Bài văn phân tích đặc sắc nghệ thuật Người lái đò sông Đà

Người lái đò sông Đà- Vẻ đẹp của một dòng sông chữ.

Mở bài

Nguyễn Tuân chắc hẳn đã tâm đắc lắm với những vần thơ sông của nhà thơ Ba Lan nọ. Chẳng vậy mà sông nước xứ mình đã chảy trên không biết bao nhiêu trang văn đẹp của ông, trong đó có sông Đà, con sông đã trao tên cho một công trình văn xuôi tuyệt tác. Tôi đoán chắc rằng không thể chỉ có nhu cầu săn tìm cảm giác hay cái máu phiêu lãng giang hồ đã xui khiến bước chân Nguyễn Tuân tìm đến dòng chảy vĩ đại này của núi rừng Tây Bắc. Nhất định phải có một tiên cảm, tiên giác nghệ thuật sáng suốt nào mách cho người nghệ sĩ tài hoa về nguồn cảm hứng sông Đà hàng chục năm trước khi “dòng sông ánh sáng” đó thực sự trở thành một địa chỉ lớn của nhạc, hoạ, sân khấu, thơ, văn. Và từ ấy đến nay, cho dù đã có biết bao người khắc, vẽ và kể chuyện về sông Đà, làm thơ và ca hát với sông Đà thì có lẽ vẫn chưa ai vượt hơn được Nguyễn Tuân trong việc biến vùng sông nước ấy thành nghệ thuật, thành một gợi cảm mênh mông.

Thân bài

Khái quát

Song để làm nên một niềm gợi cảm sông Đà có tầm cỡ, vóc dáng như của Nguyễn Tuân thì cảm xúc và tài quan sát vẫn còn chưa đủ. Nhớ lại, Xuân Diệu từng thiết tha nói đến sự rất cần thiết phải uyên bác ngay trong một lĩnh vực trữ tình nhất là thơ. Tôi nghĩ Nguyễn Tuân cũng có thẩm quyền như thế, có khi còn hơn thế – dĩ nhiên trong phạm vi lãnh thổ của ông là kí, là tuỳ bút – để chỉ ra rằng sự uyên bác ấy có thể nâng đỡ đến thế nào cho đôi cánh của hào hoa. Càng đọc Nguyễn, lại càng nghiệm ra rằng, nhà văn độc đáo ấy luôn luôn độc đáo trong sự uyên bác, rằng con người tài hoa, tài tình hiếm ai bì kịp ấy cũng đồng thời là con người luôn luôn có những hiểu biết khôn lường, khôn sánh về những gì được nói tới ở văn minh. Trường hợp sông Đà là vậy. Phải là Nguyễn Tuân và có lẽ chỉ có Nguyễn Tuân mới không ngại nhọc công dò đến ngọn nguồn lạch sông, truy tìm đến tận nơi gốc tích khai sinh của sông Đà, để biết chỗ phát nguyên của nó thuộc huyện Cảnh Đông và thoạt kì thuỷ, dòng sông mang những cái tên Trung Hoa mà âm thanh dẫu sao cũng gợi ra khá nhiều thơ mộng: Li Tiên, Bả Biên Giang. Và cũng không dễ có người như Nguyễn, để có thê hạ bút viết đúng ba câu về sắc nước Đà giang đã phải mấy lần bay ngang trên miền sông ấy. Để rồi sau đó, mới nói chắc như đinh đóng cột rằng nước sông Đà không hề đen; trái lại, nó xanh màu ngọc bích dưới trời xuân, khác với sông Gấm sông Lô nước “xanh canh hến” (tác giả mới kì công làm sao trong quan sát và chọn tìm từ!), còn mỗi độ thu về, nước sông Đà lại “lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa”. Cứ theo đây thì ai dám bảo các đấng tài hoa viết văn không khó nhọc? Ai dám bảo rằng cái cốt cách phong lưu tài tử như của Nguyễn Tuân cho phép nhà văn cứ việc thả sức rong chơi, chờ khi thần hứng đến với mình thì chỉ cần một lần phất bút là đã đủ làm nên tấm lụa ngôn ngữ đẹp mê hồn?

Nhưng chớ nên quên Nguyễn còn là một bản ngã vãn chương không hề giống với một ai, và cũng không thể có một ai mong bắt chước. Những trang viết trong Người lái đò Sông Đà đẹp còn vì tác giả đã in cái bản ngã độc đáo ấy vào sông nước Đà giang, đã thêm cái vẻ đẹp rất chủ quan của tâm hồn và tưởng tượng vào cái vẻ đẹp rất khách quan của dòng sông, để dần dần làm cho dưới ngòi bút, tuôn chảy một con sông Đà mang dấu ấn thật riêng của nhà văn, một con sông Đà đã được chinh phục và chi phố bởi thứ quyền năng riêng của người cầm bút mà Nguyễn Tuân vốn có nhiêu hơn ai hết – tôi muốn nói đến thứ quyền năng của ngôn từ.

Nghệ thuật miêu tả con sông Đà hung bạo

Hãy thử lấy ra đây một trong rất nhiều ví dụ. Ở đầu trích đoạn Người lái đò Sông Đà trong sách Văn học 12 có đoạn tả “cảnh đá bờ sông đựng vách thành” và những bức thành vách đá cao chẹt chật lấy lòng sông hẹp.

Cái hẹp ấy của  lòng sông, tác giả đã tả nó ra theo đủ cách: Nào là ” Mặt sông lúc ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt giời”. Nào là con hổ con nai có thể vọt qua sông, và chỉ cần nhẹ tay thôi cũng có thể ném hòn đá từ bờ này sang bên kia vách. Những ý văn như thế kể cũng đã thú lắm. nhưng vấn còn chưa khiến ta phải thán phục, phải ghê gớm cho tài nghệ của Nguyễn Tuân như trong câu cuối đoạn này: “Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, dang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tất phụt đèn điện”. Một sức bút bình thường làm sao có nổi một cái so sánh vừa chính xác, tinh tế, lại vừa bất ngờ và lạ lùng đến thế. Bên cạnh những câu viết thế này, tôi chắc nhiều người sẽ nhận ra mình nghèo nàn biết bao nhiêu cả vể từ ngữ và ý tưởng. Có cảm giác cái bậc văn nhân hằng biết sợ cái cảnh “mình bỗng chốc trở thành người cùng đường bên dòng sông chữ quạnh trắng thê lương” ấy luôn luôn lục lọi đến tận kiệt cùng cái kho ấn tượng đầy ăn ắp để tìm cho bằng ra một cách nói có sức kinh động hồn trí con người.

Nguyễn Tuân đang nói với ta về một sông Đà hung bạo. Một nhận xét nhu thế sẽ không có nhiều khả năng gây sự ngạc nhiên, nếu chúng ta không tận mất thấy nhà văn dã hao tổn công phu đến thế nào đề bát sự hung bạo kia phải nổi hẳn lên thành hình khối và gào thét lên trong muôn vạn âm thanh.

Người đọc đã như được tác giả đặt cưỡi lên con thuyền đang vun vút phăng phăng xuống thác để cảm thấy quanh mình nước thác hò reo bốn mặt và những hòn đá ngỗ ngược phía trước kia như nhất tẽ “nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền”.

Không khó khăn gì để thấy trong đoạn này, nhà văn đã sử dụng rất nhiều nhân hoá, để nhờ đó, đọc ra từng sắc diện người trong những hình thù đá vô tri. Ống đã cổ dùng thật hết sức mạnh điêu khắc của ngôn từ để truyền hồn sống vào từng thớ đá. Dễ mấy ai nhìn ra những khuôn mặt đá kiểu thế này: “Một hòn ấy trông nghiêng thì y như là đang hất hàm hỏi cái thuyền phai xưng tên tuổi trước khi giao chiến. Một hòn khác lùi lại một chút và thách thức cái thuyền có giỏi thì tiến gần vào”. Tồi chắc những chữ như “hất hàm”, được viết tài đến thế, thì hoặc phải xoẹt đến trong óc nhà văn như một ánh chớp thiêng của luồng cảm hứng và lập tức định vị ngay trong câu viết, nếu không thì phải gò lấy nó bằng cả một “từ công phu”.

Cái dáng đá hất hàm ấy trông nó xấc xược, hỗn hào, du côn một cách rất  là hiện đại. Nhưng đọc cả đoạn văn, vẫn cảm tưởng thấy tác giả Người lái đò Sông Đà cứ như muốn vừa tìm sự hoà ứng vừa như muốn tranh đua với ca khúc thứ XII của Ôđixê bất hủ, đoạn tả chiếc thuyền của Uylixơ vượt qua khoảng giữa hai con quái thạch Karip và Xila. Hãy nghe lại âm vang hào tráng của Hômerơ từ bao nhiêu nghìn năm trước: “Chúng tôi… chèo thuyền tiến thẳng vào eo biển hiểm nghèo một bên là Xila, một bên là Karip ùng ục ngốn nước biển. Mỗi lần nó nhả nước ra, cả biển khơi đều chuyển động, sôi lên như nước trong chảo đặt trên một bếp lửa hồng… Rồi khi nó lại nuốt nước mặn vào thì làm biển sùng sục cuộn lên; vách đá xung quanh kêu réo ghê sợ, và đáy biển lộ ra với mặt cát đen thẫm… Có phải là ta đã gặp lại trong cái hung bạo của sông Đà hôm nay rất nhiều thần thái cái hung bạo của chốn eo biển nào rất xa xôi tận thời cổ đại?

Người ta bảo trong các nhà văn thật lớn thường vẫn còn một đứa trẻ thơ, và đứa trẻ ấy giúp nhà văn giữ được cái nhìn cảm tính trong trẻo hồn nhiên mà người lớn vẫn để cằn cỗi héo tàn đi trên đường đời khó nhọc. Trường hợp Người lái đò Sông Đà có lẽ cho phép ta được nghĩ thêm: trong đôi mắt của nhà văn lớn hôm nay hình như vẫn lấp lánh tia mắt không chỉ của tuổi thơ đời người mà còn của cả thòi ấu thơ nhân loại. Và của cả những giai đoạn vẫn cổ xưa nhưng có gần gũi chúng ta hơn. Đọc những dòng viết về thạch trận Đà giang, tôi cứ cảm thấy nó phảng phất những trận đổ trường xà, bát quái cũng có đủ cửa tử cửa sinh trong truyện cũ. Rồi lại chợt nhớ ra Gia Cát Khổng Minh cũng đã có lần lấy đá làm binh. Cứ thế, sự dữ dội của sông Đà được nhân mãi lên trong trùng trùng liên tưởng.

Nhưng đoạn văn tả đá thác sông Đà bủa vây, chận bắt một chiếc thuyền xuôi đơn độc tôi thấy không chỉ có một màu hung tợn. Còn có thể cảm nhận ở đây bóng dáng của Nguyễn Tuân như một nhạc trưởng đang điều khiển một dàn giao hưởng chơi thật hùng tráng bài ca của gió thác xô sóng đá. Ban đầu, tác giả mới để cất lên khúc dạo đầu với những cung bậc nỉ non của một dòng nước thác “nghe như là oán trách gì, rói lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích”. Thế rổi bất ngờ âm thanh được phóng to hết cỡ ,các nhạc khí bừng bừng thét lên khúc nhạc của một thiên nhiên đang ở đỉnh điểm của một cơn phấn khích mạnh mẽ và man dại, trong đó âm vang cuồng loạn của núi rừng được đưa vào để thanh viện cho sự diễn tả con thác giận dữ âm ầm va đập vào bờ đá. Tiếng sóng thác – nhà văn viết – “nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng”. Dám lấy lửa để tả cái vốn đối lập với lửa là dòng nước, dám lấy rừng để tả sông. Nguyễn Tuân quả đã chơi ngông lắm trong nghệ thuật. Nhưng ông chơi ngông mà ta thì được: ta được một cái nhìn tổng quan hơn và thú vị hơn về sự tương giao sức mạnh giữa các lực lượng tự nhiên. Cũng vậy, tôi cho rằng rất nên chiêm ngưỡng vẻ đẹp kì vĩ của tạo hoá trong những câu viết thế này: “Ngoặt khúc sông lượn thấy sóng bọt đã trắng xoá cả một chân giời đá”. Và tôi nghĩ lòng Nguyễn Tuân chắc cũng sảng khoái hào hứng lắm khi nó rung lên với “trận nước vang trời thanh la não bạt”.

Nghệ thuật miêu tả ông lái đò

Trên đây là hình ảnh của một thiên nhiên mà Nguyễn Tuân từng đã muốn “trông nó thành ra diện mạo và tâm địa một thứ kẻ thù số một”. Nhưng cũng rất đúng nếu nói rằng thiên nhiên ấy cũng chính là kẻ tôn vinh số một giá trị của con người.

Thật thế, người lái đò sông Đà kia sẽ là ai, nếu con thuyền của ông không phải vật lộn với “dòng thác hùm beo đang hồng hộc thế mạnh trên sông đá”? Có thể người ấy sẽ mang một vẻ đẹp nào đó của một loại ông ngư, ông chài, ông lái… nhưng sẽ không thể trở thành đối tượng của một khúc hùng ca. Trái lại, chính cái hùng vĩ của sóng của thác, của sông nước Đà giang sẽ đưa con người dám đương đầu và chiến thắng thần đá thần sông lên hàng oai linh tối thượng.

Người xưa vẫn coi “cưỡi cơn gió mạnh, đạp đầu sóng dữ” là biểu trưng cho một lí tưởng sống anh hùng. Thì ông lái đò sông Đà này, dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân cũng chính là con người cưỡi gió đạp sóng theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng đấy còn gì! Nhà văn đã dụng tâm diễn tả cuộc chiến giữa ông lái với dòng sông theo hướng: thoạt đầu tưởng như hai bên rất không cân sức. Nào là, quanh con người đơn độc, “mặt nước hò la vang dậy…ùa vào mà bẻ gãy cán chèo”. Nào là “sóng nước như thế quân liều mạng vào sát nách mà đá trái mà thúc gối vào bụng vào hông thuyển”, để đội thuyền lên, để lật ngửa mình thuyền giữa vang trời thác réo. Các luồng sóng thì thi nhau “đánh hổi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm” vào chỗ dễ tổn thương nhất của con người… Sẽ tốn khá giấy mực đấy, nếu muốn kể hết ra đấy cái khối lượng hùng hậu các từ ngữ mà Nguyễn Tuân đã chở về từ bên nhà võ để hào phóng vốc tung ra trên các trang văn!

Vậy mà đối địch lại, ông đò có những gì? Một chiếc thuyền mỏng manh, trên đó, con người thật nhỏ bé biết bao giữa luồng thác đang giận dữ, hai tay ghì níu lấy mái chèo, đôi chân kẹp chật vào cuống lái, mặt méo bệch hẳn đi do “cố nén vết thương” (Xin được lưu ý rằng Nguyễn Tuân không viết “méo xệch” mà viết là “méo bệch”. Ra cái đau đớn tàn bạo của dòng nước nó còn làm cho bợt bạt cả sắc mặt người).

Thế nhưng ba lớp trùng vi của một thạch trận đầy cửa tử đã không ăn chết được một con thuyền đơn độc hết chỗ lùi. Các dũng tướng phá trận ngày xưa, nếu vào đúng cửa sinh và đánh thốc ra đúng cửa sinh là đối phương tan tành thế trận. Ông đò của Nguyễn Tuân cũng thế. Nhà vàn như muốn, qua trường hợp ông đò, cùng mỗi chúng ta nghiền ngẩm điều triết lí: giữa cái thế giới của độc dữ và nham hiểm, cái thế giới đầy sức mạnh mạn dại và lập lờ cạm bẫy, con người vẫn đủ khả năng tìm thấy luồng sinh. Người lái đò của Nguyễn Tuân không có phép màu. Ông đâu có đôi cánh tay Hecquyn nào để sánh được với sức lực của Thuỷ Tinh. Nhưng ông “đã nắm chắc binh pháp của thần sông, thần đá”. Và cái kinh nghiệm đò giang sông nước, lên thác xuống ghềnh, không, phải nói là cái trí tuệ của người lao động ấy đã khiến cho ông lái, dù trong tay chỉ có cây chèo (cái que nhỏ giữa nguy nga sóng thác!) vẫn có thể phá thành vượt ải như một chiến tướng bách thắng trong sự nghiệp đấu tranh chống thiên nhiên. Một cảm hứng hào hùng đã khiến ngòi bút Nguyễn Tuân tả một cuộc vượt thác sông Đà vẫn diễn ra thường nhật thành một trận đánh biến ảo, hấp dẫn, một khúc hát ca ngợi chiến công của một bậc anh hùng. Có quá lời, có đáng ngạc nhiên chăng, nhất là ở một nhà văn văn có tiếng là kiêu bạc? Tôi không cho là như thế. Theo tôi, đừng nghĩ Nguyễn Tuân chỉ ca ngợi một người. Ông ca ngợi Lao Động, ca ngợi Con Người, ông theo cách của mình làm cho “hai tiếng Con Người vang lên kiêu hãnh biết bao!”. Người lái đò sông Đà – nhà văn muốn vậy – thể hiện cái tư thế ngự trị của Con Người trước Thiên Nhiên thần thánh.

Nghệ thuật miêu tả con sông Đà trữ tình

Và khi trong thiên tùy bút của Nguyễn Tuân mái chèo của ông đò vừa ngừng chống nhau cùng thác đá thì dòng sông Đà bỗng nhiên đổi vẻ. Lời văn của Nguyễn bây giờ cũng bềnh bồng với bầu trời mùa xuân mùa thu, nơi tác giả từ trên tàu bay mà nhìn xuống “từng nét sông tãi ra trên đại dương đá lờ lờ bóng mây dưới chân mình”. Để từ đó, bậc du tử tài hoa đã vẫy bút vẽ ra cả một bức tranh thuỷ mặc chỉ trong một câu văn, cái câu sẽ còn vương vấn mãi trong hồn bao bạn đọc: “Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở họa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”.

Nếu được phép tỏ bày ý thích riêng, thì quả thực, cảm tình của tôi có phần được đặt nhiều hơn vào đoạn tả con sông Đà trữ tình này. Làm sao có thể không yêu lối viết của Nguyễn trong cái khúc nói về cái lần nhà văn “nhìn Sông Đà như một cố nhân”. Lúc đầu, chỉ là cảm giác còn mơ hồ về một sự “thèm chỗ thoáng”, do “ở rừng đi núi cũng đã hơi lâu”, thậm chí còn “quên đi mất là mình sắp đổ ra Sông Đà”. Rồi con sông hiện ra, nhưng chỉ một chút thôi, loang loáng như nghịch ngợm, đúng là cảm giác về cái nhìn con sông thấp thoáng, xa xa của con người còn phải bộ hành trong rừng cây, trên đèo dốc. Chợt kịp khi nhận ra được dòng sông – người bạn cũ thì sao mà nó sâu xa, ngơ ngẩn thế, trong cái ánh “yên hoa tam nguyệt” đọng sắc hoe hoe vàng tự thuở Đường thi. ít nhiều còn hiểu được vì sao cái vui gặp lại sông Đà cố nhân nó giống như “nối lại chiêm bao đứt quãng”. Nhưng thật khổng biết tại làm sao tác giả lại cảm giác được “nắng giòn tan… ”? Chỉ biết khi ba chữ ấy đã viết ra rồi thì rõ là không thể nào đúng hơn, hay hơn, không thể nào đổi khác. Và cứ thế, cái “đằm đằm âm ấm” của nắng mùa xuân trên dòng sông xuân lâu ngày gặp lại nó dư sức làm thấm thía thêm niềm hạnh phúc được sống trên mặt đất này.

Nhưng kì diệu hơn nữa, theo tôi, là đoạn văn bắt đầu từ câu viết: “thuyền tôi trôi trên Sông Đà”. Câu văn viết toàn thanh bằng, đẹp như một lời thơ. Mà đoạn văn xuôi ấy, sao tôi thấy nó thơ hơn nhiều lắm so với bao nhiêu bài thơ tôi đã đọc. Chắc phải có người thơ nào thèm muốn tạo được sự lặng lẽ đầy mơ mộng của một mũi đò lừ lừ trôi giữa đôi bờ hoang dại, cái lặng lẽ tuyệt đối để ru hồn người vào cái ảo giác về bờ sổng tiền sử, vể một nỗi niềm cổ tích hay hoài niệm về thời Lí thời Lê… Và là cái lặng lẽ mơ màng đến độ con người chờ mong một sự giật mình để rũ mình ra khỏi giấc mơ xưa mà không được. Mùa xuân dòng Đà giang được nhà văn cho e ấp tỏ mình qua mấy lá non nhú lên trên một nương ngô và những nõn búp cỏ gianh đồi núi. Rồi con hươu, mới tuyệt làm sao hình ảnh “con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương”. Nhẩm lại lúc viết Sông Đà, Nguyễn Tuân đã đến bờ tuổi ngũ tuần, và kể thì hồn văn ấy đã già từ Vang bóng một thời, từ Một chuyến đi. Nghĩ thế lại càng thấy quý cái bờ ngỡ non tơ đến tuổi năm mươi lại nảy lộc trong nhà văn bên một dòng sông, một cuộc đời mới mẻ.

Và cảm xúc đáng quý ấy cứ du dương mãi trong tôi vói những âm thanh văn xuôi rất đáng gọi là “nên câu tuyệt diệu”: “Hỡi ông khách Sông Đà có phải ông cũng vừa nghe thấy một tiếng còi sương?”. “Đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi… Dòng sông quãng này lững lờ như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc”… Tôi cảm thấy chiếc bè thơ kết bằng những câu văn xuôi ấy đem lại cho mình một thứ nhã thú văn chương mà phải nói rằng cũng còn hiếm gặp ở trong đời.

Kết bài

Nhưng tác giả Người lái đò Sông Đà cũng không phải con người duy mĩ. Ta trọng sự tinh tế của ông trong cảm thức vể cái đẹp. Nhưng qua thiên tuỳ bút, ta hiểu ràng cái còn đáng trọng hơn nữa của ông vẫn là tình yêu thiết tha thiên nhiên đất nước, là sự tôn kính công sức Lao Động của Con Người.

Tác giả bài viết : Đỗ Kim Hồi,

Các đề mục trong bài viết  do admin Vanhay.edu.vn đặt

Xem thêm :

Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về   người lái đò sông Đà

Bài văn mẫu phân tích hình tượng con sông Đà- Nguyễn Tuân

Đề bài :

Phân tích Hình tượng Sông Đà trong “Người lái đò Sông Đà” của Nguyễn Tuân

Đề thi về Người lái đò sông Đà bao gồm : Cảm nhận hình tượng con sông Đà, phân tích nhân vật ông lái đò, Những nét chính trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân.  Nghệ thuật miêu tả con sông Đà và người lái đò. Về tác phẩm này, đề thi có thể yêu cầu phân tích/ cảm nhận đoạn trích miêu tả dòng sông hung bạo và trữ tình, đoạn văn miêu tả cảnh ông lái đò vượt thác sông Đà…

Admin giới thiệu với các bạn bài văn mẫu phân tích hình tượng sông Đà. Bài viết của thầy Nguyễn Văn Hoàn. Bài văn rất đầy đủ và phân tích sâu sắc, diễn đạt lưu loát, luận điểm rõ ràng, dẫn chứng được trích dẫn 1 cách tự nhiên. Bài văn sưu tầm trên website thầy Hoàn. Các bạn có thể tham khảo.

Bài làm

Mở bài phân tích hình tượng con sông Đà

NguyễnTuân (1910-1987) là một nhà văn lớn, một nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp. Với phong cách viết tài hoa uyên bác, Nguyễn Tuân đã có đóng góp to lớn cho nền văn học nước nhà, góp phần đưa thể loại truyện ngắn và tùy bút lên một tầm cao mới. Tiêu biểu cho sang tác của NT là tác phẩm Người lái đò Sông Đà. Thành công nhất ở tác phẩm này là bởi Nguyễn Tuân đã xây dựng thành công hình tượng con sông Đà với hai tính cách hùng vĩ hung bạo và thơ mộng trữ tình.

Thân bài

Sông Đà hùng vĩ và hung bạo

Dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân  trước hết con Sông Đà hiện lên mang một vẻ đẹp hùng vĩ và hung bạo. Sự hùng vĩ hung bạo của dòng sông Đà được thể hiện qua cả diện mạo và tâm địa.

a. Sự hùng vĩ hung bạo qua diện mạo

  • Hùng vĩ thể hiện ở những quãng sông hẹp

Với con mắt của nhà điêu khắc, Nguyễn Tuân đã có những so sánh liên tưởng đầy mới lạ và bất ngờ. “ cảnh đá bờ sông dựng vách thành, mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời”. “ Có vách đá thành chẹt lòng sông như một cái yết hầu”. Có những quãng lòng sông hẹp tới mức con nay con hổ có thể vọt từ bờ bên này sang bờ bên kia. Bằng những lời văn gây ấn tượng mạnh pha chút hóm hỉnh, những trang văn của NT đã khiến người đọc liên tưởng đến những bài ca dao khi nói về mơ ước xưa của cô gái khi yêu: “Ước gì sông…chơi”. Nhà văn tiếp tục tấn công vào giác quan của người đọc khi ông nói ngồi trên khoang đò quãng ấy đã mùa hè vẫn thấy lạnh, cảm thấy mình như đang đứng ở hẻm một con ngõ mà ngóng vọng lên cái cửa sổ nào trên cái tầng thứ mấy vừa tắt phụt ánh điện.

Bằng cách miêu tả bờ đá và vách đá Sông Đà, Nguyễn Tuân đã làm nổi bật lên khung cảnh một dòng sông heo hút đến rợn ngợp.

  • Hùng vĩ ở những ghềnh và thác

Con sông Đà có tất cả 73 con thác trải dài từ biên giới Việt – Trung về tới thác bờ thác ở đây dữ dội tạo thành những mặt ghềnh của sóng

+ Đặc tả mặt ghềnh Hát loong

Sông Đà nơi ghềnh Hát Loong “dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng muốn đòi nợ xuýt bất cứ con thuyền nào tóm được qua đây”. Những âm thanh của gió của nước và gió đã tạo thành một bản hợp xướng hùng vĩ đang đang ầm ập, đổ sập lao tới. Câu chữ của Nguyễn Tuân dường như cũng xô đuổi nhau trong cái âm hưởng cuồn cuộn gùn ghè của nước sông Đà. Đặc điểm ấy của khúc sông khiến nó giống như một kẻ lưu manh lúc nào cũng thích gây gổ, lúc nào cũng muốn đòi nợ xuýt người lái đò.

+ Đặc tả thác nước

Thác ở đây từ rất xa đã nghe thấy âm thanh hãi hùng ghê rợn của nước. Âm thanh ấy khi thì như là “oán trách gì” rồi lại như là “ van xin”, rồi lại như là khiêu khích, giọng “gằn và chế nhạo”. Một câu văn ngắn mà đủ các cung bậc âm thanh của tiếng thác vừa thể hiện vốn từ phong phú vùa thể hiện trình độ thẩm âm tinh tế của tác giả.

Không chỉ như vậy âm thanh của thác nước còn được so sánh âm thanh “ rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng”. Bằng nghệ thuật so sánh kết hợp với liên tưởng mở rộng nhà văn Nguyễn Tuân đã giúp người đọc như nghe thấu được những âm thanh đa dạng của thác nước Sông Đà từ đó khắc họa tính cách hung bạo của con sông.

Với việc sử dụng những động từ mạnh: giống nổ lửa, phá tuông, gầm thét, cháy bùng bùng khiến câu chữ như đập mạnh vào giác quan người đọc. Từ đó tính chất hung bạo của con sông như hằn lên nổi lên thành hình thành khối đang gào thét trong muôn vàn âm thanh. Cảnh vật cũng như náo động, chuyển động qua hàng loạt ngôn từ nhân hóa.

