Đề thi học sinh giỏi về Truyện Kiều- Nguyễn Du. đề 2

Bộ đề ôn luyện thi học sinh giỏi môn Văn lớp 11.

Có ý kiến cho rằng: Người nghệ sĩ chân chính là người suốt đời chỉ truyền bá một thứ tôn giáo: Tình yêu thương con người.

. Anh/Chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Qua các trích đoạn “Truyện Kiều” đã học trong chương trình Ngữ văn 10- THPT, anh/chị hãy làm sáng tỏ .

Đáp án :

Nhận thức đề

Đề bài yêu cầu làm rõ 2 nội dung:

– Hiểu đúng ý kiến: Người nghệ sĩ chân chính suốt đời chỉ viết về con người, ca tụng tình yêu thương con người.

– Phân tích tình yêu thương, sự đồng cảm của tác giả Nguyễn Du đối với các nhân vaath trong “Truyện Kiều”.(ý chính)

Yêu cầu kiến thức

Mở bài: nêu vấn đề 

Thân bài 

a) Giải thích nhận định (1,5 điểm)

+Người nghệ sĩ là cách gọi chung cho các nhà văn, nhà thơ…những người có đóng góp lớn lao cho nghệ thuật. (0,25 điểm)

+ Người nghệ sĩ chân chính: Những người mang lý tưởng tiến bộ của thời đại, đại diện cho lương tri của loài người, sẵn sàng đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác để bảo vệ công lí, lẽ phải, giàu tình yêu thương nhân ái, sẵn sàng xả thân cho cuộc đời và cho nghệ thuật. (0,5 điểm)

+ Sứ mệnh cao cả của người nghệ sĩ là khám phá cái đẹp của cuộc sống và chuyển tải đến người đọc thông qua tác phẩm văn học. Con người với tất cả niềm vui hạnh phúc, khát khao và nỗi buồn đau luôn trở thành nguồn cảm hứng dồi dào của văn học và là mối quan tâm hàng đầu của nhà văn. (0,5 điểm)

+Tác phẩm văn học chân chính là sản phẩm của nhà văn nhân đạo chủ nghĩa. Qua những cảnh ngộ, nhà văn muốn người đọc cùng chia sẻ và đồng cảm, bênh vực và ca tụng con người, ca ngợi tình người. Những tác phẩm như thế sẽ trường tồn và độc giả yêu thích. (0,25 điểm)

=> Ý kiến bàn về sứ mệnh của người nghệ sỹ, giá trị và chức năng của văn học nghệ thuật.

b) Bàn luận: Vì sao nhà văn chân chính lại lấy việc làm cho cuộc đời tốt đẹp hơn làm mục đích sáng tác? (2,5 điểm)

+ Vì Người nghệ sĩ chân chính  rất giàu tình yêu thương đối với cuộc đời. Họ luôn day dứt, trăn trở trước cuộc sống và con người. (họ là “người cho máu”, là “nhà nhân đạo từ trong cốt tuỷ”…) (0,5 điểm)

+ Vì họ hiểu rõ khả năng, sức mạnh to lớn của văn chương. Họ đã dùng văn chương như một công cụ đắc lực để thực hiện lí tưởng nghệ thuật của mình! Tác phẩm của họ dù viết theo đề tài nào cũng vẫn để bày tỏ “lòng thương và tình bác ái, để người gần người hơn”. (0,5 điểm)

+ Họ thực hiện chức năng giáo dục (truyền bá tình yêu thương con người) bằng cách nào? (1,5 điểm)

–  Ca ngợi, khẳng định những cái tốt đẹp của cuộc sống (những yêu thương, nhân ái, vị tha).

– Cảm thương, bênh vực những kiếp người đau khổ, bất hạnh.

– Đồng tình với những khát vọng chính đáng của con người.

-Lên án, tố cáo những cái xấu, cái ác…để bảo vệ con người khỏi những áp bức, bất công!

Phân tích biểu hiện của tình yêu thương trong các trích đoạn “Truyện Kiều”. (7 điểm)

 Khái quát :

– Văn học trung đại Việt nam từ cuối thế kỷ XIII- đầu thế kỷ XIX phát triển trong một giai đoạn lịch sử có nhiều biến cố “kinh thiên động địa” và những phen “thay đổi sơn hà”. Những biến cố xã hội đó đã có ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của nhân dân, và vấn đề con người trở thành mối quan tâm hàng đầu của các tác gia văn học.(0,5 điểm)

 Giới thiệu ngắn về tác giả, tác phẩm.

Nguyễn Du là một nhà thơ lớn của dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. “Truyện Kiều” của ông là đỉnh cao chói lọi và là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam.

Dù đã sống hơn 200 trăm năm, nhưng tác phẩm vẫn luôn mới mẻ trong lòng người đọc bởi tính nhân loại phổ quát. Đọc “Truyện Kiều” Ta  thấy cái tâm thể hiện rất rõ trên từng nét bút của tác giả – Một tình yêu thương con người vô tận theo cách của Nguyễn Du.(0,5 điểm)

Tình yêu thương con người thể hiện trong các trích đoạn “Truyện Kiều”:

  • “Truyện Kiều là tiếng nói ngợi ca những giá trị, phẩm chất tốt đẹp của con người: Ca ngợi tài sắc, hiếu nghĩa, bao dung của Thuý Kiều (Trao duyên); Sáng trong, thanh khiết (Nỗi thương mình). Ca ngợi lòng nhân hậu, đức hy sinh của Thúy Vân. Ca ngợi chí khí anh hùng của Từ Hải (Chí khí anh hùng)…(1,5 điểm)
  • Qua “Truyện Kiều”, Nguyễn Du cất tiếng khóc thương cho những cho những kiếp người đau khổ – Đặc biệt là những người tài hoa, bạc mệnh: Khóc cho tình yêu trong sáng, chân thành bị tan vỡ, khóc cho tình cốt nhục bị lìa tan (Trao duyên), khóc cho thân xác bị đày dọa hắt hủi (Nỗi thương mình)… Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Du đặt tên cho tác phẩm của mình là “Đoạn trường tân thanh”. (1,5 điểm)
  • “Truyện Kiều” là bài ca về tình yêu tự do và ước mơ công lý.

Nhà thơ đã vượt lên những quy tắc lễ giáo phong kiến để đồng cảm,nâng niu những biểu hiện tình yêu trong trong sáng, chân thành giữa Thúy Kiều với Kim Trọng. (Thề nguyền,Trao duyên, ).

Qua hình tượng Từ Hải, Nguyễn Du gửi gắm ước mơ làm chủ cuộc đời, trả ân báo oán công bằng (Chí khí anh hùng). (1,5 điểm)

  • “Truyện Kiều” là bản cáo trạng đanh thép tố cáo hiện thực đen tối của xã hội phong kiến đã vùi dập, đói xử bất công với con người.(1 điểm)

=>Nguyễn Du, nhà thơ thiên tài của dân tộc , người có“có con mắt trông thấu sáu cõi, có tấm lòng nghĩ đến muôn đời”thông qua số phận, và tính cách của nhân vật trung tâm –  Thúy Kiều đã biểu hiện trong áng thơ tuyệt tác “Đoạn trường tân thanh” cảm hứng nhân đạo sâu sắc, cao cả. (0,5 điểm)

 

3.Kết bài: ( 1 điểm)

Khẳng định lại vấn đề :

+Vai trò , thiên chức của người cầm bút.

+Tư tưởng nhân đạo là nội dung quan trọng, chủ đạo “Truyên Kiều” nói riêng và trong nhiều tác phẩm Văn học trung đại Việt Nam nói  chung.

Đề sưu tầm.

Xem thêm tuyển tập đề thi học sinh giỏi môn Văn :http://vanhay.edu.vn/hoc-sinh-gioi

Giáo án bài Trao Duyên- Trích Truyện Kiều- Nguyễn Du

Trọn bộ giáo án Ngữ văn lớp 10-11-12. Giáo án bài Trao Duyên Ngữ văn 10.

TRAO DUYÊN

(Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du)

I.Mục tiêu bài học :

+ Kiến thức:

Giúp học sinh:

– Hiểu được diễn biến tâm lí phức tạp của Kiều,qua đó hiểu được tình yêu sâu nặng,bi kịch và nỗi đau của Thúy Kiều trong đêm trao duyên.

– Nắm được nghệ thuật đặc sắc trong việc miêu tả tâm lí nhân vật và cách sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Du.

+ Kỹ năng

  • Rèn luyện và bồi dưỡng kĩ năng phân tích tâm trạng nhân vật trữ tình trong thơ trung đại.

+ Thái độ

– Thái độ yêu thích văn chương, yêu thích Truyện Kiều hơn.

II. Phương pháp và phương tiện thực hiện dạy học:

  1. Phương pháp

– Diễn giải, đọc hiểu, giảng bình

  1. Phương Tiện

– SGK Ngữ văn 10, cơ bản tập 2

– SGV Ngữ văn 10, cơ bản tập 2

III. Chuẩn bị

  1. Về phía giáo viên

– Sách giáo khoa, Sách giáo viên, Giáo án

  1. Về phía học sinh

– Sách giáo khoa, vở bài soạn

– Đọc văn bản

IV. Tiến trình dạy- học:

  1. Ổn định tổ chức lớp:
  2. Kiểm tra bài cũ: (4 phút)

Câu hỏi: Em hãy trình bày một số sáng tác chính trong sự nghiệp văn học của Nguyễn Du?

  1. Bài mới: (1 phút)

Ở tiết trước các em đã biết sơ qua về tác phẩm Truyện Kiều và toàn bộ tác phẩm là một bi kịch “Đây là một bi kịch nhỏ trong bi kịch lớn ấy”. Đêm cuối cùng Thúy Kiều đã quyết định bán mình chuộc cha nhưng trong lòng nàng vẫn canh cánh món nợ tình với Kim Trọng  và nàng đã quyết định trao duyên cho em gái là Thúy Vân. Như vậy, bi kịch đầu tiên mà nàng phải gánh chịu thể hiện rõ nhất trong đoạn trích trao duyên và cảnh trao duyên đã diễn ra như thế nào thì tiết học hôm nay cô trò chúng ta sẽ cùng đi tìm hiểu.

Thời gian Hoạt động của gv và hs Yêu cầu cần đạt
 

4 phút

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

5 phút

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

12 phút

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

12 phút

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

12 phút

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

15 phút

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

20 phút

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

GV yêu cầu học sinh đọc tiểu dẫn và tóm tắt diễn biến đoạn trước

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

GV đọc mẫu và hướng dẫn cách đọc sau đó gọi học sinh đọc diễn cảm đoạn trích. Gv nhận xét cách đọc của HS.

