Đề thi học kì 2 môn ngữ văn lớp 10 có ma trận đáp án

ĐỀ THI HỌC KỲ 2, NĂM HỌC 2016- 2017

MÔN:   NGỮ VĂN 10

                                                                             Thời gian: 120 phút, không kể phát đề

MỤC TIÊU

  1. Kiến thức: Kiểm tra mức độ đạt chuẩn kiến thức của học sinh cụ thể như sau:

– Kiến thức làm văn:  phương thức biểu đạt

– Kiến thức văn học: Tác giả, tác phẩm, đoạn trích trong tác phẩm

– Kiến thức đời sống:  Những hiểu biết và trải nghiệm hình thành và phát triển nhân cách, đạo đức, lối sống.

  1. Kĩ năng:

– Kĩ năng đọc hiểu văn bản

– Kĩ năng tạo lập văn bản (viết đoạn văn nghị luận xã hội, viết bài văn nghị luận văn học)

HÌNH THỨC ĐỀ KIỂM TRA: Tự luận

III. THIẾT LẬP MA TRẬN

 

 

 

Nội dung                     

Mức độ cần đạt  

Tổng số

   Nhận biết Thông hiểu  

Vận dụng

Vận dụng

    cao

 

I. Đọc hiểu – Ngữ liệu: Văn bản nghị luận

– Tiêu chí lựa chọn ngữ liệu: 01 văn bản  có độ dài khoảng150 chữ

Nhận diệnphương thức biểu đạt,nhận biết thông tin trong văn bản.  Hiểu được một vài khía cạnh của nội dung văn bản

 

Nhận xét, đánh giá thái độ của tác giả thể hiện trong đoạn trích
 

Tổng

Số câu

 

2    1  1 4
Số điểm 1,0 1,0 1,0 3,0
Tỉ lệ 10% 10% 10% 30%
    II. Làm văn  

Câu 1. Nghị luận xã hội

Khoảng 200 chữ

– Trình bày suy nghĩ về vấn đề xã hội đặt ra trong văn bản ở phần đọc hiểu

Viết đoạn văn nghị luận xã hội
Câu 2.

Nghị luận văn học

Nghị luận về một đoạn thơ

Viết bài văn nghị luận văn học
 

Tổng

Số câu 1 1 2
Số điểm  

2,0

 

5,0

 

7,0

Tỉ lệ 20% 50% 70%
Tổng cộng Số câu 2 1 2 1 6
Số điểm 1,0 1,0 3,0 5,0 10,0
Tỉ lệ 10% 10% 30% 50% 100%

 

BIÊN SOẠN CÂU HỎI THEO MA TRẬN

Đọc – hiểu (3.0 điểm)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu

“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xuống thấp. Vì vậy, các đấng thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên. Kẻ sĩ quan hệ với quốc gia trọng đại như thế, cho nên quý chuộng kẻ sĩ không biết thế nào là cùng. Đã yêu mến cho khoa danh, lại đề cao bằng tước trật. Ban ân rất lớn mà vẫn cho là chưa đủ. Lại nêu tên ở tháp Nhạn, ban cho danh hiệu Long hổ,bày tiệc Văn hỉ. Triều đình mừng được người tài, không có việc gì không làm đến mức cao nhất.

(Trích Hiền tài là nguyên khí của quốc gia- Thân Nhân Trung, Ngữ văn 10, tập 2, tr.31)

Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính trong đoạn trích trên.

Câu 2. Nêu những việc làm của các đấng thánh đế minh vương thể hiện sự trọng đãi hiền tài trong đoạn trích.

Câu 3. Anh/chị hiểu như thế nào về câu Hiền tài là nguyên khí của quốc gia?

Câu 4. Nhận xét về thái độ của tác giả đối với người hiền tài được thể hiện trong đoạn trích.

Làm văn (7.0 điểm)

Câu 1 (2.0 điểm)

Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về vai trò của hiền tài được gợi ra từ đoạn trích ở phần Đọc– hiểu.

Câu 2 (5.0 điểm)

Cảm nhận của anh/chị về tâm trạng người chinh phụ trong đoạn thơ sau:

Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,

Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.

     Ngoài rèm thước chẳng mách tin,

Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?

Đèn có biết dường bằng chẳng biết,

Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.

     Buồn rầu nói chẳng nên lời,

Hoa đèn kia với bóng người khá thương.

(Trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ, Ngữ văn 10, tập 2, tr 87)

 

HƯỚNG DẪN CHẤM

Phần Câu Nội dung Điểm
I. Đọc hiểu 1 Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận 0.50
2 Những việc làm của các đấng thánh đế minh vương  để trọng đãi người hiền tài: ban khoa danh, ban chức tước và cấp bậc, nêu tên ở tháp Nhạn, ban danh hiệu Long hổ, bày tiệc Văn hỉ. 0.50
3 Câu “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” được hiểu là:

– Hiền tài: người tài cao, học rộng, có đạo đức

– Nguyên khí: khí chất ban đầu làm nên sự sống còn của sự vật

Hiền tài là nguyên khí của quốc gia: Hiền tàilà những người có vai trò quyết định đối với sự thịnh suy của đất nước.

1.00

0.25

0.25

0.50

 

4  Hs nhận xét về thái độ của tác giả:

Khẳng định vai trò của hiền tài

– Trân trọng, đề cao hiền tài

1.00

0.50

0.50

II.Làm văn 1 Nghị luận về vai trò của hiền tài

a. Đảm bảo thể thức của một đoạn văn

b. Xác định đúng vấn đề nghị luận

c. Triển khai hợp lí nội dung đoạn văn: vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng. Có thể viết đoạn văn theo định hướng sau:

– Hiền tài là những người tài cao, học rộng, có đạo đức.

– Vai trò của hiền tài:

+Hiền tài là nguyênkhí của quốc gia: hiền tài là khí chất ban đầu làm nên sự sống còn và phát triển của đất nước. Hiền tài có quan hệ lớn đến sự thịnh suy của đất nước.

+ Trí tuệ vượt trội cùng với khát vọng của hiền tài sẽ tạo ra những đột phá, những bước ngoặt lớn cho đất nước.

+ Ở thời đại nào thì hiền tài cũng có vai trò quan trọng đối với đất nước. Vì thế, luôn cần có những chính sách trọng đãi hiền tài.

– Rút ra bài học nhận thức và hành động

d. Sáng tạo: cách diễn đạt độc đáo, có suy nghĩ riêng về vấn đề nghị luận

e. Chính tả, dùng từ đặt câu: đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa tiếng Việt

2.00

0.25

0.25

1.00

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

0.25

 

0.25

 

2 Tâm trạng của người chinh phụ trong đoạn thơ

a. Đảm bảo cấu trúc của một bài văn nghị luận: có đầy đủ Mở bài, Thân bài, Kết bài. Mở bài giới thiệu được tác giả, tác phẩm; Thân bài triển khai được các luận điểm làm rõ được nhận định; Kết bài khái quát được nội dung nghị luận.

b. Xác định đúng vấn đề nghị luận

c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; thể hiện sự cảm nhận sâu sắc và vận dụng tốt các thao tác lập luận; có sự kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng. Thí sinh có thể giải quyết vấn đề theo hướng sau:

* Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích

* Cảm nhận tâm trạng của người chinh phụ

– Đoạn thơ thể hiện tâm trạng cô đơn, buồn rầu của người chinh phụ với những biểu hiện cụ thể:

+ Đi đi lại lại trong hiên vắng để chờ đợi tin tức của chồng. Nhưng càng trông càng mất hút.

+ Những hành động lặp đi lặp lại một cách vô nghĩa: “rủ thác đòi phen”: buông rèm rồi lại cuốn rèm.

