Hình ảnh con người Nam Bộ qua truyện Những đứa con trong gia đình

Đề bài : Phân tích Hình ảnh con người Nam Bộ qua truyện ngắn Những đứa cơn trong gia đình của Nguyễn Thi.

Bài văn tham khảo

Mở bài Những đứa con trong gia đình

[…] Truyện ngắn (Những đứa con trong gia đình) đã khắc họa thành công hình tượng những con người trong một gia đình nông dân Nam Bộ có truyền thống yêu nước thương nhà, căm thù giặc sâu sắc, thuỷ chung son sắt vói cách mạng, gắn bó máu thịt với quê hương. Trong dòng sông truyền thống gia đình ấy “mỗi người một khúc?’, không ai giống ai nhưng chung một nguồn nước và “trăm sông đổ về biển, con sông của gia  đình ta cũng chảy về biển”. Chú Năm chính là khúc thượng nguồn,

Thân bài

1. Nhân vật chú Năm

Nhân vật chú Năm- hình tượng kết tinh truyền thống của một gia đình Chú Năm xuất hiện như con người của đất đai, sông nước, kênh rạch, nồng nàn hơi thở Nam Bộ. Chú là người nông dân từng trải “đi đây đi đó nhiều” và cũng “ham sông ham biển”. Mỗi lời nói của chủ Năm giản dị, môc mac. nhưng sâu xa ý nghĩa, như đúc kết lại một nhận xét có rinh triết lí, không phải thứ triết lí sách vở, mà triết lí cuộc đời. Chú ví “chuyện gia đình ta nó cũng dài như con sông, để rồi chú chia cho mỗi người một khúc mà ghi vào đó”. Trong phép ví von mộc mạc, cụ thể ấy, Chú Năm muôn nói rằng: con cháu là sự nối tiếp huyết thống và truyền thống của một gia đình; muốn hiểu một người phải hiếu truyền thống và cội nguồn của gia đình sinh ra người ấy.

Bản thân chú Năm cũng là người chuộng đạo nghĩa, thường trực trong chú là tình thần “trọn tình nhà, vẹn nghĩa nước”. Hài lòng với những lo toan, thu xếp của hai cháu, chú Năm khen: “Việc nhà nó thu được gọn thì việc nước nó mở được rộng, gọn bề gia thế, đặng bề nước non”. Âm vang trong lời chú là đạo lí của người dân nước ta truyền lại từ ngàn xưa. Đọc truyện, ta thấy chú Năm luôn hướng về truyền thống, vun đắp bề dày cho truyền thống, giữ gìn cho truyền thông bằng câu hò và cuốn sổ: “Chú hay kể sự tích của gia đình và cuối câu chuyện, thế nào chú cũng hò lên mây câu”, “những câu nói về cuộc đời cơ cực của chú và những chiến công của đất này”. Trong câu hò của chú Năm có đủ cả trời sao, sông nước, con người,tấm áo , ngọn đèn… như là ngọn nguồn, là hồn thiêng của đất nước, của cha ông đang nhập vào chú Năm mà truyền đến các thế hệ sau: “Theo từng câu hò, khi thì Việt biến thành tâm áo vắt quàng hoặc con sông dài cá lội của chú, khi thì Việt biến  thành người nghĩa quân Trương Định ngọn đèn biển Gò Công, hoặc ngôi sao sáng ở Tháp Mười”.

 

Cuốn sổ gia đình trong tay chú Năm là một cuốn gia phả đặc biệt, ở đó mỗi dòng, thậm chí mỗi chữ đều có máu và nước mắt. Chú năm là người thư kí trung thành, là tác giả của cuốn biên niên sử ấy. Chữ viết của chú “lòng còng’, lời văn thô mộc, nhưng kĩ càng, tỉ mỉ, chú ghi lại không thiếu một chút nào nỗi đau thương của từng người trong gia đình và tội ác của quân giặc. Đó là việc ông nội bị lính tổng Phòng bắn vào giữa bụng; chuyện bọn lính chửi bác Hai một câu, ngày bà nội bị chúng đánh ba roi; ngày thím Năm bị bắn bể xuồng khi đi rọc lá chuối “chết còn mặc cái quần mới, trong túi  có hai đồng bạc”… Đó là những bằng chứng về tội ác của kẻ thù và truyền thống dũng cảm, can trường của dòng họ trong chiến đấu. Chính thế hệ trẻ như Chiến và Việt sẽ là người viết iếp những trang mới, vẻ vang cho truyền thống,cho nên chú Năm mới nói: “Đây rồi tao giao cuốn  sổ gia đình cho chị em bây”.

2. Nhân vật người má của Việt

Nhân vật người má của Việt- hiện thân cho truyền thống gia đình. Ngòi bút Nguyễn Thi có lần đã làm chức năng điêu khắc, tạo nên những bức tượng đài bất hủ về người mẹ trong chiến tranh – Người mẹ cầm súng. Trong các tác phẩm của Nguyễn Thi, hình tượng người má, người mẹ mang đậm chất Nam Bộ bao giờ cũng gợi cảm hứng sáng tạo mạnh mẽ nhất cho ông. Họ là một nguồn sinh lực dồi dào, họ sinh ra những đứa con để nối tiếp huyết thống, họ dạy con đế nối tiếp truyền thông, bản thân họ là hiện thân cho truyền thốdng gia đinh để các con noi theo. Họ có thể ngã xuống  vì bom đạn kẻ thù, nhưng họ sẽ tái sinh trong máu thịt và sống lại trong cuộc đời của những  đứa con. Họ bát tử , má của Việt và Chiến trong thiên truyện này là người như vậy. Trước khi nhập ngũ, Chiến và Việt đều cảm thấy má trở về ngồi  đó.

Những người phụ nữ nông dân Nam Bộ như má Việt sinh ra và lớn lên trong máu lửa của hai cuộc chiến tranh khốc liệt những người như má Việt phải chắc khỏe về thể  chất và kiên cường, mạnh mẽ về mặt tinh thần đế đủ  sức chống chọi với gian nguy, khó nhọc. Hãy xem Nguyễn Thi khắc họa bức chân dung người phụ nữ nông dân Nam Bộ ấy: “Má bơi xuồng thiệt khỏe, đầu hơi cúi xuống, cái nón rách mướp để lộ cái gáy đo đỏ và đôi vai lực lưỡng,[…] xuồng cập bến mặt má vẫn  đỏ rực, cái nón rách được ngả ra làm quạt, lưng áo bà ba đẫm mồ hôi đã  đen lại không còn thấy bạc nữa […]tiếng chân má đi bịch bịch vào nhà. . Lần này má rinh thúng lúa lên một mình và đặt ngay trên giường ngủ”. Người má ấy thật tần tảo xốc vác , sáng sáng lời dặn dò vừa tới tai con thì má và xuồng đã ở tít giữa sông. Chiều chiều mặt còn đỏ rực và đẫm mồ hôi đã lại bơi thuyền đì, mãi  canh hai khuya khoắt má mới trở lại nhà, người sực mùi lúa gạo và mồ hôi, mùi của đồng áng và một nắng hai sương.

Trên đất nước như đất nước mình, ở một thời như thời kì chống Mĩ cứu nước mới có thể có những người má như má Việt, mới có nghị lực cắn răng nén chặt đau thương để sống, nuôi dạy, che chở cho đàn con và tiếp tục chiến đấu làm mẹ là một nguồn sống mạnh mẽ mà không sự tàn bạo, đau thương nào khuất phục nổi. Tận mắt Chiến và Việt chứng kiến người má của mình cố nén đau không rơi lệ khi ba bị giặc giết, mãi “Chiều hôm đó về tới nhà má mới khóc… Bao nhiêu năm sau đó cũng vậy, lúc nào nói đến chuyện trên má cũng không khóc”. Nếu có lúc nào không chịu nổi lệ ứa ra, thì “má chỉ nằm khóc chứ không kể gì hết”. Bao nhiêu đau thương ngườì mẹ vùi sâu vào cõi lòng, tự mình gánh lấy.

Tình yêu thương khiến má Việt không biết sợ, không chùn bước. Tình thương chồng , thương con ờ xứ sở này thời chiến tranh hiện ra dưới hình thức thật dữ dội, đau đớn: một người vợ tay bồng con, tay cắp rổ đi theo thằng giặc đòi đầu chồng, một người mẹ hiên ngang đối đáp với kẻ thù mà “hai bàn tay to bản” vẫn  “phù lên đầu đàn con đứng nép dưới chân”. Đó là bức tượng đài sừng sững mà Nguyễn Thi đã tạo nên trong tác phẩm của mình để lưu lại mãi mãi hình tượng người mẹ ở một xứ sở đau thương, cuộc sống quá nhiều khốc liệt ma rất đỗi kiên cường, bất khuất, hết sức đau thương mà cao cả.

3.Nhân vật Chiến – sự nối tiếp người mẹ

Đúng như chú Năm đã nói, con sông truyền thống của gia đình ví cho mỗi người một khúc, nhưng vẫn liền một dòng “con sông của gia đình ta cũng chảy về biển”. Người mẹ ngã xuống như dòng sông truyền thống vẫn tuôn chảy dào dạt. Và hình ảnh của má hiện hình trong sức sống của Chiến, con gái của má.

Chiến thừa hưởng của má cả vóc dáng hình hài và linh hồn: “hai bắp tay tròn vo sạm đỏ màu cháy nắng…, thân người to và chắc nịch”. Đó là con người sinh ra để xốc vác, để chống chọi, chịu đựng, đế chiến đấu và chiến thắng. Trong cái đêm trước khi lên đường nhập ngũ chiến đấu, Chiến mới thật sự giống má. Chiến lo liệu việc nhà thật chu đáo, trọn vẹn y hệt má: nào là gửi út em ở đâu, nhà cửa, ruộng nương giao cho ai trông nom, trồng hái, gửi bàn thờ má sang nhà chú Năm… Chị Chiến “nói in như má vậy”, cũng nằm với thằng út em trên giường ở trong buồng nói ra, hứ một cái “cóc” rồi trở mình. Trong thời gian ngắn ngủi đêm ấy, ba lần Việt phải thốt lên thấy chị Chiến giống in như má, nếu có gì khác thì đó là chị Chiến “không bẻ tay rồi đập vào bắp vế than mỏi”. Chính Chiến cảm thấy mình đang làm theo điều má nghĩ nên nói với cậu em: “Tao cũng lựa ý nếu má còn sống chắc má tính vậy, nên tao cũng tính vậy”. Trong giờ phút thiêng liêng ấy, người mẹ sống mãnh liệt trong tâm hồn những đứa con chí hiếu: “Cả chị cả em cùng nhớ đến má. Hình như má cũng đã về đâu đây. Má biến theo ánh đom đóm trên nóc nhà hay đang ngồi dựa vào mấy thúng lúa mà cầm nón quạt? Đêm nay, dễ gì má vắng mặt.

Là con gái, Chiến có sự kiên nhẫn đến gan lì của người từng trải cực khổ. Chiến đã ngồi cả ngày kiên nhẫn đánh vần cuổn sổ gia đình mà mỗi dòng thấm máu và nước mắt để nuôi dưỡng cho mình khát vọng không nguôi — chiên đấu và trả thù: “Tao đã thưa với chú Năm rồi. Đã làm thân con gái ra đi thì tao chỉ có một câu:

“Nếu giặc còn thì tao mất, vậy à!”. Là người  chị, lúc nào Chiến cũng nhường nhịn em, từ việc lớn đến việc nhỏ. Trong cả truyện ngắn này, chỉ có một lần Chiến không nhường em, ấy là lần cả hai chị em tranh nhau nhập ngũ. Người đọc dễ dàng chấp nhận hành động “nhanh hơn” này, nó không trái với tính cách của Chiến. Hành động ấy của chị còn bộc lộ một ý nghĩ cảm động: Chiến chưa muốn em mình sớm phải bước vào cuộc chiến đâu gian khổ, ác liệt,

4.Nhân vật Việt

Nhân vật Việt— từ tuổi thơ đi thẳng tới chiến trường Nhân vật Việt xuất hiện nhiều lần trên những trang viết của Nguyễn Thi. Việt là một chàng trai, rồi thành một người lính dũng cảm, nhưng dẫu sao anh cũng chi là một chàng trai mới lớn. Trong gia đình, Việt vẫn là một cậu bé. Cái chất trẻ con, lộc ngộc, vô tư của một chàng trai đang tuổi ăn, tuổi lớn của Việt bộc lộ sự hiếu động: suốt ngày Việt mải mê bắt ếch, câu cá, bắn chim..lúc nào cũng có cái ná thun trong người, Việt hiếu thắng, lúc nào cũng tranh hơn với chị (từ việc bắt ếch đến “vết đạn bắn thằng Mĩ trên sông Định Thủy”…). Thật ra, Việt không phải là người không thương yêu chị, nhất  là khi cha mẹ đã mất cả. Nhưng có một người chị hay nhường nhịn như chị Chiến thì Việt không thể  khác được. Cho đến khi nhập ngũ, chuẩn bị thành người lính, hay đã thành người lính, Việt vẫn lộc ngộc, vô tư, có phần trẻ con như thế. Nghe chị Chiến lo toan, bàn bạc việc nhà nghiêm trang thì Việt lúc “lăn kềnh ra ván, cười khì khì, lúc lại rình môt con đom đóm úp trong lòng bàn tay “, rồi ngủ quên lúc nào không biết”. Vào bộ đội, cầm cây súng đánh giặc mà Việt vẫn mang theo cây ná thun. Đặc biệt “trẻ con” là anh không dám hé cho ai biết mình có một người chị “Việt giấu chị như giấu của riêng vậy. Cậu ta sợ mất chị mà. Đánh giặc rất dũng cảm, dùng thủ pháo tiêu diệt xe bọc thép cùng “sáu thằng Mĩ lẻ”, nhưng khi bị thương lạc trên chiến trường Việt lại… sợ ma! (“Bóng đêm vắng lặng và lạnh lẽo bao tròn lấy Việt, kéo theo đến cả con ma cụt đầu vẫn ngồi trên cây xoài mồ côi và thằng chỏng thụt lưỡi hay nhảy nhót trong những đêm mưa ngoài vàm sông,…”). Sau những cố gắng phi thường, gặp lại anh Tánh và đồng đội, Việt vừa khóc, vừa cười hệt như một đứa trẻ “khóc đó rồi cười đó”…

Xây dựng nhân vật Việt hồn nhiên và trẻ thơ như thế Nguyễn Thi muôn nói với bạn đọc về một thế hệ trẻ Việt Nam bước vào cuộc chiến đấu rất sớm như là đi thẳng từ tuổi thơ đến chiến trường. Thế hệ trẻ ấy có thể rất hồn  nhiên, trẻ con, vô tư trong các mốì quan hệ gia đình và xã hội khác, nhưng cực kì nghiêm túc  trong những suy nghĩ về kẻ thù, về cuộc chiến đấu chống Mĩ xâm lược. Cho nên trong dòng sông truyền thống của gia đình, có lẽ Việt là người sẽ đi xa hơn cả. Không chỉ vì Việt lập được chiến công lớn nhất mà còn vì Việt là người luôn ở tư thế chủ động tiến công, tìm giặc mà đánh. Anh tân binh ấy chỉ có một mình trên trận địa, hai tay đau đớn, đôi mắt không còn nhìn thây gì vẫn quyết sông mái với kẻ thù: “Trên đời có mày, dưới đất  có mày, khu vừng này còn có mình tao. Mày có bắn tao thì tao cũng bắn được mày”. Trong một trận đọc lê ở rừng cao su , nhìn thấy bọn Mỹ sống sót thua tháo chạy, Việt tự hào nghĩ :. “Mày chỉ giỏi giết gia đình tao, còn đối với tao thì mày là thằng chạy”. Việt là hiện thân của sức trẻ tiến công, là hiện thân của ngày mai chiến thắng. Ngòi bút cúa Nguyễn Thi thật tinh tế khi nói về sự trưởng thành của những đứa con trong một gia đình có truyền thống yêu nước thương nhà.

Đoạn văn tả chị em Chiến và Việt khiêng bàn thờ má sang nhà chú Năm là một đoạn tuyệt bút của Nguyễn Thi. Một không khí thiêng liêng cảm động bao trùm lên cảnh vật và con người. Hai chị em khiêng bàn thờ má như đang đỡ má trên đôi vai lực lưỡng của tuổi trẻ đã trưởng thành, bước đi những bước vững chắc trên con đường gian nan mà trước đây má đã chọn, cùng má đi trong hương thơm của đất đai, hoa trái quê mình: “Hai chị em khiêng má băng tắt qua dãy đất cày trước cửa, men theo chân vườn thoảng mùi hoa cam, cơn đường hồi trước má vẫn đi để lỗi hết đồng này  này sang bưng khác”. Không khí linh thiêng ấy đã biến Việt thành một con người khôn lớn. Nghe tiếng chân “bịch bịch” của chị Chiến ở phía sau, “Việt thấy thương chị lạ. Lần đầu tiên Việt mới thấy lòng mình rõ như thế. Còn mối thù thằng Mĩ thì có thể rờ thây được, vì nó đang đè nặng ở trên vai”. Ba má và cả chú Năm có thể vui lòng vì thế hệ cháu con đã vượt lên đau thương để trường thành, bước tiếp, đi xa hơn trên con đường cách mạng mà gia đình đã lựa chọn. Dòng sông truyền thống của gia đình không bao giò cạn, vẫn dào dạt đổ về biển cả hùng vĩ, bao la..

Kết bài Những đứa con trong gia đình

Thiên truyện nói về những người con trong một gia đình nông dân Nam Bộ có truyền thống yêu nước thương nhà, căm thù giặc, thủy chung son sắt với quê hương. cách mạng.    Chính sự gắn bó sâu nặng giữa tình cảm gia đình vói tình yêu đất nước, giữa truyền thống gia đình với truyền thông dân tộc đã tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Nội dung tư tưởng sâu sắc nói trên được thể hiện bằng một bút pháp nghệ thuật già dặn, điêu luyện: trần thuật qua dòng hồi tưởng của nhân vật, miêu tả tính cách và tâm lí sắc sảo; ngôn ngữ phong phú, tính tế và đậm chất Nam Bộ

(Theo Nguyễn Kim Phong).

Xem thêm những đề thi khác về tác phẩm Những đứa con trong gia đình : những đứa con trong gia đình

Bài văn phân tích nhân vật Việt trong truyện Những đứa con trong gia đình

Đề bài :Phân tích nhân vật Việt trong truyện Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi

Bài làm

Mở bài:

Những đứa con trong gia đình là một trong số những sáng tác tiêu biểu của Nguyễn Thi. Thiên truyện thành công ở nhiều mặt, nhưng nổi bật nhất là nghệ thuật xây dựng nhân vật. Tác giả đã dành nhiều trang miêu tả những nét tính cách độc đáo của Việt, nhân vật trung tâm đã tạo nên sức hấp dẫn của tác phẩm.

Ta hãy phân tích nhân vật Việt.

Thân bài

Truyện Những đứa con trong gia đình được kết cấu theo những đợt hồi tưởng của người lính trẻ tên Việt bị trọng thương, thất lạc đồng đội trong mấy ngày đêm. Diễn biến truyện hết sức linh hoạt, xáo trộn không gian lẫn thời gian, đan chéo quá khứ với hiện tại, trong đó nhân vật Việt hiện lên với đầy đủ các nét về tính tình, tình cảm và tinh thần chiến đấu.

Là một chiến sĩ trẻ, Việt vẫn giữ tính hồn nhiên của một chàng trai mới lớn. Việt luôn luôn giữ trong mình cái ná thun mà từ nhỏ Việt đã từng bắn chim. Còn hiện tại, Việt cầm súng tự động, bá súng còn thơm gỗ, đánh Mĩ bằng lê, cái ná thun vẫn còn nằm gọn trong túi áo. Bị thương nặng đến đêm thứ hai, trong bóng đêm vắng lặng và lạnh lẽo, Việt không sợ chết mà lại sợ bóng đêm và sợ ma. Tính hồn nhiên còn thể hiện trong việc hay tranh giành với chị, từ những đêm Việt soi ếch ngoài ruộng đến việc lập chiến công. Soi ếch thì chú Năm phải đứng ra phân xử vì chị Chiến và Việt ai cũng giành phần nhiều là của mình, và chị Chiến bao giờ cũng nhường Việt. Sau này lớn lên,vết dạn bắn trên sông Định Thủy, chị cũng nhường… đi đến  đêm mít-tinh ghi tên tòng quân, hai chị em cùng tranh giành đi bộ đội, thật cảm động. Buồn cười hơn nữa là ở đơn vị Việt rất yêu quý đồng đội nhưng không nói thật là mình có chị. Việt giấu chị như giấu của riêng vậy. Cậu sợ mất chị mà.

Tình cảm đối  với gia đình của Việt được thể hiện thật sâu sắc. Vốn là hai chị em mồ côi, chị Hai ở xa, đứa em út còn nhỏ, tình cảm thương yêu của Việt đối với  chị thật sâu đậm. Sau khi cùng ghi tên vào bộ đội, sắp xếp việc nhà xong, Việt và Chiến khiêng bàn thờ mẹ sang gởi bên nhà chú Năm. Việt khiêng trước. Chị Chiến khiêng bich bịch phía sau. Nghe tiếng chân chị, Việt thấy thương chị lạ. Lần đầu tiên Việt mới thấy lòng mình rõ như thế. Còn mối thù thằng Mĩ thì có thể rờ thấy được, vì nó đang đè nặng ở trên vai.

Ngoài tình thương chị, Việt còn rất thương mến chú Năm. Tình cảm đó hình thành từ những ngày Việt còn nhỏ Việt thương chú Năm vì hồi đó chứ hay bênh  Việt. Mỗi khi cất giọng hò, chú làm như Việt chính là nơi cụ thể để chú gởi gắm những câu hò đó, hoặc chính Việt là những câu hò đó. Theo từng hình ảnh liên tưởng của chú Năm, có khi Việt biến  thành tấm áo vá quàng hoặc con sông dài cá lội..khi người Việt biến thành nghĩa quân Trương Định, ngọn đèn biển  Gò Công hoặc ngôi sao sáng ở Tháp Mười.

Trong lúc Việt bị thương, hình ảnh của cha mẹ thân yêu luôn chập chờn ẩn hiện trong hổi ức của Việt với bao kỉ niệm chua xót lẫn ngọt ngào. Dường như cả cuộc đời vất vả của má, mọi ý nghĩa lặng lẽ trong đêm của má, cả những hiểm nguy gian lao mà mà đã trải qua một cách không hề sợ hãi,tất cả điều được gom lại và dồn vào trong ý nghĩ cuối cùng này: “Để má ráng nuôi bây lớn coi bây có làm được việc gì cho cha bây vui không”.

Việt nhớ tất cả những ngày má kể ngày mấy mẹ con ôm rổ đi đòi đầu ba. Việt nhớ thật kĩ hình ảnh má đi làm suốt ngày… Canh hai má mới về… má rinh thúng lúa lên một mình… Việt ngửi thấy lúa gạo và mùi mồ hôi của má…

Phải sống, chiến đấu như thế nào, trả thù nhà, đền nợ nước ra sao cho xứng đáng là những đứa con trong một gia đình có truyền thống yêu nước, gắn bó vói cách mạng từ thời chống Pháp đến thời chống Mĩ? Việt đã chiến đấu bằng tất cả sức mạnh thể chất lẫn tinh thần, bằng ý chí bất khuất thừa hưởng từ một gia đình cách mạng. Ông nội của Việt, chú Năm, ba Việt đều tham gia kháng chiến chống Pháp. Cha bị Tây chặt đầu, mẹ bị trúng pháo của giặc,những hình ảnh thê thảm đó mãi in sâu trong tâm trí Việt. Chính mối thù nhà là động lực tinh thần và tình cảm thúc đẩy chị em Việt dũng cảm chiến đấu.  Do vậy, giữa trận đánh, bị thương nặng, mất liên lạc với đồng đội, trơ trọi một thân, chịu đói, chịu khát, mình đầy thương tích, Việt vẫn cam đảm chịu đựng, Việt mới cảm thấy chân tay tê dại, khắp người nước hay máu không biết chỗ ướt sũng, chỗ dẻo quẹo, chẽ khô cứng… Trời tối kì  lạ. Việt cho mũi lê đi trước, rồi tới hai cùi tay, hai cái chân nhức nhối cho nó đi sau cùng. Sau đó Việt bò gấp qua những cái gì nữa Việt không cần biết ,quên khắp cả người đang rỉ máu, quên cả trận địa sắt thép ngổn ngang mà một cành cây nhỏ đụng vào người Việt bây giờ cũng làm nặng thêm thương tích. Dù lúc tính lúc mê, Việt vẫn sẵn sàng chiến đấu mỗi khi choàng dậy. Việt day họng súng về hướng đó “Nếu mày đổ quân thì súng tao còn đạn”, Việt ngầm bảo bọn địch khi nghe tiếng xe bọc thép của chúng chạy mỗi lúc một gần. Tỉnh dậy lần thứ tư giữa đêm sâu thẳm, nghe tiếng súng đồng đội từ nơi xa, Việt vẫn cố gắng bò về hướng đó. Việt đã cố gắng bò đi được một đoạn, cây súng đẩy đi trước, ha cùi tay lôi người theo. Việt cũng không ý thức rằng mình đang bò đi, mà chính trận đánh đang gọi Việt đến.  Cuối cùng, đồng đội đã tìm được Việt. Dù kiệt sức, Việt vẫn giữ tư thế sẵn sàng chiến đấu sinh tử với kẻ thù: một ngón tay của cậu vần còn nhúc nhích, một viên đạn đã lên  nòng và chung quanh cậu, dấu xe bọc thép còn nằm ngang dọc. Hình ảnh người lính bị thương vẫn giữ tư thế ‘sẵn sàng chiến đấu đến hơi thở cuối cùng đã thể hiện được tính cách anh hùng của nhân vật.

