Đề thi học sinh giỏi : Cảm hứng yêu nước trong văn học trung đại Việt Nam

Bộ đề ôn luyện thi học sinh giỏi môn Văn. Tổng hợp những đề thi học sinh giỏi Ngữ văn lớp 10

Đề ra: Về cảm hứng yêu nước của văn học Việt Nam thời Trung đại sách giáo khoa Ngữ    Văn 10 có viết:

“ Điều đáng lưu ý là văn thơ nói đến những nội dung yêu nước đã không chỉ tồn      tại ở dạng quan niệm, tư tưởng đơn thuần mà quan trọng hơn là sự tồn tại ở dạng cảm xúc, cảm hứng, tâm huyết với đủ màu vẽ và cung bậc”.

Hãy chứng minh và phân tích 1 số tác phẩm để làm sáng tỏ.

 

 BÀI LÀM

Trong dòng chảy của nền văn học dân tộc, cảm hứng yêu nước và cảm hứng nhân đạo tựa như hai mạch ngầm xuyên suốt, cuôn chảy qua bao chặng đường lịch sử. Đặc biệt trong thời kì văn học Trung đai trước nhiều biến cố lịch sử lòng yêu nước ấy lại hừng hực cháy trong tâm hồn các thi nhân để rồi tuôn trào nơi đầu bút lực những nỗi lòng,tâm sự ngân lên như những nốt nhạc trầm bổng trong 1 bản đàn. Có lẽ chăng xuất phát từ đó mà sách giáo khoa Ngữ văn 10 đã cho rằng:

“ Điều đáng lưu ý là văn thơ nói đến những nội dung yêu nước đã không chỉ tồn tại ở dạng quan niệm, tư tưởng đơn thuần mà quan trọng hơn là sự tồn tại ở dạng cảm xúc, cảm hứng, tâm huyết với đủ màu vẽ và cung bậc”.

Thế nào là cảm hứng yêu nước? Nói đến cảm hứng yêu nước là nói đến nội dung tình cảm trong mỗi tác phẩm tình văn học. Cảm hứng yêu nước được bộc lộ qua thơ bằng muôn hình vạn trạng. Đó là tình yêu quê hương, đất nước, yêu cảnh sắc thiên nhiên, xứ sở. Đó là ý chí chống xâm lăng vì khát vọng ấm no, hạnh phúc, được sống trong tự do, độc lập, hòa bình bền vững. Đó là niềm tự hào về truyền thống lịch sử, truyền thống văn hiến Việt Nam lâu đời, giàu bản sắc. Đó còn là ý thức tự lập, tự cường, xây dựng và bảo vệ đất nước muôn đời giàu đẹp.

Bước vào kỉ nguyên xây dựng quốc gia phong kiến độc lập sau hàng nghìn năm đô hộ, biểu hiện trước hết của tư tưởng yêu nước là ý thức tự cường, tự tôn dân tộc, ý thức về chủ quyền độc lập. Đó là lời thơ hào sảng trong “Nam quốc sơn hà” của Lí Thường Kiệt:

“Sông núi nước nam vua Nam ở

Rành rành định phận ở sách trời”.

Chủ quyền độc lập thiêng liêng bất khả xâm phạm được khẳng định qua những câu thơ chắc nịch, giọng thơ đanh thép, hùng hồn. Đó là một “bài thơ thần”, xứng đáng là Bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của đất nước Đại Việt.

Đến bài “Cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi- bản tuyên ngôn độc lập thứ hai, chân lí lịch sử ấy nâng lên ở một tầm cao mới với cái nhìn toàn diện, đầy đủ và sâu sắc hơn. Từ việc dừng lại ở việc khẳng định chủ quyền độc lập ở bài “Nam quốc sơn hà” thì bài “Cáo bình Ngô” đã tiếp nối và phát triển lên thành chân lí muôn đời: Đại Việt là đất nước có nền văn hiến lâu đời, có biên giới riêng, có phong tục tập quán riêng, có quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước vẻ vang và cùng tồn tại với các vương triều phong kiến phương Bắc. Sự phát triển ấy về khái niệm quốc gia dân tộc được thể hiện rõ nét qua tư tưởng lấy dân làm gốc, tập hợp sức mạnh của nhân dân để xây dựng lực lượng nòng cốt, tạo dựng sức mạnh chiến đấu và chiến thắng.

Với ý thức sâu sắc như vậy về quốc gia, dân tộc, khi tổ quốc bị xâm lăng, yêu nước là căm thù giặc sục sôi, là tinh thần quyết chiến quyết thắng để bảo vệ chủ quyền độc lập dân tộc, là đoàn kết toàn dân “Tướng sĩ một lòng phụ tử”, bền gan chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn.

Yêu nước không chỉ dừng lại ở đó, mà khi đất nước thanh bình, nội dung của tư tưởng yêu nước thể hiện ở khát vọng xây dựng đất nước hòa bình và hạnh phúc lâu bền:

“Thái bình nên gắng sức

Non nước ấy ngàn thu”.

Hai câu thơ thể hiện cho ước mơ, niềm tin vô hạn của tác giả và cũng là ước mơ ngàn đời của nhân dân về một đất nước thái bình, thịnh trị, trường tồn đến muôn đời. Đó là hào khí sục sôi, vang dội của một đời, của một thời, sáng ngời cả hồn thiêng sông núi, âm vang đến muôn đời.

Nhưng sức sống lâu bền của một tác phẩm văn chương khồn chỉ ở chỗ là chứa đựng nội dung tư tưởng đơn thuần mà điều cốt yếu hơn, quan trọng hơn là những nội dung, tư tưởng tồn tại ở dạng cảm xúc, cảm hứng, tâm huyết với đủ màu vẽ và cung bậc. Với những hoàn cảnh khác nhau, những cảnh ngộ khác nhau, cá tính sáng tạo khác nhau cảm hứng yêu nước được thể hiẹn dưới nhiều dọng điệu khác nhau. Mỗi tác phẩm là một nốt nhạc, có nốt trầm, có nốt bổng hòa quyện làm nên một bản anh hùng ca bất diệt, ca lên đến muôn đời âm vang của thời đại.

Đó là giọng điệu dõng dạc, hào sảng động vọng trong không gian với khí thế ngùn ngụt, hình ảnh thơ tráng lệ, kì vĩ trong bài thơ “Nam quốc sơn hà” của Lí Thường Kiệt:

“Sông núi nước nam vua Nam ở

Rành rành định phận ở sách trời”.

Là giọng thơ đĩnh đạc, lời văn rắn rỏi, chắc nịch như khắc, như tạc qua bài “Cáo bình Ngô”:

“Như nước Đại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

Núi sông bờ cõi đã chia

Phong tục Bắc Nam cũng khác

Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương”.

Những tình cảm nồng cháy như được khơi dậy qua từng câu, từng chữ, từng lời thơ, ánh lên trong tâm hồn mỗi người một niềm tự hào mãnh liệt về dáng đứng oai hùng của dân tộc trong lịch sử.

Ta như hừng hực bầu máu nóng trong những lời nói gan ruột của Trần Quốc Tuấn trong “Hịch tướng sĩ” : “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức chưa xả thịt, lột da, nuốt gan, uống máu quân thù. Dẫu trăm thây phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa ta cũng vui lòng”. Đó là nỗi đau đớn, xót xa đến xé lòng của vị tướng sĩ hét mực yêu nước. Để rồi từ khí thế xung thiên ấy ta như nghe vang vọng tiếng đồng thanh: “Quyết đánh!” của các bô lão trong Hội nghị Diên Hồng, như thấy rực cháy ánh lửa quân sĩ tướng tá sáng bừng dưới ánh trăng mài gươm giáo để xung trận, thích lên cánh tay hai chữ “Sát thát” với một ý chí kiên định. Tinh thần, ý chí sắt đá, kiên định ấy đã làm nên chiến thắng quân Mông- Nguyên vang dội núi sông trong lịch sử.

Nỗi căm thù, uất hận vút lên thành lời, thành những bản cáo trạng đanh thép: “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con nhỏ xuống dưới ầm tai vạ”, trở thành tiếng thét vang dội, thành lời thề quyết chiến:

“Ngẫm thù lớn hà đội trời chung

Căm giặc nước thề không cùng sống”.

Ta như thấy hiện lên trước mắy không gian hào hùng, khí thế, chiến công nối tiếp chiến công làm nên một bản tráng ca ngân lên cao vút, dài vô tận khi đọc những vần thơ hả hê của Nguyễn Trãi trong “Cáo bình Ngô”:

“Đánh một trận sạch không kình ngạc

Đánh hai trận tan tác chim muông

Cơn gió to trút sạch lá khô

Tổ kiến hỏng sụt toang đê vỡ…”

Giọng thơ cuồn cuộn như triều dâng thác đổ,. Niềm tự hào, kiêu hãnh, niềm vui sướng bất tận, hả hê tạo ra nhạc điệu bay bổng dồn dập, âm thanh giòn giã nối đuôi nhau mạnh mẽ như có gươm đao loảng xoảng trong một trận tuyến vang trời.

Nội dung yêu nước trong văn học trung đại được thể hiện bằng những cảm xác, giọng điệu đa dạng, không chỉ là lòng căm thù giặc sục sôi, tinh thần quyết chiến quyết thắng hừng hực, như một nét vẽ tinh tế mà sâu sắc về lòng yêu nước sự hổ thẹn trong bài thơ “Thuật hoài” của Phạm Ngũ Lão cũng là một cách tỏ bày độc đáo:

“Công danh nam tử còn vương nợ

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”.

“Thẹn” vì chưa trả hết nợ công danh, lập công báo quốc; thẹn vì chưa có được tài năng như Gia Cat Lượng để phò vua giúp dân. Nỗi “thẹn” ấy là biểu hiện cao đẹp cho lí tưởng sống, hoài bão sống lớn lao của người con trai đời Trần làm sáng bừng lên hào khí Đông A một thời.

Đó còn là nỗi niềm hoài vọng về quá khứ đã qua trước di tích vẫn còn để rồi tiếc ngậm ngùi trong lòng một niềm tiếc nuối:

“Đến nay sông nước tuy chảy hoài, mà nhục quân thù khôn rửa nổi”.

Là sự suy ngẫm về lẽ tồn vong của muôn đời, sự thành bại của sự nghiệp cũng ngân lên giọng điệu hùng tráng:

“Giặc tan muôn thuở thái bình

Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao”.

Và khi đất nước trở về thái bình, thịnh trị lòng yêu nước ấy lại hóa thân vào sông núi, một cành hoa, một cây cỏ, một cánh chim trời chao liệng:

“Nước biếc, non xanh, thuyền gối bãi

Đêm thanh nguyệt hạc, khách bên lầu”.

Trong cảnh nước mất nhà tan, nỗi đau đời, uất hận khi vận nước đổi thay dồn lại, nén chạt tạo nên giọng điệu trầm uất, bi tráng. Bài thơ “Cảm hoài” nổi tiếng của Đặng Dung với hai câu kết:

“Thù nước chưa xong đầu đã bạc

Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày”.

Đặng Dung đã kí thác cho đời thăm thẳm một nỗi đau đời, một niềm bi phẫn, trầm uất, đắng cay, xót xa vì người anh hùng sinh lầm thế kỉ. Hình ảnh một dũng tướng mái đầu đã bạc mải miết mài gươm dưới ánh trăng khơi gợi biết bao cảm xúc liên tưởng, chẳng khác nào “con ngựa già còn ham rong ruổi’. cái ánh sáng lóe lên trong câu thơ thần là ánh sáng vằng vặc của bóng trăng khuya giữa bầu trời mênh mông, bát ngát, cũng là ánh sáng lưỡi gươm chính khí chưa cất lên được để tiêu diệt kẻ thù, cũng là ánh sáng của tấm lòng yêu nước trung trinh của nhà thơ. Lời đã hết, bài thơ đã khép lời mà cảm xúc thơ vẫn lai láng, bồi hồi, xúc động. Đó là bài thơ có giọng điệu bi tráng bậc nhất trong thơ ca Việt Nam thời Trung đại- tiếng lòng của một dũng tướng chiến bại.

Sống trong những triều đại khác nhau, chịu sự chi phối khác nhau của lịch sử, đồng thời mỗi người với một tâm tính, một cá tính sáng tạo đã làm nên những cảm hứng riêng về cảm hứng yêu nước. Có nỗi buồn, có niềm vui, niềm say mê hứng khởi, có giận thương, có buồn tủi, có bâng khuâng hổ thẹn, có rạo rực hả hê…Nguồn cảm hứng vô tận được thể hiện bằng nhiều cách nói, nhiều giọng điệu riêng. Có giọng điệu hùng tráng ở nhiều cấp độ, hình thái khác nhau. Có giọng điệu bi tráng, phẫn uất thành tiếng than, lời gọi. Có giọng điệu nhẹ nhàng, say sưa trước cảnh sắc thiên nhiên, đất nước… Tất cả tạo nên sự đa thanh, đa sắc, thể hiện sâu sắc, phong phú nội dung tư tưởng yêu nước- một vẻ đẹp rực rỡ của tâm hồn dân tộc./.

Xem thêm : Tuyển tập đề thi học sinh giỏi môn văn có đáp án và bài văn mẫu : http://vanhay.edu.vn/hoc-sinh-gioi

Đề thi học sinh giỏi :Hào khí Đông A qua một số tác phẩm đã học

Bộ đề ôn luyện thi học sinh giỏi môn Văn. Tổng hợp những đề thi học sinh giỏi Ngữ văn lớp 10

Đề ra: Qua một số tác phẩm đã được học trong chương trình phổ thông anh chị hãy làm  sáng tỏ “ Hào khí Đông A”

BÀI LÀM

 

“ Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập” có triều đại nào không trải qua những cuộc chiến đấu chống ngoại xâm, có thời đại nào không vang dội những chiến công nức lòng, có người dân nào không sôi sục trong huyết quản một dòng máu yêu thương tha thiết. Tinh thần ấy được biểu hiện rõ nét qua Hào khí Đông a làm ngời sáng cả trang sử vàng dân tộc, kết đọng lại qua từng vần thơ bất hủ.

