểu:

  • Những ngày sống cùng cha, Mị Châu chứng kiến chuyện xây thành, chế nỏ;
  • Cuộc hôn nhân và những ngày sống chung cùng Trọng Thủy;
  • Nỗi niềm khi chia tay Trọng Thủy;
  • Bi kịch nước mất nhà tan;
  • Cái chết và sự hóa thân

+ Bài học thấm thía của bản thân từ câu chuyện của mình.

* Nếu nhập vai vào nhân vật An Dương Vương, HS có thể kể lại tác phẩm theo định hướng sau:

+ Giới thiệu nhân vật người kể chuyện – An Dương Vương

+ Giới thiệu tình huống truyện

+ Các sự việc tiêu biểu:

  • Xây thành, chế nỏ;
  • Đánh tan quân Triệu Đà;
  • Gả con gái cho Trọng Thủy. Lơ là mất cảnh giác, bị Trọng Thủy đánh cắp nỏ thần mà không hay biết;
  • Quân Triệu Đà đánh lần 2 thua chạy, phải mang con gái đi trốn;
  • Trên đường chạy trốn, bị quân giặc truy đuổi. Đến bước đường cùng, phải tự tay chém con gái yêu, sau đó được Rùa Vàng dẫn xuống biển.

+ Bài học rút ra từ câu chuyện của mình.

Lưu ý: Người viết phải chú ý được mức độ đậm nhạt của những chi tiết, sự việc tiêu biểu. Cần chú ý khi hóa thân vào nhân vật Mị Châu phải làm bật lên được tâm trạng đau đớn, ân hận của Mị Châu khi chứng kiến kết cục bi thảm của một dân tộc do chính mình gây nên. Khi hóa thân vào nhân vật An Dương Vương phải làm bật lên được sự ân hận vì đã lơ là mất cảnh giác, đẩy cả đất nước vào cảnh lầm than.

Cách cho điểm:

– Điểm 2,0 – 2,5: Xác định đúng ngôi kể. Đảm bảo các yêu cầu trên.

– Điểm 1,25 – 1,75: Cơ bản đáp ứng đầy đủ các yêu cầu trên, song một số sự việc chưa đầy đủ, hoặc liên kết giữa các sự việc chưa chặt chẽ, hoặc chưa thấy được mức độ đậm nhạt của các sự việc.

– Điểm 0,5 – 1,0: Biết nhập vai nhân vật để kể chuyện nhưng sơ sài, không chặt chẽ, một số sự việc chưa đúng tinh thần của tác phẩm.

– Điểm 0,25: Không biết nhập vai nhân vật để chuyện, hoặc chỉ kể được một vài sự việc nhỏ.

– Điểm 0: Không kể chính xác được một sự việc nào hoặc không làm bài.

d) Từ câu chuyện suy nghĩ về trách nhiệm của tuổi trẻ đối với việc bảo vệ chủ quyền đất nước. (1,0 điểm) HS có thể trình bày theo định hướng sau:

+ Trong hoàn cảnh chủ quyền của đất nước bị đe dọa, tuổi trẻ phải ý thức được trách nhiệm của mình đối với đất nước.

+ Tuổi trẻ cần học tâp, rèn luyện để có kiến thức, sức khỏe mà có thể cống hiến cho đất nước.

+ Sẵn sàng dâng hiến đời mình cho đất nước nếu “Tổ quốc gọi tên mình”.

+ Cảnh giác trước những âm mưu, hành động của các thế lực thù địch.

Cách cho điểm:

– Điểm 0,75 – 1,0: HS có thể trình bày được 2-3 ý trên hoặc các ý khác nhưng hợp lý.

– Điểm 0,25 – 0,5: HS trình bày được 1-2 ý trên hoặc các ý khác nhưng hợp lý.

– Điểm 0: Không trình bày được ý nào hợp lý, sai hoàn toàn hoặc không làm.

e) Sáng tạo (0,25 điểm):

– Điểm 0,25: Có cách diễn đạt độc đáo, sáng tạo (viết câu, sử dụng từ ngữ, hình ảnh, các yếu tố biểu cảm…), văn hay, viết giàu cảm xúc, hoặc có những chi tiết sáng tạo hợp lý.

– Điểm 0: Không có cách diễn đạt độc đáo, sáng tạo (viết câu, sử dụng từ ngữ, hình ảnh, các yếu tố biểu cảm…), hoặc có những sáng tạo không hợp lý, không lôgic.

f) Chính tả, dùng từ, đặt câu (0,5 điểm):

– Điểm 0,5: Không mắc lỗi diễn đạt, dùng từ, đặt câu.

– Điểm 0,25: Mắc một số lỗi diễn đạt, dùng từ, đặt câu.

– Điểm 0: Mắc nhiều lỗi diễn đạt, dùng từ, đặt câu.

Lưu ý: HS có thể trình bày bài thành 2 phần độc lập theo ý hỏi a,b hoặc trình bày gộp làm một bài. Chấp nhận mọi cách kết cấu. Nếu HS tách làm 2 phần a, b thì phần a tối đa cho 4,0 điểm; phần b tối đa cho 1,0 điểm theo hướng dẫn chấm.

Xem thêm :

Giáo án Ngữ văn 10 theo định hướng phát triển năng lực : Truyện dân gian Việt Nam

Tài liệu Ngữ văn 10 theo định hướng phát triển năng lực : Truyện dân gian Việt Nam

CHỦ ĐỀ : “TRUYỆN DÂN GIAN VIỆT NAM” – NGỮ VĂN 10

– Hiểu được những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của truyện dân gian (truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười…)

XÁC ĐỊNH CHUẨN KIẾN THỨC KĨ NĂNG

– Xác định được đặc trưng thể loại của truyện dân gian qua một số văn bản cụ thể

– Biết cách đọc – hiểu truyện dân gian theo đặc trưng thể loại.

Từ đó HS có thể hình thành những năng lực sau:

– Năng lực thu thập thông tin liên quan đến văn bản.

– Năng lực giải quyết những tình huống đặt ra trong văn bản

– Năng lực đọc – hiểu truyện dân gian Việt Nam theo đặc trưng thể loại.

– Năng lực trình bày suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về ý nghĩa của văn bản

– Năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận về nội dung, nghệ thuật của văn bản.

BẢNG MÔ TẢ CÁC MỨC ĐỘ ĐÁNH GIÁ CHỦ ĐỀ: “TRUYỆN DÂN GIAN VIỆT NAM” THEO ĐỊNH HƯỚNG NĂNG LỰC

 

Nhận biết Thông hiểu Vận dụng
Vận dụng thấp Vận dụng cao
-Nêu thông tin về văn bản. – Hiểu đặc điểm của thể loại truyện – Đọc, kể diễn cảm truyện dân gian. -Đọc (kể) sáng tạo truyện dân gian
– Liệt kê các nhân vật trong truyện. – Chia nhân vật theo từng tuyến và lí giải thái độ của nhân dân với các tuyến nhân vật đó. – Khái quát giá trị nội dung, ý nghĩa của truyện dân gian. -Trình bày những quan điểm riêng, phát hiện sáng tạo về văn bản.
– Liệt kê được những chi tiết nghệ thuật quan trọng liên quan đến từng nhân vật. – Lý giải thái độ, quan điểm thẩm mĩ, ước mơ, khát vọng của nhân dân trong truyện dân gian. – Thấy được mối liên hệ giữa thế giới thực và thế giới nghệ thuật được khắc họa trong truyện kể. – Tự đọc và khám phá giá trị của một văn bản mới cùng thể loại
-Phân biệt được các loại truyện dân gian -Phân tích bối cảnh

(không gian và thời gian) sinh thành, biến đổi, diễn xướng của truyện dân gian

-Phân biệt tự sự trong văn học dân gian và tự sự trong văn học viết.
-Khái quát ảnh hưởng của văn học dân gian đến văn học viết
-Kết nối văn hóa dân gian, văn học dân gian với thực tiễn hiện nay để rút ra bài học cho bản thân và những người xung quanh.
Câu hỏi định tính, định lượng Bài tập thực hành
Câu hỏi trắc nghiệm khách quan ( về đặc điểm, thể loại, chi tiết nghệ thuật…)

– Câu tự luận trả lời ngắn (lý giải, phát hiện, nhận xét, đánh giá…)

– Phiếu quan sát làm việc nhóm ( trao đổi, thảo luận về các giá trị của văn bản,…)

 

Hồ sơ ( tập hợp các sản phẩm thực hành)

– Kể chuyện sáng tạo; trình bày cảm nhận, kiến giải riêng của cá nhân.

-Bài tập dự án ( nghiên cứu so sánh tác phẩm, nhân vật theo chủ đề

-Bài trình bày, thuyết trình về giá trị, nội dung ý nghĩa của truyện.

– Đọc diễn cảm, kể chuyện sáng tạo,…

– Sưu tầm tư liệu, tranh ảnh, tư liệu và dị bản.

– Chuyển thể kịch bản, đóng vai, nhập vai một nhân vật kể lại chuyện, viết lại kết thúc truyện,…

 

 III. CÂU HỎI/ BÀI TẬP MINH HOẠ

Văn bản: “ Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy”

 

Nhận biêt Thông hiểu Vận dụng
Thấp Cao
-Truyện thuộc thể loại truyện dân gian nào?

– Truyện “ An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy có thể chia làm mấy phần ? Nội dung chính của từng phần là gì ?

– Qúa trình xây thành, chế nỏ bảo vệ đất nước của An Dương Vương gắn với những chi tiết cụ thể nào ?

-Những chi tiết nào cho thấy sự mất cảnh giác, chủ quan của An Dươn Vương ?

– Liệt kê những sự kiện gắn liền với sự xuất hiện của nhân vật Mị Châu – Trọng Thủy?

-Tóm tắt truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy.

 

Nêu chủ đề của Truyện An Dương và Mị Châu – Trọn Thủy ?

– Thái độ của tác giả dân gian đối với nhân vật An Dương Vương, Mị Châu, Trọng Thủy như thế nào?

– Sai lầm của An Dương Vương bắt đầu từ đâu? Hậu quả của sai lầm đó là gì ?

– Chi tiết An Dương Vương “cầm sừng tê bảy tấc, Rùa Vàng rẽ nước dẫn vua đi xuống biển” có ý nghĩa gì ?

– Chi tiết “Mị Châu chết ở bờ biển, máu chảy xuống nước, trai sò ăn phải đều biến thành hạt châu” có ý nghĩa gì ?

 

– Giới thiệu những bản kể khác của “ Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy”

– Ý nghĩa của “Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy” ?

– Rút ra bài học từ “Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy”.

– Nếu được phép thay đổi kết thúc “Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy” anh (chị) sẽ thay đổi như thế nào ?

– Đóng vai nhân vật An Dương Vương hoặc Mị Châu hoặc Trọng Thủy kể lại “Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy”

 

 

IV.MA TRẬN ĐỀ

       Mức độ

 

Chủ đề

Nhận biết Thông hiểu Vận dụng Tổng số
Thấp Cao
I. Đọc – hiểu Đoạn văn bản “Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy”

 

Nhận biết tình thế của nhân vật, cốt lõi lịch sử của truyện

 

– Lý giải ý nghĩa chi tiết trong đoạn văn

– Đánh giá về hành động nhân vật, nhận xét về nhân vật

Số câu

Số điểm

Tỷ lệ

2

1,5

15%

3

1,5

15%

6

3,0

30%

II. Làm văn

Nghị luận văn học

– Vận dụng hiểu biết về nội dung, nghệ thuật của văn bản để viết một bài văn tự sự
Số câu

Số điểm

Tỷ lệ

1

7,0

70%

1

7,0

70%

Tổng chung:

Số câu

Số điểm

Tỷ lệ

 

2

1,5

15%

 

3

1,5

15%

 

 

 

1

7,0

70%

 

7

10

100%

ĐỀ KIỂM TRA(Thời gian làm bài : 90′)

Phần I:  Đọc – hiểu (3,0 điểm)

Đọc đoạn sau và trả lời câu hỏi:

…Trọng Thủy nhận dấu lông ngỗng mà đuổi. Vua chạy tới bờ biển, đường cùng, không có thuyền qua bèn kêu rằng: “ Trời hại ta, sứ Thanh Giang ở đâu mau lại cứu”. Rùa Vàng hiện lên mặt nước, hét lớn: “ Kẻ ngồi sau lưng chính là giặc đó!”. Vua bèn tuốt kiếm chém Mị Châu, Mị Châu khấn rằng: “ Thiếp là phận gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại cha, chết đi sẽ biến thành cát bụi. Nếu một lòng trung hiếu mà bị người lừa dối thì chết đi sẽ biến thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù”. Mị Châu chết ở bờ biển, máu chảy xuống nước, trai sò ăn phải đều biến thành hạt châu. Vua cầm sừng tê bảy tấc, Rùa Vàng rẽ nước dẫn nhà vua đi xuống biển…

Câu 1: Kẻ ngồi sau lưng chính là giặc đó! Câu nói trên của Rùa Vàng có ý nghĩa gì ?

  1. Lời kết tội đanh thép của nhân dân về hành động vô tình phản quốc của Mị Châu
  2. Lời cảnh tỉnh đối với thái độ cả tin, mất cảnh giác của An Dương Vương.
  3. Lời phán quyết của công lí vè trách nhiệm của An Dương Vương và Mị Châu trước vận mệnh của đất nước.
  4. Cả A, B, C

Câu 2: Tình thế bi kịch nhất của An Dương Vương trong đoạn trên là gì ?

  1. Trước mắt là biển rộng, sau lưng là quân giặc sắp đuổi đến
  2. Phải rút kiếm chém chết chính con gái mình
  3. Người dẫn đường cho giặc đuổi theo chính là đứa con gái đang ngồi sau.
  4. Phải bỏ Loa Thành để theo Rùa Vàng xuống biển.

Câu 3: Việc An Dương Vương chém đầu con gái mình là Mị Châu thể hiện điều gì ?

  1. Sự hồ đồ và tàn nhẫn
  2. Sự tuân phục mệnh lệnh của thần linh
  3. Sự tỉnh ngộ muộn mằn nhưng cần thiết
  4. Một kết cục thích đáng cho sự phản bội

Câu 4: Dòng nào sau đây nêu nhận xét chính xác về nhân vật Mị Châu ?

  1. Người phụ nữ hiền thục, chung tình.
  2. Người vợ một lòng tuân phục theo chồng.
  3. Người con gái rất mực hiếu nghĩa với cha.
  4. Người công dân biết tội và dám nhận tội

Câu 5: Chỉ ra cốt lõi lịch sử của “Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy” ?

Phần II. Tự luận (7 điểm)

    Sau khi tự tử ở giếng Loa Thành, xuống thủy cung, Trọng Thủy đã tìm gặp lại Mị Châu. Hãy tưởng tượng và kể lại câu chuyện đó.

HƯỚNG DẪN CHẤM

Câu Nội dung Điểm
I.

Đọc – hiểu

a.     Yêu cầu về kĩ năng:

-Học sinh có kĩ năng đọc hiểu văn bản

– Diễn đạt rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp

b.    Yêu cầu về kiến thức:

 
1 D 0,5
2 B 0,5
3 C 0,5
4 D 0,5
5 -Thời An Dương Vương đã xây được thành cao, hào sâu, chế được vũ khí khiến kẻ thù phải khiếp sợ, chiến thắng lần thứ nhất giặc xâm lược, lần sau bị rơi vào tay giặc. 1,0
II.

Làm văn

1.     Yêu cầu về kĩ năng:

– Biết cách làm bài văn tự sự

– Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu, diễn đạt

– Có những cách viết sáng tạo, độc đáo

2.     Yêu cầu về kiến thức:

 
-Giới thiệu về câu chuyện ( hoàn cảnh, thời gian, không gian, nhân vật…) 0,5
Lần lượt trình bày những sự việc theo diễn biến chính của câu chuyện sẽ tưởng tượng:

–         Sự việc dẫn đến việc Trọng Thủy tìm gặp lại được Mị Châu dưới Thủy Cung

–         Cuộc gặp gỡ của hai người, Trọng Thủy xin tha thứ, thái độ của Mị Châu và những người trong cuộc

 

 

3,5

 

 

3,5

 

–         Kết thúc câu chuyện ( có thê bằng cảm nghĩ của nhân vật hoặc một chi tiết đặc sắc, ý nghĩa) 0,5

(Tài liệu sưu tầm )

Xem thêm :

  1. Trọn bộ giáo án Ngữ văn khối 10
  2. Các chuyên đề môn Văn
  3. Tổng hợp tài liệu , đề thi, bài văn hay về Truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy

Đề thi bán kì Ngữ văn 10, có ma trận, đáp án

Đề thi bán kì Ngữ văn 10, có ma trận, đáp án.kể lại Truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy bằng lời của em với một cách kết thúc khác kết thúc của tác giả dân gian

ĐỀ THI BÁN KỲ I MÔN NGỮ VĂN 10

Thời gian: 90′

 

I.MỤC TIÊU ĐỀ KIỂM TRA:

– Đánh giá chất lượng giữa kỳ, thu thập thông tin để đánh giá mức độ đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng trong chương trình học  môn Ngữ văn học kỳ I

– Kiểm tra, đánh giá năng lực tiếp thu kiến thức của học sinh qua ba mức độ: biết, hiểu, vận dụng, trong đó chú trọng kiểm tra, đánh giá năng lực đọc – hiểu và tạo lập văn bản của học sinh thông qua hình thức kiểm tra tự luận.

HÌNH THỨC KIỂM TRA: Tự luận

III. THIẾT LẬP MA TRẬN:

MA TRẬN ĐỀ THI BÁN KỲ I

MÔN NGỮ VĂN 10

 

          Mức độ

 

Chủ đề

Nhận biết

 

Thông hiểu

 

Vận dụng

 

Cộng
Vận dụng thấp Vận dụng cao
I. Đọc hiểu

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 
Số câu:

Số điểm:

Tỉ lệ: %

 
II. Làm văn

Kiểu bài tự sự

(Kể chuyện sáng tạo)

 

chi tiết, sự việc trong văn bản

 

 

 

10%

 

Kiểu bài văn tự sự . Phân biệt được kiểu văn bản miêu tả và tự sự..

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Lựa chọn phương pháp lập luận phù hợp với kiểu bài văn tự sự…

Vận dụng kiến thức trong văn bản

để làm

 

 

 

 

 

 

20%

 

Biết sử dụng chất liệu trong những văn bản văn học để làm bài văn tự sự

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Kĩ năng: Nắm

vững phương pháp làm bài nghị luận văn học kết hợp với phương pháp văn tự sự và biểu cảm trong bài viết. Tích hợp kiến thức đã học để viết bài văn tự sự theo cốt truyện đã có hoặc tự xây dựng kết hợp với miêu tả, biểu cảm.Biết điều chỉnh dung lượng của bài viết.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1 câu

30%

Số câu:

Số điểm:

Tỉ lệ: 100%

 

0,5đ

5%

 

0,5đ

5%

 

30%              

 

30%

1 câu

7 đ

70%

Tổng cộng

Số câu:

Số điểm:

Tỉ lệ:

 

 

1,5đ

 

 

0,5đ      

 

 

 

 

 

 

2

10

100%

                    

BIÊN SOẠN CÂU HỎI THEO MA TRẬN

 

ĐỀ THI BÁN KỲ I MÔN NGỮ VĂN 10

Thời gian: 90′

(Không kể thời gian giao đề)

Phần I: Đọc hiểu (3đ)

Đọc hai đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 4:

Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên
Còn những bí và bầu thì lớn xuống
Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn
Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi.

(Mẹ và quả – Nguyễn Khoa Điềm)

Thời gian chạy qua tóc mẹ
Một màu trắng đến nôn nao
Lưng mẹ cứ còng dần xuống
Cho con ngày một thêm cao.

(Trong lời mẹ hát – Trương Nam Hương)

Câu 1. Nêu hai phương thức biểu đạt nổi bật trong đoạn thơ thứ nhất.
Câu 2. Xác định nghệ thuật tương phản trong từng đoạn thơ trên?
Câu 3. Nêu hiệu quả nghệ thuật của phép nhân hóa trong câu thơ “Thời gian chạy qua tóc mẹ”?
Câu 4. Những điểm giống nhau về nội dung và nghệ thuật của hai đoạn thơ trên là gì? Trả lời trong khoảng 6-8 dòng.
.II: Làm văn (7đ)

Hãy kể lại Truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy bằng lời của em với một cách kết thúc khác kết thúc của tác giả dân gian

————————————–Hết———————————–

XÂY DỰNG HƯỚNG DẪN CHẤM VÀ THANG ĐIỂM

Hướng dẫn chung:

– Giám khảo cần nắm vững yêu cầu của hướng dẫn chấm để đánh giá tổng quát bài làm của thí sinh, tránh cách chấm đếm ý cho điểm.

– Do đặc trưng của môn Ngữ văn nên giám khảo cần linh động trong việc vận dụng đáp án và thang điểm; khuyến khích những bài viết có cảm xúc và sáng tạo.

– Việc chi tiết hóa điểm số của các ý (nếu có) phải đảm bảo không sai lệch với tổng điểm của mỗi ý và được thống nhất trong tổ chấm

– Sau khi cộng điểm toàn bài, làm tròn đến 0,5 (lẻ 0,25 làm tròn thành 0,5; lẻ 0,75 làm tròn thành 1,0 điểm).