Kết bài

Nguyễn Thi đã miêu tả nhân vật một cách sắc nét, từ tính tình, tình cảm đến tinh thần chiến đấu, không bằng những sắc màu tráng lệ mà qua hàng loạt hình ảnh sống thực, hồn nhiên đầy cảm động. Vói ngôn ngữ mang màu sắc Nam Bộ, tả những chi tiết về dáng cách, cử chi,lời nói của nhân vật phát huy tôi đa lời độc thoại nội tâm  những hồi ức khi đứt khi nối tưởng chừng như rời rạc nhưng thật ra r ất chặt chẽ, truyện đã khắc họa hình tượng một nhân vật tuổi trẻ anh hùng, đại biểu cho thế hệ thanh niên miền Nam anh hùng trong thòi kì kháng chiến chống Mĩ.

(Theo cuốn 200 Bài và đoạn văn hay 12 – ThS. Phạm Văn Đan Trường)

Xem thêm những đề thi khác về tác phẩm Những đứa con trong gia đình : những đứa con trong gia đình

Cảm hứng sử thi trong Rừng xà nu và Những đứa con trong gia đình

Đề bài : Điểm khác biệt giữa Cảm hứng sử thi trong Rừng xà nu và Những đứa con trong gia đình

Hướng dẫn làm bài

* Mục đích của câu hỏi: Kiểm tra năng lực vận dụng kiến thức. kĩ năng tạo lập văn bản của học sinh.

* Yêu cầu:

a, Về kĩ năng: Thí sinh biết cách làm bài nghị luận văn học; sử dụng thành thạo các thao tác phân tích, so sánh, bình luận; lập luận chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, văn viết có hình tượng, không mắc, hoặc mắc rất ít lỗi về diễn đạt;

b, Về kiến thức:

Chấp nhận những cách kiến giải khác nhau miễn là đảm bảo tính lô gic chặt chẽ, có sức thuyết phục. Sau đây là một số gợi ý:

– Giới thiệu khái quát về khuynh hướng sử thi của văn học Việt Nam 1945-1975; khẳng định “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành và “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi là hai tác phẩm thể hiện rõ nhất đặc điểm cơ bản này của văn học đương thời

– Tuy nhiên, cách thể hiện khuynh hướng sử thi ở mỗi TP mỗi khác:

+ Cùng phản ánh những vấn đề có ý nghĩa sống còn của đất nước, những sự kiện có tính chất lịch sử của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, nhưng ở “RXN”, NTT tái hiện một cách sinh động phong trào cách mạng của dân làng Xô Man như một bức tranh thu nhỏ của cuộc chiến tranh nhân dân gồm đủ mọi tầng lớp, lứa tuổi hăng hái tham gia đánh giặc tỏa sáng vẻ đẹp của CNAHCMVN. Còn ở “NĐCTGĐ”, NT lại từ truyền thống yêu nước, căm thù giặc, khát khao đánh giặc trả thù nhà, đền nợ nước của một dòng sông gia đình truyền thống góp phần làm nổi bật gương mặt chung của đất nước, dân tộc, tỏa sáng truyền thống yêu nước có tự ngàn xưa của người Việt.

+ Nhân vật chính trong  các TP đều là tinh hoa và khí phách, phẩm chất và ý chí của toàn dân tộc: nồng nàn yêu nước; sục sôi lòng căm thù giặc; hiên ngang bất khuất trước quân thù; sẵn sàng chiến đấu hi sinh vì quê hương, đất nước, vì những người ruột thịt, thân yêu; lạc quan, tin tưởng vào tương lai, nhưng mỗi nhà văn có cách XD nhân vật riêng. Cụ Mết, Tnú, Mai, Dít  (RXN) kết tinh vẻ đẹp của mọi tầng lớp, lứa tuổi người dân làng XM; ba, má, chú Năm và chị em Chiến Việt (NĐCTGĐ) là những con người đại diện cho các thế hệ của dòng sông gia đình truyền thống.

+ Giọng điệu bao trùm trong 2 TP là giọng điệu ngợi ca, trang trọng và đẹp một cách tráng lệ, hào hùng, nhưng lờiv kể và giọng kể ở mỗi TP mỗi khác: Lời kể và giọng kể của cụ Mết về cuộc đời, kỳ tích của Tnú và cuộc nổi dậy của dân làng Xô Man trong không khí vừa dân dã, vừa thiêng liêng bên ánh lửa xà nu tại nhà ưng (RXN) rất gần với lối kể “khan Đăm San” của đồng bào Tây Nguyên; cảm nhận của Việt lúc bị thương về âm thanh tiếng súng đồng đội và dòng hồi ức của anh về ngày thanh niên tranh nhau đăng kí tòng quân (NĐCTGĐ) ngợi ca tình đồng chí, đồng đội keo sơn, gắn bó và không khí sục sôi của ngày hội non sông, “cả nước lên đường” ra trận…

– Nguyên nhân của sự khác biệt: Do đối tượng phản ánh và phong cách nghệ thuật của nhà văn quy định  (…).

– Mặc dù có những nét khác nhau trong cách thể hiện khuynh hướng sử thi, nhưng cả hai tác phẩm trên đều góp phần làm nổi bật không khí lịch sử một thời đau thương mà anh dũng của dân tộc.

* Cách cho điểm:

– Điểm 6- 7: Đáp ứng tốt các yêu cầu trên, có thể còn vài sai sót về diễn đạt

– Điểm 4 – 5: Đáp ứng phần lớn các yêu cầu trên: Phân tích được nét riêng trong cách thể hiện cảm hứng sử thi ở hai tác phẩm nhưng chưa đầy đủ ( 2/3 ý), hoặc chưa lí giải rõ nguyên nhân, ý nghĩa của sự khác nhau trong cách thể hiện của mỗi nhà văn. Bố cục rõ ràng, lập luận tương đối chặt chẽ, còn mắc một số lỗi về diễn đạt.

– Điểm 2-3: Chưa làm rõ được nét riêng trong cách thể hiện cảm hứng sử thi ở hai tác phẩm, chưa lí giải được nguyên nhân, ý nghĩa của sự khác nhau trong cách thể hiện của mỗi nhà văn. Bố cục chưa rõ ràng, lập luận chưa chặt chẽ, còn mắc khá nhiều lỗi về diễn đạt.

– Điểm 1: Chưa hiểu đề, sai lạc kiến thức, mắc rất nhiều lỗi về diễn đạt.

– Điểm 0: không làm bài hoặc hoàn toàn lạc đề.

Đề sưu tầm

Xem thêm  : Tuyển tập đề thi học sinh giỏi môn văn, Rừng xà nu, Những đứa con trong gia đình

Nghị luận về dòng sông truyền thống của gia đình qua lời nói chú Năm

Luyện thi THPT Quốc gia môn văn. Bộ đề ôn thi về tác phẩm Những đứa con trong gia đình- Nguyễn Thi.

Đề bài :

Trong truyện ngắn Những đứa con trong gia đình, Nguyễn Thi viết:

“Chuyện gia đình ta nó cũng dài như sông, để rồi chú sẽ chia cho mỗi đứa một khúc mà ghi vào đó…..Trăm sông đổ về một biển, con sông của gia đình ta cũng chảy về biển, mà biển thì rộng lắm, [….] rộng bằng cả nước ta và ra ngoài cả nước ta”

Anh chị hãy phân tích hình tượng dòng sông truyền thống liên tục chảy từ lớp trước đến lớp người đi sau mà Nguyễn Thi đã gợi ra qua cách xây dựng các nhân vật trong truyện.

Đáp án

Mở bài :

Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm, nêu vấn đề cần nghị luận :  Hình tượng dòng sông truyền thống liên tục chảy từ lớp trước đến lớp người đi sau mà Nguyễn Thi đã gợi ra qua cách xây dựng các nhân vật trong truyện.

* Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm và vấn đề mà nhà văn hướng tới

+ Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm: Truyện viết tháng 2 năm 1966. Cuộc kháng chiến chống Mĩ bắt đầu từ năm 1965. Chính không khí dữ dội của cuộc kháng chiến là chất lửa đúc luyện phẩm chất anh hùng, cũng đòi hỏi tinh thần đoàn kết của các cá nhân để tạo thành sức mạnh chung của cộng đồng dân tộc.

+ Vấn đề mà nhà văn hướng tới:

– Nhan đề NĐCTGĐ gợi một sự tiếp nối của sự sống trong một nguồn mạch bất tận. Gia đình là nền tảng, là môi trường để giáo dục và hình thành những phẩm chất, tình cảm cũng như lối sống, cách sống. NĐCTGĐ chính là sự tiếp nối cảu thế hệ sau với thế hệ trước, sự tiếp nối để nối dài cuộc sống, khẳng định truyền thống của gia đình.

– Câu trích “Chuyện …..nước ta” là sự khẳng định mạch nguồn truyền thống của gia đình mà mỗi thế hệ có trách nhiệm đóng góp một phần để làm nên dòng chảy ấy. Đồng thời, cũng qua câu nói này, NT khẳng định tư tưởng đoàn kết dân tộc để tạo nên sức mạnh chiến đấu. Đó là lẽ sống và cũng là thực tế cuộc sống của nhân dân miền Nam những năm chống Mĩ.

* Hoàn cảnh sống của gia đình và truyền thống được hình thành từ hoàn cảnh đó

– Hoàn cảnh sống của gia đình

+ Sống trong một thời kì đau thương và dữ dội: xung đột gay gắt giữa ta và địch, giữa nhân dân và kẻ thù dân tộc; sự xuất hiện của bọn ác ôn luôn lùng sục, bắt bở, chém giết để uy hiếp tinh thần đấu tranh cách mạng.

+ Phải đối mặt với nhiều đau thương, mất mát, trong cuốn số gia đình, chú Năm đã ghi rất cụ thể những mối thù của gia đình (thím Năm, ông nội bị bắn; bà nội bị đánh; ba Việt bị chặt đầu; má Việt trúng đạn…)

+ Chính hoàn cảnh sống dữ dội đó đã làm bộc lộ phẩm chất anh hùng của mỗi thành viên trong gia đình

– Truyền thống gia đình

+ Lòng căm thù giặc và tinh thần phản kháng trước tội ác của giặc

+ Tinh thần cách mạng: bất khuất trước kẻ thù, ngoan cường trong chiến đấu

* Sự tiếp nối của các thế hệ trong gia đình để tạo nên một dòng sông truyền thống

–  Thế hệ ông bà

+ Ông nội mò súng dưới tàu chìm

+ Bà nội không khai báo nơi chú Năm trốn dù bị lính bao nhà, đe doạ

– Thế hệ cha chú

+ Ba Việt đi tòng quân vào bộ đội, bị thương mới chuyển về công tác ở xã nhà

+ Má Việt một mình vừa nuôi con, vừa hoạt động cách mạng. Ở người mẹ ấy, tình yêu thương con sâu sắc và bản lĩnh cứng cỏi, tinh thần cách mạng như hoà quyện lại trong hành động, những lời nói vừa giản dị lại vừa chứa chở tất cả sự dữ dội mà đằm saau của cuộc sống.

+ Chú Năm là người bộc trực, thẳng thắn, rất giàu tình yêu thương với các cháu và cũng là người có ý thức sâu sắc về truyền thống gia đình. Chú có nhiều cách để giáo dục truyền thống gia đình cho con cháu: những lời răn dạy, những câu hò và đặc biệt là cuốn sổ gia đình – hiện thân đầy đủ nhất của ý thức lưu giữ lịch sử và niềm tự hào về truyền thống gia đình

-> Chính thế hệ ba, má, chú Năm đã tiếp nối và hình thành một diện mạo đầy đủ của truyền thống gia đình và truyền nó lại cho thế hệ con cháu.

– Thế hệ con cháu

+ Thằng Hai con chú Năm và chiến công lấy bót địch, giành 5 cây súng mang về xã nhà

+ Chị em Chiến và Việt từ nhỏ đã lập chiến công bắn tà Mĩ trên sông Định Thuỷ. Sau khi ba má mất, hai chị em đinh bộ đội với tinh thần “hễ giặc còn thì tao mất” và ý thức “mày bắn được tao thì tao cũng bắn được mày. Mày chỉ giỏi giết gia đình tao nhưng với tao mày là thằng chạy”

+ Cả hai chị em đều cố gắng lập chiến công như một cách viết tiếp cuốn sổ gia đình.

*  Đánh giá

Nét đặc sắc:

– Với mục đích làm nổi bật dòng chảy của truyền thống gia đình, NThi rất ý thức trong việc làm nối bật mối liên hệ của các thành viên trong gia đình ấy: đó không chỉ là mối liên hệ huyết thống  mà còn là mối liên hệ về phẩm chất, tinh thần. Mỗi nhân vật đều là một cá tính riêng song đều gặp nhau ở tinh thần cách mạng

– Trong quá trình xây dựng nhân vật, bên cạnh việc làm nổi bật những điểm giống nhau, sự kế thừa của thế hệ sau với thế hệ trước (Chiến giống mẹ, Việt giống ba), Nguyễn Thi cũng rất chủ ý vào sức mạnh vượt lên để tự khẳng định một cách hào hùng nhất của thế hệ sau (những điểm mà Chiến và Việt vượt xa so với thế hệ đi trước)

Ý nghĩa tư tưởng:

– Khẳng định vẻ đẹp, sức sống bền bỉ và sự vận động mạnh mẽ của truyền thống gia đình

– Làm nổi bật tinh thần đoàn kết. sức mạnh đấu tranh của nhân dân miền Nam trong kháng chiến chống Mĩ

– Làm toả sáng vẻ đẹp của CNAHCM

Đề sưu tầm

Xem thêm tuyển tập đề thi về Những đứa con trong gia đình: http://vanhay.edu.vn/tag/nhung-dua-con-trong-gia-dinh

Giáo án Ngữ văn 12 theo định hướng phát triển năng lực : chủ đề lịch sử văn học lớp 12

Giáo án Ngữ văn 12 theo định hướng phát triển năng lực : chủ đề lịch sử văn học lớp 12. Trọn bộ giáo án tham khảo dành cho giáo viên

BẢNG MỨC ĐỘ CÂU HỎI/BÀI TẬP ĐÁNH GIÁ  THEO ĐỊNH HƯỚNG NĂNG LỰC

Môn: Ngữ văn

Chủ đề: Lịch sử văn học  (lớp 12)

Chuẩn KT, KN Loại câu hỏi/bài tập

 

Nhận biết Thông hiểu Vận dụng thấp Vận dụng cao
– Nhận biết được bối cảnh và những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến hết thế kỉ XX.

– Hiểu được những thành tựu chính của văn học giai đoạn này và những đóng góp của các tác giả, tác phẩm tiêu biểu đối với nền văn học và với sự nghiệp cách mạng của dân tộc.

– Biết vận dụng những hiểu biết trên để đọc – hiểu các tác phẩm văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến hết thế kỉ XX ; để làm bài văn nghị luận văn học.

– Biết một số nét chính về thời đại, thân thế và sự nghiệp sáng tác của một số tác giả được học trong chương trình.

– Biết những nét cơ bản về thời đại, thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh : cuộc đời gắn liền với trang sử oai hùng của dân tộc ; sự nghiệp văn học phục vụ đắc lực cho sự nghiệp cách mạng ; một phong cách đa dạng, phong phú.

– Biết những nét cơ bản về thời đại, thân thế và sự nghiệp của Tố Hữu : con người chính trị và con người thơ ca thống nhất ; niềm say mê lí tưởng cách mạng và tình cảm thuỷ chung, son sắt với đất nước, nhân dân, lãnh tụ ; cây bút trữ tình – chính trị đậm đà bản sắc dân tộc.

– Biết vận dụng kiến thức trên để đọc – hiểu và làm bài nghị luận về tác giả văn học.

Câu hỏi Định tính, Định lượng:

 

– Trắc nghiệm KQ (về quá trình văn học và tác giả, tác phẩm, đặc điểm thể loại, …)

– Câu tự luận trả lời ngắn (lí giải, phát hiện, nhận xét, đánh giá ,…)

– Bài nghị luận (trình bày cảm nhận, kiến giải riêng của cá nhân,..)

– Phiếu quan sát làm việc nhóm (trao đổi, thảo luận về các giá trị của tác phẩm,..)

 

– Nêu thông tin bối cảnh lịch sử và những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975.

– Liệt kê những chặng đường, những tác giả, tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975.

 

– Lý giải văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975 có những đặc điểm cơ bản đó.

 

– Khái quát những thành tựu cơ bản của văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975 theo phương diện thể loại.

 

– Vận dụng hiểu biết về tác giả, tác phẩm để phân tích, chứng minh biểu hiện của những đặc điểm cơ bản đó. – So sánh sự khác nhau trong cách thể hiện một đặc điểm của văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975, qua những tác phẩm cụ thể.

– So sánh làm nổi bật sự vận động của các thể loại văn họcViệt Nam từ cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975 qua các chặng đường.

– Nêu thông tin về bối cảnh lịch sử; nhớ được những chuyển biến và một số thành tựu ban đầu  của văn học Việt Nam từ 1975 đến hết thế kỉ XX

 

– Lý giải VHVN giai đoạn này lại có những chuyển biến như vậy.

 

– Chứng minh những chuyển biến của văn học Việt Nam từ 1975 đến hết thế kỉ XX qua những tác phẩm cụ thể.

 

So sánh những đặc điểm của văn họcViệt Nam từ cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975 và giai đoạn từ 1975 đến hết thế kỉ XX.
– Nhận biết được một số nét chính về thời đại, thân thế và sự nghiệp sáng tác của một số tác giả được học trong chương trình (Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, Tố Hữu).

 

– Lý giải mối quan hệ/ảnh hưởng của thời đại, thân thế tới sự nghiệp văn học của một số tác giả được học trong chương trình (Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, Tố Hữu)

 

– Phân tích những biểu hiện trong phong cách nghệ thuật của mỗi tác giả thông qua tác phẩm cụ thể.

 

– Vận dụng tri thức về tác giả để đọc – hiểu một văn bản ngoài chương trình.
Bài tập thực hành

– Hồ sơ (tập hợp các sản phẩm thực hành)

– Bài tập dự án (nghiên cứu so sánh đặc điểm và những thành tựu của văn học Việt Nam qua các giai đoạn/chặng đường)

– Bài trình bày miệng (thuyết trình)

 

 CÁC NĂNG LỰC CÓ THỂ HƯỚNG TỚI

 

Năng lực chung Năng lực chuyên biệt
Hợp tác Đọc hiểu
Tự học Cảm thụ thẩm mĩ
Thu thập, xử lý thông tin Sử dụng ngôn ngữ
Giao tiếp Tạo lập văn bản (nói, viết)
Giải quyết vấn đề
Tư duy sáng tạo


 

 

 

PHƯƠNG PHÁP/ HÌNH THỨC TỔ CHỨC DẠY HỌC

 

Phương pháp Hình thức tổ chức dạy học
PP đọc hiểu Trong lớp học Ngoài lớp học
Nêu và giải quyết vấn đề Cá nhân Ngoại khóa (câu lạc bộ, hội thi, hội thảo, giao lưu,…)
PP dạy học hợp tác Nhóm Qua mạng
PP dự án Góc

 

 

 


BẢNG CÂU HỎI/ BÀI TẬP MINH HỌA ĐÁNH GIÁ THEO CÁC MỨC ĐÃ MÔ TẢ

Bài: Khái quát văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến hết thế kỉ XX

 

Chủ đề Nhận biết

5 câu hỏi

 

Thông hiểu

5 câu hỏi

 

Vận dụng thấp

3 câu hỏi

 

Vận dụng cao

2 câu hỏi

 

Khái quát văn học Việt Nam từ Cách mạng thánh Tám năm 1945 đến hết thế kỉ XX – Nêu những nét chính về hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa của văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975.

– Trình bày ngắn gọn những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975.

 

– Văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975 phát triển qua những chặng đường nào? Kể tên. những tác giả, tác phẩm tiêu biểu ở mỗi chặng đường đó.

– Văn học Việt Nam từ 1975 đến hết thế kỉ XX phát triển trong hoàn cảnh lịch sữ, xã hội, văn hóa như thế nào?

– Nêu ngắn gọn một số thành tựu ban đầu của văn học Việt Nam từ 1975 đến hết thế kỉ XX

 

– Vì sao văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975 có những đặc điểm cơ bản đó?

– Khái quát những thành tựu nổi bật của truyện, kí Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975?

– Khái quát những thành tựu nổi bật của thơ Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975?

– Phân biệt sự khác nhau giữa văn xuôi Việt Nam sau 1975 với văn xuôi Việt Nam từ cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975?

– Vì sao văn học Việt Nam từ 1975 đến hết thế kỉ XX lại vận động theo khuynh hướng dân chủ hóa mang tính nhân bản, nhân văn sâu sắc?

 

– Chứng minh những dấu ấn của lịch sử thời đại trong những tác phẩm đã học của văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975.

-Phân tích biểu hiện của cảm hứng sử thi lãng mạn của văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975 qua hai tác phẩm “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành và “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi.

– Chứng minh những thành tựu ban đầu của văn học Việt Nam từ 1975 đến hết thế kỉ XX.

 

– Nét riêng trong cách thể hiện cảm hứng sử thi, lãng mạn của văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975 qua hai tác phẩm “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành và “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi?

– Sự giống nhau và khác nhau trong cách cảm nhận về đất nước qua ‘Đất nước”- Nguyễn Đình Thi và “Đất Nước” ( trích “Mặt đường khát vọng” – Nguyễn Khoa Điềm).

 

ĐỀ KIỂM TRA CHO CHỦ ĐỀ: LỊCH SỬ VĂN HỌC (LỚP  12)

MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA

Mức độ

 

Chủ đề

Nhận biết Thông hiểu Vận dụng Cộng
TN TL TN TL thấp cao  
Chủ đề 1: Đọc hiểu Nhận diện đúng phong cách ngôn ngữ của đoạn văn. -Nhận biết được hoàn cảnh lịch sử xã hội đặc biệt ảnh hưởng tới VHVN 1945-1975.

 

Hiễu rõ chủ đề đoạn văn (thể hiện khuynh hướng sử thi của VHVN 1945-1975) và những biểu hiện của nó. Vận dụng kiến thức, kĩ năng cơ bản viết một đoạn văn theo phương thức diễn dịch, với chủ đề và số câu quy định
Số câu 1 1 1 1 1 4
Số điểm 0,75 0,75 0,75 0,75 0,75 3,0
% 7,5% 7,5% 7,5% 7,5% 7,5% 30%
Chủ đề 2: Làm văn Vận dụng kiến thức, kỹ năng cơ bản đã học vào làm bài văn nghị luận văn học: Nét riềng trong cách thể hiện khuynh hướng sử thi trong hai tác phẩm ‘Rừng xà nu’ và “Những đứa con trong gia đình”
Số câu 1 1
Số điểm 7,0 7,0
% 10% 70% 70%
Tổng
số câu 1 1 1 1 1 1 6
số điểm 0,75 0,75 0,75 0,75 0,75 7,0 10
% 7,5% 7,5% 7,5% 7,5% 7,5% 70% 100%

 ĐỀ KIỂM TRA

ĐỀ KIỂM TRA: KHÁI QUÁT VHVN TỪ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM TÁM 1945 ĐẾN HẾT THẾ KỶ XX

Thời gian làm bài : 120 phút (Không kể thời gian chép/giao đề)

I.PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm )

Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:

“Trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt kéo dài suốt 30 năm, vấn đề dân tộc nổi lên hàng đầu; văn học Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975 không thể là tiếng nói riêng của mỗi cá nhân mà tất yếu phải đề cập tới số phận chung của cả cộng đồng, của toàn dân tộc. Văn học mang đậm chất sử thi, tập trung phản ánh những vấn đề cơ bản nhất, có ý nghĩa sống còn của đất nước: Tổ quốc còn hay mất, độc lập tự do hay nô lệ. Đây là văn học của những vấn đề, những sự kiện có ý nghĩa lịch sử, của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng. Nhân vật chính thường tiêu biểu cho lý tưởng chung của dân tộc, gắn bó số phận mình với số phận đất nước, thể hiện và kết tinh những phẩm chất cao đẹp của cả cộng đồng. Con người chủ yếu được khám phá ở bổn phận, trách nhiệm, nghĩa vụ công dân, ý thức chính trị, ở lẽ sống lớn và tình cảm lớn. Cái riêng tư, đời thường nếu được nói đến thì chủ yếu cũng là nhấn mạnh thêm trách nhiệm và tình cảm của cá nhân đối vơi cộng đồng. Lời văn sử thi cũng thường mang giọng điệu ngợi ca, trang trọng và đẹp một cách tráng lệ hào hùng”.

