Bài văn mẫu cảm nhận về bài Thương Vợ -Tú Xương

Bài văn hay, phân tích bài Thương Vợ ( Trần Tế Xương), SGK Ngữ văn lớp 11.

Đề bài : Cảm nhận của anh( chị) về bài thơ Thương Vợ của Tú Xương.

Bài văn mẫu tham khảo :

Thơ văn Việt Nam xưa nay có những bài thơ thương vợ, khóc vợ rất cảm động. Người ta còn truyền tụng một bài thơ của Tự Đức khóc một bà phi có câu:

 “Đập vỡ gương ra tìm lấy bóng

Xếp tàn y lại để dành hơi”.

Nỗi nhớ nhung thật là đau đớn, dữ dội. Bùi Hữu Nghĩa, Nguyễn Thượng Hiền cũng có bài văn tế, câu đối khóc vợ rất tha thiết. Nhà thơ Nguyễn Khuyến cũng có câu đối khóc vợ thật cảm động:

“Nhà chỉn cũng nghèo thay! Nhờ được bà hay lam hay làm thắt lưng bó que, xắn váy quai cồng, tất tả chân đăm đá chân chiêu, vì tỡ đỡ đần trong mọi việc;

Bà đi đâu vội mấy! Để cho lão vất vơ vất vưởng, búi tóc củ hành, buông quần lá toạ, gật gù tay đũa chạm tay chén, cùng ai kể lể chuyện trăm năm”.

Chỉ một câu đối mà nhà thơ đã khắc hoạ một hình ảnh khó quên của người vợ tảo tần, đỡ đần cho chồng trong mọi việc. Nói là khóc, thực ra là biết ơn, tri ơn người vợ của mình.

Nhà thơ Tú Xương cũng là một người rất thương vợ, kính vợ. Ông có bài Văn tế sống vợ vừa rất cảm động, lại vừa tinh nghịch, đúng với tính cách của ông.

Theo nhà thơ Xuân Diệu cho biết: “Bà Tú Xương tên là Phạm Thị Mẫn, dòng dõi họ Phạm ở làng Lương Đường, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương Cũ, nhưng sinh ở Nam Định, hơn chồng một tuổi. Khi ông Tú Xương mất, bà mới có 38 tuổi ớ goá nuôi con, đến năm 1931 thì mất, thọ 63 tuổi”. Trong bài Văn tế sống vợ vừa nói, ông Tú tả vợ như sau:

“Mặt nhẵn nhụi, chân tay trắng trẻo

 

ai dám chê rằng béo rằng gầy;

Người ung dung, tính hạnh khoan hoà,

chỉ một bệnh hay gàn hay dở”.

Qua câu văn ta thấy bà Tú là người có bản lĩnh, tính tình khoan hoà nhưng thẳng thắn, nói thật bụng (người đời bảo là gàn dở!).

Theo kể lại, có bà Án, bà Phủ, bà Huyện nào về thăm họ, đội nón quai thao, đi dép cong, vận áo xuyến, nhưng bà Tú Xương thì vẫn áo nâu chùng tứ thân, không gài cúc, dép quai ngang (người hàng xáo dùng dép quai ngang cho dễ đi chợ, đi xa được). Bà Tú hiếu khách, nhưng không có ý lấy lòng ai cả. Bà Tú buôn gạo hàng đội, hàng thúng, chứ không có vốn buôn hàng thuyền. Ông Tú thích đánh kiệu có ăn tiền nhưng không sát phạt. Mồi khi sắp đi chợ, bà Tú dắt lên mái nhà cho ông mười đồng kẽm. Bà đi từ canh năm, ông dậy muộn, ăn sáng xong đã có tiền đi chơi. Hiểu thế để thấy tấm lòng bà Tú rất mực yêu chồng, chiều chồng; và cái sự “nuôi chồng” của bà khá chu đáo.

Thương vợ là một bài thơ vừa cảm động vừa dí dỏm của Tú Xương, chỉ hai câu đầu của bài thơ đã nêu bật được vai trò trụ cột gia đình

“Quanh năm buôn bán ở mom sông,

Nuôi đủ năm; con với một chồng”.

Bà Tú làm nghề buôn bán quanh năm ở “mom sông”. “Mom sông” là chồ đất nhô ra ở bờ sông Vị Hoàng chảy qua thành phố Nam Định”, ở đó có chợ buôn gạo. Trong bài Văn tế sống vợ, có câu: “Đầu sông bãi bến, đua tài buôn chín bán mười”. Ta có thể hiểu “mom sông” là chốn “đầu sông bãi bến”, là nơi cheo leo, chật chội.

Câu thơ “Nuôi đủ năm con với một chồng’’ đã nâng cao bà Tú lên hàng trụ cột gia đình, và hạ ông chồng xuống hàng phải nuôi “báo cô”, tức là hạng ăn bám vào vợ mà không giúp được gì cho vợ. Trong câu thơ đã hàm ý biết ơn vợ và tự trào, mỉa mai mình một cách thâm trầm. Tình thương vợ được thể hiện trọn vẹn trong hai câu 3, 4:

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng,

Eo sèo mặt nước buổi đò dông”.

Nói “lặn lội thân cò” buộc người ta liên tưởng tới câu ca dao: “Con cò lặn lội bờ sông, Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc ni non”. Con cò gánh gạo,

Lặn lội thân cò khi quãng vắng,

Eo sèo mặt nước buổi đò đông”.

Nói “lặn lội thân cò” buộc người ta liên tưởng tới câu ca dao: “Con cò lặn lội bờ sông, Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non”. Con cò gánh gạo con cò thương chồng, vì thương chồng mà lặn lội. Đó là hình ảnh của kẻ thương chồng. Một hình ảnh thật đắt, vì bà Tú cũng làm nghề bán gạo. Thật khó có một hình ảnh nào hay hơn. “Khi quãng vắng” là hình ảnh về sự cô đơn, thiếu người đỡ đần. ông Tú như thấy vắng mình ở nơi quãng vắng ấy, nên càng thương bà Tú hơn. “Buổi đò đông” cũng là buổi chợ đông và eo sèo, đôi co, chen chúc, là cảnh thường xuyên mà bà Tú phải chịu đựng. Cả hai câu đều tả sự khó nhọc thường xuyên mà bà Tú phải chịu để đổi lại sự thong dong trong sinh hoạt của ông chồng. ông chồng tỏ ra thấu hiểu hết:

“Một duyên, hai nợ âu đành phận,

Năm nắng, mười mưa dám quản công”.

Câu thơ như nói lên ý nghĩ của bà Tú. Cuộc đời như thế là duyên, mà cũng là nợ, duyên một thì nợ hai, thôi đành chịu theo số phận, không dám nề hà, kể công gì nữa. Nhưng câu thơ còn làm nhớ câu ca dao: “Một duyên hai nợ, ba tình, Chiêm bao lẩn khuất bên mình năm canh”. Ở đây còn có mối tình, cái tình của bà Tú đối với ông Tú. Thành ra nổi là “nợ” nhưng thực ra là nói  tình , mà đã là tình thì ai lại kể công, câu thơ có một nghĩa ngầm thú vị.

“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,

Có chòng hờ hững cũng như không”.

Bài thơ kết bằng một câu chửi, một câu chửi yêu. Hiển nhiên là bà Tú không chửi. Bà đã thương chồng, đành phận, không dám quản công thì còn đâu nỡ chửi. Nhưng ông Tú thì không thể tha thứ cho mình. Ông đă chửi bao nhiêu hiện tượng nhố nhăng, thì làm sao ông tha cho cái “vô tích sự” của mình được! Đấng mày râu để vợ nuôi báo cô với một lũ con thì thật đáng chửi. Người có tư cách chửi nhất là bà vợ. Giá bà chửi cho một câu thì ông cũng hả, vì bà đã coi mình khác lũ con. Nhà thơ đành mượn lời bà Tú để tự mắng mình. Câu chửi tưởng tượng ấy đã nâng cao nhân cách nhà thơ. Ông “ăn ở bạc” nhưng lòng không bạc, không “hờ hững” chút nào.

Nhà thơ Xuân Diệu đã rất phục bài thơ này. Ông nói: “Thơ hay, hay ở ý tình; hay ở chữ, tiếng, hay ở sự việc; hay ở nhạc điệu: lặn lội, eo sèo, thân cò, mặt nước, quãng vắng, đò đông, mỗi chữ đều tình cảm”, ở mom sông là cheo veo, chênh vênh chứ không phải ở một cái bến ngang sông tấp nập bình thường. “Nuôi đủ năm con với một chồng” – Thì ra chồng cũng là một thứ… phải nuôi. Đếm con, năm con, chứ ai lại đếm chồng, một chồng… Càng đọc câu thơ càng nhiều ý vị”.

Đọc bài thơ này ta thấy có hai giọng. Đây là chỗ khác với bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương. Bài thơ của Hồ Xuân Hương có giọng giãi bày, tự trào, cam chịu, pha chút thương mình.Bài này bà Tú cũng có giọng dành phận, cam chịu, nhưng ông Tú thì đã thấy ra sự bất công. Câu 5, 6 lời của ông Tú, mà ý là của bà Tú, còn câu 7, 8 thì lời là của bà Tú, mà ý là của ông Tú. Ồng bà rất hiểu nhau và thương nhau.

Bài thơ nhan đề là Thương vợ, nhưng sáu câu đầu là cực tả cái sự thương chồng của bà Tú. Có việc gì mà bà không làm vì chồng? Nhưng khi hiểu được sự thương chồng ấy chính là lúc ông Tú rất thương vợ. Câu chửi cuối bài hẳn khiến cho bà Tứ càng yêu ông Tú hơn. Bài thơ khéo ở chồ đó.

Dẫn theo GS Trần Đình Sử ( tuyển chọn)

Xem thêm :  Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về   Thương Vợ : thương vợ

Dàn ý và bài văn mẫu phân tích Thương Vợ Trần Tế Xương

THƯƠNG VỢ

                                   – Trần Tế Xương –

Kiến thức cơ bản về bài Thương Vợ

 Giới thiệu tác giả và tác phẩm:

Tú Xương là nhà thơ độc đáo của nền văn học trung đại cuối thế kỉ XIX. Tuy cuộc đời ngắn ngủi, nhiều gian truân nhưng ông đã để lại một sự nghiệp thơ ca bất tử. Sáng tác của ông có hai mảng lớn song hành với nhau : trào phúng và trữ tình. Ở mảng thơ trữ tình, ông có hẳn một đề tài viết về người vợ của mình với tấm lòng yêu thương, trân trọng, biết ơn, trong đó có bài thơ “Thương vợ”. Đây là bài thơ hay và cảm động nhất viết về vợ của ông Tú.

Khái quát về bài thơ:

Có thể xem “Thương vợ” là lời tri ân sâu sắc của ông Tú dành gửi tới vợ. Bài thơ được viết bằng chữ Nôm, theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật với bố cục bốn phần : đề, thực, luận, kết. Bài thơ vẽ nên bức chân dung bà Tú chịu thương chịu khó, tần tảo, đảm đang, thương chồng thương con và giàu đức hi sinh; đồng thời thể hiện tấm lòng yêu thương trân trọng vợ và nhân cách cao cả của ông Tú.

Tóm tắt nội dung và nghệ thuật bài Thương Vợ

Hai câu đề :

  • Nghệ thuật : ngôn ngữ đời thường giản dị; từ ngữ chọn lọc (quanh năm, mom sông, nuôi đủ), sử dụng số đếm (năm con, một chồng).
  • Nội dung : Lời kể về công việc làm ăn và gánh nặng gia đình mà bà Tú phải đảm đương thể hiện sự tri ân của ông Tú với vợ.

Hai câu thực:

  • Nghệ thuật : Phép đối, phép đảo, từ láy gợi hình gợi cảm, vận dụng sáng tạo thi liệu dân gian (“thân cò”).
  • Nội dung : Đặc tả cảnh làm ăn vất vả để mưu sinh của bà Tú, cho thấy nỗi cảm thông sâu sắc trước sự tảo tần của người vợ.

Hai câu luận :

  • Nghệ thuật : phép đối, vận dụng thi liệu dân gian (thành ngữ); giọng thơ mang âm hưởng dằn vặt, vật vã.
  • Nội dung : Bình luận về cảnh đời oái oăm mà bà Tú phải gánh chịu, cho thấy ông Tú thấu hiểu tâm tư của vợ, thương vợ sâu sắc.

Hai câu kết :

  • Nghệ thuật : sử dụng khẩu ngữ; lời thơ giản dị, tự nhiên.
  • Nội dung : tiếng chửi – tự chửi mình và chửi thói đời đen bạc; bộc lộ nhân cách đáng trọng của ông Tú.

Nghệ thuật cả bài thơ :

  • Vận dụng sáng tạo ngôn ngữ và thi liệu văn hóa dân gian.
  • Kết hợp nhuần nhuyễn giữa trữ tình và trào phúng.

 

Ý nghĩa văn bản:

Chân dung người vợ trong cảm xúc yêu thương cùng tiếng cười tự trào và một cách nhìn về thân phận người phụ nữ của Tú Xương.

Một số đề luyện tập bài Thương Vợ

Dựa vào kiến thức cơ bản và phương pháp làm bài nghị luận văn học về bài thơ, đoạn thơ, học sinh luyện tập với các đề sau:

Đề 1. Phân tích bài thơ  “Thương vợ” của nhà thơ Trần Tế Xương.

Đề 2. Vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ Việt Nam qua hình tượng người vợ trong bài thơ “Thương vợ” của nhà thơ Trần Tế Xương.

Bài văn mẫu phân tích Thương Vợ- Trần Tế Xương

Tú Xương là nhà thơ độc đáo của nền văn học trung đại cuối thế kỉ XIX. Tuy cuộc đời ngắn ngủi, nhiều gian truân nhưng ông đã để lại một sự nghiệp thơ ca bất tử. Sáng tác của ông có hai mảng lớn song hành với nhau : trào phúng và trữ tình. Ở mảng thơ trữ tình, ông có hẳn một đề tài viết về người vợ của mình với tấm lòng yêu thương, trân trọng, biết ơn, trong đó có bài thơ “Thương vợ”. Đây là bài thơ hay và cảm động nhất viết về vợ của ông Tú:

“Ghi nguyên văn bài thơ”

Có thể xem “Thương vợ” là lời tri ân sâu sắc của ông Tú dành gửi tới vợ. Bài thơ được viết bằng chữ Nôm, theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật với bố cục bốn phần: đề, thực, luận, kết. Bài thơ vẽ nên bức chân dung bà Tú chịu thương chịu khó, tần tảo, đảm đang, thương chồng thương con và giàu đức hi sinh; đồng thời thể hiện tấm lòng yêu thương trân trọng vợ và nhân cách cao cả của ông Tú.

         Ngay đầu bài thơ, hình ảnh bà Tú đã hiện ra :

“Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng”.

Câu đầu nói về thời gian và không gian làm việc của bà Tú. Bà phải làm việc vất vả “quanh năm”, suốt bốn mùa không ngơi nghỉ, cứ hết ngày này sang ngày khác, hết năm này qua năm khác, không kể nắng mưa. Bà làm việc vất vả quanh năm suốt tháng như thế ở “mom sông”, nơi có mỏm đất nhô ra ven bờ sông chênh vênh, nguy hiểm. Bà phải cật lực buôn bán ở một nơi nguy hiểm như thế để đảm bảo kinh tế gia đình, “nuôi đủ” chồng và con. Câu hai cho thấy gánh nặng gia đình trên vai bà Tú. Đặc biệt, cách nói về gánh nặng gia đình mà bà Tú phải đảm nhiệm thật độc đáo : “năm con với một chồng”. Dường như, ông Tú đang tự đặt mình lên bàn cân và thấy một mình ông “nặng” bằng năm đứa con. Bà Tú phải nuôi ông bằng nuôi thêm năm đứa con nữa. Cách nói ấy gợi ra nụ cười mỉa mai chính mình của ông Tú: hóa ra, mình cũng chỉ là một thứ con cần phải nuôi. Nhận ra mình là một gánh nặng trên đôi vai gầy của vợ cho thấy ông Tú hết sức biết ơn người vợ tần tảo của mình. Hai câu thơ đầu, bằng việc khắc họa thời gian, không gian làm việc của bà Tú và cách đếm con đếm chồng tếu táo của ông Tú, tác giả đã vẽ ra bức chân dung bà Tú tần tảo, đảm đang, chịu thương chịu khó và cho thấy tấm lòng tri ân vợ của nhà thơ.

         Hai câu tiếp theo tiếp tục khắc họa hình ảnh bà Tú :

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng,

Eo sèo mặt nước buổi đò đông”.

Hai câu thơ có cấu tạo đặc biệt: đảo vị ngữ lên đầu câu, nhấn mạnh hai từ láy gợi hình. Bà Tú phải “lặn lội” sớm hôm, chạy vạy ngược xuôi “khi quãng vắng”. Công việc khiến bà Tú phải thức dậy đi làm từ khi mọi người vẫn đang còn ngủ và trở về nhà khi mọi người đều đã sum họp bên gia đình, khi bên ngoài đường đều là những “quãng vắng” có phần nguy hiểm với một người phụ nữ. Câu thơ đầu sử dụng hình ảnh ẩn dụ quen thuộc của ca dao Việt Nam là “con cò”. Trong ca dao, hình ảnh con cò thường tượng trưng cho người lao động, đặc biệt là người phụ nữ lam lũ, nghèo khổ, bất hạnh. Cách sáng tạo hình ảnh “con cò” thành “thân cò” để chỉ bà Tú vừa cho thấy sự lam lũ, vất vả, cực nhọc đến tội nghiệp, đáng thương của bà Tú, vừa cho thấy tình thương mà ông Tú dành cho bà. Chẳng những phải vất vả thức khuya dậy sớm mà bà Tú còn phải chịu những khó khăn chồng chất trong công việc buôn bán. Khi chợ đã đông, đã lắm kẻ bán người mua, bà không tránh khỏi phải chịu những điều tiếng kêu ca, phàn nàn “eo sèo” của khách hàng. Cả hai câu thơ, với việc sử dụng phép đối, phép đảo và những từ láy gợi hình cùng với hình ảnh ẩn dụ quen thuộc, nhà thơ đã khắc họa những vất vả, khổ cực của bà Tú, từ đó gợi ra hình ảnh một người vợ lam lũ, chịu thương chịu khó vì chồng con. Qua đó cũng cho thấy sự thấu hiểu, tình yêu thương của ông Tú với người vợ tảo tần.

