Phân tích hình tượng Sóng trong bài thơ Xuân Quỳnh, liên hệ vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu

Đề bài: Phân tích hình tượng sóng trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh.

Anh/chị cảm nhận được gì về vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu qua hình tượng này?

Dàn ý phân tích hình tượng sóng

Giới thiệu tác giả, tác phẩm

– Xuân Quỳnh (1942 – 1988) là một nhà thơ nữ xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại. Thơ Xuân Quỳnh thể hiện một trái tim phụ nữ hổn hậu, chân thành, khao khát tình yêu, biết nâng niu hạnh phúc đời thường bình dị.

– Sóng (in trong tập Hoa dọc chiến hào) được sáng tác năm 1967, tiêu biểu về nhiều mặt cho hồn thơ Xuân Quỳnh.

Phân tích hình tượng sóng

Sóng là hình tượng trung tâm của bài thơ và là một hình tượng ẩn dụ. Cùng với hình tượng em (hai hình tượng này song hành suốt tác phẩm), sóng thể hiện những trạng thái, quy luật riêng của tình yêu cùng vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ rất truyền thống mà rất hiện đại.

Sóng có nhiều đối cực như tình yêu có nhiều cung bậc, trạng thái và như tâm hồn người phụ nữ có những mâu thuẫn mà thống nhất (Phân tích hai câu đầu với kết cấu đôi lập – song hành và với việc đặt các từ dịu êm, lặng lẽ ở cuối câu tạo điếm nhấn ).Hành trình của sóng tìm tới biến khơi như hành trình của tình yêu hướng về cái vô biên, tuyệt đích, như tâm hồn người phụ nữ không chịu chấp nhận sự chật hẹp, tù túng (Phân tích hai câu sau của khổ 1 với kiểu nói nhân mạnh như không hiểu nổi, tìm ra tận…).

Điểm khởi đầu bí ẩn của sóng giống điểm khởi đầu và sự mầu nhiệm,khó nắm bắt của tình yêu (Phân tích các khổ 3, 4 của bài thơ vói điệp từ nghĩ và sự xuất hiện của nhiều câu hỏi…).

Sóng luôn vận động như tình yêu gắn liền  với những khát khao trăn trở không yên,  như người phụ nữ khi yêu  luôn da diết nhớ  nhung, cồn cào ước vọng về một tình yêu vững bền, chung thủy ( phân tích các  khổ 5 6 7 8 của bài thơ với lối sử dụng điệp từ , điệp ngữ , điệp cú pháp , với hiệu quả của hình thức đối lập trên – dưới, thức- ngủ, bắc- nam, xuôi- ngược, với kiểu giãi bày tình cảm bộc trực như Lòng em nhớ đến anh/ cả trong mơ còn thức…).

— Sóng là hiện tượng thiên nhiên vĩnh cửu như tình yêu là khát vọng muôn đời của con người, trước hết là người phụ nữ (nhân vật trữ tình) muôn dâng hiến cả cuộc đời cho một tình yêu đích thực (Phân tích khổ cuối của bài thơ với  ý nghĩ và cách nói rất táo bạo của một người con gái hiện đại: Làm sao được tan ra…).

Nêu cảm nhận về vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu qua hình tượng sóng

Trước hết, hình tượng sóng cho ta thấy được những nét đẹp truyền thống của người phụ nữ trong tình yêu: thật đằm thắm, dịu dàng, thật hồn hậu dễ thương, thật chung thủy.                                                                  ;

Hình tượng sóng cũng thể hiện được nét đẹp hiện đại của người phụ nữ trong tình yêu: táo bạo, mãnh liệt, dám vượt qua mọi trở ngại đế giữ gìn hạnh phúc, dù có phấp  phỏng trước cái vô tận của thời gian, nhưng vẫn vững tin vào sức mạnh của tình yêu.

Kết luận về bài sóng

Sóng là bài thơ tình thuộc loại hay nhất của Xuân Quỳnh nói riêng và thơ Việt Nam hiện đại nói chung.

Riêng việc sử dụng hình tượng sóng làm ẩn dụ thì không mói, nhưng những tâm sự về tình yêu cùng cách khai thác sức chứa của ẩn dụ này lại c ó những nét thực sự mới mẻ. Xuân Quỳnh quả đã tìm được một hình tượng thơ đẹp đê giãi bày tình yêu dịu dàng mà mãnh liệt, gần gũi, riêng tư mà rộng mở, phóng khóang của người phụ nữ.                                                                                                                                                 I

Bài văn phân tích hình tượng sóng

Trước Xuân Quỳnh đã có không ít thi sĩ viết  về tình yêu – đề tài muôn thuở và không bao giờ vơi cạn của thi ca – thế nhưng, cũng với đề tài này, nữ sĩ Xuân Quỳnh đã thực sự để  lại dấu ấn  trên thi đàn Việt Nam. Từ những năm khói lửa chiến tranh, những vần thơ của Xuân Quỳnh đã làm bổi hồi bao trái tim người đọc. Thi sĩ đã đem đến cảm nhận về một tình yêu thuần khiết, dung dị và hết sức dạt dào, tha thiết. Sóng có thế coi là một trong số những bài thơ về tình yêu hay nhất của nữ sĩ. Có người đã từng nói Sóng của Xuân Quỳnh là một bài ca về một tình yêu giản dị mà đẹp đến mê lòng. Tình yêu luôn có nhu cầu được chia sẻ và giãi bày. Xuân Quỳnh đã mượn “sóng” – một hình ảnh đặc biệt – để bộc lộ tình yêu của mình. Ngay từ khổ thơ đầu tiên, nhà thơ đã có những phát hiện mới mẻ về “tính cách” của “sóng”:

Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ

Thi sĩ đã khám phá ra những trạng thái đôi lập trong con sóng: dữ dợi, ổn ào, mạnh mẽ đến cuồng nhiệt và “dịu êm”, “lặng lẽ”, sâu lắng đến dịu dàng. Bản tính của sóng thật thất thường như tâm hồn người con gái đang yêu. Đây là hai câu thơ tự bạch, tự thú táo bạo mà dịu dàng. Táo bạo vì nó quá mãnh liệt và chân thực. Dịu dàng vì sau những dữ dội, ồn ào, tình yêu vẫn đổ  về phía cuối câu thơ để lắng vào dịu êm lặng lẽ – đó là cái dịu dàng con gái làm nên chất nữ tính của hình tượng sóng. Xuân Quỳnh đã tinh tế  biết bao khi nhận ra hai trạng thái tưởng chừng như đối lập của con sóng để khám phá về tình yêu. Tinh yêu đâu phải dễ lí giải, nó cũng “nắng mưa thất thường”, cũng đầy mâu thuẫn. Trước trạng thái ấy, Xuân Quỳnh đã thổi vào con sóng một niềm khao khát:

Sông  không hiểu nổi mình 
Sóng tìm ra tận bể 

Ngay từ đầu, con sóng tâm trạng đã ùn vào, vỗ sóng trong tâm hồn người đọc. Ta bỗng nhận ra trong bản thân mình sự đồng cảm với thi sĩ và với chính con sóng kia. Con người đâu phải lúc nào cũng hiếu rõ về mình. Chính vì thế trong khổ tiếp theo, tứ thơ chuyên từ hình tượng sóng sang những suy nghĩ về tình cảm con người, vừa đột ngột vừa tự nhiên:

Ôi con sóng ngày xưa

Và ngày sau vẫn thế

Nỗi khát vọng tình yêu

Bồi hồi  trong ngực trẻ

Từ ngày xưa đến ngày sau, liên tưởng thơ đã vươn tới cái muôn đời. Ta cảm nhận sâu sắc về một tình yêu thủy chung, cháy bỏng lúc nào cũng phập phồng “trong ngực trẻ”. Từ sóng cho tới tình yêu vốn là tứ thơ quen thuộc xưa nay. Người xưa từng mượn sóng mà hạ lời thề:

Bao giờ cho sóng bỏ ghềnh,

Cù lao bỏ biển anh mới đành bỏ em.

(Ca dao)

Con sóng si tình của Xuân Diệu từng khát khao:

Cho anh làm sóng biếc

Hôn mãi cát vàng em

Hôn thật khẽ, thật êm

Hôn ôm đềm mãi mãi

(Biển)

Nét riêng của Xuân Quỳnh là tạo cho con sóng sự nữ tính đấy sức sống qua các trạng thái khác nhau: Có cái bồi hồi rất trẻ trung; có cái dữ dội, mãnh liệt nhưng còn có cá cái dịu đàng sâu lắng. Xuân Quỳnh xoay trở con sóng yêu đầy lo âu để cảm nhận nó trên nhiều chiều đối lập. Đó là cách cảm nhận nồng nàn mà có chiều sâu trên cả hai mặt cảm xúc và nhận thức.

Những khổ thơ tiếp theo, sóng từ đối tượng cảm nhận được chuyển thành đối tượng để suy tư. “Trước muốn trùng sóng bể, dòng suy tư cuộn lên như sóng không cùng, những câu hỏi hóa thành cuộc đối thoại lớn với vũ trụ về tình yêu:

Sóng bắt đầu từ gió 
Gió bắt đầu từ đâu? 
Em cũng không biết nữa 
Khi nào ta yêu nhau 

Vói những câu hỏi, Xuân Quỳnh đang muốn truy tìm nguyên nhân, truy tìm ngọn nguồn của tình yêu. Song dường như những câu hỏi ấy chẳng bao giò có thể tìm được một câu trả lời thích đáng. Thiên nhiên bí ấn còn có thể cắt nghĩa nhưng “làm sao cắt nghĩa được tình yêu?” (Xuân Diệu), Xuân Quỳnh đã diễn đạt sâu sắc cái mà người ta gọi là “Trái tim có những quỵ luật riêng mà lí trí không thể hiểu được”. Tình yêu cần  có lí trí nhưng trước hết đó là câu chuyện của trái tim, cho nên không thể dùng lí trí tính táo để xác định sự bắt đầu của tình yêu. Chính sự tưởng chừng như bất lực trong những câu trả lời đã đưa tình yêu trở về với bản chất của nó. Đặc biệt, câu thơ: “Em cũng không biết nữa/ Khi nào ta yêu nhau” có một giọng điệu hết sức đáng yêu. Nếu đảo lại trật tự; “Khi nào ta yêu nhau – Em cũng không biết nữa”, ý thơ sẽ lăn về  phía lí trí tỉnh táo. Bằng sự khéo léo tài tình của Xuân Quỳnh trong cách sử dụng ngôn ngữ, ta thấy những vần thơ dường như diễn tả rất chính xác nỗi choáng váng của cô gái khi vừa chạm vào cái vùng chói sáng của trái tim con người – tình yêu. Hai câu thơ không chỉ nói về tình yêu mà ta có cảm giác những câu chữ cũng đang rung động theo trái tím thiếu nữ, nó giống như cái lắc đầu đầy yêu thương và bối rối của một cô gái đáng yêu. Nỗi thổn thức ấy tiếp tục lăn mình cùng sóng nước, vươn dài theo thời gian, mênh mang cùng những câu thơ của Xuân Quỳnh:

Con sóng dưới lòng sâu 
Con sóng trên mặt nước 
Ôi con sóng nhớ bờ 
Ngày đêm không ngủ được 
Lòng em nhớ đến anh 
Cả trong mơ còn thức 

Tình yêu von gắn liền với nỗi nhớ. Đến đây mỗi câu thơ dường như đểu chan chứa một nỗi nhớ – nỗi nhớ da diết, khắc khoải. Đoạn thơ có hai cặp hình ảnh so sánh song song, khá đắc địa: sóng vỗ bờ cả ngày lần đêm, em nhớ anh ” cả trong mơ còn thức”. Hai cặp hình ảnh song hành, cộng hưởng nhằm diễn tả tình yêu sâu sắc hơn. “Cả trong mơ còn thức” – câu thơ là một phát hiện đầy tinh tế về quy luật của tình yêu: sinh hoạt thường ngày của con người còn có giới hạn bởi thức và ngủ nhưng tình yêu phá vỡ mọi giới hạn, thông trị cả tiềm thức, giấc mơ, thao thức đến khôn cùng. Chỉ có những trái tim yêu hết mình mới thống trị cả thời gian, cả ý thức lẫn tiềm thức như vậy. Tình yêu quả là một sự “bất thường” giữa đời thường. Xuân Quỳnh đã thực sự thông suốt mọi ngỏ ngách của tình yêu vì bà chính là một con người có trái tim yêu không bao giờ mệt mỏi, luôn khát yêu, khát sống bằng cả trái tim. Tình yêu có mặt trong thơ, lên ngôi và tỏa sáng trong phần lớn các tác phẩm của bà. Ta đã bắt gặp không ít những tình yêu vượt qua mọi giới hạn của không gian, của thời gian để hướng tới cái vĩnh cửu trong thơ Xuân Quỳnh:

Những ngày không gặp nhau

Biển bạc đầu thương nhớ

Những ngày không gặp nhau

Lòng thuyền đau rạn vỡ

Nếu từ giã thuyền rồi

Biển chỉ còn sóng gió

Nếu phải cách xa anh

Em chi còn bão tố

(Thuyền và biển)

Thời gian chật chội  bởi giới hạn, suy tư lại mở ra không gian:

Dẫu xuôi về phương bắc 
Dẫu ngược về phương nam 
Nơi nào em cũng nghĩ 
Hướng về anh – một phương 

Hai chữ xuôi, ngược thấp thỏm một linh cảm lo âu trước cuộc đòi bất trắc. Vì thế câu thơ “Hướng về anh— một phương” nôm na mà chắc nịch như một sự khẳng định tuyệt vời cho một tình yêu mãnh liệt. Người ta thường nói ngược vẽ phương bắc và xuôi về phương Nam nhưng có lẽ trong tình yêu luôn có những thứ trái ngang, những điều đi ngược lại cái bình thường nhưng suy cho cùng, điều quan trọng nhất của tinh yêu phải chăng chính là sự nhung nhớ, sự gặp gỡ của những trái tim yêu? Và đối với người con gái đang yêu, trái tim họ luôn chỉ hướng về một phương “anh” duy nhất. Những suy tư lấy hình ảnh “sóng” làm trung tâm là sự kết hợp tuyệt vời giữa cảm xúc vàlí trí, tạo cảm giác vừa bổi hồi vừa lắng sâu.

Cao trào của bài thơ dồn thành khát vọng trào dâng trong ba khổ thơ cuối – khát vọng tìm đến tựa từ một niềm tin:

 

Ở ngoài kia đại dương 
Trăm nghìn con sóng đó 
Con nào chẳng tới bờ 
Dù muôn vời cách trở 

Cuộc đời tuy dài thế 
Năm tháng vẫn đi qua 
Như biển kia dẫu rộng 
Mây vẫn bay về xa 

Cái hay của lỗi diễn đạt của Xuân Quỳnh không chỉ ở chỗ mượn quy luật của sóng biển, mây trời để nói về quy luật của tình yêu. Độ sâu của nó bắt nguồn từ nhận thức rất đời thường : cuộc sống là dài, là rộng, là muôn vời cách trở, cuộc sống tràn đầy những điều bất ngờ  vì thế mà cũng đầy bất trắc. Lời thơ như nỗi lo đau đáu luôn âm thầm  giày vò, như những đợt sóng ngầm trong trái tím khát yêu của nữ sĩ  Xuân Quỳnh. Song dù thế nào đi chăng nữa, tình yêu vẫn sẽ  vượt qua mọi trở ngại để  vươn tới đích như những con sóng “Con nào chẳng tới bờ
Dù muôn vời cách trở “.Với niềm tin ấy, khát vọng cúa Xuân Quỳnh vừa mạnh mẻ vừa ấm áp:

Làm sao được tan ra 
Thành trăm con sóng nhỏ 
Giữa biển lớn tình yêu 
Để ngàn năm còn vỗ

Mong ước hóa thân vào sóng thật lớn lao. Khát vọng được “tan ra” để bất tử cùng tình yêu (“ngàn năm còn vỗ”) thật cháy bỏng. Tứ tha có sự phát triển giống như sự nhận thức và lí giải về sự tồn tại mãnh liệt của tình yêu. Có lẽ chưa bao giờ ta thấy trên thi đàn Việt Nam có một nữ thi sĩ bộc lộ tình yêu một cách mãnh liệt mà cũng thật dung dị đến vậy.

Lưu Khánh Thơ nhận xét về thơ Xuân Quỳnh như sau: “Ở Xuân Quỳnh, tình yêu không bao giờ chỉ đơn thuần là tình yêu, nó còn tượng trưng cho cái đẹp, cái tôl, cái cao quý của con người, tượng trưng cho niềm khát khao được hoàn thiện mình”. Với sự hóa thân vào sóng, Xuân Quỳnh đã truyền sức sống dào dạt vào tác phẩm như sự khao khát tình yêu luôn cháy bỏng trong trái tim nữ sĩ, làm cho những Sóng hay Thuyền và biển sống mãi với thời gian nhu truyền thuyết về tình yêu mãi mãi làm say đắm bao trái tim người đọc.

( Mai Phương Thảo )

Dẫn theo : Trần Liên Quang, Đỗ Thị Yên

Xem thêm : Tuyển tập đề thi về bài Sóng Xuân Quỳnh, những bài văn phân tích về tác phẩm : Sóng Xuân Quỳnh

Phân tích bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh

Bài văn mẫu cảm nhận về bài Sóng của thi sĩ Xuân Quỳnh, SGK Ngữ văn lớp 12

Bài làm :

Mở bài

Sóng là một trong những bài thơ tình đặc sắc của Xuân Quỳnh. Hình tượng trung tâm và nổi trội trong bài, như tựa đề đã chỉ rõ, đó là sóng. Sức sống và vẻ đẹp tâm hồn của nhà thơ cũng như mọi sáng tạo nghệ thuật trong bài thơ đều gắn liền với hình tượng sóng. Cả bài thơ là những con sóng tâm tình của một người phụ nữ được khơi dậy khi đứng trước biển cả, đối diện với những con sóng vô hạn vô hồi. Thực ra thì trong bài thơ, còn có một hình tượng trữ tình nữa, đó là “em”. Sóng là một hình tượng ẩn dụ, nó là sự hoá thân của cái tôi trữ tình của nhà thơ, “sóng” và “em” vừa hoà nhập làm một, lại vừa phân đôi ra để soi chiếu vào nhau, cộng hưởng. Tâm hồn người phụ nữ đang yêu soi vào sóg để thấy rõ lòng mình, nhờ sóng để biểu hiện những trạng thái của lòng mình. Với hình tượng sóng, Xuân Quỳnh đã tìm được một cách thể hiên thật chính xác tâm trạng của ngươi phụ nữ trong tình yêu.

Thân bài

Trước hết, có thể cảm nhận hình tượng sóng được gợi ra trong cả bài thơ bằng âm điệu. Bài thơ có một âm hưởng dào dạt, nhịp nhàng, lức sôi nổi trào dâng, lúc thầm thì sâu lắng, gợi âm hưởng của những đợt sóng miên man. Âm hưởng ấy được tạo nên bởi thể thơ năm chữ có vận cách với những câu thơ liền mạch, từng câu không ngắt nhịp, các khổ thơ lại được gắn kết bằng cách nối vần từ câu cuối khổ trên xuống câu đầu khổ dưới, ví dụ :

— Bồi hồi trong ngực trẻ

Trước muôn trùng sóng bể

—Khi nào ta yêu nhau

Con sóng dưới lòng sâu…

Nhịp sóng đó cũng là nhịp lòng của tác giả, một tâm trạng đang xao động, trào dâng, miên man và chất chứa những khát khao, rạo rực.

  1. Đi vào phân tích những biểu hiện cụ thể của tâm trạng trữ tình trong bai thơ, ta sẽ thấy mỗi trạng thái tâm hồn lại tìm thấy sư tương hợp với một đặc tính, một dạng thức biểu hiện của sóng.

Sóng “Dữ dội và dịu êm – ồn ào và lặng lẽ”, những trạng thái thật đối nghịch, như là tâm tình người phụ nữ đang yểu, mang trong lòng những trạng thái thật trái ngược và bất thường, ẩn chứa sức sống mạnh mẽ. Với sức sống và khát vọng không lúc nào nguôi ngoai, yên* định, con sóng không thể không “tìm ra tận bể”, cũng như có lần Xuân Quỳnh đã phát hiện cái quy luật của sự sống trong tình yêu là ở sự vận động của nó : “Vì tình yêu muôn thuở – Có bao giờ đứng yên ?” (Thuyên và biển).

Hành trình của sóng hướng ra bể rộng cũng chính là sự dứt khoát chối bỏ những giới hạn chật chội, những thoả mãn tầm thường, để tìm đến nhũng chân trời bao la, những khát khao rộng lớn. Chỉ có- ra đến biển, con sóng mới thực sự tìm thấy mình, mới nhận thức được sức mạnh và những khát khao của nó.

Biển là biểu tượng cụ thể của không gian lớn rộng, cũng như sóng là sự vĩnh hằng với thời gian. Đứng trước biển, người ta thường nghĩ đến cái vô cùng, vô tận của tự nhiên, của vũ trụ. Với Xuân Quỳnh thì bao giờ biển cũng khơi dậy những khát khao, ước vọng lớn lao :

Sóng trường tồn với thời gian như sự sống không ngừng nghỉ và không mệt mỏi, cũng như khát vọng tình yêu của con người sẽ còn mãi mãi, trướe hết là trong những lồng ngực trẻ:

ôi con sóng ngày xưa

Và ngày saư vẩn thế

Nỗi khát vọng tình yêu

Bồi hồi trong ngực trẻ     ‘                                     “

Đi tìm lời đáp cho câu hỏi về sự khởi nguồn tình yêu của mình, người phụ nữ ở đây cũng lại soi vào sóng : “Sóng bắt đầu từ gió – Gió bắt đầu từ đâu ?” và chợt nhận thức về cái “quy luật” không thể cắt nghĩa rõ ràng được của tình yêu : “Em cũng không biết nữa – Khi nào ta yêu nhau”. Cái điều mà trước kia Xuân Diệu đã tổng kết như phát biểu một chân lý : “Làm sao Cắt nghĩa được tình yêu ?” thì nay Xuân Quỳnh lại phát hiện nó, nhưng bằng trực cảm, bằng sự trải nghiệm của chính lòng mình và được riói lên như một lời “thú nhận” thành thực, hồn nhiên mà không kém ý nhị, sâu sắc.

Tình yêu là đi liền với nỗi nhớ. Tâm hồn đang yêu ở đây lại soi vào sóng mà diễn tả được cái sâu sắc, bao la của nỗi nhớ trong lòng mình : nó choán đầy cả tầng sâu và bề rộng, nó chiếm lĩnh trọn cả thời gian, ngày và đêm :

 

Con sóng dưới lòng sâu

Con sóng trên mặt nước

Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được

Như nổi lòng của người con gái :

Lòng em nhớ đến anh

Cả   trong mơ còn thức

Cái “thức” trong cả giấc mơ, mới càng nói được sự thật của nỗi lòng : nỗi nhớ không chỉ chiếm lĩnh ý thức mà còn thấm sâu vào tiềm thức.

Tình yêu sôi nổi, nồng nhiệt của trái tim phụ nữ này, cũng lại là một tình yêu thật chân thành, trong sáng, một tình yêu hết mình và đòi hỏi sự duy nhất tuyệt đối, sự gắn bó thủy chung. Con sóng nào cũng hướng tới bờ và nhất định sẽ  tới bờ, dù muôn vàn cách trở. Lòng em cũng thế:

Dẫu xuôi vê phương Bắc

Dẫu ngược về phương Nam

Nơi nào em cũng nghĩ

Hướng về anh- một phương

Quan niệm tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh mới mẻ, mạnh bạo, nhưng cũng rất gần gũi với mọi1 người và có gốc rỗ trong lâm thức đận tộc.