Trong tiếng Hán chữ Trần gồm hai bộ A và Đông, như vậy có thể hiểu Hào khí Đông A là hào khí thời nhà Trần, là chí anh hùng lẫm liệt thời đại nhà Trần, là không khí hào hùng của những trận chiến đấu và chiến thắng quân Mông – Nguyên xâm lược.

Thời đại nhà Trần(1225-1400) là một mốc son chói lọi trong bốn nghìn năm lịch sử của dân tộc ta với ba lần đánh thắng quân Nguyên – Mông. Làm sao có thể lí giải được những chiến thắng huyền thoại ấy của một đất nước nhỏ bé trước một thế lực tàn bạo như quân Mông – Nguyên; “ Vó ngựa Mông Cổ đi tới đâu cỏ cây chết rạp tới đó” nếu như không nghe qua những lời kể hùng tráng của các thi sĩ, những nỗi lòng của bậc tướng sĩ trướ thế sự quốc gia, hay đơn giản chỉ là một kẻ “ khách” không thôi. Tất cả đều rần rật cháy lên ngọn lử của Hào khí Đông A, ngùn ngụt một niềm kiêu hãnh tự hào:

“ Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu

Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu.”

(  Múa giáo non sông đã mấy thu

Ba quân hùng khí nuốt trôi trâu )

( “ Thuật hoài” _ Phạm Ngũ Lão)

 

Câu thơ dịch từ “ hoàmh sóc” bằng từ “ múa giáo” chưa thật sat nghĩa. “ Múa giáo” thiên về biểu diễn cung kiếm, tay nghề, gợi một vẻ phô trương, đưa chủ thể vào thế động làm mất đi cường độ, nội lực của hình ảnh thơ. Còn nguyên văn lời thơ là “ hoành sóc”-cắp ngang ngọn giáo, chỉ 2 tiếng mà đầy sức gợi, gợi một dáng đứng tự tin, kiêu hãnh, gợi một phong thái đường hoàng,đĩnh đạc, gợi một ý chí sắt, một tinh thần thép chủ động trước tình thế, sẵn sàng đối mặt với hiểm nguy. Tư thế ấy, dáng đứng ấy dường như bất tử khi đặt trong sự rộng lớn của núi sông. Đây không phải là một vị tướng trấn giữu một thành trì hay một vùng biên ải mà trấn giữ cả non sông, đất trời với tư thế hiên ngang, kì vĩ sánh với núi sông. Trước sự rộng lớn của đất trời con người không trở nên nhỏ bé mà ngược lại càng trở nên tầm vóc hơn, dường như trong tư thế “cắp ngang ngọn giáo” ấy con người đã làm chủ cả thiên nhiên, đất trời. Sức mạnh ấy lan tỏa từ chiều sâu chuyển sang chiều cao của không gian, từ một người mà tới muôn người: “ Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu”. Từ một thế đứng hiên ngang, điệu thơ đã thăng hoa một cách rực rỡ và tỏa sáng hào quang lên tận trời xanh, át cả ánh sáng sao Ngưu- một khí thế xung thiên đã đưa đất nước đi lên từ trong kiên cường, lầm than, vùng dậy từ trong biển máu để chiến thắng những thế lực cường bạo như quân Nguyên – Mông. Hào khí Đông A ấy không chỉ rần rật cháy qua những nỗi niềm sục sôi bầu màu nóng của lòng căm thù giặc, không chỉ hân hoan trong lòng tự hào, tự tôn dân tộc mà còn tha thiết qua chữ “thẹn”. “ Thẹn” là cái hổ thẹn, sự thẹn thùng và đặt trong trường hợp này vị tướng sĩ ấy đã “ thẹn” vì thấy kém cỏi trước tài năng của Gia Cát Lượng. Đó là một nỗi thẹn cao cả tiêu biểu cho chí khí người con trai đời Trần, nỗi “thẹn” ấy vì một lẽ thật lớn lao, “thẹn” vì chưa trả được nợ công danh, chưa báo đền nợ nước vì sức mạnh không được như Gia Cát Lượng giúp nhà Hán ngày xưa.

Hào khí Đông A không dừng lại ở lòng yêu nước, căm thù giặc, tinh thần quật khởi chóng xâm lăng, lòng tự hào, tự tôn dân tộc mà hơn thế nữa nó còn là khía cạnh tâm sự sâu kín của con người, cũng là tâm trạng của thế hệ trai tráng lúc bấy giờ. Lúc nào cũng canh cánh thù nhà nợ nước, cũng đặt sự nghiệp gánh vác sự an nguy của đất nước trên đôi vai của mình. Hào khí ấy đã làm nên những chiến thắng lẫy lừng lưu danh sử sách đến muôn đời, dội vào lòng mai hậu một niềm tự hào dấy lên một khí thế hào hừng của lịch sử khi đi qua những chiến địa mang huyền thoại của lịch sử dân tộc.

Cũng trong domngf mạc cảm xúc ấy Trần Quang Khải đã gợi lại những âm vang chiến trận với những chiến thắng lẫy lừng qua bài thơ “ Phò giá về kinh”:

“ Đoạt sáo Chương Dương độ

Cầm hồ hàm Tử quan

Thái bình tu trí lực

Vạn cổ thử giang san.”

Hai câu thơ đầu làm sống dậy không khí hào hùng, hồ hởi của hai cuộc kháng chiến diễn ra tại hai chiến địa oai hùng, thiêng liêng: Chương Dương, Hàm Tử. Những từ ngữ “cướp giá giặc”, “bắt quân thù” gợi lại chiến thắng oai hùng, chiến công nối tiếp chiến công. Tất cả dấy lên tjhành ngọn sóng đẹp đẽ nhấn chìm, cuốn trôi những thế lực quân thù mạnh như vũ bão. Từ những chiến thắng vang dội ấy tác giả thể hiện một niềm tin vô hạn, một ước mơ vĩnh hằng vào tương lai :

“ Thái bình tu trí lực

Vạn cổ thử giang san.”

Hai câu thơ thể hiện cho ước mơ của tác giả và cũng là ước mơ ngàn đời của nhân dân về một đất nước thái bình, thịnh trị, trường tồn đến muôn đời. Đó là hào khí sục sôi, vang dội của một đời, của một thời, sáng ngời cả hồn thiêng sông núi, âm vang đến muôn đời.

Bốn dòng thơ là sự kết tinh của hào khí thời đại, hừng hực, bừng sáng cả một trang vàng lịch sử. Sừng sững giữa đất trời một dáng đứng uy nghiêm, lẫm liệt của vị anh hùng, hiên ngang, sánh tầm vũ trụ giữa trận mạc binh đao.

Và để rồi hân hoan trong niềm vui thắng lợi ấy Trương Hán Siêu lại ngậm ngùi hạ bút, viết nên nỗi lòng qua những vần thơ “ Bạch Đằng giang phú”.  Đó là một bức tranh tuiyệt đẹp về hào khí một thời:

“Thuyền tàu muôn đội

Tinh kì phấp phới

Hùng hổ sáu quân

Giáo gươm sáng chói.”

Cả một chiến trận với một hùng khí mạnh mẽ, kiên cường dội về với núi sông, dội về với người đời sau bằng những vần thơ như tô, như vẽ. Dường như cả chiến địa bừng sáng bởi những chiến công khiến cho Trương Hán Siêu phải thốt lên trong niềm cảm khái:

“Khác nào

Trận Xích Bích quân Tào Tháo tan tác tro bay

Trận Hợp Phì, giặc Bồ Kiên hoàn toàn chết trụi.”

Niềm vui nối tiếp niềm vui, lòng tự hào tự tôn dân tộc ấy còn được nâng lên một tầm cao mới qua hai câu thơ:

“ Đến nay sông nước tuy chảy hoài

Mà nhục quân thù khôn rửa nổi.”

Dòng sống lấp lánh ánh lửa binh sĩ trong đêm với lời thề vang vọng, quyết đền nợ nước trả thù nhà, dòng sông như còn in máu quân thù khi bại trận, “giày xéo lên nhau mà chết”. Dòng chảy ấy sẽ chảy đến ngàn đời khắc ghi một thời kì hoàng kim của lịch sử.

Trong niềm hân hoan với núi sông, đắm chìm trên trận địa linh thiêng có màu cờ tổ quốc ấy, tác giả đã ca lên những vần thơ ngời sáng một chân lí đẹp đẽ:

“ Những người bất nghĩa tiêu vong

Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh”

Câu thư là một lời ca, một lời triết lí làm nên nét xoáy trong tâm hồn vị tướng sĩ -nhà thơ. Đồng thời lời thơ còn như khắc, như tạc sự vĩnh hằng, bất diệt của chiến thắng sông Bạch Đằng- một dòng sông chảy mãi đến muôn đời. Kết thúc tác phẩm là sự hụt hẫng cuỉa người anh hùng trước thời cuộc làm cho hào khí Đông A càng mang tính chất bi hùng của một công dân có trách nhiệm đối vợi nợ nước thù nha, lập công báo quốc.

Khi nhìn lại cả một chiều dài lịch sử chống ngoại xâm của nhân dân ta, nhà văn Nguyễn Thành Trung đã cảm khái mà thốt lên rằng: “ Nếu như phải vẽ lại lịch sử Việt Nam thì trang nào cũng phải vẽ một thanh gươm tự vệ và tô đậm một màu máu.” Thật vậy, Hào khí Đông A rừng rực trong lịch sử, bừng lên qua từng trang thơ và lan tỏa đến muôn đời. Vẫn là hào khí mạnh mẽ của hồn thiên sông núi ấy nhưng mõi tác phẩm là một tấc lòng riêng, một cá tính sáng tạo riêng làm nên sự đa dạng của văn học đời nhà Trần tiêui biểu cho hình ảnh người con trai đời Trần. Hào khí ấy đã tiếp thêm sức mạnh để ngọn sóng dân tộc cuộn trào quia từng trận chiến.

Xem thêm : Tuyển tập đề thi học sinh giỏi môn văn có đáp án và bài văn mẫu : http://vanhay.edu.vn/hoc-sinh-gioi

Đề thi kết thúc học kì 1 môn Ngữ văn lớp 10

ĐỀ THI HẾT HỌC KỲ I NĂM HỌC 2016-2017 ,MÔN THI: NGỮ VĂN – KHỐI 10

Đọc hiểu bài Tấm Cám, Cảm nhận của anh (chị) về bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão.

ĐỀ THI CHÍNH THỨC                Thời gian: 90 phút, không kể thời gian giao đề

( Đề thi gồm 2 câu 1 trang )                        

Họ và tên:  …………………………………….           Số báo danh: ……………

Câu 1 (4,0 điểm)

Đọc đoạn văn và trả lời các câu hỏi bên dưới:

“Ngày xưa, có Tấm và Cám là hai chị em cùng cha khác mẹ. Hai chị em suýt soát tuổi nhau. Tấm là con vợ cả, Cám là con vợ lẽ. Mẹ Tấm đã chết từ hồi Tấm còn bé. Sau đó mấy năm thì cha Tấm cũng chết. Tấm ở với dì ghẻ là mẹ của Cám. Dì ghẻ là người rất cay nghiệt. Hàng ngày, Tấm phải làm lụng vất vả, hết chăn trâu, gánh nước, đến thái khoai, vớt bèo; đêm lại còn say lúa giã gạo mà không hết việc. Trong khi đó thì Cám lại được mẹ nuông chiều, được ăn trắng mặc trơn, suốt ngày quanh quẩn ở nhà, không phải làm việc nặng”.

  1. Đoạn trích trên được trích từ văn bản nào? Thuộc thể loại gì của văn học dân gian ?
  2. Nội dung chính của đoạn văn trên là gì?
  3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của những biện pháp tu từ được sử dụng trong

đoạn văn trên?

Câu 2 (6,0 điểm)

Cảm nhận của anh (chị) về bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão.

MÔN THI: NGỮ VĂN – KHỐI 10

HƯỚNG DẪN CHẤM

 Câu                                         Nội dung Điểm
  1a  – Đoạn trích trên được trích từ văn bản truyện cổ tích “Tấm Cám

– Thí sinh xác định đúng một trong hai phương án sau:     Thuộc thể loại truyện cổ tích; truyện cổ tích thần kì

   1.5
  1b Nội dung chính: Hoàn cảnh bất hạnh và cuộc sống lam lũ, vất vả, cực nhọc của Tấm khi ở với dì ghẻ

 

   1
  1c – Trong đoạn văn, tác giả có sử dụng những biện pháp tu từ:

+ So sánh “Tấm và Cám.”

+ Liệt kê “chăn trâu, gánh nước, đến thái khoai, vớt bèo; đêm lại còn say lúa giã gạo mà không hết việc”.

– Tác dụng của các biện pháp tu từ: Nhấn mạnh cuộc đời bất hạnh và số phận của đứa trẻ mồ côi khi phải sống với dì ghẻ

 

   1.5
   2 MB: Vài nét về tác giả, tác phẩm

– Phạm Ngũ Lão (1255 – 1320) là một danh tướng đời Trần. Ông có nhiều công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên. Ông là người văn võ toàn tài.

Tỏ lòng là bài thơ tiêu biểu của Phạm Ngũ Lão, thể hiện hào khí của cả thời đại qua cái chí, cái tâm người anh hùng.

