Đề thi bán kì Ngữ văn lớp 10

Tuyển tập đề thi Ngữ văn lớp 10 soạn theo cấu trúc mới, có đáp án tham khảo.

ĐỀ THI BÁN KỲ II MÔN : Ngữ văn 10

Thời gian : 90 phút

(không kể thời gian phát đề)

Yêu cầu cần đạt:

Giúp học sinh:

Rèn luyện kĩ năng đọc – hiểu văn bản qua một bài thơ ngoài chương trình Sgk

Rèn luyện kĩ năng làm bài nghị luận văn học kết hợp với nghị luận xã hội

Bồi đắp tình cảm mẫu tử thiêng liêng, sự đồng cảm, sẻ chia, tình thương giữa người với người.

 

HÌNH THỨC ĐỀ KIỂM TRA:

  • Kiểm tra tự luận
  • Thời gian 90 phút

 

III. THIẾT LẬP MA TRẬN:

 

    Mức độ

 

Chủ đề

Nhận biết

 

Thông hiểu Vận dụng thấp  

Vận dụng cao

Tổng số
 I. Đọc- hiểu

Văn bản “Mẹ” (Trần Quốc Minh)

 

– Nhận ra chủ thể trữ tình của bài thơ

– Các biện pháp tu từ được sử dụng

– Tái hiện lại những câu thơ, câu ca dao khác có cùng đề tài

– Hiểu được tác dụng của các biện pháp nghệ thuật và ý nghĩa của các hình ảnh thơ

 

 

– Cảm nhận được cái hay của câu thơ.
Số câu

Số điểm

Tỉ lệ

  2

1.0

10%

1

1,0

10%

1

1,0

10%

0

 

4

3,0

30 %

II. Làm văn

Nghị luận văn học kết hợp với nghị luận xã hội

 

– Vận dụng những tri thức về tác phẩm để tạo lập một bài nghị luận văn học. Từ đó rút ra những vấn đề của có ý nghĩa với bản thân và  cuộc sống
Số câu

Số điểm

Tỉ lệ

1

7,0

70%

1

      7,0

70%

Tổng chung:

Số câu

Số điểm

Tỉ lệ

 

2

1,0

10%

 

           1

1,0

10%

 

1

1,0

10%

 

1

7,0

70%

 

5

10,0

100%

                

           

ĐỀ THI BÁN KỲ II

MÔN : Ngữ văn 10

Thời gian : 90 phút

(không kể thời gian phát đề)

 

PHẦN I: ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)

Đọc bài thơ sau và trả lời các câu hỏi:

            MẸ

Lặng rồi cả tiếng con ve

Con ve cũng mệt vì hè nắng oi 
Nhà em vẫn tiếng ạ ời
Kẽo cà tiếng võng mẹ ngồi mẹ ru
Lời ru có gió mùa Thu 

Bàn tay mẹ quạt mẹ đưa gió về 
Những ngôi sao thức ngoài kia
Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con
Đêm nay con ngủ giấc tròn 

Mẹ là ngọn gió của con suốt đời.

(Trần Quốc Minh)

 

Câu 1: Nhân vật trữ tình trong bài thơ trên là ai?

Câu 2: Câu thơ “Lặng rồi cả tiếng con ve” sử dụng biện pháp nghệ thuật nào? Nêu tác dụng của biện pháp đó?

Câu 3: Hãy phân tích cái hay của hình ảnh so sánh “Mẹ là ngọn gió” trong câu thơ cuối.

Câu 4: Ngoài bài thơ trên, em đã từng đọc những câu ca dao, câu thơ nào về mẹ? Hãy ghi lại một số câu thơ mà em yêu thích nói về người mẹ.

 

PHẦN II: LÀM VĂN (7.0 điểm)

Phân tích hình tượng nhân vật Khách trong tác phẩm “Phú sông Bạch Đằng” của Trương Hán Siêu

HƯỚNG DẪN CHẤM VÀ BIỂU ĐIỂM

 

Hướng dẫn chung

– Giám khảo cần nắm vững yêu cầu của hướng dẫn chấm để đánh giá tổng quát bài làm của thí sinh, tránh đếm ý cho điểm.

– Cần chủ động, linh hoạt trong việc vận dụng hướng dẫn chấm và thang điểm; khuyến khích những bài viết thể hiện được quan điểm riêng một cách hợp lí, thuyết phục. Những bài viết chưa thật đủ ý, toàn diện nhưng trình bày được một số nội dung sâu sắc, có những kiến giải hợp lý cho những quan điểm riêng vẫn được đánh giá cao.

 

Hướng dẫn cụ thể và thang điểm

 

PHẦN I: ĐỌC HIỂU (3.0điểm)

Câu 1 (0.5 điểm): Nhân vật trữ tình của bài thơ là một người con đang bày tỏ tình cảm biết ơn với người mẹ của mình.

Câu 2 (1.0 điểm): Nghệ thuật đảo ngữ (đưa tính từ lặng rồi lên đầu câu) nhằm nhấn mạnh cái khắc nghiệt của trưa hè, đến cả con ve cũng “lặng” tiếng rồi vì cái nóng quá oi ả.

Câu 3 (1.0 điểm): Đây là câu hỏi kiểm tra năng lực cảm thụ của học sinh về tác phẩm. Có thể chấp nhận nhiều cách bày tỏ khác nhau nhưng phải làm nổi bật được đây là một hình ảnh so sánh đặc sắc về mẹ: “Mẹ là ngọn gió” – ngọn gió mát lành làm dịu êm những vất vả trên đường, ngọn gió bền bỉ theo con suốt cuộc đời. Hình ảnh thơ giản dị nhưng giúp ta thấy được tình thương yêu lớn lao, sự hi sinh thầm lặng, bền bỉ suốt cuộc đời mẹ đối với con.

Câu 4 (0.5 điểm): Chỉ cho điểm tối đa nếu học sinh ghi lại được chính xác từ hai câu thơ hoặc ca dao trở lên, nếu ghi được 1 câu thì cho 0,25 điểm

Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

(Ca dao)

–       Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa

Miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương

(Ca dao)

Chỉ mẹ là nguồn vui, ánh sáng diệu kì

  Chỉ mình mẹ giúp đời con vững bước

(Thư gửi mẹ – Êxênin)

–          Mẹ ru cái lẽ ở đời

Sữa nuôi phần xác, hát nuôi phần hồn

(Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa – Nguyễn Duy)

PHẦN II: LÀM VĂN (7.0 điểm)

Yêu cầu về kĩ năng:

Thí sinh biết cách viết một văn bản nghị luận. Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt lưu loát; lập luận thuyết phục, phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.

Yêu cầu về kiến thức:

Chấp nhận nhiều cách giải quyết đề bài nếu hợp lí và thuyết phục. Học sinh có những cách viết khác nhau. Có thể tham khảo các ý sau:

Nêu vấn đề cần nghị luận

Giải quyết vấn đề:

* Khách xuất hiện trong bài phú với tư thế của một con người có tâm hồn khoáng đạt, có hoài bão lớn lao

– Hành động và tư thế của nhân vật Khách

– Các địa danh nhân vật Khách đi qua

* Trước cảnh sắc sông núi vừa hùng vĩ, thơ mộng  vừa hoang vu hiu hắt, khách bộc lộ cảm xúc vừa vui sướng, tự hào, vừa buồn đau nuối tiếc, như một nốt nhạc trầm trong bản hùng ca về con sông Bạch Đằng linh thiêng.

– Vui sướng, tự hào trước cảnh sắc sông núi vừa hùng vĩ, thơ mộng

– Buồn đau nuối tiếc trước cảnh sắc sông núi hoang vu hiu hắt

* Tiếp nối lời bình luận và lời ca của Bô Lão, Khách cũng dành cho 2 vua trần những lời lẽ đẹp nhất.