GV đặt câu hỏi: Em hãy cho biết vị trí,nội dung và thử chia bố cục của đoạn trích?

HS trả lời giáo viên nhận

xét và đúc kết

 

 

 

 

 

 

Hoạt động 1: Tìm hiểu đoạn trích.

-Thao tác 1: phần 1 đoạn trích

 

+ Đem tình yêu của mình trao cho người khác là một chuyện bất đắc dĩ, vì Kiều không thể nào làm khác hơn khi mình đã lỡ hẹn ước với chàng Kim. Vả lại, chuyện vợ chồng là chuyện hệ trọng của cả đời người. Trao duyên trong hoàn cảnh của Thúy Kiều là một chuyện khó nói và tế nhị, vì trước đó là Thúy Vân chưa biết gì về mối tình của chị mình và chàng Kim.

+ Kiều đã xử sự như thế nào,phải lựa chọn cách nói ra sao để e gái mình chấp nhận lời thỉnh cầu:

“ Cậy em,em có chịu lời,

Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”

* Em có suy nghĩ gì về hai câu đầu khi Kiều ngỏ lời như vậy?

* “Cậy” có nghĩa như thế nào? Tại sao không thay bằng những từ khác đồng nghĩa?

+ HS trả lời

 

 

 

 

 

* “Chịu lời” nghĩa là gì? Vì sao Kiều không nói là nhận lời?

– Gọi HS phát biểu.

 

 

–         Trong lúc bối rối, đau khổ nhất. Kiều đã dùng những lời lẽ để thuyết phục em. Vì điều nàng sắp nói là những việc hệ trọng, hạnh phúc cả đời của em mình.Kiều không chỉ lựa lời mà chỉ còn thông qua lời thoại:

“Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”

* Em có suy nghĩ gì về cử chỉ này qua lời thoại?

– HS trả lời

Trong lúc đau khổ, đắng đót nhất, Kiều vẫn lựa lời lẽ để thuyết phục em mình. Tại sao Kiều phải lạy em? Hành động đó có trái với đạo lý không?

Hs trả lời Gv nhận xét và đúc kết

Kiều lạy là lạy đức hy sinh cao cả của Thúy Vân, bởi rồi đây Thúy Vân phải chấp nhận lấy người mình không yêu; tình duyên ấy có thể đẹp với chị nhưng chắc gì đã đẹp với em. Vân có thể bị phật ý, thấy xấu hổ, thậm chí là cảm thấy bị xúc phạm, coi thường thì sao. Hiểu được hoàn cảnh khó xử, tế nhị của em nên Kiều phải khẩn khoản van nài.

* Ngoài những lời nói và cử chỉ trong hai câu đầu thì Thúy Kiều đã tâm sự những điều gì?

– Gọi HS trả lời.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

* Các em cho cô biết ở bốn câu này Thúy Kiều đã dùng những lời lẽ như thế nào để thuyết phục Thúy Vân?

– Gọi HS trả lời

* Trong bốn câu thơ này Nguyễn Du đã sử dụng những thành ngữ nào?

– HS đứng dậy phát biểu.

GV nhận xét thêm: qua cách nói, lập luận chặt chẽ, đạt tình đạt lý của Thúy Kiều, ta thấy nàng vẫn bình tĩnh, khôn ngoan ngay cả trong bi kịch lớn nhất của đời mình. Đồng thời, nàng luôn nghĩ cho người khác.

– Thông qua hình ảnh của Thúy Kiều, Nguyễn Du đã dùng những ngôn ngữ tinh hoa, là bậc thầy về sự kết tinh ngôn ngữ.

GV giải thích điển tích.

 

 

 

 

– Qua những lời trao duyên khó nói Thúy Kiều cũng trao cho Thúy Vân những kỷ vật, những kỷ vật mà chàng Kim và Thúy Kiều đã trao cho nhau làm hẹn ước, chứng minh cho mối tình sâu đậm của mình.

– Thao tác 3: Phần 2 đoạn trích.

* Qua phần 2 này em nào cho thầy biết là Thúy Kiều đã trao những kỷ vật nào cho Thúy Vân?

– GV gọi HS trả lời

– “Bức tờ mây” là tờ giấy trang trí hình mây, ghi lời thề chung thủy của Kim – Kiều.

– “Chiếc vành” còn gọi là xuyến bằng vàng, đồ trang sức của phụ nữ. Chàng Kim đã trao cho Kiều để làm tin.

– “Phím đàn”, Kiều đã nhớ lại cảnh đánh đàn cho Kim Trọng nghe trong đêm trăng thanh mà Kiều qua nhà chơi.

-“Mảnh hương nguyền”, ngày xưa khi thề nguyền người ta hay đốt lò hương lên.

 

* Em hiểu gì về sự mẫu thuẫn của Kiều trong câu “Duyên này thì giữ, vật này của chung” như thế nào?

– Chúng ta thấy ở đây, một tiếng “giữ” không phải là “trao” hẳn mà chỉ để cho em giữ. Nhưng tiếng chung mới thật xót xa. Bởi đáng lẽ kỷ vật này là của riêng nàng mới đúng, sao lại là của chung được, Kiều phải trả lại cho em. Thế mới biết tình yêu giữa Kim – Kiều sâu đậm như thế nào. Kiều vẫn trao duyên cho em nên chúng ta thấy khi tình yêu thăng hoa thì luôn muốn người mình yêu hạnh phúc, còn mình thì chịu những đau khổ.

– Trao kỷ vật, đó là mâu thuẫn giữa hoàn cảnh bắt buộc và nội tâm của Kiều. Điều đó khẳng định giữa tình cảm và lý trí, nhân cách và thân phận của Kiều. Do đó Kiều đã suy nghĩ đến cái chết trước mắt ( bi kịch 15 năm đã hứa hẹn).

* Kiều đã dự đoán số phận của mình như thế nào?

– Gv gọi HS trả lời

* Như vậy, sau khi trao kỷ vật, Kiều cảm thấy không còn cảm thấy thiết sống nữa, em nào có thể tìm những từ ngữ nói lên cái chết mà Kiều dự tính?

* Những từ ngữ đó có ý nghĩa gì trong đoạn thơ trên?

– HS trả lời

– Kiều hình dung ra viễn cảnh đối lập nhau. Một bên là cảnh sum họp giữa Thúy Vân và Kim Trọng, còn một bên là oan hồn bạc mệnh của nàng. Nhưng dù có chết thì mối tình giữa nàng và chàng Kim thì vẫn còn nặng.

– Đó cũng là cảm nhận của nàng, cảm nhận qua từng lời nói, là tiếng khóc của chính bản thân mình đã dự đoán được.

* Lúc đầu thì Kiều đã tâm sự với em, nhưng sau thì Kiều đã nói chuyện với ai?

– Trong lúc này thì sự bối rối, sự oan của mình làm cho Kiều không còn nghĩ tới mình đang nói chuyện của mình cho mình nghe. Độc thoại nội tâm của Kiều thể hiện rõ trong từng câu thơ.

– Thao tác 3: phần cuối đoạn trích.

* Vậy thì ở 8 câu cuối Thúy Kiều đã nhắn gửi những lời tha thiết đó với ai?

* Kiều thể hiện tâm trạng như thế nào khi nghĩ về Kim Trọng?

 

– HS trả lời

 

 

 

 

 

 

 

 

 

* Cách ngắt nhịp ở hai câu cuối này như thế nào? Em có suy nghĩ gì về cách ngắt nhịp đó?

– Từ đau khổ lời thơ trở thành tiếng khóc, lời thơ cứ tăng lên mãi, đau cho “tơ duyên ngắn ngủi”, đau cho “phận bạc”, đau cho một đời “hoa trôi lỡ làng” và cuối cùng tiếng khóc nức nở ấy tự cho mình là con người phục bạc người mình yêu.

 

HS trả lời GV nhận xét và diễn giảng thêm:

Thúy Kiều từ chỗ nhận mình là người mệnh bạc, giờ lại tự nhận là người phụ bạc chàng Kim

Cái lạy ở đây khác với cái lạy ở phần đầu. Kiều nhận tất cả lỗi về mình.

Gv: Em có nhận xét gì về hai câu thơ cuối?

HS trả lời GV nhận xét và đúc kết

Sự hiện hữu của tình yêu làm Kiều quên đi sự có mặt của em. Đang độc thoại, nàng quay sang đối thoại tưởng tượng với Kim Trọng, gọi tên chàng trong đớn đau đến mê sảng. Từ giọng đau đớn chuyển thành tiếng khóc, khóc cho mình, khóc cho mối tình đầu trong sáng, đẹp đẽ vừa mới chớm nỡ đã tan vỡ.

 Hoạt động 3: Tổng kết

–         Thao tác 1: Tổng kết về nội dung

·        Như vậy, ở toàn bộ đoạn trích này, Nguyễn Du đã tập trung khắc họa điều gì ở Kiều trong đêm trao duyên?

–         GV gọi HS trả lời

·        Qua đoạn trích, Nguyễn Du đã tạo nên giá trị văn học nào?

–         Thao tác 2: Tổng kết về nghệ thuật

·        Những thành công về nghệ thuật trong đoạn trích?

–         HS trả lời

 

I. Tiểu dẫn

Tóm tắt nội dung đoạn trước : Sau đêm thề nguyền giữa Kim Trọng và Thúy Kiều,Kim Trọng phải về hộ tang chú ở Liêu Dương.Tai nạn ập đến khi gia đình Kiều bị thằng bán tơ vu oan.Vương Ông và Vương Quan bị bắt,bị đánh đập tàn nhẫn,tài sản bị cướp hết.Kiều buộc phải bán mình chuộc cha và em.Đêm trước ngày phải theo Mã Giám Sinh,Thúy Kiều đã nhờ cậy Thúy Vân thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng.

 

 

II. Tìm hiểu chung:

– Đoạn trích nằm từ câu 723 – 756

-Nội dung : Đoạn trích miêu tả tình cảnh trớ trêu của Kiều khi phải trao duyên cho em.Đồng thời làm rõ diễn biến tâm trạng đau khổ tuyệt vọng của nàng khi tình yêu tan vỡ,mình buộc phải phụ tình với Kim Trọng.

-Bố cục : Ba phần :

+Phần 1 : 12 câu thơ đầu : Lời trao duyên của Thúy Kiều.

+Phần 2 : 14 câu thơ tiếp : Kiều trao kỉ vật và dặn dò thêm cho Thúy Vân.

+Phần 3 : 8 câu cuối : Kiều đối diện với thực tại và lời nhắn gửi cho Kim Trọng.