(Ngữ văn 12, tập một – NXBGD 2013- trang 12,13)

Câu 1 (0,5 điểm):

Đoạn văn trên thuộc phong cách ngôn ngữ nào?

  1. Phong cách ngôn ngữ khoa học
  2. Phong cách ngôn ngữ chính luận
  3. Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
  4. Phong cách ngôn ngữ báo chí

Câu 2 (0,5 điểm):

Văn học Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975 vận động và phát triển trong hoàn cảnh lịch sử, xã hội có gì đặc biệt? Hoàn cảnh lịch sử, xã hội ấy có ảnh hưởng tới văn học Việt Nam giai đoạn này như thế nào?

Câu 3 (0,75 điểm):

Nội dung chính của đoạn văn trên là gì?

Câu 4 (1,25 điểm):

Lấy câu văn “Nhân vật chính của văn học Việt Nam 1945 – 1975 thường tiêu biểu cho lý tưởng chung của dân tộc, gắn bó số phận mình với số phận đất nước, thể hiện và kết tinh những phẩm chất cao đẹp của cả cộng đồng.” làm câu chủ đề, viết một đoạn văn theo cách diễn dịch (khoảng 5 câu) theo chủ đề ấy.

PHẦN LÀM VĂN (7,O điểm):

Nét riêng trong cách thể hiện cảm hứng sử thi của văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975 qua hai tác phẩm “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành và “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi?

HƯỚNG DẪN CHẤM

PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm):

Câu 1 (0,5 điểm):

Mục đích của câu hỏi: Nhận diện được phong cách ngôn ngữ của đoạn văn.

Mức tối đa:

Mã 1:

Đáp án A

Mức không đạt:

Mã 0: Chọn đáp án khác.

Mã 9: Không trả lời

Câu 2 (0,5 điểm):

Mục đích của câu hỏi: Nhận biết được hoàn cảnh lịch sử xã hội đặc biệt ảnh hưởng tới VHVN 1945-1975.

Mức tối đa:

Mã 2:

+ Văn học Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975 vận động và phát triển trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt kéo dài suốt 30 năm.

+ Trong hoàn cảnh ấy, vấn đề dân tộc nổi lên hàng đầu, văn học  tất yếu phải đề cập tới số phận chung của cả cộng đồng, của toàn dân tộc.

Mức không tối đa:

Mã 1:

HS chỉ trả lời được một trong hai ý trên; hoặc trả lời không đầy đủ các ý.

Mức không đạt:

Mã 0: Trả lời chung chung, sơ sài, không sát với yêu cầu câu hỏi.

Mã 9: Không trả lời

Câu 3 (0,75 điểm):

Mục đích của câu hỏi: Kiểm tra năng lực kết nối thông tin của HS, hiểu đúng nội dung chính của đoạn văn.

Mức tối đa:

Mã 2:

Nội dung chính đoạn văn: thể hiện khuynh hướng sử thi và một số biểu hiện cụ thể của nó (đề tài, nhân vật, lời văn) trong văn học Việt Nam 1945- 1975

Mức không tối đa:

Mã 1:

HS chỉ trả lời được một trong hai ý trên; hoặc trả lời không đầy đủ các ý.

Mức không đạt:

Mã 0:

Trả lời chung chung sơ lược, không nêu đúng nội dung đoạn văn theo yêu cầu của đề bài.

Mã 9: Không trả lời

Câu 4 (1,25 điểm):

Mục đích của câu hỏi: Kiểm tra năng lực vận dụng kiến thức. kĩ năng tạo lập văn bản theo chủ đề và phương thức diễn đạt được nêu ra ở đề bài.

Mức tối đa:

Mã 2:

+ HS biết viết một đoạn văn theo yêu cầu của đề bài (cả nội dunh/chủ đề và hình thức).

+ Chấp nhận những cách kiến giải khác nhau của HS, miễn là đoạn văn trình bày đúng phương thức diễn dịch, với số câu theo quy định, phát triển các khía cạnh của chủ đề một cách lô gíc, chặt chẽ, không mắc, hoặc mắc rất ít lỗi về diễn đạt.

Mức không tối đa:

Mã 1:

HS không đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu trên, thiếu lô gíc về ý, còn mắc một số lỗi diễn đạt.

Mức không đạt:

Mã 0: Trả lời chung chung, sơ sài, không sát với yêu cầu của đề bài.

Mã 9: Không trả lời

II, PHẦN LÀM VĂN (7,O điểm):

* Mục đích của câu hỏi: Kiểm tra năng lực vận dụng kiến thức. kĩ năng tạo lập văn bản của học sinh.

* Yêu cầu:

a, Về kĩ năng: Thí sinh biết cách làm bài nghị luận văn học; sử dụng thành thạo các thao tác phân tích, so sánh, bình luận; lập luận chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, văn viết có hình tượng, không mắc, hoặc mắc rất ít lỗi về diễn đạt;

b, Về kiến thức:

Chấp nhận những cách kiến giải khác nhau miễn là đảm bảo tính lô gic chặt chẽ, có sức thuyết phục. Sau đây là một số gợi ý:

– Giới thiệu khái quát về khuynh hướng sử thi của văn học Việt Nam 1945-1975; khẳng định “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành và “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi là hai tác phẩm thể hiện rõ nhất đặc điểm cơ bản này của văn học đương thời

– Tuy nhiên, cách thể hiện khuynh hướng sử thi ở mỗi TP mỗi khác:

+ Cùng phản ánh những vấn đề có ý nghĩa sống còn của đất nước, những sự kiện có tính chất lịch sử của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, nhưng ở “RXN”, NTT tái hiện một cách sinh động phong trào cách mạng của dân làng Xô Man như một bức tranh thu nhỏ của cuộc chiến tranh nhân dân gồm đủ mọi tầng lớp, lứa tuổi hăng hái tham gia đánh giặc tỏa sáng vẻ đẹp của CNAHCMVN. Còn ở “NĐCTGĐ”, NT lại từ truyền thống yêu nước, căm thù giặc, khát khao đánh giặc trả thù nhà, đền nợ nước của một dòng sông gia đình truyền thống góp phần làm nổi bật gương mặt chung của đất nước, dân tộc, tỏa sáng truyền thống yêu nước có tự ngàn xưa của người Việt.

+ Nhân vật chính trong  các TP đều là tinh hoa và khí phách, phẩm chất và ý chí của toàn dân tộc: nồng nàn yêu nước; sục sôi lòng căm thù giặc; hiên ngang bất khuất trước quân thù; sẵn sàng chiến đấu hi sinh vì quê hương, đất nước, vì những người ruột thịt, thân yêu; lạc quan, tin tưởng vào tương lai, nhưng mỗi nhà văn có cách XD nhân vật riêng. Cụ Mết, Tnú, Mai, Dít  (RXN) kết tinh vẻ đẹp của mọi tầng lớp, lứa tuổi người dân làng XM; ba, má, chú Năm và chị em Chiến Việt (NĐCTGĐ) là những con người đại diện cho các thế hệ của dòng sông gia đình truyền thống.

+ Giọng điệu bao trùm trong 2 TP là giọng điệu ngợi ca, trang trọng và đẹp một cách tráng lệ, hào hùng, nhưng lờiv kể và giọng kể ở mỗi TP mỗi khác: Lời kể và giọng kể của cụ Mết về cuộc đời, kỳ tích của Tnú và cuộc nổi dậy của dân làng Xô Man trong không khí vừa dân dã, vừa thiêng liêng bên ánh lửa xà nu tại nhà ưng (RXN) rất gần với lối kể “khan Đăm San” của đồng bào Tây Nguyên; cảm nhận của Việt lúc bị thương về âm thanh tiếng súng đồng đội và dòng hồi ức của anh về ngày thanh niên tranh nhau đăng kí tòng quân (NĐCTGĐ) ngợi ca tình đồng chí, đồng đội keo sơn, gắn bó và không khí sục sôi của ngày hội non sông, “cả nước lên đường” ra trận…

– Nguyên nhân của sự khác biệt: Do đối tượng phản ánh và phong cách nghệ thuật của nhà văn quy định  (…).

– Mặc dù có những nét khác nhau trong cách thể hiện khuynh hướng sử thi, nhưng cả hai tác phẩm trên đều góp phần làm nổi bật không khí lịch sử một thời đau thương mà anh dũng của dân tộc.

* Cách cho điểm:

– Điểm 6- 7: Đáp ứng tốt các yêu cầu trên, có thể còn vài sai sót về diễn đạt

– Điểm 4 – 5: Đáp ứng phần lớn các yêu cầu trên: Phân tích được nét riêng trong cách thể hiện cảm hứng sử thi ở hai tác phẩm nhưng chưa đầy đủ ( 2/3 ý), hoặc chưa lí giải rõ nguyên nhân, ý nghĩa của sự khác nhau trong cách thể hiện của mỗi nhà văn. Bố cục rõ ràng, lập luận tương đối chặt chẽ, còn mắc một số lỗi về diễn đạt.

– Điểm 2-3: Chưa làm rõ được nét riêng trong cách thể hiện cảm hứng sử thi ở hai tác phẩm, chưa lí giải được nguyên nhân, ý nghĩa của sự khác nhau trong cách thể hiện của mỗi nhà văn. Bố cục chưa rõ ràng, lập luận chưa chặt chẽ, còn mắc khá nhiều lỗi về diễn đạt.

– Điểm 1: Chưa hiểu đề, sai lạc kiến thức, mắc rất nhiều lỗi về diễn đạt.

– Điểm 0: không làm bài hoặc hoàn toàn lạc đề.

Tài liệu sưu tầm

Xem thêm :

  1. Giáo án Ngữ văn 10 
  2. Giáo án Ngữ văn 11
  3. Giáo án Ngữ văn 12 

Sáng kiến kinh nghiệm :Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi

Sáng kiến kinh nghiệm

Một số phương diện nghệ thuật cần khai thác khi dạy tác phẩm Những đứa con trong gia đình”

của Nguyễn Thi

MỤC LỤC:

                                                                                                                           Trang

  1. A. Đặt vấn đề:……………………………………………………………………………………..2

 

  1. Lời mở đầu………………………………………………………………………………………..3
  2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu……………………………………………………….3

II.1. Thực trạng của vấn đề………………………………………………………………….. 3

II.2. Mục đích của đề tài……………………………………………………………………….4

II.3. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………………………….4

II.4. Những luận điểm cần bảo vệ………………………………………………………….4

  1. 5. Những đóng góp về lý luận và thực tiễn của đề tài…………………………..4

 

  1. Giải quyết vấn đề…………………………………………………………………………….6

 

  1. Vài nét về phong cách nghệ thuật của Nguyễn Thi và truyện ngắn “Những đứa con trong gia đình”………………………………………………………………………..6
  2. Những phương diện nghệ thuật cần khai thác khi dạy tác phẩm “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi………………………………………………..7

II.1. Tình huống truyện……………………………………………………………………7

II.2. Nghệ thuật trần thuật của tác phẩm……………………………………………8

II.3. Sử dụng nghệ thuật đồng hiện………………………………………………….12

II.4 Nghệ thuật xây dựng và miêu tả tâm lý nhân vật…………………………14

II.4.1. Nghệ thuật xây dựng  nhân vật………………………………………………14

II.4.2. Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật………………………………………..16

III. Kết quả thực nghiệm:……………………………………………………………………..17

III.1.Kết quả giờ dạy……………………………………………………………………..17

III.2. So sánh kết quả bài kiểm tra…………………………………………………..18

III.3. So sánh kết quả đội tuyển………………………………………………………18

 

 

  1. Kết thúc vấn đề……………………………………………………………………………..19

 

 

ĐẶT VẤN ĐỀ

 

 LỜI MỞ ĐẦU:

Nguyễn Thi ( 1928 – 1968), là một nhà văn chiến sĩ mà cuộc đời và sự nghiệp sáng tác đã để lại nhiều bài học lớn cho cả một thế hệ nhà văn thời chống Mĩ. Ông đã hi sinh ở mặt trận Sài Gòn trong chiến dịch Mậu Thân 1968. Trong di sản văn học viết về chiến tranh của ông, có tác phẩm đã hoàn chỉnh, có tác phẩm mới ở dạng phác thảo… nhưng tất thảy đều ngồn ngộn chất sống và giàu tính thẩm mĩ, chứng tỏ tác giả của nó là một tài năng văn học lớn.

Từng sống ở Nam Bộ trước cách mạng và sau này lại tham gia chiến đấu trên chiến trường ấy, Nguyễn Thi rất hiểu con người và cảnh vật nơi này. Có thể nói ông là nhà văn của người nông dân Nam Bộ trong cuộc chiến tranh chống Mĩ ác liệt. Ông đã trút tâm huyết xây dựng họ thành những nhân vật văn học đáng nhớ, đầy cá tính, có lòng yêu nước và có lòng căm thù giặc sâu sắc, sống bộc trực, hồn nhiên, giàu tình nghĩa.

Nguyễn Thi có nhiều truyện ngắn hay, trong đó Những đứa con trong gia đình từ lâu đã được đánh giá là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của ông, đồng thời là một tác phẩm tiêu biểu của nền văn học cách mạng Việt Nam 1945 – 1975.  Những đứa con trong gia đình thể hiện tài năng của Nguyễn Thi trên nhiều mặt: khả năng khái quát cao, dựng cảnh, dựng người, mô tả tâm lí sâu sắc, ngôn ngữ Nam Bộ biến hoá, linh hoạt với những triết lí riêng toát lên từ hiện thực. Chúng hoà hợp với nhau hết sức tự nhiên làm cho người đọc không còn thấy là văn mà đó là cuộc sống.

Tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên và học sinh đ­ược đọc – hiểu một trong những tác phẩm tiêu biểu của văn học cách mạng Việt Nam 1945 – 1975 gắn liền với tên tuổi của Nguyễn Thi.Trong chương trình thay sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 12THPT mới (từ 2007), Những đứa con trong gia đình đã được đưa vào giảng dạy với thời lượng 2 tiết nhằm giúp cho người học hiểu được:

+ Hiện thực đau thương, đầy hi sinh gian khổ nhưng rất đỗi anh hùng, kiên cường, bất khuất của nhân dân miềm Nam trong những năm chống Mĩ cứu nước. Sự gắn bó sâu nặng giữa tình cảm gia đình và tình cảm yêu nước, cách mạng, giữa truyền thống gia đình và truyền thống dân tộc đã tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ.

+ Biết trân trọng yêu thương và cảm phục những con người bình thường mà trung hậu, dũng cảm đã đem máu xương để bảo vệ đất nước.

+ Nghệ thuật trần thuật, khắc hoạ tính cách và phân tích tâm lí nhân vật, ngôn ngữ phong phú, giàu màu sắc tạo hình và đậm chất Nam Bộ.

Đó cũng là những lí do khiến tôi chọn đề tài Một số phương diện nghệ thuật cần khai thác khi dạy tác phẩm “Những đứa con trong gia đình” của  Nguyễn Thi  để nghiên cứu, áp dụng vào thực tế giảng dạy chương trình Ngữ Văn 12, ở trường THPT Lam Kinh  năm học 2009 – 2010, 2010 – 2011

 

THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:

II.1. Thực trạng của vấn đề:

Tuy nhiên việc dạy học tác phẩm Những đứa con trong gia đình trong nhà trường là một vấn đề không hề đơn giản, bởi nhiều lẽ:

– Tác phẩm càng hay, thì càng giàu ý nghĩa; và con đường đi tìm hiểu và khám phá nó càng không dễ dàng.

– Bên cạnh đó, truyện ngắn này mới đưa vào giảng dạy trong nhà trường,  nên tài liệu nghiên cứu còn ít và hiếm.

–  Phong cách của Nguyễn Thi đậm đà màu sắc dân gian mà hiện đại, lối kể chuyện tự nhiên như cách cảm, cách nghĩ của người nông dân Nam Bộ, nhân vật được trình bày trong mối quan hệ phức tạp và vận động phát triển đầy ấn tượng: trẻ trung, bộc trực, mãnh liệt, đáng yêu.

– Do giới hạn thời gian và dung lượng SGK nên tác phẩm đã được lược bớt, tập trung vào học phần văn bản khi Việt tỉnh dậy lần thứ tư và hồi tưởng việc hai chị em tranh nhau ghi tên đi bộ đội, những tính toán của chị Chiến trong đêm trước ngày lên đường. Phần văn bản được lựa chọn đã tập trung thể hiện chủ đề tác phẩm. Tuy để hiểu sâu sắc phẩm chất, tính cách của “ Những đứa con trong gia đình”, không thể không quan tâm đến phần tóm tắt những đoạn văn bản đã được lược lược gọn, đặc biệt hình tượng nghệ thuật về dòng sông gia đình được phát biểu qua nhân vật chú Năm Chiến, Việt là hình ảnh khúc sông gia đình đang chảy vào biển lớn “ rộng bằng cả nước ta và ra ngoài cả nước ta”. Nguồn mạnh làm nên dòng chảy ấy, nối tiếp cho dòng chảy ấy chính là khúc thượng nguồn của truyền thống gia đình kết tinh trong các nhân vật như chú Năm, ba, má Việt …. Do vậy, trước khi hướng dẫn học sinh phân tích tính cách, phẩm chất của hai nhân vật Chiến và Việt, người giáo viên cần gợi cho học sinh căn cứ vào phần tóm tắt để nhận ra những đặc điểm chung gắn kết các nhân vật, cũng là các thế hệ lại với nhau ở gia đình ấy. Từ đó học sinh thấy được sự gắn kết tình cảm gia đình và tình yêu quê hương đất nước, truyền thống gia đình và truyền thống dân tộc đã gắn kết hoà quyện để tạo nên sức mạnh to lớn cho con người Việt Nam thời chống Mĩ cứu nước. Một trong những đặc điểm thành công của thiên truyện là ở mặt nghệ thuật: tạo tình huống, cách trần thuật theo điểm nhìn nhân vật, phân tích tâm lý nhân vật, nghệ thuật đồng hiện, chất Nam Bộ …là những đặc điểm riêng cần chú ý  khi tiếp cận tác phẩm.

Vì vậy, khi dạy Những đứa con trong gia đình không ít giáo viên rất lúng túng, đó là thực tế không chỉ với những giáo viên trẻ mới ra trường, mà với cả những giáo viên lâu năm – dù có kinh nghiệm. Bởi với họ, Nguyễn Thi  vẫn là mới mẻ khi những năm tháng ngồi trên giảng đường đại học, nhà văn này vẫn chưa được có một vị trí xứng đáng như hiện nay.

 2. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài:

Từ thực trạng trên, bản thân tôi đã mạnh dạn nghiên cứu  những phương pháp tiếp cận và khám phá tác phẩm Những đứa con trong gia đình :

Mục đích của đề tài:

– Nhằm giúp cho giáo viên dạy văn, nhất là giáo viên đang trực tiếp giảng dạy ở lớp 12- trung học phổ thông có thêm nguồn tư liệu về Nguyễn Thi và truyện ngắn Những đứa con trong gia đình.

– Đối với người học: Đây là một trong những phương pháp  quan trọng,  giúp các em thấy được cái hay, cái đẹp một tác phẩm văn học xuất sắc nhất của Nguyễn Thi, đồng thời là một truyện ngắn tiêu biểu của nền văn học cách mạng Việt Nam 1945 – 1975 . Nhằm góp phần làm tăng sức hấp dẫn của bài học đối với học sinh, trong thời điểm mà hứng thú học văn của các em còn nhiều điều đáng phải suy tư, trăn trở.

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:

– Đi sâu vào khám phá những phương diện nghệ thuật đặc sắc nhằm làm nên giá trị độc đáo, sức hấp dẫn của tác phẩm Những đứa con trong gia đình. Từ đó hướng dẫn học sinh đọc – hiểu để cảm nhận  sâu sắc ý nghĩa của tác phẩm.

II.3. Phương pháp nghiên cứu:

Về lí thuyết:

– Tìm hiểu các tài liệu viết về văn học cách mạng Việt Nam 1945 – 1975.

–  Các bài nghiên cứu, lí luận phê bình về nhà văn Nguyễn Thi.

–  Các tài liệu nghiên cứu về  tác phẩm Những đứa con trong gia đình .

Về thực tiễn:

– Dự giờ dạy bài Những đứa con trong gia đình của đồng nghiệp.

– Thực nghiệm triển khai đề tài trong giờ dạy bài Những đứa con trong gia đình.

– Chọn hai lớp cơ bản có trình độ ngang nhau: một lớp chú ý khắc sâu, nhấn mạnh về các phương diện nghệ thuật đặc sắc của truyện ngắn trong hai giờ học; còn một lớp không chú ý khắc sâu các phương diện này.

II.4. Những luận điểm cần bảo vệ:

* Vài nét về phong cách nghệ thuật của Nguyễn Thi và truyện ngắn Những đứa con trong gia đình .

* Những phương diện nghệ thuật đặc sắc làm nên sức hấp dẫn của truyện ngắn Những đứa con trong gia đình .

* Kết quả thực nghiệm.

II.5. Những đóng góp về lý luận và thực tiễn của đề tài.

Đối với giáo viên:

Đề tài sẽ giúp cho giáo viên khi giảng dạy tác phẩm Những đứa con trong gia đình sẽ có một trong những hướng khai thác hợp lí,  làm nổi bật tài năng nghệ thuật của tác giả và ý nghĩa sâu sắc của truyện ngắn. Đồng thời làm cho giờ học sinh động, dễ đi vào tâm trí và tình cảm của học sinh.

– Qua bài dạy, phần nào giáo viên sẽ nắm được năng lực tiếp nhận và khám phá tác phẩm của học sinh.

Đối với học sinh: Đề tài này giúp các em:

– Nâng cao khả năng tiếp nhận và cảm thụ truyện ngắn đặc sắc, tiêu biểu cho phong cách của Nguyễn Thi: Một cây bút đậm đà màu sắc dân gian mà hiện đại, lối kể chuyện tự nhiên như cách cảm, cách nghĩ của người nông dân Nam Bộ, nhân vật được trình bày trong mối quan hệ phức tạp và vận động phát triển đầy ấn tượng: trẻ trung, bộc trực, mãnh liệt, đáng yêu. Đ­ược coi là nhà văn của ng­ười nông dân Nam Bộ trong kháng chiến chống Mĩ ác liệt. Ngòi bút Nguyễn Thi có biệt tài phân tích tâm lí, thâm nhập sâu vào nội tâm nhân vật. Ông đã sáng tạo nên những trang viết vừa giàu chất trữ tình vừa đầy chất sống hiện thực, với những hình tượng, những tính cách gân guốc, có cá tính mãnh liệt

– Có nhận thức  sâu sắc vẻ đẹp của con người của con người Nam Bộ trong kháng chiến chống Mĩ. đồng thời giúp các em cảm nhận về sự trưởng thành của thế hệ trẻ Việt Nam trong chiến đấu. Vẻ đẹp ấy kết tinh chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, sức mạnh làm nên chiến thắng của nhân dân Việt Nam – một phẩm chất cao quí còn để lại những tấm gương cho thế hệ sau noi theo, từ đó  xác định được  một lối sống đúng đắn cho bản thân.

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:

 Vài nét về phong cách nghệ thuật của Nguyễn Thi và truyện ngắn “Những đứa con trong gia đình”

– Nguyễn Thi  bước vào hoạt động văn học khi văn học Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ. Con đường nghệ thuật của Nguyễn Thi là con đường vẻ vang của một nhà văn chiến sĩ, nhà văn của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Không chỉ cuộc đời anh hùng mà chính những trang viết đã là bằng chứng cho cây bút không bao giờ chịu đứng ngoài hay tụt lại trong cuộc hành quân vĩ đại của dân tộc để du dương hoá, tiểu thyết hoá cuộc đời. Ông bám riết lấy cuộc đời đến phút cuối cùng, trên những mũi nhọn nhất và đỉnh cao nhất của nó bằng cả thể xác và tâm hồn, để quan sát, ghi chép, suy nghĩ, khám phá và sáng tạo bằng thứ ngôn ngữ chắt lọc từ cuộc sống ấy. Bởi vậy sáng tạo của ông không phải là thứ nghệ thuật mỏng manh mà thời gian dễ làm hư nát. Đó là hiện thực cách mạng tự biểu hiện trong cái phần gân guốc nhất, mãnh liệt nhất của nó .Ông đã phát huy ưu thế của truyện ngắn, nâng thể loại này lên tầm cao hơn. Điều đó khiến nhà văn có một phong cách nghệ thuật độc đáo, trở thành “ Người nghệ sĩ duy nhất của thời đại ta nắm vững đến điêu luyện nghệ thuật viết làm sao cho lời chật mà ý rộng”.