           Hai câu luận vẫn là hình ảnh bà Tú :

“Một duyên hai nợ âu đành phận,

Năm nắng mười mưa dám quản công”.

Hai câu thơ mà có đến hai thành ngữ để nói về bà Tú. “Một duyên hai nợ” là thành ngữ cho thấy nỗi vất vả của bà: chỉ có một cái “duyên” may mắn với ông Tú mà bà lại chịu đến “hai nợ”, hai gánh nặng là chồng và con. Nhưng bà không hề kêu ca, phàn nàn, không than trời kêu đất mà vui vẻ chấp nhận như đó là số phận của mình, “âu đành phận”. Nỗi vất vả và đức hi sinh của bà Tú không chỉ có thế. Dù phải “năm nắng mười mưa”, đi trưa về tối thì bà vẫn “dám quản công”, bà không kể công lao, không quản ngại gian khó. Bà chịu đựng hi sinh tất cả để lo cho gia đình, bà không nghĩ gì cho riêng bản thân mình. Hai câu luận này, bằng phép đối và vận dụng sáng tạo thành ngữ, nhà thơ đã hoàn thành nốt bức chân dung về phẩm cách cao quý của bà Tú : lòng yêu thương chồng con và đức hi sinh cao cả. Ở hai câu thơ này, giọng thơ chùng xuống mang âm hưởng dằn vặt, vật vã, gợi ra một tiếng thở dài nặng nề, chua chát của một ông chồng cảm thấy mình vô dụng, phải để vợ một mình gồng gánh việc gia đình. Điều đó chứng tỏ tấm lòng yêu thương vợ rất mực của Tú Xương.

Nếu như sáu câu đầu là bức chân dung bà Tú: tần tảo, lam lũ, chịu thương chịu khó, yêu chồng thương con và giàu đức hi sinh, giàu lòng vị tha được vẽ bằng tấm lòng yêu thương, trân trọng vợ hết mực của ông Tú thì đến hai câu cuối, ông đã mượn lời bà Tú để cất lên tiếng chửi :

“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,

Có chồng hờ hững cũng như không”.

Câu trên, ông sử dụng khẩu ngữ “cha mẹ” để chửi “thói đời” làm bà Tú khổ. “Thói đời” ấy là cái “thói” phổ biến trong xã hội phong kiến cũ: chồng là nhà nho thì chỉ biết ăn, học, lều chõng thi cử, còn vợ lại một mình lo kinh tế gia đình, chèo chống giang sơn nhà chồng. Chửi thói đời đen bạc chưa hả, ông quay sang chửi chính mình là “chồng hờ hững”, là ông chồng vô tích sự, không làm gì được cho vợ đỡ khổ, lại còn “ăn bám” vợ. có lẽ tự giận mình quá nên ông Tú đã quá lời chửi mình là đồ “chồng hờ hững” chứ thực ra, một người phát hiện ra, biết trân trọng và hết lời ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của vợ, còn tự nhận ra thiếu sót của mình mà tự lên án mình gay gắt như thế thì cũng không phải đến nỗi là “hờ hững”. Là một nhà Nho với tính tự trọng cao và đặc biệt là sống trong xã hội mang nặng tư tưởng trọng nam khinh nữ, vậy mà ông vẫn tỏ ra rất kính trọng người vợ của mình, chẳng những thế còn tự nhận khuyết điểm của mình một cách chân thành, tự chửi mình chứng tỏ ông Tú là con người có nhân cách đáng trọng. hai câu thơ cuối bài với ngôn ngữ thơ giản dị, tự nhiên, vận dụng khẩu ngữ đời thường, tác giả bộc lộ sự xót xa vì cảnh làm chồng mà để vợ phải nuôi, trở thành gánh nặng cho vợ; đồng thời cũng thể hiện nhân cách cao đẹp của ông Tú.

Trong văn học trung đại Việt Nam, không thiếu những bài thơ viết về vợ nhưng chỉ mỗi Tú Xương nhận ra được vẻ đẹp tâm hồn của người vợ ngay trong cuộc sống đời thường và viết về bà ngay khi bà còn sống. có thể nói rằng, tuy có vất vả, cực khổ nhưng được chồng trân trọng, yêu thương, ngợi ca như thế thì bà Tú cũng mát lòng mát dạ mà hãnh diện với cuộc đời. Cả bài thơ, với việc vận dụng sáng tạo ngôn ngữ và thi liệu văn hóa dân gian cùng với sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa trào phúng và trữ tình, Tú Xương đã gửi đến người đọc một cách nhìn tiến bộ về thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ.

Thương vợ” là bài thơ viết về vợ hay và cảm động nhất của Tú Xương. Bài thơ đã vẽ nên bức chân dung bà Tú mang những phẩm chất tiêu biểu của người phụ nữ Việt Nam : tần tảo, đảm đang, chịu thương chịu khó, yêu chồng thương con và giàu đức hi sinh, giàu lòng vị tha. Qua đó cũng cho thấy tấm lòng yêu thương, trân trọng vợ rất mực và nhân cách cao cả của Tú Xương. Đọc xong bài thơ, không ai lại không cảm mến bà Tú và cảm động trước tình cảm chân thành mà ông Tú dành cho vợ. Và chắc rằng, bà vợ nào cũng sẵn sàng chịu đựng vất vả khó nhọc mà vẫn luôn vui vẻ nếu có được ông chồng biết yêu thương, trân trọng vợ như ông Tú. Cách nhìn về thân phận người phụ nữ khiến người đọc nhìn lại, ngẫm về người vợ, người mẹ của mình và thấy yêu thương, trân trọng, biết ơn họ.

Tài liệu sưu tầm

Xem thêm :  Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về   Thương Vợ : thương vợ

Bài văn mẫu phân tích Thương Vợ -Tú Xương, hay và đầy đủ nhất

Soạn bài Thương Vợ Ngữ văn lớp 11. Tuyển tập những bày văn hay , Cảm nhận của em về bài thơ Thương Vợ – Trần Tế Xương.

Admin giới thiệu với các em học sinh bài văn mẫu hay và đầy đủ nhất , phân tích bài Thương Vợ.

Có thể xem thêm tuyển tập những bài văn phân tích Thương Vợ tại đây : Thương Vợ

Bài làm :

Ông Tú tỏ lòng thương vợ bắt đầu bằng sự tính công. Đúng hơn là sự biết ơn, sự biết ơn sâu sắc công lao bà Tú:

“Quanh năm buồn bán ờ mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng”.

Ông Tú nói chuyện bà Tú buôn bán để nuôi con và nuôi mình. Cách nói đáng lưu ý. Một năm có 365 ngày. Chả nhẽ bà chạy chợ hết cả 365? ít nhất bà cũng có mấy ngày nghỉ Tết nhất giỗ chạp hoặc về bên ngoại thăm bố mẹ, em út… nhưng ở đâỵ ông Tú vẫn tính tất cho bà trọn 365 ngày, trọn cả quanh năm, mà “quanh năm” tức là “quanh nam” rồi lại “quanh năm”… Cách nói như là sự xô bồ, cường điệu của chuyện văn chương, trong trường hợp này chính là sự bày tỏ lòng biết ơn bà Tú một cách triệt để. Người dân lao động xưa, muốn nói cảnh làm ăn cơ cực của mình – cũng một cách triệt để để tạo ra thành ngữ “quanh năm tận tháng” bên cạnh thành ngữ “đầu tắt mặt tối”. Ông Tú học cách nghĩ, cách nói đó của quần chúng để ghi công lao của bà Tú về mặt thời gian lao động. Còn cái nơi mà bà Tú buôn bán? – “ở mom sông”. Có người ghi chú rằng: “Mom sông là nơi đất nhô ra sông(?).Mom sông Vị là vùng đất gần làng Phù Long, ở chỗ nhà máy nước thành phố Nam Định bây giờ”, Có người còn cho biết thêm: Mom sông Vị là nơi đầu chỗ sông Vị Hoàng chảy thông ra sông Nam Định. Thời sông Vị Hoàng chưa bị lấp thì mom sông này là nơi buôn bán của bà con tiểu thương, thuyền bè qua lại hay đậu ờ đấy. Bà Tú có ngôi hàng buôn chung gạo với người khác ở mom sông đó. về sau, sông Vị Hoàng bị lấp. Chốn buôn bán của bà Tú cũng tàn lụi theo. Nhưng như Xuân Diệu nhận xét (ngay khi sông Vị Hoàng chưa bị lấp): “ở mom là cheo leo, chênh vênh chứ không phải ở một cái bến ngang sông tấp nập bình thường. Cảnh ngộ làm ăn như thế mà bà Tú vẫn “Nuôi đủ năm con với một chồng”. Tất cả những sáu miệng ăn, trừ bà Tú chưa tính. Thành tích này, nói là bà Tú tần tảo vất vả, nói là bà Tú vị tha, cao cả thì cũng là tần tảo vất vả, cũng là vị tha, cao cả hết mực. Nhưng ở đây, nói sự việc là bất công, vô lí thì củng là hết mực vô lí bất công. Đẻ con ra, có ít đâu. Những năm đứa. Phải nuôi chúng nó khôn lớn. Trách nhiệm đó là của bà Tú. Dĩ nhiên rồi, Nhưng anh chồng “Trên đồng cạn, dưới đồng sâu, Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa” đâu? Thì ở đây làm gì có. ông Tú không phải loại chồng đó, Ông là loại chồng “Tiền bạc phó cho con mụ kiếm” loại chồng “Thưng đấu nhờ lưng một mẹ mày”, ông Tú không cùng bà nuôi con đã đành. Mà như có kẻ ác khẩu đã châm biếm: ông còn là một “thứ con” đặc biệt để bà Tú phải nuôi riêng! Đoảng thế là cùng! Chế độ xãhội cũ đã sản sinh ra loại ông chồng đoảng, loại ông chổng “dài lưng tốn vải, ăn no lại nằm” như ông Tú không ít.

Nhưng ở ông Tú, có một điều này là khác, là rất khác: Ông tỏ ra biết nhận lỗi, biết đền bù lại bằng cái tình, bằng tấm lòng. Cái thái độ của Tú Xương trở nên dễ thương ở điểm này. Bài thơ của Tú Xương hay bắt đầu từ điểm này. Ông nói chuyện bà Tú nuôi con đã đành, mà còn là nuôi mình, nói theo kiểu nói toạc, không một chút ngượng bút, ngượng miệng, lại như vừa nói vừa tủm tỉm cười, tự trách sao mình vô tích sự, lại để vợ phải nuôi. Việc nuôi chồng của bà Tú, có thể là ông chưa xem là sung sướng. Cái cảnh “Cơm hai bữa; cả kho rau muống; quá một chiều: khoai lang lúa ngô” thì có gì là sung sướng, chắc còn xa sự sung sướng. Nhưng xem ra ông Tú đã không dám đòi hỏi gì hơn. Ông đã thấy vui, đã ra vẻ bằng lòng, và đặc biệt là đã cảm cái ơn của bà Tú lắm lắm rồi. Và do như thế mà ngay trong cặp thơ đề, hình ảnh bà Tú đã thấp thoáng hiện lên lớn, đẹp vô cùng. Cả đám cha con ông Tú sống trong sự cưu mang của bà Tú, tựa như đàn gà con đang được “mẹ gà ấp ủ”. Văn chương chữ nghĩa của ông Tú ở đây đơn giản mà thân tình đến kỳ lạ, có sức gợi phong phú vô cùng. Ông nói: “Nuôi đủ năm con với một chồng”, nói như nói chơi mà ý tình sâu nặng, chân thành biết bao nhiêu. Ông Tú không gộp sáu cha con lại mà nói. Ông nói “năm con” riêng, “một chồng” riêng. Như thế là vì con ơn mẹ là chuyện con với mẹ đã đành. Còn phần ông, ông chịu ơn vợ thì ông phải nói riêng ra cho thật rõ, nói riêng ra để khỏi mập mờ dù là một chút. Cũng như trong ý thơ, ông không tính đến bà Tú. Chỉ nói chuyện bà “nuôi đủ năm con với một chồng”. Không tính đến bà thì cái lòng vị tha, cái công lao của bà càng thêm rõ. Mà cái lòng tri ân của ông – thay mặt cả lũ trẻ con năm đứa nữa – đối với bà Tú cũng càng rõ thêm.

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông”.

Hai câu thực gợi lên cảnh làm ăn vất vả, tội nghiệp hàng ngày của bà Tú. Chẳng hay ông Tú dã đón nhận câu ca dao “Con cò lặn lội bờ sông, gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non”, từ bao giờ? Qua tiếng ru con của một bà mẹ láng giềng hay chính là ru Trần Tế Xương của bà cụ Nhuận? Chắc chắn từ “Con cò lặn lội bờ sông”, hình ảnh những bà vợ Việt Nam ngàn xưa trong xã hội cũ, ngược xuôi tần tảo, gian nan cực nhọc để nuôi chồng con cũng từ lâu đã đi vào hồn thơ giàu rung động của Tú Xương với bao nhiêu xót xa thương cảm. Để giờ đây, trong lúc nghĩ đến bà Tú thì con cò ấy bỗng vụt dậy vỗ cánh bay và thi hứng “Thương vợ” của Tú Xương. Ca dao xưa nói: “Con cò lặn lội bờ sông”, trông đã vất vả, tội nghiệp. Con cò của ca dao lặn lội bờ sông. Khung cảnh đã mênh mông, heo hút đến rợn người. Trong thơ ông Tú, có cái rợn ngợp của không gian, lại còn thêm cái rợn ngợp của thời gian. “Lặn lội thân cò khi quãng vắng”. Chép như thế, dễ thường mất đi cái hoang vắng của thời gian làm mất đi cái khối hình của ý thơ. Ca dao nói: “Con cò lặn lội”. Tú Xương chuyển lại thành “lặn lội thân cò”. Hai từ “lặn lội” chen lên đứng đầu câu. Cảnh lặn lội lại càng lặn lội. Ca dao nói con cò, Tú Xương nói “thân cò”. Ý thơ cứ xoáy sâu vào sự cực khổ. “Thân” trong ngôn từ văn chương tiếng Việt trước hết là chỉ cái thân thế con người “Vai năm tấc rộng thân mười thước cao”. (Truyện Kiều). Nhưng còn là chỉ một đời người, một kiếp người “Thân này ví đổi thành trai được, sự nghiệp anh hùng há bấy nhiêu” – Hồ Xuân Hương: “Thân lươn bao quản lấm đầu, chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa” (Truyện Kiều) mà nói chung trong văn học xưa là đau khổ, là ê chề, tủi cực. Tú Xương đã nghĩ kiếp đời bà Tú bằng thứ ngôn ngữ có độ dày của giời gian, của truyền thống đó. Trong câu thơ, “thân cò” không “khóc nỉ non”. Bởi ở đây sự gian khổ đang được nén xuống. Nhưng càng nén lại càng đau. Câu thơ đó vẫn bị rỉ rả tiếng khóc cho thân cò. “Lặn lội thân cò khi quãng vắng”. Tú Xương đã nâng cái tầm khái quát con cò trong ca dao từ ngàn xưa lên một mức để nói cho hết tấm lòng thương cảm da diết của mình đối với cuộc đời làm ăn vất vả của bà Tú. Câu thơ trở thành như một bức họa phác thảo về một người dàn bà mỏng manh, gầy guộc, lúi húi một mình kiếm sống giữa cuộc đời trơ trụi. Cái cảnh bà Tú lặn lội sớm khuya để nuôi chồng nuôi con giữa cái thời buổi “sống chết mặc bây”, cái thời buổi nghĩa tình đã bạc quá vôi, chính là người đàn bà trong bức họa phác thảo đó.

“Eo sèo mặt nước buổi đò đông”

Ý tình của thơ đúng là đang triển khai. Câu thực thứ nhất mới nói cái vất vả, cái cô đơn. Câu thực thứ hai này nói rõ thêm cái vật lộn. Vật lộn là có chuyện đụng chạm đến người chung quanh, đến xã hội rồi. Có sách chú thích: “Cứ buổi trưa hay chiều có chuyến đò chở những người đi buôn gạo ở những chợ Thông, chợ Quán (bên kia bên Tân Đệ) về quán bánh dày ở đầu tỉnh Nam là nơi bán gạo. Quán bánh dày quen gọi là “Mom”, những người này thường eo sèo với nhau là bán đắt bán rẻ. Có sách lại chú thích: “Eo sèo là kỳ kèo mặc cả, cãi cọ nhau”. Đúng đây chưa phải là cảnh cạnh tranh cuớp giật gì nhau ghê gớm, càng chưa phải cái cảnh “cá nuốt cá”, “tre buộc tre” trong bọn thống trị với nhau và giữa bọn thống trị đối với dân lao động bị áp bức trong xã hội đó. Cảnh làm ăn của lớp tiểu thương như bà Tú với nhau trong xã hội cũ về bản chất không có như vậy. Ở đây, trước hết, chỉ mới là sự chen chúc. Vì cái sống mà phải chen chúc. Chen chúc với nhau trên những chuyến đò đưa khách sang sông. Chật hẹp, bấp bênh, mỏng manh, chơi vơi quá chừng! Và dường như sông nước càng mênh mông bao nhiêu thì cái độ chơi vơi, mỏng manh, bấp bênh đó lại càng tăng lên bấy nhiêu. Và tội nghiệp bà Tú. Hẳn đã có lần bà nghe mẹ dặn: “Con ơi, mẹ dặn câu này, sông sâu chớ lội đò đầy chớ khoan sang” (ca dao).

Ấy thế mà bây giờ, vì cuộc sống của chồng con mà con gái của mẹ vẫn bất chấp, vẫn phải liều lĩnh để sang sông “buổi đò đông”. Lời mẹ dặn, có thể vì cuộc sống mà quên. Hoặc nhớ nữa, nhưng biết làm sao hở mẹ? Cuộc sống trong xã hội bất công khắc nghiệt với con người đến thế. Bọn bóc lột, ngồi mát ăn bát vàng, sống trên mồ hôi nước mắt của người bị trị.