Lời văn cũng thể hiện sự liên tưởng tài hóa và lối chơi ngông trong cách nói của Nguyễn Tuân . Trong ngũ hành, thủy và hỏa vốn là hai yếu tố tương khắc với nhau, dân gian có câu “ kỵ nhau như nước với lửa”. Vậy mà ở đây Nguyễn Tuân lại dùng lửa để tả nước, lấy núi rừng để tả dòng sông từ đó làm nổi bật sự tương giao về sức mạnh của những hiện tượng tự nhiên. Tiếng thác nước như được phóng to lên hết kích cỡ giống như bản nhạc của thiên nhiên mà các nhạc khí đều bừng bừng ở đỉnh điểm của một cơn phấn khích mạnh mẽ và man dại. Những âm thanh cuồng loạn như thanh viện hỗ trợ làm cho sự giận dữ của nước sông như tăng lên gấp bội. Chúng va đập vào vách đá tạo nên một sức mạnh hoang dại ghê gớm khủng khiếp, sức mạnh hoang dại ấy của Sông Đà mang đến cho người đọc cảm giác sợ hãi như phải chứng kiến trận động đất trấn động khiến núi lửa phun trào hay một cơn đại hồng thủy với sóng thần cao ngất.

Bằng biện pháp nghệ thuật so sánh liên tưởng tài hoa độc đáo và cách dùng động từ mạnh nhà văn Nguyễn Tuân đã làm nổi bật lên chân dung của con sông Đà hung hãn quái dị và đáng sợ.

 

hung vi cua song da

Ghềnh thác Sông Đà

  • Hung bạo nhất là ở những cái hút nước chết người.

+ Ấn tượng về sự sợ hãi và chết chóc được tạo ra rất rõ ở đoạn văn nói về những cái hút nước. Về hình thù nó giống như cái giếng bê tông thả xuống để chuẩn bị làm móng câu. Về âm thanh nước ở đây thở và kêu như của cống cái bị sặc, nó kêu ặc ặc như tiếng rót dầu sôi. Với cách dùng từ tượng thanh “ ặc ặc”, nhà văn Nguyễn Tuân đã khiến người đọc như được nghe thấy âm thanh của một con thủy quay khổng lồ đang bị bóp cổ. Điều đó đã khiến chúng ta sởn gai ốc khi nghe cái âm thanh quái lạ của cái hút nước này.

Sự chết chóc hiện ra khi nhà văn so sánh “ trên mặt cái hút xoáy tít đáy cũng đang quay lừ lừ những cánh quạ đàn”, rồi tường thuật “ có những thuyền đã bị cái hút nó hút xuống, thuyền trồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi, bị dìm và đi ngầm dưới lòng sông đến mươi phút sau mới thấy tan xác ở khuỷnh sông dưới”.

Thay vì kể lại nỗi sợ hãi, Nguyễn Tuân đã bắt người đọc phải chiêm nghiệm tự mình phải trải qua nỗi sợ hãi khi nhà văn nhấn mạnh cái dữ dội ấy qua góc nhìn điện ảnh. Ông hình dung có một nhà quay phim nào đó dũng cảm dám ngồi trên chiếc thuyền thúng cùng với máy quay, để cái hút nó hút cả thuyền, cả người và máy quay xuống tít đáy thế rồi quay ngược ống kính lên thu ảnh. Cái thước phim màu quay tít ấy đã truyền cảm giác sợ hãi đặc biệt cho người đọc. Nó giống như chúng ta đang sợ hãi ghì chặt lấy mép ghế khi phải ngồi xem cái cảnh tượng hãi hùng của một thước phim 3D.

Với phong cách viết tài hoa kết hợp với vốn kiến thức uyên bác Nguyễn Tuân đã tạo ấn tượng mạnh mẽ  mạnh vào giác quan người đọc một hình ảnh dữ dội đến khủng khiếp khi miêu tả những hút nước của sông Đà.

b. Sự hùng vĩ hung bạo qua tâm địa

  •   Không chỉ dữ dội ở diện mạo, con sông Đà còn dữ dội và hung bạo cả ở sâu trong tâm địa. Người ta nói “ tri nhân tri diện bất tri tâm”, bởi thế với đặc điểm này Sông Đà đã thực sự trở thành một kẻ thù nham hiểm đối với con người

Điều đó thể hiện qua những trùng vi thạch trận dưới lòng sông. Đá Sông Đà là một đạo quân thiện chiến được tương trợ bởi những boongke chìm những pháo đài nổi. Với những thạch trận nham hiểm và dữ dội, Sông Đà đã quyết tiêu diệt hết thảy các thủy thủ và thuyền trưởng trên sông.

Những trùng vi thạch trận trên Sông Đà như những trận đồ bát quái với nhiều cửa tử mà chỉ có duy nhất một cửa sinh. Vòng đầu nó bày ra năm cửa trận trong đó có tới 4 cửa tử mà chỉ có một cửa sinh duy nhất, cái cửa sinh nằm lập lờ nơi phía tả ngạn sông. Vòng thứ hai nó lại tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền, cửa sinh chúng chuyển mãi qua phía bờ hữu ngạn. Vòng thứ ba thì cả hai bên gần tả hữu bờ sông đều là luồng chết, cửa sinh duy nhất nằm ở giữa hòn đá hậu vệ của con thác.

Mỗi hòn đá trên Sông Đà đều thiện chiến liều mạng và có nhiệm vụ riêng. Chúng chia ra làm hàng tiền vệ và hậu vệ, chúng dàn hang ngang để chặn đánh và đòi ăn chết con thuyền muốn vượt. Đá ở đây hàng ngàn năm vẫn mai phục kiên nhẫn và bền bỉ dưới lòng sông. Cứ thấy con thuyền nào đi qua là như một đám lưu manh ngỗ ngược và hung hãn, những hòn đá lại giáng tai họa cho những con thuyền trên sông. Chúng nhất tề nhổm cả dậy vồ lấy thuyền. Nhà văn Nguyễn Tuân cũng như muốn khắc sâu cho người đọc ấn tượng về những hòn đá sông Đà nên ông đã không chỉ thổi hồn mà còn tạo ra diện mạo cho từng viên đá. Là đá mà mặt thằng nào cũng nhăm nhúm, méo mó, ngỗ ngược. Với nghệ thuật nhân hóa, Nguyễn Tuân đã làm sống dậy một cách dữ dội hình thù của những viên đá vô tri: “ một hòn trông nghiêng thì y như đang hất hàm hỏi con thuyền phải xưng tên tuổi trước khi giao chiến. Một hòn khác lùi lại một chút và thách thức cái thuyền có giỏi thì tiến gần vào.”

Sự kết hợp giữa những trùng vi thạch trận với sóng nước Sông Đà đã tạo nên chân dung loài thủy quái khổng lồ hung hãn bạo ngược và vô cùng nham hiểm xảo quyệt. Nó như một hung thần với một sức mạnh hủy diệt ghê gớm. Trong cuộc chiến với người lái đò, Sông Đà đã giở ra đủ mọi mánh khóe mưu ma để đánh lừa con thuyền vào thế trận đã bày sẵn hướng người lái đò vào những cửa tử.

Chỗ ngoặt sông thì nó đánh phục kích, giữa lòng sông thì lại tỏ ra sơ hở để dụ con thuyền theo vào để rồi bất ngờ đánh khuýp vu hồi, khi giáp lá cà thì nó giở mọi ngón đòn hiểm ác như đánh đòn âm, đòn tỉa, đá trái, thúc gối vào bụng vào hông, tóm thắt lưng, bóp chặt bộ hạ… vừa đánh vừa hò la vang trời để áp đảo tinh thần đối phương.

Dưới con mắt nhìn của Nguyễn Tuân hầu như tất cả những gì thuộc về sông Đà đều dữ dội. Gió thì gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng muốn đòi nợ xuýt bất cứ con đò nào tóm được trên sông. Cát Sông Đà thì đục thủng gan bàn chân lỗ rỗ như những vết hà, đục thủng đáy và mạn dưới con thuyền.

Với lời văn góc cạnh câu văn giàu tính tạo hình lại kết hợp với các động từ mạnh, lối ví von ẩn dụ tượng trưng tác giả đã có những liên tưởng bất ngờ thú vị về sự khôn ngoan mưu trí hiểm ác của con Sông Đà. Nó thực sự là một kẻ thù số một trong cuộc đấu trí, đấu lực với con người.

Qua phân tích trên chúng ta thấy Sông Đà vừa mang vẻ đẹp hùng vĩ dữ dội vừa hung bạo và nó thực sự đã trở thành một loài thủy quái nham hiểm và độc ác, nó đúng là kẻ thù  số một của con người.

Sông Đà thơ mộng trữ tình

Bên cạnh vẻ hùng vĩ hung bạo dòng Sông đà còn mang một vẻ đẹp thơ mộng trữ tình. Điều này được tác giả khắc họa thong qua dáng vẻ và tâm hồn của dòng sông.

Sông Đà mang một dáng vẻ rất mực nên thơ và gợi cảm.

  •    Dưới con mắt của Nguyễn Tuân dòng Sông Đà giống như một cô gái trẻ trong dáng vẻ diễm lệ yêu kiều.

Khi nhìn từ trên cao nhà văn Nguyễn Tuân cảm nhận “ Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”.Nhà văn Nguyễn Tuân đã có cách dùng từ thật độc đáo:Từ “áng” vốn là từ thường được đi liền với tác phẩm văn học lớn nhưng ở đây nhà văn lại dùng từ “áng” để miêu tả dòng Sông Đà . Bằng cách này Nguyễn Tuân đã khiến người đọc cảm nhận dòng Sông Đà giống như một tác phẩm nghệ thuật tuyệt mỹ mà thiên nhiên ban tặng cho con người. Hơn nữa tác giả lại có cách kết hợp từ vô cùng thú vị. Từ “ áng” lại đi liền với “tóc” và “tóc’’ đi liền với “trữ tình”, cách kết hợp này cho ta thấy dòng Sông Đà đẹp như một cô gái Tây Bắc với mái tóc dài duyên dáng đang thả dài trong sương khói. Cách viết của tác giả còn gợi lên một dòng sông vừa mang dáng vẻ yểu điệu trong những sắc màu, vừa mang cái huyền ảo mềm mại trong khói sương của những dòng sông từng xuất hiện trong ca dao:

Dòng sông như dải lụa đào.

Sông Đà còn rất đẹp với sắc màu của nước thay đổi theo mùa. “Mùa xuân dòng sanh ngọc bích”. Màu ngọc bích là màu vừa có sắc vừa có ánh sáng, thứ ánh sang mát dịu mà quyến rũ toát ra từ bên trong. Mùa thu “ nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa”. Chính sự thay đổi màu nước ấy đã khiến dòng sông luôn luôn mới mẻ. Trên sông còn có những con thuyền đuôi én lướt trên sông, có những con cá dầm xanh, cá anh vũ “bụng trắng như bạc rơi thoi” quấy vọt lên mặt nước.

Tất cả đem đến cho Sông Đà một vẻ đẹp vừa hiện thực vừa huyền ảo lại rất duyên dáng dịu dàng giàu chất thơ.

  • Vẻ đẹp của Sông Đà còn được thể hiện qua tâm hồn.

– Qua nhiều lần đi thực tế Sông Đà, nhà văn Nguyễn Tuân đã cảm nhận dòng sông như một cố nhân. Cảnh sông nước êm đềm đã khơi gợi ở lòng người bao ý tình lãng mạn. Nhà thơ Tản Đà đã từng lấy tên núi tên sông làm bút danh thì cảm nhận: “ Dải sông Đà bọt nước lênh đênh/ Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình.” Còn Nguyễn Tuân, ông thấy dòng sông như một người tình nhân chưa quen biết. Rồi có lúc Nguyễn Tuân lại thấy Sông như một Cố nhân. Hai chữ cố nhân thật khiến người ta bùi ngùi bao cảm xúc. Đó là người bạn tâm giao, một người bạn khi gần thì dạt dào cảm xúc mà khi xa thì muôn vàn nhung nhớ.

Giọng văn của tác giả ở đây bỗng trở nên tươi tắn lạ thường khi nói đến Sông Đà: “ bờ Sông Đà, bãi Sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên Sông Đà. Chao ôi! Trông con sông vui như thấy nắng giòn tan sau kỳ mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng. Đi rừng dài ngày rồi lại bắt ra Sông Đà, đúng thế, nó đằm đằm âm ấm như gặp lại cố nhân”. Có thể nói nhà văn đã lồng cảnh vào cảnh, tình vào tình để thú nhận với chính mình về nỗi đắm say, phải lòng trước vẻ đẹp duyên dáng tuyệt mỹ của sóng nước Đà giang và mây trời Tây Bắc, để cảm xúc thăng hoa, để thi ca lai láng, để dòng Sông Đà hiện lên với cảnh sắc đắm say lòng người.

  • Dòng sông đượm sắc màu cổ tích.

Sắc màu cổ tích được thể hiện trong một đoạn văn vừa đặc sắc vùa giàu chất thơ. “ Thuyền tôi trôi trên Sông Đà…” Câu văn mở đầu toàn thanh bằng, nhẹ nhàng và êm ái. Như thể nó chứa đựng bên trong lời tự tình của con sông, tạo tâm thế của một cuộc du ngoạn, gợi hình ảnh con đò lặng lẽ trôi. Nó đưa người đọc vào thế giới cổ tích, vào không gian yên ắng lặng lờ thời tiền sử xa xưa.

Ghềnh thác đã lùi xa, dòng sông bỗng dịu dàng mê đắm, cảnh ven sông trở nên lặng lờ thơ mộng. “ Hình như từ đời Lý, Trần, đời Lê quãng sông này cũng chỉ lặng lờ đến thế mà thôi”.

Cái độc đáo của nhà văn khi miêu tả bờ sông là ở chỗ, người ta thường lấy cái cụ thể để so sánh làm rõ cái trừu tượng hoặc ít cụ thể hơn. Nhưng ở đây Nguyễn Tuân lại là ngược lại ông đã lấy cái trừu tượng để so sánh làm mờ cái cụ thể: “bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”. Điều này khiến người đọc như chìm sâu hơn vào ảo giác, như trở về thời ấu thơ với câu những chuyện “ngày xửa ngày xưa” của bà của mẹ. Ta hiểu vì sao ở đây tác giả lại thèm nghe một tiếng còi sương. Phải chăng nhà văn Nguyễn Tuân đang thèm muốn một âm thanh để thoát khỏi cái “lặng tờ” của cảnh vật? Chính điều này đã khiến cả cảng vật và con người đều như đang chìm vào không gian đượm màu cổ tích.

=> Qua phân tích trên quả thật chúng ta thấy dòng sông Đà không chỉ mang vẻ đẹp hùng vĩ dữ dội mà còn có một vẻ đẹp thơ mộng trữ tình. Với những câu văn tả sông Đà nới đồng bằng nhà thơ như muốn đề thơ vào sóng nước Đà giang.

Kết bài người lái đò sông Đà:

Với Nguyễn Tuân,  sông Đà mang một vẻ đẹp hoàn mĩ , trở thành một sinh thể sống động, có hồn.Dòng sông vừa hùng vĩ dữ dội, vừa thơ mộng trữ tình. Phải là một con người yêu mến tự hào trước vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước , nhà văn mới có thể miêu tả được Sông Đà như thế. Có thể nói , qua lời văn ca ngợi sông nước Đà giang, ta thấy được  sự gắn bó của Nguyễn Tuân đối với quê hương đất nước.Tác phẩm Người lái đò sông Đà  tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân . Tác  giả  quan niệm cái đẹp phải là cái gây cảm giác mạnh, đập mạnh vào cảm giác người đọc. Cho nên đẹp thì phải đến mức tuyệt mỹ, dữ dội phải đến mức khủng khiếp. Sông Đà đúng là thứ Vàng mười của thiên nhiên Tây Bắc mà nhà văn luôn khao khát kiếm tìm và thể hiện trong các sáng tác của mình.

Thầy Hoàn

Các bạn có thể xem thêm tuyển tập những đề thi và bài văn hay về Người lái đò sông Đà tại đây : Người lái đò sông Đà

Phân tích vẻ đẹp hình tượng ông lái đò trong đoạn trích vượt thác sông Đà

Đề thi về Người lái đò sông Đà :  Phân tích hình tượng ông lái đò, hình tượng con sông Đà hung bạo và trữ tình, Phân tích cảnh vượt thác sông Đà, Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân. Tất cả đều có trên website Văn hay

Đề bài :

“…Sóng thác đã đánh đến miếng đòn hiểm độc nhất, cả cái luồng nước vô sở bất chí ấy bóp chặt bộ hạ người lái đò […]. Mặt sông trong tích tắc sáng lòa lên như một cửa bể đom đóm rừng ùa xuống mà châm lửa vào đầu sóng. Nhưng ông đò cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái, mặt méo bệch đi như cái luồng sóng đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vào chỗ hiểm. Tăng thêm mãi lên tiếng hỗn chiến của nước của đá thác. Nhưng trên cái thuyền sáu bơi chèo, vẫn nghe rõ tiếng chỉ huy ngắn gọn tỉnh táo của người cầm lái. Vậy là phá xong cái trùng vi thạch trận vòng thứ nhất. Không một phút nghỉ tay nghỉ mắt, phải phá luôn vòng vây thứ hai và đổi luôn chiến thuật. Ông lái đã nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá. Ông đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này. Vòng đầu vừa rồi, nó mở ra năm cửa trận, có bốn của tử một cửa sinh, của sinh nằm lập lờ phía tả ngạn sông. Vòng thứ hai này tăng thêm nhiều của tử để đánh lừa con thuyền vào, và cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn. Cưỡi lên thác Sông Đà, phải cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ. Dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá. Nắm chặt lấy được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường chéo về phía cửa đá ấy.  Bốn năm bọn thủy quân của ải nước bên bờ trái liền xô ra định níu thuyền lôi vào tập đoàn cửa tử. Ông đò vẫn nhớ mặt bọn này, đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến. Những luồng tử đã bỏ hết lại sau thuyền. Chỉ còn vẳng reo tiếng hò của sóng thác luồng sinh. Chúng vẫn không ngớt khiêu khích, mặc dầu cái thằng đá tướng đứng chiến ở cửa và đã tiu nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng thua cái thuyền đã đánh trúng vào của sinh nó trấn lấy. Còn một trùng vây thứ ba nữa. Ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là luồng chết cả. Cái luồng sống ở chặng ba này lại ở ngay giữa bọn đá hậu về của con thác. Cứ phóng thuyền, chọc thủng cửa giữa đó. Thuyền vút qua cổng đá cánh mở cánh khép. Vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được lượn được….

(Trích “Người lái đò sông Đà” của tác giả Nguyễn Tuân – Ngữ văn 12, Tập một, NXB giáo dục Việt Nam, 2015).

Cảm nhận của anh/ chị về vẻ đẹp hình tượng ông lái đò trong đoạn trích trên. Từ đó bình luận ngắn gọn về suy nghĩ, tình cảm của nhà văn Nguyễn Tuân đối với người lao động Việt Nam trong tùy bút “Người lái đò sông Đà”.

Đáp án

Yêu cầu về hình thức.
– Viết theo đúng yêu cầu của một bài văn nghị luận
– Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu…
Yêu cầu về nội dung.
1.Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm.
– Nguyễn Tuân là cây đại thụ của nền văn xuôi hiện đại Việt Nam, là một nhà văn có phong cách nghệ thuật độc đáo: thích viết về cái phi thường, xuất chúng và luôn tìm tòi khám phá cái đẹp.
– Tùy bút Người lái đò sông Đà là tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Tuân sau Cách mạng tháng tám. Ở tác phẩm này Nguyễn Tuân đi tìm cái đẹp của thiên nhiên và con người lao động Tây Bắc.
– Người lái đò sông Đà chính là biểu tượng cho vẻ đẹp trí, dũng, tài hoa của người lao động trên vùng sông nước dữ dội. thơ mộng ấy.
– Vẻ đẹp của hình tượng ông đò được thể hiện qua qua đoạn trích tiêu biểu đó là đoạn trích miêu tả về cuộc chiến đấu của ông đò với cái thác đá sông Đà.
2.Cảm nhận về vẻ đẹp của ông đò ở nhiều khía cạnh khác nhau.
– Vẻ đẹp trí tuệ, bản lĩnh và tài hoa của ông đò.
+ Vẻ đẹp trí tuệ: thể hiện ở trí nhớ tuyệt vời của ông đò. Cuộc sống của ông đò phải đối diện với những cạm bẫy kinh hoàng của sông Đà, đó là một cuộc đấu tranh với thiên nhiên để bảo tồn sự sống. Để chinh phục dòng sông hung bạo ông đò nhớ mặt vị trí từng hòn đá, từng luồng nước…Nguyễn Tuân đã miêu tỉ mỉ các ngọn thác, thời gian ông lái đò làm nghề để bày tỏ nỗi thán phục của mình về một con người như được sinh ra từ những con sóng, ngọn thác hung dữ ở Sông Đà.
+ Bản lĩnh, mưu trí và sự quyết đoán: Nhà văn đã đưa ông đò vào hoàn cảnh đầy thử thách mà tiêu biểu là cái thác đá để nhân vật bộc lộ phẩm chất của mình. Sông Đà bày thạch trận trên sông ông đò là một viên tướng dũng cảm tả xung hữu đột tỉnh táo nhanh nhẹn, quyết đoán chỉ huy và điều khiển con thuyền qua nhiều vòng, nhiều cửa rất hiệu quả
+ Vẻ đẹp tài hoa: Quan niệm về chất tài hoa của nguyễn Tuân được mở rộng, tài hoa không chỉ ở lĩnh vực nghệ thuật mà có trong cuộc sống lao động bình dị. Nguyễn Tuân đã dụng công xây dựng ông đò là một người nghệ sĩ có tay lái tài hoa. Chất tài hoa của ông đò được thể hiện qua sự khéo léo khi điều khiển con thuyền vượt qua mọi cạm bẫy của sông Đà.
– Nghệ thuật xây dựng nhân vật: tô đậm nét tài hoa nghệ sĩ, tạo tình huống đầy thử thách để nhân vật bộc lộ phẩm chất, sử dụng ngôn ngữ miêu tả đầy cá tính, giàu chất tạo hình.
– Bình luận về suy nghĩ, tình cảm của nhà văn Nguyễn Tuân đối với người lao động Việt Nam.
+ Qua hình tượng ông đò, Nguyễn Tuân ngợi ca và khẳng định sức mạnh, sự vĩ đại của con người đồng thời ông cũng đưa ra triết lý sống: giữa cái thế giới độc dữ và nham hiểm, cái thế giới đầy sức mạnh man dại và lập lờ cạm bẫy, con người ta vẫn đủ trí tuệ để vươn lên tìm thấy sự sống. Cũng qua cảnh tượng vượt thác của ông đò, Nguyễn Tuân muốn nói với chúng ta 1 điều giản dị nhưng sâu sắc: Chủ nghĩa anh hùng đâu chỉ có ở nơi chiến trường mà có ngay trong cuộc sống hàng ngày mà chúng ta phải vật lộn với miếng cơm manh áo. Tài hoa đâu chỉ có ở lĩnh vực nghệ thuật mà có ngay trong cuộc sống lao động đời thường. Phẩm chất anh hùng, và chất nghệ sĩ thể hiện trong việc họ phải đương đầu với thử thách.
+ Nhà văn thể hiện tình cảm yêu mến, trân trọng, tự hào, ngợi ca sự vĩ đại của gười lao động Tây Bắc và người lao động Việt nam nói chung. Ca ngợi lao động vinh quang đã đưa con người tới thắng lợi trước sức mạnh hoang dại của thiên nhiên.

Kết thúc vấn đề.
Thiên tùy bút “Người lái đò sông Đà” là khúc hùng ca ca ngợi ý chí của con người. Sức mạnh ý chí và tài hoa chính là những yếu tố làm nên chất vàng mười của người dân Tây Bắc và cũng là của người lao động nói chung. Qua hình tượng người lái đò sông Đà và qua thiên tùy bút này ta thấy được những nét độc đáo trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân.

Đề sưu tầm.

Xem thêm : Những đề thi và bài văn hay về Người lái đò sông Đà

Vẻ đẹp trữ tình của sông Đà và sông Hương Ngữ văn 12

Phân tích vẻ đẹp trữ tình của sông Đà và sông Hương qua hai tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân, Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Giới thiệu về hai tác giả,hai tác phẩm:

– Nguyễn Tuân(1910- 1987) là người có ý thức cao về cái tôi cá nhân tài hoa, uyên bác. Ông tìm đến với thể tùy bút như một điều tất yếu. Tùy bút Người lái đò sông Đà là kết quả của chuyến đi thực tế Tây Bắc, tác phẩm được in trong tùy bút Sông Đà.

– Hoàng Phủ Ngọc Tường(1937), là nhà văn có sở trường về thể bút ký, tùy bút, với một phong cách nghệ thuật độc đáo. Ai đã đặt tên cho dòng sông được viết vào tháng 1-1981 tại Huế. Bài ký đã thể hiện một lối hành văn phóng túng, tài hoa của nhà văn.

Phân tích vẻ đẹp trữ tình của sông Đà và sông Hương

* Vẻ đẹp trữ tình của sông Đà

– Được gợi ra từ lời đề từ: “Đẹp vậy thay tiếng hát trên dòng sông

– Nhìn từ trên cao xuống: Sông Đà mềm mại thướt tha với vẻ đẹp xuân sắc: “tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”.

– Sự biến ảo của sắc nước sông Đà qua các mùa: mùa xuân dòng xanh ngọc bích, mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da người bầm đi vì rượi bữa.

– Qua kỷ niệm, sông Đà như một cố nhân. Xa lâu thì nhớ, gặp lại thì cuống quýt mừng vui: “Bờ sông Đà, bãi sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên sông Đà…”

– Cảnh hai bên bờ sông: vẻ đẹp lặng tờ hoang dại, trong trẻo nguyên sơ: “thuyền tôi trôi trên sông Đà. Cảnh ven sông ở đây lặng tờ …”

-> Nhận xét: Miêu tả sông Đà trữ tình, ngòi bút của Nguyễn Tuân biến hóa liên tục với những hình ảnh nhân hóa, so sánh, những liên tưởng độc đáo thú vị. Câu văn của Nguyễn Tuân co duỗi nhịp nhàng, chuyển đến người đọc những cảm giác của cảm xúc. Không phân biệt đâu là ngoại giới, đâu là tâm giới, tiếng lòng của thiên nhiên hòa với tấm lòng yêu thương của người nghệ sĩ. Cùng với sông Đà trữ tình ta bắt gặp một Nguyễn Tuân tình nhân, thi nhân.

* Vẻ đẹp trữ tình của sông Hương:

– Là dòng sông chảy giữa lòng thành phố Huế, tạo nên vẻ đẹp riêng cho xứ Huế.

– Trong rừng thượng nguồn:Sông Hương sống một nửa cuộc đời mình như một cô gái digan man dại và phóng khoáng, tự do mà phóng túng. Nhưng rừng già đã chế ngự sức mạnh bản năng của sông Hương tạo cho nó một vẻ đẹp dịu dàng và trí tuệ.

-> Tác giả đã nhấn mạnh đến hai đặc điểm quan trọng của sông Hương: một con sông tạo nên bản sắc văn hóa của Châu Hóa; một thiếu nữ đẹp sống hết mình say đắm trong tình yêu.

– Trên đường đến Huế: Sông Hương chuyển dòng liên tục đột ngột như một cuộc tìm kiếm có ý thức. Tác giả lần theo dòng chảy của sông Hương như một nhà địa lý, như một chàng trai khám phá tính cách của người đẹp (sắc nước xanh thẳm, dòng sông mềm như tấm lụa, màu sắc nhạy cảm với ánh sáng, vẻ kiêu hãnh âm u…)

-> Sông Hương như một người con gái đẹp làm duyên: vốn đã có vẻ đẹp dịu dàng, trí tuệ nay lại càng quyến rũ hơn với vẻ đẹp lịch lãm, kiêu sa và trầm mặc.