– Qua một số tác phẩm tiêu biểu, có thể thấy phong cách nổi bật trong truyện ngắn của Nguyễn Thi đậm đà màu sắc dân gian mà hiện đại, lối kể chuyện tự nhiên như cách cảm, cách nghĩ của người nông dân Nam Bộ, nhân vật được trình bày trong mối quan hệ phức tạp và vận động phát triển đầy ấn tượng: trẻ trung, bộc trực, mãnh liệt, đáng yêu. Đ­ược coi là nhà văn của ng­ười nông dân Nam Bộ trong kháng chiến chống Mĩ ác liệt. Ngòi bút Nguyễn Thi có biệt tài phân tích tâm lí, thâm nhập sâu vào nội tâm nhân vật. Ông đã sáng tạo nên những trang viết vừa giàu chất trữ tình vừa đầy chất sống hiện thực, với những hình tượng, những tính cách gân guốc, có cá tính mãnh liệt . Nghĩa là sự độc đáo của phong cách còn nằm ở những “mạch ngầm” của văn bản. Đằng sau hình thức nghệ  thuật phải thể hiện những dòng chảy ngầm nhiều tầng, nhiều lớp của ý nghĩa: nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa tường minh, hàm ẩn. Làm nên những “mạch ngầm” ấy là toàn bộ các yếu tố nghệ thuật được kết hợp với nhau trong một mối quan hệ hết sức tinh xảo. Vì vậy muốn khám những tầng ý nghĩa tác phẩm của Nguyễn Thi cần phải thận trọng và xem xét kĩ càng các yếu tố nghệ thuật của văn bản.

– Truyện ngắn Những đứa con trong gia đình  là một kiệt tác, bộc lộ rõ tài năng truyện ngắn của Nguyễn Thi. Tác phẩm được viết ngay trong những ngày chiến đấu ác liệt với đế quốc Mĩ , khi ông công tác với tư cách là nhà văn –  chiến sĩ ở tạp chí văn nghệ Quân giải phóng  năm 1966, sau được in trong “ Truyện và kí” NXB văn học, Hà Nội, 1978. Xuất hiện trong hoàn cảnh đó, Những đứa con trong gia đình  mang đậm dấu ấn thời sự của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ.Tác phẩm là bài ca ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn của ng­ười dân Nam Bộ đồng thời khẳng định lòng yêu n­ước, căm thù giặc đã trở thành truyền thống gia đình, là nguồn sức mạnh tinh thần to lớn khiến dân tộc ta có thể vượt qua nỗi đau lớn nhất  để tồn tại và chiến thắng trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc trư­ờng kì gian khổ.

– Là một truyện ngắn tiêu biểu của nền văn học cách mạng Việt Nam 1945 – 1975, Những đứa con trong gia đình hiển nhiên mang đậm tính sử thi và cảm hứng lãng mạn. Tuy vậy, nói đến tác phẩm này người ta không thể nói đến tính hiện thực sâu sắc của nó. Sự chính xác và sống động của các chi tiết luôn được đề cao. Chi tiết nào cũng gây ấn tượng, như được lấy “ trực tiếp” từ đời sống nóng hổi, giàu sức biểu hiện, giàu tính thẩm mỹ. Chính công việc chuẩn bị tư liệu chu đáo, cẩn thận, việc ghi chép miệt mài những điều mắt thấy, tai nghe vào sổ tay đã hỗ trợ đắc lực cho Nguyễn Thi ở phương diện này. Đọc từng trang viết của ông, ta cảm nhận được một trữ lượng dồi dào những kinh nghiệm sống thấp thoáng ở phía sau. Truyện ngắn mà nhiều khi có sức chứa của một tiểu thuyết lớn. Tham vọng khái quát của nhà văn luôn được thể hiện thông qua cách ông sử dụng nhiều thủ pháp nghệ thuật khác nhau, nhưng tham vọng đó không hề khiến ông quên đưa ra những đường nét chạm khắc rạch ròi về nhân vật, bối cảnh. Sự hứng thú quan sát, miêu tả ngôn ngữ, tâm lý nhân vật, sự vận dụng đầy ý thức ngôn ngữ Nam Bộ trong trần thuật có mối liên hệ lô gích với động cơ sáng tạo này. Ngoài ra, việc học tập kinh nghiệm của các nhà tiểu thuyết hiện đại phương Tây trong vấn đề tái hiện dòng ý thức nhân vật cũng được chú ý đúng mức, tạo nên những trang viết xuất thần, đáng quý ( đoạn miêu tả dòng hồi tưởng, suy nghĩ của nhân vật Việt khi bị thương nằm lại trên trận địa là một ví dụ cụ thể, điển hình).

Tất cả những ý nghĩa cao đẹp này, được nhà văn gửi gắm ở tác phẩm Những đứa con trong gia đình, với một hình thức nghệ thuật đặc sắc, tạo nên sức hấp dẫn diệu kì có một không hai  của truyện ngắn. Cảm nhận được điều đó, độc giả ngày nay không thể không tiếc nuối khi nghĩ về sự ra đi quá sớm của Nguyễn Thi – một hiện thượng “ bùng nổ về tài năng” – Nguyên Ngọc trong các thế hệ nhà văn trưởng thành sau cách mạng tháng Tám.

Những phương diện nghệ thuật cần khai thác khi dạy tác phẩm “Những đứa con trong gia đình của Nguyn Thi.

Làm nên sức cuốn hút của tác phẩm là sự kết hợp nhuần nhuyễn nhiều yếu tố nghệ thuật đặc sắc:

 

II.1.Trước hết là ở tình huống truyện:

Những đứa con trong gia đình lôi cuốn và hấp dẫn trước hết bởi một cốt truyện giản dị .Đây là câu chuyện của gia đình anh giải phóng quân tên Việt. Nhân vật này rơi vào một tình huống đặc biệt: trong một trận đánh, bị thư­ơng nặng phải nằm lại giữa  chiến trư­ờng, anh nhiều lần ngất đi tỉnh lại, tỉnh rồi lại ngất.

 

Sơ đồ tóm tắt cốt truyện:

Chú Năm        Ba má Việt                Chiến              Việt

 

Hình tượng dòng sông gia đình                                            Biển lớn

 

Việt tỉnh dậy lần thứ nhất….

+ Anh cố bò đi tìm đồng đội, tuy bị thương khắp người và mắt không thấy gì… Anh lại ngất đi..

Việt tỉnh dậy lần thứ hai lúc trời mưa lất phất…

+ Anh nhớ lại chuyện đi bắt ếch với chị Chiến, chuyện phân xử của chú Năm với hai chị em, chuyện cốn sổ gia đình…

Việt tỉnh dậy lần thứ ba giữa ban ngày….

+ Tiếng chim gù gợi Việt nhớ đến cái ná thun, nhớ chuyện má đi đòi đầu ba…

– Việt tỉnh dậy lần thứ tư….

 

– Truyện đ­ược kể theo dòng nội tâm của nhân vật khi đứt (ngất đi) khi nối (tỉnh lại).  Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật bằng cáh nương theo dòng hồi ức của nhân vật. Bốn lần Việt tỉnh rồi lại mê trên trận địa là bốn lần Việt nhớ và nghĩ theo dẫn dụ hình ảnh ngoại cảnh. Tâm lí phức tạp nhưng vẫn lô gíc . Kết cấu từ những giấc mơ chập chờn mê tỉnh, từ đó mở rộng và đào sâu vào đời sống hiện thực và tâm hồn nhân vật. Tóm lại, tình huống truyện dẫn đến một cách trần thuật riêng của thiên truyện theo dòng ý thức của nhân vật.

II.2. Thứ hai: Nghệ thuật trần thuật của tác phâm:

Những đứa con trong gia đình là một trong những thiên truyện ngắn xuất sắc nhất và tiêu biêu biểu nhất của Nguyễn Thi. Tạo nên nét đặc sắc nhất của thiên truyện phải kể tới nghệ thuật kể chuyện ( trần thuật) độc đáo, linh hoạt của tác giả.

Tác phẩm kể chuyện một gia đình cách mạng, mọi thành viên đều là chiến sĩ diệt Mĩ kiên cường. Thù nhà, nợ nước thống nhất làm một. Tình gia đình và tình cách mạng hoà lẫn vào nhau: Ba má Việt đều ngã xuống trong chiến đấu. Những đứa con của họ ( Việt, Chiến ) đều gắn bó với nhau trong tình ruột thịt và trong niềm tự hào về truyền thống cách mạng của gia đình. Người mẹ nuôi con lớn lên để trả thù cho cha. Những đứa con giành nhau nhập ngũ để trả thù cho ba má… Một câu chyện như thế tuy cảm động nhưng khá nặng nề, dễ đơn điệu và trùng lặp nếu không tạo ra một cách trần thuật độc đáo, linh hoạt.

– Giáo viên đưa ra bảng đối chiếu các sự việc theo trật tự thời gian tự nhiên và các sự việc được kể trong tác phẩm. Yêu cầu học sinh quan sát và đưa ra nhận xét: Tại sao Nguyễn Thi có thể sắp xếp các sự việc theo trật tự như vậy? Câu chuyện sẽ như thế nào nếu được kể đúng theo tuần tự các sự việc trong đời sống tự nhiên?

 

Trình tự các sự việc đã sảy ra với “ những đứa con trong gia đình Trình tự các sự kiện được kể lại trong truyện
– Chú Năm và cuốn sổ gia đình.

 

 

 

 

– Ba Việt hy sinh, má Việt chèo chống nuôi gia đình và tham gia đấu tranh, bị bom đạn giặc giết hại.

– Việt và Chiến tranh nhau ghi tên tòng quân, tính toán, sắp xếp việc gia đình để lên đường.

 

– Việt tham gia chiến đấu, trong một trận đọ lê với giặc , bị thương và lạc đồng đội giữa chiến trường.

– Sau ba ngày, anh Tánh và đồng đội tìm thấy Việt và đưa anh vào bệnh viện. Anh Tánh giục Việt viết thư cho chị Chiến.

– Việt bị thương, nằm trong bệnh viện, rờ rờ từng dòng viết thư báo tin cho chị Chiến, anh hồi tưởng lại cảnh trận đánh và bị thương, lạc đồng đội giữa chiến trường.

– Việt tỉnh lại lần thứ nhất, bò đi tìm đồng đội.

 

– Việt tỉnh lại lần thứ hai, trời lất phất mưa, anh nhớ lại chuyện đi soi ếch ở nhà, chuyện về chú Năm và cuốn sổ gia đình.

– Việt choàng  tỉnh lại lần thứ ba, anh nhớ tới chuyện cái ná thun, chuyện hy sinh của ba, chuyện về má.

– Việt choàng  tỉnh lại lần thứ tư, anh  chuyện đi bộ đội của mình và chị Chiến.

– Anh Tánh cùng đồng đội tìm thấy Việt và đưa anh về bệnh viện, anh Tánh giục Việt viết thư cho chị Chiến

 

* HS quan sát bảng, đối chiếu các sự việc, đưa ra nhận xét, lí giải và đánh giá

* Trên cơ sở đó, GV tổng hợp về nghệ thuật trần thuật của tác phẩm :

–  Nhìn vào bảng liệt kê các sự việc đã xảy ra theo trình tự thời gian đối với “Những đứa con trong gia đình” và các sự việc được kể lại trong truyện, chúng ta có thể nhận thấy sự khác biệt thể hiện ở cách kể truyện của nhà văn. Vẫn là các sự kiện xảy ra đối với gia dình nông dân Nam Bộ, nơi Chiến và Việt được sinh ra, nuôi nấng trưởng thành, đi làm cách mạng, nhưng trong tác phẩm, trật tự kể lại chúng đã được xáo trộn. Chuyện xảy ra sau nhưng lại được kể trước. Ngược lại có những sự việc trong cốt truyện tự nhiên phải xảy ra trước song lại được kể sau. Thế nhưng câu chuyện vẫn hiện lên rất rõ ràng, hấp dẫn, mạch lạc trong cách cảm nhận của người đọc. Lối thuật kể này giúp tác giả dễ dàng cắt bỏ những vách ngăn giữa các khoảng thời gian để mạch kể thoải mái đi về giữa quá khứ và hiện tại, giữa cái đang diễn ra trước mặt và kỉ niệm xa xưa, giữa những chi tiết thoáng đến thoáng đi tưởng như bâng quơ, ngẫu nhiên với những tư tưởng, tình cảm lớn lao, trọng đại. Xâu chuỗi tất cả những gì được nhà văn kể lại, chúng ta hình dung thấy trước mắt những thành viên, các thế hệ kế tiếp nhau làm thành hình tượng dòng sông về truyền thống gia đình như lời một nhân vật trong tác phẩm đã phát biểu. Điều gì đã làm nên “mạch lạc” câu chuyện với các sự kiện đựoc xáo trộn không tuân theo trật tự thời gian thông thường ấy? Chính là dòng tâm tưởng, những hồi ức đứt nối của Việt khi bị thương nơi chiến trường. Người kể chuyện đã nương theo những mảnh kí ức chợt đến, chợt đi, chợt náo nức, chợt hiển hiện, chợt thoáng qua ấy mà làm nên mạch chuyện ở “Những đứa con trong gia đình”.

– Trong tác phẩm tự sự, điều tạo nên sức hấp dẫn của sáng tác không phải chỉ ở nội dung câu chuyện với các sự kiện, chi tiết, hình ảnh được kể lại, mà còn ở cách kể, ngôn ngữ, giọng điệu, điểm nhìn của người kể chuyện. Xét ở phương diện này, một thành công trong sáng tác của nhà văn Nguyễn Thi là nghệ thuật trần thuật. Việc chọn cách kể chủ yếu dựa trên điểm nhìn của nhân vật Việt đã đem lại hấp dẫn riêng cho câu chuyện về “Những đứa con trong gia đình”.

+ Kể bằng điểm nhìn của Việt, một chiến sĩ quân giải phóng gan dạ từ trong trứng nước, vào trận lần đầu đã thể hiện tinh thần của một dũng sĩ diệt Mĩ, nhưng đồng thời cũng là một thanh niên mới lớn, vô tư, lộc ngộc, hồn nhiên, cho nên tất cả sự kiện, kí ức đều được khúc xạ qua thế giới tâm hồn ấy trở nên mới mẻ hơn, vô tư hơn, đồng thời dường như cũng tạo ấn tượng chân thật hơn trong mắt ngưòi đọc.

+ Kể chuyện bằng hồi tưởng của Việt, một chiến sĩ bị thương giữa chiến truờng, trong nhưng cố gắng đi tìm đồng đội, hay sẵn sàng chờ giặc đến, đã ngất đi tỉnh lại nhiều lần, nhất định câu chuyện ấy phải ít nhiều có liên quan hoặc được gợi ra từ tình huống người chiến sĩ đang phải đối mặt. Và như vậy, việc tổ chức, sắp xếp (kết cấu) các sự việc, sự kiện trở nên linh hoạt, tự nhiên hơn. Chuyện gọi chuyện, sự việc này gợi liên tưỏng đến sự việc khác, cứ nhự thế câu chuyện về gia đình giống như một cuốn phim quay chậm lần lượt hiện ra với những kí ức sâu đậm nhất. Câu chuyện về việc đăng kí đi bộ đội của hai chi em trong lần tỉnh dậy thứ tư này của Việt được gợi lại từ bóng dáng thấp thoáng của hình ảnh người mẹ trong lần hồi tưởng thứ ba. Câu chuyện về tình yêu của ba má, về bàn tay to bản bao bọc, che chở đàn con, về ánh mắt vượt sông, vượt biển của má vẫn còn thoáng qua trong đầu anh. Nó nhắc cho anh nhớ tới “ngày má chết rồi ý nghĩ đi bộ đội cũng thôi thúc Việt như vậy”. Thêm nữa là tiếng đạn nổ rất gần báo tin rằng đồng đội Việt đang ở đâu đây, những người đồng đội mới gặp thôi mà gần gũi thân yêu, đã coi anh như một “út em” trong gia đình vậy, cũng làm cho mạch chuyện về việc hai chị em tranh nhau đi tòng quân trở nên rất tự nhiên và linh hoạt, sống động, thêm những ngã rẽ, khúc quanh bất ngờ.

+ Nhưng phải nói, kể chuyện bằng điểm nhìn của Việt là nhà văn đã mượn người kể chuyện để trao ngòi bút cho nhân vật tự viết về mình. Cách trần thuật này tạo nên những trang văn đậm màu sắc trữ tình, chân thực về tâm trạng của nhân vật chính. Bị thương vào mắt sau một trận đọ lê quyết liệt với địch và lạc đồng đội giữa chiến trường, Việt chỉ còn cảm nhận về thế giới xung quanh hoàn toàn bằng cảm giác và sự hồi tưởng. Lần tỉnh dậy thứ tư này, Việt biết đêm nữa đã lại đến qua tiếng nhạc dế “ u u cao vút mãi lên”. Và độ sâu của đêm  được “ đo” bằng âm thanh quen thuộc, gần gũi này. Việt nhận thấy đó là đêm “ sâu thăm thẳm” bởi quá yên tĩnh. Cái thăm thẳm của đêm làm cho Việt như vẫn sống trong giấc mơ về má “ Người Việt như đang tan ra nhè nhẹ”. Má sẽ lại bơi xuồng, ghé lại qua nhà, xoa đầu Việt, đánh thức Việt rồi lấy xong cơm đi làm đồng về cho anh ăn,…Những mảnh dư âm của hồi tưởng đột ngột tan biến bởi tác động của hiện thực. Mấy giọt mưa đã làm cho Việt tỉnh hẳn để cảm nhận về thực tại. Nhập thân vào dòng tâm trạng của nhân vật chính, nhà văn đã tái hiện những cảm giác rất chân thực và sinh động của một thanh niên mới lớn, lần đầu tiên nếm trãi cảm giác bị lạc đồng đội ở giữa chiến trường. Việt không sợ phải đối đầu với giặc, không sợ hy sinh. Nhưng anh sợ cái vắng lặng và cô đơn nơi chiến trường – “ sự vắng lặng như từ trên trời lao xuống chạy từ cổ Việt, lan dài cho tới ngón chân”. Cảm giác một mình không chỉ xuất hiện trong ý nghĩ. Nó trở thành vô vàn câu hỏi bật lên dội tới từng đường gân thớ thịt. “ Cái cảm giác một mình bật lên một cách rõ ràng nhất, mênh mông nhất” đã khiến Việt muốn “ chạy thật nhanh, thoát khỏi sự vắng lặng này, về với ánh sáng ban ngày”. Bởi lẽ bóng đêm không chỉ mang theo sự cô đơn. Bóng đêm đối với chàng thanh niên lộc ngộc, mới lớn mà còn đáng sợ vì nó mang đến “ con ma cụt đầu vẫn ngồi trên cây xoài mồ côi và thằng chỏng thụt lưỡi hay nhảy nhót trong những đêm mưa ngoài vàm sông, cái mà Việt vẫn nghe  chị nói hồi ở nhà”. Chàng dũng sĩ diệt Mỹ ấy vẫn đang còn ở tuổi sợ ma khi vào trận!

Chỉ trong cảm giác cô đơn, một mình rõ ràng nhất đó, cảm nhận của Việt về tiếng súng mới thật đặc biệt. Bằng thính giác và sự nhạy bén của người chiến sĩ vào trận, Việt phân biệt tiếng nổ lễnh lãng của pháo giặc và “những tiếng quen thuộc, gom vào một chỗ”, “ súng lớn và súng nhỏ quyện vào nhau như tiếng mõ và tiếng trống đình đánh dậy trời dậy đất hồi Đồng khởi”. Cũng chỉ trong cảnh đó, tiếng súng mới trở nên thân thiết và vui lạ. Nó gọi Việt tới phía của “ sự sống”. “Tiếng súng đã đem lại sự sống cho đêm vắng lặng”. Nơi có tiếng súng là đồng đội anh , là anh Tánh, là những “ anh em đơn vị mình”, nơi “ đạn ta đang đổ lên đầu giặc Mĩ những đám lửa dữ dội, và những mũi lê nhọt hoắt trong đêm đang bắt đầu xung phong”. Tiếng súng đồng đội gọi chiến đấu đã tiếp thêm sức mạnh mới để gọi Việt đến. Sự thôi thúc chưa bao giờ mạnh mẽ và quyết liệt đến như vậy. Nó đơn giản hơn nhiều so với việc phải “ giành nhau” với chị để đi bộ đội đặng trả thù cho ba má, cho những người thân trong gia đình và cũng là cho quê hương đất nước. Để cho Việt trong tư thế đối mặt với cái chết và bản thân chỉ nghĩ đến nhiều nhất, lâu nhất đến những người thân yêu trong gia đình mình, tác giả đã tìm được cách thức hữu hiệu nhất để chứng tỏ rằng: gia đình đó là phần nguồn cội sâu thẳm nhất của con người ấy. Truyền thống gia đình thực sự thiêng liêng hiện lên trong thời khắc thiêng liêng. đó là công phu sáng tạo nghệ thuật của tác giả để biểu hiện những khám phá về nội dung.

+ Cứ như vậy, dòng trần thuật qua tâm tưởng nhân vật Việt đã thể hiện thật rõ nét với người đọc những suy nghĩ, cảm nhận và đời sống nội tâm của nhân vật ấy trong tình huống đặc biệt nơi chiến trường mà anh đang gặp. Đó là ưu thế nghệ thuật mà một điểm nhìn trần thuật khác không thể có được.

Đấy là một thủ pháp nghệ thuật, nhưng không phải ai cũng sử dụng thành công được. Phải am hiểu sâu sắc tâm lý nhân vật, phải nhập vai nhân vật và nói được đúng giọng nói của nhân vật… đấy là sở trường và tài năng độc đáo của Nguyễn Thi – nhà văn của nông dân Nam Bộ.

II.3. Thứ ba: Sử dụng nghệ thuật đồng hiện:

– Đây là một thủ pháp khá quen thuộc về kết cấu tác phẩm, một yếu tố thuộc về hình thức. Kết cấu là việc tổ chức , sắp xếp các yếu tố nội dung trong văn bản tác phẩm để nó đạt hiệu quả nghệ thuật cao nhất. Thủ pháp đồng hiện góp vai trò quan trọng trong công việc này. Đó là một trong những thủ pháp tạo ra được kết cấu độc đáo. Từ đó, cốt truyện, nhân vật, chủ đề được thể hiện, gây hiệu quả nghệ thuật sâu sắc. Sau một cuộc giao tranh quyết liệt với kẻ thù, Việt lạc đơn vị giữa rừng đầy xác giặc, chân tay tê dại nhức nhối, khắp người rỉ máu, miệng tê cứng không la lên được, sau đó ngất đi. Nhưng Việt vẫn cố bò đi và sẵn sàng chiến đấu bằng khẩu súng của mình. Mười ngón tay không lên đạn được. Việt dùng răng giật cơ bẩm, đưa một viên đạn lên nòng. Chi tiết này nói lên ý chí diệt giặc của Việt rất mạnh mẽ. Trong tâm trạng luôn nhớ tới người thân( nhớ chị Chiến, chú Năm…). Sang ngày thứ hai, Việt bắt đầu cảm thấy nóng và đói, mắt bị thương nặng, đau khắp người. Đến đây hoàn cảnh của Việt càng gay go. Đường về với đồng đội càng khó khăn gấp bội. Dù vậy anh vẫn sẵn sàng nổ súng với một ngón tay cái sẵn sàng nhúc nhích do chín ngón còn lại đã bị thương. Tâm trí thì nhớ về ngày tòng quân, nhớ ngày theo má đi đòi đầu ba, nhớ má tần tảo lo nuôi các con, nhớ cái chết của má. Trong hoàn cảnh hiểm nghèo, Việt không sợ chết mà chỉ (sợ không còn gặp được đồng đội, không được cầm súng) mà hướng về ba má. Khi về đêm. Khi về đêm thì Việt cảm thấy kiệt sức hoàn toàn, cảm thấy không còn bò được nữa , cảm giác sờ sợ cái vắng lặng, lạnh lẽ của đêm tối. Lúc này tâm trạng của Việt luôn hướng về đồng đội, điều đó rất hợp lý vì Việt đã nghe tiếng súng, tiếng khèn xung phong của ta và đang cảm thấy cuộc chiến đấu bắn ra. Do đó, Việt lại bò được một đoạn, bò về phía trận đánh, phía đồng đội, phía sự sống. Nhưng trận đánh ở xa Việt, cho nên tâm trí Việt lắng lại, hồi tưởng ngày giành đi bộ đội với chị Chiến và cảnh hai chị em bàn định việc nhà trước khi lên đường gia nhập ngũ. Cảm động nhất là khi hai chị em bàn và gửi bàn thờ má: đối với hai chị em dường như đó là việc hệ trọng nhất. Hai chị em lo cúng má trước khi lo dời bàn thờ (càng cảm động hơn khi hai chị em em lo làm cơm cúng má trong tiếng hò như vỡ ra, như nhắn nhủ, tha thiết rồi ngắt lại như một lời thề dữ dội của chú Năm). Tác giả nương theo theo ý nghĩ của nhân vật, để hai chị em đóng vai trò kể chuyện- trước đó tác giả đứng ra kể chuyện – mà dùng các từ ngữ “ đưa má sang ở tạm nhà chú” , “ khiêng má” – chứ không phải khiêng bàn thờ, rồi đến ngày độc lập lại “ đưa má về”. Cũng qua cảm nghĩ của hai chị em và của riêng Việt ở đoạn này “ chúng con đi đánh giặc trả thù cho ba má… Việt thấy thương chị lạ. Còn mối thù thằng Mĩ nó đang đè nặng lên vai”, ta thấy chị em Việt nhập ngũ không phải vì ý thích nông nổi mà do chiều sâu nhận thức: đi đánh giặc vì căm thù và yêu thương sâu nặng. Việt đã nhìn lại quá khứ bằng con mắt của ý chí, của tâm tưởng. Qua đó nhân vật bộc lộ ý chí, nghị lực, tinh thần chiến đấu cao và tình yêu thương đậm đà, hồn nhiên. Tuy Việt hay tranh giành với chị, nhưng biết nghe lời chị. Việt cũng là một đứa trẻ hồn nhiên, thậm chí trẻ con( luôn mang chiến ná thun bên mình, sợ ma, không muốn mất chị…). Chính tình chị em, chú cháu, má con, đồng đội đã tiếp sức cho Việt vượt qua thử thách khắc nghiệt..