+ Đèn là người bạn duy nhất của người chinh phụ. Tả đèn là để nhấn mạnh sự trôi chảy của thời gian và sự cô đơn của con người

– Nghệ thuật: Điệp ngữ bắc cầu; câu hỏi tu từ phù hợp với việc diễn tả nỗi buồn triền miên, kéo dài lê thê trong thời gian như không bao giờ dứt, khiến cho lời than thở và nỗi khắc khoải đợi chờ trong nàng day dứt không yên.

– Tác giả còn diễn tả nội tâm của người chinh phụ qua ngoại hình: vẻ mặt buồn rầu, không nói nên lời, dáng vẻ ủ rủ, thật đáng thương và tội nghiệp.

* Đánh giá chung

Đoạn thơ thể hiện sự đồng cảm của tác giả với nỗi buồn, sự cô đơn và khát khao hạnh phúc lứa đôi của người chinh phụ khi chồng phải đi chiến trận biền biệt không về. Đó chính là giá trị nhân đạo, nhân văn sâu sắc của đoạn trích nói riêng và tác phẩm nói chung.

d. Sáng tạo: cách diễn đạt độc đáo, có suy nghĩ riêng về vấn đề nghị luận

e. Chính tả, dùng từ đặt câu: đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa tiếng Việt

5.00

0.50

 

 

 

 

0.50

3.00

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

0.50

 

0.50

( Đề sưu tầm)

Xem thêm :

Đề thi khối 10

Đề thi khối 11

Đề thi khối 12

Đề thi kết thúc học kì 1 môn Ngữ văn lớp 11

 ĐỀ THI HẾT HỌC KỲ I  MÔN THI: NGỮ VĂN – KHỐI 11

Đề đọc hiểu Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ, Cảm nhận về cảnh cho chữ trong Chữ người tử tù- Nguyễn Tuân

ĐỀ THI CHÍNH THỨC                Thời gian: 90 phút, không kể thời gian giao đề

( Đề thi gồm 2 câu 1 trang )                         Họ và tên:  …………………………………….           Số báo danh: …………

Câu 1 ( 3 điểm ).

Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi:

 Gà eo óc gáy sương năm trống,
Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên.
Khắc giờ đằng đẵng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.

  1. Đoạn thơ trên được trích từ tác phẩm nào? Tác giả là ai?
  2. Đoạn thơ sử dụng phương thức biểu đạt nào?
  3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp nghệ thuật sử dụng trong đoạn thơ ?

Câu 2 ( 7 điểm )

Trình bày cảm nhận của em về cảnh cho chữ – một “ cảnh tượng xưa nay chưa từng có ”  trong tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân.

———————- Hết————————–

MÔN THI: NGỮ VĂN – KHỐI 11

HƯỚNG DẪN CHẤM

 Câu                                         Nội dung Điểm
  1a – Đoạn thơ được trích từ đoạn Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ ( Trích Chinh phụ ngâm )

– Nguyên tác: Đặng Trần Côn

Bản diễn Nôm: Đoàn Thị Điểm

   0.75
  1b – Đoạn thơ sử dụng phương thức biểu cảm.

->> Tâm trạng trống trải, buồn rầu, nỗi kinh hãi ngại ngùng của người chinh phụ khi sống trong cảnh cô đơn.

   0.75
  1c – Từ láy:

+ Eo óc ( láy phụ âm đầu khuyết ) : Miêu tả tiếng gà gáy từ xa vọng lại, nhấn mạnh không gian tĩnh mịch, thời gian đã chuyển dần về sáng, người chinh phụ thao thức suốt đêm không ngủ.

+ Phất phơ: miêu tả tán cây hòe khẽ lay động trong gió nhẹ ->> không gian hoang vắng, tĩnh mịch, làm tăng thêm nỗi trống trải trong lòng người.

+ Đằng đẵng, dằng dặc : nhấn mạnh khoảng thời gian dài, nỗi buồn miên man vô tận, trải dài theo thời gian năm tháng, từ láy nhấn mạnh, kéo dài thêm sự xa cách.

+ Mê mải : lòng dạ, tâm trí miên man không tập trung của người chinh phụ.

– So sánh : Khắc giờ – như niên

Mối sầu – Tựa miền biển xa

– Ý nghĩa:

+ Đó là sự cảm nhận thời gian qua tâm trạng, so sánh nhấn mạnh nỗi buồn trong lòng người chinh phụ, vì mong ngóng, khắc khoải đợi chờ nên cảm giác thời gian trôi chậm.

+ So sánh mối sầu với khoảng không gian rộng lớn, vô tận để nhấn mạnh nỗi buồn trong lòng người.

 

   1.5
   2 – Giới thiệu tác giả Nguyễn Tuân, tác phẩm Chữ người tử tù, cảnh cho chữ.

– Cảm nhận cảnh cho chữ – một “ cảnh tượng xưa nay chưa từng có ” ( Kết hợp thao tác phân tích và bình luận ) :

+ Giới thiệu sơ qua bối cảnh cho chữ: thời gian, không gian, người cho chữ, người nhận chữ…

+ Việc cho chữ vốn là việc thanh cao, ở đây sáng tạo nghệ thuật lại diễn ra vào lúc đêm khuya, trong nhà ngục tối tăm chật hẹp, ẩm ướt, cái đẹp được sáng tạo giữa chốn hôi hám, nhơ bẩn ; thiên lương cao cả lại tỏa sáng ở một nơi mà bóng tối và cái ác đang ngự trị. ( Dẫn chứng )

+ Người nghệ sĩ tài hoa say mê viết từng nét chữ là một tử tù nhưng uy nghi, ung dung đĩnh đạc, kẻ nắm giữ luật pháp (viên quản ngục) thì “ khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ ”, thầy thơ lại “ run run bưng chậu mực ”… (Dẫn chứng )

+ Trật tự, kỉ cương của nhà tù bị đảo ngược, có thay bậc đổi ngôi : tù nhân trở thành người ban phát cái đẹp, răn dạy ngục quan, còn ngục quan thì khúm núm, vái lạy tù nhân… (Dẫn chứng )

–  Đánh giá chung :

+ Nghệ thuật thể hiện : nghệ thuật đối lập của bút pháp lãng mạn được sử dụng triệt để, ngôn ngữ giàu chất tạo hình…

+ Cảnh cho chữ thể hiện chủ đề tác phẩm (sự chiến thắng của thiên lương, sự tôn vinh cái đẹp, cái thiện và nhân cách cao cả), thể hiện quan niệm về cái đẹp của nhà văn (cái đẹp phải đi cùng với cái thiện, với thiên lương … )

1.5

 

 

4.0

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1

Xem thêm :

Đề thi học sinh giỏi về Truyện Kiều và Chinh Phụ Ngâm

Trong tác phẩm Chinh phụ ngâm (bản dịch của Đoàn Thị Điểm) có đoạn :

Ngoài đầu cầu nước trong như lọc,

Đường bên cầu cỏ mọc còn non.

Đưa chàng lòng dặc dặc buồn,

Bộ khôn bằng nhựa thuỷ khôn bằng thuyền .

Nước trong chảy lòng phiền chẳng rửa,

Cỏ xanh thơm dạ nhớ khó quên.

Nhủ rồi tay lại trao liền ,

bước đi một bước lại vin áo chàng …

Trong tác phẩm Truyện Kiều ( Nguyễn Du) cũng có đoạn :

     Người lên ngựa, kẻ chia bào,

Rừng phong , thu đã nhuốm màu quan san.

     Dặm hồng bụi chốn chinh an,

Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh.

    Người về chiếc bóng năm canh ,

Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi .

    Vầng trăng ai sẻ làm đôi,

Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường…

Cảm nhận của anh (chị) về nỗi niềm li biệt trong hai đoạn thơ trên .

