Tất tần tật về bài thơ Tràng Giang Huy Cận

Ôn tập bài Tràng Giang Huy Cận

TÁC GIẢ HUY CẬN

  • Huy Cận (1919 – 2005) tên khai sinh là Cù Huy Cận, quê ở làng Ân Phú, huyện Hương Sơn (nay là xã Đức Ân, huyện Vũ Quang), tình Hà Tình.
  • Năn 1939, ông ra Hà Nội học ở trường Cao đẳng Canh nông. Từ năm 1942, ông tích cực hoạt động trong Mặt trận Việt Minh. Ông tham dự Quốc dân đại hội Tân Trào, được bầu vào ủy ban Dân tộc giải phóng toàn quốc. Sau Cách mạng tháng Tám, ông liên tục tham gia chính quyền cách mạng, giử nhiều trọng trách khác nhau. Năm 1996, ông được Nhà nước tặng Giải thưởng Hổ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
  • Trước Cách mạng, Huy Cận là một trong những tác giả tiêu biểu nhấtcúa phong trào Thơ mói, nổi tiêng vói tập Lửa thiêng. Sau Cách mạng, ông sáng tác dồi dào và có nhiêu đổi mới, tìm thấy sự hòa điệu giữa con người và xã hội tiêu biểu là các tập thơ: Trời mỗi ngày lại sáng, Đất nở hoa, Bài thơ cuộc đời,…
  • Huy Cận vốn yêu thích thơ ca Việt Nam, thơ Đường và chịu nhiều ảnh của văn học Pháp. Thơ của Huy Cận hàm súc, giàu chất suy tưởng, triết  lí.

TÁC PHẨM TRÀNG GIANG

Hoàn cảnh ra đời

Tràng giang là một trong những bài thơ hay nhất, tiêu biếu nhất Huy Cận, được viết vào mùa thu năm 1939 (in trong tập Lửa thiêng) và cảm xúc được khơi gợi chủ yếu từ cảnh sông Hổng mênh mang sóng nước…

Những nội dung chính

 a, Nhan đề Tràng giang và lời đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” đã thâu tóm được mạch cảm xúc chủ đạo vừa gọi ra nét nhạc chủ âm cho cả bài thơ. Tràng giang miêu tả một con sông vừa dài vừa rộng, lại vừa gợi ra cảm giác mênh mang và đượm buồn. “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” vừa mang nghĩa khái quát về không gian nghệ thuật của bài thơ – khung cảnh sông nưóc mênh mông,  vô biên – vừa khái quát lên tâm trạng buồn, cô đơn giữa “trời rộng” “sông dài”. Cả nhan đề và câu đề từ gợi cho ta cảm nhận được sự đối lập giữa không gian rộng dài, mênh mông với cái mong manh, bé nhỏ của con người. Toàn bộ bài thơ thấm đẫm một nỗi buồn của con người trước thiên nhiên, vũ trụ bao la. Mỗi một khố thơ là một sự triển khai và cũng là một nét biếu hiện của nỗi buồn lớn đó.

b) Ở khổ thơ thứ nhất, tác giả đã miêu tả không gian sông nước mênh mang  với hình ảnh của “sóng gợn tràng giang”,”nước… trăm ngả ‘, lạc mấy dòng”. Trong không gian sông nước mênh mông ấy, hình ảnh của cõi nhân thế con người -bắt đầu  hiện ra. Hình ảnh “Con thuyền xuôi mái” gợi sự nổi trôi, phó mặc trước dòng đời đến đâu thì đến. “thuyền về nước lại” gợi sự chia li, không cùng chung hướng đi. Đặc biệt, hình ảnh “Củi một cành khô lạc mấy dòng” đã gợi sự liên tưởng đen hình ảnh lẻ loi, trơ trọi và nhỏ bé của con người trước dòng đời xuôi ngược:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng

Cả khổ thơ đã gợi được cả cảm xúc và ấn tượng về một nồi buồn triền miên kéo dài theo không gian (tràng giang, trăm ngả) và theo thời gian (điệp điệp). Với nghệ thuật đối của thơ Đường, thanh điệu hóan vị bằng trắc đều đặn đà tạo nên một âm điệu, tiết tàu nhịp nhàng, chậm rãi, trầm buồn cho cả khổ thơ.

c) Bức tranh tràng giang tiếp tục được cảm nhận cụ thể và có thêm nhiều chi tiết ở khổ thơ thứ hai. Ở hai câu đầu, không gian được thu về một tiêu điểm: “cồn nhỏ”. Các từ láy “lơ thơ”, “đìu hiu” đi liền với hình ảnh “cồn nhỏ” đã cho thấy cảnh vật nơi đây rất hoang sơ và vắng lặng. Câu thơ thứ hai càng tô đậm thêm nét tĩnh lặng ủa cảnh vật: “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”. Câu này có hai cách hiểu. Cách thứ nhất: đâu (đâu đây) tiếng làng xa vãn chợ chiều. Cách thứ hai: đâu (không có, đâu có) tiếng làng xa vãn chợ chiều. Dù hiểu theo cách  nào thì không gian ở đây cùng mang vẻ vắng lặng cô tịch, chỉ có thiên nhiên trong khi sự sống của con người thì xa vắng, mơ hồ:

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.

Đến hai câu sau, không gian tràng giang được mờ ra ba chiều đến  mênh mông, vô tận:

Nắng xuống trời lên sâu chót vót 

Sông dài trời rộng bến cô liêu

Không gian được mở ra nhiều chiều khác nhau: chiều cao (trời lên), chiều dài (sông dài) và cả chiều rộng (trời rộng). Một không gian càng rộng, càng dài, càng sâu thì cảnh vật càng trở nên vắng lặng, bờ bên càng trở nên bé nhỏ, lẻ loi: “bến cô liêu”. Nỗi buổn trong khổ thơ này như bao trùm khắp không gian, vũ trụ, lan sang cả mọi vật và thấm sâu vào lòng người.

d) Khổ thơ thứ ba tiếp tục hòa điệu cùng hai khổ tho đầu càng làm tăng thêm cảm giác buồn:

Bèo dạt về đâu, hàng nốihàng;

Mênh mông không một chuyến đò ngang.

Không cầu gợi chút niềm thân mật,

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

Hình ảnh những cánh bèo trôi dạt trên sông nước cùng với những hình ảnh “con thuyền xuôi mái”, “củi một cành khô lạc mấy dòng” càng gợi ấn tượng về sự lênh đênh, phiêu dạt vô định và sự tan tác, chia li. Thêm vào đó, cảnh vật càng gợi buồn hơn bời cái vắng vẻ, tĩnh lặng, chỉ có thiên nhiên sông nước mà không có sự sống của con người: không chuyến đò, không cầu, chi có bờ xanh tiếp bãi vàng. Chuyến đò ngang và cấy cầu bắc qua sông là những phương tiện kết nối đôi bờ, giúp con người qua lại tượng trưng cho sự giao hòa, kết nối sự sống. Thế mà bây giờ cũng  đều “không” có! Cái tôi trữ tình ờ đây không những buồn vô tận mà còn rất khao  khát những dấu hiệu của sự sống, sự hòa hợp giữa con người với nhau,

e) Khổ thơ cuối của bài thơ vừa vẽ ra một khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ, vừa thể hiện tâm lòng của thi nhân. Bức tranh ấy được dựng bằng hình ảnh lớp lớp mây chồng xếp lên nhau thành núi mây trắng trông như dát bạc. Ở đó xuất hiện một cánh chim nhỏ, tương phản với “lớp lớp mây cao” càng làm cho khung cảnh thêm hùng vĩ hơn nhưng cũng càng gợi ra sự cô đơn, bơ vơ và nhỏ nhoi đên tội nghiệp:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.

Hai câu cuối diễn tả một nỗi niềm nhớ quê da diết của nhà thơ. Hai câu này nhà thơ “học” ý từ hai câu thơ trong bài Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu: “Quê hương khuất bóng hoàng hôn – Trên sông khói sóng cho buôn lòng ai” (Tản Đà dịch)-

Nhưng Huy Cận đã có sáng tạo riêng:                              I

Lòng quê dợn dợn vời con nước,

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Vói ông, ông không hể thây “khói hoàng hôn” mà vẫn nhớ nhà. Vậy, nỗi nhớ ấy đã luôn thường trực ở ông còn gì? Và suy rộng ra, ông nhớ nhà cũng là nhớ quê, một trong những biểu hiện của tình yêu nước.

Đặc sắc nghệ thuật

Bức tranh Tàng giang mang đầy tâm trạng được vẽ ra bằng bút pháp cổ điển và bút pháp hiện đại.

 

Chủ đề tư tưởng

Qua việc miêu tả bức tranh thiên nhiên sông nước mênh mông, nhà thơ bộc lộ nỗi sâu của một cải tôi cô đơn trước thiên nhiên rộng lớn, trong đó thấm đượm tinh người, tình đời, lòng yêu nước thầm kín mà thiết tha.

HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP DẠNG CÂU HỎI TÁI HIỆN KIẾN THỨC

Câu 1, Nêu hoàn cảnh ra đời, cảm hứng chủ đạo và câu tử bài thơ Tràng giang Huy Cận

Gợi ý trả lời

Hoàn cảnh ra đời của bài thơ

Tràng giang là bài thơ được sông Hồng gợi tứ. “Một buổi chiều mùa thu năm 1939, khi đứng ở bờ nam bến Chèm nhìn ngắm cảnh sông Hông mênh mông sóng nước, bốn bề bao la vắng lặng, nghĩ về kiếp người trôi nổi  tứ thơ Tràng giang đã được hình thành” (Huy Cận). Bài thơ được in trong tập Lửa thiêng.

Cảm hứng chủ đạo của bài thơ

Đứng trước không gian mênh mông của đất trời, trong sâu thẳm lòng người trào dâng nỗi bâng khuâng trước cảnh sông dài trời rộng. Cảm hứng chủ đạo này được nhà thơ thâu tóm trong nhan đề “Tràng giang” và câu đề tù “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài

Cấu tứ của bài thơ

Toàn bộ bài Tràng giang là một nỗi buồn. Bài thơ gồm bốn khố thơ giống như bôn bài tứ tuyệt Đường thi, mỗi khổ thơ là một sự triển khai cửa nồi buồn đó. Mặc dù trong mỗi khổ thơ, cảnh vật và tâm trạng con người được thể hiện khác nhau ở mức độ nào đó nhưng đều có điếm chung hệ thống trong một chỉnh thể là cảnh sóng nước mênh mang bao la và con người với cái tôi  nhỏ bé, mang  tâm trạng cô đơn, buồn sầu.

Câu 2. Anh/chị hiếu thế nào về câu thơ đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” (Tràng giang – Huy Cận)? Đề từ đó có mối liên hệ gì với bực tranh thiên nhiên và tâm trạng của tác giả trong bài thơ?

Gợi ý trả lời

  • “Trời rộng”, “sông dài” mang nghĩa khái quát về không gian nghệ thuật của bài thơ. Đó là một khung cảnh sông nước mênh mông, vô biên. “Bâng khuâng”, “nhớ” khái quát lên tâm trạng buồn, cô đơn giữa “trời rộng”, “sông dài”.
  • Mối liên hệ của câu đề từ với bức tranh thiên nhiên và tâm trạng của tác giả trong bài thơ :

+ Câu đề từ như thâu tóm hết nội dung tư tưởng của cả bài thơ. Đối  diện với cái mênh mông của không gian và cái vô tận của thòi gian, nhân vật trữ tình cảm nhận một cách thâm thía nỗi cô đơn, nhỏ nhoi của chính mình, thấy mình trớ nên bơ vơ  lạc lõng giữa dòng đời vô tận. Càng phát hiện sự mênh mông của cảnh vật, con ngươi ở đây càng lạc lõng. Đó là nỗi niềm của cái tôi nhà thơ.

+ Lời đề từ vừa tô đậm thêm cảm giác “tràng giang” vừa thâu tóm cảm xúc chủ đạo vừa gợi ra nét nhạc chủ âm cho cả bài thơ.

ĐỂ NGHỊ LUẬN VĂN HỌC

Đề 1 : Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ sau:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,

Con thuyền xuôi mái nước song song,

Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;

Củi một cành khô lạc mấy đòng.

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.

Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.

(Tràng giang – Huy Cận, Ngữ văn 11, Tập hai, NXB Giáo dục, 2008, tr.29)

Gợi ý bài làm

Mở bài

  • Huy Cận là một trong những tác giả xuât sắc của phong trào Thơ mới .Tác phẩm đáng chú ý nhất của ông trước Cách mạng là tập thơ Lửa thiêng. Thơ của Huy Cận hàm súc, giàu chất suy tường triết lí.
  • Tràng giang là một trong những bài thơ hay nhất, tiêu biếu nhất của Huy Cận. Bài thơ này được viết vào mùa thu năm 1939 (in trong tập Lửa thiêng) và cảm xúc được khơi gợi chú yếu từ cảnh sông Hồng mênh mang sóng nước.Một trong những đoạn thơ hay của bài thơ là đoạn sau: (trích dẫn nguyên văn đoạn thơ).

Thân bài

Khổ thơ đầu

Nội dung

Hình ảnh thiên nhiên trên sông nước: sóng gợn, nước – trăm ngả, lạc mấy dòng. Hình ảnh con người của cõi nhân thế được gợi lên từ hình ảnh: con thuyền xuôi theo dòng nước, một cành củi khô trôi dạt. Tât cả như hòa điệu, gợi nên nỗi sầu buồn triền miên của cái tôi trữ tình.

Nghệ thuật

Khổ  thơ mang âm điệu của Đường thi, nhưng cũng rất mới mẻ, hiện đại bởi  hình ảnh một cành củi khô trôi dạt giữa dòng nước.

Khố thơ sau

Nội dung

Ở hai câu thơ đầu, không gian được thu về một tiêu điểm : cồn nhỏ”. Các từ láy lơ thơ”, “đìu hiu” và câu thơ “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều’ đểu gợi lên sự hoang vắng, tĩnh lặng cùa thiên nhiên tràng giang.

Ở hai câu thơ sau, không gian dường như được mở rộng theo những chiều bát ngát, sâu thăm thẳm (nắng xuống – trời lên – sâu chót vót; sông dài — trời rộng – cô liêu) và bao trùm lên toàn bộ cảnh vật vẫn là một nỗi buồn, một tâm trạng cô đơn của con người được gợi ra từ chính cảnh vật ấy (bến cô liêu).

Nghệ thuật:

Phép đối nhiều từ láy cùng với hình ảnh mới lạ, độc đáo (lơ thơ cồn nhỏ, nắng xuống trời lên, sâu chót vót, bến cô liêu…) đã tạo nên những câu thơ giàu sức gợi, nhịp nhàng với âm điệu thiết tha sâu lắng.

Kết bài                       ,

Đoạn thơ trên góp phần thể hiện sâu sắc tâm trạng buồn, cô đơn của cái tôi nhà thơ. Đó cũng là “một nỗi buồn thế hệ”.

Tràng giang nói chung vừa mang phong vị cổ điển vừa mang vẻ đẹp hiện đại của Thơ mới.

Bài văn phân tích Tràng Giang

“Là người đi lượm lặt những chút buồn rơi rớt để rồi sáng tạo ra những vần thơ ảo não, người đời sẽ ngạc nhiên vì không ngờ với một ít cát bụi tầm thường thỉ nhân lại có thể đúc thành bao nhiêu châu ngọc”. Đó là lời nhận xét đầy trân trọng của Hoài Thanh dành cho Huy Cận, một trong những cây bút nổi tiếng trong phong trào Thơ mới 1930 – 1945. Huy Cận (1919 – 2005) tên khai sinh là Cù Huy Cận sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo ở Hương Sơn – Hà Tĩnh. Huy Cận – một dấu chấm cảm thán khẳng định tính cổ điển có sức lay động lòng nguời! Bằng phong cách độc đáo, với chấ  thơ hàm xúc giàu chất suy tuởng, triết lí ông đã nhà nước trao tặng giải thưởng danh giá Hồ Chí Minh (1996) với những tập thơ nổi tiếng: Vũ trụ ca, Trời mỗi ngày lại sáng, Đất nở hoa,… Nhất là tập thơ đẩu tay Lửa thiêng đã đánh dâu tên tuổi của ông trên thi đàn cũng như chỗ đứng trong lòng đọc giả mà bài thơ Tràng giang đã thực sự đi vào lòng người. Men say của thi phẩm chính là chất cổ điển và hiện đại lồng ghép hài hòa cùng niềm yêu nhớ quê hương đất nước tha thiết của thi nhân mà hai khổ thơ đầu trong bài thơ là điển hình nhất:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,

Con thuyền xuôi mái nước song song,

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả;

Củi một cành khô lạc mây dòng.

Lơ thơ cồn nhò gió đìu hiu,

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.

Nắng xuống, trời lên sâu chót vót

Sông dài trời rộng bến cô liêu.

Tràng giang là một trong những bài thơ nổi tiếng nhất của Huy Cận “hầu như trở thành cố điển” (Xuân Diệu) đuợc viết vào năm 1939 thuộc thể thơ thất ngôn Đường luật. Tác phẩm được gợi cảm hứng từ một buổi chiều mùa thu năm 1939 khi Huy Cận đên bên bờ Nam bên Chèm nhìn ra cảnh sông Hồng mênh mông sóng nuớc. Trong một buổi chiều mùa thu, trước một khung cảnh đượm buồn giữa một không gian bao la rộng lớn, nhà thơ đang trĩu nặng tâm trạng của một người dân mất nước tha thiết yêu quê hương nhưng chưa tìm được hướng đi. Chính vì thế mà từng câu từng từ trong mỗi khổ tha của Tràng giang cũng chính những tâm sự mà Huy Cận đang chôn giấu – tất cả được nhà thơ gửi gắm vào dòng sông trước mặt để dòng nưóc kia cuốn trôi đi, kéo đi. những u buồn sầu lụy. Ta nhận thấy trong tâm trạng Huy Cận bây giờ như đang nhấp nhô theo từng con sóng nưóc, hòa quyện vào cảnh vật thiên nhiên tạo cho bài thơ nét đẹp cổ điên lại vừa đượm nét hiện đại để lại ấn tượng khó quên trong lòng độc giả.

Trước hết ngay từ thi đề, Huy Cận đã khéo léo gợi lên vẻ đẹp cổ điển lại rất hiện  đại cho bài thơ Tràng giang- cách nói đầy sáng tạo mang sắc thái trang nhã và truyền thông. Với việc láy vần “ang”, “tràng giang” như đã thể hiện khá rõ nét về không gian trước mắt Huy Cận. Đó là một dòng sông không chỉ dài vô cùng mà còn rộng mênh mông, bát ngát gọi liên tưởng về sông Trường Giang trong thơ Đường với những bản ca bất hủ Hoàng Hạc lâu (Thôi Hiệu), Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng (Lí Bạch), một dòng sông muôn thuở vĩnh hằng, dòng sông của tâm tưởng. Đổng thời Tràng giang còn góp phần tạo dư âm vang xa, trầm lắng và lan sang cả câu thơ đề từ:”Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”. Đây là cách diễn đạt mới về cảm xúc và tâm trạng. Giản dị, hàm súc, câu đề từ đã thâu tóm tất cả những cảm xúc chú đạo của toàn bài thơ. ” trời rộng – nhớ – sông dài” sao mà miên man, da diết thế ? Sự chia li giữa khoảng trờ rộng mênh mông vói dòng sông dài tít tắp được từ láy “bâng khuâng” thể hiện cụ thể, sinh động về một nỗi buồn man mác, mênh mang lan tỏa khắp không gian mang cảm hứng vũ trụ; gọi cho bài thơ âm điệu buồn lặng lẽ, da diết và sâu lắng. Cái tôi trữ tình giờ đây nhỏ bé, cô đơn và lạc lõng trước một khung cảnh thiên nhiên rộng lón. Dòng sông Hồng cũng dần hiện lên trong tâm tưởng của độc giả với những con sóng vỗ về đều đặn khắp các khổ thơ.

Chúng ta cùng lắng lòng mình để lắng nghe những tâm sự của thi nhân cũng như cùng ngắm nhìn dòng sông tâm trạng đang dần mở ra với:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mây dòng

Dòng sông Hồng thòi đại hiện ra mênh mông, bát ngát vói những con sóng gợn chạy dài tít tắp nhưng lại mang một nỗi buồn không xô, không đập, không dữ dội mà chỉ nhẹ nhàng trồi lên thành những làn sóng nhỏ lăn tăn trên mặt sông. “Buồn” nhưng lại “điệp điệp” – láy nguyên – gợi lên một cảm giác về nỗi buồn miên man, nó nối tiếp nhau theo những con sóng chạy về vô tận. Sóng lòng hay sóng của dòng sông? Sao mà nó vô tận? Huy Cận đã rất tinh tế khi lấy hữu hình của sóng trên tràng giang mà đặc tả cái vô hình của nỗi buồn con người, càng thể hiện rõ hơn một nỗi buồn của thi sĩ mất nước.