* Nghệ thuật

Kết thúc vấn đề:

 

 

Thang điểm:

  • Điểm 6 – 7: Phân tích được hình tượng nhân vật Khách một cách sâu sắc, có năng lực vận dụng các kiến thức đã học vào làm văn một cách thuyết phục. Lập luận chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, có cảm xúc và sáng tạo, có thể còn vài sai sót không đáng kể về chính tả dùng từ.
  • Điểm 4 – 5: Cơ bản phân tích được hình tượng nhân vật Khách . Lập luận tương đối chặt chẽ; còn mắc một số lỗi về chính tả, dùng từ và ngữ pháp.
  • Điểm 2 – 3: Chưa phân tích được hình tượng nhân vật Khách; mắc nhiều lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp
  • Điểm 1: Chưa hiểu đề, sai lạc kiến thức; mắc rất nhiều lỗi về diễn đạt.
  • Điểm 0: Không làm bài hoặc lạc đề hoàn toàn.

 

Đề thi học sinh giỏi : Cảm hứng yêu nước trong văn học trung đại Việt Nam

Bộ đề ôn luyện thi học sinh giỏi môn Văn. Tổng hợp những đề thi học sinh giỏi Ngữ văn lớp 10

Đề ra: Về cảm hứng yêu nước của văn học Việt Nam thời Trung đại sách giáo khoa Ngữ    Văn 10 có viết:

“ Điều đáng lưu ý là văn thơ nói đến những nội dung yêu nước đã không chỉ tồn      tại ở dạng quan niệm, tư tưởng đơn thuần mà quan trọng hơn là sự tồn tại ở dạng cảm xúc, cảm hứng, tâm huyết với đủ màu vẽ và cung bậc”.

Hãy chứng minh và phân tích 1 số tác phẩm để làm sáng tỏ.

 

 BÀI LÀM

Trong dòng chảy của nền văn học dân tộc, cảm hứng yêu nước và cảm hứng nhân đạo tựa như hai mạch ngầm xuyên suốt, cuôn chảy qua bao chặng đường lịch sử. Đặc biệt trong thời kì văn học Trung đai trước nhiều biến cố lịch sử lòng yêu nước ấy lại hừng hực cháy trong tâm hồn các thi nhân để rồi tuôn trào nơi đầu bút lực những nỗi lòng,tâm sự ngân lên như những nốt nhạc trầm bổng trong 1 bản đàn. Có lẽ chăng xuất phát từ đó mà sách giáo khoa Ngữ văn 10 đã cho rằng:

“ Điều đáng lưu ý là văn thơ nói đến những nội dung yêu nước đã không chỉ tồn tại ở dạng quan niệm, tư tưởng đơn thuần mà quan trọng hơn là sự tồn tại ở dạng cảm xúc, cảm hứng, tâm huyết với đủ màu vẽ và cung bậc”.

Thế nào là cảm hứng yêu nước? Nói đến cảm hứng yêu nước là nói đến nội dung tình cảm trong mỗi tác phẩm tình văn học. Cảm hứng yêu nước được bộc lộ qua thơ bằng muôn hình vạn trạng. Đó là tình yêu quê hương, đất nước, yêu cảnh sắc thiên nhiên, xứ sở. Đó là ý chí chống xâm lăng vì khát vọng ấm no, hạnh phúc, được sống trong tự do, độc lập, hòa bình bền vững. Đó là niềm tự hào về truyền thống lịch sử, truyền thống văn hiến Việt Nam lâu đời, giàu bản sắc. Đó còn là ý thức tự lập, tự cường, xây dựng và bảo vệ đất nước muôn đời giàu đẹp.

Bước vào kỉ nguyên xây dựng quốc gia phong kiến độc lập sau hàng nghìn năm đô hộ, biểu hiện trước hết của tư tưởng yêu nước là ý thức tự cường, tự tôn dân tộc, ý thức về chủ quyền độc lập. Đó là lời thơ hào sảng trong “Nam quốc sơn hà” của Lí Thường Kiệt:

“Sông núi nước nam vua Nam ở

Rành rành định phận ở sách trời”.

Chủ quyền độc lập thiêng liêng bất khả xâm phạm được khẳng định qua những câu thơ chắc nịch, giọng thơ đanh thép, hùng hồn. Đó là một “bài thơ thần”, xứng đáng là Bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của đất nước Đại Việt.

Đến bài “Cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi- bản tuyên ngôn độc lập thứ hai, chân lí lịch sử ấy nâng lên ở một tầm cao mới với cái nhìn toàn diện, đầy đủ và sâu sắc hơn. Từ việc dừng lại ở việc khẳng định chủ quyền độc lập ở bài “Nam quốc sơn hà” thì bài “Cáo bình Ngô” đã tiếp nối và phát triển lên thành chân lí muôn đời: Đại Việt là đất nước có nền văn hiến lâu đời, có biên giới riêng, có phong tục tập quán riêng, có quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước vẻ vang và cùng tồn tại với các vương triều phong kiến phương Bắc. Sự phát triển ấy về khái niệm quốc gia dân tộc được thể hiện rõ nét qua tư tưởng lấy dân làm gốc, tập hợp sức mạnh của nhân dân để xây dựng lực lượng nòng cốt, tạo dựng sức mạnh chiến đấu và chiến thắng.

Với ý thức sâu sắc như vậy về quốc gia, dân tộc, khi tổ quốc bị xâm lăng, yêu nước là căm thù giặc sục sôi, là tinh thần quyết chiến quyết thắng để bảo vệ chủ quyền độc lập dân tộc, là đoàn kết toàn dân “Tướng sĩ một lòng phụ tử”, bền gan chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn.

Yêu nước không chỉ dừng lại ở đó, mà khi đất nước thanh bình, nội dung của tư tưởng yêu nước thể hiện ở khát vọng xây dựng đất nước hòa bình và hạnh phúc lâu bền:

“Thái bình nên gắng sức

Non nước ấy ngàn thu”.

Hai câu thơ thể hiện cho ước mơ, niềm tin vô hạn của tác giả và cũng là ước mơ ngàn đời của nhân dân về một đất nước thái bình, thịnh trị, trường tồn đến muôn đời. Đó là hào khí sục sôi, vang dội của một đời, của một thời, sáng ngời cả hồn thiêng sông núi, âm vang đến muôn đời.

Nhưng sức sống lâu bền của một tác phẩm văn chương khồn chỉ ở chỗ là chứa đựng nội dung tư tưởng đơn thuần mà điều cốt yếu hơn, quan trọng hơn là những nội dung, tư tưởng tồn tại ở dạng cảm xúc, cảm hứng, tâm huyết với đủ màu vẽ và cung bậc. Với những hoàn cảnh khác nhau, những cảnh ngộ khác nhau, cá tính sáng tạo khác nhau cảm hứng yêu nước được thể hiẹn dưới nhiều dọng điệu khác nhau. Mỗi tác phẩm là một nốt nhạc, có nốt trầm, có nốt bổng hòa quyện làm nên một bản anh hùng ca bất diệt, ca lên đến muôn đời âm vang của thời đại.

Đó là giọng điệu dõng dạc, hào sảng động vọng trong không gian với khí thế ngùn ngụt, hình ảnh thơ tráng lệ, kì vĩ trong bài thơ “Nam quốc sơn hà” của Lí Thường Kiệt:

“Sông núi nước nam vua Nam ở

Rành rành định phận ở sách trời”.

Là giọng thơ đĩnh đạc, lời văn rắn rỏi, chắc nịch như khắc, như tạc qua bài “Cáo bình Ngô”:

“Như nước Đại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

Núi sông bờ cõi đã chia

Phong tục Bắc Nam cũng khác

Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương”.