Từ đó, anh (chị) nghĩ gì về thân phận của người phụ nữ trong xã hội ngày xưa

Hướng dẫn :

1.Cảm nhận về nỗi niềm li biệt ở hai đoạn thơ

a.Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm và 2 đoạn trích

b.Nêu nét giống nhau của hai tác giả Đặng Trần Côn và Nguyễn Du ở hai đoạn trích về : đề tài , hoàn cảnh sáng tác , sự gặp gỡ ở cái nhìn trân trọng cảm thương đối với người phụ nữ .

c.Nêu nét khác nhau (trọng tâm) : hai đoạn trích cùng viết về cảm xúc biệt li nhưng tuỳ theo chủ đề của tác phẩm , tuỳ theo cái nhìn , cách nhìn của mỗi tác giả (và người dịch –đoạn 1) mà mỗi tác giả có cách thể hiện , nội dung , sắc thái riêng biệt làm nên vẻ đẹp riêng , nét độc đáo khác nhau :

Đoạn 1 : tả cảnh người chinh phục tiễn chồng ra chiến trận . Tác giả khắc hoạsâu sắc tâm trạng người chinh phụ trong buổi tiễn đưa với bao lưu luyến , bịn rịn , không nỡ rời xa .

Đưa chàng lòng dằng dặc buồn

Bộ khôn bằng nhựa thuỷ khôn bằng thuyền .

Đoạn 2 : Nguyễn Du tập trung miêu tả nỗi đau xa cách khi Kiều tiễn Thúc Sinh về nhà với vợ . Trong nỗ niềm li biệt ấy còn ẩn chứa bao dự cảm bất an , bởi thân phận nàng chỉ là chút nghĩa đèo bòng ,  Cho nên cuộc chia li không chỉ nhuốm màu sắc “quan san” tê tái mà còn như một ám ảnh chia lìa, khiến cuộc lên đường của chàng Thúc như một cuộc “chinh an 

     Người lên ngựa, kẻ chia bào,

Rừng phong , thu đã nhuốm màu quan san.

     Dặm hồng bụi chốn chinh an,

Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh.

 –Nghệ thuật :

+Đoạn 1 :  Bút pháp tả cảnh ngụ tình , hình ảnh so sánh ước lệ được dịch giả Đoàn Thị điểm chuyển tải bằng ngôn ngữ thơ song thất lục bát trong sáng , uyển chuyển đã khắc sâu được tâm trạng của người chinh phụ trong buổi tiễn đưa .

+Đoạn 2 : Nguyễn Du cũng dùng bút pháp tả cảnh ngụ tình , nhưng thiên nhiên còn đảm nhận vai trò như một nhân vật , lặng thầm sẻ chia bao nỗi niềm đau đớn , tủi thẹn : “Rừng phong , thu đã nhuốm màu quan san

+Đoạn 1 : Nỗi lưu luyến , bịn rịn của người chinh phụ được khắc hoạ ở nhiều góc độ: nỗi lòng , dáng vẻ , cử chỉ

Nhủ rồi tay lại trao liền ,

bước đi một bước lại vin áo chàng …

+Đoạn 2 : Nguyễn Du chỉ có một câu miêu tả “Người lên ngựa , kẻ chia bào” .Câu thơ lục bát bị bẻ đôi , trong sự đối lập giữa người và kẻ ấy như ẩn chứa bao nỗi cảm thương mà Nguyễn Du dành cho cảnh ngộ của nàng Kiều . Khi chàng Thúc bước lên ngựa thì cũng là lúc Kiều trở thành người cô đơn , lạc loài bên đường …Nguyễn Du cũng đã vận dụng rất thành công hình ảng quen thuộc trong ca dao để làm nổi bật lên tâm trạng cô đơn , cảnh ngộ lẻ loi , gối chiếc của Thuý Kiều :

Vầng trăng ai xẻ làm đôi …

d.Đánh giá khái quát :cả hai đoạn trích đều thể hiện kín đáo cái nhìn nhân đạo sâu sắc và thái độ phê phán hiện thực lúc bấy giờ :

-Nỗi đau li biệt trong Chinh phụ ngâm là cảnh ngộ không được tôn trọng . Từ nỗi đau ấy , nhà thơ gián tiếp tỏ thái độ lên án chiến tranh  và đồng cảm sâu sắc với khát vọng sống , được hưởng hạnh phúc của người phụ nữ .

-Đoạn trích trong Truyện Kiều thì xa cách, biệt li chỉ là cái cớ chỉ là một cái cớ để Nguyễn Du khái quát nỗi đau của thân phận người phụ nữ : từ làm lẽ, cô đơn chiếc bóng đến những cảnh ngộ bị vùi dập phủ phàng …Nỗi đau ấy không của riêng ai:

Đau đớn thay phận đàn bà ,

                                  Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung .

2.Suy nghĩ về thân phận người phụ nữ

-Cảnh ngộ của người chinh phụ hay nàng Kiều trong 2 đoạn trích đều thể hiện nỗi đau mà người phụ nữ ngày xưa phải gánh chịu . Họ đều là nạn nhân của xã hội phong kiến thối nát không tôn trọng quyền sống , quyền hạnh phúc của con người .

-Cả hai tác giả đã gặp nhau ở tư tưởng nhân đạo, nhân văn sâu sắc à có sức lay động lòng người .

-Có thể trích dẫn thêm ca dao hay một số dẫn chứng thơ ca trung đại nói về thân phận người phụ nữ thời xưa để bài viết được sinh động .

Lưu ý : ý kiến phát biểu phải tập trung , gắn với tư tưởng của hai đoạn trích trên

Xem thêm : Bộ đề thi học sinh giỏi môn Văn

Đề thi học sinh giỏi về đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

Có ý kiến cho rằng: Nhà văn chân chính là người suốt đời chỉ truyền bá một thứ tôn giáo: Tình yêu thương con người.

Anh/Chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Qua đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (Trích Chinh phụ ngâm – Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm (?), Ngữ văn 10, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2015,tr 87 -88, hãy làm sáng tỏ .

Nhận thức đề

Đề bài yêu cầu làm rõ 2 nội dung:

– Hiểu đúng ý kiến: nhà văn chân chính suốt đời chỉ viết về con người, ca tụng tình yêu thương con người.

– Phân tích tình yêu thương, đồng cảm với nỗi nhớ thương, buồn khổ và khát khao hạnh phúc của người chinh phụ của tác giả và dịch giả qua đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ.(ý chính)

Yêu cầu kiến thức

  1. Mở bài: nêu vấn đề 
  2. Thân bài 

a) Giải thích nhận định:

+ Nhà văn, hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả nhà thơ, rộng hơn nữa là người nghệ sỹ nói chung.

+ Nhà văn chân chính: những người mang lý tưởng tiến bộ của thời đại, đại diện cho lương tri của loài người, sẵn sàng đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác để bảo vệ công lí, lẽ phải, giàu tình yêu thương nhân ái, sẵn sàng xả thân cho cuộc đời và cho nghệ thuật.

+ Sứ mệnh cao cả của nhà văn là khám phá cái đẹp của cuộc sống và chuyển tải đến người đọc thông qua tác phẩm văn học. Con người với tất cả niềm vui hạnh phúc, khát khao và nỗi buồn đau luôn trở thành nguồn cảm hứng dồi dào của văn học và là mối quan tâm hàng đầu của nhà văn.

+Nhà văn chân chính luôn day dứt, trăn trở trước cuộc sống và con người. Tác phẩm của họ dù viết theo đề tài nào cũng vẫn để bày tỏ “lòng thương và tình bác ái, để người gần người hơn”.

+Tác phẩm văn học chân chính là sản phẩm của nhà văn nhân đạo chủ nghĩa. Qua những cảnh ngộ, nhà văn muốn người đọc cùng chia sẻ và đồng cảm, bênh vực và ca tụng con người, ca ngợi tình người. Những tác phẩm như thế sẽ trường tồn và độc giả yêu thích.

=> Ý kiến bàn về sứ mệnh của người nghệ sỹ, giá trị và chức năng của văn học nghệ thuật.

b) Vì sao nhà văn chân chính lại lấy việc làm cho cuộc đời tốt đẹp hơn làm mục đích sáng tác?