– Qua  một vài điều trên, ta thấy thủ pháp nghệ thuật đồng hiện trong khắc hoạ nhân vật Việt, chủ yếu dựa trên cơ sở của phép liên tưởng , phép bắc cầu từ sự kiện này sang sự kiện khác, từ chi tiết, nhân vật này sang chi tết nhân vật kia… Trong sự liên kết đó, dòng hồi tưởng của nhân vật vẫn là sợi dây nối quan trọng nhất. Từ chi tiết anh, em trong quân y viện gọi anh là cậu Tư, Việt chợt nhớ tới chị Chiến, anh Tánh, nhớ lại trận đánh… Cách tình tiết truyện diễn ra rất tự nhiên. Thủ pháp nghệ thuật này ta đã gặp ở truyện “ Đôi mắt” của Nam Cao. ở đó, câu chuyện diễn ra trong hồi tưởng của Độ, khác chăng là Nam Cao để độ xưng “ tôi” và tự kể. Còn ở đây, Nguyễn Thi trực tiếp miêu tả nhân vật Việt. Ông vừa miêu tả diễn biến tâm trạng nhân vật, vừa mượn tâm trạng ấy nói lên câu cuyện mình muốn kể. Đây cũng là một lối kể chuyện độc đáo.

– Vẫn bằng cách trên, theo lời độc thoại của nhân vật Việt, tác giả lần lượt giới thiệu và đồng hiện các nhân vật: Chiến, chú Năm, ba má Việt, anh Tánh…Cũng như Việt, Chiến tòng quân chiến đấu trong một tiểu đội nữ địa phương. Chiến chỉ khác Việt ở chỗ vai trò người chị cả nên sớm trưởng thành, biết lo toan, tính toán già dặn hơn lứa tuổi 20. Cô là một người chị yêu thương, nhường nhịn em, một người má với với nỗi lo toan tính mọi mặt, một người chiến sĩ với tâm hồn khao khát trả thù, có tinh thần chiến đấu cao như tên của cô “ Quyết Chiến”, với câu nói “ Nếu giặc còn thì tao mất”. Chiến có nhiều nét giống má nhưng khác má cô đã vươn lên mạnh mẽ, có điều kiện trả thù. Chú Năm là một nhân vật được thoáng qua trong dòng tâm tưởng, gợi lên từ một tiếng ếch trong trận chiến đã im tiếng súng… Mỗi lần Việt và Chiến đi soi ếch về, chú đều “ kiếm con trọng trọng đem về nhậu” , “ nhậu vào ba hột là chú nói tới hay hò lên mấy câu”. Câu hò khiến chú xúc động “ đôi mắt mở to, đọng nước”. Chú là sử gia lưu giữ truyền thống gia đình , là tác giả cuốn “ gia phả”. Cuốn sổ lần về quá khứ, lẫn trong hiện tại. đó là chứng tính lịch sử được khơi dậy, chép lại bởi cái nhìn đa cảm, cái yêu, cái ghét của một tư cách Nam Bộ trọng nghĩa, bộc trực, sôi nổi, yêu đời…. Ba má Việt hiện về trong Việt như những kỷ niệm về lòng yêu thương và căm thù. Những đoạn văn này Nguyễn Thi như đồng cảm với nhân vật và viết lên bằng nước mắt khiến cho người đọc thấy xúc động, đau nỗi đau cùng nhân vật.

– Chính nghệ thuật đồng hiện làm cho câu chuyện thảm khốc và hào hùng, đậm đà tình người… tưởng như chập chờn, đứt nối, rời rạc… liền lại trong mạch nguồn tâm tưởng khá chặt chẽ. Chặt chẽ nhưng vẫn giữ được cái vẻ bề bộn của tầng tầng, lớp lớp chi tiết trong cuộc sống thường và trong chiến tranh. Các mảng sự kiện, những đoạn đời trong quá khứ và hiện tại như cố tình đan chéo vào nhau, bổ sung cho nhau một cách hợp lý, làm cho tính cách nhân vật được khắc hoạ rõ nét và chủ đề của truyện được bộc lộ khá nổi bật. Lối kết cấu đặc biệt này buộc tác giả phải đi đến tận cùng trong việc phân tích và diễn biến phức tạp nhưng tinh tế của tâm lý nhân vật. Tất cả điều này được Nguyễn Thi vượt qua và thể hiện rất thành công. Truyện tái hiện hiện thực nóng bỏng của một vùng quê với những con người chân chất, hồn nhiên với quyết tâm cầm súng trả thù nhà, nợ nước. Qua các nhân vật ta thấy truyền thống đấu tranh của gia đình, quê hương. đồng thời mỗi người lại góp một “ khúc sông” vào con sông gia đình kiên cường, tạo thành biển cả truyền thống dân tộc.

II.4. Thứ 4 : Nghệ thuật xây dựng và miêu tả tâm lí nhân vật.

II.4.1: Nghệ thuật xây dựng nhân vật.

– Nguyễn Thi có biệt tài dựng người, dựng cảnh. Vốn sống của ông phong phú khiến cho các chi tiết mà ông “lẩy” ra bao giờ cũng như giẫy trên trang sách rất sinh động. Nhiều nhân vật chỉ xuất hiện thoáng qua trong truyện nhưng đã kịp để lại một ấn tượng khó quên cả về hành động lẫn ngôn ngữ. Chú Năm của Việt thật dễ nhớ với “giọng hò đục và tức như tiếng gà gáy”. Gọng hò của chú tuy không hay nhưng chứa đựng một cái gì tha thiết khiến cho chị em Việt buồn cười nhưng vẫn rất cảm động. Ông là người ít nói nhưng những câu nói của ông được chị em Chiến khắc sâu vào tâm khảm. Nó tương tự như những châm ngôn kết tinh cả một đời từng trải sông nước, lăn lộn với ruộng vườn và thuỷ chung với cách mạng.Bên cạnh nhân vật chú Năm là hình ảnh má Việt cũng hiện lên với nét chạm khắc rạch ròi. đó là người đàn bà xốc vác, gan dạ. Tác giả đã chọn được nhiều chi tiết tài tình để xây dựng chân dung con người ấy, đặc biệt là chi tiết bà đối mặt với quân thù giúp ta hình dung rõ nét hình ảnh một người mẹ nơi thành đồng Tổ quốc.

–  Hai nhân vật được khắc hoạ đậm nét trong tác phẩm là Chiến và Việt. Chiến là chị. Theo lời chú Năm, cô “ không khác mẹ một chút nào’. Ngay cả Việt cũng nhận thấy thế. Cô có đức tính kiên trì, chịu khó, chi tiết “ bỏ ăn để ngồi đánh vần cuốn sổ gia đình suốt từ trưa đến trời choạng vặng” đã chứng tỏ điều đó. Cô cũng thừa hưởng ở mẹ đức tính gan góc. Trong ngày tòng quân, cô nói với em “ Tao đã thưa với chú Năm rồi. Đã làm thân con gái ra đi thì tao chỉ có một câu: Nếu giặc còn thì tao mất, vậy à!”. Ở cô, khả năng vun vén, thu xếp gia đình cũng thể hiện rất rõ. Trước khi cùng em đi bộ đội, mọi chuyện nhà đã được cô xếp đặt đâu vào đó, tỉ mỉ, chu đáo, “ nói nghe thiệt gọn” khiến cho chú Năm cũng phải có chút sững sờ, “ nhìn hai cháu thiệt lâu” rồi nói “ Khôn! Việc nhà nó thu gọn được thì việc nước nó mở được rộng, gọn bề gia thế, đặng bề nước non. Con nít bây kì đánh giặc này khôn hơn chú hồi trước”. Câu nói của chú Năm thể hiện sự yên tâm của thế hệ trước đối với người lớp sau. Rõ ràng họ đã trưởng thành, có thể gánh vác những việc lớn của đất nước.

–  Khác với chị Chiến, Việt vẫn giữ nguyên tính chất của một cậu bé. “ Cậu Tư” có điệu cười “ lỏn lẻn” rất dễ thương, hay tranh phần hơn với chị, từ chuyện bắt ếch đến chuyện đi bộ đội trước chị. Trước khi chị bàn những việc phải làm trong ngày mai, Việt vẫn đùa nghịch “ chụp một con đom đóm úp trong lòng tay” và thú vị quan sát điệu bộ, cử chỉ, cách nói năng “ in hệt má” của chị. Vào bộ đội rồi, cậu vẫn “ giấu chị như giấu của riêng vậy” vì sợ mất chị trước những lời gạ gẫm đùa tếu của anh, em. Trong hành trang người lính của mình, ngoài cái võng, bộ quân phục, Việt còn mang cái theo cái ná thun – một vật bất li thân từng gắn bó từ ngày “để đầu trần, mình mầy tèm lem sình đất từ chỗ móc mương lên, lội tắt trong vườn, đi tìm chim”. Tuy còn rất trẻ con nhưng Việt đã chiến đấu rất dũng cảm không thua kém ai. Anh đã tiêu diệt được một chiếc xe bọc thép của địch. Bị thương, Việt quyết bò đi tìm đồng đội . Nghe tiếng xe, pháo của giặc, Việt nằm chờ với tâm niệm: “ Tao sẽ chờ mày! Trên trời có mày, dưới đất có mày, cả khu rừng này chỉ có mình tao”. Có bao nhiêu là quyết tâm, bao nhiêu là niềm trìu mến với đồng đội, bao nhiêu là sự coi thường, khinh rẻ kẻ thù thể hiện qua lời độc thoại ấy. Quả thật, Việt đã là một người lính chững chạc trong khi còn mang đầy đủ nét ngây thơ, trong sáng, đáng yêu của một cậu bé vừa đến tuổi thành niên.

Nhìn chung trong xây dựng nhân vật, Nguyễn Thi rất quan tâm đến việc cá thể hoá. Nhân vật nào cũng có những nét riêng, độc đáo hiện lên rõ mồn một trước mắt độc giả. Chú Năm nói khác má Việt và Việt nói khác chị Chiến. Lời nói của ai thể hiện rõ tính cách người đó. Nhưng mặt khác, nhà văn cũng có ý thức nhấn mạnh điểm giống nhau giữa họ. Chẳng thế mà ông nhiều lần qua lời chú Năm, qua lời Việt so sánh Chiến với người má của cô, và để người má ấy nói về Việt: “ Đó, lại giống cái thằng cha nó rồi!”. Nói lên điểm giống nhau ở đây tức là nói đến nét bền vững trong một gia đình giàu tinh thần cách mạng, có lòng căm thù giặc sâu sắc, sống rất mực tình nghĩa thuỷ chung. Đây chính là điểm nút sẽ giúp ta lí giải được sức mạnh tinh thần nào đã giúp các nhân vật vượt qua được những thử thách lớn lao, gay gắt đến như vậy. Mở rộng ra, đấy cũng là điểm nút khiến cho mọi chi tiết, sự việc được mô tả trong tác phẩm qui tụ lại, thống nhất ở tinh thần chung là khẳng định những phẩm chất đẹp đẽ của người dân Nam Bộ trong chiến tranh chống Mĩ cứu nước. Nhiều câu nói thốt lên từ miệng chú Năm hay từ miệng má Việt, vì vậy, có tầm  khái quát triết lí, mang triết lí của cả một dân tộc bất khuất, dù nó được biển hiện ra trong một hình thức rất  mực giản dị- giản dị đến bất ngờ: Ví dụ câu nói nói của má Việt: “người chết có cái vui của người chết, nếu không người ta sanh con ra làm gì?”.Ở đây, có thể nhận ra một đặc điểm trong sáng tác của Nguyễn Thi: tính triết lí rất cao, nhưng đấy là triết lí của chính cuộc đời – một cuộc đời được tái hiện sinh động qua những biểu hiện mang tính bản chất. Điều đó đã được chứng minh bằng  chi tiết “cực đắt” mà nhà văn đã đưa vào cuối tác phẩm: chi tiết hai chị em Việt và Chiến khiêng bàn thờ má sang gửi nhà chú Năm: “ Chị Chiến đứng giữa sân, kéo cái khăn trên cổ xuống, cũng sắn tay áo để lộ hai bắp tay tròn vo và chắc nịch của mình nhấc bổng một đầu bàn thờ má lên. Việt ghé vào một đầu. Nào, đưa má sang ở tạm nhà chú, chúng con đi đánh giặc trả thù cho ba má, đến chừng nước nhà độc lập con lại đưa má về.” Đoạn văn đã nói hết sức cô đọng về cuộc chiến đấu của chúng ta: có yêu thương, có căm thù, có mất mát nhưng có cái vĩnh hằng, có sự quyết liệt nhưng cũng có sự thanh thản, có yếu tố hành động nhưng cũng có yếu tố tâm linh… Và “mùi hoa cam”, nó chỉ thoảng qua một lần mà thơm mãi. Trong văn Nguyễn Thi, mùi hương “ trữ tình” này thường chỉ được dùng rất dè sẻn, nhưng chính vì vậy mà nó vô cùng quý, để lại trong lòng người đọc những tình cảm sâu xa.

II.4.2: Nghệ thuật phân tích tâm lí  nhân vật.

Một thành công cơ bản của Nguyễn Thi trong Những đứa con trong gia đình là nghệ thuật phân tích tâm lý nhân vật. Đó là cái tài của ông khi lựa chọn các chi tiết đặc sắc làm nổi bật cá tính nhân vật. Điều đặc biệt cần lưu ý rằng truyện ngắn này được tổ chức dựa trên dòng hồi ức của nhân vật Việt khi bị thương trên trận địa. Miêu tả tâm lý người tỉnh táo đã khó mà ở đây lại là tâm lý của con người luôn nằm trong trạng thái giữa mê và tỉnh, hiển nhiên nhiệm vụ nghệ thuật đặt ra càng khó bội phần. Nhưng nhà văn đã thể hiện một cách xuất sắc trạng thái “ chập chờn cơn tỉnh cơn mê” đó của nhân vật. Bốn lần Việt “ tỉnh dậy” trên trận địa, mỗi lần Việt nhớ gì đều được nhà văn miêu tả rất cụ thể, tinh tế và chính xác. thông thường, mạch hồi tưởng của nhân vật trong bước khởi đầu phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố dẫn dụ của ngoại cảnh. Lần thứ hai Việt tỉnh dậy, nghe tiếng ếch nhái kêu dậy lên, Việt tự nhiên nhớ về những đêm đi soi ếch, nhớ “ khi đổ ếch vào thùng, chú Năm thế nào cũng sang”. Thế là hình ảnh chú Năm hiện lên với những câu hò và cuốn sổ gia đình cùng ý nghĩa của nó. Lần thứ ba tỉnh dậy, tiếng cu rừng nhắc Việt nhớ tới chiếc ná thun, rồi chiếc ná thun nhắc tới hành trang trong trong chiếc ba lô ngày nhập ngũ là ngày má Việt vừa mất, thế rồi nỗi nhớ “ chuyển vùng” sang hình ảnh người má thân yêu. Việt tỉnh dậy lần thứ tư trong tiếng súng thôi thúc. Sự thôi thúc ấy khiến Việt liên hệ tới ý nghĩ thôi thúc ngày đi bộ đội, liên hệ chuyện chị em giành nhau đi nhập ngũ trước, sau, sau đó là chuyện chuyển bàn thờ má đi gửi bên nhà chú…Nhìn chung Nguyễn Thi nắm rất chắc quy luật diễn biến tâm lý con người. Ông đã khéo léo tạo ra cho tác phẩm một hình thức kết cấu độc đáo tương đồng với “kết cấu” của những giấc mơ chập chờn, từ đó cứ mở rộng dần đối tượng được miêu tả và đi mỗi lúc một sâu vào đời sống tâm hồn của nhân vật.

Trong khi làm sáng tỏ tâm lý nhân vật, nhà văn đã sử dụng một ngôn ngữ trần thuật đặc biệt phù hợp. đấy là ngôn ngữ của chính nhân vật nói về mình và kể về người khác, mặc dù bề ngoài có vẻ là ngôn ngữ khách quan của người trần thuật. Điều đó thể hiện ngay ở cách xưng hô rất đỗi thân thương, gắn bó: “ Việt” ( chứ không phải là “ anh” hay “chú bé”,“chị Chiến”(chứ không phải là “ cô”, “ chị”) , “ chú Năm” ( chứ không phải là “ ông Năm”), “ má” ( chứ không phải là “ má Việt”)… Điều đó cũng thể hiện ở màu sắc địa phương của lời trần thuật ( chưa kể đến lời nói thực thụ của nhân vật): “ Chú ít nói, nhưng đã nhậu vào ba hột là chú nói tới”, “ Thím Năm vừa khóc vừa kể thôi là kể”, “ Hai bên giáp mặt, ba cười hề hề, nhưng má chẳng thèm dòm, hai mắt hứ một cái “ cóc”, rồi đi thẳng”…Thật khó kể hết những ví dụ sinh động như thế. Nhiều người từng biểu dương Nguyễn Thi rất thạo ngôn ngữ Nam Bộ. Cần phải thấy rằng cách sử dụng ngôn ngữ của ông ở đây trước hết có tác dụng làm nổi bật tâm lý những con người sống ở vùng đất ấy, sau nữa mới gọi dậy không khí của một vùng, một thời…         

III. Kết quả thực nghiệm:

Với những suy nghĩ trên và bằng những thể nghiệm của bản thân trong giờ dạy bài Những đứa con trong gia đình ( tiết 67, 68 trong chương trình Ngữ Văn 12 cơ bản- THPT), đã giúp tôi đạt được kết quả nhất định: Học trò trong các lớp tôi trực tiếp giảng dạy- dù chỉ lớp cơ bản- các em đều hứng thú trong giờ học. Các em đều thấy tự tin, thoải mái, và yêu thích  để rồi từ đó các em nhận ra những tầng nghĩa sâu sắc của tác phẩm. Trên cơ sở đó, từ những lớp bình thường vẫn phát hiện ra những học sinh có năng lực học văn để bồi dưỡng vào đội tuyển.

III.1. So sánh kết quả giờ học:

Tôi đã tiến hành thực nghiệm đề tài ở lớp 12A2 và đối chứng với lớp 12A8, đều là hai lớp  Ban cơ bản- trường trung học phổ thông Lam Kinh, năm học 2010-2011.

a. Lớp 12A2: Không chú ý nhiều đến việc khai thác các phương diện nghệ thuật của truyện ngắn Những đứa con trong gia đình :

– Giờ học buồn, khô khan; học sinh không hứng thú tìm hiểu tác phẩm.

– Học sinh không thấy rõ được đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn có gì khác với truyện ngắn của các nhà văn cùng thời ở văn học Việt Nam. Lại càng không thấy được điểm nổi bật trong phong cách nghệ thuật., tài năng nghệ thuật của một nhà văn kiệt xuất Nguyễn Thi.

– Vì thế mà việc tự tìm hiểu, khám phá ý nghĩa của tác phẩm Những đứa con trong gia đình  ở học sinh rất hời hợt, không khái quát được chiều sâu, và sự rộng lớn của nó.

Lớp 12A8: Tập trung khai thác sâu sắc các phương diện nghệ thuật đặc sắc của truyện ngắn Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi. Kết quả là:

– Giờ học trở nên  sôi nổi: Học sinh thoải mái, tự tin, tìm tòi, khám phá và thảo luận để tìm ra những phương diện nghệ thuật đặc sắc làm nên giá trị của tác phẩm.

–  Các em còn hào hứng phân tích, chứng minh sự hấp dẫn, sức cuốn hút  của  những phương diện nghệ thuật ấy đối với độc giả. Học sinh thấy  bằng bút pháp nghệ thuật  tài năng của nhà văn đã làm nên vẻ đẹp riêng cho tác phẩm Những đứa con trong gia đình, đồng thời thể hiện được phong cách truyện ngắn độc đáo của nhà văn- chiến sĩ Nguyễn Thi.

– Qua hình thức nghệ thuật, hiểu rõ  hiện thực đau thương, đầy hi sinh gian khổ nhưng rất đỗi anh hùng, kiên cường, bất khuất của nhân dân miềm Nam trong những năm chống Mĩ cứu nước. Sự gắn bó sâu nặng giữa tình cảm gia đình và tình cảm yêu nước, cách mạng, giữa truyền thống gia đình và truyền thống dân tộc đã tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ.

+ Biết trân trọng yêu thương và cảm phục những con người bình thường mà trung hậu, dũng cảm đã đem máu xương để bảo vệ đất nước.

+ Nghệ thuật trần thuật, khắc hoạ tính cách và phân tích tâm lí nhân vật, ngôn ngữ phong phú, giàu màu sắc tạo hình và đậm chất Nam Bộ.

III.2. So sánh kết quả bài kiểm tra:

  1. Sau khi dạy thực nghiệm đối chứng ở bài học ở hai lớp 12A2, 12A8, tôi đã tiến hành cho cả hai lớp làm bài kiểm tra để đối chứng kết quả, trong 90 phút.

Đề: Những phương diện nghệ thuật đặc sắc làm nên vẻ đẹp độc đáo và sức hấp dẫn của truyện ngắn Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi.

(Đáp án: Hs cần trình bày được)

* Các phương diện nghệ thuật đặc sắc: Bốn  ý chính:

– Tình huống truyện.

– Nghệ thuật trần thuật của tác phẩm.

 – Sử dụng nghệ thuật đồng hiện

– Nghệ thuật xây dựng và miêu tả tâm lí nhân vật.

+ Nghệ thuật xây dựng nhân vật.

     + Nghệ thuật phân tích tâm lí nhân vật.

* Tạo nên nét độc đáo của tác phẩm và ngòi bút của nhà văn

– Ngôn ngữ đậm đà màu sắc dân gian mà hiện đại.

–  Lối kể chuyện tự nhiên như cách cảm, cách nghĩ của người nông dân Nam Bộ.

Kết quả kiểm tra:

 

Lớp

 

Số bài Điểm 0- 4 Điểm 5 – 6 Điểm 7 – 8 Điểm 9 – 10
SL TL SL TL SL TL SL TL
12A2

(Đối chứng)

50 12 24% 31 62% 7 4% 0 0
12A8

(Thực nhiệm)

46 4 8,7% 22 47,8% 17 7% 3 0,5%

 -> Rõ ràng, việc áp dụng thực nghiệm đề tài  đã tạo ra kết quả học tập cao hơn cho học sinh, đây là điều không chỉ học sinh  mà giáo viên đều  mong muốn.

 KẾT THÚC VẤN ĐỀ

 

Đọc văn để hiểu người. Giảng văn để dạy làm người…Làm thế nào để chúng ta – vừa là người đọc, vừa là người giảng văn để tạo ra và truyền được cái cảm hứng “ Uống xong lại khát” ấy. Xin mượn lời nhà văn Nguyễn Tuân để trao đổi với bạn bè đồng nghiệp một kĩ năng nhỏ trong việc dạy văn: “ Văn học có cái vui là phong cách, cách nói, cách viết khác nhau. Vậy mà nhiều anh dạy văn lại không đi vào đấy, chỉ nói về nội dung tư tưởng chung chung, nên trở nên nhạt nhẽo, vô duyên”. Vâng! Trong một truyện ngắn ngoài nhân vật, cốt truyện- “ những phần nổi”, người dạy văn thường bám vào phân tích còn có những “ phần chìm”- khoảng trống, khoảng lặng nằm im sau câu chữ. Đó chính là các phương diện nghệ thuật. Bởi vậy, khi phân tích tác phẩm tự sự người dạy cần xác định rõ các phương diện nghệ thuật  –  những mã khoá giúp người dạy, người học đi từ sự im lặng của các từ ngữ để trở về với tiếng lòng mình đến với những trạng thái tâm hồn cảm xúc.