Những tình cảm nồng cháy như được khơi dậy qua từng câu, từng chữ, từng lời thơ, ánh lên trong tâm hồn mỗi người một niềm tự hào mãnh liệt về dáng đứng oai hùng của dân tộc trong lịch sử.

Ta như hừng hực bầu máu nóng trong những lời nói gan ruột của Trần Quốc Tuấn trong “Hịch tướng sĩ” : “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức chưa xả thịt, lột da, nuốt gan, uống máu quân thù. Dẫu trăm thây phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa ta cũng vui lòng”. Đó là nỗi đau đớn, xót xa đến xé lòng của vị tướng sĩ hét mực yêu nước. Để rồi từ khí thế xung thiên ấy ta như nghe vang vọng tiếng đồng thanh: “Quyết đánh!” của các bô lão trong Hội nghị Diên Hồng, như thấy rực cháy ánh lửa quân sĩ tướng tá sáng bừng dưới ánh trăng mài gươm giáo để xung trận, thích lên cánh tay hai chữ “Sát thát” với một ý chí kiên định. Tinh thần, ý chí sắt đá, kiên định ấy đã làm nên chiến thắng quân Mông- Nguyên vang dội núi sông trong lịch sử.

Nỗi căm thù, uất hận vút lên thành lời, thành những bản cáo trạng đanh thép: “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con nhỏ xuống dưới ầm tai vạ”, trở thành tiếng thét vang dội, thành lời thề quyết chiến:

“Ngẫm thù lớn hà đội trời chung

Căm giặc nước thề không cùng sống”.

Ta như thấy hiện lên trước mắy không gian hào hùng, khí thế, chiến công nối tiếp chiến công làm nên một bản tráng ca ngân lên cao vút, dài vô tận khi đọc những vần thơ hả hê của Nguyễn Trãi trong “Cáo bình Ngô”:

“Đánh một trận sạch không kình ngạc

Đánh hai trận tan tác chim muông

Cơn gió to trút sạch lá khô

Tổ kiến hỏng sụt toang đê vỡ…”

Giọng thơ cuồn cuộn như triều dâng thác đổ,. Niềm tự hào, kiêu hãnh, niềm vui sướng bất tận, hả hê tạo ra nhạc điệu bay bổng dồn dập, âm thanh giòn giã nối đuôi nhau mạnh mẽ như có gươm đao loảng xoảng trong một trận tuyến vang trời.

Nội dung yêu nước trong văn học trung đại được thể hiện bằng những cảm xác, giọng điệu đa dạng, không chỉ là lòng căm thù giặc sục sôi, tinh thần quyết chiến quyết thắng hừng hực, như một nét vẽ tinh tế mà sâu sắc về lòng yêu nước sự hổ thẹn trong bài thơ “Thuật hoài” của Phạm Ngũ Lão cũng là một cách tỏ bày độc đáo:

“Công danh nam tử còn vương nợ

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”.

“Thẹn” vì chưa trả hết nợ công danh, lập công báo quốc; thẹn vì chưa có được tài năng như Gia Cat Lượng để phò vua giúp dân. Nỗi “thẹn” ấy là biểu hiện cao đẹp cho lí tưởng sống, hoài bão sống lớn lao của người con trai đời Trần làm sáng bừng lên hào khí Đông A một thời.

Đó còn là nỗi niềm hoài vọng về quá khứ đã qua trước di tích vẫn còn để rồi tiếc ngậm ngùi trong lòng một niềm tiếc nuối:

“Đến nay sông nước tuy chảy hoài, mà nhục quân thù khôn rửa nổi”.

Là sự suy ngẫm về lẽ tồn vong của muôn đời, sự thành bại của sự nghiệp cũng ngân lên giọng điệu hùng tráng:

“Giặc tan muôn thuở thái bình

Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao”.

Và khi đất nước trở về thái bình, thịnh trị lòng yêu nước ấy lại hóa thân vào sông núi, một cành hoa, một cây cỏ, một cánh chim trời chao liệng:

“Nước biếc, non xanh, thuyền gối bãi

Đêm thanh nguyệt hạc, khách bên lầu”.

Trong cảnh nước mất nhà tan, nỗi đau đời, uất hận khi vận nước đổi thay dồn lại, nén chạt tạo nên giọng điệu trầm uất, bi tráng. Bài thơ “Cảm hoài” nổi tiếng của Đặng Dung với hai câu kết:

“Thù nước chưa xong đầu đã bạc

Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày”.

Đặng Dung đã kí thác cho đời thăm thẳm một nỗi đau đời, một niềm bi phẫn, trầm uất, đắng cay, xót xa vì người anh hùng sinh lầm thế kỉ. Hình ảnh một dũng tướng mái đầu đã bạc mải miết mài gươm dưới ánh trăng khơi gợi biết bao cảm xúc liên tưởng, chẳng khác nào “con ngựa già còn ham rong ruổi’. cái ánh sáng lóe lên trong câu thơ thần là ánh sáng vằng vặc của bóng trăng khuya giữa bầu trời mênh mông, bát ngát, cũng là ánh sáng lưỡi gươm chính khí chưa cất lên được để tiêu diệt kẻ thù, cũng là ánh sáng của tấm lòng yêu nước trung trinh của nhà thơ. Lời đã hết, bài thơ đã khép lời mà cảm xúc thơ vẫn lai láng, bồi hồi, xúc động. Đó là bài thơ có giọng điệu bi tráng bậc nhất trong thơ ca Việt Nam thời Trung đại- tiếng lòng của một dũng tướng chiến bại.

Sống trong những triều đại khác nhau, chịu sự chi phối khác nhau của lịch sử, đồng thời mỗi người với một tâm tính, một cá tính sáng tạo đã làm nên những cảm hứng riêng về cảm hứng yêu nước. Có nỗi buồn, có niềm vui, niềm say mê hứng khởi, có giận thương, có buồn tủi, có bâng khuâng hổ thẹn, có rạo rực hả hê…Nguồn cảm hứng vô tận được thể hiện bằng nhiều cách nói, nhiều giọng điệu riêng. Có giọng điệu hùng tráng ở nhiều cấp độ, hình thái khác nhau. Có giọng điệu bi tráng, phẫn uất thành tiếng than, lời gọi. Có giọng điệu nhẹ nhàng, say sưa trước cảnh sắc thiên nhiên, đất nước… Tất cả tạo nên sự đa thanh, đa sắc, thể hiện sâu sắc, phong phú nội dung tư tưởng yêu nước- một vẻ đẹp rực rỡ của tâm hồn dân tộc./.

Xem thêm : Tuyển tập đề thi học sinh giỏi môn văn có đáp án và bài văn mẫu : http://vanhay.edu.vn/hoc-sinh-gioi

Đề thi học sinh giỏi :Hào khí Đông A qua một số tác phẩm đã học

Bộ đề ôn luyện thi học sinh giỏi môn Văn. Tổng hợp những đề thi học sinh giỏi Ngữ văn lớp 10

Đề ra: Qua một số tác phẩm đã được học trong chương trình phổ thông anh chị hãy làm  sáng tỏ “ Hào khí Đông A”

BÀI LÀM

 

“ Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập” có triều đại nào không trải qua những cuộc chiến đấu chống ngoại xâm, có thời đại nào không vang dội những chiến công nức lòng, có người dân nào không sôi sục trong huyết quản một dòng máu yêu thương tha thiết. Tinh thần ấy được biểu hiện rõ nét qua Hào khí Đông a làm ngời sáng cả trang sử vàng dân tộc, kết đọng lại qua từng vần thơ bất hủ.

Trong tiếng Hán chữ Trần gồm hai bộ A và Đông, như vậy có thể hiểu Hào khí Đông A là hào khí thời nhà Trần, là chí anh hùng lẫm liệt thời đại nhà Trần, là không khí hào hùng của những trận chiến đấu và chiến thắng quân Mông – Nguyên xâm lược.