– Trong lòng Huế: sông Hương chảy thực chậm. Đó là điệu slow tình cảm mà sông Hương dành riêng cho Huế.

-> Sông Hương đẹp một cách hạnh phúc. Nó đã bị Huế chinh phục, ngả trọn vào vòng tay của Huế. Tình yêu với Huế tạo nên bản sắc văn hóa của dòng sông.

– Khi rời xa Huế: như sực nhớ điều gì chưa kịp nói, dòng sông đột ngột đổi dòng rẽ ngoặt sang hướng đông tây gặp lại Huế ở thị trấn Bao Vinh.

->Dòng sông mang vẻ đẹp của người con gái lưu luyến với tình nhân. Hành động đột ngột quay trở lại gặp Huế là một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu.

=> Nhận xét: Sông Hương được miêu tả sát với bản đồ địa hình. Nó tạo nên không gian văn hóa đôi bờ với vẻ đẹp quyến rũ. Từ thực tế ấy nhà văn ví sông Hương như một thiếu nữ đẹp cùng với Huế làm nên một tình yêu nồng thắm, say mê. Ngôn ngữ giàu hình ảnh, mượt mà, nhiều liên tưởng độc đáo tạo nên một dòng sông quyến rũ, đắm say lòng người.

* Đánh giá

 Người lái đò sông ĐàAi đã đặt tên cho dòng sông là những trang hoa , tờ hoa thể hiện tình yêu quê hương đất nước, tinh thần dân tộc của Nguyễn Tuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường.

– Điểm gặp gỡ trong phong cách viết của hai tác giả;

+ Một cái tôi uyên bác với những hiểu biết sâu sắc về sông Đà, sông Hương xứ Huế.

+ Vốn hiểu biết về lịch sử, địa lý, thi ca, âm nhạc… soi chiếu đối tượng ở nhiều góc độ khác nhau tạo nên những liên tưởng độc đáo.

+ Một cái tôi tài hoa tinh tế với trí tưởng tượng phong phú kỳ diệu.

+ Ngôn từ phong phú, gợi cảm đem đến cho người đọc cảm giác câu văn như những câu thơ trữ tình.

Xem thêm : Người lái đò sông Đà, Ai đã đặt tên cho dòng sông

SKKN: Một số phương pháp về việc giảng dạy tác phẩm kí hiện đại Việt Nam

Sáng kiến kinh nghiệm môn văn

Đề tài: Một số phương pháp về việc giảng dạy tác phẩm kí hiện đại Việt Nam (chương trình Ngữ văn 12, ban cơ bản)

A; Lý do chọn đề tài

B; Thực trạng trước khi chọn đề tài

I; Thuận lợi

II; Khó khăn

C; Nội dung đề tài

I; Cơ sở lý luận

II; Nội dung và phương pháp thực hiện

1; Nội dung

1.1; Khái quát về thể kí

1.2; Những đặc điểm cơ bản của kí Hoàng Phủ Ngọc Tường

1.3; Những đặc điểm cơ bản của tùy bút (kí) Nguyễn Tuân

2; Một số phương pháp về việc giảng dạy tác phẩm kí hiện đại Việt Nam (Chương trình Ngữ văn 12, ban cơ bản)

2.1; Về phương pháp

2.1.1; Dạy học tác phẩm theo đặc trưng thể loại

2.1.2; Rèn luyện phương pháp đọc – hiểu cho học sinh

2.1.3; Sử dụng phương pháp bản đồ tư duy

2.2; Giáo án tiết dạy thực nghiệm

D; Hiệu quả do sáng kiến đem lại

E; Kết luận

G; Cam kết không sao chép và vi phạm bản quyền

Tư liệu tham khảo 

A; LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

– Để đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới, ngành giáo dục đã có những bước tiến khả quan trong cải cách giáo dục, đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy ở các cấp phù hợp với mục tiêu giáo dục, đào tạo. Thông qua các hội nghị chuyên đề môn Ngữ văn được Sở giáo dục , nhà trường tổ chức hàng năm, chúng tôi đã trao đổi, rút kinh nghiệm về đổi mới phương pháp dạy học. Nghị quyết hội nghị trung ương 8 khóa XI nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại, phát huy tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học, khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực, chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học”.

Một trong những bài học khó của chương trình Ngữ văn ở trường phổ thông là: Các văn bản học như thơ ca, truyện ngắn, kịch và kí, trong khuôn khổ hạn hẹp, sách giáo khoa không thể trích toàn bộ văn bản văn học mà có chỗ đã lược bỏ (hoặc mỗi tác giả chỉ học một tác phẩm), phần chú thích nhiều khi không đầy đủ, điều đó gây khó khăn cho học sinh khi tiếp cận văn bản văn học ấy (hoặc phong cách sáng tác của tác giả ấy), nhất là đối với thể loại kí nói chung, kí hiện đại nói riêng. Trong bài viết này, tôi xin nêu ra một số ý kiến cùng trao đổi với đồng nghiệp về “Một số phương pháp dạy tác phẩm ký hiện đại Việt Nam” trong chương trình Ngữ văn 12 (ban cơ bản)

B; THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI CHỌN ĐỀ TÀI

I; Thuận lợi

– Trong sách giáo khoa ngữ văn 12 (ban cơ bản), có 2 tác phẩm chính khóa thuộc thể loại ký, đó là: “Người lái đò Sông Đà” của tác giả Nguyễn Tuân, “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường. Thông thường ta vẫn gọi “Người lái đò Sông Đà” của tác giả Nguyễn Tuân là tùy bút, “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường là bút kí. Do vậy thể loại kí dùng để chỉ chung cho cả tùy bút và bút kí. Đây là 2 tác phẩm hay trong chương trình, hơn nữa thể loại này các em học sinh đã được học ở lớp 11 “Thượng kinh kí sự” của Lê Hữu Trác, đọc thêm “Vũ trung tùy bút” của Phạm Đình Hổ. Vì vậy khi tiếp cận với 2 tác phẩm thuộc thể loại này, các em học sinh gặp nhiều thuận lợi trong việc đọc hiểu tác phẩm hơn.

II; Khó khăn

– Thực trạng cho thấy nhu cầu xã hội hiện nay, trào lưu học sinh dự thi vào các trường đại học thường chọn các môn tự nhiên như Toán, Lý, Hóa, Sinh (như học sinh các lớp 12A1,2,3,4 của trường THPT Trực Ninh) nên với môn Ngữ văn, các em không chú ý đầu tư học tập, không có hứng thú học tập. Vì lý do đó thầy cô cũng mất đi niềm say mê truyền đạt kiến thức cho học sinh. Trong các tác phẩm là truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ thì việc truyền đạt tương đối thoải mái và các thầy cô cũng có những cảm hứng để truyền đạt, bởi vì những thể loại này “chất văn” “chất thơ” phong phú, đã làm cho thầy cô ít nhiều làm tốt được công việc của mình. Nhưng riêng đối với tác phẩm văn học viết theo thể loại kí thì ngược lại. Vì lẽ việc giảng dạy ký đòi hỏi người dạy phải bám chắc đặc điểm cơ bản của thể loại kí, đó là tính xác thực. Tác phẩm kí thường không hư cấu mà tác giả chỉ lựa chọn ngay những sự việc, những con người vốn đã có giá trị nổi bật trong cuộc sống để phóng bút. Nếu thầy cô chỉ thỏa mãn với kiến thức có sẵn trong bài văn thì khó mà giảng hay được, dẫn đến giờ học bài kí muôn thuở vẫn khô khan, học sinh khó tiếp nhận được văn bản. Vì thế, chúng ta có thể nói rằng: Giảng dạy một tác phẩm kí là sự khó khăn, vất vả, công phu đối với giáo viên.

– Cả 2 tác phẩm “Người lái đò Sông Đà” và “Ai đã đặt tên cho dòng sông” là 2 tác phẩm kí dài, sách giáo khoa đã lược bớt nội dung ở một số đoạn văn, điều đó lại gây khó cho học sinh khi tiếp cận văn bản. Thời lượng số tiết dạy chính khóa cho 2 tác phẩm này ít (4 tiết), một số học sinh chưa quen phương pháp học mới, nhất là việc tự học, làm việc theo nhóm, thảo luận, thuyết trình, tìm tư liệu ở các nguồn, báo chí, intơnet…, một số học sinh còn thụ động, thiếu nhiệt tình, ỷ lại vào các thầy cô…

– Từ thuận lợi và khó khăn trên, tôi mạnh dạn đưa ra một vài phương pháp về việc dạy tác phẩm kí hiện đại Việt Nam trong chương trình Ngữ văn lớp 12, ban cơ bản, mà cụ thể là 2 tác phẩm “Người lái đò Sông Đà” của tác giả Nguyễn Tuân, “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường.

C; NỘI DUNG ĐỀ TÀI

I; Cơ sở lý luận

Nghị quyết số 40/2000/QH 10, ngày 09 tháng 12 năm 2000 của Quốc hội khóa X đổi mới về chương trình giáo dục phổ thông đã khẳng định, mục tiêu của chương trình đổi mới giáo dục phổ thông lần này là “xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ thông mới, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình độ phổ thông các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới” . Văn bản đồng thời yêu cầu “đổi mới chương trình giáo dục phổ thông phải quán triệt mục tiêu, yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục của các bậc học, cấp học quy định trong luật giáo dục, nhằm khắc phục những hạn chế của chương trình, sách giáo khoa; tăng cường thực tiễn, kỹ năng thực hành, năng lực tự học, coi trọng kiến thức xã hội nhân văn; bổ sung những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại, phù hợp với khả năng tiếp thu của học sinh. Bảo đảm sự thống nhất kế thừa và phát triển của chương trình giáo dục”. Xét thấy việc đổi mới nội dung, chương trình sách giáo khoa, phương pháp dạy và học, phải thực hiện đông bộ với việc nâng cấp, đổi mới trang thiết bị dạy học, đánh giá, thi cấp, đổi mới trang thiết bị dạy học, đánh giá thi cử. Đứng trước yêu cầu trên, là một giáo viên môn Ngữ văn, tôi có những suy nghĩ là làm sao để giờ học phải  thực sự hấp dẫn, học sinh nắm vững bài học, thỏa mãn nhu cầu tình cảm, tâm hồn, phát triển trí tuệ học sinh, biết cảm thụ được cái hay, cái đẹp, giá trị của mỗi tác phẩm văn học. Trên cơ sở đó, tôi xin đưa ra một số ý kiến để cùng chia sẻ, bàn bạc, trao đổi về việc dạy tác phẩm kí hiện đại Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 12 (ban cơ bản), mà cụ thể là 2 tái phẩm; đọc hiểu văn bản chính khóa: “Người lái đò Sông Đà” của nhà văn Nguyễn Tuân và “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường.

II; Nội dung và những phương pháp về việc giảng dạy kí hiện đại Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 12 (ban cơ bản)

1; Nội dung

1.1; Khái quát về thể kí

Kí là một loại văn xuôi tự sự, có nguồn gốc từ kí lịch sử, dùng để ghi chép về con người, sự vật, phong cảnh…kí bao gồm nhiều thể như: Bút kí, hồi kí, du kí, phóng sự, kí sự, nhật kí, tùy bút…

Trong văn học cổ phương Đông, thể kí vốn có mặt từ thời kỳ tiền Tần và về sau phân thành 2 nhánh: có kí của sử và kí của truyện. Trong một thời gian khá dài thì kí là tiền thân của tiểu thuyết, có khi tên gọi kí cũng dùng cho tiểu thuyết hay một câu chuyện có kịch tính như Tây du kí, Tây sương kí…

Trong nền văn học Việt Nam, kí có từ rất lâu đời, nhưng phải đến thế kỉ XVII, đặc biệt là từ thế kỷ XIX, khi đời sống các dân tộc ngày càng phát triển nâng cao, khi kỹ nghệ in ấn và báo chí phát triển, khi văn học cũng đã thâm nhập vào các lĩnh vực hoạt động tinh thần khác của xã hội và nhà văn có ý thức tham gia vào các cuộc đấu tranh xã hội, kí mới thực sự phát triển và là thể loại phức tạp nhất trong văn xuôi tự sự thời trung đại.

Kí có những đặc trưng cơ bản sau:

– Kí viết về cuộc đời thực tại, viết về người thật, việc thật, kí đòi hỏi sự trung thực, chính xác. Người viết kí thường quan tâm, tôn trọng những sự kiện xã hội lịch sử, những vấn đề nóng bỏng đang đặt ra trong đời sống. Người viết kí miêu tả thực tại tinh thần của sử học. Mẫu hình tác giả kí gần gũi với nhà sử học. Tác giả kí coi trọng việc thuật lại có ngọn ngành, có thời gian, địa điểm, hành động và không bao giờ quên miêu tả khung cảnh gợi không khí.

– Tác giả kí khéo sử dụng tài liệu đời sống kết hợp với tư tưởng, cảm thụ, nhận xét, đánh giá. Tất nhiên đan xen vào mạch tự sự con có những đoạn thể hiện suy tưởng nhận xét chân thực, tường minh của nhà văn trước sự việc. cái thú vị của kí là những ý riêng, suy nghĩ riêng của tác giả được đan cài với việc tái hiện đối tượng.  Vì vậy sức hấp dẫn của kí là khả năng tái hiện sự thật một cách sinh động của tác giả. Kí chấp nhận sự hư cấu, do đó phải dựa vào những liên tưởng, tưởng tượng bất ngờ, tài hoa của tác giả khi phản ánh sự vật, cuộc sống. Điều đó làm nên cái đẹp của tác phẩm kí.

– Nổi bật lên trong tác phẩm kí chính là chất chủ quan, chất trữ tình sâu đậm của cái tôi tác giả. Cho nên sức hấp dẫn của kí còn phụ thuộc vào sức hấp dẫn của cái tôi ấy (thường là những cái tôi phong phú, uyên bác, tài hoa, độc đáo…)

1.2; Những đặc điểm cơ bản của kí Hoàng Phủ Ngọc Tường

– Kí Hoàng Phủ Ngọc Tường bộc lộ một trí tuệ sắc sảo, uyên bác: Nhà văn hiểu tường tận những gì mà mình viết. Kí Hoàng Phủ Ngọc Tường giàu lượng thông tin, đọc tác phẩm của ông, người đọc được tiếp xúc với một kho kiến thức phong phú. Nhà văn hiểu sâu sắc về văn hóa, triết học, lịch sử, địa lý, âm nhạc, điện ảnh, văn chương nghệ thuật…

– Kí Hoàng Phủ Ngọc Tường thiên về tùy bút. Đọc những trang kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường cảm nhận về thể kí có sự thay đổi thú vị. Thể loại chuyên ghi chép các sự kiện xác thực qua ngòi bút Hoàng Phủ Ngọc Tường lại thấm đẫm chất trầm tư, trữ tình như: “Ai đã đặt tên cho dòng sông”, “Hoa trái quanh tôi”…chính là sản phẩm của một phong cách kí độc đáo, với những trang viết vừa trí tuệ, vừa nặng trĩu trầm tư.

– Kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường có chất tự do, tản mạn. Sự kiện đôi khi chỉ là cái cớ để nhà văn bộc lộ những cảm xúc, suy nghĩ chủ quan của mình. Cách tổ chức văn bản mang tính nghệ thuật cao, văn phong giàu chất thơ, hình ảnh gợi cảm. “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là một trong những bút kí mang đậm dấu ấn phong cách Hoàng Phủ Ngọc Tường.

– Xuyên suốt các tác phẩm kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường là lòng yêu quê hương đất nước, là tâm huyết với tinh hoa dân tộc. Ông luôn gắn cái đẹp, gắn nghệ thuật với những truyền thống văn hóa dân tộc. Những mẩu kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường, dù viết về vùng nào, dù viết về những năm tháng chiến tranh hay cuộc sống đương đại, đều lấp lánh niềm tự hào về những nét đẹp của quê hương đất nước. Viết về vùng đất Mũi, nhà văn truyền cho người đọc niềm vui sướng tự hào về “món quà tặng của biển cả dành cho đất nước ta” (Rừng nước mặn). Viết về Lạng Sơn bằng những con chữ lóng lánh tài hoa, nhà văn thổi vào người đọc hương thơm nhẹ nhàng quyến rũ của cây hồi “nó thân thiết và mơ hồ như một kỉ niệm” (Rừng hồi). Viết về Huế, Hoàng Phủ Ngọc Tường lại đưa người đọc về vùng đất cố đô trầm mặc, thơ mộng với những khu vườn xanh, thiên nhiên xanh, dòng sông xanh (Ai đã đặt tên cho dòng sông?).

1.3; Những đặc điểm cơ bản của tùy bút (kí) Nguyễn Tuân

– “Người lái đò Sông Đà” mang đặc điểm phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân. Nguyễn Tuân là người đã đóng dấu “cái tôi độc tấu” của ông lên thể loại tùy bút. Ông là nhà văn đem đến cho tùy bút những phẩm chất nghệ thuật mới theo cách nói vui vui của ông: Tùy bút là tùy vào bút mà viết, tùy bút của ông có những đặc điểm in đậm cá tính sáng tạo và phong cách nghệ thuật của ông. Vì vậy, khi giảng dạy tác phẩm, thầy cô giáo cần lưu ý một số đặc điểm sau về tùy bút của nhà văn:

+ Tùy bút của Nguyễn Tuân có nhiều yếu tố truyện. Nguyễn Tuân bén duyên với truyện trước, sau đó mới gặp gỡ với tùy bút. Vì vậy truyện ngắn của ông xen chất tùy bút và tùy bút lại pha chất truyện ngắn. Tùy bút của ông thường phát huy sức mạnh của trí tưởng tượng, liên tưởng, so sánh để dựng cảnh, dựng truyện, có mô tả tâm lý, khắc họa tính cách nhân vật ở một chừng mực nhất định.

+ Tùy bút của Nguyễn Tuân rất đậm chất kí. Ghi chép sự thật và thông tin thời sự, chính xác, đó là nét riêng của tùy bút Nguyễn Tuân. Cũng do quan niệm đi, sống và viết, xê dịch nên tùy bút của ông pha chút du kí, kí sự hay phóng sự điều tra. Chính nét riêng này khiến tùy bút của ông có lượng thông tin đáng tin cậy và có nhiều giá trị tư liệu.

+ Tùy bút của Nguyễn Tuân giàu tính trữ tình. Những trang tùy bút của Nguyễn Tuân giàu tính cảm xúc, lắng thấm những cảm nghĩ của ông, thông qua cái “tôi” chủ quan của ông mà phản ánh hiện thực cuộc sống.

+ Tùy bút của Nguyễn Tuân đúng nghĩa tự do về phép tắc. Tùy bút là một tác phẩm tự sự có kết cấu lỏng lẻo, nhưng không buông tuồng dễ dãi. Ở tùy bút của Nguyễn Tuân, mạch văn cứ theo dòng suy nghĩ mà tràn chảy miên man từ truyện nọ tạt sang truyện kia. Nhà văn cứ theo hứng bút, cứ nhởn nhơ theo trí nhớ bông lông, theo năng lực cảm thụ cái đẹp rất tài hoa nghệ sĩ của mình mà liên tưởng so sánh, tạo những bước nhảy vọt bất ngờ của ý tứ, của hình ảnh, nhưng không chệch ra ngoài vẻ đẹp độc đáo của nghệ thuật.

+ Tùy bút của Nguyễn Tuân có phẩm chất văn chương qua sự tìm tòi sáng tạo về cách diễn ý, tả cảnh, đặt câu, dùng từ. Văn tùy bút của Nguyễn Tuân là cả một kho tu từ đầy ắp và thú vị những ví von, ẩn dụ, hoán dụ, tượng trưng. Nhà văn tả cảnh theo sự thay đổi cảm giác rất tinh tế “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử…hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích thuở xưa” (Người lái đò Sông Đà). Câu văn tùy bút của Nguyễn Tuân có kiến trúc đa dạng, giàu nhạc tính.

+ Tùy bút của Nguyễn Tuân là sự kết tinh tài hoa và uyên bác, khi tập trung miêu tả con Sông Đà bằng sự huy động vốn liếng tri thức chuyên môn cực kỳ giàu có của nhiều ngành văn hóa nghệ thuật khác nhau (sử học, địa lí học, quân sự, tri thức về võ thuật, nghệ thuật văn chương, hội họa, điêu khắc âm nhạc, điện ảnh…). Và một khi đã miêu tả thì ông tả đến cùng sự vật hiện tượng, đúng là tả đến “Sơn cùng thủy tận”, uống rượu cả cấn “Dĩ tận vi độ”.

* Những đặc trưng cơ bản trên đây của các tác phẩm kí sẽ là điểm tựa cho thầy cô giáo trong việc giảng dạy tác phẩm kí hiện đại Việt Nam.

2; Một số phương pháp về việc giảng dạy kí hiện đại Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 12 (ban cơ bản) qua 2 tác phẩm “Người lái đò Sông Đà” của nhà văn Nguyễn Tuân và “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường.

2.1; Về phương pháp

Do đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh là những bạn đọc còn hạn chế về vốn sống, kinh nghiệm thực tế nhưng lại có khả năng rung động và có cảm xúc đặc biệt với tác phẩm văn học. Vì vậy vai trò của thầy cô giáo là phải bổ sung, bồi dưỡng vốn sống, phát triển các năng lực cảm thụ cho học sinh và hướng dẫn họ đến với tác phẩm văn học một cách đúng nhất, gần nhất. Để làm được nhiệm vụ cao quý và nặng nề này, thầy cô giáo cần có những phương pháp thích hợp, đồng thời phải biết cách sử dụng phối hợp các phương pháp phân tích tác phẩm một cách nhuần nhuyễn nhất, nhằm giúp học sinh vừa nắm bắt tri thức, vừa nắm bắt phương pháp học tập nghiên cứu.

2.1.1; Dạy học tác phẩm theo đặc trưng thể loại.

Chú ý đến đặc trưng của thể loại vừa là một yêu cầu vừa là một nguyên tắc của quá trình phân tích và giảng dạy tác phẩm văn học. Với thể loại kí, việc tìm hiểu đặc trưng thể loại lại càng có ý nghĩa quan trọng hơn. Nắm vững và bám sát vào đặc trưng của thể kí, người đọc sẽ khám phá được cái hay, cái đẹp của tác phẩm. Qua thực tế giảng dạy, tôi rút ra một số kinh nghiệm cơ bản khi dạy 2 tác phẩm “Người lái đò Sông Đà” của nhà văn Nguyễn Tuân và “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường như sau:

2.1.1.1; Cho học sinh phát hiện ra nét tương đồng và khác biệt của đối tượng được tác giả phản ánh trong 2 tác phẩm kí so với đối tượng tương tự có thật ở ngoài đời. Vì kí viết về sự thật, người thật, việc thật nên đòi hỏi phải chính xác, trung thực. Việc này là rất cần thiết.

– Sông Đà và sông Hương khi đi vào 2 tác phẩm của Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường đã trở thành đối tượng thẩm mỹ của nhà văn. Con sông Đà nếu chỉ được Nguyễn Tuân ghi chép bằng những số liệu đơn thuần như một nhà địa lý (tên khai sinh, độ dài…) thì cái phần hồn hung bạo và thơ mộng của nó sẽ không được phát hiện. Dòng sông Hương của xứ Huế thơ mộng cũng vậy. Nếu Hoàng Phủ Ngọc Tường chỉ ghi lại các khúc đoạn trong dòng chảy của nó từ thượng nguồn về với Huế không thôi thì sẽ không có gì hấp dẫn, mà cái hấp dẫn chính là ở chỗ tác giả tưởng tượng sông Hương như một con người có số phận, có tâm hồn (cô gái Digan) có hành động cụ thể dưới những điểm nhìn khám phá khác nhau. Khi thì sông Hương như một cô gái mang trong mình tình yêu tha thiết với thành phố Huế, khi lại là một người mẹ sản sinh cho xứ Huế những giá trị văn hóa truyền thống cùng âm nhạc, thi ca, khi lại là một nhận chứng của lịch sử đầy oai hùng hiển hách.

2.1.1.2; Học sinh phát hiện và đánh giá óc quan sát, trí liên tưởng, tưởng tượng năng lực sử dụng ngôn ngữ của 2 nhà văn.

Sức hấp dẫn của kí chính là ở khả năng tái hiện sự thật một cách sinh động của tác giả. Nếu chỉ đơn thuần là ghi chép thì tác phẩm kí hết sức khô khan không gây được ấn tượng với người đọc. Ở đây Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường đều rất “tài hoa”, luôn nhìn cuộc sống, sự vật, con người ở phương diện, góc độ văn hóa thẩm mỹ, nên phát hiện ra nhiều vẻ đẹp của hiện thực cuộc sống. Đồng thời cả 2 nhà văn cũng rất “uyên bác”: hiểu biết sâu rộng nhiều lĩnh vực, nhiều ngành và có thể cung cấp, đóng góp, lí giải những kiến thức đó cho người khác.

– Với tác phẩm “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân

+ Khi khám phá vẻ đẹp hung bạo của con sông, Nguyễn Tuân đã vận dụng tri thức của nhiều ngành để miêu tả tính cách của con sông mà ông gọi là “loài thủy quái khổng lồ” là “kẻ thù số một” của con người. Nhà văn đã huy động vốn kiến thức của điện ảnh, hội họa, kiến trúc, điêu khắc, thậm chí cả lĩnh vực quân sự, võ thuật, thể thao để miêu tả thác nước, hút nước và những hòn đá, tảng đá trên sông Đà mà nó đã bày sẵn những thạch trận trên sông nước để chờ “ăn chết cái thuyền nào qua đấy”.

Như vậy, nhờ vào khả năng sử dụng ngôn ngữ liên ngành và trí tưởng tượng tài hoa của tác giả, học sinh vừa hiểu được đặc điểm thực của sông Đà, vừa bị cuốn hút vào tài năng miêu tả của Nguyễn Tuân.

+ Khi khám phá vẻ thơ mộng, trữ tình của con sông, lại cần phát hiện ra sự thay đổi, di chuyển điểm nhìn và cách miêu tả. Dòng sông ấy được chiêm ngưỡng từ trên cao nhìn xuống. Hình dáng con sông Đà được ví như một “sợi dây thừng ngoằn ngoèo” và dễ thương, đáng yêu biết bao, qua phép so sánh liên tưởng độc đáo “sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình”. Đó là cái dáng mềm mại nên thơ như một người phụ nữ kiều diễm đang làm duyên trước trùng điệp thiên nhiên Tây Bắc…sông Đà không còn là kẻ thù của con người nữa mà đã là một “cố nhân, tình nhân” đầy nỗi niềm lâu ngày gặp lại. Cảm nhận sông Đà ở vẻ đẹp trữ tình, nhà văn còn quan sát nước sông Đà thay đổi theo mùa, của bờ bãi hoang sơ, của mặt nước lặng yên như tờ, hay của đàn hươu thơ ngộ ngẩng đầu ngốn búp cỏ non.

+ Với hình tượng ông lái đò: Nhân vật này không được khắc họa thành số phận như trong tác phẩm tự sự. Thực ra đó chỉ là một khoảnh khắc trên sông nước để qua đó Nguyễn Tuân tôn vinh con người lao động trong thời kỳ mới – thời kỳ miền Bắc xây dựng Chủ nghĩa xã hội. Để chứng minh tài nghệ của ông đò, tác giả đã hư cấu một cuộc vượt thác sông Đà có một không hai để thấy được “tay lái ra hoa” của một người nghệ sĩ có tâm hồn cao thượng, một phong thái ung dung tự tại, một trí thông minh lão luyện và lòng dũng cảm được tôi luyện trong lao động và chiến đấu. Viết ông lái đò cũng là cách Nguyễn Tuân tôn vinh vẻ đẹp của con người lao động bình thường, giản dị nhưng phi thường trong nghề nghiệp, đó là chất “vàng mười” mà Nguyễn Tuân suốt đời đi tìm cái đẹp đó.