Nhấp nhô, nổi trôi trên những con sóng “điệp điệp” là chiếc thuyền nhỏ bé và đơn độc. Hình ảnh chiếc thuyền xuôi mái theo dòng nước song song như có một nỗi buồn chia li, xa cách. Thuyền 1 nước là hai vật thể hiện hữu song song nhau nhưng lại chẳng liên quan gì nhau, “về – lại” – hai trạng thái, hai hướng trái ngược nhau gợi nỗi xa cách hững hờ nổi lên giữa nỗi “sầu trăm ngả”. Bất thình lình chiếc thuyên biến mất chỉ còn đó, “củi một cành khô lạc mấy dòng”. Sự lạc lõng ây là sự khủng hoảng về đường lôi,về lí tưởng sống, quan điểm sống.

Nó không phải là sự trốn tránh thực tại tìm vào những cảm giác mơ hồ của tâm hồn. Trong tâm trạng đó, hoàn cảnh đó, con người vẫn yêu đời, vẫn nhìn thấy vẻ đẹp của cuộc sống, của thiên nhiên.

“Con thuyền” đã nhỏ bé nay cành củi khô kia lại càng nhỏ bé hơn. Nó đơn lẻ bồng bênh lạc giữa dòng với những con sóng cứ chạy mãi về cõi vô định, không biết đâu là  bở. Hình ảnh mang đầy tính chất thi vị gợi sự đồng cảm vói nhà thơ về thân phận nhỏ bé, cô độc, lạc loài của những kiếp người tội nghiệp.

Chi tiết  “củi một cành khô” cùng nghệ thuật đảo ngữ kết hợp vói các điệp từ “điệp điệp”, “song song”, hình ảnh vận động trái chiều “thuyền về   nước lại'”  gợi lên khoảng mênh mông của sóng nước, nó đổi lập vói con người cõi nhân sinh nhỏ bé, cô đơn, sự sông yếu ớt giữa khoảng vũ trụ bao la. Huy Cận trước Cách mạng cũng rơi vào hoàn cảnh khủng hoảng sâu sắc. Ông đứng trên lập trường người trí thức tiểu tư sản và nhìn xã hội bằng đôi mắt buồn ảo não. Huy Cận cô đơn bê’ tắc giữa dòng đời mênh mông, lạc lõng trước những biên động của cuộc sống. Ta có cảm giác như có một sự sợ hãi trong tâm hồn thi nhân, giông như một cành củi khô không biết đi đâu về đâu.

Nỗi buồn cứ như thế tan vào cảnh vật, hòa quyện cùng thiên nhiên đát trời, cùng sóng nước sông Hồng mênh mang, tầm nhìn của Huy Cận như được mở rộng hơn. Nhà thơ đưa mắt nhìn toàn cảnh sông Hồng trong khung cảnh tĩnh lặng, cô quạnh và im lìm của một buổi chiều tà buồn tẻ:

Lơ thơ côn nhỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Nắng xuống, trời lên, sâu chót vót

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.

Bao phủ trên cảnh vật là một nỗi sầu trăm ngả. Cảnh thật vắng vẻ, đưa mắt ra nhìn chỉ thấy thấp thóang đâu đó “cồn nhỏ” lơ thơ trổi lên mặt nước, xung quanh là sóng nưóc bao vây gần như bị cách li tuyệt đối. Khổ thơ phảng phất nét đẹp trong thơ truyền thống.

Non Kì quạnh quẽ trăng treo

Bến Phì gió thôi đìu hiu mấy gò.

(Bản dịch – Chinh phụ ngâm)

Từ láy “đìu hiu” trong “gió đìu hiu” kết hợp vói “lơ thơ” được Huy Cận khéo léo sắp xếp trên cùng một dòng thơ đã vẽ lên một quang cảnh vắng lặng và cô tịch. Cụm từ “lơ thơ” gợi chút ít ỏi nhỏ bé, đìu hiu” gợi sự tiêu điều cô độc. Tất cả những điều đó càng diễn tả sâu sắc hơn vẻ u buồn vắng lặng của buổi hoàng hôn. Cái tôi trữ tình bỗng trở nên cô đơn và rợn ngợp đến nỗi phải thốt lên “đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”? Chỉ một câu thơ mà mang nhiều sắc thái vừa gợi đâu đó hình ảnh phiên chợ chiều thưa thớt vắng vẻ với những âm thanh, tiếng nói xa xăm không rõ rệt và mơ hồ. Nhà thơ đã thật sự thành công với nghệ thuật lấy động tả tĩnh càng làm tăng thêm vẻ hiu hắt vắng vẻ của một phiên chợ chiều thưa thớt và cô tịch. Đồng thời câu thơ còn là một câu hỏi tu từ, Huy Cận tự vấn lòng để từ đó, tận sâu trong đáy tâm sự bật lên tiếng lòng. Một nỗi khát khao mong mỏi được hòa nhập vào thiên nhiên, tìm thấy đâu đó sự sổng để thắp lên tia hi vọng cho cuộc đời, cho con đường cách mạng giữa những khó khăn trăm bề của thời đại cũng như chính Huy Cận cũng đang cố vẫy vùng để thoát ra khỏi sự vắng vẻ, lẻ loi, thoát li nỗi u buồn lạc lõng. Nhưng đáng buồn thay! Càng bươn trải càng vẫy vùng, Huy Cận càng bị lún sâu hơn vào tâm trạng mà bản thân đeo mang. Và, quang cảnh trước mặt ông dần dần lấn áp tất cả, thâu tóm cả con người và tâm trạng Huy Cận.

Nắng xuống, trời lên, sâu chót vót

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.

Trên dòng sông mênh mông rộng lớn, hoàng hôn đang dần buông xuông bao phủ cả dòng sông. Ở đây có sự vận động trái chiều: trong khi ánh hoàng hôn đang dần buông xuống bên kia bến Chèm thì bầu trời càng trờ nên chót vót và mênh mông vô tận. Giữa tràng giang và bầu rời càng xa cách. Khoảng cách ấy đã trờ nên đặc biệt với cái nhìn của thi sĩ “trời lên, sâu chót vót”. Ở đây với cảm nhận của Huy Cận, bầu trời không còn cao nữa mà đã “sâu chót vót”, chiều sâu bao trùm cả chiều cao tạo nên một cảm giác mới mẻ, hun hút mờ ra một không gian bao la vô tận, với sông dài trời rộng càng làm tăng thêm vẻ vắng vẻ cô liêu của không gian sông nước. Điều đó cũng cho phép ta thử liên tưởng đến cảnh sông Hồng lúc bây giờ được nắng chiếu rọi xuống đỏ rực lan ra khắp nơi như được đổ lửa, nền trời sâu và rộng. Trên bến  Chèm, Huy Cận như một chấm điểm khuyết tượng trưng cho sự sống, một tia hi vọng sống nhỏ bé. Quang cảnh thật quạnh quẽ, nhưng cũng thật hùng vĩ và tráng lệ càng khiến nỗi cô đơn trông vắng thêm thâm thía  trong cõi lòng thi sĩ.

Mỗi khổ thơ là một bức tranh tâm cảnh, chất chứa trong cảnh mênh mông, xa vắng là tâm tư tình cảm sâu lắng thiết tha của thi nhân. Huy Cận cũng giống như bao nhà thơ mới cùng thời không tránh khỏi những sầu muộn, ủy mị. Nhưng vượt lên trên tất cả là tình yêu quê hương trong cảnh non sông mờ cát bụi. Bối cảnh ấy, thân phận mất nước thật không thể khác được. Hai đoạn tho trên có thể coi là hai lát cắt tâm hồn thể hiện cảm xúc chôn giấu kín trong “sâu chót vót” tâm hổn không thể nói ra của thi nhân.

Tóm lại, một Lửa thiêng làm nên một tên tuổi Huy Cận, làm nên vị trí xứng đáng cua Huv Cận trong làng thơ mới. Thi phẩm Tràng giang gắn liền với tên tuổi của ông. Dầu thời gian có phôi phai theo năm tháng thì vẫn còn mãi nguyên vẹn một tấm lòng, một nỗi sầu rất thật, rất  Huy Cận:”Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”.

(Đinh Thị Mộng Trinh – 11CB1, THPT Mỹ Quý, Đồng Tháp)

Dẫn theo Trần Liên Quang -Đỗ Thị Yên

 

Hướng dẫn ôn tập bài Tràng Giang SGK Ngữ văn 11

TRÀNG GIANG

                                                                              – Huy Cận –

ÔN TẬP KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ BÀI TRÀNG GIANG:

Giới thiệu tác giả và tác phẩm:

Huy Cận là một trong những gương mặt tiêu biểu của thơ ca Việt Nam hiện đại. Ông sáng tác ở cả hai giai đoạn trước và sau cách mạng Tháng tám và ở giai đoạn nào cũng gặt hái nhiều thành công. Trước cách mạng, ông là một trong những đại biểu xuất sắc của phong trào Thơ mới với hồn thơ ảo não. Thơ ông hàm súc, giàu chất suy tưởng, triết lí. Một trong những bài thơ tiêu biểu của ông trước cách mạng là “Tràng giang”. (Nêu vấn đề theo đề bài)

Khái quát về bài thơ:

Bài thơ được sáng tác vào mùa thu năm 1939, khi đó Huy Cận đang là sinh viên trường Cao đẳng Canh nông ở Hà Nội. Những chiều buồn, nhớ nhà, Huy Cận thường ra bến Chèm bên bờ sông Hồng ngắm nhìn dòng nước mênh mang. Bài thơ được khơi gợi cảm xúc từ đây. Tác phẩm được in trong tập “Lửa thiêng”, viết bằng thể thơ thất ngôn, gồm một câu đề từ và bốn khổ thơ. Nhan đề bài thơ là “Tràng giang”, cũng đồng nghĩa với “Trường giang”, nghĩa là “sông dài”. Nhưng việc điệp lại âm mở “ang” ở nhan đề tạo ra âm hưởng vang xa, không chỉ gợi ra con sông dài vô tận mà còn rộng lớn mênh mang. Nhan đề bài thơ gợi ra nhiều cảm xúc.

Nội dung và nghệ thuật:

Khổ thơ đầu: mở ra bức tranh thiên nhiên tràng giang:

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,

                                        Con thuyền xuôi mái nước song song.

                                        Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả,

                                        Củi một cành khô lạc mấy dòng”.

Ba câu thơ đầu mang đậm màu sắc cổ điển, vẽ ra hình ảnh con thuyền nhỏ nhoi lênh đênh trôi dạt trên dòng sông rộng lớn, mênh mông. Hai từ láy nguyên “điệp điệp”, “song song” ở cuối hai câu đầu mang đậm sắc thái cổ kính của Đường thi. Nó đầy sức gợi hình, gợi liên tưởng về những con sóng cứ loang ra, lan xa, gối lên nhau, miên man, miên man đến tận nơi nào. Không chỉ vậy, bằng phép đối giữa câu trên “Buồn điệp điệp” với câu dưới “nước song song”, nhà thơ còn ngầm so sánh nỗi buồn của mình cũng trùng trùng, điệp điệp, triền miên, vô tận như những con sóng. Trên dòng sông gợn sóng “điệp điệp”, “song song” ấy là một “con thuyền xuôi mái”, con thuyền không người lái, trôi vô định, lững lờ theo dòng nước. Hình ảnh con thuyền trôi nổi, đơn lẻ, vô định dường như càng trở nên bé nhỏ, mất hút đi giữa dòng sông sóng nước mênh mông, càng tô đậm nỗi buồn, sự cô đơn giữa không gian vô tận của nhà thơ. Ở câu ba, thuyền và nước vốn đi liền với nhau, thuyền trôi đi cùng với dòng nước, nước đẩy thuyền trôi theo; thế mà ở đây Huy Cận lại thấy thuyền và nước đang chia lìa, xa cách “thuyền về, nước lại”. Cảnh gợi ra sự cô đơn, xa vắng, chia lìa. Chính vì thế mà gợi ra trong lòng người nỗi “sầu trăm ngả”. Trăm ngả nước là trăm ngả sầu. Nỗi “buồn”  tăng cấp thành nỗi “sầu” chất chứa, chẳng thể vơi được. Câu thơ cuối khổ thơ mang nét hiện đại với một hình ảnh rất đời thường: một cành củi khô trôi dạt giữa “mấy dòng” nước. Phép đảo đưa hình ảnh “củi”, một sự vật bé nhỏ, tầm thường lên đầu câu làm nổi bật cái nhỏ nhoi của nó; và phép đối giữa “một” cành củi khô với “mấy” dòng nước càng nhấn mạnh hơn sự nhỏ nhoi, cô độc đến tội nghiệp của “cành củi khô” với dòng sông mênh mông vô tận. Hình ảnh này gợi liên tưởng đến kiếp người nhỏ bé, bơ vơ giữa dòng đời bất tận. Cả khổ thơ đầu, bằng sự kết hợp hài hòa giữa sắc thái cổ điển và hiện đại, nghệ thuật đảo, đối và hệ thống từ ngữ giàu giá trị biểu cảm đã khắc họa bức

tranh thiên nhiên tràng giang rộng lớn vô tận, gợi cảm giác buồn, cô đơn, xa vắng, chia lìa và

thân phận của những kiếp người nhỏ bé, trôi nổi giữa dòng đời.

Khổ thơ thứ hai: bức tranh tràng giang được hoàn chỉnh thêm bằng những chi tiết mới:

“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,

                                             Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.

                                             Nắng xuống, trời lên sâu chót vót,

                                             Sông dài, trời rộng bến cô liêu.”

Hai từ láy “lơ thơ” và “đìu hiu” được tác giả khéo sắp xếp trên cùng một dòng thơ đã vẽ nên một quang cảnh vắng lặng. “Lơ thơ” gợi sự ít ỏi, nhỏ bé, thưa thớt, còn “đìu hiu” lại gợi sự quạnh quẽ. Tất cả gợi ra khung cảnh lạnh lẽo, tiêu điều, hoang vắng. Giữa khung cảnh ấy có lẽ con người càng trở nên đơn côi, rợn ngợp, đến độ thốt lên “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”. Chỉ một câu thơ mà mang nhiều sắc thái: vừa gợi “đâu đó”, âm thanh xa xôi, không rõ rệt; vừa có thể là câu hỏi “đâu…” như một nỗi niềm khao khát, mong mỏi của nhà thơ về một chút sự hoạt động, âm thanh sự sống của con người; lại cũng có thể là “đâu có…”, một sự phủ định hoàn toàn, chung quanh đây chẳng hề có chút gì sống động để xua bớt cái tịch liêu của thiên nhiên. Dù hiểu theo cách nào thì cũng vẫn là quang cảnh vắng lặng, hắt hiu. Ở câu ba, câu bốn, thiên nhiên càng mở rộng ra cả bốn chiều: cao, sâu, dài, rộng. “Nắng xuống, trời lên” gợi sự chuyển động, mở rộng về không gian, và gợi cả sự chia lìa, bởi dường như đất và trời ngày càng xa nhau hơn. Không gian trở nên “sâu chót vót”. Đây là cách diễn đạt mới mẻ, đầy sáng tạo của Huy Cận, nó mang nét đẹp hiện đại. Đôi mắt của nhà thơ không dừng lại ở bên ngoài của trời mây, nắng, mà như xuyên thấu vào đáy vũ trụ thăm thẳm, bao la, vô tận. Chưa hết, cõi không gian ấy không chỉ “cao”, “sâu” mà còn mở ra cả về chiều “dài”, chiều “rộng”: “sông dài, trời rộng”. Cõi thiên nhiên ấy quả là mênh mông, vô tận, còn những gì thuộc về con người lại bé nhỏ, cô đơn biết bao: “bến cô liêu”. “Cô liêu” cũng là “cô đơn”, nhưng phải là “cô liêu” thì mới diễn tả hết cái bé nhỏ, đơn độc đến tội nghiệp. Hình ảnh này gợi ra kiếp người cô đơn, quạnh hiu đến đáng thương. Với những nét vẽ mới: cồn nhỏ, gió đìu hiu, làng xa, trời sâu chót vót, bến cô liêu…bức tranh tràng giang không những không sống động hơn, mà càng chìm sâu vào tĩnh lặng, cô đơn, hiu quạnh.

Khổ thơ thứ ba: tiếp tục hoàn thành bức tranh tràng giang với những nét vẽ khác:

“Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng

                                          Mênh mông không một chuyến đò ngang.

                                           Không cầu gợi chút niềm thân mật,

                                           Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.”

Hình ảnh cánh bèo trôi bồng bềnh trên sông là hình ảnh thường dùng trong thơ cổ điển, nó gợi lên sự bấp bênh, nổi trôi của kiếp người vô định giữa dòng đời. Nhưng trong thơ Huy Cận không phải là một cánh bèo, mà là “hàng nối hàng”. Bèo trôi hàng hàng càng gợi ra sự rợn ngợp trước thiên nhiên, cõi lòng như càng đau đớn, cô đơn. Giữa không gian tràng giang mênh mông đó không hề có con người, không có chút sinh hoạt của con người, không có sự giao hòa, nối kết: “Không một chuyến đò ngang”, “không cầu” để nối hai bờ sông rộng lớn, hoang vắng, thê lương. Cấu trúc phủ định “không…không…” phủ định hoàn toàn những kết nối của con người. Cầu hay chuyến đò ngang, phương tiện giao kết của con người dường như đã bị cõi thiên nhiên nhấn chìm, trôi đi tận nơi nào. Không có gì kéo con người ra khỏi nỗi cô đơn đang bao trùm, vẫn chỉ có dòng tràng giang rộng lớn mênh mông. Bên cạnh “hàng nối hàng” của cánh bèo là “bờ xanh tiếp bãi vàng”. “Bờ xanh” “lặng lẽ” tiếp với “bãi vàng”, thiên nhiên nối tiếp thiên nhiên, không gian càng bao la, vô cùng vô tận. Cảnh có thêm màu sắc nhưng chỉ càng buồn hơn, chia lìa hơn.

Khổ thơ cuối: hoàn thiện nốt bức tranh tràng giang và trực tiếp bộc lộ cõi lòng nhà thơ.

“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

                                         Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa.

                                          Lòng quê dợn dợn vời con nước,

                                          Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”.

Hai câu thơ đầu là bức tranh phong cảnh kì vĩ, nên thơ. Cảnh được gợi lên bởi bút pháp nghệ thuật cổ điển với hình ảnh mây trắng, cánh chim chiều. “Mây cao” chồng chất tầng tầng “lớp lớp”, đang “đùn” thành “núi bạc”. Những núi mây trắng được ánh nắng chiếu vào như dát bạc, hình ảnh thơ mang nét đẹp cổ điển, vừa kì vĩ, tráng lệ, vừa nên thơ. Có lẽ, câu thơ được khơi nguồn cảm hứng từ một tứ thơ Đường của Đỗ Phủ:

“Mặt đất mây đùn cửa ải xa”.

Huy Cận đã vận dụng tài tình động từ “đùn”, khiến mây như chuyển động, có nội lực từ bên trong, từng lớp, từng lớp mây cứ đùn ra mãi. Giữa khung cảnh rộng lớn, tráng lệ ấy xuất hiện một cánh chim chiều – một hình ảnh quen thuộc trong thơ cổ, thường để báo hiệu thời gian chiều tối. Tuy nhiên, trong câu thơ của Huy Cận, nó không chỉ là báo hiệu thời gian, mà còn gợi ra không gian bao la vô cùng, vô tận bởi hình ảnh cánh chim nhỏ được đặt trong sự tương phản với không gian mây cao, núi bạc. Hình ảnh cánh chim nghiêng lệch chở nặng ráng chiều càng gợi ra hình ảnh thi nhân cảm thấy mình bé nhỏ, cô đơn, bất lực trước thời cuộc. Nét tâm trạng này dọc theo toàn bài thơ, không phải chỉ riêng của Huy Cận, mà nó là tâm trạng chung, là “nỗi buồn thế hệ” của các nhà Thơ mới. Nước mất nhà tan, nhân dân nô lệ, chưa đủ niềm tin vào con đường cách mạng, các nhà Thơ mới tìm cách thoát li thực tại, mỗi người một cách khác nhau: Thế Lữ thoát “lên tiên”, Lưu Trọng Lư “phiêu lưu trong trường tình”, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử “điên cuồng” trong thế giới ma quái, kì dị…Huy Cận ảo não tìm vào cái vắng lặng, mênh mông, vô tận của vũ trụ để quên đi thực tại đáng buồn.

Tâm trạng của nhà thơ bộc lộ rõ nét hơn trong hai câu cuối. “Dợn dợn” là từ láy nguyên rất sáng tạo của Huy Cận. Từ láy này đi cùng với cụm từ “vời con nước” cho thấy một nỗi niềm bâng khuâng, cô đơn của “lòng quê”. Nỗi niềm đó là nỗi niềm nhớ quê hương. Đó là nỗi niềm của một người con mất nước: nhớ quê hương ngay khi đang đứng giữa quê hương, khi quê hương đã không còn. Đây cũng là tâm trạng chung của các nhà Thơ mới lúc bấy giờ. Câu thơ cuối được gợi từ câu thơ cổ của Thôi Hiệu trong bài thơ “Lầu Hoàng Hạc” (Hoàng Hạc lâu):

“Quê hương khuất bóng hoàng hôn,

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai”.