+ Vì họ là những người rất giàu tình yêu thương đối với cuộc đời (họ là “người cho máu”, là “nhà nhân đạo từ trong cốt tuỷ”…)

+ Vì họ hiểu rõ khả năng, sức mạnh to lớn của văn chương. Họ đã dùng văn chương như một công cụ đắc lực để thực hiện lí tưởng nghệ thuật của mình!

– Họ thực hiện chức năng giáo dục (truyền bá tình yêu thương con người) bằng cách nào?

+ Ca ngợi, khẳng định những cái tốt đẹp của cuộc sống (những yêu thương, nhân ái, vị tha).

+ Lên án, tố cáo những cái xấu, cái ác…để bảo vệ con người khỏi những áp bức, bất công!

c. Phân tích biểu hiện của tình yêu thương trong đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

Khái quát :

– Văn học phong kiến Việt Nam thế kỷ XVIII, với tình yêu thương và đồng cảm, các nhà văn nhà thơ đã bày tỏ khá thành công nội dung nhân đạo dành cho người phụ nữ tài sắc nhưng bất hạnh. Tác giả Đặng Trần Côn và dịch giả Đoàn Thi Điểm (?) đã thể hiện cảm động và chân thành  nỗi cô đơn, buồn khổ và lòng khát khao được sống trong tình yêu và hạnh phúc của người  vợ lính trong Chinh phụ ngâm. Đoạn trích trong SGK từ câu 193-216 giúp hiểu thêm nỗi niềm đau buồn, lẻ loi của người chinh phụ.

 Giới thiệu ngắn về tác phẩm

Người chinh phụ vốn dòng dõi trâm anh tiễn chồng ra trận với nhiều ước mơ đẹp. Năm tháng chiến tranh, nàng sống lẻ loi, ngày đêm xót xa, lo lắng cho chồng. Thấm thía nỗi cô đơn, nàng nhận ra tuổi xuân đang qua nhanh và hạnh phúc ngày càng xa vời. Người chinh phụ rơi vào tâm trạng cô đơn, buồn đau, tuyệt vọng.Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ miêu tả những cung bậc và sắc thái khác nhau của nỗi cô vắng, buồn nhớ ở người chinh phụ đang khao khát được sống trong tình yêu và hạnh phúc lứa đôi.

Đoạn 16 câu đầu

Cảm hứng chủ đạo là buồn và nhớ, day dứt và lo lắng được miêu tả sống động với hàng loạt câu hỏi tu từ. Tâm trạng cô lẻ khắc họa rõ nét và những biến đổi tâm lí tinh tế trong lòng người chinh phụ nhiều đêm ngày không nguôi nhớ chồng nơi chiến địa. (8 câu đầu). Theo bước chân và ánh nhìn, người chinh phụ không tìm được gì, không có ai trò chuyện. Buồn rầu lặng lẽ và nhận ra sự trơ trọi khốn khổ của mình giữa ngôi nhà trống trải, vắng lặng suốt ngày dài đến đêm thâu.

–  Trong 8 câu tiếp, những âm thanh gà gáy, tiếng gió thốc hàng chuối càng khơi sâu thêm nỗi buồn lẻ và đơn độc. Đêm dài trằn trọc không yên, người thiếu phụ chỉ còn ai oán trách phận. Nhớ chồng, thương chồng thương mình, biếng lười gương phấn, cầm sắt. Nhà thơ và dịch giả khéo léo diễn tả được nhớ thương, buồn khổ trải dài, trải rộng không gian biển khơi, thời gian năm tháng với những giọt lệ tuôn trào bất lực.

Phần cuối đoạn trích, người chinh phụ mong chờ trong lo âu tuyệt vọng chỉ còn biết nhờ ngọn gió đông gửi lời yêu thương nhung nhớ đến chồng nơi biên ải.Không gian xa cách nỗi nhớ được tác giả so sánh với hình ảnh “Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời”. Câu thơ hàm súc về mặt ý nghĩa và cô đọng về mặt hình thức bộc lộ tâm trạng trực tiếp.Cảm giác xót xa, cay đắng và nỗi sinh li đau đớn đang giày vò ghê gớm lòng người chinh phụ.Nỗi niềm uất ức biết kêu ai? biết ngỏ cùng ai? Giữa con người và cảnh vật dường như có sự tương đồng khiến cho nỗi sầu thương trở nên da diết, bất tận.

 Đánh giá :

Bằng bút pháp nghệ thuật điêu luyện, tác giả và dịch giả đã diễn tả được những diễn biến phong phú, tinh tế cung bậc tình cảm của người chinh phụ. Cảnh cũng như tình được miêu tả rất phù hợp với diễn biến của tâm trạng nhân vật. Cách dùng hàng loạt từ láy và nhạc điệu của thể thơ song thất lục bát, như những đợt sóng dạt dào, diễn tả tâm trạng người chinh phụ hết nhớ lại thương, hết thương lại nhớ trong tình cảnh lẻ loi đơn chiếc.

Thông qua tâm trạng đau buồn của người chinh phụ đang sống trong tình cảnh lẻ loi, tác giả đã đề cao hạnh phúc lứa đôi và thể hiện tinh thần phản kháng đối với chiến tranh phi nghĩa. Tác phẩm Chinh phụ ngâm đã toát lên tư tưởng chủ đạo trong văn chương một thời: tư tưởng đòi quyền sống quyền được hưởng hạnh phúc rất chính đáng của con người, nhất là người phụ nữ.

  1. Kết bài: 

Khẳng định lại vấn đề :

+Vai trò , thiên chức của người cầm bút

+Tư tưởng nhân đạo là nội dung quan trọng, chủ đạo trong Chinh Phụ Ngâm nói riêng và trong nhiều tác phẩm Văn học trung đại Việt Nam nói  chung

Xem thêm :Tuyển tập đề thi học sinh giỏi môn VănTình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 

Đề thi học sinh giỏi về bài Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

Đề bài :

Một nhà thơ Pháp đã viết : “ Nghệ  thuật chỉ làm nên câu thơ, trái tim mới làm nên người nghệ sĩ.” Anh/ chị hiểu câu trên như thế nào ?Dựa vào đoạn trích ” Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ( trích Chinh phụ ngâm- Nguyên tác chữ Hán Đặng Trần  Côn, bản dịch Đoàn Thị Điểm ) hãy làm  sáng tỏ ý kiến trên. ( Anđré Chénien)

Hướng dẫn :

Trên cơ sở những hiểu biết về lí luận văn học, những kiến thức đã học về tác phẩm Chinh phụ ngâm và đoạn trích Tình cảnh lẻ  loi của người chinh phụ (trích Chinh phụ ngâm – Nguyên tác chữ  Hán Đặng Trần Côn, bản diễn Nôm Đoàn Thị Điểm) để làm sáng tỏ cách hiểu của mình.

Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đảm bảo những nội dung sau:

  1. Giải thích ý kiến
  • “Nghệ thuật chỉ  làm nên câu thơ ”: Nghệ thuật ờ đây có thể hiểu là cái đẹp của lời thơ, ý thơ, tứ thơ và các yếu tố tổ chức câu thơ như thể thơ, ngôn ngữ, hình ảnh, gieo vần, ngắt nhịp, giọng điệu; các biện pháp tu từ và các phương thức biểu đạt…
  • Trái tim mới làm nên thi sĩ”: Trái tim là thế giới của đời sống tâm hồn, tình cảm, tâm nguyện của người nghệ sĩ gửi gắm vào sáng tác nghệ thuật nói chung, thơ ca nói riêng. Chính trái tim người nghệ sĩ mới làm nên cái hồn cho thơ.
  • “Nghệ thuật ” và “trái tim ” là những chất liệu để là nên những câu thơ hay và sản sinh ra những nhà thơ vĩ đại.