TB: Cảm nhận bài thơ ( Kết hợp trích dẫn thơ và phân tích)

* Nội dung:

– Bao trùm bài thơ là hào khí  Đông A: Khí thế chiến đấu

của quân dân thời Trần

– Vẻ đẹp trang nam nhi thời Trần hiện lên với tư thế hiên ngang, mang tầm vóc vũ trụ; hành động thật kì vĩ, phi thường: “cầm ngang ngọn giáo” trấn giữ đất nước.

– Con người ấy luôn ở tư thế sẵn sàng tấn công kẻ thù, bất chấp cả thời gian trôi qua vẫn kiên trì, bền bỉ không hề biết mệt mỏi: “trải mấy thu”.

– “Ba quân” là chỉ đội quân nhà Trần nhưng đồng thời tượng trưng cho sức mạnh vật chất và tinh thần của cả dân tộc (Ba quân như hổ báo, khí thế hùng dũng nuốt trôi trâu).

– Người trai thời Trần còn được khắc họa với một quan niệm nhân sinh tích cực: lập công (để lại sự nghiệp), lập danh (để lại tiếng thơm).

– Phạm Ngũ Lão tự thấy mình chưa trả được nợ công danh nên khi so sánh với Gia Cát Lượng, nhà thơ cảm thấy thẹn. Nỗi thẹn ấy tôn lên cái tâm của một nhân cách lớn. Cách nói đó còn khẳng định, đề cao ý thức trách nhiệmcủa Phạm Ngũ Lão với đất nước, nhân dân, thắp lên trong lòng người ngọn lửa của khát vọng vươn tới cái cao cả, lớn lao.

* Nghệ thuật:

– Bài thơ ngắn gọn, ngôn ngữ cô đọng, hàm súc, có sự dồn nén cao độ về cảm xúc.

– Hình ảnh thơ hoành tráng, kì vĩ; âm hưởng hào hùng, sảng khoái.

KB:  Đánh giá chung

– Bài thơ thể hiện lý tưởng cao cả của vị danh tướng Phạm Ngũ Lão, khắc ghi dấu ấn đáng tự hào về một thời kỳ oanh liệt, hào hùng của lịch sử dân tộc.

– Vẻ đẹp của hào khí Đông A đã kết tinh ở cả phương diện nội dung và nghệ thuật trong bài thơ.

– Cảm nhận, suy nghĩ của bản thân: Sống có lí tưởng, có ý chí, quyết tâm thực hiện lí tưởng.

 

1

 

 

 

 

 

 

2.5

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1

 

 

 

 

1.5

 

 

 

 

 

 

 

 

Xem thêm :

Đề kiểm tra học kì 1 Ngữ văn 10

ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ I MÔN: VĂN – LỚP 10 NĂM HỌC 2016 – 2017

Đọc hiểu về bài ca dao, Cảm nhận về bài thơ Tỏ lòng- Ngữ văn 10

Thời gian làm bài: 90 phút (không kể thời gian giao đề)

Phần I. Đọc hiểu (4,0 điểm)

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:

“ Cây đa cũ, bến đò xưa

Bộ hành có nghĩa nắng mưa vẫn chờ.”

(Ca dao)

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản trên? (0,5 điểm)

Câu 2. Biện pháp tu từ chính được sử dụng trong văn bản (0,5 điểm)

Câu 3. Hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ đó? (0,5 điểm)

Câu 4. Văn bản trên được viết theo phong cách ngôn ngữ nào? (0,5 điểm)

Câu 5. Xác định chủ đề của văn bản trên? (0,5 điểm)

Câu 6. Nội dung của văn bản đề cập đến tình cảm và phẩm chất gì của người lao động? (0,5 điểm)

Câu 7. Viết một đoạn văn (khoảng 8 – 10 dòng) về phẩm chất đó của con người lao động xưa? (1,0 điểm)

Phần II. Làm văn ( 6,0 điểm)

Cảm nhận của em về bài thơ Tỏ lòng – (Thuật hoài) của tác giả Phạm Ngũ Lão?

…………. Hết………….

Họ và tên học sinh:………………………… Thầy cô coi kiểm tra

Số báo danh:………………………………… (Kí, ghi họ tên)

Phòng thi:……………………………………..

MỤC TIÊU ĐỀ KIỂM TRA:
– Thu thập thông tin để đánh giá mức độ đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng theo tiến độ chương trình lớp 10 học kì I.

– Đánh giá việc học sinh vận dụng kiến thức kĩ năng đã học; viết một bài văn nghị luận.

– Cụ thể: Nhận biết, thông hiểu vận dụng các đơn vị tri thức:

+ Kiến thức Đọc hiểu

+ Kĩ năng làm văn: Nghị luận văn học.

HÌNH THỨC KIỂM TRA: Tự luận
III. THIẾT LẬP MA TRẬN:

MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA HỌC KỲ I – MÔN NGỮ VĂN 10

ĐỀ GIỚI THIỆU

HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ TRA HỌC KÌ I

MÔN: VĂN – LỚP 10 (Năm học 2016 – 2017)

Hướng dẫn chấm gồm có2 trang
1,  Thể thơ: Lục bát 0,5
2.  Biện pháp tu từ chính được sử dụng trong văn bản: Ẩn dụ 0,5
3 . Hiệu quả: Sử dụng hình ảnh quen thuộc gần gũi trong cuộc sống của người lao động xưa => Cách thể hiện tình cảm kín đáo, tế nhị mà sâu sắc. 0,5
4 . Phong cách ngôn ngữ: Nghệ thuật (văn chương) 0,5
5.  Chủ đề: Ca dao yêu thương tình nghĩa 0,5
6.  Phẩm chất của người lao động: chung thủy trong tình yêu đôi lứa và tình nghĩa vợ chồng 0,5
7 . Bài ca dao thể hiện lòng thuỷ chung tình nghĩa sắt son trong tình yêu đôi lứa, trong tình nghĩa vợ chồng của người lao động. Cây đa cũ, bến đò xưa – sự vật cố định tượng trưng cho người ở lại, khách bộ hành – người ra đi. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, thời gian trôi đi, vạn vật có đổi thay thì bến cũ, cây đa vẫn chờ đợi khách bộ hành…
1,0

II

1. Biết cách làm bài nghị luận văn học, bài làm đủ bố cục 3 phần MB – TB – KB, trình bày sạch sẽ rõ ràng, không mắc lỗi dùng từ ngữ pháp thông thường.

2.  kiến thức có thể triển khai theo nhiều cách khác nhau song cần đảm bảo một số nội dung sau:

1.  Giới thiệu vấn đề nghị luận

– Giới thiệu về tác giả PNL

– Giới thiệu về hoàn cảnh ra đời, giá trị nội dung và nghệ thuật của bài Tỏ lòng

0,5

Phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật bài thơ.

+ Hai câu đầu:

– Hình ảnh con người xuất hiện với tư thế oai phong, lẫm liệt trong bối cảnh không gian và thời gian kì vĩ.

– Sức mạnh của ba quân (quân đội nhà Trần – dân tộc VN) hùng hậu đông đảo khí thế át cả trời xanh

=>Niềm tự hào về sức mạnh và sự lớn mạnh không ngừng của dân tộc đó chính là hào khí Đông A

+ Hai câu cuối:

– Công danh nam tử: công danh sự nghiệp của đấng nam nhi- theo quan niệm tích cực của Nho giáo công danh và sự nghiệp là món nợ đời phải trả nghĩa là lập tân lập nghiệp để lại tiếng thơm cho đời, cho dân cho nước => quan niệm tích cực cổ vũ con ngưòi sẵn sàng hi sinh chiến đấu cho sự nghiệp để cùng trời đất muôn đời bất hủ.

– Tự thẹn khi người đời nhắc chuyên Vũ Hầu – thẹn trước tấm gương tài đức vì chưa trả được nợ công danh cho nước cho đời =>Đó là nỗi thẹn đầy khiêm tốn và cao cả, là lời tỏ lòng chân thành và trong sáng của người anh hùng.

+ Nghệ thuật: Bài thơ tứ tuyệt Đường luật với chủ đề tỏ chí ngắn gọn súc tích đầy sức gợi. Hình tượng thơ lớn lao kì vĩ hoành tráng được xây dựng bằng bút pháp so sánh phóng đại.

3,
– Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật bài thơ.

-Từ nội dung bài thơ liên hệ lí tưởng sống của bản thân của thế hệ trẻ ngày nay.

0,5

Tổng 10 đ
Lưu ý

– Chỉ cho điểm tối đa khi thí sinh đạt được cả yêu cầu về kĩ năng và kiến thức

– Giáo viên mạnh dạn cho điểm tối đa đối với các bài viết sáng tạo, chú ý đến diễn đạt, hành văn, trau chuốt trong dùng từ, đặt câu, trình bày đẹp, khoa học ….

Xem thêm:

Đề thi kết thúc học kì 1 Ngữ văn lớp 10 PTDTNT Tam Đường

Đề thi học kì 1 ngữ văn 10.  Phân tích bài thơ “Cảnh ngày hè” của Nguyễn Trãi. Phân tích bài thơ Nhàn.Đề đọc hiểu về bài ca dao.Đọc hiểu :Nếu đất Việt đau thương không thấy biển

SỞ GD&ĐT LAI CHÂU

TRƯỜNG PTDTNT TAM ĐƯỜNG

Đề số 01
ĐỀ KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG HỌC KÌ I

Môn: Ngữ Văn 10

Ngày kiểm tra:    / 12/ 2016

Thời gian: 90 phút ( Không kể thời gian chép đề)

 Phần I. Đọc – hiểu (3,0 điểm)

              Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

Thân em như tấm lụa đào

Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?

(Ca dao)

Câu 1: Nêu phương thức biểu đạt chính của văn bản?

Câu 2: Xác định biện pháp tu từ chính được sử dụng trong văn bản? Nêu tác dụng.

Câu 3: Nêu nội dung chính của bài ca dao?

Phần II: Làm văn (7điểm)

    Phân tích bài thơ “Cảnh ngày hè” của Nguyễn Trãi (SGK Ngữ văn 10 – tâp 1).

                      “Rồi hóng mát thuở ngày trường,

                        Hòe lục đùn đùn tán rợp giương.

                        Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ,

                        Hồng liên trì đã tiễn mùi hương.

                         Lao xao chợ cá làng ngư phủ,

                         Dắn dỏi cầm ve lầu tịch dương.

                         Dẽ có ngu cầm đàn một tiếng,

                         Dân giàu đủ khắp đòi phương.”

 

——————–Hết————————

Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.

 

TRƯỜNG PTDTNT TAM ĐƯỜNG

Đề số 01
HƯỚNG DẪN CHẤM

MÔN: NGỮ VĂN  – LỚP 10

 

 

Câu Nội dung Điểm
Phần I: Đọc hiểu (3.0 điểm)  
Câu 1 Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm 0.5
Câu 2 – Biện pháp tu từ: so sánh

– Tác dụng: Khẳng định giá trị vốn có của người phụ nữ.

0.5

1.0

Câu 3 Nội dung:  Phản ánh số phận bất hạnh của người phụ nữ, ý thức rất rõ giá trị của bản thân nhưng không tự quyết định được số phận, hạnh phúc của chính mình. 1.0
Phần II: Làm văn (7.0 điểm)  
  a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận văn học (0,5 điểm):

– Điểm 0,5: Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết luận. Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn đề và thể hiện được ấn tượng, cảm xúc sâu đậm của cá nhân.

– Điểm 0,25: Trình bày đầy đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết luận nhưng các phần chưa thể hiện được đầy đủ yêu cầu trên; phần Thân bài chỉ có 1 đoạn văn.

– Điểm 0: Thiếu Mở bài hoặc Kết luận, Thân bài chỉ có 1 đoạn văn hoặc cả bài viết chỉ có 1 đoạn văn.

0.5
  b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: phân tích nội dung và nghệ thuật của bài thơ.

– Điểm 0,5: Xác định vấn đề nghị luận.

– Điểm 0,25: Xác định chưa rõ vấn đề nghị luận, chỉ nêu chung chung.

– Điểm 0: Xác định sai vấn đề nghị luận, trình bày lạc sang nội dung khác.