Xưa, Thôi Hiệu nhìn khói sóng thì buồn, nhớ quê nhà, còn nay, Huy Cận không cần tác động của ngoại cảnh mà vẫn “nhớ nhà”, bởi nỗi nhớ đó da diết lắm, sâu sắc lắm. Trong lòng thi nhân luôn thường trực nỗi nhớ ấy. Thế mới biết tấm lòng yêu quê hương tha thiết của nhà thơ, mới hiểu được “Tràng giang” là bài thơ “dọn đường cho lòng yêu giang sơn Tổ quốc” (Xuân Diệu).

Nghệ thuật cả bài thơ:

  • Sự kết hợp hài hòa giữa sắc thái cổ điển và hiện đại (Cổ điển: thể thơ thất ngôn; những hình ảnh thơ quen thuộc trong văn học trung đại. Hiện đại: sự xuất hiện của những cái tưởng như tầm thường, vô nghĩa; cảm xúc buồn mang dấu ấn “cái tôi” cá nhân…)
  • Nghệ thuật đối, bút pháp tả cảnh giàu tính tạo hình, hệ thống từ láy giàu giá trị biểu cảm.

Ý nghĩa văn bản:

Vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên, nỗi sầu của cái tôi cô đơn trước vũ trụ rộng lớn, niềm khát khao hòa nhập với cuộc đời và lòng yêu quê hương đất nước tha thiết của tác giả.

MỘT SỐ ĐỀ LUYỆN TẬP VỀ BÀI TRÀNG GIANG

            Dựa vào kiến thức cơ bản và phương pháp làm bài nghị luận văn học về bài thơ, đoạn thơ, học sinh luyện tập với các đề sau:

Đề 1: Phân tích khổ thơ sau trong bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận:

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,

                                        Con thuyền xuôi mái nước song song.

                                        Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả,

                                        Củi một cành khô lạc mấy dòng”.

Đề 2: Phân tích đoạn thơ sau trong bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận:

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,

                                         Con thuyền xuôi mái nước song song.

                                         Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả,

                                         Củi một cành khô lạc mấy dòng”.

 

  Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

                                              Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa.

                                              Lòng quê dợn dợn vời con nước,

                                              Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”.

Đề 3: Phân tích bài thơ “Tràng giang” của nhà thơ Huy Cận.

             Đọc tham khảo cách làm bài với đề văn sau để khắc sâu kiến thức cơ bản và phương pháp làm bài nghị luận phân tích một đoạn thơ.

Đề bài: Phân tích đoạn thơ sau trong bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận:

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,

                                         Con thuyền xuôi mái nước song song.

                                         Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả,

                                         Củi một cành khô lạc mấy dòng”.

 

  Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

                                             Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa.

                                              Lòng quê dợn dợn vời con nước,

                                              Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”.

Tìm hiểu đề

  1. Dạng đề: Phân tích một đoạn thơ.
  2. Yêu cầu của đề:
  • Yêu cầu về nội dung: Làm rõ nội dung, nghệ thuật của đoạn thơ.
  • Yêu cầu về thao tác: Phân tích là thao tác chính, cần kết hợp các thao tác khác như: chứng minh, bình luận, so sánh…
  • Yêu cầu về tư liệu: Tư liệu chính là những câu thơ trong đoạn thơ đã cho, tư liệu có liên quan để bổ sung cho ý phân tích.

Lập dàn ý

Mở bài: Giới thiệu tác giả Huy Cận, dẫn vào bài thơ “Tràng giang”. Nêu vấn đề: Bài thơ có giá trị sâu sắc về nội dung và nghệ thuật mà tiêu biểu là đoạn thơ sau:

(ghi nguyên văn đoạn thơ”)

Thân bài:

Khái quát: Nêu hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ, thể loại, bố cục bài thơ, vị trí đoạn thơ ở đề bài, về nhan đề bài thơ.

Phân tích nội dung nghệ thuật đoạn thơ: Các ý chính cần phân tích:

Khổ thơ đầu : Bức tranh thiên nhiên tràng giang:

  • Ba câu đầu: mang màu sắc cổ điển.

+ Câu đầu: Hình ảnh “sóng”, cụm từ “gợn tràng giang”, từ láy “điệp điệp” -> diễn tả những con sóng liên tiếp vỗ vào nhau, nối đuôi nhau, lan ra rộng dần, xa dần, gợi nỗi buồn triền miên như những con sóng.

+ Câu hai: Hình ảnh “con thuyền xuôi mái”, từ láy “song song” -> thuyền và nước không đi liền với nhau mà “song song”, gợi cảm giác rời rạc, buồn tẻ.

+ Câu ba: Hình ảnh “thuyền về nước lại”, cụm từ “sầu trăm ngả” -> thuyền và nước chia lìa, nỗi buồn tăng cấp thành nỗi sầu, nỗi sầu lan tỏa khắp không gian, trăm ngả nước là trăm nỗi sầu.

  • Cảnh tràng giang gợi cảm giác buồn, cô đơn, xa vắng, chia lìa.
  • Câu cuối : mang màu sắc hiện đại.

Phép đảo đưa hình ảnh “củi” lên đầu câu gợi ấn tượng về sự nhỏ nhoi; phép đối giữa “một”

cành củi khô với “mấy” dòng nước nhấn mạnh sự cô đơn, lạc lõng -> gợi liên tưởng đến thân phận những kiếp người nhỏ bé, bơ vơ giữa dòng đời.

Khổ thơ tiếp theo, cũng là khổ thơ cuối bài thơ, vừa hoàn thiện bức tranh tràng giang, vừa trực tiếp bộc lộ nỗi lòng nhà thơ.

  • Hai câu đầu : bức tranh thiên nhiên tràng giang đậm chất cổ điển.

+ Câu đầu: Hình ảnh “mây”, “núi bạc”, từ “lớp lớp”, từ “đùn” -> khắc họa khung cảnh tràng giang rộng lớn, hùng vĩ, tráng lệ.

+ Câu hai: Hình ảnh “chim nghiêng cánh nhỏ” giữa bầu trời rộng lớn mênh mông -> gợi sự nhỏ bé đến tội nghiệp.

  • Hai câu sau:

+ “Lòng quê” : tấm lòng với quê hương; “dợn dợn” : đong đầy.

+ Tâm trạng “nhớ nhà”; vận dụng sáng tạo thơ cổ.

Lòng yêu quê hương đất nước thầm kín của nhà thơ.

Nghệ thuật đoạn thơ:

– Sự kết hợp hài hòa giữa sắc thái cổ điển và hiện đại (Cổ điển: thể thơ thất ngôn; những hình ảnh thơ quen thuộc trong văn học trung đại. Hiện đại: sự xuất hiện của những cái tưởng như tầm thường, vô nghĩa; cảm xúc buồn mang dấu ấn “cái tôi” cá nhân…)

– Nghệ thuật đối, bút pháp tả cảnh giàu tính tạo hình, hệ thống từ láy giàu giá trị biểu cảm.

III. Kết bài : Kết luận chung về nội dung, nghệ thuật của đoạn thơ, nêu ý nghĩa đoạn thơ.

(Tài liệu sưu tầm )

Xem thêm : Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về   Tràng giang

Giáo án văn 11 theo chủ đề: Thơ lãng mạn 1930-1945

Soạn giáo án Ngữ văn 11 theo chủ đề dạy học, soạn bài Đây thôn Vĩ Dạ, Tràng Giang, Vội Vàng theo định hướng phát triển năng lực 

CHUYÊN ĐỀ: THƠ LÃNG MẠN 1930-1945

BƯỚC 1: CHUYÊN ĐỀ: THƠ LÃNG MẠN 1930-1945

BƯỚC 2: XÂY DỰNG NỘI DUNG CHỦ ĐỀ BÀI HỌC

Gồm các văn bản thơ:  Vội vàng– Xuân Diệu, Tràng giang– Huy Cận, Đây thôn Vĩ Dạ– Hàn Mặc Tử, Chiều xuân- Anh Thơ, Tương tư- Nguyễn Bính.

Thời gian: 5 tiết

BƯỚC 3: XÂY DỰNG MỤC TIÊU BÀI HỌC

Kiến thức:

  • Những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm thơ lãng mạn 1930-1945.
  • Đặc điểm cơ bản của các tác phẩm thơ lãng mạn 1930-1945.

Kĩ năng:

  • Huy động tri thức về tác giả, hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm, ngôn ngữ…để đọc hiểu văn bản.
  • Đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại:

+ Nhận diện thể thơ và giải thích ý nghĩa của việc sử dụng thể thơ

+ Nhận diện sự phá cách trong việc sử dụng thể thơ (nếu có)

+ Nhận diện đề tài , chủ đề , cảm hứng chủ đạo của bài thơ.

+ Nhận diện và phân tích tâm trạng, tình cảm của nhân vật trữ tình trong bài thơ.

+ Phân tích được vẻ đẹp nội dung và  nghệ thuật của một bài thơ trữ tình hiện đại Việt Nam.

+ Đánh giá những sáng tác độc đáo của mỗi nhà thơ qua các bài thơ đã học.

  • Đọc diễn cảm, đọc sáng tạo những đoạn thơ hay.
  • Nhận diện , phân tích và đánh giá những nét đặc sắc về nghệ thuật của các bài thơ trong chủ đề (hình ảnh, chi tiết, biện pháp tu từ, vần nhịp…)
  • Nhận biết được sự giống nhau và khác nhau giữa thơ trung đại và hiện đại về đề tài, cảm hứng, thể loại và ngôn ngữ.
  • Vận dụng những kiến thức , kĩ năng đã học đề đọc những bài thơ lãng mạn 1930-1945 khác của Việt Nam; nêu những kiến giải, suy nghĩ về các phương diện nội dung nghệ thuật của các bài thơ được học trong chủ đề; viết đoạn văn hoặc bài văn nghị luận về những bài thơ đã học trong chủ đề rút ra những bài học về lý tưởng sống, cách sống từ những bài thơ đã học và liên hệ, vận dụng vào thực tiễn cuộc sống của bản thân.

Thái độ:

  • Giáo dục một thái độ sống tích cực, một nhân cách sống trong sáng, yêu đời, biết cống hiến tuổi trẻ cho lý tưởng và xã hội.
  • Yêu đời, yêu thiên, yêu cuộc sống, yêu nước.
  • Có ý thức xác định lẽ sống, lý tưởng sống cao đẹp.

Năng lực:

Định hướng góp phần hình thành các năng lực: năng lực giao tiếp (nghe nói, đọc, viết), năng lực thẩm mĩ (cảm thụ và sáng tạo) năng lực hợp tác, năng lực tự học, …

BƯỚC 4: XÁC ĐỊNH VÀ MÔ TẢ MỨC ĐỘ YÊU CẦU CỦA MỖI LOẠI CÂU HỎI/BÀI TẬP CÓ THỂ SỬ DỤNG ĐỂ KIỂM TRA , ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC VÀ PHẨM CHẤT HỌC SINH TRONG DẠY HỌC.

 

Mức độ nhận biết Mức độ thông hiểu Mức độ vận dụng và vận dụng cao
Nêu những nét chính về tác giả Chỉ ra những biểu hiện về con người tác giả được thể hiện trong tác phẩm. Nêu những hiểu biết thêm về tác giả qua việc đọc hiểu bài thơ.
Nêu hoàn cảnh sáng tác  bài thơ. Phân tích tác động của hoàn cảnh ra đời đến việc thể hiện nội dung tư tưởng của bài thơ. Nêu những việc sẽ làm nếu ở hoàn cảnh tương tự của tác giả.
Chỉ ra ngôn ngữ được sử dụng để sáng tác bài thơ Lý giải một số từ ngữ, hình ảnh…trong các câu thơ. Đánh giá việc sử dụng ngôn ngữ của tác giả trong bài thơ.
Xác định thể thơ Chỉ ra những đặc điểm về bố cục, vần, nhịp… Đánh giá tác dụng của thể thơ trong việc thể hiện nội dung bài thơ.
Xác định nhân vật trữ tình. – Nêu cảm xúc của nhân vật trữ tình trong từng câu/cặp câu thơ.

– Khái quát bức tranh tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ.

Nhận xét về tâm trạng của nhân vật trữ tình trong câu/cặp câu/ bài thơ.
Xác định hình tượng nghệ thuật được xây dựng trong bài thơ. -Phân tích những đặc điểm của hình tượng nghệ thuật thơ.

-Nêu tác dụng của hình tượng nghệ thuật trong việc giúp nhà thơ thể hiện cái nhìn về cuộc sống và con người

-Đánh giá cách xây dựng hình tượng nghệ thuật.

– Nêu cảm nhận/ ấn tượng riêng của bản thân về hình tượng nghệ thuật.

Chỉ ra câu/ cặp câu thơ thể hiện rõ nhất tư tưởng của nhà thơ. Lí giải tư tưởng của nhà thơ trong câu/ cặp câu thơ đó. Nhận xét về tư tưởng của tác giả được thể hiện trong bài thơ.

 

BƯỚC 5: BIÊN SOẠN CÁC CÂU HỎI/ BÀI TẬP CỤ THỂ THEO CÁC MỨC ĐỘ YÊU CẦU ĐÃ MÔ TẢ.

 

Với bài thơ Vội vàng có thể sử dụng các câu hỏi sau:

Mức độ nhận biết Mức độ thông hiểu Mức độ vận dụng và vận dụng cao
Nêu những nét chính về tác giả Xuân Diệu. Xuân Diệu là người như thế nào? Bài thơ giúp em hiểu thêm gì về tác giả?
Nêu xuất xứ của bài thơ. – Trình bày những hiểu biết của em về tập thơ? Tập thơ đó có vị trí như thế nào trong đời thơ Xuân Diệu.
Nhan đề của bài thơ là gì? Giải thích ý nghĩa của nhan đề đó Lý giải tại sao nhà thơ lại đặt nhan đề là “Vội vàng”
Đọc và xác định thể thơ? Em hiểu thế nào về thể thơ tự do. Hãy kể tên một số bài thơ cùng loại.
Nhân vật trữ tình trong bài thơ là ai? -Những từ ngữ nào trong bài thơ giúp em xác định được nhân vật trữ tình.

– Cảm hứng chủ đạo của nhân vật trữ tình trong bài thơ là gì?

Em có nhận xét gì về tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ?
1. Tình yêu cuộc sống tha thiết:

 

– Mở đầu bài thơ, tác giả thể hiện một khát vọng kì là đên ngông cuồng. Đó là khát vọng gì? Từ ngữ  nào thể hiện điều này?

 

– Vậy bức tranh mùa xuân hiện ra như thế nào? Chi tiết nào thể hiện điều này?

 

Nghệ thuật đó có tác dụng gì?

 

Có gì mới trong cách sử dụng nghệ thuật của tác giả?

 

 

 

– Hãy cho biết  tâm trạng của tác giả qua đoạn thơ trên?

 

2. Nỗi băn khoăn về sự ngắn ngủi của kiếp người:

 

Chi tiết nào thể hiện được điều đó? – Từ quan niệm thời gian là tuyến tính, nhà thơ đã cảm nhận được điều gì?

 

– Quan niệm về thời gian của người xưa và Xuân Diệu có gì khác?

 

  – Quan niệm sống của Xuân Diệu là gì qua đoạn thơ đó?

 

  3.Lời giục giã cuống quýt vội vàng để tận hưởng tuổi xuân của mình

 

– Đọc đoạn thơ 3 – Cảm nhận được sự trôi chảy của thời gian, Xuân Diệu đã làm gì để níu giữ thời gian?

– Hãy nhận xét về đặc điểm của hình ảnh, ngôn từ, nhịp điệu trong đoạn thơ mới?

 

Giáo dục KNS: Trình bày những ấn tượng sâu đậm của cá nhân về hồn thơ Xuân Diệu ?

 

  Giáo dục KNS: Bài thơ thể hiện quan niệm sống đẹp của một tâm hồn khao khát sống hay chỉ là lối sống tiêu cực gấp gấp.

 

Tổng kết – Hãy nêu đặc sắc nghệ thuật của bài thơ? – Hãy rút ra ý nghĩa của văn bản  ?

 

 

 

Với bài thơ Tràng giang có thể sử dụng các câu hỏi sau:

Mức độ nhận biết Mức độ thông hiểu Mức độ vận dụng và vận dụng cao
Nêu những nét chính về tác giả Huy Cận. Huy Cận là người như thế nào? Bài thơ giúp em hiểu thêm gì về tác giả?
– Nêu hoàn cảnh sáng tác của bài thơ.

 

 

– Hoàn cảnh đó sẽ có ảnh hưởng như thế nào đến tâm trạng của tác giả? Em hãy kể vắn tắt một số hiểu biết của em về giai đoạn lịch sử lúc bây giờ?
Nêu xuất xứ của bài thơ. – Trình bày những hiểu biết của em về tập thơ? Tập thơ đó có vị trí như thế nào trong đời thơ Huy Cận.
Nhan đề của bài thơ là gì? Giải thích ý nghĩa của nhan đề đó Mối quan hệ giữa nhan đề và âm hưởng của bài thơ?
Đọc và xác định thể thơ? Em hiểu thế nào về thể thơ đó. Hãy kể tên một số bài thơ cùng loại.
Nhân vật trữ tình trong bài thơ là ai? -Những từ ngữ nào trong bài thơ giúp em xác định được nhân vật trữ tình?

– Cảm hứng chủ đạo của nhân vật trữ tình trong bài thơ là gì?

Em có nhận xét gì về tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ?
1/Ba khổ thơ đầu:Bức tranh thiên nhiên và tâm trạng của nhà thơ
Khổ 1:

– Đọc khổ thơ

– Nhận xét về hình ảnh,nhạc điệu,cách gieo vần của khổ thơ? – Hãy phân tích những hình ảnh sông nước,thuyền,cành củi khô để thấy được biểu hiện tâm trạng của tác giả?

 

Khổ 2:

– Đọc khổ thơ

– Cảnh sông được miêu tả như thế nào?

– Từ “đâu” gợi ta có cảm giác gì về dấu hiệu sự sống?

– Suy nghĩ của em về âm thanh được nói đến trong câu này?

– Nhận xét về hình ảnh “trời sâu chót vót”?

– Thủ pháp nghệ thuật tương phản phát huy tác dụng gì?

– Tâm trạng của tác giả biểu hiện ntn?

Khổ 3:

– Đọc khổ thơ

– Tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật nào?

 

– Hình ảnh cánh bèo manh tính ước lệ tượng trưng cho điều gì?

– Câu hỏi tu từ cho ta thấy gì về sự giao kết tình người?

 

– Vì sao trong ba khổ thơ đầu nhà thơ bày tỏ nỗi buồn sâu lắng,thống thiết trước thiên nhiên? (Gv có thể gợi mở cho các em về bối cảnh đất nước)

2/Tình yêu quê hương

 

– Đọc khổ thơ

– Xác định những từ ngữ mang vẻ đẹp cổ điển?

 

 

– Vì sao nói thiên nhiên trong bài thơ đậm màu sắc cổ điển mà vẫn gần gũi thân thuộc?

– Tình yêu thiên nhiên ở đây có thấm đượm lòng yêu nước thầm kín không? Vì sao?

– Phân tích điểm khác nhau về nỗi nhớ trong thơ xưa và trong thơ HC(Gv giới thiệu bàiHoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu)

Tổng kết:

– Liệt kê những thủ pháp nghệ thuật được sử dụng trong bài thơ?

 

– Hãynhận xét những đặc sắc nghệ thuật của bài thơ?

 

Em hãy rút ra ý nghĩa văn bản?

Giáo dục KNS Em hãy trình bày suy nghĩ, cảm nhận về vẻ đẹp của giọng điệu, gương mặt thơ Huy Cận trong dòng Thơ Mới.

 

Với bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ có thể sử dụng các câu hỏi sau:

Mức độ nhận biết Mức độ thông hiểu Mức độ vận dụng và vận dụng cao
Nêu những nét chính về tác giả Hàn Mặc Tử. Hàn Mặc Tử là người như thế nào? Bài thơ giúp em hiểu thêm gì về tác giả?
– Nêu hoàn cảnh sáng tác của bài thơ.

 

 

– Hoàn cảnh đó sẽ có ảnh hưởng như thế nào đến tâm trạng của tác giả? Kể một số giai thoại về tình yêu củaHàn Mặc Tử liên quan đến hoàn cảnh sáng tác bài thơ.
Nêu xuất xứ của bài thơ. – Trình bày những hiểu biết của em về tập thơ? Tập thơ đó có vị trí như thế nào trong đời thơ Hàn Mặc Tử.
Nhan đề của bài thơ là gì? – Giải thích ý nghĩa của nhan đề đó Lý giải tại sao nhà thơ lại đổi nhan đề bài thơỞ đây thônVĩ thành Đây thôn Vĩ Dạ?
Đọc và xác định thể thơ? Em hiểu thế nào về thể thơ đó. Hãy kể tên một số bài thơ cùng loại.
Nhân vật trữ tình trong bài thơ là ai? -Những từ ngữ nào trong bài thơ giúp em xác định được nhân vật trữ tình?

– Cảm hứng chủ đạo của nhân vật trữ tình trong bài thơ là gì?

Em có nhận xét gì về tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ?
1/Bức tranh thôn Vĩ
a. Vĩ Dạ hừng đông
– Đọc khổ thơ

– Tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật gì?

– Câu hỏi đầu tiên gợi điều gì?

– Cảnh Thôn Vĩ hiện lên ra sao?