– Ý kiến của Anđré Chénien khẳng định và đề cao thiên chức của nhà thơ và quá trình sáng tạo nghệ thuật: Mỗi một nhà thơ phải có một trái tim biết yêu thương cái đẹp cái thiện, phải biết đấu tranh với cái xấu, cái ác để bênh vực và bảo vệ cho quyền sống và nhân phẩm của con người nhất là những con người đau khổ, bất hạnh. Và nhà thơ cũng phải biết “khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có”.

 

  1. Phân tích đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (trích Chinh phụ ngâm – Nguyên tác chữ Hán Đặng Trần Côn, bản diễn Nôm của Đoàn Thị Điểm) để làm sáng tỏ cách hiểu của mình.

a. Nghệ thuật của khúc ngâm được thể hiện ở những sáng tạo ấn tượng:

+ Thể thơ song thất lục bát với sự kết hợp hai câu thơ bảy chữ kiểu Đường thi hàm súc, trang nhã, đăng đối gợi cảnh, gợi tình tạo nên nhịp thơ buồn thương man mác.

+ Ngôn ngữ thơ tài hoa, đài các, tinh xác nhuần nhị; tính uyên bác, trang trọng được thể hiện ở hệ thống điển tích, điển cố.

+ Lời thơ mượt mà, luyến láy đằm thắm chất trữ tình được chuyển tải bằng hệ thống từ láy tượng thanh, tượng hình: phất phơ, đằng đẵng, dằng dặc, thăm thẳm, đau đáu,trùng trùng…

+ Hình ảnh thơ ước lệ, giàu tính tạo hình, biến hoá linh hoạt phù hợp với bức chân dung u sầu, ai oán của người chinh phụ.

– Nghệ thuật miêu tả thế giới nội tâm sắc sảo, tài hoa bằng ngôn ngữ độc thoại nội tâm, tả cảnh ngụ tình để xây dựng được chân dung tâm trạng và số phận của người chinh phụ.

+ Các biện pháp tu từ, nhạc điệu đã làm nên giá trị nghệ thuật của khúc ngâm.

b. Trái tim của nhà thơ trong trích ngâm:

+ Một trái tim biết yêu thương, đồng cảm với nỗi bất hạnh của người phụ nữ có chồng đi chinh chiến.

+ Một trái tim biết trân trọng tình yêu thuỷ chung và khát vọng cuộc sống bình yên, hạnh phúc của người chinh phụ.

+ Trái tim biết lên tiếng bênh vực cho quyền sống con người, gián tiếp tố cáo chiến tranh phong kiến phi nghĩa đã gây nên nỗi đau khổ, bất hạnh cho người chinh phụ, người phụ nữ nói chung.

+ Trái tim ấy ánh lên hào quang của giá trị nhân văn, luôn tri âm với đồng loại và sẽ đồng vọng mãi với nhiều thế hệ.

  1. Đánh giá chung
  • Chinh phụ ngâm luôn mãi chứa đựng những nỗi khắc khoải nhân sinh, đánh thức lương tri nhân loại về ý thức đấu tranh đòi quyền sống cho con người.
  • Ý kiến của Anđré Chénien giúp ta cảm nhận sâu sắc hơn, hiểu và biết trân trọng tấm lòng và và những sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ cho đời

Học sinh biết chọn những dẫn chứng tiêu biểu, hay để làm sáng tỏ những ý kiến của mình.

Xem thêm :

8 câu cuối Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

Cô đã soạn bài : “ôn tập tình cảnh lẻ loi cuả người chinh  phụ”. Link bài viết :

http://vanhay.edu.vn/on-tap-bai-tinh-canh-le-loi-cua-nguoi-chinh-phu-trich-chinh-phu-ngam

Bài viết hệ thống kiến thức cơ bản về đoạn trích ” Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”  trong SGK, có bài văn mẫu cho các em tham khảo.

Ở bài viết này, Admin hướng dẫn các em làm bài văn phân tích 8 câu cuối nhé.

Đề bài : Cảm nhận của anh/ chị về 8 câu cuối bài ” Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”

“Lòng này gửi gió đông có tiện ?

Nghìn vàng xin gửi đến non Yên

Non Yên dù chẳng tới miền

Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời

Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu

Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong

Cảnh buồn người thiết tha lòng
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun”

Trích Chinh phụ ngâm- Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm dịch

Hướng dẫn cách làm :

Mở bài : các em có thể mở bài theo nhiều cách khác nhau, nhưng phải giới thiệu được tên tác giả ( Đặng Trần Côn) , tên người dịch ( Đoàn Thị Điểm) , tên tác phẩm, và trích dẫn đoạn thơ trong đề bài.

Thân bài :

Ý 1 :  Khái quát về hoàn cảnh sáng tác bài thơ, vị trí đoạn thơ cần phân tích

Ý 2: Cảm nhận về đoạn thơ

Kết bài : Nhận xét, đánh giá về giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ, có thể bàn bạc mở rộng vấn đề, liên hệ tới số phận của người phụ nữ xưa và nay để bài viết thêm sâu sắc.

Sau đây là bài viết tham khảo

Bài làm : Cuộc nội chiến giữa các tập đoàn phong kiến ở nước ta cuối thế khỉ XVIII đi qua để lại những đau thương mất mát không gì bù đắp được. Văn học thời kì này tập trung phản ánh bản chất tàn bạo, phản động của giai cấp thống trị và nỗi đau khổ của những nạn nhân trong chế độ thối nát ấy. Tác phẩm “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn ra đời đã nhận được sự đồng cảm rộng rãi của tầng lớp Nho sĩ. Nhiều bản dịch xuất hiện, trong đó bản dịch sang chữ Nôm của bà Đoàn Thị Điểm được coi là hoàn hảo hơn cả. Tác phẩm phản ánh thái độ oán ghét chiến tranh phong kiến phi nghĩa, đặc biệt là đề cao quyền sống cùng khao khát tình yêu và hạnh phúc lứa đôi của con người. Đoạn trích dưới đây là một trong những đoạn tiêu biểu của bản ngâm khúc : ( trích dẫn đoạn thơ trong đề bài )

Nếu như ở 16 câu đầu người  chinh phụ một mình trong căn phòng quạnh vắng với  tâm trạng cô đơn, lẻ loi, nỗi trống trải trong lòng  thì đến 8 câu cuối, nỗi nhớ và nỗi khát khao hạnh phúc lứa đôi bỗng trào dâng trong lòng và trở nên khắc khoải hơn bao giờ hết. Mượn gió đông để gửi yêu thương cho chồng . Đó là ước muốn , là khát khao được biết tin tức về chồng mình:
“Lòng này gửi gió đông có tiện?
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.”