Thời đại nhà Trần(1225-1400) là một mốc son chói lọi trong bốn nghìn năm lịch sử của dân tộc ta với ba lần đánh thắng quân Nguyên – Mông. Làm sao có thể lí giải được những chiến thắng huyền thoại ấy của một đất nước nhỏ bé trước một thế lực tàn bạo như quân Mông – Nguyên; “ Vó ngựa Mông Cổ đi tới đâu cỏ cây chết rạp tới đó” nếu như không nghe qua những lời kể hùng tráng của các thi sĩ, những nỗi lòng của bậc tướng sĩ trướ thế sự quốc gia, hay đơn giản chỉ là một kẻ “ khách” không thôi. Tất cả đều rần rật cháy lên ngọn lử của Hào khí Đông A, ngùn ngụt một niềm kiêu hãnh tự hào:

“ Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu

Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu.”

(  Múa giáo non sông đã mấy thu

Ba quân hùng khí nuốt trôi trâu )

( “ Thuật hoài” _ Phạm Ngũ Lão)

 

Câu thơ dịch từ “ hoàmh sóc” bằng từ “ múa giáo” chưa thật sat nghĩa. “ Múa giáo” thiên về biểu diễn cung kiếm, tay nghề, gợi một vẻ phô trương, đưa chủ thể vào thế động làm mất đi cường độ, nội lực của hình ảnh thơ. Còn nguyên văn lời thơ là “ hoành sóc”-cắp ngang ngọn giáo, chỉ 2 tiếng mà đầy sức gợi, gợi một dáng đứng tự tin, kiêu hãnh, gợi một phong thái đường hoàng,đĩnh đạc, gợi một ý chí sắt, một tinh thần thép chủ động trước tình thế, sẵn sàng đối mặt với hiểm nguy. Tư thế ấy, dáng đứng ấy dường như bất tử khi đặt trong sự rộng lớn của núi sông. Đây không phải là một vị tướng trấn giữu một thành trì hay một vùng biên ải mà trấn giữ cả non sông, đất trời với tư thế hiên ngang, kì vĩ sánh với núi sông. Trước sự rộng lớn của đất trời con người không trở nên nhỏ bé mà ngược lại càng trở nên tầm vóc hơn, dường như trong tư thế “cắp ngang ngọn giáo” ấy con người đã làm chủ cả thiên nhiên, đất trời. Sức mạnh ấy lan tỏa từ chiều sâu chuyển sang chiều cao của không gian, từ một người mà tới muôn người: “ Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu”. Từ một thế đứng hiên ngang, điệu thơ đã thăng hoa một cách rực rỡ và tỏa sáng hào quang lên tận trời xanh, át cả ánh sáng sao Ngưu- một khí thế xung thiên đã đưa đất nước đi lên từ trong kiên cường, lầm than, vùng dậy từ trong biển máu để chiến thắng những thế lực cường bạo như quân Nguyên – Mông. Hào khí Đông A ấy không chỉ rần rật cháy qua những nỗi niềm sục sôi bầu màu nóng của lòng căm thù giặc, không chỉ hân hoan trong lòng tự hào, tự tôn dân tộc mà còn tha thiết qua chữ “thẹn”. “ Thẹn” là cái hổ thẹn, sự thẹn thùng và đặt trong trường hợp này vị tướng sĩ ấy đã “ thẹn” vì thấy kém cỏi trước tài năng của Gia Cát Lượng. Đó là một nỗi thẹn cao cả tiêu biểu cho chí khí người con trai đời Trần, nỗi “thẹn” ấy vì một lẽ thật lớn lao, “thẹn” vì chưa trả được nợ công danh, chưa báo đền nợ nước vì sức mạnh không được như Gia Cát Lượng giúp nhà Hán ngày xưa.

Hào khí Đông A không dừng lại ở lòng yêu nước, căm thù giặc, tinh thần quật khởi chóng xâm lăng, lòng tự hào, tự tôn dân tộc mà hơn thế nữa nó còn là khía cạnh tâm sự sâu kín của con người, cũng là tâm trạng của thế hệ trai tráng lúc bấy giờ. Lúc nào cũng canh cánh thù nhà nợ nước, cũng đặt sự nghiệp gánh vác sự an nguy của đất nước trên đôi vai của mình. Hào khí ấy đã làm nên những chiến thắng lẫy lừng lưu danh sử sách đến muôn đời, dội vào lòng mai hậu một niềm tự hào dấy lên một khí thế hào hừng của lịch sử khi đi qua những chiến địa mang huyền thoại của lịch sử dân tộc.

Cũng trong domngf mạc cảm xúc ấy Trần Quang Khải đã gợi lại những âm vang chiến trận với những chiến thắng lẫy lừng qua bài thơ “ Phò giá về kinh”:

“ Đoạt sáo Chương Dương độ

Cầm hồ hàm Tử quan

Thái bình tu trí lực

Vạn cổ thử giang san.”

Hai câu thơ đầu làm sống dậy không khí hào hùng, hồ hởi của hai cuộc kháng chiến diễn ra tại hai chiến địa oai hùng, thiêng liêng: Chương Dương, Hàm Tử. Những từ ngữ “cướp giá giặc”, “bắt quân thù” gợi lại chiến thắng oai hùng, chiến công nối tiếp chiến công. Tất cả dấy lên tjhành ngọn sóng đẹp đẽ nhấn chìm, cuốn trôi những thế lực quân thù mạnh như vũ bão. Từ những chiến thắng vang dội ấy tác giả thể hiện một niềm tin vô hạn, một ước mơ vĩnh hằng vào tương lai :

“ Thái bình tu trí lực

Vạn cổ thử giang san.”

Hai câu thơ thể hiện cho ước mơ của tác giả và cũng là ước mơ ngàn đời của nhân dân về một đất nước thái bình, thịnh trị, trường tồn đến muôn đời. Đó là hào khí sục sôi, vang dội của một đời, của một thời, sáng ngời cả hồn thiêng sông núi, âm vang đến muôn đời.

Bốn dòng thơ là sự kết tinh của hào khí thời đại, hừng hực, bừng sáng cả một trang vàng lịch sử. Sừng sững giữa đất trời một dáng đứng uy nghiêm, lẫm liệt của vị anh hùng, hiên ngang, sánh tầm vũ trụ giữa trận mạc binh đao.

Và để rồi hân hoan trong niềm vui thắng lợi ấy Trương Hán Siêu lại ngậm ngùi hạ bút, viết nên nỗi lòng qua những vần thơ “ Bạch Đằng giang phú”.  Đó là một bức tranh tuiyệt đẹp về hào khí một thời:

“Thuyền tàu muôn đội

Tinh kì phấp phới

Hùng hổ sáu quân

Giáo gươm sáng chói.”

Cả một chiến trận với một hùng khí mạnh mẽ, kiên cường dội về với núi sông, dội về với người đời sau bằng những vần thơ như tô, như vẽ. Dường như cả chiến địa bừng sáng bởi những chiến công khiến cho Trương Hán Siêu phải thốt lên trong niềm cảm khái:

“Khác nào

Trận Xích Bích quân Tào Tháo tan tác tro bay

Trận Hợp Phì, giặc Bồ Kiên hoàn toàn chết trụi.”

Niềm vui nối tiếp niềm vui, lòng tự hào tự tôn dân tộc ấy còn được nâng lên một tầm cao mới qua hai câu thơ:

“ Đến nay sông nước tuy chảy hoài

Mà nhục quân thù khôn rửa nổi.”

Dòng sống lấp lánh ánh lửa binh sĩ trong đêm với lời thề vang vọng, quyết đền nợ nước trả thù nhà, dòng sông như còn in máu quân thù khi bại trận, “giày xéo lên nhau mà chết”. Dòng chảy ấy sẽ chảy đến ngàn đời khắc ghi một thời kì hoàng kim của lịch sử.