– Với tác phẩm “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường Ở Hoàng Phủ Ngọc Tường, ông huy động nguồn tri thức phong phú thuộc các lĩnh vực địa lí, lịch sử, văn hóa để xây dựng một hình tượng sông Hương.

+ Vẻ đẹp thiên nhiên của sông Hương là kết quả của những tri thức địa lí và khả năng quan sát sắc sảo của người trần thuật.

  • Ở thượng nguồn: Sông Hương mang vẻ đẹp hùng vĩ “chảy rầm rộ…”, sông Hương “phóng khoáng và man dại” như một con người có “bản lĩnh gan dạ…”
  • Ra khỏi đại ngàn, sông Hương chuyển dòng, sông Hương giấu kín cuộc hành trình gian truân giữa lòng Trường Sơn, nhà văn đã sử dụng biện pháp nhân hóa để biến sông Hương từ một cô gái Digan thành “người gái đẹp nằm mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại…”
  • Ra khỏi vùng núi, sông Hương trở nên dịu dàng “uốn mình theo những đường cong thật mềm”… “dòng sông mềm như tấm lụa…” ở chặng này, sông Hương trở thành “người mẹ phù sa” mang “vẻ đẹp dịu dàng và trí tuệ”.
  • Giữa lòng thành phố Huế, dòng sông trở nên tĩnh lặng, trôi thật chậm in bóng cầu Tràng Tiền trông “nhỏ nhắn như những vành trăng non” “uốn một cánh cung rất nhẹ”. Dòng sông như “vui tươi hẳn lên” và đặc biệt chậm rãi, êm dịu mềm mại…dòng sông như “một tiếng vâng không nói ra của tình yêu”.
  • Trước khi rời khỏi thành phố thân yêu, sông Hương lưu luyến mà nhà văn đã ví sự “dùng dằng” của sông Hương như nàng Kiều “chí tình trở lại tìm Kim Trọng của nó, để nói một lời thề trước khi về biển cả”. Đây đúng là một phát hiện, một liên tưởng thú vị, độc đáo và đậm màu sắc văn chương của tác giả về dòng sông thân thương của xứ Huế.

+ Từ góc nhìn văn hóa:

Vẻ đẹp văn hóa của sông Hương là kết quả của những tri thức văn hóa về một thành phố, từng là cố đô. Sông Hương tự bản thân nó đã mang những phẩm chất văn hóa độc đáo. Nhà văn có sự liên tưởng độc đáo khi cho rằng toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế được sinh thành trên mặt nước dòng sông này. Và hơn hết dòng sông thi ca và âm nhạc ấy là nguồn cảm hứng bất tận của nghệ thuật. Sông Hương không bao giờ tự lặp lại trong cảm hứng của các nghệ sĩ.

+ Từ góc nhìn lịch sử:

Vẻ đẹp lịch sử của sông Hương là kết quả của những tri thức về lịch sử, sông Hương gắn với lịch sử anh hùng của xứ Huế, của đất nước…sông Hương gắn với dòng sông thiêng Linh Giang oai hùng một thuở, gắn với thế kỷ XVIII với người anh hùng áo vải Quang Trung, gắn với cách mạng tháng Tám hào hùng bi tráng, gắn với Mậu Thân rung chuyển cả miền Nam. Sông Hương là một minh chứng của lịch sử từ thời cổ đại, qua trung đại đến hiện đại.

* Thế đấy, sông Hương của Hoàng Phủ Ngọc Tường không đơn thuần chỉ là một dòng chảy của quê hương, nó còn là dòng sông của lịch sử, của văn hóa, của tình yêu Huế và con người nơi đây.

2.1.1.3; Học sinh phát hiện được đặc điểm của “cái tôi” tác giả trong mỗi bài kí.

Nổi bật lên trong tác phẩm kí chính là tính chủ quan, chất trữ tình sâu đậm của cái tôi tác giả. Cho nên sức hấp dẫn của kí còn phụ thuộc vào sức hấp dẫn của cái tôi ấy (thường là những cái tôi phong phú, uyên bác, tài hoa, độc đáo)

“Cái tôi” của Nguyễn Tuân trong “Người lái đò sông Đà”.

Sở dĩ Nguyễn Tuân tìm đến và thành công với thể tùy bút, bởi vì nó là thể văn phóng túng, tự do, đáp ứng được cá tính “ngông” trên trang viết của Nguyễn Tuân. Là nhà văn có phong cách nghệ thuật đặc sắc Nguyễn Tuân hấp dẫn người đọc bởi “cái tôi” độc đáo, sự tài hoa, uyên bác, giác quan sắc nhọn, tinh tế, nghệ thuật sử dụng ngôn từ điêu luyện, giàu hình ảnh, cảm xúc. Sức hấp dẫn của ngòi bút Nguyễn Tuân trong tác phẩm “Người lái đò sông Đà” là ở sự độc đáo, sự giàu có về chữ nghĩa, sự công phu trong quan sát và lựa chọn ngôn từ…

+ Đó là một cái tôi tài hoa: Luôn nhình cuộc sống, sự vật, con người ở phương diện, góc độ văn hóa thẩm mỹ nên phát hiện ra nhiều vẻ đẹp hùng vĩ và mỹ lệ của thiên nhiên, đất nước. Với đôi mắt của nhà văn suốt đời “duy mĩ”, Nguyễn Tuân đã nhìn sông Đà ở góc độ thẩm mỹ để phát hiện ra vẻ đẹp trữ tình của con sông: Sông Đà được ông ví như một người con gái đẹp kiều diễm với “áng tóc mun ngàn ngàn vạn vạn sải” với màu sắc của nước sông Đà thay đổi theo mùa, sông Đà gợi cảm, sông Đà “hoang dại như một bờ tiền sử, bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”. Không chỉ nhìn cảnh vật ở điểm nhìn văn hóa thẩm mỹ, Nguyễn Tuân còn nhìn người lái đò ở góc độ nghệ sĩ để phát hiện ra tài năng trong nghệ thuật vượt thác leo ghềnh, khi đã nắm chắc được “binh pháp” của thần sông, thần đá “thuộc lòng các luồng sinh tử” của các con thác dữ nên chủ động trong mọi tình huống, có thể lái con thuyền vút vút qua hàng trăm ghềnh đá ngổn ngang hiểm hóc và Nguyễn Tuân đã gọi đó là “tay lái ra hoa” của một người nghệ sĩ có tâm hồn cao thượng, một phong thái ung dung, tự tại, một trí thông minh lão luyện và lòng dũng cảm được tôi luyện trong lao động và chiến đấu.

+ Ở Nguyễn Tuân còn là một cái tôi “uyên bác”: “Uyên bác” là sự hiểu biết sâu rộng nhiều lĩnh vực, nhiều ngành nghệ thuật và có thể cung cấp, đóng góp, lý giải những kiến thức đó cho người khác.

  • Trong tác phẩm ông hay vận dụng những tri thức của rất nhiều ngành nghệ thuật, thậm chí cả những ngành không liên quan gì đến nghệ thuật để miêu tả, khám phá hiện thực. Nó có tác dụng làm cho người đọc nhìn nhận hiện thực ở nhiều góc độ và cung cấp cho người đọc một lượng thông tin hết sức phong phú ngoài văn chương.
  • Chẳng hạn, ông mô tả cái hút nước khủng khiếp của sông Đà bằng kỹ thuật phim ảnh “tôi sợ hãi mà nghĩ đến một anh bạn quay phim táo tợn nào muốn truyền cảm giác lạ cho khán giả…” nhà văn còn sử dụng tri thức của quân sự, võ thuật để miêu tả nước, đá ở sông Đà: Nào là cửa sinh, của tử, đánh khuýp vu hồi, đánh du kích, phục kích, đánh giáp lá cà, nào là đòn tỉa, đòn âm, đá trái, thúc gối, túm thắt lưng…
  • Ngoài ra nhà văn còn vận dụng những tri thức của nhiều bộ môn khoa học trong tác phẩm của mình, một vốn văn hóa phong phú, lịch lãm hiếm thấy, làm cho bài tùy bút của ông có giá trị văn hóa cao. Tác phẩm “Người lái đò sông Đà” đã giúp người đọc hiểu được rất nhiều điều bổ ích về lịch sử, địa lí sông Đà, về lịch sử cách mạng xung quanh con sông này, về địa hình địa thế của nó, về những con thác đủ loại, về các tài nguyên đất nước vùng sông Đà, về những bài thơ của Nguyễn Quang Bích, Tản Đà…về con sông miền Tây của Tổ quốc này.

* Ở “Người lái đò sông Đà”, lâu nay người ta chỉ quen thấy một cái tôi tài hoa, uyên bác. Nhưng rõ ràng thông qua cái tôi ấy, người đọc còn nhận thấy được tác phẩm còn là cảm hứng ngợi ca đầy say mê của một con người yêu tha thiết vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước, con người như Nguyễn Tuân – suốt đời đi tìm cái đẹp, cái đẹp của một cây bút tài hoa độc đáo…

“Cái tôi” trong “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường

+ Cái tôi say mê kiếm tìm cái đẹp, dạt dào cảm xúc và luôn gắn bó với thiên nhiên.

  • Trong kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”, cái tôi tác giả gắn kết, hòa nhập thật sự với sông nước, trời mây, cây cỏ, ngàn thông. Những trang kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường mang đến cho người đọc những miền không gian xanh thắm, ẩn chìm những viết trầm tích văn hóa từ thiên nhiên. Sự hòa nhập với thiên nhiên khiến nhà văn đã viết lên những trang văn vừa giàu lượng thông tin, vừa mượt mà, đẹp như một bài thơ.
  • Thiên nhiên trong kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường chính là phiên bản tâm hồn của nhà văn. Sông Hương trong thơ ông không chỉ là biểu tượng của thiên nhiên thuần khiết mà còn lấp lánh chất nhân văn của một triết lí sống. Cái tôi có lúc thoát hẳn sự ràng buộc của bản thể để hoà nhập vào sông nước.
  • Cảm xúc vô cùng phong phú, có khi nó được bộc lộ trực tiếp với các trạng thái nội tâm: vừa thích thú, vừa lãng đãng, miên man trong vẻ đẹp của dòng sông đang đổi sắc không ngừng “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím” hay cái điệu chảy “như một điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế” trong trăm nghìn ánh hoa đăng…có khi cảm xúc yêu thương da diết với xứ Huế lại được bộc lộ dán tiếp trong cuộc hành trình lặng lẽ với rất nhiều những tìm kiếm và phát hiện: ngỡ ngàng nhận ra điểm tương đồng giữa con sông và con người ở “nỗi vương vấn và chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu”, đồng thời cùng hoài niệm đến khắc khoải khi phát hiện ra một sắc màu xưa cũ của chiếc áo cưới ở Huế ngày xưa, rất xưa “màu áo lục điều…”
  • Rõ ràng Hoàng Phủ Ngọc Tường đã đem tình yêu đằm thắm lắng sâu và những cảm xúc sôi nổi say sưa phổ vào trang viết để rồi mỗi dòng văn như một nốt nhạc, bản đàn để tôn vinh vẻ đẹp của sông Hương.

+ Cái tôi yêu quê hương đất nước hướng về cội nguồn: “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là một bài ca, ca ngợi sông Hương gắn với thiên nhiên văn hóa và con người xứ Huế. Bằng tấm lòng yêu thương gắn bó với quê hương đất nước, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã trân trọng, tự hào về bề dày lịch sử, bề dày văn hóa và tâm hòn con người ở vùng đất cố đô. Phải yêu sông Hương lắm, nhà văn mới xem sông Hương như một cô gái thùy mị mà đa tài, như: “một tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya”. Phải yêu sông Hương lắm nhà văn mới nhìn thấy dòng sông như một cô gái đa tình, kín đáo và một chút lẳng lơ, duyên dáng chung tình. Phải yêu dòng sông này lắm nhà văn mới cứ băn khoăn trăn trở “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”, và để trả lời cho câu hỏi này Hoàng Phủ Ngọc Tường mượn một câu chuyện huyền thoại đẹp khép lại trang kí, tô đậm thêm vẻ đẹp lấp lánh của dòng sông Hương, đồng thời bộc lộ cái tôi nồng cháy suy tư “có nhiều cách trả lời câu hỏi ấy. Trong đó tôi thích nhất một huyền thoại kể rằng vì yêu quý con sông xinh đẹp của quê hương, con người hai bên bờ đã nấu nước trăm loài hoa đổ xuống lòng sông, để làm nước thơm tho mãi…”, “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”câu hỏi bâng khuâng khơi gợi sự kiếm tìm cái đẹp tiềm ẩn trong sông Hương và thiên nhiên, con người xứ Huế.

  • Hoàng Phủ Ngọc Tường miêu tả sông Hương và không gian Huế với tình yêu nồng thắm, với trái tim thi sĩ đa cảm, đồng thời bằng con mắt của một thi sĩ tinh tường. Nhà thơ Ra-xun Ham-đa-tốp đã từng bình luận: “Nếu nhà thơ không tham gia vào việc hoàn thành thế giới, thì thế giới đã không được đẹp đẽ như thế này”. Bằng những trang viết tài hoa, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã góp phần tạo nên một thế giới đẹp và thơ.

+ Một cái tôi tài hoa uyên bác

Hoàng Phủ Ngọc Tường tỏ ra am hiểu tường tận những gì mình viết. Với xứ Huế dường như nhà văn hiểu sâu sắc những cành cây ngọn cỏ, tường tận từ tên đất, tên làng. Với sông Hương, nhà văn thông thuộc từng khúc sông, từng dòng nước, chỗ ghềnh thác cuộn xoáy, chỗ phẳng lặng như mặt hồ yên tĩnh. Nhà văn am hiểu sâu sắc về văn hóa Huế, nền âm nhạc cổ điển hay những trang thơ về sông Hương. Vốn kiến thức uyên bác ở nhiều lĩnh vực, đó là kết quả của một chuyến đi và một trí nhớ “phi thường”. Bằng những hiểu biết phong phú, nhà văn cung cấp cho người đọc một lượng thông tin lớn về địa lý, dòng chảy của sông Hương, về lịch sử, về văn hóa, về văn học nghệ thuật. Bằng những con chữ lóng lánh tài hoa Hoàng Phủ Ngọc Tường đã góp phần làm nổi bật dòng sông, thiên nhiên cũng như con người Huế. Cái tôi ấy thật giàu tình cảm, say mê cái đẹp của cảnh cũng như con người xứ Huế: Tất cả những phát hiện về vẻ đẹp của sông Hương, xét đến cùng bắt nguồn từ tình cảm thiết tha đến đắm say của tác giả đối với cảnh và con người xứ Huế. Nếu không có tình yêu với xứ Huế thì không thể có những trang văn hay và đẹp đến thế về xứ Huế.

* Như vậy, những dòng sông quê hương chảy về trong tâm tưởng ta qua ngòi bút và tâm hồn nhà văn, giúp ta yêu hơn những dòng sông đất Việt. Điều mà chúng ta thấy sở dĩ họ có những điển chung trong việc mang đến hai hình tượng nghệ thuật đặc sắc ấy là: Cả hai nhà văn đều là người có tài, rất mực tài hoa uyên bác. Đều là những con người có tâm, là những trí thức giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. Đều là những nhà văn có phong cách nghệ thuật độc đáo, do đó tìm đến với những thể tùy bút, bút kí như một sự thỏa mãn với tình yêu lớn, mà chỉ có những thể loại ấy mới chuyên chở được tình yêu của họ. Tuy nhiên, mỗi nhà văn lại có ý thức cá nhân sâu sắc, có cá tính sáng tạo riêng, Nguyễn Tuân thiên về lối duy mỹ, cảm giác mạnh, Hoàng Phủ Ngọc Tường thiên về tự sự trữ tình, cảm xúc nồng nàn yêu thương. Đó cũng chính là quy luật tất yếu của sáng tạo nghệ thuật.

* Phải xuất phát từ đặc trưng thể loại, đó là một nguyên tắc cơ bản của quá trình cảm thụ và bình giá tác phẩm văn chương. Điều mà chắc chắn ai cũng biết. Hơn nữa với thể loại bút kí, chất trữ tình bao giờ cũng chiếm ưu thế của người viết, nên khi dạy tác phẩm kí thầy cô giáo phải tạo được tình huống nhiều hơn để khơi gợi cho học sinh sự đồng điệu, ngưỡng vọng trước cái tôi giàu cảm xúc, tinh tế, chân thành của người nghệ sĩ. Những tình cảm cao đẹp đối với quê hương xứ sở chắc chắn sẽ có điêu kiện nảy sinh, góp phần vào việc hoàn thiện nhân cách học sinh và học sinh cũng có điều kiện hơn để rèn luyện tư duy văn học theo đặc trưng thể loại.

2.1.2; Rèn luyện phương pháp đọc hiểu cho học sinh

Môn Ngữ văn được coi là môn học công cụ, môn học bắt buộc ở cả 3 cấp học, hướng tới việc hình thành phát triển năng lực đọc, viết tiếng Việt (năng lực tiếp nhận và xử lý thông tin, năng lực cảm thụ thẩm mỹ, năng lực trình bày, năng lực tạo lập các loại văn bản cần thiết trong cuộc sống). Dạy học đọc hiểu là một trong những nội dung cơ bản của đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn trong tiếp nhận văn bản. Nếu như trước đây chúng ta coi phân tích tác phẩm hay giảng văn là một phương pháp đặc thù của dạy văn, thì hiện nay đã có những thay đổi trong cách tiếp cận này. Hướng dẫn học sinh đọc hiểu không có nghĩa là nhằm cảm thụ một chiều cho học sinh những cảm nhận của giáo viên về văn bản được học mà hướng dẫn cung cấp cho học sinh cách đọc, cách tiếp cận, khám phá những vấn đề về nội dung và nghệ thuật của văn bản, từ đó hình thành cho học sinh năng lực tự đọc một cách tích cực, chủ động, có sắc thái cá nhân. Hoạt động đọc hiểu của học sinh cần được thực hiện theo một trình tự từ dễ đến khó, từ thấp đến cao, từ đọc đúng, đọc thông, đến đọc hiểu, từ đọc tái hiện sang đọc sáng tạo. Khi hình thành năng lực đọc hiểu của học sinh cũng chính là hình thành năng lực cảm thụ thẩm mỹ, khơi gợi liên tưởng, tưởng tượng và tư duy.

Trong quá trình đọc hiểu học sinh cần thực hiện các nội dung cơ bản sau:

– Huy động vốn kiến thức và kinh nghiệm của bản thân – là những hiểu biết về chủ đề hay hiểu biết về các vấn đề văn hóa xã hội có liên quan đến chủ đề, thể loại của văn bản.

– Thể hiện những hiểu biết về văn bản

+ Tìm kiếm thông tin, đọc lướt để tìm ý chính, đọc kỹ tìm các chi tiết

+ Giải thích, cắt nghĩa, phân loại, so sánh, phân tích, kết nối, tổng hợp…thông tin để tạo nên hiểu biết chung về văn bản.

+ Phản hồi và đánh giá thông tin trong văn bản

– Vận dụng những hiểu biết về văn bản đã đọc hiểu vào việc đọc các loại văn bản khác nhau, sẵn sang thực hiện các nhiệm vụ học tập, các nhiệm vụ trong đời sống yêu cầu dùng đến hoạt động đọc hiểu.

+ Đọc các văn bản khác (ngoài chương trình, sách giáo khoa) có cùng đề tài/ chủ đề hoặc hình thức để thực hiện củng cố hiểu biết và rèn luyện kỹ năng đọc hiểu.

+ Trình bày những giải pháp để giải quyết một vấn đề cụ thể từ việc vận dụng những hiểu biết về văn bản đã đọc hiểu.

– Đọc tác phẩm “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân

Học sinh cần làm nổi bật được:

+ Đề tài: Viết về dòng sông quê hương Việt Nam

+ Thể loại: Tùy bút (bút kí) có cấu trúc tự do phóng túng, hầu như không có luật lệ, quy phạm gì chặt chẽ, câu thúc bởi cốt truyện cụ thể nào…Tùy bút mang tính chất chủ quan, chất trữ tình rất đậm, nhân vật chính là cái tôi của nhà văn, bộc lộ cảm xúc suy tư và nhận thức đánh giá của mình về con người và cuộc sống hiện tại. Ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu chất thơ.

+ Cảm hứng sáng tạo

  • Nguyễn Tuân đề từ cho tác phẩm:

“Đẹp vậy thay tiếng hát trên dòng sông”

(Wladyslow  Broniewski)

“Chúng thủy giai Đông tẩu

Đà giang độc Bắc lưu”

(Thơ Nguyễn Quang Bích)

  • Nguyễn Tuân đã cảm nhận vẻ đẹp độc đáo của sông Đà

Không chỉ sông Đà, sông nước quê hương, sông tuyến (Bến Hải), sông Gianh – đã chảy vào tâm hồn nhà văn, đã hóa thân thành những trang viết đẹp. Viết “sông Đà”, Nguyễn Tuân muốn đề thơ, phổ nhạc vào sông nước quê hương. Cảm hứng sông Đà đã thành nghệ thuật “thành một gợi cảm mênh mang” về sông quê, về con người Việt Nam trong bối cảnh ấy. Và ông cũng là “Đà giang độc Bắc lưu” trên bình diện nghệ thuật.

+ Nội dung của văn bản

  • Hình tượng con sông Đà: Hung bạo, trữ tình
  • Hình tượng người lái đò: Tài hoa, điêu luyện trong nghệ thuật vượt thác leo ghềnh

+ Đặc sắc nghệ thuật của Nguyễn Tuân

Nhìn con người ở phương diện tài hoa, nghệ sĩ: tài hoa uyên bác và dụng nhiều tri thức của nhiều ngành văn hóa, nghệ thuật khác nhau để quan sát miêu tả (địa lý, lịch sử, nghệ thuật, quân sự, võ thuật, hội họa, điêu khắc, điện ảnh, thơ ca…) thiên nhiên và con người Tây Bắc. Thể tùy bút phóng túng ngôn từ phong phú và điêu luyện.

+ Yêu cầu học sinh tìm đọc toàn văn bản “Người lái đò sông Đà”

– Đọc tác phẩm “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường, học sinh cần làm nổi bật được:

+ Thể loại: “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” thuộc thể kí (nghiêng về tùy bút) giàu chất trữ tình, giàu lượng thông tin.

+ Cảm hứng sáng tạo: Huế trở thành một phần trong đời sống tinh thần của nhà văn. Những mẩu kí viết về Huế thể hiện tình cảm gắn bó sâu nặng của Hoàng Phủ Ngọc Tường với mảnh đất giàu trầm tích văn hóa. Về “chất Huế” trong kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường, nhà văn Tô Hoài đã nhận xét thú vị: “Nếu có thể so sánh, thì tôi nghĩ rằng Sơn Nam thuộc đến ngõ ngách những sự tích xưa của Sài Gòn-Bến Nghé, tôi thì nhớ được ít nhiều tên phố tên làng Hà Nội, Hoàng Phủ Ngọc Tường thì trằm cả tâm hồn trong khuôn mặt cuộc đời cùng với đất trời, sông nước của Huế”.

+ Ý nghĩa nhan đề “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”

Nhan đề bài bút kí là một câu hỏi ngỡ như bâng quơ, câu hỏi khó trả lời, nhưng lại là một tín hiệu thẩm mỹ mở ra nội dung của tác phẩm. Câu hỏi đặt ra “với trời với đất” đã đưa nhà văn làm một cuộc hành trình lịch sử tìm về cội nguồn của dòng sông và cảm nhận, miêu tả vẻ đẹp của sông Hương từ góc nhìn huyền thoại-văn hóa – lịch sử.

+ Đọc và tìm hiểu bố cục của đoạn trích.

Dựa vào văn bản có thể chia đoạn trích thành 2 phần.

  • Phần đầu: Từ đầu đến “quê hương xứ sở”: Hành trình của Hương giang
  • Phần còn lại: Sông Hương – dòng sông của lịch sử và thơ ca

+ Nghệ thuật đặc sắc:

Với ngòi bút tài hoa lịch lãm của Hoàng Phủ Ngọc Tường, nhà văn đã sáng tạo được những trang văn đẹp, được dệt nên bởi một kho từ vựng phong phú, uyển chuyển và rất giàu hình ảnh. Các biện pháp nghệ thuật: Ẩn dụ, nhân hóa, so sánh…gắn liền với liên tưởng bất ngờ, thú vị đã tạo nên một góc nhìn đa sắc về sông Hương.

Yêu cầu học sinh tìm đọc toàn văn bản hoặc giáo viên gọi học sinh đọc diễn cảm một số đoạn mà các em yêu thích.

Ví dụ đoạn “phải nhiều thế kỷ đi qua…bát ngát tiếng gà”. Sau mỗi bài học giáo viên cho học sinh viết đoạn văn cảm nhận về vẻ đẹp của dòng sông quê hương mình, để giáo dục cho các em tình yêu quê hương cũng bắt nguồn từ những cái giản dị và đời thường gần gũi nhất với mỗi con người: Dòng sông quê hương.

* Như vậy: Việc đọc hiểu không chỉ rèn luyện cho học sinh đọc-hiểu văn bản mà còn rèn luyện năng lực tạo lập văn bản, đặc biệt là năng lực viết sáng tạo. Viết sáng tạo là khả năng trình bày, thể hiện những cảm nhận, suy nghĩ của cá nhân về đối tượng, vấn đề được đặt ra…viết sáng tạo được thể hiện ở nhiều phương diện khác nhau, với các mức độ khác nhau, vì vậy cần tạo ra được những cơ hội để học sinh thể hiện ngay trong quá trình đọc hiểu, đồng thời phát triển các năng lực khác trong học tập.

2.1.3; Sử dụng phương pháp bản đồ tư duy.

Bản đồ tư duy là phương pháp được đưa ra như là một phương tiện mạnh để tận dụng khả năng ghi nhận hình ảnh của bộ não. Đây là cách ghi nhớ chi tiết để tổng hợp hay để phân tích một vấn đề thành một dạng của lược đồ phân nhánh. Cách ghi chép này khoa học, giúp cho học sinh dễ nhớ và dễ ôn tập hơn. Việc nhớ và ghi lại các thông tin sau này sẽ dễ dàng, đáng tin cậy hơn so với khi sử dụng phương pháp truyền thống. Sử dụng phương pháp bản đồ tư duy sẽ có những ưu điểm sau:

– Ý chính sẽ ở trung tâm và được xác định rõ ràng

– Quan hệ hỗ trợ tương ứng giữa mỗi ý được chỉ ra tường tận. Ý càng quan trọng thì sẽ nằm vị trí càng gần ý chính.

– Liên hệ giữa các khái niệm then chốt sẽ được tiếp nhận lập tức bằng thị giác.

– Ôn tập và ghi nhớ sẽ rất hiệu quả và nhanh hơn.

– Thêm thông tin (ý) dẽ dàng hơn bằng cách vẽ chèn thêm vào bản đồ.

– Mỗi bản đồ sẽ phân biệt nhau tạo sự dễ dàng cho việc gợi nhớ.

– Các ý mới có thể được đặt vào đúng vị trí trên hình một cách dễ dàng, bát chap thứ tự của sự trình bày, tạo điều kiện cho việc thay đổi một cách nhanh chóng và linh hoạt cho việc ghi nhớ.

Như vậy, bản đồ tư duy là một công cụ lý tưởng cho việc giảng dạy và trình bày các khái niệm trong lớp học. Bản đồ tư duy giúp cho giáo viên tập trung vào các vấn đề cần trao đổi cho học sinh, cung cấp một cái nhìn tổng quan về chủ đề mà không có thông tin thừa. Học sinh sẽ không phải tập trung vào việc đọc chép dài dòng, mà thay vào đó sẽ lắng nghe những gì mà thầy cô giáo diễn đạt. Hiệu quả bài học sẽ tăng lên.