 

 

 

0.5

  c. Học sinh chọn đúng kiểu nghị luận, diễn đạt tốt, mạch lạc, kết cấu logic, hợp lí; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

* Giới thiệu về tác giả, tác phẩm, nêu khái quát nội dung văn bản. 0.5

* Bài thơ mở đầu bằng câu lục ngôn nêu rõ hoàn cảnh của nhà thơ lúc đó nhàn, rỗi rãi nên nhà thơ chỉ việc “hóng mát” suốt ngày dài, cuộc sống rất thảnh thơi. 0.25

– Cuộc đời Nguyễn Trãi không mấy lúc được thảnh thơi như vậy để hòa mình với thiên nhiên mà ông yêu mến. Nhưng giữa lúc chiến tranh vừa kết thúc, việc dân việc nước còn nhiều nỗi lo mà ông bị bắt buộc phải hóng mát hết ngày này qua ngày khác thì thật trớ trêu. 0.25

=> Bởi vậy, ông rơi vào cảnh thân nhàn mà tâm không nhàn. Câu thơ ẩn chứa một nụ cười chua chát.0.25

* Bức tranh cảnh ngày hè nơi Côn Sơn được miêu tả trong 5 câu thơ tiếp: ” Hòe lục …tịch dương” 0.25

–  Chỉ vài nét phác họa, bức tranh thiên nhiên đã hiện lên với hình ảnh: hoa hòe, thạch lựu, hồng liên,  trong sắc màu tươi thắm, rực rỡ nhất: xanh, đỏ, hồng. 0.25

– Sử dụng các động từ mạnh ” đùn đùn, phun” và các tính từ “đỏ, ngát” góp phần diễn tả một bức tranh thiên nhiên mùa hè tràn đầy sức sống. 0.25

=> Nguồn sống ấy như được thôi thúc từ bên trong, đang ứ căng, đang tràn đầy trong lòng thiên nhiên vạn vật, ko kìm lại được, khiến chúng phải “giương” lên, “phun” ra hết lớp này đếnlớpkhác.0.25
– Bức tranh ngày hè càng đặc sắc hơn khi có dấu hiệu âm thanh của sự sống con người: ” Lao xao …tịch dương”0.25

– Lao xao chợ cá:  Âm thanh đặc trưng của làng chài, là dấu hiệu của sự sống của con người. Âm thanh ấy từ xa vọng lại, chắc nhà thơ phải tinh tế lắm mới có thể lắng nghe. 0.25

=> Qua đó, thể hiện tấm lòng luôn hướng đến con người và cuộc sống của Nguyễn Trãi.0.25

– Âm thanh ấy hòa vào tiếng ve kêu “dắng dỏi” lúc chiều tà như tiếng đàn rộn rã, báo hiệu chấm dứt một ngày hè nơi thôn dã. 0.25

– Bức tranh thiên nhiên, cuộc sống được miêu tả vào thời điểm cuối ngày nhưng ko gợi cảm giác buồn, ảm đạm. Bởi ngày sắp tắt nhưng sự sống ko ngừng lại. Thiên nhiên vẫn vận động với một nguồn sống dồi dào, mãnh liệt. 0.25

=> Cuộc sống còn rộn rã những âm thanh tươi vui như nói lên nhịp sống ấm no hạnh phúc của nhân dân.0.25

* Hai câu thơ cuối thể hiện ước nguyện cao đẹp của nhà thơ: dù cáo quan về ở ẩn nhưng trong lòng nhà thơ vẫn nặng lòng lo cho nước, cho dân nên ước mình có cây đàn của vua Ngu Thuấn để gảy khúc nhạc cho nhân dân thiên hạ thái bình no đủ  ” Dân giàu đủ khắp đòi phương”.0.25

– Ẩn giấu đằng sau lời ước mong ấy là sự trách móc nhẹ nhàng mà nghiêm khắc bọn quyền thần tham bạo ở triều đình đương thời không còn nghĩ đến dân, đến nước.  0.25

=> Dẫu hòa hợp hết mình với thiên nhiên  nhưng Nguyễn Trãi vẫn không nguôi nỗi niềm yêu nước, thương dân.0.25

– Nét đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ: 0.5

+ Bài thơ có cách diễn đạt ngắn gọn xúc tích chất chứa nhiều tầng ý sâu xa

+ Ngôn ngữ bình dị, mộc mạc, sử dụng lớp từ thuần Việt nhuần nhuyễn , nhiều hình ảnh lấy từ cuộc sống đời thường.

5.0

 

 

 

  * Sáng tạo (0,5 điểm)

– Điểm 0,5: Có nhiều cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo (viết câu, sử dụng từ ngữ, hình ảnh và các yếu tố biểu cảm…); văn viết giàu cảm xúc;

– Điểm 0,25: Có một số cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo;

– Điểm 0: Không có cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo;

0.5
  * Chính tả, dùng từ, đặt câu (0,5 điểm):

– Điểm 0,5: Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

– Điểm 0,25: Mắc một số lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

– Điểm 0: Mắc nhiều lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

0.5

 

SỞ GD&ĐT LAI CHÂU

TRƯỜNG PTDTNT TAM ĐƯỜNG

Đề số 02
ĐỀ KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG HỌC KÌ I

Môn: Ngữ Văn 10

Ngày kiểm tra:    / 12/ 2016

Thời gian: 90 phút ( Không kể thời gian chép đề)

 

Phần I. Đọc – hiểu (3,0 điểm)

              Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

“Nếu đất mẹ xót xa không thấy biển?

Biển yêu thương che chở suốt ngàn đời

Hồn dân Việt lắng trong hồn sóng biển

Tiếng dân ca còn mặn muối trùng khơi.”

(Nếu đất Việt đau thương không thấy biển? – Nguyễn Việt Chiến)

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên.

Câu 2. Nêu nội dung chính của đoạn thơ.

Câu 3. Xác định các biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ và nêu hiệu quả biểu đạt của các biện pháp tu từ đó.

Phần II: Làm văn (7điểm)

Phân tích bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

                           “Một mai, một cuốc, một cần câu,

                             Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.  

                             Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,

                             Người khôn, người đến chốn lao xao.

                             Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,

                              Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.

                              Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống,

                              Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.”

 

——————Hết———————–

Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.

TRƯỜNG PTDTNT TAM ĐƯỜNG

Đề số 02
HƯỚNG DẪN CHẤM

MÔN: NGỮ VĂN  – LỚP 10

 

 

 

Câu Nội dung Điểm
Phần I: Đọc hiểu (3.0 điểm)  
Câu 1  Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm 0,5
Câu 2  Nội dung chính của đoạn thơ trên là tình cảm xót xa, nỗi âu lo của tác giả cho vận mệnh của biển, đảo quê hương 1.0
Câu 3 – Biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ trên: biện pháp nhân hóa (đất mẹ xót xa, biển yêu thương che chở, hồn sóng biển); điệp từ “biển”.

– Hiệu quả biểu đạt: Bộc lộ, nhấn mạnh tình cảm xót xa, nỗi âu lo của tác giả trước vận mệnh của biển, đảo quê hương.

0,5

 

 

 

1,0

Phần II: Làm văn (7.0 điểm)  
  a.  Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận văn học (0,5 điểm):

– Điểm 0,5: Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết luận. Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn đề và thể hiện được ấn tượng, cảm xúc sâu đậm của cá nhân.

– Điểm 0,25: Trình bày đầy đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết luận nhưng các phần chưa thể hiện được đầy đủ yêu cầu trên; phần Thân bài chỉ có 1 đoạn văn.

– Điểm 0: Thiếu Mở bài hoặc Kết luận, Thân bài chỉ có 1 đoạn văn hoặc cả bài viết chỉ có 1 đoạn văn.

0.5
  b.  Xác định đúng vấn đề nghị luận (0,5 điểm): phân tích nội dung và nghệ thuật của bài thơ.

– Điểm 0,5: Xác định vấn đề nghị luận.

– Điểm 0,25: Xác định chưa rõ vấn đề nghị luận, chỉ nêu chung chung.

– Điểm 0: Xác định sai vấn đề nghị luận, trình bày lạc sang nội dung khác.

 

 

 

0.5

  c.  Học sinh chọn đúng kiểu nghị luận, diễn đạt tốt, mạch lạc, kết cấu logic, hợp lí; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

* Giới thiệu về tác giả, tác phẩm, nêu khái quát nội dung văn bản. 0.5

*  Hai câu thơ đầu phản ánh cuộc sống nhàn nhã, ung dung của Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Một mai…”  0.25

– Quan Trạng về sống giữa thôn quê giống như một “lão nông tri điền”, hằng ngày làm bạn với những công cụ lao động như mai để đào đất, cuốc để xới đất, cần câu để câu cá…0.25

– Cách dùng số từ kết hợp với danh từ cho thấy tất cả đã trở nên gần gũi, quen thuộc trong cuộc sống của ông. 0.25

=> Câu thơ đưa ta trở về với cuộc sống chất phác đơn sơ “tự cung tự cấp” , cho ta thấy một sự ngông ngạo, trước thói đời hám danh, hám lợi của NBK . 0.25

– Hai chữ ” thơ thẩn ” miêu tả phong thái ung dung và tâm trạng thảnh thơi của con người.Tâm trạng ấy chi phối cả âm điệu bài thơ:  nhẹ nhàng, chậm rãi một cách lạ kì. 0.25

– Cụm từ “dầu ai vui thú nào” còn nói lên lập trường chắc chắn của nhà thơ trước lối sống đã lựa chọn. Chữ “ai” vốn là một đại từ phiếm chỉ, được tác giả sử dụng trong câu thơ này với một nghĩa rất rộng.0.25
* Từ quan niệm sống nhàn, NBK đưa ra một triết lí : ” Ta dại ………..Người khôn…” 0.25

– “Nơi vắng vẻ” là nơi quê nhà thôn dã đối lập với “chốn lao xao” tức chốn quan trường đua chen, xô bồ giẫm đạp lên nhau để cầu danh lợi. Tác giả tự nhận “ta dại” đối lập với “người khôn”. 0.25

=> Nguyễn Bỉnh Khiêm là một người có trí tuệ sáng suốt. Sáng suốt trong sự chọn lựa: Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ, mặc cho: Người khôn, người đến chốn lao xao. 0.25

* Câu 5,6 nhà thơ viết ” Thu ăn …. Xuân tắm…”

– Hai câu thơ tả cảnh sinh hoạt giản dị mà không kém phần thú vị nơi thôn dã với bốn mùa xuân, hạ, thu, đông.  0.25

+  NBK ăn những  thức ăn quê mùa, dân dã như măng trúc, giá… đều là thức ăn có sẵn, do mình tự làm ra, không phải nhọc công tìm kiếm. 0.25

+ Ăn đã vậy, còn ở, còn sinh hoạt? Quan Trạng giờ đây cũng tắm hồ sen, tắm ao như bao người dân quê khác.0.25

* Cái nhìn thông tuệ của nhà thơ thể hiện rõ ở hai câu cuối: ” Rượu …. Nhìn xem…” 0.25

– NBK dùng điển tích về Thuần Vu Phần để thể hiện thái độ coi thường phú quý, danh lợi: phú quý, danh lợi chỉ như một giấc mơ dưới gốc hòe, thoảng qua, chẳng có ý nghĩa gì. Nhà thơ tìm đến say, nhưng càng say càng tỉnh, càng sáng suốt. 0.25

=> Câu thơ cho thấy quan niệm sống tích cực của NBK: phủ nhận phú quý, danh lợi, khẳng định cái tồn tại vĩnh hằng là thiên nhiên và nhân cách con người.0.5

* Bài thơ thành công bởi các biện pháp NT: 0.5

–  sử dụng ngôn ngữ giản dị, hàm súc.

– Cách nói đối lập, ngược nghĩa thâm trầm, giàu chất triết lí.

5.0

 

 

 

 

 

  * Sáng tạo (0,5 điểm)

– Điểm 0,5: Có nhiều cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo (viết câu, sử dụng từ ngữ, hình ảnh và các yếu tố biểu cảm…); văn viết giàu cảm xúc;

– Điểm 0,25: Có một số cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo;

– Điểm 0: Không có cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo;

0.5
  * Chính tả, dùng từ, đặt câu (0,5 điểm):

– Điểm 0,5: Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

– Điểm 0,25: Mắc một số lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

– Điểm 0: Mắc nhiều lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

0.5

 

SỞ GD&ĐT LAI CHÂU

TRƯỜNG PTDTNT TAM ĐƯỜNG

Đề số 03
ĐỀ KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG HỌC KÌ I

Môn: Ngữ Văn 10

Ngày kiểm tra:    / 12/ 2016

Thời gian: 90 phút ( Không kể thời gian chép đề)

Phần I. Đọc – hiểu (3,0 điểm)

         Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

 “Muối ba năm muối đang còn mặn

  Gừng chín tháng gừng hãy còn cay

Đôi ta nghĩa nặng tình dày

Có xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa”

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên?
Câu 2. Xác định biện pháp tu từ chính được sử dụng trong bài ca dao? Nêu tác dụng của biện pháp tu từ đó?
Câu 3. Nêu khái quát nội dung của bài ca dao.

Phần II: Làm văn (7điểm)

       Phân tích bài thơ ” Tỏ lòng ” của Phạm Ngũ Lão (SGK Ngữ văn 10 – tâp 1).

Phiên âm:  ” Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu

                    Tam quân tì hổ khí thôn ngưu

                   Nam nhi vị liễu công danh trái

                  Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu”    

Dịch thơ: ” Múa giáo non sông trải mấy thu

                  Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu

                  Nam nhi vị liễu công danh trái

                Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu”              

—————- Hết——————–

TRƯỜNG PTDTNT TAM ĐƯỜNG

Đề số 03
HƯỚNG DẪN CHẤM

MÔN: NGỮ VĂN  – LỚP 10

 

 

Phần I: Đọc hiểu (3.0 điểm)

Câu 1

Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm 0,5

Câu 2

– BPTT chính: Ẩn dụ

– Tác dụng: nhấn mạnh, làm nổi bật những trải nghiệm cay đắng, mặn mà của tình người nhất là tình cảm vợ chồng.

Câu 3

Bài ca dao ca ngợi lối sống tình nghĩa, thủy chung của người bình dân xưa. 1,0

Phần II: Làm văn (7.0 điểm)

a.  Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận văn học (0,5 điểm):

– Điểm 0,5: Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết luận. Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn đề và thể hiện được ấn tượng, cảm xúc sâu đậm của cá nhân.

– Điểm 0,25: Trình bày đầy đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết luận nhưng các phần chưa thể hiện được đầy đủ yêu cầu trên; phần Thân bài chỉ có 1 đoạn văn.

– Điểm 0: Thiếu Mở bài hoặc Kết luận, Thân bài chỉ có 1 đoạn văn hoặc cả bài viết chỉ có 1 đoạn văn. 0.5

b.  Xác định đúng vấn đề nghị luận: phân tích nội dung và nghệ thuật của bài thơ.

– Điểm 0,5: Xác định vấn đề nghị luận.

– Điểm 0,25: Xác định chưa rõ vấn đề nghị luận, chỉ nêu chung chung.