  1. II. Đáp án và thang điểm
Đáp án Điểm
 

 

 

 

 

 

Phần I

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phần II

Câu 1. Hai phương thức biểu đạt nổi bật trong đoạn thơ thứ nhất: Miêu tả, biểu cảm.( 0,5đ)

Câu 2. Xác định nghệ thuật tương phản trong đoạn thơ thứ nhất: tương phản giữa “Lũ chúng tôi… lớn lên” và “bí và bầu lớn xuống”; trong đoạn thơ thứ hai: tương phản giữa “Lưng mẹ… còng dần xuống” và “con ngày một thêm cao”. (1đ)

Câu 3. Hiệu quả nghệ thuật của phép nhân hóa trong câu thơ “Thời gian chạy qua tóc mẹ”: Nhân hóa “Thời gian” qua từ “chạy”, cho thấy thời gian trôi qua nhanh làm cho mẹ già nua , bộc lộ nỗi xót xa, thương mẹ của người con.(0,5)

Câu 4. Hai đoạn thơ trên có điểm giống nhau về nội dung: Bộc lộ niềm xót xa và lòng biết ơn của con trước những hi sinh thầm lặng của mẹ; về nghệ thuật: ngôn ngữ tạo hình, biểu cảm, biện pháp tương phản, nhân hóa. (1đ)

 
a. Yêu cầu về kỹ năng:

– Biết cách làm bài văn tự sự . Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt rõ ràng; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.

– Bài văn có  đủ ba phần  có hình thức và nội dung

– Xây dựng luận điểm – luận cứ  – luận chứng rõ ràng

b. Yêu cầu về kiến thức:

Thí sinh có thể đưa ra những ý kiến riêng và trình bày theo nhiều cách lí lẽ và dẫn chứng phải hợp lí, cần làm rõ được các ý chính sau:

1. Mở bài:

• Giới thiệu về hoàn cảnh xảy ra câu chuyện:

–   An Dương Vương kế tục sự nghiệp dựng nước của 18 đời Hùng vương; đổi tên nước Văn Lang thành Âu Lạc, dời đô từ Phong Châu xuống Phong Khê (Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội ngày nay).

2. Thân bài:

• Diễn biến cùa chuyện:

–  An Dương Vương bắt tay vào việc xây thành, gặp rất nhiều khó khăn.

–  Nhờ sứ Thanh Giang (Rùa Vàng) giúp đỡ, sau nửa tháng thì thành xây xong.

–  Rùa Vàng cho An Dương Vương một chiếc vuốt để làm lẫy nỏ.

–   Triệu Đà mang quân sang xâm lược, An Dương vương có nỏ thán bắn một phát chết hàng vạn giặc nên Triệu Đà thua to, phải rút vể nước.

–    Triệu Đà giả vờ cầu hòa, rồi cầu hôn cho con trai là Trọng Thuỳ. An Dương Vương chủ quan, mất cảnh giác nên đã mắc mưu.

–    Trọng Thuỳ lấy cắp lẫy thần. Triệu Đà tấn công Loa Thành, An Dương Vương mang Mị Châu lên ngựa bỏ chạy vể phương Nam.

3. Kết bài:

Kết thúc câu chuyện:

–    Rùa Vàng chỉ đích danh Mị Châu là giặc. An Dương Vương rút gươm toan chém đẩu Mị Châu.

–  Trọng Thuỷ vừa đuổi theo tới nơi, lấy thân đỡ lưỡi gươm thay cho Mị Châu.
Hãy kể lại truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy, bằng lời của anh (chị) với một kết thúc khác với kết thúc của tác giả dân gian

* Lưu ý:

– HS có thể trình bày theo những kết cấu khác nhau và có những cảm nhận riêng của mình miễn là đáp ứng được yêu cầu đề.

–  Khuyến khích thêm điểm cho những bài là có năng lực cảm thụ văn chương, có sáng tạo.

BIỂU ĐIỂM:

– Điểm 6-7: Đáp ứng tốt các yêu cầu của đề, bố cục sáng rõ, văn viết mạch lạc, có cảm xúc, cảm nhận độc đáo, sâu sắc, sáng tạo.

– Điểm 5-6: Đáp ứng khá tốt các yêu cầu của đề, bố cục hợp lí, cảm nhận khá nhưng lập luận chưa sắc sảo, có một số lỗi về diễn đạt

– Điểm 3-4:  Đáp ứng ở mức trung bình các yêu cầu của đề.

Điểm 1-2: Hiểu đề chưa thấu đáo, bài làm còn chung chung, diễn đạt thiếu trôi chảy Chưa hiểu đề, bài làm hoặc quá sơ sài, hoặc lan man, kiến thức thiếu chắc chắn, diễn đạt hạn chế

– Điểm 0: Không làm bài, bỏ giấy trắng

Xem thêm :

  1. Tuyển tập đề thi Ngữ văn khối 10
  2. Tuyển tập đề thi Ngữ văn khối 11
  3. Tuyển tập đề thi Ngữ văn khối 12

Đề thi học sinh giỏi : Sự hóa thân của Mỵ Châu và cô Tấm ngữ văn 10

ĐỀ BÀI: Phân tích sự hóa thân của Mị Châu trong “truyền  thuyết về An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy” và Tấm trong cổ tích “Tấm Cám”.

Bài làm

“ Tôi kể ngày xưa chuyện Mị Châu

Trái tim lầm chỗ để lên đầu

Nỏ thần vô ý trao tay giặc

Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu”

(Tố Hữu)

Như cô Tấm chết đi sống lại trong thân xác vàng anh, xoan đào, quả thị trên hành trình giành lại hạnh phúc. Trong cổ tích hóa thân không đơn thuần chỉ là phép màu. Những hình ảnh hóa thân đặt trong mạch chuyện có vai trò của riêng nó. Một ngàn năm sau, ta có còn thấu ý nghĩa của sự hóa thân ấy ?

Cổ tích là thế giới của những giấc mơ – giấc mơ về lẽ công bằng, về cái thiện chiến thắng cái ác, người tốt nhất định sẽ được hạnh phúc. Cái đẹp cái thiện trong cổ tích có sức sống rất bền bỉ, dù bị dập vùi cũng sẽ lại vươn lên mạnh mẽ. Nó được trợ giúp bởi phép màu. Có thể nói phép màu làm nên thế giới trong cổ tích, cho trí tưởng tượng thỏa sức bay bổng, mở ra con đường ở những tình tiết tưởng như đã rơi vào bế tắc. Phép lạ làm hồi sinh cái thiện theo nhiều cách khác nhau khi nó bị cái ác dồn đến cùng đường. Vì vậy, hóa thân đã trở thành bút pháp quen thuộc của cổ tích, là phương tiện cũng là cơ hội để giấc mơ được toàn vẹn đi đến kết thúc mong muốn. Cô Tấm bị hãm hại năm lần bảy lượt được hồi sinh từ tro bụi để trở về, kiên trì trên con đường giành lại hạnh phúc. Truyền thuyết là truyện dân gian kể về các nhân vật, sự kiện lịch sử. Dẫu sự thật lịch sử không thể đổi thay nhưng dân gian bằng trí tưởng tượng của mình thể hiện cách đánh giá về các nhân vật lịch sử qua hình ảnh hoá thân của họ. Mị Châu sau khi chết hoá thân thành ngọc trai, ngọc thạch. Mỗi hóa thân của các nhân vật đều mang một ý nghĩa riêng mà tác giả dân gian đã kín đáo gửi gắm vào trong đó.

Nhân vật được hóa thân trong cổ tích “Tấm Cám” đại điện cho cái thiện được nhân dân yêu quý. Cô Tấm  xinh đẹp, dịu dàng, nết na, lại chăm chỉ làm ăn, đảm đang khéo léo. Đó là chuẩn  mực vẻ đẹp của những cô gái thôn quê ngày xưa. Tấm là đại diện của cái thiện đang trên cuộc hành trình chông gai đi tìm hạnh phúc. Còn Mị Châu, nàng là công chúa xinh đẹp tuyệt trần được An Dương Vương rất mực thương quý. Dù cho tình yêu mù quáng của nàng đã dẫn tới họa mất nước, song dân gian hết sức bao dung, để nàng hóa thân làm trai ngọc trường tồn cũng là để trân trọng tâm hồn trắng trong thanh sạch của nàng. Cái nhìn của nhân dân đối với Mị Châu vừa nghiêm khắc nhưng cũng rất đỗi cảm thông.

Dù hóa thân bao nhiêu lần thì cả Tấm và Mị Châu- hai người con gái đẹp cũng đều hóa thân thành cái đẹp. Tấm hóa thành chim vàng anh, thành cây xoan đào, khung cửi rồi trở thành quả thị ngát hương. Chim vàng anh bé nhỏ đẹp ở cả dáng hình và giọng hót tràn đầy sức sống. Vua yêu vua gọi:

“Vàng ảnh vàng anh

Có phải vợ anh

Chui vào tay áo”

Vàng Anh là hiện thân của Tấm, mang theo cả tình yêu từ kiếp trước mà quấn quýt quanh vua. Cám ghen tức ra tay hãm hại, bắt vàng anh làm thịt, chỉ còn chút lông chôn ở góc vườn. Nhưng sức sống mãnh liệt chẳng thể triệt tiêu, lại từ đấy nảy nở đâm chồi, phát triển thành cây xoan đào. Xoan đào đẹp ở cách nó lặng thầm tỏa bóng, xoa dịu tâm hồn nhà vua. Không một lời yêu đương nhưng vua cảm nhận ở đó sự bình yên ấm áp, thường mắc võng dưới gốc cây nằm, chẳng ngó ngàng gì đến Cám. Thế là Cám chặt cây đem làm khung cửi. Khung cửi đẹp trong tính chất công việc khi nó dệt nên những tấm vải. Hóa thân thành khung cửi không chỉ phù hợp với mạch phát triển của câu chuyện mà còn làm toát lên nét đảm đang của Tấm. Và một lần nữa, cái ác lại ra tay. Khung cửi bị đốt chỉ còn lại nắm tro đem đổ thật xa hoàng cung. Không mệt mỏi, Tấm lại hóa thân. Từ đám tro mọc lên cây thị kì lạ chỉ có duy nhất một quả trên cành cao. Quả thị đẹp, vỏ kín đáo bao bọc Tấm ở bên trong nhưng sức sống, hương thơm thì vẫn lan tỏa, không sao kìm giữ. Tất cả những hóa thân của Tấm đều gắn bó với cuộc sống bình dị nơi thôn quê, đẹp cái đẹp đằm thắm dịu dàng mà tràn đầy sức sống, làm tôn lên nét đẹp của nàng.

Còn Mị Châu hóa thành ngọc trai, ngọc thạch bất diệt. Ngọc vốn là thứ thanh quý, là báu vật của trời đất. Ngọc trai sáng trong như tấm lòng của chính nàng. Thân xác ngọc thạch cũng mãi tồn tại cùng năm tháng. Mị Châu đã chết dưới lưỡi kiếm của vua cha nhưng linh hồn vẫn bất tử.

Dù hóa thân thành thứ gì thì đó đều là cái đẹp, lưu giữ và bộc lộ vẻ đẹp cả về ngoại hình và tâm hồn của  Tấm và Mị Châu. Cái đẹp ấy dù bị đày đọa dập vùi cũng vẩn tồn tại bền bỉ, bất diệt.

Nhưng với mỗi hóa thân, tác giả dân gian lại gửi gắm thông điệp riêng. Hóa thân của Tấm và Mị Châu vì thế cũng mang những giá trị khác biệt.

Tấm không chỉ hóa thân một mà tới bốn lần, “một lần chết mấy lần đau” và mỗi lần là sự đánh dấu một bước trưởng thành mới trong hành trình giành lại hạnh phúc. Lần đầu, sau khi bị mẹ con Cám chặt cây cau, ngã chết, Tấm hóa vàng anh bay vào cung vua. Vàng anh đã sớm bộc lộ mình:

“Giặt áo chồng tao

Thì giặt cho sạch

Phơi áo chồng tao

Thì phơi bằng sào

Chớ phơi bờ rào

Rách áo chồng tao”

Vàng anh cất lời cảnh cáo Cám. Lời lẽ rất đanh, thậm chí ghê gớm. Tấm xưng “tao”, khẳng định “chồng tao”. Trải qua một lần chết, hẳn nhiên người ta không thể mãi còn là cô gái nhà quê chân đất suốt ngày chỉ biết bưng mặt khóc. Tấm đã biết lên tiếng đấu tranh. Lời của vàng anh là những lời phản kháng đầu tiên. Giọng nói ấy cất lên dù ghê gớm song cũng chỉ là lời nhắc nhở. Nhưng khiến kẻ ác chột dạ. Vàng anh đẹp đấy nhưng nhỏ bé, có thể làm được gì? Tấm một lần nữa bị hãm hại. Cám bắt thịt vàng anh, đem vứt lông ở góc vườn. Cái mới của cổ tích Tấm Cám là ở chỗ nó không giống như đa phần các truyện cổ tích khác như “nàng tiên hổ”. Nàng tiên hổ sau khi đốt bỏ lốt hổ đã có thể sống hạnh phúc bên người yêu, câu chuyện cũng kết thúc ở đấy. Nhưng tác giả dân gian không để Tấm xé bỏ lốt vàng anh trở về hình người. Hành trình giành lại hạnh phúc của Tấm còn là hành trình đấu tranh của cái thiện, có thể đơn giản được chăng? Vàng anh đẹp đấy nhưng yếu ớt quá, mà chỉ đẹp thôi đâu thể trở thành vũ khí chống lại cái ác.

Tấm tiếp tục trú ngụ trong hình hài mới: cây xoan đào. Cây xoan đào tỏa bóng mát cho vua. Vì ganh tị, Cám chặt cây làm khung cửi. Cả cây xoan đào và khung cửi đều cứng cáp, mạnh mẽ hơn chim vàng anh. Khung cửi cũng cất lên tiếng nói:

“Cót ca cót két

Lấy tranh chồng chị

Chị khoét mắt ra”

Lần này không chỉ là lời nhắc nhở. Câu nói ấy đã chỉ thẳng mặt Cám mà vạch tên, kể tội “lấy tranh chồng chị” và đe dọa. Mức độ đấu tranh trong lời nói đã tăng lên nhưng chỉ nói thôi là chưa đủ. Sớm bộc lộ, một lần nữa Tấm lại bị đẩy vào cùng đường. Khung cửi bị đốt ra tro, đem đi thật xa khỏi hoàng cung.

Từ tro tàn, Tấm hóa thân lần cuối. Lần này là sự đúc kết kinh nghiệm từ những trải nghiệm đớn đau trước nên có sự vượt trội hơn hẳn trong lựa chọn hình hài. Tấm ẩn thân và quả thị. Thị đẹp nhưng đẹp một cách bình dị. Hương thơm lan xa như vẻ đẹp và sức sống của chính Tấm nhưng không khiến người ta nảy sinh ganh ghét, đố kị. Những lần trước, Tấm hóa vàng anh, cây xoan, khung cửi, đẹp đấy, rạng ngời sức sống đấy nhưng không sao giấu được tiếng nói. Tất cả đều cất tiếng, bộc lộ quá sớm nên chịu chung kết cục bi thảm. Cuối cùng Tấm kín đáo ẩn mình trong lớp vỏ của một quả thị khiêm nhường xa cách chốn hoàng cung và chọn về ở cùng bà lão hàng nước phúc hậu. Khi bà lão ngước nhìn quả thị trên cành cao, hãy lắng nghe lời bà:

“ Thị ơi thị hỡi!

Thị rụng bị bà

Bà để bà ngửi

Chứ bà không ăn”

Và kì lạ thay, quả thị rụng xuống bị bà lão. Tấm đã hiểu ra rằng mầm thiện chỉ có thể nuôi dưỡng bằng mầm thiện. Và phải giữ sức, chờ thời cơ đấu tranh. Đã có cả một quá trình chuyển biến dữ dội của thế giới nội tâm giữa những lần chuyển kiếp. Tấm trưởng thành hơn, biết tạm xa chốn cung đình, kín đáo giấu tiếng nói sau vỏ thị. Nhưng dù có biến hóa bao nhiêu thì cũng vẫn là cô Tấm dịu hiền ấy thôi. Tấm đền ơn bà lão bằng cách nhân lúc bà đi vắng thì lo cơm nước, quét dọn nhà cửa. Rồi khi ra khỏi vỏ thị thì ở lại phụ bà bán quán, têm trầu. Chính nét đẹp tâm hồn không phai đổi ấy đã bắc cầu nối cho vua tìm được người vợ xưa, cho Tấm trở về hoàng cung sống êm đềm hạnh phúc.

Những hóa thân đã biến cái khổ đau của một cô gái nghèo bất hạnh thành một cuộc chiến đấu dẻo dai với thắng lợi to lớn. Nó thể hiện ước mơ thiên thắng ác của nhân dân lao động. Bằng cách xây dựng một loạt những hóa thân của cô Tấm, Tác giả dân gian đã khẳng định đấy là cuộc chiến đấu không khoan nhượng và sẽ gặp phải vô vàn hiểm nguy. Đừng chiến đấu vội, hãy biết chờ.

Cũng sử dụng phép hóa thân nhưng  tác giả dân gian muốn gửi gắm trong câu chuyện về nàng Mị Châu một điều hoàn toàn khác. Mị Châu hóa thân không phải để hồi sinh mà là để minh oan cho chính nàng. Vì Mị Châu quá si tình, một lòng tin tưởng Trọng Thủy mà “nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu”. Nàng tròn phận làm vợ mà quên đi phận công chúa của một quốc gia, dân tộc. Nàng có lỗi. Nhưng xét cho cùng, đó là vì qúa si tình và bị lừa chứ thâm tâm nàng chưa một lần có ý nghĩ phản bội đất nước. Chết dưới lưỡi gươm của cha, Mị Châu đã nguyền “thiếp là phận gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại vua cha,chết đi sẽ biến thành cát bụi. Nếu một lòng trung hiếu mà bị người lừa dối thì chết đi sẽ biến thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù”. Máu nàng chảy xuống nước, trai sò ăn phải đều biến thành hạt châu. Đó là sự minh oan, chiêu tuyết cho tâm hồn thanh sạch của nàng, chứng tỏ cái chết của nàng dù sao cũng là một nỗi oan tình đáng thương. Còn gì xứng đáng hơn trai ngọc để chứa đựng tâm hồn ấy. Ngọc trai trắng trong viên mãn như tâm hồn Mị Châu đến phút cuối vẫn vẹn toàn. Nhưng dù có thương xót cho nàng công chúa ngây thơ khờ dại, nhân dân vẫn rất nghiêm khắc khi trừng phạt. Tội ấy không thể không chết. Phần hồn hóa ngọc trai thì thân xác hóa ngọc thạch. Nhưng dù có hóa ngọc thạch cao quý thì đó vẫn là cái xác không đầu. Hình ảnh ấy ngàn năm sau còn ám ảnh, nhắc nhở về bài học mất nước

“Vẫn còn đây pho tượng đá cụt đầu (…)

Anh cũng như em muốn nhắc Mị Châu

Đời còn giặc xin đừng quên cảnh giác

Nhưng nhắc sao được hai ngàn năm trước

Nên em ơi ta đành tự nhắc mình”

(Anh Ngọc)

Hóa thân của Mị Châu sau khi chết cho thấy tinh thần công lý nhân dân tuy nghiêm nhưng nhưng cũng đầy nhân hậu. Tội thì phải xử nhưng oan cũng cần được giải. Ngọc trai- ngọc thạch hai hình ảnh ấy là hóa thân của tâm hồn thanh sạch và thân xác tội lỗi của Mị Nương. Hai ngàn năm sau, hình ảnh ấy vẫn khảm sâu trong tâm hồn Việt, thì thầm dạy thế hệ đời sau bài học cảnh giác.

Hóa thân của Mị Châu và cô Tấm đẹp với những ý nghĩa hết sức khác nhau. Đa dạng trong hình ảnh hóa thân, sâu sắc trong bài học gửi gắm, dân gian đã dệt nên hai câu chuyện về sự hoá thân đặc sắc với những sáng tạo mới mẻ không hề trùng lặp, so với truyện dân gian Việt Nam cũng như nhiều tác phẩm có cốt truyện tương tự trên thế giới. Nhờ thế mà ta có một cô Tấm dịu dàng đằm thắm khác hẳn với cô bé Lọ Lem trong cổ tích phương Tây. Có một Mị Châu sáng trong với mối bi tình ngàn năm sau còn khiến hồn người rung động. Tất cả góp chung vào, làm nên sự phong phú cho kho tàng văn học  dân gian Việt Nam.

Xem thêm :

  1. Tuyển tập đề thi học sinh giỏi môn Văn
  2. Soạn bài Tấm Cám Ngữ văn 10
  3. Soạn bài Truyện An Dương Vương và Mỵ Châu Trọng Thủy

Ôn tập Truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy

Hướng dẫn cách ôn tập Truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy.

Phần 1 : Các dạng đề thi về Truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy

Phần 2 : Kiến thức cơ bản cần nắm vững

Về Truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy  các em ôn tập theo những dạng đề như sau :

Dạng 1 : Văn tự sự.