Khi dạy học bài “Người lái đò sông Đà” của nhà văn Nguyễn Tuân, giáo viên có thể tóm tắt hoặc cho học sinh ghi lên bảng tóm tắt lại nội dung bài học theo bản đồ tư duy.

A; Mục tiêu bài học

(Nguyễn Tuân)
Tiết 48, 49. Đọc hiểu văn bản “Người lái đò Sông Đà”

2.2; Tiết dạy thực nghiệm

Với phương pháp bản đồ tư duy, giáo viên có thể cho học sinh tổng kết lại ở phần kết thúc bài học hoặc trong quá trình giảng bài, vừa tổng kết kiến thức và vừa là để ghi nhớ bài học một cách ngắn gọn, dễ nhớ nhất. Có một điều thú vị nữa là trong quá trình giảng dạy, thầy cô giáo có thể thêm ngay vào bản đồ tư duy bài giảng của mình những ý tưởng hay, đột phá mà thầy cô chợt nghĩ ra hay từ sự đóng góp, phát hiện của học sinh. Làm như vậy bài học sẽ không bị nhàm chán mà lại gây được sự hứng thú cho học sinh, học sinh sẽ không còn sợ cảm giác học môn văn dài, ghi chép mỏi tay đáng sợ nữa. Môn văn sẽ trở nên khoa học hơn, ngắn gọn và súc tích hơn.
Giúp học sinh:

1; Kiến thức:

– Cảm nhận được vẻ đẹp của con sông Đà và hình tượng người lái đò. Từ đó hiểu được tình yêu, sự đắm say của Nguyễn Tuân đối với thiên nhiên và con người lao động ở miền Tây Bắc của Tổ quốc.

– Thấy được sự tài hoa, uyên bác của Nguyễn Tuân: Vốn từ ngữ dồi dào, biến hóa; câu văn đa dạng, nhiều tầng, giàu hình ảnh và nhịp điệu; những so sánh ví von, liên tưởng, tưởng tượng độc đáo, bất ngờ.

2; Kỹ năng:

– Đọc hiểu tùy bút theo đặc trưng thể loại

3; Thái độ:

– Có thái độ trân trọng, cảm mến tài năng độc đáo của những con người lao động giản dị nhưng kiên cường, dũng cảm.

– Bồi dưỡng tình yêu quê hương đất nước Việt Nam

4; Năng lực:

– Nâng cao năng lực cảm thụ nghệ thuật, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực tự học, sáng tạo và giải quyết vấn đề năng lực đọc hiểu kí hiện đại theo đặc điểm thể loại.

Thiết kế bài học

Chuẩn bị của giáo viên và học sinh

  1. Giáo viên:

– SGK, SGV, thiết kế bài dạy, tài liệu tham khảo, máy chiếu minh họa hình ảnh về sông Đà(1958) và thủy điện sông Đà (hiện nay), phiếu học tập.

  1. Học sinh:

– Đọc văn bản, sách giáo khoa, vở soạn văn, đọc các tài liệu, trả lời câu hỏi hướng dẫn học bài.

Tổ chức hoạt động dạy học

Hoạt động 1: Trải nghiệm

Câu hỏi? Nêu ngắn gọn những đặc điểm phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân? (Học “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân ở lớp 11)

HS: – Xây dựng hình tượng nhân vật độc đáo, đề cao cái đẹp, con người tài hoa, tài tử, uyên bác của “một thời vang bóng”

– Giọng điệu kết hợp trữ tình và tả thật, nghệ thuật dẫn truyện hấp dẫn.

– Ngôn ngữ cổ kính trang nghiêm, dùng nhiều từ ngữ của người xưa tạo cho câu chuyện cái không khí của “một thời vang bóng”

Hoạt động 2: Dẫn vào bài mới.

Nguyễn Tuân là nhà văn có nhiều trang viết rất sống động về những con người phi thường, tính cách phi thường. Nhân vật của ông mỗi khi đã xuất hiện thì dứt khoát phải có dấu ấn đặc biệt. Nếu trước cách mạng tháng tám, ông cho rằng cái đẹp chỉ có trong quá khứ của một thời vàng son và ông đã xây dựng nhân vật Huấn Cao dựa trên nguyên mẫu lịch sử là Cao Bá Quát: một người có tài có tâm nhưng phải chịu án tử hình vì đứng về nhân dân chống lại triều đình. Nhưng sau cách mạng tháng tám, do “xê dịch” nhiều nên ông có sự thay đổi trong cách cảm nhận miêu tả về con người. Ngòi bút tài hoa của ông đã tìm thấy vẻ đẹp của con người ngay trong hiện tại, một người vô danh lặng thầm trong công việc mà ông gọi đó là “vàng mười” của đất Tây Bắc đó chính là “ Người lái đò” trong tùy bút “Người lái đò Sông Đà”- Nguyễn Tuân.

Hoạt động của Giáo viên và  học sinh Phương pháp, phương tiện Kết quả đạt được
Hoạt động 3: Tìm hiểu phần tiểu dẫn

GV: Gọi học sinh đọc phần tiểu dẫn sách giáo khoa, nêu những nét chính về hoàn cảnh sáng tác, cảm hứng chủ đạo của tác phẩm.

HS trả lời, GV nhận xét bổ sung ý trả lời của học sinh.

.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hoạt động 4: Đọc hiểu văn bản.

– GV gọi 1 HS đọc đoạn từ “Cuộc sống của người lái đò/187….Thế là hết thác/190;

GV gọi HS khác đọc đoạn “ Tôi có bay tạt ngang sông Đà-…/190 đến hết /192).

GV hướng dẫn học sinh đọc Đoạn 1: Giọng nhanh, mạnh, có khí thế, thể hiện không khí của một trận chiến gấp gáp căng thẳng.

Đoạn 2: Giọng đọc chậm rãi, nhẹ nhàng, toát lên vẻ đẹp dịu dàng, trữ tình của Sông Đà.

GV gọi HS trả lời câu hỏi ?Có những hình tượng nào hiện lên trong 2 đoạn văn vừa đọc? Em có cảm nhận được điều gì về các hình tượng ấy?

HS phát biểu, giáo viên nhận xét, kết luận.

 

 

Đọc hiểu chi tiết:

Hình tượng con sông Đà.

– GV Khái quát về hình tượng con sông Đà => Tác giả tái hiện một Đà giang như là một sinh thể, có hoạt động, biết tri giác, cảm giác và có cá tính tâm trạng, với 2 tính cách: hung bạo và trữ tình. GV dẫn dắt và nêu câu hỏi.

Tính cách hung bạo của Sông Đà được tác giả miêu tả thông qua những chi tiết hình ảnh gì?

(Đá bờ sông dựng thành vách, mặt ghềnh Hạt loóng, những cái hút nước, thác và đá sông Đà ).

Mỗi nhóm tìm chi tiết, hình ảnh và phân tích.

Giáo viên chia:

Nhóm 1: Đá bờ sông

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhóm 2: Mặt ghềnh

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhóm 3: Hút nước

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhóm 4: Thác và đá

HS trao đổi thảo luận, các nhóm khác bổ sung, giáo viên nhận xét, bổ sung.

 

GV lưu ý các biện pháp nghệ thuật: điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc…

– Biện pháp nghệ thuật: so sánh, nhân hóa, kể, tả, liên tưởng bất ngờ, sáng tạo.

– những tri thức về nhiều lĩnh vực khác nhau (giao thông, điện ảnh)…

– Biện pháp nghệ thuật nhân cách hóa, so sánh độc đáo ->lấy lửa tả nước.

– GV gợi mở: có thể thấy, dưới ngòi bút của người nghệ sĩ ngôn từ, sự hùng vĩ và hung bạo của Đà giang đã hiện ra ở nhiều vẻ khác nhau. Tất cả đều toát lên một sự hoang dại, một sức mạnh thiên nhiên kì vĩ. Nhưng Nguyễn Tuân đến với sông đà trước tiên là tìm chất vàng của thiên nhiên, “thứ vàng của màu sắc sông núi Tây Bắc”. Theo em nhà văn đã tìm thấy thứ vàng nào của con sông Đà nói riêng và thiên nhiên Tây Bắc nói chung đằng sau sự hung bạo của Đà giang?

HS thảo luận, trả lời.

GV chốt ý kiến, nhận xét.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

GV  chuyển ý : Rất hung dữ, hiểm ác, gây hại cho con người, nhưng ngược lại đó là công trình nghệ thuật tuyệt vời của tạo hóa, vừa hùng vĩ vừa thơ mộng tạo nên chất men say cho sự sống của con người.

GV dẫn dắt và nêu câu hỏi:

Sự hung bạo của sông Đà là một sự thật rõ ràng. Nhưng nhà văn đã viết “ Tôi có bay tạt qua sông Đà mấy lần…”. Tức là sông Đà không chỉ có sự dữ dằn, độc hiểm mà con sông còn có vẻ đẹp trữ tình. Từ những “góc độ” khác nhau, Nguyễn Tuân đã có những phát hiện tinh tế và miêu tả vẻ đẹp trữ tình của dòng sông như thế nào?

Học sinh trả lời, giáo viên nhận xét, bổ sung.

GV gợi mở: Tác giả ngắm sông Đà ở những thời điểm nào?

GV diễn giảng:

Đây là kết quả của những công phu tìm tòi khó nhọc của một con người nhất quyết không bao giờ chịu bằng lòng với những tri thức hời hợt…

=> Như vậy không sự hào hoa nào thay thế được công sức lao động nghiêm túc, cần cù kiên nhẫn của con người.

 

 

 

 

 

 

 

 

– Giáo viên chốt lại: với cách liên tưởng ví von, so sánh, dường như sông Đà của Nguyễn Tuân còn có vẻ đẹp của một con sông bền bỉ chảy qua năm tháng lịch sử, mang dấu tích văn hóa ngàn xưa của dân tộc. Nói văn Nguyễn Tuân cổ kính trang nghiêm mà hiện đại phải chăng có phần vì thế?

=> Tác giả gọi sông Đà là “cố nhân”

GV dẫn dắt, nêu vấn đề: Có thể khẳng định Nguyễn Tuân đã rất công phu khi tìm hiểu và miêu tả những vẻ đẹp đa dạng của Đà giang. Trên cả 2 khía cạnh hung bạo và trữ tình của Sông Đà, ta đều thấy người nghệ sĩ đã dồn nhiều tâm sức và tài năng của mình để khắc họa những đặc tính, vẻ đẹp của con sông Tây Bắc. Theo em tại sao Nguyễn Tuân lại kì công đến như vậy?

=> HS trả lời: Giáo viên nhận xét, bổ sung.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

GV dẫn dắt:

Chẳng phải tình cờ khi để nói về màu sắc của sông Đà, Nguyễn Tuân chỉ dùng một chữ “vàng”. Để rồi sau đó ông sẽ dùng chữ “vàng mười”để gọi tên vẻ đẹp và giá trị quý báu của con người lao động. Điều đó chứng tỏ trong cảm xúc thẩm mỹ của tác giả người lái đò sông Đà

– Con người lao động chân chính là đẹp hơn tất cả, quý giá hơn tất cả.

GV: Vậy ông lái đò đã được tác giả miêu tả như thế nào?

HS: trao đổi, thảo luận, tìm chi tiết hình ảnh.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nguyễn Tuân đã tạo ra một cuộc vượt thác có một không hai, bằng vốn từ vựng giàu có và kiến thức uyên bác về nhiều lĩnh vực đặc biệt là võ thuật và quân sự.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

GV nhận xét: Nguyễn Tuân đã sáng tạo được một đoạn văn đặc sắc, tràn đầy không khí trận mạc, miêu tả sinh động cuộc chiến đấu của người lái đò với thác, đá hung bạo và xảo quyệt.

 

 

 

 

 

GV: gợi mở Nguyễn Tuân là nhà văn suốt đời đi tìm cái đẹp. Các nhân vật trong sáng tác của ông thường mang những phẩm chất của người nghệ sĩ tài hoa. (Huấn Cao: “ Chữ người tử tù”. Vậy người lái đò có được coi là một nghệ sĩ tài hoa hay không? Giáo viên gọi học sinh đọc lại đoạn ông lái đò vượt thác…để có thể cảm nhận về tư cách nghệ sĩ của ông lái đò)

HS đọc, cảm nhận, giáo viên nhận xét.

Theo Nguyễn Tuân nét tài hoa nghệ sĩ của con người không chỉ thể hiện ở hoạt động sáng tạo nghệ thuật mà còn thể hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Đối với bất kì công việc gì khi đạt tới trình độ khéo léo, điêu luyện, con người sẽ bộc lộ nét tài hoa nghệ sĩ rất đáng trân trọng.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Giáo viên hướng dẫn học sinh tiểu kết:

Theo em đâu là chất “vàng mười” của những con người lao động Tây Bắc mà Nguyễn Tuân đã tìm thấy và ngợi ca?

 

 

 

 

 

 

 

Theo Nguyên Tuân chủ nghĩa anh hùng đâu chỉ ở nơi giáp mặt với quân thù, mà có thể xuất hiện hàng ngày trong cuộc sống lao động của bao con người bình thường giản dị, không tên tuổi, ở ngay cả những nơi xa xôi hẻo lánh của Tổ quốc. Chính công việc sẽ vinh danh nghề nghiệp của họ, Hình ảnh “Khoanh nâu tròn”ở ngực ông lão do cán chèo tì vào mỗi lần vượt thác, tác giả gọi đó là huân chương lao động nghề nghiệp vinh danh cho ông lái đò.

Hoạt động 5: Tổng kết

GV? Qua thiên tùy bút em có nhận xét gì về tài năng nghệ thuật và phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân?

Hs có thể trình bày cách đánh giá khác nhau, giáo viên nhận xét chốt các ý chính.

 

 

Phỏng vấn, thuyết giảng, máy chiếu.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phương pháp: Đọc hiểu văn bản, đọc sáng tạo.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– Phương pháp nêu vấn đề, thảo luận nhóm(chia lớp làm 4 nhóm)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tiết 2: Phương pháp phát vấn; diễn giảng; nêu vấn đề.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– phương pháp thảo luận, phát vấn đề, nêu vấn đề.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

I. Tiểu dẫn

1. Hoàn cảnh sáng tác

– “Người lái đò sông Đà” trích trong tập tùy bút “Sông Đà”(1960). Đây là thành quả nghệ thuật đẹp đẽ của Nguyễn Tuân trong chuyến đi đến miền Tây Bắc rộng lớn của Tổ quốc. “Sông Đà” gồm 15 thiên tùy bút và một bài thơ ở dạng phác thảo.

– Tấc phẩm ra đời trong bối cảnh miền Bắc đang tiến hành xây dựng cuộc sống mới.

2. Cảm hứng chủ đạo

– Là tìm kiếm chất vàng của thiên nhiên Tây Bắc và nhất là chất vàng mười “thứ vàng đã được thử lửa” ở tâm hồn những con người lao động, chiến đấu trên miền núi sông hùng vĩ và thơ mộng.

3. Thể loại: Tùy bút (bút kí) ghi chép người thật, việc thật, in đậm cảm xúc chủ quan của người viết, đậm chất trữ tình

 

II; Đọc – hiểu văn bản

1. Đọc văn bản

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– Hiện lên trong hai đoạn trích là hình tượng con sông Đà (hung bạo, trữ tình ) và người lái đò (tài trí, dũng cảm).

2. Đọc – hiểu chi tiết văn bản.

a. Hình tượng con sông Đà

* Sông Đà – con sông Tây Bắc “hung bạo”

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– Sự hùng vĩ của sông Đà trước hết thể hiện ở cách đã bờ sông “dựng vách thành” “lúc đúng ngọ mới có mặt trời” “vách đá thành chẹt lòng sông Đà như một cái yết hầu” “có quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ bên này sang bờ bên kia”… “ngồi trong khoang đó quãng ấy đang mùa hè mà cũng thấy lạnh”

=> Nguyễn Tuân khắc sâu ấn tượng về độ cao của những vách đá, sự lạnh lẽo, u tối của đoạn sông và sự nhỏ hẹp của dòng chảy bằng những liên tưởng độc đáo, bằng những so sánh thú vị. Để miêu tả cảnh tượng hùng vĩ có phần huyền bí của dòng sông, nhà văn chẳng những sử dụng thị giác mà còn kết hợp sử dụng các giác quan khác(như xúc giác) với những so sánh mới mẻ táo bạo

-> vách thành dựng đứng gợi lên sự hiểm trở, hùng vĩ, lòng sông hẹp

-> gợi sức chảy ghê gớm của thác lũ.

– Ghềnh sông Đà:

“gùn ghê suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt…” “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió”…

=> Đoạn văn cung cấp đầy đủ những hình ảnh cần thiết cho một họa sĩ nào ưa vẽ những cảnh thác lũ rùng rợn, mãnh liệt câu văn diễn đạt theo lối điệp từ, điệp cấu trúc và tăng tiến, tạo nhịp điệu khẩn trương, dồn dập gấp gáp giống như sự chuyển vận của sóng to, gió lớn.

– Hút nước: “nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc”

“nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào”=> sự ghê gớm của những cái hút nước.

“Nhiều bè gỗ rừng đi nghênh ngang vô ý là những cái giếng hút ấy nó lôi tuột xuống…”

-> Đó là những hình ảnh đầy chất hiện thực mà bất cứ ai khi đọc đến đều hình dung ra sự tàn nhẫn của những cái hút nước ấy.

– Thác nước sông Đà

“ nghe như là oán trách” “van xin”

“khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo”

“rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng…”, hòn đá thì “ngỗ ngược” “nhăn nhúm” sẵn sàng giao chiến cả một trận địa đá với những âm mưu thủ đoạn nham hiểm đã được bày ra để sẵn sàng dìm chết con thuyền.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– Nhận xét chung: Đó là vẻ đẹp man dại, sức mạnh huyền bí của sông Đà hiện ra ở nhiều góc độ khác nhau. Đây chính là tiềm năng to lớn của Đà giang khi nó được con người chinh phục. Đấy là “vàng trắng”quý báu của đất nước ta. Chính vì vậy Nguyễn Tuân nghĩ tới hình ảnh của những “tuốc bin thủy điện”. Điều đó nghĩa là nhà văn nghĩ tới vai trò, vị trí của sông Đà trong sự nghiệp xây dựng đất nước.

 

 

 

 

 

* Sông Đà con sông Tây Bắc trữ tình.

– Trữ tình, dịu dàng: Từ trên cao nhìn xuống, nhà văn đã thấy dòng chảy uốn lượn của con sông như mái tóc của người phụ nữ kiều diễm “Sông Đà tuôn dài, tuôn dài như một áng tóc trữ tình…”.

=> Trong văn Nguyễn Tuân có cả thơ, cả hoa và cả nhạc.

 

 

 

-> Vẻ đẹp trữ tình trẻ trung và duyên dáng.

– Thơ mộng: Tác giả ngắm sông Đà ở nhiều thời gian, nhiều không gian khác nhau, màu sắc nước sông Đà thay đổi theo mùa mùa xuân “xanh ngọc bích”, mùa thu “lừ lừ chín đỏ”….

=> Nguyễn Tuân không chỉ tôn vinh vẻ đẹp của dòng sông mà còn trực tiếp bày tỏ tình cảm yêu mến đối với sông Đà, niềm tự hào về vẻ đẹp của con sông xứ sở.

 

– Hiền hòa: “Sông Đà như một cố nhân” “đằm đằm ấm ấm”-> nhất là chất thơ như ngấm vào trong từng cảnh sắc thiên nhiên sông Đà. Đó là cái nắng tháng ba Đường thi “yêu hoa tam nguyệt”

“Cảnh ven sông ở đây lặng tờ…”

-> yên bình, một vẻ đẹp tươi mới, tràn nhựa sống “nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa”

“đàn hươu cúi đầu ngốm búp cỏ gianh”

-> Còn có vẻ đẹp hoang sơ cổ kính

“Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử…”

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

* Tiểu kết: + Miêu tả sông Đà với hai tính cách hung bạo và trữ tình là nhà văn đã phản ánh dòng sông này đúng như ở ngoài đời (thể ký, ghi chép người thật, cảnh thật…)

+ Với Nguyễn Tuân, thiên nhiên không thuần túy là thiên nhiên, thiên nhiên cũng là một sản phẩm nghệ thuật vô giá của tạo hóa. Cần phải trân trọng các vẻ đẹp của nó.

+ Qua hình tượng sông Đà, nhà văn thể hiện tình cảm yêu mến thiết tha đối với thiên nhiên đất nước.

+ Việc miêu tả Đà giang với hai đặc điểm hung bạo và trữ tình còn có tác dụng làm nền để khắc họa hình ảnh ông lái đò: dũng cảm, trí tuệ trong nghệ thuật vượt thác leo ghềnh.

 

 

 

 

 

 

 

b, Hình tượng người lái đò.

 

 

– Lai lịch: sinh ra bên bờ sông đà…

– Ngoại hình: thân hình cao to,”gọn quánh như chất rừng, chất mùn, tay “lêu nghêu”, chân “khuỳnh khuỳnh” giọng “ào ào như tiếng nước trước mặt ghềnh sông nhỡn giới “vòi vọi…”

=> Đây là con người đã gắn bó với nghề sông nước từ nhiều năm.

– Từng trải, am hiểu tường tận về dòng sông: “nắm chắc binh pháp của thần sông, thần đá” thuộc quy luật phục kích…”nắm được quy luật tất yếu của dòng nước sông Đà => Ông luôn tự tin trong vượt thác leo ghềnh.

– Tài nghệ đặc biệt:

+ Ông đò xuất hiện như một viên tướng tả xung hữu đột trong một trận đồ bát quái “ nhiều cửa nhiều vòng, mỗi vòng đều có những viên tướng đã dữ dằn, nham hiểm đón đánh:

“Đòi ăn chết cái thuyền” mặt nước hò la vang dậy xung quanh mình” “ùa vào mà bẻ gãy cán chèo” “thúc gối vào bụng vào hông thuyền” “túm lấy thắt lưng ông đò đòi lật ngửa mình ra”  => ông lái đò luôn tỉnh táo, bình tĩnh.

+ Nén chịu nỗi đau thể xác  do cuộc vận lộn với sóng thác, ông điều khiển con thuyền lần lượt vượt qua trùng vi thạch trận, chiến thắng thác dữ bằng những động tác táo bạo mà chuẩn xác: “Ông đò ghì cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh …” “ đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè rắn lên mà chặt đôi ra …”

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– Tài hoa, nghệ sĩ:

Dù đoạn trích không có nhiều trang viết tô đậm nét tài hoa, nghệ sĩ ở người lái đò nhưng người đọc vẫn nhận thấy tư cách tài hoa nghệ sĩ trong từng động tác thuần thục của ông lái: “Ông đò” lái miết một đường chéo về phía cửa đá con thuyền “như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước vừa xuyên vừa tự động lái được lượn được…” đã cho thấy “tay lái ra hoa” của người lái đò.

+ Là con người có tâm hồn phong phú khi vượt qua thác nước, mọi việc vất vả nguy hiểm “xèo xèo tan trong trí nhớ”, họ coi việc đối mặt với sóng nước hung bạo với cái chết là chuyện thường nhật, thường tình… Khi đốt lửa trong hang đá nướng ống cơm lam “không ai bàn thêm một lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua”=>gắn bó tha thiết với bản làng quê hương.

* Tiểu kết

– Người lái đò trí dũng và tài hoa trên sông hung bạo và trữ tình. Vẻ đẹp của người lái đò- vẻ đẹp bình dị, thầm lặng nhưng đầy trí tuệ và sức mạnh, ý chí và nghị lực, tài năng và tài hoa, có khả năng chinh phục thiên nhiên, bắt nó phải phục vụ con người . Đây chính là chất “vàng mười”  của con người Tây Bắc nói riêng, người lao động Việt Nam nói chung trong thời kỳ mới.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

III. Tổng kết

1. Đặc sắc nghệ thuật

– Một ngòi bút tài hoa độc đáo, uyên bác. Nhà văn nhìn nhận và miêu tả thiên nhiên ở phương diện văn hóa, mĩ thuật, khắc họa con người ở khía cạnh tài hoa nghệ sĩ.

– Vốn sống phong phú và trí tưởng tượng dồi dào đã giúp nhà văn tạo nên những trang viết hết sức độc đáo và giá trị nghệ thuật cao.

– Sử dụng nhiều tri thức nghệ thuật hội họa, điện ảnh, địa lý, lịch sử, võ thuật, quân sự, văn học…

Đúng là một nghệ sĩ ngôn từ.

2. Nội dung

– Là bài ca thiên nhiên Tây Bắc vừa hoang sơ, hùng vĩ, vừa kiều diễm thơ mộng, con người Tây Bắc vừa cần cù dũng cảm, vừa khéo léo, tài hoa…

III. Luyện tập

GV hướng dẫn HS luyện tập

Phát biểu cảm nghĩ về một đoạn văn mà em thích nhất trong tác phẩm?

(Viết khoảng 600 từ)

Hướng dẫn học sinh tự học

– Tìm đọc trọn vẹn tùy bút “Người lái đò sông Đà”

– Tổng kết nội dung và nghệ thuật của tác phẩm theo bản đồ tư duy

Tài liệu tham khảo

SGK, SGV, chuyên đề dạy học ngữ văn 12 “Người lái đò sông Đà” (Nguyễn Tuân)- NXB GD

Dạy học theo chuẩn kiến thức ngữ văn 12 NXB Đại học sư phạm

Bồi dưỡng ngữ văn 12 NXB Đại học sư phạm

Rút kinh nghiệm

– Rút kinh nghiệm cho học sinh về các hoạt động nhóm, sự chuần bị bài ở nhà (12A1 chuẩn bị tốt hơn 12D)

– Giáo viên tự rút kinh nghiệm về cách tổ chức các phương pháp, hoạt động của học sinh.

 

Tiết 50, 51: Ai đã đặt tên cho dòng sông?

(Trích) – Tác giả: Hoàng Phủ Ngọc Tường

Mục tiêu bài học

Giúp học sinh:

Kiến thức:

– Cảm nhận được vẻ đẹp độc đáo, đa dạng của sông Hương qua ngòi bút tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường và tình yêu, niềm tự hào của tác giả đối với dòng sông quê hương, với xứ Huế thân thương và đất nước.

– Lối hành văn uyển chuyển, ngôn ngữ gợi cảm, giàu hình ảnh và nhịp điệu, nhiều so sánh, liên tưởng mới mẻ, bất ngờ, thú vị…

Kỹ năng

Đọc – hiểu thể kí văn học theo đặc trưng thể loại.

Thái độ

Bồi dưỡng, yêu mến, trân trọng tình yêu quê hương đất nước

Năng lực

– Năng lực đọc – hiểu kí theo thể loại, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực tự học, sáng tạo và giải quyết vấn đề, năng lực cảm thụ văn học nghệ thuật.

Thiết kế bài học

Chuẩn bị của Giáo viên – Học sinh

GV: Giáo án, SGV, SGK, tài liệu tham khảo, máy chiếu minh họa (hình ảnh về sông Hương ở Huế, phiếu học tập)

HS: Đọc SGK, soạn bài, đọc tài liệu tham khảo..

Tổ chức hoạt động dạy, học

Hoạt động 1: Trải nghiệm

Câu hỏi 1: Nêu những đặc trưng cơ bản của thể tùy bút? Biểu hiện trong tác phẩm  “Người lái đò sông Đà” – của Nguyễn Tuân như thế nào?

Câu hỏi 2: Khái quát nội dung và nghệ thuật của bài tùy bút “Người lái đò sông Đà” bằng bản đồ tư duy?