Người dân lao động luôn luôn bị cái quy luật cạnh tranh sinh tồn, đặc biệt là cái quy luật bần cùng hóa của chế độ thực dân nửa phong kiến uy hiếp, nên lắm lúc vì cái ăn cái mặc hàng ngày của gia đình mà buộc phải liều lĩnh, phải bực dọc, phải cau có, phải mè nheo, phải chen lấn… thì cũng là điều thường tình, dễ hiểu và đáng thương hơn đáng trách. Sự tha hóa của con người có khi chính là bắt đầu từ những dấu hiệu đó. Tú Xương nhận biết sâu sắc cái hiện thực phũ phàng, bất nhân đó mà càng xót xa thương vợ khi viết câu thơ trên:

“Một duyên hai nợ âu đành phận.
Năm nắng mười mưa dám quản công”.

Trong ấn tượng của ông Tú, kiếp sống của bà Tú thật là căng thẳng, nặng nhọc. Một cuộc đời, một kiếp sống như thế mà không sinh ra vật vã, dằng dặc với nó sao chịu được. Tú Xương nói chuyện ông bà lấy nhau, chuyện bà Tú lấy ông Tú. Kể cũng là cái duyên, về tư cách làm chồng thì quả là ông còn nhiều khuyết điếm. Nhưng chẳng gì thì ông cũng có chân Tú Tài để may khỏi tiếng “cha cu”. Ông cũng hào hoa, cũng duyên dáng, cũng thơ phú lừng danh, đặc biệt là đối xử với bà Tú cũng tử tế, cũng nhiều lúc đùa vui, tình tứ. Còn về đường con cái, thì “Trời cho” cũng “năm con” rồi. Một cảnh chồng con như thế, bình thường không đáng gọi là duyên sao. Nhưng ở đây, sao đã nói đến “một duyên” rồi lại nói đến “hai nợ”? Nghe lại nặng nề, chua chát, éo le, thậm chí còn như dằn vặt, vật vã nữa. Trước hết có vấn đề chữ nghĩa nên hiểu thế nào? “Một duyên hai nợ”, một hai là số chỉ thứ tự hay số lượng? Có lẽ cái âm hưởng dằn vặt của câu thơ này và cả cái lối nói cũng theo kiểu tăng cấp, bồi thán (năm nắng mười mưa) trong luật đối của câu thơ sau, dễ khiến ta hiểu theo nghĩ thứ hai. Và như thế thì ý thơ muốn nói: duyên thì có một mà nợ lại thành hai. Trở lại nguồn gốc xa xưa của chữ nghĩa thì đúng là giáo lý của đạo Phật đã nói đến túc trái tiền duyên. Đạo Phật – quan niệm rằng sự vật, con người có quan hệ với nhau ví như vợ chồng lấy nhau là do có cái duyên từ kiếp trước. Và như thế thì cái duyên cũng là cái nợ từ kiếp trước mà con người ở kiếp này phải trả. Duyên và nợ, theo quan niệm đó của đạo Phật thành ra như một. Trong văn học chịu ảnh hưởng của đạo Phật, từ lâu cũng nói đến duyên nợ “Ví chăng duyên nợ ba sinh, làm chi đem thói khuynh thành trêu người”. (Truyện Kiều). Nhưng cũng từ lâu, trong văn học và trong ngôn ngữ dân gian đã có hiện tượng dân gian hóa quan niệm về duyên nợ theo hướng làm mờ nội dung triết lý siêu hình của nó và muốn tách duyên riêng nợ riêng. Nói đến duyên là nói đến sự may mắn, thuận chiều. Nói đến nợ là nói đến sự đau khổ, phải chịu đựng. Ở Tú Xương trong trường hợp này, xu hướng dân gian hoá đó dường như dẫn đến một sự tách chia đã khá rạch ròi duyên và nợ. Câu thơ của Tú Xương muốn nói: Cuộc đời của bà Tú “duyên” thì có một mà “nợ” thì đến hai, nghĩa là một cuộc đời oái oăm, cay đắng mà đành cam phận. Tú Xương thương xót cho cuộc đời đó mà thành ra dằn vặt thay, vật vã thay. “Một duyên hai nợ âu dành phận”. Âm hưởng của câu thơ đúng là âm hưởng dằn vặt, vật vã. Và nói là “đành phận” thì đúng lại là vừa cam chịu vừa như không muốn cam chịu. Cái ý có vẻ như ngược chiều nhau này chính là tâm trạng của Tú Xương trong khi nghĩ đến cuộc đời của bà vợ. Cái sự thật khách quan chua chát và tâm trạng chủ quan thương vợ của ông Tú xen lẫn trong ý thơ. Hai câu luật vừa nổi lên hình ảnh bà Tú vị tha, cao cả vừa ngầm chứa ý nghĩa tố cáo xã hội đương thời, cái xã hội ma quái đã dồn những con người chịu thương chịu khó như bà Tú đến bước cơ khổ, quằn quại, có duyên mà không vui được với duyên. Duyên có một mà nợ những là hai, vui sao được.

“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững cũng như không”.

Không vui được, đã đành. Còn phải phát khùng lên với nó. Bài thơ đã kết lại bằng một tiếng chửi mát. Nhìn cuộc đời bà Tú như thế, có chửi cũng là điều dễ hiểu. Nhưng ở dây, ai chửi, chửi ai? Và chửi cái gì? Thì vẫn là ông Tú thương xót cho bà Tú mà chửi thay cho bà Tú. Chứ bà Tú mà dư luật thành Nam đã hằng khen là chịu thương chịu khó, tần tảo nuôi chồng nuôi con, bà Tú “năm nắng mười mưa dám quản công” hẳn có bao giờ lại chửi như thế. Ông Tú đã chửi mát chính ông Tú về cái tội “ăn ở bạc”, cái tội làm chồng mà “hờ hững cũng như không”, làm chồng mà để vợ phải trăm cơ nghìn cực như thế! “Có chồng hờ hững cũng như không” chữ nghĩa của Tú Xương ở đây lại cũng buột ra quá cái mức tự nhiên và giản dị nhưng ý tình lại cũng sắc biết bao nhiêu, cảm động bao nhiêu. Ngày trước, Thúy Kiều trong buổi trao duyên, tự nhiên cứ cố buộc vào mình cái tội phụ chàng Kim Trọng “Vì ta khăng khít cho người dở dang”, “Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây” (Truyện Kiều) mà thực ra, Kiều đâu có phụ. Ở đây, Tú Xương đối với bà Tú, nói là không giúp đỡ bà Tú được gì thì đúng, chứ nói “ăn ở bạc” với bà Tú thì đâu đã đến thế. Và nói là “hờ hững” thì cũng một mặt thôi, chứ đâu tất cả là “hờ hững”, đến mức là kết tội là “ăn ở bạc”. Đúng là giữa Thúy Kiều và Tú Xương, hai cảnh ngộ khác nhau rất xa, nhưng nhân cách lại có mặt giống nhau. Đó là nhân cách của những con người biết yêu thương cho người khác hơn mình biết nghĩ cho người khác hơn mình. Thúy Kiều là cho người yêu. Tú Xương là cho bà vợ. Tú Xương càng thương, càng nghĩ đến bà Tú bao nhiêu thì càng thấy mình “ăn ở bạc, càng thấy mình “hờ hững” bấy nhiêu. Đọc đi dọc lại câu thơ cứ thấy nhói lên một lời tự phán, một lời thương cảm của ông Tú. Nhớ lại xã hội thời ông Tú, trong tầng lớp của ông (thậm chí cả trong nhân dân lao động một phần) có khối gì anh chồng lêu lổng chỉ quen hách dịch, ăn bám vợ, không thỏa mãn thì giở trò dã man đánh vợ. Ít tệ bạc hơn thì cũng ăn bám vợ mà chẳng bao giờ biết nghĩ mình ăn bám. Người vợ đối với họ, thực tế đã bị biến thành một thứ “nô lệ”, một thứ nô lệ đặc biệt, một thứ nô lệ mà không bị gọi là nô lệ, vẫn được gọi là bu nó, bà nó, thế thôi. Cho nên, thái độ, tình ý của thơ của Tú Xương ở đây quả là đáng quý, khiến cho mọi người dễ cảm thông.

Tú Xương tự phán, tự rủa mà vô hình trung lại để lộ rõ thêm nhân cách của mình, mà vô hình trung lại tự rũ bỏ được con người phong kiến, con người Nho gia trong mình để cho một Trần Tế Xương ân tình, một Trần Tế Xương nhân ái, một Trần Tế Xương nhân dân hiện lên, đáng quý biết bao nhiêu. Nhưng ở đây, Tú Xương chửi mình đã đành, lại còn chửi lây sang cả cái “thói đời” cái “thói đời ăn ở bạc”. Trong cái “thói đời ăn ở bạc” ấy, có anh “chồng hờ hững cũng như không” là ông Tú, nhưng còn bao nhiêu thứ khác đáng chửi hơn. Cái tiếng chửi của Tú Xương lại chính là muốn hướng vào cái “thói đời ăn ở bạc” nói chung đó. Nghe lại tiếng chửi của Tú Xương. Đúng là ông đang thay bà Tú mà chửi cả cái “thói đời ăn ở bạc”, nghĩa là cả cái xã hội thực dân nửa phong kiến bất nhân đương thời. Cái xã hội đó đẻ ra cái thói đời đó. Cái thói đời đó là bạc bẽo, là đểu cáng, là chen lấn, là cướp giật, là sống chết mặc bây… để những người lương thiện như vợ ông Tú, tần tảo mà vẫn đói nghèo, thương chồng con mà thành khổ cực, có duyên mà không vui nổi với duyên. Cái “thói đời” đó, Tú Xương không chửi vung lên sao yên. Tú Xương là bậc “thần thơ”, “thánh chữ”. Tú Xương chỉ chửi một tiếng, có vẻ như chửi mát, chửi bâng quơ, chửi cái anh “chồng hờ hững” là mình, mà hóa ra lại là chửi cả cái xã hội, chửi cả cái đời bấy giờ. Nói chữ nghĩa nhưng chính là nói thái độ. Vấn đề bài thơ đặt ra không chỉ còn là vấn đề thái độ của Tú Xương đối với người vợ của mình mà đã mở rộng sang vận đề thái độ của Tú Xương đối với xã hội. Vai trò của các câu kết trong thơ Tú Xương thường làm nhiệm vụ nâng cao, mở rộng ý nghĩa xã hội của nội dung thơ như vậy. Nói kết nhưng lại là mở, chính là như vậy.

Bài thơ Thương vợ là tất cả tấm lòng biết ơn sâu sắc, là niềm thương cảm da diết của Tú Xương đối với cuộc đời cần mẫn, nhân ái nhưng vất vả cực nhọc của bà Tú. Mặt khác, cũng là sự tự phán, sự hối hận rất mực chân thành của Tú Xương về những thiếu sót của mình đối với vợ, và đặc biệt cũng là thái độ của Tú Xương oán đời, giận đời bạc bẽo, gây khổ cực cho những người chân chính như bà Tú. Cảm xúc nghệ thuật của Tú Xương vừa có cái độ dày của cảm xúc truyền thống, của nhân dân, của văn học dân gian, vừa nóng hổi cái cảm hứng thời cuộc của ông. Qua bài thơ Thương vợ, hiện lên một bà Tú chưa phải là một bậc nghĩa liệt, nhưng là một người vợ, một người mẹ Việt Nam với bao nhiêu phẩm chất cao quý: Chịu thương chịu khó, hy sinh tất cả cho chồng cho con mặc dù cuộc đời phải ngược xuôi tất tả, tủi nhục, đắng cay. Thơ Thương vợ của ông Tú, chữ nghĩa giản dị mà ý tình lại sâu nặng.

Đặt bài Thương vợ vào trong lịch sử thơ cả cũ mà đối chiếu, lại càng thấy nó đáng quý bao nhiêu. Suốt thời đại phong kiến, trong văn học viết, hỏi đã mấy ai trực tiếp làm văn thơ về người vợ của mình, trừ lúc vợ chết mà họ thường làm văn tế. Hai trường hợp; Ngô thi sĩ viết “khúc ai lục”, Phạm Nguyễn Du viết “Đoạn trường lục” là quả đặc biệt mà chính hoàn cảnh lịch sử cuối thế kỷ XVIII đã cho phép. Sự sụp đổ tan tành của chế độ phong kiến Lê – Trịnh – Nguyễn, sự trỗi dậy mãnh liệt của trào lưu tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa của quần chúng, đã đề ra “Đoạn trường lục” và “Khúc ai lục”. Nhưng sao đó, trong hoàn cảnh lịch sử đầu thế kỷ XIX cũng không còn những tác phẩm như vậy ra đời nữa. Trước sau Tú Xương một ít, có Nguyễn Khuyến, Nguyễn Thượng Hiền, Phan Bội Châu, đều có thơ văn khóc vợ. Có nhiều trường hợp khá chân thành, thắm thiết, nhưng nói chung vẫn chưa ai làm thơ văn về vợ, đặc biệt là khi vợ chồng đang sống với nhau kiểu Tú Xương. Phải chăng hệ ý thức phong kiến đã không cho phép những bà vợ Việt Nam xưa trở thành đề tài trong thơ văn của chính những ông chồng của họ?. Ở phương diện này, có lẽ Tú Xương thành ra một trường hợp mới mẻ, độc đáo của văn học. Bài thơ “Thương vợ” cũng thành ra một hiện tượng đặc sắc, quý báu của lịch sử văn học dân tộc.

Tác giả bài viết: Nguyễn Đình Chú.

Giáo án bài Thương Vợ -Tú Xương, soạn theo cấu trúc mới

Soạn bài Thương Vợ- Trần Tế Xương. Giáo án ngữ văn 11 soạn theo 5 hoạt động, định hướng phát triển năng lực học sinh

Ngày soạn: 3/9/2017

Tuần 3: Tiết: 9- Đọc văn:

 

THƯƠNG VỢ.

( Trần Tế Xương )

 

Mục tiêu bài học.

1.Kiến thức:

– Hình ảnh người vợ tần tảo, đảm đang, giàu đức hi sinh và ân tình sâu nặng cùng tiếng cười tự trào của Tú Xương.

– Phong cách Tú Xương : cảm xúc chân thành, lời thơ giản dị mà sâu sắc, kết hợp giữa trữ tình và trào phúng

2.Kĩ năng:

– Đọc –  hiểu thơ trữ tình theo đặc trưng thể loại.

–  Phân tích, bình giảng thơ

3.Thái độ : yêu mến, kính trọng đức hi sinh của người vợ, người mẹ Việt Nam

4. Năng lực:

– Năng lực chung: NLGQ vấn đề, NL hợp tác, NL tự học, NL sáng tạo

– NL đặc thù: Nl giao tiếp tiếng Việt, Nl cảm thụ văn học

B-SỰ CHUẨN BỊ CỦA GV VÀ HS :

     GV: SGK, SGV, tài liệu tham khảo

     HS:   SGK, tài liệu tham khảo

C-TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP :

Ổn định tổ chức. SS:…………….Vắng:…………………………………………………..

Kiểm tra bài cũ. Kiểm tra vở soạn của Hs

Tiến trình dạy hoc:

                                                           Hoạt động 1: Khởi động

– Mục tiêu: Dẫn dắt, tạo tâm thế cho HS tìm hiểu bài thơ

– PP. kĩ thuật dạy học: Nêu vấn đề, gợi mở.

 GV:Vào bài:Trong xã hội phong kiến thân phận người phụ nữ bao giờ cũng gắn liền với vất vả khó khăn, thậm chí còn gắn liền với những bi kịch. Sự cảm thông của xã hội với họ là cần thiết nhưng cần thiết nhất có lẽ là tình cảm của chính những thành viên trong gia đình.Đó là động lực để họ vươn lên hoàn thành trách nhiệm của mình. Tú Xương là một người chồng đã thấu hiểu những khó khăn vất vả của vợ . Qua bài “Thương vợ” chúng ta sẽ thấy rõ hơn điều đó.

Hoạt động 2: HĐ hình thành kiến thức

  – Mục tiêu:     +  Giúp HS cảm nhận được hình ảnh người vợ tần tảo, đảm đang, giàu đức hi sinh và ân tình sâu nặng cùng tiếng cười tự trào của Tú Xương.

+ HS thấy được phong cách Tú Xương : cảm xúc chân thành, lời thơ giản dị mà sâu sắc, kết hợp giữa trữ tình và trào phúng

                         + HS biết  Đọc –  hiểu thơ trữ tình theo đặc trưng thể loại

+  Giáo dục HS yêu mến, kính trọng đức hi sinh của người vợ, người mẹ Việt Nam

 Phương pháp thực hiện:GV tổ chức giờ dạy theo cách kết hợp các phương pháp gợi tìm, kết hợp các hình thức trao đổi thảo luận, trả lời các câu hỏi. 

Hoạt động của Gv và HS Nội dung cần đạt
Bước 1: Tìm hiểu vài nét về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của tác giả

? Dựa vào phần Tiểu dẫn trong SGK, hãy giới thiệu những nét cơ bản về con người và sự nghiệp của Trần Tế Xương?

HS trình bày

GV cung cấp thêm kiến thức: Cuộc đời gắn liền với bi kịch thi cử: học giỏi, thông minh nhưng cá tính của người nghệ sĩ ko làm sao khuôn nổi vào các phép tắc luật lệ của chốn trường thi. Tám khoa chưa khỏi phạm trường quy, ông đi thi từ năm 17 tuổi (1886), đến lần thứ 4 (1894) mới đỗ tới rốt bảng (tú tài thủ thiêm – lấy thêm). Trải qua 4 khoa thi nữa cho đến năm 1906 vẫn ko sao vượt khỏi danh vị tú tài.

Gv giảng: Tiếng cười trong thơ Tú Xương có nhiều cung bậc: châm biếm sâu cay, đả kích quyết liệt.. Trong mảng thơ trữ tình, ông thể hiện nỗi u hoài trước sự thay đổi của làng quê, tâm sự bất mãn với đời.

Bước 2: Tìm hiểu vài nét về tác phẩm

GV: Hãy xác định thể loại và đề tài của tác phẩm.

1 Hs trả lời

GV giảng :

Một số TP: Quan tại gia; Văn tế sống vợ; Tự cười mình; Hỏi mình; Đau mắt; Thầy đồ dạy học;…

Bà Tú là đề tài quan trọng trong thơ TX. Khác với nhiều nhà thơ khác chỉ viết về người vợ sau khi đã qua đời, TX viết khá nhiều thơ về vợ ngay khi bà còn sống. Đề tài bà Tú trở thành một hiện tượng độc đáo, có giá trị nhân bản trong thơ ông

 

Bước 1: GV đọc mẫu, sau đó gọi 2 HS đọc lại bài thơ

GV yêu cầu: Đọc với giọng xót thương, cảm phục khi nói về nỗi vất vả, gian lao, sự đảm đang của bà Tú; tự mỉa, tự trào khi nói về bản thân ông Tú

Bước 2: Tìm hiểu 2 câu đề:

 

GV: Câu thơ đầu đã giới thiệu ntn về công việc của bà Tú? Những từ  quanh năm, mom sông gợi cho em những hình dung gì về công việc của bà T?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

? Nội dung câu thơ thứ hai (phá đề) là gì? Cách nói của câu thơ có gì đặc sắc?