Với dạng này, thường có các kiểu ra đề như :

Đề 1 : Nhập vai nhân vật An Dương Vương ( hoặc Mị Châu, Trọng Thủy ) để kể lại câu chuyện

Đề 2 : ( Kể sáng tạo ) : Hãy nhập vai nhân vật An Dương Vương, kể lại câu chuyện theo một kết thúc khác

Đề 3 : ( Kể sáng tạo ): Sau khi tự tử ở giếng nước Loa Thành, xuống thủy cung, Trọng Thủy đã tìm gặp lại Mị Châu. Hãy tưởng tượng và kể lại câu chuyện đó ( đề bài này trong SGK )

Dạng văn tự sự thường thi và kiểm tra trên lớp ( Bài viết số 2 )

Dạng 2 : Nghị luận.

Ví dụ có những cách ra đề như :

Đề 1 :Cảm nhận về nhân vật An Dương Vương/ Mị Châu

Đề 2 : Cảm nhận về chi tiết , ví dụ : chi tiết Ngọc trai- Giếng nước

Đề 3 ( khó ) : Nghị luận ý kiến bàn về tác phẩm, nhân vật. Ví dụ như

Cảm nhận về nhân vật Mị Châu trong truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thuỷ, có người khẳng định: “Phút sai lầm của một người, dân tộc phải trả giá bằng ngàn năm nô lệ. Tội đó của Mị Châu không thể dung tha”.

Lại có người viết:

Am Mị Châu thờ bức tượng không đầu

                   Cảnh báo một trái tim khờ dại.

                   Thử hỏi, nửa thế giới này đang tồn tại

                   Đã yêu rồi, ai không giống Mị Châu?

(Vô đề – Hạnh Mai, Tạp chí Người Hà Nội, số 115, 8- 2009)

Thông qua việc phân tích nhân vật Mị Châu, anh/chị hãy bình luận những ý kiến trên và đưa ra quan điểm của bản thân mình.

(Hướng dẫn cách làm: Đề thi ngữ văn 10 về nhân vật Mỵ Châu  )

Dạng Nghị luận ít khi thi vào, hoặc chỉ  dành cho thi chọn học sinh giỏi, bài viết ở nhà.

 

truyện An dương vương và mị châu trọng thủy

KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM

Truyền thuyết là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố lịch sử và yếu tố tưởng tượng hoang đường. Nó phản ánh quan điểm đánh giá, thái độ và tình cảm của nhân dân về các sự kiện lịch sử và các nhân vật lịch sử.

Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy là câu chuyện về bi kịch mất nước của cha con An Dương Vương và bi kịch tình yêu của Mị Châu – Trọng Thủy. Từ câu chuyện ấy, nhân dân ta muốn rút ra và truyền lại cho con cháu các thế hệ sau bài học lịch sử về ý thức đề cao cảnh giác với âm mưu xâm lược của kẻ thù.

Phân tích

1.     Nhân vật An Dương Vương

Truyện có thể chia làm hai phần. Phần một (từ đầu đến… không dám đốc chiến bèn xin hoà): An Dương vương xây thành, chế nỏ giữ nước. Phần còn lại: Bi kịch tình yêu của Mị Châu – Trọng Thuỷ gắn liền với thất bại của nước Âu Lạc. Cả hai phần của truyện đều thể hiện rõ nhận thức và thái độ của nhân dân đối với vai trò và trách nhiệm của cha con An Dương Vương trước lịch sử.

a. An Dương Vương xây thành, chế nỏ thần, đánh Triệu Đà

An Dương Vương kế tục sự nghiệp dựng nước của mười tám đời Hùng Vương. Thời ấy, Văn Lang đã cố bờ cõi và nền văn hiến riêng. Vì vậy, việc chống giặc giữ nước là vấn để sống còn của dân tộc. An Dương vương đã tiến hành dời đô từ vùng núi Nghĩa Lĩnh, Phong Châu (Phú Thọ) vể vùng đổng bằng Phong Khê (Đông Anh, Hà Nội ngày nay) để phát triển sản xuất và mò rộng lưu thông rồi bắt tay ngay vào việc xây thành. Đó là quyết sách đúng đắn chứng tỏ trí tuệ sáng suốt và bản lĩnh vững vàng của An Dương Vương.

Việc xây thành bằng đất gặp nhiều khó khăn. Chuyện kể rằng thành cứ đắp ban ngày thì ban đêm lại đổ, xây mãi không xong. Người xưa giải thích hiện tượng ấy là do sự phá hoại của ma quỷ. Lược bỏ yếu tố hoang đường, ta có thể thấy những khó khăn trong thực tế mà An Dương vương gặp phải khi tiến hành công việc xây thành. Đó là do ông chưa nắm được đặc điểm của đất đồng bằng, do kĩ thuật còn hạn chế và chưa biết dựa vào sức dân.

Sau này, được sứ Thanh Giang tức Rùa Vàng giúp đỡ, An Dương Vương xây thành chi trong vòng nửa tháng là xong. Hành động lập đàn trai giới, đón mời cụ già vào điện hỏi kế xây thành, ra cửa Đông đợi sứ Thanh Giang, nghe lời Rùa Vàng diệt trừ yêu quái,… thể hiện thái độ trân trọng hiền tài của An Dương Vương trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước. Sự giúp đỡ của Rùa Vàng chứng tỏ việc xây Loa Thành của An Dương vứơng là hợp ý trời, hợp lòng người, cho nên được dân chủng ủng hộ.

An Dương Vương trước hết là một nhà quân sự xuất sắc. Ông đã biết xây thành cao, đào hào sâu để bảo vệ kinh đô. An Dương Vương được Cao Lỗ hỗ trợ trong việc chế tạo ra cung nỏ để chống quân xâm lược. Sức mạnh của thứ vũ khí ấy đã được các tác giả dân gian kì diệu hoá, thần thánh hoá bằng hình tượng nỏ thần.

Hình tượng then chốt của truyện là chiếc lẫy thần. Rùa Vàng giúp vua xây xong Loa Thành và cho nhà vua vũ khí để bảo vệ đất nước. Nỏ thắn tượng trưng cho sức mạnh của nhà nước Âu Lạc, tượng trưng cho trí tuệ, sức mạnh và khát vọng chiến thắng ngoại xâm của tổ tiên ta thuở ấy.

Chiếc nỏ thẩn có khả năng bắn một phát giết hàng vạn giặc vừa là sản phẩm của trí tưởng tượng bay bổng, vừa phản ánh trình độ chế tạo và sủ dụng vũ khí chiến đấu của người Âu Lạc. Quân ta đã chế tạo ra cung nỏ và đúc được mũi tôn bằng đồng. Vũ khí ấy tuy thô sơ nhưng không kém phần lợi hại trong các cuộc chiến đấu chống xâm lăng.

Khi Triệu Đà kéo quân sang xâm lược, vì An Dương Vương có nỏ thần trong tay nên quân Triệu Đà thua to, không dám đối đầu, bèn xin hoà. Chiến thắng của An Dương vương chứng tỏ sức mạnh quân sự của nhá nước Âu Lạc lúc bấy giờ, đồng thời khẳng định ý chí, tình thần đoàn kết của nhân dân ta. Đây là bài học tích cực trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước.

b. An Dương Vương để mất nước

Sau chiến thắng, An Dương vương sinh ra chủ quan, quên rằng nguy cơ xâm lược của kẻ thù phương Bắc luôn luôn tồn tại.

Chúng ta đau xót cho cha con An Dương vương vì sai lầm tai hại nên dẫn đến thảm hoạ mất nước. Nhà vua không phân tích được hành động cầu hoà rồi cầu hôn cho con trai của Triệu Đà thực chất là âm mưu thâm độc, chuẩn bị cho cuộc xâm lược tiếp theo. Thất bại của An Dương vương không phải chờ tới khi quân giặc tiến đến chân thành mới bộc lộ, mà bộc lộ ngay từ Khi nhà vua mất cảnh giác, đồng ý cho Trọng Thuỷ vào thành.

Ông đã bằng lòng gả Mị Châu cho Trọng Thuỷ, lại còn cho ở rể, việc đó có khác chi “Nuôi ong tay áo, nuôi cáo trong nhà”?! Đây là sự hoà hiếu thiếu cảnh giác, tạo cơ hội thuận lợi cho kẻ thù phá từ trong phá ra. Mầm mống mất nước khởi nguồn từ đây.

Sau chiến thắng, An Dương Vương không quan tâm đến việc củng cố lực lượng, không dựa vào sức mạnh đoàn kết toàn dân để chống giặc mà lại ỷ vào vũ khí, vào sự hỗ trợ của thần linh, Những nhược điểm ấy khi kẻ thù nắm được tất dẫn đến thất bại không thể tránh khỏi.

Nghe tin báo Triệu Đà lại cất quân sang đánh Âu Lạc, An Dương Vương cậy có nỏ thần vẫn điểm nhiên ngồi đánh cờ, cười mà nói rằng: “Đà không sợ nỏ thần sao?”. Thái độ chủ quan khinh địch đó đã dẫn An Dương Vương nhanh chóng đến thất bại thảm hại. Tới khi giặc đã tiến sát chân thành, An Dường Vương mới cẩm lấy nỏ, thấy lẫy thần đã mất bèn bỏ chạy; Trong cơn cùng quẫn, An Dương Vương chi còn cách đem theo con gái lên ngựa, bỏ thành mà chạy về phương Nam.

Cha con An Dương Vương đã cùng đường mà quân thù thì cứ theo dấu lông ngỗng của Mị Châu rắc dọc đường truy đuổi sát sau lưng. Quả là cha con An Dương Vương đã mất thế trời che, đất chở.

Khi Rùa Vàng hiện lên mặt nước, thét lớn: “Kẻ nào ngồi sau ngựa chính là giặc đó thì An Dương Vương mới tỉnh ngộ. Đây là lời kết tội đanh thép của công lí, của nhân dân về hành động vô tình phản quốc của Mị châu. Nhà vua tự tay chém chết cô con gái yêu dấu, cũng là tự xử một cách nghiêm khắc, quyết liệt đối với sai lầm của bản thân. Nhưng tất cả đểu đã quá muộn màng. Câu chuyện kết thúc thật bi thảm!

Hành động rút gươm chém Mị Châu thể hiện lập trường dứt khoát của An Dương Vương lá đứng về phía công lí và quyền lợi dân tộc để xử án, đổng thời thể hiện sự tĩnh ngộ muộn màng trước lỗi lầm nghiêm trọng của mình.

Đây là cái giá mà ông phải trả cho sai lầm không thể sửa chữa, liên quan đến vận mệnh đất nước và dân tộc.

Hai cha con An Đương Vương vì chủ quan, mất cảnh giác nên đã trực tiếp làm tiêu vong sự nghiệp và đẩy Âu Lạc vhò thảm hoạ mất nước. Đó là bài học xương máu về thái độ mất cảnh giác dối với kẻ thù dành cho những người đứng đầu, chịu trách nhiệm về sự tổn vong của quốc gia.

Hình ảnh An Dương Vương cầm sừng tê bảy tấc, theo Rùa Vàng xuống thuỷ phủ là yếu tố kì ảo phản ánh thải độ và tìm cảm cuá nhân dân đối với ông. Nhân dân thương tiếc vị vua tài ba, ann dũng nên không muốn ông chết. Chi tiết lòng biển bao dung đón người anh hùng bất tử thể hiện sự ngưỡng mộ và thương tiếc của người xưa.

An Dương Vương đã tự tay chém đầu người con gái duy nhất của mình. Cách xử lí này hoàn toàn phù hợp với đạo lí truyền thống của dân tộc ta. Nó thể hiện lòng bao dung của dân tộc đối với những đứa con lầm lỗi nhưng đã biết cúi đầu hối hận và chịu tội. Trước đất nước, nhân dân, cách hành xử của nhà vua là đầy trách nhiệm. Thế nhưng về tình nhà, An Dương Vương chắc chắn cũng vô cùng đau đớn. Việc để cho hai cha con đoàn tụ bên nhau (khi chết) là cái kết hợp tình hợp lí và nhân hậu của nhân dân ta.

2. Nhân vật Mỵ Châu – Trọng Thủy

Mị Châu sai lầm ờ tình yêu mù quáng nên vô tình đã tự biến mình thành tòng phạm với giặc. Nàng ngây thơ chân thật đến mức nhạ dạ cả tin. Nàng dám giấu cha cho Trọng Thuỷ xem trộm nỏ thần mà quên rằng đó là con trai của kẻ thú. Từ đó, Mị Châu đã tiếp tay cho Trọng Thuỷ đánh cắp bí mật vũ khí lợi hại của quốc gia, dẫn tới thảm hoạ đất nước rơi vào tay giặc. Trên đường trốn chạy, nàng lại tiếp tục rắc lông ngỗng chĩ đường cho giặc truy đuổi vua cha. Hai hành động ấy của Mị Châu là trọng tội. Nhiều người cho rằng những hành động trên là vô tình nhưng xét cho cùng thì vl Mị Châu quá tin yêu Trọng Thuỷ nên đã mù quáng nghe theo lời chồng. Rùa Vàng gọi đích danh nàng là giặc quả không sai vì nàng đã gây ra hậu quả nghiêm trọng.

Trọng Thuỷ là nhân vật đáng thương nhưng cũng thật đáng ghét. Chàng chấp nhận làm công cụ thực hiện ý đồ xâm lược của cha. Tuy là con rể An Dương vương nhưng thực chất Trọng Thuỷ là tên gián điệp lợi hại cài vào đất Âu Lạc, Bằng mọi thủ đoạn xảo quyệt, Trọng Thuỷ đã lừa Mị Châu để đánh tráo lẫy thần, sau đó nói dối là về thăm cha để mang lẫy thần về nước. Triệu Đà có được lẫy thần, cả mừng liền cất binh sang đánh chiếm Âu Lạc một lần nữa.

 

Trong khi Mị Châu ngây thơ hết lòng tin chổng thì Trọng Thuỷ lại lừa dối nàng và rắp tâm chiếm đoạt lẫy thần. Tuy vậy, những ngày ở Loa Thành, sống bên người vợ đẹp người, ngoan nết, Trọng Thuỷ đã nảy sinh tình yêu thật sự với Mị Châu. Mâu thuẫn giữa hai tham vọng lớn cùng tồn tại trong con người Trọng Thuỷ là tham vọng chiếm được Âu Lạc và tham vọng trọn tình với người đẹp cũng bắt đầu nảy sinh. Nhưng hai tham vọng đó không thể dung hoà. Vì vậy sau khi chiến thắng, đáng lẽ Trọng Thuỷ phải vui hưởng vinh quang thì chàng lại đau khổ đến mức tự tử vì ân hận và thương tiếc Mị Châu. Trọng Thuỷ tự tử vì hiểu ra rằng không thể giải quyết mâu thuẫn gay gắt trong con người mình. Cái chết của chàng đã gợi chút xót xa, tội nghiệp trong lòng mọi người.
Mối tình Mị Châu – Trọng Thuỷ éo le là do luôn bị âm mưu xâm lược của Triệu Đà chi phối. Vì vậy, kết thúc bi thảm của mối tình đó thực sự mang ý nghĩa tố cáo chiến tranh phi nghĩa.

 

Tình yêu Mị Châu – Trọng Thuỷ thắm thiết nhưng bi thầm. Nhân dân ta không ca ngợi, mà chỉ dành cho họ một niềm thương xót vì hạnh phúc lứa đôi của họ bị chiến tranh làm cho tan vỡ. Mối oan tình ấy đã được đển bù bằng hình ảnh ngọc trai, giếng nước. Đây là hình ảnh thể hiện thái độ phản kháng chiến tranh xâm lược, là tiếng nói nhân đạo và cũng là cách kết thúc có hậu của truyện cổ.

3. “Cốt lõi lịch sử” của truyện là việc An Dương Vương xây thành Cổ Loa và sự thực về sự thất bại của Âu Lạc trước sự xâm lược của Triệu Đà. Cái cốt lõi ấy đã được dân gian làm cho sinh động bằng việc thêm vào nhiều sự việc chi tiết thần kì như chuyện xây thành, chế nỏ; chuyện về cái chết của An Dương Vương và của Mị Châu; chi tiết về “ Ngọc trai – giếng nước”…. Chính việc thêm vào truyện các chi tiết thần kì này đã giúp cho câu chuyện thêm hấp dẫn và sinh động. Nó cũng thể hiện một cái nhìn bao dung của nhân dân ta với các nhân vật lịch sử và với tất cả những gì đã xảy ra.

4. Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy, cho đến tận ngày nay vẫn chiếm được cảm tình của người đọc. Người ta đọc truyện để hiểu về lịch sử, để rút ra những bài học bổ ích cho mình và cho con cháu đời sau. Nhưng không chỉ thế, đọc truyền thuyết này, người ta còn muốn hiểu sâu sắc hơn bi kịch của một mối tình rất đẹp trong lịch sử.

Trong bài thơ “Tâm sự” rút trong tập thơ “Ra trận” của nhà thơ Tố Hữu, có đoạn viết

… Tôi kể ngày xưa chuyện Mị Châu,

Trái tim lầm lỡ để trên đầu.

Nỏ thần vô ý trao tay giặc

Nên nỗi cơ đồ đắm biểu sâu…

Xem thêm :

  1. Chuyên đề văn học dân gian
  2. Tuyển tập đề thi về Truyện An Dương Vương và Mị châu Trọng Thủy
  3. Tuyển tập đề thi ngữ văn khối 10

SKKN: Giáo dục nghĩa vụ công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ TQ

Đề tài:

“Giáo dục nghĩa vụ công dân  với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc  qua tác phẩm “Truyện An Dương Vương và  Mị Châu – Trọng Thủy”

 

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

 MỤC LỤC

Nội dung trình bày Trang
 

I

Phần mở đầu .

Đặt vấn đề:

 

5

1 Thực trạng của vấn đề đòi hỏi phải có giải pháp mới để giải quyết.  

5

2 Ý nghĩa tác dụng của giải pháp mớí. 6
3  Phạm vi nghiên cứu của đề tài. 7
II Phương pháp tiến hành: 8
1 Cơ sở lí luận và thực tiễn: 8
* Cơ sở lí luận hướng cho việc nghiên cứu đề tài . 8
* Cơ sở thực tiễn. 9
2 Các phương pháp tiến hành, thời gian tạo ra giải pháp. 11
 

I

Phần nội dung.

Mục tiêu.

 

13

II

1

Giải pháp của đề tài.

Nắm chắc nội dung chương trình học liên quan đến vấn đề nghiên cứu.

 

13

2 “Giáo dục nghĩa vụ công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc qua tác phẩm Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy”. 14
* Xác định mục tiêu bài dạy học. 14
* Xác định nội dung tích hợp trong bài dạy học. 15
* Xác định phương pháp, phương tiện thực hiện trong giờ dạy học . 17
* Chuẩn bị của giáo viên và học sinh 19
* Mô tả bài dạy học . Tiết 10 +11 Đọc văn – Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy 27
3 Khả năng ứng dụng của đề tài 54
4 Kết quả thử nghiệm . 54
5 Lợi ích và hiệu quả. 65
6 Bài học tổng kết, kinh nghiệm rút ra. 65
Phần kết luận 68
I Nhận định chung. 68
II Điều kiện để áp dụng kinh nghiệm. 68
III Những đề xuất của người viết. 69
Lời kết. 69
Tài liệu tham khảo. 70
Danh mục những từ viết tắt. 71

 

 

PHẦN MỞ ĐẦU

  1. ĐẶT VẤN ĐỀ :

I.1. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ ĐÒI HỎI PHẢI CÓ GIẢI PHÁP MỚI ĐỂ GIẢI QUYẾT.

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa thế giới (Unesco) xác định mục tiêu của giáo dục thế kỉ XXI là: Học để biết, học để làm, học để chung sống với nhau, học để tự khẳng định mình. Luật Giáo dục Việt Nam, năm 2005 cũng khẳng định, mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đáo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng bảo vệ Tổ Quốc. Theo đó, trong những năm gần đây mục tiêu giáo dục của Việt Nam đã chuyển từ mục tiêu cung cấp kiến thức là chủ yếu sang mục tiêu hình thành và phát triển những năng lực và kĩ năng sống cần thiết cho người học nhằm giúp người học có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống.

Thực tế cho thấy hiện nay, nhiều học sinh vẫn học một cách thụ động, chưa tích cực trong các hoạt động học. Học sinh vẫn chưa bỏ thói quen chỉ chú trọng đến việc nghe thầy giảng, ghi chép, làm theo sự định hướng của thầy một cách máy móc, thiếu chủ động, sáng tạo. Vì thế nhiều kĩ năng của học sinh không được rèn luyện, dẫn đến học sinh thiếu tự tin, ngại suy nghĩ , ngại làm việc, không thích sự thay đổi, nhầm lẫn trong việc xác định giá trị, lúng túng trong việc xử lí tình huống, thiếu kĩ năng ứng phó với hoàn cảnh…

Đối với việc học bộ môn Ngữ văn, đặc biệt là với các tác phẩm văn học ra đời từ xa xưa, khoảng cách thời gian, lịch sử, văn hóa, thời đại là rào cản lớn khiến học sinh không tha thiết với các bài học này.

Vậy nên việc tìm phương pháp dạy học thích hợp nhằm lôi cuốn học sinh vào các hoạt động học nhằm phát triển các năng lực giúp các em nhận thấy quá trình học bộ môn cũng là quá trình khám phá, đánh thức các năng lực của bản thân, đem tri thức trong sách vở ứng dụng vào thực tiễn phục vụ cho cuộc sống của chính mình là việc làm tối quan trọng, cần thiết của quá trình dạy học. Trong đó có việc rất quan trọng là giáo dục nghĩa vụ công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc qua từng bài học.