– Bóng dáng của người con gái Huế xuất hiện gây thêm ấn tượng gì cho lời mời gọi?
b. Vĩ Dạ đêm trăng
– Đọc khổ thơ

– Tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật gì?

– Nhận xét về cách sử dụng biện pháp tu từ?

– Tâm trạng của chủ thể trữ tình thay đổi ntn?

– Hình ảnh bến sông trăng gợi cho em cảm giác gì về vẻ đẹp của thiên nhiên

– Phân tích bức tranh thiên nhiên ở khổ 2,nó có sự khác biệt gì so với khổ 1?

– Đằng sau phong cảnh ấy là tâm sự gì của nhà thơ?

2/Tâm trạng của nhà thơ:
– Đọc khổ thơ

– Tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật gì?

– Em hiểu ntn về câu thơ “Áo em….”?

 

   – Câu hỏi cuối cùng bộc lộ tâm trạng gì và nó có liên quan ntn với câu hỏi mở đầu?

– Mối tình của tác giả có liên quan như thế nào đến những tâm sự trong bài thơ này?

 

KẾ HOẠCH BÀI HỌC

 

  1. Mục tiêu bài học:
  2. Kiến thức:
  • Những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của 5 tác phẩmthơ lãng mạn 1930-1945. Mỗi tác phẩm tập trung làm rõ cho một đặc điểm nổi bật của thơ mới

+ Vội vàng: Thơ mới luôn khẳng định, đề cao cái tôi cá nhân,thơ mới mang cảm hứng tình yêu và  thiên nhiên.

+ Tràng giang: Thơ mới thấm thía nỗi buồn cô đơn.

+ Đây thôn Vĩ Dạ: Thơ mới thể hiện niềm khát khao hướng về cuốc sống trần thế.

+ Hai bài đọc thêm:….

  • Khái quát đặc điểm cơ bản của các tác phẩm thơ lãng mạn 1930-1945.

 

  1. Kĩ năng:

Đọc hiểu  một tác phẩm trữ tình  theo đặc trưng thể loại.

Phân tích một bài thơ mới.

  • Nhận biết được sự giống nhau và khác nhau giữa thơ trung đại và hiện đại về đề tài, cảm hứng, thể loại và ngôn ngữ.
  • Vận dụng những kiến thức , kĩ năng đã học đề đọc những bài thơ lãng mạn 1930-1945 khác của Việt Nam; nêu những kiến giải, suy nghĩ về các phương diện nội dung nghệ thuật của các bài thơ được học trong chủ đề; viết đoạn văn hoặc bài văn nghị luận về những bài thơ đã học trong chủ đề rút ra những bài học về lý tưởng sống, cách sống từ những bài thơ đã học và liên hệ, vận dụng vào thực tiễn cuộc sống của bản thân.

Giáo dục KNS:-Tư duy sáng tạo: Phân tích, bình luận triết lí, khát vọng sống.

-Tự nhận thức về mục đích, giá trị cuộc sống đối với mỗi cá nhân.

-Giao tiếp: cảm thông chia sẻ cùng tâm trạng tác giả

  1. Thái độ:
  • Giáo dục một thái độ sống tích cực, một nhân cách sống trong sáng, yêu đời, biết cống hiến tuổi trẻ cho lý tưởng và xã hội.
  • Yêu đời, yêu thiên, yêu cuộc sống, yêu nước.
  • Có ý thức xác định lẽ sống, lý tưởng sống cao đẹp.

  4.Hình thành các năng lực cho học sinh

– Năng lực thu thập thông tin liên quan đến văn bản.

– Năng lực giải quyết những tình huống đặt ra trong các văn bản.

– Năng lực đọc – hiểu một tác phẩm thơ trữ tình theo đặc trưng thể loại.

– Năng lực trình bày suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về ý nghĩa của văn bản.

– Năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận về nội dung và nghệ thuật của văn bản.

  1. Chuẩn bị của GV và HS:
  2. Chuẩn bị của GV

Sgk, giáo án, đọc tài liệu tham khảo, phiếu học tập, máy chiếu, tranh ảnh…

  1. Chuẩn bị của HS.

– Hs chủ động tìm hiểu bài qua hệ thống câu hỏi sgk.

– Giấy Ao, bút phớt…

III. Tiến trình dạy học:

Bước 1 : Khởi động

– Em hãy kể tên một số nhà thơ trong phong trào thơ mới mà em biết ?

– Trả lời các câu hỏi

+Ai là nhà Nhà thơ mới nhất trong những nhà thơ mới?

+ Trong dàn đồng ca đa điệu buồn  của thơ mới ai được xem là điệu buồn ảo não nhất ?

+ Nhà thơ nào đã đề cập đến tôn giáo trong thơ.

+ Ai được mệnh danh là nhà thơ của đồng quê.

Học sinh trả lời, GV xác  nhận kiến thức và dẫn dắt giới thiệu chung  về chuyên đề, sau  đó dẫn dắt giới thiệu về Xuân Diệu và bài Vội vàng.

Xuân diệu hồn nhiên yêu đời, yêu cuộc sống, say mê với cái đẹp, nhạy cảm với sự trôi chảy của thời gian. Nhưng càng  yêu say đắm, Xuân Diệu sợ cuộc sống, sợ tình yêu và vẻ đẹp sẽ bỏ mình bay đi mất. Chính vì thế mà trong thơ ông có những thái độ hốt hoảng, lo âu, yêu sống một cách vội vàng cuống quýt, vồ vập.

“Vội vàng” tiêu biểu cho trạng thái cảm xúc ấy của Xuân Diệu.

 

Bước 2 : Hình thành kiến thức

VỘI VÀNG

 

(Xuân Diệu)

 

Hoạt động I: Tìm hiểu chung:

– Mục tiêu:

+ Giúp HS hiểu XD là nhà thơ lớn, nhà văn hóa lớn, có sức sáng tạo mãnh liệt, bền bỉ và sự nghiệp văn học phong phú.

+ Giúp HS nắm được xuất xứ, bố cục của bài thơ.

– Nhiệm vụ:  Học sinh làm việc cá nhân, phát huy kĩ năng đọc sgk

– Phương thức:Yêu cầu Hs đọc phần tiểu dẫn, gạch chân những chi tiết quan trọng về tác giả Xuân Diệu.

Gv hướng dẫn học sinh tự đọc sgk và tìm các ý cơ bản theo yêu cầu.

– Sản phẩm:

+ XD là nhà thơ lớn, nhà văn hóa lớn, có sức sáng tạo mãnh liệt, bền bỉ và sự nghiệp văn học phong phú.

+ Xuất xứ, bố cục của bài thơ.

  1. 1. Tác giả.

GV:

– Yêu cầu Hs đọc phần tiểu dẫn, gạch chân những chi tiết quan trọng về tác giả XD

HS: thực hiện theo yêu cầu của GV.

GV: yêu cầu HS trình bày trước lớp nội dung quan trọng về XD.

HS: trình bày, Hs khác lắng nghe, nhận xét.

GV: nhận xét, bổ sung và chốt ý:

 

– Xuân Diệu (1916- 1985) tên khai sinh là Ngô Xuân Diệu.

– Quê: Can Lộc – Hà Tĩnh nhưng sông với mẹ ở Quy Nhơn.

– Là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới.

– Là nghệ sĩ lớn, nhà văn hóa lớn có sức sáng tạo mãnh liệt, bền bỉ và có sự nghiệp văn học phong phú.

 

  1. Tác phẩm

GV: Hãy cho biết xuất xứ của bài thơ?Chia bố cục bài thơ và nêu nội dung chính từng phần?

HS: đọc tiểu dẫn và trả lời câu hỏi, các HS khác theo dõi và nhận xét.

GV: nhận xét khả năng tiếp nhận và sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ học tập của tất cả học sinh trong lớp.

GV: nhận xét, bổ sung và chốt ý:

– Xuất xứ:  In trong tập Thơ thơ (1938)- tập thơ đầu tay và cũng là tập thơ khẳng định vị trí của Xuân Diệu – “Nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”.

-Bố cục: 3 đoạn.

+ 13 câu đầu: Tình yêu cuộc sống trần thế “tha thiết”.

+ 16 câu (câu 14à29): Nỗi băn khoăn về sự ngắn ngủi của kiếp người.

+ 10 câu cuối: Lời giục giã cuống quýt vội vàng để tận hưởng tuổi xuân của mình…

 

PHƯƠNG ÁN KT ĐÁNH GIÁ GV đánh giá học sinh về khả năng tiếp nhận và sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ và tốc độ làm việc, HS đánh giá lẫn nhau thông qua việc gọi học sinh nhận xét câu trả lời của bạn

 

HOẠT ĐỘNG 2: Đọc- hiểu văn bản( tập trung cho đặc điểm thơ mới khẳng định đề cao cái tôi cá nhân)

– Mục tiêu: Giúp HS cảm nhận được:

+  Tình yêu cuộc sống tha thiết:

. Khát vọng kì lạ đến ngông cuồng:

. Bức tranh mùa xuân hiện ra như một khu vườn tràn ngập hương sắc thần tiên, như một cõi xa lạ:

. Nghệ thuật và hiệu quả NT.

– Tâm trạng của tác giả qua đoạn thơ trên

– Nỗi băn khoăn về sự ngắn ngủi của kiếp người:

– Quan niệm về thời gian của người xưa.

– Quan niệm về thời gian của Xuân Diệu.

– Từ quan niệm thời gian là tuyến tính, nhà thơ đã cảm nhận thời gian như 1 dòng chảy, thời gian trôi đi tuổi trẻ cũng sẽ mất. Thời gian tuyến tính à Xuân Diêu thể hiện cái nhìn biện chứng về vũ trụ, thời gian.

– Nhiệm vụ:  Học sinh thảo luận nhóm, theo bàn, theo cặp đôi, kỹ thuật trình bày 1 phút, làm việc cá nhân.

– Phương thức:Gv giao nhiệm vụ, yêu cầu HS trao đổi, thảo luận theo nhóm, theo bàn, theo cặp đôi và làm việc cá nhân.

Gv hướng dẫn học sinh khai thác văn bản và tìm các chi tiết, hình ảnh …

– Sản phẩm:

+ Sản phẩm thảo luận của HS.

GV: Chia lớp thành 3 nhóm yêu cầu HS thảo luận.

Nhóm 1: Phiếu học tập số 1

– Mở đầu bài thơ, tác giả thể hiện một khát vọng kì lạ, ngông cuồng. Đó là khát vọng gì?

– Từ ngữ  nào thể hiện điều này?

Nhóm 2: Phiếu học tập số 2

– Bức tranh mùa xuân hiện ra như thế nào trong 13 câu thơ đầu?

– Chi tiết nào thể hiện điều này?

Nhóm 3: Phiếu học tập số 3

– Để miêu tả bức tranh thiên nhiên đầy xuân tình, tác giả sử dụng nghệ thuật gì?

– Có gì mới trong cách sử dụng nghệ thuật của tác giả?

– Nghệ thuật đó có tác dụng gì?

 

HS:  tiến hành thảo luận, cử nhóm trưởng điều hành thảo luận, thư k‎ý ghi chép sản phẩm thảo luận.

GV: theo dõi, quan sát, phát hiện kịp thời những khó khăn của học sinh để giúp đỡ kịp thời.

HS: trình bày sản phẩm thảo luận trước lớp, HS khác lắng nghe, nhận xét, bổ sung.

GV: nhận xét, đánh giá về kết quả hoạt động và quá trình thảo luận của học sinh. Khả năng tiếp nhận, tham gia tích cực, chủ động, sáng tạo, hợp tác của Hs trong việc thực hiện nhiệm vụ.

GV: tổng hợp, phân tích, đánh giá kết quả hoạt động và quá trình thảo luận của học sinh. Chốt ý:

  1. Tình yêu cuộc sống tha thiết:

– Khát vọng kì lạ đến ngông cuồng:

“ Tắt nắng ; buộc gió” + điệp ngữ “tôi muốn” : khao khát đoạt quyền tạo hóa, cưỡng lại quy luật tự  nhiên, những vận động của đất trời.

Cái tôi cá nhân đầy khao khát đồng thời cũng là tuyên ngôn hành động với thời gian.

– Bức tranh mùa xuân hiện ra như một khu vườn tràn ngập hương sắc thần tiên, như một cõi xa lạ:

+ Bướm ong dập dìu

+ Chim chóc ca hót

+ Lá non phơ phất trên cành.

+ Hoa nở trên đồng nội

Vạn vật đều căng đầy sức sống, giao hòa sung sướng. Cảnh vật quen thuộc của cuộc sống, thiên nhiên qua con mắt yêu đời của nhà thơ đã biến thành chốn thiên đường, thần  tiên.

– Nghệ thuật:

 + Điệp ngữ: này đây    tuần tháng mật.

kết hợp với hình ảnh,  Hoa … xanh rì

âm thanh, màu sắc:      Lá cành tơ …

Yến anh … khúc tình si

Ánh sang chớp hàng mi

+ So sánh: tháng giêng ngon nhứ cặp môi gần: táo bạo. Nhà thơ phát hiện ra vẻ đẹp kì diệu của thiên nhiên và thổi vào đó 1 tình yêu rạo rực, đắm say ngây ngất.

Sự phong phú bất tận của thiên nhiên, đã bày ra một khu địa đàng ngay giữa trần gian  – “một thiên đàng trần thế”

GV Yêu cầu HS thảo luận cặp đôi(thời gian 1 phút): Hãy cho biết  tâm trạng của tác giả qua đoạn thơ trên?

HS: trao đổi, thảo luận, và trình bày sản phẩm.

GV: tổng hợp, phân tích, đánh giá kết quả hoạt động và quá trình thảo luận của học sinh.

GV: nhận xét khả năng tham gia tích cực của học sinh trong trình bày, trao đổi, thảo luận về kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập. GV  bổ sung và chốt ý:

– Tâm trạng đầy mâu thuẫn nhưng thống nhất: Sung sướng >< vội vàng: Muốn sống gấp, sống nhanh, sống vội tranh thủ thời gian.

Giáo viên hướng dẫn nắm đoạn “Xuân Diệu là nhà thơ …trong thơ” và cắt nghĩa từ “mới nhất” ở những phương diện nào? (nội dung và nghệ thuật).

  1. Nỗi băn khoăn về sự ngắn ngủi của kiếp người:

GV Yêu cầu HS thảo luận theo bàn (thời gian 3 phút):

– Quan niệm về thời gian của người xưa như thế nào?

– Quan niệm về thời gian của Xuân Diệu có gì khác?

– Từ quan niệm thời gian là tuyến tính, nhà thơ đã cảm nhận được điều gì? Chi tiết nào thể hiện được điều đó?

HS: trao đổi, thảo luận, và trình bày sản phẩm.

GV: tổng hợp, phân tích, đánh giá kết quả hoạt động và quá trình thảo luận của học sinh.

GV: nhận xét khả năng tham gia tích cực của học sinh trong trình bày, trao đổi, thảo luận về kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập. GV  bổ sung và chốt ý:

– Người xưa, các nhà thơ trung đại(HXH).

…”Xuân vẫn tuần hoàn” à Thời gian qua đi rồi trở lại, thời gian vĩnh cửu à quan niệm này xuất phát từ cái nhìn tĩnh, siêu hình, lấy sinh mệnh vũ trụ làm thước đo.

–  Xuân Diệu lại cho rằng:

Xuân đương tới – đương qua

Xuân còn non – sẽ già

à thời gian như 1 dòng chảy, thời gian trôi đi tuổi trẻ cũng sẽ mất. Thời gian tuyến tính à Xuân Diêu thể hiện cái nhìn biện chứng về vũ trụ, thời gian.

GV yêu cầu HS sử dụng kỹ thuật trình bày 1 phút: Từ quan niệm thời gian là tuyến tính, nhà thơ đã cảm nhận được điều gì? Chi tiết nào thể hiện được điều đó?

 HS: Động não suy nghĩ, trình bày sản phẩm.

GV: tổng hợp, phân tích, đánh giá kết quả hoạt động và quá trình thực hiện của học sinh.

GV: nhận xét khả năng tham gia tích cực của học sinh trong quá trình trình bày về kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập. GV  bổ sung và chốt ý:

– Cái nhìn động:

+ Xuân Diêu cảm nhận sự mất mát ngay chính sinh mệnh mình.

Xuân hết nghĩa là tôi cũng mất

…tuổi trẻ chẳng 2 lần thắm lại

Mùa xuân, tuổi trẻ không tồn tại mãi, nó ngắn ngủi vô cùng, tuổi trẻ đẹp nhất của đời mỗi người. Xuân Diệu lấy tuổi trẻ làm thước đo thời gian. Thời gian mất nghĩa là tuổi trẻ cũng mất à Cảm nhận sâu sắc, thấm thía.

+Hình ảnh sự vật:   Cơn gió xinh … phải bay đi

Chim rộn ràng … đứt tiếng reo.

tàn phai, héo úa, chia phôi, tiễn biệt.

 

– Mau: gấp gáp, vội vàng, cuống quýt, hưởng thụ.

Quan niệm mới, tích cực thấm đượm tinh thần nhân văn.

PHƯƠNG ÁN KT ĐÁNH GIÁ GV đánh giá học sinh về khả năng tiếp nhận, sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ và tốc độ làm việc, HS đánh giá lẫn nhau thông qua việc gọi học sinh nhận xét câu trả lời của bạn

…………………..

(lần lượt các bài tiếp theo)

HOẠT ĐỘNG 3 : Củng cố- luyện tập

– Mục tiêu:Giúp HS củng cố kiến thức về tác giả, tác phẩm, đặc trưng của  thơ lãng mạn 30-45.

– Nhiệm vụ:  Học sinh trao đổi, thảo luận và làm việc nhóm.

– Phương thức:Gv giao nhiệm vụ, yêu cầu HS trao đổi thảo luận nhóm.

– Sản phẩm:

+ Đáp án của HS.

Yêu cầu:

  • Chỉ ra những đặc trưng nổi bật của thơ lãng mạn30-45 (về nội dung và nghệ thuật).
  • Để khai thác một bài thơ lãng mạn 30-45 ta cần phải chú ý những gì?

 

PHƯƠNG ÁN KT ĐÁNH GIÁ GV đánh giá học sinh về khả năng tiếp nhận, sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ và tốc độ làm việc, HS đánh giá lẫn nhau thông qua việc gọi học sinh nhận xét câu trả lời của bạn

 

 

HOẠT ĐỘNG 4: Vận dụng (Có thể làm ở nhà)

– Mục tiêu: Giúp HS củng cố kiến thức, kĩ năng đã học đề để đọc những bài thơ lãng mạn 1930-1945 khác của Việt Nam; nêu những kiến giải, suy nghĩ về các phương diện nội dung nghệ thuật của các bài thơ được học trong chủ đề; viết đoạn văn hoặc bài văn nghị luận về những bài thơ đã học trong chủ đề rút ra những bài học về lý tưởng sống, cách sống từ những bài thơ đã học và liên hệ, vận dụng vào thực tiễn cuộc sống của bản thân.

– Nhiệm vụ:  Học sinh trao đổi, thảo luận tìm tòi và làm việc cá nhân.

– Phương thức:Gv giao nhiệm vụ, yêu cầu HS trao đổi, làm việc cá nhân (Có thể làm ở nhà)

– Sản phẩm:

+ Bài viết của HS.

Em hãy viết một đoạn văn (khoảng 100 từ) phát biểu cảm nhận của bản thân về hình ảnh thơ mà em ấn tượng nhất trong các bài thơ lãng mạn mà em đã học

PHƯƠNG ÁN KT ĐÁNH GIÁ GV đánh giá học sinh về khả năng tiếp nhận, sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ và tốc độ làm việc, HS đánh giá lẫn nhau thông qua ý thức tự giác làm việc và sản phẩm nộp Gv.

 

HOẠT ĐỘNG 5: Mở rộng sáng tạo (Có thể làm ở nhà)

– Mục tiêu: Giúp HS củng cố kiến thức, kĩ năng đã học đề để đọc những bài thơ lãng mạn 1930-1945 khác của Việt Nam; nêu những kiến giải, suy nghĩ về các phương diện nội dung nghệ thuật của các bài thơ được học trong chủ đề; viết đoạn văn hoặc bài văn nghị luận về những bài thơ đã học trong chủ đề rút ra những bài học về lý tưởng sống, cách sống từ những bài thơ đã học và liên hệ, vận dụng vào thực tiễn cuộc sống của bản thân.

– Nhiệm vụ:  Học sinh trao đổi, thảo luận và làm việc cá nhân.

– Phương thức:Gv giao nhiệm vụ, yêu cầu HS trao đổi, làm việc cá nhân (Có thể làm ở nhà)

– Sản phẩm:

+ Bài viết của HS.

So sánh sự giống nhau và khác nhau giữa thơ trung đại và hiện đại về đề tài, cảm hứng, thể loại và ngôn ngữ.

PHƯƠNG ÁN KT ĐÁNH GIÁ GV đánh giá học sinh về khả năng tiếp nhận, sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ và tốc độ làm việc, HS đánh giá lẫn nhau thông qua ý thức tự giác làm việc và sản phẩm nộp Gv.