Tác giả sử dụng câu hỏi tu từ, kết hợp với điển cố ( non Yên) để diễn tả nỗi nhớ của nhân vật. “Lòng này” là sự thương nhớ khôn nguôi, vì đã trải qua nhiều đợi chờ .Gió đông là gió mùa xuân.Trong cô đơn, người chinh phụ chỉ biết hỏi gió,nhờ gió đưa tin tới người chồng yêu thương nơi chiến địa xa xôi,nguy hiểm,nơi non Yên nghìn trùng. Non yên,một địa danh cách xa Thiểm Tây, Trung Quốc hơn hai ngàn dặm về phía bắc , nơi chiến trận đầy gian khổ .Nàng hỏi gió,nhờ gió nhưng”có tiện”hay không? Nàng mong gió hãy mang nỗi nhớ của nàng nói với người chồng ngoài biên cương .Sự cô đơn trong lòng người chinh phụ ngày càng khắc khoải .Làm sao tới được non Yên,nơi người chồng đang “nằm vùng cát trắng,ngủ cồn rêu xanh”?. Cùng với những từ ngữ trang trọng “gửi nghìn vàng , xin” đã giúp người đọc thấy được không gian , nỗi nhớ được mở ra thật mênh mông , vô tận , khắc sâu nỗi cô đơn , hiu quạnh . Thế nhưng hiện thực thật phũ phàng , đau xót :

“Non Yên dù chẳng tới miền
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời”

Việc sử dụng từ láy ‘thăm thẳm’ đã nói lên được nỗi nhớ da diết của người chinh phụ .Mỗi nhớ thương ấy đè nặng trong lòng,triền miên theo thời gian,  “đằng đẵng” không thể nguôi ngoai. Nỗi nhớ ấy được cụ thể hóa bằng độ dài của không gian “đường lên bằng trời”. Có thể nói,dịch giả Đoàn Thị Điểm đã có một cách nói rất sâu sắc để cực tả nỗi nhớ thương chồng của người chinh phụ.Nỗi nhớ thương ấy,tiếng lòng thiết tha ấy lại được diễn tả qua âm điệu triền miên của vần thơ song thất lục bát với thủ pháp nghệ thuật liên hoàn-điệp ngữ.Cả một trời thương nhớ mênh mông.Nỗi buồn triền miên,dằng dặc vô tận .
Sau khi hỏi “gió đông”để bày tỏ niềm thương nỗi nhớ chồng , cuối cùng đọng lại trong nàng là nỗi đau , sự tủi thân:
“Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu ,
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong”

Ý của câu như muốn nói lên sự xa cách nghìn trùng , với biển trời rộng lớn , xa “thăm thẳm” không hiểu cho “nỗi nhớ chàng”của người vợ trẻ.Nỗi nhớ “đau đáu” trong lòng.Đau đáu nghĩa là áy náy,lo lắng,day dứt khôn nguôi.Có thể nói qua cặp từ láy:”đằng đẵng” và “đau đáu”,dịch giả đã thành công trong việc miêu tả những thương nhớ, đau buồn,lo lắng của người chinh phụ một cách cụ thể,tinh tế,sống động.Tâm trạng ấy được miêu tả trong quá trình phát triển mang tính bi kịch đáng thương.Ở hai câu cuối,nhà thơ lấy ngoại cảnh để thể hiện tâm cảnh :
“Cảnh buồn người thiết tha lòng,
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.”

Giống như tâm sự Thúy Kiều trong Truyện Kiều: “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu – Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?”, người chinh phụ có lúc thấy cảnh vật vô hồn, thê lương nhưng có khi lại cảm nhận cả khoảng không gian và cảnh vật như đang hối thúc, giục giã, đổi thay, không tìm thấy đâu sự hô ứng, đồng cảm giữa tình người với thiên nhiên . Niềm thương nỗi nhớ cứ kéo dài từ ngày này sang ngày nọ . Nhìn cành cây ướt dẫm sương đêm mà lòng nàng lạnh lẽo . Nghe tiếng trùng kêu rả rich thâu canh như tiếng đẫm sương đêm mà thêm nhói lòng, buồn nhớ. Âm thanh ấy,cảnh sắc ấy vừa lạnh lẽo vừa buồn,càng khơi gợi trong lòng người vợ trẻ,cô đơn biết bao thương nhớ,lo lắng,buồn rầu.
Bằng những hình ảnh ẩn dụ cho nỗibuồn chất chứa , sự mòn héo của cảnh vật . 8 câu thơ cuối đã diễn tả nỗi nhớ da diết , nhớ tới thầm đau của người chinh phụ .Nỗi đau được chuyểntừ lòng người sang cảnh vật . Hàng loạt những hình ảnh ẩn dụ , từ ngữ gợi tả lại càng xoáy mạnh vào nỗi đau trong lòng người chinh phụ . Qua đó người đọc cũng cảm nhận được 1 cách sâu sắc niềm thương cảm , thấu hiểu của tác giả đối với nỗi đau của người phụ nữ có chồng ra trận .

Với thể thơ song thất lục bát , cách dùng từ , hình ảnh ước lệ , điệp từ điệp ngữ , nghệ thuật miêu tả nội tâm , đoạn thơ đã thể hiện 1 cách tinh tế những cung bậc sắc thái tình cảm khác nhau của nỗi cô đơn buồn khổ ở nàng khao khát được sống trong hạnh phúc , tình yêu lứa đôi . Đoạn trích còn thể hiện tấm lòng yêu thương , cảm thong sâu sắc của tác giả với những khát khao hạnh phúc chính đáng của người thiếu phụ , cất lên tiếng kêu nhân đạo , phản đối chiến tranh phi nghĩa
Đoạn trích cũng như toàn tác phẫm ‘chinh phụ ngâm’ là tiếng kêu thương tâm của người phụ nữ nhớ chồng nơi chinh chiến . Trạng thái tình cảm của người chinh phụ một mặt có ý nghĩa tố cáo những cuộc chiến tranh phi nghĩa đã đẩy bao nhiêu người trai ra trận để biết bao chinh phụ héo hon tựa cửa chờ chồng, mặt khác lên tiếng nói tình cảm và sự ý thức về quyền sống, quyền hưởng hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ ngay giữa cuộc đời trần thế này . Tác phẩm đã khẳng định những giá trị nhân văn cao cả mà khúc ngâm đã đem lại, đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của giai đoạn văn chương thế kỷ XVIII trong quá trình phát triển của nền văn học dân tộc.

Các em có thể đọc 8 câu đầu ở đây nhé : http://vanhay.edu.vn/8-cau-dau-tinh-canh-le-loi-cua-nguoi-chinh-phu

Admin biên soạn

Xem thêm : Tuyển tập đề thi về các tác phẩm lớp 10

8 câu đầu Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

Hướng dẫn ôn tập 8 câu đầu “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”

( trích “chinh phụ ngâm”- Đặng Trần Côn)

Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm dường đã có đèn biết chăng ?

Đèn có biết, dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương “

( trích chinh phụ ngâm-Đặng Trần Côn, Bản dịch Đoàn Thị Điểm)

Hướng dẫn ôn tập:

Nêu hoàn cảnh sáng tác “Chinh Phụ Ngâm”

+Vào đầu thời Lê Hiển Tông, có nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra chống lại triều đình Đây là thời kì vô cùng rối ren của xã hội phong kiến. Chiến tranh xảy ra liên miên, hết Lê-Mạc đánh nhau đến Trịnh-Nguyễn phân tranh, đất nước chia làm hai nửa. Ngai vàng của nhà Lê mục ruỗng. Nông dân bất bình nổi dậy khởi nghĩa ở khắp nơi. Nhân dân sống trong cảnh loạn li nồi da nấu thịt, cha mẹ xa con, vợ xa chồng.
+Chinh phụ ngâm được viết bằng chữ Hán, do tác giả Đặng Trần Côn sáng tác vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII. Tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn ra đời đã nhận được sự đồng cảm rộng rãi của tầng lớp Nho sĩ. Nhiều bản dịch xuất hiện, trong đó bản dịch sang chữ Nôm của bà Đoàn Thị Điểm được coi là hoàn hảo hơn cả.