Tâm trạng của người phụ nữ trong tình yêu, nhờ cách thể hiện sóng đôi qua “em” và “sóng”, vừa được bộc bạch trực tiếp lại vừa được diễn tả đầy hình ảnh với các nét tâm trạng được trở đi trở lại như một diệp khúc hồi hoàn, như những vòng sóng nối nhau, dội lại, cộng hưởng và lan loả. Nếu sóng nhớ bờ “Ngày đêm không ngủ được” thì em “nhớ đến anh – Cả trong mơ còn thức” và nếu em ở nơi nào cũng nghĩ “Hướng về anh – một phương” thì sóng “Con nào chẳng tới bờ – Dù muôn  vời cách trở”.

Hồn thơ Xuân Quỳnh vốn rất nhạy cảm với thời gian và sự chảy trôi, biến đổi.

Sự nhạy cảm ấy thường dẫn nhà thơ đến tâm trạng lo âu và niềm khát khao nắm lấy cái hạnh phúc bình dị của hiện tại, chăm chút, vun vén cho nó. Ngay như lúc này, trong trạng thái hạnh phúc của tâm hồn người phụ nữ đang yêu, thấy cuộc đời tất cả vẫn còn ở phía trước, vậy mà vẫn cứ hiện ra một thoáng lo âu về cái hữu hạn của đời người và cũng là củạ tình yêu :

Cuộc đời tuy dài thế

Năm tháng vẫn đi qua

Như biển kia dẫu rộng

Mây vẫn bay về xa

Cũng có người cảm nhận bốn câụ thơ trên là sự khẳng định sức mạnh và sự bền vững của tình yếu trong thời gian và không gian. Nhưng nếu đặt vào dòng suy cảm trong bài thơ và rộng ra, trong mạch thơ vế tình yêu của Xuân Quỳnh, thì những câu thơ ấy ẩn chứa một thoáng lo âu về sự hữu hạn, khó bền vững của tình yêu và của đời người.

Sau này, khi đã đi qua nhiều năm tháng đầy biến động của cuộc đời, đã nêm trải nhiêu ngọt ngào và cay đắng của hạnh phúc thì ở Xuân Quỳnh, nỗi lo âu về sự mong manh, bất định của tình yêu đã trở thành một ám ảnh nhiều xót xa

Lời yêu mỏng mảnh như màu khói

Ai biết lòng anh có đổi thay

(Hoa cỏ may )

Ở bài thơ Sóng, sự nhạy cảm với thời gian chảy trôi và ý thức về cái hữu hạn cửa đời người lại dẫn đến khát vọng muốn được còn mãi với muôn thuở, hoà nhập với vĩnh hằng. Với Xuân Quỳnh, cái cách đổ sống mãi ấy là tình yêu. Người đàn bà ấy khát khao được sống hết mình cho tĩnh yêu và được sống mãi với thời gian bằng tình yêu của mình. Sóng lại nói giúp chị niềm khát khao ấy :

Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lớn tình yêu

Để ngàn năm còn vỗ

Trước biển, người ta khó tránh khỏi cảm giác rợn ngợp bởi đối diện với cái vô biên và vô tận. Nhưng biển, với Xuân Quỳnh, còn “khơi dây những khát khao mới mẻ”, mà ở trường hợp bài Sóng này, là cái khát khao được hoà nhập với Vĩnh hằng, được còn mãi một tình yêu lớn. Khát vọng yêu cũng là khát vọng sông mãnh liệt, đủ đầy. Cuộc đời một con người dù có là dài thì rồi năm tháng cũng sẽ đi qua, nhưng tình yêu lớn sẽ còn mãi với thời gian, với cuộc đời. Cái ước vọng được còn mãi tình yêu của mình luôn là nỗi niềm tha thiết và khắc khoải trong trái tim người phụ nữ này, ngay khi còn nhiều bồng bột của tuổi trẻ và cả lúc đã qua nhiều khổ đau, từng ưải, thậm chí, khi ấy nó lại càng da diết hơn :

Em trở về đúng nghĩa trái tim em

Là máu thịt đời thường ai chẳng có

vẫn ngừng đập lúc cuộc đời không còn nữa

Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi

(Tự hát)

Kết bài 

Người phụ nữ ấy như sinh ra để yệu và làm thơ. Nhưng tình yêu và thơ ca chẳng phải là cái gì khác hom là sự sống trọn vẹn, sâu sắc, hết mình đó sao ? Và chẳng phải là thơ đã tiếp tục sự sống của chị, tình yêu của chị cả sau khi người phụ nữ tài năng và bất hạnh ấy đã đột ngột ra đi mãi mãi đó sao ?

Nguyễn Văn Long

Xem thêm những bài văn mẫu phân tích Sóng, những dạng đề về bài sóng tại đây :  sóng xuân quỳnh

Bài văn hay Phân tích bài thơ Sóng của thi sĩ Xuân Quỳnh

Bài văn phân tích Sóng- Xuân Quỳnh, hay và giàu cảm xúc.

Sóng của Xuân Quỳnh- Những cung bậc tình yêu

Thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới đã gợi ý cho tôi viết bài này.

“Giao thừa là giây phút của những ước mơ” có ai đó đã nói đại ý như vậy.

Quả thật, cuộc sống chỉ thực sự thi vị khi con người ta sống trong mơ ước. Mơ ước đẹp bao giờ cũng đáng trân trọng, nâng niu. Trong giờ phút thiêng liêng đón chào năm mới tôi bỗng nhớ về khát vọng của Xuân Quỳnh trong bài thơ Sóng, dẫu chị không còn ở độ tuổi mười tám, dẫu không phải là rung động đầu đời nhưng: Nỗi khát vọng tình yêu vẫn Bồi hồi trong ngực trẻ…

Vâng. Khi người ta yêu là khi người ta còn trẻ. Và, Xuân Quỳnh trẻ mãi bởi “Chị sinh ra dường như là để cho thơ và cho tình yêu”. Nhận định ấy của sách giáo khoa Văn học 12 đã nói chính xác hồn vía thơ Xuân Quỳnh.

Viết về tình yéu. Xuân Quỳnh không phải là nữ sĩ duy nhất, càng khống phải là thi sĩ duy nhất. Tình yếu là đề tài vĩnh cửu. Trái đất có bao nhiêu con người thì bấy nhiêu tình yêu. Ai đó đã nói rằng nếu khổng có tình yêu trên trái đất này thì vầng mặt trời sẽ tắt. Đi vào để tài tình yêu, Xuân Quỳnh không hề lặp lại người khác và cũng không lặp lại chính mình.

Sóng là một trong những bài thơ để đời về tình yêu của chị. Có phải ngẫu nhiên nữ sĩ chọn thể thơ năm chữ? Thơ ngũ ngôn chuyển tải nhịp sóng lòng, chuyển tải sự xốn xang của trái tim tình yêu là phù hợp hơn cả. Khổ thơ thứ nhất, như một sự giãi bày, củng là một lời lí giải. Giãi bày vìchị đã  nóí đúng những cung bậc thổn thức của con tim người phụ nữ đang yêu Những đối cực:

Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ

vừa là thuộc tính của sóng vừa là khí chất của người phụ nữ. Nhất là người phụ nữ đang yêu. Những đối cực ấy lí giải vì sao trái tim yêu dịu dàng và sôi nổi, lặng lẽ và đắm say lại không chịu gò bó trong khuôn khổ nhỏ hẹp, chật chội để tìm đến với chân trời khoáng đạt bao la:

Sông không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể

Ngôn ngữ Việt Nam có những trường hợp đồng nghĩa khá thú vị: bể cũng là biển. Vì sao Xuân Quỳnh không dùng chữ “biển”: lượng nguyên âm và phụ âm nhiều hơn nhưng phụ âm cuối “n” lại là phụ âm khép, nó hạn chế sự vang ngân. Còn “bể”: tận cùng là nguyên âm, không phải là phụ âm khép, do đó, độ dài rộng, sự bao la của biển như được nới rộng tới không cùng. Phải là như thế mới là chân trời của tình yêu, của sóng – của em – của người phụ nữ chưa phút giây nào trong cuộc đời thôi khát khao tình yêu nồng cháy.

Với tình yêu chân chính, không tính toán, người ta không thể biết thời đểm chính xác để tình yêu bắt đầu. Cũng như vậy, Xuân Quỳnh lí giải;

Sóng bắt đấu từ gió

Gió bắt đẩu từ đâu?                                                          ‘  f

Em cũng không biết nữa

Khi nào tư yêu nhau

Không biết chính xác phút nào em yêu anh. Nhưng, quan trọng nhất là trong đôi mắt em, anh là tất cả. Có anh rồi, sự băn khoăn kia bỗng trở thành vô nghĩa. Yêu là nhớ. Dường như, đó là một quy luật và muôn đời nay, người ta vãn dùng nỗi nhớ để “xác nhận” sự còn, mất của tình yêu. “Một trái tim đang nhớ, là một trái tim đang yêu; một trái tim ngừng nhớ là dấu hiệu chắc chán của một trái tim ngừng yêu” (Chu Văn Sơn) và càng nhớ da diết thì tình yêu càng sâu sắc. Khi yêu, người ta hay triết lí, và để triết lí đỡ khô khan, còn cách nào hơn dùng nghệ thuật so sánh? Có phải vì vậy mà Xuân Quỳnh so sánh:

Con sóng dưới lòng sâu

Con sóng trên mặt nước

Ôi! con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được

Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức

Biển khơi bao la có bao nhiêu con sóng thì có bấy nhiêu nỗi nhớ, dù đó là sóng nổi, sóng chìm, sóng nhẹ hay sóng sâu… Em nhớ anh như sóng nhớ bờ. Đại dương có nhiều sóng; đời chỉ có một em. Nỗi nhớ, em dành cho anh, bằng tất cả nỗi nhớ của bao con sóng kia hợp lại. Thế đã là sâu sắc, thế đã là tha thiết. Nhưng không, Xuân Quỳnh không bằng lòng với sự so sánh ngang bằng ấy. Với sự say mê (mà động lực cũng từ sự thôi thúc của trái tim tình yêu) chị đem đến cho độc giả một sự bất ngờ đến thú vị, cũng là một sự cảm phục chân thành bởi chị không ngần ngại thể hiện chân thật nỗi nhớ trong tình yêu cháy bỏng đến dường ấy:

Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức

Nhớ trong cõi thực, nhớ cả trong cõi mơ. Mơ thấy anh đã là biểu hiện cao của nỗi nhớ. Nhưng, thức cả trong mơ để nhớ anh thì quả là, không còn một cách diễn đạt nào sâu sắc hơn.

Sóng là bài thơ tình yêu, Sóng cũng là bài thơ về nỗi nhớ. Chẳng phải thế sao? Chín khổ thơ, khổ dài nhất, ấn tượng nhất đối với người đọc là khổ thứ năm này. Đây là khổ thơ duy nhất trong bài có độ dài lớn nhất: Sáu câu thơ (tám khổ còn lại, mỗi khổ bốn câu thơ). Hình như, Xuân Quỳnh quan niệm khổ thơ kéo dài là để đo độ dài của nỗi nhớ – cũng là độ sâu sắc của tình yêu. Tình yêu của chị, quả là chỉ có thể đo bằng thời gian vô tận và không gian mênh mông. Và, đi kèm với tình yêu luôn luôn là niềm tin. Vâng. Chỉ với niềm tin, những người yêu nhau mới có khả năng chờ đợi, mới có khả năng tồn tại và cống hiến cho đời bằng tất cả tâm sức và trí tuệ. Xuân Quỳnh tin vào tình yêu bằng một niềm tin chắc chắn: Dù ờ đâu, chị luôn luôn có người yêu bên cạnh vì chị luôn nghĩ về anh, nghĩ về tình yêu:

Dẫu xuôi về phương bắc…Hướng về anh một phương.

 

Có phải ý nghĩ làm cho con người gần nhau hơn? Có phải ý nghĩ thu hẹp khoáng cách hơn? Tất nhiên, luôn luôn nghĩ về người yêu là hạnh phúc. Nhung, chưa đủ. Bời thế, chị muôn hoá thân thành sóng biển. Không phải một con sóng mà là “tràm con sóng nhỏ” để hoà vào biển lớn tình yêu, để dược vinh viền sông trong tình yêu, để mãi mãi tình yêu nâng đỡ con người đến những chân trời hạnh phúc:

Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lớn tình yêu

Đê ngàn năm còn vỗ.

Nếu ở khổ thơ thứ 7, còn là âm điệu của một niềm tin chắc chắn:

Ở ngoài kia đại dương

Trăm ngàn con sóng đó

Con nào chẳng tới bờ

Dù muôn vời cách trở

Ta như thấy, trong đó, có cả âm điệu của ca dao thuở trước “Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo…”. Núi cao, vực sâu, … đâu phải là trở ngại nếu tình cảm con người cao hơn núi, sâu hơn sông? Bởi thế, dự cảm về “muôn vời cách trở” đi liền với niềm tin: sóng sẽ tới bờ – như khát vọng về tình yêu sẽ luôn được thoả nguyện. “Trăm ngàn con sóng” có con nổi, con chìm, và trong hành trình không mệt mỏi, con sóng nào rồi cũng tới đích. Niềm tin của chị, sao mà trong sáng, sao mà đáng yêu? Tiếng thơ là tiếng lòng. Bởi vậy Sóng là thơ, Sóng cũng là tình. Tinh yêu noi Xuân Quỳnh chưa bao giờ vơi nguội, niềm tin nơi Xuân Quỳnh chưa bao giờ mai một. Nhưng, Xuân Quỳnh còn là một trái tim của dự cảm và lo âu: biển khơi vẫn rộng, mây vẫn bay, thời gian vẫn vĩnh hằng? Có phải vì câu hỏi ấy, mà Xuân Quỳnh chẳng muốn phân thân, chị muốn nhập thân vào sóng. Vì thế, hơi thơ gấp gáp hơn, câu hỏi “Làm sao được tan ra”, được hoà thành sóng biển để tồn tại vĩnh hằng có một sức mê hoặc lòng người. Không, phải là sức mê hoặc đối với tình yêu. Chì có thể dùng tình người mới hiểu hết tình thơ – tình đời mà Xuân Quỳnh gửi vào bài thơ Sóng.

Dẫu chị chẳng thề thốt như Xuân Diệu:

Kẻ đa tình không cần đến thịt da

Khi chết rồi thì tôi sẽ yêu ma

nhưng chị dã hứa bằng lời hứa của trái tim yêu chân thật:

nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi

Lẽ nào lại không trân trọng một lời hứa như thế? Và, đã bao lần đọc thơ chị, trong tôi vẫn nguyên vẹn sự xốn xang trước câu hỏi cháy lòng:

Làm sao dược tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lớn tình yêu

Để ngàn năm còn vỗ

Không phải là một trái tim phụ nữ với tình yêu sôi nổi và mê say không thể có được một câu hỏi, một âm điệu da diết và khắc khoải như thế.

Mùa xuân dã vể, cảm xúc mùa xuân và cảm xúc tình yêu dường như có duyên nợ. Bời thế, mỗi dịp xuân sang, tôi vẫn hằng ngâm nga thơ tình yêu cùa chị và tôi dám chắc rằng, nhiểu người cũng dồng cảm với tôi bời “Nếu trái đất không có tình yêu thì vầng mặt trời sẽ tắt”.

ThS. Đỗ Nguyên Hương

Xem thêm : Sóng Xuân Quỳnh

Giáo án Ngữ văn 12 theo chủ đề :Thơ kháng chiến chống Mỹ 1965-1975

 Xây dựng chủ đề dạy học, giáo án ngữ văn lớp 12, soạn bài Đất nước Nguyễn Khoa Điềm , Sóng, Bác ơi.

Giáo án theo định hướng phát triển năng lực học sinh

Tuần

theo chủ đề

Số tiết Chủ đề Tiết PPCT Tiết theo chủ đề Tên bài
12 4 Chủ đề 12

Thơ kháng chiến chống Mỹ 1965-1975

28-29 36-37 Đất nước (Trích Mặt đường khát vọng).
13 37 38 Sóng

 

41 39 – Bác ơi!
13

 Thơ kháng chiến chống Mỹ 1965-1975

MỤC TIÊU CẦN ĐẠT

1. Kiến thức-Kĩ năng-Thái độ

            a.Kiến thức

Sau bài học, người học hiểu được:

– Cảm nhận được những suy tư sâu sắc của nhà thơ về đất nước và trách nhiệm của mỗi người đối với quê hương, xứ sở. Hiểu được sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất chính luận và trữ tình, sự vận dụng các chất liệu văn hóa và văn học dân gian, sự phong phú, linh hoạt của giọng điệu thơ.

-Vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu qua hình tượng “Sóng”

-Đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng hình tượng ẩn dụ, giọng thơ tha thiết, sôi nổi, nồng nàn, nhiều suy tư, trăn trở.

-Cảm nhận được tình cảm của nhà thơ Tố Hữu, của nhân dân Việt Nam trước sự ra đi của vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc.

 Kĩ năng

Sau bài học, người học có thể:

– Đọc – hiểu tác phẩm thơ trữ tình theo đặc trưng thể loại.

– Làm quen với giọng thơ giàu chất trí tuệ, suy tư.

Thái độ:

Sau bài học, người học ý thức:

-Bồi dưỡng tình yêu quê hương đất nước, trân trọng và yêu mến văn hóa văn học dân gian của dân tộc.

– Có tình yêu đôi lứa trong sáng, chân thành.

-Hiểu hơn về con người Hồ Chí Minh với đầy đủ những phẩm chất cao đẹp.

2.Hình thành năng lực:

– Năng lực thu thập thông tin liên quan đến thơ kháng chiến chống Mỹ 1965-1975

– Năng lực đọc – hiểu  các tác tác phẩm thơ Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ 1965-1975.

– Năng lực trình bày suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về giai đoạn văn học.

– Năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận về thành tựu, hạn chế, những đặc điểm cơ bản, giá trị của những tác phẩm văn học của giai đoạn này

– Năng lực phân tích, so sánh đặc điểm của thơ chống Mỹ với giai đoạn trước đó ( chống Pháp và xây dựng CNXH)

– Năng lực tạo lập văn bản nghị luận.

  1. Phát triển phẩm chất:

-Biết nhận thức được ý nghĩa của thơ ca kháng chiến chống Mỹ

-Biết trân quý những giá trị văn hóa truyền thống mà thơ ca kháng chiến chống Mỹ đem lại

-Có ý thức tìm tòi về thể loại, từ ngữ, hình ảnh trong thơ ca kháng chiến chống Mỹ

B.KẾ HOẠCH THỰC HIỆN CHỦ ĐỀ

  1. Thời gian thực hiện

-Thực hiện trong 02 tuần: 12, 13

-Số tiết thực hiện trên lớp: 04

+ 2 tiết: Đất Nước (Trích Mặt đường khát vọng).

+ 1 tiết: Sóng ( Xuân Quỳnh)

+ 1 tiết: Đọc thêm: Bác ơi! ( Tố Hữu)

  1. Chuẩn bị của giáo viên và học sinh

a/Chuẩn bị của giáo viên

-Giáo án

-Phiếu bài tập, trả lời câu hỏi

– Ảnh chân dung Nguyễn Khoa Điềm (phóng to); tâp trường ca Mặt đường khát vọng và một số tâp thơ của Nguyễn Khoa Điềm.

– Sưu tầm một số câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ có liên quan đến những câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm.

– Sưu tầm tranh, ảnh về nhà thơ Xuân Quỳnh, ngâm bài thơ Sóng.

– Phim về Lễ tang Hồ Chí Minh

-Bảng phân công nhiệm vụ cho học sinh hoạt động trên lớp

-Bảng giao nhiệm vụ học tập cho học sinh ở nhà

b/Chuẩn bị của học sinh

-Đọc trước ngữ liệu trong SGK để trả lời câu hỏi tìm hiểu bài

-Các sản phẩm thực hiện nhiệm vụ học tập ở nhà (do giáo viên giao từ tiết trước)

-Đồ dùng học tập

  1. Lập bảng mô tả mức độ nhận thức

 

Nhận biết Thông hiểu Vận dụng thấp Vận dụng cao
-Tác giả, hoàn cảnh sáng tác ,xuất xứ … Hiểu được đặc điểm từng  thể loại thơ Phân tích được nội dung nghệ thuật của từng bài Vận dụng những hiểu biết bài thơ  để viết bài làm văn nghị luận về 1 bài thơ, đoạn thơ .
Xác định thể loại thơ Hiểu được đặc trưng thể loại thơ trữ tình Phân tích cảm xúc chủ đạo của tác giả trong mỗi bài Nhận ra được phong cách sáng tác của từng tác giả sau khi học xong các bài thơ
Xác định bố cục bài thơ . Hiểu được mạch cảm xúc của nhà thơ trong mỗi bài Đánh giá nét đặc sắc của mỗi bài về phương diện nghệ thuật. Hiểu được nội dung của các bài thơ khác  nằm ngoài chương trình SGK.
Phát hiện các chi tiết, biện pháp nghệ thuật đặc sắc của từng văn bản. Lý giải ý nghĩa, tác dụng của từng biện pháp nghệ thuật. Đánh giá giá trị nghệ thuật của từng bài . So sánh nét tương đồng và dị biệt giữa các chi tiết, hình ảnh thơ trong các đoạn thơ cùng chủ đề.

THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC DẠY HỌC

 HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM

GV hướng dẫn học sinh tìm hiểu về thơ kháng chiến chống Mỹ từ năm 1965 đến năm 1975 bằng câu hỏi trắc nghiệm sau:

  1. Ai là tác giả của bài thơ Tiểu đội xe không kính:

a/ Thanh Hải

b/ Phạm Tiến Duật

c/ Chính Hữu

d/ Viễn Phương

2/ Tập thơ nào của Tố Hữu ra đời trong kháng chiến chống Mỹ:

a/ Ra trận

b/ Ta với ta

c/ Một tiếng đờn

d/ Từ ấy

Gợi ý trả lời: 1b;2a

Từ đó, giáo viên giới thiệu vào bài: 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã trở thành nguồn cảm hứng vô tận cho các nhà thơ Việt Nam sáng tác. Chúng ta đã tìm hiểu chủ đề thơ chống Pháp và thơ trong thời kì đầu xây dựng CNXH trên miền Bắc. Hôm nay, chúng ta tiếp tục tìm hiểu CHỦ ĐỀ THƠ CHỐNG MỸ 1965-1975.

HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH KIẾN THỨC MỚI

Tiết 36 – 37/Tuần 12

ĐẤT NƯỚC

(Trích  trường ca Mặt đường khát vọng )

– Nguyễn Khoa Điềm –

 

Nội dung Mô tả hoạt động của thầy và trò Tư liệu, phương tiện, đồ dùng
Hoạt động của thầy Hoạt động của trò
Họat động: TÌM HIỂU NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA THƠ CHỐNG MỸ 1965-1975 (15 phút).
A. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA THƠ CHỐNG MỸ 1965-1975 I. Hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa

– Kháng chiến chống Mỹ, đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh;

– Miền Bắc trở thành hậu phương lớn cho miền Nam;

– Chủ tịch HCM từ trần ( 2-9-1969)

– Sự xuất hiện và đóng góp của các nhà thơ trẻ: Nguyễn Khoa Điềm, Xuân Quỳnh, Phạm Tiến Duật…

II. Những thành công nội dung và nghệ thuật thơ kháng chiến chống Pháp

1/ Nội dung:

– Thơ ca tập trung phản ánh cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc

– Thể hiện khuynh hướng mở rộng và đào sâu hiện thực;

– Ca ngợi tình yêu Đất Nước, ý thức công dân.