 

III. Đọc – Hiểu văn bản.

 

1. Kiều thuyết phục trao duyên cho Thúy Vân (12 câu đầu).

a. Hai câu đầu: Kiều mở lời đặt vấn đề

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– Những điều quan trọng, thiêng liêng.

à cậy, chịu, lạy, thưa.

–          “cậy” là giúp đỡ chứ không phải nhờ.

+ Thanh trắc à âm điệu nặng nề gợi sự quằn quại, đau đớn, khó nói > < nhờ

+ Hàm ý hi vọng tha thiết, có ý tựa nương, gửi gắm, vật nài, tin tưởng nơi quan hệ ruột thịt.

=>“cậy” là thể hiện niềm tin,chỉ có em là người tin cậy nhất. Vì thế, “cậy” có sức nặng của niềm tin hơn.

 

 

–         “Chịu lời” chứ không phải nhận lời”. Khi nói “nhận lời” là người khác có thể chối từ, còn khi nói “chịu lời” là bắt người mình tin phải nghe theo không thể chối từ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– “Ngồi lên – lạy- thưa”: là những thái độ của người bề trên hoặc với những người có ơn với mình.

– kiều lạy là lạy đức hy sinh cao cả của Thúy Vân, bởi rồi đây Thúy Vân phải chấp nhận cưới một người không yêu mình:

“Lấy người yêu chị làm chồng,

Đời em thể thoắt một vòng oan khiên”.

àHai câu đầu đoạn trích, ta nhận ra dù trong hoàn cảnh tan nát lòng thì Thúy Kiều vẫn dùng những lời lẽ đoan trang tế nhị.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

b. Sáu câu tiếp theo: Tâm sự với em về mối tình của mình.

Kiều nói đến mối tình của mình với chàng Kim.

+Hình ảnh “quạt ước”, “chén thề”, điệp từ “khi”: diễn tả tình yêu thắm thiết, sâu sắc. .

+”Đứt gánh tương tư”, “sóng gió bất kì”: mong manh, tan vỡ đột ngột, bất ngờ.

– Kiều xin em hãy chắp mối tơ thừa để trả nghĩa cho chàng Kim.

+Mối tơ thừa: cách nói nhún mình vì nàng hiểu sự thiệt thòi của em.

+Mặc em: phó mặc, ủy thác; vừa có ý mong muốn vừa có ý ép buộc Thúy Vân phải nhận lời.

 

]Giãi bày tâm sự, hoàn cảnh để Thúy Vân thấu cảm

 

c. Bốn câu tiếp theo: Thuyết phục Thúy Vân

+ Ngày xuân – còn trẻ

+ Tình máu mủ – vì chị em

+ Chín suối – lấy cái chết để làm tin

+ Thành ngữ “ngậm cười chín suối”, “thịt nát xương mòn” èThúy kiều sẽ vui vẻ khi chết đi nếu em nhận lời. Tăng tính thuyết phục.

 

 

 

 

 

 

 

èNgôn ngữ của Nguyễn Du ở đoạn này có sự kết hợp hài hòa những cách nói trang nhã, văn hoa thường thấy trong những sáng tác văn học thời trung đại (điển tích “keo loan”, “tơ duyên”) với cách nói giản dị của dân gian (“tình máu mủ”,”lời nước non”)

2. Thúy Kiều trao kỷ vật tình yêu.( 14 câu tiếp theo)

“Mất người còn chút của tin,

Rưới xin giọt nước cho người thác oan”

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

–         Kỷ vật tình yêu:

+ Chiếc vành, bức tờ mây: gợi tình cảm sâu nặng, lời thề ước thiêng liêng của Kim- Kiều.

+ Phím đàn, mảnh hương nguyền: trở thành ngày xưa, quá khứ.

èNhững kỷ vật quý giá, thiêng liêng minh chứng cho tình yêu đẹp đẽ.

 

 

 

–         Tâm trạng của Kiều chứa đầy mâu thuẫn giữa hành động và lời nói, lý trí và tình cảm.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

è Sự nuối tiếc về tình yêu, thể hiện rõ nét tình yêu tan vỡ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

–         Kiều tiên đoán trước cảnh tượng oan nghiệt, xót xa: “Người mệnh bạc”, người có số phận bạt bẽo, không may, không thoát ra được, như một định mệnh:

“ Rằng: hồng nhan tựa ngàn xưa,

Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu”

 

–         Từ ngữ thể hiện cái chết: “dạ đài”, “thác”, “hồn”, “nát thân bồ liễu”.

 

 

 

–         Tình yêu đã mất, Kiều xem như đã chết, cái chết trống trải khi không có tình yêu, đó là cái chết của tâm hồn.

–         Tiếng nói thương thân xót phận của một con người tha thiết với tình yêu.

–         Chuyển từ đối thoại với em sang đọc thoại nội tâm. Kiều trao kỷ vật mà lòng thổn thức, đau lòng. Kiều nói chuyện với em mà dường như đang nói chuyện với mình.

3. Lời từ giã, độc thoại với tình nhân.(8 câu cuối)

– Kiều chuyển sang nói với mình, nói với người yêu

– Ý thức về hiện tại: Bây giờ

+ “Trâm gãy bình tan”

+ “phận bạc như vôi”

+ “hoa trôi”; “nước chảy lỡ làng”

“Những thành ngữ chỉ sự tan vỡ, dở dang, bạc bẽo, trôi nổi của tình duyên và số phận con người thể hiện nỗi đau đớn, tuyệt vọng đến mê sảng của Kiều.

– Như lời cõi chết Kiều trở lại với thực tại dở dang, đỗ vỡ.

– Kiều nhận lỗi lầm về mình, tự cho mình là người phụ bạc. Đây là phẩm chất cao quý của Kiều.

 

–          Nhịp thơ hai câu cuối: 3/3 và 2/2/2/2, như một nhát cắt, một tiếng nấc nghẹn ngào của thân phân nàng. Đau đớn khi chia lìa.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– Các hành động:

+Nhận mình là “người phụ bạc”

+Lạy: cái lạy tạ lỗi, vĩnh biệt

+Hai lần gọi tên Kim Trọng: tức tưởi, nghẹn ngào, đau đớn đến mê sảng.

 

=>Tiếng gọi Kim Lang được lặp đi lặp lại vừa thiết tha trân trọng nhưng cũng đau đớn tuyệt vọng biết bao. Câu thơ ngắt theo nhịp 3/3 như một tiếng nấc để rồi ở câu sau nhịp thơ trải ra như một lời than trách chính mình.

]Kiều quên đi nỗi đau của mình mà nghĩ nhiều đến người khác, đó chính là đức hy sinh cao quý.

 

III. Tổng kết

1. Nội dung

– Đoạn trích thể hiện tâm trạng phức tạp của Kiều.

– Nhân cách trong sáng, biết hy sinh vì người mình yêu và người thân.

– Nguyễn Du đã thấu hiểu tâm lý con người, đồng cảm sâu sắc với nhân vật.

 

Giá trị nhân đạo

2. Nghệ thuật

– Miêu tả tinh tế diễn biến tâm lý nhân vật từ đối thoại đấn độc thoại nội tâm.

– Ngôn ngữ độc thoại sinh động. Sự kết hợp của ngôn ngữ dân gian và ngôn ngữ bác học.

Ghi nhớ(Sgk/106)

  1. Củng cố

– Phân tích diễn biến tâm trạng của Thúy Kiều qua lời thoại của đoạn trích?

– Các em thấy được tài năng nghệ thuật tuyệt vời của Nguyễn Du trong việc miêu tả diễn biến tâm lý nhân vật như thế nào?

  1. Dặn dò

– Yêu cầu học sinh học thuộc đoạn trích.

– Soạn đoạn “Nỗi thương mình” (Truyện Kiều).

– Chuẩn bị bài tập 4 (Sgk/106)

 

Xem thêm :

  1. Trọn bộ giáo án Ngữ văn lớp 10
  2. Tài liệu , đề thi, những bài văn hay về Trao Duyên 

Đề thi học sinh giỏi về Truyện Kiều và Chinh Phụ Ngâm

Trong tác phẩm Chinh phụ ngâm (bản dịch của Đoàn Thị Điểm) có đoạn :

Ngoài đầu cầu nước trong như lọc,

Đường bên cầu cỏ mọc còn non.

Đưa chàng lòng dặc dặc buồn,

Bộ khôn bằng nhựa thuỷ khôn bằng thuyền .

Nước trong chảy lòng phiền chẳng rửa,

Cỏ xanh thơm dạ nhớ khó quên.

Nhủ rồi tay lại trao liền ,

bước đi một bước lại vin áo chàng …

Trong tác phẩm Truyện Kiều ( Nguyễn Du) cũng có đoạn :

     Người lên ngựa, kẻ chia bào,

Rừng phong , thu đã nhuốm màu quan san.

     Dặm hồng bụi chốn chinh an,

Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh.

    Người về chiếc bóng năm canh ,

Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi .

    Vầng trăng ai sẻ làm đôi,

Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường…

Cảm nhận của anh (chị) về nỗi niềm li biệt trong hai đoạn thơ trên .

Từ đó, anh (chị) nghĩ gì về thân phận của người phụ nữ trong xã hội ngày xưa

Hướng dẫn :

1.Cảm nhận về nỗi niềm li biệt ở hai đoạn thơ

a.Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm và 2 đoạn trích

b.Nêu nét giống nhau của hai tác giả Đặng Trần Côn và Nguyễn Du ở hai đoạn trích về : đề tài , hoàn cảnh sáng tác , sự gặp gỡ ở cái nhìn trân trọng cảm thương đối với người phụ nữ .

c.Nêu nét khác nhau (trọng tâm) : hai đoạn trích cùng viết về cảm xúc biệt li nhưng tuỳ theo chủ đề của tác phẩm , tuỳ theo cái nhìn , cách nhìn của mỗi tác giả (và người dịch –đoạn 1) mà mỗi tác giả có cách thể hiện , nội dung , sắc thái riêng biệt làm nên vẻ đẹp riêng , nét độc đáo khác nhau :

Đoạn 1 : tả cảnh người chinh phục tiễn chồng ra chiến trận . Tác giả khắc hoạsâu sắc tâm trạng người chinh phụ trong buổi tiễn đưa với bao lưu luyến , bịn rịn , không nỡ rời xa .

Đưa chàng lòng dằng dặc buồn

Bộ khôn bằng nhựa thuỷ khôn bằng thuyền .

Đoạn 2 : Nguyễn Du tập trung miêu tả nỗi đau xa cách khi Kiều tiễn Thúc Sinh về nhà với vợ . Trong nỗ niềm li biệt ấy còn ẩn chứa bao dự cảm bất an , bởi thân phận nàng chỉ là chút nghĩa đèo bòng ,  Cho nên cuộc chia li không chỉ nhuốm màu sắc “quan san” tê tái mà còn như một ám ảnh chia lìa, khiến cuộc lên đường của chàng Thúc như một cuộc “chinh an 

     Người lên ngựa, kẻ chia bào,

Rừng phong , thu đã nhuốm màu quan san.