Từ đề tài trên có thể thấy khám phá những phương diện nghệ thuật đặc sắc để tìm hiểu mọi giá trị của tác phẩm  là một trong những con đường hữu hiệu để tiếp cận và cảm nhận văn bản văn học “Những đứa con trong gia đình ”. Từ đó các em không chỉ yêu mến truyện ngắn, nhà văn, mà còn có ý thức rèn luyện và lựa chọn lối sống đúng đắn, cao đẹp biết tiếp thu những gì mới mẻ tiến bộ, khoẻ khoắn, để sống đúng là chính mình, có ý nghĩa.

=> Trên đây là những kinh nghiệm bản thân tôi đã rút ra từ thực tế giảng dạy. Có thể cách làm của tôi trong việc giảng dạy tác phẩm Những đứa con trong gia đình, còn nhiều điểm hạn chế, chưa phù hợp với một số nơi, một số đối tượng. Nhưng với mong muốn góp phần nhỏ vào công cuộc đổi mới phương pháp giảng dạy môn Ngữ Văn, tôi đã mạnh dạn tiến hành thực nghiệm và trao đổi. Rất mong được sự đóng góp của các đồng nghiệp có kinh nghiệm.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

 TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1.Hưóng dẫn giải các kiểu, dạng đề thi quốc gia môn Ngữ văn – NXB Đại học Quốc gia Hà Nội , 2008, Nguyễn Trọng Khánh

  1. Truyện và kí – NXB Văn học HN, 1978.
  2. Văn bản Ngữ Văn lớp 12, gợi ý đọc hiểu và lời bình – NXB GD, 2007, Vũ Dương Quỹ- Lê Bảo.
  3. Thiết kế bài giảng Ngữ văn, lớp 12– tập hai- NXB GD, 2008, Phan Trọng Luận (chủ biên).
  4. Phân tích tác phẩm Ngữ Văn , lớp 12 – NXB GD, 2008, Trần Nho Thìn (chủ biên).
  5. Tự sự học – một số vấn đề lý luận và lịch sử . NXB Đại học sư phạm Hà Nội ,2004

Xem thêm : Sáng kiến kinh nghiệm môn văn

Khái quát các tác giả và tác phẩm trong chương trình thi THPT Quốc Gia môn văn

Khái quát các tác giả và tác phẩm trong chương trình thi THPT Quốc Gia môn văn

CÓ THỂ CÁC EM BỊ MẤT 0,5 ĐIỂM MÀ KHÔNG BIẾT !Trong phần thân bài, các em cần giới thiệu khái quát về  tác giả và tác phẩm  trước khi đi vào luận điểm chính của bài văn. Ý này chiếm 0,5 điểm trong đề thi, nhiều em bỏ qua bước này. Các em cần nêu được những ý chính sau :

1. Hồ Chí Minh và Tuyên ngôn Độc lập

-Trong sự nghiệp sáng tác của Hồ Chí Minh, thơ và truyện chỉ chiếm một phần nhỏ còn chủ yếu là văn nghị luận, những tác phẩm chủ yếu phục vụ cho sự nghiệp chính trị cuả Người. Trong số những tác phẩm của Bác có những kiệt tác sánh ngang với các thiên cổ hùng văn của dân tộc thì Tuyên ngôn Độc lập là tác phẩm tiêu biểu nhất.

– Tuyên ngôn Độc lập được viết ngày 26/8/1945 tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang, Hà Nội. Ngày 2/9/1945 Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội.
– Trên thế giới, phe Đồng minh vừa thắng phát xít. Ở Việt Nam nhân cơ hội Nhật hàng Đồng minh, Việt Minh đã lãnh đạo nhân dân ta tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Nhưng chính quyền non trẻ bị đe doạ bởi dã tâm xâm lược của các thế lực đế quốc, thực dân Anh, Pháp, Mĩ và hai mươi vạn quân Tưởng Giới Thạch.
– Hồ Chí Minh viết Tuyên ngôn Độc lập để cảnh cáo, ngăn chặn âm mưu xâm lược của các nước đế quốc; tuyên bố khai sinh nước Việt Nam độc lập; kêu gọi khích lệ tinh thần chiến đấu của nhân dân ta.

– Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện lịch sử vô giá tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới về quyền tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam và khẳng định quyết tâm bảo vệ nền độc lập, tự do ấy.

2.Kim Lân và  Vợ nhặt

– Kim Lân (1920 – 2007), là cây bút chuyên viết truyện ngắn.
– Những sáng tác của Kim Lân thường viết về nông thôn và người nông dân. Ông có những trang viết đặc sắc về phong tục và đời sống làng quê. Dù viết về phong tục hay con người, trong tác phẩm của Kim Lân ta vẫn thấy thấp thoáng cuộc sống và con người làng quê Việt Nam nghèo khổ nhưng tâm hồn trong sáng, lạc quan, thật thà. Tác phẩm chính : Nên vợ nên chồng (1955), Con chó xấu xí (1962)…
Vợ nhặt in trong tập Con chó xấu xí (1962), được viết dựa trên một phần tiểu thuyết Xóm ngụ cư.
Nội dung
– Tình cảm thê thảm của người nông dân nước ta trong nạn đói khủng khiếp năm 1945 do thực dân Pháp và phát xít Nhật gây ra.
– Niềm khát khao hạnh phúc gia đình, niềm tin bất diệt vào cuộc sống và tình thương yêu đùm bọc lẫn nhau giữa những con người lao động nghèo khổ ngay trên bờ vực của cái chết.

Tác phẩm xây dựng được tình huống truyện độc đáo : Tràng nghèo, xấu, lại là dân ngụ cư, giữa lúc đói khát nhất, khi cái chết đang cận kề lại “nhặt” được vợ, có vợ theo. Tình huống éo le này là đầu mối cho sự phát triển của truyện, tác động đến tâm trạng, hành động của các nhân vật và thể hiện chủ đề của truyện.

3. Tô Hoài và Vợ chồng A Phủ

– Tô Hoài (1920) quê Hà Nội, là một trong những nhà văn lớn của văn học Việt Nam hiện đại. Ông có vốn hiểu biết phong phú sâu sắc về phong tục, tập quán nhiều vùng khác nhau của đất nước.
– Văn Tô Hoài có lối trần thuật hóm hỉnh, sinh động của người từng trãi, vốn từ vựng phong phú. Năm 1996 được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật. Tác phẩm chính : Dế Mèn phiêu lưu kí (truyện, 1941); Truyện Tây Bắc (tập truyện,1953); Miền Tây (tiểu thuyết, 1967)
Vợ chồng A Phủ (1952) in trong tập truyện Tây Bắc, là kết quả chuyến đi thực tế của Tô Hoài cùng bộ đội giải phóng Tây Bắc
Nội dung
Cuộc sống cơ cực, tối tăm của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng cao dưới ách áp bức kìm kẹp của thực dân và chúa đất thống trị; quá trình người dân các dân tộc thiểu số thức tỉnh cách mạng và vùng lên tự giải phóng đời mình, đi theo tiếng gọi của Đảng.

4.  Nguyễn Trung Thành và  Rừng xà nu

Nguyễn Trung Thành (Nguyên Ngọc), trong hai cuộc kháng chiến gắn bó mật thiết với mảnh đất Tây Nguyên. Những tác phẩm thành công của ông gắn với mảnh đất ấy.
– Đầu năm 1965, Mĩ đổ quân ồ ạt vào miền Nam và tiến hành đánh phá ác liệt ra miền Bắc. Nguyễn Trung Thành và các nhà văn miền Nam lúc đó muốn viết “hịch thời đánh Mĩ”. Rừng xà nu được viết vào đúng thời điểm mà cả nước ta trong không khí sục sôi đánh Mĩ. Tác phẩm được hoàn thành ở khu căn cứ của chiến trường miền Trung Trung bộ.
– Truyện “Rừng xà nu” được Nguyễn Trung Thành viết năm 1965, xuất hiện lần đầu trên Tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng miền trung Trung Bộ, số 2 năm 1965 – năm 1969, in trong tập truyện ký “Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc”.
– Truyện ngắn Rừng xà nu trước hết phản ánh hiện thực đau thương nhưng kiên cường, bất khuất của người dân Tây Nguyên thông qua hình tượng cây xà nu.
– Qua câu chuyện bi thương của của nhân vật Tnú và cuộc nổ dậy của dân làng Xô Man, nhà văn khẳng định : dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng đấu tranyh vũ trang là con đường tất yếu để tự giải phóng.

5. Nguyễn Thi và Những đứa con trong gia đình (trích)

Nguyễn Thi:
Là một trong những cây bút văn xuôi hàng đầu của văn nghệ giải phóng miền Nam trong thời kì chống Mĩ. Sinh ra ở miền Bắc nhưng gắn bó máu thịt với mảnh đất miền Nam và được mệnh danh là nhà văn của người nông dân Nam Bộ. Có biệt tài phân tích tâm lí sắc sảo.
Truyện ngắn Những đứa con trong gia đình được hoàn thành vào tháng 2 năm 1966, trong những ngày chiến đấu chống Mĩ ác liệt, khi nhà văn công tác ở tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng.
Nội dung
– Truyện ngắn Những đứa con trong gia đình phản ánh hiện thực đau thương nhưng rất đỗi anh dũng, kiên cường của nhân dân miền Nam trong những năm kháng chiến chống Mĩ cứu nước.
– Vẻ đẹp tâm hồn của người dân Nam Bộ : lòng yêu nước, căm thù giặc, tình cảm gia đình là sức mạnh tinh thần to lớn trong cuộc chiến chống Mĩ cứu nước.
– Tình huống truyện : Việt – một chiến sĩ Quân giải phóng – bị thương phải nằm lại chiến trường. Truyện kể theo dòng nội tâm của Việt khi liền mạch (lúc tỉnh), khi gián đoạn (lúc ngất) của “người trong cuộc” làm câu chuyện trở nên chân thật hơn ; có thể thay đổi đối tượng, không gian, thời gian, đan xen tự sự và trữ tình.

6.  Nguyễn Minh Châu và Chiếc thuyền ngoài xa

– Nguyễn Minh Châu ( 1930– 1989), trước năm 1975 là ngòi bút sử thi có khuynh hướng trữ tình lãng mạn.,ông là  1 trong số những người mở đường tinh anh và tài năng nhất của văn học Việt nam thời kì đổi mới.

– Chiếc thuyền ngoài xa được viết 8/1983 – khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã đi qua được sáu năm, đất nước trở lại với cuộc sống đời thường. Nhiều vấn đề của đời sống văn hóa, nhân sinh mà trước đây do hoàn cảnh chiến tranh chưa được chú ý, nay được đặt ra.
– Tác phẩm nằm trong xu hướng nghệ thuật chung của văn học thời kỳ đổi mới: hướng nội, khai thác sâu sắc số phận cá nhân và thân phận con người đời thường.
Nội dung
– Qua suy nghĩ của người nghệ sĩ nhiếp ảnh khi phát hiện ra mâu thuẫn éo le trong nghề nghiệp của mình ; ta thấu hiểu: mỗi người trong cõi đời, nhất là người nghệ sĩ, không thể đơn giản và sơ lược khi nhìn nhận cuộc sống và con người.
– Vẻ đẹp của ngòi bút Nguyễn Minh Châu là vẻ đẹp toát ra từ tình yêu tha thiết đối với con người. Tình yêu ấy bao hàm cả khát vọng tìm kiếm, phát hiện, tôn vinh những vẻ đẹp con người còn tiềm ẩn, những khắc khoải, lo âu trước cái xấu, cái ác. Đó cũng là vẻ đẹp của một cốt cách nghệ sĩ mẫn cảm, đôn hậu, điềm đạm chiêm nghiệm lẽ đời để rút ra những triết lí nhân sinh sâu sắc. Chiếc thuyền ngoài xa là một trong số rất nhiều tác phẩm của Nguyễn Minh Châu đã đặt ra những vấn đề có ý nghĩa với mọi thời, mọi người không thể tách rời, thoát li cuộc sống. Nghệ thuật chính là cuộc đời và phải vì cuộc đời.

7.   nguyễn Tuân và Người lái đò sông Đà

Nguyễn Tuân : ( 1910-1987).
– Nhà văn lớn, một nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp, có vị trí và đóng góp quan trọng cho nền văn học hiện đại, đưa thể tùy bút, bút ký đạt đến trình độ nghệ thuật cao làm phong phú cho ngôn ngữ dân tộc, đem đến cho nền văn học hiện đại một phong cách văn học tài hoa, độc đáo.
Người lái đò sông Đà là thành quả nghệ thuật đẹp đẽ của Nguyễn Tuân trong chuyến đi gian khổ và hào hùng tới miền Tây Bắc rộng lớn của Tổ quốc. Sông Đà gồm 15 thiên tùy bút và một bài thơ ở dạng phác thảo.
Nội dung
– Qua hình tượng sông Đà, Nguyễn Tuân thể hiện tình yêu mến tha thiết đối với thiên nhiên đất nước. Với ông, thiên nhiên cũng là một tác phẩm nghệ thuật vô song của tạo hoá. Cảm nhận và miêu tả sông Đà Nguyễn Tuân đã chứng tỏ sự tài hoa, uyên bác và lịch lãm. Hình tượng sông Đà là phông nền cho sự xuất hiện và tôn vinh vẻ đẹp của người lao động trong chế độ mới.

 

8.  Hoàng Phủ Ngọc Tường và Ai đã đặt tên cho dòng sông ?

– Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trí thức yêu nước, gắn bó mật thiết với xứ Huế, có vốn hiểu biết sâu sắc trên nhiều lĩnh vực. Có sở trường về tuỳ bút, bút kí
– Lối viết : sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và chất trữ tình với những liên tưởng mạnh mẽ và một lối hành văn mê đắm, tài hoa.

– Ai đã đặt tên cho dòng sông? viết tại Huế năm 1981, in trong tập sách cùng tên
– Tác phẩm gồm ba phần, đoạn trích học trong SGK là phần thứ nhất.
Ý nghĩa văn bản:
Thể hiện những phát hiện, khám phá sâu sắc và độc đáo về sông Hương ; bộc lộ tình yêu tha thiết, sâu lắng và niềm tự hào lớn lao của nhà văn đối với dòng sông quê hương, với xứ Huế thân thương.

 

9. Việt Bắc – Tố Hữu

-Tố Hữu là nhà thơ trữ tình chính trị, thơ ông theo sát những chặng đường của cách mạng Việt Nam.

-Bài thơ “Việt Bắc” – kiệt tác của Tố Hữu cũng được sáng tác trong một thời điểm trọng đại của đất nước. Năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, hoà bình được lập lại. Chủ tịch Hồ Chí Minh, trung ương Đảng, cán bộ, bộ đội rời Việt Bắc trở về Thủ đô Hà Nội. Trong không khí chia tay đầy nhớ thương lưu luyến giữa nhân dân Việt Bắc và những người cán bộ cách mạng, nhà thơ Tố Hữu đã sáng tác bài thơ “Việt Bắc”. Với tầm nhìn của một nhà thơ cách mạng, một nhà tư tưởng, Tố Hữu đã phản ánh sâu sắc hiện thực kháng chiến mười lăm năm của Việt Bắc và dự báo những diễn biến tư tưởng trong hoà bình.

Đoạn trích bài thơ “Việt Bắc” miêu tả cuộc chia li đầy thương nhớ lưu luyến giữa Việt Bắc và những người cán bộ kháng chiến và gợi lại những kỉ niệm kháng chiến anh hùng mà đầy tình nghĩa.
Tác giả đã chọn thể thơ lục bát và lối hát đối đáp như trong ca dao dân ca và hình tượng hoá Việt Bắc và những người cán bộ kháng chiến là Ta – Mình. Cuộc chia li giữa nhân dân Việt Bắc và những người chiến sĩ cách mạng như là cuộc chia tay của một đôi bạn tình đầy bịn rịn, nhớ nhung, lưu luyến.

 

10. Sóng – Xuân Quỳnh

 

– Nhà thơ của hạnh phúc đời thường: tiếng thơ khao khát tình yêu,  hạnh phúc đời thường bình dị.
– Cái tôi độc đáo: giàu vẻ đẹp nữ tính, thành thật, giàu đức hi sinh và lòng vị tha, khát vọng yêu chân thành, mãnh liệt gắn với cảm thức lo âu về sự phai tàn, đổ vỡ., cùng những dự cảm bất trắc.
Tác phẩm
+ Xuất xứ: 1967, nhân chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình), in trong tập thơ Hoa dọc chiến hào.
+ Là bài thơ tình nổi tiếng của Xuân Quỳnh, góp phần tạo nên vị trí “nữ hoàng thơ tình Việt Nam”.

 

11. Đàn ghi ta của Lor-Ca – Thanh Thảo

Nhà thơ Thanh Thảo:

– Một trí thức nhiều suy tư, trăn trở về các vấn đề xã hội và thời đại.

– Muốn cuộc sống được cảm nhận và thể hiện ở chiều sâu nên luôn khước từ lối biểu đạt dễ dãi; đào sâu vào cái tôi nội cảm, tìm kiếm những cách biểu đạt mới qua hình thức câu thơ tự do, giải phóng mọi ràng buộc nhằm mở đường cho một cơ chế liên tưởng phóng khoáng, xoá những khuôn sáo bằng những nhịp điệu bất thường, đem đến cho thơ một mĩ cảm hiện đại bằng hệ thống hình ảnh và ngôn từ mới mẻ.

– Kiểu tư duy: giàu suy tư, mãnh liệt, phóng túng trong xúc cảm và nhuốm màu sắc tượng trưng siêu thực.

-Bài thơ được viết như một khúc tưởng niệm Lorca, làm sống dậy hình ảnh Lorca và thể hiện sự tri âm, đồng cảm và ngưỡng vọng một người nghệ sĩ tài hoa có cốt cách anh hùng và số phận bi thương.

 

12. Tây Tiến– Quang Dũng

Quang Dũng.
– Quang Dũng (1921-1988) tên khai sinh là Bùi Đình Diệm, quê ở Hà Tây.
– Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài: làm thơ, viết văn, vẽ tranh, soạn nhạc. Nhưng Quang Dũng được biết đến nhiều là một nhà thơ. Thơ Quang Dũng hồn hậu, phóng khoáng, đậm chất lãng mạn và tài hoa. Các tác phẩm chính: Mây đầu ô, Thơ văn Quang Dũng…

– Tây Tiến vừa chỉ hướng hành quân, vừa là tên một đơn vị quân đội được thành lập đầu năm 1947.
– Tây Tiến có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào, bảo vệ biên giới Việt –Lào, đồng thời đánh tiêu hao lực lượng quân đội Pháp ở Thượng Lào cũng như ở miền tây Bắc Bộ Việt Nam. Địa bàn đóng quân và hoạt động của đoàn quân TT khá rộng nhưng chủ yếu là ở biên giới Việt – Lào. Chiến sĩ Tây Tiến phần đông là thanh niên, học sinh, trí thức Hà Nội, chiến đấu trong những hoàn cảnh gian khổ thiếu thốn về vật chất, bệnh sốt rét hoành hành dữ dội. Tuy vậy, họ sống rất lạc quan và chiến đấu rất dũng cảm.
– Quang Dũng là đại đội trưởng ở đơn vị Tây Tiến từ đầu năm 1947, rồi chuyển sang đơn vị khác. Rời đơn vị cũ chưa bao lâu, tại Phù Lưu Chanh, Quang Dũng viết bài thơ Nhớ Tây Tiến. Khi in lại, tác giả đổi tên bài thơ là Tây Tiến. Tây Tiến là một bài thơ xuất sắc, có thể xem là một kiệt tác của Quang Dũng, xuất hiện ngay trong thời gian đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

 

13.  Kịch: Hồn Trương Ba da Hàng thịt– Lưu Quang Vũ

Lưu Quang Vũ là một cây bút tài hoa đã để lại dấu ấn trong nhiều thể loại : thơ, văn xuôi, đặc biệt là kịch. Thiên hướng và năng khiếu nghệ thuật của LQV sớm bộc lộ từ nhỏ và vùng quê Bắc Bộ đã in dấu nhiều trong sáng tác của ông sau này. Ở thể loại nào người đọc cũng bắt gặp một LQV với tâm hồn nổi gió, sức sống mãnh liệt và khả năng sáng tạo miệt mài. Năm 2000, Lưu Quang Vũ được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về nghệ thuật sân khấu. Các tác phẩm chính : Thơ : Hương cây, Mây trắng, Bầy ong trong đêm sâu Kịch : Sống mãi tuổi 17, Mùa hạ cuối cùng, Hồn Trương Ba da hàng thịt, Tôi và chúng ta, Nàng Si-ta,…

– Đây là một vở kịch mà Lưu Quang Vũ đã dựa vào cốt truyện dân gian, tuy nhiên chiều sâu của vở kịch chính là phần phát triển sau của truyện dân gian.

Admin (tổng hợp)

Xem thêm : Tuyển tập đề thi về các tác phẩm lớp 12

Vẻ đẹp người thanh niên Việt Nam qua hai đoạn trích trong Rừng Xà Nu và Những đứa con trong gia đình

Cảm nhận của anh/ chị về vẻ đẹp của thanh niên Việt Nam trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước qua hai đoạn trích sau:

“… Cây sắt thứ hai đập vào trước ngực Mai, chị lật đứa bé ra sau lưng. Nó lại đánh sau lưng, chị lật đứa bé ra trước ngực. Trận mưa cây sắt mỗi lúc một dồn dập, không nghe thấy tiếng thét của Mai nữa. Chỉ nghe đứa bé khóc ré lên một tiếng rồi im bặt. Chỉ còn tiếng cây sắt nện xuống hừ hự.
Tnú bỏ gốc cây của anh. Đó là một cây vả. Anh đã bứt đứt hàng chục trái vả mà không hay. Anh chồm dậy. Một bàn tay níu anh lại. Tiếng cụ Mết nặng trịch:
– Không được. Tnú! Để tau!
Tnú gạt tay ông cụ ra. Ông cụ nhắc lại:
– Tnú!
Tnú quay lại. Ông cụ không nhìn ra Tnú nữa. Ở chỗ hai con mắt anh bây giờ là hai cục lửa lớn. Ông cụ buông vai Tnú ra.
Một tiếng thét dữ dội. Chỉ thấy thằng lính giặc to béo nằm ngửa ra giữa sân, thằng Dục tháo chạy vào nhà ưng. Tiếng lên đạn lách cách quanh anh. Rồi Mai ôm đứa con chúi vào ngực anh. Hai cánh tay rộng lớn như hai cánh lim chắc của anh ôm chặt lấy mẹ con Mai.
– Đồ ăn thịt người, tau đây. Tnú đây…
Tnú không cứu sống được Mai…

… Thằng Dục không giết Tnú ngay. Nó đốt một đống lửa lớn ở nhà ưng, lùa tất cả dân làng tới, cởi trói cho Tnú, rồi nói với mọi người:
– Nghe nói chúng mày đã mài rựa, mài giáo cả rồi phải không? Được, đứa nào muốn cầm rựa, cầm giáo thì coi bàn tay thằng Tnú đây.
Nó hất hàm ra hiệu cho thằng lính to béo nhất. Chúng nó đã chuẩn bị sẵn cả. Thằng lính mở tút-se, lấy ra một chùm giẻ. Giẻ đã tẩm dầu xà-nu. Nó quấn lên mười đầu ngón tay Tnú. Rồi nó cầm lấy một cây nứa. Nhưng thằng Dục bảo:
– Để nó cho tau!
Nó giật lấy cây nứa.
Tnú không kêu lên một tiếng nào. Anh trợn mắt nhìn thằng Dục. Nó cười sằng sặc. Nó dí cây lửa lại sát mặt anh:
– Coi kỹ cái mặt thằng cộng sản muốn cầm vũ khí này xem sao nào. Số kiếp chúng mày không phải số kiếp giáo mác. Bỏ cái mộng cầm giáo mác đi, nghe không?
Một ngón tay Tnú bốc cháy. Hai ngón, ba ngón. Không có gì đượm bằng nhựa xà nu. Lửa bắt rất nhanh. Mười ngón tay đã thành mười ngọn đuốc.
Tnú nhắm mắt lại, rồi mở mắt ra, trừng trừng.
Trời ơi! Cha mẹ ơi! Anh không cảm thấy lửa ở mười đầu ngón tay nữa. Anh nghe lửa cháy ở trong lồng ngực, cháy ở bụng. Máu anh mặn chát ở đầu lưỡi. Răng anh đã cắn nát môi anh rồi. Anh không kêu rên. Anh Quyết nói: “Người cộng sản không thèm kêu van…” Tnú không thèm, không thèm kêu van. Nhưng trời ơi! Cháy, cháy cả ruột đây rồi! Anh Quyết ơi! Không, Tnú sẽ không kêu! Không!…”

( Trích Rừng xà nu – Nguyễn Trung Thành, Ngữ văn 12,Tập hai,

NXB Giáo dục Việt Nam, 2015)

“…Việt tỉnh dậy lần thứ tư, trong đầu còn thoáng qua hình ảnh của người mẹ. Đêm nữa lại đến. Đêm sâu thăm thẳm, bắt đầu từ tiếng dế gáy u u cao vút mãi lên. Người Việt như đang tan ra nhè nhẹ. Ước gì bây giờ lại được gặp má. Phải, ví như lúc má đang bơi xuồng, má sẽ ghé lại, xoa đầu Việt, đánh thức Việt dậy, rồi lấy xoong cơm đi làm đồng để ở dưới xuồng lên cho Việt ăn…

… Việt vẫn còn đây, nguyên tại vị trí này, đạn đã lên nòng, ngón cái còn lại vẫn sẵn sàng nổ súng. Các anh chờ Việt một chút. Tiếng máy bay vẫn gầm rú hỗn loạn trên cao, nhưng mặc xác chúng. Kèn xung phong của chúng ta đã nổi lên. Lựu đạn ta đang nở rộ…

Việt đã bò đi được một đoạn, cây súng đẩy đi trước, hai cùi tay lôi người theo. Việt cũng không biết rằng mình đang bò đi nữa, chính trận đánh đang gọi Việt đến. Phía đó là sự sống. Tiếng súng đã đem lại sự sống cho đêm vắng lặng. Ở đó có các anh đang chờ Việt, đạn ta đang nổ lên đầu giặc Mĩ những đám lửa dữ dội, và những mũi lê nhọn hoắt trong đêm đang bắt đầu xung phong…”

( Trích Những đứa con trong gia đình – Nguyễn Thi, Ngữ văn 12,Tập hai,

NXB Giáo dục Việt Nam, 2015)

Hướng dẫn :

Mở bài :

+ Giới thiệu khái quát về 2 tác giả, 2 tác phẩm và vấn đề cần nghị luận

+Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: vẻ đẹp của thanh niên Việt Nam trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước qua các đoạn trích trong hai tác phẩm Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành|) và Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi)

Thân bài :

+ Phân tích  vẻ đẹp của nhân vật Tnú qua  đoạn trích trong tác phẩm Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành|), Việt qua đoạn trích trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi) để làm rõ vẻ đẹp của thanh niên Việt Nam trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước:

            ++ Vẻ đẹp của nhân vật Tnú:

– Tnú là người có trái tim yêu thương  (chứng kiến vợ con bị tra tấn, anh đã bứt đứt hàng chục trái vả mà không hay, tay không xông ra giữa bọn lính để cứu vợ con…)

– Tnú là người gan dạ, dũng cảm, kiên cường , tuyệt đối trung thành với cách mạng (bị tra tấn- đốt 10 ngón tay nhưng anh cắn răn chịu đựng, không kêu van )

++ Vẻ đẹp của nhân vật Việt:

  • Yêu thương gia đình sâu đậm (hình ảnh người thân, đặc biệt là má luôn hiện hữu trong Việt, từ đó thôi thúc ý chí đấu tranh)
  • Tinh thần chiến đấu kiên cường, căm thù giặc sâu sắc ( khi bị thương lạc đồng đội, Việt vẫn kiên cường chịu đựng, dù lúc mê lúc tỉnh nhưng vẫn ở tư thế sẵn sàng chiến đấu…)

+ Đánh giá khái quát:

++ Tnú được khắc họa trong sự gắn bó với buôn làng. Nhân vật mang đậm dấu ấn người anh hùng trong  sử thi của đồng bào dân tộc miền núi. Việt được khắc họa trong mối quan hệ gia đình. Nhân vật  gần gũi với cuộc sống đời thường, mang đặc điểm, phẩm chất của một  chàng trai mới lớn. Cả hai nhân vật vừa mang nét cá tính riêng , vừa mang những phẩm chất có tính khái quát, tiêu biểu. Vẻ đẹp của Tnú và Việt tiêu biểu cho vẻ đẹp của thanh niên Việt Nam trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước: yêu gia đình, quê hương, căm thù giặc sâu sắc, kiên cường, bất khuất, trung thành với cách mạng.