Trong niềm hân hoan với núi sông, đắm chìm trên trận địa linh thiêng có màu cờ tổ quốc ấy, tác giả đã ca lên những vần thơ ngời sáng một chân lí đẹp đẽ:

“ Những người bất nghĩa tiêu vong

Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh”

Câu thư là một lời ca, một lời triết lí làm nên nét xoáy trong tâm hồn vị tướng sĩ -nhà thơ. Đồng thời lời thơ còn như khắc, như tạc sự vĩnh hằng, bất diệt của chiến thắng sông Bạch Đằng- một dòng sông chảy mãi đến muôn đời. Kết thúc tác phẩm là sự hụt hẫng cuỉa người anh hùng trước thời cuộc làm cho hào khí Đông A càng mang tính chất bi hùng của một công dân có trách nhiệm đối vợi nợ nước thù nha, lập công báo quốc.

Khi nhìn lại cả một chiều dài lịch sử chống ngoại xâm của nhân dân ta, nhà văn Nguyễn Thành Trung đã cảm khái mà thốt lên rằng: “ Nếu như phải vẽ lại lịch sử Việt Nam thì trang nào cũng phải vẽ một thanh gươm tự vệ và tô đậm một màu máu.” Thật vậy, Hào khí Đông A rừng rực trong lịch sử, bừng lên qua từng trang thơ và lan tỏa đến muôn đời. Vẫn là hào khí mạnh mẽ của hồn thiên sông núi ấy nhưng mõi tác phẩm là một tấc lòng riêng, một cá tính sáng tạo riêng làm nên sự đa dạng của văn học đời nhà Trần tiêui biểu cho hình ảnh người con trai đời Trần. Hào khí ấy đã tiếp thêm sức mạnh để ngọn sóng dân tộc cuộn trào quia từng trận chiến.

Xem thêm : Tuyển tập đề thi học sinh giỏi môn văn có đáp án và bài văn mẫu : http://vanhay.edu.vn/hoc-sinh-gioi

Tài liệu tích hợp liên môn :Chủ đề Giáo dục địa phương,Danh nhân Trương Hán Siêu và tác phẩm Phú sông Bạch Đằng

Tài liệu tích hợp liên môn :Chủ đề Giáo dục địa phương,Danh nhân Trương Hán Siêu và tác phẩm Phú sông Bạch Đằng

Chủ đề: Giáo dục địa phương: 

Danh nhân Trương Hán Siêu và tác phẩm Phú sông Bạch Đằng.

Mục tiêu bài học:

Giúp HS:

– Có những hiểu biết về thời đại nhà Trần, cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông; vai trò của Ninh Bình trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông; cuộc đời và sự nghiệp của Trương Hán Siêu, đóng góp với đất nước.

– Nắm được những nội dung cơ bản của tác phẩm “Phú sông Bạch Đằng”: suy ngẫm về lịch sử; tình yêu tha thiết với quê hương đất nước, tự hào về lịch sử; khẳng định vai trò của con người trong lịch sử. Nắm được đặc trưng của thể loại phú.

– Rèn kĩ năng làm văn thuyết minh.

– Rèn luyện kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng phân tích, tổng hợp, thuyết trình.

– Bồi đắp tình yêu, trách nhiệm với quê hương đất nước; ý thức nỗ lực vươn lên trong cuộc sống.

Nội dung tích hợp liên môn:

– Lịch sử: Lịch sử 7, bài 13: Nước Đại Việt thế kỉ XIII; Lịch sử 7, bài 14: Ba lần kháng chiến chống quân Nguyên – Mông xâm lược; Lịch sử 10, bài 19: Những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm thế kỉ X-XV.

– Tiếng Anh: Tiếng Anh 10, bài 8, tiết 7: Thuyết trình về một số khía cạnh văn hoá của Việt Nam

– Ngữ văn: Ngữ văn 10, bài: Phú sông Bạch Đằng.

C.Cấu trúc bài học:

  1. Bối cảnh lịch sử, thời đại.
  2. Sơ lược về triều đại nhà Trần và cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông.
  3. Vai trò của quê hương Ninh Bình trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông.
  4. Cuộc đời, sự nghiệp của Trương Hán Siêu

III. Tác phẩm Phú sông Bạch Đằng.

  1. Sông Bạch Đằng trong văn thơ trung đại:
  2. Hoàn cảnh sáng tác bài Phú sông Bạch Đằng.
  3. Nội dung bài phú:
  4. Hình tượng nhân vật khách:
  5. Câu chuyện của các bô lão.
  6. Lời ca của các bô lão, của khách
  7. Tổng kết:
  8. Ý nghĩa, giá trị của bài Phú sông Bạch Đằng.
  9. Bài học rút ra:
  10. Thời lượng: 03 tiết (02 tiết Phú sông Bạch Đằng + 01 tiết Tiếng Anh Thuyết trình về một vấn đề văn hoá Việt Nam.)
  11. Cách thức tổ chức và phương pháp dạy học:

Dạy học theo dự án kết hợp dạy học theo nhóm và dạy học truyền thống

– GV chia nhóm, giao công việc, hướng dẫn HS làm việc.

– HS làm việc theo nhóm, tìm kiếm, thu thập thông tin, tổng hợp, viết báo cáo (dạng powerpoint) và trình bày sản phẩm.

– GV chia nhóm HS trong tiết học, đưa ra câu hỏi gợi ý, HS thảo luận, trình bày.

– GV bổ sung, nhận xét, chốt lại kiến thức.

– Phát vấn – đàm thoại trong các câu hỏi liên hệ, mở rộng.

Tiến trình dạy học

Tiết 1:

Hoạt động 1: Xác định chủ đề. (20 phút)

Tiểu chủ đề 1: Một thời đại hào hùng (Sơ lược về triều đại nhà Trần và cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông xâm lược, đặc biệt là chiến công trên sông Bạch Đằng – Hoàn cảnh lịch sử gắn với cuộc đời của Trương Hán Siêu)

Tiểu chủ đề 2: Vai trò của Ninh Bình trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông xâm lược.

Tiểu chủ đề 3: Người con ưu tú của đất Ninh Bình (cuộc đời và sự nghiệp của Trương Hán Siêu)

Tiểu chủ đề 4: Thể loại phú, các tác phẩm thơ ca viết về sông Bạch Đằng, hoàn cảnh sáng tác bài Phú sông Bạch Đằng.

Tiểu chủ đề 5: Hình tượng nhân vật “khách” trong bài Phú sông Bạch Đằng: khát vọng và tâm sự.

Tiểu chủ đề 6: Câu chuyện của các bô lão và ý nghĩa của các bài ca trong bài Phú sông Bạch Đằng.

Hoạt động 2: Các nhóm xây dựng kế hoạch làm việc (25 phút)

Hình thức: theo nhóm

Kĩ thuật: tổ chức nhóm.

*Xây dựng đề cương:

– Các nhóm dưới sự hướng dẫn của GV sẽ cùng xây dựng phác thảo đề cương các vấn đề cần giải quyết đối với từng chủ đề. HS cùng nhóm thảo luận, thống nhất đề cương.

Tiểu chủ đề 1: Một thời đại hào hùng. Vận dụng lí thuyết văn thuyết minh để xây dựng bài thuyết trình về:

+ Sơ lược về thời đại nhà Trần: thời gian tồn tại, các đời vua, những đóng góp.

+ Sơ lược về cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông: đã diễn ra mấy lần, ở đâu, kết quả, ý nghĩa; trận chiến trên sông Bạch Đằng đã diễn ra như thế nào: tại sao chọn sông Bạch Đằng, kết quả, nguyên nhân thắng lợi.

+ Bối cảnh thời đại có ảnh hưởng như thế nào đến con người Trương Hán Siêu?