Nội dung chính của  đoạn trích:

Đoạn trích miêu tả những cung bậc sắc thái tình cảm của người chinh phụ sau khi tiễn chồng ra mặt trận :Nỗi cô đơn của người chinh phụ trong cảnh lẻ loi; cảm giác về thời gian chờ đợi; cố tìm cách giải khuây nhưng không được.
+Người chinh phụ tiễn chồng ra trận với mong muốn người chồng sẽ lập được công danh và trở về cùng với vinh hoa, phú quý. Nhưng ngay sau buổi tiễn đưa, nàng sống trong tình cảnh lẻ loi, ngày đêm xót xa lo lắng cho chồng. Thấm thìa nỗi cô đơn, nàng nhận ra tuổi xuân của mình đang qua đi và cảnh lứa đôi đoàn tụ hạnh phúc ngày càng xa vời. Người chinh phụ rơi vào tâm trạng cô đơn đến cùng cực. Khúc ngâm thể hiện rất rõ tâm trạng cô đơn ấy.
+Đoạn thơ đã mở ra trước mắt người đọc một không gian chật hẹp,nơi thềm hiên vắng lặng,nơi mà người chinh phụ đang cố gắng vượt qua sự cô đơn trống vắng khi người chồng đã đi xa.Bằng cách sử dụng  nghệ thuật tả cảnh ngụ tình,Đặng Trần Côn đã vẽ nên bức tranh tâm trạng đầy xúc động,thể hiện nỗi sầu của người chinh phụ cũng như bút pháp tinh tế của ông trong việc miêu tả nội tâm nhân vật.
+Trong đêm thanh vắng quạnh hiu này,chỉ có tiếng bước chân của nàng ,một mình đối diện với chính mình .Bước chân ấy đi đi lại lại trên hiên nhưng có lẽ tâm trí nàng đang chìm đắm trong miên man.Mỗi bước chân là 1 nỗi nhớ,mỗi bước chân là  một nỗi lo,tất cả đang làm cho tâm trạng nàng nặng trĩu lo âu và thương nhớ người chồng đang chinh chiến ở ải xa.
+Người chinh phụ hết đi đi lại lại , rồi lại buông rèm ,cuốn rèm không biết bao nhiêu lần…Đây là những động tác,cử chỉ và hành động được lặp lại nhiều lần mà không hề có mục đích của người chinh phụ
Đúng như nhan đề của tác phẩm,đoạn thơ là tâm trạng cô đơn trống vắng của người chinh phụ.Sau khi tiễn chồng ra trận nàng trở về trong nỗi chờ mong khắc khoải .Nàng dường như quên hết mọi thứ xung quanh. Cái cô đơn ,khắc khoải ở trong tâm trí đã len lỏi, gậm nhấm nàng để rồi nó hiện thành hình hài qua dáng vẻ thơ thơ,thẩn thẩn như người mất hồn. Nhịp thơ chậm gợi cảm giác như thời gian ngưng đọng.Giữa không gian tịch mịch,tiếng bước chân như gieo vào lòng người âm thanh lẻ loi, cô độc .Dáng vẻ ủ ê,ngao ngán,bề ngoài gầy gò khắc sâu nỗi đau trong tim.nàng thật bơ bơ,lạc lõng,lại đáng thương quá đỗi. Nàng biết làm gì đây khi ngày lại tiếp ngày,đêm lại tàn đêm trong nỗi nhớ mong vô vọng.
+Đã lâu lắm rồi “thước chẳng mách tin” không có một lá thư,cũng không có người thân qua lại.
+Nàng lại quay về với không gian  chật hẹp của căn phòng,nơi mà nàng đối diện  với bóng mình,đối diện với ngọn đèn khuya hiu hắt .Nhưng thật trớ trêu, đền dù sao chỉ là một vật vô tri vô giác,có biết cũng như ko.câu hỏi tu từ “Đèn có biết..chẳng biết”là  một lời than thở,là nỗi khắc khoải chờ đọi và hi  vọng  trong nàng day dứt không yên.Tâm trạng của người chinh phụ đã chuyển giọng tự nhiên từ lời kể bên ngoài thành lời tự độc thoại nội tâm , da diết , dằn vặt và ngậm ngùi.nàng quả là một người đáng thương!
Trong đêm vắng chỉ có ngọn đèn có ánh sáng ,nó càng làm nổi bật đêm tối mênh mang và nỗi cô đơn dường như nhân lên gấp bôi trong lòng người thiếu phụ.
  +Đánh giá chung:
-Về nghệ thuật,với thể thơ song thất lục bát,cách dung từ,hình ảnh ước lệ,đoạn thơ đã thể hiện một cách tinh tế các cung bậc sắc thái tình cảm khác nhau của nỗi cô đơn buồn khổ của người chinh phụ luôn khao khát được sống trong tình yêu và hạnh phục lứa đôi.
-Về nội dung,đoạn trích cũng thể hiện tấm lòng thương yêu và cảm thông sâu sắc của tác giả với khát khao hạnh phúc chính đáng của người chinh phụ.Cất lên tiếng kêu nhân đạo,phản đối chiến tranh phong kiến phi nghĩa.
Các em xem thêm bài viết này nhé:
Tám câu cuối bài Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

Ôn tập bài Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ ,chinh phụ Ngâm

Hướng dẫn cách ôn tập bài “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”

( Trích ” chinh phụ Ngâm” của Đặng Trần Côn, bản dịch của Đoàn Thị Điểm )

Hoàn cảnh sáng tác

+Vào đầu thời Lê Hiển Tông, có nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra chống lại triều đình Đây là thời kì vô cùng rối ren của xã hội phong kiến. Chiến tranh xảy ra liên miên, hết Lê-Mạc đánh nhau đến Trịnh-Nguyễn phân tranh, đất nước chia làm hai nửa. Ngai vàng của nhà Lê mục ruỗng. Nông dân bất bình nổi dậy khởi nghĩa ở khắp nơi. Nhân dân sống trong cảnh loạn li nồi da nấu thịt, cha mẹ xa con, vợ xa chồng.
+Chinh phụ ngâm được viết bằng chữ Hán, do tác giả Đặng Trần Côn sáng tác vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII. Tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn ra đời đã nhận được sự đồng cảm rộng rãi của tầng lớp Nho sĩ. Nhiều bản dịch xuất hiện, trong đó bản dịch sang chữ Nôm của bà Đoàn Thị Điểm được coi là hoàn hảo hơn cả.

Giá trị của tác phẩm

Chinh phụ ngâm phản ánh thái độ oán ghét chiến tranh phong kiến phi nghĩa, đặc biệt là đề cao quyền sống cùng khao khát tình yêu và hạnh phúc lứa đôi của con người. Đó là điều ít được nhắc đến trong thơ văn trước đây.
III>Đoạn trích “tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”
Đoạn trích có thể chia làm 2 đoạn nhỏ:
–    Đoạn 1 : Từ Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước… đến Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng: Nỗi cô đơn của người chinh phụ trong cảnh lẻ loi; cảm giác về thời gian chờ đợi; cố tìm cách giải khuây nhưng không được.
–    Đoạn 2: Từ “Lòng này gửi gió đông có tiện… mưa phun” Nỗi nhớ thương người chồng ở phương xa; cảnh vật khiến lòng nàng thêm sầu thảm.
Đoạn trích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ  miêu tả những cung bậc và sắc thái khác nhau của nỗi cô đơn, buồn khổ ở người chinh phụ đang khao khát được sống trong tình yêu và hạnh phúc lứa đôi.