Giáo án sưu tầm

Xem thêm :

Giáo án ngữ văn 10 

Giáo án ngữ văn 11

Giáo án ngữ văn 12

Tổng hợp kết bài mẫu về các tác phẩm lớp 11-Hay và đầy đủ

Tuyển tập những kết bài mẫu tham khảo.Kết bài về các tác phẩm lớp 11 : Hai đứa trẻ, Chữ người tử tù, Hạnh phúc một tang gia, Chí Phèo, Vội vàng, Tràng giang, Đây thôn Vĩ Dạ, Từ ấy

Tổng hợp những kết bài hay về tác phẩm Hai đứa trẻ ( Thạch Lam)

  1. Thạch Lam đã mô tả thế giới nội tâm của nhân vật bằng ngòi bút tinh vi. Tài năng của nhà văn đã làm sống dậy những cảm xúc vốn mong manh, hư ảo của hồn người. Vượt qua bóng đêm, vượt của sự buồn tẻ của kiếp người, Hai đứa trẻ chính là bài ca về niềm tin yêu cuộc sống. Niềm tin yêu đó được kết tinh từ ánh sáng tư tưởng tiến bộ, từ ánh  sáng lòng nhân ái của nhà văn. “Không có ước mơ nào là quá muộn” nhà văn Anatole France đã nói như vậy. Còn Eleannor Roosevelt thì phát biểu “Tương lai thuộc về những ai tin tưởng vào cái đẹp của ước mơ”. Tôi tin ánh sáng nhà văn Thạch Lam nhen lên  trong tâm hồn hai đứa trẻ sẽ trở thành ngọn đuốc soi rọi cho con người bước qua bóng  tối. Niềm tin vào sự đổi thay của cuộc đời chính là chỗ dựa để con người sống có mơ  ước, sống có ý nghĩa.
  2. Không có những tình huống li kì, những tính cách sắc nét, không đi sâu những cảnh áp bức bóc lột, những số phận thương tâm,…mọi thứ trong Hai đứa trẻ cứ nhẹ nhàng diễn ra trên từng trang viết, lặng lẽ đưa ra những hình ảnh xoàng xĩnh quen thuộc ở một phố huyện nghèo qua con mắt một đứa trẻ. Nhưng chính vẻ đẹp của những cái bình thường, lặng lẽ, xoàng xĩnh ấy qua ngòi bút tinh tế, giọng văn nhỏ nhẹ của tác giả lại tạo nên sức hút kì lạ. Bức tranh đời sống nghèo trong truyện vừa rất mực chân thực, vừa chan chứa niềm cảm thương, chân thành của Thạch Lam đối với những người lao động nghèo khổ sống quẩn quanh, bế tắc, bị chôn vùi trong kiếp tối tăm. Tất cả để lại ấn tượng, sự đồng cảm sâu sắc nơi người đọc một cách rất tự nhiên nhưng lắng đọng, khó quên vô cùng.

Tổng hợp những kết bài hay về tác phẩm Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân)

  1. “Vang bóng một thời” là một tiếng vọng đầy cuốn hút trong trào lưu văn học lãng mạn 1930 – 1945 và “Chữ người tử tù” là một tiếng nói góp phần làm nên sự thành công của tập truyện này. Có thể nói rằng, những đặc trưng của phương pháp sáng tác lãng mạn chủ nghĩa không phải đã tập trung đầy đủ ở đây nhưng nhà văn đã thực sự đem chúng ta đến một thế giới mà trong đó nhân vật lãng mạn vượt lên khỏi hoàn cảnh để sống khác biệt với những tầm thường, tăm tối quanh mình. Cái Đẹp, cái Thiện và sự tài hoa đã cùng nhau châu tuần về đó.
  2. Chữ người tử tù đã thể hiện tư tưởng thẩm mĩ của Nguyễn Tuân. Cái đẹp, cái tài đã chiến thắng tất cả. Nó nâng đỡ và dìu dắt con người xích lại với nhau tạo nên sức mạnh chiên thắng mọi gông xiềng, quyền uy và thế lực. Nghệ thuật khắc họa nhân vật của cụ Nguyễn đầy ấn tượng đã tạo ra cho tác phẩm những bức tranh, hình ảnh đầy kịch tính với một ngôn ngữ khỏe khoắn, gân guổc đầy cảm giác và tân kỳ. Người ta thường nói đến phong cách của Nguyẽn Tuân gói gọn trong chữ “ngông” song thực tế không phải vậy. vẻ đẹp của quản ngục là biểu tượng cho thiên lương của con người, ở đây nó còn là hiện thân của cái đẹp. Nói như Vũ Ngọc Phan giá trị của tác phẩm “gần đạt đến sự toàn mĩ” là từ nhân vật này chăng?

Tổng hợp những kết bài hay về đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia (Số đỏ)

Có thể kết luận rằng: Từ cái “chết thật” của “ông cụ già” đến đám ma giả của tang gia, và từ cái đám ma giảtang gia đến niềm vui thật của bọn người hám danh, hám lợi, đạo đức giả được kể trong chương truyện này là cả một hành trình sáng tạo của một tài năng lớn – tài năng trào phúng Vũ Trọng Phụng.

Tổng hợp những kết bài hay về tác phẩm  Chí Phèo (Nam Cao)

  1. Chí Phèo – một tấn bi kịch của một người nông dân nghèo bị tha hóa trong xã hội cũ, một con người điển hình. Ở cuối tác phẩm, “đột nhiên thị thoáng thấy hiện ra một cái lò gạc cũ bỏ không, xa nhà cửa, và vắng người qua lại…”, chi tiết ấy muốn nói với chúng ta rằng, một ngày gần đây thôi,Thị Nở lại bụng mang dạ chửa vượt cạn giữa đồng không mông quạnh,giữa con mắt thờ ơ của người dân làng Vũ Đại,lai một Chí Phèo con xuất hiện. Điều này chứng tỏ rằng “Chí Phèo” không phải là bi kịch của một con người mà là bi kịch của người nông dân tồn tai trong lòng nông thôn trước Cách mạng tháng Tám. Mang đậm giá trị tố cáo rất cao, lên án giai cấp phong kiến thống trị tha hoá, những bị kịch như vậy sẽ còn tiếp.
  2. Hình tưcmg nhân vật Chí Phèo đế lại trong lòng người đọc nhiều niềm xúc động và lòng cảm thông sâu sắc đối với nhũng kiếp người tàn tạ trước Cách mạng tháng Tám. Cùng với những chị Dậu, anh Pha, lão Hạc,… hình tượng nhân vật Chí Phèo khẳng định tính tất yếu phải có một cuộc cách mạng dân tộc và cách mạng giai cấp đế đòi lại quyền sống cho người dân Việt Nam khi đó. Cho đến ngày nay, những nhân vật văn học ấy vẫn là những lời nhắc nhở, cảnh tỉnh chúng ta phải biết yêu hon, trân trọng hon hạnh phúc mình đang có và ra sức cống hiến xây dựng cuộc đời tươi đẹp này.

Tổng hợp những kết bài hay về tác phẩm Vội vàng (Xuân Diệu)

  1. Nhà thơ Thế Lữ, trong lời Tựa cho tập Thơ Thơ củaXuân Diệu, đã có nhận xét khá tinh tế: “Xuân Diệu là một người của đời, một người ở giữa loài người. Lầu thơ của ông xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian” . Qua những ý thơ của Vội vàng, ta càng cảm nhận sâu sắc hơn lời nhận xét ấy. Sống là hạnh phúc. Muốn đạt tới hạnh phúc phải sống vội vàng. Thế là, vội vàng là cách đến với hạnh phúc, là chính hạnh phúc, và hình như cũng là cái giá phải trả cho hạnh phúc vậy ! Tahiểu vì sao khiXuân Diệuxuất hiện, lập tức thi sĩ đã thuộc về tuổi trẻ!
  2. Với bài thơ “Vội vàng”,  Xuân  Diệu đã phảvào  nền  thi  ca  Việt  Nam  một trào lưu “Thơ mới”. Mới lạnhưng táo bạo, độc dáo ởgiọng điệu và cách dùng từ, ngắt nhịp, nhất là cách cảm nhận cuọc sống bằng tất cảcác giác quan, với một trái tim chan chứa tình yêu. “Vội vàng” đã thểhiện một cảm quan nghệthuật rất đẹp, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Đó là lòng yêu con người, yêu  cuộc đời. Đó là tình yêu cảnh  vật,  yêu  mùa  xuân  và  tuổi  trẻ…  Và  là  ham  muốn  mãnh  liệt muốn níu giữthời gian, muốn tận hưởng vịngọt ngào của cảnh sắc đất trời “tươi non mơn mởn”. Phải chăng trời đất sinh ra thi sĩ Xuân Diệu trên xứsởhữu tình này, là đểca hát vềtình yêu, đểnhảy múa trong những điệu nhạc tình si?! Thơ Xuân Diệu -vội vã với nhịp đập của thời gian

Tổng hợp những kết bài hay về tác phẩm Tràng giang (Huy Cận)

  1. Bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận với sựkết hợp bút pháp hiện thực và cổđiển đã vẽlên một bức tranh thiên nhiên u buồn, hiu quạnh.Qua đó khắc họa được tâm trạng cô liêu, đơn độc của con người và một tình yêu quê hương, mong ngóng vềquê hương chân thành, sâu sắc của Huy Cận.
  2. Tràng giang – Bài thơ sẽ còn mãi đi vào lòng người với phong cách tiêu biểu rất “Huy Cận”, với vẻ đẹp cổ điển trang nhã sâu lắng và vẻ đẹp hiện đại mang nặng một tấm lòng yêu nước, yêu quê hương.

Tổng hợp những kết bài hay về tác phẩm Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử)

  1. Đây thôn Vĩ Dạlà một bức tranh đẹp vềcảnh và người của miền quê đất nước qua tâm hồn thơ mộng, giàu tưởng tượng và đầy yêu thương của nhà thơ với nghệthuật gợi liên tưởng, hòa quyện thiên nhiên với lòng người. Trải qua bao năm tháng, cái tình Hàn Mặc Tửvẫn còn tươi nguyên, nóng hổi, lay động day dứt lòng người đọc. “Tình yêu trong ước mơ của con người đau thương ấy có sức bay bổng lạkì” nhưng nó cũng giản dị, trong sáng, tươi đẹp như làng quê Vĩ Dạ. Xin thành kính thắp một nén nhang trước một nghệsĩ tài hoa, một trái tim suốt cuộc đời thổn thức vì tình yêu, một tâm hồn thi sĩ đã thăng hoa nỗi đau thương, bất hạnh của đời mình thành những đóa hoa thơ mà trong đó thơm ngát nhất, thanh khiết nhất là Đây thôn Vĩ Dạ
  2. “Đây thôn Vĩ Dạ” là một bức tranh đẹp vềcảnh và người của một miền quê đất nước qua tâm hồn thơ mộng, giàu trí tưởng tượng và đầy yêu thương của một nhà thơ đa tình đa cảm. Bằng thủpháp nghệthuật liên tưởng cùng với những câu hỏi tu từ xuyên suốt bài thơ, tác giả Hàn Mặc Tửđã phác họa ra trước mắt ta một khung cảnh nên thơ, đầy sức sống và ẩn trong đấy là nỗi lòng của chính nhà thơ: nỗi đau đớn trước sựcô đơn, buồn chán trần thế, đau cho số phận ngắn ngủi của mình. Dầu vậy nhưng ông vẫn sống hết mình trong sựđau đớn của tinh thần và thể xác. Điều đó chứng tỏ ông không buông thả mình trong dòng sông số phận mà luôn cố gắng vượt lên nó để khi xa lìa cõi đời sẽ không còn gì phải hối tiếc.
  3. “Thơ đi từ cái thực tới cái ảo ảnh, từảo ảnh đi tới cái huyền diệu, từ huyền diệu đi tới chiêm bao. Bao trùm cả bài thơ là thế giới mơ”, đó là lời của Hàn Mặc Tử về thơ và có lẽ chính là vềĐây thôn Vĩ Dạ. Với hình ảnh độc đáo giàu sức gợi, giàu giá trị thẩm mĩ, ngôn ngữ ngữ cực tả luôn trong trong sáng, súc tích, cách sử dụng xuyên suốt những câu hỏi tu từ, cách sử dụng nhịp điệu thơ theo cảm xúc có khi là tha thiết đắm say, có khi là chậm rãi buồn tẻ, Đây thôn Vĩ Dạ thể hiện tình yêu tha thiết của tác giả đối với xứ Huế, nơi nhà thơ đã từng có nhiều kỷ niệm ngọt ngào, đồng thời thểhiện khát khao được sống, được yêu của một con người. Nhà thơ đã vẽ nên một bức tranh phong cảnh thật đẹp về thiên nhiên xứ Huế, từ đó thể hiện tình yêu và khát vọng sống mãnh liệt.

Tổng hợp những kết bài hay về tác phẩm Từ ấy (Tố Hữu)

  1. “Từ ấy” là tiếng reo vui không chỉ của nhà thơ, mà còn là của cả một thế hệ thanh niên khi tìm thấy lí tưởng của Đảng, nguyện chiến đấu hết mình vì lí tưởng, vì nhân dân, vì đất nước. Họ là những người chiến sĩ trẻ, mang trong mình nhiệt huyết, mang trong mình lí tưởng, và lòng yêu thương đồng bào, yêu thương đất nước. Có thể nói, thơ của Tố Hữu là thơ của nhân dân, những lí tưởng cao đẹp được diễn tả bằng những từ ngữ lãng mạn nhưng cũng vô cùng giản dị, gần gũi, là đại diện cho một lớp nhà thơ mới
  2. Bài thơ “Từ ấy” của Tố Hữu là một bài thơ vừa có tính triết lý sâu sắc, vừa rất gần gũi, bình dị, thân thuộc. Sau mấy chục năm đọc lại, những vần thơ đó vẫn là một câu hỏi thấm thía mà những người cộng sản hôm nay không thể không suy ngẫm một cách nghiêm túc để tự mình tìm ra lời giải đáp thấu đáo. Giữa cái chung và cái riêng, giữa cộng đồng -tập thể và cá nhân, giữa vật chất tầm thường và tinh thần –tư tưởng của người cộng sản.

Tài liệu sưu tầm. Nguồn : Page Cô Diễm Hằng

Xem thêm :

  1. Tổng hợp những mở bài mẫu hay nhất
  2. Cách viết phần kết bài trong bài văn nghị luận
  3. Tuyển tập những kết bài về các tác phẩm lớp 12

Đề thi hay và khó về những bài thơ mới Ngữ văn lớp 11

Đề thi hay và khó về những bài thơ mới lớp 11. Phân tích những bài thơ  mới ngữ văn 11 để làm sáng tỏ nhận đinh của Hoài Thanh :”Họ yêu vô cùng thứ tiếng trong mấy mươi thế kỉ đã chia sẻ vui buồn với cha ông. Họ dồn tình yêu quê hương trong tình yêu tiếng Việt”

Đề bài :

Họ yêu vô cùng thứ tiếng trong mấy mươi thế kỉ đã chia sẻ vui buồn với cha ông. Họ dồn tình yêu quê hương trong tình yêu tiếng Việt.”
(Một thời đại trong thi ca – Hoài Thanh)
Anh/ chị hãy làm sáng tỏ ý kiến của Hoài Thanh, qua việc phân tích một số bài thơ Mới  đã học trong chương trình Ngữ văn 11 như: Vội vàng – Xuân Diệu, Tràng giang – Huy Cận, Đây thôn Vĩ Dạ – Hàn Mặc Tử, Tương tư – Nguyễn Bính.

Hướng dẫn cách làm

Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Lòng yêu nước thương nòi qua tình yêu tiếng Việt của các nhà thơ Mới.

1. Giới thiệu vấn đề
– Hoài Thanh là một trí thức yêu nước, một nhà phê bình văn học xuất sắc nhất của nền văn học Việt Nam hiện đại. Sở trường của ông là phê bình thơ. Cách bình của Hoài Thanh không bằng lí trí mà bằng tình cảm, không bằng lí lẽ khô khan mà bằng cách diễn đạt giàu hình ảnh và cảm xúc; ngắn gọn mà nói đúng được cái thần thái độc đáo của mỗi hồn thơ, câu thơ.
– Trước Cách mạng, ông có cuốn Thi nhân Việt Nam (viết chung với Hoài Chân), một tuyển Thơ mới xuất sắc, lời bình tinh tế, tài hoa, có giá trị tổng kết sâu sắc cả một phong trào thơ lãng mạn trong cuộc cách tân hiện đại hóa thơ ca. Khi nói về các nhà thơ của phong trào Thơ mới, Hoài Thanh nhận xét: “Họ yêu vô cùng thứ tiếng trong mấy mươi thế kỉ đã chia sẻ vui buồn với cha ông. Họ dồn tình yêu quê hương trong tình yêu tiếngViệt.”

2.Giải thích đề
– “Họ” ở đây là các nhà Thơ mới như Thế Lữ, Huy Thông, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính…Đó là thế hệ nhà thơ lãng mạn Việt Nam (1932 – 1941), những trí thức có lương tri đang sống và sáng tác trong thời kì nước ta bị thực dân Pháp đô hộ.
– Trong hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ, có nhiều cách biểu lộ lòng yêu nước…. Các nhà Thơ mới đành gửi lòng yêu nước thương nòi của mình vào tình yêu tiếng Việt. Vì họ nghĩ rằng, tiếng Việt đã hứng vong hồn dân tộc những thế hệ qua. Vận mệnh dân tộc đã gắn bó với vận mệnh tiếng Việt. Họ dùng tiếng nói của dân tộc để sáng tác thơ, duy trì tiếng nói và các thể thơ mang hồn cốt dân tộc. Qua thơ, họ ngợi ca thiên nhiên đất nước, gửi gắm nỗi buốn mất nước.
3. Phân tích một số bài Thơ mới để làm sáng tỏ.
a. Vai trò, đặc điểm, vị trí của tiếng Việt
– Tiếng Việt là tiếng nói của dân tộc ta, đã hình thành từ lâu đời, trải qua bao thăng trầm lịch sử, tiếng Việt càng trở nên giàu và đẹp, thể hiện được tâm hồn và sức sống của người Việt Nam:
– Chưa thể trở thành chiến sĩ cách mạng, nhà thơ cách mạng, các nhà Thơ mới đã dùng tiếng Việt sáng tác thơ ca, như một cách giữ gìn, kế thừa và tôn vinh tiếng nói và văn hóa của dân tộc.
b. Chứng minh các nhà Thơ mới có tình yêu tha thiết tiếng Việt, dồn tình yêu quê hương trong tình yêu tiếng Việt
– Qua thơ, các nhà Thơ mới đã phát triển, đổi mới ngôn từ, làm cho tiếng Việt trở nên rất phong phú, trong sáng, tinh tể, hiện đại. Trong khi văn học trung đại sáng tác văn học bằng chữ Hán, chữ Nôm (ảnh hưởng chữ Hán) và các thể thơ chủ yếu là Đường luật; thì các nhà Thơ mới làm thơ bằng tiếng Việt, chữ quốc ngữ, tôn vinh các thể thơ truyền thống như: thơ lục bát, thơ bốn chữ, thơ năm chữ…Họ coi tiếng nói của cha ông là là hương hỏa quý giá, mang hồn thiêng dân tộc, nên đã trau chuốt từ ngữ, hình ảnh: (Vội vàng- Xuân Diệu)
– Nhờ đổi mới về hình thức nghệ thuật ngôn từ (như câu chữ, hình ảnh, nhịp điệu, các cách tu từ…), các nhà Thơ mới đã thể hiện được sinh động trong thơ những hình ảnh, cảnh sắc, thần thái của cảnh trí đất nước mà trong thơ cổ vẫn chỉ là ước lệ. Chính là, các nhà Thơ mới đã dồn tình yêu nước vào tình yêu tiếng Việt:
– Không chỉ vẽ nên những cánh sắc quê hương đất nước với những tình cảm trong sáng, qua thơ các nhà Thơ mới còn gửi gắm nỗi buồn mất nước thầm kín mà thiết tha: Tràng giang – Huy Cận
4.Bìnhluận
– Tình yêu tiếng Việt, yêu nghệ thuật thơ ca, yêu bản sắc văn hóa dân tộc của các nhà Thơ mới rất phong phú sâu sắc. Đó một biểu hiện tinh tế của tình yêu quê hương đất nước.
– Có thể còn có những tác giả, tác phẩm Thơ mới có thái độ chán chường ủy mị yếu đuối, nhưng đó chỉ là nét cá biệt, không phải là tinh thần của Thơ mới. Thơ mới bộc lộ cái tôi cá nhân sầu buồn, đó là nỗi sầu buồn nhân văn, khi hướng tình cảm của mình về quê hương đất nước. Bởi vậy tình yêu quê hương đất nước, dồn trong tình yêu tiếng Việt của các nhà Thơ mới, đã góp phần rung lên tiếng tơ lòng muôn điệu của những tâm hồn Việt. Tình yêu đó rất đáng trân trọng
(Đề sưu tầm)

Giáo án Ngữ Văn 11 theo chủ đề : chủ đề thơ mới Việt Nam

Giáo án Ngữ Văn 11 theo chủ đề : chủ đề thơ mới Việt Nam . Giáo án theo định hướng phát triển năng lực

BÀI THỰC HÀNH TỔ 2

CHỦ ĐỀ: THƠ MỚI

Chuẩn kiến thức, kĩ năng

– Hiểu được những đặc sắc về nội dung và nghệm thuật của các bài thơ trongb chủ đề.