+ Chiến thắng của nhà Trần gợi suy nghĩ gì về trách nhiệm của bản thân với đất nước?  (Khuyến khích thể hiện nhận thức của bản thân bằng một vài bức tranh với chủ đề “Chung tay xây dựng, bảo vệ Tổ quốc”)

Tiểu chủ đề 2: Vai trò của Ninh Bình trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông. Vận dụng lí thuyết văn thuyết minh xây dựng bài thuyết trình về:

+ Vị trí địa lí của Ninh Bình trong thời kì kháng chiến chống quân Nguyên-Mông.

+ Những đóng góp của Ninh Bình trong cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông.

+ Ảnh hưởng của quê hương Ninh Bình đến con người Trương Hán Siêu.

+ Mảnh đất Ninh Bình anh hùng gợi suy nghĩ gì về trách nhiệm của mỗi người với quê hương.

Tiểu chủ đề 3: Người con ưu tú của đất Ninh Bình. Vận dụng lí thuyết văn thuyết minh và kiến thức Tiếng Anh để xây dựng bài thuyết trình (bằng Tiếng Việt và tiếng Anh) về:

+ Quê hương, gia đình của Trương Hán Siêu. Con đường học hành, đỗ đạt của Trương Hán Siêu.

+ Đóng góp của Trương Hán Siêu trong sự nghiệp chống xâm lược; đóng góp của Trương Hán Siêu với nền văn học nước nhà.

+ Sự ghi nhận và tưởng nhớ của nhân dân Ninh Bình đối với Trương Hán Siêu.

(Đi thực tế tại đền thờ Trương Hán Siêu và trường THCS Trương Hán Siêu– Thành phố Ninh Bình).

+ Cuộc đời Trương Hán Siêu giúp em có được những bài học gì?

Tiểu chủ đề 4: Thể loại phú, sáng tác về sông Bạch Đằng và hoàn cảnh ra đời của bài Phú sông Bạch Đằng. Vận dụng lí thuyết văn thuyết minh để xây dựng bài thuyết trình về:

+ Khái niệm, đặc trưng của thể loại phú.

+ Sưu tầm các sáng tác về sông Bạch Đằng trong văn học trung đại.

+ Hoàn cảnh ra đời của bài Phú sông Bạch Đằng. Hoàn cảnh ấy giúp người đọc hiểu thêm gì về nội dung bài phú.

Tiểu chủ đề 5: Hình tượng nhân vật “khách” trong bài Phú sông Bạch Đằng: khát vọng và tâm sự tập trung vào các vấn đề sau:

+ Nhân vật “khách” trong thể phú thường là nhân vật như thế nào?

+ Liệt kê các hình ảnh xuất hiện trong đoạn mở đầu? Từ đó nhận xét về không gian, thời gian trong đoạn mở đầu? Các hình ảnh này là hình ảnh tượng trưng, ước lệ hay tả thực? Hé mở điều gì về tâm hồn của nhân vật khách?

+ “Khách” đi để thưởng ngoạn, ham vui hay còn nhằm mục đích gì khác? Câu nào thể hiện điều đó? (trích dẫn cụ thể và sử dụng kiến thức lịch sử để giải thích về nhân vật được nhắc đến trong câu)

+ Trong đoạn thơ nói về việc khách đến thăm sông Bạch Đằng, hãy so sánh hệ thống hình ảnh của đoạn thơ này với đoạn trước (tượng trưng, ước lệ hay tả thực)? Bức tranh thiên nhiên ở đây hiện lên như thế nào?

+ Tìm các từ ngữ, các câu thể hiện tâm trạng của nhân vật “khách”? Tâm trạng đó là gì? Hãy dùng những kiến thức về cuộc đời Trương Hán Siêu để cắt nghĩa, lí giải tâm trạng đó.

+ Tâm trạng của “khách” cho thấy “khách” là người như thế nào?

(Khuyến khích minh hoạ cảm nhận về nhân vật khách thể hiện bằng tranh)

Tiểu chủ đề 6: Câu chuyện của các bô lão và ý nghĩa các bài ca tập trung vào những vấn đề sau:

+ Nhân vật các bô lão xuất hiện vào thời khắc nào? Tạo ra nhân vật này, tác giả nhằm mục đích gì?

+ Em có hình dung gì về trận Bạch Đằng qua lời kể của các bô lão? (Sử dụng kiến thức lịch sử để so sánh trận đánh được kể lại với trận đánh được ghi lại trong lịch sử?)

+ Trận đánh đó được miêu tả bằng những biện pháp nghệ thuật nào?

+ Qua cách kể về trận đánh có thể thấy được tài đức của vua tôi nhà Trần ra sao? Thái độ, tâm trạng của các bô lão cũng là của “khách” như thế nào?

+ Trong lời bình luận về chiến thắng, các bô lão đã chỉ ra những nguyên nhân nào của thắng lợi? Nguyên nhân nào được nhấn mạnh? Sự nhấn mạnh như vậy thể hiện điều gì?

+ Cảm nhận về lời ca của khách, của các bô lão? Lời ca ấy khẳng định điều gì?

Lưu ý: Cộng điểm sáng tạo cho các nhóm nếu có thêm sản phẩm là thơ, truyện ngắn, bài hát tự sáng tác về chủ đề dự án.

* GV nhận xét, đánh giá bổ sung đề cương của các nhóm

*GV cùng với HS thống nhất xác định các nguồn tài nguyên cung cấp thông tin cho hoạt động nhóm: sách Lịch sử về triều đại nhà Trần, SGK Lịch sử, sách địa lí về Ninh Bình, SGK Ngữ văn 10, thông tin trên mạng… GV hướng HS vào việc ghi chép rõ các nguồn thông tin trích dẫn.

* Các nhóm phân công nhóm trưởng và công việc cho từng thành viên trong nhóm.

* GV hướng dẫn cụ thể cách thức làm việc và những tiêu chí đánh giá cụ thể đối với từng cá nhân, từng nhóm:

  1. Các nhóm tự đánh giá ý thức, năng lực làm việc, hợp tác nhóm của từng thành viên trong nhóm.
  2. Các nhóm và giáo viên cùng đánh giá hiệu quả hoạt động nhóm của từng nhóm thông qua các hoạt động hàng ngày.
  3. Các nhóm và giáo viên cùng đánh giá chất lượng của sản phẩm của từng nhóm thông qua báo cáo sản phẩm.
  4. Kết quả tổng hợp của từng cá nhân gồm:

+ Kết quả tự đánh giá từng thành viên trong nhóm (Do thư ký của từng nhóm tổng hợp)

+ Kết quả sản phẩm của từng nhóm

*GV cũng chú ý các nhóm cần có sự trao đổi trong quá trình làm việc vì một số vấn đề cần sử dụng kiến thức từ nhóm khác để giải quyết; đặc biệt giữa các nhóm được phân công phản biện lẫn nhau.

Hoạt động 3: Thực hiện dự án. (HS tiến hành làm việc ở nhà)

Hình thức: theo nhóm.

Kĩ thuật: dạy học dự án.

– Các nhóm và các cá nhân làm việc trong thời gian 1 tuần theo sự phân công của nhóm.

Thời gian Nội dung công việc
Ngày 1,2 Cá nhân thu thập thông tin cho vấn đề được phân công trả lời
Ngày 3,4 Cá nhân sử dụng thông tin đã có để hoàn thành vấn đề được phân công.
Ngày 5 Họp nhóm, cá nhân trình bày kết quả làm việc. Nhóm góp ý.
Ngày 6,7 Nhóm thống nhất nội dung trình chiếu

– Thu thập tài liệu, thông tin về triều đại nhà Trần, về địa phương Ninh Bình, về cuộc đời, sự nghiệp của Trương Hán Siêu, về tác phẩm Phú sông Bạch Đằng thông qua sách vở, qua mạng Internet.