HS trả lời

 

? Tại sao TX ko nói bà Tú nuôi 6 bố con mà lại viết Nuôi đủ năm con với một chồng? Cách diễn đạt này có ý nghĩa gì? Qua hai câu đề, tác giả đã thể hiện tình cảm của ông đối với vợ ntn?

HS thảo luận trong phạm vi bàn, Gv gọi 2-3 HS trả lời

I.       Tìm hiểu chung

1.      Tác giả

a. Cuộc đời, con người

–      Trần Tế Xương (1870- 1907) thường gọi là Tú Xương quê ở làng Vị Xuyên , huyện Mĩ Lộc, tỉnh Nam Định .

–      Sinh ra và lớn lên trong buổi thực dân xâm lược, Hán học đã suy tàn, thân phận nhà nho càng thấm thía nỗi nhục của người trí thức nô lệ.

– Con người: Cá tính, sắc sảo, phóng túng khó gò vào khuôn sáo trường quy nên dù có tài song thi cử lận đận

b. Sự nghiệp

– Số lượng: khoảng 100 tác phẩm, chủ yếu là thơ Nôm và một số bài văn tế, câu đối, phú.

– Sáng tác của ông gồm hai mảng: trào phúng và trữ tình

        Cuộc đời nhiều gian truân nhưng ông đã để lại một sự nghiệp thơ ca bất tử.

2. Bài thơ

–      Thể loại: thất ngôn bát cú Đường luật

–   Đề tài: viết về người vợ.

– Bố cục: đề, thực, luận, kết

          Là một trong những bài thơ hay và cảm động nhất của TX viết về bà Tú.

 

 

 

 

 

II.   Đọc hiểu văn bản

1.      Hai câu đề: Giới thiệu công việc của bà Tú

* Câu 1

–      Công việc: Quanh năm buôn bán ở mom sông

+ Quanh năm: triền miên ko ngừng, ko nghỉ, hết ngày này sang ngày khác, hết năm này sang năm khác => nỗi vất vả của một đời người.

+ buôn bán: ko phải là buôn bán lớn, có cửa hàng cửa hiệu nơi phố phường sầm uất, hay một gian hàng, một cái lều con ổn định nơi góc chợ mà chỉ là gồng gánh, buôn bán nhỏ lẻ, lặn lội nơi đầu sông, cuối chợ, lam lũ, vất vả, cực nhọc

+ ở mom sông: địa điểm – dẻo đất nhô ra sông, nơi đầu sóng ngọn gió, chênh vênh, cheo leo, rất dễ sụt lở, mang tính chất tạm bợ, không cố định.

ð Cuộc đời cơ cực, vất ve, phải vật lộn để kiếm sống..

* Câu 2

-“Nuôi đủ”

→ không có ai giúp đỡ, chỉ có mình bà gánh trọn nhiệm vụ nuôi chồng con.

→ không để cho chồng con phải đói khổ.

→ chỉ đủ để nuôi chồng con, không dư thừa, không có của để.

=> Bà Tú đảm đang tháo vát nhưng để nuôi được chồng con thì rất vất vả, khó nhọc.

– “Năm con với một chồng”

+ Nhà thơ tự đặt mình ngang hàng với những đứa con, cho mình là “đứa con đặc biệt”.

+ Từ “với”: Nhà thơ tự cho mình là kẻ ăn bám vợ, ăn theo cùng với những đứa con.

+ 2 vế: 5 con /1 chồng: Số lượng giảm nhưng chất lượng lại tăng: Nuôi ông Tú khổ hơn nuôi 5 đứa con

→ Cách nói đặc biệt với giọng điệu bông đùa, hóm hỉnh.

→ Tiếng cười tự trào: Tác giả cười chính mình, cười một kẻ “ăn không ngồi rồi”, 1 kẻ vô tích sự đã làm cho gánh nặng trên vai người vợ nặng thêm.

→ Gửi gắm tấm lòng cảm thông, biết ơn với người

vợ, đồng thời câu thơ còn là sự ăn năn day dứt của nhà thơ..

* Hai câu thơ vừa giới thiệu công việc của bà Tú vừa là lời kể ghi công lao của bà Tú với chồng con. Phải là người yêu thương vợ hết mực, TX mới có thể hiểu và ghi công của vợ với cha con ông như vậy

 

                                               Hoạt động 3: HĐ luyện tập

 Phương pháp thực hiện: GV tổ chức giờ dạy theo cách phát phiếu học tập, HS viết tại lớp,

 Thực hành

+ GV nêu vấn đề GV gợi ý: Nhận xét cách nói của Tú Xương về chuyện bà Tú nuôi đủ 5 con với 1 chồng

+ Gv: Phát phiếu học tập

 

 

Đáp án:

– Nuôi đủ nghĩa là không để cho thiếu thốn. Khái niệm đủ với các con là ăn no mặc ấm. Còn với ông Tú thì đủ không chỉ có nghĩa ăn no mắc ấm mà còn là đáp ứng đủ mọi thứ ăn chơi

– Số lương: 5 con với 1 chồng: Một mình bà Tú phải gánh trách nhiệm nuôi đủ sáu người trên vai. Tú Xương khôi hài, trào phúng về đức ông chồng- là chính mình- tự hạ mình, coi mình là thứ con đặc biệt, kẻ ăn theo, ăn bám, ăn tranh với 5 đứa con.

 

Hoạt động 4 : vận dụng

Mục tiêu: Hs vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề.

 

Phương pháp thực hiện: GV nêu vấn đề, gợi ý

Câu hỏi: Những nét đặc sắc trong cuộc đời và sự nghiệp của TTX

Hoạt động 5:  TÌM TÒI MỞ RỘNG

Mục tiêu: Giúp HS mở rộng thêm những điều đã học từ tác phẩm

Phương pháp thực hiện: – GV tổ chức giờ dạy theo cách đưa câu hỏi , HS về nhà sưu tầm qua tài liệu tham khảo, qua mạng, .

– Sưu tầm những sáng tác khác của tác giả có cùng đề tài, Tìm đọc tư liệu về cuộc đời và sự nghiệp của Tú Xương

 

    D/ Dặn dò:         

– Nắm vững cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Trần Tế Xương

– Đọc và tìm hiểu tiếp  bài thơ

Tiết 10

Mục tiêu bài học.

1.Kiến thức:

– Hình ảnh người vợ tần tảo, đảm đang, giàu đức hi sinh và ân tình sâu nặng cùng tiếng cười tự trào của Tú Xương.

– Phong cách Tú Xương : cảm xúc chân thành, lời thơ giản dị mà sâu sắc, kết hợp giữa trữ tình và trào phúng

2.Kĩ năng:

– Đọc –  hiểu thơ trữ tình theo đặc trưng thể loại.

–  Phân tích, bình giảng thơ

3.Thái độ : yêu mến, kính trọng đức hi sinh của người vợ, người mẹ Việt Nam

  1. Năng lực:

– Năng lực chung: NLGQ vấn đề, NL hợp tác, NL tự học, NL sáng tạo

– NL đặc thù: Nl giao tiếp tiếng Việt, Nl cảm thụ văn học

B-SỰ CHUẨN BỊ CỦA GV VÀ HS :

     GV: SGK, SGV, tài liệu tham khảo

     HS:   SGK, tài liệu tham khảo

C-TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP :

  1. Ổn định tổ chức. SS:…………….Vắng:…………………………………………………..
  2. Kiểm tra bài cũ. Kiểm tra vở soạn của Hs
  3. Tiến trình dạy hoc:

                                                           Hoạt động 1: Khởi động

– Mục tiêu: Dẫn dắt, tạo tâm thế cho HS tìm hiểu bài thơ

– PP. kĩ thuật dạy học: Nêu vấn đề, gợi mở.

GV: Thương Vợ là bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Tú Xương.Đó là sự đan xen hòa quyện giữa chất trữ tình và chất trào phúng, trong đó trữ tình là cội rễ. Bằng sự thấu hiểu, niềm cảm thông, trân trọng, nhà thơ đã tạo dựng lên hình tượng người vợ tảo tần giàu đức hi sinh. Đồng thời nhà thơ gửi gắm nỗi bi phẫn của một con người có tài có tâm mà đành chấp nhận kiếp sống thừa, đành làm một kẻ vô tích sự. Hôm nay cô trò chúng ta sẽ  tiếp tục tìm hiểu bài thơ để thấy rõ hơn điều đó

Hoạt động 2: HĐ hình thành kiến thức

  – Mục tiêu:     +  Giúp HS cảm nhận được hình ảnh người vợ tần tảo, đảm đang, giàu đức hi sinh và ân tình sâu nặng cùng tiếng cười tự trào của Tú Xương.

+ HS thấy được phong cách Tú Xương : cảm xúc chân thành, lời thơ giản dị mà sâu sắc, kết hợp giữa trữ tình và trào phúng

                         + HS biết  Đọc –  hiểu thơ trữ tình theo đặc trưng thể loại

+  Giáo dục HS yêu mến, kính trọng đức hi sinh của người vợ, người mẹ Việt Nam

 Phương pháp thực hiện:GV tổ chức giờ dạy theo cách kết hợp các phương pháp gợi tìm, kết hợp các hình thức trao đổi thảo luận, trả lời các câu hỏi. 

Hoạt động của Gv và HS Nội dung cần đạt
  Bước 1: Tìm hiểu 2 câu thực

GV: Trong hai câu thực, hình ảnh bà Tũ được khắc hoạ rõ nét hơn qua những hình ảnh, chi tiết nào?

 

 

– GV: Hướng dẫn HS liên hệ với những hình ảnh trong ca dao xưa.

Ca dao:

·        Cái cò lặn lội bờ sông / Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non

·        Nước non lận đận một mình / Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay

 

 

– HS: So sánh và trả lời.

 

– GV: Chốt lại.

 

– HS: Nghe và ghi chép.

 

 

 

 

 

 

Bước 2: Tìm hiểu 2 câu luận

 

GV? Hai câu luận gợi lên những phẩm chất nào của bà Tú? Hãy nhận xét về việc sử dụng nghệ thuật tăng tiến và cách vận dụng thành ngữ của tác giả?

HS trả lời

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

? Thông qua việc khắc họa hình ảnh bà Tú trong 6 câu thơ đầu, nhà thơ đã thể hiện tình cảm với vợ ntn?

2 Hs phát biểu

GV nhận xét, chốt.

 

 

 

 

 

 

 

Bước 3: Tìm hiểu 2 câu kết

 

GV nêu vấn đề, Hs thảo luận:Có ý kiến cho rằng: Phía sau tiếng chửi là một bi kịch Tú Xương chất chứa, phẫn uất và tê tái. Ý kiến của em ntn?

Sau 3 phút, Gv gọi đại diện trình bày

Gv nhận xét, chốt kiến thức.

 

 

GV bình: Đằng sau tiếng chửi mình, chửi đời, chửi xã hội ấy chúng ta thấy những giọt nước mắt của nỗi đau, của tâm trạng phẫn uất, bi kịch Tú Xương. Khi phải chửi, phải văng ra, hẳn là đã đến mức khối tâm sự cần được giải tỏa, sổ ruột sổ gan cho bõ giận. Đó là khối tâm sự chất chứa của những người tài cao, phận thấp, có tài mà phải chấp nhận trở thành kẻ ăn bám vợ, phải ăn theo lũ con để rồi trở thành cái nợ đời của người vợ mà ông rất mực yêu thương.

 

Bước 4: Tổng kết

– GV: Hãy khái quát lại những nét lớn về nghệ thuật và nội dung của bài thơ.

 

– HS: Khái quát lại và trả lời.

 

– GV: Chốt lại.

 

2. Hai câu thực

– ‘Thân cò”

+ Hình ảnh quen thuộc trong ca dao xưa, ẩn dụ chỉ những người phụ nữ vất vả, tảo tần.

+ “Thân” : Thân thế, số phận mà thường là số phận hẩm hiu, bất hạnh.

→ Nhấn mạnh nỗi vất vả, gian truân của bà Tú và gợi nỗi đau thân phận.

– “ Khi quãng vắng” ( dùng từ “khi” chứ không dùng từ “nơi”)

→ Gợi cả không gian và thời gian

→ Hình ảnh bà Tú trở lên nhỏ bé, đáng thương, tội nghiệp không chỉ trước sự rợn ngợp của không gian mà còn cả sự rợn ngợp của thời gian.

– “ Eo sèo”: Âm thanh của những tiếng kì kèo, kêu ca, cãi vã để tranh hàng, giành khách.

→ Gợi cảnh buôn bán bon chen, xô bồ, đầy những khó nhọc, vất vả.

– “ Buổi đò đông”

+ Con đò đông người

+ Nhiều đò trên sông

→ gợi cảnh đông đúc, chen chúc, xô lấn.

=> hai câu thơ đối nhau rất chỉnh với nghệ thuật đảo ngữ và những từ láy có sức gợi để làm nổi bật hơn những vất vả, nhọc nhằn, gian truân của bà Tú.

=> Thực tình của Tú Xương: xót thương và cảm thông sâu sắc cho người vợ yêu quý của mình

 

3.2 câu luận

–         Một duyên                         hai nợ

Nhân duyên hay duyên số      nợ tình, nợ nghĩa + nợ đời

ð Nợ gấp đôi duyên, duyên ít nợ nhiều. TX tự coi mình là cái nợ đời mà bà Tú phải gánh chịu

–      Âu đành phận: cam chịu, chấp nhận, không phàn nàn oán trách .

–      Năm nắng mười mưa:

·        Nắng mưa: sự vất vả

·        Năm mười: số lượng phiếm chỉ, số nhiều, số đếm tăng dần

ð Nhân lên sự vất vả, nhọc nhằn bội phần của bà Tú.

Dám quản công : Không kể công, kể sức.

→ đức hi sinh cao đẹp, thầm lặng của bà Tú.

=> tác giả đã vận dụng rất khéo léo các thành ngữ và nghệ thuật đối rất chỉnh để làm nổi bật đức tính hi sinh, nhẫn nhịn âm thầm của bà Tú: Bà không sống cho mình mà sống cho chồng, cho con.

=> Sâu thẳm trong vẻ đẹp tâm hồn đó của bà Tú là lòng yêu thương chồng con tha thiết, sâu nặng.

=> Tình cảm tự hào, quý trọng, biết ơn của tác giả.

* Tiểu kết: Bằng tình cảm yêu thương và biết ơn sâu sắc với vợ, Tú Xương đã vẽ nên chân dung chân thực và cảm động về bà Tú đảm đang, hi sinh tất cả vì chồng con. Nhà thơ ko chỉ hiểu và cảm nhận được những lo toan, vất vả, thầm lặng trong việc mưu sinh của người vợ hiền mà còn hiểu và cảm nhận được những suy nghĩ, tình cảm và nỗi niềm sâu kín của vợ mình. Nếu ko có sự cảm thông, tấm lòng yêu thương vợ chân thành, sâu sắc, hẳn Tú Xương ko thể viết nên những vần thơ tri ân cảm động đến vậy.

4. Hai câu kết

– Người chửi: ông Tú

– Đối tượng:

+ Chửi trực tiếp lễ giáo, tập tục pk hà khắc, bất công khiến những người PN vất vả, gian nan mà chẳng được ai biết đến. Chính thói đời ấy đã tạo ra những người đàn ông ăn ở bạc, hờ hững, khiến cho nhiều người PN có chồng mà ko hề được chia sẻ đỡ đần, phải một mình gánh vác công việc.

+ Tự trách, tự rủa mát mát bản thân: chẳng đỗ đạt lại trở thành một anh học trò dài lưng tốn vải vô tích sự với vợ con.           tự phán xét, lên án         nhận lỗi chân thành                 yêu thương vợ, ơn vợ, tri ân vợ

–      Đằng sau tiếng chửi là nỗi đau chua xót của tác giả khi nhận ra mình là quan tại gia ăn lương vợ      Phẫn uất, bi kịch

Bi kịch TX hay chính là bi kịch dở dang của cả một thế hệ trong thời buổi Hán học suy tàn

 

III. TỔNG KẾT

1. Nghệ thuật

– Từ ngữ giản dị, giàu sức biểu cảm, vận dụng sáng tạo hình ảnh, ngôn ngữ trong văn học dân gian và trong đời sống hàng ngày.

– Kết hợp nhuần nhuyễn giữa 2 yếu tố: Trữ tình và trào phúng. Tiếng cười trong bài thơ là tiếng cười xót xa, nghẹn ngào.

2. Nội dung

Bài thơ đã khắc họa thành công hình ảnh bà Tú tần tảo, vất vả nhưng đảm đang, giàu đức hi sinh. Đó là vẻ đẹp truyền thống của người mẹ, người vợ Việt Nam. Qua đó, Tú Xương đã bộc lộ tình yêu thương, lòng biết ơn vợ ,tri ân vợ và nhân cách cao đẹp của mình. Tình cảm đó là chiều sâu nhân bản của bài thơ

 

.

Hoạt động 3: HĐ luyện tập

 Phương pháp thực hiện: GV tổ chức giờ dạy theo cách phát phiếu học tập, HS viết tại lớp

HĐ giáo viên và Hs Nội dung cần đạt
Gv phát phiếu học tập.

HS viết tại lớp

Vận dụng hình ảnh con cò trong ca dao

– Ca dao: Hình ảnh con cò nói về thân phận người phụ nữ lam lũ, vất vả.

– Bài thơ: Hình ảnh con cò nói về bà Tú có phần xót xa, tội nghiệp hơn: thay con cò bằng thân cò gợi nỗi đau thân phận, nhấn mạnh nỗi vất vả gian truân

– Vận dụng thành ngữ: Năm nắng mười mưa

·        Nắng mưa: sự vất vả

·        Năm mười: số lượng phiếm chỉ, số nhiều, số đếm tăng dần

·        tạo nên một thành ngữ chéo vừa cho thấy sự vất vả, gian truân vừa cho thấy đức tính chịu thương chịu khó của bà Tú.