– Niềm thương tiếc vô hạn trước sự ra đi của Chủ tịch HCM;

– Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.

2/Nghệ thuật:

a/ Ngôn ngữ thơ kháng chiến chống Mỹ:

– Có sự tiếp nhận các yếu tố khẩu ngữ, yếu tố văn xuôi

– Vận dụng sáng tạo các biện pháp tu từ;

– Xây dựng được hình ảnh thơ tiêu biểu: Hình ảnh Đất Nước; hình ảnh bà Mẹ; …

b/ Thể thơ trong thơ thời kì kháng chiến chống Mỹ cũng đa dạng và phong phú

– Thể thơ lục bát truyền thống

– Thơ tự do ;

– Trường ca

c/ Thơ ca thể hiện xu hướng khác nhau:

– Xu hướng đại chúng (Tố Hữu là đại diện)

– Xu hướng thơ đậm chất trữ tình chính luận (Nguyễn Khoa Điềm là đại diện).

– Xu hướng thơ đằm thắm, dịu dàng, mãnh liệt (Xuân Quỳnh là đại diện)…

B. CÁC TÁC PHẨM

       ĐẤT NƯỚC ( Nguyễn Khoa Điềm)

I. Tìm hiểu chung:

1. Tiểu sử tác giả :

a. Cuộc đời:

– Sinh ra trong một gia đình trí thức, giàu truyền thống yêu nước và tinh thần cách mạng.

– Học tập và trưởng thành trên miền Bắc, tham gia chiến đấu và hoạt động văn nghệ ở miền Nam.

b. Tác phẩm chính: (SGK)

c. Phong cách sáng tác :

– Giàu chất suy tư , xúc cảm dồn nén .

– Giọng thơ trữ tình chính luận .

2. “Trường ca mặt đường khát vọng”:

a. Hoàn cảnh sáng tác: Hoàn cảnh sáng tác : Hoàn thành ở chiến khu Trị -Thiên 1971 .

 b. Đoạn trích:

– Xuất xứ: “Đất nước” Trích chương V của trường ca.

– Bố cục văn bản : Hai phần

+ Phần I : 42 câu đầu : Đất nước được cảm nhận từ nhiều phương diện lịch sử văn hoá dân tộc, chiều sâu của không gian, chiều dài của thời gian.

+ Phần II: 47 câu cuối : Tư tưởng cốt lõi, cảm nhận về đất nước : Đất nước của Nhân dân .

–          Thể loại :Trường ca

(Trường ca là một tác phẩm được viết bằng thơ trên phương thức kết hợp nhuần nhuyễn hai yếu tố tự sự và trữ tình, có tính hoành tráng về cả phương diện nội dung, tư tưởng và cấu trúc nghệ thuật tác phẩm, được nhà thơ viết nên bằng một dung lượng cảm hứng mạnh mẽ, cảm xúc tuôn trào gắn liền với những chấn động lớn lao của lịch sử, của dân tộc và thời đại.)

* Thao tác 1 :

GV: Yêu cầu HS xem lại bài Khái quát văn học Việt Nam từ 1945 đến hết thế kỷ XX để trả lời các câu hỏi sau:

1.      1/Hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa của đất nước trong giai đoạn 1965-1975?

 

2.      2/Những thành công nội dung và nghệ thuật thơ kháng chiến chống Mỹ?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hướng dẫn HS tìm hiểu chung về tác giả và tác phẩm

-Hướng dẫn HS tìm hiểu phần Tiểu dẫn.

– Gọi 1 HS đọc TD.

 

– Phần TD trình bày những nội dung chính nào?

– GV nhận xét sau đó nhấn mạnh những thông tin chủ yếu về tiểu sử, phong cách thơ.

*GV Tích hợp kiến thức  lịch sử để hướng dẫn học sinh tìm hiểu quê hương nhà thơ, chiến trường Trị Thiên năm 1971.

– Kiến thức lịch sử: Để phát triển phong trào cách mạng ở Quảng Trị và Thừa Thiên Huế, tháng 4 năm 1966, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định tách Trị – Thiên ra khỏi khu V, thành lập Khu ủy Trị – Thiên – Huế bao gồm Đảng bộ tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên và thành phố Huế đặt dưới sự lãnh đạo của Ban chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị.

 *GV Tích hợp kiến thức Lí luận văn học để hướng dẫn học sinh tìm hiểu phong cách sáng tác của nhà thơ, thể loại Trường ca

 

 

HS Tái hiện kiến thức và trình bày.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– HS đọc tiểu dẫn, chú ý những thông tin quan trọng.

– HS chú ý tiểu sử tác giả, phong cách sáng tác để trả lời.

 

 

 

 

 

 

– HS tóm những ý chính, ghi vở.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– HS đọc văn bản chú ý thể hiện giọng thơ trữ tình-chính luận.

 

– HS phân chia bố cục theo nội dung.

 

 

 

Hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản.

-GV đọc VB và gọi một HS đọc lại VB

– Hãy chia bố cục?

 

Ảnh chân dung Nguyễn Khoa Điềm (phóng to); tâp trường ca Mặt đường khát vọng và một số tâp thơ của Nguyễn Khoa Điềm.

 

Họat động 2: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN ( 30 PHÚT)
II. Đọc hiểu văn bản :

* Phần 1: Nêu lên cách cảm nhận độc đáo về quá trình hình thành, phát triển của đất nước; từ đó khơi dậy ý thức về trách nhiệm thiêng liêng với nhân dân, đất nước.

 

 1. Đất nước được cảm nhận bằng chiều dài của thời gian, chiều rộng của không gian và chiều sâu của lịch sử văn hoá dân tộc.

  a. Cội nguồn đất nước :

– “Khi ta lớn lên”- “Đất nước đã có rồi”

(Quá khứ )               (Hiện tại )

=> Giọng thơ nhẹ nhàng, âm hưởng đầy quyến rũ đã đưa ta về với cội nguồn của đất nước : Một đất nước vừa cụ thể vừa huyền ảo đã có từ rất lâu đời.

  b. Sự cảm nhận đất nước ở phương diện lịch sử – văn hoá :

– Đất nước được cảm nhận gắn liền với nền văn hoá lâu đời của dân tộc:

+ Câu chuyện cổ tích, ca dao.

+ Phong tục của người Việt: ăn trầu, bới tóc(nét đẹp tình nghĩa, vẻ đẹp thuần phong, mĩ tục; Vẻ đẹp nhân hậu của người phụ nữ VN.)

– Đất nước lớn lên đau thương vất vả cùng với cuộc trường chinh không nghỉ ngơi của con người:

+ Cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, gắn với hình ảnh cây tre- biểu tượng cho sức sống bất diệt của dân tộc.

+ Cái kèo, cái cột, hạt gạo: Biểu tượng cho c/s giản dị, gắn liền với nền văn minh lúa nước, lao động vất vả.

– Đất nước gắn liền với những con người sống ân tình thuỷ chung. (Gừng cay, muối mặn: -> Lối sồng thủy chung, đậm tình nghĩa.)

=> Hình ảnh, từ ngữ giàu sức liên tưởng, gợi cảm. Ngôn từ đậm chất d/gian, sử dụng nhiều thành ngữ, cdao.

– Từ ngữ “ĐN” được viết hoa -> Tình cảm yêu thương, trân trọng.

– Giong thơ: thâm trầm, trang nghiêm, tha thiết trữ tình, gợi quá trình sinh ra và lớn lên, trưởng thành của ĐN.

=> ĐN gắn liền với nền văn hóa lâu đời. ĐN gần gũi thân thương gắn bó với đời sống c/ng VN.

*Đất nước được hình thành từ những gì bé nhỏ, gần gũi, riêng tư trong cuộc sống của mỗi con người.

 

 

 

c. Sự cảm nhận đất nước ở phương diện chiều sâu của không gian:

– Không  gian gần gũi ( sinh hoạt, học tập và làm việc ..)( Nơi anh  đến trường,.. nơi em tắm)

– Tình yêu đôi lứa: kỉ niệm hò hẹn, nhớ nhung“..đánh rơi chiếc khăn… nhớ thầm”

(Lối chiết tự đầy ý nhị vừa mang tính cá thể vừa hết sức táo bạo , tác giả đã định nghĩa đất nước thật độc đáo). =>Là sự thống nhất giữa cá nhân với cộng đồng.

– Đất nước còn là không gian rộng lớn, tráng lệ hùng vĩ của núi cao, biển cả. (Thiên nhiên:Núi sông, rừng biển hùng vĩ, tráng lệ “hòn núi bạc,.. Nước, ..biển khơi)

– Không gian sinh tồn của dân tộc qua nhiều thế hệ “..nơi dân mình đoàn tụ”

=> ĐN là những gì gần gũi thân quen gắn bó với cuộc sống mỗi người lại vừa mênh mông rộng lớn.

 d. Sự cảm nhận ĐN ở phương diện chiều dài thời gian : ĐN được cảm nhận từ quá khứ  với huyền thoại “ Lạc Long Quân và Âu Cơ” cho đến hiện tại với những con người không bao giờ quên nguồn cội dân tộc, truyền thuyết Hùng Vương và ngày giỗ Tổ .

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

e. Suy ngẫm của tác giả về trách nhiệm của thế hệ mình với ĐN : phải biết hi sinh để bảo vệ đất nước.

– ĐN hiện lên vừa thiêng liêng sâu xa , lớn lao vừa gần gũi thân thiết với sự sống mỗi người. Đất nước là sự hòa quyện không thể tách rời giữa cá nhân và cộng đồng dân tộc. Vì thế mỗi người phải có trách nhiệm với đất nước.

– Nghệ thuật:

. Điệp ngữ “phải biết” => giọng thơ chính luận.

. Âm điệu “em ơi em”=> trữ tình thiết tha.

. Dùng từ “hoá thân”(# hi sinh): hiến dâng, hoà nhập, sống còn vì đất nước => sâu sắc, giàu ý nghĩa.

. Lời thơ giản dị nhưng mang ý nghĩa sâu xa.

=> Ý thơ mang tính chất tâm sự nhiều hơn là kêu gọi, giáo huấn nên sức truyền cảm rất mạnh.

 

* Thao tác 1 :

Hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản

 

– ĐN gắn liền với những văn hoá gì của dân tộc?

 

– ĐN trưởng thành như thế nào?

 

*GV Tích hợp kiến thức Văn học dân gian, lịch sử thời Vua Hùng, phong tục của dân tộc để hướng dẫn học sinh tìm hiểu 9 câu thơ đầu.

 

 

-Nhận xét về cách sử dụng những chất liệu văn hóa, văn học dân gian của Nguyễn Khoa Điềm?

-GV trích hai đoạn thơ của Nguyễn Đình Thi và Chế Lan Viên để HS so sánh nhận ra điểm mới trong cách tiếp cận đất nước của Nguyễn Khoa Điềm

*GV Tích hợp kiến thức Làm Văn học ( thao tác lập luận so sánh) hướng dẫn học sinh tìm hiểu nét mới về cảm nhận ĐN ở 9 câu thơ đầu.

 

GV Tích hợp kiến thức Tiếng Việt ( chiết tự, liệt kê), vận dụng ca dao…để hướng dẫn HS tìm hiểu ĐN được cảm nhận trên phương diện không gian và thời gian

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

-Tổ chức thảo luận nhóm

Nhóm 1: Xác định không gian nghệ thuật để cảm nhận về ĐN thể hiện trong đoạn thơ: Đất là nơi anh…nỗi nhớ thầm.Tác giả sử dụng nghệ thuật như thế nào trong 4 câu thơ?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhóm 2: Xác định không gian nghệ thuật để cảm nhận về ĐN thể hiện trong đoạn thơ: Đất là nơi con chim…dân mình đoàn tụ.Tác giả sử dụng nghệ thuật như thế nào trong đoạn thơ?

 

 

 

 

Nhóm 3: Xác định thời gian nghệ thuật để cảm nhận về ĐN thể hiện trong đoạn thơ: Lạc Long Quân…Mai này..mơ mộng..Tác giả sử dụng nghệ thuật như thế nào trong đoạn thơ?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhóm 4: Phân tích 4 câu cuối: Em ơi em…muôn đời.– Tác giả suy nghĩ như thế nào về trách nhiệm của mình đối với ĐN?

GV Tích hợp kiến thức Tiếng Việt ( phép điệp, giọng thơ chính luận và trữ tình), để hướng dẫn HS tìm hiểu trách nhiệm đối với Đất Nước

GV Tích hợp kiến thức Giáo dục công dân lớp 10( bài CÔNG DÂN VỚI SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC) để hướng dẫn học sinh tìm hiểu trách nhiệm đối với Đất Nước.

 

 

– HS dựa vào phần đầu của đoạn trích để xác định các phương diện cảm nhận ĐN.

– HS chú ý 2 câu đầu của đoạn trích để xác định.

 

Kiến thức văn hoá dân gian:

– Truyện cổ dân gian: Cổ tích Trầu cau, truyền thuyết Thánh Gióng;

– Tục ngữ: miếng trầu là đầu câu chuyện; Miếng trầu nên dâu nhà người

– Ca dao: Muối ba năm…Gừng chín tháng…

-Thành ngữ: Một nắng hai sương

– HS Tìm những chi tiết, hình ảnh thể hiện nền văn hóa của dân tộc.

– HS dựa vào lịch sử thời Vua Hùng để trả lời: Ăn trầu là phong tục cổ truyền của người Việt. Tương truyền có từ thời Hùng Vương và gắn liền với một câu chuyện cổ tích nổi tiếng: Chuyện Trầu Cau.

 

 

 

 

HS trả lời:

Nhà thơ không chỉ ra một bài nào cụ thể, không trích nguyên văn những câu trọn vẹn mà chỉ dẫn ra, gợi ra một vài hình ảnh, từ ngữ tiêu biểu, để từ đó mở ra cho người đọc những trường liên tưởng sâu rộng về đời sống dân tộc qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước

HS trả lời:

-Nguyễn Đình Thiàcảm nhận đất nước ở những đường nét hoành tráng của không gian, với giọng điệu ngợi ca đầy tự hào

– HS xác định những không gian địa lí được thể hiện ở phần đầu.

 

Đại diện nhóm 1 trả lời:

– Không  gian gần gũi ( sinh hoạt, học tập và làm việc ..)( Nơi anh  đến trường,.. nơi em tắm)

– Tình yêu đôi lứa: kỉ niệm hò hẹn, nhớ nhung“..đánh rơi chiếc khăn… nhớ thầm”

(Lối chiết tự đầy ý nhị vừa mang tính cá thể vừa hết sức táo bạo , tác giả đã định nghĩa đất nước thật độc đáo). =>Là sự thống nhất giữa cá nhân với cộng đồng.

 

 

 

 

 

 

Đại diện nhóm 2 trả lời:

– không gian rộng lớn, tráng lệ hùng vĩ của núi cao, biển cả. (Thiên nhiên: Núi sông, rừng biển hùng vĩ, tráng lệ “hòn núi bạc,.. Nước, ..biển khơi)

– Không gian sinh tồn của dân tộc qua nhiều thế hệ “..nơi dân mình đoàn tụ”

Đại diện nhóm 3 trả lời:

–                      Thời gian quá khứ:

+ Nhớ Lạc Long Quân..

+ Cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ

–                      Thời gian hiện tại:

+Trong anh và em hôm nay…

+ Sự gắn bó giữa cá nhân với cộng đồng

-Thời gian tương lai:

+Mai này con ta lớn lên…

+ Tháng ngày mơ mộng: hi vọng về một ngày nước nhà thống nhất, hoà bình

Đại diện nhóm 4 trả lời:

. Điệp ngữ “phải biết” => giọng thơ chính luận.

. Âm điệu “em ơi em”=> trữ tình thiết tha.

. Dùng từ “hoá thân”(# hi sinh): hiến dâng, hoà nhập, sống còn vì đất nước => sâu sắc, giàu ý nghĩa.

– giọng thơ lại chân thành, tha thiết, là sự tự ý thức về trách nhiện của mình với đất nước: phải yêu thương, san sẻ, và khi cần phải biết hi sinh cho đất nước

Tích hợp GDCD: Suy ngẫm của tác giả về trách nhiệm của thế hệ mình với ĐN, bản thân thấy được trách nhiệm của cá nhân với đất nước trong giai đoạn hiện nay…

Họat động 3: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN ( 35 PHÚT)
II. Đọc–hiểu:

   2. Phần 2: tư tưởng “Đất nước của Nhân dân” được thể hiện qua ba chiều cảm nhận về đất nước.

a. Đất nước do nhân dân sáng tạo ra : Tg cảm nhận ĐN qua những địa danh thắng cảnh gắn với cuộc sống tính cách số phận của nhân dân. (Từ không gian địa lí)

– Tình nghĩa thuỷ chung thắm thiết (núi Vọng Phu, hòn trống mái)

+ Vợ nhớ chồng ànúi vọng phu

+ Vợ chồng yêu nhau àhòn trống mái

– Sức mạnh bất khuất (Chuyện Thánh Gióng) : Gót ngựa ThánhGióngà  Ao đầm để lại

– Cội nguồn thiêng liêng (hướng về đất Tổ Hùng Vương): Chin mươi chín  con voi àdựng đất tổ Hùng Vương

– Truyền thống hiếu học (Cách cảm nhận về núi Bút non nghiêng)

– Hình ảnh đất nước tươi đẹp (Cách nhìn dân dã về núi con Cóc, con Gà , dòng sông)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

=> ĐN hiện lên vừa gần gũi vừa thiêng liêng.

 

à Cảnh quan thiên nhiên gắn liền với đời sống, tâm hồn, lịch sử dân tộc.

– Từ đó, tác giả đi đến một kết luận mang tính khái quát:

“ Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi

 Những cuộc đời đã hoá núi sông ta.”

à Theo tác giả: Những thắng cảnh đẹp, những địa danh nổi tiếng khắp mọi miền của đất nước đều do nhân dân tạo ra, đều kết tinh của bao công sức và khát vọng của nhân dân, của những con người bình thường, vô danh.

– Nghệ thuật liệt kê, điệp từ đã khẳng định nhân dân là đối tượng quan trọng nhất tạo nên dáng hình đất nước

b. Đất nước là do nhân dân chiến đấu và bảo vệ : Nhìn vào bốn nghìn năm ĐN mà nhấn mạnh đến những con người vô danh (Từ thời gian lịch sử)

 

– Họ đã sống và đã chết / giản dị và bình tâm …

–  Họ đã làm nên đất nước => Họ chính là nhân dân, những người anh hùng vô danh , bình dị…

– Đại từ “Họ” đặt đầu câu + nhiều động từ “giữ, truyền, gánh”

à Vai trò của nhân dân trong việc giữ gìn và lưu truyền văn hoá qua các thế hệ.

 

c. Đất nước là do nhân dân gìn giữ và lưu truyền

– Nhân dân đã gìn giữ và lưu truyền cho thế hệ sau mọi giá trị tinh thần và vật chất =>  Nhân dân chính là người làm nên đất nước

=>Đất nước là của nhân dân, của ca dao thần thoại=> Đây là một định nghĩa giản dị mà độc đáo.

 

 

 

 

 

 

d. Đóng góp của nhân dân : Tg chọn 3 dẫn chứng để nói về truyền thống của nhân dân (Từ bản sắc văn hóa).

+ Lãng mạn, chung thủy say đắm trong tình yêu. (Yêu em từ thuở trong nôi . )

+ Quí trọng  tình nghĩa(Biết quý công…)

+  Quyết liệt trong căm thù và sẵn sàng chiến đấu (biết trồng tre …)

=> Sự phát hiện thú vị, cái nhìn mới mẻ và độc đáo của tg về ĐN trên các phương diện địa lí, lịch sử, văn hoá với nhiều ý nghĩa mới : Muôn vàn vẻ đẹp của ĐN đều là kết tinh của bao công sức và khát vọng của nhân dân , của những con người vô danh , bình dị. Khẳng định đất nước của nhân dân.

– Kết thúc đoạn thơ là hình ảnh dòng sông với những điệu hò:

“Ơi những dòng sông bắt nước từ đâu

………………………………………………………

Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi”

à như muốn kéo dài thêm giai điệu ngân nga với nhìêu cung bậc của bản trường ca về Đất Nước.

 

* Thao tác 1 :

*GV Tích hợp kiến thức địa lí, văn học dân gian để hướng dẫn học sinh tìm hiểu danh lam thắng cảnh trải dài từ Bắc và Nam nhằm khẳng định sự hoá thân của Nhân dân vào dáng hình Đất nước

 

 

– Phần sau của đoạn thơ tập trung làm nổi bật tư tưởng ĐN của nhân dân. Tư tưởng ấy đã quy tụ mọi cách nhìn nhận và đưa đến những phát hiện và mới của tg về địa lí lịch sử và văn hoá của ĐN như thế nào?

+ Tg đã cảm nhận đất nước qua những địa danh , thắng cảnh nào?

+ Những địa danh gắn với cái gì , của ai?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– Vì sao có thể nói qua cách cảm nhận ấy, ĐN vừa thiêng liêng vừa gần gũi?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

+ Vì sao khi nói về bốn nghìn năm lịch sử của ĐN, tác giả không điểm tên các triều đại cùng bao nhân vật anh hùng trong sử sách ( như Nguyễn Trãi trong Bình Ngô Đại Cáo đã nhắc đến: Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần…)?  Đối tượng mà tác giả muốn nhắc đến là ai? Vì sao tác giả lại nhắc đến họ? (Họ là những con  người như thế nào?)

*GV Tích hợp kiến thức Làm Văn học ( thao tác lập luận so sánh) hướng dẫn học sinh tìm hiểu nét mới về tư tưởng Đất Nước nhân dân

 

 

*GV Tích hợp kiến thức Tiếng Việt( Cách dùng đại từ, phép điệp, động từ) hướng dẫn học sinh tìm hiểu nét mới về tư tưởng Đất Nước nhân dân

– Nêu hiệu quả nghệ thuật của phép điệp cấu trúc : Họ giữ … Họ truyền …Họ gánh …Họ đắp đập ?

-Tổ chức thảo luận nhóm

Nhóm 1: Chỉ ra các bài ca dao được sử dụng trong 2 câu thơ:Dạy anh biết…lặn lội.

 

 

 

 

Nhóm 2: Chỉ ra các bài ca dao được sử dụng trong 2 câu thơ:Biết trồng tre…dài lâu

 

 

 

Nhóm 3: Phân tích nội dung, nghệ thuật 4 câu thơ cuối

 

Tích hợp kiến thức địa lí,HS trả lời :

– Hòn Vọng Phu: ở Đồng Đăng, Lạng Sơn, Thanh Hoá…

– hòn Trống Mái là núi đá nhỏ trên biển Sầm Sơn thuộc tỉnh Thanh Hoá

-Chín mươi chín con voi : đứng từ trên núi Hi Cương- nơi có đền thờ các vua Hùng- trông ra có những quả đồi thấp hơn như chín mươi chín con voi quây quần hướng về núi Hi Cương.