++ Nghệ thuật:

– Nhân vật Việt: Với nghệ thuật trần thuật tác giả để cho nhân vật tự kể về cuộc đời của mình và các nhân vật khác theo dòng hồi tưởng; giọng điệu tự sự kết hợp trữ tình; ngôn ngữ  đậm chất Nam Bộ;  xây dựng nhân vật sinh động qua miêu tả hành động và nội tâm tinh tế .
– Nhân vật Tnú: Hiện lên qua lời kể của tác giả, lời kể của cụ Mết, giọng kể mang đậm tính sử thi; ngôn ngữ , hành động mang đặc trưng của người Tây Nguyên; phân tích thế giới nội tâm nhân vật sắc sảo.

Kết bài : Khái quát về vẻ đẹp của các nhân vật và sự sáng tạo của mỗi nhà văn, khẳng định đóng góp của hai nhà văn,..

Xem thêm : Những bài văn hay về Rừng xà nu

Những đứa con trong gia đình

Tuyển tập đề thi về các tác phẩm lớp 12

Tổng hợp những mở bài về các tác phẩm lớp 12 ( phần 1 )

Tổng hợp những mở bài cho các tác phẩm lớp 12 ( phần 1 )

Xem phần lí thuyết tại đây

Cách viết phần mở bài trong bài văn nghị luận

Các em lưu ý : mỗi đề thi sẽ có một mở bài khác nhau,không thể có một mở bài chung cho nhiều đề thi. Bởi vậy những mở bài dưới đây chỉ mang tính tham khảo. Khi làm bài, tuỳ yêu cầu của đề, các em có thể chỉnh sửa đôi chút cho phù hợp .

Một số mở bài cho bài Tuyên ngôn Độc Lập –Hồ Chí Minh

MB 1.

Theo chiều dài bốn ngàn năm của lịch sử dân tộc có nhiều dấu mốc đáng ghi nhớ gắn với sự nghiệp đấu tranh chống ngoại xâm. Một trong những mốc lịch sử trọng đại  ấy là sự kiện Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công,  khai sinh ra nước VNDCCH. Để tuyên bố với nhân dân cả nước và thế giới biết nước Việt Nam từ nay độc lập, Hồ Chí Minh đã viết tuyên ngôn độc lập. Một văn kiện đặc biệt vừa tính văn học, vừa mang tính lịch sử.( dẫn dắt nêu vấn đề nghị luận. Hoặc trích đoạn văn cần phân tích )

MB 2.

Trải qua mấy ngàn năm lịch sử, dân tộc ta phải đương đầu với đủ loại ngoại xâm: Từ Bắc xuống, từ Nam lên, tứ Tây sang, từ Đông vào cho nên cùng với những chiến công hiển hách: phá Tống, bình Nguyên, diệt Minh, đuổi Thanh;  nền văn học chúng ta cũng đã có những áng văn kiệt tác khẳng định đanh thép chủ quyền độc lập của dân tộc. Bên cạnh bài thơ Thần của Lý Thường Kiệt sang sảng ngâm trên sông Như Nguyệt, Bình Ngô đại cáo một thiên cổ hùng văn của Nguyễn Trãi, ngày nay chúng ta có Tuyến ngôn Độc lập y một áng văn chính luận mẫu mực, nổi tiếng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tinh hoa của dân tộc, khí phách của non sông. .( dẫn dắt nêu vấn đề nghị luận. Hoặc trích đoạn văn cần phân tích )
MB 3.

Em hãy phân tích nghệ thuật Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hồ Chí Minh để thấy rõ nghệ thuật lập luận đặc sắc của Bác Hồ?

Hồ Chí Minh (1890 – 1969) là một tác gia lớn của nền văn học dân tộc Việt Nam. Người đã viết thành công trên nhiều thể loại văn chính luận, truyện ký, thơ ca và ở thể loại nào cũng có những tác phẩm xuất sắc mẫu mực. Riêng ở thể loại văn chính luận Hồ Chí Minh đã chứng tỏ mình là một cây bút xuất sắc, mẫu mực mà dẫn chứng hùng hồn là tác phẩm “Tuyên ngôn độc lập” 1945. “Tuyên ngôn độc lập” là một bản tuyên bố lịch sử được Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại vườn hoa Ba Đình vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Bản “Tuyên ngôn độc lập” vừa tuyên bố nền độc lập của dân tộc vừa bác bỏ luận điểm xâm lược của kẻ thù. “Tuyên ngôn độc lập” là một áng văn chính luận vừa có giá trị pháp lí, giá trị lịch sử, giá trị nhân văn và giá trị nghệ thuật cao. Cái tạo nên giá trị nghệ thuật cao chính là ở bút pháp lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, dẫn chứng hùng hồn, văn phong xúc tích trong sáng.

 

MB 4.

Sinh thời Hồ Chí Minh không bao giờ nhận mình là nhà văn nhà thơ mà chỉ là người bạn của văn nghệ người yêu văn nghệ. Nhưng trên bước đường hoạt động cách mạng Người nhận thấy văn chương có thể phụng sự đắc lực cho tuyên truyền. Cộng với một tài năng nghệ thuật và một tinh thần nghệ sĩ chan chứa cảm xúc nên người đã sáng tác nên nhiều tác phẩm có giá trị. Tiêu biểu trong số nhưng tác phẩm đó phải kể đến tác phẩm tuyên ngôn độc lập. Nó không chỉ áng văn chính luận hay sắc sảo với những lập luận chặt chẽ mà nó còn mang ý nghĩa như tuyên ngôn khẳng định cho một đất nước – đó chính là nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. .( dẫn dắt nêu vấn đề nghị luận. Hoặc trích đoạn văn cần phân tích )

MB 5:Bàn về sức thuyết phục của bản Tuyên ngôn độc lập

TNĐL là một tác phẩm chứa nhiều giá trị. Nhìn từ nhiều góc độ khác nhau, giá trị nào của tác phẩm này cũng , thật sâu sắc. Về mặt thể loại văn học, Tuyên Ngôn Độc Lập là một áng văn chính luận hào hùng, mẫu mực, đáng lưu truyền muôn thuở. Một trong những nét nổi bật của bản Tuyên Ngôn Độc Lập là  lập luận sắc sảo, chặt chẽ tạo nên một sức thuyết phục rất lớn. Xuất phát từ quan điểm sáng tác và đặc trưng thể loại của tác phẩm này, chúng ta sẽ thấy được cội nguồn của sức thuyết phục ấy.

Một số mở bài cho bài thơ Tây tiến -Quang Dũng

MB 1 :

Đề bài : Cảm nhận về đoạn thơ

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

…..Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.

 

Ai đã từng đi qua một thời trận mạc chắc hẳn trong lòng thường lưu giữ những kỉ niệm khó quên.  Quang Dũng cũng vậy, những năm tháng gắn bó với binh đoàn Tây tiến  đã để lại ấn tượng không thể phai mờ trong trái tim ông. Nỗi nhớ Tây Tiến, nhớ đồng đội , nhớ núi rừng  thôi thúc ông viết Tây tiến – bài thơ với những vần thơ đậm chất anh hùng ca bay lên từ hiện thực tàn khốc. Đoạn đầu bài thơ chính là đoạn ghi lại những kỉ niệm những kỉ niệm đầy ắp và nỗi nhớ của nhà thơ về những ngày tháng gắn bó cùng binh đoàn:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

…..Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.
MB 2:

Đề bài : Chứng minh chất hiện thực và lãng mạn của bài thơ Tây tiến thông qua đoạn thơ sau :

Tây tiến đoàn binh không mọc tóc…..

Chín năm kháng chiến chống Pháp với bao gian khổ, hi sinh, mất mát nhưng đã để lại một dấu son chói lọi trong lịch sử dân lộc. Những năm tháng đáng nhớ ấy là  nguồn cảm hứng bất tận cho thi ca. Nhiều bài thơ ra đời ngay từ những ngày đầu kháng chiến và tạo nên sức mạnh cho người lính đi tới thắng lợi cuối cùng . Trong những bài thơ đặc sắc , chúng ta phải kể đến Tây Tiến của Quang Dũng. Bài thơ giàu chất hiện thực nhưng lại dạt dào cảm hứng lãng mạn. Đoạn thơ sau dù chỉ là trích đoạn, cũng cho thấy rất rõ đặc điểm ấy:

( Trích dẫn đoạn thơ )
MB3 :

Cảm nhận của anh/ chị về hình tượng người lính Tây Tiến trong đoạn thơ sau

Tây tiến đoàn binh không mọc tóc…

 

Bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng được xem là một trong những tác phẩm xuất sác của thơ ca Việt Nam giai đoạn sau 1945. Bài thơ cho chúng ta cảm nhận một cách rõ nét, sinh động vẻ đẹp hùng vĩ, thơ mộng của thiên nhiên miền Tây. Đặc  biệt bài thơ đã khắc sâu trong tâm trí người đọc vẻ đẹp  hình tượng người lính, vẻ đẹp ấy được thể hiện tập trung ở đoạn thơ:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quăn xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành!

Đề bài :Cùng tái hiện vẻ đẹp của những đoàn quân ra trận, mỗi nhà thơ lại có cách khám phá thể hiện riêng. Trong bài Tây Tiến, Quang Dũng viết:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

Trong Việt Bắc, Tố Hữu viết:

“Những đường Việt Bắc của ta

Đêm đêm rầm rập như là đất rung

Quân đi điệp điệp trùng trùng

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan”

Bài làm:

Súng nổ rung trời giận dữ

Người lên như nước vỡ bờ

Nước Việt Nam từ máu lửa

Rũ bùn đứng dậy sáng lòa”

Đã có những tháng ngày như thế, những tháng ngày đất nước hừng hực sục sôi trong khí thế của cuộc kháng chiến gian khổ mà anh hùng. Đã có những con người như thế, những con người nhỏ bé nhưng tạo sức mạnh của những đoàn quân một thời làm khiếp sợ kẻ thù, ra trận với ý chí “Quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh” để giành lấy độc lập, tự do cho dân tộc. Cùng tái hiện vẻ đẹp của những đoàn quân ra trận, mỗi nhà thơ lại có cách khám phá và thể hiện riêng. Trong bài Tây Tiến, Quang Dũng viết:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

Trong Việt Bắc, Tố Hữu viết:

“Những đường Việt Bắc của ta

Đêm đêm rầm rập như là đất rung

Quân đi điệp điệp trùng trùng

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan”.

Một số mở bài cho Người lái đò sông Đà– Nguyễn Tuân

MB 1 :

Nói đến Nguyễn Tuân, người ta thường nghĩ ngay đến “chủ nghĩa xê dịch”. Ông tới miền Tây Bắc rộng lớn, xa xôi không chỉ để thoả mãn cái thú tìm đến miền đất lạ cho thoả niềm khát khao “Xê dịch” mà chủ yếu để tìm kiếm chất vàng của thiên nhiên và ở tâm hồn của người lao động. Những trang viết hay nhất của ông thường là những trang tả đèo cao, vực sâu, thác nước dữ dội hoặc những cảnh thiên nhiên  đẹp một cách tuyệt đỉnh, tuyệt vời.  “Người lái đò sông Đà” là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách của nhà văn. Tác phẩm là những trang văn miêu tả rất tinh tế vẻ đẹp hình tượng con sông Đà vừa hùng vĩ, dữ dội nhưng cũng rất trữ tình và lãng mạn.

MB 2 :Đề bài: Cảm nhận của em về  hình tượng người lái đò trong tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân
Tuỳ bút “Người lái đò sông Đà” là một trong những tác phẩm đặc sắc của Nguyễn Tuân được in trong tập sông Đà (1960). Viết tuỳ bút này, Nguyễn Tuân tự coi mình là người đi tìm cái thứ vàng mười của núi rừng Tây Bắc và nhất là cái thứ vàng mười trong những con người đang nhiệt tình gắn bó với công cuộc xây dựng quê hương. Chất vàng mười i ấy chính là vẻ đẹp người lái đò sông Đà. Dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân người lái đò vừa là người anh hùng vừa là người nghệ sỹ tài hoa trong nghề của mình.

MB3  : Cảm nhận về một đoạn văn trong tác phẩm Người lái đò sông Đà

Nguyễn Tuân là cây bút tài hoa , uyên bác , cả đời say mê tìm kiếm vẻ đẹp của cuộc sống . Ông có sở trường về thể loại tuỳ bút . Một trong những sáng tác tiêu biểu của ông là tuỳ bút “ Người lái đò sông Đà” . Tác phẩm đã khắc hoạ vẻ đẹp đa dạng vừa hung bạo vừa trữ tình của con sông Đà và ca ngợi người lái đò giản dị mà kì vĩ trên dòng sông . Đoạn trích dưới đây là đoạn tiêu biểu của  thiên tuỳ bút này: ( trích dẫn đoạn văn trong đề bài. Các em không cần chép đoạn trích vào bài thi nhé ! chỉ chép câu đầu và  chấm chấm (…) câu cuối  của đoạn )

MB 4 : Phân tích nét độc đáo trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân qua tuỳ bút “Người lái đò sông Đà”
Nguyễn Tuân là một trong những cây bút xuất sắc của văn xuôi hiện đại Việt Nam.  Mỗi tác phẩm của ông là một bài ca về cái đẹp của cuộc sống, của con người, đặc biệt là những người lao động bình dị mà tài hoa.  Bên cạnh đó, tác phẩm của ông được người đọc đặc biệt chú ý về phong cách nghệ thuật rất riêng và rất độc đáo . “Người lái đò Sông Đà ” là một bài tùy bút tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật  của ông.

Một số mở bài cho bài thơ Việt Bắc– Tố Hữu

MB 1 :

Đề bài: Cảm nhận của em về hai đoạn thơ sau:

“Ta với mình, mình với ta
…Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu.”

“Dẫu xuôi về phương bắc
…Hướng về anh một phương.”

 

Bài làm
Trong cuộc đời mỗi con người, ai cũng có ít nhất một niềm thương, nỗi nhớ. Niềm thương, nỗi nhớ ấy luôn thường trực trong ta tạo nên những rung động mãnh liệt trong cảm xúc. Với các thi nhân , cảm xúc lại là yếu tố vô cùng quan trọng. Nó giúp cho các nhà thơ làm nên những thi phẩm say đắm lòng người. Tiếng nói từ trái tim sẽ đến được với trái tim. Đoạn thơ:

” Ta với mình, mình với ta
Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh
Mình đi, mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu.”

trích trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu và đoạn thơ:

“Dẫu xuôi về phương bắc
Dẫu ngược về phương nam
Nơi nào em cũng nghĩ
Hướng về anh một phương.”

trích trong bài thơ “Sóng của Xuân Quỳnh là những vần thơ dạt dào cảm xúc như thế.

( Bài viết của học sinh)

MB 2 :

Đề bài : Cảm nhận của anh/ chị về đoạn thơ sau….

Bài làm:

Có thể nói Tố Hữu  là  nhà thơ vĩ đại  của nền văn học Việt Nam. Tác phẩm của ông ghi dấu các  sự kiện, các dấu mốc của lịch sử quan trọng ở nước ta suốt hơn nửa thế kỉ. Việt Bắc là một trong số những bài thơ tiêu biểu. Tác phẩm  ghi lại sự kiện Đảng và Nhà nước chuẩn bị rời Việt Bắc về Hà Nội sau cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi. Trong bài thơ của mình, Tố Hữu đã thể hiện những tình cảm tha thiết của người đi – kẻ ờ, thể hiện những cảm nhận sâu sắc của tác giả về thiên nhiên và con người Việt Bắc. Điều này được thể hiện rõ nét qua đoạn thơ:

Ta về mình có nhớ ta,

….Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung

MB 3 :

Đề bài:
”Việt Bắc” tiêu biểu cho giọng thơ tâm tình ngọt ngào tha thiết của Tố Hữu và nghệ thuật biểu hiện giàu tính dân tộc của thơ ông.Hãy chứng minh điều đó qua đoạn trích hai mươi câu thơ đầu của bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu.

Bài làm:
Việt Bắc – Một sáng tác thành công của nhà thơ Tố Hữu được viết ra như một bản anh hùng ca , ca ngợi cuộc kháng chiến và con người kháng chiến. Bải thơ như lời hát tâm tình của mối tình tha thiết và day dứt giữa đồng bào Việt Bắc với người cán bộ về xuôi. Tác phẩm không chỉ hấp dẫn người đọc ở nội dung sâu sắc mà còn bởi giọng thơ tâm tình ngọt ngào cùng nghệ thuật biểu hiện giàu tính dân tộc.

MB 4 : Cảm nhận về đoạn thơ :

“Mình về mình có nhớ ta

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

Bài làm :

Tố Hữu là nhà thơ trữ tình chính trị, là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam. Thơ Tố Hữu thể hiện lẽ sống lớn, tình cảm lớn của con người Cách mạng. Thơ ông đậm đà tính dân tộc trong nội dung và hình thức thể hiện. Bài thơ “Việt Bắc” là đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cũng là đỉnh cao của thơ ca kháng chiến chống Pháp. Bài thơ Việt Bắc có nhiều đoạn thơ hay mà tiêu biểu là đoạn thơ sau:

“Mình về mình có nhớ ta

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

MB5 :

Việt Bắc là đỉnh cao của thơ ca kháng chiến chống Pháp và cũng là đỉnh cao của thơ Tố Hữu là bài thơ tiêu biểu cho phong cách này. Bằng cấu từ đầy màu sắc trữ tình dân gian, 1 thứ ngôn ngữ ngọt ngào tha thiết, những hình ảnh rất giàu chất thơ Tố Hữu đã từ cuộc chia tay giữa những người kháng chiến đối với đồng bào Việt Bắc mà tái hiện lại một Việt Bắc trong kháng chiến đầy gian khổ hy sinh nhưng thấm đẫm nghĩa tình quần chúng giữa cách mạng với nhân dân, lãnh tụ với dân tộc, miền ngược với miền xuôi, quá khứ, hiện tại, tương lai như hoà quyện vào nhau. Điều đó đã được thể hiện ngay trong 8 câu thơ mở đầu bài thơ.

Một số mở bài cho bài thơ Sóng -Xuân Quỳnh

MB1 : Cảm nhận của anh/ chị về đoạn thơ sau :

“Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể

Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ”

Bài làm :

Xuân Quỳnh là một trong số những nhà thơ trẻ xuất sắc trưởng thành từ kháng chiến chống Mỹ và là một trong số ít những nhà thơ nữ viết rất nhiều và rất thành công về đề tài tình yêu. Một trong những thành công xuất sắc về đề tài này của nữ sĩ là bài thơ “Sóng”, hai khổ thơ đầu bài thơ tác giả  viết:

“Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể

Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ”

MB2 :

Từ xa xưa, tình yêu luôn là điều bí ẩn đối với con người. Có lẽ cũng vì thế mà mỗi nhà thơ đều có cách lí giải và cảm nhận riêng về tình yêu. Ta bắt gặp một Xuân Diệu  say đắm, nồng nàn, khao khát được yêu đương mãnh liệt, một Nguyễn Bính chân chất của tình yêu đồng nội, gần gũi với thôn quê. Và có lẽ chắc chắn người đọc sẽ không quên được  Xuân Quỳnh với nhiều trạng thái cảm xúc vừa gần gũi, giản dị, vừa ồn ào, mãnh liệt. Bài thơ “sóng” là tiếng lòng chân chất, mộc mạc và cũng đầy những bất an về tình yêu đôi lứa.. Bài thơ mở đầu bằng những cảm xúc khi yêu:

Theo yêu cầu, cô viết tiếp mở bài tham khảo cho Rừng Xà nu và Những đứa con trong gia đình

Một số mở bài cho tác phẩm Rừng xà nu – Nguyễn Trung Thành

MB1 . Dùng  cho nhân vật T Nú :

Rừng xà nu  là bản anh hùng ca về cuộc chiến đấu anh hùng của đồng bào Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mĩ. Tái hiện chân thực cuộc chiến đâu kiên cường của nhân dân Tây Nguyên trong những ngày đánh Mỹ, nhà văn tập trung miêu tả hình thành của một thê hệ tiếp nối, phát huy truyền thống anh hùng của cha ông, và qua đó nhà văn cũng phản ánh sự trưởng thành của nhân dân Tây Nguyên trong cuộc đấu tranh một mất một còn với kẻ thù mới là đế quốc Mỹ. Tiêu biểu cho thế hệ thanh niên đó là Tnú.

MB 2  : Dùng cho đề bài : cảm nhận của anh/ chị về đoạn văn sau :

Làng ở trong tầm đại bác của đồn giặc. Chúng nó bắn đã thành lệ, mỗi ngày hai lần, hoặc buổi sáng sớm và xế chiều, hoặc đứng bóng và sẩm tối….Đứng trên đồi xà nu ấy trông ra xa, đến hết tầm mắt cũng không thấy gì khác ngoài những đồi xà nu nối tiếp tới chân trời.
Bài làm:
Rừng xà nu được Nguyễn Trung Thành viết vào mùa hè 1965 khi đến quốc  Mỹ bắt đầu đổ quân ào ạt vào miền Nam nước ta. Tác phẩm rất thành công trong việc khắc hoạ hình ảnh rừng xà nu-  một loài cây hùng vĩ, cao thượng, man dại, trong sáng cũng là hình ảnh ẩn dụ cho người dân Tây Nguyên nói riêng, con người Việt Nam nói chung. Ngay ở đoạn văn mở đầu truyện, ta bắt gặp hình ảnh rừng xà nu hùng vĩ, để lại ất tượng sâu sắc trong lòng người đọc.