Với ý nghĩa đó, tôi chọn đề tài: “Giáo dục nghĩa vụ công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc qua tác phẩm Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy”. Trong đó tôi lựa chọn các giải pháp, phương pháp dạy học nhằm hướng học sinh vào hoạt động học tập, để học sinh thấy được ý nghĩa của các tác phẩm văn học nói chung, văn học dân gian nói riêng trong việc xác định các giá trị sống. Đồng thời làm tư liệu phục vụ thiết thực hơn nữa cho công tác giảng dạy của tôi ở trường THPT trong những năm học tới. Theo tôi, phương pháp này đáp ứng được mục tiêu đổi mới dạy học mà sự nghiệp phát triển giáo dục nước nhà đang đòi hỏi.

 

  1. 2. Ý NGHĨA VÀ TÁC DỤNG CỦA GIẢI PHÁP MỚI.

I.2.1. Đối với học sinh:

– Học sinh trực tiếp tham gia các hoạt động học tập, được rèn luyện các kĩ năng sống như: kĩ năng tự nhận thức (tự trọng, tự tin) , kĩ năng suy nghĩ ( tư duy phê phán), kĩ năng thể hiện sự cảm thông, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng hợp tác, kĩ năng nêu và giải quyết vấn đề…

Đồng thời  phát triển các năng lực: năng lực tự học, năng lực giao tiếp, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực hợp tác, năng lực tự quản lí, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông, năng lực thưởng thức văn học, năng lực cảm thụ thẩm mỹ…

– Học sinh nhận thức bài học sâu sắc về tinh thần cảnh giác với kẻ thù, về ý thức bảo vệ bí mật quốc gia, tinh thần yêu nước và niềm tự hào dân tộc, trách nhiệm dựng xây và bảo vệ Đất nước.

 

I.2.2. Đối với người làm công tác giảng dạy Ngữ văn:

Giáo viên dạy Ngữ văn có thể sử dụng kinh nghiệm này trong quá trình giảng dạy các bài đọc văn.

 

  1. 3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Với dung lượng của một đề tài nhỏ, để bài viết có sự tập trung, tôi sẽ đi sâu tìm hiểu vấn đề liên quan đến việc giảng dạy bài Đọc văn “Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy” trong chương trình Ngữ văn lớp 10. Qua đó giáo dục cho học sinh nghĩa vụ công dân với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ Quốc.

Cụ thể:  Người viết sẽ xuất phát từ đặc trưng của thể loại truyền thuyết Việt Nam; sử dụng một số phương pháp dạy học và kĩ thuật dạy học, hướng dẫn học sinh các hoạt động học để tìm hiểu nội dung, nghệ thuật và giá trị của tác phẩm Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy.

 Đặc biệt là giúp học sinh qua giờ học, tích hợp với kiến thức của một số môn học khác như Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân,Giáo dục quốc phòng an ninh, Hoạt động ngoài giờ lên lớp để hiểu được bài học lịch sử mà tác giả dân gian muốn nhắn nhủ cho muôn đời sau về ý thức đề cao cảnh giác với âm mưu kẻ thù xâm lược trong công cuộc dựng xây và bảo vệ đất nước. Từ đó học sinh áp dụng vào thực tiễn cuộc sống của cá nhân, của cộng đồng, nhận thức được ý thức trách nhiệm của mình trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc.

 

  1. PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH:

II.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CÓ TÍNH ĐỊNH HƯỚNG CHO VIỆC NGHIÊN CỨU, TÌM GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI

II.1.1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN.

Một số nguyên tắc cụ thể trong việc dạy Ngữ văn.

  • Thứ nhất: Nguyên tắc mục tiêu:

Nhận diện -> Lí giải -> Vận dụng.

  • Thứ hai: Nguyên tắc kết hợp lí thuyết với thực hành.

Lí thuyết <-> Thực hành.

  • Thứ ba: Nguyên tắc sư phạm:

Dễ -> Khó;    Đơn giản -> Phức tạp ;     Ứng dụng -> Sáng tạo.

  • Thứ tư: Nguyên tắc khoa học và hệ thống:
  • Cơ bản và chính xác.
  • Lặp lại và nâng cao.
  • Tích hợp và tích cực.

Theo từ điển Giáo dục học, dạy học tích hợp là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học.

Trong dạy học tích hợp gồm có:

+ Tích hợp các bộ môn

+ Tích hợp dọc.

+ Tích hợp ngang.

+ Tích hợp chương trình.

+ Tích hợp kiến thức.

+ Tích hợp kĩ năng.

  • Thứ năm: Nguyên tắc thích hợp và thiết thực.

–  Thích hợp và thiết thực về mục đích.

–  Thích hợp và thiết thực về đề tài.

–  Thích hợp và thiết thực về yêu cầu.

II.1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN

II.1.2.1. Tình hình thực tế:

II.1.2.1.1.  Thực trạng:

Học sinh trong các giờ học bài Đọc văn nói chung và đọc văn phần truyền thuyết dân gian nói riêng chủ yếu nghe giáo viên giảng bài và ghi chép.

– Kiểm tra phần chuẩn bị bài trước khi đến lớp của học sinh, tôi thấy chủ yếu học sinh trả lời câu hỏi sách giáo khoa một cách chiếu lệ cốt cho đủ bài. Một số học sinh thì không chuẩn bị bài.

– Trong giờ học, học sinh ít tham gia vào hoạt động học, giáo viên phát vấn thì có rất ít học sinh giơ tay xung phong phát biểu, chủ yếu là giáo viên phải chủ động gọi học sinh trình bày. Phần trình bày của học sinh thường là thể hiện sự thiếu tự tin, kém sức thuyết phục và mất nhiều thời gian. Học sinh còn lại thì nghe nhưng không có ý kiến phản đối hay bổ sung, chỉ khi giáo viên gọi thì mới trình bày ý kiến của mình, nhưng cũng lúng túng.

II.1.2.1.2. Kết quả khảo sát tình hình thực tế:

  • Đối tượng khảo sát:
  • 2 lớp thuộc khối 10. Đó là các lớp: 10A9, 10A10
  • Sĩ số lớp 10 A9: 39 học sinh, 10 A10: 37 học sinh
  • Đặc điểm: Học chương trình chuẩn.
  • Điều kiện học tập như nhau.
  • Hình thức khảo sát:
  • Kiểm tra vở soạn văn.
  • Quan sát học sinh trong 1 giờ học bài đọc văn “Chiến thắng MtaoMxay”
  • Nội dung bài khảo sát:

Cụ thể như sau:

– Mục tiêu bài khảo sát:

+ Giáo viên nắm bắt tình hình soạn bài của học sinh và quá trình tham gia hoạt động học của các em để đánh giá kết quả giờ học và có hướng sử dụng các phương pháp dạy học tích cực tác động vào quá trình học tập chủ động của học sinh.

  • Kết quả thống kê như sau:

– Về việc soạn bài:

+ Có 19/76 em chưa soạn bài.

+ Có 57/76 em đã soạn bài theo cách trả lời 4 câu hỏi trong sách giáo khoa. Trong đó có 38/57 em có nội dung trả lời giống nhau ( Giáo viên cho rằng học sinh cùng tham khảo tài liệu Để học tốt Ngữ văn 10, hoặc có em chép của nhau.

– Trong giờ học:

+ Giáo viên yêu cầu học sinh tóm tắt đoạn trích: Không có học sinh nào xung phong trình bày. Giáo viên gọi mỗi lớp 3 học sinh thì cả 3 học sinh đó trả lời là không tóm tắt được vì em chưa đọc hết đoạn trích.

+ Quan sát lớp học, giáo viên thấy nhìn chung nhiều học sinh chỉ nghe giảng và ghi chép mà không muốn trình bày ý kiến của mình. Thậm chí có em không quan tâm đến bài học.

+ Số học sinh tích cực phát biểu xây dựng bài là rất ít.

+ Nếu giáo viên có chia nhóm hoạt động thì chỉ có số ít trong nhóm là làm việc, số còn lại ngồi chờ bạn thực hiện; có nhóm chưa hoàn thành công việc thì hết thời gian. Nhìn chung hiệu quả làm việc nhóm không cao, giờ học vẫn chưa có nhiều thay đổi.

 

II.1.2.2. Nguyên nhân của thực trạng

Nguyên nhân của tình trạng học sinh chưa say mê với giờ đọc văn, đặc biệt là đối với  thể loại văn học dân gian, cách học chưa đạt hiệu quả cao:

–  Học sinh nắm  kiến thức chưa chắc chắn, chưa nhớ rõ bản chất của vấn đề.

–  Học sinh chưa tích cực tham gia vào các hoạt động học tập để khám phá kiến thức, kĩ năng, đánh thức năng lực tiềm ẩn của bản thân.

–  Do ý thức học bộ môn của học sinh chưa tốt, việc chuẩn bị bài chưa chu đáo.

–  Trong giờ dạy đọc văn về thể loại văn học dân gian, giáo viên chưa thực sự đổi mới phương pháp. Vấn đề giao nhiệm vụ cụ thể cho học sinh trước khi đến lớp và kiểm tra việc thực hiện của học sinh chưa được chú trọng.

– Việc giảng dạy còn chưa chú trọng đến việc tích hợp các kiến thức thuộc các bộ môn liên quan nên sức hấp dẫn của bài học đối với học sinh chưa cao.

 

II.2. CÁC BIỆN PHÁP TIẾN HÀNH, THỜI GIAN TẠO RA GIẢI PHÁP.

II.2.1 PHƯƠNG PHÁP , BIỆN PHÁP TIẾN HÀNH

1.Với bài nghiên cứu này, người viết sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây :

– Phương pháp thống kê.

– Phương pháp phân tích.

– Phương pháp giải thích.

– Phương pháp chứng minh.

– Phương pháp so sánh đối chiếu.

– Phương pháp tổng hợp.

  1. Các bước tiến hành:

– Tìm hiểu tình hình thực tế của quá trình giảng dạy:

+  Tìm hiểu chương trình học của học sinh phổ thông.

+  Tìm hiểu đối tượng học sinh và thực trạng việc học văn phần văn học dân gian nói chung và phần truyền thuyết nói riêng của các em học sinh.

+  Đặc điểm bài học Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy

– Tìm hiểu nội dung các môn học có liên quan đến bài dạy học

– Thiết kế bài dạy học nhằm hướng dẫn học sinh tham gia các hoạt động học, từ đó phát triển các năng lực chung, năng lực chuyên biệt và các kĩ năng sống. Đặc biệt là giáo dục học sinh về trách nhiệm công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc.

 

II.2.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU VÀ TẠO RA GIẢI PHÁP

Quá trình giảng dạy các lớp 10 năm học: 2012 -2013 và  2015- 2016

 

PHẦN NỘI DUNG (GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ)

  1. MỤC TIÊU:

Thông qua việc áp dụng các phương pháp dạy học và kĩ thuật dạy học tích cực, nhằm đem lại hiệu quả cao trong giờ dạy bài học: Tiết 10 và 11 Truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thuỷ thuộc chương trình Ngữ văn lớp 10 Trung học phổ thông.

Qua giờ học, học sinh hiểu rõ đặc trưng của thể loại truyền thuyết, biết cách đọc hiểu thể loại văn học này.

Học sinh hiểu được bài học lịch sử mà tác giả dân gian muốn nhắn nhủ cho muôn đời sau về ý thức đề cao cảnh giác với âm mưu kẻ thù xâm lược. Từ đó nâng cao ý thức trách nhiệm của mình trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc.

  1. GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI

II.1. NẮM CHẮC NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trong chương trình phổ thông học sinh được học các bài thuộc thể loại truyền thuyết là:

  • Truyền thuyết “ Con Rồng cháu Tiên” (Lớp 6)
  • Truyền thuyết “ Bánh chưng bánh giầy” (Lớp 6)
  • Truyền thuyết “Thánh Gióng” (Lớp 6)
  • Truyền thuyết “ Sơn Tinh Thủy Tinh” (Lớp 6)
  • Truyền thuyết “Sự tích Hồ Gươm” (Lớp 6)
  • Truyền thuyết “Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy” (Lớp 10)

Với học sinh lớp 10 bài học trong 2 tiết. Ngoài ra còn có bài Khái quát Văn học dân gian Việt Nam, phần nội dung thể loại có nói về đặc điểm của truyền thuyết.

Trên cơ sở nắm chắc chương trình học của học sinh, giáo viên tổ chức các hoạt động học vừa ôn kiến thức học sinh đã được học ở trung học cơ sở, vừa tìm hiểu bài học mới nhằm đạt hiểu quả cao trong dạy học. Đặc biệt là hướng học sinh đến việc phát triển các năng lực, trong đó học sinh ý thức sâu sắc về vai trò trách nhiệm của mình trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc; biết nhìn nhận rút ra những bài học đối với cá nhân trong ứng xử trước những vấn đề đặt ra của cuộc sống cá nhân, của cộng đồng, của đất nước.

 

II.2.   GIÁO DỤC NGHĨA VỤ CÔNG DÂN VỚI SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỀ TỔ QUỐC QUA TÁC PHẨM “TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU – TRỌNG THỦY”.

 

II.2.1: Xác định mục tiêu bài dạy học:

  1. Về kiến thức: Giúp học sinh

– Hiểu đặc trưng cơ bản của truyền thuyết.

– Hiểu đ­ược giá trị ý nghĩa của Truyện An D­ương V­ương và Mị Châu Trọng Thuỷ: Từ bi kịch mất n­ước của hai cha con An D­ương V­ương và bi kich tình yêu của Mị Châu – Trọng Thuỷ, nhân dân muốn rút ra bài học lịch sử cho muôn đời về ý thức đề cao cảnh giác với âm m­ưu kẻ thù xâm l­ược trong công cuộc dựng xây và bảo vệ đất n­ước.

  1. Về kĩ năng : Rèn kĩ năng tóm tắt và đọc hiểu văn bản tự sự dân gian, kĩ năng phân tích truyện dân gian theo đặc trưng thể loại để có thể hiểu đúng ý nghĩa của những hư cấu nghệ thuật trong truyền thuyết và dụng ý sâu xa mà các tác giả dân gian đã giử gắm trong truyện.
  2. Về thái độ :

– Bồi dưỡng cho học sinh niềm tự hào về truyền thống văn hoá của dân tộc qua di sản văn học các em được học. Từ đó, học sinh có lòng say mê với văn học dân gian nói riêng, văn học Việt Nam nói chung, có ý thức giữ gìn và sáng tạo làm phong phú thêm cho nền văn học của dân tộc

– Khắc sâu bài học giữ nước mà tác giả dân gian muốn nhắn nhủ cho đời sau. Điều đáng lưu ý là bài học lịch sử đó cần được đặt trong bối cảnh hiện tại đất nước ta vừa cần mở rộng sự hội nhập cùng các nước trên thế giới, vừa phải giữ vững an ninh, chủ quyền đất nước.

 

  1. Về phát triển các năng lực và kĩ năng sống cho học sinh:

– Bỗi dưỡng và phát triển các năng lực chung : năng lực tự học, năng lực giao tiếp, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực hợp tác, năng lực tự quản lí, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông…

– Bồi dưỡng năng lực chuyên biệt : năng lực giao tiếp tiếng Việt, năng lực thưởng thức văn học, năng lực cảm thụ thẩm mỹ.

– Bồi dưỡng các kĩ năng sống: kĩ năng tự nhận thức/ tự trọng, tự tin , kĩ năng suy nghĩ/ tư duy phê phán, kĩ năng giao tiếp hiệu quả, kĩ năng thể hiện sự cảm thông, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng hợp tác, kĩ năng nêu và giải quyết vấn đề…

 

II.2.2: Xác định nội dung tích hợp trong bài dạy học:

 

Môn Bài Nội dung tích hợp Mục đích
Lịch sử lớp 6 Bài 14,     bài 15 Nước Âu Lạc Sự hình thành và phát triển của nhà nươc Âu Lạc Giúp học sinh thấy được vai trò của An Dương Vương trong việc xây dựng nhà nước Âu Lạc, xây thành Cổ Loa, chế tạo vũ khí, và cả sự thất bại của An Dương Vương.
Giáo dục công dân – lớp 10 Bài 12: Công dân với tình yêu, hôn nhân và gia đình – Thế nào là tình yêu

– Bản chất của tình yêu chân chính

Giúp học sinh hiểu rõ bi kịch của Mị Châu, biết cắt nghĩa, đánh giá thái độ của nhân dân và bài học nhân dân gửi gắm trong tác phẩm
Giáo dục công dân – lớp 10 Bài 14: Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc – Nguồn cội của lòng yêu nước

– Biểu hiện của lòng yêu nước.

– Trách nhiệm xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc của công dân

 

– Giúp học sinh thấy được ý nghĩa của tác phẩm

– Bồi dưỡng lòng yêu nước và tinh thần tự hào dân tộc.

– Giáo dục ý thức trách nhiệm và hành động xây dựng, bảo vệ Tổ Quốc ( học tập, lao động sáng tạo, đấu tranh vì lợi ích của quốc gia.)

Giáo dục công dân – lớp 12 Bài 2:

Thực hiện pháp luật

Pháp lệnh về bảo vệ bí mật nhà nước

(điều 2, điều 5)

 Học sinh ý thức được các cơ quan, tổ chức và mọi công dân đều có nghĩa vụ, trách nhiệm bảo vệ bí mật Nhà nước.
Giáo dục quốc phòng an ninh – lớp 12 Bài 9: Trách nhiệm của học sinh với nhiệm vụ bảo vệ an ninh Tổ Quốc – Nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia

– Bảo vệ an ninh thông tin

 

Học sinh có ý thức sâu sắc về việc bảo vệ an ninh quốc gia trong đó có an ninh thông tin.

Chống làm lộ, lọt thông tin bí mật của nhà nước

Hoạt động ngoài giờ lên lớp

– lớp 10

Tiết 14 – Chủ đề tháng 12. Diễn đàn thanh niên Vai trò của thanh niên học sinh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc Học sinh có ý thức bồi dưỡng tình yêu quê hương đất nước và tinh thần sẵn sàng đem hết khả năng của mình phục vụ lợi ích của Tổ Quốc

 

 

 

II.2.3: Xác định phương pháp, phương tiện thực hiện trong giờ dạy học :

  • Phương pháp dạy học và kĩ thuật dạy học sử dụng trong bài
PP DH, KT DH sử dụng Nội dung bài dạy học được áp dụng Mục đích hướng tới (phát triển năng lực và kĩ năng sống)
PP nêu và GQVĐ

PP thuyết trình

– Giới thiệu về truyền thuyết, về di tích lịch sử Cổ Loa

– Hướng tìm hiểu tác phẩm

– Nội dung tích hợp trong các môn Sử, Địa, GDCD…

– Phát triển năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực giao tiếp

– Giáo dục kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng tư duy, kĩ năng giao tiếp hiệu quả, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng thể hiện sự tự tin.

PP thảo luận nhóm – Quá trình xây thành, chế nỏ, đánh giặc của An Dương Vương

-Thái độ của nhân dân đối với sự kiện lịch sử và nhân vật lịch sử.

– Phát triển năng lực hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực giao tiếp

– Giáo dục kĩ năng tư duy phê phán, kĩ năng lắng nghe, kĩ năng tư duy, kĩ năng giao tiếp hiệu quả, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng thể hiện sự tự tin, kĩ năng thể hiện sự cảm thông, kĩ năng kiềm chế cảm xúc

PP DH WebQuest – Khám phá trên mạng -Tìm hiểu về khu di tích lịch sử Cổ Loa

– Tìm hiểu về thời đại An Dương Vương

– Phát triển khả năng tư duy: phân loại, so sánh, phân tích, chứng minh,suy luận, kết luận.

– Phát triển năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông, năng lực tự quản, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng xác định giá trị.

KT giao nhiệm vụ – Nội dung chuẩn bị cho cả bài, cho từng phần của bài học.

– Chuẩn bị của cá nhân, của nhóm…

– Phát triển năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác, năng lực sử dụng công nghệ thông tin

– Giáo dục kĩ năng tư duy phê phán, kĩ năng lắng nghe, kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng giao tiếp hiệu quả, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng thể hiện sự tự tin,

KT bản đồ tư duy – Giới thiệu bài học

– Tóm tắt tác phẩm.

– Trình bày nội dung phần đọc hiểu.

– Khái quát nội dung từng phần.

– Tổng kết bài học

– Phát triển năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực hợp tác, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông

– Giáo dục kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng tư duy, kĩ năng giao tiếp hiệu quả, kĩ năng ra quyết định

Kĩ thuật đặt câu hỏi: câu hỏi biết, câu hỏi hiểu, câu hỏi phân tích, câu hỏi áp dụng,câu hỏi đánh giá, câu hỏi sáng tạo

 

-Khái quát về truyền thuyết

-Đánh giá về An Dương Vương

-Suy nghĩ về vai trò người lãnh đạo

-Biểu hiện của bi kịch nước mất…

-Nguyên nhân của bi kịch.

-Bài học rút ra từ bi kịch

– Phát triển năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực giao tiếp

– Giáo dục kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng tư duy, kí năng xác định giá trị, kĩ năng giao tiếp hiệu quả, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng thể hiện sự tự tin, kĩ năng thể hiện sự cảm thông, kĩ năng kiềm chế cảm xúc, kĩ năng ứng phó với căng thẳng,

Kĩ thuật động não và kĩ thuật trình bày 1 phút – Đánh giá về nhân vật.