– Hiểu được một số đặc điểm cơ bản của thơ mới .

– Bước đầu nhận biết sự giống và khác nhau giữa thơ trung đại và thơ mới trên một số phương diện như: đề tài, cảm hứng, thể loại, ngôn ngữ ….

– Biết cách đọc hiểu một văn bản thơ trữ tình hiện đại.

– Vận dụng được những hiểu biết về thơ mới vào việc đọc hiểu những văn bản tương tự ngoài chương trình sách giáo khoa.

Từ đó học sinh có thể hình thành các năng lực sau:

+ Năng lực thu thập thông tin liên quan đến văn bản.

+ Năng lực giải quyết những tình huống đặt ra trong các văn bản

+ Năng lực đọc hiểu thơ hiện đại Việt Nam theo đặc điểm thể loại

+ Năng lực trình bày suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về ý nghĩa của văn bản

+ Năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận về nội dung và nghệ thuật của văn bản.

 

BẢNG MÔ TẢ CÁC MỨC ĐỘ ĐÁNH GIÁ CHỦ ĐỀ “THƠ MỚI VIỆT NAM GIAI ĐỌAN 1932 -1945” 

THEO ĐỊNH HƯỚNG NĂNG LỰC

 

Nhận biết Thông hiểu Vận dụng thấp Vận dụng cao
– Nêu thông tin về tác giả (cuộc đời, con người, phong cách nghệ thuật), về tác phẩm (xuất xứ, hoàn cảnh ra đời) – Vận dụng hiểu biết về tác giả (cuộc đời, con người), hoàn cảnh ra đời của tác phẩm để lý giải nội dung, nghệ thuật của bài thơ. – Vận dụng đặc điểm phong cách nghệ thuật của nhà thơ vào hoạt động tiếp cận và đọc hiểu văn bản.
– Nhận ra đề tài cảm hứng thể thơ

 

– Hiểu được côị nguồn nảy sinh cảm hứng.

– Hiểu được đặc điểm cơ bản của thể thơ.

 

– Vận dụng hiểu biết về đề tài, cảm hứng, thể thơ vào phân tích, lí giải giá trị nội dung và nghệ thuật. – Từ đề tài, cảm hứng thể thơ… tự xác định được con đường phân tích một văn bản mới cùng thể tài.
– Nhận diện chủ thể trữ tình, đối tượng trữ tình, thế giới hình tượng (thiên nhiên, cảnh vật, không gian, thời gian…) trong bài thơ.

 

– Cảm hiểu tâm trạng, tình cảm của nhân vật trữ tình trong bài thơ.

– Phân tích đươc ý nghĩa của thế giới hình tượng đối với việc thể hiện tình cảm, cảm xúc của nhân vật trữ tình.

– Giải thích được tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ.

– Biết đánh giá tâm trạng, tình cảm của nhân vật trữ tình.

– Khái quát hóa về đời sống tâm hồn, nhân cách của nhà thơ.

– So sánh cái tôi trữ tình của các nhà thơ trong các bài thơ.

– Biết bình luận, đánh giá đúng đắn những ý kiến, nhận định về các tác phẩm thơ đã được học.

– Liên hệ với những giá trị sống hiện tại của bản thân và những người xung quanh.

– Biết cách tự nhận diện, phân tích và đánh giá thế giới hình tượng, tâm trạng của nhân vật trữ tình trong những bài thơ khác tương tự cùng thể tài.

– Phát hiện các chi tiết, biện pháp nghệ thuật đặc sắc (từ ngữ, biện pháp tu từ, câu văn, hình ảnh, nhạc điệu, bút pháp…) Lí giải ý nghĩa, tác dụng của các biện pháp nghệ thuật. – Đánh giá giá trị nghệ thuật của tác phẩm. – Khái quát giá trị, đóng góp của tác phẩm đối với sự đổi mới thể loại, nghệ thuật thơ, xu hướng hiện đại hóa văn học nói chung và thơ ca nói riêng.

– So sánh với những đặc trưng nghệ thuật của thơ ca trung đại.

– Tự phát hiện và đánh giá giá trị nghệ thuật của những tác phẩm tương tự không có trong chương trình.

– Đọc diễn cảm toàn bộ tác phẩm (thể hiện được tình cảm, cảm xúc của nhà thơ trong tác phẩm). – Đọc sáng tạo (không chỉ thể hiện tình cảm, cảm xúc của tác giả mà còn bộc lộ những cảm nhận, cảm xúc, trải nghiệm riêng của bản thân).

– Đọc nghệ thuật (Đọc có biểu diễn).

– Viết bài bình thơ, giới thiệu thơ.

– Sưu tầm những bài thơ hay, tương tự của tác giả và của giai đoạn văn học này

– Sáng tác thơ.

– Viết bài tập nghiên cứu khoa học.

– Tham gia các câu lạc bộ thơ, ngày hội thơ.

 

CÂU HỎI/BÀI TẬP MINH HỌA

VĂN BẢN: TRÀNG GIANG (Huy Cận)

Nhận biết Thông hiểu Vận dụng
Thấp Cao
1. Nêu những nét chính về tác giả Huy Cận? Qua thế giới nghệ thuật của bài thơ, anh (chị) có cho rằng Huy Cận là nhà thơ “mang mang thiên cổ sầu”? Huy Cận là nhà thơ của “Nỗi sầu vạn kỉ (Hoài Thanh). Theo anh (chị) nỗi sầu ấy được thể hiện như thế nào trong bài thơ “Tràng giang”?
2. Cảm hứng và âm điệu chung của bài thơ “Tràng giang”?  Vì sao có thể khẳng định đó là cảm hứng bao trùm bài thơ? Về cảm thức không gian của Huy Cận qua hai câu thơ:

“Nắng xuống trời lên sâu chót vót

Sông dài trời rộng bến cô liêu”

Vì sao nói bức tranh thiên nhiên trong bài thơ mang đậm màu sắc cổ điển mà vẫn gần gũi, thân thuộc?
3. Ý nghĩa về nhan đề bài thơ và câu thơ đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”? Lời đề từ có mối liên hệ gì với bức tranh thiên nhiên và tâm trạng của tác giả trong bài thơ? Cách cảm nhận không gian và thời gian trong bài thơ này có gì đáng chú ý?
4. Cảm hứng của Huy Cận trong bài “Tràng giang” chủ yếu là cảm hứng không gian.

Đúng

Sai?

5. Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ hiện lên qua những hình ảnh nào?
6. Những câu thơ nào được Huy Cận vận dụng sáng tạo từ thơ ca truyền thống? Vì sao nói những câu thơ đó được Huy Cận vừa kế thừa yếu tố truyền thống vừa vận dụng một cách sáng tạo? Vì sao câu thơ cuối “không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” lại làm cho người đọc liên tưởng đến hai câu thơ trong bài “Hoàng Hạc lâu” của Thôi Hiệu?
7. Những đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ “Tràng giang”? Các yếu tố ngôn ngữ và biện pháp nghệ thuật đã góp phần như thế nào vào việc thể hiện cảm xúc của bài thơ? Qua những hình thức nghệ thuật này, anh (chị) nhận định như thế nào về giá trị nghệ thuật của thi phẩm?
8. Chỉ ra câu thơ thể hiện rõ nhất cảm nhận của Huy Cận trước không gian ba chiều? Giải thích ý nghĩa của từ “sâu” trong câu thơ “Nắng xuống trời lên sâu chót vót”? Lý giải căn nguyên của cảm hứng về nỗi buồn bao trùm bài thơ?

 

Đọc diễn cảm bài thơ

 

MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA

     Mức độ 

Chủ đề

Nhận biết Thông hiểu Vận dụng Tổng số
Thấp Cao
I. Đọc hiểu

Bài thơ “Tràng giàn” của Huy Cận

Cảm xúc chủ đạo trong bài thơ thông qua thế giới hình ảnh và các biện pháp nghệ thuật đặc sắc. Hiểu và lý giải được tâm trạng của nhân vật trữ tình.

Hiểu tác dụng của các biện pháp nghệ thuật đối với việc thể hiện cảm xúc trong bài thơ.

 

Vận dụng những hiểu biết về bài thơ  để phân tích ý nghĩa, vẻ đẹp của một số hình ảnh, từ ngữ đặc sắc. Vận dụng tổng hợp hiểu biết về nội dung, nghệ thuật của bài thơ vào việc làm rõ màu sắc cổ điển và tinh thần hiện đại.
Số câu

Số điểm

Tỷ lệ

1

1.0

10%

1

1.0

10%

1

1.0

10%

1

1.0

10%

4

4.0

40%

II. Làm văn

Nghị luận văn học

Vận dụng tổng hợp hiểu biết về nội dung, nghệ thuật của bài thơ về việc làm rõ các nhận định
Số câu

Số điểm

Tỷ lệ

1

6.0

60%

1

6.0

60%

Tổng chung:

Số câu

Số điểm

Tỷ lệ

 

1

1.0

10%

 

1

1.0

10%

 

1

1.0

10%

 

2

7.0

70%

 

5

10.0

100%

ĐỀ KIỂM TRA

(Thời gian 90 phút)

Phần I. Đọc – hiểu (4 điểm)

Đọc bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận và trả lời các câu hỏi sau:

  1. Những thông tin sau về bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận đúng hay sai?
Cảm xúc chủ đạo trong bài “Tràng giang” là nỗi buồn cô đơn trước vũ trụ rộng lớn Đúng/sai
Phía sau nỗi buồn là niềm khao khát hòa nhập với cuộc đời và tình cảm với quê hương đất nước của tác giả. Đúng/sai
Các biện pháp nghệ thuật so sánh, nhân hóa đã được sử dụng triệt để nhằm thể hiện dòng cảm xúc mãnh liệt của cái tôi trữ tình Huy Cận. Đúng/sai
“Tràng giang” – bức tranh thiên nhiên mang vẻ đẹp cổ điển được cảm nhận qua tâm hồn thi sĩ thơ mới. Đúng/sai
  1. Hình ảnh: sóng, thuyền, bèo, cành củi khô, cánh chim trong bài thơ gợi cho em liên tưởng gì?
  2. Cảm nhận ngắn gọn về không gian tràng giang trong hai câu thơ sau:

Nắng xuống trời lên sâu chót vót

Sông dài trời rộng bến cô liêu

  1. Chỉ ra những yếu tố thể hiện màu sắc cổ điển và tinh thần hiện đại trong bài thơ “Tràng giang”? (trình bày khoảng 5-7 câu)

Phần II. Làm văn (6 điểm)

Bàn về nỗi sầu của nhân vật trữ tình trong bài thơ Tràng giang , có ý kiến cho rằng: Đó nỗi sầu của một ng­ười ý thức mình là một cá thể cô đơn, bơ vơ,  lạc lõng tr­ước cõi đời.  Lại có ý kiến khẳng định: Đó là nỗi đau của một ng­ười dân vong quốc ngay trên đất n­ước mình.

      Từ cảm nhận của anh/ chị về bài thơ, hãy bình luận những ý kiến trên.

 

HƯỚNG DẪN CHẤM

Phần I. Đọc – hiểu (4 điểm)

  1. Những thông tin sau về bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận đúng hay sai? (1điểm)
Cảm xúc chủ đạo trong bài “Tràng giang” là nỗi buồn cô đơn trước vũ trụ rộng lớn Đúng
Phía sau nỗi buồn là niềm khao khát hòa nhập với cuộc đời và tình cảm với quê hương đất nước của tác giả. Đúng
Các biện pháp nghệ thuật so sánh, nhân hóa đã được sử dụng triệt để nhằm thể hiện dòng cảm xúc mãnh liệt của cái tôi trữ tình Huy Cận. sai
“Tràng giang” – bức tranh thiên nhiên mang vẻ đẹp cổ điển được cảm nhận qua tâm hồn thi sĩ thơ mới. Đúng

 

  1. Hình ảnh: sóng, thuyền, bèo, cành củi khô, cánh chim gợi cho em liên tưởng gì? (1điểm)

Thân phận con người nhỏ bé, đơn độc, bấp bênh, lạc loài giữa cuộc đời trong xã hội cũ.

  1. Cảm nhận về không gian trong hai câu thơ:(1 điểm)

Nắng xuống trời lên sâu chót vót

Sông dài trời rộng bến cô liêu

– Không gian ba chiều được mở rộng, đẩy cao, tạo độ sâu đến vô cùng, gợi cảm giác về sự hoang vắng. Trong không gian ấy con người trở nên nhỏ bé, rợn ngợp.

  1. Chỉ ra những yếu tố thể hiện màu sắc cổ điển và tinh thần hiện đại trong bài thơ “Tràng giang”? (trình bày khoảng 5-7 câu) (1điểm)

– Màu sắc cổ điển: đề tài, thể thơ, thi liệu, bút pháp

– Tinh thần hiện đại: Nỗi buồn của cái tôi trữ tình- nỗi buồn thời đại. Hình ảnh bình dị, đời thường.

Phần II. Làm văn (6 điểm)

  1. Giới thiệu về tác giả, bài thơ (0.5 điểm)                                            

– Huy Cận (1919- 2005) là nhà thơ lớn của văn học VN hiện đại, là một trong những nhà thơ xuất sắc nhất của phong trào Thơ mới. Thơ Huy Cận hàm súc, giàu chất suy t­ưởng triết lí.

 Tràng giang (1939) in trong tập Lửa thiêng (1940) đư­ợc gợi hứng từ chiều thu nhìn sông Hồng mênh mang sóng n­ước. Đó là điệu hồn của cõi lòng thi nhân, nỗi sầu buồn của ng­ười lữ thứ bơ vơ, hiu quạnh trong không gian rộng dài.

  1. Giải thích ý kiến (1.0 điểm) 

 – Huy Cận trình làng Thơ mới tập lửa thiêng với nỗi buồn từ vạn kỉ phủ vào đất trời, thiên nhiên, sông n­ước. Đó là nỗi sầu buồn ảo não trước không gian, vũ trụ mênh mông, trước cuộc đời hiu quạnh – Nỗi sầu nhân thế

    – Tràng giangnỗi sầu của một ng­ười cô đơn, bơ vơ lạc lõng tr­ước cõi đời. Tr­ước mênh mang sông nư­ớc Tràng giang, cái tôi trữ tình ý thức sâu sắc đ­ược sự cô đơn, bơ vơ, lạc loài của mình tr­ước vô thủy, vô chung của vũ trụ không cùng.

Tràng giangnỗi đau của một ng­ười dân vong quốc ngay trên đất n­ước mình. Nhìn sông Hồng chiều thu mùa n­ước lũ trôi, Huy Cận chạnh nhớ dòng sông quê hư­ơng mình, khi mang thân phận của ng­ười trí thức mất n­ước. Cho nên nỗi sầu thành nỗi đau của một ngư­ời dân vong quốc ngay trên đất n­ước mình.

  1. Cảm nhận về nỗi sầu của nhân vật trữ tình trong Tràng giang (3.0 điểm)
  2. Tràng giang – Nỗi sầu của cái tôi cô đơn, bơ vơ, lạc lõng (1.5 điểm)

* Nỗi sầu, cô đơn tr­ước không gian mênh mông sóng nư­ớc(sóng, thuyền…)

Tràng giang buồn điệp điệp: Ngọn sóng Tràng giang điệp điệp. Những con sóng buồn dồn dập và chồng chất, liên tiếp gối lên nhau. Nỗi buồn này chư­a nguôi ngoai, ch­ưa tan ra thì nỗi buồn khác lại trỗi dậy và dội lên -> là nỗi buồn miên man, triền miên không dứt, trải dài vô tận

N­ước sầu trăm ngả: hình ảnh con thuyền đơn độc, lẻ loi xuất hiện. Càng cô đơn, quạnh quẽ hơn khi thuyền và n­ước lại di chuyển trái chiều nhau.

-> Nỗi buồn sầu của một hồn buồn ảo não đã thấm lẫn, phả vào và lan tỏa theo sông nư­ớc.

* Nỗi sầu, cô đơn tr­ước không gian ba chiều: cao, sâu, rộng dài Nắng xuống, trời lên…sông dài, trời rộng. Vũ trụ vừa vư­ơn tới tận đáy, vừa chiếm tới tận đỉnh, vừa mở ra tới vô cùng, vừa chạm tới cái vô tận. Con ng­ười có phần nhỏ bé, rợn ngợp tr­ước bao la vĩnh hằng của vũ trụ, xa vắng thời gian bờ xanh tiếp bãi vàng.

* Cái tôi cô đơn, bơ vơ, lạc lõng nh­ư dồn tụ, neo gửi trong những tạo vật nhỏ nhoi, đơn chiếc nổi trôi (củi, bèo, cánh chim)

Củi một cành khô: Chỉ một hình ảnh tầm th­ường mà Huy Cận đã thể hiện đ­ợc những suy ngẫm, triết lý về cuộc đời, con ngư­ời.

Bèo dạt về đâu hàng nối hàng: Hình ảnh thơ này cũng chính là nỗi niềm, là thân phận của cái tôi Huy Cận vô định và mất ph­ương h­ướng, chìm nổi và lạc loài không biết đi đâu về đâu. Đằng sau đó là nỗi băn khoăn, trăn trở của cả lớp ng­ười bế tắc.

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa: Chim “nghiêng cánh” nh­ư hành động gắng g­ượng v­ượt thoát sự vây bủa đè nặng của bóng chiều.  Là cái tôi Huy cận đang gắng g­ượng v­ượt thoát nỗi sầu buồn, cô đơn đang vây bủa.  Nỗi sầu thiên cổ Huy Cận càng dâng lên, tỏa rộng giăng mắc.

Tràng giang – nỗi đau của một ngư­ời dân vong quốc ngay trên đất n­ước mình. (1.5 điểm)

 * Niềm khát khao kiếm tìm của sự sống, hơi ấm, bóng dáng con ng­ười.

– Khát khao kiếm tìm âm thanh của sự sống, hơi ấm, bóng dáng con ng­ười

Đâu tiếng làng… nhân vật trữ tình đang cố lắng nghe, đang cố kiếm tìm một âm thanh của cuộc sống dù chỉ là thứ âm thanh xoàng xĩnh của phiên chợ tàn chiều quê

– Kiếm tìm những tín hiệu, những hình ảnh cuộc sống con ngư­ời: k chuyến đò, k cầu.. dùng phủ định để tô đậm, làm nổi bật không hề có bóng dáng con người mà chỉ có thiên nhiên mênh mông, hoang vắng.  -> Tràng giang thiếu vắng tuyệt đối sự tồn tại của con người

=> Cảm giác bật ra khỏi dòng chảy của sự sống.

* Khắc khoải nỗi nhớ nhà, nhớ n­ước (điểm tựa để thoát khỏi cô đơn, chạy trốn sầu buồn)

– Nỗi nhớ quê h­ương nh­ư những con sóng trỗi dậy và dâng trào Lòng quê dợn dợn… Chỉ một từ láy mà mang chứa trong đó cả sự mãnh liệt, cồn cào và da diết của một tấm lòng hoài hương.

– Nỗi nhớ ấy khiến n/v trữ tình cất lời bộc lộ trực tiếp: Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. Trước sông nước mênh mông, trước cuộc đời hui quạnh khiến ông nhớ tới quê hương như nguồn ấm áp. Mặt khác trong nỗi nhớ nhà của Huy Cận còn có tâm trạng của người dân mất nước, mang cả cảm giác bơ vơ, lạc lõng của một người sống giữa quê hương mình, đất nước mình mà ngỡ như đang sống giữa đất khách quê người

-> Có thể nói, nỗi khắc khoải nhớ nhà, nhớ n­ước này đã nh­ư ngọn lửa thiêng soi sáng nỗi sầu buồn cô đơn, đ­ưa cái tôi lạc lõng về cội nguồn dân tộc.

  1. Bình luận về hai ý kiến (1.5 điểm)

Hai ý kiến đề cập đến cái sầu của nhân vật trữ tình đ­ược thể hiện trong bài thơ Tràng giang.  ý kiến thứ nhất nhấn mạnh nỗi sầu của cái tôi cô đơn, bơ vơ, lạc lõng tr­ước không gian rộng dài.  ý kiến thứ hai khẳng định nỗi đau của một ng­ười dân vong quốc ngay trên đất n­ước mình.

–  Hai ý kiến tuy khác nhau nh­ưng không đối lập mà bổ sung cho nhau giúp ng­ười đọc nhìn nhận sâu sắc hơn về cái tôi của nhân vật trữ tình

– Nỗi sầu buồn của Huy Cận đại diện cho cái tôi sầu buồn của Thơ mới (nỗi sầu thời thế, nỗi sầu nhân thế, nỗi sầu thân thế). Sầu buồn trở thành tâm bệnh của Thơ mới nh­ưng đó là nỗi buồn đẹp và đẫm chất nhân văn. Buồn như­ng không ủy mị, yếu đuối, bạc nh­ược mà là cái buồn của ng­ười có tâm huyết, bế tắc ch­ưa tìm đ­ược lối ra (Hoài Chân)

Đề tham khảo:

Có ý kiến cho rằng: Nỗi buồn làm cho tâm hồn con người trở nên ủy mị, yếu đuối. Nhưng có ý kiến khác lại khẳng định: Cuộc sống cũng cần có những nỗi buồn để ta thấy hết giá trị của niềm vui

Từ những ý kiến trên, anh (chị) có suy nghĩ gì về nỗi buồn trong Tràng giang của Huy Cận và ý nghĩa của nỗi buồn trong cuộc sống mỗi người.