     Dặm hồng bụi chốn chinh an,

Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh.

 –Nghệ thuật :

+Đoạn 1 :  Bút pháp tả cảnh ngụ tình , hình ảnh so sánh ước lệ được dịch giả Đoàn Thị điểm chuyển tải bằng ngôn ngữ thơ song thất lục bát trong sáng , uyển chuyển đã khắc sâu được tâm trạng của người chinh phụ trong buổi tiễn đưa .

+Đoạn 2 : Nguyễn Du cũng dùng bút pháp tả cảnh ngụ tình , nhưng thiên nhiên còn đảm nhận vai trò như một nhân vật , lặng thầm sẻ chia bao nỗi niềm đau đớn , tủi thẹn : “Rừng phong , thu đã nhuốm màu quan san

+Đoạn 1 : Nỗi lưu luyến , bịn rịn của người chinh phụ được khắc hoạ ở nhiều góc độ: nỗi lòng , dáng vẻ , cử chỉ

Nhủ rồi tay lại trao liền ,

bước đi một bước lại vin áo chàng …

+Đoạn 2 : Nguyễn Du chỉ có một câu miêu tả “Người lên ngựa , kẻ chia bào” .Câu thơ lục bát bị bẻ đôi , trong sự đối lập giữa người và kẻ ấy như ẩn chứa bao nỗi cảm thương mà Nguyễn Du dành cho cảnh ngộ của nàng Kiều . Khi chàng Thúc bước lên ngựa thì cũng là lúc Kiều trở thành người cô đơn , lạc loài bên đường …Nguyễn Du cũng đã vận dụng rất thành công hình ảng quen thuộc trong ca dao để làm nổi bật lên tâm trạng cô đơn , cảnh ngộ lẻ loi , gối chiếc của Thuý Kiều :

Vầng trăng ai xẻ làm đôi …

d.Đánh giá khái quát :cả hai đoạn trích đều thể hiện kín đáo cái nhìn nhân đạo sâu sắc và thái độ phê phán hiện thực lúc bấy giờ :

-Nỗi đau li biệt trong Chinh phụ ngâm là cảnh ngộ không được tôn trọng . Từ nỗi đau ấy , nhà thơ gián tiếp tỏ thái độ lên án chiến tranh  và đồng cảm sâu sắc với khát vọng sống , được hưởng hạnh phúc của người phụ nữ .

-Đoạn trích trong Truyện Kiều thì xa cách, biệt li chỉ là cái cớ chỉ là một cái cớ để Nguyễn Du khái quát nỗi đau của thân phận người phụ nữ : từ làm lẽ, cô đơn chiếc bóng đến những cảnh ngộ bị vùi dập phủ phàng …Nỗi đau ấy không của riêng ai:

Đau đớn thay phận đàn bà ,

                                  Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung .

2.Suy nghĩ về thân phận người phụ nữ

-Cảnh ngộ của người chinh phụ hay nàng Kiều trong 2 đoạn trích đều thể hiện nỗi đau mà người phụ nữ ngày xưa phải gánh chịu . Họ đều là nạn nhân của xã hội phong kiến thối nát không tôn trọng quyền sống , quyền hạnh phúc của con người .

-Cả hai tác giả đã gặp nhau ở tư tưởng nhân đạo, nhân văn sâu sắc à có sức lay động lòng người .

-Có thể trích dẫn thêm ca dao hay một số dẫn chứng thơ ca trung đại nói về thân phận người phụ nữ thời xưa để bài viết được sinh động .

Lưu ý : ý kiến phát biểu phải tập trung , gắn với tư tưởng của hai đoạn trích trên

Xem thêm : Bộ đề thi học sinh giỏi môn Văn

Đề thi học sinh giỏi về Truyện Kiều- Nguyễn Du

Khi bàn đến ngôn ngữ Truyện Kiều , trong bài Nguyễn Du , một nghệ sĩ lớn , Hoài Thanh có viết :

Người đọc xưa nay vẫn xem truyện Kiều như một hòn ngọc quí cơ hồ không thể thay đổi , thêm bớt một tí gì , như một tiếng đàn lạ gần như không một lần nào lỡ nhịp ngang cung” .

Anh/chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy cho thấy tài năng ngôn ngữ của Nguyễn Du qua một số câu thơ trong Truyện Kiều .

1.Giải thích ý kiến của Hoài Thanh

Ý kiến của Hoài Thanh đã đánh giá rất cao về tài nghệ của Nguyễn Du trong việc sử dụng ngôn ngữ Truyện Kiều :

-Ngôn ngữ vừa được chọn lọc một cách chính xác đến mức không thể thay đổi, thêm bớt , vừa gọt giũa hoàn thiện đến mức như những hòn ngọc quí .

-Ngôn ngữ Truyện Kiều phong phú, sáng tạo như “tiếng đàn lạ” và thật đặc biệt “lạ” nhưng không có trường hợp nào vụng về như “tiếng đàn lỡ nhịp ngang cung

2.Chứng minh tài sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Du trong Truyện Kiều

(chọn một số dẫn chứng phân tích để chứng minh )

-Nghệ thuật khắc hoạ tính cách nhân vật qua vài nét miêu tả ngoại hình , lời nói… của Thuý Vân , Thuý Kiều, Mã Giám Sinh , Hoạn Thư , Từ Hải

-Nghệ thuật miêu tả tâm trạng Thuý Kiều

-Nghệ thuật tả cảnh

3.Mở rộng : lí giải nguyên nhân thành công của Nguyễn Du

-Nguyễn Du đã học tập , trau dồi và vận dụng sáng tạo lời ăn tiếng nói của nhân dân (vận dụng nhiều thành ngữ , tục ngữ , ca dao )

-Tinh thần dân tộc , tình yêu tiếng Việt và quan trọng hơn là tài năng nghệ thuật qua quá trình khổ luyện của Nguyễn Du

Đề thi học sinh giỏi về Truyện Kiều- Nguyễn Du

Đề 2 :

Nhận xét về Truyện Kiều , Mộng Liên Đường chủ nhân nói :

Tố Như dụng tâm đã khổ , tự sự đã khéo , tả cảnh đã hệt , đàm tình đã thiết , nếu không phải con mắt trông thấu sáu cõi , tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời thì không tài nào có được bút lực ấy .

Anh /chị hãy bình luận ý kiến trên .

1.Giải thích

-Lời bàn của Mộng Liên Đường đã nêu được một cách khái quát nhất tài năng sáng tạo của Nguyễn Du cũng toàn bộ giá trị của tác phẩm Truyện Kiều . Truyện Kiều –có thể coi là “đất dụng võ” của ND . Người ta có thể bắt gặp trong Truyện Kiều cả sự “dụng công đã khổ” , đó là sự công phu , tâm huyết của Nguyễn Du , “tự sự đã khéo , tả cảnh đã hệt , đàm tình đã thiết” là tài năng nghệ thuật ở mọi phương diện đều đạt đến độ xuất sắc. Và hiển hiện trong mỗi lời văn câu chữ là “con mắt trông thấu sáu cõi , tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời” , đó là cách nhìn có tầm bao quát rộng lớn , mang tầm tư tưởng triết học . Và một khi đã có con mắt ấy thì sẽ có tấm lòng lưu luyến , lo lắng , đầy yêu thương không chỉ dừng lại ở một lớp người , một thời đại mà trải muôn người , ở muôn đời .

-Lời bàn của Mông Liên Đường là lời khẳng định hùng hồn nhất và cũng là minh chứng rõ ràng nhất cho tài năng bậc thầy của một thiên tài văn học –Nguyễn Du .

2.Chứng minh  

 a.”Tố Như dụng tâm đã khổ

-Nói đến TK là phải nói đến quá trình khổ công rèn luyện , gọt giũa ngòi bút để cho ra đời một áng văn chương tuyệt tác của nhân loại . Nhưng ý kiến của Mộng Liên Đường đề cập đến nỗi khổ của Nguyễn Du ở đây là “dụng tâm” , tức là làm thế nào để đưa chữ “tâm” vào tác phẩm của mình , đưa tấm lòng mình vào những dòng thơ . Bởi vì , hơn ai hết , Nguyễn Du rất coi trọng chữ tài nhưng cũng hết mực ca ngợi chữ tâm . ND đã khẳng định :

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài .

-Chính vì vậy , chữ tâm của ông dào dạt trên những trang giấy . Có lẽ vì vậy mà trong Truyện Kiều chữ “lòng” xuất hiện với một số lượng lớn :

+Đó là nỗi cảm thương của Kiều trước mộ Đạm Tiên:

Lòng đâu sẵn mối thương tâm

+Đó cũng là cái tình Kiều đem ra đền đáp Kim Trọng :

Lấy lòng gọi chút ra đây tạ lòng”

                                         “Để lòng thì phụ tấm lòng với ai

+Nhưng cũng có những tiếng lòng khiến người ta mỉa mai , ghê tởm . Đó là tiếng lòng thốt ra từ bọn buôn thịt bán người , từ những Tú Bà , Sở Khanh . Chúng thốt ra những lời ngon ngọt nhưng lại giương vuốt nhe răng làm hại bao người :

“Phải điều lòng lại rối lòng mà thôi”

                                           “Lòng này ai tỏ cho ta hỡi lòng

àNguyễn Du đặt tiếng lòng vào miệng những bậc tài hoa như Kim Trọng , Thúy Kiều nhưng cũng để nó thốt ra từ những kẻ xấu xa , nham hiểm như Tú Bà , Sở Khanh. Đó là dụng ý nghệ thuật của ông khi muốn lột tả sắc thái biểu cảm của chữ tâm . Chữ tâm trong sáng biểu hiện cho tấm lòng lương thiện cao cả của con người nhưng cũng có khi chữ tâm bị bôi bẩn , nhơ nhuốc trong tay bọn vô lại .

-Có thể nói Truyện Kiều là tiểu thuyết của chữ tâm . Thúy Kiều chinh phục được người đọc không chỉ bởi “Sắc đành đòi một , tài đành họa hai” mà còn bởi chữ tâm sáng chói nơi nàng . Đó là tấm lòng trinh bạch , là nghĩaa khí , là sự khoan dung của nàng . Chữ tâm trải suốt cuộc đời nàng . Vì chữ tâm mà Kiều khóc thương Đạm Tiên , vì chữ tâm mà bán mình chuộc cha , trả nghĩa cho Kim Trọng . Vì chữ tâm mà Kiều tha bổng Hoạn Thư , khuyên Từ Hải ra hàng và cuối cùng vì chữ tâm mà Kiều tìm đến cái chết trên sông Tiền Đường . Hình tượng Thúy Kiều đã đi vào lòng người đọc với một cái tâm như thế .