Bài văn mẫu Phân tích đoạn Tình cảnh lẻ loi của người Chinh Phụ

Người chinh phụ tiễn chồng ra trận với mong muốn người chồng sẽ lập được công danh và trở về cùng với vinh hoa, phú quý. Nhưng ngay sau buổi tiễn đưa, nàng sống trong tình cảnh lẻ loi, ngày đêm xót xa lo lắng cho chồng. Thấm thìa nỗi cô đơn, nàng nhận ra tuổi xuân của mình đang qua đi và cảnh lứa đôi đoàn tụ hạnh phúc ngày càng xa vời. Người chinh phụ rơi vào tâm trạng cô đơn đến cùng cực. Khúc ngâm thể hiện rất rõ tâm trạng cô đơn ấy.
Sau buổi tiễn đưa, người chinh phụ trở về, tưởng tượng ra cảnh chiến trường đầy hiểm nguy, chết chóc mà xót xa, lo lắng cho chồng. Một lần nữa nàng tự hỏi vì sao đôi lứa uyên ương lại phải chia lìa? Vì sao mình lại rơi vào tình cảnh lẻ loi? Bấy nhiêu câu hỏi đều không có câu trả lời. Tâm trạng băn khoăn, day dứt ấy được tác giả thể hiện sinh động bằng nghệ thuật miêu tả tâm lí tinh tế. Có thể nói, sầu và nhớ là cảm xúc chủ đạo trong đoạn thơ này.
Trong mười sáu câu thơ đầu, tác giả tập trung miêu tả hành động và tâm trạng của người chinh phụ:
Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm dường đã có đèn biết chăng ?
Đèn có biết dường bằng chẳng biết?
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương!
Nàng lặng lẽ Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước trong nỗi cô đơn đang tràn ngập tâm hồn. Nhịp thơ chậm gợi cảm giác như thời gian ngưng đọng.
Giữa không gian tịch mịch, tiếng bước chân như gieo vào lòng người âm thanh lẻ loi, cô độc. Nỗi nhớ nhung sầu muộn và khắc khoải mong chờ khiến bước chân người chinh phụ trở nên nặng trĩu. Nàng bồn chồn đứng ngồi không yên, hết buông rèm xuống rồi lại cuốn rèm lên, sốt ruột mong một tiếng chim thước báo tin vui mà chẳng thấy.
Nàng khát khao có người đồng cảm và chia sẻ tâm tình. Không gian im ắng, chỉ có ngọn đèn đối diện với nàng. Lúc đầu, nàng tưởng như ngọn đèn biết tâm sự của mình, nhưng rồi lại nghĩ: Đèn có biết dường bằng chẳng biết, bởi nó là vật vô tri vô giác. Nhìn ngọn đèn chong suốt năm canh, dầu đã cạn, bấc đã tàn, nàng chợt liên tưởng đến tình cảnh của mình và trong lòng rưng rưng nỗi thương thân tủi phận: Hoa đèn kia với bóng người khá thương!

Hình ảnh người chinh phụ thầm gieo từng bước ngoài hiên vắng và suốt năm canh ngồi một mình bên ngọn đèn chong, không biết san sẻ nỗi niềm tâm sự cùng ai đã miêu tả được tâm trạng cô đơn tột độ của người chinh phụ.

Tác giả đặc tả cảm giác cô đơn của người chinh phụ trong tám câu thơ. Đó là cảm giác lúc nào và ở đâu cũng thấy lẻ loi: ban ngày, ban đêm, ngoài phòng, trong phòng. Nỗi cô đơn tràn ngập không gian và kéo dài vô tận theo thờigianluôndeo đẳng, ám ảnh nàng.Cảnh vật xung quanh không thể san sẻ mà ngược lại như cộng hưởng với nỗi sầu miên man của người chinh phụ, khiến nàng càng đớn đau, sầu tủi:

 Gà eo óc gáy sương năm trống,
Hòe phất phơ rũ bóng bốn bên.
Khắc giờ đằng đẵng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.
Tiếng gà gáy báo canh năm làm tăng thêm vẻ tĩnh mịch, vắng lặng. Cây hòe phất phơ rũ bóng trong ánh sáng lờ mờ của ban mai gợi cảm giác buồn bã, hoang vắng. Giữa không gian ấy, người chinh phụ cảm thấy mình nhỏ bé, cô độc biết chừng nào!
 Ở các khổ thơ tiếp theo, nỗi ai oán hiện rõ trong từng chữ, từng câu, dù tác giả không hề nhắc đến hai chữ chiến tranh:
 Hương gượng đốt hồn đà mê mải,
Gương gượng soi lệ lại châu chan.
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,
Dày uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng.
 Người chinh phụ cố gắng tìm mọi cách để vượt ra khỏi vòng vây của cảm giác cô đơn đáng sợ nhưng vẫn không sao thoát nổi. Nàng gắng gượng điểm phấn tô son và dạo đàn cho khuây khỏa nhưng càng lún sâu hơn vào sự tuyệt vọng. Chạm đến đâu cũng là chạm vào nỗi đau, chạm vào tình cảnh lẻ loi đơn chiếc, Khi Hương gượng đốt thì hồn nàng lại chìm đắm vào nỗi thấp thỏm lo âu. Lúc Gương gượng soi thì nàng lại không cầm được nước mắt bởi vì nhớ gương này mình cùng chồng đã từng chung bóng, bởi vì phải đối diện với hình ảnh đang tàn phai xuân sắc của mình. Nàng cố gảy khúc đàn loan phượng sum vầy thì lại chạnh lòng vì tình cảnh vợ chồng đang chia lìa đôi ngả, đầy những dự cảm chẳng lành: Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng. Rốt cuộc, người chinh phụ đành ngẩn ngơ trở về với nỗi cô đơn đang chất ngất trong lòng mình vậy.
 Sắt cầm, uyên ương, loan phụng là những hình ảnh ước lệ tượng trưng cho tình yêu nam nữ, tình nghĩa vợ chồng. Nay vợ chồng xa cách, tất cả đều trở nên vô nghĩa. Dường như người chinh phụ không dám đụng tới bất cứ thứ gì vì chúng nhắc nhở tới những ngày đoàn tụ hạnh phúc đã qua và linh cảm đến sự chia Ha đôi lứa trong hiện tại. Tâm thế của nàng thật chông chênh, chơi vơi khiến cho cuộc sống trở nên khổ sở, bất an. Mong chờ trong nỗi sợ hãi và tuyệt vọng, nàng chí còn biết gửi nhớ thương theo cơn gió:
 Lòng này gửi gió đông có tiện ?
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.
Non Yên dù chẳng tới miền,
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.
 Sau những day dứt của một trạng thái bế tắc cao độ, người chinh phụ chợt có một ý nghĩ rất nên thơ: nhờ gió xuân gửi lòng mình tới người chồng ở chiến trường xa, đang đối đầu với cái chết để mong kiếm chút tước hầu. Chắc chắn, chàng cũng sống trong tâm trạng nhớ nhung mái ấm gia đình với bóng dáng thân yêu của mẹ già, vợ trẻ, con thơ:
 Non Yên dù chẳng tới miền,
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.
Không gian xa cách giữa hai đầu nỗi nhớ được tác giả so sánh với hình ảnh vũ trụ vô biên: Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời. Thăm thẳm nỗi nhớ người yêu, thăm thẳm con đường đến chỗ người yêu, thăm thẳm con đường lên trời. Câu thơ hàm súc về mặt ý nghĩa và cô đọng về mặt hình thức. Cách bộc lộ tâm trạng cá nhân trực tiếp như thế này cũng là điều mới mẻ, hiếm thấy trong vắn chương nước ta thời trung đại:
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.
Hai câu thất ngôn chứa đựng sự tương phản sâu sắc tạo nên cảm giác xót xa, cay đắng. Đất trời thì bao la, bát ngát, không giới hạn, liệu có thấu nỗi sinh li đau đớn đang giày vò ghê gớm cõi lòng người chinh phụ này chăng? Nói như người xưa: trời thì cao, đất thì dày, nỗi niềm uất ức biết kêu ai? biết ngỏ cùng ai? Bởi vậy nên nó càng kết tụ, càng cuộn xoáy, gây nên nỗi đớn đau cho thể xác:
 Cảnh buồn người thiết tha lòng,
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.

 Qua thể thơ song thất lục bát,cách dung từ,hình ảnh ước lệ,tác giả đã thể hiện một cách tinh tế các cung bậc sắc thái tình cảm khác nhau của nỗi cô đơn buồn khổ của người chinh phụ luôn khao khát được sống trong tình yêu và hạnh phục lứa đôi.Đoạn trích cũng thể hiện tấm lòng thương yêu và cảm thong sâu sắc của tác giả với khát khao hạnh phúc chính đáng của người chinh phụ.Cất lên tiếng kêu nhân đạo,phản đối chiến tranh phong kiến phi nghĩa.

(Tài liệu sưu tầm )

Xem thêm

Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về   tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

Tuyển tập đề thi ngữ văn 10