– Điểm 0: Xác định sai vấn đề nghị luận, trình bày lạc sang nội dung khác. 0.5

c.  Học sinh chọn đúng kiểu nghị luận, diễn đạt tốt, mạch lạc, kết cấu logic, hợp lí; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

* Giới thiệu về tác giả, tác phẩm, nêu khái quát nội dung văn bản. 0.5

* Hai câu thơ đầu tác giả miêu tả hình tượng tráng sĩ và quân đội thời trần

– Câu thơ thứ nhất tái hiện trước mắt người đọc hình tượng người tráng sĩ thời Trần tay cầm ngang ngọn giáo ” hoành sóc” trấn giữ non sông đất nước. 0.25

– Cây trường giáo ấy như được đo bằng chiều ngang của non sông ” giang sơn” và chiều dài của thời gian ” kháp kỉ thu”. Con người xuất hiện với vẻ đẹp lớn lao kì vĩ mang tầm vóc vũ trụ. 0.25

– Câu thơ thứ 2 diễn tả sức mạnh của quân đội nhà Trần, quân đội Đại Việt: ” Tam quân tì hổ khí thôn ngưu” . ” Tam quân” là hình ảnh tượng trưng ước lệ để chỉ quân đội nhà Trần, quân đội Đại việt. 0.25

– Câu thơ sử dụng biện pháp so sánh phóng đại đã sáng tạo: so sánh sức mạnh ba quân như hổ báo, phóng đại khí thế quân đội có thể nuốt trôi trâu. 0.25

–  ” Khí thôn ngưu” có 2 cách hiểu: Cách 1: Khí thế nuốt trôi trâu: hình ảnh con người mạnh mẽ, gân guốc, mạch thơ nhất quán, diễn tả được đúng lời thơ của tác giả. Cách 2:  Khí thế át sao Ngưu : Có hình tượng nhưng hình tượng lại cách xa nhau, thể hiện 1 tư thế lạ và  xa. 0.25

=> Dù hiểu theo cách nào, câu thơ cũng thể hiện: Sức mạnh đội quân đang sôi sục khí thế quyết chiến, quyết thắng. 0.25

=> Hình ảnh tráng sĩ  lồng vào hình ảnh 3 quân thể hiện sức mạnh dân tộc – đó là biểu hiện của hào khí Đông A trong bài thơ. 0.25

* Hai câu thơ cuối: nói lên khát vọng – nỗi lòng của tác giả

” Nam nhi … Vũ hầu”

– Ơ câu thơ thứ 3, tác giả nhắc đến chí làm trai và món nợ công danh mà người nam nhi trong XHPK xưa phải trả. 0.25

– Theo quan niệm của nho giáo: trong XHPK người làm trai phải lập công danh sự nghiệp lớn,  phải hoàn thành nghĩa vụ cứu nước cứu đời. 0.25

-> Đó là lí tưởng sống, là một quan điểm sống tích cực, giúp con người từ bỏ lối sống tầm thường, ích kỉ. 0.25

– Đặt trong bối cảnh đất nước đang bị giặc Mông – Nguyên xâm lược, thì quan niệm trên càng có nội dung tích cực, có tác dụng to lớn.0.25

* Câu thơ cuối tác giả sử dụng điển tích  ” Vũ Hầu” tức Gia Cát Lượng – Khổng Minh , vị quân sư nổi tiếng của Lưu bị nhà Thục Hán thời Tam quốc.  0.25

– Phạm Ngũ Lão thấy thẹn với Vũ Hầu vì: chưa có được tài cao trí lớn, công danh hiển hách như Vũ Hầu, chưa cống hiến được nhiều cho đất nước.  0.25

=> PNL thẹn với mình, với đời vì nghĩ mình chưa đánh đuổi giặc ngoại xâm khỏi bờ cõi Đại Việt. 0.25

=> “ Thẹn” là cách nói khiêm tốn, thẹn  mà không hạ thấp mình, làm tăng thêm vẻ đẹp nhân cách tâm hồn của con người sống có ý thức, có nhân cách với hoài bão có được tài cao trí lớn đóng góp cho đất nước.0.25

=> ” Tỏ lòng” là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật ngắn gọn, đạt tới độ súc tích cao khắc họa thành công hình tượng người tráng sĩ thời Trần hiên ngang, lẫm liệt, có lí tưởng nhân cách cao đẹp. 0.25

=> Từ hình tượng đó, thế hệ trẻ ngày nay cần phải sống có lí tưởng, có ước mơ, hoài bão tốt đẹp và phải có ý chí quyết tâm thực hiện lí tưởng của bản thân mình. 0.5

5.0

* Sáng tạo (0,5 điểm)

– Điểm 0,5: Có nhiều cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo (viết câu, sử dụng từ ngữ, hình ảnh và các yếu tố biểu cảm…); văn viết giàu cảm xúc;

– Điểm 0,25: Có một số cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo;

– Điểm 0: Không có cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo; 0.5

* Chính tả, dùng từ, đặt câu (0,5 điểm):

– Điểm 0,5: Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

– Điểm 0,25: Mắc một số lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

– Điểm 0: Mắc nhiều lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu. 0.5

Xem thêm :

  1. Bộ đề thi học kì Ngữ văn 10
  2. Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về bài thơ Nhàn – Nguyễn Bỉnh Khiêm : Nhàn
  3. Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về bài thơ Cảnh ngày hè- Nguyễn Trãi : Cảnh ngày hè
  4. Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về bài thơ Tỏ lòng- Phạm Ngũ Lão: Tỏ lòng

 

Bài viết số 3 Ngữ văn 10

Đề kiểm tra bài viết số 3 Ngữ văn lớp 10. Đọc hiểu về bài ca dao, Vẻ đẹp con người và thời đại nhà Trần được thể hiện qua bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão

Trường THPT An Phước

Tổ: Ngữ văn.

ĐỀ KIỂM TRA BÀI VIẾT SÔ 3 LỚP 10

(Thời gian:90 phút)

ĐỀ

Câu 1:  Dựa vào những bài ca dao than thân

     “ Thân em như tấm lựa đào

Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”

                                     (Ngữ văn 10, tập 1, tr.83)

Hãy trả lời câu hỏi:

  1. Nhân vật trữ tình( người than thân) trong bài ca dao là ai? Em có suy nghĩ gì về thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ?
  2. Sưu tầm những bài ca dao than thân có mô típ “Thân em như…”

Câu 2: Vẻ đẹp con người và thời đại nhà Trần được thể hiện qua bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão

HƯỚNG DẪN CHẤM VÀ THANG ĐIỂM

Biểu điểm

  • Điểm 9-10: Bài viết đủ 3 phần, đầy đủ sinh động các ý trên, có cảm xúc, lời văn trong sáng, lôi cuốn
  • Điểm 7- 8: Đảm bảo nội dung chính, trình bày rõ ràng, mạch lạc, diễn đạt trôi chảy lôi cuốn, có cảm xúc.
  • Điểm 5 – 6: Bài viết thiếu vài ý nhỏ, diễn đạt tương đối tốt, mắc vài lỗi nhỏ về chính tả.
  • Điểm 3 – 4 :

+ Hiểu đúng đề bài, viết đầy đủ 3 phần nhưng chưa sâu sắc.

+ Văn chưa trôi chảy nhưng diễn đạt được ý. Không mắc quá nhiều lỗi diễn đạt.

  • Điểm 2: Bài viết sơ sài, thiếu nhiều ý, mắc nhiều lỗi chính tả.
  • Điểm 1: Bài viết lan man, diễn đạt lủng củng, không đúng trọng tâm yêu cầu của đề, mắc quá nhiều lỗi chính tả, diễn đạt.
  • Điểm 0: Lạc đề hoàn toàn hoặc không làm bài.

  2.Thang điểm

1a Nhân vật trữ tình( người than thân) trong bài ca dao là của người phụ nữ 0.5

Những thân phận nhỏ bé, yếu ớt, tội nghiệp. Họ luôn bị phụ thuộc, không có quyền quyết định cuộc đời của mình, đồng thời khẳng định giá trị con người 1.0

b

1.   Thân em như giếng giữa đàng

Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân

2.  Thân em như miếng cau khô

Người thanh ham mỏng, người thô ham dày

(Học sinh có thể sưu tầm các bài ca dao khác với mô típ này)

1.5

2,.Vẻ đẹp con người và thời đại nhà Trần được thể hiện qua bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão 7.0

Mở bài

– Giới thiệu khái quát về tác giả Phạm Ngũ Lão

–  Giới  thiệu bài thơ “ Tỏ lòng” 0.5

 

Thân bài

– Vẻ đẹp người tráng sĩ mang tầm vóc lớn lao, kì vĩ

+ Tư thế: Mạnh mẽ, sẵn sàng, hiên ngang

+ Thời gian,không gian

– Vẻ đẹp thời đại nhà Trần:

+ Ba quân: Tiền , trung, hậu quân

+ Sức mạnh: Như hổ báo

-> Sức mạnh, khí thế -> Hào khí Đông A

– Nỗi lòng của người tráng sĩ: Chí – Tâm:

+ Chí làm trai: Lập công danh để trả nợ

+ Cái tâm: thể hiện ở nỗi thẹn

-> Nỗi thẹn có giá trị nhân cách, cao cả lớn lao-> Nhân cách Phạm Ngũ Lão

– Nghệ thuật: Bài thơ Đường luật ngắn gọn, đạt tới độ súc tích cao, Bút pháp hoành tráng có tính sử thi

Kết bài

Khái quát: Khắc họa vẻ đẹp con người có sức mạnh, có lí tưởng, nhân cách cao cả cùng khí thế hào hùng của thời đại 0.5


MA TRẬN

    Mức độ

 

Chủ đề

Nhận biết  Thông hiểu Vận dụng Cộng
Vận dụng thấp

 

Vận dụng cao
Văn học

Văn bản văn học

Nhân vật trữ tình là ngừời phụ nữ (0.5) – Nêu được suy nghĩ của bản thân về thân phận người phụ nữ (1.0)

– Sưu tầm những bài ca dao than thân có mô típ “Thân em như..”(1.5)

  3đ (30%)
Làm văn

Văn nghị luận

Tích hợp các liến thức, kĩ năng để làm bài văn nghị luận    7đ

( 70%)

Tổng số câu

Tổng điểm

Tỷ lệ %

3

10 đ

100%

Xem thêm : Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về Bài thơ Tỏ Lòng – Phạm Ngũ Lão : Tỏ lòng

Tổng hợp đề thi về các tác phẩm Ngữ văn 10 : Đề thi khối 10

Đề kiểm tra Ngữ Văn 10 theo chủ đề Thơ trung đại Việt Nam

Đề kiểm tra Ngữ văn 10 theo định hướng phát triển năng lực học sinh. 

CHỦ ĐỀ: THƠ TRUNG ĐẠI TỪ THẾ KỶ X ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ  KỶ XIX

 Chuẩn kiến thức kỹ năng

– Hiểu được những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của các bài thơ

trong chủ đề thơ trung đại từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XIX

– Hiểu một số đặc điểm cơ bản của thơ trung đại từ thế kỷ X đến nửa đầu TK

XIX.

– Nhận biết một số phương diện như đề tài, cảm hứng, thể loại, ngôn ngữ

văn học trung đại.

– Biết cách đọc hiểu một văn bản thơ trung đại từ thế kỷ X đến nửa đầu thế

kỷ XIX.

– Vận dụng được những hiểu biết về thơ trung đại và đọc hiểu những văn

bản tương tự ngoài chương trình SGK.

– Phát triển các năng lực:

+ Năng lực thu thập thông tin liên quan đến văn bản.

+ Năng lực giải quyết những tình huống đặt ra trong các văn bản.

+ Năng lực đọc hiểu thơ trung đại theo đặc điểm thể loại.

+ Năng lực trình bày suy nghĩ cảm nhận của cá nhân về ý nghĩa của văn bản.

+ Năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận về nội dung và nghệ thuật của văn bản.

Bảng mô tả các mức độ đánh giá chủ đề “ Thơ trung đại Việt Nam đại từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XIX theo định hướng năng lực.

 

Nhận biết Thông hiểu Vận dụng
Vận dụng thấp Vận dụng cao
– Nêu thông tin về tác giả (cuộc đời, con người), đặc trưng thi pháp nghệ thuật, tác phẩm (xuất xứ, hoàn cảnh ra đời). – Hiểu được đặc điểm nội dung, nghệ thuật  sáng tác của một số nhà thơ – Vận dụng hiểu biết về tác giả (cuộc đời, con người), hoàn cảnh ra đời của tác phẩm  để lí giải nội dung và nghệ thuật của bài thơ. – Vận dụng đặc điểm thi pháp nghệ thuật của các tác phẩm thơ vào hoạt động tiếp nhận văn bản.
– Nhận ra đề tài cảm hứng và thể thơ. – Hiểu được cội nguồn nảy sinh cảm hứng; Hiểu được đặc điểm cơ bản của thể thơ. – Vận dụng hiểu biết về đề tài cảm hứng thể thơ vào phân tích, lí giải giá trị nội dung và nghệ thuật. – Từ đề tài, cảm hứng, thể thơ…tự xác định được cách phân tích một văn bản mới cùng thể tài (thể loại, đề tài).
– Nhận diện thơ trung đại từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XIX, nhân vật, thi pháp,  biểu tượng, thiên nhiên, không gian, thời gian…trong bài thơ. – Hiểu tâm trạng, tinh cảm của tác giả trong bài thơ.

 

– Phân tích được ý nghĩa của ngôn ngữ trong thể hiện tình cảm, cảm xúc của nhà thơ.