Hoạt động 2: Dẫn vào bài mới

Huế  là di sản văn hóa của Việt Nam đã được UNESCO công nhận. Đây là mảnh đất cố đô có nhiều đặc điểm đặc biệt về địa lý tự nhiên, văn hóa, lịch sử…Nhắc đến Huế là nhắc đến dòng sông Hương thơ mộng, khởi nguồn cảm hứng cho biết bao thi nhân mà nhà thơ Thu Bồn đã viết:

“Con sông dùng dằng con sông không chảy

Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu”

Vẻ đẹp và sức hấp dẫn của Huế lại một lần nữa được khẳng định và ngợi ca trong tác phẩm của một nhà văn xứ Huế, mang tính cách Huế đó là nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Trường với nhiều tác phẩm hay về Huế. Một trong số đó là tùy bút “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”, (GV trình chiếu về cảnh xứ Huế với dòng sông Hương để học sinh cảm nhận).

 

 

Hoạt động của GV và HS Phương pháp Kết quả đạt được
Hoạt động 3: Tìm hiểu chung

GV gọi học sinh đọc phần tiểu dẫn sgk. Nêu những nét chính về tác giả, tác phẩm? Vị trí đoạn trích HS đọc và trình bày, giáo viên nhận xét, bổ sung.

Nguyên Ngọc đánh giá Hoang Phủ Ngọc Tường là “một trong mấy nhà văn viết kí hay nhất của văn học ta hiện nay”

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hoạt động 4: Đọc hiểu văn bản

Giáo viên gọi học sinh đọc đoạn từ đầu …bát ngát tiếng gà/199”

Đọc diễn cảm, đọc chậm, tha thiết ở phần “Phải nhiều thế kỉ đi qua…l”/198

GV? Xác định thể loại và chia bố cục?

Học sinh suy nghĩ trả lời có thể bằng nhiều ý khác nhau, giáo viên định hướng.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đọc hiểu chi tiết văn bản

Giáo viên chia lớp thành 4 nhóm phân công nhiệm vụ.

Nhóm 1: Sông Hương ở thượng lưu

Nhóm 2: Sông Hương ở ngoại vi thành phố

Nhóm 3 và nhóm 4: Sông Hương giữa lòng thành phố

(các nhóm làm nhiệm vụ, nhận xét, đặt câu hỏi cho các nhóm bạn)

GV đặt câu hỏi cho từng nhóm

Nhóm 1: Nhà văn đã miêu tả sông Hương ở thượng lưu như thế nào?

(gọi sông Hương bằng tên gọi nào? Ví nó với ai?tác giả dùng những biện pháp nghệ thuật nào )

(gọi sông Hương bằng tên gọi nào?ví nó với ai?tác giả dùng những biện pháp nghệ thuật nào để làm nổi bật vẻ đẹp và đặc tính của con sông?)

HS thảo luận, trả lời

GV nhận xét.

Các nhóm khác bổ sung

 

 

 

 

GV dẫn dắt và nêu câu hỏi: Nhà văn đã hình dung về sông Hương như thế nào khi nó còn ở “giữa Cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại” Từ đó hãy phát hiện điều thú vị trong cảm nhận của Hoàng Phủ Ngọc Trường về hành trình của sông Hương?

Nhóm 2: làm việc, trả lời câu hỏi. GV gợi mở: Vẻ đẹp cũng như hành trình đến với người tình đích thực của “người gái đẹp” Sông Hương được khắc họa như thế nào?

(GV lưu ý nghệ thuật đặc sắc của tác giả, hành văn, biện pháp tu từ..,.)

GV nhận xét, bổ sung.

(nghệ thuật: nhân cách hóa, so sánh, ngôn ngữ uyển chuyển, đa dạng, giàu hình ảnh…)

GV định hướng. Đã có một cảm nhận đầy chất thơ về sông Hương nhưng Hoàng Phủ Ngọc Tường còn thấy ở dòng sông này một vẻ đẹp khác nữa? Theo em đó là vẻ đẹp gì?

GV gợi ý: So với trước khi vào thành phố, Sông Hương đã có thêm những vẻ đẹp mới, độc đáo và hiếm thấy ở các dòng sông khác. Đó là những vẻ đẹp nào?

 

 

 

 

 

Nhóm 3,4 thảo luận, đại diện trả lời

GV nhận xét, bổ sung.

GV diễn giảng: Khi rời khỏi kinh thành Sông Hương chếch về hướng chính bắc. Do đặc điểm địa lý (hầu hết con sông đều chảy về hướng đông đổ ra biển)-> Sông Hương phải chuyển dòng sang hướng đông và sẽ quay lại qua một góc của thành phố Huế. Đó là đặc điểm địa lý tự nhiên của dòng sông

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Gv hướng dẫn học sinh tiểu kết. Hãy lập sơ đồ tóm lược lại những vẻ đẹp đặc trưng, độc đáo của Hương giang trên hành trình từ thượng lưu -> rời thành phố.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– Giáo viên gợi mở: Trong lịch sử và trong đời thường, Sông Hương đã hiện lên với những vẻ đẹp nào đáng trân trọng? Vì sao?

HS thảo luận, trả lời giáo viên nhận xét, bổ sung.

Sông Hương là một nhân chứng của lịch sử, trải qua các cuộc khởi nghĩa của dân tộc Việt Nam

Giáo viên diễn giảng: Điều làm nên vẻ đẹp đáng trân trọng và đáng mến của con sông là khi nghe lời kêu gọi của Tổ quốc “nó biết cách tự hiến đời mình làm một chiến công “nhưng khi” trở về cuộc sống bình thường Sông Hương tự nguyện “làm một người con gái dịu dàng của đất nước”…

GV nêu vấn đề: Vì sao sông Hương lại có thể trở thành dòng sông thi ca, là nguồn cảm hứng bất tận cho người nghệ sĩ?

Học sinh thảo luận, giáo viên nhận xét.

 

 

 

GV chuyển ý: Có một nhà thơ từ Hà Nội đến đây, tóc bạc trắng, lặng ngắm dòng sông, ném mẩu thuốc lá xuống chân cầu hỏi với trời với đất một câu hỏi thật bâng khuâng:

– Ai đã đặt tên cho dòng sông?

Em hãy lí giải điều này?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hoạt động 5: Tổng kết

GV Qua bài kí hãy nêu giá trị nội dung?

 

 

 

 

 

 

 

 

GV Về phương diện nghệ thuật những yếu tố nào đã làm nên vẻ đẹp và sức hấp dẫn của bài kí?

Học sinh thảo luận, trả lời.

 

 

 

 

 

– Nêu vấn đề

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đối thoại, nêu vấn đề, thảo luận nhóm

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tiết 2

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bản đồ tư duy

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phát vấn

I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

– Hoàng Phủ Ngọc Tường gắn bó chặt chẽ với xứ Huế và có vốn hiểu biết sâu rộng trên nhiều lĩnh vực nhất là lịch sử, địa lý, văn hóa Huế, là nhà văn chuyên viết về thể loại bút kí.

– Nét  đặc sắc trong phong cách nghệ thuật của Hoàng Phủ Ngọc Tường là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và trữ tình với những liên tưởng mạnh mẽ và một lối hành văn mê đắm tài hoa.

2. Hoàn cảnh sáng tác

Ai đã đặt tên cho dòng sông? Là bài kí xuất sắc được viết tại Huế ngày 4/1/1981 sau đó được in trong tập sách cùng tên.

3. Vị trí đoạn trích

Bài bút kí có 3 phần, đoạn trích học là phần thứ nhất.

II. Đọc – hiểu văn bản

1. Đọc

2. Thể loại và bố cục

– Thể loại: Bút kí (tùy bút) nghiêng về trữ tình.

– Bố cục: Chia làm 2 phần.

+ Phần 1: Từ đầu -> quê hương xứ sở

Hành trình của Hương giang

Sông Hương ở thượng lưu

“Trong những dòng sông…chân núi kim phụng

Sông Hương ở ngoại vi thành phố

“Phải nhiều thế kỷ…tiếng gà”

Sông Hương giữa lòng thành phố

“Từ đây…quê hương xứ sở”

+ Phần 2 (còn lại)

Sông Hương dòng sông của lịch sử và thi ca

Sông Hương với lịch sử dân tộc.

“Hiển nhiên… một lời thề”

Sông Hương với cuộc đời và thi ca

“Sông Hương là vậy…hết”

3. Đọc hiểu chi tiết văn bản

a. Hành trình của Hương giang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– Sông Hương ở thượng lưu:

+ Sông Hương được ví như “bản trường ca của rừng già”

-> vẻ đẹp của một sức sống mãnh liệt vừa hùng tráng vừa trữ tình.

+ Sông Hương hình dung như “ cô gái Digan phóng khoáng và man dại”

-> Vẻ đẹp hoang dại nhưng cũng rất tình tứ của con sông.

+ Sông Hương được nhân hóa như “người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở”->Sông Hương không chỉ đẹp mà còn là một khởi nguồn sự bắt đầu của không gian văn hóa

=>  Sông Hương ở thượng lưu trát lên vẻ đẹp của một sức sống mãnh liệt, hoang dại, đầy cá tính.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– Sông Hương ở ngoại vi thành phố Huế

+ Sông Hương giống như “người gái đẹp nằm ngủ mơ màng” -> lãng mạn, nhuốm màu cổ tích…

 

 

+ Dưới ngòi bút tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường, sông Hương như người gái đẹp bừng tỉnh sau một giấc ngủ dài “ Sông Hương chuyển dòng…” hành trình đến với người tình mong đợi của “người gái đẹp” khá gian truân qua Hòn Chén, Ngọc Trản, Nguyệt Biều, Lương Quán. Mỗi bước đi của sông Hương gắn với những địa danh khác nhau của xứ Huế, sông Hương như người con gái đẹp, gợi cảm “ôm lấy chân đồi thiên Mụ” “ xuôi dần về Huế”; sông Hướng biết tự làm mới mình, trang điểm cho mình đẹp hơn…

+ Đó là “vẻ đẹp trầm mặc” “như triết lí, như cổ thi”. Con sông hiền hòa ở ngoại vi thành phố Huế như đang nép mình bên “giấc ngủ nghìn năm của những vua chúa” được phong kín trong lòng “những dòng sông u tịch”

=> Dòng sông hay chính là dòng chảy của lịch sử vẫn bền bỉ chảy qua năm tháng và đang vọng về trong ngày hôm nay.

– Sông Hương giữa lòng thành phố Huế.

+ Sông Hương “vui tươi hẳn lên”

“uốn một cánh cung rất nhẹ…”

“dòng sông mềm hẳn đi như một tiếng vâng không nói ra của tình yêu”

+ Sông Hương “điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế”-> lưu tốc của sông Hương chảy chậm, tác giả lí giải là do đặc điểm địa lí, so sánh với các dòng sông trên thế giới=>sông Hương chảy chậm vì nó quá yêu thành phố của mình, nó muốn được ngắm nhìn nhiều hơn trước khi phải chia xa.

+ Sông Hương gắn liền với nền âm nhạc cổ điển Huế, tác giả gọi Sông Hương là “người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya”

+ Sông Hương là “người tình dịu dàng và chung thủy”, trước khi rời khỏi thành phố, nó còn quay trở lại ngắm nhìn thành phố một lần nữa, nhà văn hình dung sông Hương như nàng Kiều quay lại tìm Kim Trọng trong đêm tình tự để nói một lời trước khi đi xa.

* Tiểu kết

 

→ Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tiếp cận và miêu tả dòng sông từ nhiều không gian, thời gian khác nhau. Ở mỗi góc độ nhà văn đều thể hiện một cảm nghĩ sâu sắc và mới mẻ về con sông biểu tượng của Huế => Tình cảm yêu mến, gắn bó thiết tha, một niềm tự hào và thái độ trân trọng của nhà văn đối với vẻ đẹp của dòng sông quê hương .

b. Dòng sông của lịch sử cuộc đời và thi ca.

– Sông Hương trong mối quan hệ với lịch sử dân tộc và cuộc đời.

+ Trong lịch sử sông Hương mang vẻ đẹp của một bản hùng ca ghi dấu bao chiến công oanh liệt của dân tộc-> Dòng sông biên thùy thời Hùng Vương – thế kỉ XV- dòng viên châu của nước Đại Việt. Thế kỉ XVIII gắn với chiến công anh hùng Nguyễn Huệ. Thế kỉ XIX với các cuộc khởi nghĩa. Thế kỉ XX với cách mạng tháng 8 => có mặt trong cuộc kháng chiến chống Mĩ ác liệt.

+ Trong cuộc sống đời thường Sông Hương mang vẻ đẹp giản dị của một người con gái dịu dàng, thủy chung với tà áo tím Huế rất dịu dàng, thấp thoáng ẩn hiện tự nhiên…

 

 

 

 

 

– Vì vẻ đẹp độc đáo và đa dạng của sông Hương vì con sông không bao giờ tự lặp lại mình nên nó luôn có những vẻ đẹp mới -> khởi nguồn cảm hứng mới cho người nghệ sĩ. Từ câu hò Đập Đá đến thơ Tản Đà, Cao Bá Quát, Bà huyện Thanh Quan, Tố Hữu.

=> Nhà văn đã chọn cách trả lời cho câu hỏi ấy thật ấn tượng, đậm chất trữ tình “Tôi thích nhất một huyền thoại kể rằng, vì yêu quý con sông xinh đẹp của quê hương nhân dân hai bờ sông Hương đã nấu nước của trăm loài hoa đổ xuống dòng sông để làn nước thơm tho mãi mãi “Mượn huyền thoại này giải thích cho câu hỏi “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” phải chăng nhà văn muốn khằng định hai phẩm chất cao quý của sông Hương cũng là hai vẻ đẹp còn mãi với thời gian của con sông này: Cái đẹp vĩnh hằng và danh thơm muôn thuở.

III. Tổng kết

1. Nội dung: Bài kí nói chung và đoạn văn nói riêng là kết tinh và tổng hòa đẹp đẽ của một tình yêu say đắm đối với dòng sông với quê hương xứ sở và tài năng của một cây bút giàu trí tuệ, am hiểu sâu rộng về văn hóa, lịch sử, địa lí và văn chương cùng một sức liên tưởng, tưởng tượng phong phú độc đáo.

2. Nghệ thuật

– Bố cục phóng khoáng, khả năng liên tưởng phong phú.

– Một cách viết tài hoa uyên bác

– Ngôn ngữ giàu có sinh động – Văn phong vừa giàu chất triết lí vừa giàu chất thơ.

– Các biện pháp nghệ thuật: ẩn dụ, so sánh, nhân hóa, liên tưởng bất ngờ thú vị…

III. Luyện tập

Câu hỏi: Qua tìm hiểu đoạn trích “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” em có thể rút ra bài học gì trong việc phân tích tác phẩm kí?

HS trả lời:

+ Dựa trên hiện thực khác quan tôn trọng sự thật nhưng các tác phẩm kí văn học lại thể hiện nhiều hơn cảm nghĩ chủ quan của người viết với đối tượng được phản ánh.

+ Cách nhìn cách thể hiện, cách cảm nhận về  đối tượng và khuynh hướng cảm nghĩ của tác giả.

+ Tiếp cận và đọc hiểu một bài bút kí cần chú ý: Xác định đối tượng được phản ánh – phân tích những cảm nhận phong phú, độc đáo của tác giả về đối tượng đồng thời khám phá giọng điệu trữ tình và sự tài hoa của người viết.

Hướng dẫn học sinh tự học

– Tìm đọc trọn vẹn tác phẩm.

– Sưu tầm những câu thơ, bài thơ, ca khúc viết về sông Hương

Tài liệu tham khảo.

SGK, SGV, Thiết kế bài giảng Ngữ văn 12 tập 1- NXB GD – Nguyễn Văn Đường chủ biên.

Bồi dưỡng Ngữ văn 12 NXB Đại học sư phạm – Đỗ Kim Hảo

Chuyên đề dạy học Ngữ văn 12 Ai đã đặt tên cho dòng sông? NXB Giáo dục Lê Thị Hường chủ biên.

Rút kinh nghiệm

– Các em có chuẩn bị  bài. Sưu tầm được nhiều tranh ảnh về Sông Hương, về Huế

– Lớp 12 A1 hoạt động nhóm không tích cực

– Giáo viên rút kinh nghiệm về phương pháp dạy đọc hiểu kí theo đặc trưng thể loại.

Hiệu quả do sáng kiến đem lại

Trên thực tế khi tôi áp dụng sáng kiến này để giảng dạy tại hai lớp 12, 12A1, 12D ở trường THPT Trực Ninh có kết quả như sau:

Đối với học sinh

Khi đối chiếu kết quả đánh giá kiến thức, kĩ năng qua bài kiểm tra giữa 2 lớp 12 A1(sử dụng các phương pháp trên ) và 12D (dạy học truyền thống), tôi nhận thấy rõ hiệu quả của giải pháp. Lớp 12A1 có kết quả cao hơn, nhiều em viết khoa học cảm xúc hơn, tư duy nhanh nhẹn hơn và có tính tự học cao hơn. Đây cũng chính là một trong những giải pháp rèn luyện kĩ năng, phát triển năng lực của người học.

* Về kết quả của bài kiểm tra

Kết quả kiểm tra sau bài dạy thực nghiệm

Đề kiểm tra 90’

Phần 1: Chọn một đáp án đúng

Câu 1: Trong các lời đánh giá sau đây, lời nào nói đúng nhất về nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường.

  1. Một ngòi bút đậm chất sử thi và lãng mạn.
  2. Một nhà nghệ sĩ ngôn từ.
  3. Một ngòi bút tiểu thuyết đậm chất sử thi.
  4. Một cái tôi hào hoa và một tấm lòng gắn bó với cảnh sắc, con người xứ Huế.

Câu 2: Theo Hoàng Phủ Ngọc Tường đặc điểm của sông Hương là:

  1. Chảy qua nhiều vùng đất nước.
  2. “Con sông dùng dằng con sông không chảy”
  3. Con sông thuộc về một thành phố duy nhất.
  4. Dòng sông “độc bắc lưu”

Câu 3: Nhắc đến “cái nhìn thắm thiết tình người của tác giả Từ ấy Hoàng Phủ Ngọc Tường muốn đề cập đến bài thơ nào?

  1. Quê mẹ
  2. Tiếng hát sông Hương
  3. Từ ấy
  4. Trên dòng Hương Giang

Câu 4: Viết một đoạn văn ngắn khoảng 5->7 câu về dòng sông quê hương em.

Phần 2. Tự luận

Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường là hai nhà văn có phong cách nghệ thuật độc đáo và đặc biệt sở trường về thể tùy bút, bút kí. Qua hai đoạn trích “Người lái đò sông Đà”(Nguyễn Tuân) và “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”(Hoàng Phủ Ngọc Tường). Anh(chị) hãy so sánh sự giống nhau và khác nhau trong phong cách nghệ thuật của hai nhà văn.

Kết quả bài kiểm tra.

Lớp Sĩ số Điểm 9 -10 Điểm 7-8 Điểm 5 – 6 Điểm <5
12A1 46 7 25 13 0
12D 37 3 27 25 2

Thông qua bài kiểm tra đánh giá năng lực của học sinh bằng việc áp dụng một số phương pháp giảng dạy tác phẩm kí hiện đại Việt Nam đã cho thấy rõ những phương pháp này có hiệu quả hơn, kết quả tốt hơn và đặc biệt gây được sự hứng thú cho học sinh, khiến giờ dạy Đọc hiểu kí vốn khô khan thì bây giờ trở nên có cảm xúc hơn, học sinh say sưa học hơn. Giờ học Ngữ văn không còn là chán nản và áp lực đối với các em vốn là dân tự nhiên Toán lý hoá nữa. Tiết học Ngữ văn học sinh không phải cắm cúi ghi chép hay học thuộc lòng những bài văn mẫu nữa, mà với phương pháp dạy học này học sinh được cuốn hút vào các hoạt động học tập do thầy cô giáo tổ chức, thông qua đó các em khám phá những điều mình chưa rõ, các em quan sát, thảo luận, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức mới và làm chủ kiến thức của mình.

  1. Đối với giáo viên

Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ các phương pháp dạy học truyền thống quen thuộc. Tuy nhiên các phương pháp dạy học truyền thống có những hạn chế tất yếu. Vì vậy trước yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá hiện nay, mỗi thầy cô giáo phải nghiên cứu tìm tồi phương pháp kỹ thuật tối ưu nhất cho phù hợp với từng bài dạy ở trên lớp. Sáng kiến “ Một số phương pháp cho việc dạy tác phẩm kí hiện đại Việt Nam” (trong chương trình Ngữ văn 12 cơ bản) đã đem lại hiệu quả cho bản thân tôi. Sau tiết dạy thực nghiệm “Người lái đò sông Đà” (Nguyễn Tuân) và “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” (Hoàng Phủ Ngọc Tường) tôi nhận thấy giờ học văn không còn là sự truyền đạt kiến thức thụ động một chiều với những lời giảng, lời bình miên man của thầy cô giáo nữa, ngược lại học sinh được thực hiện các hoạt động học để chủ động khám phá tri thức. Thầy cô giáo đưa ra các phương pháp, giải pháp để dẫn dắt học sinh đến với tác phẩm văn học một cách tự nhiên, đó cũng là cách thầy cô rèn luyện kĩ năng làm việc độc lập và theo nhóm, nâng cao năng lực giao tiếp, phát huy khả năng sáng tạo tư duy cho học sinh.

  1. Khả năng áp dụng vào thực tế của sáng kiến.

– Sáng kiến “Một số phương pháp cho việc dạy tác phẩm kí hiện đại Việt Nam”(trong chương trình Ngữ văn 12 ban cơ bản) bắt nguồn từ yêu cầu thực tế và hoàn toàn có khả năng áp dụng vào thực tiễn giảng dạy hiện nay. Cụ thể:

– Áp dụng vào giảng dạy chủ đề kí hiện đại Việt Nam (chương trình ngữ văn 12 ban cơ bản). Sử dụng các phương pháp: Dạy học theo đặc trưng thể loại; Đọc – hiểu văn bản; Bản đồ tư duy chắc chắn sẽ tạo được hứng thú cho học sinh, học sinh không cần phải nhớ những trang sách dài dầy kín chữ nữa mà với Bản đồ tư duy sẽ giúp các em hệ thống hóa được kiến thức cơ bản nhất, một cách khoa học nhất.

– Áp dụng vào giảng dạy các chủ đề khác: Như Truyện hiện đại Việt Nam (chương trình lớp 12 ban cơ bản) với ba phương pháp trên chắc chắn các em sẽ thích học giờ văn hơn vì các em thể hiện rõ được năng lực tư duy và khả năng sáng tạo của mình.

– Ngoài ra, các phương pháp dạy học trên có thể xem xét áp dụng linh hoạt vào các giờ dạy học môn văn nói riêng và các môn khác nói chung để giờ học trong nhà trường có hiệu quả cao nhất.

  1. Đề xuất, kiến nghị

– Trong quá trình thực hiện các phương pháp dạy học trên tôi thấy cần đề xuất với cấp trên một số vấn đề như sau:

– Trang bị thêm về cơ sở vật chất (các lớp cần được lắp máy chiếu, máy H) để việc áp dụng những phương pháp dạy học mới đạt hiệu quả hơn.

– Đổi mới về hình thức kiểm tra đánh giá năng lực của học sinh, tránh kiểm tra hình thức học thuộc lòng, ghi chép dài, không phát huy được năng lực sáng tạo, năng lực cảm thụ, năng lực tư duy của học sinh.

– Đối với học sinh lớp 12 nội dung ôn tập thi THPT Quốc gia cần mở rộng kiến thức hơn, bao quát hơn, tránh tình trạng học tủ, học lệch.

– Không có một phương pháp dạy học toàn năng phù hợp với mọi mục tiêu và nội dung học. Mỗi phương pháp và hình thức dạy học có những ưu điểm và nhược điểm riêng. Vì vậy việc phối hợp sử dụng các phương pháp dạy học cần phải linh động cho phù hợp với từng tiết học, tránh áp đặt dập khuôn. Tuy có đổi mới nhưng mỗi thầy cô giáo hãy nhớ rằng giờ học văn dù có khoa học đến mấy nhưng nếu không có cảm xúc, thẩm mỹ, sự đồng cảm, sự thăng hoa, tính giáo dục thì không còn là giờ Văn nữa. Tránh tình trạng chỉ đổi mới về hình thức mà chất lượng giờ học không thay đổi, thậm chí giờ dạy trở nên lúng túng, rối rắm và tẻ nhạt hơn.

Kết luận

– Một trong những đòi hỏi thiết thực nhất của chất lượng giáo dục đối với môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông hiện nay là nâng cao khả năng chủ động, tiếp thu tri thức và khả năng vận dụng tri thức vào đời sống. Bước đầu thử nghiệm những phương pháp dạy học này đối với thể loại kí hiện đại Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 12 ban cơ bản có những kết quả rất khả quan.

– Trong điều kiện xã hội đang phát triển như hiện nay, việc rèn luyện kỹ năng làm việc độc lập và theo nhóm phát huy khả năng sáng tạo tư duy sẽ có tác động rất lớn tới việc phát triển nâng cao năng lực giao tiếp, năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh.

– Tùy bút là thể văn xuôi, tự sự, trữ tình, phản ánh chân thực và khách quan cuộc sống. Trên cơ sở đó tôi xây dựng một vài phương pháp nhằm phát huy tối đa những nét độc đáo của thể tùy bút vào việc rèn các kỹ năng cần thiết cho học sinh và tạo được hứng thú niềm say mê yêu thích môn Văn của học sinh.

Cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền.

Trên đây là sáng kiến tôi đã áp dụng trong thực tế tại Trường THPT Trực Ninh.

Tôi xin cam kết không sao chép lại sáng kiến của cá nhân, đơn vị nào.

TƯ LIỆU THAM KHẢO

  1. Tài liệu tập huấn: Dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh môn Ngữ văn cấp THPT (vụ giáo dục trung học, Hà Nội -2014).
  2. Tài liệu tập huấn: Xây dựng các chuyên đề dạy học và kiểm tra đánh giá (2015)
  3. Một số phương pháp kĩ thuật dạy học tích cực (www. sch.vn)
  4. Đặc trưng của dạy học tích cực (www.giaoduc .edu.vn)
  5. SKKN: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu văn bản bút kí trong trường THPT – Tài liệu text -123.org.
  6. SGK Ngữ văn 12 Tập 1(NXB Giáo dục 2009)
  7. SGV Ngữ văn 12 Tập 1(NXB Giáo dục 2009)
  8. Chuyên đề dạy – học Ngữ văn 12. Ai đã đặt tên cho dòng sông?

(Hoàng Phủ Ngọc Tường)

– Lê Thị Hường chủ biên(NXB GD 2008)

  1. Chuyên đề dạy – học Ngữ văn 12: Người lái đò Sông Đà (Nguyễn Tuân)

Hoàng Dục chủ biên (NXB Giáo dục 2008)

  1. Dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ văn lớp 12

(Phạm Trọng Luân – chủ biên – NXB ĐH Sư phạm 2010)

  1. Bồi dưỡng Ngữ văn 12(Đỗ Kim Hồi chủ biên) – NXB ĐH Sư phạm – 2010
  2. Những điều cần biết kì thi THPT QG Ngữ văn

(Phan Danh Hiếu) – NXB ĐH Quốc Gia Hà Nội

  1. Thiết kế bài giàng Ngữ văn 12 Tập 1(Nguyễn Văn Đường chủ biên) NXB Hà Nội 2009.
  2. Thực hành làm văn lớp 12 (Lê A chủ biên) NXB Giáo dục Việt Nam.