 

 

                                            Hoạt động 4 : vận dụng cao

    Mục tiêu: Hs vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề.

 

    Phương pháp thực hiện: GV nêu vấn đề, gợi ý

Câu hỏi: Chất trữ tình và chất tự trào hóm hỉnh của ngòi bút TX trong bài thơ Thương Vợ

gợi ý: Chất trữ tình được thể hiện qua cách nhà thơ giới thiệu  người vợ. Công việc buôn bán nhọc nhằn, trách nhiệm nặng nề phải đảm đương, lo toan, không ai san sẻ đỡ đần…Hình ảnh gánh nặng gia đình 5 con với 1 chồng phản chiếu cảm xúc nào của tác giả? Có phải chỉ thương, chỉ biết ơn bà Tú hay còn nét cười mỉa mai chế giễu với một chồng- phải để vợ nuôi? Thậm chí nuôi một ông chồng nhơ thế có khi phải nuôi bằng 5 đứa con dồn lại?

Hoạt động 5:  TÌM TÒI MỞ RỘNG

Mục tiêu: Giúp HS mở rộng thêm những điều đã học từ tác phẩm

 

Phương pháp kĩ thuật: Nêu vấn đề, gợi mở

 

Tìm những từ, hình ảnh, câu vận dụng trong thành ngữ, ca dao dân gian.

– Từ hình ảnh bà Tú trong bài thơ, nghĩ về khổ thơ sau:

Việt Nam, ôi Tổ quốc thương yêu

Trong khổ đau, người đẹp hơn nhiều

Như bà mẹ sớm chiều gánh nặng

Nhẫn nại nuôi con, suốt đời im lặng

 


D .H
ướng dẫn học bài:                                           

* Củng cố:

–  Hình ảnh bà Tú: vất vả, đảm đang, tháo vát, giàu đức hi sinh

–  Tình cảm thương yêu quý trọng cùng những tâm sự của nhà thơ.

*  Dặn dò.

– Học thuộc lòng bài thơ

– Soạn: Khóc Dương Khuê và Vịnh khoa thi Hương

(Tài liệu sưu tầm )

Xem thêm : Trọn bộ giáo án Ngữ văn soạn theo hướng đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá

Giáo án ngữ văn 10 

Giáo án ngữ văn 11

Giáo án ngữ văn 12

 

Xem thêm : Thương Vợ

Bài văn của học sinh giỏi về Thương Vợ- Trần Tế Xương

Bộ đề luyện thi học sinh giỏi môn văn.  Tổng hợp những bài văn mẫu hay nhất về bài Thương Vợ của Trần Tế Xương.

Đề ra: Tâm sự của Tú Xương qua bài thơ  “Thương vợ”

 

BÀI LÀM:

Thơ văn Việt nam xưa và nay có những bài thơ thương vợ, khóc vợ rất cảm động. Người ta còn truyền tụng một bài thơ của Tự Đức khóc một bà phi có câu:

“Đập vỡ gương ra tìm thấy

Xếp tàn y lại để dành hơi”.

Nỗi nhớ nhung đau đớn, dữ dội ấy còn được Bùi Hữu Nghĩa, Nguyến Thượng Hiền, Nguyến Khuyến thể hiện cảm động trong bài văn tế, câu đối khóc vợ sau này. Cảm phục, xót thương, tự hào… trước tấm lòng, đức hi sinh của vợ bằng giọng văn vừa có chút tính nghịch, vừa rất cảm động; giữa sự kết hợp giữa trào phúng và trữ tình Tú Xương đã làm “giàu” thêm đề tài viết về bà Tú và kịp góp vào nền văn học Trung đại Việt Nam một bài thơ về tình cảm thương vợ hay và sâu sắc.

“Thương vợ” là một bài thơ vừa cảm động, vừa dí dỏm của Tú Xương. Chỉ hai câu đầu của bài thơ đã nêu bật lên được vai trò trụ cột gia đình của bà:

“Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng”.

Ông Tú tỏ lòng thương vợ bắt đầu bằng sự tính công. Đúng hơn là sự biết ơn sâu sắc công lao của bà Tú. Có thời gian cụ thể: “quanh năm”; không gian cụ thể: “mom sông” càng làm nổi bật lên sự lam lũ, vất vả quần quật của bà Tú. Nơi buôn bán để kiếm miếng cơm manh áo của bà Tú là “mom sông”- là một chỗ đất nơi ra ở bờ sông, nơi ít người qua lại, sóng nước gập ghềnh gợi sự cheo leo, chênh vênh, nhiều bất trắc. Thế nhưng “quanh năm” nghĩa là ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác như một vòng tuần hoàn khép kín, dù ngày nắng hay mưa,ốm đau hay khỏe mạnh bà Tú lại quẩy quang gánh ra nơi “mom sông” ấy để buôn bán. Cách nói như là sự xô bồ, cường điệu của chuyện văn chươn, trong trường hợp này chính là sự bày tỏ lòng biết ơn đối với bà Tú về mặt thời gian lao dộng. Và điều cảm động, đáng để khâm phục bà Tú là nhịp độ làm việc không ngừng nghỉ tai một nơi làm ăn, buôn bán khó khăn nhưng không phải chỉ để nuôi thân mà “Nuôi đủ năm con với một chồng’. Đâu còn thấy hình ảnh:

“Trên đồng cạn, dưới đồng sâu

Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa”.

Mà trái lại đó là loại chồng: “Tiền bạc phó cho con mụ kiếm”, loại chồng “Thưng đấu nhờ lưng một mẹ mày”. Người chồng là trụ cột của gia đình, gánh vác việc nặng nhọc để cưu mang cuộc sống cho vợ con vậy mà ở đây, trong câu thơ này ông Tú cảm thấy mình như một người “thừa”, một kẻ vô dụng và như một “thứ con” đặc biệt để bà Tú pahỉ nuôi riêng. Chế độ xã hội cũ đã sản sinh ra loại ông chồng đoảng, loại ông chồng “dài lưng tốn vải, ăn no lại nằm” như ông Tú không ít. Toát lên qua hai câu thơ là một niềm htơng cảm của ông Tú dành cho vợ trước đức hi sinh, tần tảo của bà; đồng thời là một lời tự trách mình vì thân làm chồng mà để vợ gánh vác việc gia đình đồng thời còn thấp thoáng niềm tự hào về vợ của mình khi làm lụng vất vả để “Nuôi đủ năm con với một chồng”. Mặc dù, đó là một ông chồng không phải nhưng bằng lối văn dí dỏm, tình cảm chân thành, nhận ra được sự vất vả của vợ, tỏ ra biết nhận lỗi, biết đền bù lại bằng cái tình, bằng tấm lòng nên người đọc không hề trách mà ngược lại có chút thông cảm đối với “ông chồng’ này.

Tình thương vợ được thể hiện trọn ven trong hai câu thơ 3, 4:

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng

Eo sèo mặt nước buổi đò đông”.

Hai câu thơ gợi lên cảnh làm ăn vất vả, tội nghiệp cuat bà Tú. Chẳng hay, ông Tú đã đón nhận câu ca dao “Con cò lặn lội bờ sông/ Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non”, từ bào giờ? Qua tiếng ru con cua một bà mẹ láng giềng hay chính trong lời ru của bà cụ Nhuận đã đi vào tiềm thức của tế Xương? Chắc chắn từ “con cò lặn lội bờ sông”, hình ảnh những bà vợ Việt Nam ngàn xưa trong xã hội cũ, ngược xuôi tần tảo, gian nan cực nhọc để nuôi chồng con cũng từ lâu đã đi vào hồn thơ giàu rung động của Tú Xương với bao nhiêu xót xa, thương cảm. Để giờ đây, trong lúc nghĩ đén bà Tú thì con cò ấy bỗng vụt dậy vỗ cacnhs bay vèo thi hứng “Thương vợ” của Tú Xương. Phép đảo ngữ “lặn lội thân cò” càng khắc họa rõ nét nỗi khổ cực, đức hi sin, sự chịu đựng của bà Tú. Hai từ “lặn lội” chen lên đứng đầu câu. Cảnh lặn lội lại càng “lặn lội”. Ca dao nói “con cò”, Tú Xương nói “thân cò”. Ý thơ cổ như xoáy sâu vào sự cực khổ.  “Thân cò” gợi thân phận lẻ loi, yếu ớt, cô đơn và nó lại càng cô quạng, lạc lõng hơ khi đi cùng với từ “eo sèo”- một sự mặc cả, nhỏ nhoi, cô đơn, tội nhgiệp. Vì “năm con với một chồng”, vì “miếng cơm manh áo” mà bà Tú phải chen chúc với nhau trên những chuyến đò đưa khách sang sông. Chật hẹp, bấp bênh, mỏng manh, chơi vơi đến quá chừng! Và dường như sông nước càng mênh mông bao nhiêu thì cái độ chơi vơi, mỏng manh, bấp bênh đó lại càng tăng lên bấy nhiêu. Từ đó càng làm nổi bật tấm lòng “thương vợ” của Tú Xương và qua đó ông tỏ ra thấu hiểu hết những vất vả của bà Tú:

“Một duyên, hai nợ âu đành phận

Năm nắng mười mưa dám quản công”.

Câu thơ như nói lên ý nghĩ của bà Tú. Cuộc đời như thế là duyên, mà cũng là nợ, duyên một thì nợ hai, thôi đành chịu theo số phận, không giám nề hà, không kể công gì nữa. Nhưng câu thơ còn làm nhứ đến câu ca dao:

“Một duyên, hai nợ, ba tình,

Chiêm bao lẩn khuất bên mình năm canh”.

Ngoài cái duyên, cái nợ còn có cái tình; cái tình nghĩa vợ chồng của bà Tú dành cho chồng mình. Thành ra nói “nợ” mà thực ra là nói “tình”, mà đã là tình thì ai lại kể công. Số từ tăng tiến: “một”, “hai”, “năm”, “mười” càng dồn nén sự chịu đựng của bà Tú, càng làm trào dâng lên nỗi niềm xót thương, cảm thông trước sự hi sinh vất vả, tảo tần của bà Tú.

Bài thơ kết bằng một cấu chửi- một câu chửi yêu:

“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc

Có chồng hờ hững cũng như không”.

Nhìn cuôck đời bà Tú như vậy có chửi cũng là lẽ tất yếu. Nhưng ở đây ai chửi? chửi ai? Và chửi cái gì? Thì cũng chỉ là ông Tú thương xót cho bà Tú mà chửi thay cho bà Tú. Ông Tú đã tự chửi mát mình về cái thói “ăn ở bạc”, cái tội “làm chồng mà hờ hững cùng như không”, làm chồng mà để vợ phải trăm cơ, nghìn cực như thế. Hai câu kết khép lại bài thơ vừa như là một lời chửi, vừa như là một lời than. Nhà thơ tự phán xét chính mình, tự trách mình và tha cho hoàn cảnh  của vợ. Câu thơ cũng chỉ ra nguyên nhân dẫn đến nỗi khổ của bà Tú là do “thói đời” bạc bẽo.  “Thói đời” bạc bẽo đã biến ông Tú trở thành kẻ vô tích sự, chính vì thế ông trở thành gánh nặng cho vợ. Lời chửi vừa thể hiện nỗi niềm tâm sự cay đắng ch hoàn cảnh của ông Tú, vừa thể hiện nỗi xót thương, ngậm ngùi của ông Tú đối với vợ.

Bài thơ đã dựng lên hai bức chân dung: ông Tú và bà Tú. Bà Tú hiện lên phía trước, ông Tú khuất lấp phía sau. Vượt lên trên tất cả là tấm lobngf yêu thương, quí trọng và tri ân của ông Tú đối với người vợ tần tảo. Nhà thơ Xuân Diệu đã từng bình phẩm về bài thơ “Thương vợ” rằng: “ Thơ hay, hay ở ý tình; hay ở chữ, tiếng, hay ở sự việc; hay ở nhạc điệu: lặn lộ, eo sèo, thân cò, mặt nước, quãng vắng, đò đông, mỗi chữ đều tình cảm”. Qua đó, tấm lòng yêu thương, trân trọng cũng như những trăn trở, day dắt đã tạo nên nhân cách cao đẹp của Tú Xương, một con người dám sòng phẳng với bản thân, tự nhận ra thiếu sót của mình và không trút bỏ trách nhiệm./.

Xem thêm những đề thi về bài Thương Vợ : http://vanhay.edu.vn/tag/thuong-vo

Bộ đề thi học sinh giỏi môn Văn có đáp án : http://vanhay.edu.vn/hoc-sinh-gioi

Đề thi bán kì Ngữ văn 11

Bộ đề kiểm tra học kì môn Ngữ văn khối 11. Đọc hiểu bài thơ Chợ Tết, chứng minh nhận định :“Thương vợ là một trong những bài thơ hay và cảm động nhất của Tú Xương viết về bà Tú”

ĐỀ THI BÁN KỲ I MÔN: VĂN- LỚP 11

Thời gian làm bài: 60 phút ,Năm học: 2016 – 2017

Phần 1: Đọc hiểu ( 3,0 điểm)

Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi:

 

Dải mây trắng đỏ dần trên đỉnh núi,

Sương hồng lam ôm ấp nóc nhà gianh,

Trên con đương viền trắng mép đồi xanh,

Người các ấp tưng bừng ra chợ Tết.

Họ vui vẻ kéo hàng trên cỏ biếc;

Những thằng cu áo đỏ chạy lon xon,

Vài cụ già chống gậy bước lom khom,

Cô yếm thắm che môi cười lặng lẽ,

Thằng em bé nép đầu bên yếm mẹ.

Hai người thôn gánh lợn chạy đi đầu,

Con bò vàng ngộ nghĩnh đuổi theo sau.

Sương trắng rỏ đầu cành như giọt sữa,

Tia nắng tía nháy hoài trong ruộng lúa.

Núi uốn mình trong chiếc áo the xanh,

Đồi thoa son nằm dưới ánh bình minh.

( Chợ Tết, Đoàn Văn Cừ)

  1. Xác định các phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ trên? (0,5đ)
  2. Hãy chỉ ra ít nhất 3 biện pháp tu từ được tác giả sử dụng trong đoạn thơ? Nêu tác dụng của chúng? (1,0đ)
  3. Tìm những từ ngữ diễn tả tình cảm của con người trong đoạn thơ?(0,5đ)
  4. Nêu nội dung chính của đoạn thơ trên? ( 1,0đ)

Phần 2: Làm văn (7,0đ )

Thương vợ là một trong những bài thơ hay và cảm động nhất của Tú Xương viết về bà Tú”. ( Ngữ văn 11, tập 1, Nxb Giáo dục, tr 29).

Em hãy phân tích bài thơ “ Thương vợ( Tú Xương) để làm sáng tỏ nhận định trên?

……………..Hết……………

 ĐÁP ÁN- VĂN 11

Phần Đáp án Điểm
I 1. Phương thức miêu tả, tự sự 0,5
2. Ba biện pháp tu từ:

 – So sánh (Sương trắng rỏ đầu cành như giọt sữa).

– Nhân hóa (Sương hồng lam ôm ấp nóc nhà gianh, tia nắng tía nháy,  núi uốn mình, đồi thoa son).

– Ẩn dụ (Chiếc áo the xanh), gợi vẻ đẹp của núi

– Liệt kê (Miêu tả nhiều hình ảnh của thiên nhiên và con người)

– Biện pháp tu từ ngữ âm (từ láy lon xon, lom khom)

 

– Tác dụng: gợi khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp; nhân dân tưng bừng, vui vẻ đi chợ Tết ở làng quê Việt Nam

 

 

0,75

 

 

 

 

 

 

 

0,25

3. Tưng bừng, vui vẻ, cười lặng lẽ. 0,5
4. Nội dung chính: Đoạn thơ miêu tả và kể về một phiên chợ Tết ở nông thôn Việt Nam. Đi chợ Tết là một nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc. 1,0
II * Yêu cầu chung:

HS biết kết hợp kiến thức và kỹ năng viết nghị luận văn học để viết bài.

– Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng, diễn đạt lưu loát, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp…

– HS có thể phân tích, chứng minh theo nhiều cách khác nhau nhưng phải bám sát bài thơ và nhận định.

* Yêu cầu cụ thể:

a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận (0,5đ): Có MB, TB, KB. MB nêu được vấn đề. TB triển khai vấn đề. KB khái quát được vấn đề.

b. Xác định đúng vấn đề nghị luận (0,5đ): Thương vợ là một trong những bài thơ hay và cảm động nhất của Tú Xương viết về bà Tú.

c. Triển khai vấn đề thành các luận điểm; sử dụng tốt các thao tác lập luận, biết kết hợp giữa lí lẽ và dẫn chứng; rút ra bài học cho bản thân. (5,0đ)

– Giới thiệu về tác giả Tú Xương, bài thơ, vấn đề Thương vợ là một trong những bài thơ hay và cảm động nhất của Tú Xương viết về bà Tú. (1,0đ)

Phân tích chứng minh những vẻ đẹp về nội dung, nghệ thuật bài thơ (3,5đ)

+ Nội dung (3,0đ)

. Hình ảnh bà Tú hiện lên với cuộc sống vất vả lam lũ và những đức tính cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam: đảm đang, tháo vát, thương chồng, thương con và giàu đức hy sinh. (6 câu đầu)

. Tấm lòng yêu thương, quý trọng, tri ân vợ và vẻ đẹp nhân cách nhà thơ.(2 câu cuối)

+ Nghệ thuật (0,5đ): Tài năng tác giả trong việc sử dụng hình ảnh, ngôn ngữ văn học dân gian, ngôn ngữ đời sống và các biện pháp tu từ.

– Bình luận (0,5đ) Khẳng định ý kiến của bài thơ hoàn toàn đúng.

d.  Sáng tạo (0,5đ): Diễn đạt sáng tạo; thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ.

e. Chính tả, dùng từ, đặt câu (0,5đ): Không mắc lỗi.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Xem thêm :

Đề thi kết thúc học kì 1 Ngữ văn 11

ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ I – NĂM HỌC 2016 – 2017 MÔN: NGỮ VĂN – LỚP 11

Đề đọc hiểu Thương vợ -Trần Tế Xương,phân tích nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao để làm sáng tỏ nhận định


Thời gian làm bài:
90 phút (Không kể thời gian giao đề)

PHẦN ĐỌC – HIỂU (3 điểm)

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

“Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng.
Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
Một duyên hai nợ, âu đành phận
Năm nắng mười mưa, dám quản công
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc!
Có chồng hờ hững cũng như không.”