– Biết đánh giá tâm trạng, tình cảm của nhân vật, tác giả.

 

– Khái quát hoá về đời sống tâm hồn nhân cách của nhà thơ.

 

– So sánh tìm trạng của các nhà thơ cùng và khác thời.

– Giải thích được tâm trạng, cảm xúc của tác giả.

– Biết bình luận, đánh giá đúng đắn những ý kiến nhận định về các tác phẩm đó được học.

– Liên hệ với những giá trị sống hiện tại của bản thân và những người xung quanh.

– Biết cách tự nhận diện, phân tích và đánh giá thế giới tâm trạng của nhân vật trong những bài thơ khác tương tự cùng thể loại.

– Nhận biết được các chi tiết và hình ảnh, biện pháp nghệ thuật đặc sắc (từ ngữ, biện pháp tu từ, câu thơ, hình ảnh, nhịp điệu, bút pháp…) – Lí giải ý nghĩa, tác dụng của biện pháp nghệ thuật. – Đánh giá giá trị nghệ thuật của tác phẩm – Khái quát giá trị nội dung, nghệ thuật, những đóng góp của tác phẩm đối với thể loại, nghệ thuật thơ.

– So sánh với các đặc trưng nghệ thuật của thơ ca cùng thời và khác thời.

– Tự phát hiện và đánh giá, giá trị nghệ thuật của các tác phẩm tương tự không có trong chương trình.

– Đọc diễn cảm toàn bộ tác phẩm (thể hiện được tỡnh cảm, cảm xúc của nhà thơ trong tác phẩm). – Đọc sáng tạo (không chỉ thể hiện tình cảm, cảm xúc của tác giả mà cũng bộc lộ những cảm nhận, cảm xúc, trải nghiệm riêng của bản thân).

– Đọc nghệ thuật (đọc có biểu diễn).

– Viết bài bình thơ, giới thiệu thơ.

– Sưu tầm những bài văn hay, tương tự của tác giả và của giai đoạn văn học này.

– Sáng tác thơ.

– Viết bài tập nghiên cứu khoa học.

– Tham gia các câu lạc bộ thơ, ngày hội thơ.

Câu hỏi/Bài tập minh hoạ

Văn bản: Tỏ lòng ( Phạm Ngũ Lão)

 

Nhận biết Thông hiểu Vận dụng
Vận dụng thấp Vận dụng cao
-Nêu những nét chính về tác giả Phạm Ngũ Lão?

 

– Chủ đề của bài thơ Tỏ lũng.

 

– Bài thơ viết bằng thể thơ Đường luật nào?

 

– Các biện pháp nghệ thuật nào đó được nhà thơ sử dụng trong bài thơ?

 

– Hãy thuyết minh về nhà thơ Phạm Ngũ Lão?

– Phạm Ngũ Lão viết bài thơ Tỏ lòng vì mục đích gì?

 

– Hãy phân tích ý nghĩa của những từ ngữ “cụng danh”?

 

– Giải thích quan niệm chílàm trai của Phạm Ngũ Lão?

 

–  Nhà thơ đó thể hiện chí hướng của mình như thế nào khi nhắc tới nợ công danh ?

 

– Các biện pháp nghệ thuật góp phần vào việc thể hiện vẻ đẹp của đội quân nhà Trần?

– Qua hình thức nghệ thuật anh chị nhận định như thế nào về giá trị nghệ thuật của bài thơ?

 

– Qua cái “thẹn” cuối bài thơ, anh chị suy nghĩ gì về thái độ, nhân cách của tác giả?

 

– Đọc diễn cảm bài thơ?

 

– Có ý kiến cho rằng “Bài thơ Tỏ lòng thể hiện hào khớ Đông A”. Hãy làm sáng tỏ ý kiến trên?

Cảm nhận của em về ý nghĩa tích cực của bài thơ đối với thế hệ thanh niên ngày nay?

 

 

Câu hỏi/Bài tập

           Văn bản : Cảnh ngày hè  ( Nguyễn Trãi)

 

 

Nhận biết Thông hiểu Vận dụng
Thấp Cao
-Số l­ượng tác phẩm của tập thơ Quốc âm thi tập?

– Các phần của tập thơ trên?

– Nội dung và nghệ thuật của nó?

– Nhan đề Cảnh ngày hè do ai đặt? Nó thuộc mục nào trong phần Vô đề?

– Bài thơ tác giả đã sử dụng những thủ pháp nghệ thuật nào?

– Bức tranh cảnh ngày hè được cảm nhận trong khoảng thời gian nào?

– Những hình ảnh nào, âm thanh nào đư­ợc Nguyễn Trãi miêu tả trong bức tranh thiên nhiên, cuộc sống ngày hè?

– Tác giả dùng nhiều động từ diễn tả trạng thái của cảnh ngày hè. Đó là những động từ nào, trạng thái của cảnh đ­ược diễn tả ra sao?

– Phân tích, chứng minh cảnh vật thiên nhiên và cuộc sống con người có sự hài hòa về âm thanh và màu sắc, cảnh vật và con ngư­ời?

 Tác giả đã huy động các giác quan nào để cảm nhận và miêu tả bức tranh thiên nhiên, cuộc sống cảnh ngày hè?

Nhận xét khái quát về những nét đặc sắc trong nội dung và nghệ thuật của bài thơ?

 

 

 

– Em có nhận xét gì về bức tranh thiên nhiên, cuộc sống được Nguyễn Trãi miêu tả?

 

– Đọc diễn cảm bài thơ?

– Vẻ đẹp của tâm hồn Nguyễn Trãi qua câu đầu?

Vẻ đẹp của tâm hồn Nguyễn Trãi qua 2 câu kết?

 

– Tình yêu nước của Nguyễn Trãi trong Cảnh ngày hè có gì giống và khác với tinh thần yêu nước trong Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão?

– Viết một đoạn văn về tấm lòng của Nguyễn Trãi đối với dân với nước?

 

 

 

– Qua tìm hiểu bài thơ em thấy mình cần phải làm gì cho bản thân, gia đình, quê hương đất nước?

 

 

 

Câu hỏi/Bài tập

           Văn bản : Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm)

 

 

Nhận biết Thụng hiểu Vận dụng
Thấp Cao
– Nêu vài nét chính về tiểu sử của Nguyễn Bỉnh Khiêm?

– Kể tên các tác phẩm chính và nêu đặc sắc của thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm?

– Thể loại của bài thơ?

– Bố cục của nó?

– Nhan đề bài thơ có phải do tác giả đặt? Nó thuộc tập thơ nào?

-Tác giả thành công ở những phương diện nghệ thuật nào?

 

– Đọc câu 1-2, em có nhận xét gì về cuộc sống khi cáo quan về quê ở ẩn của Nguyễn Bỉnh Khiêm?

– Em hiểu trạng thái “thơ thẩn” như thế nào? Nó cho thấy lối sống của tác giả ntn? Đại từ phiếm chỉ “ai” có thể chỉ đối tượng nào?

 

– Nhận xét về cuộc sống sinh hoạt của tác giả ở 2 câu 5-6? Nhịp thơ và ý nghĩa của nó?

 

– Tác giả quan niệm ntn về lẽ sống và ông đã chọn lối sống nào ở câu 3- 4?

– Nguyễn Bỉnh Khiêm dẫn điển tích về giấc mộng của Thuần Vu Phần nhằm mục đích gì?

– Từ quá trình tìm hiểu bài thơ trên, em hiểu bản chất chữ “nhàn” trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm là gì? Quan niệm sống nhàn của tác giả trong bài thơ?

 

 

– Vẻ đẹp cuộc sống và nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ trên?

Từ nhân cách của tác giả em có suy nghĩ gì về nhân cách của tuổi trẻ hôm nay?

Viết đoạn văn cảm nhận về nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

 

 

 

     Câu hỏi/Bài tập

           Văn bản : Đọc Tiểu Thanh kí ( Nguyễn Du)

 

Nhận biết Thụng hiểu Vận dụng
Thấp Cao
– Nêu vài nét về cuộc đời nàng Tiểu Thanh?

 

– Nhan đề của bài thơ có mấy cách hiểu?

 

– Bài thơ được sáng tác trong hoàn cảnh nào?

 

 

 

– Chủ đề của bài thơ là gi?

 

 

 

 

– Nờu thể loại và tỡm bố cục của bài thơ?

 

 

 

– Câu thơ đầu gợi lên nghịch cảnh gì? ý nghĩa của nghịch cảnh ấy?

 

– So sánh phiên âm và dich thơ ở câu 2, bản dịch đó chuyển tải hết các ý, các từ ”độc điếu”, ”nhất chỉ thư” chưa?

 

– Em hóy giải nghĩa cỏc từ son phấn, phần dư, hữu mệnh, vô thần?

 

– Câu thơ son phấn có thần chụn vẫn hận, theo em ai hận? hận ai?

– Em hiểu thế nào về những mối hận cổ kim? Tại sao tác giả lại cho rằng khụng hỏi trời được?

 

– So  sánh chữ ” ngã” phần phiên âm với chữ ” khách” của bản dịch thơ?

– Em có nhận xét gì về mạch vận động cảm xúc ở 6 câu thơ đầu?

 

 

 

– Con số 300 lẻ có nghĩa như thế nào? Tại sao nhà thơ lại dùng bút hiệu Tố Như?

 

 

– Qua bài thơ, em có suy nghĩ gỡ về thỏi độ của nhà thơ với những người hồng nhan bạc phận?

 

 

– Đọc diễn cảm bài thơ?

– Nguyễn Du viết bài thơ Đọc Tiểu Thanh kí nhằm mục đích gì?

 

 

 

– Ở hai câu thơ cuối ” Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa, Người đời ai khóc Tố Như Chăng?” là nỗi băn khoăn của nhà thơ liệu sau này có ai đồng cảm với ông, có ai hiểu ông không đó được thế hệ sau thể hiện như thế nào?

 

 

– Ở xó hội thời nay em sẽ thể hiện thỏi độ của mình như thế nào với những người có tài?

 

Đề kiểm tra cho chủ đề: bài Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão.

Ma trận đề kiểm tra:

 

      Mức độ

Chủ đề

Nhận biết Thông hiểu Vận dụng Tổng
Thấp Cao
 

 

 

Đọc –  hiểu

 

 

– Nhận biết thể thơ,  vẻ đẹp của nhân cách nhà thơ?

– Các biện pháp nghệ

thuật được

sử dụng trong bài thơ?

Số câu

Số điểm:

Tỷ lệ

4

2

20%

4

2,0

20%

 

 

 

 

 

 

Làm văn

 

Nhận biết được

không gian, thời gian, con người, các thủ pháp nghệ thuật

Hiểu được tác dụng của các thủ pháp nghệ thuật trong thể hiện hào khí Đông A, khắc họa   nhân cách của nhà thơ. Vận dụng các thao tác nghị luận phân tích chứng minh bình luận … đó học để làm bài  

Đưa ra được những đánh giá, bình luận xác đáng; liên hệ được với tuổi trẻ hôm nay

 

Số câu

Số điểm:

Tỷ lệ

 

2

20%

 

3

30%

 

1

10%

 

2

20%

1

8,0

80%

Tổng chung:

Số câu

Số điểm:

Tỷ lệ

 

 

4

4

40%

 

 

 

3

30%

 

 

 

1

10%

 

 

 

2,0

20%

 

 

5

10

100%

 

Đề kiểm tra

Thời gian làm bài: 90 phút

 

Phần I:  (2điểm)

  1. Bài thơ Tỏ lòng được viết theo thể thơ nào?
  2. Thơ lua bát; c. Thơ thất ngôn bát cú
  3. Thơ ngũ ngôn; d. Thơ thất ngôn tứ tuyêt
  4. Nghệ thuật bài thơ Tỏ lòng?
  5. Hình ảnh thơ hoành tráng c. Cô đọng, hám súc.
  6. Giạng điệu hào hùng d. Tấ cả các phương án trên
  7. Câu thơ :”Tam quân tỡ hổ khớ thụn ngưu” trong bài thơ “Thuật hoài” có sử dụng biện pháp nghệ thuật nào?  

a Nhân hóa  và ẩn dụ                                 b         So sánh và cường điệu

c So sánh và nhân hóa                         d    Cường điệu và nhân hoá

  1. Phạm Ngũ Lão “ thẹn” vỡ?

a;   Chưa xứng đáng là đấng nam nhi, quân tử;               c.  Vỡ chưa trả xong nợ nước

b..Chưa mưu lược, lập được công lớn như Vũ Hầu;       d.  Tất cả các phương án trên.

Phần II: Tự luận (8 điểm)

“Phạm Ngũ Lão tuy chỉ để lại hai bài thơ nhưng tên tuổi của ông vẫn thuộc hàng những tác giả danh tiếng nhất của văn học thời Trần bởi thơ của ông đó toát lên hào khớ Đông A – hào khí thời Trần một trong những thời đại hào hùng nhất của lịch sử Việt Nam”.

Hóy phõn tớch bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão để làm sáng tỏ nhận định trên.

  1. Hướng dẫn chấm:

 

Phần I:  (3 điểm)

Cõu hỏi 1 2 3 4
Đáp án d d b b

 

Phần II. Tự luận: (8 điểm)

1 . Yêu cầu về kĩ năng, hình thức

– Biết cách làm bài nghị luận văn học.

– Vận dụng tốt các thao tác lập luận vào kĩ năng tạo lập văn bản.

– Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu, diễn đạt.

– Có những cách viết sáng tạo, độc đáo.

– Bố cục mạch lạc, diễn đạt lưu loát, biểu cảm.