-Ở những nhà văn chân chính xưa nay , tâm bao giờ cũng là cái gốc . Tài và trí chỉ là cành , là ngọn . Người nghệ sĩ phải vui niềm vui của con người , đau cùng nỗi đau của con người , phải khóc , phải cười , phải trăn trở cùng con người . Soi vào Truyện Kiều, ta nhận ra  tác phẩm thực chất là tiếng lòng của Nguyễn Du . Mỗi một lời , một chữ , một câu trên trang giấy là sự hòa quyện giữa tâm hồn nhà văn với tâm hồn nhân vật . Nguyễn Du dõi theo bước chân của nàng Kiều trên từng chặng đường đời của nàng :

+Khi Kiều ở lầu xanh , ông đau cùng nàng :

Khi tỉnh rượu… xót xa

+Khi Kiều gặp Từ Hải , ông vui mừng , hân hoan trước hạnh phúc của nàng :

                                             Trai anh hùng , gái thuyền quyên

                                           Phỉ nguyền sánh phượng , đẹp duyên cưỡi rồng

+Và chính ông là người thốt lên tiếng kêu đau đớn khi Kiều nhảy xuống sông Tiền Đường tự tử :

                                             Thương thay cũng một kiếp người

                                        Hại thay mang lấy sác tài mà chi !

àCó thể nói Nguyễn Du đã hóa thân vào nhân vật , vui buồn cùng nhân vật . Đó chính là tấm lòng nhân đạo cao cả của Nguyễn Du .

  b.Tự sự đã khéo , tả cảnh đã hệt , đàm tình đã thiết là tài năng nghệ thuật ở mọi phương diện đều đạt đến độ xuất sắc

-“Tự sự đã khéo”: ở đây tác giả muốn đề cập đến nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn của nguyễn Du .

+Cái khéo của Nguyễn Du là sự biến hóa linh hoạt cách kể , cách dẫn dắt câu chuyện ( so sánh với Kim Vân Kiều truyện là một cuốn tiểu thuyết chương hồi , Truyện Kiều của ND là một cuốn truyện thơ) . Vì là truyện thơ Việt Nam nên TK đậm bản sắc dân gian . Đặc biệt , TK đã đưa thể thơ lục bát dân tộc lên tới đỉnh cao . Thể thơ của ND vừa gần gũi , vừa dễ đọc, dễ thuộc , dẫn dắt người đọc vào câu chuyện một cách tự nhiên .Chính vì vậy , bức tranh toàn cảnh về đời sống xã hội , con người trong tác phẩm hiện lên vô cùng chân thực và sống động .

+Truyện Kiều là một câu chuyện xuyên suốt với tình tiết nọ tiếp nối tình tiết kiado sự kết nối các tình tiết chặt chẽ và lô gích , từ đó người đọc có thể rút ra quy luật về số phận nhân vật

+Truyện Kiều còn có sự kế thừa Kim Vân Kiều truyện một cách sáng tạo :

  • Trong KVKT không có cuộc chia tay cảm động giữa Thúc Sinh và Kiều thì trong TK , đoạn Thúc sinh từ biệt TK lại là một trong những đoạn chia li hay nhất của thơ ca về sự chia li từ xưa đến nay , được Vũ Trinh đánh giá “ngang với một thiên phú biệt li
  • Trong KVKT miêu tả việc Từ Hải trở về với hình dung của một toán giặc cỏ , chân dung một kẻ cướp đã làm giảm giá trị thẩm mĩ của hình tượng nhân vật thì trong TK , hình ảnh của đạo quân của Từ Hải lại hiện lên :

Ngất trời sát khí mơ màng

                                   Đầy sông kình ngạc , chật đường giáp binh

àhiện lên cái khí thế mạnh mẽ , sục sôi của đoàn quân chiến thắng trở về với cái khả năng làm khuynh đảo cả đất trời . Người đọc như bị cuốn vào cái khí thế hào hùng , sục sôi đó .

-“Tả cảnh đã hệt”là sự chính xác , đúng đắn , phù hợp , lô gic trong tả cảnh của Nguyễn Du .

+Ông đã phát hiện cái hồn của cảnh vật và đưa vào trong thơ một cách tinh tế nhất: Nguyễn Du có biệt tài tả mùa với ngôn ngữ có tính cá thể hóa cao độ , mỗi mùa một khác :

  • Mùa hè : Dưới trăng quyên đã gọi hè

                            Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông .

  • Mùa thu :  Long lanh …bóng vàng
  • Mùa xuân : Cỏ non …bông hoa

+Cảnh không chỉ đẹp mà cảnh còn phù hợp với tâm trạng con người :

  • Đôi trai gái “Người quốc sắc , kẻ thiên tài” vừa gặp nhau đã say mê và khi chia tay thì lòng đầy lưu luyến :

Dưới cầu nước chảy trong veo

                               Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha

  • Khi con người cô độc , sống trong tâm trạng cô đơn thì thiên nhiên cũng mang đầy tâm trạng :

Buồn trông cửa bể chiều hôm

                                    ——————————

                               Am ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi

Thiên nhiên như thấm đẫm nỗi buồn nhớ , sự lo lắng , phấp phỏng của Kiều về những ngày sắp tới à dự báo về một cuộc đời chìm nổi , một tương lai vô định đầy hiểm nguy , bất trắc ?

=>”Cái hệt” của ND không chỉ dừng lại ở độ chính xác , đúng đắn mà đạt tới trình độ tinh vi , sâu sắc , giàu giá trị thẩm mĩ .

-“Đàm tình đã thiết”: đó là nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật nổi bật trong tác phẩm .Ngòi bút của ND tinh vi , lão luyện trong việc phân tích tâm lí nhân vật .Tâm trạng của mỗi nhân vật được xây dựng đều phù hợp với hoàn cảnh

+Trong tác phẩm , Kiều là nhân vật có tâm trạng phức tạp nhất :

  • Tâm trạng bất lực , uất ức khi bị đem ra làm món hàng mua bán

Nỗi mình thêm tức nỗi nhà

                              Thềm hoa một bước lệ hoa mấy hàng

                                     Ngại ngùng dín gió e sương

                              Ngừng hoa bóng thẹn , trông gương mặt dày .

  • Khi Kiều trao duyên cho em để trả nghĩa cho Kim Trọng , ta mới thấy hết cái tình sâu nặng :

Phận sao phận bạc như vôi

                                       —————————–

                                Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây

  • Những đau thương , uất ức dồn lại đã trở thành nỗi căm phẫn trong Kiều :

Đã cho lấy chữ hồng nhan

                                        —————————–

                                 Sao cho sỉ nhục một lần mới thôi

Điệp từ “cho” lặp lại nhiều lần như sự đay nghiến , day dứt , khắc khoải khôn nguôi về nỗi đau thân phận . Câu thơ chất chứa niềm bức bối , bực dọc như muốn bùng ra . Trong thơ bật ra tiếng hét phẫn nộ , tiếng tố cáo gay gắt những ngang trái cuộc đời chà đạp lên số phận người phụ nữ .

+Trong Truyện Kiều lúc nào cũng hiển hiện một chữ tình sâu nặng . Cái tình trong TK là cái tình sâu , tình thắm , cái tình đẹp nhất của loài người bởi nó chở theo giá trị nhân đạo sâu sắc của tác giả . Trước mỗi cảnh đời của nhân vật ta đều bắt gặp sự đồng cảm , thương xót của nhà thơ .

  c.Thành công của TK còn ở chỗ “Con mắt trông thấu sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời

-“Sáu cõi” là sự bao chiếm là sự bao chiếm toàn bộ không gian đông-tây-nam-bắc , trên và dưới. Đó là sự thâu tóm cả vũ trụ , đất trời . Trong TK có không ít những thơ chứa đựng cả thiên nhiên vũ trụ :

                                       -Bốn bề bát ngát xa trông

                                  Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia

                                     -Trời cao sông rộng một màu bao la .

-“Con mắt trông thấu sáu cõi” cũng là một biểu hiện của một nhân sinh quan nhạy cảm , một tâm hồn rộng mở thu nhận mọi biến chuyển cuộc đời .Chính bởi thế mà ông rút ra được những quy luật của cuộc đời :

Trăm năm trong cõi người ta 

                                           Chữ tài ………………………………………ghét nhau

                                             -Ngẫm hay muôn sự tại trời

                                           Trời kia đã bắt làm người có thân

                                                ——————————-

                                          Cho thanh cao mới được phần thanh cao .

àBằng con mắt “Trông thấu sáu cõi” , Nguyễn Du đã thể hiện một vốn sống phong phú , uyên thâm , hiểu đời và hiểu người . Ông nghe nhiều, quan sát nhiều để đúc rút lại những chân lí của cuộc sống .

Mắt ND nhìn thấu sáu cõi mà lòng thìnghĩ suốt cả đời” .

+Đó là tấm lòng canh cánh lo cho số phận con người , lo cho cuộc đời . Ông đã nói hộ những người phụ nữ những bất công , đau khổ :

Đau đớn thay …lời chung

3.Bình luận

-Lời nhận định của Mộng Liên Đường đã khái quát được một cách chung nhất những giá trị của TK trên cả hai lĩnh vực nội dung và nghệ thuật vì “Tố Như dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo , tả cảnh đã hệt , đàm tình đã thiết”.Nhưng xét đến cùng bút lực ấy có được cũng là nhờ “con mắt trông thấu sáu cõi , tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời”. Nguyễn Du là một nghệ sĩ chân chính

-Lời bàn của Mộng Liên Đường cho thấy ông không chỉ là một người am hiểu , học rộng , hiểu sâu về văn chương mà ông còn xứng đáng là một tri kỉ của ND khi khám phá được cái thần tuyệt diệu của tài năng nghệ thuật ND , đồng điệu với tâm hồn , nỗi niềm của ND .

Xem thêm : Bộ đề thi học sinh giỏi môn Văn

Đề thi cuối năm ngữ văn lớp 10 có đáp án chi tiết

ĐỀ THI HỌC KÌ II – NĂM HỌC 2015-2016 Môn: Ngữ Văn – Lớp 10

Thời gian: 90 phút (Không kể thời gian phát đề)

PHẦN 1: Đọc – Hiểu (3 điểm) Cho đoạn thơ:

 “Biết bao bướm lả ong lơi

Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm

Dập dìu lá gió cành chim

Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Trường Khanh

Khi tỉnh rượu lúc tàn canh

Giật mình mình lại thương mình xót xa

Khi sao phong gấm rủ là

Giờ sao tan tác như hoa giữa đường

Mặt sao dày gió dạn sương

Thân sao bướm chán ong chường bấy thân!”