(Tài liệu sưu tầm )

Xem thêm :

  1. Giáo án Ngữ văn 10 
  2. Giáo án Ngữ văn 11
  3. Giáo án Ngữ văn 12 

Tài liệu Ngữ văn 11 theo định hướng phát triển năng lực, chủ đề thơ Việt Nam hiện đại

Tài liệu Ngữ văn 11 theo định hướng phát triển năng lực, chủ đề thơ Việt Nam hiện đại. Soạn giáo án Ngữ văn lớp 11

CHỦ  ĐỀ THƠ HIỆN ĐẠI VIỆT NAM

(Ngữ văn: 11)

Chuẩn kiến thức  kĩ năng

  • Hiểu được những nét đặc sấc về nội dung và nghệ thuật của những bài thơ trong chủ đề.
  • Hiểu một số  đặc điểm cơ  bản của thơ Việt Nam giai đoạn 1900- 1945
  • Bước đầu nhận biết sự giống nhau và khác nhau giữa thơ trung đại và hiện đại trn một số phương diện như đề tài,   cảm hứng, thể  loại và ngôn ngữ
  • Biết cách đọc hiểu một văn bản thơ trữ tình hiện đại.
  • Vận dụng được những hiểu biết về thơ trữ tình Việt Nam giai đoạn 1900- 1945 vào đọc hiểu những văn bản tương tự ngoài chương trình SGK.
  • Từ đó có thể hình thành các năng lực sau:

+ Năng lực thu thập thông tin liên quan đến văn bản.

+ Năng lực giải quyết những tình huống đặt ra trong các văn bản.

+ Năng lực đọc hiểu thơ hiện  đại Việt Nam theo đặc điểm thể loại.

+ Năng lực trình bày suy nghĩ cảm nhận của cá nhân về ý nghĩa của văn bản.

+ Năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận về nội dung và nghệ thuật của văn bản.

 

Bảng mô tả các mức độ đánh giá chủ đề “ Thơ hiện đại Việt Nam” theo định hướng năng lực.

 

Nhận biết Thông hiểu Vận dụng
Vận dụng thấp Vận dụng cao
– Nêu thông tin về tác giả (cuộc đời, con người, phong cách nghệ thuật), tác phẩm (xuất xứ, hoàn cảnh ra đời). – Vận dụng hiểu biết về tác giả (cuộc đời, con người), hoàn cảnh ra đời của tác phẩm  để lí giải nội dung và nghệ thuật của bài thơ. – Vận dụng đặc điểm phong cách nghệ thuật của nhà thơ vào hoạt động tiếp nhận và đọc hiểu văn bản.
– Nhận ra đề tài cảm hứng và  thể thơ. – Hiểu được cội nguồn nảy sinh cảm hứng.

Hiểu được đặc điểm cơ bản của thể thơ

– Vận dụng hiểu biết về đề tài, cảm hứng thể thơ vào phân tích, lí giải giá trị nội dung và nghệ thuật. – Từ đề tài, cảm hứng, thể thơ…tự xác định được con đường phân tích một văn bản mới cùng thể tài (thể loại, đề tài).
– Nhận diện chủt thể trữ tình, đối tượng trữ tình, thế giới hình tượng( thiên nhiên, cảnh vật, không gian, thời gian…) trong bài thơ.

 

– Cảm hiểu tâm trạng, tình cảm của nhân vật trữ tình trong bài thơ.

 

– Phân tích được ý nghĩa của thế giới hình tượng đối với việc thể hiện tình cảm, cảm xúc của nhân vật trữ tình

– Giải thích được  tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ.

– Biết đánh giá tâm trạng, tình cảm của

nhân vật trữ  tình.

 

– Khái quát hoá về đời sống tâm hồn nhân cách của nhà thơ.

 

– So sánh cái “tôi” trữ tình của các nhà thơ trong các bài thơ.

– Giải thích được tâm trạng, cảm xúc của tác giả.

– Biết bình luận, đánh giá đúng đắn những ý kiến nhận định về các tác phẩm thơ đã được học.

– Liên hệ với những giá trị sống hiện tại của bản thân và những người xung quanh.

– Biết cách tự nhận diện, phân tích và đánh giá thế giới hình tượng và tâm trạng của nhân vật trữ tình trong những bài thơ khác, tương tự, cùng thể tài.

– Phát hiện các chi tiết, biện pháp nghệ thuật đặc sắc (từ ngữ, biện pháp tu từ, câu thơ, hình ảnh, nhịp điệu, bút pháp…) – Lí giải ý nghĩa, tác dụng của biện pháp nghệ thuật. – Đánh giá giá trị nghệ thuật của tác phẩm – Khái quát giá trị đóng góp của tác phẩm đối với thể loại, nghệ thuật thơ,  xu hướng hiện đại hóa văn học nói chung và thơ  ca nói riêng.

– So sánh với các đặc trưng nghệ thuật của thơ ca trung đại.

– Tự phát hiện và đánh giá giá trị nghệ thuật của các tác phẩm tương tự không có trong chương trình.

– Đọc diễn cảm toàn bộ tác phẩm (thể hiện được tình cảm, cảm xúc của nhà thơ trong tác phẩm). – Đọc sáng tạo (không chỉ thể hiện tình cảm, cảm xúc của tác giả mà còn bộc lộ những cảm nhận, cảm xúc, trải nghiệm riêng của bản thân).

– Đọc nghệ thuật (đọc có biểu diễn).

– Viết bài bình thơ, giới thiệu thơ.

– Sưu tầm những bài văn hay, tương tự của tác giả và của giai đoạn văn học này.

– Sáng tác thơ.

– Viết bài tập nghiên cứu khoa học.

– Tham gia các câu lạc bộ thơ, ngày hội thơ.

 

Câu hỏi/Bài tập minh hoạ:

 Bài thơ “Tràng giang”  (Huy Cận)

Nhận biết Thông  hiểu Vận  dụng
Thấp Cao
– Nêu những nét chính về cuộc đời  của nhà thơ Huy Cận?

– Nêu những hiểu biết của  em về phong cách thơ Huy Cận?

– Kể tên những tập thơ tiêu biêủ của Huy Cận?

– Bài thơ Tràng Giang được tác giả Huy Cận sáng tác trong hoàn cảnh nào?

– Bài thơ được sáng tác theo thể thơ nào? Hãy chỉ ra những biểu hiện của thể thơ đó?

– Cách dùng từ trong câu thơ   “Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu” có gì đặc biệt?

– Huy Cận  đã   sáng tạo hai câu thơ cuối của bài thơ  dựa trên ý  thơ  của nhà  thơ nào?

– Giải thích ý nghĩa nhan đề của bài thơ?

–  Câu thơ đề từ “ Bâng  khuâng  trời  rộng nhớ  sông  dài” của  bài thơ  diễn tả nội dung gì?

– Việc sử  dụng từ  láy trong câu thơ “  Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu”  có tác  dụng  như thế  nào  trong việc diễn tả nội dung bài thơ,  cảm  xúc của nhà thơ?

– Bốn câu thơ đầu của bài thơ gợi cho em cảm giác gì? Tại sao?

–  Cách sử dụng  hình ảnh thơ  “ Sâu chót  vót” trong câu thơ  “ Nắng xuống trời lên sâu chót  vót”giúp ích gì cho nhà thơ khi miêu tả không gian?

 

–  Phân tích  vẻ đẹp nghệ thuật  của khổ thơ cuối và cho biết cảm xúc của Huy Cận được thể hiện trong đó?

– Chỉ ra những yếu tố nghệ thuật đặc sắc ở khổ thơ thứ nhất và phân tích giá trị của chúng  trong việc thể hiện cảnh “Tràng giang”

– Vì sao nói “ tràng giang” của Huy Cận đã “bộc lộ kín đáo mà thấm thía tình yêu quê hương đất nước”? (Nguyễn hoành Khung,Văn 11,NXB Giáo dục, Hà Nội  1997)

– Viết đoạn văn phân tích nhịp điệu của hai câu thơ: “ Nắng xuống trời lên sâu chót  vót/ Sông dài, trời rộng,  bến cô liêu”?

– Viết đoạn văn phân tích tâm trạng của nhà thơ được thể hiện ở hai câu cuối bài thơ?

–  Đọc diễn cảm bài thơ?

– Hai câu thơ cuối bài thơ khiến em lien tưởng đến bài thơ Đường nào đã học? Viết đoạn văn  so sánh cách thể hiện cảm xúc của hai nhà thơ trong hai bài thơ đó?

– Cảm  nhận của em về chất Đường thi trong bài thơ Tràng giang của Huy Cận?

– Dựa vào ý thơ của Huy Cận, hãy viết bài thơ miêu tả cảnh  tràng giang?

 

Đề kiểm tra cho chủ đề “Thơ hiện đại Việt Nam”

Ma trận đề kiểm tra:

 

      Mức độ

Chủ đề

Nhận biết Thông hiểu Vận dụng Tổng
Thấp Cao
I.     Đọc –  hiểu

 

 

– Nhận biết được thể thơ được tác giả sử dụng khi sáng tác bài thơ?

– Nhận biết được nghệ thuật được tác giả sử dụng trong trong hai câu thơ: “ Lớp lớp mây cao đùn núi bạc/ Chim nghiêng cánh nhỏ:  bóng chiều sa.”

 

– Hiểu được nội dung, ý nghĩa của câu thơ đề từ?

– Hiểu được nội dung cảm xúc được tác giả thể hiện ở bốn câu thơ đầu ?

 

– Đưa ra được ý kiến của mình về sự sáng tạo của Huy Cận được thể hiện qua câu cuối của bài thơ?
Số câu

Số điểm:

Tỷ lệ

1,5

1,0

10%

1,5

2,0

20%

 

 

 

1

1

10%

4

4

40%

II.  Làm văn

 

– Những nét chính về tác giả Huy Cận, tác phẩm Tràng giang.

 

– Giải thích được khái niệm vẻ đẹp cổ điển, vẻ đẹp hiện đại  trong thơ nói chung và trong bài Tràng giang nói riêng.

– Phân tích được những biểu hiện của vẻ đẹp cổ  điển và vẻ đẹp hiện đại trong bài Tràng giang.

– Trình bày nhận xét,đánh giá, quan điểm  của mình về ý kiến cần NL.

– Liên hệ một số hình ảnh trong bài thơ được tác giả học tập từ thơ Đường như: Đỗ Phủ, Thôi Hiệu…

 

Số điểm:

Tỷ lệ

1

10%

4

40%

1

10%

6

60%

Tổng chung:

Số câu

Số điểm:

Tỷ lệ

 

1

2,0

30%

 

2

2,0

20

 

1

4,0

40

 

2

2,0

20

 

5

10

100%

 

Đề kiểm tra

(Thời gian làm bài: 90 phút)

Phần I: Đọc – hiểu (4 điểm)

Đọc bài thơ sau  và trả lời câu hỏi nêu ở bên dưới:

TRÀNG GIANG

                           Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài.

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,

Con thuyền xuôi mái nước song song,

Thuyền về nước lại sầu trăm ng;

Củi một cành khô lạc mấy dòng.

 

Lơ thơ còn nhỏ gió đìu hiu,

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.

Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.

 

Bèo dạt về đâu hàng nối hàng;

Mênh mông không một chuyến đò ngang.

Không cầu gợi chút niềm thân mật,

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

 

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.

Lòng quê dợn dợn vời con nước,

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

                                ( Tràng giang, Huy Cận)

 

Câu 1: Câu thơ  “ Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” được gọi là gì? Nêu ý nghĩa của câu thơ này?

Câu 2: Bốn câu thơ đầu gợi cho anh (chị ) cảm giác gì?

Câu 3: Trong hai câu thơ : “ Lớp lớp mây cao đùn núi bạc/ Chim nghiêng cánh nhỏ:  bóng chiều sa.”, tác giả đã  sử dụng nghệ thuật gì? Tác  dụng của nghệ thuật đó?

Câu 4: Em có nhận xét gì về sự sáng tạo của Huy Cận được thể hiện ở câu thơ cuối bài: “ Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”

 

II.Phần 2: Tự luận( 6 điểm)

Nhận xét về bài thơ Tràng giang của Huy Cận  có  ý kiến cho  rằng:  “Trong bài thơ Tràng giang vừa có vẻ đẹp cổ điển,  vừa có vẻ  đẹp hiện đại”. Em có suy nghĩ như thế nào về nhận định trên?

5.Hướng dẫn chấm, biểu điểm.

5.1.  Hướng dẫn chấm

Phần I: Đọc – hiểu (4 điểm)

Câu 1: Câu thơ  “ Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” được gọi là gì? Nêu ý nghĩa của câu thơ này? (1 điểm)

Câu 2: Bốn câu thơ đầu gợi cảm giác quạnh hiu, trống vắng và ấn tượng về một nỗi buồn triền miên kéo dài theo không gian và thời gian.( 1 điểm)

 

Câu 3: Trong hai câu thơ : “ Lớp lớp mây cao đùn núi bạc/ Chim nghiêng cánh nhỏ:  bóng chiều sa.”, tác giả đã  sử dụng nghệ thuật đối: “mây cao đùn núi bạc” >< “Chim nghiêng cánh nhỏ” <=>đối lập giữa cánh chim nhỏ bé, cô độc với vũ trụ bao la, rộng lớn(1điểm)

 

Câu 4: Câu thơ cuối là sự sáng tạo tuyệt vời của Huy Cận dựa trên  hai câu thơ của Thôi Hiệu: “ Quê hương khuất bong hoàng hôn – Trên sông khói  song cho buồn lòng ai”. Nhưng ở đây Huy  Cận không cần khói  song để gợi nhớ mà vẫn da diết, cháy bỏng nỗi nhớ nhà vì nỗi nhớ nhà ấy luôn thường trực hiện hữu trong long nhà thơ.Thi liệu của thơ Đường đã được vận dụng một cách vô cùng mới mẻ. (1 điểm)

 

Phần II. Làm văn: ( 6,0 điểm)

  1. Yêu cầu về kĩ năng:

          – Biết cách làm bài nghị luận văn học

– Vận dụng tốt các thao tác nghị luận

– Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu, diễn đạt

– Có những cách viết sáng tạo độc đáo

  1. Yêu cầu về kiến thức:

Thí sinh có thể viết theo những cách khác nhau miễn là thuyết phục , đảm bảo theo yêu cầu của thể loại và đề bài.

Gợi ý:

  1. Mở bài: (1điểm) Giới thiệu: Tác giả, tác phẩm và ý kiến .
    – Huy Cận  là nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới …

– Tràng Giang là bài thơ xuất sắc nhất của Huy Cận trước CMT8.

–  Nói về vẻ đẹp của bài thơ, có ý kiến cho rằng: “Tràng Giang là một bài thơ mới mang …hiện đại”

  1. Thân bài

* HS giải thích hai khái niệm:
– Thế nào là vẻ đẹp cổ điển: vẻ đẹp của thơ ca phương Đông, tiêu biểu là nền thơ Đường(0,5 điểm).

– Thế nào là vẻ đẹp hiện đại:  Vẻ đẹp mới, hiện đại  (có chịu ảnh hưởng của thơ ca phương Tây).  Cụ thể: “Cái tôi trữ tình – cái tôi cá nhân” tự biểu hiện, tự bộc lộ để giao cảm với đời(0,5 điểm)

* HS phải bày tỏ quan điểm, ý kiến của mình về nhận định mà đề bài đưa ra:  có thể khẳng định đây là nhận đinh đúng từ đó phân tích những biểu hiện của tính cổ điển và hiện đại được thể hiện trong bài Tràng Giang. HS có thể phân tích vẻ đẹp cổ điển và hiện đại của bài Tràng giang qua các khía cạnh sau:

– Đề tài, cảm hứng(1 điểm):

+ Tràng gaing mang nỗi sầu từ vạn cổ của con người bé nhỏ, hữu hạn trước thời gian không gian vô hạn, vô cùng.
+ Tràng giang đồng thời thể hiện “nỗi buồn thế hệ” của một “cái tôi” thơ mới thời mất nước “chưa tìm thấy lối ra”.

-Cjaast  liệu thi ca(1 điểm):

+ Ở Tràng giang, ta bắt gặp nhiều hình ảnh quen thuộc trong thơ cổ (tràng giang, bờ bãi đìu hiu, cánh chim trong bóng chiều…), nhiều hình ảnh, tứ thơ được gợi từ thơ cổ.
+  Mặt khác, Tràng giang cũng không thiếu những hình ảnh, âm thanh chân thực của đời thường, không ước lệ (củi khô, tiếng vãn chợ chiều, bèo dạt…).

–  Thể loại và bút pháp(1 điểm):

+ Tràng giang mang đậm phong vị cổ điển qua việc vận dụng nhuần nhuyễn thể thơ 7 chữ với cách ngắt nhịp, gieo vần, cấu trúc đăng đối; bút pháp tả cảnh ngụ tình, gợi hơn là tả …những từ Hán Việt cổ kính (tràng giang, cô liêu…).

+ Song, Tràng giang lại cũng rất mới qua xu hướng giãi bày trực tiếp “cái tôi” trữ tình (buồn điệp điệp, sầu trăm ngả, không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà…), qua những từ ngữ sáng tạo mang dấu ấn xúc cảm cá nhân của tác giả (sâu chót vót, niềm thân mật, dợn…)

  1. Kết bài (1 điểm):

– Tràng giang của Huy Cận không chỉ là một bức phong cảnh mà còn là “một bài thơ về tâm hồn”. bài thơ thể hiện nỗi buồn cô đơn trước vũ trụ, trước cuộc đời.

– Từ đề tài, cảm hứng, chất liệu đến giọng điệu, bút pháp, Tràng giang vừa mang phong vị thi ca cổ điển vừa mang chất hiện đạicủa Thơ mới.

– Vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại cũng là một nét đặc trưng của phong cách Huy Cận.

5.2. Biểu điểm:

– Điểm 5- 6: Đáp ứng tốt các yêu cầu trên, có thể còn vài sai sót về diễn đạt.

– Điểm 3-4: Đáp ứng phần lớn các yêu cầu trên, có thể còn một số sai sót về diễn đạt chính tả.

– Điểm 2: Đáp ứng được một phần các yêu cầu trên, còn mắc nhiều lỗi về diễn đạt và chính tả.

– Điểm 1: Không đáp ứng được các yêu cầu trên, mắc nhiều lỗi về diễn đạt chính tả.

– Điểm 0: Không làm bài.

+ Năng lực thu thập thông tin liên quan đến văn bản.

+ Năng lực giải quyết những tình huống đặt ra trong các văn bản.

+ Năng lực đọc hiểu thơ hiện  đại Việt Nam theo đặc điểm thể loại.

+ Năng lực trình bày suy nghĩ cảm nhận của cá nhân về ý nghĩa của văn bản.

+ Năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận về nội dung và nghệ thuật của văn bản.

Tài liệu được chi sẻ bởi Đặng Thị Hoài, xin chân thành cảm ơn bạn

Xem thêm :

  1. Tuyển tập đề thi ngữ văn khối 10
  2.  Tuyển tập đề thi ngữ văn khối 11
  3.  Tuyển tập đề thi ngữ văn khối 12

Huy Cận tự bạch với Tràng giang

Huy Cận tự bạch với Tràng giang

Ta ở đất này, sống cõi này

Đất làm ra gió để chim bay

Chim làm ra gió cho trời rộng

Nguời thuộc đường chim dang cánh bay.

Tràng giang  là bài thơ  được sông Hồng gợi tứ. Trước Cách mạng, tôi thường có thú vui vào chiều thứ bảy, chủ nhật hằng tuần đi lên vùng Chèm, Vẽ để ngoạn cảnh hồ Tây. sông Hồng. Phong cảnh sông nước đẹp gợi cho tôi nhiều cảm xúc. Tuy nhiên bài thơ không chỉ do sông Hồng gợi cảm mà còn mang cảm xúc chung về những dòng sông khác của của quê hương. Chúng tôi hồi đó có nỗi buồn thế hệ, nỗi buồn không tìm được lời ra nên như kéo dài triền miên. Tràng giang là bài thơ tình và tình gặp cảnh, một bài thơ về tâm hồn. Nhìn dòng sông lớn gợn những lớp sóng tôi thấy nỗ buồn của mình cùng trải ra như những lớp sóng.

Thuyền và nước vốn là hai khái niệm gần gũi nhưng rồi không phải bao giờ cũng gắn bó. Thuyền gợi lên một cái gì nổi nênh như kiếp người trong cuộc đời cũ. Nhất là ở đây con thuyền lênh đênh thả mái xuôi dòng như có một nỗi buồn chia li, xa cách đang đón đợi. Tôi chọn lọc trong nhiều khả năng biểu hiện hình ảnh Củi một cành khô lạc mấy dòng. Không phải là một thân gỗ xuôi dòng, một đám bèo xanh trôi nói mà là một cành củi khô bập bềnh trôi dạt trên sông.