– Tổng hợp kết quả: các thành viên hoàn thành thu thập tài liệu, trình bày trước nhóm. Nhóm góp ý, bổ sung.

– Xử lí toàn bộ thông tin thu thập được: các thành viên khớp các phần thông tin thành bản tổng hợp, sử dụng các thông tin để giải quyết các vấn đề trong chủ đề. – Nhóm thảo luận để thống nhất các vấn đề thành báo cáo hoàn chỉnh và đưa thông tin lên các slide để trình chiếu.

Hoạt động 4: Trình bày sản phầm, thảo luận, thống nhất. (70 phút)

Hoạt động 5: Đánh giá (15 phút)

Hoạt động 6: Củng cố, hướng dẫn học bài (5 phút).

Tài liệu sưu tầm

Xem thêm  tài liệu về bài Phú sông Bạch Đằng- Trương Hán Siêu : Phú sông Bạch Đằng

Ôn tập bài Phú sông Bạch Đằng- Trương Hán Siêu

Phần 1 : Kiến thức cơ bản về bài Phú sông Bạch Đằng- Trương Hán Siêu

Phần 2 : Tổng hợp các dạng đề thi về bài Phú sông Bạch Đằng- Trương Hán Siêu

VỀ TÁC GIẢ

Trương Hán Siêu (? -1354), tự là Tháng Phủ, người làng Phúc Thành, huyện  Yên Ninh (nav thuộc thành phố Ninh Bình), vốn là người được Trần Hưng Đạo tin dùng. Ông tính tình cương trực, học vấn uyên thâm, nhân cách cao quý nên được các vua Trần tin cậy, nhân dân kính trọng.

Thời Trần, ông giữ chức Hàn lâm học sĩ qua mấy triều. Năm 1351, ông được  thăng Tham tri chính sự. Khi mất, ông được vua ban tước hiệu và cho thờ ở Văn Miếu (Hà Nội).

Tác phẩm của ông để lại không nhiều, hiện còn bốn bài thơ và ba bài văn, trong đó có bài Phú sông Bạch Đằng.

VỀ TÁC PHẨM

Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu là một trong nhiều tác phẩm thời đó viết về sông Bạch Đằng lịch sử – con sông gắn liền với tên tuổi Ngô Quyền năm 938 và đặc biệt là với “hai vị thánh quân” Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông và Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn trong lần thứ ba đánh tan giặc Mông – Nguyên (năm 1288). Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu mang cảm hứng hào hùng và bi tráng. Đây là một tác phẩm đặc sắc của văn học trung đại Việt Nam.

Phú sông Bạch Đằng được viết theo thể cổ phú. Bản dịch đưa vào SGK giữ được nguyên điệu, chỉ hai bài ca kết bài được Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến và Bùi Văn Nguyên chuyển sang thể lục bát

MỘT số KHÁI NIỆM CẦN LƯU Ý

Phú là một loại văn cổ của Trung Quốc, vào Việt Nam từ sớm nhưng được vận dụng trong sáng tác từ thời Trần. Phú có thể được viết bằng văn vần, hoặc xen lẫn văn vần và văn xuôi nhằm miêu tả phong cảnh, kể sư viêc  bàn chuyện đời,…

Có hai thể phú :

  • Phú cổ thể có  trước thời Đường, đặc trưng chủ yếu là mượn hình thức chủ – 1 khách đốì đáp để bày tỏ diễn đạt nội dung, câu có vần, không nhất thiết có đối 1 kết bằng thơ. Bô’ cục thường có bố n đoạn : mở, giải thích, bình luận, kết.
  • Phú cận thể (phú Đường luật) xuất hiện từ thời Đường, có vần, có đôi, theo luật bằng trắc. Bô” cục thường có sáu đoạn.
  1. Tìm hiểu bố cục bài phú

Bài Phú sông Bạch Đằng gồm bốn đoạn :

  •  Đoạn 1 từ đầu đến ” luống còn lưu”: cảm xúc của “khách” trước cảnh sông Bạch Đằng.
  • Đoạn 2 (từ “Bên sông các bô lão” đến “nghìn xưa ca ngợi”) : Các bô lão kể lại các chiến tích trên sông Bạch Đằng.
  • Đoạn 3 (từ “Tuy nhiên : Từ có vũ trụ” đến “chừ lệ chan”) : Các bô lão bình luận về nguyên nhân chiến thắng trên sông Bạch Đằng.
  • Đoạn 4 (đoạn còn lại) : Tác giả khẳng định, đề cao vai trò, đức độ của con người Đại Việt.

BỐ cục của bài Phú sông Bạch Đằng mang đặc điểm tiêu biểu của bài phú cổ thể như đã nói ở trên. Hệ thống cấu tứ theo lối kể chuyện khách quan : tác giả để nhân vật “khách” đứng ra kẽ về những điều mình quan sát và suy nghĩ; hết lời kể thì “bô lão” ở địa phương kể cho “khách” nghe về chiến công thuở trước, sau đó là cất lời ca và “khách” cũng ca nối tiếp.

  1. Nhân vât “khách”

“Khách” được giới thiệu tập trung ở đoạn 1 của bài phú. Hiện lên qua hàng loạt hình ảnh, hoạt động trải rộng về không gian, liên hoàn về thời gian (“giương buồm”, “lướt bể”, “sớm gõ thuyền”, “chiều lần thăm”,…) là một con người có tâm hồn phóng khoáng, tự do :

Nơi có người đi, đấu mà chẳng biết.

Đầm Vân Mộng chứa vài trăm trong dạ cũng nhiều,

Mà tráng chí bốn phương vẫn còn tha thiết

Đó cũng là một người thích ngao du sơn thuỷ, muốn đêh nhiều nơi, muôn đi nhiều chỗ không chỉ để thưởng ngoạn vẻ đẹp của non sông gấm vóc mà còn đê tìm hiểu lịch sử của dân tộc. Những nơi đêh và điểm dừng của “khách” được nhắc tới chỉ có tính khái quát, ước lệ ngụ ý nói rằng nhân vật “khách” học Tử Trường — Tư Mã Thiên thú tiêu dao, đến sông Bạch Đằng để nghiên cứu lịch sử dân tộc.

Nhiều người bảo “khách” là cái tôi” của Trương Hán Siêu, là sự phân thân của tác giả Phú sông Bạch Đằng. Có lẽ lúc viết bài phú này ông là trọng thần của nhà Trần, lúc vương triều đang có biểu hiện suy thoái ? Cho nên, khi có dịp du ngoạn Bạch Đằng — một di tích lịch sử lừng danh, nơi quân ta đã hai lần chiến thắng quân xâm lược phương Bắc, Trương Hán Siêu vừa tự hào, vừa hoài niệm nhớ tiếc anh hùng xưa. Nếu ở phần trên, cách miêu tả mang tính ước lệ, thì đến đây, tác giả đưa người đọc về cảnh thực với những cái tên cụ thể : cửa Đại Than, bến Đông Triều, sông Bạch Đằng,… Con thuyền chở “khách” càng tiến sâu vào con sông Bạch Đằng, hình ảnh con sông, qua tâm trạng “khách”, vừa vĩ đại hoành tráng vừa hiu hắt, vắng lặng :

Bát ngát sóng kình muôn dặm,

Thướt tha đuôi trĩ một màu.

Nước trờỉ: một sắc, phong cảnh: ba thu.

Với sự hồi tưỏng của một kẻ sĩ nặng lòng ưu hoài trước thắng cảnh thiên nhiên mang đầy chiến tích, quá khứ vệ vang nhưng đau thương gắn với con sông Bạch Đằng như lại hiện về đến từng chi tiết: “Sông chìm giáo gãy, gò đầy xương khô”.