Câu 1: (1 điểm)

a/ Đoạn thơ trên trích trong văn bản nào? Thuộc tác phẩm nào? Tác giả là ai? (0.75 điểm)

b/ Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ nào? (0.25 điểm)

Câu 2: (2 điểm) Tìm và phân tích phép đối trong bốn câu thơ đầu của đoạn trích trên?

PHẦN 2: Tập làm văn (7 điểm)

Câu 1: (3 điểm) Học sinh chọn một trong hai đề sau để làm:

Đề 1:

 “Gạo đem vào giã bao đau đớn

Gạo giã xong rồi trắng tựa bông

Sống ở trên đời người cũng vậy

Gian nan rèn luyện ắt thành công”

“Giã gạo – Hồ Chí Minh”

Từ bài thơ “Giã gạo” của Hồ Chí Minh hãy trình bày suy nghĩ của em về ý chí và nghị lực trong cuộc sống hiện nay?

Đề 2: Em có suy nghĩ gì về hiện tượng chụp hình tự sướng hiện nay của giới trẻ?

Câu 2: (4 điểm) Phân tích nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ sau:

“Cậy em em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.
Kể từ khi gặp chàng Kim,
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề.
Sự đâu sóng gió bất kỳ,
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.
Ngày xuân em hãy còn dài,
Xót tình máu mủ thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”

(Đoạn trích “Trao Duyên” – Truyện Kiều của Nguyễn Du)

 

——————-Hết——————-

Họ và tên thí sinh: . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .           SBD :. . . . . . . . . .

 

ĐÁP ÁN ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ II – 2015-2016

MÔN : Ngữ Văn             LỚP : 10

THỜI GIAN LÀM BÀI : 90 PHÚT

PHẦN 1: (3 điểm)

Câu 1: (1 điểm) Học sinh trả lời đúng các ý sau:

a/ -Đoạn thơ trên trích trong văn bản “Nỗi thương mình” của “Truyện Kiều” (0.5 điểm)

-Tác giả: Nguyễn Du (0.25 điểm)

b/ Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ: Lục bát (0.25 điểm)

Câu 2: (2 điểm) Học sinh cần chỉ ra:

Phép đối thể hiện trong đoạn thơ trên:

-“Bướm lả ong lơi” (0.5 điểm)

+Số tiếng cân bằng 2/2

+Phép đối từ loại: DT – DT (bướm – ong), ĐT – ĐT (lả – lơi)

+Phép đối thanh T – B (bướm lả – ong lơi)

-“Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm (0.5 điểm)

+Số tiếng cân bằng: 4/4

+Phép đối về từ loại: DT – DT (cuộc say – trận cười)

+Phép đối về nghĩa: tháng – đêm

-“Lá gió cành chim” (0.5 điểm)

+Số tiếng cân bằng: 2/2

+Phép đối từ loại: DT –DT (lá – cành, gió – chim)

+Phép đối thanh T – B (lá gió – cành chim)

-Sớm đưa Tống Ngọc  tối tìm Trường Khanh (0.5 điểm)

+Cân bằng số tiếng: 4/4

+Phép đối DT – DT (Tống Ngọc – Trường Khanh), ĐT – ĐT (đưa – tìm)

+Phép đối nghĩa: sớm – tối

PHẦN 2: (7 điểm)

Câu 1: (3 điểm) Học sinh chọn một trong hai đề sau để làm

a/ Yêu cầu về kĩ năng: Học sinh viết được một bài nghị luận hoàn chỉnh:

+Bài văn có bố cục rõ ràng.

+Lập luận chặt chẽ, dẫn chứng có tính thuyết phục

b/ Yêu cầu về nội dung: Bài làm cần làm nổi bật được những suy nghĩ của học sinh về những vấn đề sau:

Đề 1: Qua bài “Giã gạo” của Hồ Chí Minh em hãy trình bày suy nghĩ về ý chí và nghị lực trong cuộc sống

Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận (0.25 điểm)

Thân bài:

-Giải thích đề bài: (0.25 điểm)

+ Ý chí nghị lực là bản lĩnh, là sức mạnh, là sự cố gắng kiên cường để vượt lên mọi khó khăn và thử thách để đạt được những mục tiêu mà mình đã đề ra.

+Trong cuộc sống, con người không thể sống tốt nếu không có ý chí nghị lực

-Biểu hiện của ý chí nghị lực: (0.75 điểm)

+Ý chí nghị lực biểu hiện rất đơn giản, thường xuyên trong cuộc sống và nó tồn tại trong chính bản thân mỗi người.

+Ý chí nghị lực sẽ giúp mình có thể đứng vững trên chính đôi chân, bằng sức lực của mình mà không cần dựa dẫm vào ai.

+Ý chí nghị lực giúp chúng ta tự tin đương đầu với thử thách, sóng gió kể cả những nỗi bất hạnh và mất mát trong cuộc sống.

-Ví dụ chứng minh từ văn học và thực tế đời sống: (0.5 điểm)

+Thầy Nguyễn Ngọc Ký với sự cố gắng và nghị lực của bản thân đã trở thành một người có ích cho xã hội.

+Bác Hồ – vị cha già của dân tộc nhờ ý chí và nghị lực đã vượt qua muôn vàn khó khăn thử thách trong quá trình đi tìm đường cứu nước để rồi kết quả dân được ấm no hạnh phúc, đất nước được độc lập.

-Phản đề: Phê phán những hành vi sai: (0.5 điểm)

+Chúng ta phê phán những con người sống ỷ lại vào người khác, không có chí tiến thủ.

+Những người không có tính tự lập, không biết tự hoàn thiện bản thân mình để sống tốt.

-Bài học liên hệ: (0.5 điểm)

+Gia đình và nhà trường cần tạo điều kiện cho con em mình đối mặt với những thử thách và va chạm với cuộc sống để mỗi cá nhân rèn luyện cho mình tính tự lập, một ý chí vươn lên và vượt qua thử thách.

+Là học sinh cần rèn luyện cho mình những kĩ năng sống cần thiết, tính tự lập đặc biệt là nghị lực sống vượt qua khó khăn để thành công.

Kết bài: Khẳng định ý nghĩa, vai trò của ý chí nghị lực trong cuộc sống. (0.25 điểm)

Đề 2: Em có suy nghĩ gì về hiện tượng chụp hình tự sướng hiện nay của giới trẻ?

Mở bài: Dẫn dắt vấn đề nghị luận (0.25 điểm)

Thân bài:

-Giải thích đề bài: (0.25 điểm)

+Chụp hình tự sướng (tiếng Anh gọi là selfie) dùng để chỉ thói quen tự chụp hình và cập nhật trạng thái đăng tải lên các trạng mạng xã hội nhằm thu hút sự chú ý của mọi người.

+Nghiện chụp ảnh “tự sướng” trở thành căn bệnh dù đi đâu, ở đâu, làm gì  trong trang phục như thế nào cũng có thế chụp hình “tự sướng”, nếu không chụp sẽ thấy khó chịu.

-Thực trạng: (0.75 điểm)

+Ta bắt gặp hiện tượng các bạn trẻ giơ điện thoại lên chụp hình “tự sướng” bất cứ đâu, thậm chí cả nhà tắm, khi đi chùa, trong các cuộc hội họp, hội nghị sang trọng…bất cứ thời gian nào, họ sẵn sàng “take and share” (chụp và chia sẻ)

+Sau khi chụp hình xong chỉnh sửa và đăng tải, chia sẻ hình ảnh thông tin trên các trang mạng xã hội như facebook, Intasgram, Twitter… nơi bạn bè có thể “like” (ưa thích), và đưa ra những “comment (lời nhận xét) về bức ảnh.

+Người nghiện chụp hình “tự sướng” thường bỏ ra nhiều thời gian để chụp được những bức hình sao cho hoàn hảo nhất. (dẫn chứng)

-Nguyên nhân: một số bạn chụp hình “tự sướng”muốn khẳng định bản thân, muốn khoe khoang mình.(0.25 điểm)

-Hậu quả: (0.75 điểm)

+Mạng xã hội là thế giới ảo, những nội dung đăng tải có tính đa chiều giúp chúng ta tham khảo học tập, giải trí, nhiều khi thông tin không có đủ tin cậy, nhưng những ảnh hưởng của thông tin đó là thật. Nhiều người tin tưởng vào lời tán dương của cư dân mạng từ đó ảo tưởng về giá trị bản thân. Khi nhận được những lời nhận xét ác ý có thể gây ra những tổn thương về tinh thần.

+Việc ham mê chụp ảnh tự sướng mất nhiều thời gian ảnh hưởng tới công việc, học tập, bỏ lỡ những cơ hội tốt cho tương lai.

+Chụp và đăng ảnh selfie có thể làm cản trở người xung quanh, gây cho người khác sự phiền phức.

+Nhiều trường hợp bị kẻ xấu lợi dụng lắp ghép, chỉnh sửa, tống tiền gây ra những tổn hại về vật chất và tinh thần.

-Giải pháp và bài học cá nhân: (0.5 điểm)

+ Mỗi chúng ta cần ý thức được việc sử dụng công nghệ thông tin hiện đại thế nào cho phù hợp và có ý thức văn hóa.

+ Phê phán những người có thói quen nghiện chụp ảnh “tự sướng”.

+ Dành thời gian chụp ảnh tự sướng cho những công việc khác thiết thực hơn, tuyên truyền mọi người hiểu được những giá trị chân thực của cuộc sống.

Kết bài: Khẳng định lại vấn đề (0.25 điểm)

Cách cho điểm:

Điểm 3: Đáp ứng tốt yêu cầu về kĩ năng và kiến thức, văn viết mạch lạc, bố cục rõ ràng, đầy đủ, không sai lỗi diễn đạt, dùng từ ngữ, ngữ pháp.

Điểm 2.75 – 2.5: Trình bày ý tương đối đủ so với yêu cầu về kiến thức và kĩ năng, còn mắc một số lỗi nhỏ về diễn đạt, dùng từ ngữ, ngữ pháp.

Điểm 2 – 1: Văn viết chỉ đạt ½ yêu cầu về nội dung, sai nhiều lỗi về diễn đạt, dùng từ ngữ, ngữ pháp.

Điểm 0: Nộp giấy trắng.