– Núi Bút non Nghiên : Là núi có hình cây bút và nghiên mực ở Quảng Ngãi
– Những con rồng …dòng sông xanh thẳm : là truyền thuyết về sông Cửu Long với 9 cửa sông đổ ra biển trên 2 nhánh sông Tiền và sông Hậu
– Con cóc, con gà…: Là tên của một trong vô số hòn núi nổi lên trên mặt biển có hình con coc, con gà,… ở Vịnh Hạ Long

–  Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm : Là tên những người có công với dân, với nước đãn thành những sơn danh, địa danh ở Nam bộ :
+ Bà Đen : Tên ngọn núi Bà Đen ở Tây Ninh

+Bà Điểm : Tên một đia danh ở Hóc Môn – thành phố HCM- HS liên hệ, phát hiện các danh lam, thắng cảnh.

 

– Lối sống, cội nguồn, truyền thống.

– HS liên hệ với tác phẩm “ Bình Ngô đại cáo” để lí giải.

– HS trả lời.

+Nhìn vào bốn nghìn năm ĐN , tác giả không kể các triều đại mà nhấn mạnh đến những con người vô danh

+ Đây là điểm mới mẻ của NKĐ

 

– HS trả lời.

+một mặt tiếp tục thể hiện sự khám phá mới mẻ, độc đáo của nhà thơ về Đất Nước trong bề rộng không gian địa lí và tầng sâu của những truyền thống văn hoá, tạo nên sự thống nhất trong cách thể hiện Đất Nước

– mặt khác còn khẳng định nhân dân chính là lực lượng đông đảo vừa kiến tạo bảo tồn, lưu giữ truyền thống giàu tình nghĩa, giàu tình yêu thương, cần cù lao động- đó là những giá trị văn hoá tinh thần cao quý của Đất Nước.

Tích hợp kiến thức văn hoá dân gian, nhất là ca dao

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đại diện nhóm 1 trả lời:

–          Tác giả vận dung 2 bài ca dao :

+Yêu em từ thuở trong nôi

+Cầm vàng mà lội qua sông

 

Đại diện nhóm 2 trả lời:

–          Tác giả vận dung 2 bài ca dao : Thù này ắt hẳn còn lâu/ Trồng tre nên gậy gặp đâu đánh què.

 

Đại diện nhóm 3 trả lời:

–   Nhiều yếu tố ngoại lai đã được Việt hoá để góp phần xây đắp nên nền văn hoá Việt Nam (Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu / Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát) và văn hoá Việt Nam luôn có sự thống nhất trong sự đa dạng (Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thẩc / Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi)

Sưu tầm một số câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ có liên quan đến những câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm.

 

Họat động 3: Tổng kết (10 PHÚT)
III. Tổng kết:

1/ Nghệ thuật :

– Sử dụng chất liệu văn hóa dân gian: ngôn từ, hình ảnh bình dị, dân dã, giàu sức gợi.

– Giọng điệu thơ biến đổi linh hoạt.

– Sức truyền cảm lớn từ sự hòa quyện của chất chính luận và chất trữ tình.

2/ Ý nghĩa văn bản:

Một cách cảm nhận mới về đất nước, qua đó khơi dậy lòng  yêu nước, tự hào dân tộc, tự hào về nền văn hóa đậm đà bản sắc Việt Nam.

* Thao tác 1 :

Nhóm 4: Trình bày thành công nghệ thuật và ý nghĩa văn bản?

-Cách cảm nhận về đất nước có gì mới mẻ?

-Về ngôn ngữ, đoạn thơ chủ yếu khai thác chất liệu nào?

Em hãy nêu chủ đề của đoạn trích?

Hướng dẫn HS tổng kết bài học.

Đại diện nhóm 4 trả lời:
Họat động 4: HƯỚNG DẪN TỰ HỌC – DẶN DÒ ( 5 PHÚT)

– Hình ảnh đất nước  được thể hiện như thế nào trong chín câu thơ đầu đoạn trích?

– Tư tưởng “Đất nước của Nhân dân” được thể hiện tập trung trong những câu thơ nào? Trình bày cảm nhận của anh (chị) về những câu thơ đó.

 

Tiết 34,35

SÓNG

                                                                                                – Xuân Quỳnh –

 

 

Nội dung Mô tả hoạt động của thầy và trò Tư liệu, phương tiện, đồ dùng
Hoạt động của thầy Hoạt động của trò
Họat động: TÌM HIỂU CHUNG (10 phút).
I. Tìm hiểu chung:

1. Tác giả:

– Cuộc đời bất hạnh; luôn khao khát tình yêu, mái ấm gia đình và tình mẫu tử.

– Đặc điểm hồn thơ: tiếng nói của người phụ nữ giàu yêu thương, khao khát hạnh phúc đời thường, bình dị; nhiều âu lo, day dứt, trăn trở trong tình yêu.

2. Tác phẩm:

a. Hoàn cảnh sáng tác :

– Được viết tại biển Diêm Điền (Thái Bình) năm 1967.

b. Đề tài và chủ đề:

– Đề tài: Tình yêu.

– Chủ đề: Mượn hình tượng sóng để diễn tả tình yêu của người phụ nữ. Sóng là ẩn dụ cho tâm hồn người phụ nữ đang yêu.

 

* Thao tác 1 :

Hướng dẫn HS tìm hiểu chung về tác giả và tác phẩm

? Dựa vào Tiểu dẫn, hãy giới thiệu đôi nét về tác giả XQ ?

Trình chiếu các đoạn clip về XQ

? Nêu hoàn cảnh sáng tác của bài thơ?

 

? Hãy xác định đề tài của bài thơ?

? Bài thơ của Xuân Quỳnh có phải chỉ nói về sóng biển ?

 

 

HS Tái hiện kiến thức và trình bày.

+ HS đọc mục Tiểu dẫn, nêu cảm nhận về cuộc đời và phong cách thơ Xuân Quỳnh.

Xuân Quỳnh là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của thế hệ các nhà thơ trẻ thời chống Mĩ… thơ Xuân Quỳnh… về văn học nghệ thuật.

Bài thơ Sóng:

Kết quả chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền, Thái Bình (cuối 1967), đưa vào tập thơ Hoa dọc chiến hào – tập thơ riêng đầu tiên của Xuân Quỳnh (1968).

 
Họat động 2: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN- Khổ 1 và 2 ( 15 PHÚT)
II. Đọc – hiểu văn bản :

1/Sóng và em – những nét tương đồng:

a. Sóng là đối tượng để nhận thức tình yêu:

–  Khổ 1:

+ Tiểu đối: Dữ dội – dịu êm; ồn ào – lặng lẽ

à mở đầu bằng 4 tính từ: Miêu tả trạng thái đối lập của sóng và liên tưởng đến tâm lí phức tạp của người phụ nữ khi yêu (khi sôi nổi, mãnh liệt khi dịu dàng, sâu lắng).

+ Phép nhân hoá:

“Sông – không hiểu mình”

“Sóng – tìm ra bể”

à Con sóng mang khát vọng lớn lao: Nếu “sông không hiểu nổi mình” thì sóng dứt khoát từ bỏ nơi chật hẹp để “tìm ra tận bể”, tìm đến nơi cao rộng, bao dung.

 

=> Hành trình “tìm ra tận bể” của sóng cúng chính là quá trình tự khám phá, tự nhận thức, chính bản thân, khát khao sự đồng cảm, đồng điệu, chủ động trong tình yêu.

 

 

 

 

– Khổ 2:

+ Quy luật của sóng: Sóng: ngày xưa, ngày sau: vẫn thế

à sự trường tồn của sóng trước thời gian: vẫn dạt dào, sôi nổi.

+ Quy luật của tình cảm:

“Khát vọng tình yêu – bồi hồi trong ngực trẻ”

à Tình yêu là khát vọng lớn lao, vĩnh hằng của tuổi trẻ và nhân loại.

=> Xuân Quỳnh đã liên hệ tình yêu tuổi trẻ với con sóng đại dương. Cũng như sóng, con người đã đến và mãi mãi đến với tình yêu. Đó là quy luật muôn đời. =>Yêu là tự nhận thức, là vươn tới miền bao la,vô tận.

HẾT TIẾT I

* Thao tác 1 :

Hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản

+GV lưu ý khi đọc: nhịp thơ khá đều đặn và biến đổi: 3/ 2; 2/1/2, 2/3… giọng thơ suy tư, chiêm nghiêm và không kém phần băn khoăn, day dứt và nồng nhiệt, chân thành.

+ GV cùng 3- 4 HS đọc toàn bài; nhân xét kết quả đọc.

 

 

 

 

Thao tác 2: Tổ chức cho HS tìm hiểu khổ 1 và 2

+ HS đọc diễn cảm lại 2 khổ thơ đầu.

+ GV hỏi:

Những tính từ dữ dội và dịu êm, ồn ào và lặng lẽ nói lên điều gì? của cái gì? nghĩa đen và nghĩa bóng (ẩn dụ)?

 

 

 

Vì sao câu trên là sông? câu dưới là sóng?

Quan niêm về tình yêu gắn liền với sông và sóng có ý nghĩa gì?

 

 

Khổ thơ thứ hai, nêu nhận xét gì mới về sóng và về tình yêu tuổi trẻ?

 

 

 

 

 

* 1 HS đọc, cả lớp theo dõi.

* HS trả lời cá nhân

-Các đặc điểm trái ngược và thống nhất của sóng theo không gian, theo thời gian.

– Đó cũng là tính khí thất thường, rắc rối của những cô gái mới lớn khi sắp bắt đầu một mối tình. Đó là quy luật của sóng nước, sóng biển cũng là quy luật tâm lí của thiếu nữ.

-Cách mở đầu bài thơ bằng nhận xét mô tả trực tiếp những đặc tính của thiên nhiên – những phẩm chất và quy luật của con người khiến người đọc ngỡ ngàng, ngạc nhiên và thú vị.

+ Sông và sóng chứ không phải sóng và sóng vì đó là nguyên bản của tác giả.

-Hơn nữa, sóng sông khác sóng biển. Có ra đến biển, có gặp sóng trên biển lớn mới trải hết mọi cung bậc của sóng .

 

* HS trả lời cá nhân

– Nhận xét về sóng: đó là quy luật vận động của tình yêu, của muôn đời, vĩnh hằng.

– Cũng như khát vọng tình yêu mãi mãi rung động, xao xuyến, bồi hồi trái tim tuổi trẻ. Nhận xét được nói lên thẳng thắn, mạnh bạo và chân thành.

 

Họat động 3: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN – các khổ thơ còn lại( 30 PHÚT)
II. Đọc–hiểu:

   b. Sóng là đối tượng để suy tư về nguồn gốc và nỗi nhớ trong tình yêu đôi lứa:

– Khổ 3: Suy tư về tình yêu

 

 

 

 

 

 

à quay về lòng mình, nhu cầu tìm hiểu, phân tích, khám phá tình yêu

– Khổ 4: Đi tìm câu hỏi tu từ cho câu hỏi ở khổ 3:

=> Đây là cách cắt nghĩa tình yêu  rất chân thành và  đầy nữ tính.

 

 

 

 

 

– Khổ 5: Nỗi nhớ của sóng và em

+ Bao trùm cả không gian : dưới lòng sâu, sóng trên mặt nước 

+ Thao thức trong mọi thời gian: ngày đêm không ngủ được 

à Phép đối, phép điệp, nhân hóa, giọng thơ dào dạt, náo nức, mãnh liệt: diễn tả nỗi nhớ da diết, không thể nào nguôi, cứ cuồn cuộn, dào dạt như sóng biển triền miên.

+ Sóng nhớ bờ mãnh liệt, tha thiết, còn em nhớ anh đắm say hơn bội phần :

 Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức 

à Cách nói cường điệu nhưng hợp lí: nhằm tô đậm nỗi nhớ (choáng ngợp cõi lòng không chỉ trong ý thức mà thấm sâu vào trong tiềm thức).

=> Bày tỏ tình yêu một cách chân thành, tha thiết mà mạnh dạn, mãnh liệt.

– Khổ 6: Lòng chung thuỷ

+ Cách nói khẳng định :

++em : dẫu xuôi – phương bắc; dẫu ngược – phương nam,

++em : vẫn Hướng về anh một phương

→ Lời thề  thủy chung tuyệt đối trong tình yêu : dù đi đâu về đâu vẫn hướng về người mình đang thương nhớ đợi chờ.

+ Các điệp ngữ : dẫu xuôi về, dẫu ngược về  + điệp từ  phương, cách nói ngược xuôi Bắc, ngược Nam

à Diễn tả hành trình vất vả của sóng nhằm khẳng định niềm tin đợi chờ trong tình yêu.

– Khổ 7 : Bến bờ hạnh phúc .

+ Mượn hình ảnh của sóng :

« Ở ngoài kia đại dương » – « Con nào chẳng tới bờ »

à quy luật tất yếu.

+ Sóng tới bờ dù cách trở: Tình yêu là sức mạnh giúp em và anh vượt qua gian lao, thử thách để đạt đến bến bờ hạnh phúc.

=> XQ thể hiện cái tôi của một con người luôn có niềm tin mãnh liệt vào tình yêu.

* Thao tác 1 :

Hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản

Tổ chức cho HS thảo luận nhóm:

 

+ Nhóm 1, 2 thảo luận khổ 3, 4 ?

GV: Cái hay của đoạn thơ là sự đầu hàng của nhận thức, là sự bất lực của lí trí: em cũng…..ta yêu nhau.

GV: Thơ Xuân Diệu: “Làm sao cắt nghĩa được tình yêu”

Nhà toán học Pascan: “trái tim có những lí lẽ riêng mà lí trí không thể nào hiểu nổi”

? Nỗi nhớ trong tình yêu được diễn tả như thế nào?

 

 

 

 

 

+ Nhóm 3, 4 thảo luận khổ 5, 6, 7

GV: Nỗi nhớ trong tình yêu là cảm xúc tự nhiên của con người, đã được miêu tả rất nhiều trong thơ ca xưa cũng như nay:

Nhớ ai bổi hổi bồi hồi

Như đứng đống lửa, như ngồi đống than (Ca dao)

Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời (Chinh phụ ngâm)

Anh nhớ tiếng, anh nhơ hình, anh nhớ ảnh. Anh nhớ em, anh nhớ lắm. Em ơi!. (Xuân Diệu)

? Tìm các biện pháp tu từ được sử dụng để tác giả thể hiện nỗi nhớ?

 

 

* 1 HS đọc, cả lớp theo dõi.

* HS đại diện nhóm trả lời

* Nhóm 1, 2

Hai khổ 3, 4:

Nghĩ về sóng và cội nguồn tình yêu lứa đôi.

+Điệp từ: “em nghĩ” và câu hỏi: “Từ nơi nào sóng lên”

à quay về lòng mình, nhu cầu tìm hiểu, phân tích, khám phá tình yêu

– Khổ 4: Đi tìm câu hỏi tu từ cho câu hỏi ở khổ 3:

Câu hỏi tu từ:

Gió bắt đầu từ đâu?

Khi nào ta yêu nhau?

à XQ dựa vào quy luật tự nhiên để truy tìm khởi nguồn của tình yêu nhưng nguồn gốc của sóng cũng như tình yêu đều bất ngờ, đầy bí ẩn, không thể lí giải.

Nhóm 3, 4 :

-Vẫn bắt đầu cảm xúc và suy nghĩ từ hình tượng sóng để nói về em.

-Tình yêu bao giờ cũng được thử thách trong sự xa cách trong không gian và trong thời gian. Và nỗi nhớ thương, trăn trở, khao khát được gặp gỡ là phẩm chất đặc biêt thường trực của tình yêu.

-Cái hay của khổ thơ là lại liên hệ đến sóng, nhân hoá sóng: con sóng nào cũng thao thức vỗ mãi suốt đêm ngày vì nhớ bờ không nguôi, không ngủ.

-Còn nỗi nhớ của em còn hơn thế: cả trong mơ còn thức.

-Nỗi nhớ thường trực, không khi nào chịu yên. Cách nói nhấn mạnh đến cái phi lí trong tâm lí mà có lí trong tình em: nhớ cả trong mơ, càng trong mơ càng dậy lên nỗi nhớ.

-Nhớ và hướng về anh, thuỷ chung như nhất với anh. Phẩm chất tình cảm này của em được diễn tả bằng cách nói tưởng chừng phi lí: xuôi bắc, ngược nam và cái phương anh đã chứng minh tấm lòng son sắt của trái tim cô gái đang yêu thời hiên đại..

-Sóng nào chẳng cố hướng vào bờ để tìm sự ngơi nghỉ, dừng chân? cũng như tình em chỉ hướng về anh, chỉ nghĩ về anh, không biết mêt mỏi, không nghĩ về mình, đầy sự chia sẻ, hi sinh.

 

 

   3. Những suy tư, lo âu, trăn trở trước cuộc đời và khát vọng tình yêu:

– cuộc đời tuy dài >< năm tháng vẫn đi qua.

– Biển dẫu rộng >< mây vẫn bay về xa.

-> Đó là sự nhạy cảm và lo âu, trăn trở của XQ về sự hữu hạn của đời người và sự mong manh của hạnh phúc.

+ Làm sao …..       khao khát sẻ chia và hòa nhập

Thành trăm       vào cuộc đời.

+ Giữa biển …..     khát vọng được sống mãi

Để ngàn …..     trong TY, bất tử với TY

=> khát vọng khôn cùng về tình yêu bất diệt

     Nhóm 5,6: cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu khổ 8, 9?

? Em hiểu như thế nào về khổ thơ này?

Cuộc đời tuy dài thế

…………………………..

Mây vẫn bay về xa

? Lo âu, trăn trở tất yếu dẫn đến khát khao gì ở XQ?

 

* HS đọc diễn cảm 2 khổ thơ cuối cùng.

Nhóm 5,6:

– Từ những suy nghĩ về tình yêu, hi sinh, và chung thuỷ suốt đời, nhà thơ mở rộng hơn, nghĩ về mối quan hê giữa cái hữu hạn và cái vô hạn, giữa cuộc đời mỗi người, tình yêu mỗi lứa đôi và cuộc đời chung, và thiên nhiên vũ trụ và thời gian vô cùng.

– Câu hỏi day dứt thể hiên khao khát tình yêu cao cả và bất tử và tìm cách thực hiên chính là mong muốn được tan ra, được hoá thân và hoà nhâp thành trăm ngàn con sóng nhỏ giữa biển lớn tình yêu của nhân dân và nhân loại.

Họat động 4: Tổng kết:( 10 PHÚT)
III. Tổng kết:

   1. Nghệ thuật :

– Thể thơ 5 chữ truyền thống; cách ngắt nhịp, gieo vần độc đáo, giàu sức liên tưởng.

– Xây dựng hình tượng ẩn dụ, giọng thơ tha thiết.

2. Ý nghĩa văn bản:

Vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu hiện lên qua hình tượng sóng: tình yêu thiết tha, nồng nàn, đầy khát vọng và sắt son chung thủy, vượt lên mọi giới hạn của đời người.

* Thao tác 1 :

Hướng dẫn HS tổng kết bài học

? Hãy chỉ ra ý nghĩa của văn bản?

 

? Đánh giá về nghệ thuật của bài thơ ? Nhận xét  về thể thơ, nhịp thơ và hình tượng “sóng” ?

 

Hướng dẫn HS tổng kết bài học

 

* HS trả lời cá nhân

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

* Tổng kết bài học theo những câu hỏi của GV.

 

Họat động 4: HƯỚNG DẪN TỰ HỌC – DẶN DÒ ( 5 PHÚT)

– Tìm những bài thơ sử dụng hình ảnh Sóng và biển để diễn tả tình yêu.

– Bài thơ được kết cấu theo cách triển khai hai hình tượng sóng đôi là Sóng và em. Hãy nhận xét về ý nghĩa của kết cấu ấy.

– Chuẩn bị bài: ĐỌC THÊM BÁC ƠI
Nội dung Mô tả hoạt động của thầy và trò Tư liệu, phương tiện, đồ dùng
Hoạt động của thầy Hoạt động của trò
Họat động 1: ĐỌC THÊM BÁC ƠI (15 phút).
I. Tìm hiểu khái quát:

1. Hoàn cảnh ra đời:

Ngày 02/9/1969, Bác Hồ từ trần, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho cả dân tộc Việt Nam. Trong hoàn cảnh ấy, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ “Bác ơi”.

2. Bố cục: chia 3 phần:

– Bốn khổ đầu: Nỗi đau xót trước sự kiện Bác qua đời.

– Sáu khổ tiếp: Hình tượng Bác Hồ.

– Ba khổ cuối: Cảm nghĩ khi Bác qua đời.

* Thao tác 1 :

Hướng dẫn HS tìm hiểu chung về tác giả và tác phẩm

GV Hướng dẫn HS tìm hiểu hoàn cảnh sáng tác bài thơ “Bác ơi”.

– Em hãy cho biết hoàn cảnh ra đời của bài thơ?

– GV nhận xét, chốt ý

 

 

 

 

– HS đọc tiểu dẫn SGK/167 và trả lời

– HS căn cứ vào văn bản, chia bố cục, và nêu đại ý từng phần.

-Các HS khác theo dõi và nêu cách chia của mình.

 

 
II/ Đọc – hiểu văn bản:

1) Bốn khổ đầu: Nỗi đau xót lớn lao trước sự kiện Bác qua đời.

a. Lòng người:

– Xót xa, đau đớn: chạy về, lần theo lối sỏi quen thuộc, bơ vơ đứng nhìn lên thang gác.

– Bàng hoàng không tin vào sự thật: “Bác đã đi rồi sao Bác ơi

b. Cảnh vật:

– Hoang vắng, lạnh lẽo, ngơ ngác (phòng im lặng, chuông không reo, rèm không cuốn, đèn không sáng…)

– Thừa thãi, cô đơn, khi không còn bóng dáng của Người.

c. Không gian thiên nhiên và con người như có sự đồng điệu “ Đời tuôn nước mắt/ trời tuôn mưa”® Cùng khóc thương trước sự ra đi của Bác.

Þ Nỗi đau xót lớn lao bao trùm cả thiên nhiên đất trời và lòng người.

 

2) Sáu khổ tiếp: Hình tượng Bác Hồ.

a. Giàu tình yêu thương đối với mọi người.

b. Giàu đức hy sinh.

c. Lẽ sống giản dị, tự nhiên, khiêm tốn.

Þ Hình tượng Bác Hồ cao cả, vĩ đại mà giản dị, gần gũi.

3) Ba khổ cuối: Cảm nghĩ của mọi người khi Bác ra đi:

a. Bác ra đi để lại sự thương nhớ vô bờ

b. Lý tưởng, con đường cách mạng của Bác sẽ còn mãi soi đường cho con cháu.

c. Yêu Bác® quyết tâm vươn lên hoàn thành sự nghiệp CM.

Þ Lời tâm nguyện của cả dân tộc Việt Nam.

* Thao tác 2 :

Hướng dẫn HS đọc văn bản

– 1 HS đọc bài thơ, các HS khác đọc thầm, theo dõi

 

Thao tác 3: Tổ chức cho HS thảo luận nhóm:

Nhóm 4:

 

Nhóm 1:

HS tìm hiểu 4 khổ thơ đầu

+ Nỗi đau xót lớn lao khi Bác qua đời được thể hiện như thế nào? (Cảnh vật? Lòng người?) Giữa cảnh vật và con người có gì tương đồng?

+ Nhận xét, khái quát ý cho HS nắm

 

 

 

 

 

Nhóm 2:

HS tìm hiểu 6 khổ tiếp theo

+Hình tượng Bác Hồ được thể hiện như thế nào?

(GV gợi mở: về tình thương yêu, lý tưởng, lẽ sống…)

+ Nhận xét, khái quát ý

Nhóm 3:

HS tìm hiểu 3 khổ cuối

+ Hãy cho biết cảm nghĩ của mọi người khi Bác ra đi?