– Từ ngữ chính xác, có liên hệ, đối chiếu…

  1. Yêu cầu về kiến thức:

– Trên cơ sở hiểu biết về tác giả  và bài thơ học sinh có thể đưa ra cảm nhận, bày tỏ suy nghĩa của mình theo những cách khác nhau nhưng phải hợp lí, có sức thuyết phục. Sau đây là một số gợi ý:

– Giới thiệu khỏi quát về tỏc giả Phạm Ngũ Lão và bài thơ Tỏ  lòng

– Nêu ra luận đề: hào khí Đông A ( hào khí thời Trần)

*. Giới thiệu khái quát về đề tài Tỏ lòng (thuật hoài), nỗi lòng (cảm hoài)  trong văn học trung đại

*.  Hào khí Đông A

– Giải thích ngắn gọn khái niệm hào khí Đông A

– Hào khí Đông A trong bài thơ  Tỏ lòng được thể hiện qua:

+ Tầm vóc, tư thế, hành động của con người thời Trần lớn lao, kì vĩ.

– Con người xuất hiện với một tư thế hiên ngang lẫm liệt mang tầm vóc vũ trụ, con người kĩ vĩ như át cả không gian bao la (chú ý phân tích không gian, thời gian kì vĩ để làm nổi bật hỡnh ảnh con người)

– Có lí tưởng cao đẹp: có chí lớn lập công danh trong sự  nghiệp cứu nước, cứu dân

– Có nhân cách cao cả

+ Vẻ đẹp thời đại: Quân đội nhà Trần tượng trưng cho sức mạnh dân tộc, với khí thế hào hùng mang tinh thần quyết chiến, quyết thắng

=> Vẻ đẹp con người cá nhân và vẻ đẹp thời đại có sự hòa quyện

– Thành công nghệ thuật của bài thơ (0,5 điểm):

+ Thủ pháp gợi, thiên về ấn tượng bao quát, đạt tới độ súc tích cao

+ Bút pháp nghệ thuật: mang tính sử thi với hình tượng thơ lớn lao, kĩ vĩ

* Khẳng định bài thơ đó thể hiện được lí tưởng cao cả và khí phách anh hùng của tác giả – một vị tướng giỏi thời Trần đồng thời bài thơ cũng toát lên hào khí Đông A – hào khí thời Trần, hào khí của đội quân đó từng khắc lờn cánh tay hai chữ “Sát Thát”.

  1. Cách cho điểm:

– Điểm 7-8: đáp ứng tốt các yêu cầu nêu trên, có thể còn vài sai sót nhỏ về diễn đạt.

– Điểm 5-6: đáp ứng phần lớn các yêu cầu trên, còn mắc nhiều lỗi về diễn đạt, chính tả.

– Điểm 3-4: đáp ứng được một nửa các yêu cầu trên, cũn mắc nhiều lỗi về diễn đạt, chính tả…

– Điểm 1-2: Không đáp ứng được một phần các yêu cầu trên, còn mắc nhiều lỗi về diễn đạt, chính tả…

– Điểm 0: không làm bài.

(Tài liệu sưu tầm )

Xem thêm :

  1. Tuyển tập đề thi ngữ văn khối 10
  2.  Tuyển tập đề thi ngữ văn khối 11
  3.  Tuyển tập đề thi ngữ văn khối 12

Hình ảnh trang nam nhi thời Trần trong bài Thuật Hoài( Tỏ lòng )- Phạm Ngũ Lão

Đề bài : Cảm nhận của em về Hình ảnh trang nam nhi thời Trần trong bài Thuật Hoài- Phạm Ngũ Lão

Hướng dẫn chung :

Mở bài : Giới thiệu sơ lược về tác giả Phạm ngũ Lão và bài thơ Thuật hoài.

Giới thiệu vấn đề Nghị luận  :Hình ảnh trang nam nhi thời Trần trong bài Thuật Hoài- Phạm Ngũ Lão

Thân bài :

Ý khái quát :

+Vài nét về tác giả Phạm Ngũ Lão : Ý này có thể tham khảo phần Tiểu dẫn SGK

+ Vài nét về hoàn cảnh sáng tác và nội dung chính của bài thơ Thuật hoài

Phân tích cụ thể :Hình ảnh trang nam nhi thời Trần trong bài Thuật Hoài- Phạm Ngũ Lão

Phân tích , cảm nhận theo bố cục 2 phần :

+ Hai câu đầu : Hình ảnh trang nam nhi thời Trần và sức mạnh của quân đội nhà Trần

+ Hai câu cuối : Quan niệm về chí làm trai, tấm lòng của người anh hùng với dân, với nước.

->> Chú ý phân tích cả phần nghệ thuật

Kết bài : Đánh giá về vẻ đẹp  trang nam nhi thời Trần trong bài Thuật Hoài- Phạm Ngũ Lão. Khẳng định giá trị bài thơ.

Bài làm :

Hình ảnh trang nam nhi thời Trần trong bài Thuật Hoài( Tỏ lòng )- Phạm Ngũ Lão

Sách Đại Việt Sử kí toàn thư ghi: Phạm Ngũ Lão là tướng đời Trần, tham gia cả hai cuộc kháng chiến chống Nguyên “đánh đâu thắng đấy”. Ông lo việc binh, đồng thời “lại thích đọc sách, ngâm thơ”.  Cũng như nhiều danh tướng đời Trần, Phạm Ngủ Lão vừa cầm quân đánh giặc. vừa viết những áng văn thơ để lại muôn đời Trong đó nổi tiếng hơn cả là bài Thuật hoài. Đọc bài thơ này, chúng ta cảm nhận được vẻ đẹp hùng dũng cao cả của người trai đời Trần.

Cũng như Cảm hoài, Ngôn hoài; Thuật hoài là một loại thơ trữ tình “ngôn chí” khá phổ biến trong thơ ca thời trung đại, để bày tỏ những ý nghĩ, những tình cảm lớn của tác giả (Thuật hoài có nghĩa là Tỏ lòng). Đến nay, chúng ta chưa nắm được đích xác hoàn cảnh sáng tác của bài thơ. Tuy nhiên, dựa vào nội dung của tác phẩm có thể khẳng định bài thơ này ra đời trong không khí quyết chiến, quyết thắng của quân và dân đời Trần, khi lực lượng của  nước Đạị Việt đã lớn mạnh nhưng trong chiến đấu chống giặc Nguyên – Mông chưa đi đến thắng lợi cuốí cùng.

Bài thơ viết theo  thể tứ tuyệt luật Đường, 4 câu, mỗi câu 7 âm tiết. Hai câu đầu được dịch là:

Múa giáo non sông trải mấy thu

Ba quân hùng khí át sa0 Ngưu.

Trong nguyên bản, hai câu này là:

Hoành sóc giang san cáp kỉ thu

Tam quân tì hổ  khí thôn Ngưu.

“Hoành sóc” được    dịch thành “múa giáo” dễ làm cho  người đọc hiểu không    hoàn toàn đúng. “Hoành sóc” tức là cầm    ngang ngọn giáo, cả câu có nghĩa là *cầm ngang ngọn giáo (bảo vệ) non sông đã mấy mùa thu. Chỉ cần 7 chữ nhưng câu thơ trên đây tả gợi được hình ảnh của người trai đời Trần và cũng chính là của Phạm Ngũ Lão với tư thế hùng düng, luôn kiên cường,sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, lập nên những chiến công huy hoàng. Dẫu họ đã ngoan cường chiến đấu bao năm tháng trải mấy thâu” – mấy mùa thu rồi) nhưng vẫn bừng bừng một khí thế, một sức mạnh hiên ngang bất khuất. Hình ảnh người tráng sĩ càng trở nên chói lọi bởi hùng khí của ba quân Ba quân chính là hình ảnh của cả thế hệ Phạm Ngũ Lão, của cả dân tộc đang sống trong hào khí Đông A. Sức mạnh của “ba quân’ được ví như sức mạnh ghê gớm của hổ báo làm át sao  Ngưu. Còn một cách hiểu khác không kém phần ý nghĩa :Sức mạnh của ba quân như hổ báo có thể nuốt trôi được cả trâu. Như vậy, câu thứ nhất nói về cá nhân người trai đời Trần câu thứ hai nói về dân tộc, về cộng đồng. Cá nhân có vẻ đẹp hiên ngang của đất  trời, sông núị, vượt qua mọi thử thách của thời gian, cộng đồng, dân tộc có tầm vóc , sức mạnh của vũ trụ. Cá nhân với cộng đồng, với dân tộc có quan hệ mật thiết hài hòa. Hình ảnh người tráng sĩ oai hùng tạo nên khi thế ngất trời của ba quân; đồng thời khí thế của ba quân lại Làm cho hình ảnh người tráng sĩ thêm lộng lẫy Mỗi con người đều tìm thấy bóng dáng mình trong hào khí chung của dân tộc. Đây là một thời đại cao đẹp của những con người cao đẹp!

Như vậy, chỉ bằng hai câu thơ, Phạm Ngũ Lão đã phác họa thành công tư thế của nhân vật trữ tình – chàng trai đờỉ Trần và tư thế của dân tộc ta trong một thời điểm lịch sử với  một tầm vóc lớn và quyết tâm lớn. Nhân vật trữ tình ở đây mang vẻ đẹp sử thi, tầm vóc sử thi .Phạm Ngũ Lão không chỉ phát ngôn nhân danh cá nhân mình mà ông còn nhân danh cả dân tộc, cả thời đại

Hình ảnh người tráng sĩ cắp giáo tung hoành nơi trận mạc, hình  ảnh ba quân khí thế ngất trời ta đã gặp nhiều trong văn học trung đại của Việt Nam cũng như của Trung Quốc,(Chàng chinh phu trong Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn cũng từng “Múa gươm rượu tiễn chưa tàn – ngang lưng ngọn giáo vào ngàn hang beo”. Nói về tướng sĩ trong bài Thập giới cô hồn quốc ngữ văn, Lê Thánh Tông cũng có câu “Miệng thòm thèm giương dạ nuốt trâu – Chí hăm hở dang tay bắt vượn”). Song, nếu ở những câu vừa dẫn là những hình ảnh ước lệ nặng tính chất ngao du khoa trương, thì trong Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão là những hình ảnh tuy cũng thật kì vĩ nhưng là những hình ảnh chân thực, hiện thực, bởi người đọc biết rằng chúng ra đời trong không khí quyết chiến, quyết thắng vĩ đại của quân dân ta đời Trần. Tại Hội nghị Bình Than, các bô lão Đại Việt đã nhất tể thể hiện tinh thần ấy. Và mỗi binh sĩ thời ấy đều thích hai chữ “sát thát” (giết giặc Nguyên) vào cánh tay.

Tiếp nối một cách tự nhiên mạch cảm xúc ở hai câu đầu, hai câu sau thể hiện khát vọng lập được nhiều chiến công to lớn vì đất nước của vị tướng – thi sĩ :

Công danh nam tử còn vương nợ
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu.

Người trai đời Trần không chỉ cao đẹp ở tư thế sẵn sàng chiến đấu, mà còn cao đẹp bởi có một. quan niệm nhân sinh tích cực. Lập công chính là làm nên sự nghiệp lớn trong công cuộc bảo vệ và dựng xây đất nước. Có công thì mới được ghi danh (têii). Mỗi con người chân chính, đặc biệt đối với những người làm trai, niềm khao khát làm nên sự nghiệp, lưu lại tên tuổi mình cho hậu thế là niềm khao khát chính đáng. Đây chính là động lực to lớn để không ít người có sức mạnh vượt, qua những thử thách cam go lập nên những kì tích vang dội, thúc đẩy sự tiến bộ của toàn xã hội. Chính vì the mà sau Phạm Ngũ Lão 6 thế kỉ, Nguyễn Công Trứ cũng khẳng định:

Làm trai sống ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông.

Và không hiểu tự thuở nào ông cha ta vẫn thường khích lệ cháu con: “Làm trai cho đáng nên trai – Xuống đông, đông tĩnh; lên đoài, đoài tan”. Đây chắc chắn không phải là thói hátn danh phàm tục, trái lại là một quan niệm nhân sinh tiến bộ trong truyền thống dân tộc.
Ở đây, cái hay không chỉ ở nội dung toát ra từ câu thơ của Phạm Ngũ Lão mà còn ở chính con người tác giả. Ta đều biết, viên tướng làng Phù ủng này là người “công danh” lừng lẫy đánh đông dẹp bắc, tham gia cả hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên, cho đến khi tuổi đã cao ông vẫn còn hăng hái cầm quân đánh tan bọn xâm lược quấy rối biên giới phía Tây Tổ quốc, và được phong chức Điện suý thượng tướng quân (1302), được ban tước Quan nội hầu (1318). Thế nhưng, Phạm Ngũ Lão vẫn cảm thấy mình còn “vương nợ” với đời, còn phải “thẹn” khi nghe chuyện Khổng Minh Gia Cát Lượng 1 một nhân vật siêu việt, có công lớn giúp Lưu Bị thời Tam quốc chia ba thiên hạ. Điều này đủ biết khát vọng và nhân cách của tác giả cao cả biết nhường nào? Phải chăng, chính vì ý thức được món nợ chưa trả xong đối với dân tộc, đối với đất nước, chính vì biết “thẹn” trước những nhân vật lẫy lừng trong sử sách đã tạo nên tầm vóc tuyệt vời của nhà thơ – chàng trai đời Trần, người anh hùng Phạm Ngũ Lão với những chiến tích vang dội và với bài Thuật hoài bất hủ này.
Ra đời cách chúng ta đã 7 thế kỉ, song bài Thuật hoài luôn luôn mới mẻ và hấp dẫn, lay động con tim của bao thế hệ người đọc. Bởi vì, qua bài thơ, độc giả bắt gặp hình ảnh vừa chân thực vừa hoành tráng của người trai thời Trẩn với vẻ đẹp thật là hùng vĩ cao cả.