  1. Em hãy nêu tên văn bản trên và cho biết tác giả là ai?
  2. Trong bài thơ trên tác giả đã sử dụng những thành ngữ nào? Chỉ ra ý nghĩa của thành ngữ em vừa tìm thấy?
  3. Câu thơ “Cha mẹ thói đời ăn ở bạc!”, theo em đó là lời của ai? Ý nghĩa của câu thơ đó?
  4. Viết một đoạn văn khoảng 8 – 10 dòng về hình ảnh người vợ được nói đến trong bài thơ.

PHẦN LÀM VĂN (7điểm)

Câu 1 (3 điểm)

Ngạn ngữ Trung Hoa có câu:

“Học như bơi thuyền ngược nước. Không tiến sẽ phải lùi”

Viết một bài văn ngắn (khoảng 300 từ) trình bày suy nghĩ của em về câu nói trên?

Câu 2 (4 điểm)

Nhận định về tác phẩm Chí Phèo của nhà văn Nam Cao, Từ điển văn học (Bộ mới, NXB Thế giới, 2003) có viết:

“Điều đặc sắc là khi miêu tả người nông dân lưu manh hóa, Nam Cao không hề bôi nhọ nhân dân mà trái lại, đã đi sâu vào nội tâm nhân vật để phát hiện và khẳng định nhân phẩm của bị xã hội cướp mất cả nhân hình, nhân tính”.

Em hãy phân tích nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao để làm sáng tỏ nhận định trên?

………………………. Hết ………………………

 

ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ I – NĂM HỌC 2016 – 2017 MÔN: NGỮ VĂN – LỚP 11


Thời gian làm bài:
90 phút (Không kể thời gian giao đề)

HƯỚNG DẪN CHẤM

PHẦN ĐỌC – HIỂU (3 điểm)

  1. Văn bản trên là bài thơ Thương vợ của tác giả Trần Tế Xương (0.5 điểm)
  2. – Trong bài thơ trên tác giả đã sử dụng những thành ngữ:

“Một duyên hai nợ”, “Năm nắng mười mưa”. (0.5 điểm)

– Ý nghĩa của thành ngữ trên cho thấy sự vất vả, lam lũ của bà Tú khi lấy ông Tú: “duyên” ít mà “nợ” thì nhiều. Qua đó thấy được sự cảm thông, thương yêu vợ của ông Tú (0.25 điểm)

  1. Câu thơ “Cha mẹ thói đời ăn ở bạc!” nên hiểu là lời của ông Tú. (0.25 điểm)

Ý nghĩa của câu thơ đó: Là lời ông Tú tự rủa mát mình nhưng đồng thời cũng là tiếng chửi ném vào “thói đời” bạc bẽo đã làm cho bà Tú nói riêng và những người phụ nữ trong xã hội phong kiến chịu bao bất công, tủi cực. (0.5 điểm)

  1. Viết một đoạn văn khoảng 8 – 10 dòng về hình ảnh người vợ trong bài thơ nói được những nội dung cơ bản sau: (1.0 điểm)

– Người phụ nữ chịu bao vất vả, gian truân.

– Người phụ nữ hiện lên với đức tính cao đẹp.

– Người phụ nữ được nhìn với con mắt đầy trân trọng và cảm thương.

PHẦN LÀM VĂN (7điểm)

Câu 1 (3 điểm)

1.Yêu cầu về kĩ năng:

Học sinh biết làm bài nghị luận xã hội. Bố cục hợp lí, kết cấu chặt chẽ, hành văn mạch lạc, diễn đạt trong sáng, không phạm lỗi chính tả và diễn đạt.

2.Yêu cầu về kiến thức.

Học sinh có thể trình bày bằng nhiều cách để bộc lộ những suy nghĩ và sự trải nghiệm của mình về việc học. Có thể bàn luận về câu ngạn ngữ về khía cạnh mà mình tâm  đắc nhất.

Bài làm cần nêu được những ý cơ bản sau đây:

– Giới thiệu được câu ngạn ngữ và giải thích được hình ảnh “Học như bơi thuyền ngược nước. Không tiến sẽ phải lùi” nghĩa là: Con thuyền bơi ngược nước trên dòng sông, người lái đò phải gò mình, sải cánh thì con thuyền mới tiến lên được. Nếu dừng tay chèo thì con thuyền sẽ lùi theo dòng nước. (0.75 điểm)

– Việc phân tích: Câu ngạn ngữ nhằm nói đến bản chất của việc học. Việc học đầy gian nan và thử thách. Điều quan trọng là có đủ kiên trì, nhẫn nại để chiến thắng. (0.75 điểm)

– Phần bình luận: Học sinh đưa ra những hiện tượng trong cuộc sống để nhìn nhận lại câu ngạn ngữ trên: (1.0 điểm)

+ Học là một hoạt động khám phá, sáng tạo của con người bao gồm hai khâu chủ yếu là: thu nhận và vận dụng sáng tạo kiến thức mới. Hiểu được như vậy mới thấy việc học khó khăn và gian khổ vô cùng.

+ Phẩm chất quan trọng trước tiên của việc học là sự kiên trì và quyết tâm, không bao giờ thối chí, nản lòng. Việc học là suốt đời, không ngừng, không nghỉ.

+ Để học tốt cũng cần tìm cho mình phương pháp học tối ưu.

– Mỗi luận điểm học sinh cần tìm chọn dẫn chứng phù hợp để làm sáng tỏ vấn đề.(0.25 điểm)

– Khái quát và nâng cao vấn đề, liên hệ bản thân (0.25 điểm)

Câu 2 (4 điểm)

  1. Yêu cầu về kĩ năng:

Học sinh biết làm bài nghị luận văn học. Bố cục hợp lí, kết cấu chặt chẽ, hành văn mạch lạc, diễn đạt trong sáng, không phạm lỗi chính tả và diễn đạt.

2.Yêu cầu về kiến thức.

Học sinh có thể trình bày bằng nhiều cách nhưng bài làm cần nêu được những ý cơ bản sau đây:

Ngoài phần giới thiệu vấn đề và kết thúc vấn đề (0.25 điểm)

– Khi miêu tả người nông dân bị lưu manh hóa, Nam Cao không bôi nhọ người nông dân: (1.5 điểm)

+ Viết Chí Phèo, Nam Cao muốn ném ra giữa cuộc đời một thằng “cùng hơn cả dân cùng”, điển hình cho những nỗi khổ tủi nhục nhất của người nông dân trong xã hội thực dân phong kiến.

+ Chí Phèo là người nông dân vốn “hiền như đất”, biết tự trọng, biết khinh cái đáng khinh, có những ước mơ thật bình dị, thế nhưng xã hội cũ đã xô đẩy Chí Phèo vào hoàn cảnh sống không được sống đúng như bản chất, như điều mong muốn.

+ Nam Cao đã phân tích, giải thích, truy tìm nguyên nhân xã hội đã xô đẩy Chí Phèo vào con đường tha hóa, lưu manh hóa.

+ Nam Cao khái quát hóa một hiện tượng phổ biến đã trở thành quy luật khủng khiếp của xã hội cũ: chừng nào còn bất công, vô nhân đạo thì chừng ấy vẫn còn tồn tại những người nông dân lương thiện bị đẩy vào con đường tha hóa, lưu manh hóa.

– Nam Cao đã đi sâu vào nội tâm nhân vật để phát hiện và khẳng định nhân phẩm của họ.(1.5 điểm)

+ Khi Chí Phèo thật sự trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại, Nam Cao vẫn nhận ra trong đáy sâu tâm hồn của y sự thèm khát giao tiếp với đồng loại, dẫu bằng hình thức tồi tệ nhất là tiếng chửi, nhưng khát khao ấy hắn cũng không đạt được.

+ Nhân vật Thị Nở xuất hiện đã bắc cây cầu cho Chí Phèo quay lại xã hội loài người. Nhưng khi khao khát được sống, được làm người lương thiện trỗi thức mạnh mẽ hơn bao giờ hết thì Thị Nở lại buông tay hắn đẩy hắn rơi vào một bi kịch đau đớn hơn – bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người. Và rồi cuối cùng Chí Phèo phải chọn cái chết để bảo toàn tính “NGƯỜI” đã sống lại trong mình.

  1. Qua cách xây dựng hình tượng nhân vật Chí Phèo nhà văn đã tố cáo xã hội thực dân phong kiến đương thời đầy thối nát, bóp nghẹt quyền sống của con người, đẩy họ đến bước đường cùng, đồng thời thể hiện tấm lòng nhân đạo sâu sắc với những con người cùng khổ. (0.75 điểm)

…………………………. Hết …………………………

 

Xem thêm:

Đề thi bán kì 1 Ngữ văn 11

Đề thi bán kì 1 Ngữ văn 11. Đọc hiểu câu chuyện về hai chiếc bình.Vẻ đẹp hình tượng bà Tú qua bài thơ Thương vợ của Trần Tế xương.

 ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KỲ I

MÔN NGỮ VĂN 11

  Thời gian: 90 phút

MỤC TIÊU ĐỀ KIỂM TRA:

– Thu thập thông tin để đánh giá mức độ đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng theo tiến độ chương trình lớp 11 học kì I.

– Đánh giá việc học sinh vận dụng kiến thức kĩ năng đã học; viết một bài văn nghị luận.

– Cụ thể: Nhận biết, thông hiểu vận dụng các đơn vị kiến thức, kĩ năng:

+ Kĩ năng đọc – hiểu

+ Kĩ năng làm văn nghị luận văn học.

HÌNH THỨC KIỂM TRA: Tự luận

TRƯỜNG THPT ĐÔNG KINH ĐỀ THI GIỮA  HỌC KÌ I MÔN: NGỮ VĂN – LỚP 11

NĂM HỌC 2016 – 2017 Thời gian: 90 phút

Phần I. Đọc hiểu (3 điểm)

Đọc đoạn trích dưới đây và thực hiện các yêu cầu bên dưới:

                                        CÂU CHUYỆN VỀ HAI CHIẾC BÌNH

       Có một người nông dân thường xuyên phải gánh nước từ suối về nhà. Suốt hai năm ông dùng  hai chiếc bình gánh nước, trong đó có một chiếc bị nứt. Từ vết nứt của nó, nước cứ bị rỉ ra. Vì thế, cuối đoạn đường dài, từ con suối về nhà, một chiếc bình luôn đầy nước; chiếc kia thì chỉ mang về một nửa bình nước.
Dĩ nhiên, cái bình nguyên vẹn rất tự hào về thành tích của nó và cũng không bỏ lỡ cơ hội nào để tỏ ý coi thường, chê trách chiếc bình nứt. Còn chiếc bình nứt luôn buồn tủi, xấu hổ về khuyết điểm của mình.  Nó khổ sở vì chỉ hoàn tất được một nửa công việc phải làm. Trong hai năm, nó phải chịu đựng sự giày vò, đau khổ với ý nghĩ mình là kẻ thất bại và vô tích sự.
Một ngày nọ, chiếc bình nứt bèn lên tiếng bày tỏ với người gánh nước:
– Con rất xấu hổ về bản thân và muốn nói lời xin lỗi ông về thời gian đã qua.
Người gánh nước hỏi lại cái bình:
– Sao con phải xin lỗi? Mà con xin lỗi về chuyện gì?
Cái bình nứt đáp lại:
– Suốt hai năm qua, do vết nứt của con mà nước đã bị rò rỉ trên đường về nhà. Ông đã phải làm việc chăm chỉ nhưng kết quả mang lại không hoàn toàn như ông mong đợi.
Người gánh nước mỉm cười:
– Không phải vậy đâu! Ngày mai, trên đường ra suối con hãy quan sát kĩ hai bên đường rồi nói ta xem có gì khác lạ nhé.
Hôm sau, chiếc bình nứt nhìn con đường từ nhà ra suối và thấy hai bên đường quang cảnh khác hẳn nhau. Một bên, cỏ mọc xanh mát và có rất nhiều bong hoa đồng nội đủ màu đang khoe sắc. Bên kia chỉ toàn là đất cát và vài khóm cỏ dại héo khô. Không đợi nó cất tiếng hỏi, người gánh nước đã nói:
– Con có thấy rằng những bong hoa kia chỉ nở một bên ven đường, chỉ ở phía bên con mang nước về nhà không? Nước từ vết nứt của con đã tưới cho đất, nuôi dưỡng cỏ hoa. Vợ và con gái ta đã rất vui vẻ, hạnh phúc khi hái những bông hoa kia mang về tô điểm cho căn bếp, cho ngôi nhà của chúng ta. Ngắm những bình hoa ấy, ta quên nỗi mệt nhọc sau một ngày dài vất vả. Không có vết nứt của con, gia đình ta sẽ không có được những  niềm vui ấm áp đó.
Chiếc bình nứt bừng tỉnh. Nó biết rằng, từ hôm nay, mỗi ngày mới trên con đường này sẽ luôn đến cùng niềm vui và hạnh phúc.
Câu 1. Xác định các nhân vật giao tiếp trong đoạn trích trên.
Câu 2. Văn bản trên viết về chiếc bình nứt nhưng mục đích  là để nói chuyện gì? . Vết nứt trên chiếc bình ẩn dụ cho điều gì?
Câu 3. Nỗi xấu hổ, day dứt của chiếc bình nứt gợi liên tưởng  đến tâm trạng của con người khi đối diện với điều gì?  Nêu nhận xét của em về cách ứng xử của người nông dân với chiếc bình nứt?
4. Từ câu chuyện, em có thể rút ra những bài học gì?( 5- 7 câu).

Phần II. Làm văn (7 điểm)

Vẻ đẹp hình tượng bà Tú qua bài thơ Thương vợ của Trần Tế xương.

—————–HẾT—————-

ĐÁP ÁN VÀ BIỂU ĐIỂM ĐỀ THI  HỌC KÌ I MÔN: NGỮ VĂN – LỚP 11

NĂM HỌC 2016 – 2017

Phần I. Đọc hiểu

Câu 1.
1.Nhân vật giao tiếp:  Chiếc bình nứt và người gánh nước. (0,5đ)
–  Văn bản trên viết về chiếc bình nứt nhưng mục đích 
nhằm nói chuyện con người, cụ thể hơn là cách ứng xử của con người.
2.-  Vết nứt trên chiếc bình ẩn dụ cho hạn chế, khiếm khuyết trong mỗi con người.
–   Nỗi xấu hổ, day dứt của chiếc bình nứt gợi liên tưởng  đến tâm trạng của con người khi đối diện với những khiếm khuyết của bản thân.
3. Nêu nhận xét của em về cách ứng xử của người nông dân với chiếc bình nứt:
Cách ứng xử của người nông dân vừa bao dung, nhân hậu vừa từng trải, sâu sắc. Ông đã biến vết nứt của chiếc bình- vốn là một khiếm khuyết, hạn chế thành thứ hữu dụng.
4. HS cần lưu ý khi trả lời:
– Thái độ coi thường, chê trách của chiếc bình nguyên lành với chiếc bình nứt có đúng kg? Thái độ ấy gọi liên tưởng đến cách ứng xử nào với những người kém may mắn, đặc biệt là những người sinh ra đã phải gánh chịu những khiếm khuyết, hạn chế?
–  Thái độ của chiếc bình nứt với bản thân mình có gì đúng và chưa đúng? Con người nên có cách ứng xử như thế nào khi đối diện với những hạn chế của bản thân?
– Cách ứng xử của người nông dân với chiếc bình nứt mang đến cho chúng ta bài học gì?( Cần cảm thông, giúp đỡ, nâng đỡ, tạo điều kiện cho những con người kém may mắn tự tin vào bản thân họ; giúp họ biến những hạn chế, khuyết điểm thành điểm mạnh…)
Phần II. Làm văn

  1. Yêu cầu về kĩ năng:
  • Học sinh nắm được phương pháp làm bài nghị luận văn học, phân tích thơ trữ tình.
  • Bài viết có bố cục đủ ba phần; các luận điểm, luận cứ rõ ràng, chặt chẽ; diễn đạt lưu loát, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.
  1. Yêu cầu về kiến thức

Mở bài:

– Giới thiệu tác giả, tác phẩm

– Nêu vấn đề cần phân tích: Vẻ đẹp hình tượng bà Tú qua bài thơ Thương vợ của Trần Tế xương.

Thân bài:
– Giới thiệu khái quát về đề tài người vợ , người vợ khi còn sống: đề tài hiếm hoi.
– Phân tích chi tiết hình tượng bà Tú.
* Hai câu đề:
– Câu 1: Từ ngữ tinh tế: quanh năm, buôn bán , mom sông:cách nói về thời gian ,địa điểm , nghề nghiệp làm ăn của bà Tú ,bà Tú vất vả ,làm nghề buôn bán ở mom sông hết ngày nàu tháng khác khiến nỗi vất vả càng tăng lên gấp bội .

– Câu 2: nói rõ hơn sự vất vả của bà Tú: một mình phải mang gánh nặng nuôi cả gia đình; năm con với một chồng

=> Bà Tú tần tảo, đảm đang, chịu thương, chịu khó.

* Hai câu thực:    + Biện pháp đối, sử dụng từ láy… gợi lên cảnh làm ăn tội nghiệp, lam lũ, vì chồng vì con phải bon chen nơi chợ búa, nơi chuyến đò đầy nguy hiểm.

+ Hình ảnh thân cò lăn lội: hình ảnh đã có trong ca dao. Tú Xương nâng lên thành thân cò, ý thơ như xoáy vào nỗi cơ cực, nặng nề của bà Tú

=> Nỗi vất vả của bà Tú

* Hai câu luận:  Nghệ thuật đối, sử dụng thành ngữ…. => là tấm lòng vị tha, đức hi sinh cao cả của bà Tú. Bà Tú đã đành chấp nhận số phận nên dù có vất vả năm nắng mười mưa bà cũng không quản ngại

* Hai câu kết: Là tiếng cười “chửi” của ông Tú: chửi thói đời ăn ở bạc và tự chửi tự trách chính mình đã ở bạc bẽo với vợ. => Thái độ của Tú Xương với vợ, với đời

Kết bài.(1đ)

– Nhấn mạnh lại hình tượng của bà Tú: một người vợ đảm đang, tháo vát, giàu đức hi sinh Hình tượng của bà cũng là điển hình rất đẹp về người phụ nữ Việt Nam tần tảo, chịu thương, chịu khó, hi sinh vì chồng vì con.