+ Nhận xét, khái quát ý

 

 

– Trên cơ sở những gợi ý và phân công về nhà, dưới sự hướng dẫn của GV, trình bày ý kiến theo nhóm

 

 

 

 

 

 

-Nhóm 1 cử người trình bày ý kiến

Tiếp thu nhận xét của GV, thấy được chỗ được và chưa được trong trả lời của nhóm

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

-HS nhóm 2 cử người trình bày ý kiến qua chuẩn bị đã được phân công

 

 

 

 

– Nhóm 3 trình bày, bổ sung

 

 

 

 

 

 

III/ Tổng kết:

1. Bài thơ là tình cảm ngợi ca Bác, đau xót, tiếc thương khi Bác qua đời. Đó cũng là tấm lòng kính yêu Bác Hồ của Tố Hữu, cũng là của cả dân tộc Việt Nam

2. Bài thơ tiêu biểu cho giọng thơ tâm tình, ngọt ngào, tha thiết của thơ Tố Hữu.

* Thao tác 4:

Hướng dẫn HS tổng kết về tác phẩm đã học.

Yêu cầu HS đọc lại bài thơ, tổng hợp kiến thức để đưa ra nhận xét chung

Thao tác 3:

Hướng dẫn HS tổng kết bài học

 

* HS trả lời cá nhân

 

 

 

 

 

 

 

* Tổng kết bài học theo những câu hỏi của GV.

Họat động 4: HƯỚNG DẪN TỰ HỌC – DẶN DÒ ( 3 PHÚT)

-Nêu những phẩm chất đáng quý của Hồ Chí Minh ?

– Học thuộc bài thơ, nắm vững nội dung bài học.

 

  • HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH
  1. Tại sao nói Đất Nước là máu xương của mình?

Trả lời:

Nói Đất Nước là máu xương của mình: đất nước là một phần cơ thể, tạo nên sự sống cho mỗi con người. đất nước là một phần cơ thể, tạo nên sự sống cho mỗi con người. Đồng thời, đất nước là máu xương của tổ tiên, của bao thế hệ ông cha, của dân tộc ngàn đời giành lại từ tay kẻ thù xâm lược.

2/Tại sao khi nói đến tình yêu, Xuân Quỳnh lại tra hỏi về “sóng-gió” ?

Trả lời:

Khi nói đến tình yêu, Xuân Quỳnh lại tra hỏi về “sóng-gió”vì nhà thơ muốn gửi bức thông điệp : bước vào tình yêu là bước vào sóng gió. Nếu thuyền tình không chắc, người cầm lái con thuyền không vững tay, thì con thuyền ấy sẽ đắm chìm. Bao nhiêu người trẻ đã trầm luân trong đau khổ, bất hạnh của tình yêu, là vì không vượt qua được sóng-gió…

+ Bài tập viết văn bản:Phân tích đoạn thơ sau trong bài Sóng của Xuân Quỳnh :

Trước muôn trùng sóng bể
Em nghĩ về anh, em
Em nghĩ về biển lớn
Từ nơi nào sóng lên?

– Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu?
Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau

 Lập dàn ý :

I/ Mở bài : Giới thiệu Xuân Quỳnh dẫn vào bài thơ “Sóng”. Nêu vấn đề : Bài thơ có giá trị sâu sắc về nội dung và nghệ thuật, tiêu biểu là đoạn thơ sau : ( chép đoạn thơ vào)

II/ Thân bài :

1/ Khái quát về bài thơ, đoạn thơ :

-Nêu hoàn cảnh sáng tác, kết , vị trí, nội dung, bố cục vị trí đoạn thơ ở đề bài.

2/ Phân tích nội dung, nghệ thuật đoạn thơ :

a/ Bốn câu thơ đầu : Sóng- đối tượng để suy tư ( trích thơ)

– Ba câu đầu nêu hoàn cảnh ( trước muôn trùng sóng bể) và tâm trạng ( nghĩ về anh – em; nghĩ về biển lớn )

– Câu thứ tư : Hỏi về nguồn gốc của sóng ( từ nơi nào sóng lên ?)

b/ Bốn câu thơ cuối : cô gái thắc mắc về nguồn gốc của tình yêu( trích thơ)

– Lí giải về nguồn gốc của sóng, không trả lời được, sóng là qui luật của tự nhiên đầy bí ẩn.

– Liên tưởng, lí giải về sự khởi đầu của tình yêu, không lí giải được, tình yêu cũng đầy bí ẩn như sóng.

– Thể hiện quan niệm : tình yêu là qui luật của tâm hồn, không thể ép buộc, bán mua, không thể chiếm đoạt…Là bài học nhân sinh thiết thực cho tuổi trẻ.

c/ Nghệ thuật : thể thơ 5 chữ, âm điệu sâu lắng, dạt dào ; biện pháp tu từ nhân hóa, ẩn dụ đối lập,…

III/ Kết bài : Kết luận về nội dung, nghệ thuật đoạn thơ, liên hệ hoàn cảnh sáng tác nêu ý nghĩa đoạn thơ.

+ Bài tập viết đoạn văn: Cảm xúc của tác giả Tố Hữu trong đoạn thơ sau:

 

Bác đã đi rồi sao, Bác ơi!
Mùa thu đang đẹp, nắng xanh trời
Miền Nam đang thắng, mơ ngày hội
Rước Bác vào thăm, thấy Bác cười!

 

Trái bưởi kia vàng ngọt với ai
Thơm cho ai nữa, hỡi hoa nhài!
Còn đâu bóng Bác đi hôm sớm
Quanh mặt hồ in mây trắng bay…

Trả lời:

Cảm xúc của tác giả trong đoạn thơ là xót xa, tiếc nuối khi Bác đã về với thế giới của người hiền. Đồng thời, tác giả còn thể hiện cảm hứng ngợi ca lãnh tụ. Bác ra đi, trong khi đó ở ngoài kia đang là trời đầu thu, đang là chiến thắng và hi vọng. Khung cảnh và lòng người trở nên tương phản, đối lập, gợi bao nỗi day dứt về tính chất phi lí, không thể chấp nhận được của sự mất mát. Cuộc đời càng đẹp đẽ, hấp dẫn thì sự ra đi của Bác càng gợi bao đau xót, nhức nhối tâm can.

 

  • HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG

1/Phân tích đọan thơ sau đây trong đọan trích “Đất nước” của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm

Đất là nơi anh đến trường
Nước là nơi em tắm
Đất Nước là nơi ta hò hẹn
Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm
Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”
Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi”
Thời gian đằng đẵng
Không gian mệnh mông
Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ
Đất là nơi Chim về
Nước là nơi Rồng ở
Lạc Long Quân và Âu Cơ
Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng
Dàn bài gợi ý :

I/ Mở bài : Giới thiệu Nguyễn Khoa Điềm dẫn vào trường ca “Mặt đường khát vọng” và đoạn trích “Đất Nước”. Nêu vấn đề : đoạn trích có giá trị sâu sắc về nội dung và nghệ thuật, tiêu biểu là đoạn thơ sau : ( chép đoạn thơ vào)

II/ Thân bài :

1/ Khái quát về chương “Đất Nước”, đoạn thơ :

-Nêu hoàn cảnh sáng tác, nội dung trường ca “Mặt đường khát vọng” …

-Nêu kết cấu trường ca “Mặt đường khát vọng”, vị trí, nội dung, bố cục đoạn trích “Đất Nước”, vị trí đoạn thơ ở đề bài.

-Nêu ý chính của đoạn thơ : Cảm nhận của tác giả về đất nước nhìn từ góc độ địa lý, không gian, thời gian và lịch sử dân tộc.

2/ Phân tích nội dung, nghệ thuật đoạn thơ :

a/ Bốn câu thơ đầu : tác giả giải thích về đất nước ( trích thơ)

-Sử dụng nghệ thuật chiết tự để giải thích : đất nước là con đường, nhà trường, dòng sông, bến nước…

– Sử dụng chất liệu thực tế, vận dụng ca dao tình yêu gợi liên tưởng hình ảnh luỹ tre làng, giếng nước, từ đó đất nước còn gắn bó với tình cảm riêng tư.

b/ Hai câu tiếp , tác giả tiếp tục giải thích về đất nước( trích thơ)

– Vận dụng sáng tạo câu hò Bình Trị Thiên để nói về đất nước.

– Khẳng định: Đất nước là núi, là rừng, là biển với tài nguyên phong phú.

c/ Ba câu thơ tiếp: Nhận định đất nước trường tồn với thời gian và không gian, là nơi dân mình làm ăn sinh sống.

d/ Bốn câu thơ cuối : Vận dụng truyền thuyết về cội nguồn dân tộc để giải thích về đất nước.

e/ Cả đoạn thơ : Đất nước là sự hoà quyện không thể tách rời giữa cá nhân và cộng đồng dân tộc. Tác giả vận dụng sáng tạo các chất liệu văn hoá, văn học dân gian, chiết tự…khiến cho việc giải thích Đất nước trở nên sâu sắc.

III/ Kết bài : Kết luận về nội dung, nghệ thuật đoạn thơ, liên hệ hoàn cảnh sáng tác nêu ý nghĩa đoạn thơ.

 

2.Bài tập viết văn bản:

Phân tích 4 khổ thơ đầu bài thơ Bác ơi ( Tố Hữu) để thấy được nghệ thuật diễn tả nỗi đau xót lớn lao trước sự kiện Bác Hồ qua đời.
GỢI Ý:

  1. Bác Hồ là một đề tài, nguồn cảm hứng lớn trong nhiều chặng đường sáng tác của Tố Hữu. “Bác ơi” là một tác phẩm xuất sắc viết về Bác Hồ trong tập thơ “Ra trận”.

Bài thơ được viết khi lãnh tụ của Đảng và dân tộc ta là Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa qua đời. Bài thơ là lời khóc Bác bằng thơ, bộc lộ nỗi đau xót, tiếc thương tràn đầy.

  1. Nỗi đau xót: mở đầu bài thơ Tố Hữu tái hiện lại khung cảnh những ngày Bác mất :

“Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa

Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa…”

Khung cảnh thực nhưng có ý nghĩa tượng trưng. Cả dân tộc đau xót khóc Bác, trời đất tạo vật cũng sụt sùi tiếc thương một con người – tinh hoa của dân tộc, tinh hoa của đất trời.

– Nỗi đau xót được diễn tả bằng hình ảnh biểu thị động tác có sức gợi tả tâm trạng: Chạy về thăm Bác, lần theo lối sỏi quen, đến bên thang gác, đứng nhìn lên…

– Nỗi đau xót được diễn tả bằn cách nói giảm: về thăm Bác, Bác đã đi rồi sao.
– Nỗi đau xót được diễn tả bằng hình ảnh thực tại trong cảm nhận của nhà thơ:

Ướt lạnh vườn rau mấy gốc dừa

Chuông ôi, chuông như còn reo nữa?

Phòng lặng, rèm buông, tắt ánh đèn!

– Nỗi đau xót thể hiện bằng liên tưởng:

Mùa thu đang đẹp , nắng xanh trời

Miền Nam đang thắng mơ ngày hội

Rước Bác vào thăm thấy Bác cười.

Trái bưởi kia vàng ngọt với ai…

3- Tâm trạng đau đớn tới thảng thốt, không tin ở cái tin sét đánh phũ phàng kia. Dường như không còn Bác, cũng không nên tồn tại những gì là thơm ngọt, đẹp đẽ. Bác ra đi đồng nghĩa với lạnh, lặng, tắt… tâm trạng đau đớn đến tột cùng. Bác ra đi, trong khi đó ở ngoài kia đang là trời đầu thu, đang là chiến thắng và hi vọng. Khung cảnh và lòng người trở nên tương phản, đối lập, gợi bao nỗi day dứt về tính chất phi lí, không thể chấp nhận được của sự mất mát. Cuộc đời càng đẹp đẽ, hấp dẫn thì sự ra đi của Bác càng gợi bao đau xót, nhức nhối tâm can.

 

  • HOẠT ĐỘNG BỔ SUNG

1/ Bài tập ứng dụng:

Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ

Sông không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể

 

Ôi con sóng ngày xưa

Và ngày sau vẫn thế

Nỗi khát vọng tình yêu

Bồi hồi trong ngực trẻ

(Ngữ Văn 12 Nâng cao, Tập một, tr.122 – 123, NXB Giáo Dục – 2008)

Đọc đoạn thơ trên và thực hiện các yêu cầu sau:

  1. Nêu ý chính của đoạn thơ.
  2. Nêu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ đối lập, nhân hoá, ẩn dụ trong đoạn thơ.
  3. Đoạn thơ thể hiện quan niệm gì về tình yêu của nhà thơ Xuân Quỳnh ?

 

Trả lời:

  1. Ý chính của đoạn thơ :

– Từ việc khám phá các trạng thái khác nhau của sóng, tác giả diễn tả các cung bậc của người phụ nữ đang yêu và thể hiện một quan niệm mới mới về tình yêu .

– Mượn quy luật muôn đời của sóng, tác giả khẳng định khát vọng của tình yêu thường trực trong trái tim tuổi trẻ.

  1. Hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ đối lập : dữ dội hoà quyện với dịu êm, ồn ào đan xen với lặng lẽ; ngày xưa-ngày nay , nhân hoá : Sông không hiểu nổi mình-Sóng tìm ra tận bể , ẩn dụ : sóng chính là em :

-Tình yêu tha thiết, chân thành không chịu chấp nhận sự tầm thường, nhỏ hẹp, đơn điệu, một chiều mà nó phải là sự hoà hợp, sự đan xen của nhiều yếu tố, thậm chí là những yếu tố đối cực nhau: vừa mâu thuẫn, vừa thống nhất, vừa xung đột, vừa hài hoà.

-Tình yêu của con người, luôn khao khát vươn tới sự lớn lao đích thực.

– Khẳng định một điều có tính quy luật về sự tồn tại bất diệt của khát vọng tình yêu trong trái tim người con gái

  1. Đoạn thơ thể hiện quan niệm về tình yêu của nhà thơ Xuân Quỳnh :

– Yêu là tự nhận thức, là vươn tới cái cao rộng, lớn lao…

– Tình yêu mãi là khát vọng muôn đời của con người, nhất là đối với tuổi trẻ.

 Xem thêm : Trọn bộ giáo án Ngữ văn soạn theo hướng đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá

Giáo án ngữ văn 10 

Giáo án ngữ văn 11

Giáo án ngữ văn 12

Nếu muốn tải File đầy đủ, theo đúng định dạng, thầy cô bấm vào đây :

Tải trọn bộ giáo án Ngữ văn 10-11-12 Chuẩn cấu trúc 2018

Xem thêm :

Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về  Đất nước Nguyễn Khoa Điềm

Đề thi và những bài văn hay về Sóng Xuân Quỳnh

Đề thi thử THPT QG môn Văn chuẩn cấu trúc, đề 90

 KÌ THI THỬ THPT QUỐC GIA MÔN NGỮ VĂN                            

Thời gian làm bài : 120 phút.

(Không kể thời gian phát đề)

                                                                              

MỤC TIÊU ĐỀ KIỂM TRA

  1. Kiến thức

Kiểm tra mức độ đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng được quy định trong chương trình ngữ văn lớp 12 theo hai nội dung : đọc hiểu, làm văn với mục đích đánh giá năng lực đọc hiểu và tạo lập văn bản của học sinh

  1. Kĩ năng
  • Rèn luyện, củng cố kĩ năng tìm hiểu đề, lập dàn ý, tổ chức bài văn, các thao tác phân tích, bình luận. Kĩ năng nắm bắt vấn đề rộng và sâu.
  1. Thái độ
  • Ý thức tự rèn luyện cách trình bày ngắn gọn, nâng cao năng lực tư duy tổng hợp
  • Giáo dục kĩ năng sống

+  Suy nghĩ vấn đề nghị luận, lựa chọn cách giải quyết đúng đắn, lập luận chặt chẽ, logic để triển khai một đoạn văn, một bài văn

+ Tự nhận thức, xác định được các giá trị chân chính trong cuộc sống mà mỗi người hướng tới

HÌNH THỨC KIỂM TRA

Tự luận

Thời gian: 120 phút

THIẾT LẬP MA TRẬN

Mức độ, chủ đề Nhận biết Thông hiểu Vận dụng thấp Vận dụng cao Tổng số
1. Đọc hiểu

 

-Phương thức biểu đạt của văn bản

– Biện pháp nghệ thuật được sử dụng

–  Tác dụng của biện pháp tu từ

– Nội dung, ý nghĩa của hình ảnh thơ

Số câu:

Số điểm:

Tỉ lệ:

 2

1.5

15%

2

1,5

15%

4

3

30%

II/ Làm văn: Câu 1: NLXH  – Xác định đúng yêu cầu đề bài  – Hiểu đúng vấn đề cần bàn luận.

– Biết lựa chọn và sắp xếp các luận điểm, luận chứng

– Vận dụng hiểu biết về xã hội và kĩ năng tạo lập văn bản để viết đoạn văn nghị luận xã hội về tư tưởng đạo lý

– Bày tỏ quan điểm cá nhân và rút ra bài học cho bản thân

Số câu:

Số điểm

Tỉ lệ

 

0,25

2,5%

 

0,25

2,5%

 

1,5

15%

1

2

20%

II/ Làm văn: Câu 2: NLVH  – Tác giả, tác phẩm

– Vấn đề cần nghị luận

– Biết lựa chọn và sắp xếp các luận điểm, luận chứng

-Sử dụng các thao tác lập  luận phù hợp

– Vận dụng hiểu biết về tác giả, tác phẩm, lí luận văn học để giải quyết vấn đề nghị luận

– Bày tỏ quan điểm cá nhân về vấn đề bàn luận

Số câu:

Số điểm

Tỉ lệ

 

0,5

5%

 

1,5

15%

 

3

30%

1

5

50%

Tổng số câu

Tổng số điểm

Tỉ lệ %

 

2,25

22,5%

 

3,25

32,5%

 

4,5

45%

 

10

100%

 

BIÊN SOẠN CÂU HỎI THEO MA TRẬN

PHẦN 1: ĐỌC HIỂU (3 điểm)

Đọc bài thơ sau và thực hiện các yêu cầu :

Tôi là viên đá mọn không tên

Tôi tự hào sung sướng tuổi thanh niên

Chiến đấu lớn dưới ngọn cờ của Đảng.

Tôi yêu bản hùng ca không tắt

Mà lời ca sang sảng những tên người

Bế Văn Đàn hiến trọn tuổi hai mươi

Thân trai trẻ vì nhân dân làm giá súng.

Phan Đình Giót như một hòn núi lớn

Ngực yêu đời đè bẹp lỗ châu mai

La Văn Cầu vì rất quý những bàn tay

Đã chặt đứt cánh tay mình xông tới.

Lý Tự Trọng đầu không hề chịu cúi

Lúc ra pháp trường còn đọc truyện Nguyễn Du

Chị Sáu ơi! Bông hoa chị cài đầu

Còn thắm mãi giữa ngàn cây Côn Đảo.

                                          ( Vinh quang thay thế hệ Hồ Chí Minh, Vương Trùng Dương)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt  chính của văn bản trên.

Câu 2: Đoạn thơ sử dụng biện pháp tu từ nào là chính? Tác dụng.

Câu 3: Hình ảnh Lý Tự Trọng “ra pháp trường còn đọc truyện Nguyễn Du” và chị Võ Thị Sáu với “bông hoa chị cài đầu” gợi lên ý nghĩa gì?

Câu 4: Tại sao tác giả lại xem mình là “viên đá mọn không tên”?

PHẦN II. LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1: (2,0 điểm)

Từ những tấm gương Bế Văn Đàn, Phan Đình Giót, Võ Thị Sáu…Anh/ chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) nói lên lòng biết ơn của mình với các thế hệ cha anh và trách nhiệm của thanh niên hiện nay

Câu 2 (5,0 điểm)

          Có ý kiến cho rằng:  Kết cấu bài thơ “ Sóng” ( Xuân Quỳnh) dựa trên sự tương đồng giữa tâm trạng của người phụ nữ đang yêu với những con sóng.

Anh/ chị hãy chỉ ra sự tương đồng đó và hiệu quả thẩm mĩ từ nghệ thuật kết cấu của bài thơ.

  (Học sinh không được sử dụng tài liệu. Giám thị không giải thích gì thêm)

…Hết…

HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA MÔN NGỮ VĂN              

 

Phần Câu Nội dung Điểm
I.                    1              Biểu cảm 0,5
  2 – Biện pháp tu từ chính: liệt kê (tên tuổi và hành động dũng cảm của những anh hùng trẻ tuổi trong 2 cuộc kháng chiến của dân tộc.)

– Tác dụng:

+ Nhấn mạnh vẻ đẹp kiên cường, bất khuất của những cá nhân anh hùng đã làm nên thời đại anh hùng, qua đó bộc lộ niềm tự hào, ngợi ca, biết ơn của tác giả.

+ Tạo âm hưởng mạnh mẽ, hào hùng cho đoạn thơ.

 

0,75
  3   Hình ảnh Lý Tự Trọng “ra pháp trường còn đọc truyện Nguyễn Du” và chị Võ Thị Sáu với “bông hoa chị cài đầu” gợi lên ý nghĩa:

– Làm nổi bật tư thế hiên ngang, bất khuất đến bất diệt trước sự tàn ác của kẻ thù của những con người sẵn sàng hi sinh cho độc lập, tự do của Tổ quốc.

– Khắc họa sâu đậm lòng yêu nước, tinh thần lạc quan, thư thái cùng vẻ đẹp tâm hồn đầy chất nhân văn ngay cả khi đối diện với cái chết.

 

0,75
  4 Tác giả  xem mình là “viên đá mọn không tên”vì:

– Tác giả cảm nhận sâu sắc vai trò và những đóng góp to lớn của các thế hệ cha anh đi trước đối với công cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc.

Nhắc đến những tấm gương anh dũng tác giả cảm thấy mình nhỏ bé, thậm chí vô danh, vô nghĩa khi chưa có những đóng góp, cống hiến xứng đáng cho dân tộc.

– Việc xem mình là “viên đá mọn không tên” thể hiện thái độ khiêm tốn, chân thành và bộc lộ khao khát được thể hiện phần trách nhiệm của cá nhân với đất nước

1,0

 

II. 1 Yêu cầu về hình thức:

– Viết đúng 01 đoạn văn, khoảng 200 từ.

– Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu,…

Yêu cầu về nội dung:

1. Khẳng định vấn đề

– Bế Văn Đàn, Phan Đình Giót, Võ Thị Sáu…là những tấm gương tiêu biểu trong thời chiến đã anh dũng hy sinh để bảo vệ nền độc lập dân tộc.

– Họ đã cùng hàng triệu người con ưu tú của đất nước viết tiếp những trang sử vẻ vang trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta.

2. Bàn luận

a. Thể hiện lòng biết ơn

– Nhận thức sâu sắc và đúng đắn vai trò của những thế hệ cha anh đi trước đã không tiếc máu xương, sẵn sàng hi sinh cho độc lập, tự do của Tổ quốc. Từ đó hình thành thái độ cảm phục, ngợi ca, biết ơn một cách chân thành.

– Thể hiện lòng biết ơn qua những việc làm, hành động cụ thể: luôn tự hào về lịch sử dân tộc, làm giàu vốn hiểu biết của mình bằng cách tìm hiểu những tấm gương yêu nước, những vị anh hùng,…

 b. Trách nhiệm

– Xây dựng lối sống đúng đắn, tích cực, có mục tiêu, lí tưởng rõ ràng.

– Ra sức học tập, tiếp thu tri thức góp phần thúc đẩy đất nước phát triển, hội nhập.