– Đánh giá giá trị của tác phẩm

– Liên hệ thực tế, rút ta bài học

– Phát triển năng lực tự học, năng lực sáng tạo, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực giao tiếp

– Giáo dục kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng tư duy, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng thể hiện sự tự tin…

  • Phương tiện sử dụng trong giờ dạy học:

– Phấn, bảng, SGK.

– Máy tính, máy chiếu, màn hình

– Giấy khổ lớn, bút dạ, nam châm…

 

II.2.4: Chuẩn bị của giáo viên và học sinh

  • Chuẩn bị của giáo viên
  • Giáo án word, giáo án điện tử, phiếu học tập
  • Phấn, bảng, SGK, giấy khổ A0, bút dạ, nam châm…
  • Máy tính, máy chiếu, màn hình
  • Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài trước khi học
  • Học sinh đọc SGK.
  • Tham khảo tài liệu về truyền thuyết, về di tích Cổ Loa (mạng internet, sánh báo…)
  • Tìm hiểu kiến thức liên quan đến truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy.
  • Tìm hiểu bài học theo phiếu học tập giáo viên đã hướng dẫn (Học sinh chuẩn bị ở nhà )

PHIẾU HỌC TẬP Tiết 10+11

BÀI “Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy”

TIẾT 1

Họ và tên:                                                                        Lớp:

Yêu cầu chuẩn bị Nội dung chuẩn bị
I.1. Phần tiểu dẫn sgk nêu nội dung gì? Sử dụng sơ đồ tóm tắt nội dung phần tiểu dẫn?

– Nhắc lại định nghĩa thế nào là truyền thuyết?

– Kể tên một số truyền thuyết Việt Nam?

– Nêu đặc trưng cơ bản của truyền thuyết?

 

2. Tìm thông tin và hình ảnh liên quan đến truyền thuyết và cụm di tích thành Cổ Loa?

 

 

– Ôn lại kiến thức lịch sử về thời đại An Dương Vương để thấy cái lõi sự thật lịch sử trong tác phẩm

 

II. Đoc hiểu

1. Đọc,Tóm tắt TP:  Truyền thuyết chia làm mấy phần? Nội dung từng phần nói gì?

Sơ đồ hóa nội dung

(có thể sử dụng sơ đồ tư duy hoặc sơ đồ grap)

 

 

 

 

 

 

2. Quá trình xây thành chế nỏ của An D­ương Vương đư­ợc miêu tả như­ thế nào?

Do đâu Vua được thần linh giúp đỡ?

 

 

 

 

 

– Xây thành xong, An Dương V­ương nói gì với Rùa vàng? ý nghĩa của  chi tiết này?

 

 

 

 

– Kể về sự giúp đỡ thần kì đó, tác giả dân gian gửi gắm thái độ đối với nhà vua như­ thế nào? (CH1 SGK)

 

– Ôn lại kiến thức môn giáo dục công dân về vai trò của người lãnh đạo.

– Các kĩ năng cần thiết để có thành công trong mọi công việc là gì?

I. Tìm hiểu chung

 

 

 

 

1.Truyền thuyết:

 

 

+ Đặc trưng:

 

 

2. Giới thiệu cụm di tích Cổ Loa:

 

 

 

3. Văn bản: Xuất xứ của VB?

 

 

 

 

 

 

 

II. Đọc- hiểu

1. Tóm tắt

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

2. Tìm hiểu cụ thể

a. Quá trình xây thành, chế nỏ:

* Xây thành

 

 

 

 

 

– Vua được thần giúp đỡ vì:

 

 

*  Chế nỏ

Vua băn khoăn :

Ý nghĩa của chi tiết:

 

 

 

 

 

* Cách kể chuyện:

– Sử dụng yếu tố kì ảo:

 

 

– Tác dụng:

 

* Bài học về vai trò của người lãnh đạo.

 

 

 

 

* Các kĩ năng cần thiết để có thành công trong mọi công việc

 

 

 

 

 

 

Tiết 2                     PHIẾU HỌC TẬP Tiết 11

BÀI “Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy”

Họ và tên:                                                                        Lớp:

Yêu cầu chuẩn bị Nội dung chuẩn bị
1. Nêu biểu hiện của bi kịch nước mất, nhà tan, tình yêu tan vỡ?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

2. Những sai lầm nào của ADV và MC dẫn đến thảm hoạ mất nước?

( – Sự mất cảnh giác của Vua thể hiện ntn? CH1b sgk)

 

– Sai lầm lớn nhất của Mị Châu là gì?

(Ý kiến riêng của em về 2 cách đánh giá trong CH2 sgk)

 

3. Từ bi kịch trên TP gủi gắm cho thế hệ sau bài học gì?

– Ôn lại kiến thức môn giáo dục công dân và môn Giáo dục Quốc phòng an ninh về vai trò của người lãnh đạo, về trách nhiệm của công dân với sự nghiệp dựng xây, bảo vệ tổ Quốc

– Các kĩ năng cần thiết để xử lí mối quan hệ riêng – chung, cá nhân – cộng đồng như thế nào?

 

 

 

4. Sáng tạo chi tiết về Rùa vàng, vua chém đầu con và cầm sừng tê xuống biển thể hiện thái độ của nhân dân đối với ADV như thế nào? so sánh với hình ảnh Thánh Gióng về trời em thấy có điểm gì giống và khác nhau? (CH1c sgk)

 

5. Thái độ của nhân dân đối với nhân vật MC?

– Chi tiết máu MC trai sò ăn phải đều biến thành hạt châu. xác hoá thành ngọc thạch. Chi tiết này thể hiện thái độ của người đời xư­a như thế nào đối với MC?và nhắn nhủ điều gì đối với thế hệ trẻ đời sau?

( CH3 sgk)

 

 

6. Đối với Âu Lạc, Trọng Thủy là người ntn?

Chi tiết” ngọc trai – giếng n­ước ” có phải khẳng định tình yêu chung thuỷ ở Trọng Thủy hay không? thái độ của tác giả dân gian đối với Trọng Thủy?

(CH4 sgk)

 

 

 

 

 

7. Từ sự phân tích trên hãy cho biết đâu là cốt lõi lịch sử của truyện ? Cốt lõi lịch sử đó đã được nhân dân thần kì hoá nh­ư thế nào? (CH5 sgk)

( Tích hợp kiến thức lịch sử bài 14,15; Nước Âu Lạc)

Tích hợp môn GDCD10

Bài Công dân với tình yêu, hôn nhân, gia đình Công dân với sự nghiệp bảo vệ TQ (bài 12, 14)

Tích hợp hoạt động ngoài giờ lên lớp, lớp 10, chủ đề tháng 10

 

b. Bi kịch n­ước mất, nhà tan và thái độ của tác giả dân gian

b1/ Bi kịch nước mất, nhà tan: 

Biểu hiện của bi kịch nước mất, nhà tan:

 

 

 

 

Biểu hiện của bi kịch tình yêu:

 

 

 

Nguyên nhân của bi kịch

+ Sai lầm của An DươngVương:

 

 

 

 

 

+ Sai lầm của Mị Châu:

 

 

 

 

 

Bài học từ  bi kịch trên (vai trò của người lãnh đạo, về trách nhiệm của công dân với sự nghiệp dựng xây, bảo vệ Tổ Quốc)

 

 

 

 

 

 

 

 

Các kĩ năng cần thiết để xử lí mối quan hệ riêng – chung, cá nhân – cộng đồng

 

 

 

 

 

b2/ Thái độ của nhân dân đối với nhân vật các nhân vật:

* Thái độ của nhân dân  đối với ADV? Lí giải?

 

 

 

 

 

 

 

 

* Thái độ của nhân dân  đối với Mị Châu? Lí giải?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

* Thái độ của nhân dân  đối với Trọng Thủy? Lí giải?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

* Cái lõi lịch sử của truyền thuyết này là:

 

 

 

 

 

* Cốt lõi lịch sử ấy được dân gian thần kì hoá qua hình ảnh :

 

 

 

 

3. Bài học (Chú ý phần Ghi nhớ SGK)

 

 

 

 

III/ Luyện tập

1.     BT1 (SGK)

2.      BT2 (SGK)

3.      BT3 :

Tìm một số tác phẩm nghệ thuật: thơ, ca, nhạc, họa, kịch… về An Dương Vương, Mị Châu, Trọng Thủy và nêu lên sức sống lâu bền của Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy

 

 

 

 

II.2.5: MÔ TẢ BÀI GIẢNG TIẾT 10+11 – ĐỌC VĂN

TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU – TRỌNG THỦY

II.2.5.1.Tiết thứ nhất

  • Nội dung trọng tâm của bài học, giáo viên giúp học sinh tìm hiểu những vấn đề sau:
  • Giới thiệu chung về truyền thuyết.
  • Giới thiệu cụm di tích Cổ Loa.
  • Giới thiệu tác phẩm, tóm tắt tác phẩm.
  • Tìm hiểu phần 1 (An Dương Vương xây thành, chế nỏ, thắng giặc)
  • Ổn định tổ chức và kiểm tra phần chuẩn bị bài của học sinh, nhận xét các sản phẩm học sinh đã nộp cho GV qua gmail và thông báo tên HS, sản phẩm HS sẽ được trình bày trong giờ học để HS chuẩn bị tâm thế.
  • Phần bài mới:
  1. Tìm hiểu chung

1.Trước hết giáo viên tổ chức hoạt động để học sinh tìm hiểu khái quát về truyền thuyết:

– GV kiểm tra  việc sử dụng sơ đồ tư duy nêu nội dung cơ bản của phần tiểu dẫn trong SGK mà học sinh đã chuẩn bị ở nhà. Nhận xét và gọi HS trình chiếu (nếu HS đã chuẩn bị trên máy tính).

– Giáo viên sử dụng kĩ thuật đặt câu hỏi:

+ Dạng câu hỏi biết kiểm tra trí nhớ của học sinh: Nhắc lại định nghĩa thế nào là truyền thuyết? Kể tên một số truyền thuyết của Việt Nam? (học sinh trả lời, giáo viên nhận xét và bổ sung nếu cần)

* Khái niệm truyền thuyết là loại truyện dân gian kể về sự kiện lịch sử và nhân vật lịch sử (hoặc liên quan đến lịch sử) theo xu hướng lí tưởng hóa. Qua đó thể hiện sự ngưỡng mộ và tôn vinh của nhân dân đối với những người có công với đát nước, dân tộc hay cộng đồng cư dân một vùng.

+ Giáo viên ra câu hỏi hiểu kiểm tra việc hiểu của học sinh về đặc trưng của truyền thuyết: Từ khái niệm trên, theo em đặc trưng của truyền thuyết là gì (học sinh trả lời, giáo viên nhận xét và bổ sung nếu cần, đồng thời chiếu slaide sau lên màn hình để học sinh trực quan)

* Đặc trưng của truyền thuyết : Có yếu tố lịch sử và yếu tố tưởng tượng.

Thể hiện quan điểm của nhân dân và gắn liền với các lễ hội và tục thờ cúng

GV trình chiếu tranh, gọi HS xem tranh đoán tên các truyền thuyết và nêu ý nghĩa của các truyền thuyết đó. HS đoán trước, GV chiếu slide sau.

 

  1. Giáo viên tổ chức hoạt động giới thiệu cụm di tích Cổ Loa:

– Giáo viên sử dụng PPDH nêu và GQVĐ, PP WebQuest (Khám phá trên mạng)

Dựa vào phần học sinh đã chuẩn bị ở nhà, giáo viên gọi học sinh trình bày, ưu tiên phần trình bày có hình ảnh, có sơ đồ, có nội dung trình chiếu.

Hoạt động này nhằm phát triển cho học sinh: năng lực tự học, năng lực sử dụng công nghệ thông tin, năng lực sáng tạo, năng lực hợp tác, năng lực tự nhận thức, năng lực sử dụng ngôn ngữ …

Giáo viên gọi đại diện học sinh trình bày phần chuẩn bị của nhóm mình. Sau đó nhận xét, biểu dương và giới thiệu thêm một vài hình ảnh về Cổ Loa. Đặc biệt là giới thiệu cấu trúc của thành để học sinh hình dung kiến trúc độc đáo và những giá trị lịch sử, quân sự, kinh tế của thành Cổ Loa đối với nhà nước Âu Lạc đương thời. (Tích hợp kiến thức địa lí, lích sử, GV trình chiếu kết hợp thuyết minh

* Giới thiệu chung: Thành Cổ Loa thuộc xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội, là kinh đô của nhà nước Âu Lạc dưới thời An Dương Vương vào khoảng thế kỷ thứ III trước Công nguyên và là kinh đô của nhà nước Vạn Xuân dưới thời Ngô Quyền thế kỷ X sau Công nguyên. Năm 1962, thành Cổ Loa được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.

Cổng vào đền thờ An Dương Vương ở Cổ Loa

* Vị trí địa lý của thành Cổ Loa

Vào thời Âu Lạc, Cổ Loa nằm vào vị trí đỉnh của tam giác châu thổ sông Hồng và là nơi giao lưu quan trọng của đường thủy và đường bộ. Từ đây có thể kiểm soát được cả vùng đồng bằng lẫn vùng sơn địa.

Cổ Loa là một khu đất đồi cao ráo nằm ở tả ngạn sông Hoàng. Sông Hoàng (tức sông Thiếp) là một con sông nhánh lớn quan trọng của sông Hồng, nối liền sông Hồng với sông Cầu trong hệ thống sông Thái Bình.

Về phương diện giao thông đường thủy, Cổ Loa có một vị trí thuận lợi.  Đó là vị trí nối liền mạng lưới đường thủy của sông Hồng cùng với mạng lưới đường thủy của sông Thái Bình. Qua con sông Hoàng, thuyền bè ngược lên sông Hồng là vào vùng Bắc hay Tây Bắc của Bắc Bộ, nếu xuôi sông Hồng, thuyền ra đến biển cả, nếu đến vùng phía Đông Bắc bộ thì qua sông Cầu vào hệ thống sông Thái Bình đến sông Thương và sông Lục Nam.

Địa điểm Cổ Loa chính là đất Phong Khê, lúc đó là một vùng đồng bằng trù phú có xóm làng, dân cư đông đúc, sống bằng nghề làm ruộng, đánh cá và thủ công nghiệp. Việc dời đô từ Phong Châu về đây, đánh dấu một giai đoạn phát triển của dân cư Việt cổ, giai đoạn người Việt chuyển trung tâm quyền lực từ vùng Trung du bán sơn địa về định cư tại vùng đồng bằng.

* Cấu trúc Thành Cổ Loa

Thành Cổ Loa được các nhà khảo cổ học đánh giá là “tòa thành cổ nhất, quy mô lớn vào bậc nhất, cấu trúc cũng thuộc loại độc đáo nhất trong lịch sử xây dựng thành lũy của người Việt cổ”.

Khi xây thành, người Việt cổ đã biết lợi dụng địa hình tự nhiên, tận dụng chiều cao của các đồi, gò, đắp thêm đất cho cao hơn để xây nên hai bức tường thành phía ngoài. Chất liệu chủ yếu dùng để xây thành là đất, là đá và gốm vỡ.

Thành Cổ Loa theo tương truyền gồm 9 vòng xoáy trôn ốc, nhưng hiện còn 3 vòng thành. Chu vi vòng Ngoại 8km, vòng Trung 6,5km, vòng Nội 1,65km, diện tích trung tâm lên tới 2km2.

Thành được xây theo phương pháp đào đất đến đâu, khoét hào đến đó, thành đắp đến đâu, lũy xây đến đó. Mặt ngoài lũy, dốc thẳng đứng, mặt trong xoải để đánh vào thì khó, trong đánh ra thì dễ. Lũy cao trung bình từ 4m-5m, có chỗ cao đến 8m -12m. Chân lũy rộng 20m – 30m, mặt lũy rộng 6m – 12m.

+ Thành Nội hình chữ nhật, cao trung bình 5m so với mặt đất, mặt thành rộng từ 6m-12m, chân rộng từ 20m-30m, chu vi 1.650m và có một cửa nhìn vào tòa kiến trúc Ngự triều di quy.

Hiện nay, qua cổng làng, cũng là cổng thành Nội là tới đình làng Cổ Loa. Cạnh đình là Am Bà Chúa tức là miếu thờ công chúa Mỵ Châu, trong am có một tảng đá hình người cụt đầu, là tượng Mỵ Châu.

Qua am Mỵ Châu tới đền Thượng, tức đền An Dương Vương, tương truyền là dựng trên nền nội cung ngày trước. Trong đền có tượng An Dương Vương bằng đồng. Trước đền là Giếng Ngọc, tương truyền là nơi Trọng Thuỷ tự tử vì hối hận. Nơi đây, có đầy đủ các loại hình di tích: Đình, đền, chùa, am, miếu.

+ Thành Trung là một vòng thành không có khuôn hình cân xứng, chu vi 6.500m, nơi cao nhất là 10m, mặt thành rộng trung bình 10m, có năm cửa ở các hướng đông, nam, bắc, tây bắc và tây nam, trong đó cửa đông ăn thông với sông Hoàng.

+ Thành Ngoại không còn hình dáng rõ ràng, chu vi hơn 8.000m, cao trung bình 3m – 4m (có chỗ tới hơn 8m).

Mỗi vòng thành đều có hào nước bao quanh bên ngoài, hào rộng trung bình từ 10m đến 30m. Các vòng hào đều thông với nhau và thông với sông Hoàng. Sự kết hợp của sông, hào và tường thành không có hình dạng nhất định, khiến thành như một mê cung, là một khu quân sự vừa thuận lợi cho tấn công vừa tốt cho phòng thủ. Thuyền bè đi lại dễ dàng trên ba vòng hào để đến trú đậu ở Đầm Cả hoặc ra sông Hoàng và từ đó có thể tỏa đi khắp nơi.

Bản đồ thành Cổ Loa

* Giá trị của thành Cổ Loa

– Về mặt quân sự, thành Cổ Loa thể hiện sự sáng tạo độc đáo của người Việt cổ trong công cuộc giữ nước và chống ngoại xâm. Với các bức thành kiên cố, với hào sâu rộng cùng các ụ, lũy, Cổ Loa là một căn cứ phòng thủ vững chắc để bảo vệ nhà vua, triều đình và kinh đô. Đồng thời là một căn cứ kết hợp hài hòa thủy binh cùng bộ binh, khi tác chiến.

– Về mặt xã hội, với sự phân bố từng khu cư trú cho vua, quan, binh lính, thành Cổ Loa là một chứng cứ về sự phân hóa của xã hội thời ấy.

– Về mặt văn hóa, là một tòa thành cổ nhất còn để lại dấu tích, Cổ Loa trở thành một di sản văn hóa, một bằng chứng về sự sáng tạo, về trình độ kỹ thuật cũng như văn hóa của người Việt Cổ.

Kho mũi tên đồng khai quật ở thành Cổ Loa

Tượng Mị Châu tại Cổ Loa             Giếng Ngọc tại Cổ Loa

 

  1. Giới thiệu Văn bản: Xuất xứ của VB Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy được trích từ Truyện Rùa Vàng trong Lĩnh Nam chích quái – tập truyện dân gian được sưu tập vào cuối thế kỉ XV. (GV nhắc HS theo dõi thông tin này trong SGK).

GV kết hợp với phần trình chiếu slide sau:

 

Phần Đọc- hiểu

Giáo viên tổ chức hoạt động tóm tắt tác phẩm.

– Sử dụng kỹ thuật sơ đồ tư duy, hoặc sơ đồ grap

– Gọi học sinh trình bày phần chuẩn bị của mình:

Cho học sinh dùng nam châm đính sản phẩm đã chuẩn bị của mình lên bảng hoặc trên tường để các học sinh có thể quan sát, học tập lẫn nhau (đối với những học sinh vẽ trên giấy)

Gọi 1 hoặc 2 học sinh trình chiếu (đối với em đã chuẩn bị trên máy tính).

– Có thể tóm tắt theo nhân vật ( nhân vật An Dương Vương, nhân vật Mị Châu, nhân vật Trọng Thủy)

– GV nhận xét phần trình bày của HS, sau đó chiếu phần sơ đồ tóm tắt theo cách của cô giáo như sau:

Từ việc tóm tắt, GV đặt câu hỏi tìm bố cục của tác phẩm, sau đó chiếu sơ đồ tư duy thể hiện bố cục 2 phần và gợi ý cách đọc hiểu tác phẩm theo bố cục này.

Giáo viên tổ chức hoạt động tìm hiểu tác phẩm về nội dung, nghệ thuật và giá trị của nó : Gợi ý HS tìm hiểu tác phẩm theo sơ đồ sau:

2.1. GV hướng dẫn HS hoạt động tìm hiểu phần 1 của tác phẩm: Quá trình xây thành, chế nỏ, thắng giặc ngoại xâm.

GV sử dụng PPDH  thảo luận nhóm ( còn gọi là dạy học hợp tác, dạy học theo nhóm).

GV chia 3 nhóm

– Nhóm 1: Thảo luận về vấn đề: Quá trình xây thành của An Dương Vương diễn ra như thế nào? Do đâu Vua được thần linh giúp đỡ? 

– Nhóm 2: Thảo luận về vấn đềXây thành xong, An Dương Vương băn khoăn về điều gì và được giúp đỡ ra sao? Ý nghĩa của chi tiết này?