Mở bài khác :

Mỗi nhà văn dường như đều gắn bó với  một vùng quê nhất định . Nếu như Nguyên Hồng tha thiết với Hải Phòng –thành phố hoa phượng đỏ, Nam Cao gắn bó cả cuộc đời với làng Vũ Đại qua những trang văn sắc lạnh mà thấm đẫm nước mắt, thì Nguyễn Trung Thành dường như có một niềm yêu thiết tha và mối giao cảm kì lạ với Tây Nguyên. Trong suốt hai cuộc kháng chiến, chính mảnh đất và con người nơi đây là nguồn cảm hứng lớn lao cho sáng tác của ông, làm nên tác phẩm “Rừng xà nu”- một bản anh hùng ca thời hiện đại. Đến với “Rừng xà nu”, ngay ở đoạn văn mở đầu truyện, ta bắt gặp hình ảnh rừng xà nu hùng vĩ, để lại ất tượng sâu sắc trong lòng người đọc.

Một số mở bài cho tác phẩm Những đứa con trong gia đình – Nguyễn Thi

MB 1 : Cảm nhận về đoạn văn trong tác phẩm: “Cúng mẹ và cơm nước xong, mấy chị em, chú cháu thu xếp đồ đạc dời nhà. …. Lần đầu tiên Việt mới thấy lòng mình rõ như thế. Còn mối thù thằng Mĩ thì có thể rờ thấy được, vì nó đang đè nặng ở trên vai”.

Nhắc tới Nguyễn Thi, người đọc không thể không nhắc tới ” Người mẹ cầm súng, ” Khi mẹ vắng nhà”, và đặc biệt là truyện ngắn ” Những đứa con trong gia đình” . Trong tác phẩm, cảm động nhất là đoạn văn kể chuyện chị em Chiến, Việt làm cơm cúng má rồi dời bàn thờ má sang nhà chú Năm. Đoạn truyện đã đem lại những rung động sâu xa cho người đọc trước vẻ đẹp tâm hồn của con người Việt Nam trong kháng chiến: ” Cúng mẹ và cơm nước xong….”

MB 2 : So sánh Việt và Tnú

 

Truyện ngắn  Rừng xà nu  của Nguyễn Trung Thành và Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi là 2 tác phẩm xuất sắc, phản ánh cuộc chiến đấu của con người Việt Nam trong kháng chiến. Tnú và Việt là hai nhân vật chính , tiêu biểu cho phẩm chất người cộng sản kiên cường. Qua hai nhân vật, tác giả Nguyễn Trung Thành và Nguyễn Thi đã khắc họa thành công   vẻ đẹp con người Việt Nam trong kháng chiến. Ở mỗi nhân vật đều có những vẻ đẹp riêng, hấp dẫn người đọc.

Một số mở bài cho bài Đất nước- Nguyễn Khoa Điềm

MB 1 :

Đề bài yêu cầu cảm nhận 9 câu thơ đầu trong bài Đất Nước, ta có thể tham khảo mở bài sau:
“Đất Nước” từ lâu đã là nguồn cảm hứng bất tận của thơ ca nói riêng và văn học nói chung. Nếu như các nhà thơ cùng thời thường chọn điểm nhìn về Đất Nước bằng những hình ảnh kỳ vĩ, mỹ lệ hay cảm hững về lịch sử qua các triều đại thì Nguyễn Khoa Điềm lại chọn điểm nhìn gần gũi, quen thuộc bình dị để miêu tả về Đất Nước. Đến với bài thơ “Đất Nước” của Nguyễn Khoa Điềm ta như đứng trước muôn màu văn hóa, truyền thống, phong tục tươi đẹp vô ngần. Vẻ đẹp ấy được hiện lên sâu sắc nhất qua chín câu thơ đầu. (trích thơ)

MB2 : So sánh Đất nước của Nguyễn Đình Thi và Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm

Trải suốt chiều dài lịch sử văn học, hình tượng đất nước đã bắt nhịp trái tim của không biết bao nhiêu nghệ sĩ để đi vào thơ với vẻ đẹp thiêng liêng và niềm tin yêu sâu sắc. Hồn thiêng đất nước, tinh thần dân tộc hào hùng được bắt nguồn từ “Nam quốc sơn hà”, “Hịch tướng sĩ”, “Tuyên ngôn Độc lập”… và tiếp nối bền vững qua mỗi thời kì. “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi và “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm gặp gỡ nhau ở đề tài ấy. Hai đoan thơ tiêu biểu ở hai bài thơ đã góp phần thể hiện rõ….

MB 3 :Đề bài: Nhận xét về chương V Đất Nước cuả Nguyễn Khoa Điềm có ý kiến cho rằng:” Tác giả đã phát biểu tư tưởng “Đất Nước của Nhân Dân, ĐN của ca dao thần thoại” và tư tưởng này chi phối cả nội dung và hình thức nghệ thuật của bản trường ca”.Từ đoạn trích ĐN anh chị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.
Bài làm
Nhắc đến lối thơ trữ tình chính luận ta không thể không nhắc đến Nguyễn Khoa Điềm- một nhà thơ xuất sắc của nền thơ ca hiện đại trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. “Mặt đường khát vọng” được viết năm 1971 là tác phẩm tiêu biểu nhất của ông. Trong đó chương V là chương trung tâm kết nối mạch ngầm của văn bản bằng hình tượng nghệ thuật trung tâm là Đất Nước. Nhận xét về chương này có ý kiến cho rằng: “Tác giả đã phát biểu tư tưởng “Đất Nước của Nhân Dân, ĐN của ca dao thần thoại” và tư tưởng này chi cả nội dung và hình thức nghệ thuật của bản trường ca”.

Một số mở bài cho bài thơ Đàn ghi ta của Lor-Ca – Thanh Thảo

1. Đề bài: ” Phân tích hình tượng nhân vật Lor-ca trong bài thơ “Đàn ghi ta của Lor-ca” của Thanh Thảo.

Bài làm:

Cùng với Xuân Quỳnh, Thanh Thảo cùng thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Mỹ nhưng trang thơ Thanh Thảo lại có dấu ấn rất riêng. Ông là người đi đầu trong phong trào cách tân thơ Việt, con đường mà ông lựa chọn để cách tân thơ Việt là việc đào sâu cái tôi nội cảm, tìm kiếm những cách biểu đạt  mới qua hình thức những câu thơ tự do, phá bỏ mọi ràng buộc, khuôn sáo. Thanh Thảo đi theo trường phái thơ tượng trưng siêu thực có nguồn gốc từ phương Tây mà Lor-ca là một đại biểu đi đầu trong trường phái thơ đó. Bài thơ “Đàn ghi ta của Lor-ca” được rút ra từ tập “Khối vuông ru bích”, bài thơ đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật Lor-ca.

2. Đề Bài:

 Phân tích hình tương nhân vật Lor-ca trong bài thơ “Đàn ghi ta của Lor-ca” của nhà thơ Thanh Thảo.

 Bài Làm:

Bài viết của Mơ Cao, học sinh trường THPT Bình Minh, Kim Sơn Ninh Bình

 Thanh Thảo là một nhà thơ khoác áo lính, ông sinh ra tại Quảng Ngãi, tốt nghiệp khoa văn trường Đại Học Tổng Hợp nhưng sau đó vào chiến trường miền Nam công tác. Thanh Thảo luôn nỗ lực tìm tòi hướng để cách tân thơ Việt. Ông đi theo trường phái thơ tượng trưng siêu thực có nguồn gốc từ phương Tây mà Lor-ca là một trong những người đi đầu trong trường phái thơ đó. Bài thơ “Đàn ghi ta của Lor-ca” đã xây dựng thành công hình tượng nghệ sĩ Lor-ca.

 

 Một số mở bài cho tác phẩm Người lái đò Sông Đà – Nguyễn Tuân (trích)

  1. Đề bài:Phân tích hình tượng sông Đà trong tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân

Bài làm

Nguyễn Tuân là bậc thầy về ngôn ngữ trong nền văn học hiện đại Việt Nam. Những tác phẩm của ông viết bằng cái “ngông” và bằng tình yêu tha thiết. “Người lái đò sông Đà” là bài tùy bút lấy cảm hứng từ chuyến đi thực tế. Hình ảnh con sông Đà được nhìn qua lăng kính tâm hồn nghệ sỹ với nhiều vẻ đẹp khác nhau mang lại ấn tượng độc đáo đối với người đọc. Nguyễn Tuân đã rất thành công khi xây dựng hình tượng sông Đà bằng chất liệu ngôn ngữ  và tình cảm tha thiết.

( Sưu tầm)

2. cảm nhận đoạn : “Thuyền tôi trôi trên sông Đà… trên dòng trên”.

Nói đến Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám, người ta phải nhắc Vang bóng một thời cũng như sau cách mạng tháng Tám, nhắc đến Nguyễn Tuân người ta không thể quên tập tùy bút Sông Đà của ông. Thông qua Sông Đà, bằng ngòi bút tài hoa, già dặn của mình, Nguyễn Tuân không chỉ phác họa được bức chân dung ông lái đò trên sông Đà, bức chân dung người lao động trên sông nước được nâng lên ngang tầm nghệ sĩ, mà còn đem đến con sông Đà một cái hồn người thực sự: cũng biết vui, buồn, giận dỗi, phẫn nộ, nhớ thương… Nhưng, gấp lại trang sách, đọng lại trong tôi vẫn là đoạn này: “Thuyền tôi trôi trên sông Đà… trên dòng trên”.
( sưu tầm)

3.

Về đoạn trích tuỳ bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân, có ý kiến cho rằng: Đó là một công trình khảo cứu công phu. Nhưng ý kiến khác lại nhấn mạnh: Đó là một áng văn giàu tính thẩm mĩ.

         Từ việc phân tích đoạn trích tuỳ bút, anh/chị hãy bình luận những ý kiến trên

Nguyễn Tuân là nhà văn tài hoa, am hiểu sâu rộng về nhiều lĩnh vực và  là người nghệ sĩ đặc biệt giàu cảm hứng trước những vẻ đẹp kì vĩ, phi thường, dữ dội . NLĐSĐ là tác phẩm được rút từ tập truyện Tây Bắc (1960),  là kết quả nhiều lần lên Tây Bắc và trong chuyến đi thực tế 1958 của Nguyễn Tuân.Về tác phẩm này ,có ý kiến cho rằng “đó là một công trình khảo cứu công phu”, ý kiến khác lại cho rằng “đó là một áng văn giàu tính thẩm mĩ”. Phải chăng đó là hai ý kiến trái ngược nhau?

Một số mở bài cho bài Ký Ai đã đặt tên cho dòng sông – Hoàng Phủ Ngọc Tường (trích)

Cảm nhận về hình tượng sông Hương trong bài :Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường

Con sông Hương thơ mộng của xứ Huế đã làm ngẩn ngơ không ít những tâm hồn nhạy cảm và cũng làm “khổ” không ít bậc nghệ sĩ tài hoa. Ta bắt gặp sông Hương ở muôn mặt của nghệ thuật: thơ, ca, nhạc, hoạ. Đến với bút kí Ai đã dặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường một lần nữa ta cảm nhận vẻ đẹp sông Hương và sự đam mê của tác giả khi viết về dòng sông.
( sưu tầm)

Một số mở bài cho tác phẩm Vợ chồng A – Phủ – Tô Hoài (trích)

1.Phân tích giá trị nhân đạo của truyện Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài

BÀI LÀM

Có ai đó đã từng nhận xét: suy cho cùng thì ý nghĩa thực sự của văn học là góp phần nhân đạo hoá con người. Tác phẩm văn học là sản phẩm tinh thần của con người, do con người làm ra để đáp ứng nhu cầu của nó. Vì vậy tác phẩm văn học chỉ thực sự cóđ giá trị khi nó lên tiếng vì con người, ca ngợi và bảo vệ con người. Với ý nghĩa đó một tác phẩm lớn trước hết phải là một tác phẩm có giá trị nhân đạo sâu sắc. Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài là một tác phẩm như thế.

2.  Đề bài :

Cảm nhận của anh/ chị về  đoạn văn trích sau đây trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài:

“Ngày Tết, MỊ cũng uống rượu, Mị lén lấy hũ rượu, cứ uống ực từng bát. Rồi say, Mị lịm mặt ngồi đấy nhìn mọi người nhảy đồng, người hát, nhưng lòng MỊ thì đang sống về ngày trước…..

Chó sủa xa xa. Chừng đã khuya. Lúc này là lúc trai làng đến bên vách làm hiệu, rủ người yêu dỡ vách ra rừng chơi, Mị nín khóc. Mị lại bồi hồi.”

BÀI LÀM

Vợ chồng A Phủ là một truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách Tô Hoài sau Cách mạng tháng Tám. Hiện thực và nhân đạo là nội dung nổi bật của thiên truyện này. Nội dung ấy lại được thể hiện bằng giọng văn trần thuật, miêu tả và thể hiện tâm trạng, tính cách nhân vật hết sức tinh vi và sâu sắc. Đoạn vân trên thể hiện rất rõ tài năng của Tô Hoài trong việc mô tả và khắc họạ tâm trạng nhân vật Mị, một nhân vật trung tâm của thiên truyện Vợ chồng A Phủ.

 

Một số mở bài cho tác phẩm Vợ nhặt – Kim Lân

1, Đề bài :

Truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao kết thúc bằng hình ảnh:
Đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa, và vắng người lại qua…
(Ngữ văn 11, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011, tr.155)

Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân kết thúc bằng hình ảnh:
Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới…
(Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011, tr.32)

Cảm nhận của anh/chị về ý nghĩa của những kết thúc trên.

Mở bài tham khảo nhé :

Dòng văn học hiện thực phê phán Việt Nam  thường khai thác một khía cạnh phổ biến đó là tình cảnh bi thảm của người nông dân trước cách mạng tháng Tám .Trong số những trang văn cảm động về người nông dân phải kể đến hai truyện ngắn nổi bật : Chí Phèo của nhà văn Nam Cao và Vợ nhặt của Kim Lân .Mỗi truyện đều có một cách kết thúc riêng  ,song mỗi cách kết thúc đều mang những giá trị riêng. Truyện ngắn Chí Phèo kết thúc bằng hình ảnh:
Đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa, và vắng người lại qua…Truyện ngắn Vợ nhặt kết thúc bằng hình ảnh:
Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới

2.  Đề bài : cảm nhận của anh / chị về cảnh gặp gỡ đầu tiên giữa mẹ Tràng với nàng con dáu qua đoạn ván trích sau đây trong tác phẩm Vợ nhặtt của Kim Lân:

“Tràng nhắc mẹ:

Kia nhà tôi nó chào u….

… Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời? Có ra thì rồi con cái chúng mày về sau!”

Bài làm :

Đã rất nhiều lầ n đọc truyện Vợ nhặt của Kim Lân nhưng lần nào cũng thế, cứ đọc đến đoạn miêu tả cảnh gặp gỡ đầu tiên giữa bà cụ Tứ (mẹ Tràng) với người “con dâu mới” mà con trai bà vừa “nhặt” được về  là tôi lại thấy lòng mình rưng rưng cảm động. Với những lời văn trần thuật giản dị và mộc mạc, tác giả đã dựng được lại rất sinh động những diễn biến tâm lý tinh vi và phức tạp đang diễn ra trong tâm trạng của một bà mẹ nghèo, trước một tình huống éo le không hiểu nên mừng hay lo, là hạnh phúc hay tai họa.

3.Phân tích tình huống truyện Vợ Nhặt- Kim Lân

BÀI LÀM

Nói đến nghệ thuật truyện ngắn, người ta thường coi ba yếu tố sau đây là cơ bản nhất: tình huống truyện, nhân vật truyện và cách trần thuật. Có nhiều truyện ngắn, sự sáng , tạo tình huống đóng vai trò then chốt. Đặt vào tình huống ấy, nhân vật truyện bộc lộ sâu sắc tâm lý, tính cách. Tư tưởng của thiên truyện cũng nhờ thế mà được thể hiện đậm đà. Và xoay quanh tình huống ấy, các tình tiết cũng trở nên hấp dẫn.Truyện Vợ nhặt của Kim Lân thuộc loại tác phẩm như thế.

4. Đề bài : Cảm nhận của anh/ chị về  chi tiết bát cháo hành trong truyện Chí Phèo ( Nam Cao) và bát cháo cám trong truyện Vợ nhặt ( Kim Lân).

Mở bài tham khảo:

Nam cao và Kim Lân đều là những cây bút có sở trường truyện ngắn, có nhiều trang viết cảm động về đề tài nông thôn và người nông dân. Điểm chung của hai nhà văn là họ đều có những truyện ngắn giản dị nhưng chứa chan tinh thần nhân đạo.Hình ảnh bát cháo hành trong Chí Phèo và bát cháo cám trong Vợ nhặt đều là những hình ảnh đặc sắc, góp phần thể hiện rõ nét nội dung tư tường của các tác phẩm và tài năng của các nhà văn.

Xem thêm bài viết phần 2 :http://vanhay.edu.vn/mot-mo-bai-mau-tham-khao-p2

 

Chủ nghĩa anh hùng cách mạng qua tác phẩm văn học kháng chiến chống Mĩ

Đề bài: “Văn xuôi những năm kháng chiến chống Mỹ xứng đáng là bản anh hùng ca ca ngợi những con người miền Nam anh hùng, kiên cường, bất khuất, căm thù giặc cháy bỏng, yêu thương quê hương đất nước tha thiết, thủy chung, nghĩa tình son sắt với cách mạng, với kháng chiến”.

Qua việc phân tích các tác phẩm tiêu biểu đã học trong giai đoạn chống Mĩ cứu nước, anh/chị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên ?

Biên soạn: Nguyễn Thế Anh – Lớp 12C – Trường THPT Hoa Lư A – Ninh Bình

HƯỚNG DẪN:

  • Học sinh có thể lấy dẫn chứng từ 2 tác phẩm tiêu biểu “Rừng xà nu” – Nguyễn Trung Thành và “Những đứa con trong gia đình” – Nguyễn Thi.

1: Giải thích ý kiến:

+ Ý kiến trên đề cập đến chủ nghĩa anh hùng cách mạng – nguồn cảm hứng chủ đạo trong văn học Việt Nam, đặc biệt là văn học giai đoạn 1945 – 1975 mà biểu hiện cụ thể là ca ngợi phẩm chất của những con người miền Nam anh hùng, kiên cường, bất khuất, căm thù giặc cháy bỏng, yêu thương quê hương đất nước tha thiết, thủy chung, nghĩa tình son sắt với cách mạng, với kháng chiến.

+ Cả hai tác giả Nguyễn Trung Thành và Nguyễn Thi đều gắn bó với cuộc chiến đấu chống Mỹ, là những nhà văn chiến sĩ ở tuyến đầu máu lửa. Tác phẩm của họ mang hơi thở nóng hổi của cuộc chiến đấu với những hình tượng nhân vật sinh động, bước vào văn học từ thực tế chiến đấu.

+ Hai truyện ngắn “Rừng xà nu” (1965), “Những đứa con trong gia đình” (1966) đều ra đời trong giai đoạn ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, khi đế quốc Mỹ đem quân vào miền Nam nước ta, dân tộc ta đứng trước trận chiến một mất một còn để bảo vệ độc lập tự do, bảo vệ quyền sống. Ra đời trong bối cảnh đó, hai tác phẩm ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng, với chất sử thi đậm đà.

2: Chứng minh ý kiến:

  • Những con người miền Nam chịu đựng nhiều đau thương, mất mát – nỗi đau tiêu biểu cho đau thương của cả dân tộc. Ở họ, có tình yêu quê hương đất nước và lòng căm thù giặc sâu sắc.
  • Dẫn chứng:

+Tnú phải chứng kiến cảnh vợ con bị kẻ thù tra tấn đến chết, bản thân anh bị giặc đốt mười đầu ngón tay.

+Việt và Chiến chứng kiến cái chết của ba má: ba bị chặt đầu, má chết vì đạn giặc.

  • Những đau thương đó hun đúc tinh thần chiến đấu, lòng căm thù giặc sâu sắc của con người Việt Nam. Biến đau thương thành sức mạnh chiến đấu cũng là một biểu hiện của chủ nghĩa anh hùng cách mạng:

+ Tnú lên đường đi “lực lượng” dù mỗi ngón tay mất đi một đốt.

Chủ nghĩa anh hùng cách mạng qua tác phẩm văn học kháng chiến chống Mĩ

Chủ nghĩa anh hùng cách mạng qua tác phẩm văn học kháng chiến chống Mĩ

+ Việt và Chiến cùng vào bộ đội, coi việc đánh giặc trả nợ nước, thù nhà là lẽ sống.

  • Họ chiến đấu bởi sức mạnh của lòng căm thù giặc, cũng là bởi sức mạnh của tình yêu thương, vì: chỉ có cầm vũ khí đứng lên, ta mới có thể bảo vệ được những gì thiêng liêng nhất, bảo vệ tình yêu và sự sống. Chân lí đó đã được minh chứng qua số phận và con người cách mạng của những người dân Nam Bộ trong hai tác phẩm trên, chân lí đó cũng được rút ra từ thực tế đau thương mất mát nên nó càng có giá trị, càng khắc sâu vào lòng người.
  • Những con người miền Nam anh hùng, kiên cường, bất khuất, thủy chung, nghĩa tình son sắt với cách mạng, với kháng chiến:
  • Nhân vật Tnú:

+ Từ nhỏ đã gan dạ, đi liên lạc bị giặc bắt được, tra tấn dã man vẫn quyết không chịu khai.

+ Anh vượt ngục trở về, lại là người lãnh đạo thanh niên làng Xô Man chống giặc, bị đốt mười đầu ngón tay vẫn không kêu rên trước mặt kẻ thù.

  • Ở Tnú toát lên vẻ đẹp của người anh hùng trong sử thi Tây Nguyên và vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng thời đại chống Mĩ.
  • Nhân vật Việt: bị thương trong trận đánh lại lạc mất đơn vị, vẫn chắc tay súng quyết tâm tiêu diệt kẻ thù. Đối với chị Chiến, Việt ngây thơ, nhỏ bé, còn trước kẻ thù, Việt vụt lớn lên, chững chạc trong tư thế người anh hùng.
  • Nhân vật Chiến: cùng em bắn cháy tàu địch trên sông Định Thủy; quyết tâm lên đường trả thù cho gia đình với lời nói như dao chém đá “Tao đã thưa với chú Năm rồi, đã làm thân con gái ra đi thì tao chỉ có một câu: Nếu giặc còn thì tao mất, vậy à”.
  • Các nhân vật khác:

+ Cụ Mết: luôn tự hào về buôn làng, về người Strá; luôn dặn dò con cháu giữ gìn niềm tin sắt đá “Cán bộ là Đảng, Đảng còn núi nước mình còn” và quyết tâm chống lại kẻ thù “Chúng nó cầm súng mình phải cầm giáo”.

Chủ nghĩa anh hùng cách mạng qua tác phẩm văn học kháng chiến chống Mĩ

+ Mai: một cô gái gan dạ, dũng cảm, sẵn sàng đi nuôi cán bộ, thà chết chứ không chịu khai ra chồng ở đâu.

+ Dít: trước súng đạn kẻ thù, đôi mắt nó vẫn bình thản lạ lùng.

+ Ba má Việt và chú Năm: đều nhiệt tình tham gia cách mạng. Đặc biệt, chú Năm là người lưu giữ truyền thống gia đình, là khúc thượng nguồn trong dòng sông lịch sử gia đình.

+Cụ Mết, Mai, Dít, bé Heng trong “Rừng xà nu”; ba, má, chú Năm trong “Những đứa con trong gia đình” đều là những con người yêu quê hương đất nước, gắn bó với buôn làng, với gia đình, với người thân yêu. Tình yêu Tổ Quốc của họ bắt đầu từ những tình cảm bình dị đó, cho nên nó càng bền bỉ, càng có sức mạnh lớn lao khiến kẻ thù phải run sợ.

  • TÓM LẠI: Các nhân vật của hai truyện ngắn đều đã vượt lên nỗi đau và bi kịch cá nhân để sống có ích cho đất nước. Những đau thương của họ cũng chính là đau thương của dân tộc trong những năm tháng chiến tranh. Tinh thần quả cảm, kiên cường của họ cũng chính là tinh thần của cả dân tộc Việt Nam, là biểu hiện cao đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

3: ĐÁNH GIÁ CHUNG:

  • Với nghệ thuật miêu tả và khắc họa nhân vật tài tình, các tác giả đã dựng nên những chân dung anh hùng rất sinh động; đồng thời tái hiện lại không khí và tinh thần của dân tộc trong thời đại chống Mỹ cứu nước.
  • Qua đó chúng ta cảm nhận được tấm lòng yêu nước của các nhà văn. Họ đã khơi dậy trong mỗi con người Việt Nam lòng yêu nước, tự hào dân tộc, ý thức trách nhiệm với vận mệnh non sông.

Lưu ý : Học sinh có thể lấy dẫn chứng từ các tác phẩm cùng thời

Xem thêm :Tổng hợp những đề thi về các tác phẩm trọng tâm lớp 12