Sự chuyển đổi cấu trúc mạch văn ỏ cuối đoạn 1 có liên quan hay là để thể hiện tâm trạng nhân vật “khách” ? Có lẽ cả hai.

Buồn vì cảnh tiiảm, đứng lặng giờ lâu.

Thương nối anh hùng đâu vắng tá,

Tiếc thay dấu vết luống còn lưu

Trước cảnh sông Bạch Đằng, một tâm hồn phóng khoáng, một tính cách mạnh như “khách” trở nên ưu tư, đầy ắp hoài niệm và sững sờ tiếc nuối. Với một hồn thơ trác việt như Trương Hán Siêu, nhân vật “khách” vốn khô khan và có tính công thức — theo đặc trưng thể phú, trở thành một tính cách sinh động bộn bề tâm trạng.

  1. Hình tương các “bô lão”

a) Đoạn trên nhân vật “khách” kể về những điều mình quan sát, suy nghĩ khi ngược bến Đông Triều đến sông Bạch Đằng. Đến đây, “khách” gặp và được nghe các “bô lão” địa phương kể lại các chiến công của quân dân ta trên sông Bạch Đằng. Hình ảnh các “bô lão” ồ đoạn 2 xuât hiện một cách tự nhiên, tạo không khí đối đáp giữa vị “khách” với nhân dân ven sông Bạch Đằng cũng rất tự nhiên.

Theo lời kể của các “bô lão”, hai chiến công vang dội thời Ngô Quyền (938) và thời Trần Hưng Đạo được gợi lên bằng lời lẽ trang trọng, những kì tích trên sông được liệt kê trùng điệp :

Đây là nơi chiến địa buổi Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô Mã,

Cũng là bãi đất xưa, thuở trước Ngô chúa phá Hoằng Thao

Không khí chiến trận được miêu tả bằng hình ảnh đối nhau, miêu tả thế giằng co quyết liệt giữa quân ta và quân xâm lược :

Thuyền bè muôn đội tinh kì phấp phới,

Hùng hổ sáu quân, giáo gươm sáng chói.

Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ,

Bầu ứời đất chừ sắp đổi.

Sự thất bại thảm hại của bọn xâm lược được tác giả (qua lời kể của các “bô lão”) diễn tả bằng những hình ảnh, điển tích gắn liền với một số sự kiện và nhân vật lịch sử Trung Quốc (trận Xích Bích, trận Hợp Phì, Lã Vọng, Hàn Tín,…) nhằm so sánh và đề cao tầm vóc của dân tộc và tài trí của các bậc quân vương đất Việt.

Kết quả là, nhờ có chiến thắng năm 938 trên sông Bạch Đằng mà Ngô Quyền đưa nước ta thoát khỏi ngàn năm Bắc thuộc, bước vào thời kì độc lập. Và cũng trên dòng sông này (sau chiên công của Ngô Quyền mây trăm năm), nhà Trần đưa chế độ phong kiên nước ta phát triển hưng thịnh. Đoạn 2 có âm hưởng như một bài anh hùng ca.

b) Các “bô lão” bình luận về nguyên nhân của các chiến công trên sông Bạch Đằng

Các “bô lão” nêu lên ba yêu tô’ cơ bản làm nên chiên thắng, đặc biệt là ba lần đánh tan quân Mông – Nguyên:

+ Địa lợi: “Trời đất cho nơi hiểm trở”.

+ Nhân hoà: “Nhân tài giữ cuộc điện an”, tức là có nhiều người tài giỏi thuận lòng giúp nên giữ được nước, giữ được triều đại (như Lã Vọng giúp lập ra nhà Chu, Hàn Tín giúp lập nên nhà Hán), ơ đây ngầm chỉ vai trò quân sư của Thái sư Trần Quang Khải và vai trò thông lĩnh quân sự của Quốc công tiết chê Hưng Đạo Đại Vương Trần Quổíc Tuấn.

+Thiên thời: “BỞi đại vương coi thế giặc nhàn”. Chi tiết này nhắc lại câu trả lời của Hưng Đạo Vương khi vua Trần Nhân Tông hỏi ông trước nguy cơ quân Mông  Nguyên lần thứ ba xâm lược nước ta. Thực tế lịch sử chứng minh đúng như vậy : quân ta càng đánh càng trưởng thành, binh hùng tướng mạnh; lần thứ ba lực lượng quân xâm lược yêu đi nhiều ; vì vậy, chỉ cần một trận quyết định đánh tan thuyền lương của giặc trên sông Bạch Đằng là đại thắng.

.

Kết thúc đoạn 3, tác giả viết :

Đến bên sông chừ hổ mặt

Nhớ người xưa chừ lệ chan.

Theo cấu tứ của phú thì đây là lời của các “bô lão” nói với “khách”. Nhưng trước con sông lịch sử Bạch Đằng, dường như “chủ” (các “bô lão”) và “khách” có chung một niềm hoài cảm.

  1. Đoạn kết bàỉ phú

Niềm tự hào về những chiến công lịch sử hào hùng gắn liền với niềm tự hào về truyền thống nhân nghĩa của dân tộc. Đoạn kết bài Phú sông Bạch Đằng thể hiện rõ niềm tự hào về truyền thống đạo lí của dân tộc Việt Nam qua hai lời ca : lời ca của các “bô lão” và lời ca của “khách”.

  • Lời ca của các “bô lão” : Khẳng đinh quy luật tự nhiên, sự tồn tại vĩnh hằng của dòng sông Bạch Đằng với những chiên công hiên hách nơi đẫy, đồng thời khẳng định sự tồn tại vữứì hằng của chân lí lịch sử : bất nghĩa (như Lưu Cung) thì tiêu vong, anh hùng (như Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo) thì lưu danh, “tiếng thơm còn mãi, bia miệng không mòn”.
  • Lời ca của “khách” tiếp nối lòi ca của các “bô lão” ca ngợi sự anh minh của Thượng hoàng Trần Thánh Tông và nhà vua Trần Nhân Tông cũng như những chiến tích của con sông Bạch Đằng lịch sử. Đặc biệt hai câu kết, thể hiện quan niệm về yếu tô” quyết định toong công cuộc đánh giặc giữ nước : ta đánh thắng giặc không chỉ ở “đất hiểm” mà quan trọng là người cầm quân có “đức cao”.

Giặc tan muôn thuở thăng bình

BỞi đâu đất hiểm cốt mình đức cao.

Đó là một quan niệm tiến bộ, có ý nghĩa nhân văn của tác giả.

(Tài liệu trong sách tham khảo, tác giả Nguyễn Kim Phong chủ biên, NXB GD)

CÁC DẠNG ĐỀ THI VỀ BÀI PHÚ SÔNG BẠCH ĐẰNG -TRƯƠNG HÁN SIÊU

Dạng 1 : Cảm nhận, phân tích đoạn trích. Trong bài phú , đoạn nào cũng quan trọng, trong đó các em chú ý đoạn 3 và 4 nhiều hơn.

Dạng 2 : Nghị luận ý kiến bàn về tác phẩm : Đề bài trích dẫn 1 ý kiến, 1 nhận định yêu cầu học sinh chứng minh nhận định đó .

Dạng 3 : Cảm nhận về 1 khía cạnh thuộc nội dung hoặc nghệ thuật của văn bản , ví dụ : tư tưởng nhân văn, lòng yêu nước thể hiện như thế nào trong bài phú?

Dạng 4 : Văn thuyết minh : Đề bài yêu cầu viết bài văn thuyết minh về Trương Hán Siêu và bài Phú sông Bạch Đằng.

Dạng 5: Một số câu hỏi phụ,  liên hệ thực tế…

Trong những dạng bài tập   trên thì dạng 4 sác xuất thi và kiểm tra nhiều hơn, vì kì 2 lớp 10 học văn thuyết minh.
Câu hỏi và bài tập tham khảo :

( Còn nữa, cô đang soạn nhé )