– Khẳng định vấn đề,  nêu suy nghĩ của bản thân hoặc liên hệ mở rộng.

 Biểu điểm:

  • Điểm 6-7: Phân tích nhân vật một cách cụ thể, sâu sắc. Bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, có cảm xúc; có thể còn vài sai sót về chính tả, dùng từ.
  • Điểm 4-5: Cơ bản phân tích được nhân vật. Bố cục rõ ràng, lập luận tương đối chặt chẽ; còn mắc một số lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.
  • Điểm 2-3: Phân tích còn sơ sài; mắc nhiều lỗi về chính tả, dùng từ, ngữ pháp.
  • Điểm 1: Chưa hiểu đề; sai lạc kiến thức; mắc rất nhiều lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.
  • Điểm 0: Không làm bài hoặc hoàn toàn lạc đề.

Xem thêm : Tuyển tập những bài văn hay, những dạng đề xoay quanh tác phẩm Thương Vợ- Trần Tế Xương : Thương vợ

Đề thi bán kì Ngữ văn 11

ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KỲ I MÔN NGỮ VĂN 11. Đề đọc hiểu : Câu Chuyện về hai chiếc bình. Cảm nhận của em vẻ đẹp hình tượng bà Tú qua bài thơ Thương vợ của Trần Tế xương.

  Thời gian: 90 phút

MỤC TIÊU ĐỀ KIỂM TRA:

– Thu thập thông tin để đánh giá mức độ đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng theo tiến độ chương trình lớp 11 học kì I.

– Đánh giá việc học sinh vận dụng kiến thức kĩ năng đã học; viết một bài văn nghị luận.

– Cụ thể: Nhận biết, thông hiểu vận dụng các đơn vị kiến thức, kĩ năng:

+ Kĩ năng đọc – hiểu

+ Kĩ năng làm văn nghị luận văn học.

HÌNH THỨC KIỂM TRA: Tự luận

Phần I. Đọc hiểu (3 điểm)

Đọc đoạn trích dưới đây và thực hiện các yêu cầu bên dưới:

                                        CÂU CHUYỆN VỀ HAI CHIẾC BÌNH

       Có một người nông dân thường xuyên phải gánh nước từ suối về nhà. Suốt hai năm ông dùng  hai chiếc bình gánh nước, trong đó có một chiếc bị nứt. Từ vết nứt của nó, nước cứ bị rỉ ra. Vì thế, cuối đoạn đường dài, từ con suối về nhà, một chiếc bình luôn đầy nước; chiếc kia thì chỉ mang về một nửa bình nước.
Dĩ nhiên, cái bình nguyên vẹn rất tự hào về thành tích của nó và cũng không bỏ lỡ cơ hội nào để tỏ ý coi thường, chê trách chiếc bình nứt. Còn chiếc bình nứt luôn buồn tủi, xấu hổ về khuyết điểm của mình.  Nó khổ sở vì chỉ hoàn tất được một nửa công việc phải làm. Trong hai năm, nó phải chịu đựng sự giày vò, đau khổ với ý nghĩ mình là kẻ thất bại và vô tích sự.
Một ngày nọ, chiếc bình nứt bèn lên tiếng bày tỏ với người gánh nước:
– Con rất xấu hổ về bản thân và muốn nói lời xin lỗi ông về thời gian đã qua.
Người gánh nước hỏi lại cái bình:
– Sao con phải xin lỗi? Mà con xin lỗi về chuyện gì?
Cái bình nứt đáp lại:
– Suốt hai năm qua, do vết nứt của con mà nước đã bị rò rỉ trên đường về nhà. Ông đã phải làm việc chăm chỉ nhưng kết quả mang lại không hoàn toàn như ông mong đợi.
Người gánh nước mỉm cười:
– Không phải vậy đâu! Ngày mai, trên đường ra suối con hãy quan sát kĩ hai bên đường rồi nói ta xem có gì khác lạ nhé.
Hôm sau, chiếc bình nứt nhìn con đường từ nhà ra suối và thấy hai bên đường quang cảnh khác hẳn nhau. Một bên, cỏ mọc xanh mát và có rất nhiều bong hoa đồng nội đủ màu đang khoe sắc. Bên kia chỉ toàn là đất cát và vài khóm cỏ dại héo khô. Không đợi nó cất tiếng hỏi, người gánh nước đã nói:
– Con có thấy rằng những bong hoa kia chỉ nở một bên ven đường, chỉ ở phía bên con mang nước về nhà không? Nước từ vết nứt của con đã tưới cho đất, nuôi dưỡng cỏ hoa. Vợ và con gái ta đã rất vui vẻ, hạnh phúc khi hái những bông hoa kia mang về tô điểm cho căn bếp, cho ngôi nhà của chúng ta. Ngắm những bình hoa ấy, ta quên nỗi mệt nhọc sau một ngày dài vất vả. Không có vết nứt của con, gia đình ta sẽ không có được những  niềm vui ấm áp đó.
Chiếc bình nứt bừng tỉnh. Nó biết rằng, từ hôm nay, mỗi ngày mới trên con đường này sẽ luôn đến cùng niềm vui và hạnh phúc.
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản trên.
Câu 2. Văn bản trên viết về chiếc bình nứt nhưng mục đích  là để nói chuyện gì? . Vết nứt trên chiếc bình ẩn dụ cho điều gì?
Câu 3. Nỗi xấu hổ, day dứt của chiếc bình nứt gợi liên tưởng  đến tâm trạng của con người khi đối diện với điều gì?  Nêu nhận xét của em về cách ứng xử của người nông dân với chiếc bình nứt?
4.Viết đoạn văn khoảng 7-10 dòng nêu lên bài học sâu sắc mà anh/ chị rút ra từ câu chuyện trên.

Phần II. Làm văn (7 điểm)

Cảm nhận của em vẻ đẹp hình tượng bà Tú qua bài thơ Thương vợ của Trần Tế xương.

—————–HẾT————-

 

                                   ĐÁP ÁN VÀ BIỂU ĐIỂM ĐỀ THI  HỌC KÌ I

MÔN: NGỮ VĂN – LỚP 11

NĂM HỌC 2016 – 2017

Phần I. Đọc hiểu

Câu 1.
1. Tự sự

2.
–  Văn bản trên viết về chiếc bình nứt nhưng mục đích  nhằm nói chuyện con người, cụ thể hơn là cách ứng xử của con người trong cuộc sống.
3..-  Vết nứt trên chiếc bình ẩn dụ cho hạn chế, khiếm khuyết trong mỗi con người.
–   Nỗi xấu hổ, day dứt của chiếc bình nứt gợi liên tưởng  đến tâm trạng của con người khi đối diện với những khiếm khuyết của bản thân.
Nêu nhận xét của em về cách ứng xử của người nông dân với chiếc bình nứt:
Cách ứng xử của người nông dân vừa bao dung, nhân hậu vừa từng trải, sâu sắc. Ông đã biến vết nứt của chiếc bình- vốn là một khiếm khuyết, hạn chế thành thứ hữu dụng.
4. HS cần lưu ý khi trả lời:

Trình bày thành 1 đoạn văn hoàn chỉnh , kết cấu chặt chẽ mạch lạc

Về nội dung, sau đây là 1 số gợi ý :

Giải thích:

– Cách ứng xử của người nông dân vừa bao dung, nhân hậu vừa từng trải, sâu sắc. Ông đã biến vết nứt của chiếc bình – vốn là một khiếm khuyết, hạn chế thành thứ hữu dụng.

– Từ đó, câu chuyện đặt ra vấn đề: sống phài có lòng bao dung, nhân hậu, nhất là trong ứng xử trước khiếm khuyết của người khác.

Phân tích, chứng minh vấn đề: Tại sao phải bao dung, tha thứ với người, với người bị khiếm khuyết?

– Để tạo nên mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người

– Để thể hiện thái độ nhân văn trong quan hệ ứng xử …

– Thể hiện niềm trân trọng, chưa bao giờ đánh mất niềm tin về con người.

Mở rộng vấn đề:

– Phê phán những người thiếu lòng bao dung trong ứng xử với người khác, dễ dãi với bản thân.

– Bao dung, tha thứ cho người bằng thái độ, tình cảm chân thực, nhưng cũng tránh sự dễ dãi, không giúp ích gì cho sự thay đổi của người.

– Bao dung với người nhưng phải nghiêm khắc với chính mình

Bài học nhận thức và hành động:

– Bao dung với người cần được thể hiện rõ trong lời nói, suy nghĩ, hành động… mang tinh thần nhân văn…

– Biết sống bao dung với người thì mới thấy cuộc đời đáng yêu, đáng sống và biết sống đúng, sống đẹp với cuộc đời.
Phần II. Làm văn

Yêu cầu về kĩ năng:

  • Học sinh nắm được phương pháp làm bài nghị luận văn học, phân tích thơ trữ tình.
  • Bài viết có bố cục đủ ba phần; các luận điểm, luận cứ rõ ràng, chặt chẽ; diễn đạt lưu loát, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.

Yêu cầu về kiến thức

Mở bài:
– Giới thiệu tác giả, tác phẩm

– Nêu vấn đề cần phân tích: Vẻ đẹp hình tượng bà Tú qua bài thơ Thương vợ của Trần Tế xương.

Thân bài:
– Giới thiệu khái quát về đề tài người vợ , người vợ khi còn sống: đề tài hiếm hoi.
– Phân tích chi tiết hình tượng bà Tú.

1, Hình ảnh bà Tú hiện lên trước hết gắn liền với bao nỗi gian truân khó nhọc, bà Tú vẫn phải một mình làm lụng buôn bán, một mình xông pha, lặn lội nơi đầu sông, bến chợ để lặn lội kiếm sống

Hai câu đề:

– Hoàn cảnh làm ăn buôn bán của bà Tú
+ Thời gian: « Quanh năm »: suốt cả năm, hết năm này sang năm khác, không kể mưa nắng, triền miên không dứt
+ Không gian: ở mom sông: chỗ chênh vênh, dễ sụp dễ té, nguy hiểm
+ Công việc: buôn bán
Câu thơ vừa giới thiệu bà Tú chịu thương chịu khó, nhẫn nại vừa gợi lên sự gian nan, vất vả trong cuộc mưu sinh của bà
– Hoàn cảnh gia đình: Bà Tú phải
+ Nuôi con (năm con): chuyện bình thường
+ Nuôi chồng (một chồng): khác thường
->> Cái gánh nặng mà bà phải mang

+ “Nuôi đủ” : đủ cả về số lượng và chất lượng

->>  Bà Tú đảm đang, tháo vát và chu toàn

+ Cách nói khôi hài: Nuôi đủ năm con với một chồng .Nhà thơ tư đặt mình ngang hàng với đàn con đông đúc để tự nhận mình là ông chồng dài lưng tốn vải chẳng giúp gi đươc vợ.
->> Lòng tri ân, thương quý vợ của ông Tú

2. Vẻ đẹp của sự tảo tần, chịu thương chịu khó,  đảm đang tháo vát, chu đáo với chồng, với con.

Hai câu thực:
– Cụ thể hơn về cuộc sống tần tảo, xuôi ngược của bà Tú.

– “Lặn lội thân cò khi quãng vắng”
+ “Lặn lội”: từ láy+ pháp đảo từ , nhấn mạnh nỗi gian truân, vất vả
+ “thân cò”: hình ảnh ẩn dụ , chỉ thân phận của bà Tú
+ “khi quãng vắng”: bao hàm cả không gian và thời gian (có khi ở nơi heo hút vắng vẻ chứa đầy bất trắc, hiểm nguy)
->> Câu thơ sáng tạo từ ca dao nhằm cụ thể hơn về thân phận của bà Tú: một mình đơn chiếc, tần tảo ngược xuôi.
– “Eo sèo mặt nước buổi đò đông”
+ “Eo sèo”: âm thanh kì kèo, kêu ca, cáu gắt, phàn nàn giữa chợ.
+ “buổi đò đông”: chỉ nơi đông đúc người  diễn tả cảnh bà Tú chen chúc vất vả để buôn bán

– Hai câu thực đối nhau về từ ngữ:
+ lặn lội >< eo sèo
+ khi quãng vắng >< buổi đò đông
->> Hiệu quả: làm nổi bật sự vất vả, gian truân – đã vất vả vì đơn chiếc lại bươn chãi trong cảnh chen chúc chốn đông người.
– Giọng thơ:
+ tràn đầy thương cảm
+ pha chút ái ngại.
->>Thể hiện sự thấu hiểu, cảm thương của ông Tú dành cho vợ
Hai câu luận:
– Tú Xương đã thay lời bà Tú than cho cuộc đời bà

– “Một duyên hai nợ âu đành phận”
+ “duyên” (1): hạnh phúc thì ít
+ “nợ”: con lẫn chồng: lo toan, bộn bề thì nhiều.
->> Tú Xương coi mình là cái nợ mà bà Tú phải mang.

+ “âu đành phận”: chấp nhận số phận, không phàn nàn, lặng lẽ hi sinh.

+ “nắng mưa”: ẩn dụ chỉ sự vất vả
+ “năm, mười”: số đếm, như nhân lên gấp bội sự nhọc nhằn
+ “dám quản công”: không nề hà, kể công

->> Bằng các thành ngữ sáng tạo, phép đối chỉnh, nhà thơ thể hiện trọng vẹn đức tính cam chịu hi sinh vì chồng con của bà Tú. Gánh cả một gánh nặng gia đình trên vai với bao khó khăn cơ cực, lại cô đơn thui thủi một mình, không người sẻ chia giúp đỡ, ấy vậy mà vẫn không kêu ca phàn nàn, không một chút chểnh mảng, bỏ bê công việc. Bà Tú cứ vậy, chăm chi, miệt mài, chịu thương, chịu khó, không nể hà khó khăn nguy hiểm, không quản ngại nắng mưa khuya sớm
Đó là truyền thống của người phụ nữ Việt Nam.
– Âm điệu hai câu thơ:
+ vừa là lời Tú Xương trách mình
+ vừa là lời than cho tình cảnh người vợ hiền sống cam chịu vì chồng vì con, Nỗi xót xa
trào dâng trong lòng ông Tú

Đánh giá :
Về  Nghệ thuật :
Từ ngữ giản dị, giàu sức biểu cảm, vận dụng sáng tạo hình ảnh ngôn ngữ văn học dân gian (hình ảnh thân cò lặn lội, sử dụng nhiều thành ngữ), ngôn ngữ đời sống (cách nói khẩu ngữ, sử dụng tiếng chửi)
Về  Nội dung
Tình thương yêu, quý trọng vợ của Tú Xương thể hiện qua sự thấu hiểu nỗi vất vả gian truân và những đức tính cao đẹp của bà Tú. Qua bài thơ, người đọc không những thấy hình ảnh bà Tú mà còn thấy được những tâm sự và vẻ đẹp nhân cách của Tú Xương.

Kết bài.(1đ)

– Nhấn mạnh lại hình tượng của bà Tú: một người vợ đảm đang, tháo vát, giàu đức hi sinh Hình tượng của bà cũng là điển hình rất đẹp về người phụ nữ Việt Nam tần tảo, chịu thương, chịu khó, hi sinh vì chồng vì con.

– Khẳng định vấn đề,  nêu suy nghĩ của bản thân hoặc liên hệ mở rộng.

 

Biểu điểm:

  • Điểm 6-7: Phân tích nhân vật một cách cụ thể, sâu sắc. Bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, có cảm xúc; có thể còn vài sai sót về chính tả, dùng từ.
  • Điểm 4-5: Cơ bản phân tích được nhân vật. Bố cục rõ ràng, lập luận tương đối chặt chẽ; còn mắc một số lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.
  • Điểm 2-3: Phân tích còn sơ sài; mắc nhiều lỗi về chính tả, dùng từ, ngữ pháp.
  • Điểm 1: Chưa hiểu đề; sai lạc kiến thức; mắc rất nhiều lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.
  • Điểm 0: Không làm bài hoặc hoàn toàn lạc đề.

Xem thêm :

  1. Tuyển tập đề thi Ngữ văn khối 10
  2. Tuyển tập đề thi Ngữ văn khối 11
  3. Tuyển tập đề thi Ngữ văn khối 12
  4. Tuyển tập đề thi , soạn bài Thương vợ– Trần Tế Xương

Bài văn mẫu phân tích bài thơ Thương Vợ -Tú Xương

Bài văn hay : Phân tích/ Cảm nhận của em về bài thơ Thương Vợ- Trần Tế Xương.

Bài làm

Thương vợ – Trần Tế Xương

“Thân em như của ấu gai.
Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen,
Ai ơi nếm thử mà xem.
Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi,”
(Ca dao)

Hình ảnh của người phụ nữ luôn là đề tài muôn thuở cho nền văn chương kim cổ Việt Nam. Tuy nhiên, thơ văn viết về người vợ bằng tình cảm của một người chồng đã ít nay lại viết về người vợ đang sống lại còn hiếm hoi hơn. Và Trần Tế Xương là một trong những bậc thức giả hiếm hoi của nền thơ ca trung đại Việt Nam đã đưa hình ảnh người vợ tần tảo của mình ngay khi bà vẫn còn là một đóa hoa tươi tắn trên đường đời vào những dòng thơ trữ tình nhưng cũng không kém phần trào phúng làm bật lên được đức hi sinh đảm đang, tấm lòng tháo vát chịu thương chịu khó của người bạn đời, bà Tú, qua đó cũng thể hiện tấm lòng tri ân đến người vợ của mình :

“Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
Một duyên hai nợ âu đành phận,
Năm nắng mười mưa dám quản công.
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững cũng như không.”

 

Trần Tế Xương, thường gọi là Tú Xương, sống trong buổi giao thời đầy nghèo khổ nửa thực dân Pháp – nửa phong kiến. Ông là người thông minh, ham học, hào hoa, phóng túng, có tài làm thơ hay nhưng lại lận đận trên con đường thi sử và nổi tiếng chủ yếu ở hai mảng thơ: trào phúng và trữ tình có pha chút giọng cười chân biếm sắc xảo bắt nguồn từ tâm huyết với dân, với nước, với đời. Ông từng được mệnh danh là nhà thơ trào phúng xuất sắc của văn học Việt Nam giai đoạn cuối thể kỉ XIX.