Nếu học sinh viết đoạn văn trừ 0.25 điểm

Lưu ý: Giáo viên cần dựa vào kĩ năng làm bài của các em trong việc trình bày quan điểm của mình cũng như tôn trong suy nghĩ của các em để linh động cho điểm

Câu 2: (4 điểm)

Giáo viên tùy bài làm của học sinh mà linh động cho điểm

a/ Yêu cầu về kĩ năng

-Biết cách làm bài văn nghị luận

-Kết cấu 3 phần rõ ràng, chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, văn có cảm xúc.

-Không mắc lỗi: chính tả, dùng từ, viết câu…

-Chữ viết rõ ràng, cẩn thận

b/ Yêu cầu về kiến thức:

Mở bài: 0.25 điểm

– Giới thiệu khái quát tác giả, tác phẩm và đoạn trích

Thân bài:

– Học sinh phân tích rõ lời trao duyên của Thúy Kiều

-Hai câu thơ đầu: Lời nhờ cậy (1 điểm)

+Đây là lời nhờ cậy, tác giả đã đặt Thúy Kiều vào hoàn cảnh éo le để nàng tự bộc lộ tâm trạng, nhân cách của mình. Kiều buộc phải trao duyên, nàng làm như vậy là thực hiện một chuyện tế nhị, khó nói. (Phân tích rõ từ “Cậy”, từ “Chịu” để thấy được Thúy Kiều hiểu hoàn cảnh của Thúy Vân, nàng ý thức được việc mình nói ra mang tính chất rất hệ trong, việc nàng nhờ cậy có thể làm em lỡ cả đời)

+Khung cảnh “Em” – “ngồi”, “chị” – “lạy”, “thưa”. Ở đây có sự đảo lộn ngôi vị của hai chị em trong gia đình, diễn tả việc nhờ cậy là cực kì quan trọng, thiêng liêng, nghiêm túc

=> Thúy Kiều là người khéo léo, thông minh, tế nhị, kín đáo, coi trọng tình nghĩa.

-Sáu câu tiếp: Lời giãi bày nỗi lòng mình (1 điểm)

+Thúy Kiều nói về hoàn cảnh éo le của mình:

+Kiều nói vắn tắt về mối tình đẹp nhưng dang dở với Kim Trọng

+Nàng nhắc đến các biến cố đã xẩy ra khiến Kiều không thể tiếp tục cuộc tình của mình.

+Kiều xin em hãy “chắp mối tơ thừa” để trả nghĩa cho chàng Kim.

-Bốn câu: Lời thuyết phục. (1,0 điểm)

+Thúy Kiều thuyết phục em nhờ vào lí lẽ:

+Nhờ vào tuổi xuân của em

+Nhờ vào tình máu mủ chị em

+Dù đến chết Kiều vẫn ghi ơn em, biết ơn sự hi sinh của em.

=> Đó là những lời nói, lí lẽ khéo léo, tinh tế làm tăng tính thuyết phục của lời nói, tạo tính chất lời nói thiết tha, kín kẽ, tế nhị. Giọng thơ khẩn khoản, cách ngắt nhịp thơ đem lại sắc thái trang trọng.

-Nghệ thuật: (0,5 điểm)

+Miêu tả tinh tế nội tâm nhân vật

+Ngôn từ chọn lọc, sử dụng nhiều biện pháp tu từ.

KB: Khẳng định lại nội dung, nghệ thuật, khẳng định tài năng của tác giả. (0,25 điểm)

vCách cho điểm:

Điểm 4: Đáp ứng tốt yêu cầu đề bài, văn viết mạch lạc, có cảm xúc, không sai lỗi diễn đạt, dùng từ ngữ, ngữ pháp.

Điểm 3 – 2.5: Trình bày ý tương đối đủ so với yêu cầu về kiến thức, còn mắc một số lỗi nhỏ về diễn đạt, dùng từ ngữ, ngữ pháp.

Điểm 2 – 1: Văn viết chỉ đạt ½ yêu cầu về nội dung, sai nhiều lỗi về diễn đạt, dùng từ ngữ, ngữ pháp.

Điểm 0: Nộp giấy trắng.

Xem thêm : Tuyển tập đề thi ngữ văn lớp 10

Tuyển tập đề thi về bài Trao duyên ngữ văn 10

Phân tích đoạn trích Trao duyên-Truyện Kiều, Nguyễn Du

Phân tích đoạn trích Trao duyên-Truyện Kiều, Nguyễn Du

1.Tìm hiểu xuất xứ

Đây là một trong những đoạn ở vị trí mở đầu cho cuộc đời lưu lạc đầy đau khổ của Thuý Kiều. Khi Vương Ông và Vương Quan bị bắt giam do có kẻ vu oan, Thuý Kiều phải bán mình làm vợ  Mã Giám Sinh để lấy tiền đút lót quan lại cứu cha và em. Việc nhà đã tạm yên, Kiều mới nghĩ đến tình duyên lỡ dở của mình. Trước hết, nàng nghĩ cho người mình yêu, phận mình dù thế cũng đành, nhưng cảm thấy có lỗi với Kim Trọng. Phải làm thế nào cho người yêu đỡ khổ, suy nghĩ mãi, trong đêm cuối cùng, nàng quyết định nhờ em thay mình trả nghĩa cho KimTrọng.

Trao duyên trích từ câu 723 đến câu 756 trong Truyện Kiều.

2. Tìm hiểu bố cục đoạn trích

Có thể chia đoạn trích làm hai đoạn nhỏ:

–       Đoạn 1 (14 câu đầu): Thuý Kiều “trao duyên” cho Thuý Vân.

–       Kiều nói với em về nỗi bất hạnh của mình.

–       Nhờ em và trao kỉ vật tình yêu cho em.

–     Đoạn 2: 12 câu tiếp Kiều trao kỉ vật và dặn dò

-Đoạn 3 : 8 câu cuối :Tâm trạng Kiều sau khi “trao duyên”.

+         Kiều mong muốn “trở về” gặp lại người yêu.

+         Kiều hướng đến sự đồng cảm với người yêu.

+         Tâm trạng tuyệt vọng của Kiều bởi mâu thuẫn trong tâm hồn nàng (tình yêu sâu nặng và sự chia biệt vĩnh viễn) vẫn không thể giải quyết.

3. Nhan đề Trao Duyên

Nhan đề đoạn trích là Trao duyên nhưng trớ trêu thay đây không phải là cảnh trao duyên thơ mộng của những đôi nam nữ mà ta thường gặp trong ca dao xưa. Có đọc mới hiểu được, “Trao duyên”, ở đây là gửi duyên, gửi tình của mình cho người khác, nhờ người khác chắp nối mối tình dang dở của mình. Thúy Kiều trước phút dấn thân vào quãng đời lưu lạc, bán mình cứu cha, nghĩ mình không giữ trọn lời đính ước với người yêu, đã nhờ cậy em là Thúy Vân thay mình gắn bó với chàng Kim.

Cách viết phần mở bài cho đoạn trích Trao Duyên:

Khi phân tích đoạn trích “trao duyên”, các em có thể mở bài như sau:

+Giới thiệu tên tác giả ( Nguyễn Du) và Truyện Kiều

+Nêu vắn tắt xuất xứ đoạn “Trao duyên”

+Trích dẫn đoạn thơ cần phân tích : đề bài yêu cầu phân tích đoạn nào thì mình trích đoạn đó. Lưu ý : không nên chép hết đoạn thơ vào bài thi, mất thời gian. Các em chỉ cần chép câu thơ đầu,  xuống dòng ,chấm chấm (…) rồi chép câu cuối là được.

@ nếu đề bài yêu cầu chứng minh nhận định về đoạn trích thì các em trích dẫn nhận định đó vào phần mở bài, nêu vấn đề nghị luận.

Ví dụ mở bài sau:Đề bài : phân tích tâm trạng của Thúy Kiều trong đoạn trích Trao duyên

Bài làm:

Trong cuộc sống, đôi khi chúng ta phải đứng trước những sự lựa chọn khắc nghiệt :Chữ Tình và chữ Hiếu. Tuy nhiên công đức sinh thành bao giờ cũng cao cả ,bởi vậy nếu là một người con hiếu thảo yêu thương cha mẹ thì dẫu cho tình yêu kia có đẹp đến mấy, người ta vẫn quyết định chọn chữ Hiếu để trả ơn bố mẹ. Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du đã chọn chữ Hiếu lớn lao ấy. Thế nhưng nàng vẫn muốn bù đắp cho tình yêu dang dở của mình. Vì thế nàng quyết định trao duyên cho em gái là Thúy Vân. Đoạn trích “trao duyên” thể hiện được tất cả những tâm trạng của Thúy Kiều khi trao duyên của mình cho nàng Thúy Vân

“Cậy em em có chịu lời

Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây”

(“Trao duyên”- trích “Truyện Kiều”, Nguyễn Du)

Trong mở bài trên, câu văn in đậm là câu nêu vấn đề nghị luận

Bài văn mẫu Phân tích Trao Duyên:

Thuý Kiều đã mở đầu câu chuyện mà đáng lí ra chẳng ai nói đến bao giờ :

Cậy em em có chịu lời,

Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.

Nghe xong Thuý Vân chắc sẽ rất bất ngờ. Lời chị khẩn khoản, thiết tha chắc không thể chỉ là chuyện bình thường. Trong nhóm các từ biểu đạt sự nhờ vả, Nguyễn Du đã chọn được hai từ đắt nhất và cũng hợp với hoàn cảnh nhất : cậy và chịuCậy không chỉ là nhờ. Cậy còn là trông đợi và tin tưởng. Cũng vậy, chịu không chỉ là nhận lời, chịu còn là nài ép. Chuyện chưa nói ra nhưng Kiều biết người nhận không dễ dàng chịu nhận nên nàng đã chủ động đưa Vân vào thế khó xử, tiến thoái lưỡng nan. Lời xưng hô nghiêm cẩn và trang trọng của Thuý Kiều lại càng có tác dụng gây áp lực đối với Thuý Vân.

“Chọn” và “đặt vấn đề” một cách nhanh chóng và kĩ càng, Thuý Kiều dường như ngay lập tức tiếp lời như nếu để lâu sẽ không thể nào nói được :

Giữa đường đứt gánh tương tư,

Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.

Vậy là cái điều tưởng như khó nhất, Thuý Kiều đã nói. Thuý Vân hết sức ngỡ ngàng nhưng cũng nhanh chóng hiểu nỗi niềm của chị. Đoạn thơ ngắn gọn, hướng vào những chuyện riêng tư. Tình yêu dở dang, tan vỡ được thông tin ngắn gọn trong một thành ngữ nặng nề, chắc nịch (đứt gánh tương tư). Câu thơ thứ 4 lại hay ở hai chữ tơ thừa. Với Thuý Kiều, tình yêu trao cho  em chỉ là sự nối tiếp, chỉ là chắp mối tơ thừa mà thôi. Mặc em ở đây có thể hiểu là Kiều phó thác cho em, gắn trách nhiệm ở em phải cứu vãn tình yêu đó. Lời Kiều sâu sắc và cũng thật xót xa.