Hình ảnh tư liệu về sông Đà:

“Lại hình dung một thế kỷ không xa

Thủy điện sẽ nuốt tươi sức phóng túng sông Đà

Đà gửi thần linh vào tùy bút

Văn như thuyền độc mộc, thác thăng hoa”

(Nguyễn Vũ Tiềm)

Hình ảnh tư liệu về sông Hương

(Tài liệu sưu tầm),

Xem thêm : Kho sáng kiến kinh nghiệm môn Văn

Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về Người lái đò sông Đà

Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về Ai đã đặt tên cho dòng sông

Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về các tác phẩm lớp 12 ( phần 2 )

Tổng hợp những Kết bài Nghị luận văn học Ngữ văn 12 hay nhất :  Tây Tiến, Đất nước, Vợ nhặt, Vợ chồng A Phủ, Rừng xà nu, Chiếc thuyền ngoài xa, Việt Bắc, Sóng, Người lái đò sông Đà, Ai đã đặt tên cho dòng sông

Tài liệu bài luyện tập rèn kĩ năng viết mở bài, kết bài trong văn nghị luận

1, Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Tây Tiến– Quang Dũng

  1. Từ sự kết hợp một cách hài hoà giữa cái nhìn hiện thực với cảm hứng lãng mạn, Quang Dũng đã dựng lên bức chân dung, một bức tượng đài người lính cách mạng vừa chân thực vừa có sức khái quát, tiêu biểu cho vẻ đẹp sức mạnh dân tộc ta trong thời đại mới, thời đại cả dân tộc đứng lên làm cuộc kháng chiến vệ quốc thần kỳ chống thực dân Pháp. Đó là bức tượng đài được kết tinh từ âm hưởng bi tráng của cuộc kháng chiến ấy. Đó là bức tượng đài được khắc tạc bằng cả tình yêu của Quang Dũng đối với những người đồng đội, đối với đất nước của mình. Vì thế từ Tây Tiến, từ bức tượng đài đã vút lên khúc hát ngợi ca của nhà thơ cũng như của cả đất nước về những người con anh hùng ấy.
  2. Quang Dũng vào “làng” thơ cách mạng với bài Tây Tiến . Như có mối duyên gì ràng buộc, bài thơ ấy gắn bó với người làm ra nó đến mức cứ nói đến Quang Dũng là người ta nhớ đến bài thơ Tây Tiến và ngược lại.Có lẽ bởi từ sự kết hợp một cách hài hoà giữa cái nhìn hiện thực với cảm hứng lãng mạn, Quang Dũng đã dựng lên bức chân dung, một bức tượng đài người lính cách mạng vừa chân thực vừa có sức khái quát, tiêu biểu cho vẻ đẹp sức mạnh dân tộc ta trong thời đại mới, thời đại cả dân tộc đứng lên làm cuộc kháng chiến vệ quốc thần kỳ chống thực dân Pháp.
  3. Đọc xong những ý thơ mà tôi có cảm giác vẻ đẹp của thiên nhiên, con người miền Tây còn chập chờn, mien man đâu đó. Bằng tình cảm sâu đậm của mình với mảnh đất này, Quang Dũng đã tạo nên mối tơ tình đồng điệu, gắn bó giữa độc giả với nhà thơ, giữa độc giả với thiên nhiên, con người miền Tây trong những năm tháng kháng chiến gian nan. Quả là “ Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy / Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”.

2. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Đất Nước- Nguyễn Khoa Điềm:

Những vần thơ rất đẹp trong Đất Nướcđã vượt qua thử thách của thời gian, tiếp tục toả sáng, giúp thế hệ học sinh hôm nay hiểu hơn về thế hệ cha ông trong những ngày tháng hào hùng nhất của dân tộc. Trong thời đại mới, những giá trị của ngày hôm qua góp phần khơidậy lòng tự hào và ý thức trách nhiệm, tình cảm cho mỗi con người trong khát vọng đưa Đất Nước đi xa đến những tháng ngày mơ mộng

3. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Việt Bắc Tố Hữu

  1. Như vậy nhà thơ Tố Hữu đã thể hiện những tâm sự của mình nói riêng và của tất cả những chiến sĩ và nhân dân Việt Bắc nói chung. Mười lăm năm kháng chiến với biết bao nhiêu kỉ niệm và giờ đây khi phải xa nhau thấy lòng mình thật muốn vỡ òa trong nức nở. Chân không muốn rời xa. Qua đây ta thấy được tình nghĩa đoàn kết keo sơn của con người Việt Nam mà cụthể đó là tình quân dân. Để đạt được những thắng lợi trên mặt trận ấy thì không thể nào quên ơn những người nhân dân Việt Bắc được
  2. Trong câu chuyện với một nhà nghiên cứu văn học người Pháp, Tố Hữu tâm sự rằng: “Mình phải lòng đất nước và nhân dân của mình. Nói về đất nước, nói về nhân dân như nói về người mình yêu”. Phải chăng, tâm sự đó là những lời mà Tố Hữu nói về Việt Bắc, nói về những vần thơ chan chứa tình quân dân gắn bó, tình yêu nước thiết tha. Những tình cảm thiêng liêng ấy cứ vấn vương mãi trong lòng người đọc.

4. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Sóng- Xuân Quỳnh

  1. Sóng – bài thơ thành công trong phương thức biểu hiện cảm xúc của thi sĩ. Kết cấu song trùng, sự tương xứng giữa hai hình tượng Sóng và Em là sáng tạo nghệ thuật đặc sắc, giàu tính thẩm mĩ của Xuân Quỳnh. Với sự sáng tạo ấy, Xuân Quỳnh đã nói lên một cách nồng thắm mà không kém phần tế nhị những khát khao rạo rực của trái tim yêu. Đó cũng là những khát khao đời thường, dung dị, cao quý. Tiếng nói ấy chân thành, tự nhiên mà sâu sắc được diễn tả qua hình tượng thơ gợi cảm, đa nghĩa. Xuân Quỳnh thực sự là thi sĩ của tình yêu, thi sĩ của những rung động nữ tính trong trái tim.
  2. Bài thơ Sóng là bài thơ giàu giá trị nội dung và nghệ thuật. Thành công của bài thơ là nhờ vào thủ pháp nghệ thuật nhân hóa, ẩn dụ, so sánh, đối lập… nhất là thể thơ ngũ ngôn giàu nhịp điệu. Nhịp điệu của sóng, nhịp điệu của tâm hồn. Tất cả đã làm hiện lên vẻ đẹp rất Xuân Quỳnh giàu trắc ẩn suy tư và khát vọng trong tình yêu. Đọc xong bài thơ “Sóng” ta càng ngưỡng mộ hơn những người phụ nữ Việt Nam, những con người luôn thuỷ chung, luôn sống hết mình vì một tình yêu. Xuân Quỳnh xứng đáng là một nhà thơ nữ của tình yêu lứa đôi, chị đã làm phong phú hơn cho nền thơ ca nước nhà

5. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài  Ai đã đặt tên cho dòng sông– Hoàng Phủ Ngọc Tường

Hoàng Phủ Ngọc Tường đã dẫn người đọc vào cuộc hành trình khám phá nét đẹp của thiên nhiên Huế. Lần lượt theo dòng chảy của Hương giang, tôi bắt gặp khung cảnh thiên nhiên Huế lúc nguyên sơ, trong trẻo, lúc mượt mà khi kì ảo, lúc dịu dàng say đắm khi thâm trầm trang nghiêm. Sông Hương tôn lên vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên Huế, hòa nhập với không khí của văn hóa Huế. Tất cả đều sống động qua tình yêu tha thiết của Hoàng Phủ Ngọc Tường với con sông này. Qua hình tượng sông Hương tôi còn cảm nhận vẻ đẹp cái tôi Hoàng Phủ Ngọc Tường: một cái tôi trí tuệ uyên bác qua những tri thức phong phú với nhiều lĩnh vực, một cái tôi tài hoa phóng túng với những liên tưởng bất ngờ. Và trên hết là một cái tôi sâu nặng tình yêu và tự hào với Huế – quê hương của mình.Tất cả làm nên sức sống của thiên kí này.

6. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Người lái đò sông Đà– Nguyễn Tuân

Phong cách Nguyễn Tuân độc đáo và phong phú.Ở tùy bút “Người lái đò sông Đà” chúng ta thấy phong cách giá trị của ông thể hiện rõ nhất là sự nhọn sắc của giác quan nghệ sĩ đi đôi với một kho chữ nghĩa giàu có và đầy màu sắc, lối văn rất mực tài hoa. Dòng sông Đà “hung bạo và trữ tình” cùng hình tượng người lái đò tài hoa chảy mãi trong dòng văn học nước nhà như niềm yêu mến và tự hào về con người, cỏ cây sông núi quê hương của nhà văn Nguyễn Tuân

7. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Vợ chồng A Phủ– Tô Hoài

Gấp lại những trang sách mà dư âm về nhân vật Mị, về cô gái Mèo với sức sống mãnh liệt trong đêm tình mùa xuân, về số phận đáng thương của người dân dưới xã hội phong kiến đương thời vẫn còn in đậm trong tâm hồn tôi. Mị hay Vợ chồng A Phủ mãi là những rung động sâu sắc mà Tô Hoài để lại nơi người đọc.

8. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Vợ nhặt– Kim Lân

  1. “Cái đẹp cứu vớt con người” (Đôxtôiepki). Vâng, “vợ nhặt” củanhà văn Kim Lân thể hiện rõ sức mạnh kì diệu ấy. Ánh sáng của tình người, lòng tin yêu vào cuộc sống là con nguồn mạch giúp Kim Lân hoàn thành tác phẩm. Ông đã đóng góp cho văn học Việt Nam nói chung, về đề tài nạn đói nói riêng một quan niệm mới về lòng người và tình người. Đọc xong thiên truyện, dấu nhấn mạnh mẽ nhất trong tâm hồn bạn đọc chính là ở điểm sáng tuyệt vời ấy.
  1. Bằng ngòi bút miêu tả chân thực, sinh động, cách khắc họa tâm lý nhân vật sắc sảo,độc đáo và cốt truyện đầy bất ngờ Kim Lân đã vẽ lại trước mắt người đọc khung cảnh đói nghèo tràn lan của xã hội Việt Nam những năm 1945. Qua đó tác giả cũng nhấn mạnh tình yêu thương giữa người với người luôn bất diệt.

 

9. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Rừng xà nu– Nguyễn Trung Thành

Rừng xà nu là truyện của một người nhưng qua đó ta thấy được số phận của cả một dân tộc . Đó là bức tranh hoành tráng , hoành tráng trong hình ảnh, với vóc dáng vạm vỡ của cao cả của rừng núi và của con người và hoành tráng trong âm hưởng với lời văn đầy nhịp điệu, khi vang động, khi tha thiết trang nghiêm .

10. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Chiếc thuyền ngoài xa– Nguyễn Minh Châu

Qua truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu đã nêu lên bài học về cái nhìn đa diện, cái nhìn khám phá trong sáng tạo nghệ thuật đối với các nghệ sĩ chân chính. Từ tình huống truyện có ý nghĩa khám phá, phát hiện về sự thật đời sống và qua sự thay đổi nhận thức của Phùng, của Đẩu, tác giả đã khẳng định mối quan hệ giữa nghệ thuật và hiện thực. Theo ông, bổn phận của người nghệ sĩ là phải phát hiện ra bản chất của cuộc đời. Cái Đẹp, cái Thiện trước hết phải là sự chân thực, Cuộc sống vốn phức tạp, chúng ta không thể đơn giản, sơ lược khi nhìn nhận con người và cuộc sống mà cần có cái nhìn tỉnh táo, sâu sắc cùng với sự tìm tòi, phát hiện để hiểu đúng bản chất của nó.

Tài liệu sưu tầm và tổng hợp

Xem thêm :

  1. Tổng hợp những kết bài hay về các tác phẩm lớp 12 ( phần 1 )
  2. Tuyển tập những kết bài mẫu  về các tác phẩm lớp 11 
  3. Cách viết phần kết bài trong văn nghị luận
  4. Tuyển tập những mở bài hay nhất về các tác phẩm lớp 12

Bộ đề thi thử THPT Quốc gia môn văn, đề số 87

Đề thi thử nghiệm, kì thi THPT Quốc gia môn văn. Bộ đề thi thử kì thi THPT Quốc gia môn văn có đáp án, tổng hợp tài liệu ôn thi dành cho học sinh lớp 12

Thời gian làm bài 120p

I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4:

Một ngày tù nghìn thu ở ngoài
Lời nói người xưa đâu có sai
Sống khác loài người vừa bốn tháng
Tiều tụy còn hơn mười năm trời.
Bởi vì:
Bốn tháng cơm không no
Bốn tháng đêm thiếu ngủ
Bốn tháng áo không thay
Bốn tháng không giặt giũ.
Cho nên:
Răng rụng mất một chiếc
Tóc bạc thêm mấy phần
Gầy đen như quỷ đói
Ghẻ lở mọc đầy thân.
May mà:
Kiên trì và nhẫn nại
Không chịu lùi một phân
Vật chất tuy đau khổ
Không nao núng tinh thần”.
(“Bốn tháng rồi”, Hồ Chí minh)

Câu 1. Xác định các phương thức biểu đạt của văn bản.
Câu 2. Nêu nội dung chính của bài thơ.
Câu 3. Chỉ ra 01 biện pháp nghệ thuật có trong bài thơ và phân tích hiệu quả nghệ thuật.
Câu 4:

“May mà:
Kiên trì và nhẫn nại
Không chịu lùi một phân
Vật chất tuy đau khổ
Không nao núng tinh thần”.

Đoạn thơ trên gợi cho Anh/Chị những suy nghĩ gì?
II. LÀM VĂN
Câu 1: Từ ý thơ phần Đọc hiểu, Anh/chị hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 200 từ) trình bày suy nghĩ về tính lạc quan trong cuộc sống.
Câu 2: Nhận xét về hình tượng người lái đò trong thiên tùy bút “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân, có ý kiến cho rằng: “Trong cuộc chiến đấu không cân sức với thiên nhiên dữ dội, hiểm độc, ông đò là vị chỉ huy trí dũng tuyệt vời”. Ý kiến khác lại cho rằng: “Trong nghệ thuật vượt thác leo ghềnh, ông đò là người nghệ sĩ có “tay lái ra hoa”. Bằng cảm nhận về hình tượng người lái đò, hãy trình bày suy nghĩ của Anh/Chị về các ý kiến trên.

HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI

I. ĐỌC HIỂU
Câu 1. Phương thức biểu cảm, miêu tả, tự sự.
Câu 2. Nội dung: Kể về khoảng thời gian 4 tháng Bác bị đày đọa về thể xác, điều kiện vật chất thiếu thốn khi ở nhà lao nhưng tinh thần của Người vẫn luôn lạc quan.
Câu 3. Biện pháp nghệ thuật liệt kê: Bốn tháng cơm không no, đêm thiếu ngủ, áo không thay, không giặt giũ.
– Tác dụng: Nhấn mạnh chế độ hà khắc ở nhà tù và và cuộc sống bị đày đọa.
(Có thể trả lời phép tu từ: So sánh, đối lập và phân tích được hiệu quả nghệ thuật)
Câu 4. Đoạn thơ gợi cho chúng ta suy nghĩ về lòng kiên trì, nhẫn nại trong cuộc sống. Nếu thiếu kiên trì, nhẫn nại thì khó mà dẫn đến thành công trong mọi việc được. Vì vậy ta hãy cố gắng học tập, phấn đấu đến mục tiêu mà mình đã đặt ra. Chúng ta hãy kiên trì nhiều hơn nữa để có thể đạt được thứ mình mong muốn và được mọi người tôn trọng.
II. LÀM VĂN
Câu 1:
(Gợi ý viết đoạn):
Có người từng nói, trước một công việc, chỉ cần có lòng lạc quan là bạn đã thành công 50%. Như vậy – sự lạc quan mang lại nhiều lợi ích. Lạc quan tức là không lo lắng thái quá, tinh thần luôn thoải mái dù khó khăn cận kề. Sự lạc quan làm tăng cơ hội thành công. Winston Churchil, trong những ngày đen tối nhất của Chiến tranh thế giới thứ hai, vẫn khẳng định với tất cả mọi người rằng nước Anh sẽ chiến thắng. Điều đó cũng có ý nghĩa là hãy hành động. Những nhà lãnh đạo tài năng có thể không phải lúc nào cũng đến được cái đích xa nhất, nhưng con mắt lạc quan của họ luôn mở ra cơ hội thắng lợi trong một số chặng của cuộc hành trình. Hãy quyết định tiếp cận mọi hoạt động với tinh thần “sẽ thành công”. Hãy cân nhắc những sự lựa chọn khác. Lúc khởi đầu, nếu anh đã có ý nghĩ “Tôi không thể làm được điều đó” thì anh sẽ chẳng tạo ra được giá trị nào hết. Bác Hồ của chúng ta luôn lạc quan một cách kiên định về tương lai cách mạng và chính điều góp phần to lớn đưa con thuyền cách mạng đến bến bờ thắng lợi. Hãy đặt mục tiêu rằng sự lạc quan của anh là không thể lay chuyển được. Cách tiếp cận này có thể được nhiều người ủng hộ, đặc biệt khi những thử thách trong việc lãnh đạo ngày càng trở nên gay gắt hơn. Hãy thường xuyên thể hiện cách tiếp cận “sẽ thành công” đối với mọi người. Đôi khi, mọi người chỉ cần nghe anh nói rằng họ có thể chiến thắng thì sự khích lệ đó sẽ giúp họ chiến thắng thực sự. Anh luôn có thể khơi dậy sự lạc quan bằng cách nói với họ: “Tôi biết là chúng ta sẽ làm hết sức mình”. Khi gặp thất bại, hãy giải thích rằng điều đó chỉ là trường hợp cá biệt, ngoài mong đợi và không kéo dài. Chẳng hạn, khi mọi người đã nản lòng, anh có thể nói: “Điều này rất hiếm khi xảy ra” chứ đừng nói: “Chúng ta sẽ thường xuyên gặp phải khó khăn này”. Hãy coi sự thất bại như một “trường hợp cá biệt” chứ không phải “trường hợp phổ biến”. Hãy nói: “Việc đó chỉ ảnh hưởng đến chúng ta trong một phạm vi nhỏ” chứ đừng nói: “Việc đó sẽ làm hỏng mọi việc khác”. Giải thích nguyên nhân vấn đề là do ngoại cảnh, dựa trên những nhân tố nằm ngoài tầm kiểm soát chứ đừng nên đổ lỗi cho yếu tố nội tại và sự thiếu năng lực cá nhân. Tránh xa những tiêu cực, hoài nghi, do dự và dễ cáu giận. Đôi lúc, cũng cần phải nỗ lực hết sức để không bị chết chìm. Nếu xung quanh anh toàn những điều tiêu cực thì sẽ chẳng thể giữ được mãi sự lạc quan. Hãy loại bỏ mọi nguồn tin mang tính tiêu cực. Hãy tránh xa những người thường xuyên kêu ca phàn nàn. Hãy đón nhận những tin tích cực để luôn có suy nghĩ tích cực. Như vậy, lạc quan đã góp phần tăng giá trị cho bản thân và xã hội!

Câu 2:
– Nguyễn Tuân là một trong những cây bút tiêu biểu của văn xuôi hiện đại. Mỗi tác phẩm của ông là một bài ca về cái đẹp của cuộc sống, của con người với tư tưởng, tình cảm gắn bó với đất nước quê hương.
– “Người lái đò Sông Đà” được coi là một trong những tác phẩm thành công xuất sắc nhất trong Tùy bút Sông Đà. Với khao khát truy tìm “chất vàng mười của tâm hồn vùng Tây Bắc – thứ vàng mười đã được thử lửa”, Nguyễn Tuân đã viết lên bài ca cuộc sống của con người và thiên nhiên Tây Bắc với nhiều nét độc sáng mới lạ. Có ý kiến cho rằng: “Trong cuộc chiến đấu không cân sức với thiên nhiên dữ dội, hiểm độc, ông đò là vị chỉ huy trí dũng tuyệt vời”. Ý kiến khác lại cho rằng: “Trong nghệ thuật vượt thác leo ghềnh, ông đò là người nghệ sĩ có “tay lái ra hoa”. Cần bình luận các ý kiến trên để có một cái nhìn đúng đắn và toàn diện về ông lái đò.
– Trong tác phẩm, nhà văn xây dựng hai nhân vật đó là con sông Đà và người lái đò trên dòng sông ấy. Đó là một dụng ý nghệ thuật cao tay của bậc tu tử tài hoa. Bức tranh thiên nhiên dữ dội, con quái vật hiểm ác, kẻ thù số một kia chỉ là phông nền để tác giả tô vẽ, ngợi ca, tôn vinh sức mạnh kì vĩ của con người. Vì thế, hình tượng người lái đò sông Đà được nhà văn xây dựng như một dũng tướng tài ba, là một nghệ sĩ lão luyện trong nghề chèo đò vượt thác.
– Vốn dĩ xuất thân từ núi rừng nên ông lái gắn bó chặt chẽ với cuộc sống nơi đây. Ông sinh ra trên bờ sông Đà, dòng sông thác lũ đó là nguồn nuôi sống cho ông ngay từ khi còn để trỏm. Cho đến cuộc sống sau này, cuộc đời ông vẫn là những hành trình leo thác, vượt sông, hình như con người và thiên nhiên gắn bó mật thiết cho nên khi đã nghỉ đò mà ông vẫn nhớ về thác lũ và trận địa đá trên sông.
– Trên dòng sông Đà, người lái đò xuôi ngược cả trăm lần. Dòng sông với ông “như một trường thiên anh hùng ca mà ông đã thuộc đến cả những cái chấm than, chấm câu và những đoạn xuống dòng”. Ông hiểu được quy luật của các dòng nước, đóng đinh vào trí nhớ của mình từng con thác, xoáy nước, luồng lành, luồng dữ, cửa sinh, cửa tử; thông minh, gan dạ, hoạt bát, tự tin như một dũng tướng trong trận đồ bát quái, đưa người và hàng vượt qua 73 con thác đến đích an toàn. Con người ấy được ví như “thứ vàng mười” nhưng lại là một tay nhà đò nghèo khổ, tay lêu nghêu như cái sào, chân lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh như kẹp lấy cái cuống lái tưởng tượng, giọng ồn ào như tiếng thác nước mặt ghềnh sông, nhỡn giới vòi vọi như lúc nào cũng mong một cái bến xa nào đó trong sương mù. Thân hình cao to và gọn quánh như chất sừng chất mun, khuôn mặt khắc khổ in hằn dấu vết của công việc đầy gian nan, nguy hiểm. Ông là một nhân vật không tên, vì ông là đại diện cho bao nhiêu con người trên đất nước Việt Nam ngày đêm âm thầm, cần mẫn trong lao động, không ngừng phải đối diện với thiên tai địch họa để giành lấy sự sống và bảo vệ quê hương đất nước. Nhờ đó mà hình tượng trở nên lớn lao, kì vĩ.
– Người lái đò là người rất mực trí dũng và bản lĩnh:
+ Để làm nổi bật phẩm chất này, Nguyễn Tuân đã có dụng ý nghệ thuật sâu xa là để cho người lái đò xuất hiện trên một hoàn cảnh đầy thử thách, khốc liệt. Nguyễn Tuân khẳng định “Ông muốn ghi cái đoạn này cái hình ảnh chiến đấu gian lao của người lái đò trên chiến trường sông Đà, trên một quãng thủy chiến ở mặt trận sông Đà”. Nhà văn đã mô tả một cách chân thật vừa trân trọng, vừa yêu thương, vừa cảm phục nhân vật ông lái đò vô cùng hiên ngang, trí dũng trong cuộc chiến đấu với những thác nước, đá sông đầy hung dữ, nguy hiểm. Cuộc vượt thác, dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân diễn ra như một cuộc thủy chiến dữ dội có nhiều hồi, nhiều đợt, mỗi đợt lại có những thử thách ác liệt khác nhau, dòng sông bày ra những thạch trận hiểm hóc khác nhau: “Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục trong lòng sông…để vồ lấy con thuyền. Đá bày ra thạch trận trên sông với những boongke chìm và pháo đài nổi, phối hợp với đá, nước thác reo hò làm thanh viện cho đá phải tiêu diệt tất cả thuyền trưởng thủy thủ ngay ở chân thác”. Kho từ vựng giàu có và vốn kiến thức văn hóa khoa học phong phú, uyên bác như quân sự, võ thuật, thể dục thể thao, điện ảnh….của Nguyễn Tuân được dịp huy động để miêu tả cuộc thủy chiến ác liệt giữa người lái đò và sóng thác sông Đà: “Sóng nước thúc gối vào bụng và hông thuyền…có lúc chúng đội cả thuyền lên…sóng thác đã đánh đến miếng đòn hiểm độc nhất”. Có lúc tưởng như ông lái đò sẽ bị con thủy quái sông Đà vô cùng hung bạo ấy ngấu nghiến nuốt chửng. Trước sức mạnh của kẻ thù số một của con người, ông lái đò vẫn không hề nao núng, trái lại vẫn bình tĩnh chủ động chiến đấu một cách dũng cảm đầy mưu trí như một vị chỉ huy tài trí tuyệt vời, điều khiển con thuyền lần lượt vượt qua các thác ghềnh như “Phá cái trận đồ bát quái của dòng sông hung bạo”…. “Dòng nước hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông Đà”. Nhưng người lái đò vẫn “Cưỡi lên thác sông Đà…đến cùng như cưỡi hổ”. Hình ảnh ông đò gợi nhớ câu chuyện Võ Tòng đả hổ trong thiên tiểu thuyết “Thủy hử” nổi tiếng của Trung Quốc. Có được cái tư thế hào hùng Võ Tòng đó, người lái đò sông Đà Việt Nam không chỉ có bản lĩnh của sức mạnh lòng dũng cảm mà còn có cả trí thông minh tuyệt vời…trong cuộc chiến đấu không cân sức với thiên nhiên dữ dội, hiểm độc của con
– Người lái đò tài hoa nghệ sĩ:
+ Ông lái đò còn là người rất mực tài hoa, có phong thái ung dung, pha chút nghệ sĩ. Sóng, thác sông Đà rất khắc nghiệt, chỉ cần người lái đò một phút thiếu chính xác, khinh suất, nhỡ tay, hoa mắt là có thể phải trả giá bằng cả chính sinh mạng của mình. Nhưng sóng, thác sông Đà dù có hung dữ đến đâu, cũng bị khuất phục trước người lái đò trí dũng đó. Bởi người lái đò là một nghệ sĩ có kĩ nghệ chở đò rất kỳ diệu. Nghệ thuật ấy được biểu hiện rõ nhất ở khả năng nắm chắc các quy luật tất yếu của dòng sông Đà, nhờ thế mà người lái đò ở tư thế chủ động, tự do, người chiến thắng. Ông lái đò đã nắm chắc mọi quy luật của dòng sông. Lúc thì “Ông cưỡi thác nắm lấy bờm sóng mà phóng nhanh qua cửa tử” lúc lại “Ghì cương đè sấn lên mà chặt đôi con thác để mở đường tiến”. Bằng những động tác thuần nhuyễn trong nghề nghiệp của mình, ông lái đò đã lái con thuyền “như một mũi tên tre xuyên qua hơi nước”, xuyên qua biết bao ghềnh thác hiểm nghèo của dòng sông hung bạo này. Nguyễn Tuân gọi người lái đò của mình có “tay lái ra hoa” là như vậy. Người lái đò trở thành một người nghệ sĩ, một người anh hùng chiến thắng thiên nhiên.
– Bình luận về các ý kiến:
+ Hai ý kiến đều chính xác, thể hiện cái nhìn đúng đắn về hình tượng người lái đò sông Đà.
+ Bản thân mỗi ý kiến chưa thực sự đầy đủ, cần kết hợp cả hai ý kiến với nhau để thấy được vẻ đẹp toàn diện của hình tượng ông đò.
– Mở rộng:
+ Hình tượng người lái đò được Nguyễn Tuân khắc họa bằng một nghệ thuật điêu luyện: sử dụng nhiều biện pháp tu từ (nhân hóa, so sánh, liên tưởng, tưởng tượng, trùng điệp…); từ ngữ phong phú, sống động, giàu hình ảnh, có sức biểu cảm cao; câu văn đa dạng, nhiều tầng, giàu nhịp điệu; huy động tri thức của nhiều lĩnh vực khoa học – nghệ thuật…
+ Trong thiên tùy bút, hình tượng ông đò còn được tác giả khám phá ở góc nhìn của một người lao động bình thường trong giờ phút ngừng chèo, nghỉ ngơi. Ở góc nhìn này, Nguyễn Tuân cho người đọc thấy được vẻ đẹp giản dị, đời thường của một người lao động.
+ Thông qua hình tượng ông đò, Nguyễn Tuân muốn phát biểu quan niệm: người anh hùng không chỉ có trong chiến đấu mà còn có trong cuộc sống lao động hằng ngày.
– Với hai vẻ đẹp: “trí dũng, tài hoa”, ông lái đò trong tùy bút “Người lái đò sông Đà” đã trở thành một trong những hình tượng tuyệt đẹp trong sáng tác của Nguyễn Tuân sau Cách mạng tháng Tám: một người lao động bình thường với chất “vàng mười của Tây Bắc”, một người nghệ sĩ tài hoa.