Khung cành buổi chiều trên sông nước, làng xóm đooiv bờ vắng lặng. Trong câu thơ tôi có học được chữ dìu hiu của Chinh phụ ngâm:

Non Kì quạnh quẽ trăng treo

Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò

Cảnh vật vắng vẻ. Đâu đây vẳng lại đôi tiếng lao xao của buổi chợ chiều. Thật không gì vui bằng lúc chợ đông và buồn bằng lúc chợ chiều tan tác. Không có tiếng người thì cảnh vật hoang vắng và xa lạ. Đôi chút âm thanh của cuộc sống con người không làm bớt đi sự vắng lặng nhưng vẫn tạo được ít nhiều màu vẻ cuộc sống. Thiên nhiên tạo vật trong buổi chiều tà trên sông nước cũng lạ lùng. Từng vạt nắng từ trên cao rọi xuống tạo thành những khoảng sâu thăm thẳm trên bầu trời. Tôi dùng từ sâu chứ không dùng từ cao. Nếu là cao chót vót thì quá bình thường. Không gian mở ra hai chiều, cao và rộng tạo nên không gian vũ trụ rộng lớn và cũng là những nỗi buồn dường như vô tận.

Câu thơ để từ được láy lại trong câu: Sông dài, trời rộng, bến cô liêu. Trong không gian buồn, xa vắng đó, ai cũng muốn tìm đến những dấu vết gần gũi của sự sống, của cuộc đời.

Nhưng những dấu hiệu gần gũi thân thiết của cuộc sống đều không thấy: không một chiếc cầu, không một chuyến đò ngang… Cả bốn câu thơ trong khổ 3 này đều buồn, mỗi câu mang một nỗi buồn riêng, Cảnh vật có đổi thay nhưng đều mang một dáng vẻ, đều trôi nổi, mông lung, vô định, không có dấu vết của con người. Nhắc lại từng hình ảnh, lại thấy tha thiết nhớ cuộc sống con người.

Thiên nhiên tạo vật buồn nhưng đồi khi đẹp kì vĩ, lạ lùng:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc.

Chữ đùn học ở câu: Mặt dấĩ mây đùn cửa ải  xa (lời dịch Thu hứng – Đỗ Phủ) của Nguyễn Công Trứ.

Mây trắng hết lớp này đến lớp khác như những búp bông trắng nõn nở ra trên trời cao. Ánh nắng chiều trước khi vụt tắt rạng lên vẻ đẹp. Cánh chim bay liệng gợi lên chút ấm cúng cho cảnh vật nhưng nhỏ bé, mông lung .quá. Nỗi buồn càng da diết nhớ thương. Nó không chỉ đóng khung trong cảnh sông nước trước mặt mà mở ra đến những chân trời quê xa. Hai chữ dợn dợn của tồi thường bị đọc sai, in sai thành dờn dợn như thế chẳng có ý nghĩa gì. Bài thơ có nhiều điệp từ, điệp ngữ như điệp điệp, song song,dợn dợn Mỗi từ điệp đều có ý nghĩa riêng về nội dung và nghệ thuật. Bàti thơ kết thúc bằng nỗi nhớ quê hương da diết. Tôi nói khác ý thơ Thôi Hiệu vì lúc đó tôi buồn hơn Thôi Hiệu đời Đường.

Cảnh trên sông nước có khói sóng làm Thôi Hiệu buồn, nhớ quê; còn tôi thì không có khói sóng cũng nhớ nhà da diết, nhớ quê hương da diết. Tràng giang đã kết hợp được thơ ca truvền thống, những nét cổ điển của thơ Đường với những nét hiện đại, Những hình ảnh con thuyền xuôi mái, củi một cành khô, hàng bèo trôi dạt mang tính chân thực của đời thường, không ước lệ. Và cũng có những hình ảnh mang vẻ đẹp tượng trưng. Tình yêu quê hương trong bài thơ gợi lên và mở ra tình yêu lớn hơn của mỗi miền quê, mỗi cảnh vật. Tình yêu đó mang nỗi buồn sông núi, nỗi buồn về đất nước.

(Theo Huy Cận, trong Tác phẩm văn học trong nhà trường 1930 – 1945, tậpll, NXB Giáo dục)

Xem thêm : Tài liệu khối 11 , Tràng Giang

Bàn về không gian nghệ thuật trong bài thơ Tràng Giang của Huy Cận

Tài liệu tham khảo dành cho học sinh giỏi, các em có thể tham khảo bài viết sau nhé . Bài viết bàn về không gian nghệ thuật trong bài thơ Tràng Giang của Huy Cận.

Không gian trong “Lửa thiêng” là sự hoá thân của Thiên đường, của sự hoà đồng nguyên thuỷ cổ xưa. Đó là không gian mang tính vĩnh viễn và là đối tượng để con người chiêm nghiệm và chiêm ngưỡng. Tâm trạng nhớ, buồn, sầu, không gian tràn ngập Lửa  thiêng là không gian trung đại, truyền thống. Không gian trần thế nghiêng về không gian tự nhiên, không gian nông thôn với cảnh sông hồ, đường làng, vườn tược…

Tràng giang là bài thơ về không gian, chứa đầy không gian. Nhà thơ tả cái mênh mông không gian bằng những vật thể nhỏ như một cành củi khô, một cái cồn nhỏ lơ thơ, những đám bèo trên sông… bởi lẽ chúng chuyên chở cảm giác cô đơn, rợn ngợp của con người. “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” được gợi ý từ hai câu kết trong bản dịch thơ Thôi Hiệu của Tản Đà, và vẫn thường được ca ngợi là hay hơn Tản Đà ở sự không khói?! Nỗi nhớ quê hương thường trực trong lòng đến nỗi không cần sự gợi nhắc. Nhưng đây là câu kết của bài thơ nói về không gian nên nhớ nhà ở đây  chính là nhớ không gian. Dĩ nhiên, không gian tượng trưng: Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài.

Đó là không gian mở, giữa con người và không gian luôn có sự tương giao.

Nhớ không gian, giao tiếp không gian và khát vọng không gian chiếm lĩnh như một đối tượng thẩm mĩ. Khi đó con người trở thành không gian và không gian trở thành con người, không còn chủ thể, khách thể phân biệt. Trạng thái con người siêu cá thể trung đại đạt được với tư cách tiểu vũ trụ hoặc trạng thái hoà đồng nguyên thủy cổ xưa. Thời gian và không gian trong Lủa thiêng hoà nhau chặt chẽ. Lửa thiêng là khát vọng không nguôi của con người trong sự chiếm lĩnh không gian. Con người — một thực thể hữu hạn trong không gian, thời gian lại có khát vọng bất tử. Chiếm lĩnh không gian, trở nên trường tồn như không gian có nghĩa là con người khắc phục được thời gian đổ trở thành bất tử. Ước mơ rồ dại trở thành nhân bản là bi kịch lớn nhất, sâu sắc nhất của nhân loại. Khí quyển của Lửa thiêng là âm điệu buồn.

Không gian nghệ thuật của Lửa thiêng hội tụ những yếu tố trái ngược nhau, hoà hợp nhau. Đó là những yếu tố trung đại và hiện đại, phương Đông và phương Tây, lối nói ví von của ca dao tục ngữ và thơ Đường và chủ nghĩa tượng trưng trong thơ Pháp. Cội nguồn sâu xa là cái “tôi” cá thể cô đơn, bất lực nên vẫn liếc mắt về cái ta truyền thống của làng xã như nhìn về quá khứ tốt đẹp. Các yếu tố này đối lập và thống nhất với nhau trong từng thành phần và cấp độ của tác phẩm. Để đạt sự cân đối hài hoà, giàu tính bác học, ít chất dân dã, Huy Cận xếp các câu thơ của mình thành từng khối chữ (khổ thơ) bốn câu hoặc hai câu. Ông thích dùng từ Hán Việt để có màu sắc trang trọng phù hợp với không khí thi phẩm hoặc cách dùng từ độc đáo, rắn chắc.

(Theo Đỗ Lai Thúy )

Xem thêm : Tài liệu khối 11 , Tràng Giang

Ôn tập bài Tràng giang- Huy Cận

Hướng dẫn ôn tập bài Tràng Giang- Huy Cận

Phần 1 : Kiến thức cơ bản

1 . Vài nét về tác giả

Trước Cách mạng, Huy Cận đã là nhà thơ mới lãng mạn nổi tiếng với các tập Lửa thiêng, Vũ trụ ca, Kinh cầu tự. Sau Cách mạng, ông là một trong những người lãnh đạo nền văn hoá, văn nghệ Việt Nam, đồng thời sáng tác nhiều tập thơ hoà điệu giữa con người, xã hội và thơ ca:    Trời mỗi ngày lại sáng; Đất nở hoa ,Bài thơ cuộc đời, Hạt lại gieo; Ngôi nhà giữa nắng; Chiến trường gần,   chiến trường xa; Hai bàn tĩay em,…

–    Thơ Huy Cận nhiều bài hàm súc, giàu chất triết lí, bài hay xen lẫn với bài vừa (Hồ Chí Minh). Ông là một trong những gương mặt tiêu biểu cho thơ ca Việt Nam hiện đại.

2. Bài thơ Tràng Giang

2.1 . Hoàn cảnh sáng tác

Mùa hè – thu năm 1939, chàng thanh niên 20 tuổi Huy Cận đang là sinh viên trường Cao đẳng Nông lâm (Canh Nông) Hà Nội, chiều chiều thứ bảy, chủ nhật, chàng thích một mình đạp xe đạp từ Yên Phụ (Huy – Xuân ở dốc Hàng Than) ngược đê lên mạn Chèm Vẽ (huyện Từ Liêm). Ngắm cảnh sông Hồng bát ngát, dọc hai bờ đê tít tắp, cảnh làng mạc cô liêu, trong tâm hồn thi sĩ lại nổi lên nỗi sầu không gian, sầu vũ trụ miên man, và dậy lên nỗi nhớ quê hương Hà Tĩnh. Đêm về, chàng viết bài thơ Chiều trên sông theo thể lục bát, sau đổi thành thất ngôn, 4 khổ và đặt nhan đề mới: Tràng giang với câu thơ đề từ cũng của chính mình: Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài.

2.2 Bài thơ mới mang vẻ đẹp cổ điển: sự kết hợp hài hoà giữa hai yếu tố cổ điển và hiện đại là đặc sắc nghệ thụật bao trùm của bài thơ. Nỗi sầu, cô đơn của cái “tôi” cá nhân trước thiên nhiên, vũ trụ thấm đượm: tình đời, tình người, lòng yêu quê hương, đất nước thầm kín, tha thiết là chủ đề tư tưởng của bài thơ

2.3   Thể thơ: thất ngôn, 4 khổ/bài, mỗi khổ 4 câu.

2.4  Bố cục; có thể không chia đoạn, có thể chia mỗi khổ là 1 đoạn, như bộ tứ bình bằng thơ mỗi bức đều nói cảnh tình sông nước và tập trung thể hiện nổi báng khuâng trời rộng sông dài.

Khổ 1: cảnh sóng gợn, thuyền trôi, củi trôi và nỗi buồn điệp điệp.

Khổ 2: cảnh cồn bến hoang vắng trong nắng chiều bát ngát.

Khổ 3: cảnh hàng bèo trồi trên dòng sông mênh mònơ. cảnh bãi bờ xanh, vàng tít táp.

Khổ 4: cảnh bầu trời mây trắng, cánh chim nghiêng, sóng sỏng dợn dợn gợi nỗi nhớ nhà.

2.5 Vẻ đẹp cổ điển và hiện đại :

Yếu tố cổ điển Yếu tố hiện đại
–    Thể thơ thất ngôn, 4 khổ như bức tứ bình tả cảnh ngụ tình.

–    Sử dụng nhiều từ Hẫn Việt, nhiều thi liệu truyền thống.

–    Mang dáng dấp Đường thi ở sự hàm sức, cô đọng, tao nhã, cao sâu, khái quát.

–   Hình ảnh ước lộ, tượng trưng.

–    Nỗi buồn sầu cô đơn nhưng lại bâng khuâng man mác – nỗi buồn thòi đại.

–   Cảnh vật gần gũi, thân thuộc.

–     Trực tiếp thể hiện cái “tôi” cô đơn trước vũ trụ, lòng yêu quê hường đất nước thầm kín, tha thiết.

–   Hình ảnh gần gũi, chân thực.

2.6 . Phân tích ý nghĩa của nhan đề Tràng giang.Vì sao tác giả đổi nhan đề từ Chiều trên sông thành Tràng giang?-    Nhan đề Chiều trên sông quá lành, cụ thể, bình thường, ít gợi ấn tượng!

–   Nhan đề Tràng giang hay hơn nhiều : gợi ra ấn tượng khái quát và trang trọng, vừa cổ điển (từ Hán Việt: giang — sông) vừa thân mật (tràng – dài); nhưng không dùng trường (Hán Việt) sợ lầm với Trường Giang (Dương Tử – một dòng sông  lớn của Trung Quốc). Mặt khác tạo vần lưng ang, gợi âm hưởng dài rộng, lan toả, ngân vang trong lòng người đọc, ánh lên vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại.

–   Cảnh không chỉ là cảnh sông Hồng – sông lớn nữa mà là cảnh tràng giang khái quát trong không gian và thời gian.

–   Câu thơ đề từ của chính tác giả định hướng cảm xúc chủ đạo của bài thơ: bâng khuâng: nỗi buồn – sầu lan toả. nhẹ nhàng mà lắng sâu trước cảnh sông dài trời rộng (tràng giang), đồng thời tạo nên vẻ đẹp hài hoà vừa cổ điển tràng giang với hiện đại (nỗi buồn nhớ bâng khuâng) của chàng thanh niên thời Thơ mới.

3. Phân tích bài thơ

Các ý chính cần đạt :

–   Mớ đầu bài thơ là cảnh sông nước mênh mông, bất tận. Cảnh và tình cứ đăng đối nhau, song song cùng biểu hiện:

+ Sóng gợn trên tràng giang – nỗi buồn điệp điệp – không dứt, hết đợt này đến đợt khác như sóng, theo sóng nhỏ gợn.

+ Thuvền, nước cùng trôi — sầu dâng trăm ngả.

+ Cành củi khô trôi vật vờ trên dòng sông – tâm hồn cô đơn, lạc lõng.

–   Giữa tràng giang, điếm nhìn nhà thơ hướng vào sóng nhỏ, tuy rất nhiều nhưng hiện ra rồi tan, mãi mãi. Con thuyền thật trôi trên dòng sông gợi ra kiếp người nhỏ bé đơn côi, vồ định. Thuyền và nước chi song song chứ không gắn bó gì với nhau, bởi nước xuôi trăm ngả, thuyền theo ngả nào? Thuyền đi với dòng để chia li với dòng.

–    Lưu ý cách viết củi một cành khô gây ấn tượng đậm hơn một cành củi khô. Cành củi có thật trôi  ra biển, bập bềnh nương theo sóng (củi rều) cũng là hình ảnh biểu trưng của kiếp người nhỏ nhoi, lạc lõng, cô đơn, vô định.

–    Khổ thơ vẽ lên cảnh sông nước bao la, vô định, rời rạc, hờ hững. Những đường nét nước song song, buồn điệp điệp, sầu trăm ngả, lạc mấy dòng không hứa hẹn điểm hội tụ, gặp gỡ mà chỉ là chia tán, xa vời; nhỏ nhoi và bất lực là hình ảnh con thuyền và cành củi khô cùng trôi trên dòng sông rộng. Tất cả đều ngấm vị buồn sầu- nỗi sầu không gian. Đó là vẻ đẹp cổ điển của bài thơ. vẻ đẹp hiện đại là ở những hình ảnh chi tiết hiện thực: cành củi khô quen thuộc, là sự thiếu gắn bó, cảm giác chia lia của tâm hồn nhà thơ khi ngắm cảnh vĩnh hằng.

Khổ 2

–    Khổ 2 tiếp tục mạch tình ý của khổ 1  mặt khác có thêm những sáng tạo mới.

–    Câu thơ đầu là một nét vẽ mềm mại, uốn lượn, nhịp nhàng bởi các vần lưng liên tiếp: lơ thơ, nhỏ. gió, đìu hiu. Vẫn tiếp tục cảnh vật   nhỏ  bé, cô  độc,  vô định: cồn nhỏ thấp thoáng. Từ đìu hiu học từ Chinh phụ ngâm (Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò!) gợi sự cô đơn, lạnh vắng, hiu hắt.

–    Từ đâu ở câu thứ hai có 2 cách hiểu: – không có; – ở đâu? Có nhưng không rõ. Dù hiểu cách nào thì cảnh vật cũng chỉ tăng thêm sự vắng lặng vì không rõ, không có âm thanh, hoạt động của cuộc sống con người vì chợ chiều, chợ đã tan lại tận làng xa trong, ngoài đê. Tóm lại chỉ có cảnh và cảnh vắng.

–    Câu 3-4 mở ra không gian 3 chiều được nối bằng các động từ, tính từ đầy sáng tạo và ngược hướng: xuống, lên, dài, rộng, sâu. Sâu chót vót là một cách viết sáng tạo, mới mẻ, không chỉ vì nó ngược với cao chót vót mà còn xuất phát từ thực tế điểm nhìn của tác giả đứng trên đê cao nhìn lên trời, nhìn xuống mặt sông, ánh nắng chiều từ phương tây rọi lại gợi ra cảm giác này.

–    Câu thơ cuối có ba chữ bến cô liêu, không cụ thể là bến đò nào mà chỉ tả cái vắng vè, cô đơn của bến đò không khách, hô ứng với gió đìu hiu ở câu đầu. Trên trời: gió đìu hiu ; dưới sông: bến cô liêu. Tất cả trời đất và dòng sông đều vắng lặng, cô đơn, hiu hắt buồn.

–    Con người ở đây trở nên bé nhỏ, có phần rợn ngợp trước thiên nhiên, vũ trụ rộng lớn. vĩnh hàng và cảm thấy lạc loài giữa cái mênh mông của đất trời, cái xa vắng của thời gian (Hoài Thanh).

  Khổ 3

Hình ảnh bèo trôi dạt vốn là chi tiết lấy từ cảnh thật trên sông nhưng đặt thành câu hỏi dạt về đâu thì lại có ý nghĩa biểu trưng của những kiếp người bèo dạt mây trôi chốn xa xôi trong câu hát quan họ cổ truyền.

Điệp từ không (2 lần) tiếp tục tô đậm cái mênh mông, lặng lẽ, cô đơn của cảnh vật vì không có hoạt động của cuộc sống con người, bổ sung cho cái vắng lặng của đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều, và bến cô liêu, gió đìu hiu, cành củi lạc ở những khổ trên.

–    Rõ ràng nỗi buồn trước cành vật của nhà thơ luôn song hành và gắn chặt với nổi buồn nhân thế, nối buồn qué hương đất nước dược thổ hiện kín đáo.

Khổ 4 :

Đây là khổ thơ kết đặc sắc, hài hoà cổ điển và hiện đại.                                                                                *

Hình ảnh bầu trời cao với lớp lớp mây trắng đùn ra như những núi bạc thật đẹp hùng vĩ. Chữ đùn. nhà thơ học được từ thơ Đỗ Phủ: Mặt đất mây đùn cửa ải xa (Thu hứng – Nguyễn Công Trứ dịch) và nhà thơ đã sử dụng lần nữa : Bóng tối đùn ra trận gió đen (trong Các vị La Hán chùa Tây Phương).

Hình ảnh cánh chim nhỏ nghiêng đi như không chịu đựng được sức nặng của bóng chiều đang sa xuống đối lập với cảnh bầu trời cao rộng, hùng vĩ trên để tôn thêm vẻ đẹp của cả hai.

Lòng quê và sóng dợn, vời con nước, trước hết gợi nhớ những câu Kiều: Lòng quê đi một  bước dường một đau\ Nỗi riêng lớp lớp sóng dồi: Bốn phương mây trắng một màu -Trông về cố quốc biết đâu là nhà.

–    Điệp lừ dợn dợn (không phải là rờn rợn — giảm nghĩa) : nghĩa là cái dợn – sợ hãi, dợn sóng, dợn lòng cứ tăng mãi lên, mạnh mãi lên, nhanh nhiều mãi lên theo những con sóng. Nếu ở câu đầu là sóng gợ tí (nhỏ, khẽ, nghiêng về tả cảnh thật), thì ở đây: sóng dợn, nghiêng về tả cảm xúc, nhân hoá.

–    Câu thơ cuối Huy Cận học từ ý thơ Thôi Hiệu: Nhật mộ hương quan hà xứ thị – Yên ba giang thượng sử nhân sầu. (Hoàng Hạc lâu)

Quê hương khuất bóng hoàng hôn

Bên sông khói sóng cho buồn lòng ai!

(Tản Đà dịch)

Thôi Hiệu phải có khói sóng mới gợi dâng nỗi buồn nhớ quê; còn Huy Cận thì chẳng cần có chút yên ba nào cũng đã nhớ nhà! Cách nói phủ định để khẳng định mạnh mẽ hơn.

Huy cận và thôi Hiệu ai buồn hơn ai, làm sao xác định được? Điều quan trọng là Huy Cận có ý thơ khác. Một đằng là ý thức về thực tại; một đằng là ý thức về tình người; dù cả hai người cùng đang ngắm cảnh chiều trên sông và cùng nhớ quê nhà.

Xem thêm : Tài liệu khối 11 , Tràng Giang