Những câu thơ tiếp điểm qua những biến cố đời Kiều. Những biến cố ấy, Thuý Vân đều chứng kiến, thấu hiểu và cảm thông “khi gặp gỡ chàng Kim” và cả “khi sóng gió bất kì”.

Tám câu thơ đầu, ngoài lời trao duyên, Thuý Kiều chủ yếu nói về những bất hạnh của mình. Nhưng để trao duyên, Thuý Kiều còn phải chọn những lời lẽ thuyết phục :

Ngày xuân em hãy còn dài,

Xót tình máu mủ thay lời nước non.

Chị dù thịt nát xương mòn,

Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.

Đoạn thơ sử dụng nhiều thành ngữ, lời lẽ ý vị, kín đáo, vẹn tình. Người “nhận” có ba lí do để không thể khước từ. Trước hết, không cách nhau nhiều về tuổi tác nhưng phải nhắc đến hai chữ ngày xuân với Kiều sao giờ quá nặng nề. Rõ ràng xét về ngày xuân (hiểu là sự trong trắng tinh khôi) thì giờ đây Thuý Kiều đâu thể xứng đáng với Kim Trọng bằng Thuý Vân. Kiều dù sao cũng mang danh là đã có chồng. Lí do thứ hai lại càng thuyết phục hơn. Kiều đang nhờ Vân một điều mà chẳng ai nhờ vả bao giờ. Đã khó nhờ, khó nhận thì vả chăng chỉ có là tình chị em máu mủ mới dễ đồng cảm, để rồi “chấp nhận” cho nhau. Lí do thứ ba nghe sao như một lời khẩn cầu đầy chua xót :

Chị dù thịt nát xương mòn,

Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.

Không hẳn là lí do nhưng lại hoàn toàn hợp lí. Câu thơ khẩn cầu như một lời trăng trối. Và có ai lại đang tâm từ chối ước nguyện của người thân sắp phải thuộc về hoàn cảnh bấp bênh, khôn lường bất trắc ? Người ta nói Nguyễn Du là người sâu sắc nước đời là ở những chỗ như vậy.

Duyên đã được trao, người “nhận” cũng không có lí do gì để từ chối. Thuý Kiều trao kỉ vật cho em :

Chiếc vành với bức tờ mây,

Duyên này thì giữ, vật này của chung.

Thuý Kiều mất bao công sức để thuyết phục Thuý Vân nhưng chính lúc Thuý Vân chấp nhận thì cũng là lúc Thuý Kiều bắt đầu chới với để cố níu mình lại với tình yêu. Duyên đã khó trao, tình làm sao trao được ? Tìm về với những kỉ vật thiêng liêng (chiếc vành, bức tờ mây, mảnh hương nguyền) cũng là để được về với tình yêu của nàng. Những kỉ vật đẹp đẽ đó gắn liền với những ngày đẹp nhất đời Kiều. Nó thiêng liêng khi nó chỉ là của riêng nàng và Kim Trọng. Tình yêu không có người thứ ba, khi có người thứ ba, sự thiêng liêng bắt đầu đổ vỡ. Câu thơ “Duyên này thì giữ vật này của chung” thể hiện tâm trạng của Kiều xiết bao đau đớn. Tình yêu và niềm tin đối với Thuý Kiều giờ đây đã hoàn toàn trượt mất.

Cố níu kéo tình yêu bằng kỉ vật (dù chỉ trong tâm tưởng), Thuý Kiều đành ngậm ngùi đau xót nghĩ về tương lai :

Mai sau dù có bao giờ,

Đốt lò hương ấy so tơ phím này.

Trông ra ngọn cỏ lá cây,

Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.

Thuý Kiều như chìm trong tê dại, mê man trong cảm giác xót xa. Nhưng ngay trong lúc tưởng chừng như đã hoàn toàn cách biệt âm dương thì lời thề vàng đá của Kiều vẫn không hề thay đổi :

Hồn còn mang nặng lời thề,

Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai.

Tìm về tình yêu bằng cảm giác từ cõi tâm linh, Thuý Kiều vẫn không quên nghĩ về sự tủi hổ, bất hạnh của mình :

Dạ đài cách mặt khuất lời,

Rảy xin chén nước cho người thác oan.

Đoạn thơ cuối là cảm giác trở về của Thuý Kiều từ cõi hư không. Thời gian không còn là thời gian tâm trạng, nó là thời gian khách thể. Trở về với hiện thực, Thuý Kiều xót xa chấp nhận sự phũ phàng của định mệnh, chấp nhận “trâm gãy bình tan”, “tơ duyên ngắn ngủi”, “phận bạc như vôi”. Đoạn thơ dùng nhiều thành ngữ để nói tới cái “nhất thành bất biến” không thể thay đổi, chuyển dời. ý thức về hiện tại, Kiều chỉ còn biết thương mình, oán hờn số phận. Ngay trong lúc tưởng chừng Kiều sẽ buông xuôi, thì suy nghĩ của nhân vật lại rẽ sang hướng khác :

Ôi Kim lang ! Hỡi Kim lang

Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây !

Câu thơ thực chất là tiếng kêu thảng thốt, là tiếng nấc nghẹn ngào của người con gái đã hoàn toàn tuyệt vọng.

Thuý Kiều sau đó xa cách Kim Trọng mười lăm năm nhưng trong mười lăm năm ấy không lúc nào nàng nguôi nhớ đến mối tình đầu. Song có lẽ không cần phải đợi đến mười lăm năm. Ngay trong ngày phải đau đớn “trao duyên”, người đọc có thể thấy tình yêu trong lòng người con gái ấy không gì có thể chia cắt nổi.

Ở Trao duyên, cần phải ghi nhận một thành công của Nguyễn Du, đó là bút lực sắc sảo tuyệt vời trong nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật.

6. Các em có thể xem thêm đề thi sau: Cảm nhận của em về tám câu cuối đoạn trích trao duyên( Truyện Kiều -Nguyễn Du)

Hướng dẫn :

(8 câu cuối):Kiều  trở về với thực tại đau xót khi nhớ tới Kim Trọng
Hướng đến tương lai đã không cho Kiều một sự giải thoát, quay về thực tại Kiều càng đau đớn bội phần. Tiếng nói thành tiếng than khóc, nói với em mà như nói với chính mình, rời quên hẳn xung quanh chỉ còn hướng đến người yêu đang vắng mặt:
« Bây giờ trâm gãy gương tan
Kể làm sao xiết muôn vài ái ân !
Trăm nghìn gửi lạy tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi !
Phận sao phận bạc như vôi !
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng

Ôi Kim lang hỡi Kim lang

Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây »
“Bây giờ” của Kiều là “trâm gãy gương tan”, “tơ duyên ngắn ngủi”, là“phận bạc như vôi”, là“nước chảy hoa trôi”. Hình ảnh ước lệ “trâm gãy gương tan” và một loạt những thành ngữ, từ ngữ dân gian cho thấy sự ý thức sâu sắc về bi kịch hiện tại của Thuý Kiều. Thực tại đó hoàn toàn đối lập với quá khứ hạnh phúc, đẹp đẽ không sao kể xiết mà nàng đã có “muôn vàn ái ân”. Quá khứ giờ đây đã trở thành niềm khát khao mãnh liệt của Kiều. Bi kịch vì vậy càng sâu sắc.
– Câu thơ “Trăm nghìn gửi lại tình quân” thể hiện sự day dứt, giày vò, biểu hiện tình yêu cao đẹp Kiều dành cho Kim Trọng, đồng thời cũng cho thấy một nhân cách vị tha trong sáng.
– Khi bi kịch tình yêu lên đến đỉnh điểm, Kiều thốt lên tiếng kêu xé lòng: “Ôi Kim lang! hỡi Kim lang / Thôi thôi tiếp đã phụ chàng từ đây.”+ Thán từ “ôi, hỡi” như một tiếng nấc đau thương.+ Lời gọi được lặp lại một cách trang trọng “Kim lang” như một lời kêu cứu tuyệt vọng.
+ Nhịp thơ 3/3 ở câu trên như một tiếng nấc nghẹn ngào, trong khi đó, điệp từ “thôi” vừa thể hiện sự dằn vặt, vừa xác nhận sự phụ bạc, nhịp thơ ngân dài như một tiếng than vọng mãi không lời đáp, tiếng kêu cứu trong tuyệt vọng.
Đoạn trích kết lại bằng tiếng kêu xé lòng trong tột cùng đau đớn của Thúy Kiều khi nàng ý thức sâu sắc bi kịch tình yêu tan vỡ của mình. Kiều thương mình thì ít, thương cho chàng Kim thì nhiều. Nàng đã nhận hết mọi trách nhiệm của sự tan vỡ tình duyên về mình. Có thể nói, trong đau khổ tột cùng Kiều vẫn sáng lên vẻ đẹp của một nhân cách cao thượng: ân cần, chu đáo với Kim Trọng mà vẫn tự trách, nàng quên đi bất hạnh của mình để cảm thông cho người khác. Đây là giây phút độc thoại thật nhất, nhân bản nhất.
Tổng kết:
– Trao duyênlà âm hưởng mở đầu cho cung đàn bạc mệnh của Thuý Kiều. Đoạn trích khắc hoạ những phẩm chất cao đẹp của Thúy Kiều: son sắt, thuỷ chung, giàu đức hi sinh, giàu lòng vị tha, quên mình vì hạnh phúc của người khác. Qua đoạn trích, Nguyễn Du đã tỏ ra thấu hiểu, cảm thông với những khổ đau và khát vọng tình yêu của nàng Kiều – một con người vừa cao cả về mặt đạo đức, vừa nhân bản về mặt con người.
– Tài năng bậc thầy của Nguyễn Du trong việc miêu tả nội tâm nhân vật (vừa sâu sắc, vừa phức tạp, vừa tinh tế), sử dụng ngôn từ chọn lọc, hàm súc đã được khẳng định qua đoạn trích.

(Có tham khảo bài viết từ : Lờigiảihay.com)

Có thể bạn quan tâm :

Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về  trao duyên

1. tóm tắt Truyện kiều của Nguyễn Du

 http://vanhay.edu.vn/tom-luoc-truyen-kieu-cua-nguyen-du

2. Đoạn trường tân thanh là gì ?

http://vanhay.edu.vn/doan-truong-tan-thanh-la-gi

Xem thêm : Tuyển tập đề thi ngữ văn 10