– Lên án những hành vi, việc làm sai trái làm ảnh hưởng đến danh dự quốc gia, những hành vi chống phá nền độc lập dân tộc, xâm phạm lãnh thổ…

3. Bài học và liên hệ bản thân

– Noi gương thế hệ cha anh đi trước, sống có trách nhiệm với bản thân, xã hội.

– Liên hệ: (thí sinh bày tỏ một cách chân thành, tích cực)

 

 

 

 

 

0,25

 

 

 

 

 

 

1,5

0,75

 

 

 

 

 

 

0,75

 

 

 

 

 

 

0,25

  2 * Yêu cầu về kĩ năng: đảm bảo một bài văn nghị luận có bố cục  rõ ràng, hợp lí; tổ chức sắp xếp hệ thống các ý  một cách lôgic, chặt chẽ; diễn đạt trôi chảy, mạch lạc; chữ viết rõ ràng, cẩn thận, không sai chính tả.

* Yêu cầu về kiến thức: đảm bảo hệ thống các ý sau:

 
Khái quát về tác giả, tác phẩm, nêu vấn đề nghị luận 0,5
– Kết cấu bài thơ là sự tương đồng giữa hình tượng những con sóng và tâm trạng phụ nữ khi đang yêu: sóng là hình tượng ẩn dụ của tâm trạng người  phụ nữ  đang yêu. Sóng là một sự hòa nhập và phân tách của nhân vật trữ tình em. Nhà thơ đã sáng tạo hình tượng sóng khá độc đáo nhằm  thể hiện những cung bậc tình cảm và tâm trạng của người phụ nữ khi đang yêu. 1.0
Biểu hiện của sự tương đồng  giữa tâm trạng người phụ nữ khi đang yêu  với những con sóng:

– Sóng là biểu tượng cho sự bí ẩn trong tình yêu, biểu tượng cho niềm khát khao một tình yêu lớn, một tình yêu mãnh liệt:

+ Khổ 1: Hai trạng thái của sóng cũng là hai trạng thái tâm hồn của người phụ nữ đang yêu, tưởng như đối lập nhưng lại rất thống nhất ( dữ dội – dịu êm, ồn ào – lặng lẽ) => đó là sự bí ẩn của tình yêu.

+ Khổ 2: Phát hiện ra sự tương đồng giữa sóng và khát vọng tình yêu.

+ Khổ 3,4: Cắt nghĩa nguồn gốc của sóng và nơi bắt đầu của tình yêu.

– Sóng là biểu tượng cho nỗi nhớ trong tình yêu của người phụ nữ (Khổ 5)

– Sóng là biểu tượng cho sự thủy chung trong tình yêu của người phụ nữ, sức mạnh vượt qua thử thách của tình yêu. (Khổ 6,7)

– Sóng là biểu tượng cho những trăn trở, lo âu trong cõi lòng  người phụ nữ đang yêu.(Khổ 8)

– Sóng là biểu tượng cho khát vọng mãnh liệt muốn bất tử hóa tình yêu ( Khổ 9)

2,0
Hiệu quả thẩm mĩ:

– Sóng là hình tượng không mới nhưng trở nên rất đẹp, một vẻ đẹp rất riêng  trong cảm nhận của nhà thơ Xuân Quỳnh. Qua hình tượng sóng những cung bậc tình cảm của người phụ nữ đang yêu được diễn tả vừa cụ thể, sống động, vừa kín đáo, tế nhị, nữ tính.

– Sự trở đi trở lại của hình tượng sóng đưa đến cho bài thơ âm hưởng dạt dào, khi nhịp nhàng, khi sôi nổi trào dâng, khi lắng sâu, khi miên man trăn trở. Đó là âm điệu của sóng biển và sóng lòng.

1,0
Đánh giá, khẳng đinh lại vấn đề 0,5

Xem thêm : Bộ đề thi thử THPT Quốc gia môn văn có đáp án

Đề thi và những bài văn hay về Sóng Xuân Quỳnh

Giáo án bài Sóng Xuân Quỳnh soạn theo phương pháp mới

Soạn bài Sóng SGK Ngữ văn 12.

KẾ HOẠCH BÀI HỌC

Tiết  41 – Đọc văn                 SÓNG  –  XUÂN QUỲNH

 

KẾT QUẢ CẦN ĐẠT

Về kiến thức:

          – KT kq về tác giả, tp.

Những xúc cảm của tâm hồn phụ nữ luôn khao khát, chân thành nồng nàn và dám bầy tỏ khát vọng của mình trong tình yêu.

– Thấy được đặc sắc nghệ thuật trong cấu tứ, hình ảnh, nhịp điệu, ngôn từ. Giọng thơ tha thiết nồng nàn, nhiều suy tư sôi nổi.

Về kỹ năng:

          – Rèn kĩ năng đọc diễn cảm, đọc hiểu một bài thơ về tình yêu.

– GDKNS: kĩ năng giao tiếp, tư duy sáng tạo, tự nhận thức.

 Về thái độ:

           Bồi dưỡng tình cảm mến yêu với nhà thơ và ý thức về tình yêu trong sáng

Các năng lực cần có cho HS: (Chú ý 6 năng lực môn Văn)

– Năng lực phân tích, cảm nhận tp.

– Năng lực giải quyết những tình huống đặt ra trong tp.

– Năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận về các kiến thức trọng tâm của tp.

CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH:

Chuẩn bị của GV:

 – Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ văn lớp 12.

 – SGK, SGV Ngữ văn 12.

– TK Ngữ văn12.

– Tài liệu có liên quan.

– Giáo án.

Chuẩn bị của HS:

SGK Ngữ văn 12, vở ghi đọc văn, vở soạn văn.

– KT đã biết về thơ TH và bài thơ VB.

TIẾN TRÌNH DẠY HỌC:

*Ổn định tổ chức lớp

*Kiểm tra bài cũ:  KT Kết hợp trong hoạt động khởi động bằng………

HOẠT ĐỘNG 1: Khởi động (5-7’)

Sưu tầm, ghi lại những câu ca dao, câu thơ hiện đại viết về tình yêu.

Những câu ca dao, câu thơ hiện đại viết về  tình yêu.

– Tiến trình thực hiện:

+ GV chia lớp thành 5 đội chơi, thông qua cách thức trò chơi.

+ HS thực hiện bằng cách trình bày những câu ca dao, câu thơ hiện đại đã sưu tầm được.

+ GV đánh giá bằng điểm số cho đội chơi tốt.

+ GV nhận xét, đánh giá hoạt động khởi động.

-> Từ đó GV dẫn vào bài mới : TY là đề tài muôn thuở của thi ca. Xuân Quỳnh cũng có một thi phẩm góp vào đề tài ấy, đó là BT Sóng mà ta học hôm nay.    

        

HOẠT ĐỘNG 2: HÌNH THÀNH KIẾN THỨC

 

Hoạt động của thầy và trò Nội dung kiến thức
1. Hướng dẫn HS tìm hiểu chung về văn bản “Sóng”

– Mục tiêu: HS nắm được kiến thức khái quát về tác giả, tác phẩm

– Nhiệm vụ: Tìm hiểu SGK, trả lời câu hỏi.

– Phương thức thực hiện: Hoạt động cá nhân, cặp đôi.

– Sản phẩm: Kiến thức khái quát về tác giả, tác phẩm.

– Tiến trình thực hiện:

+ Chuyển giao nhiệm vụ : GV yêu cầu HS đọc SGK tr.154,155,156, trả lời các câu hỏi sau bằng cách ghi vào giấy A4.

?Trình bày những nét chính về nhà thơ Xuân Quỳnh?

?Cho biết hoàn cảnh sáng tác và xuất xứ của bài thơ?

? Bố cục của bài thơ?

? Em có nhận xét gì về âm điệu của bài thơ?

? Bài thơ xây dựng được những hình tượng thơ nào? Hình tượng đó có gì đặc sắc?

+ Thực hiện nhiệm vụ học tập

HS làm việc cá nhân, cặp đôi (5ph)

+ Báo cáo kết quả: HS trình bày KT

+ Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ và chốt kiến thức: GV trực tiếp phân tích, nhận xét, đánh giá

 

 

 

 

 

 

 

 

GV hướng dẫn HS đọc diễn cảm

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

2. Hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản “Sóng” theo bố cục:

Phân tích khổ 1,2

– Mục tiêu: HS nắm được trạng thái, khát vọng của Sóng, qua đó thấy được tâm trạng, khát vọng của người phụ nữ trong tình yêu; nghệ thuật của hai khổ thơ.

– Nhiệm vụ: HS đọc và liệt kê những từ ngữ chỉ trạng thái, kv của Sóng; chỉ ra biện pháp nghệ thuật

– Phương thức thực hiện: Hoạt động cá nhân, cặp đôi.

– Sản phẩm: Kiến thức được ghi trên giấy A4, A0.

– Tiến trình thực hiện:

 

 Bước 1: Khổ thơ 1

+ Chuyển giao nhiệm vụ :

GV yêu cầu HS đọc khổ 1, trả lời câu hỏi

? Em hãy chỉ ra những từ ngữ chỉ trạng thái của Sóng, các biện pháp nghệ thuật có trong khổ thơ 1?

?Hai câu thơ đầu diễn tả những trạng thái nào của tình yêu?

 

?Hai câu sau thể hiện khát vọng gì?

+ Thực hiện nhiệm vụ học tập:

HS hoạt động cặp đôi (2ph), ghi ra giấy A4 từ ngữ chỉ không gian; cảm nhận về không gian.

+ Báo cáo kết quả: Đại diện các cặp đôi trình bày KT

+ Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ và chốt kiến thức: HS tự đánh giá, các cặp đôi đánh giá lẫn nhau.

GV bổ sung, kết luận, chốt kiến thức.

 

GV bình:

– Khổ thơ đầu thể hiện nét mới mẻ trong quan niệm về tình yêu: người con gái khao khát yêu đương nhưng không còn nhẫn nhục, cam chịu nữa.

– Trong bt “Thuyền và biển”, XQ  cũng đã phát hiện quy luật của sự sống trong tình yêu là sự vận động của nó: Bởi tình yêy muôn thuở, có bao giờ đứng yên.

 Bước 2: Khổ thơ 2

– Tiến trình thực hiện:

+ Chuyển giao nhiệm vụ:

GV chia lớp thành 4 nhóm thảo luận, phát phiếu học tập có ghi câu hỏi hướng dẫn phân tích

? Tìm những từ ngữ chỉ thời gian trong khổ 2? Cho biết ý nghĩa?

? Qua đó em suy nghĩ gì về khát vọng tình yêu của nhân vật trữ tình?

?Nhận xét giọng điệu của khổ thơ?

. Thời gian thực hiện: 5ph

+ Thực hiện nhiệm vụ học tập: HS thực hiện nhiệm vụ bằng cách đọc , ghi lại từ ngữ quan trọng, trao đổi, thảo luận, ghi chép câu trả lời.

+ Báo cáo kết quả: HS đại diện 1 nhóm trả lời. Nhóm HS khác lắng nghe, đối chiếu, bổ sung

+ Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ và chốt kiến thức: Nhóm HS tự đánh giá, các nhóm đánh giá lẫn nhau.

GV bổ sung, kết luận, chốt kiến thức.

1. Tìm hiểu chung về văn bản

a. Tác giả

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

* Tiểu sử: (1942- 1988)

Cuộc đời bất hạnh, luôn khát khao tình yêu, mái ấm gia đình và tình mẫu tử.

* Sự nghiệp văn học :

– Các tác phẩm chính: SGK

– Đặc điểm hồn thơ: Một hồn thơ luôn trăn trở khát khao hạnh phúc đời thường.

b. Văn bản:

* Hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ : viết năm 1967 tại biển Diêm Điền (Thái Bình),in trong tập Hoa dọc chiến hào.

* Bố cục: 4 phần

+ Khổ 1,2 : Sự cảm nhận về tình yêu

+ Khổ 3,4 : Sự lí giải về tình yêu

+ Khổ 5,6,7:  Những cung bậc của tình yêu

say đắm.

+ Khổ 8,9:  Những trăn trở, suy tư về tình

Yêu, cuộc đời.

* Thể thơ, âm điệu:

– Thể thơ: 5 chữ cùng với sự linh hoạt khi ngắt nhịp, phối âm, hiệp vần.

– Âm điệu dạt dào,khi nhịp nhàng, khi sôi nổi, khi lắng sâu, khi miên man trăn trở.

* Nhân vật trữ tình:

Bài thơ có hai hình tượng là sóng và em. Sóng là hình tượng trung tâm, bởi vì sóng là mạch nguồn kết nối các hình ảnh thơ, ý thơ. Sóng soi chiếu vào nhân vật em, để làm sáng lên tâm hồn em với những sắc thái tâm trạng phong phú, đa dạng, có khi sóng hòa quyện vào tâm hồn em để giãi bày, bộc bạch. Thực chất hai hình tượng tuy hai mà một, đều thể hiện một cái tôi Xuân Quỳnh tha thiết yêu thương. Nhân vật trữ tình trong bài thơ chính là tác giả.

2. Đọc hiểu văn bản :

a)    Khổ thơ 1,2

 

 

 

 

 

 

* Khổ thơ 1 :

– Hai câu thơ đầu:

+ 2 cặp tính từ đối lập: sóng được miêu tả ở những trạng thái đối nghịch nhưng thống nhất.

+ Gợi những cung bậc phong phú, những trạng thái đối cực phức tạp, đầy bí ẩn, nghịch lí của người con gái khi yêu.

 

 

– Hai câu thơ sau:

+ Khát vọng của sóng: muốn vượt khỏi dòng sông chật hẹp để đến với biển cả bao la.

+ Tâm hồn người phụ nữ khi yêu: luôn  khát vọng vươn xa, khỏi những gì nhỏ hẹp, chật chội, tầm thường.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

* Khổ thơ 2:

– Ngày xưa, ngày sau : quá khứ, hiện tại, tương lai (quy luật của sóng)

-> Sóng vẫn trường tồn từ ngàn đời xưa.

-> Khẳng định: tình yêu là khát vọng muôn đời, vĩnh hằng, muôn thủa trong trái tim của nhân loại, mãnh liệt nhất là trong trái tim tuổi trẻ.

– Giọng thơ chân thực, tự nhiên đầy suy tưởng, XQ đã biểu đạt một quan niệm mới mẻ và khát vọng mãnh liệt trong tình yêu.

HOẠT ĐỘNG 3: LUYỆN TẬP

– Mục tiêu: Rèn kỹ năng đọc diễn cảm.

– Nhiệm vụ: HS đọc diễn cảm

– Phương thức thực hiện: Hoạt động cá nhân.

– Sản phẩm:

 – Tiến trình thực hiện:

+ Chuyển giao nhiệm vụ : GV yêu cầu 01 HS đọc diễn cảm bài thơ.

+ Thực hiện nhiệm vụ học tập: Học sinh đọc.

+ Báo cáo kết quả

+ Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ: GV nhận xét, đánh giá bằng điểm số

 

HOẠT ĐỘNG 4: VẬN DỤNG

– Mục tiêu:  Liên hệ, ứng dụng vào cuộc sống

– Nhiệm vụ: GV và HS cùng nhau chia sẻ.

– Phương thức thực hiện: Hoạt động cá nhân

– Sản phẩm:

– Tiến trình thực hiện:

+ Chuyển giao nhiệm vụ :

? Em hãy chia sẻ khát vọng của em về tình yêu?

+ Thực hiện nhiệm vụ học tập: HS liên hệ thực tế

+ Báo cáo kết quả: HS chia sẻ ý kiến, quan điểm của bản thân.

+ Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ: GV nhận xét đồng thời giáo dục kỹ năng

Sống cho học sinh.

HOẠT ĐỘNG 5: MỞ RỘNG, SÁNG TẠO

– Mục tiêu: HS vận dụng sáng tạo.

– Nhiệm vụ: GV giao bài tập cho học sinh về nhà

– Phương thức thực hiện: HS làm việc cá nhân

– Sản phẩm: Bài viết trên giấy a4

– Tiến trình thực hiện:

+ Chuyển giao nhiệm vụ :

? Sưu tầm bài thơ Biển của Xuân Diệu từ đó chỉ ra điểm giống và khác nhau ở việc sử dụng hình tượng sóng trong hai bài thơ đó?

    + Thực hiện nhiệm vụ học tập: HS sưu tầm, đánh giá.

+ Báo cáo kết quả:  HS chia sẻ ý kiến, quan điểm của bản thân trên giấy a4 (Dự kiến điểm giống nhau: cả 2 bài thơ đều sử dụng hình tượng sóng để nói về tình yêu; điểm khác nhau: Xuân Diệu dùng hình tượng sóng để biểu tượng cho khí chất tình yêu của nam giới – trong khi đó, Xuân Quỳnh dùng hình tượng sóng để biểu tượng cho tình yêu của người phụ nữ). Từ đó thấy sự sáng tạo của XQ trong xây dựng hình tượng sóng.

+ Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ: GV nhận xét tuyên dương một vài bài tiêu biểu (Tiết học sau).

KẾ HOẠCH BÀI HỌC

Tiết  42 – Đọc văn                 SÓNG  – XUÂN QUỲNH  (Tiếp theo)

 b) Khổ thơ 3,4:

c) Khổ thơ 5,6,7:

d) Khổ thơ 8,9:

Giáo án sưu tầm

Xem thêm : Trọn bộ giáo án và chuyên đề dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh

Giáo án ngữ văn 10 

Giáo án ngữ văn 11

Giáo án ngữ văn 12

Đề thi và những bài văn hay về Sóng Xuân Quỳnh

Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về các tác phẩm lớp 12 ( phần 2 )

Tổng hợp những Kết bài Nghị luận văn học Ngữ văn 12 hay nhất :  Tây Tiến, Đất nước, Vợ nhặt, Vợ chồng A Phủ, Rừng xà nu, Chiếc thuyền ngoài xa, Việt Bắc, Sóng, Người lái đò sông Đà, Ai đã đặt tên cho dòng sông

Tài liệu bài luyện tập rèn kĩ năng viết mở bài, kết bài trong văn nghị luận

1, Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Tây Tiến– Quang Dũng

  1. Từ sự kết hợp một cách hài hoà giữa cái nhìn hiện thực với cảm hứng lãng mạn, Quang Dũng đã dựng lên bức chân dung, một bức tượng đài người lính cách mạng vừa chân thực vừa có sức khái quát, tiêu biểu cho vẻ đẹp sức mạnh dân tộc ta trong thời đại mới, thời đại cả dân tộc đứng lên làm cuộc kháng chiến vệ quốc thần kỳ chống thực dân Pháp. Đó là bức tượng đài được kết tinh từ âm hưởng bi tráng của cuộc kháng chiến ấy. Đó là bức tượng đài được khắc tạc bằng cả tình yêu của Quang Dũng đối với những người đồng đội, đối với đất nước của mình. Vì thế từ Tây Tiến, từ bức tượng đài đã vút lên khúc hát ngợi ca của nhà thơ cũng như của cả đất nước về những người con anh hùng ấy.
  2. Quang Dũng vào “làng” thơ cách mạng với bài Tây Tiến . Như có mối duyên gì ràng buộc, bài thơ ấy gắn bó với người làm ra nó đến mức cứ nói đến Quang Dũng là người ta nhớ đến bài thơ Tây Tiến và ngược lại.Có lẽ bởi từ sự kết hợp một cách hài hoà giữa cái nhìn hiện thực với cảm hứng lãng mạn, Quang Dũng đã dựng lên bức chân dung, một bức tượng đài người lính cách mạng vừa chân thực vừa có sức khái quát, tiêu biểu cho vẻ đẹp sức mạnh dân tộc ta trong thời đại mới, thời đại cả dân tộc đứng lên làm cuộc kháng chiến vệ quốc thần kỳ chống thực dân Pháp.
  3. Đọc xong những ý thơ mà tôi có cảm giác vẻ đẹp của thiên nhiên, con người miền Tây còn chập chờn, mien man đâu đó. Bằng tình cảm sâu đậm của mình với mảnh đất này, Quang Dũng đã tạo nên mối tơ tình đồng điệu, gắn bó giữa độc giả với nhà thơ, giữa độc giả với thiên nhiên, con người miền Tây trong những năm tháng kháng chiến gian nan. Quả là “ Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy / Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”.

2. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Đất Nước- Nguyễn Khoa Điềm:

Những vần thơ rất đẹp trong Đất Nướcđã vượt qua thử thách của thời gian, tiếp tục toả sáng, giúp thế hệ học sinh hôm nay hiểu hơn về thế hệ cha ông trong những ngày tháng hào hùng nhất của dân tộc. Trong thời đại mới, những giá trị của ngày hôm qua góp phần khơidậy lòng tự hào và ý thức trách nhiệm, tình cảm cho mỗi con người trong khát vọng đưa Đất Nước đi xa đến những tháng ngày mơ mộng

3. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Việt Bắc Tố Hữu

  1. Như vậy nhà thơ Tố Hữu đã thể hiện những tâm sự của mình nói riêng và của tất cả những chiến sĩ và nhân dân Việt Bắc nói chung. Mười lăm năm kháng chiến với biết bao nhiêu kỉ niệm và giờ đây khi phải xa nhau thấy lòng mình thật muốn vỡ òa trong nức nở. Chân không muốn rời xa. Qua đây ta thấy được tình nghĩa đoàn kết keo sơn của con người Việt Nam mà cụthể đó là tình quân dân. Để đạt được những thắng lợi trên mặt trận ấy thì không thể nào quên ơn những người nhân dân Việt Bắc được
  2. Trong câu chuyện với một nhà nghiên cứu văn học người Pháp, Tố Hữu tâm sự rằng: “Mình phải lòng đất nước và nhân dân của mình. Nói về đất nước, nói về nhân dân như nói về người mình yêu”. Phải chăng, tâm sự đó là những lời mà Tố Hữu nói về Việt Bắc, nói về những vần thơ chan chứa tình quân dân gắn bó, tình yêu nước thiết tha. Những tình cảm thiêng liêng ấy cứ vấn vương mãi trong lòng người đọc.

4. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Sóng- Xuân Quỳnh

  1. Sóng – bài thơ thành công trong phương thức biểu hiện cảm xúc của thi sĩ. Kết cấu song trùng, sự tương xứng giữa hai hình tượng Sóng và Em là sáng tạo nghệ thuật đặc sắc, giàu tính thẩm mĩ của Xuân Quỳnh. Với sự sáng tạo ấy, Xuân Quỳnh đã nói lên một cách nồng thắm mà không kém phần tế nhị những khát khao rạo rực của trái tim yêu. Đó cũng là những khát khao đời thường, dung dị, cao quý. Tiếng nói ấy chân thành, tự nhiên mà sâu sắc được diễn tả qua hình tượng thơ gợi cảm, đa nghĩa. Xuân Quỳnh thực sự là thi sĩ của tình yêu, thi sĩ của những rung động nữ tính trong trái tim.
  2. Bài thơ Sóng là bài thơ giàu giá trị nội dung và nghệ thuật. Thành công của bài thơ là nhờ vào thủ pháp nghệ thuật nhân hóa, ẩn dụ, so sánh, đối lập… nhất là thể thơ ngũ ngôn giàu nhịp điệu. Nhịp điệu của sóng, nhịp điệu của tâm hồn. Tất cả đã làm hiện lên vẻ đẹp rất Xuân Quỳnh giàu trắc ẩn suy tư và khát vọng trong tình yêu. Đọc xong bài thơ “Sóng” ta càng ngưỡng mộ hơn những người phụ nữ Việt Nam, những con người luôn thuỷ chung, luôn sống hết mình vì một tình yêu. Xuân Quỳnh xứng đáng là một nhà thơ nữ của tình yêu lứa đôi, chị đã làm phong phú hơn cho nền thơ ca nước nhà

5. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài  Ai đã đặt tên cho dòng sông– Hoàng Phủ Ngọc Tường

Hoàng Phủ Ngọc Tường đã dẫn người đọc vào cuộc hành trình khám phá nét đẹp của thiên nhiên Huế. Lần lượt theo dòng chảy của Hương giang, tôi bắt gặp khung cảnh thiên nhiên Huế lúc nguyên sơ, trong trẻo, lúc mượt mà khi kì ảo, lúc dịu dàng say đắm khi thâm trầm trang nghiêm. Sông Hương tôn lên vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên Huế, hòa nhập với không khí của văn hóa Huế. Tất cả đều sống động qua tình yêu tha thiết của Hoàng Phủ Ngọc Tường với con sông này. Qua hình tượng sông Hương tôi còn cảm nhận vẻ đẹp cái tôi Hoàng Phủ Ngọc Tường: một cái tôi trí tuệ uyên bác qua những tri thức phong phú với nhiều lĩnh vực, một cái tôi tài hoa phóng túng với những liên tưởng bất ngờ. Và trên hết là một cái tôi sâu nặng tình yêu và tự hào với Huế – quê hương của mình.Tất cả làm nên sức sống của thiên kí này.

6. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Người lái đò sông Đà– Nguyễn Tuân

Phong cách Nguyễn Tuân độc đáo và phong phú.Ở tùy bút “Người lái đò sông Đà” chúng ta thấy phong cách giá trị của ông thể hiện rõ nhất là sự nhọn sắc của giác quan nghệ sĩ đi đôi với một kho chữ nghĩa giàu có và đầy màu sắc, lối văn rất mực tài hoa. Dòng sông Đà “hung bạo và trữ tình” cùng hình tượng người lái đò tài hoa chảy mãi trong dòng văn học nước nhà như niềm yêu mến và tự hào về con người, cỏ cây sông núi quê hương của nhà văn Nguyễn Tuân

7. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Vợ chồng A Phủ– Tô Hoài

Gấp lại những trang sách mà dư âm về nhân vật Mị, về cô gái Mèo với sức sống mãnh liệt trong đêm tình mùa xuân, về số phận đáng thương của người dân dưới xã hội phong kiến đương thời vẫn còn in đậm trong tâm hồn tôi. Mị hay Vợ chồng A Phủ mãi là những rung động sâu sắc mà Tô Hoài để lại nơi người đọc.

8. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Vợ nhặt– Kim Lân

  1. “Cái đẹp cứu vớt con người” (Đôxtôiepki). Vâng, “vợ nhặt” củanhà văn Kim Lân thể hiện rõ sức mạnh kì diệu ấy. Ánh sáng của tình người, lòng tin yêu vào cuộc sống là con nguồn mạch giúp Kim Lân hoàn thành tác phẩm. Ông đã đóng góp cho văn học Việt Nam nói chung, về đề tài nạn đói nói riêng một quan niệm mới về lòng người và tình người. Đọc xong thiên truyện, dấu nhấn mạnh mẽ nhất trong tâm hồn bạn đọc chính là ở điểm sáng tuyệt vời ấy.
  1. Bằng ngòi bút miêu tả chân thực, sinh động, cách khắc họa tâm lý nhân vật sắc sảo,độc đáo và cốt truyện đầy bất ngờ Kim Lân đã vẽ lại trước mắt người đọc khung cảnh đói nghèo tràn lan của xã hội Việt Nam những năm 1945. Qua đó tác giả cũng nhấn mạnh tình yêu thương giữa người với người luôn bất diệt.

 

9. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Rừng xà nu– Nguyễn Trung Thành

Rừng xà nu là truyện của một người nhưng qua đó ta thấy được số phận của cả một dân tộc . Đó là bức tranh hoành tráng , hoành tráng trong hình ảnh, với vóc dáng vạm vỡ của cao cả của rừng núi và của con người và hoành tráng trong âm hưởng với lời văn đầy nhịp điệu, khi vang động, khi tha thiết trang nghiêm .

10. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Chiếc thuyền ngoài xa– Nguyễn Minh Châu

Qua truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu đã nêu lên bài học về cái nhìn đa diện, cái nhìn khám phá trong sáng tạo nghệ thuật đối với các nghệ sĩ chân chính. Từ tình huống truyện có ý nghĩa khám phá, phát hiện về sự thật đời sống và qua sự thay đổi nhận thức của Phùng, của Đẩu, tác giả đã khẳng định mối quan hệ giữa nghệ thuật và hiện thực. Theo ông, bổn phận của người nghệ sĩ là phải phát hiện ra bản chất của cuộc đời. Cái Đẹp, cái Thiện trước hết phải là sự chân thực, Cuộc sống vốn phức tạp, chúng ta không thể đơn giản, sơ lược khi nhìn nhận con người và cuộc sống mà cần có cái nhìn tỉnh táo, sâu sắc cùng với sự tìm tòi, phát hiện để hiểu đúng bản chất của nó.

Tài liệu sưu tầm và tổng hợp

Xem thêm :

  1. Tổng hợp những kết bài hay về các tác phẩm lớp 12 ( phần 1 )
  2. Tuyển tập những kết bài mẫu  về các tác phẩm lớp 11 
  3. Cách viết phần kết bài trong văn nghị luận
  4. Tuyển tập những mở bài hay nhất về các tác phẩm lớp 12

Đề thi hay và khó về bài thơ Sóng- Xuân Quỳnh

Đề thi thử nghiệm, kì thi THPT Quốc gia môn văn. Bộ đề thi thử kì thi THPT Quốc gia môn văn có đáp án, tổng hợp tài liệu ôn thi về bài thơ Sóng- Xuân Quỳnh.

Viết về cảm xúc trong thơ, nhà phê bình Hoài Thanh từng có ý kiến: Dòng cảm xúc quá chừng sôi nổi khiến cho câu chữ không thể đi theo những đường viền có sẵn, ý thơ xô đẩy làm cho khuôn khổ câu thơ cũng phải lung lay.

Bằng việc cảm nhận bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh, anh (chị) hãy bình luận ý kiến trên.

Hướng dẫn :

  1. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận (0,25 điểm): Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề nghị luận, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề.

– Điểm 0,25: Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết luận. Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn đề và thể hiện được ấn tượng, cảm xúc sâu đậm của cá nhân.

– Điểm 0: Thiếu Mở bài hoặc Kết luận, Thân bài chỉ có 1 đoạn văn hoặc cả bài viết chỉ có 01 đoạn văn.

  1. 2. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,5 điểm): Vai trò của cảm xúc trong thơ ca: Khi cảm xúc quá sôi nổi, mãnh liệt nó sẽ phá vỡ những hình thức có tính khuôn mẫu, ổn định.

– Điểm 0,5: Xác định đúng vấn đề cần nghị luận như trên

– Điểm 0,25: Xác định chưa rõ vấn đề cần nghị luận, chỉ nêu chung chung.

– Điểm 0: Xác định sai vấn đề cần nghị luận, trình bày lạc sang vấn đề khác.

  1. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; kiến thức về lí luận, về tác phẩm và đoạn trích (2,5điểm)

3.1. Giới thiệu vài nét về tác giả Xuân Quỳnh và bài thơ “Sóng” (0,25đ)

3.2. Giải thích ý kiến của Hoài Thanh (0,5đ):

+ “Cảm xúc” là những rung động, là tình cảm- đây là yếu tố quan trọng nhất của thơ. Khởi nguồn của thơ là tiếng nói của tình cảm, cảm xúc. “Sôi nổi” chỉ mức độ của cảm xúc: nồng nàn, cháy bỏng, mãnh liệt dâng trào. “Ý thơ” chỉ tư tưởng, tình cảm.

+ “Những đường viền có sẵn”, “khuôn khổ câu thơ”: Những quy định có sẵn từ trước, những hình thức có tính chất khuôn mẫu, ổn định. “Xô đẩy”, “không đi theo”, “lung lay” đều chỉ sự bứt phá, vượt ra khỏi những quy định.

=> Khi cảm xúc, tình cảm trong thơ đến mức mãnh liệt nó sẽ phá vỡ những khuôn mẫu, những hình thức có tính chất ổn định. Từ đó cho thấy trong mối quan hệ giữa nội dung cảm xúc và hình thức nghệ thuật của thơ thì nội dung cảm xúc đóng vai trò chi phối.

3.3. Cảm nhận bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh (1,25đ)

+ “Sóng” là dòng cảm xúc “quá chừng sôi nổi”, là tiếng nói tình cảm mãnh liệt của một trái tim phụ nữ yêu chân thành, da diết. Cái “tôi” trữ tình khi thì hóa thân vào “em”, khi thì soi mình vào “sóng”. “Sóng” và “em” cùng song song tồn tại để bộc lộ những cảm xúc của nhân vật trữ tình.

++ Những trạng thái cảm xúc phong phú, phức tạp có lúc tưởng mâu thuẫn mà lại thống nhất trong tâm hồn người con gái đang yêu.

++ Khát vọng tự nhận thức, khát vọng tình yêu

++ Nỗi nhớ cháy bỏng, da diết trong tình yêu.

++ Tình cảm thủy chung khăng khít

++ Những dự cảm âu lo và niềm tin vào tình yêu chân chính

++ Khát vọng bất tử hóa tình yêu.

+ Ở “Sóng” có sự phá vỡ những hình thức, khuôn mẫu có tính chất ổn định (“câu chữ không đi theo đường viền có sẵn, khuôn khổ câu thơ bị lung lay”)

++ Âm điệu của bài thơ: Bài thơ có âm điệu của sóng. Sóng biển hay cũng chính là sóng lòng của người con gái đang yêu. Âm điệu đó được tạo nên do thể thơ (thể thơ năm chữ, gieo vần, ngắt nhịp, hài thanh linh hoạt); phương thức tổ chức ngôn từ và hình ảnh.

++ Kết cấu của bài thơ độc đáo thể hiện “dòng cảm xúc quá chừng sôi nổi”: Cả bài thơ có 9 khổ. Bốn khổ đầu và bốn khổ cuối mỗi khổ đều có 4 câu, riêng khổ giữa (khổ 5) có 6 câu. Kết cấu đó khiến người ta liên tưởng tới hai chân sóng và đỉnh sóng.

++ Hình tượng thơ: Có hai hình tượng song song tồn tại: Sóng và em, lúc thì phân thân soi chiếu vào nhau, lúc lại hòa với nhau làm một. Sóng biển và sóng lòng hòa quyện trong nhau.

++ Các biện pháp tu từ: Ẩn dụ, so sánh, nhân hóa được sử dụng linh hoạt nhằm diễn tả những cảm xúc trong tâm hồn người con gái đang yêu.

++ Ngôn ngữ thơ giản dị, tự nhiên như tiếng lòng chân thành của người phụ nữ, không màu mè, kiểu cách.

3.4. Bình luận ý kiến của Hoài Thanh (0,5đ): Học sinh có thể nêu ý kiến và lí giải:

+ Nội dung cảm xúc và hình thức nghệ thuật trong thơ phải có sự hài hòa, phù hợp với nhau. Tuy nhiên, trong mối tương quan giữa nội dung và hình thức thì nội dung là cái có trước và bao giờ cũng đóng vai trò chủ đạo. Thông qua ý thức năng động và tích cực chủ quan của người nghệ sĩ, nội dung cố gắng đi tìm một hình thức thể hiện phù hợp với nó, để bộc lộ một cách đầy đủ nhất, hấp dẫn nhất bản chất của nó. Khi tiếng nói cảm xúc, tình cảm trong thơ nồng nhiệt đến độ cao trào thì nó sẽ vượt ra khỏi khuôn khổ hình thức bình thường để rồi lại đi tìm một cách thể hiện khác phù hợp với nó. Đó chính là sự “phá vỡ những đường viền có sẵn”.

+ Khi cảm xúc phá vỡ những giới hạn, những hình thức cũ thì sẽ có một hình thức mới ra đời. Đây cũng chính là hành trình đi tìm sự sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ. Nghệ thuật cũng vì thế mà luôn sáng tạo, luôn mới mẻ, hấp dẫn. (dẫn chứng: Thơ mới 30-45)

+ Ý kiến của nhà phê bình Hoài Thanh là ý kiến xác đáng, đúng đắn, đầy biện chứng về mối quan hệ giữa nội dung và hình thức trong thơ. Tuy nhiên cũng cần phải thấy rằng: Không phải cứ có cảm xúc mãnh liệt thì sẽ có sự phá cách và tạo nên cái mới trong nghệ thuật thơ ca. Việc sáng tạo nên những hình thức mới mẻ còn phải phụ thuộc vào cái tài của người nghệ sĩ. Cảm xúc chỉ là phần “xương thịt”, là yếu tố khơi nguồn và thúc đẩy. Hơn nữa, không chỉ thơ mà đối với loại hình nghệ thuật nào cũng vậy nội dung cảm xúc, tư tưởng luôn đóng vai trò chủ đạo, quyết định đối với hình thức thể hiện.

– Điểm 2,25- 2,5: Đảm bảo các yêu cầu trên song một trong các luận điểm giải thích, bàn luận chưa trình bày được đầy đủ.

– Điểm 1,75- 2,0: Cơ bản đáp ứng được các yêu cầu trên, song một trong các luận điểm giải thích, phân tích, bàn luận còn chưa được trình bày đầy đủ hoặc liên kết chưa thực sự chặt chẽ.

– Điểm 1,0 -1,5 : Đáp ứng 1/2 đến 2/3 các yêu cầu trên.

– Điểm 0,5 – 0,75: Đáp ứng được 1/3 các yêu cầu trên.

– Điểm 0,25: Hầu như không đáp ứng được yêu cầu nào trong các yêu cầu trên.

– Điểm 0: Không đáp ứng được bất kì yêu cầu nào trong các yêu cầu trên.

  1. Sáng tạo (0,5 điểm) Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận.

Xem thêm : Tổng hợp những đề thi về bài Sóng- Xuân Quỳnh: http://vanhay.edu.vn/tag/song-xuan-quynh

Đề thi thử THPT Quốc gia môn Ngữ văn, đề 53

Tài liệu ôn thi THPT Quốc gia môn văn. Bộ đề thi thử THPT Quốc gia của nhiều trường trên cả nước

Đề thi thử THPT Quốc gia môn Ngữ văn, đề 53

NĂM HỌC 2016 – 2017 ,Môn: Ngữ văn 12 ,Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề)

PHẦN I. ĐỌC HIỂU

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu  từ Câu 1 đến Câu 4:

            “… Nguy hơn, thực phẩm bẩn chính là kẻ sát nhân thầm lặng, ảnh hưởng và di hại đến nhiều thế hệ làm kiệt quệ giống nòi, người tiêu dùng có còn đủ tỉnh táo để phân biệt trong ma trận thực phẩm đang giăng như mạng nhện ấy đâu là sạch, đâu là bẩn hay lực bất tòng tâm để rồi “nhắm mắt đưa chân”.

            Nếu không có biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn kịp thời, rồi đây 10, 20 năm sau tỷ lệ mắc ung thư và tâm thần của người Việt sẽ còn cao hơn rất nhiều. Mọi nỗ lực để nâng cao chất lượng sống, cải tạo nòi giống chẳng lẽ bó tay trước những người đang đầu độc dân tộc mình!

     Phát triển sẽ là gì nếu không phải giúp người dân nâng cao đời sống, tạo môi trường lành mạnh, an toàn để mỗi chúng ta sống và đóng góp cho xã hội, nhưng thực phẩm bẩn tràn lan như hiện nay như là cái u ác tính cho cả dân tộc, nếu không cắt bỏ sẽ di căn thành ung thư, hãy hành động ngay hôm nay đừng để đến lúc vô phương cứu chữa”.

       (Trích Vấn nạn thực phẩm bẩn, chẳng nhẽ bó tay? – Th.s Trương Khắc Hà)

Câu1Đoạn trích trên được viết theo phong cách ngôn ngữ nào?

Câu 2Tác giả đã chỉ ra những mối nguy hại nào của thực phẩm bẩn nếu không có biện pháp hữu hiệu ngăn chặn kịp thời?

Câu 3. Hãy cho biết thái độ của tác giả khi bàn về thực phẩm bẩn?

Câu 4. Nêu nội dung khái quát đoạn trích?

 

PHẦN II. LÀM VĂN (7 điểm)

Câu 1 (2 điểm)

Anh/chị có suy nghĩ gì trước vấn nạn: “…thực phẩm bẩn tràn lan như hiện nay như là cái u ác tính cho cả dân tộc ? Hãy viết một đoạn văn ngắn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ của mình.

Câu 2 (5điểm).

   Cùng viết về nỗi nhớ nhưng mỗi nhà thơ lại có một cách khám phá, thể hiện của riêng mình.

                 Trong bài thơ “Việt Bắc”, Tố Hữu viết:

                               Nhớ gì như nhớ người yêu

                      Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương

                               Nhớ từng bản khói cùng sương

                      Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.

                               Nhớ từng rừng nứa bờ tre

                     Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy.

 

                 (Việt Bắc-Tố Hữu,Ngữ văn 12, tập một,NXB Giáo dục,2007tr.89 )

 

                Trong bài thơ “Sóng”, Xuân Quỳnh viết:

Con sóng dưới lòng sâu

Con sóng trên mặt nước

Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được

Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức

 

                                          ( Sóng-Xuân Quỳnh,Ngữ văn 12, tập một, NXB Giáo dục, 2007, tr.155 )

 

      Nêu cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ trên.

 

…………………………………Hết……………………………..

 

HƯỚNG DẪN CHẤM THI TỬ LẦN II

Năm học 2016 – 2017

Môn: Ngữ Văn – lớp 12

 

PHẦN I. ĐỌC HIỂU (3 ĐIỂM)

 

 

Câu Nội dung Điểm
1 Đoạn trích trên được viết theo phong cách ngôn ngữ chính luận 0,5
2 10, 20 năm sau tỷ lệ mắc ung thư và tâm thần của người Việt sẽ còn cao hơn rất nhiều; mọi nỗ lực để nâng cao chất lượng sống, cải tạo nòi giống sẽ không đạt kết quả. 0,5
3 Thái độ của tác giả: lo lắng, trăn trở, kêu gọi hành động. 1,0
4 Tác hại của thực phẩm bẩn ;Lời kêu gọi mọi người cùng chung tay đẩy lùi vấn nạn thực phẩm bẩn. 1.0

 

PHẦN II. LÀM VĂN (7 điểm)

Câu 1 (2 điểm)

  1. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận xã hội.
  2. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận.
  3. Triển khai vấn đề cần nghị luận thành các luận điểm.
ý Nội dung Điểm
1 *Giải thích Thực phẩm bẩn là gì?

Thực phẩm bẩn là những thực phẩm chứa các chất độc hại, tác động tiêu cực đến sức khỏe và tính mạng con người.
-Vì thế: “thực phẩm bẩn tràn lan như hiện nay như là cái u ác tính cho cả dân tộc”

0,5
2 *Thực trạng thực phẩm bẩn đang tràn lan:

   Vấn đề thực phẩm bẩn là một hiện tượng phổ biến, đang diễn ra từng ngày.
+ Hầu hết thức ăn ta ăn đều có chứa chất độc hại:thịt có chất tạo nạc, rau có thuốc trừ sâu; làm đỗ,ruốc bằng hóa chất..

+Thực phẩm bẩn gây ra những ảnh hưởng xấu về sức khỏe con người: ngộ độc, tiềm ẩn nguy cơ mắc các căn bệnh nan y…

0,5
3 *Vì sao thực phẩm bẩn đang tràn lan trong xã hội ta hiện nay?
+ Nghĩ đến sức khỏe của mình, xem thường sức khỏe người khác.

+Sự xuống cấp về lương tâm, đạo đức và là biểu hiện của một trình độ nhận thức hẹp hòi, ích kỷ.
+Sản xuất, canh tác, gieo trồng trong môi trường bị ô nhiễm trầm trọng từ đất đai, nguồn nước đến không khí.
+ Chưa có biện pháp xứng đáng đối với các doanh nghiệp sản xuất thực phẩm bẩn.
0,5
4 *Tác hại của thực phẩm bẩn:

+Bệnh tật nguy hiểm: viêm màng não, bệnh ung thư…
+ Tâm lí hoang mang cho người tiêu dùng

0,25
5 *Suy nghĩ:

-Lên án những hành vi nuôi trồng, buôn bán thực phẩm bẩn;

-Mỗi người ý thức chung tay cùng xã hội đẩy lùi thực phẩm bẩn bằng những hành động thiết thực…  

-Nâng cao ý thức, tuyên truyền về về vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm và đảm bảo sức khỏe của xã hội.

0,25

 

Câu 2 (5 điểm)

  1. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận .
  2. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận.
  3. Triển khai vấn đề cần nghị luận thành các luận điểm.
Ý Nội dung Điểm
1 Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm và nêu vấn đề nghị luận 0,5
2 Cảm nhận

a/Đoạn thơ trong bài thơ “Việt Bắc”

*Nội dung: Nỗi nhớ khung cảnh chiến khu Việt Bắc

-Khái quát nỗi nhớ: Nhớ gì như nhớ người yêu

-Cụ thể nỗi nhớ:

+Nỗi nhớ bao trùm  mọi không gian, địa điểm: đầu núi, lưng nương, bản làng, rừng núi, bờ tre, ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê.

+Nỗi nhớ bao trùm mọi thời gian,thời điểm: trăng lên, nắng chiều, sớm khuya…

+ Nhớ cảnh: trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương, bản khói cùng sương, ngòi, sông, suối, bếp lửa-> bình dị, thơ mộng mang nét đặc trưng của VB.

Người: người thương-> gần gũi, gắn bó, yêu thương.

*Nghệ thuật: liệt kê, điệp từ “nhớ”, so sánh…Hình ảnh thơ bình dị mang đặc trưng của Việt Bắc. Thể thơ lục bát mang âm hưởng tha thiết, sâu lắng.

=> Đoạn thơ tái hiện kỷ niệm về những ngày tháng gắn bó của người cán bộ kháng chiến với quê hương Việt Bắc. Đó là những kỷ niệm về thiên nhiên, con người…Nổi bật là một  bức tranh VB bình dị, quen thuộc mà rất đỗi nên thơ.

 

 

 

 

 

 

1,5

b/ Đoạn thơ trong bài thơ “Sóng”: XQ mượn sóng để giãi bày nỗi nhớ trong tình yêu.Những con sóng cũng chính là những cung bậc khác nhau của nỗi nhớ.

*Nội dung:

+ “Con sóng trên mặt nước” là con sóng ào ạt, dữ dội bề mặt,“Con sóng dưới lòng sâu” là sóng ngầm lặng lẽ âm thầm mà không kém phần mãnh liệt. Mỗi con sóng một vẻ nhiều khi đói nghịch. Nhưng dù ở trạng thái nào, dưới lòng sâu hay trên mặt nước, chúng đều có chung một điểm hướng vào bờ, khắc khoải mong chạm bờ. Nỗi nhớ trong trái tim người phụ nữ tựa như con sóng lớp lớp vơi đầy, có lúc cuộn trào không thể kìm nén, có lúc âm thầm thiêu đốt tâm can…

+ Nỗi nhớ trải theo không gian “lòng sâu, mặt nước”, nỗi nhớ lại đằm theo thời gian “ngày đêm”. Dường như cả vũ trụ cũng thao thức cùng nỗi nhớ.

 Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được

+Mượn hình tượng sóng để nói lên nỗi nhớ vẫn chưa đủ, chưa thỏa, nhà thơ bộc lộ trực tiếp nỗi nhớ của lòng mình.

Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức

Nỗi nhớ không chỉ tồn tại trong không gian, thời gian mà còn len lỏi cả vào tiềm thức, xâm nhập cả những giấc mơ.

*Nghệ thuật:

+Điệp từ “con sóng” dồn dập khiến nỗi nhớ cứ cồn lên như những đợt sóng tầng tầng, lớp lớp nối tiếp nhau mãi không thôi.

+Phép lặp cú pháp (câu1-2) và thủ pháp đối:trên-dưới; lòng sâu-mặt nước; ngày-đêm) nhấn mạnh nỗi nhớ vừa lấp đầy không gian vừa thường trực ám ảnh trong mọi khoảnh khắc.

+ Khổ thơ 6 câu , kéo dài hơn so với các khổ thơ trong bài như nỗi nhớ cứ cồn cào trào dâng.

=>Đoạn thơ thể hiện thành công nỗi nhớ da diết, sâu nặng thường trực của nhân vật trữ tình.Qua hình tượng “sóng” và “em”, XQ đã nói lên thật chân thành, tha thiết nỗi nhớ tình yêu đầy ắp trong trái tim mình.

 

 

 

1,5
3 So sánh:

*Tương đồng:

   Cả hai đoạn thơ đều tập trung diễn tả cảm xúc nhớ nhung với những cung bậc , trạng thái khác nhau, đặt trong mối quan hệ với không gian mênh mông và thời gian dằng dặc. Nỗi nhớ da diết sâu đậm, thiết tha là đặc điểm chung của hai đoạn thơ.

0,5
*Khác biệt:

    -Đoạn thơ “Việt Bắc” tái hiện tình cảm giữa người cán bộ kháng chiến với quê hương cách mạng và biể đạt nỗi nhớ một cách trực tiếp. Còn “Sóng” nỗi nhớ mang sắc thái cảm xúc cá nhân xuất phát từ tình yêu đôi lứa và XQ mượn sóng để biểu đạt nỗi nhớ của “lòng em”.

   -“VB” viết theo thể thơ lục bát vơi âm hưởng của một khúc hát trữ tình thiết tha sâu lắng, hình ảnh thơ đẹp, gợi cảm. Thủ pháp điệp các từ ngữ biểu đạt cảm xúc tạo nên âm hưởng đoạn thơ như khúc hát ru ngọt n gào.

  -“Sóng” lại sử dụng thể thơ ngũ ngôn (5 chữ) với âm hưởng dào dạt của sóng biển. Hình ảnh ẩn dụ”sóng” và thủ pháp lặp cú pháp, đối…đã mang lại âm hưởng riêng là đặc sắc nghệ thuật cơ bản làm nên tính gợi cảm rất đặc trưng của đoạn thơ.

0,5
4 *Lý giải:

-Tương đồng vì: hai tác giả đều là những nhà thơ rất mực tài năng, cảm xúc đều được bộc lộ một cách chân thành, tha thiết…

-Khác biệt vì: Bản chất nghệ thuật là sự sáng tạo “Mỗi tác phẩm văn học phải là một phát minh về hình thức và một khám phá về nội dung” (nhà văn Lêônit Lêônốp); do nét riêng của hoàn cảnh cảm hứng và phong cách nghệ thuật độc đáo của mỗi nhà thơ.

0,25
5    Khẳng định vị trí và sức sống của hai bài thơ, hai tác giả trong nền văn học. 0,25

Xem thêm :

Đề kiểm tra học kì 1 môn Ngữ văn lớp 12

Bộ Đề kiểm tra học kì 1 môn Ngữ văn lớp 12 có đáp án .Đọc hiểu văn bản  “Suy nghĩ về đọc sách”. Nghị luận hai ý kiến bàn về bài Sóng- Xuân Quỳnh

SỞ GD&ĐT HẢI DƯƠNG

TRƯỜNG THPT HOÀNG VĂN THỤ

 

(Đề kiểm tra gồm có 01 trang)

ĐỀ KIỂM TRA HỌC KỲ I NĂM HỌC 2016 – 2017

MÔN NGỮ VĂN – LỚP 12 – ĐỀ LẺ

                     Thời gian làm bài : 90 phút

 

 

Đọc hiểu ( 5,0 điểm )

Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi

   “… (1) Thật vậy, Nguyễn Du, đại thi hào của dân tộc từng viết: “Sách vở đầy bốn vách/ Có mấy cũng không vừa”. Đáng tiếc, cuộc sống hiện nay dường như “cái đạo” đọc sách cũng dần phôi pha. Sách in nhiều nơi không bán được, nhiều nhà xuất bản đóng cửa vì thua lỗ, đặc biệt sách bị cạnh tranh khốc liệt bởi những phương tiện nghe nhìn như ti vi, Ipad, điện thoại Smart, và hệ thống sách báo điện tử trên Internet. Nhiều gia đình giàu có thay tủ sách bằng tủ rượu các loại. Các thư viện lớn của các thành phố hay của tỉnh cũng chỉ hoạt động cầm chừng, cố duy trì sự tồn tại.

              …(2) Bỗng chợt nhớ khi xưa còn bé, với những quyển sách giấu trong áo, tôi có thể đọc sách khi chờ mẹ về, lúc nấu nồi cơm, lúc tha thẩn trong vườn, vắt vẻo trên cây, lúc chăn trâu, lúc chờ xe bus… Hay hình ảnh những công dân nước Nhật mỗi người một quyển sách trên tay lúc ngồi chờ tàu xe, xem hát, v.v… càng khiến chúng ta thêm yêu mến và khâm phục. Ngày nay, hình ảnh ấy đã bớt đi nhiều, thay vào đó là cái máy tính hay cái điện thoại di động. Song sách vẫn luôn cần thiết, không thể thiếu trong cuộc sống phẳng hiện nay…”

                        (Trích “Suy nghĩ về đọc sách” – Trần Hoàng Vy, Báo Giáo dục & Thời đại, Thứ hai ngày 13.4.2015)

         Câu 1. Xác định phong cách ngôn ngữ và phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn văn trên? (1,0 điểm)

         Câu 2. Trong đoạn (2), tác giả chủ yếu sử dụng thao tác lập luận nào? (0,5 điểm)

         Câu 3. Hãy ghi lại câu văn nêu khái quát chủ đề của văn bản? Nêu nội dung chính của văn bản trên?   (1,0 điểm)

         Câu 4. Anh (chị) hiểu như thế nào về câu nói: “Sách vở đầy bốn vách/ Có mấy cũng không vừa”. (0,5 điểm)

         Câu 5. Anh (chị) hãy viết đoạn văn (khoảng 15 dòng) trình bày suy nghĩ của mình về ý nghĩa nội dung thông điệp: “Song sách vẫn luôn cần thiết, không thể thiếu trong cuộc sống phẳng hiện nay” (2,0 điểm)

Làm văn (5.0 điểm )

Có ý kiến cho rằng: “Sóng của Xuân Quỳnh đã thể hiện được một tình yêu có tính chất truyền thống như tình yêu muôn đời”. Nhưng ý kiến khác lại khẳng định: “Tình yêu mà Xuân Quỳnh thể hiện trong bài thơ mang tính chất hiện đại như tình yêu hôm nay”.
Trình bày suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến trên. Phân tích đoạn thơ sau để làm sáng tỏ ý kiến:

                                                      “Dữ dội và dịu êm

                                                       Ồn ào và lặng lẽ

                                                       Sông không hiểu nổi mình

                                                       Sóng tìm ra tận bể

 

                                                       Ôi con sóng ngày xưa

                                                       Và ngày sau vẫn thế

                                                       Nỗi khát vọng tình yêu

                                                       Bồi hồi trong ngực trẻ…”

(Sóng”  –  Xuân Quỳnh )

——————— Hết —————–

 

Họ và tên học sinh :…………………………………………… Số báo danh : ……………..

SỞ GD&ĐT HẢI DƯƠNG

TRƯỜNG THPT HOÀNG VĂN THỤ

 

(Đề kiểm tra gồm có 02 trang)

ĐÁP ÁN VÀ HƯỚNG DẪN CHẤM

ĐỀ KIỂM TRA HỌC KỲ I NĂM HỌC 2016 – 2017

MÔN NGỮ VĂN – LỚP 12

Thời gian làm bài : 90 phút

 

 

Câu Ý Nội dung Điểm
 

 

I.(Đọc hiểu)

 

 

 

 

 

 

 

1 – Đoạn văn viết theo phong cách ngôn ngữ báo chí.

– Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn: Nghị luận

1.0
2 – Trong đoạn (2), tác giả chủ yếu sử dụng thao tác lập luận so sánh. 0.5
3

 

 

– Câu văn nêu khái quát chủ đề của văn bản: “Song sách vẫn luôn cần thiết, không thể thiếu trong cuộc sống phẳng hiện nay…”

– Nội dung chính của đoạn văn:

+ Trong thời đại công nghệ số, văn hóa đọc đang có xu hướng bị cạnh tranh lấn át, có nguy cơ bị mất dần đi.

+ Cần thấy được ý nghĩa của việc đọc sách và có thói quen đọc sách.

0.5

0.5

4 – Ý nghĩa câu nói: “Sách vở đầy bốn vách/ Có mấy cũng không vừa”:

+ Sách là sản phẩm tinh thần quý giá của con người, do con người sáng tạo ra; là kho tàng tri thức vô tận của nhân loại.

+ Quá trình con người sử dụng, sưu tầm, giữ gìn, tích lũy, bảo tồn sách thật nhiều, phong phú đến bao nhiêu cũng không bao giờ là đủ.

0.5
5 – Khẳng định vai trò của sách trong thời đại công nghệ số, các phương tiện thông tin nghe – nhìn đang phát triển, có nhiều ưu thế, hấp dẫn hơn so với sách, và thực tế chúng đang có xu hướng cạnh tranh lấn át văn hóa đọc. Tuy nhiên vẫn không thể thay thế được hoàn toàn cho sách.

– Đọc sách vẫn luôn được khẳng định là một nhu cầu cần thiết với những thế mạnh riêng của nó:

+ Đó là cách thưởng thức văn hoá sang trọng và có chiều sâu.

+ Là phương cách tốt nhất để làm giàu có vốn ngôn từ và cách hành văn, hình thành được kỹ năng ngôn ngữ và sẽ tự tin giao tiếp.

+ Cung cấp thông tin, tri thức, mở rộng, nâng cao hiểu biết trên nhiều lĩnh vực.

+ Bồi dưỡng giáo dục đạo đức, tình cảm, nâng cao khiếu thẩm mĩ, hoàn thiện nhân cách, phát triển tâm hồn để hướng tới những giá trị tốt đẹp.

+ Tăng cường khả năng tư duy, phân tích, sáng tạo, cải thiện khả năng tập trung, suy ngẫm, tra cứu, tìm tòi…

– Cần hình thành thói quen, tạo hứng thú  đọc sách, biết lựa chọn sách để đọc và cần có phương pháp đọc sách hiệu quả.

0.5

 

1.0

 

 

 

 

0.5

 

 

II.(Làm văn)

1 * Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm, các ý kiến, nội dung cơ bản của các ý kiến. 0.5
 

2

 

* Thân bài:                                                                                                           1. Giải thích ý kiến:

– Mượn hình tượng “sóng” trong tự nhiên, nhà thơ đã diễn tả được những cung bậc cảm xúc phổ biến, những quy luật tình cảm muôn đời của tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu.                                                                                                              – Sự mới mẻ, hiện đại của cách cảm, trong quan niệm về tình yêu của Xuân Quỳnh.

 

0.5

 

 

3

2. Chứng minh:                                                                                                                a, Đoạn thơ thể hiện “ một tình yêu có tính chất truyền thống như tình yêu muôn đời”:
– Đó là những trạng thái cảm xúc biến động phức tạp, đối lập mà thống nhất, khi sôi nổi, lúc lại kín đáo trầm tư, lúc buồn lúc vui, khi hạnh phúc, khi đau khổ: “dữ dội” – “dịu êm”, “ồn ào” – “lặng lẽ”.
– Đó là khát vọng vươn tới cái cao cả, lớn lao trong tình yêu: “Sông không hiểu nổi mình/ Sóng tìm ra tận bể”.                                                                                 – Con sóng bất biến trong dòng chảy thời gian cũng như tình yêu luôn là điều khao khát bồi hồi rạo rực trong trái tim tuổi trẻ: “Nỗi khát vọng tình yêu / Bồi hồi trong ngực trẻ”                                                                                                                   b, Đoạn thơ thể hiện “tính chất hiện đại của tình yêu hôm nay”.
– Người con gái chủ động bày tỏ những khát khao yêu đương mãnh liệt và những rung động rạo rực của lòng mình.                                                            – Không còn sự thụ động, cam chịu, yên phận của người phụ nữ truyền thống, nhân vật nữ trong bài thơ rất táo bạo chủ động trên hành trình tìm kiếm hạnh phúc.                                                                                                   – Cũng rất mãnh liệt và hiện đại khi tình yêu được cảm nhận toàn diện với mọi cung bậc cảm xúc có khi đối lập nhưng vẫn thống nhất.
 

2.0

 

 

 

 

1.5

 

4

* Kết bài: Bàn luận chung
Cả hai ý kiến đều đúng, 2 ý kiến tưởng trái chiều nhưng góp phần bổ sung cho nhau để làm nổi bật nét độc đáo của hồn thơ Xuân Quỳnh qua bài thơ “Sóng”. Mang trong mình vẻ đẹp truyền thống và hiện đại mới mẻ của tình yêu  khiến “Sóng” trở nên bất tử trong lòng độc giả bao thế hệ, trở thành lời “tự hát” của biết bao trái tim tha thiết yêu đương.
0.5

 

—————– Hết —————–

                                                              

                                                           THIẾT LẬP MA TRẬN 

 

       Mức độ

 

Chủ đề

Nhận biết Thông hiểu Vận dụng Tổng
  Thấp Cao  
I. Đọc hiểu. Kiến thức về đoạn văn – Nhận diện phương thức biểu đạt chính, thao tác lập luận, phong cách ngôn ngữ đoạn văn. – Tìm được câu văn khái quát chủ đề, hiểu được nội dung chủ yếu của đoạn văn. – Phân tích một yếu tố nội dung trong văn bản. – Vận dụng kiến thức đọc hiểu để viết đoạn văn nghị luận xã hội trình bày suy nghĩ của bản thân về ý nghĩa nội dung thông điệp trong văn bản.  

 

 

 

Số câu

Số điểm

Tỉ lệ

2 câu

1.5đ

15%

1 câu

1.0đ

10%

1 câu

0.5đ

5%

1 câu

20%

5

5

 50 %

II. Làm văn.

Phân tích đoạn thơ bài Sóng

 

 

– Tạo lập văn bản nghị luận văn học để làm sáng tỏ ý kiến về giá trị một đoạn thơ bài Sóng.  

 

 

Số câu

Số điểm

Tỉ lệ

      1 câu

5 đ

50%

1

5

50 %

Tổng câu

Điểm

Tỉ lệ

2 câu

1.5đ

15%

1 câu

1.0đ

10%

1 câu

0.5đ

5%

2 câu

7.0đ

70%

6

10

100%

 

ĐỀ KIỂM TRA HỌC KỲ I NĂM HỌC 2016 – 2017

MÔN NGỮ VĂN – LỚP 12– ĐỀ CHẴN

Thời gian làm bài : 90 phút

 

  1. Đọc hiểu ( 5,0 điểm )

Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi

            “…Mỗi năm Việt Nam có hàng trăm nghìn sinh viên, học sinh rời ghế nhà trường hoặc lên đường xuất ngoại du học. Họ sẽ là những doanh nhân và chuyên gia thuộc mọi lĩnh vực, nối tiếp thế hệ đàn anh tiếp tục gánh vác trách nhiệm phát triển đất nước. Với bản chất thông minh, hiếu học sẵn có, việc thu thập kiến thức kỹ thuật thật sự không khó đối với dân Việt. Sinh viên Việt Nam liên tục đạt được những giải thưởng quốc tế và người Việt được đánh giá là rất thông minh và nhẫn nại. Điều quan trọng là chúng ta cần đầu tư nhiều hơn vào lớp trẻ để giúp họ có được vốn văn hóa sâu dày, biết yêu quý và hãnh diện về văn chương, nghệ thuật và những giá trị cao đẹp của Việt Nam. Có như vậy họ mới cảm thấy gắn bó và quay về với quê hương đất nước. Những chương trình “về nguồn” và “mùa hè xanh” đều là những cố gắng đúng hướng và chắc chắn sẽ mang lại kết quả lâu dài. Trước làn sóng văn hóa ngoại lai đầy sôi động và cám dỗ của thời hội nhập, tôi  nghĩ chúng ta cần chú tâm nhiều hơn đến giới trẻ nếu muốn tránh những bước đi sai lầm của các nước bạn. Muốn thu ngắn cách biệt, muốn tạo dựng được một nền móng kinh tế vững chắc để có thể bắt kịp xứ người, vấn đề tăng cường chất lượng giáo dục đào tạo văn hóa cho lớp trẻ quả là một thách thức của Việt Nam hôm nay”.

(Đầu tư cho giới trẻ – Võ Ngọc Hân – vnexpress.net 16/07/2014)

Câu 1: Xác định phong cách ngôn ngữ và phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích trên? (1,0 điểm)

Câu 2: Trong đoạn trích, tác giả đã sử dụng những thao tác lập luận nào? (0,5 điểm)

Câu 3: Hãy ghi lại câu văn nêu khái quát chủ đề của đoạn trích? (0.5 điểm)

Câu 4: Nêu nội dung chính của đoạn trích trên? Tác giả thể hiện thái độ gì khi bàn về nội dung này. (1,0 điểm)

Câu 5: Tưởng tượng anh (chị) là tác giả của bài viết trên, hãy viết tiếp một đoạn văn ngắn (khoảng 15 dòng) để bàn về một giải pháp cụ thể nhằm tăng cường chất lượng giáo dục văn hóa cho giới trẻ hiện nay. (2,0 điểm)

 

Làm văn (5.0 điểm )

Có ý kiến cho rằng: “Sóng của Xuân Quỳnh đã thể hiện được một tình yêu có tính chất truyền thống như tình yêu muôn đời”. Nhưng ý kiến khác lại khẳng định: “Tình yêu mà Xuân Quỳnh thể hiện trong bài thơ mang tính chất hiện đại như tình yêu hôm nay”.
Trình bày suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến trên. Phân tích đoạn thơ sau để làm sáng tỏ ý kiến:

                                                      “Dữ dội và dịu êm

                                                       Ồn ào và lặng lẽ

                                                       Sông không hiểu nổi mình

                                                       Sóng tìm ra tận bể

 

                                                       Ôi con sóng ngày xưa

                                                       Và ngày sau vẫn thế

                                                       Nỗi khát vọng tình yêu

                                                       Bồi hồi trong ngực trẻ…”

(Sóng”  –  Xuân Quỳnh)

——————— Hết —————–

 

Họ và tên học sinh :…………………………………………… Số báo danh : ……………..

ĐÁP ÁN VÀ HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ KIỂM TRA HỌC KỲ I NĂM HỌC 2016 – 2017

MÔN NGỮ VĂN – LỚP 12

Thời gian làm bài : 90 phút

 

Câu Ý Nội dung Điểm
 

 

I.(Đọc hiểu)

 

 

 

 

 

 

 

1 – Đoạn trích viết theo phong cách ngôn ngữ báo chí.

– Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn: Nghị luận

1.0
2 – Trong đoạn trích, tác giả sử dụng những thao tác lập luận: phân tích, bình luận. 0.5
3

 

 

– Câu văn nêu khái quát chủ đề của đoạn trích: “Muốn thu ngắn cách biệt, muốn tạo dựng được một nền móng kinh tế vững chắc để có thể bắt kịp xứ người, vấn đề tăng cường chất lượng giáo dục đào tạo văn hóa cho lớp trẻ quả là một thách thức của Việt Nam hôm nay” 0.5

 

4 – Nội dung chính của đoạn trích: Khẳng định sự cần thiết của việc đầu tư giáo dục văn hóa cho giới trẻ.

– Tác giả thể hiện thái độ gì khi bàn về vấn đề này: quan tâm, trăn trở, lo lắng, và sự nhắn nhủ đầy tâm huyết.

0.5

0.5

5 – Đoạn văn cần có sự liên kết với nội dung đoạn trích đã cho.

– Học sinh có thể đưa ra nhiều giải pháp khác nhau nhưng cần hợp lí và có sức thuyết phục như: nội dung giáo dục văn hoá nhiều hơn vào nhà trường, tổ chức các hoạt động ngoại khoá có mục đích giáo dục văn hoá cho giới trẻ, tăng cường giáo dục văn hoá trên các phương tiện thông tin đại chúng…

0.5

1.5

 

II.(Làm văn)

1 * Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm, các ý kiến, nội dung cơ bản của các ý kiến. 0.5
 

2

 

* Thân bài:                                                                                                           1. Giải thích ý kiến:

– Mượn hình tượng “sóng” trong tự nhiên, nhà thơ đã diễn tả được những cung bậc cảm xúc phổ biến, những quy luật tình cảm muôn đời của tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu.                                                                                                         – Sự mới mẻ, hiện đại của cách cảm, trong quan niệm về tình yêu của Xuân Quỳnh.

 

0.5

 

 

3

2. Chứng minh:                                                                                                               

a, Đoạn thơ thể hiện “ một tình yêu có tính chất truyền thống như tình yêu muôn đời”:
– Đó là những trạng thái cảm xúc biến động phức tạp, đối lập mà thống nhất, khi sôi nổi, lúc lại kín đáo trầm tư, lúc buồn lúc vui, khi hạnh phúc, khi đau khổ: “dữ dội” – “dịu êm”, “ồn ào” – “lặng lẽ”.
– Đó là khát vọng vươn tới cái cao cả, lớn lao trong tình yêu: “Sông không hiểu nổi mình/ Sóng tìm ra tận bể”.                                                                                 – Con sóng bất biến trong dòng chảy thời gian cũng như tình yêu luôn là điều khao khát bồi hồi rạo rực trong trái tim tuổi trẻ: “Nỗi khát vọng tình yêu / Bồi hồi trong ngực trẻ”                                                                                                                   b, Đoạn thơ thể hiện “tính chất hiện đại của tình yêu hôm nay”.
– Người con gái chủ động bày tỏ những khát khao yêu đương mãnh liệt và những rung động rạo rực của lòng mình.                                                            – Không còn sự thụ động, cam chịu, yên phận của người phụ nữ truyền thống, nhân vật nữ trong bài thơ rất táo bạo chủ động trên hành trình tìm kiếm hạnh phúc.                                                                                                   – Cũng rất mãnh liệt và hiện đại khi tình yêu được cảm nhận toàn diện với mọi cung bậc cảm xúc có khi đối lập nhưng vẫn thống nhất.

 

2.0

 

 

 

 

1.5

 

4

* Kết bài: Bàn luận chung
Cả hai ý kiến đều đúng, 2 ý kiến tưởng trái chiều nhưng góp phần bổ sung cho nhau để làm nổi bật nét độc đáo của hồn thơ Xuân Quỳnh qua bài thơ “Sóng”. Mang trong mình vẻ đẹp truyền thống và hiện đại mới mẻ của tình yêu  khiến “Sóng” trở nên bất tử trong lòng độc giả bao thế hệ, trở thành lời “tự hát” của biết bao trái tim tha thiết yêu đương.
0.5

 

—————– Hết —————–

Xem thêm : Tuyển tập đề thi học kì môn văn khối 12 có đáp án, Những bài văn hay lớp 12