– Nhóm 3: Thảo luận về vấn đềKể về việc xây thành, chế nỏ, dân gian sáng tạo những yếu tố kì ảo nào? Qua đó tác giả dân gian gửi gắm thái độ đối với nhà vua như thế nào? (Câu hỏi 1 SGK Ngữ văn 10, tập 1)

HS làm việc nhóm 5 đến 7 phút, ( trên cơ sở nội dung cá nhân HS đã chuẩn bị ở nhà trên phiếu học tập của mình, các nhóm thảo luận, ghi nội dung thống nhất vào tờ giấy khổ lớn, sau đó đính sản phẩm lên bảng và cử đại diện từng nhóm lần lượt trình bày.)

HS nghe, HS khác có thể đặt câu hỏi phản biện, hoặc bổ sung ý kiến.

GV nhận xét và hướng dẫn học sinh nắm những ý cơ bản:

* An Dương Vương xây thành

– Hễ đắp tới đâu lại lở tới đấy.

– Vua lập đàn trai giới.

– Cầu đảo bách thần.

– Nhờ cụ già mách bảo, được Rùa Vàng giúp đỡ, thành xây nửa tháng thì xong, thành cao, đẹp, nổi tiếng, gọi là Loa Thành…

 Đó là những khó khăn chồng chất với  những cố gắng của nhà vua và sự giúp đỡ của các vị thần. Điều ấy chứng tỏ:

+ Dựng nước là việc vô cùng khó.

+ Công việc này đòi hỏi nhà vua phải có tài, có đức, có ý chí, có lòng quyết tâm, có sự sáng suốt, có tính kiên trì, biết sử dụng người tài, được nhân dân tin tưởng, ủng hộ.

* An Dương Vương chế nỏ, giữ nước

– Thành xây xong, vua băn khoăn hỏi Rùa vàng: “Có giặc lấy gì mà chống”

– Rùa Vàng cho vuốt, Vua sai Cao Lỗ làm nỏ (Linh quang Kim Quy thần cơ).

An Dương Vương có nỏ thần, sức mạnh tăng, Triệu Đà chịu thất bại, không dám đối chiến, đành cầu hòa.

Các chi tiết này có ý nghĩa:

+ Nhà vua ý thức cao về việc dựng nước, gắn liền với giữ nước, lo lắng cho vận mệnh của xã tắc, chủ động trong việc phòng bị, chuẩn bị vũ khí, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ đất nước.

+ Vua có tài, có tâm, coi trọng hiền tài, một lòng chăm lo cho đất nước nên đất nước vững mạnh, thanh bình.

* Cách kể chuyện của nhân dân

– Sử dụng yếu tố kì ảo: sứ Thanh giang, Rùa Vàng, Nỏ thần…

– Tác dụng của cách kể chuyện:

+ Lí t­ưởng hoá việc xây thành.

+ Ca ngợi đề cao vua An Dương Vương (anh minh, sáng suốt, tài năng, đức độ, được lòng dân, trọng người tài)

+ Đề cao sức mạnh trí tuệ, khả năng của nhân dân Âu Lạc ( Đủ mạnh để trụ vững ở đồng bằng)

+ Tạo sự hấp dẫn cho tác phẩm.

+ Thể hiện lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc.

GV ra câu hỏi áp dụng, yêu cầu HS động não và trình bày 1 phút. Dạng câu hỏi này yêu cầu học sinh tích hợp với kiến thức của môn học khác như giáo dục công dân và liên hệ thực tế cuộc sống để giải quyết vấn đề.

Câu hỏi: Qua phần vừa tìm hiểu em hãy trình bày suy nghĩ của mình về vấn đề vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu quốc gia (người lãnh đạo)

Muốn thành công trong công việc, con người cần phải có những kĩ năng gì?

HS bày tỏ ý kiến của mình:

  • Có thể có nhiều ý kiến khác nhau.
  • GV tập hợp và đánh giá: Tích hợp kiến thức môn giáo dục công dân lớp 10, bài 14, Môn Hoạt động ngoài giờ lên lớp, lớp 10, chủ đề tháng 10.

+ Người đứng đầu ( quốc gia, hoặc một tổ chức nào đó) cần có tài, có tâm, có đức, có chí ( cụ thể là: cần có trí tuệ sáng suốt, có tầm nhìn chiến lược, có tinh thần yêu nước, thiết tha với lợi ích của cộng đồng, biết coi trọng hiền tài, biết tập hợp sức mạnh của nhân dân, luôn chủ động sẵn sàng ứng phó với mọi hoàn cảnh).

+ Muốn thành công trong bất cứ công việc gì con người cần có ý chí, có nghị lực, có lòng quyết tâm, có sự kiên trì, nhẫn nại, có lòng dũng cảm, có tinh thần tập thể…

  • GV củng cố và dặn dò HS học ở nhà và tiếp tục chuẩn bị cho tiết học sau
  • Yêu cầu qua tiết học nắm chắc:

+  Đặc trưng của truyền thuyết.

+  Tóm tắt tác phẩm Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy theo nhân vật, tóm tắt bằng sơ đồ.

+ Ý nghĩa của chuyện kể về sự việc An Dương Vương xây thành, chế nỏ, thắng giặc ngoại xâm.

+ Bài học về trách nhiệm của công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc.

  • Tiếp tục chuẩn bị tiết sau theo phiếu học tập GV đã phát.

II.2.5.2.Tiết thứ hai

  • Nội dung trọng tâm của bài học.
  • Tìm hiểu bi kịch nước mất nhà tan thể hiện trong tác phẩm.
  • Tìm hiểu thái độ của nhân dân gửi gắm trong tác phẩm.
  • Tìm hiểu ý nghĩa của tác phẩm .
  • Luyện tập củng cố bài học.
  • Sau khi ổn định tổ chức, kiểm tra phần chuẩn bị bài của học sinh, nhận xét các sản phẩm học sinh đã nộp cho GV qua gmail và thông báo tên HS, sản phẩm HS sẽ được trình bày trong giờ học để HS chuẩn bị tâm thế, GV hướng dẫn học sinh hoạt động tìm hiểu phần 2 của tác phẩm.
  • Phần bài mới

GV tiếp tục hướng dẫn học sinh hoạt động tìm hiểu:

Phần II. Đọc hiểu

GV trình chiếu sơ đồ, giới thiệu mục tiêu, nhiệm vụ bài học (tiếp theo tiết trước)

Giờ trước đã tìm hiểu phần 1 của tác phẩm ( 2.1 An Dương Vương xây thành, chế nó, giữ nước.)

Giờ học này GV tổ chức hoạt động tìm hiểu phần 2 của tác phẩm:

2.2. Bi kịch n­ước mất, nhà tan và thái độ của tác giả dân gian gửi gắm trong tác phẩm.

2.2.1 . Bi kịch nước mất, nhà tan: 

Giáo viên sử dụng PP nêu và giải quyết vấn đề và kĩ thuật đặt câu hỏi. Trước hết là dạng câu hỏi biết và hiểu để hướng dẫn HS tìm hiểu về bi kịch nước mất, nhà tan qua tác phẩm

– Câu hỏi: Nêu biểu hiện của bi kịch nước mất, nhà tan, tình yêu tan vỡ được đề cập đến trong tác phẩm?

HS trình bày trước lớp, HS khác nêu ý kiến của mình . Sau đó GV nhận xét và chốt những ý chính như sau:

* Biểu hiện của Bi kịch nước mất, nhà tan :

– Xây dựng đất nước thật khó khăn, đã thành công: thành cao to, đẹp, ngai vàng vững, đất nước thanh bình, cha con bên nhau. Nhưng trớ trêu kết cục : Vua để Loa Thành thất thủ, phải bỏ chạy, cùng đường, bị kết tội “để giặc sau lưng”, phải tự tay chém con gái yêu, rồi đi vào lòng biển. Đất nước vào tay giặc, dân chúng lầm than.

–  Công chúa ngây thơ, trong sáng, một lòng hiếu nghĩa. Nhưng bị kết tội là giặc , bị chém đầu.

– Người vợ yêu thương, tin tưởng chồng tuyệt đối. Kết cục bị chồng lừa dối, trước khi chết mới nhận ra mình là nạn nhân của chồng, và coi  tình yêu của mình là mối nhục thù.

– Chồng yêu thương vợ, muốn ấm êm, hạnh phúc. Nhưng lại lừa vợ, mất vợ, mất tình yêu, mất hạnh phúc, sống trong ân hận dày vò rồi cuối cùng phải tự vẫn.

Giáo viên tiếp tục sử dụng PP nêu và giải quyết vấn đề và kĩ thuật đặt câu hỏi. Dạng câu hỏi hiểu và câu hỏi phân tích:

Câu hỏi:  Những sai lầm nào của An Dương Vương và Mị Châu dẫn đến thảm hoạ mất nước?

+ Sự mất cảnh giác của Vua thể hiện như thế nào? Câu hỏi 1b SGK Ngữ văn 10, tập 1)

+ Sai lầm lớn nhất của Mị Châu là gì?

HS trình bày trước lớp, HS khác nêu ý kiến của mình . Sau đó GV nhận xét và chốt những ý chính như sau:

*  Nguyên nhân của Bi kịch

–  Sai lầm của An Dương Vương:

+ Chấp thuận lời cầu hòa của Triệu Đà , nhận lời cầu hôn của Triệu Đà cho Mị Châu lấy Trọng Thủy.

+ Cho Trọng Thủy ở rể.

+ Để Trọng Thủy và Mị Châu tự do, không đề phòng, giám sát, không giữ bí mật quốc gia

Điều đó có nghĩa là : An Dương Vương chủ quan không nhận ra âm mưu của địch, nuôi ong tay áo, nuôi cáo trong nhà, vô tình tạo điều kiện để kẻ thù phá từ bên trong.

+ An Dương Vương lơ là việc phòng thủ, ham vui. Khi giặc đến sát chân thành vẫn điềm nhiên ngồi đánh cờ, ý thế vào nỏ thần.

+ An Dương Vương chủ quan coi thường địch. ( Câu nói : Đà không sợ nỏ thần sao ? thể hiện rõ điều đó)

Như vậy nguyên nhân mất nước từ phía An Dương Vương là do chủ quan, mất cảnh giác, mơ hồ về bản chất của kẻ thù. Nhà Vua đã thất bại trước mưu kế thâm hiểm của chúng.

–  Sai lầm của Mị Châu:

GV cho HS trình bày ý kiến của mình giải quyết câu hỏi 2 trong SGK.

Việc Mị Châu lén đưa cho Trọng Thủy xem nỏ thần,có hai cách đánh giá:

Ý kiến 1: Mị Châu chỉ thuận theo tình cảm vợ chồng mà quên nghĩa vụ quốc gia

Ý kiến 2: Mị Châu làm theo ý chồng là lẽ tự nhiên, hợp đạo lí.

Ý kiến của em như thế nào?    

Học sinh trình bày, có thể xuất hiện nhiều ý kiến khác biệt. Chẳng hạn:

+ Tán thành cách đánh giá thứ nhất, phê phán Mị Châu. Nhưng cũng không đủ lí lẽ để phản bác cách đánh giá thứ hai

+ Tán thành cách đánh giá thứ hai, bênh vực Mị Châu. Nhưng cũng không đủ lí lẽ để phản bác cách đánh giá thứ nhất.

+ Tán thành cách đánh giá thứ hai với lập luận dựa trên luân lí của chế độ phong kiến đòi hỏi người vợ phải nghe theo ý kiến người chồng vô điều kiện, từ đó đưa ra đề nghị chúng ta ngày nay nên thông cảm với Mị Châu, không nên phê phán nàng.

GV phân tích định hướng cảm nhận cho HS:

Chúng ta phải dựa vào: đặc trưng của thể loại truyền thuyết để trình bày ý kiến của mình một cách thuyết phục.

Truyền thuyết là một loại sáng tạo nghệ thuật nên việc phản ánh lịch sử, kể về sự kiện lịch sử và nhân vật lịch sử nhằm đề cao cái đẹp, cái tốt, cái tích cực và phê phán cái xấu, cái tiêu cực theo quan niệm của nhân dân. Lịch sử Việt Nam có một đặc điểm nổi bật: đó là lịch sử không ngừng đấu tranh chống ngoại xâm. Trong tình hình ấy, các sáng tác văn học dân gian nói chung, đặc biệt là truyền thuyết nói riêng, có nhiệm vụ đề cao tư tưởng yêu nước thương nòi, giáo dục lòng trung thành với dân tộc, ý thức và tình cảm tha thiết độc lập, tự chủ.

Từ đặc trưng này ta phân tích sai lầm của Mị Châu:

+ Nàng đã đem bí mật nỏ thần kể cho Trọng Thủy nghe, nàng đã tiếp tay cho Trọng Thủy đánh tráo lẫy nỏ mà không biết (Nàng đã để lộ bí mật quốc gia)

+  Hành động rắc lông ngỗng trên đ­ường chạy trốn đánh dấu đường cho Trọng Thủy tìm nàng. Nàng đã vô tình tạo điều kiện cho giặc truy đuổi vua đến tận cùng đường.

Như vậy Mị Châu đã cả tin, ngây thơ, có tình yêu  mù quáng. Nàng hành động theo tình cảm cá nhân, mà bỏ quên trách nhiệm công dân và nghĩa vụ với Tổ quốc. Nỏ thần thuộc về tài sản quốc gia, bí mật quân sự. Mị Châu đã vi phạm vào nguyên tắc bề tôi đối với vua cha, với đất n­ước. Nàng đã tiết lộ bí mật quốc gia. Nhân dân kết tội Mị Châu, bằng bản án tử hình: chém đầu là đích đáng. Đành rằng tình cảm vợ chồng gắn bó , nh­ưng cũng không thể đặt lên trên nghĩa vụ với quốc gia. Nước mất dẫn đến nhà tan, không ai có thể bảo toàn hạnh phúc. Việc làm của Mị Châu là một bài học đắt giá.

Tóm lại: An Dương Vương mơ hồ về bản chất ngoan cố của kẻ thù, thiếu ý thức cảnh giác dân tộc.

Mị Châu trong sáng ngây thơ để tình cảm riêng t­ư lấn át, bị lợi dụng mà không biết. Hai cha con An Dương Vương vì chủ quan, mất cảnh giác đã làm tiêu vong sự nghiệp, đưa đất nước vào cảnh ngộ lầm than. Trọng Thủy là gián điệp là kẻ thù gây ra bi kịch đau thương.

Giáo viên tiếp tục sử dụng PP nêu và giải quyết vấn đề và kĩ thuật đặt câu hỏi. Dạng câu hỏi hiểu và câu hỏi áp dụng nhằm kiểm tra khả năng liên hệ áp dụng thông tin đã thu được vào tình huống mới

Câu hỏi :  Từ bi kịch trên tác phẩm gửi gắm cho thế hệ sau bài học gì? Bài14 môn giáo dục công dân lớp 10, và bài 9 môn Giáo dục quốc phòng, an ninh: có đề cập đến vai trò và trách nhiệm của công dân đối với Tổ Quốc như thế nào ?

HS trình bày trước lớp, HS khác nêu ý kiến của mình . Sau đó GV nhận xét và chốt những ý chính như sau:

* Bài học từ  bi kịch  :

– Cảnh giác cao độ với kẻ thù.

– Cần giải quyết tốt mối quan hệ riêng – chung, nước – nhà , cá nhân – tập thể.

Nội dung tích hợp : Pháp lệnh về bảo vệ bí mật nhà nước.

Điều 2,  phần những quy định chung ghi rõ :

Bảo vệ bí mật Nhà nước là nhiệm vụ rất quan trọng của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức khác, đơn vị vũ trang nhân dân  và mọi công dân đều có nghĩa vụ, trách nhiệm bảo vệ bí mật Nhà nước.

Điều 5, phần phạm vi bí mật nhà nước ghi rõ :

Bí mật nhà nước trong phạm vi sau đây thuộc độ Tuyệt mật:

– Chiến lược an ninh quốc gia; kế hoạch phòng thủ đất nước; kế hoạch động viên đối phó với chiến tranh; các loại vũ khí, phương tiện có ý nghĩa quyết định khả năng phòng thủ đất nước…

2.2.2. GV hướng dẫn HS hoạt động tìm hiểu vấn đề thái độ của nhân dân đối với nhân vật An Dương Vương, Mị Châu và Trọng Thủy:

Giáo viên sử dụng PPDH thảo luận nhóm ( còn gọi là dạy học hợp tác, dạy học theo nhóm).

GV chia 3 nhóm

Nhóm 1: Thảo luận về vấn đề : Thái độ của nhân dân đối với An Dương Vương ( Sáng tạo chi tiết về Rùa vàng xuất hiện bảo kẻ ngồi sau lưng nhà vua là giặc, vua chém đầu con và cầm sừng tê xuống biển thể hiện thái độ của nhân dân đối với An Dương Vương như thế nào? So sánh với hình ảnh Thánh Gióng về trời em thấy có điểm gì giống và khác nhau? (Câu hỏi 1c, sgk Ngữ văn 10 tập 1)

Nhóm 2: Thảo luận về vấn đề :Thái độ của nhân dân đối với nhân vật Mị Châu? ( Chi tiết máu Mị Châu trai sò ăn phải đều biến thành hạt châu, xác hoá thành ngọc thạch. Chi tiết này thể hiện thái độ của dân gian như thế nào đối với Mị Châu? và nhắn nhủ điều gì đối với thế hệ trẻ đời sau?

(Câu hỏi 3, sgk Ngữ văn 10 tập 1)

Nhóm 3: Thảo luận về vấn đề: Đối với nhân dân Âu Lạc, Trọng Thủy là người như thế nào? (Chi tiết ” ngọc trai – giếng nước ” có phải khẳng định tình yêu chung thuỷ ở Trọng Thủy hay không? thái độ của tác giả dân gian đối với Trọng Thủy? (Câu hỏi 4, sgk Ngữ văn 10 tập 1)

HS làm việc nhóm 5 đến 7 phút, ( trên cơ sở nội dung cá nhân HS đã chuẩn bị ở nhà trên phiếu học tập của mình, các nhóm thảo luận, ghi nội dung thống nhất vào tờ giấy khổ lớn, sau đó dán sản phẩm lên bảng và cử đại diện từng nhóm lần lượt trình bày.)

HS nghe, HS khác có thể đặt câu hỏi phản biện, hoặc bổ sung ý kiến.

GV nhận xét và chiếu sơ đồ tư duy lên màn hình, kết hợp với lời giảng chốt lại những ý chính, giúp học sinh nắm những ý cơ bản:

* Đối với An Dương Vương:  dân gian có thái độ  vừa ngưỡng mộ, kính trọng vì có công lập nước Âu Lạc, vừa thương tiếc vì sai lầm dẫn đến mất nước.

Điều đó thể hiện qua các chi tiết hư cấu: lời Rùa kết tội An Dương Vương để giặc ở sau lưng , hành động tuốt gư­ơm chém Mị Châu rồi đi xuống biển của Vua An Dương Vương

+ Hành động chém con của An Dương Vương: nghiêm khắc mà đau đớn chứng tỏ nhà vua đã đứng trên quyền lợi của dân tộc để thẳng tay trừng trị kẻ có tội dù đó là đứa con lá ngọc cành vàng của mình. Cũng là hành động thể hiện sự tỉnh ngộ muộn màng.

Với công xây dựng và bảo vệ đất nước Âu Lạc, với hành động dũng cảm khi lựa chọn nghĩa nước trên tình nhà nên trong lòng nhân dân, An Dương Vương không chết mà cầm sừng tê giác b­ước vào thế giới vĩnh cửu và được nhân dân đời đời thờ phụng.

(So với hình ảnh Thánh Gióng về trời thì hình ảnh An Dương Vương không rực rỡ, hoành tráng mà lặng lẽ, ngậm ngùi bởi lẽ An Dương Vương đã để mất n­ước. Các vị anh hùng đều bất tử nhưng với mỗi nhân vật dân gian có cách đánh giá khác nhau thật chí lí chí tình)

Những hư cấu đó là lời giải thích lí do mất nước để xoa dịu nỗi đau mất nước (Dân gian khẳng định rằng An Dương Vương và dân tộc Việt mất nước không phải do kém về tài năng mà bởi kẻ thù dùng thủ đoạn hèn hạ)

* Đối với  Mị Châu: Nhân dân vừa giận, vừa thương vì gây tội lớn nhưng do vô tình bị kẻ gian lừa gạt chứ không phải là chủ đích.

+ Với việc để thần Rùa Vàng kết tội Mị Châu là giặc và vua cha tuốt kiếm chém chết nàng, nhân dân đã tuyên án và thi hành bản án của lịch sử rất nghiêm khắc. Việc kết tội và trừng trị Mị Châu  xuất phát từ việc đề cao ý thức công dân, lòng yêu nước, tha thiết với độc lập dân tộc. Dù vô tình nhưng Mị Châu đã gây họa, nên vẫn là kẻ có tội với cha, với dân tộc. Mị Châu cũng nhận ra tội của mình và cúi đầu chịu tội (sự nhẹ dạ phải trả một cái giá quá đắt).