(Bài viết sưu tầm)

Xem thêm : Soạn bài tỏ lòng ngữ văn 10

Đề thi học sinh giỏi về bài Cảnh ngày hè( Nguyễn Trãi) và Tỏ lòng ( Phạm Ngũ Lão)

Đề thi hay và khó về hai bài thơ Cảnh ngày hè( Nguyễn Trãi) và Tỏ lòng ( Phạm Ngũ Lão)

Đề thi dành cho học sinh giỏi môn văn.

Đề bài :

Bàn về quan niệm  văn học” Thi  ngôn chí”, Phùng Khắc Khoan nhận xét:”Chí mà ở đạo đức thì tất là phát ra lời lẽ hồn hậu, chí mà ở sự nghiệp thì tất là nhả ra khí phách hào hùng…” (Dẫn theo Trần Đình Sử, Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội, năm 1999, trang 129).

Anh /chị có suy nghĩ gì về ý kiến trên? Qua phân tích bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão và Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi để làm rõ vẻ đẹp của thơ nói chí như Phùng Khắc Khoan nhận xét.

ĐÁP ÁN

  1. Yêu cầu về kỹ năng

– Học sinh vận dụng được các kĩ năng làm một bài văn nghị luận về tác phẩm thơ, biết kết hợp nhuần nhuyễn các thao tác lập luận: giải thích, chứng minh, bình luận, phân tích vấn đề.

– Bài viết cần có luận điểm rõ ràng, luận cứ đầy đủ, lập luận chặt chẽ, biết kết hợp nghị luận với biểu cảm.

– Diễn đạt mạch lạc, dùng từ chính xác, không mắc lỗi chính tả và viết câu. Khuyến khích những bài viết sáng tạo, chữ đẹp.

Yêu cầu về kiến thức

Học sinh đảm bảo được một số ý cơ bản sau:

  1. Giải thích quan điểm văn học “Thi ngôn chí” (Thơ nói chí)

– Đây là biểu hiện về phương diện nội dung tư tưởng của tính qui phạm – đặc điểm nổi bật của văn học trung đại. Việc “ngôn chí” được nêu lên hàng đầu như một yêu cầu tu dưỡng, khẳng định lí tưởng, lẽ sống, hoài bão, tấm lòng. Người đọc thơ là “quan chí” (xem chí) để trau đức.

– Chí là chỗ phân biệt nhân cách, cá tính con người. Tìm hiểu chí trong thơ trung đại chính là tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người: “Chí mà ở đạo đức thì tất là phát ra lời lẽ hồn hậu, chí mà ở sự nghiệp thì tất là nhả ra khí phách hào hùng…”  

  1. Phân tích vẻ đẹp của thơ nói chí qua Tỏ lòng (Phạm Ngũ Lão) và Cảnh ngày hè (Nguyễn Trãi)

a) Điểm chung của hai bài thơ: Vẻ đẹp của hùng tâm tráng chí.

b) Phân tích:

* Tỏ lòng – Phạm Ngũ Lão:

– Giới thiệu tác giả, hoàn cảnh sáng tác tác phẩm: Phạm Ngũ Lão là vị tướng trẻ tài giỏi thời Trần, bài thơ ra đời trong khí thế quyết chiến quyết thắng của nhân dân Đại Việt trong cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên lần thứ hai.

– Phân tích giá trị nội dung tư tưởng của bài thơ:

Phạm Ngũ Lão làm bài Thuật hoài vào cuối năm 1284, khi cuộc kháng chiến lần thứ hai đã đến rất gần. Bài thơ này là một tác phẩm nổi tiếng, được lưu truyền rộng rãi vì nó bày tỏ khát vọng mãnh liệt của tuổi trẻ trong xã hội phong kiến đương thời. Nội dung bài thơ khắc họa nổi bật vẻ đẹp của một con người có sức mạnh, có lí tưởng, nhân cách cao cả cùng khí thế hào hùng của thời đại . Bài thơ thể hiện quan niệm sống tích cực :làm trai phải trả cho xong món nợ công danh, có nghĩa là phải thực hiện đến cùng lí tưởng trung quân, ái quốc.Bài thơ là lời bày tỏ lí tưởng cao cả, khí phách anh hùng, chí hướng lập thân của Phạm Ngũ Lão. Nỗi thẹn của người anh hùng chính là sự thể hiện hoài bão, khát vọng lập công lớn và lưu lại tiếng thơm muôn đời.Bài thơ có tác dụng giáo dục sâu sắc về nhân sinh quan và lối sống tích cực đối với thanh niên mọi thời đại.

* Cảnh ngày hè – Nguyễn Trãi:

– Giới thiệu tác giả, hoàn cảnh sáng tác tác phẩm: Nguyễn Trãi là vị anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Là bậc công thần dưới triều vua Lê Thái Tổ, tuy nhiên do bị bọn gian thần dèm pha nên có thời gian dài Nguyễn Trãi là “nhàn quan”. Bài thơ có thể ra đời trong cảnh ngộ đó.

– Phân tích giá trị nội dung tư tưởng của bài thơ: Cảnh ngày hè là một bức tranh thiên nhiên và cuộc sống không chỉ vẽ bằng cặp mắt tinh tường mà còn bằng một tâm hồn rộng mở: những sắc màu tươi sáng, rực rỡ; những nét vẽ táo bạo, tràn đầy sức sống; khung cảnh cuộc sống gợi vẻ đẹp thanh bình, ấm no. Qua đó, hiện lên cái nhìn của một tâm hồn thiết tha yêu đời, nặng lòng cùng dân, nước. Nguyễn Trãi tự “răn mình” luôn thực hiện lí tưởng nhân nghĩa vì độc lập của nước, vì hạnh phúc của dân.Lí tưởng mà Nguyễn Trãi ôm ấp là giúp vua làm cho đất nước thái bình, nhân dân thịnh vượng. Lí tưởng cao đẹp ấy là nguồn động viên mạnh mẽ khiến ông vượt qua mọi thử thách, gian nan trên đường đời. Lúc được nhà vua tin dùng cũng như khi thất sủng, nỗi niềm lo nước, thương dân luôn canh cánh bên lòng ông. Giông bão cuộc đời không thể dập tắt nổi ngọn lửa nhiệt tình trong tâm hồn người chí sĩ tài đức vẹn toàn ấy.

  1. Nhận xét, đánh giá chung

– Quan điểm văn học “Thi ngôn chí” đã khiến cho nhiều lớp độc giả đời sau thưởng thức và đánh giá thơ ca trung đại Việt Nam chủ yếu ở chức năng giáo dục, coi trọng mục đích giáo huấn. Thực chất thơ ca nói chí cũng chính là thể hiện tình cảm, cảm hứng phong phú, đa chiều của con người trung đại.

– Những điệu tâm hồn đó được thể hiện thành một hình thức nghệ thuật độc đáo, giàu cá tính sáng tạo, đặc biệt là giọng điệu riêng.

Kết bài : Khẳng định giá trị của hai bài thơ.

Xem thêm :

Đề thi học kì 1 môn ngữ văn lớp 10

ĐỀ THI HỌC KÌ I – NĂM HỌC 2015-2016 Môn: Ngữ Văn – Lớp 10

Thời gian: 90 phút (Không kể thời gian phát đề)

Câu 1: Cho đoạn hội thoại:

Tại  khu lớp học trường X giờ ra chơi, một đám học sinh đang ngồi nói chuyện:

-Lan: Ê tụi may! Nghe nói ngày mai được nghỉ học đấy.

-Hoa: Thiệt hông mày? Nói xạo tao cho đi Tây Thiên đó cưng.

-Lan: Tao xạo mày làm gì? Để được hưởng bổng lộc nhà nước hả? (cười lớn). Mai nghỉ đi Kara xả xì trét đi tụi bay!

-Hùng: Biết nghỉ không mà rủ nhau đi chí chóe vậy mấy má. Mất công mấy bữa được “miễn học” cả lũ thì toi cả đám.

-Hoa: Mai mà không nghỉ, mấy đứa mình đè đầu con này (Lan) ra, xử đẹp nó luôn, cho hai hàng tiền đạo của nó đi công tác chơi. Hi!

-Hùng: Chuẩn không cần chỉnh.

 

Đọc đoạn hội thoại và trả lời câu hỏi:

Tính cụ thể, tính cảm xúc, tính cá thể trong phong cách ngôn ngữ sinh hoạt được thể hiện như thế nào trong đoạn hội thoại trên?

Câu 2: Viết bài văn khoảng một trang giấy thi trình bày suy nghĩ của em về hiện tượng xả rác bừa bãi ở nơi công cộng hiện nay?

Câu 3: Vẻ đẹp con người và thời đại trong bài thơ “Tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão?

Phiên âm   

“Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu

Tam quân tì hồ khí thôn ngưu

Nam nhi vị liễu công danh trái

Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu”

              Dịch thơ

 

Múa giáo non sông trải mấy thu

Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu

Công danh nam tử còn vương nợ

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”

-Hết-

ĐÁP ÁN ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ I – 2015-2016

MÔN : NGỮ VĂN             LỚP : 10

THỜI GIAN LÀM BÀI : 90 PHÚT

CÂU ĐÁP ÁN ĐIỂM
Câu 1

2 điểm

Dấu hiệu phong cách ngôn ngữ sinh hoạt được thể hiện qua:

-Tính cụ thể:

+Hoàn cảnh giao tiếp: Tại khu lớp học trường X, giờ ra chơi

+Nhân vật giao tiếp: Lan, Hoa, Hùng (quan hệ bạn bè bình đẳng)

+Nội dung giao tiếp: Vấn đề nghỉ học

-Tính cảm xúc:

+Sử dụng các từ ngữ biểu cảm: tụi bay, tụi may, cả lũ, mấy má, cưng, đi Tây Thiên, hưởng bổng lộc nhà nước, kara xả xì trét, hai hàng tiền đạo đi công tác chơi.

-Tính cá nhân:

+Ngôn ngữ mang tính chất thân mật suồng sã của bạn bè ngang hàng: ê mày, mấy má, tụi may, tụi bay, cả lũ….

 

 

 

0,5d

0,25d

0,25d

 

0,5d

 

 

 

0,5d

 

 

Câu 2:

3 điểm

MB: Giới thiệu vấn đề nghị luận

TB:

-Giải thích đề bài: Xả rác bừa bãi là hiện tượng xả rác không đúng nơi quy định, không vứt rác vào thùng mà bỏ lung tung, thậm chí vứt ngay xuống đường phố

-Thực trạng:

+ Một người ngang nhiên vứt rác bừa bãi ra đường.

+ Rác bay từ trên gác xuống đường bất chấp ai ở bên dưới.

+ Vứt rác xuống hồ.

+ Những nơi nhiều khách  tham quan du lịch rác ở khắp nơi…

-Nguyên nhân:

a.     Chủ quan:

-Do thói quen đã có từ lâu đời.

-Do thiếu hiểu biết.

-Do thiếu ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường, ích kỉ, lười nhác, thiếu lòng tự tôn dân tộc, thiếu một tấm lòng…

b.                Khách quan:

-Do đất nước còn nghèo nàn, lạc hậu – Giờ thu gom rác không đáp ứng được với tất cả người dân.

-Không có chế tài xử phạt nghiêm khắc.

-Hậu quả:

+Tạo ra một thói quen xấu trong đời sống văn minh hiện đại.
+Gây ô nhiễm môi trường.

+ Bệnh tật phát sinh bạc…

+ Ảnh hưởng đến cảnh quan, thẩm mĩ, mất đi vẻ xanh-sạch-đẹp vốn có
+ Ngành du lịch gặp khó khăn, hình ảnh dân tộc, đất nước bị giảm đi ấn tượng tốt đẹp.

-Bài học: nêu được bài học cho riêng mình

KB: Khẳng định lại vấn đề

0,25d

 

0,25d

 

 

0,75d

 

 

 

 

 

1,0d

 

 

 

 

 

 

 

 

0,25d

 

 

 

 

 

 

 

0,25d

0,25d

Câu 3:

5 điểm

MB: giới thiệu tác giả, tác phẩm và yêu cầu của đề

TB:

– Vẻ đẹp con người thời Trần với :

+ Tư thế hiên ngang, tầm vóc lớn lao, vẻ đẹp kì vĩ mang tầm vóc vũ trụ.

+Hành động lớn lao kì vĩ

+ Lý tưởng cao cả, khát vọng lập công danh để thoả “chí nam nhi”, cũng là khát vọng được đem tài trí “tận trung báo quốc” – thể hiện lẽ sống lớn của con người thời đại Đông A.

+Cái tâm cái chí sáng ngời nhân cách

Vẻ đẹp con người thời đại:

+ Khí thế hào hùng, tinh thần quyết chiến của quân đội nhà Trần.

+ Hình ảnh tráng sĩ lồng trong hình ảnh “ba quân” mang ý nghĩa khái quát, gợi ra hào khí dân tộc thời Trần – “hào khí Đông A”.

Nghệ thuật:

+ Hình ảnh thơ hoành tráng, thích hợp với việc tái hiện khí thế hào hùng của thời đại và tầm vóc, chí hướng của người anh hùng.

+  Ngôn ngữ cô đọng, hàm súc, có sự dồn nén cao độ về cảm xúc.

KB:

Đánh giá chung về văn bản

0,25d

 

2,0d

 

 

 

 

 

 

 

2,0d

 

 

 

0,5d

 

 

 

0,25d

Xem thêm : Tuyển tập đề thi ngữ văn khối 10 

Tuyển tập đề thi về bài tỏ lòng ngữ văn 10