Nguồn tài liệu : FB thầy Phan Thế Hoài

Xem thêm :Bộ đề thi thử THPT Quốc gia môn văn theo cấu trúc mới :http://vanhay.edu.vn/tag/de-thi-thpt-quoc-gia-ngu-van

Đề thi thử THPT Quốc gia môn văn số 78

Đề thi thử THPT Quốc gia môn văn số 78

ĐỌC HIỂU (3.0 điểm):

Đọc đoạn trích sau đây và thực hiện yêu cầu bên dưới:

“Các em chẳng có gì đặc biệt. Đúng vậy đó! Chúng tôi đã ở bên cạnh các em trong các trò chơi, vở kịch, các cuộc diễn âm nhạc, hội chợ khoa học. Những nụ  cười toả sáng khi các em bước vào phòng, đáp lại mỗi tin nhắn trên Twitter của các em là những tiếng hô hào hứng. Và các em đã chinh phục được trường trung học. Nhưng đừng lầm tưởng rằng các em là đặc biệt. Mỗi năm có ít nhất 3,2 triệu học sinh tốt nghiệp từ hơn 37000 trường trung học trên toàn quốc. Người Mĩ chúng ta giờ đây yêu danh hiệu hơn những thành công thực sự. Chúng ta coi danh hiệu là mục tiêu và ta sẵn sàng thỏa hiệp, tự hạ thấp các chuẩn mực hoặc phớt lờ thực tế khi cho rằng đó là cách nhanh nhất hoặc duy nhất để có được những thứ có thể đem ra khoe mẽ, để có một vị thế tốt hơn trong xã hội.

Trước khi các em tỏa đi khắp nơi, tôi kêu gọi các em làm những gì mình thích, tin tưởng. Hãy kháng cự lại sự thỏa mãn nhất thời, vẻ lóng lánh bề ngoài của vật chất, sự tê liệt của lòng tự mãn. Hãy làm như vậy một cách nhanh chóng, bởi mỗi giây phút đều quý giá. Cuộc sống hạnh phúc có ý nghĩa là một thành tựu đòi hỏi nỗ lực chứ không phải thứ từ trên trời rơi xuống. Đừng mong chờ cảm hứng và niềm đam mê sẽ tự tìm đến các em. Hãy đứng dậy, bước ra bên ngoài, tự mình  khám phá, tìm kiếm cảm hứng cùng niềm đam mê  và hãy giữ chắc nó  bằng cả hai bàn tay… Và khi đó các em sẽ phát hiện sự thật vĩ đại và lạ lùng của cuộc sống. Đó là lòng vị tha, sống vì người khác mới là điểu tốt đẹp nhất các em có thể làm được cho bản thân. Những niềm vui ngọt ngào nhất trong cuộc sống chỉ đến khi các em nhận ra rằng mình không có gì đặc biệt”.

Trích bài phát biểu  của David Mc Cullough trong lễ tốt nghiệp trung học trường Wellesley 2012- Theo Tuổi trẻ

      Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích trên

       Câu 2: Anh /chị hiểu thế nào về câu: “Hãy kháng cự lại sự thỏa mãn nhất thời, vẻ lóng lánh bề ngoài của vật chất, sự tê liệt của lòng tự mãn. “

      Câu 3: Tại sao tác giả lại nói :”Đừng mong chờ cảm hứng và niềm đam mê sẽ tự tìm đến các em”

      Câu 4: Anh chị rút ra được những bài học nào trong cuộc sống  từ bài phát biểu trên?

  1. LÀM VĂN (7.0 điểm):

      Câu 1(2.0 điểm):  Hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh chị  về ý kiến được nêu trong đoạn trích ở phần đọc hiểu: “Những niềm vui ngọt ngào nhất trong cuộc sống chỉ đến khi các em nhận ra rằng mình không có gì đặc biệt”

Câu 2 (7.0 điểm): Phân tích hình tượng sông Đà trong tùy bút “Người lái đò sông Đà “ để làm rõ phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân.

Nội dung Điểm
Đọc hiểu 3.0
Phương thức biểu đạt: nghị luận 0.5
hãy rèn luyện bản lĩnh, nghị lực để không chạy theo những tham vọng, hư danh, chống lại sự tự mãn của con người. 0.75
Cảm hứng, đam mê không phải lúc nào cũng tự dưng mà có. Khi ta lao động, bắt tay vào công việc, cảm hứng và niềm đam mê sẽ xuất hiện và ta sẽ nắm bắt được nó. 0,75
Học sinh có thể rút ra nhiều bài học như:
-Không được tự mãn, phải khiêm tốn
-Đừng chạy theo những hư danh và những hấp dẫn bề nổi của
cuộc sống
– Hãy chủ động khám phá cuộc sống, những đam mê, niềm cảm hứng sẽ xuất hiện và ta sẽ thấy cuộc sống là ý nghĩa.
1.0
Làm văn 2.0
“Những niềm vui ngọt ngào nhất trong cuộc sống chỉ đến khi các em nhận ra rằng mình không có gì đặc biệt”

* Yêu cầu về hình thức:
– Trình bày theo hình thức đoạn văn khoảng 200 chữ
– Bài viết rõ ràng, mạch lạc về ý, không mắc lỗi chính tả, dùng từ đặt câu
*Yêu cầu về nội dung:
_ Giải thích: Điểm đặc biệt là những điểm khác biệt thậm chí vượt trội không thể lẫn, phân biệt bản thân với những người khác.
_ Phân tích , bình luận:
+ con người thường mong muốn trở thành người có phẩm chất ưu việt, nghĩa là muốn trở thành người đặc biệt.
+ Tại sao niềm vui ngọt ngào trong cuộc sống chỉ đến khi ta nhận ra mình không có gì đặc biệt:
> không chịu những áp lực không dáng có từ gia đình, nhà trường
.>Nhận thức được mình là ai, đang ở vị trí nào, xác định được mục tiêu cố gắng từ đó học hỏi, chinh phục, khám phá cuộc sống> mang lại cho ta niềm vui thực sự, giúp ta hoàn thiện mình.
_ những lối sống tự mãn, luôn coi mình là đặc biệt sẽ khiến con người bé nhỏ trước cuộc sống khi không tìm ra mục tiêu cho cuộc sống, không có ý thức chủ động, khám phá cuộc sống.
_ HS liên hệ với xã hội và bản thân
_Rút ra bài học: + Bài học về sự khiêm tốn, tránh tự mãn
+ Hãy luôn tích cực chủ động học hỏi từ cuộc sống để hoàn thiện bản thân.

Phân tích hình tượng sông Đà trong tùy bút “Người lái đò sông Đà ” để làm rõ phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân. 5.0
* Yêu cầu về hình thức:
– Trình bày theo hình thức bài văn đủ 3 phần MB- TB- KB
– Bài viết rõ ràng, mạch lạc về ý, không mắc lỗi chính tả, dùng từ đặt câu. Uu tiên những bài văn có hành văn linh hoạt, có giọng điệu riêng.
*Yêu cầu về nội dung:
1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm
_ Nguyễn Tuân_ cây bút viết kí hàng đầu của văn học Việt Nam hiện đại. Ông là cây bút đã tạo cho mình một phong cách tài hoa- uyên bác không thể lẫn trong hành trình theo đuổi, khám phá cái đẹp
_Tác phẩm
+ Hoàn cảnh ra đời: trong chuyến đi thực tế lên Tây Bắc, Nguyễn Tuân đã phát hiện ra “chất vàng mười” trong thiên nhiên và con người Tây Bắc.
+ Xuất xứ: Trích trong tập “Người lái đò sông Đà” (XB 1960) tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của ông
2. Hình tượng sông Đà
a. Sông Đà hung bạo
_Cảnh đá bờ sông
_Quãng mặt ghềnh Hát Lóng
_Những hút nước
_Những thác nước
Tiểu kết: Dòng sông như một loài thủy quái man rợ, lại như một trận địa với rất nhiều cạm bẫy thử thách lòng dũng cảm, tài trí con người trên sông nước thể hiện qua ngòi bút giàu có ngôn ngữ và trường liên tưởng phóng khoáng.
b. Sông Đà trữ tình
_ Dòng sông nhìn từ trên cao như mái tóc bồng bềnh của người thiếu nữ ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc.
_ Sự thay đổi của màu nước sông Đà theo mùa
_ Sông Đà gợi cảm như một có nhân
_Vẻ đẹp như trong miền cổ tích hai bên bờ sông Đà
Tiểu kết: sông Đà thơ mộng, trữ tình đầy biến hóa dưới ngòi bút tinh tế, tài hoa của Nguyễn Tuân
3. Phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân
– Một cái tôi “ngông”. Nguyễn Tuân không chấp nhận sự sáo mòn. Ông luôn tìm kiếm những cách thức thể hiện, những đối tượng mới mẻ. Sông Đà là một sinh thể độc đáo khi dòng chảy của nó ngược lên phía bắc và có hai nét tính cách đối lập nhau: hung bạo- trữ tình
_ Một cái tôi tài hoa
+ Luôn tiếp cận sự vật ở phương diện văn hóa thẩm mĩ, có ấn tượng với những sự vật gây cảm giác mạnh (Sông Đà là một sinh thể như vậy).
+ Bộc lộ sự tinh vi trong mĩ cảm với trường liên tưởng phong phú, ngôn ngữ vừa phong phú vừa tinh tế
_ Một cái tôi uyên bác khi huy động mọi kiến thức thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để khắc họa hình tượng sông Đà.
4. Tổng kết
_ Tác giả xây dựng hình tượng dòng sông một cách công phu vì: Nguyễn Tuân quan niệm thiên nhiên không đơn thuần là thiên nhiên. Nó là một sinh thể kì diệu của tạo hóa và nhà văn cần làm phát lộ những vẻ đẹp của nó. Qua hình tượng sông Đà chúng ta cũng cảm nhận được tình yêu tha thiết của Nguyễn Tuân đối với quê hương đất nước.
_ Với phong cách tài hoa uyên bác, Nguyễn Tuân khiến cho tâm hồn người đọc khi tiếp xúc tác phẩm của ông tâm hồn trở nên tinh tế, trí tuệ được khơi dậy. Nguyễn Tuân đã biến tác phẩm “Người lái đò sông Đà “thành giai phẩm với những trang hoa, tờ hoa đặc sắc.

Đề thi thử THPT Quốc gia môn Ngữ Văn , đề số 55

Tài liệu ôn thi THPT Quốc gia môn văn. Bộ đề thi thử THPT Quốc gia của nhiều trường trên cả nước

SỞ GD & ĐT THÁI BÌNH

TRƯỜNG THPT BẮC ĐÔNG QUAN

 

KỲ THI THỬ THPT QUỐC GIA LẦN I

NĂM HỌC 2016-2017

MÔN NGỮ VĂN

Thời gian: 120 phút (Không kể thời gian giao đề)

PHẦN I: ĐỌC HIỂU (3 điểm)

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 4:

VÔ ĐỀ

(Pimen Panchenko)

 Đừng đố kị, cũng đừng hợm hĩnh!

Bạn tôi ơi, hãy làm chủ bản thân!

Tự dưới thấp, hãy nhìn thông cao vợi,

Nhìn mây trời,

Chứ không phải thế nhân!

 

Còn nếu bạn giữa vinh quang chói lọi,

Hãy tự mình vượt qua nó, bạn ơi!

Tự trên cao, hãy nhìn xuống suối,

Xuống cỏ hoa,

Chứ không phải con người!

Câu 1 (1,0 điểm): Nêu nội dung chính của văn bản!

Câu 2 (0,5 điểm): Nếu phân loại theo mục đích nói, văn bản trên sử dụng kiểu câu gì?

Câu 3 (0,5 điểm): Hãy giải nghĩa hai từ “đố kị” và “hợm hĩnh”!

Câu 4 (1,0 điểm): Tìm những dòng thơ chứa quan điểm của tác giả về cách để tránh thái độ hợm hĩnh! Anh/ chị hiểu thế nào về ý nghĩa biểu tượng của những hình ảnh mà tác giả khuyên chúng ta “hãy nhìn” (đặt trong những dòng thơ đó) ?

PHẦN II: LÀM VĂN (7 điểm)

Câu 1 (2 điểm): Anh/ chị hãy viết một đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ về lời nhắn nhủ của Pimen Panchenko: “Hãy làm chủ bản thân!”.

 Câu 2 (5 điểm): Cảm nhận của anh/ chị về “thứ vàng mười đã qua thử lửa” mà Nguyễn Tuân đã khám phá và thể hiện trong đoạn văn sau:

“Ông đò hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng trận địa phóng thẳng vào mình. Mặt nước hò la vang dậy quanh mình, ùa vào mà bẻ gãy cán chèo võ khí trên cánh tay mình. Sóng nước như thể quân liều mạng vào sát nách mà đá trái mà thúc gối vào bụng và hông thuyền. Có lúc chúng đội cả thuyền lên. Nước bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng ông đò đòi lật ngửa mình ra giữa trận nước vang trời thanh la não bạt. Sóng thác đã đánh đến miếng đòn hiểm độc nhất, cả cái luồng nước vô sở bất chí ấy bóp chặt lấy hạ bộ người lái đò[…]. Mặt sông trong tích tắc lòa sáng lên như một cửa bể đom đóm rừng ùa xuống mà châm lửa vào đầu sóng. Nhưng ông đò cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái, mặt méo bệch đi như cái luồng sóng đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vào chỗ hiểm. Tăng thêm mãi lên tiếng hỗn chiến của nước của đá thác. Nhưng trên cái thuyền sáu bơi chèo, vẫn nghe rõ tiếng chỉ huy ngắn gọn tỉnh táo của người cầm lái. Vậy là phá xong cái trùng vi thạch trận vòng thứ nhất. Không một phút nghỉ tay nghỉ mắt, phải phá luôn vòng vây thứ hai và đổi luôn chiến thuật. Ông lái đã nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá. Ông đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này. Vòng đầu vừa rồi, nó mở ra năm cửa trận, có bốn cửa tử một cửa sinh, cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngạn sông. Vòng thứ hai này tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào, và cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn. Cưỡi lên thác Sông Đà, phải cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ. Dòng thác hùm beo hồng hộc tế mạnh trên sông đá. Nắm chặt lấy được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường chéo về phía cửa đá ấy. Bốn năm bọn thủy quân cửa ải nước bên bờ trái liền xô ra định níu lấy thuyền lôi vào tập đoàn cửa tử. Ông đò vẫn nhớ mặt bọn này, đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến. Những luồng tử đã bỏ hết lại sau thuyền. Chỉ còn vẳng tiếng reo hò của sóng thác luồng sinh. Chúng vẫn không ngớt khiêu khích, mặc dầu cái thằng đá tướng đứng chiến ở cửa vào đã tiu nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng thua cái thuyền đã đánh trúng vào cửa sinh nó trấn lấy.”

                                       (Nguyễn Tuân – Người lái đò sông Đà)

……………………….. HẾT ………………………….

Họ tên thí sinh: ………………………………… Số báo danh: ………………………….………..

Chữ kí giám thị 1: ……………………..…… Chữ kí giám thị 2: …………………….

 

Xem thêm Bộ đề thi thử THPT Quốc gia môn văn có đáp án , soạn theo cấu trúc mới nhất của Bộ :Đề thi thử THPT Quốc gia môn văn

Tuyển tập đề thi có đáp án, những bài văn hay,những dạng đề xoay quanh tác phẩm : Người lái đò sông Đà- Nguyễn Tuân

Đề thi thử THPT Quốc gia môn Ngữ văn, đề số 51

Bộ đề luyện thi THPT Quốc gia môn văn có đáp án. Nghị luận xã hội 200 chữ : Nơi nào có ý chí, nơi đó có con đường.  Cảm nhận hình tượng Người lái đò sông Đà và hình tượng Huấn Cao, Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân

KỲ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA NĂM 2017

Môn thi: NGỮ VĂN

ĐỀ THI MINH HỌA

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu

Có những ngã ba nối những dòng sông lớn của một đại châu; sóng dựng trùng trùng;

Có những ngã ba nối những con đường dài chạy từ các thủ đô to

Như những mạch máu khổng lồ

Trên thân hình trái đất

Trong đó mỗi con người là một hạt hồng cầu đỏ chói

Có những ngã ba là nơi gặp gỡ của những dòng văn mình lớn, đông, tây, kim, cổ…

Tất cả những ngã ba trên con có thể học biết (trong sách địa dư, trên bản đồ)

Mai sau lớn lên con có thể đến thăm và chụp ảnh nữa…

Xong rồi con có thể quên…

Nhưng con ơi, chớ quên ngã ba Đồng Lộc”

                                                                   (Ngã ba Đồng Lộc, Huy Cận)

Câu 1. Đoạn thơ trên là lời giao tiếp của ai với ai? Nói về điều gì?

Câu 2. Tác giả chủ yếu sử dụng phép liên kết gì?

Câu 3. Hãy chỉ ra các phép tu từ trong đoạn thơ và cho biết giá trị của các phép tu từ đó.

Câu 4. Theo em, tác giả muốn nói điều gì qua lời khuyên “Chớ quên ngã ba Đồng Lộc”?

LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm)

Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến “Nơi nào có ý chí, nơi đó có con đường”.

Câu 2 (5,0 điểm)

Một trong những nét đặc trưng phong cách nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Tuân là luôn khám phá con người dưới phương diện tài hoa nghệ sĩ.

Qua nhân vật Huấn Cao trong truyện ngắn Chữ người tử tù người lái đò trong tùy bút Người lái đò Sông Đà, anh/ chị hãy bình luận nhận định trên.

 

—————- Hết —————-

 Thí sinh không sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.

Họ tên thí sinh…………………………………………..; Số báo danh……………………………………….

HƯỚNG DẪN CHẤM BÀI

Môn Ngữ Văn

(Đáp án gồm có 04 trang)

 

CÂU NỘI DUNG ĐIỂM
PHẦN ĐỌC HIỂU 3,0
Câu 1 Đoạn thơ là lời của người cha – thế hệ đi trước nói với người con – thế hệ đi sau. Đó là lời khuyên đừng quên những người đã ngã xuống để bảo vệ nền độc lập dân tộc, đừng quên lịch sử hào hùng của đất nước ta. 0,50
Câu 2 Đoạn thơ sử dụng phép lặp để liên kết 0,50
Câu 3 Chỉ ra được 2 biện pháp tu từ:

– So sánh: “Như những mạch máu khổng lồ”

– Ẩn dụ: Hạt hồng cầu đỏ chói

Tác dụng: Làm cho đoạn thơ vừa trừu tượng vừa cụ thể; vừa sống động vừa bộc lộ được niềm tự hào mãnh liệt.

1,0
Câu 4 Học sinh tự do bộc lộ cảm xúc nhưng cảm xúc phải chân thành, phù hợp với nội dung đoạn thơ, với thời đại ngày nay. Chủ đề chính là: phải luôn ân nghĩa thủy chung, luôn ghi nhớ và biết ơn công lao của các bậc cha anh đi trước đã hy sinh cho nền độc lập dân tộc; luôn tự hào về truyền thống yêu nước của dân tộc. 1,0
PHẦN ĐỌC HIỂU  
1 Viết bài văn nghị luận bày tỏ suy nghĩ về một tư tưởng đạo lý được nêu trong đề bài 2,0
  a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận:

Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết luận. Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn đề và thể hiện được nhận thức của cá nhân.

0,25
  b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Vai trò của ý chí và nghị lực trong cuộc sống của mỗi người. 0,50

 

  c. Triển khai vấn đề cần nghị luận thành các luận điểm phù hợp; sử dụng tốt các thao tác lập luận; biết kết hợp giữa nêu lí lẽ và dẫn chứng; rút ra bài học nhận thức và hành động. 1,25
  • Giải thích ý nghĩa của câu nói

Ý chí: là nghị lực tinh thần thuộc phần nội tại của con người, có tác dụng giúp họ kiên trì theo đuổi mục tiêu đã được đặt ra, thực hiện được lí tưởng sự nghiệp đã hướng tới.

Con đường: là con đường đi tới thành công, đạt được mục đích, thực hiện được lí tưởng cao quý của cuộc đời.

– Nội dung câu nói trên: Ý chí, niềm tin là yếu tố tạo nên thành công trên mọi con đường. Nói cách khác, để tìm ra con đường đi tới thành công trong cuộc đời cần có ý chí, sự nỗ lực, quyết tâm và kiên trì theo đuổi mục đích.

0,25
  • Bàn luận vấn đề

– Ý chí là nghị lực tinh thần giúp con người kiên trì theo đuổi mục tiêu cao quý của cuộc đời. Khi kiên trì theo đuổi mục đích chúng ta sẽ tìm ra con đường đi tới thành công.

– Có ý chí và lòng quyết tâm con người sẽ vượt qua tất cả những khó khăn cản trở trên đường đời.

– Không có ý chí chúng ra sẽ nản lòng, chùn bước và gục ngã trước những khó khăn.

0,75
  • Bài  học nhận thức và hành động

– Đây không phải là một tư tưởng duy ý chí mà là một nhân sinh quan tích cực.

– Ý kiến trên thực sự là một chân lý, là kim chỉ nam hành động cho mọi người nhất là đối với thanh niên chúng ta.

0,25
2 Khám phá con người dưới phương diện tài hoa nghệ sĩ là một nét đặc trưng trong phong cách nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Tuân. Điều này được thể hiện rõ qua nhân vật Huấn Cao trong truyện ngắn Chữ người tử tùngười lái đò trong tùy bút Người lái đò Sông Đà. 5,0
  a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận:

Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết luận. Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn đề và thể hiện được nhận thức của cá nhân.

0,25
  b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Đặc trưng phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân được thể hiện qua nhân vật Huấn Cao trong truyện ngắn Chữ người tử tùngười lái đò trong tùy bút Người lái đò Sông Đà. 0,50
  c. Triển khai vấn đề cần nghị luận thành các luận điểm phù hợp, sử dụng tốt các thao tác lập luận; biết kết hợp giữa nêu lí lẽ và đưa dẫn chứng; biết bình luận nâng cao vấn đề. 4,0
·         Vài nét về tác giả, tác phẩm và nhân vật

– Nguyễn Tuân được mệnh danh là người suốt đời đi tìm cái đẹp. Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân trước và sau Cách mạng vừa mang tính thống nhất vừa thể hiện sự chuyển biến.

– Vài nét về vị trí của hai tác phẩm: Chữ người tử tù là một trong những thành công nổi bật của tập Vang bóng một thời ca ngợi vẻ đẹp của những con người tài hoa, nghệ sĩ. Người lái đò sông Đà là thiên tùy bút tiêu biểu nhất trong tập Túy bút Sông Đà ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên và con người Tây Bắc.

– Huấn Cao là ông lái đò là những nhân vật tiêu biểu trong sáng tác của Nguyễn Tuân. Đó đều là những con người tài hoa nghệ sĩ.

0,50
·          Giải thích ý kiến

– Nhận định đặt ra vấn đề về phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân: khám phá con người trên phương diện tài hoa nghệ sĩ.

– Đây là một nhận định đúng về nhân vật trong các sáng tác của Nguyễn Tuân, đó là lớp nhân vật tài hoa, nghệ sĩ (những con người có tài năng hơn người, tài năng ấy được nâng lên thành nghệ thuật và ở họ còn có một tâm hồn nghệ sĩ). Điều này thể hiện rõ qua nhân vật Huấn Cao trong Chữ người tử tù và ông lái đò trong Người lái đò sông Đà.

1,0
·          Bình luận ý kiến trên qua phân tích nhân vật Huấn Cao và Ông lái đò

– Vấn đề con người tài hoa, nghệ sĩ trong các sáng tác của Nguyễn Tuân không đơn thuần chỉ là những người lao động trong nghệ thuật mà con người dù làm ở bất cứ ngành nghề nào thì tài năng của họ cũng đạt đến thành thạo, điêu luyện và trở thành những con người tài hoa, nghệ sĩ.

+ Huấn Cao có tài viết chữ đẹp, dưới bàn tay của Huấn Cao, viết chữ Hán đã được nâng lên thành một thứ nghệ thuật – nghệ thuật thư pháp: thể hiện qua ước muốn, khát khao của viên Quản ngục có được chữ của Huấn Cao treo trong nhà như một báu vật; qua tương truyền (cả vùng tỉnh Sơn đều biết tài viết chữ của Huấn Cao); qua lời nói của Huấn Cao (những nét chữ vuông tươi tắn nó nói lên hoài bão tung hoành của một đời con người). Bên cạnh đó, Huấn Cao là người có tâm hồn nghệ sĩ, người có thiên lương trong sáng. Không chỉ vậy, ông còn cảm hóa, truyền dạy thiên lương cho người khác. Nét tài hoa, nghệ sĩ được Nguyễn Tuân đặc tả ở cảnh cho chữ.

+ Ông lái đò: Dưới tay “lái ra hoa” của ông lái đò thì công việc lái đò đã được nâng lên thành một nghệ thuật: nghệ thuật vượt thác: Tài vượt thác, leo ghềnh, nắm chắc binh pháp của thân sông thần đá; thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này; thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước,… Bên cạnh đó ông lái đò còn là người có tâm hồn nghệ sĩ: sau khi vượt qua ghềnh thác sông Đà ở thượng nguồn, ông hòa mình vào cuộc sống thành bình và thiên nhiên tươi đẹp ở hạ lưu.

– Xây dựng nhân vật Huấn Cao, ông lái đò là những con người tài hoa, nghệ sĩ, tác giả ca ngợi, khám phá cái đẹp và gửi đến người đọc những thông điệp thẩm mĩ khác nhau.

– Bên cạnh những điểm thống nhất trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân là việc khám phá con người ở phương diện tài hoa, nghệ sĩ qua nhân vật Huấn Cao và ông lái đò, tác giả còn tạo nên sự phong phú, đa dạng, chuyển biến trong việc khám phá: con người tài hoa, nghệ sĩ ở nhân vật Huấn Cao là con người ở thời kì vang bóng, xuất chúng, đặc tuyển còn ông lái đò là con người của hiện tại, là người anh hùng trong cuộc sống đời thường…

2,0
·         Đánh giá chung

– Nhận định trên đã thể hiện được phong cách nghệ thuật độc đáo của nhà văn Nguyễn Tuân trong cách xây dựng nhân vật.

– Bên cạnh đó, người đọc còn bắt gặp một Nguyễn Tuân với phong cách “ngôn” của một nhà văn uyên bác; luôn đặt nhân vật vào những hoàn cảnh thử thách; tô đậm và khắc chạm vào tâm trí độc giả bằng những ấn tượng, va đập mạnh. Nguyễn Tuân là nhà văn của việc sáng tạo trong ngôn ngữ, độc đáo điêu luyện trong liên tưởng, so sánh…

0,50
  d. Sáng tạo:

Có nhiều cách diễn đạt độc đáo; thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận

0,25
  ĐIỂM TOÀN BÀI THI: I + II = 10 ĐIỂM  

 Xem thêm :