Kho tàng thơ văn của Tú Xương tuy không nhiều chỉ với 100 bài, chủ yếu là thơ Nôm, gồm nhiều thể thơ như thất ngôn bát cú đường luật, lục bát,… và một số bài văn tế, phú, câu đối… nhưng có nhiều bài rất đặc sắc, đạt đến trình độ tuyệt mĩ về cả nội dung và nghệ thuật và được xem như những bài thơ bất tử. Minh chứng rõ ràng nhất đó là thi phẩm “Thương vợ” được viết bằng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Bài thơ đề cập đến nhiều khía cạnh trong xã hội, đồng thời cũng là tiếng lòng tha thiết, sự tri ân đầy xót xa của Tú Xương – nạn nhân của xã hội lố lăng, đảo điên biến con người trở thành vô tích sự với chính mình và gia đình, đối với bà Tú, qua đó, người đọc cũng phần nào thấy được những đức hi sinh to lớn của những người phụ nữ lúc bấy giờ hay của bà Tú đối với người chồng của mình.

Mở đầu tác phẩm, Tú Xương giới thiệu về hoàn cảnh và công việc mưu sinh của bà Tú, qua đó bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với người vợ tảo tần sớm mai của mình:

“Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.”

Mạch cảm xúc của thi phẩm dần dần mở ra với bức tranh toàn cảnh đầy nỗi khó nhọc, lo toan của bà Tú – tên thật là Phạm Thị Mẫn. Tác giả đã sử dụng “Quanh năm” – cụm từ chỉ một khoảng thời gian trường kì lặp đi lặp lại như một vòng tuần hoàn khép kín của tự nhiên để cực tả nỗi vất vả triền miên của bà Tú trải dài hết ngày tháng này sang ngày tháng khác, năm này qua năm nọ mặc cho nắng gắt hay mưa rào vẫn không bỏ xót giây phút nào cả. Chỉ có thế thôi cũng đủ để lại trong lòng độc giả một ấn tượng khó phai về hình ảnh người vợ đầu tắt mặt tối chu toàn mọi sự trong gia đình như bà Tú. Chưa dừng lại ở đó, cách cân đo, đong đếm như thế của thời gian còn góp phần làm bật lên cái không gian, địa điểm bán buôn của bà Tú thông qua hình ảnh “mom sông”. Địa thế “mom sông” rất trắc trở, đầy rẫy những hiểm nguy khôn lường bởi lẽ đó chỉ là một doi đất nhô ra phía lòng sông nơi người làng chài thường tụ tập buôn bán nên những khi tiết trời khắc nghiệt, địa thế chênh vênh mỏng manh kia sẽ dễ sạc lỡ gây nhiều khó khăn cho bà Tú. Khó khăn là thế, gian nan là vậy nhưng bà Tú vẫn mạnh mẽ vượt qua, luôn luôn cố gắng để cho gia đình được ấm no:

“Nuôi đủ năm con với một chồng.”

Với giọng thơ hóm hỉnh cùng tài năng trong nghệ thuật thơ trào phúng, câu thơ thứ hai như lời lên án gay gắt xã hội phong kiến xưa đã biến những người đàn ông vốn là những trụ cột vững chắc trong gia đình thành những kẻ vô tích sự chỉ biết sống dựa vào vợ, mà đặc biệt là “ăn lương vợ:

“Trống hầu chưa dứt bố lên thang,
Hỏi ra quan ấy ăn lương vợ.”
(Quan tại gia – Trần Tế Xương)

Đôi vai của bà Tú đã nặng nay còn nhân lên bội phần khi bà “bất đắc dĩ” trở thành trụ cột chính trong gia đình. Hai chữ “Nuôi đủ” là vừa đủ, vừa đủ nuôi, không thiếu mà cũng không thừa vang lên tạo cho câu thơ một âm điệu trang trọng nhưng cũng không kém phần tự hào gợi tả sự đảm đang tột cùng nơi bà Tú khi chỉ với công việc buôn bán “quanh năm” ở nơi “mom sông” chênh vênh, nguy hiểm mà bà vẫn có thể đảm bảo cuộc sống vật chất và tinh thần đầy đủ cho “năm” đứa con và người chồng của mình. Bên cạnh đó, cách đặt hai danh từ số đếm “năm” và “một” song song với nhau tưởng chừng như khập khiễng nhưng lại rất độc đáo và mới lạ. Tú Xương tự chế giễu mình khi so sánh bản thân ngang hàng với “năm đứa con thơ” vì ông là một “đứa con đặc biệt” ngầm nâng cao vị thế người vợ tảo tần của mình lên một thứ bậc thiêng liêng khác như một người “mẹ hiền” để có thể đề cao công lao của bà Tú một cách chí lí và chuẩn xác nhất. Hơn thế nữa, cấu trúc “năm” – “một” cùng liên từ “với” chất chứa bao nỗi hổ thẹn, buồn bã đã khắc họa nên chiếc đòn gánh mà ở giữa là đôi vai gầy guộc, nhỏ bé của người phụ nữ chịu thương chịu khó còn hai bên đều trĩu nặng với “năm con” và “một chồng” nhưng dường như sự khó khăn lại nghiêng lệch về phía người chồng vô tích sự nhiều hơn vì chế độ “trọng nam khinh nữ” rẻ rúng trong xã hội cũ. Có thể nói, bà Tú “nuôi đủ” cho Tế Xương không chỉ chu toàn cho ông “chăn ấm, nệm êm” mà còn lo cho ông đủ thứ cao sang tốn kém khác để khiến ông phải nở mài nở mặt vì suy cho cùng, Tế Xương vẫn là một tú tài, là người có chí thi cử công danh:

       “Biết thuốc lá, biết chè tàu,
Cao lâu biết vị, hồng lâu biết mùi.”
(Hỏi ông trời – Trần Tế Xương)

 

Hay:

          “Hôm qua anh đến chơi đây,
Giày “giôn” anh dận, “ô Tây” anh cầm.”
(Đi hát mất ô – Trần Tế Xương)

Hai câu đề mở đầu thi phẩm tuy chỉ gói gọn trong mười bốn chữ nhưng đã thể hiện được tất cả những đức tính cao đẹp nơi bà Tú với sự chịu thương chịu khó, tần tảo không quảng nắng mưa để chu toàn mọi việc trong gia đình. Qua đó, Tú Xương cũng khéo léo thể hiện sự biết ơn của mình đối với bà Tú, đồng thời cũng phần nào miêu tả sự hổ thẹn của tác giả khi là một đấng nam nhi mà lại không thể làm gì giúp đỡ vợ đến nỗi phải đặt mình trong mối tương quan với “năm đứa con thơ”. Thật xót xa !

Thấu hiểu được những nỗi lo toan, vất vả của người vợ vĩ đại của mình, Tú Xương liên tưởng đến hình ảnh “con cò” năm xưa trong ca dao :

        “Con cò lặn lội bờ sông,
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non.”
(Ca dao)

để cực tả nỗi khổ tâm mà bà Tú đang trải qua trong hai câu thực:

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.”

Tú Xương sử dụng “thân cò” chứ không phải “con cò” như trong ca dao xưa vừa thể hiện được cá tính riêng, sự sáng tạo mang tính chất thời đại trong phong cách thơ ca của thi sĩ, vừa đồng nhất thân phận của bà Tú nói riêng và người phụ nữ nói chung với hình ảnh gầy guộc của “con cò” để nói lên sự cơ cực trong cuộc sống của một người phụ nữ trụ cột. Tiếp đó, chữ “thân” tuy đơn giản nhưng nghe sao cay đắng quá, nó luôn gợi cho mọi người về một thứ gì đó nhỏ bé tội nghiệp đến vô cùng. Và khi xưa, nhà thơ Hồ Xuân Hương cũng đã từng ngậm ngùi trên trang giấy khi nói đến chữ “thân” bạc mệnh:

          “Thân em vừa trắng lại vừa tròn,
Bảy nổi ba chìm với nước non
.”
                   (Bánh trôi nước)

“Khi quãng vắng” là một cụm từ rất đặc biệt vì nó không chỉ gợi lên cái không gian rợn ngợp cảm giác đơn lẻ đầy nguy hiểm rình rập nơi bờ sông heo hút, giá lạnh lúc bấy giờ mà còn diễn tả sâu sắc nỗi khắc khoải về thời gian của sự tảo tần và một khi được song hành cùng với biện pháp nghệ thuật đảo ngữ của từ láy “lặn lội”, hình ảnh giản dị, chất phát của người phụ nữ gầy guộc chân trần mưu sinh nơi rừng sông núi bãi vào ban đêm – thời gian mà những người phụ nữ khác đang hạnh phúc bên chồng con, đang tận hưởng những giấc ngủ say, hằng mong có thể kiếm thêm thu nhập để trang trải cuộc sống càng trở nên nổi bật và chói lọi hơn trong khung cảnh hiu quạnh đến ghê sợ nơi doi đất chênh vênh.

Nếu như câu thơ thứ ba gợi nỗi cực nhọc đơn chiếc thì câu thơ thứ tư lại là sự vật lộn đầy cam go của bà Tú giữa thời buổi mua bán đông đúc:

“Eo sèo mặt nước buổi đò đông.”

Một lần nữa, biện pháp nghệ thuật đảo ngữ lại được sử dụng trong lời thơ của Tú Xương nhưng với từ láy tượng thanh “eo sèo” gợi sự tấp nập, ồn ào để nhấn mạnh tính chất thường tình nơi chợ búa và sự lam lũ của người phụ nữ “năm con với một chồng” . Mặt khác, hình ảnh “buổi đò đông” cũng góp phần mạnh mẽ trong việc xây dựng hình tượng một bà Tú cần mẫn, tất bật và sự đông đúc, xô bồ đó đã từng được ca dao xưa nhắc đến:

     “Con ơi nhớ lấy câu này,
Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ qua.”

Mặc dù văng vẳng bên tai là lời dạy chân tình của cha ông ta: “Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ qua” nhưng bà Tú vẫn cứ khăng khăng dấn thân vào cuộc chiến tranh âm thầm và dai dẳng của những lần đôi co “eo sèo”, chen chúc, tranh giành khách, phân mua với các gian hàng khác, bất chấp người qua kẻ lại đếm nhiều không xuể khi “đò đông” để bươn chải miếng cơm, manh áo cho chồng, con vì chỉ khi tấp nập như thế, cơ hội kiếm thêm thu nhập sẽ tăng vọt hơn “khi quãng vắng” cho dù phải chịu cảnh đau nhức khi “đầu đội trời, chân đạp đất”, tổn thương về thể xác khi bị dòng người xô ngã. Ôi ! Quả là một người phụ nữ chan hòa tình yêu thương, bà đã đánh đổi cả bản thân mình mà chen lấn bán đi từng món hàng của mình để kiếm từng đồng tiền ít ỏi lo cho cuộc sống gia đình mình, thật đáng khâm phục !

Bằng cách đảo những từ láy hô ứng vừa giàu tính tạo hình vừa giàu tính biểu cảm “lặn lội”, “eo sèo” lên ngay vị trí đầu câu thơ kết hợp với hai hình ảnh đối nhau rất chỉnh “khi quảng vắng” – “buổi đò đông” trong hai câu thực, hình tượng người vợ tháo vát vã mồ hôi chỗ đông đúc vì phải giành giật, trào nước mắt nơi quạnh hiu khi tìm được khách hàng hiện lên với tất cả niềm tự hào của nhà thơ cả về thể chất mạnh mẽ lẫn tinh thần thép của bà Tú dù trong mọi hoàn cảnh khắc khổ nhất.

Đến với những câu thơ tiếp theo, Tú Xương như nhập vai vào chủ thể trữ tình nhằm mượn lời tâm sự của vợ để ngầm ca ngợi những công lao âm thầm vì chồng vì con mà bà Tú đang gồng gánh trên vai:

“Một duyên hai nợ âu đành phận,
Năm nắng mười mưa dám quản công.”

Theo quan niệm phong kiến xưa, “duyên” và “nợ” là hai định nghĩa hết sức thiêng liêng về mối quan hệ vợ chồng do trời định sẵn, xuất phát từ số phận, từ sợi chỉ hồng của ông Tơ bà Nguyệt:

    “Kiếp người sao mãi long đong,
Ông tơ bà Nguyệt chỉ hồng se duyên”

Thế nhưng khi đi vào lời thơ của một bậc thức giả dè dặn kinh nghiệm như Tú Xương, định nghĩa đó dường như đã đánh mất đi tính chất quyền quý của mình mà trở nên nặng nề vô cùng như một lời than thở khi “duyên” thì chỉ có một mà “nợ” lại hai:

“Chồng gì anh, vợ gì tôi,
Chẳng qua là cái nợ đời chi đây”
(Ca dao)

Bên cạnh đó, cách sử dụng hai thành ngữ xưa song song với nhau “Một duyên hai nợ” – “năm nắng mười mưa” vừa đối nhau về từ: “một” – “hai”, “năm” – “mười”, vừa đối nhau về ý đã không những khiến cho nhạc thơ bỗng trầm lắng trước nỗi khổ tâm chồng chất ngày một dâng lên theo cấp số nhân của bà Tú mà còn thể hiện rất rõ tài năng văn chương điêu luyện của thi sĩ khi biết vận dụng triệt để giá trị của các thành ngữ cùng các con số mộc mạc để thiêng liêng hóa hình ảnh bà Tú. Có thể nói, dẫu có khó khăn muôn trùng, chông gai trước mắt, “nợ” nghiêng về mình nhưng bà Tú chưa một lần chùn bước mà chỉ gật đầu nhẫn nhục cho qua và ba tiếng đối ứng thượng, hạ: “âu đành phận”, “dám quản công” đã thể hiện được điều đó. Nguyên nhân dẫn đến sự cần cù, âm thầm đầy cam chịu của bà Tú tuy giản đơn nhưng cũng  rất cao quý: đó là vì mối nhân duyên thiên định và vì tương lai của đàn con nhỏ. Quả là một người mẹ, người vợ giàu đức hi sinh !

Từ việc pha trộn lời thơ đan xen những thành ngữ đã đạt đến độ hoàn hảo về nội dung với các phép đảo ngữ cực tinh tế cùng các cấp số nhân rất thực và chuẩn xác,  nhà thơ Tú Xương đã khắc họa thành công tấm chân dung một người vợ kết tinh đầy đủ đức hi sinh, sự nhẫn nại, sự tần tảo chịu thương chịu khó của người phụ nữ Việt Nam truyền thống trong hai câu luận. Qua đó, ông còn ngầm ý bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến người vợ thân thương của mình khi bà đã quên đi cái tôi mà gánh vác hết mọi trách nhiệm của một trụ cột trong gia đình. Thật vậy:

“Có con phải khổ vì con,
Có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng.”
(Kho tàng lục bát dân gian)

Vì quá thương vợ, quá thương cho phận đời nữ nhi mà lại sắm vai trụ cột, Tú Xương tự trách bản thân mình và thông qua đó cũng nói lên tiếng chửi vừa đắng cay vừa phẫn nộ cho định kiến khắt khe “trọng nam khinh nữ” đã biến ông thành một kẻ vô tích sự :

“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững cũng như không.”

Mạch cảm xúc của thi phẩm dường như có sự chuyển biến đột ngột khi giờ đây, Tú Xương không còn “ẩn mình” sau những vần thơ để tán dương vợ nữa mà ông đã chịu xuất hiện để nói thay cho sự oán trách chồng, trách phận của bà Tú. “Cha mẹ thói đời” thật là một cách nói có phần thô cứng, xù xì nhưng lại rất phù hợp với phong cách thơ ca trào phùng của thi sĩ. Đó là sự giận đời, hận đời vì cái xã hội “Tây tàu lố lăng” lúc bấy giờ không cho phép ông san sẻ gánh nặng gia đình cùng vợ.

Thêm vào đó, ít ai biết được rằng đằng sau tiếng chửi đầy dứt khoát ấy lại là một bi kịch của một con người chất chứa bao niềm phẫn uất, đau xót và tê tái:

“Có chồng hờ hững cũng như không.”

Tú xương chửi “đời” nhưng cũng “tự chửi” mình, “tự chửi” cái thói sĩ diện của một đấng nam nhi đang trên đường công danh, thói gia trưởng chỉ biết ngồi than vãn sự đời, mà không biết được mọi người xung quanh đang khổ cực vì mình. Tú xương coi mình như kẻ vô tâm, “ăn ở bạc” với vợ con, luôn luôn “hờ hững” trong trách nhiệm và vai trò của một kẻ làm cha, làm chồng. Thật là “có chồng hờ hững cũng như không” ! Thế nhưng nếu nhìn nhận lại sự việc một cách lạc quan thì Tú Xương không hề đáng trách mà lại rất đáng thương bởi suy cho cùng, chính xã hội lem luốt kia đã đẩy ông, một tài năng xuất chúng vào bước đường cùng khiến cho người vợ vốn thuộc dòng dỏi cao quý phải chịu khổ. Thật đau đớn !:
“Con gái nhà dòng lấy chồng kẻ chợ

Tiếng có miếng không, gặp chăng hay chớ”
(Văn tế sống vợ – Trần Tế Xương)

Hai câu thơ khép lại tác phẩm là lời tự rủa mát mình của Tú Xương nhưng lại mang đậm ý nghĩa lên án xã hội sâu sắc góp phần khẳng định tình cảm của ông đối với bà Tú là vô bờ bến. Người chồng ấy tuy “ăn lương vợ” nhưng không hề “ở bạc”, “hờ hững” mà rất chu đáo, luôn dõi theo từng bước đi của bà trên đường đời và đặc biệt là luôn bày tỏ lòng biết ơn của mình đối với vợ. Thi phẩm kết thúc thật bất ngờ: vừa thấm đượm cái bi, cái bất hạnh trong niềm riêng của tác giả, lại vừa dí dỏm, hài hước.

Nói tóm lại, bài thơ “Thương vợ”  là một thi phẩm mang đậm tính nhân văn sâu sắc. Với chất thơ bình dị mà trữ tình pha chút trào phúng, Tú Xương đã không những khắc họa nên một bức chân dung tuyệt đẹp về người vợ tảo tần, chịu thương chịu khó của mình mà còn thể hiện vẻ đẹp trong nhân cách của bản thân và hình ảnh bà Tú cần mẫn, đầy lo toan đó chính là hình ảnh đẹp đẽ nhất của người phụ nữ Việt Nam lúc bấy giờ: vừa mộc mạc, chất phát, vừa cứng rắn, mạnh mẽ.

(Bài viết của học sinh)

Xem thêm :