+ Đồng thời nhân dân cũng cảm thông và xót thương với Mị Châu: thể hiện trong chi tiết hư cấu về sự hóa thân và phân thân của Mị Châu đúng như lời nguyền của nàng. « Thiếp là phận gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại cha ,chết đi sẽ biến thành cát bụi. Nếu một lòng trung hiếu mà bị người lừa dối thì chết đi sẽ biến thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù ». Nhân vật không hóa thân trọn vẹn trong một hình hài. Máu nàng chảy xuống biển hóa thành ngọc trai, xác hóa thành ngọc trai. Hình thức hóa thân – phân thân độc đáo này thể hiện tính hai mặt, và phức tạp của hình tượng nhân vật là cách để nhân dân thể hiện sự bao dung, niềm thông cảm với sự trong trắng, thơ ngây của Mị Châu vì phạm tội một cách vô tình. Đồng thời gửi gắm bài học lịch sử cho trai – gái nước Việt muôn đời sau trong việc giải quyết mối quan hệ giữa nước với nhà, giữa tình riêng và nghĩa chung.

(Hình ảnh ngọc trai – giếng nước minh oan cho Mị Châu, nàng bị lừa chứ không phải kẻ phản nghịch) để khẳng định: người Việt không bao giờ bán nước mà ở đây chỉ mắc lừa mà thôi.

+ Đối với Trọng Thủy: Dân gian vừa căm giận, vừa xót xa:

Vì hắn vừa là thủ phạm, vừa là nạn nhân của chiến tranh xâm lược; hắn có hai tham vọng:

Về chính trị :  hắn muốn thôn tính Âu Lạc, thực hiện đúng nghĩa vụ của người con với vua cha.

Về tình yêu:  hắn có tình yêu và hạnh phúc với Mị Châu.

Vì thế, Trọng Thủy, d­ưới con mắt của dân gian là tên gián điệp đội lốt con rể, là rể phản bội, là chồng lừa dối, là kẻ thù của Âu lạc. Dù hắn có thành công thì hắn cũng phải tự tìm đến cái chết vì sự ân hận, vì không cứu được Mị Châu, không giữ được tình yêu và hạnh phúc cho mình.

Cái chết của Trọng Thủy  thể hiện sự  đền tội và thể hiện sự ân hận, sự đau khổ và bế tắc bởi mẫu thuẫn giữa quyền lực và tình yêu, giữa nghĩa vụ công dân với tình yêu cá nhân. Là bi kịch của một nạn nhân trước một âm mưu xâm lược. Do vậy, đối với nhân dân, Trọng Thủy đáng căm giận nhưng cũng có phần xót xa. Cho nên dân gian sáng tạo chi tiết để Trọng Thủy tự vẫn do thương nhớ Mị Châu là hoàn toàn hợp lí.

Nội dung tích hợp : Môn Giáo dục công dân lớp 10, Bài 12 : Công dân với tình yêu, hôn nhân và gia đình chỉ rõ quan niệm về tình yêu chân chính như sau :

– Tình yêu là sự rung cảm và quyến luyến sâu sắc giữa hai người khác giới.Ở họ có sự phù hợp về nhiều mặt. Họ có nhu cầu gần gũi, gắn bó với nhau, tự nguyện sống và dâng hiến cho nhau cuộc sống.

– Tình yêu chân chính là tình yêu trong sáng và lành mạnh, phù hợp với các quan niệm đạo đức của xã hội. Đặc điểm của tình yêu chân chính :

+ Có tình cảm chân thực, sự quyến luyến, gắn bó giữa hai người nam và nữ.

+ Có sự quan tâm sâu sắc đến nhau, không vụ lợi

+ Có sự chân thành, tin cậy và tôn trọng từ hai phía

+ Có lòng vị tha và sự thông cảm.

Trọng Thủy có tình yêu với Mị Châu nhưng len lỏi vào tình yêu ấy là sự vụ lợi, sự dối lừa nên đó không phải là tình yêu chân chính. Bi kịch của Trọng Thủy và cách giải quyết của dân gian hoàn toàn hợp lí.

  1. GV hướng dẫn HS hoạt động tìm hiểu đặc sắc về nghệ thuật của tác phẩm

GV sử dụng kĩ thuật ra câu hỏi, kĩ thuật động não và kĩ thuật trình bày 1 phút.

GV ra câu hỏi, yêu cầu HS động não và trình bày 1 phút.

Câu hỏi : Từ sự phân tích trên hãy cho biết đâu là cốt lõi lịch sử của truyện ? Cốt lõi lịch sử đó đã được nhân dân thần kì hoá nh­ư thế nào? (Câu hỏi 5 sgk Ngữ văn 10, tập1)

GV gọi 2 HS phát biểu ý kiến. HS khác bổ sung. Sau đó GV nhận xét và định hướng các ý cơ bản sau:

Phạm Văn Đồng nói: ”Truyền thuyết của ta đều bắt nguồn từ cái lõi của sự thật lịch sử. Nhân dân qua các thời đại đã gửi gắm vào đó tâm hồn thiết tha của mình cùng với thơ và mộng”.

–  Cái lõi lịch sử của truyền thuyết này là:

+ An Dương Vương xây thành, chế nỏ, bảo vệ đất n­ước.

+ An Dương Vương để mất n­ước.

Nội dung tích hợp : Kiến thức lịch sử (Tìm kiếm trên mạng internet)

Vua An Dương Vương – Nước Âu Lạc ( 257 – 207 TCN)

Thục Phán chiếm Văn Lang khoảng năm 258 TCN, tự xưng là vua, hiệu là An Dương Vương, đặt tên nước là Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê, thuộc tỉnh Phúc Yên bây giờ, An Dương Vương cho xây thành Cổ Loa rất kiên cố. Thành cao và rộng, hình xoáy như trôn ốc, nên gọi là Loa thành.

Lúc bấy giờ, ở bên Tàu, vua nhà Tần là Tần Thủy Hoàng vừa thống nhất thiên hạ, liền sai tướng Đồ Thư đem binh sang đánh Âu Lạc. Quân Âu Lạc rút vào rừng rậm, dùng lối du kích chống cự với quân Tần dằng dai đến 10 năm. Sau cùng, Đồ Thư bị giết, quân Tần tổn thất nặng phải rút lui.

Ít lâu sau, tướng Triệu Đà từ quận Nam Hải (Quảng đông ngày nay) kéo quân sang đánh An Dương Vương. Sau nhiều phen thất bại, Triệu Đà lập kế xin giảng hòa rồi thình lình đến đánh dữ dội. An Dương Vương thua chạy rồi tự tử. Nước ta thuộc nhà Triệu.

– Từ cái lõi ấy nhân dân ta đã thần kì hoá gửi vào đó tâm hồn thiết tha của mình qua hình ảnh Rùa vàng,  bi tình sử Mị Châu – Trọng Thủy  và hình ảnh ”Ngọc trai – giếng n­ước ”. Chi tiết về Rùa vàng, chi tiết về sự hóa thân của Mị Châu, chi tiết « ngọc trai – giếng n­ước » chỉ là trí tưởng t­ượng của dân gian làm tăng thêm mối quan hệ với cốt lõi lịch sử nhằm mục đích :

+ Tạo sự hấp dẫn cho tác phẩm.

+ Lí tưởng hoá việc xây thành. Ca ngợi đề cao vua An Dương Vương (anh minh, sáng suốt, tài năng, đức độ, được lòng dân, trọng người tài). Đề cao sức mạnh trí tuệ, khả năng của nhân dân Âu Lạc ( Đủ mạnh để trụ vững ở đồng bằng).

+ Giải thích nguyên nhân mất nước nhằm xoa dịu nỗi đau mất nước (Mất nước do kẻ thù dùng thủ đoạn hèn hạ, lừa gạt chứ không phải vì ta yếu kém)

+ Thể hiện lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc của nhân dân ta.

GV hướng dẫn học sinh tổng kết nội dung bài học :

III. Tổng kết.

Nội dung tích hợp :

+ Môn GDCD 10, Bài 11+12: Công dân với sự nghiệp bảo vệ Tổ Quốc.

+ Môn GDCD 12 Bài 2: Thực hiện pháp luật

+ Môn Giáo dục quốc phòng an ninh Bài 9: Trách nhiệm của học sinh với nhiệm vụ bảo vệ an ninh Tổ Quốc.

+ Môn Hoạt động ngoài giờ lên lớp, lớp 10 : Chủ đề tháng 10 Trách nhiệm của học sinh với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc.

Qua các bài học ấy học sinh nhận thức rõ trách nhiệm của thanh niên học sinh là :

– Trung thành với Tổ quốc với chế độ xã hội chủ nghĩa. Cảnh giác trước mọi âm mưu chia rẽ, xuyên tạc của thế lực thù địch; phê phán, đấu tranh với những thái độ, việc làm gây tổn hại đến an ninh quốc gia, xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

– Tích cực học tập, rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh, bảo vệ sức khỏe.

– Có tinh thần trách nhiệm, nghĩa vụ với cộng đồng, đặt quyền lợi của Tổ Quốc  trên hết,  tham gia đăng ký nghĩa vụ quân sự khi đến tuổi; sẵn sàng lên đường làm nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc.

– Tích cực tham gia các hoạt động an ninh, quốc phòng ở địa phương; hoạt động đền ơn đáp nghĩa do nhà trường, địa phương tổ chức.

– Vận động bạn bè người thân thực hiện tốt nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc.

– Lưu ý: bài học lịch sử đó cần được đặt trong bối cảnh hiện tại : nhân dân ta vừa cần hội nhập với thế giới, vừa phải giữ vững an ninh, chủ quyền đất nước.

Có thể sử dụng sơ đồ tư duy như sau để tóm tắt nội dung bài học:

GV hướng dẫn học sinh hoạt động luyện tập

IV/ Luyện tập 

  1. BT1 (SGK): GV hướng dẫn HS Phát biểu – tranh luận.

– Có thể có ý kiến đồng tình với một trong hai quan điểm.

– Có thể có ý kiến không đồng tình với cả hai quan điểm.

– GV định hướng: Nội dung của hai câu (a) và (b) thật ra đều nêu lên những cách đánh giá phiến diện, hời hợt về nhân vật. Mỗi câu (a) hay (b) đều chỉ đúng một phần.

– Cần tìm ra lời giải đáp toàn diện, sâu sắc cả lí lẫn tình, một lời giải đáp phù hợp với chân lí (đạo lí của dân tộc, đạo lí của con người).

– Cần nêu quan điểm kèm theo lập luân, giải thích là một đòi hỏi có ý nghĩa rèn luyện cho HS cách tư duy, nhìn nhận sự việc và trình bày quan điểm cá nhân về sự việc.

  1. BT2 (SGK): GV hướng dẫn HS Phát biểu – tranh luận.

An Dương Vương tự tay chém con gái của mình nhưng dân gian lại dựng đền và am thờ hai cha con ở cạnh nhau. Cách xử lí này phù hợp với đạo lí truyền thống dân tộc ta. Đó là sự bao dung đối với người đã trót có thời lầm lỡ gây tai họa cho nhân dân, nhưng về sau đã biết hối hận và chịu hình phạt đích đáng. Lúc sống, đứng trước trách nhiệm với dân, với nước, người cha đã phải tự tay trừng trị con gái mình, thì ở kiếp sau nên để cha con nhà vua đoàn tụ bên nhau, sớm tối có nhau.

 

3.BT3 : Tìm một số tác phẩm nghệ thuật: thơ, ca, nhạc, họa, kịch… về An Dương Vương, Mị Châu, Trọng Thủy và nêu lên sức sống lâu bền của Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy

Trên cơ sở học sinh đã chuẩn bị ở nhà, GV gọi HS trình bày (ưu tiên cho em có phần trình chiếu.) GV cung cấp thêm ngữ liệu tham khảo :

– Thơ Tản Đà:

Một đôi kẻ Việt người Tần
Nửa phần ân ái nửa phần oán thương.
Vuốt rùa chàng đổi máy
Lông ngỗng thiếp đưa đường.
Thề nguyền phu phụ
Lòng nhi nữ
Việc quân vương

Duyên nọ tình kia dở dở dang
Nệm gấm vó câu
Trăm năm giọt lệ
Ngọc trai nước giếng
Ngàn thu khói nhang.

– Thơ Dương Bá Trạc (1884-1944)

Thân gia đâu mới kẻ thù gia, 
Chồng nào thương vợ, con lìa cha.
Giặc ngồi sau lưng nói chi nữa,
Nước ôi! Nhà ôi! biển Đại Nha.

– Thơ           Á Nam Trần Tuấn Khải  – Cổ Loa hoài cảm       

Thành quách còn mang tiếng Cổ Loa
Trải bao gió táp với mưa sa
Nỏ thiêng hờ hững giây oan buộc,
Giếng ngọc vơi đầy giọt lệ pha        

– Thơ Tố Hữu

Tôi kể ngày xưa chuyện Mị Châu

Trái tim lầm chỗ để trên đầu

Nỏ thần vô ý trao tay giặc

Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu

– Soạn giả Viễn Châu viết 6 câu vọng cổ ( trích bản vắn Trăng Thu Dạ Khúc):

Hỡi bao oan nghiệt chất chồng từ đây bao trái ngang,

Non sông điêu tàn,

Ngấn lệ tuôn tràn,

Vì yêu con đánh mất giang san,

Để cha rớt lệ cầm gươm giết con,

Đoạn lìa tình thâm,

Cốt nhục chia lìa,

Gió lên tống biệt linh hồn Mỵ Châu sang bến mơ.

– Tuồng cải lương “Chiếc áo thiên nga” .

– Vở kịch nói “Nỏ Thần” .

– Trình chiếu một số tranh ( nguồn internet)

II.3. KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CỦA ĐỀ TÀI:

* Đề tài có thể ứng dụng ở các nhà trường trong các giờ dạy học bài đọc văn.

II.4. KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM:

Người viết đã thử nghiệm kết quả tại các giờ học của học sinh, tại trường THPT Khoái Châu, đối tượng học sinh lớp 10, các lớp 10A1, 10A2, 10A10 năm học 2015 – 2016

Sau đây là một vài minh chứng

Phần chuẩn bị bài của một số em tiêu biểu:

– Sơ đồ nội dung phần tiểu dẫnPhần giới thiệu về di tích lịch sử Cổ Loa của nhóm học sinh lớp 10A1 gồm 5 slide sau:

Phần tóm tắt tác phẩm của học sinh:

Tóm tắt bằng lời văn:

Tóm tắt bằng sơ đồ:

 

 Phần giới thiệu về một số tác phẩm nghệ thuật về đề tài An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy của một nhóm HS trình chiếu trên PowerPoint như sau:

 Phần liên hệ với các môn học khác để rút ra bài học về ý thức trách nhiệm của thanh niên với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc .

Ví dụ: Phần trình bày trên máy chiếu của 1 HS như sau:

Trong giờ học giáo viên chia các nhóm học sinh cho các em thảo luận về nội dung bài học.

Kết quả thảo luận của các nhóm HS tiết 1 như sau:

Nội dung thảo luận trong tiết 2:

Sản phẩm thảo luận của các nhóm HS trong tiết 2:

II.5 . LỢI ÍCH VÀ HIỆU QUẢ :

– Học sinh có hứng thú hơn trong giờ học văn, giờ học sôi nổi hơn, học sinh chủ động tham gia hoạt động học tập hơn.

– Hiệu quả học tập của học sinh cao hơn. Học sinh được rèn luyện nhiều kĩ năng, phát triển các năng lực chung và năng lực chuyên biệt.

– Học sinh được bồi dưỡng lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc. Và đặc biệt là bài học về tinh thần cảnh giác với kẻ thù; nhận thấy rõ ý thức trách nhiệm trong việc giữ bí mật quốc gia, giải quyết về mối quan hệ riêng – chung và xây dựng tình yêu chân chính.

– Nếu được hỗ trợ của các phương tiện máy chiếu thì hiệu quả dạy học càng cao hơn.

 

II.6. KẾT QUẢ THỰC HIỆN – BÀI HỌC TỔNG KẾT.

II.6.1 . KẾT QUẢ THỰC HIỆN:

Qua quá trình dạy học, với việc sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học hiện đại hướng dẫn học sinh tham gia vào các hoạt động học nhằm nâng cao các năng lực của học sinh, đem các tác phẩm văn học dân gian lại gần cuộc sống hơn, tôi thấy kết quả giảng dạy có sự khác biệt rõ rệt. Học sinh nắm được các nội dung cơ bản trong bài học nhanh hơn, kiến thức nhớ được có tính hệ thống. Từ đó khả năng ứng dựng vào những vấn đề của thực tiễn. Đặc biệt là, qua hoạt động tìm hiểu về truyền thuyết trong mối quan hệ với văn hóa, lịch sử và trong sự liên quan tới các môn học khác, sinh  hứng thú hơn đối với giờ học văn, có ý thức cao hơn về vai trò của cá nhân đối với cuộc sống của chính mình và của cộng đồng.Tôi đã khảo sát và so sánh kết quả học tập bộ môn của học sinh một số lớp mà tôi áp dụng phương pháp đã trình bày trong đề tài này. Kết quả thống kê như sau:

  • Đối tượng khảo sát:

+ Học sinh lớp 10 A1 và 10 A2.

+ Số lượng học sinh 2 lớp là 91 em.

+ Học chương trình cơ bản

+ Điều kiện học tập như nhau.

+ Nội dung học tập giống nhau

  • Hình thức và nội dung khảo sát:

+ Kiểm tra việc chuẩn bị bài trên phiếu học tập và bài tập gửi qua gmail.

+ Đánh giá kết quả tham gia vào hoạt động trên lớp trong 2 giờ học bài “Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy”.

  • Kết quả khảo sát

Về việc soạn bài:

+ Có 0/91 em chưa soạn bài.

+ Có 91/91 em đã soạn bài theo phiếu học tập giáo viên phát cho các em. (100%)

Trong đó có 28/91 em có phần chuẩn bị trên máy tính và gửi đến cho cô giáo qua hộp thư điện tử.

Có nhiều bài chuẩn bị công phu, tìm hiểu kiến thức qua các môn học, qua mạng internet…

– Trong giờ học:

+ Giáo viên yêu cầu học sinh tóm tắt đoạn trích: Nhiều học sinh xung phong trình bày. Có nhiều em tóm tắt bằng sơ đồ ngắn gọn và đẹp mắt.

+ Quan sát lớp học, giáo viên thấy nhìn chung học sinh đã tham gia vào các hoạt động học, lớp học soi nổi, nhiều em còn có tâm lí ganh đua với nhóm bạn để tranh phần trình bày, các học sinh nghe trình bày thì thích thú, cổ vũ, hoặc xung phong bổ sung ý kiến. Nhiều học sinh thể hiện sự tự tin, sự sáng tạo, khả năng giao tiếp, giải quyết vấn đề tốt.

 

  • Nhận xét:

Qua giờ học Đọc văn: Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy , với việc sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học hiện đại hướng dẫn học sinh tham gia vào các hoạt động học nhằm nâng cao các năng lực của học sinh, đem các tác phẩm văn học dân gian lại gần cuộc sống hơn, nhằm giáo dục ý thức trách nhiệm của công dân với sựu nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc, tôi thấy kết quả giảng dạy có sự khác biệt rõ rệt, học sinh được kích thích khả năng tư duy, quá trình sáng tạo và hứng thú học tập ở học sinh. Học sinh mất dần biểu hiện thụ động trong việc tiếp thu bài giảng. Các em tham gia vào quá trình học tích cực hơn, chủ động hơn và hiệu quả hơn, biết cách ứng dụng vào những vấn đề khác trong cuộc sống.

 

II.6.2.  BÀI HỌC TỔNG KẾT, KINH NGHIỆM RÚT RA.

– Sáng kiến kinh nghiệm đã đề cập và tìm hiểu một vấn đề quan trọng thiết thực đối với công việc giảng dạy bộ môn Ngữ văn của giáo viên và đối với việc học đọc văn của học sinh trường THPT .

– Giáo dục nghĩa vụ công dân với sự nghiệp bảo vệ Tổ Quốc qua các giờ học là việc làm quan trọng và không khó thực hiện. Ứng dụng các phương pháp dạy học hiện đại và dạy học tích hợp với kiến thức của các môn học khác trong giảng dạy nói chung là một phuơng pháp khoa học, có hiệu quả cao trong việc giáo dục nghĩa vụ công dân, nâng cao năng lực và các kĩ năng sống cho người học.

– Kinh nghiệm này giúp cho giáo viên tổ chức các hoạt động cho học sinh, giúp học sinh có hứng thú hơn trong quá trình học tập. Các em sẽ cảm thấy tự tin hơn, mạnh dạn hơn, thích trình bày ý tưởng của mình hơn.

– Từ việc tìm hiểu kiến thức sách giáo khoa phổ thông, các em học sinh có thể ứng dụng linh hoạt các kiến thức vào trong cuộc sống của cá nhân và của cộng đồng.

PHẦN KẾT LUẬN

NHẬN ĐỊNH CHUNG

Với dung lượng một đề tài nhỏ: Giáo dục nghĩa vụ công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc qua tác phẩm Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy, có đối tượng nghiên cứu và mục đích cụ thể nhằm phục vụ cho công tác giảng dạy môn Ngữ văn của mình ở trường phổ thông, người viết nghĩ rằng phương pháp này có tính thực tiễn cao, rất dễ sử dụng, có thể áp dụng rộng rãi trong các giờ học đọc văn cho nhiều đối tượng khác nhau. So với phương pháp dạy học truyền thống (chủ yếu cung cấp kiến thức cho học sinh về tác phẩm được học) thì phương pháp này có ưu điêm bật trội là:

+ Người học có hứng thú với giờ học, chủ động tham gia vào các hoạt động

+ Nắm bắt kiến thức nhanh hơn.

+ Hiểu bản chất vấn đề kỹ hơn, khái quát hơn, có chiều sâu hơn.

+ Phát triển các năng lực và kĩ năng của người học và ứng dụng đạt hiệu quả cao hơn.

+ Đặc biệt là học sinh thấy các tác phẩm văn học gần gũi hơn với cuộc sống và có ích cho bản thân mình cũng như cộng đồng.

 

ĐIỀU KIỆN ĐỂ ÁP DỤNG KINH NGHIỆM:

 

– Kinh nghiệm này có thể áp dụng rộng rãi trong giờ dạy học dạy học ngữ văn có nội dung liên quan đến đề tài.

– Đối với giáo viên lên lớp cần thiết kế bài học cho phù hợp với từng dạng bài, và từng đối tượng học sinh. Đặc biệt là phải chuẩn bị hệ thống câu hỏi chu đáo đối với từng bài để hướng dẫn học sinh các hoạt động có hiệu quả nhất. Giáo viên có ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học là tốt nhất.

– Đối với học sinh cần tích cực, chủ động học tập theo sự hướng dẫn của giáo viên.

III  NHỮNG ĐỀ XUẤT CỦA NGƯỜI VIẾT:

 

Để chất lượng dạy và học trong nhà trường ngày càng nâng cao theo hướng hiện đại hoá tổ bộ môn, nhóm chuyên môn trong các nhà trường nên giao cho mỗi giáo viên nghiên cứu phương pháp giảng dạy một phần, một nhóm bài nào đó. Sau đó tổng kết, rút kinh nghiệm và áp dụng vào thực tiễn giảng dạy cho từng lớp đối tượng.

 

Đối với sĩ số một số lớp học còn đông. Đề nghị giảm, mỗi lớp có khoảng 25 -> 30 em để giáo viên có thể chia nhóm học có hiệu quả.

 

LỜI KẾT

Bài viết này được người viết đúc rút từ quá trình giảng dạy môn Ngữ văn của bản thân ở phạm vi trường THPT Khoái Châu trong một vài năm gần đây, chắc chắn rằng sẽ khó tránh khỏi những thiếu sót. Bởi vậy, người viết rất mong nhận được sự đóng góp của các đồng nghiệp để đề tài nghiên cứu này được hoàn thiện hơn.

Tôi xin chân thành cám ơn!

Tôi xin cam đoan đây là SKKN của bản thân tôi viết, không sao chép nội dung của người khác.

 

                                                                        Người viết : Đỗ Thị Minh Hiếu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bài tập ngữ văn lớp 10 tập 1 NXB giáo dục
2 Bài tập ngữ văn lớp 10 tập 2 NXB giáo dục
3 Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10 tập 1 NXB giáo dục
4 Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10 tập 2 NXB giáo dục
5 Sách giáo viên  Ngữ văn lớp 10 tập 1. NXB giáo dục
6 Sách giáo viên  Ngữ văn lớp 10 tập 2. NXB giáo dục
7 Sách giáo khoa Giáo dục công dân lớp 10 NXB giáo dục
8 Sách giáo khoa Giáo dục công dân lớp 12 NXB giáo dục
9 Sách giáo khoa Lịch sử lớp 6 NXB giáo dục
10 Sách giáo khoa Lịch sử lớp 10 NXB giáo dục
11 Sách giáo khoa Giáo dục Quốc phòng an ninh lớp 12 NXB giáo dục
12 Đại từ điển tiếng Việt. NXB Văn hóa – thông tin Hà  Nội, 1999.
13 Tập huấn về PP và KT dạy học tích cực. Bộ GD& ĐT
14 Tài liệu tập huấn dạy học tích hợp ở trung học cơ sở và trung học phổ thông Bộ GD&ĐT

NXB Đại học sư phạm

15 Dạy và học tích cực – Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học Bộ GD&ĐT. Dự án Việt – Bỉ

NXB Đại học sư phạm

16 Luật Giáo dục năm 2005 NXB Văn hóa – thông tin Hà  Nội
17 Giáo dục kĩ năng sống trong hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trường THPT Bộ GD&ĐT

NXB Giáo dục Việt Nam

 

 

 

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT.

 

TT Từ viết tắt Từ được viết tắt Ghi chú
1 GV Giáo viên.  
2 HS Học sinh  
3 BT Bài tập  
4 TP Tác phẩm  
5 PPDH Phương pháp dạy học  
6 KTDH Kĩ thuật dạy học  
7 PTNL Phát triển năng lực  
8 KNS Kĩ năng sống  
9 ADV An Dương Vương Trên slide
10 MC Mị Châu Trên slide
11 TT Trọng Thủy Trên slide
12 THPT Trung học phổ thông.  
13 SGK Sách giáo khoa.  
14 GQVĐ Giải quyết vấn đề  
15 CH Câu hỏi  
16 VB Văn bản  

 Xem thêm :

Tuyển tập đề thi về Truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy

Sáng kiến kinh nghiệm môn Văn

Đề thi bán kì 1 ngữ văn 10 có ma trận đáp án

 

  ĐỀ THI BÁN KỲ I  MÔN NGỮ VĂN 10

                                         Thời gian: 90′

 

I.MỤC TIÊU ĐỀ KIỂM TRA:

– Đánh giá chất lượng giữa kỳ, thu thập thông tin để đánh giá mức độ đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng trong chương trình học  môn Ngữ văn học kỳ I

– Kiểm tra, đánh giá năng lực tiếp thu kiến thức của học sinh qua ba mức độ: biết, hiểu, vận dụng, trong đó chú trọng kiểm tra, đánh giá năng lực đọc – hiểu và tạo lập văn bản của học sinh thông qua hình thức kiểm tra tự luận.

  1. HÌNH THỨC KIỂM TRA: Tự luận

III. THIẾT LẬP MA TRẬN:

MA TRẬN ĐỀ THI BÁN KỲ I

MÔN NGỮ VĂN 10

 

          Mức độ 

Chủ đề

Nhận biết  Thông hiểu  Vận dụng   Cộng
Vận dụng thấp Vận dụng cao
I. Đọc hiểu 

 

 

 

 

 

 

 

 

 
Số câu:

Số điểm:

Tỉ lệ: %

 
II. Làm văn

Kiểu bài tự sự

(Kể chuyện sáng tạo)

Nhân vật, chi tiết, sự việc trong văn bản truyện Tấm Cám

 

 

 

 

 

10%

 

Kiểu bài văn tự sự . Phân biệt được kiểu văn bản miêu tả và tự sự..

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Lựa chọn phương pháp lập luận phù hợp với kiểu bài văn tự sự…

Vận dụng kiến thức trong văn bản truyện Tấm Cámđể làm

 

 

 

 

 

 

20%

 

Biết sử dụng chất liệu trong những văn bản văn học để làm bài văn tự sự

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Kĩ năng: Nắm

vững phương pháp làm bài nghị luận văn học kết hợp với phương pháp văn tự sự và biểu cảm trong bài viết. Tích hợp kiến thức đã học để viết bài văn tự sự theo cốt truyện đã có hoặc tự xây dựng kết hợp với miêu tả, biểu cảm.Biết điều chỉnh dung lượng của bài viết.

  

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1 câu

30%

Số câu: Số điểm:

Tỉ lệ: 100%

 0,5đ

5%

 0,5đ

5%

 

30%              

 

30%

1 câu7 đ

70%

Tổng cộngSố câu:

Số điểm:

Tỉ lệ:

  

1,5đ

  

0,5đ      

  

  

 

 2

10

100%

                    

BIÊN SOẠN CÂU HỎI THEO MA TRẬN

 ĐỀ THI BÁN KỲ I MÔN NGỮ VĂN 10

Thời gian: 90′

(Không kể thời gian giao đề)

Phần I: Đọc hiểu (3đ)

Đọc và trả lời những câu hỏi sau:

Dịu dàng là thế Tấm ơi

Mà sao em phải thiệt thòi, vì sao?

Phận nghèo hôm sớm dãi dầu

Hoá bao nhiêu kiếp, ngọt ngào, đa đoan.

người ngoan ở với người gian

Dẫu hiền như Bụt cũng tan nát lòng

Tin em, em cướp mất chồng

Đành làm quả thị thơm cùng nước non…

(trích Lời của Tấm- Ánh Tuyết)

  1. Những chi tiết nào nói về “phận nghèo” “thiệt thòi” của nhân vật Tấm trong truyện Tấm cám?
  2. Trong truyện Tấm Cám, Tấm đã “hoá bao nhiêu kiếp”? Đó là những kiếp nào?
  3. Sự hoá kiếp của Tấm, sự xuất hiện của nhân vật ông Bụt cho thấy truyện Tấm Cám thuộc loại nào?
  4. Liệt kê nhân vật “người ngoan” và “người gian” trong truyện Tấm Cám
  5. Giá trị tư tưởng của truyện cổ tích Tấm Cám là…

(Viết không quá 5 câu để cụ thể hoá tư tưởng ấy)

Phần II: Làm văn (7đ)

Sau khi tự tử ở giếng Loa Thành, xuống thuỷ cung, Trọng Thuỷ đã tìm gặp Mị Châu. Những sự việc gì đã xảy ra? Hãy kể lại câu chuyện đó

 

————————————–Hết———————————–

XÂY DỰNG HƯỚNG DẪN CHẤM VÀ THANG ĐIỂM

 Hướng dẫn chung:

– Giám khảo cần nắm vững yêu cầu của hướng dẫn chấm để đánh giá tổng quát bài làm của thí sinh, tránh cách chấm đếm ý cho điểm.

– Do đặc trưng của môn Ngữ văn nên giám khảo cần linh động trong việc vận dụng đáp án và thang điểm; khuyến khích những bài viết có cảm xúc và sáng tạo.

– Việc chi tiết hóa điểm số của các ý (nếu có) phải đảm bảo không sai lệch với tổng điểm của mỗi ý và được thống nhất trong tổ chấm

– Sau khi cộng điểm toàn bài, làm tròn đến 0,5 (lẻ 0,25 làm tròn thành 0,5; lẻ 0,75 làm tròn thành 1,0 điểm).

II. Đáp án và thang điểm

Đáp án Điểm
  

 

 

 

 

Phần I

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phần II

1. – Bố mất sớm, phải ở với dì ghẻ và Cám- Làm lụng từ sáng đến tối không hết việc

– Bị mẹ con cám áp bức

2. Tấm hoá 4 kiếp: Vàng anh, Xoan đào, Khung cửi, Quả thị

3. Tấm Cám thuộc truyện cổ tích thần kỳ

4. – Người ngoan: Tấm

– Người gian: Dì ghẻ và Cám

5. – Thể hiện ước mơ cháy bỏng của nhân dân về sự chiến thắng tất yếu của cái thiện trước cái ác, về hạnh phúc gia đình, về lẽ công bằng trong xã hội, về năng lực phẩm chất tuyệt vời của con người.

– Nêu những tấm gương đạo đức nhằm giáo dục con người, đặc biệt là trẻ em: ở hiền gặp lành, ác giả ác báo, gieo gió gặp bão

 

0,5đ 

 

0,5đ

0,5đ

0,5đ

 

a. Yêu cầu về kỹ năng:– Biết cách làm bài văn tự sự . Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt rõ ràng; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.

– Bài văn có  đủ ba phần  có hình thức và nội dung

– Xây dựng luận điểm – luận cứ  – luận chứng rõ ràng

b. Yêu cầu về kiến thức:Thí sinh có thể đưa ra những ý kiến riêng và trình bày theo nhiều cách lí lẽ và dẫn chứng phải hợp lí, cần làm rõ được các ý chính sau:
A. Mở bài
– Sau khi an táng cho vợ, Trọng Thuỷ ngày đêm buồn rầu khổ não.
– Một hôm đang tắm, Trọng Thuỷ nhìn thấy bóng Mị Châu ở dưới nước bèn nhảy xuống giếng ôm nàng mà chết. 
0,5 đ
B. Thân bài:* Trọng Thuỷ lạc xuống Thuỷ cung.
– Vì trong lòng luôn ôm nỗi nhớ Mị Châu nên sau khi chết, linh hồn Trọng Thuỷ tự tìm đến thuỷ cung.
– Miêu tả cảnh cảnh ở dưới thuỷ cung (cung điện nguy nga lộng lẫy, người hầu đi lại rất dông…).
1,0 đ
* Trọng Thuỷ gặp lại Mị Châu.
– Đang ngơ ngác thì Trọng Thuỷ bị quân lính bắt vào đại điện.
– Trọng Thuỷ được đưa đến quỳ trước mặt một người mà lính hầu gọi là công chúa.
– Sau một hồi lục vấn, Trọng Thuỷ kể rõ mọi sự tình. Lúc ấy Mị Châu cũng rưng rưng nước mắt.
2,0 đ
* Mị Châu kể lại chuyện mình và trách Trọng Thuỷ.
– Mị Châu chết, được vua Thuỷ Tề nhận làm con nuôi.
– Mị châu cứng rắn nặng lời phê phán oán trách Trọng Thuỷ.
+ Trách chàng là người phản bội.
+ Trách chàng gieo bao đớn đau cho hai cha con nàng và đất nước.
– Mị Châu nhất quyết cự tuyệt Trọng Thuỷ rồi cả cung điện tự nhiên biến mất.
2,0 đ
* TrọngThuỷ còn lại một mình : Buồn rầu, khổ não, Trọng Thuỷ mong ước nước biển ngàn năm sẽ xoá sạch lầm lỗi của mình. 1,0 đ
C. Kết bài:Trọng Thuỷ hoá thành một bức tượng đá vĩnh viễn nằm lại dưới đáy đại dương. 0,5 đ
* Lưu ý: Người viết có thể vẫn dựa vào dàn ý nêu trên nhưng có thể chọn nội dung câu chuyện khác, ví dụ:
– Trọng Thuỷ và Mị Châu gặp gỡ nhau. Hai người tỏ ra ân hận. Nhưng rồi họ quyết định từ bỏ mọi chuyện ở dương gian để sống cuộc sống vợ chồng hạnh phúc nơi đáy nước.
– Mị Châu gặp Trọng Thuỷ. Nàng phân rõ lí tình về những chuyện lúc hai người còn sống. Hiểu lời vợ, Trọng Thuỷ tỏ ra ân hận, nhận tất cả lầm lỗi về mình. Hai người hứa hẹn sẽ làm những điều tốt đẹp để bù đắp những lầm lỗi trước đây.

* Lưu ý:

– HS có thể trình bày theo những kết cấu khác nhau và có những cảm nhận riêng của mình miễn là đáp ứng được yêu cầu đề.

–  Khuyến khích thêm điểm cho những bài là có năng lực cảm thụ văn chương, có sáng tạo.

BIỂU ĐIỂM:

– Điểm 9 – 10: Đáp ứng tốt các yêu cầu của đề, bố cục sáng rõ, văn viết mạch lạc, có cảm xúc, cảm nhận độc đáo, sâu sắc, sáng tạo.

– Điểm 7- 8: Đáp ứng khá tốt các yêu cầu của đề, bố cục hợp lí, cảm nhận khá nhưng lập luận chưa sắc sảo, có một số lỗi về diễn đạt

– Điểm 5- 6:  Đáp ứng ở mức trung bình các yêu cầu của đề.

Điểm 3 – 4: Hiểu đề chưa thấu đáo, bài làm còn chung chung, diễn đạt thiếu trôi chảy – Điểm 1- 2:  Chưa hiểu đề, bài làm hoặc quá sơ sài, hoặc lan man, kiến thức thiếu chắc chắn, diễn đạt hạn chế

– Điểm 0: Không làm bài, bỏ giấy trắng

Xem thêm : Tuyển tập đề thi ngữ văn 10

 

Đề thi Học sinh giỏi Ngữ Văn 10 về Nhân vật Mị Châu

Đề thi Ngữ Văn hay và khó về “Truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy”

Đề bài:

Cảm nhận về nhân vật Mị Châu trong truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thuỷ, có người khẳng định: “Phút sai lầm của một người, dân tộc phải trả giá bằng ngàn năm nô lệ. Tội đó của Mị Châu không thể dung tha”.

Lại có người viết:

Am Mị Châu thờ bức tượng không đầu

                   Cảnh báo một trái tim khờ dại.

                   Thử hỏi, nửa thế giới này đang tồn tại

                   Đã yêu rồi, ai không giống Mị Châu?

(Vô đề – Hạnh Mai, Tạp chí Người Hà Nội, số 115, 8- 2009)

Thông qua việc phân tích nhân vật Mị Châu, anh/chị hãy bình luận những ý kiến trên và đưa ra quan điểm của bản thân mình.

 

Hướng dẫn cách làm

Yêu cầu về kỹ năng

Hiểu đề, biết cách làm bài nghị luận văn học. Biết giải thích ý kiến, biết phân tích dẫn chứng để làm sáng tỏ nhận định. Bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ, hành văn trôi chảy, văn viết có cảm xúc. Không mắc các lỗi diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp, chính tả.

Yêu cầu về kiến thức

Giải thích ý kiến


Ý kiến thứ nhất nhấn mạnh vào hậu quả sự sai lầm của Mị Châu, từ đó đưa ra lời luận tội nghiêm khắc.

– Ý kiến thứ hai (phát biểu ở dạng tác phẩm thơ) thiên về tìm nguyên nhân của sự sai lầm,  đặt ra câu hỏi nhằm bênh vực Mị Châu, cho sự “khờ dại” đó là bản chất của tình yêu, bản chất của người phụ nữ khi yêu.

Mỗi ý kiến một quan điểm đánh giá khác nhau về nhân vật Mị Châu, kẻ kết tội, người bênh vực. Đó cũng là sự phong phú trong tiếp nhận văn học, sự hấp dẫn mà hình tượng văn học tạo ra.

Phân tích nhân vật Mị Châu, bình luận những ý kiến trên.

Phân tích nhân vật

Giới thiệu khái quát về nhân vật

– Sự sai lầm của Mị Châu:

+ Mị Châu không chỉ là một người dân của đất nước Âu Lạc mà còn là một nàng công chúa, có vai trò quan trọng đối với cả quốc gia, nhưng nàng đã ngây thơ không cảnh giác, coi bí mật quốc gia như tài sản riêng của gia đình. Nàng cho Trọng Thuỷ xem nỏ thần, lại còn giảng giải cho y cách sử dụng nỏ. Hành động đó đã vô tình tiếp tay cho kẻ thù có thêm cơ hội thôn tính nước Âu Lạc.

+ Khi chiến tranh xảy ra, Mị Châu vẫn rắc lông ngỗng dọc đường chạy loạn. Một lần nữa Mị Châu đã vô tình chỉ dẫn cho quân giặc chạy theo, đưa hai cha con đến chỗ cùng đường tuyệt lộ. Nàng chỉ kịp nhận ra sự thật đau lòng trước lúc rơi đầu.

– Nguyên nhân của sự sai lầm: sự thiếu cảnh giác của bản thân nàng.

– Hậu quả của sự sai lầm: Dân tộc rơi vào chiến tranh, loạn lạc, nước mất, nhà tan. Nàng chết dưới lưỡi kiếm oan nghiệt của cha.

– Thái độ của tác giả dân gian với sai lầm đó của Mị Châu:

+ Tác giả dân gian đã để thần Kim Quy hiện lên quát lớn “Kẻ nào ngồi sau ngựa chính là giặc đó”. Câu nói ấy cũng đồng thời là lời kết tội đanh thép của công lí, của nhân dân cho hành động vô tình mà phản quốc của Mị Châu. Đó cũng là bài học đắt giá về mối quan hệ giữa tình cảm cá nhân với trách nhiệm công dân.

+ Hình ảnh máu Mị Châu chảy xuống biển thành ngọc, xác của nàng biến thành ngọc thành là những yếu tố kì ảo, minh chứng cho tấm lòng trong trắng mà bị lừa dối của nàng. Hình ảnh đó phần nào thanh minh cho sự vô tình gây tội của Mị Châu và thể hiện thái độ cảm thông, thương xót, bao dung của nhân dân đối với nàng.

 

Bình luận hai ý kiến

– Ý kiến thứ nhất đúng khi luận tội Mị Châu với những hậu quả mà sai lầm của nàng đã gây ra. Ý kiến thứ hai tỏ ra có lý khi tìm nguyên nhân của sự sai lầm là do bản chất của trái tim yêu.

– Tuy nhiên, cần đặt tình yêu đôi lứa trong mối quan hệ với vận mệnh quốc gia, vận mệnh

cộng đồng, để thấy: Trong một đất nước nhiều giặc giã, luôn đứng trước nguy cơ của những cuộc xâm lược, một nàng công chúa chỉ biết lắng nghe tiếng nói của con tim, của tình yêu mà vô tình với sự sống còn của xã tắc chính là có tội.

– Ngay bản thân Mị Châu trước khi chết cũng nhận ra tội lớn của mình, nàng chỉ mong rửa tiếng “bất trung, bất hiếu” chứ không kêu oan, cũng không xin tha tội. Mị Châu được người Âu Lạc xưa và người Việt Nam đời đời thương xót chính là vì đã biết tội, dám nhận tội và cam lòng chịu tội.

Quan điểm của cá nhân

HS có thể nêu quan điểm riêng của bản thân mình theo nhiều cách khác nhau vẫn có thể được chấp nhận, miễn là có các lập luận và lí lẽ logic, thuyết phục.

(Tài liệu sưu tầm )

Xem thêm : Bộ đề ôn thi học sinh giỏi môn văn

Những đề thi về Truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy