Nghị luận ý kiến bàn về cách kết thúc truyện Vợ Nhặt- Kim Lân

Về cách kết thúc truyện ngắn “Vợ nhặt”, có ý kiến cho rằng “Đó là một cái kết  mở, tự nhiên và sáng”, lại có ý kiến cho “Đó chưa phải là một cái kết thực sự tự nhiên, gượng ép về nghệ thuật”.

 Ý kiến của anh (chị).

Mở bài

  • Giới thiệu tác giả Kim Lân và truyện ngắn Vợ nhặt
  • Dẫn dắt giới thiệu hai  ý kiến bàn về tác phẩm Vợ nhặt

Mở bài tham khảo :

Đặc điểm của văn chương là sự sáng tạo, mỗi nhà văn có quyền chọn cho mình một con đường riêng và bản thân mỗi tác phẩm cũng có sự phong phú về các tầng  nghĩa. Vì thế quá trình tiếp nhận văn học cũng là một quá trình đầy sáng tạo tùy thuộc vào vốn sống, năng lực bản thân, ý kiến, hoàn cảnh chủ quan của mỗi cá nhân. Đứng trước một hình tượng văn học có thể có những luồng ý kiến khác nhau như khi đánh  giá về cách kết thúc của truyện ngắn “Vợ nhặt” có ý kiến cho rằng “Đó là một cái kết  mở, tự nhiên và sáng”, lại có ý kiến cho “Đó chưa phải là một cái kết thực sự tự nhiên,gượng ép về nghệ thuật”.

Thân bài

  1. Khái quát về tác giả, tác phẩm .

Tác giả Kim Lân: Kim Lân là nhà văn được coi là “con đẻ của đồng ruộng”. Ông “một lòng đi về với đất, với người với thuần hậu nguyên thủy của cuộc sống nông thôn” (Nguyên Hồng).  Kim Lân có những trang việt chân thực về đời sống làng quê với những thú vui tao nhã của người nông dân quê mình mà ông gọi đó là “thú đồng quê” hay “phong lưu đồng ruộng”. Ông cũng viết chân thực về những người nông dân quê mình chất phác, hóm hỉnh mà rất tài hoa.

– Hoàn cảnh sáng tác: Tác phẩm có tiền thân là tiểu thuyết “Xóm ngụ cư” được viết ngay sau khi cách mạng Tháng Tám thành công nhưng còn dang dở và bị mất bản thảo. Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc (1954), Kim Lân dựa vào một phần của cốt truyện cũ để viết tác phẩm “Vợ nhặt”. Tác phẩm được đưa vào tập “Con chó xấu xí” (Xuất bản 1962).

-Nội dung chính: Tác phẩm phản ánh chân thực cuộc sống của người dân vùng đồng bằng Bắc Bộ trong nạn đói kinh hoàng năm 1945. Nhưng trong hoàn cảnh đó người nông dân vẫn đùm bọc yêu thương, vẫn khao khát mái ấm gia đình và luôn có một niềm hi vọng vào tương lai.

  1. Tóm tắt dẫn dắt đến đoạn kết truyện Vợ nhặt

Truyện viết về cuộc sống của những người dân ở xóm ngụ cư trong nạn đói mà tiêu biểu là cuộc sống của gia đình Tràng. Vì cái đói cái nghèo nên Tràng không thể có một đám cưới đàng hoàng và bữa cơm đón nàng dâu mới của nhà Tràng cũng rất thảm hại “Giữa cái mẹt rách chỉ có độc một lùm rau chuối thái rối và một đĩa muối ăn với cháo”. Trong bữa ăn họ nghe thấy tiếng trống thúc thuế, qua lời của người vợ, Tràng đã nhớ lại có lần mình gặp Việt Minh và “Trong óc Tràng bỗng hiện lên đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới”,

3. Trình bày ý kiến của bản thân về cách kết thúc truyện.

4.1: Bàn luận về ý kiến: “Đó là một cái kết  mở, tự nhiên và sáng

Đó là cách kết truyện tự nhiên phù hợp.

+ Kết thúc ấy có cơ sở từ thực tiễn đời sống. Câu chuyện có bối cảnh là nạn đói năm 1945- một thời điểm lịch sử có thật trong đất nước ta vào những năm tháng chuẩn bị cho cuộc cách mạng và đó là những ngày tiền khởi nghĩa với phong trào phá kho thóc Nhật chia cho dân nghèo. Vậy nên trong hoàn cảnh đói khát cùng cực ấy người nông dân nhận ra kẻ thù gây đau khổ cho mình là bọn Pháp và Nhật. Thực dân Pháp thi hành những “luật pháp dã man’, vơ vét của cải còn phát xít Nhật thì bắt nhân dân ta nhổ lúa trồng đay, trồng thầu dầu rồi cùng với thiên tai, lũ lụt…Tất cả đều là căn nguyên dẫn đến thảm cảnh nạn đói năm 1945. Những người dân sống trong hoàn cảnh đó họ sẽ ý thức được mình phải đứng lên đấu tranh tìm con đường cho mình. Họ sẽ tìm đến với cách mạng như một điều tất yếu.

+ Sự hợp lí ở đây là họ chỉ mới bắt đầu nhận thức về cách mạng, đó mới chỉ là ánh sáng le lói ở cuối đường hầm. Nhà văn không kết thúc câu chuyện ở việc Tràng đi làm cách mạng rồi kêu gọi quần chúng nhân dân cùng đứng lên đấu tranh. Nếu như vậy e rằng có phần gượng ép và ảo tưởng. Ở đây mới dừng lại ở việc qua lời người vợ mà Tràng đã nhớ lại có lần anh đã nhìn thấy đoàn người đi phá kho thóc và  được nghe nói họ là Việt Minh. Quá trình nhận thức ấy được diễn tiến từ từ. Cách kết truyện như thế là phù hợp.

-Đó còn là cách kết truyện mở và sáng.

+ Truyện kết thúc nhưng đã mở ra cho người đọc nhiều suy ngẫm. Truyện không nói cụ thể rõ ràng là cuộc sống của Tràng, bà cụ Tứ, người vợ nhặt sẽ đi đến đâu, cuộc sống của họ tiếp theo sẽ như thế nào để gượng ép trói buộc suy nghĩ của bạn đọc thiên về một hướng và nhiều khi chỉ suy nghĩ theo chiều hướng ấy. Và thật khéo léo khi Kim Lân để “lửng”. Kết thúc “lửng” ấy chứa đựng bao suy nghĩ của tác giả. Phải chăng nhà văn  Kim Lân đang thầm kín bày tỏ sự trân trọng với cách tiếp cận, nhận thức của độc giả đồng thời cũng hướng họ rằng nên phải suy nghĩ, chiêm nghiệm để viết tiếp câu chuyện ấy với sự phù hợp và đúng đắn nhất theo quan điểm nhận thức của mỗi người. Việc tạo ra kết thúc mở cũng khơi sâu sự tìm tòi khám phá một góc độ của cuộc sống, của xã hội thay vì chỉ là đọc trên giấy và hiểu tác phẩm một cách đơn thuần. Rõ ràng với ánh sáng “le lói ở cuối đường hầm” kia người đọc có quyền hiểu và ngẫm theo nhiều cách. Theo quan điểm của bản thân có thể suy ngẫm Tràng sẽ  được theo cách mạng, theo ánh sáng của Đảng cùng với quần chúng khởi nghĩa và rồi cuộc sống của anh và gia đình cùng những người nông dân Việt Nam sẽ ấm no hơn, hạnh phúc hơn khi cách mạng giành  thắng lợi.

+ Một điểm nữa trong cách kết truyện của Kim Lân là có kết truyện “sáng” không giống như văn học hiện thực phê phán trước cách mạng.Trước đây, nhà văn Nam Cao đã để cho nhân vật Chí Phèo cảm nhận hương vị của cuộc sống, để cho hắn cảm nhận tình yêu thương…nhưng rồi Chí Phèo lại rơi vào bi kịch bế tắc. Nhà văn Ngô Tất Tố cũng để nhân vật của mình- Chị Dậu vùng lên chống lại ách áp bức của bọn địa chủ nhưng rồi cuối cùng trước mắt chị là “trời tối đen như mực giống như cái tiền đồ của chị”…Họ đều rơi vào luẩn quẩn, bế tắc không lối thoát. Ở “Vợ nhặt”, Kim Lân đã để cho những người nông dân hướng về tương lai. Liệu tác phẩm có thể kết thúc trong cảnh “bữa cơm ngày đói” với khung cảnh trông thật thảm hại “Giữa cái mẹt rách chỉ có độc một lùm rau chuối thái rối và một đĩa muối ăn với cháo” và “không ai nói câu gì. Họ cắm đầu ăn cho xong lần. Họ tránh nhìn mặt nhau. Một nỗi tủi hờn len vào tâm trí mỗi người”. Nếu kết thúc như thế thì cái đói, cái nghèo vẫn bao trùm, cuộc sống của nhân dân vẫn rơi vào bế tắc…Nhưng Kim Lân không dừng lại ở đó. Ông đã hướng họ vào ánh sáng của tương lai, của cách mạng “Trong óc Tràng bỗng hiện lên đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới”. Thật là ông đã để những con người trong hoàn cảnh khốn cùng cận kề cái chết nhưng họ không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng đến sự sống, vẫn hi vọng tin tưởng ở tương lai. Những người đói ấy vẫn khao khát về cuộc sống ấm no, đầy đủ hơn. Nhà văn đã để người dân nhận thức đúng về cách mạng khơi lên tinh thần đấu tranh . Thực tiễn lịch sử cách mạng Tháng tám 1945 đã thắng lợi thì con người và đặc biệt là người nông dân càng có thêm động lực niềm tin vào tương lai tươi sáng ấm no. Thật là một cách kết truyện sáng mở ra cuộc sống tươi sáng cho con người.

4.2: Bàn luận về ý kiến: “Đó chưa phải là một cái kết thực sự tự nhiên”.

Còn có ý kiến cho rằng “Đó chưa phải là một cái kết thực sự tự nhiên”, còn gượng ép về mặt nghệ thuật. Có thể lí giải điều này bởi có người cho rằng không khí truyện còn ngập tràn trong cảnh đói khát, thiếu sinh khí và hiện thực về cái chết là điều khó tránh khỏi. Những người nông dân ở đây chỉ là những con người nhỏ bé chưa hiểu gì về cách mạng và họ chưa đủ khả năng để làm thay đổi cuộc sống của mình. Vì thế cho rằng âm thanh của tiếng trống thúc thuế và hình ảnh lá cờ có phần gượng ép. Tuy nhiên như đã phân tích ở trên, tất cả sự nhận thức về cách mạng của người nông dân có thể đến bởi họ đang sống trong những ngày sôi sục trong  những ngày tiền khởi nghĩa của cuộc cách mạng tháng Tám.

Ý kiến cá nhân.

Dù có thể còn nhiều ý kiến khác nhau, đó là quyền của mỗi người trong việc cảm nhận văn chương nhưng với bản thân có thể thấy mạch truyện vẫn logic về nội dung tư tưởng. Tác phẩm đã phản ánh rõ hiện thực cuộc sống của người nông dân lúc bấy giờ, nó mang dấu ấn của thi pháp thời đại, lối kết thúc có hậu đã phản ánh đúng những đặc điểm của văn học cách mạng  lúc bấy giờ.

Bàn luận mở rộng vấn đề : So sánh với các tác phẩm trước đó và cùng thời

-So sánh với các tác phẩm trước như “Tắt đèn”- Ngô Tất Tố, “Chí Phèo”

Nam Cao…để thấy sự khác nhau trong cách kết thúc của văn học hiện thực phê phán trước năm 1945 và văn học cách mạng sau 1945.

-So sánh với tác phẩm cùng thời như “Vợ chồng A Phủ”- Tô Hoài để thấy điểm tương đồng trong các tác phẩm sau 1945 đồng thời cũng thấy rõ đặc điểm thi pháp của văn học sau 1945.

Kết bài : Đánh giá chung về cách kết thúc truyện ngắn Vợ nhặt, khẳng định ý kiến cá nhân về các kết truyện,

Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về vợ nhặt

Xem thêm :Tổng hợp những đề thi về các tác phẩm trọng tâm lớp 12

Tuyển tập đề Nghị luận ý kiến bàn về văn học

Nghị luận ý kiến của GS Nguyễn Đăng Mạnh về bài Việt Bắc_Tố Hữu

Đề thi thử, kì thi THPT Quốc gia năm 2017

Phần Nghị luận văn học

Đề bài :

Nhận định về bài thơ “Việt Bắc”, tác giả Nguyễn Đăng Mạnh viết: “Sức hấp dẫn mạnh nhất của thơ Tố Hữu đối với công chúng đông đảo là tính dân tộc, tính truyền thống đậm đà và nhuần nhuyễn”. Anh/Chị hãy làm rõ nhận định đó qua đoạn thơ sau:

“Ta về mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người.
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình.
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.”

(Việt Bắc, Tố Hữu)

HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI

* Mở bài:
– Giới thiệu vài nét về tác giả Tố Hữu, hoàn cảnh sáng tác bài thơ Việt Bắc
– Nhận định về bài thơ “Việt Bắc”, tác giả Nguyễn Đăng Mạnh viết: “Sức hấp dẫn mạnh nhất của thơ Tố Hữu đối với công chúng đông đảo là tính dân tộc, tính truyền thống đậm đà và nhuần nhuyễn”. Điều đó được thể hiện qua đoạn thơ sau:

“Ta về mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người.
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình.
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.”

(Việt Bắc, Tố Hữu)

* Thân bài:
– “Việt Bắc” là khúc tình ca và cũng là khúc hùng ca mà cội nguồn sâu xa của nó là tình cảm quê hương đất nước, là truyền thống ân nghĩa, đạo lý thuỷ chung của dân tộc.
– Tính dân tộc thể hiện ở mọi yếu tố từ nội dung đến hình thức của sáng tác văn học. Tính dân tộc trong thơ Tố Hữu trước hết được xem xét toàn diện từ sự mô tả cuộc sống và đấu tranh độc đáo của dân tộc ta, sự phác họa con người Việt Nam với truyền thống đạo đức, đặc điểm tâm lý và tái hiện phong cảnh đất nước. Bằng ngôn ngữ nghệ thuật, thể thơ và nhạc điệu mang đậm màu sắc dân tộc.
+ Về nội dung, dễ dàng nhận thấy trước hết là tính dân tộc biểu hiện trong sự phản ánh màu sắc dân tộc của thiên nhiên, của đời sống vật chất và tinh thần của xã hội. Nội dung căn bản của tính dân tộc là ở tinh thần dân tộc, tính cách dân tộc và cái nhìn dân tộc đối với cuộc đời.
+ Về hình thức, tính dân tộc biểu hiện ở chỗ: mỗi nền văn học dân tộc có hệ thống thể loại truyền thống, có các phương tiện miêu tả, biểu hiện riêng, nhất là có ngôn ngữ dân tộc thể hiện bản sắc riêng trong tư duy và tâm hồn của dân tộc mình.
– Cảm hứng chủ đạo của đoạn thơ là nỗi nhớ về Việt Bắc:
“Ta về mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người.”
+ Tác giả sử dụng điệp ngữ hai lần “ta về”. Cùng một thời điểm chia tay nhưng ở trên là hỏi người, ở dưới là giãi bày lòng mình. Cặp từ “ta”, “mình” được xưng hô như cách đối đáp giao duyên của trai gái trong ca dao, dân ca khiến cho cuộc chia tay của người cán bộ và Việt Bắc thành cuộc “giã bạn” của lứa đôi. “Ta” là người cán bộ kháng chiến, “mình” là nhân dân Việt Bắc đang lưu luyến chia tay. Câu hỏi tu từ “mình có nhớ ta” thể hiện sự lưu luyến của người đi, kẻ ở.
+ “Nhớ hoa” là nhớ thiên nhiên Việt Bắc thơ mộng làm đắm say lòng người. “Nhớ người” là nhớ người dân Việt Bắc từng cưu mang, gắn bó, đồng cam cộng khổ với cán bộ cách mạng.
Bức tranh mùa đông:
“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”
– Hoa chuối rừng đỏ như son nổi bật trên nền xanh bạt ngàn của lá. Sự “tương phản” của hai màu xanh, đỏ làm cho núi rừng bớt hoang vu, lạnh lẽo mà trở nên ấm áp hơn. Hoa chuối là bông hoa có thật chứ không mông mênh chóng tàn như những loài hoa khác.
– Vượt qua mùa đông lạnh giá, con người lên nương, lên rừng. Nghệ thuật đảo ngữ “nắng ánh” (động từ) là các luồng sáng của nắng chói lên bởi sự phản quang của lưỡi dao rừng thắt trên lưng người dân khi họ đi khai thác lâm, thổ sản. Đó là cái đẹp rất đời thường, rất giản dị của người lao động.
“Bức tranh mùa xuân:
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.”
– Hoa mơ tinh khôi, thanh khiết phủ trắng cả cánh rừng, gợi cảm giác choáng ngợp trước cảnh thơ mộng. Âm điệu mạnh mẽ của hai chữ trắng rừng bộc lộ cảm giác ngỡ ngàng, hạnh phúc của con người. Một bài thơ khác, Tố Hữu cũng viết rất hay về mùa xuân của núi rừng Việt Bắc:
“Ôi sáng xuân nay xuân, xuân 41
Trắng rừng biên giới nở hoa mơ.
Bác về nín lặng con chim hót
Thánh thót bờ lau vui ngẩn ngơ”
(Xuân 41)
– Hình ảnh người lao động chuốt từng sợi giang rất nhịp nhàng, khoan thai. Động từ “chuốt” là làm cho thật nhẵn sợi giang để đan nón. Hai từ “chuốt” và “từng” gợi tả đức tính cẩn thận, tỉ mỉ, chịu thương chịu khó của người đan nón. Họ làm ra sản phẩm để phục vụ cho lao động và còn để tặng cán bộ kháng chiến.
Bức tranh mùa hạ:
“Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình.”
– Câu thơ sáu chữ xôn xao cả màu sắc lẫn âm thanh. Khi tiếng ve râm ran, cả một rừng phách như hối hả, nhanh chóng thay màu, cùng đồng loạt “đổ vàng”. Hai động từ “kêu” và “đổ” thể hiện không khí rạo rực rất đặc trưng của mùa hạ. Đổ vàng là ngả vàng hàng loạt hoặc là cây trút lá vàng. Hai câu thơ gợi nhắc ý thơ của Xuân Diệu:
“Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá
Thu đến nơi nơi động tiếng huyền.”
(Trích Thơ duyên)
– Hình ảnh người lao động: Cô gái đi hái măng, khơi dậy trong ta những rung động ngọt ngào, sâu lắng. Đọc câu thơ, ta nghe như có tiếng nhạc ngân nga bởi nghệ thuật gieo vần lưng (gái, hái) và điệp phụ âm đầu “m”(măng, một, mình). Cô gái say sưa lao động trong một không gian vui tươi, trong trẻo. Sự hiện diện của cô gái càng tăng thêm nét duyên dáng, trẻ trung cho bức tranh mùa hạ.
Bức tranh mùa thu:
“Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.”
– Ánh trăng vàng êm dịu trải dài lên cảnh vật, gợi không khí thanh bình, yên ả. Từ “hòa bình” vừa khẳng định cuộc sống êm đềm, vừa nói đến sự thanh tĩnh của rừng khuya. Đêm trăng thu huyền ảo nơi núi rừng Việt Bắc thấp thoáng ước mơ thầm kính về cuộc sống thanh bình êm ả.
– Trên cái nền gợi cảm ấy văng vẳng “tiếng hát ân tình thủy chung” của ai đó nghe thật bâng khuâng, xao xuyến. Tiếng hát ấy chính là tấm lòng của người Việt Bắc, dù nghèo khó nhưng suốt đời thủy chung với cách mạng.
– Mỗi câu lục bát làm thành một bức tranh trong bộ tứ bình. Mỗi bức tranh có vẻ đẹp riêng hòa kết bên nhau tạo vẻ đẹp chung. Đó là sự hài hòa giữa âm thanh, màu sắc… Tiếng ve của mùa hè, tiếng hát của đêm thu, màu xanh của rừng già, sắc đỏ của hoa chuối, trắng tinh khôi của rừng mơ, vàng ửng của hoa phách… Trên cái nền thiên nhiên ấy, hình ảnh con người hiện lên thật bình dị, thơ mộng trong công việc lao động hàng ngày.
– Nhận xét của tác giả Nguyễn Đăng Mạnh hoàn toàn xác đáng. Trước hết qua đoạn thơ, trên phương diện nội dung ta thấy, phong cảnh thiên nhiên đất nước mang bản sắc Việt Nam.
+ Thiên nhiên không chỉ có vẻ đẹp tự tại, không chỉ hé mở cho những tâm hồn riêng lẻ mà gắn liền với quê hương đất nước với đời sống lao động và chiến đấu, với sinh hoạt với những vui buồn của mỗi người Việt Nam. Bức tranh tứ bình trong bài thơ “Việt Bắc” được xem là một trong những bức họa đẹp nhất của núi rừng con người Việt Bắc.
– Trên phương diện hình thức nghệ thuật, tính dân tộc trong nghệ thuật của thơ Tố Hữu được thể hiện ở những nét chính sau đây: ngôn ngữ, nhạc điệu, hình ảnh, thể thơ đậm đà tính dân tộc.Lối cấu tứ, kết cấu giàu sắc thái ca dao,thể thơ dân tộc được vận dụng nhuần nhuyễn và sáng tạo.
+ Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học. Tính dân tộc trong ngôn ngữ được thể hiện một cách đặc sắc trong đoạn thơ bức tranh tứ bình. Nhà thơ đã vận dụng một cách nhuần nhuyễn và sáng tạo cặp đại từ nhân xưng “mình”, “ta” của ca dao xưa. Ở đầu đoạn thơ, cặp đại từ “mình”, “ta” được sử dụng một cách sinh động, linh hoạt mang nhiều sắc thái ngữ nghĩa. Cách xưng hô “mình”, “ta” trong lời đối đáp vốn là cách xưng hô của những đôi bạn tình trong ca dao tình yêu.
+ Việt Bắc được viết theo thể thơ lục bát với lối kết cấu như lời đối đáp của một đôi trai gái lúc xa nhau. Lục bát là thể thơ dân tộc, nó ăn sâu bắt rễ trong nhân dân mang cốt cách thuần túy Việt Nam. Tố Hữu đã vận dụng điêu luyện sáng tạo thể thơ lục bát, mang âm điệu dịu dàng duyên dáng của ca dao dân ca. Tiếng hát, tiếng ngâm, lời ru đã chắp cánh cho thơ Tố Hữu bay đến mọi miền của đất nước. Thể thơ lục bát với những ưu thế của nó đã giúp tác giả chuyển tải được những tình cảm thiết tha của cả người đi và kẻ ở trong buổi tiễn biệt.
+ Tính dân tộc trong đoạn thơ còn thể hiện ở nhạc điệu, cách gieo vần. Âm điệu thơ của Tố Hữu có đặc trưng riêng đó là sự ngọt ngào, tha thiết. Nó mượt mà, uyển chuyển, đằm thắm như lời ru của mẹ bằng lối đối đáp ân tình. Tố Hữu rất tài tình trong việc phối hợp các âm thanh, từ ngữ, tiết tấu, vần điệu của ngôn ngữ tiếng Việt để tạo nên một ngôn ngữ thơ giàu nhạc điệu, chứa đựng cảm xúc dân tộc.
+ Cũng trong đoạn thơ, ta bắt gặp những hình ảnh quen thuộc, gần gũi với cuộc sống lao động và chiến đấu của nhân dân. Đó là hình ảnh “hoa mơ”, “hoa chuối”, “rừng xanh”, “đèo”, “trăng rọi hòa bình”,…hết sức nồng ấm và luôn ăn sâu trong tâm khảm của người Việt.
* Kết bài:
– Với những nét chấm phá đơn sơ giản dị, vừa cổ điển vừa hiện đại, đoạn thơ trên của Tố Hữu đã làm nổi bật được bức tranh cảnh và người qua bốn mùa của chiến khu Việt Bắc. Cảnh và người hòa hợp với nhau tô điểm cho nhau, làm cho bức tranh trở nên gần gũi thân quen, sống động và có hồn hơn. Tất cả đã tan chảy thành nỗi nhớ nhung quyến luyến thiết tha trong tâm hồn người cán bộ về xuôi.
– Có thể nói, đây là một trong những đoạn thơ đặc sắc nhất, tài hoa nhất thấm đẫm tinh thần dân tộc trong bài “Việt Bắc”. Nó góp phần làm cho bài thơ xứng đáng là viên ngọc sáng long lanh trong kho tàng văn học hiện đại Việt Nam.

Nguồn tài liệu : FB thầy Phan Thế Hoài

Nghị luận ý kiến bàn về bài thơ Việt Bắc- Tố Hữu

Đề bài :Xuân Diệu cho rằng: “Tố Hữu đã đưa thơ chính trị lên đến trình độ là thơ rất đỗi trữ tình”. Anh (chị) hãy làm sáng tỏ ý kiến ấy qua đoạn thơ sau:

– “Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?
– Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”

Hướng dẫn cách làm :

* Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn thơ và ý kiến của Xuân Diệu về bài thơ Việt Bắc.
– Tố Hữu là lá cờ đầu của nền thi ca cách mạng Việt Nam. Thơ ông gắn liền với từng chặng đường lịch sử của đất nước. Việt Bắc là một trong những bài thơ hay của ông viết sau chiến thắng Điện Biên Phủ, là khúc ca hào hùng của cuộc kháng chiến chống Pháp, là khúc hát ân nghĩa thủy chung của tình quân dân thắm thiết.
– Mỗi thời kỳ lịch sử đi qua, Tố Hữu đều để lại dấu ấn riêng mang đậm hồn thơ trữ tình chính trị. Chính vì vậy khi nhận xét về bài thơ Việt Bắc, Xuân Diệu cho rằng: “Tố Hữu đã đưa thơ chính trị lên đến trình độ là thơ rất đỗi trữ tình”. Điều đó được thể hiện qua đoạn thơ sau:

– Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?
– Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

* Thân bài:

Ý 1 : Giải thích ý kiến, nhận định
– Thơ chính trị: Là thơ trực tiếp đề cập đến những vấn đề chính trị, những sự kiện chính trị nhằm mục đích tuyên tuyền, cổ động. Chính vì thế, thơ chính trị thường có nguy cơ rơi vào khô khan, áp đặt.
– Ý kiến của Xuân Diệu: Tố Hữu đã “trữ tình hóa” thơ chính trị, để thơ chính trị thực sự là thơ, có sức rung cảm sâu xa. Đây là ý kiến đánh giá rất cao về thơ Tố Hữu.

Ý 2 : Phân tích đoạn thơ để chứng minh nhận định

Trước khi phân tích đoạn thơ, học sinh cần nêu khái quát về tác phẩm : Hoàn cảnh sáng tác, nội dung, bố cục, thể thơ, nguồn cảm hứng,…(nếu những thông tin này đã viết ở phần mở bài rồi thì không nhắc lại trong phần thân bài nữa)
– Đoạn thơ mở ra với cảnh chia tay lưu luyến đầy xúc động của những người đã từng gắn bó suốt mười lăm năm ấy, có biết bao kỉ niệm ân tình. Bao trùm trong tâm trạng kẻ ở người đi là nỗi nhớ da diết mênh mang với nhiều sắc thái khác nhau. Bốn câu thơ đầu là lời của người Việt Bắc:
Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn ?
+ Nhà thơ để cho người ở lại lên tiếng trước. Hai đại từ “mình” – “ta” được lặp lại nhiều lần. Đó là cách xưng hô thân mật lấy trong ca dao, dân ca, là lời xưng hô trong tình yêu lứa đôi, nghe thiết tha bâng khuâng được Tố Hữu sử dụng rất linh hoạt. “Mình” là người cán bộ về xuôi, “ta” là người Việt Bắc.
+ Cụm từ “mười lăm năm ấy” gợi nhắc câu Kiều của Nguyễn Du:
Mười lăm ấy biết bao nhiêu tình.
đó là sự kế thừa thơ ca truyền thống của dân tộc của Tố Hữu. Câu hỏi tu từ “có nhớ ta”, “có nhớ không” nghe da diết, nhắn nhủ, tâm tình.
– Ở bốn câu đầu này, người Việt Bắc hỏi người cán bộ có nhớ Việt Bắc không. Nghĩa là có nhớ quê hương cách mạng, cội nguồn cách mạng không? Hỏi mà là nhắc nhở, nhắn gửi người về đừng quên Việt Bắc, đừng quên chính mình. Lời hỏi cũng là lời nhắc nhở, nhắn gửi người về đừng quên Việt Bắc.
– Bốn câu thơ tiếp là lời người cán bộ về xuôi. Đáp lại lời của người Việt Bắc,người cán bộ cất tiếng thiết tha:
Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân ly
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay.
+ “Ai” là đại từ phiếm chỉ, chỉ người Việt Bắc.
+ Các từ láy: “tha thiết”, “bâng khuâng”, “bồn chồn” đặc tả chính xác tâm trạng vấn vương, lưu luyến, bịn rịn.
+ “Áo chàm”: Nghệ thuật hoán dụ để chỉ đồng bào Việt Bắc, vì người Việ Bắc thường mặc áo chàm. Màu chàm là màu đơn sơ, chân thực, không lòe loẹt mà giản dị, chân thành, chung thủy. Câu thơ “Áo chàm…phân li” ngắt nhịp 3/3 tạo khoảng lặng lắng đọng cảm xúc. Đó có thể là khoảnh khắc người dân Việt Bắc không thốt nên lời hay đang buông tiếng nấc nghẹn ngào tha thiết.
+ Câu hỏi tu từ và dấu “chấm lửng” ở cuối câu: “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…” thể hiện tình cảm tha thiết. Ngôn ngữ bàn tay nóng ấm gắn với trái tim đầy xúc động. Biết nói gì, không phải là không biết nói gì, không có gì để nói mà là biết nói sao cho thỏa nỗi nhớ thương.
– “Việt Bắc” chỉ với tám dòng thơ mở đầu, người đọc cảm nhận một cách khá đầy đủ âm hưởng chung của cả bài thơ, âm hưởng khúc hát đối đáp, khúc hát ru nhẹ nhàng sâu lắng. Cùng với ngôn ngữ đậm màu sắc trữ tình của ca dao chúng ta có thể cảm nhận một cách sâu sắc đặc trưng trữ tình chính trị của thơ Tố Hữu.
– Ý kiến của Xuân Diệu rất xác đáng và tinh tế, đánh giá, ghi nhận đúng vị trí đặc biệt và thành tựu lớn lao của đời thơ Tố Hữu.
– Thơ Tố Hữu đúng là thơ chính trị, bởi đề tài trong thơ Tố Hữu là những vấn đề chính trị, hồn thơ Tố Hữu luôn hướng tới cái ta chung với lẽ sống lớn, tình cảm lớn và niềm vui lớn của Đảng, dân tộc, cách mạng.
– Nhưng thơ Tố Hữu cũng rất đỗi trữ tình. Tố Hữu đã đưa thơ trữ tình chính trị lên đến đỉnh cao. Có được điều ấy là nhờ những vấn đề chính trị trong thơ Tố Hữu đã được thực sự chuyển hóa thành những vấn đề của tình cảm, cảm xúc rất mực tự nhiên, chân thành, đằm thắm với một giọng thơ ngọt ngào, tâm tình, giọng của tình thương mến.
* Kết bài:
– Đoạn thơ trên sử dụng thể thơ lục bát đậm đà bản sắc dân tộc. Lối hát đối đáp tạo ra giai điệu trữ tình phong phú cho bài thơ. Nhiều biện pháp tu từ được tác giả vận dụng khéo léo (Hoán dụ, câu hỏi tu từ, điệp từ,…). Ngôn ngữ trong sáng, nhuần nhị, và có nhiều nét cách tân.
– Tám câu thơ đầu khái quát cảm xúc bao trùm bài thơ: Tình cảm gắn bó, ân tình, thủy chung sâu nặng giữa người dân Việt Bắc và chiến sĩ cách mạng được diễn tả chân thật, tha thiết, trìu mến. Chính tình quân dân cao quý này đã góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng.

Tài liệu sưu tầm

Xem thêm tuyển tập đề nghị luận ý kiến bàn về văn học :http://vanhay.edu.vn/tag/nghi-luan-y-kien-ban-ve-van-hoc

Full tài liệu về bài thơ Việt Bắc : http://vanhay.edu.vn/tag/viet-bac

Nghị luận ý kiến bàn về nhân vật Mỵ trong Vợ chồng A Phủ Tô Hoài

Ôn thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn. Bộ đề luyện thi về Vợ chồng A Phủ- Tô Hoài.

Đề bài:

Nhà văn Nguyễn Khải đã từng nói: “Ở đời này không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có sức mạnh để bước qua ranh giới ấy

(Mùa lạc, SGK Văn học 12, tr.138. NXB Giáo dục, 2000)

Anh/chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy phân tích nhân vật Mị  trong đoạn trích “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài để làm sáng tỏ ý kiến trên.

Hướng dẫn giải :

Mở bài :

  • Giới thiệu tác giả Tô Hoài và truyện Vợ chồng A Phủ
  • Giới thiệu ý kiến của Nguyễn Khải : “Ở đời này không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có sức mạnh để bước qua ranh giới ấy

Thân bài :

 

Giải thích ý kiến:

Câu nói ấy là như thế nào?

Con đường cùng: con đường không còn lối đi, bế tắc, không lối thoát.

– Ranh giới: đường phân chia giới hạn giữa hai khu vực

-> Ý nghĩa của cả câu nói: Trong cuộc sống, có khi con người chúng ta gặp phải những khó khăn tưởng như không thể vượt qua được. Nhưng đó không phải là đường cùng, đó chỉ là một ranh giới, một thử thách ý chí mà nếu con người có ý chí, nghị lực, có niềm tin, có quyết tâm thì sẽ vượt qua.

Tại sao Nguyễn Khải lại nói như thế?

– Xuất phát từ thực tế, có những khi con người ta phải trải qua một cảnh ngộ cuộc sống tưởng không thể vượt qua được và họ đã bi quan, coi như đó là bước đường cùng của cuộc đời mình. Tức là ở vào những giờ phút (thậm chí vào những ngày tháng) nhất định họ mất niềm tin vào cuộc sống.

– “Chỉ có những ranh giới” tức là những khó khăn, thử thách đó con người có thể vượt qua.

– “Điều cốt yếu…vượt qua”: có niềm tin, có cố gắng, biết huy động sức mạnh sẽ vượt qua được ranh giới. Sức mạnh ấy có từ sự nỗ lực của bản thân (yếu tố chủ quan) và từ hoàn cảnh cuộc sống tạo điều kiện hỗ trợ cho sức mạnh của con người (yếu tố khách quan)

Phân tích, chứng minh

– Ranh giới mà Mị phải vượt qua: Đó là sự trói buộc về thể xác và sự đè nén về tinh thần, đặc biệt là sự đè nén về tinh thần.. Những người phụ nữ trong xã hội cũ ở miền núi tự cho rằng mình đã là con dâu trong nhà người ta  (dù là do hoàn cảnh bắt buộc) tất phải chấp nhận sống, chết, may thì được hưởng hạnh phúc, không may thì phải chấp nhận đau khổ. Sự nhẫn nhục và cam chịu đã ăn sâu vào máu thịt của họ và Mị không nằm ngoài quy luật ấy. Mĩ đã nghĩ: “ta là thân đàn bà, nó bắt ta về trình ma nhà nó thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi”.

– Sức mạnh khiến Mị vượt qua ranh giới:

+ Sức mạnh nội tại: trong Mị luôn tiềm tàng một sức sống mãnh liệt (Thí sinh phân tích sức sống tiềm tàng của Mị bộc lộ trong những hoàn cảnh: khi mới bị bắt về làm dâu gạt nợ Mị đau khổ muốn ăn lá ngón tự tử; trong đêm tình mùa xuân, Mị muốn đi chơi xuân…; khi cởi trói cho A Phủ và cũng A Phủ chạy trốn)

+ Sự tác động của hoàn cảnh khách quan: không khí đón Tết ở Hồng Ngài (đặc biệt là tiếng sáo) và cảnh A Phủ bị trói (đặc biệt là giọt nước mắt của A Phủ). Có một hoàn cảnh thuận lợi, thích hợp nhưng nếu con người không có sẵn sức mạnh nội tại  thì hoàn cảnh đó cũng chẳng có ý nghĩa gì. Nhân vật Mị sẵn có trong mình một sức mạnh tiềm tàng và khi gặp hoàn  cảnh khách quan thuận lợi thì sức mạnh đó được khơi dậy, được phát huy.

Đánh giá khái quát:

– Câu nói của Nguyễn Khải đã thể hiện một cái nhìn lạc quan về cuộc đời, một lối sống tích cực, có trách nhiệm. Câu nói như một lời khuyên, động viên con người đừng bao giờ chán nản, buông xuôi mà phải có nghị lực, niềm tin trước những khó khăn, thử thách trong cuộc sống

– Nhân vật Mị trong đoạn trích “Vợ chồng A Phủ” là một người phụ nữ có số phận đau khổ cực nhục, có sức sống tiềm tàng mãnh liệt. Sức sống mãnh liệt và khát vọng tự do đã giúp Mị vượt qua được ranh giới cuộc đời nô lệ để tự giải phóng cho mình. Qua đó nhà văn thể hiện niềm tin vào sức mạnh, bản lĩnh sống của con người.

– Khắc họa tâm lí nhân vật tinh tế, sắc sảo, chân thực.

Kết bài :

  • Đánh  giá chung
  • Khẳng định ý kiến trên là đúng đắn.

Xem thêm :Bộ đề luyện thi về Vợ chồng A Phủ- Tô Hoài : http://vanhay.edu.vn/tag/vo-chong-a-phu

Nghị luận ý kiến về bài Rừng xà nu- Nguyễn Trung Thành

Bộ đề luyện thi THPT Quốc gia môn Văn. Tổng hợp những đề thi về bài Rừng xà nu- Nguyễn Trung Thành

Đề bài :

Có ý kiến cho rằng: Nổi bật trong tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành là hình tượng cây xà nu, đây là một hình tượng nghệ thuật biểu trưng cho sức sống, phẩm chất của người Tây Nguyên thời chống Mĩ.

Anh (chị) hãy làm sáng tỏ nhận định trên ?

Đáp án :

Thí sinh có thẻ trình bày theo nhiều cách khác nhau song cần đảm bảo các ý cơ bản sau:

  1. Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm và vấn đề nghị luận

-Nguyễn Trung Thành là một nhà văn quân đội gắn bó với Tây Nguyên suốt hai cuộc kháng chiến, có nhiều tác phẩm thành công về mảnh đất và con người nơi đây.

-Truyện ngắn Rừng xà nu ra đời năm 1965, khi đế quốc Mỹ bắt đầu đổ quân ào ạt vào miền Nam, là câu chuyện về cuộc nổi dậy của dân làng Xô man.

-Một trong những thành công nổi bật của tác phẩm là xây dựng hình tượng nghệ thuật độc đáo: hình tượng cây xà nu.

-Có ý kiến cho rằng: Nổi bật trong tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành là hình tượng cây xà nu, đây là một hình tượng nghệ thuật biểu trưng cho sức sống, phẩm chất của người Tây Nguyên thời chống Mĩ.

 

2. Phân tích hình tượng cây xà nu để làm sáng tỏ nhận định:

* Cây xà nu là hình tượng nổi bật trong tác phẩm

– Hình ảnh rừng xà nu xuất hiện ngay từ những dòng mở đầu đến khi kết thúc truyện, trở đi trở lại, xuyên suốt trong tác phẩm.

– Cây xà nu gắn bó mật thiết với con người Tây Nguyên:

+ Cây xà nu gắn bó với cuộc sống sinh hoạt của người dân Xô Man.

+ Cây xà nu gắn với cả những kỉ niệm yêu thương.

+ Cây xà nu chứng kiến những sự kiện trọng đại của buôn làng.

→ Hình tượng cây xà nu có vị trí đặc biệt trong tác phẩm, vừa là hình tượng khơi nguồn cảm xúc cho nhà văn sáng tạo, vừa là mạch thẩm mĩ để nhà văn dẫn dắt câu chuyện.

* Cây xà nu là biểu tượng cho sức sống, phẩm chất của con người Tây Nguyên thời chống Mĩ

– Thương tích mà rừng xà nu phải gánh chịu tượng trưng cho những mất mát đau thương mà người Tây Nguyên phải trải qua.

– Sức sống mãnh liệt của cây xà nu tượng trưng cho sự kiên cường, bất khuất của người dân Tây Nguyên.

– Đặc tính ham ánh sáng mặt trời, “phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng” của cây xà nu tượng trưng cho niềm khao khát tự do, khao khát ánh sáng lí tưởng, một lòng đi theo Đảng của người dân Tây Nguyên.

Đánh giá chung

– Hình tượng cây xà nu là một thành công của nhà văn NguyễnTrung Thành khi tái hiện cuộc chiến đấu của đồng bào tây Nguyên với bọn Mĩ – ngụy. Cây xà nu không chỉ là loài cây có thật ở  Tây Nguyên mà còn là hình tượng tiêu biểu cho vẻ đẹp hào hùng, đầy sức sống của thiên nhiên và con người nơi đây.

– Xây dựng hình tượng cây xà nu, nhà văn đã sử dụng thủ pháp nghệ thuật so sánh, đối chiếu, ẩn dụ tượng trưng; ngôn ngữ, giọng điệu mang đậm tính sử thi hào hùng.

Đề sưu tầm

Xem thêm:Tổng hợp những đề thi về bài Rừng xà nu- Nguyễn Trung Thành:http://vanhay.edu.vn/tag/rung-xa-nu

Dạng đề Nghị luận ý kiến bàn về văn học :http://vanhay.edu.vn/tag/nghi-luan-y-kien-ban-ve-van-hoc

Chứng minh Nhận định về Hai đứa trẻ Thạch Lam

Ôn thi học sinh giỏi môn Văn. Bộ đề ôn luyện tác phẩm Hai đứa trẻ- Thạch Lam

Có ý kiến cho rằng: “Thạch Lam thường viết những truyện không có chuyện, chủ yếu khai thác thế giới nội tâm của nhân vật với những xúc cảm mong manh, mơ hồ trong cuộc sống thường ngày.

        Từ diễn biến tâm trạng của Liên và An khi đợi tàu trong truyện ngắn Hai đứa trẻ, anh/chị hãy làm sáng tỏ nhận định trên.

A. MB:
– Vị trí Thạch Lam
– Dẫn nhận định
B.TB
I. Giải thích ý kiến:
– Truyện không có chuyện: Danh nghĩa là tác phẩm tự sự- nghĩa là có hệ thống sự việc để tạo nên cốt truyện. Nhưng truyện Thạch Lam ít sự việc đến mức gần như không có cốt truyện.
– Thạch Lam chủ yếu khai thác thế giới nội tâm của nhân vật với những xúc cảm mong manh, mơ hồ trong cuộc sống thường ngày: Câu chuyện không gay cấn, giàu kịch tính mà từ những điều đơn giản trong cuộc sống thường ngày, nhà văn đi sâu miêu tả thế giới nội tâm nhân vật với những biến thái tinh vi, mơ hồ.
Đây là một nhận định về đặc điểm nổi bật của kiểu truyện tâm tình mà Thạch Lam là đại diện tiêu biểu.
– Chi tiết Liên và An đợi tàu nằm ở cuối tác phẩm “Hai đứa trẻ”, tập trung rõ giá trị tư tưởng cả tác phẩm cũng như đặc sắc trong việc miêu tả nhân vật với những cảm xúc mong manh, tinh tế của nhà văn.
II. Chứng minh ý kiến:
1. Thạch Lam thường viết truyện không có chuyện:
Sự việc đơn giản: Chị em Liên và An thức đợi chuyến tàu đêm từ Hà Nội về đi qua phố huyện rồi mới đi ngủ.
2. Thạch Lam chủ yếu khai thác thế giới nội tâm của nhân vật với những xúc cảm mong manh, mơ hồ trong cuộc sống thường ngày:
a. Khi tàu ở xa: Hai đứa trẻ háo hức, tha thiết chờ đợi và cảm nhận về chuyến tàu qua:
– Âm thanh: tiếng còi xe lửa kéo dài ra theo ngọn gió xa xôi, tiếng xe rít mạnh vào ghi, tiếng hành khách ồn ào khe khẽ.
– Hình ảnh: Làn khói bừng sáng trắng đằng xa.
Cảm nhận kĩ lưỡng, bằng nhiều giác quan.
b. Khi tàu lại gần: Hai đứa trẻ quan sát chuyến tàu tỉ mỉ:
– Toa đèn sáng trưng, những toa hạng trên sang trọng lố nhố những người, đồng và kền lấp lánh, các cửa kính sáng.
– So với mọi khi: không đông, thưa vắng người, kém sáng hơn.
Cảm nhận tinh tế bằng cả hiện tại và hồi ức.
c. Khi tàu đi qua:
– Liên cùng em nhìn theo cái chấm nhỏ khuất dần sau rặng tre.
– Lặng theo mơ tưởng vì đây là chuyến tàu từ Hà Nội về- nơi luôn sáng rực, vui vẻ, huyên náo, và so sánh thế giới trên tàu với cuộc sống nghèo nàn, tối tăm, tĩnh mịch ở phố huyện này.
– Cảm nhận cả phố huyện lại trở về trạng thái sống lặng lẽ, chỉ nghe tiếng trống cầm canh và tiếng chó cắn, với những mảnh đời trong bong tối: Chị Tí, bác Siêu, gia đình bác xẩm ngủ gục trên manh chiếu.
– Liên thấy mình sống giữa bao nhiêu sự xa xôi: nhận thức được rõ hơn, sâu hơn sự ngưng đọng, tù túng của cuộc sống phủ đầy bóng tối: mơ ước mong manh, le lói về tương lai như chiếc đèn con của chị Tí chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ.
Con tàu đến đã tác động một cách mạnh mẽ vào lòng người, trở thành nhu cầu, một phần tất yếu trong cuộc sống của hai đứa trẻ.Từ đó mà chúng ý thức được đầy đủ và sâu sắc cuộc sống buồn tẻ của mình.
III. Bình luận:
– Đời sống nội tâm của hai đứa trẻ đã góp phần quan trọng tạo nên chất thơ của truyện ngắn.
– Diễn biến tâm trạng của Liên và An khi đợi tàu đã giúp mỗi người nhận ra cuộc sống vô vị, lặng lẽ để khao khát vươn lên cuộc sống tốt đẹp hơn.
– Nhà văn thành công trong việc miêu tả diễn biến tâm trạng của Liên và An trước một sự việc đời thường như thế la do ông là người đôn hậu, tinh tế, từng có quãng thời gian tuổi thơ như hai đứa trẻ trong tác phẩm. Và trên hết là nhà văn có quan niệm văn chương lành mạnh, tiến bộ.
C. KB: Khẳng định lại vấn đề.

Đề sưu tầm.

Xem thêm tuyển tập đề thi học sinh giỏi môn Văn :http://vanhay.edu.vn/hoc-sinh-gioi

Tuyển tập đề thi co đáp án về Hai đứa trẻ Thạch Lam :http://vanhay.edu.vn/tag/hai-dua-tre

Đề thi hay và khó về bài thơ Sóng- Xuân Quỳnh

Đề thi thử nghiệm, kì thi THPT Quốc gia môn văn. Bộ đề thi thử kì thi THPT Quốc gia môn văn có đáp án, tổng hợp tài liệu ôn thi về bài thơ Sóng- Xuân Quỳnh.

Viết về cảm xúc trong thơ, nhà phê bình Hoài Thanh từng có ý kiến: Dòng cảm xúc quá chừng sôi nổi khiến cho câu chữ không thể đi theo những đường viền có sẵn, ý thơ xô đẩy làm cho khuôn khổ câu thơ cũng phải lung lay.

Bằng việc cảm nhận bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh, anh (chị) hãy bình luận ý kiến trên.

Hướng dẫn :

  1. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận (0,25 điểm): Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề nghị luận, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề.

– Điểm 0,25: Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết luận. Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn đề và thể hiện được ấn tượng, cảm xúc sâu đậm của cá nhân.

– Điểm 0: Thiếu Mở bài hoặc Kết luận, Thân bài chỉ có 1 đoạn văn hoặc cả bài viết chỉ có 01 đoạn văn.

  1. 2. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,5 điểm): Vai trò của cảm xúc trong thơ ca: Khi cảm xúc quá sôi nổi, mãnh liệt nó sẽ phá vỡ những hình thức có tính khuôn mẫu, ổn định.

– Điểm 0,5: Xác định đúng vấn đề cần nghị luận như trên

– Điểm 0,25: Xác định chưa rõ vấn đề cần nghị luận, chỉ nêu chung chung.

– Điểm 0: Xác định sai vấn đề cần nghị luận, trình bày lạc sang vấn đề khác.

  1. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; kiến thức về lí luận, về tác phẩm và đoạn trích (2,5điểm)

3.1. Giới thiệu vài nét về tác giả Xuân Quỳnh và bài thơ “Sóng” (0,25đ)

3.2. Giải thích ý kiến của Hoài Thanh (0,5đ):

+ “Cảm xúc” là những rung động, là tình cảm- đây là yếu tố quan trọng nhất của thơ. Khởi nguồn của thơ là tiếng nói của tình cảm, cảm xúc. “Sôi nổi” chỉ mức độ của cảm xúc: nồng nàn, cháy bỏng, mãnh liệt dâng trào. “Ý thơ” chỉ tư tưởng, tình cảm.

+ “Những đường viền có sẵn”, “khuôn khổ câu thơ”: Những quy định có sẵn từ trước, những hình thức có tính chất khuôn mẫu, ổn định. “Xô đẩy”, “không đi theo”, “lung lay” đều chỉ sự bứt phá, vượt ra khỏi những quy định.

=> Khi cảm xúc, tình cảm trong thơ đến mức mãnh liệt nó sẽ phá vỡ những khuôn mẫu, những hình thức có tính chất ổn định. Từ đó cho thấy trong mối quan hệ giữa nội dung cảm xúc và hình thức nghệ thuật của thơ thì nội dung cảm xúc đóng vai trò chi phối.

3.3. Cảm nhận bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh (1,25đ)

+ “Sóng” là dòng cảm xúc “quá chừng sôi nổi”, là tiếng nói tình cảm mãnh liệt của một trái tim phụ nữ yêu chân thành, da diết. Cái “tôi” trữ tình khi thì hóa thân vào “em”, khi thì soi mình vào “sóng”. “Sóng” và “em” cùng song song tồn tại để bộc lộ những cảm xúc của nhân vật trữ tình.

++ Những trạng thái cảm xúc phong phú, phức tạp có lúc tưởng mâu thuẫn mà lại thống nhất trong tâm hồn người con gái đang yêu.

++ Khát vọng tự nhận thức, khát vọng tình yêu

++ Nỗi nhớ cháy bỏng, da diết trong tình yêu.

++ Tình cảm thủy chung khăng khít

++ Những dự cảm âu lo và niềm tin vào tình yêu chân chính

++ Khát vọng bất tử hóa tình yêu.

+ Ở “Sóng” có sự phá vỡ những hình thức, khuôn mẫu có tính chất ổn định (“câu chữ không đi theo đường viền có sẵn, khuôn khổ câu thơ bị lung lay”)

++ Âm điệu của bài thơ: Bài thơ có âm điệu của sóng. Sóng biển hay cũng chính là sóng lòng của người con gái đang yêu. Âm điệu đó được tạo nên do thể thơ (thể thơ năm chữ, gieo vần, ngắt nhịp, hài thanh linh hoạt); phương thức tổ chức ngôn từ và hình ảnh.

++ Kết cấu của bài thơ độc đáo thể hiện “dòng cảm xúc quá chừng sôi nổi”: Cả bài thơ có 9 khổ. Bốn khổ đầu và bốn khổ cuối mỗi khổ đều có 4 câu, riêng khổ giữa (khổ 5) có 6 câu. Kết cấu đó khiến người ta liên tưởng tới hai chân sóng và đỉnh sóng.

++ Hình tượng thơ: Có hai hình tượng song song tồn tại: Sóng và em, lúc thì phân thân soi chiếu vào nhau, lúc lại hòa với nhau làm một. Sóng biển và sóng lòng hòa quyện trong nhau.

++ Các biện pháp tu từ: Ẩn dụ, so sánh, nhân hóa được sử dụng linh hoạt nhằm diễn tả những cảm xúc trong tâm hồn người con gái đang yêu.

++ Ngôn ngữ thơ giản dị, tự nhiên như tiếng lòng chân thành của người phụ nữ, không màu mè, kiểu cách.

3.4. Bình luận ý kiến của Hoài Thanh (0,5đ): Học sinh có thể nêu ý kiến và lí giải:

+ Nội dung cảm xúc và hình thức nghệ thuật trong thơ phải có sự hài hòa, phù hợp với nhau. Tuy nhiên, trong mối tương quan giữa nội dung và hình thức thì nội dung là cái có trước và bao giờ cũng đóng vai trò chủ đạo. Thông qua ý thức năng động và tích cực chủ quan của người nghệ sĩ, nội dung cố gắng đi tìm một hình thức thể hiện phù hợp với nó, để bộc lộ một cách đầy đủ nhất, hấp dẫn nhất bản chất của nó. Khi tiếng nói cảm xúc, tình cảm trong thơ nồng nhiệt đến độ cao trào thì nó sẽ vượt ra khỏi khuôn khổ hình thức bình thường để rồi lại đi tìm một cách thể hiện khác phù hợp với nó. Đó chính là sự “phá vỡ những đường viền có sẵn”.

+ Khi cảm xúc phá vỡ những giới hạn, những hình thức cũ thì sẽ có một hình thức mới ra đời. Đây cũng chính là hành trình đi tìm sự sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ. Nghệ thuật cũng vì thế mà luôn sáng tạo, luôn mới mẻ, hấp dẫn. (dẫn chứng: Thơ mới 30-45)

+ Ý kiến của nhà phê bình Hoài Thanh là ý kiến xác đáng, đúng đắn, đầy biện chứng về mối quan hệ giữa nội dung và hình thức trong thơ. Tuy nhiên cũng cần phải thấy rằng: Không phải cứ có cảm xúc mãnh liệt thì sẽ có sự phá cách và tạo nên cái mới trong nghệ thuật thơ ca. Việc sáng tạo nên những hình thức mới mẻ còn phải phụ thuộc vào cái tài của người nghệ sĩ. Cảm xúc chỉ là phần “xương thịt”, là yếu tố khơi nguồn và thúc đẩy. Hơn nữa, không chỉ thơ mà đối với loại hình nghệ thuật nào cũng vậy nội dung cảm xúc, tư tưởng luôn đóng vai trò chủ đạo, quyết định đối với hình thức thể hiện.

– Điểm 2,25- 2,5: Đảm bảo các yêu cầu trên song một trong các luận điểm giải thích, bàn luận chưa trình bày được đầy đủ.

– Điểm 1,75- 2,0: Cơ bản đáp ứng được các yêu cầu trên, song một trong các luận điểm giải thích, phân tích, bàn luận còn chưa được trình bày đầy đủ hoặc liên kết chưa thực sự chặt chẽ.

– Điểm 1,0 -1,5 : Đáp ứng 1/2 đến 2/3 các yêu cầu trên.

– Điểm 0,5 – 0,75: Đáp ứng được 1/3 các yêu cầu trên.

– Điểm 0,25: Hầu như không đáp ứng được yêu cầu nào trong các yêu cầu trên.

– Điểm 0: Không đáp ứng được bất kì yêu cầu nào trong các yêu cầu trên.

  1. Sáng tạo (0,5 điểm) Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận.

Xem thêm : Tổng hợp những đề thi về bài Sóng- Xuân Quỳnh: http://vanhay.edu.vn/tag/song-xuan-quynh

Đề thi học sinh giỏi về bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc – Nguyễn Đình Chiểu

Đề ra: Bàn về bài “ Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” sách văn 11 cho rằng:

“Lần đầu tiên trong lịch sử văn học dân tộc có một tượng đài nghệ thuật sừng sững về người nông dân tương xứng với phẩm chất vốn có ngoài đời của họ”.

Anh/chị hiểu ý kiến trên như thế nào và qua bài văn tế hãy làm sáng tỏ./.

 

BÀI LÀM:

 

“Không ai nhớ mặt đặt tên

  Nhưng họ đã làm nên đất nước.”

Vâng, có những bông hoa không rực rỡ nhưng ngát hương, có những cuộc đời thầm lặng nhưng cao cả. Tên tuổi, thể xác và linh hồn của các anh- những người lính, người nghĩa sĩ đã hóa vào hồn thiêng sông núi “ để lại dáng đứng Việt Nam tạc và thế kỉ”, đã hóa thân vào những trang văn làm nên những bức tượng đài bất tử. Đến với “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu mỗi người đều xúc động trước hình tượng người nông dân nghĩa sĩ được khắc tạc dưới ngòi bút chân thực, sinh động của nhà thơ. Có lẽ chăng xuất phát từ đó mà bàn về bài văn tế sách văn 11 đã cho rằng:

“Lần đầu tiên trong lịch sử văn học dân tộc có một tượng đài nghệ thuật sừng sững về người nông dân tương xứng với phẩm chất ngoài đời của họ.”

Nguyễn Đỉnh Chiểu đã vận dụng thể văn tế theo  đặc điểm của thể loại bốn phần: phần lung khởi nêu khái quát về cuộc chiến đấu, hi sinh của nghĩa sĩ; phần thích thực nêu lên những đóng góp, công lao của người nghĩa sĩ đối với nhân dân, với đất nước; phần ai vãn thể hiện nỗi niềm tiếc thương của những người ở lại; phần kết là lời hứa về những việc làm của người còn sống để đền ơn những người đã khuất. Thế nhưng làm nên điều khác biệt ở đây là đối tượng trong bài văn tế là những nghĩa sĩ Cần giuộc đã hi sinh trong trận chiến chống thực dân Pháp, đây là một trong những yếu tố thể hiện quan điểm tiến bộ của ông để “ lần đầu tiên trong lịch sử văn học dân tộc có một bức tượng đài nghệ thuật sừng sững về người nông dân tương xứng với phẩm chất vốn có ngoài đời của họ.”

Đọc “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” ta không chỉ thấy ở đó một tấm lòng cảm phục, kính trọng đối với những nghĩa sĩ mà còn bắt gặp một bức tranh chân thực về cuộc sống lao động và chiến đấu của họ- những người nông dân khoác áo nghĩa binh. Hơn bao giờ hết, hình ảnh những người nông dân nghĩa sĩ, hình ảnh về cuộc chiến đấu cam khổ của họ hiện lên chân thực đến sống động trước mắt người đọc bởi nó được viết nên bằng chính xương máu và nước mắt của họ; được viết nên bằng hồn thiêng sông núi; bằng tất cả niềm cảm phục, biết ơn của nhân dân đối với họ… Xương máu, nỗi lòng kí thác cho đời của người đã khuất; nước mắt, niềm đau của người ở lại; lòng biết ơn, nỗi quốc hận của nhân dân.. tất cả…tất cả đã làm nên nghiên mực để Nguyễn Đỉnh Chiểu viết nên bài văn tế với tất cả tấm lòng, tài năng khắc tạc vào lòng người một bức tượng đài bi tráng về người nông dân nghĩa sĩ, một niềm xúc động đén nghẹn lòng, dội vào hậu thế một bài học lịch sử khắc cốt ghi tâm… Sự sáng suốt của Nguyễn Đỉnh Chiểu là đã dồn bút lực, tài hoa để ca ngợi những người anh hùng thất thế.

Trong tiếng hkóc cao cả của nhà thi sĩ, trong những giọt nước mắt thương tiếc của nhân dân hình ảnh người nông dân nghĩa sĩ hiện lên rõ ràng:

“Hỡi ôi!

            Súng giặc đất rền; lòng dân trời tỏ.”

Hình ảnh đối lập trên đã diẽn tả được mâu thuẫn sâu sắc, quyết liệt của thời đại, mâu thuẫn xâm lược và chống xâm lược, khẳng định vai trò người nông dân trong công cuộc bảo vệ đất nước. “Lòng dân” đã sáng rực lên trong lửa đạn, trong âm vang của chiến tranh. Chỉ có nhà nghệ sĩ của nhân dân mới tạc tượng người nông dân một cách thiêng liêng giữa trời cao đất rộng, trong thời đại bão táp như vậy.

Bức “ tượng đài nghệ thuật” còn được người nghệ sĩ của nhân dân dựng lên chi tiết hơn với những nét hoành tráng, sống động. Họ vốn là những người nông dân chất phác, hiền lành chỉ cần mẫn với gió sương:

          “Trông trười, trông đất, trông mây

                             Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm

                                        Trông cho chân cứng đá mềm

                             Trời yên biển lặng mới yên tấm lòng.”

Họ sinh ra là những người con của đất, chỉ biết “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” để cày xới trên mảnh đất quên hương, làm lụng vất vả vì miếng cơm manh áo để mưu sinh cuộc sống. Cái nghèo, cái khó đã khiến họ suốt cả một đời chỉ biết lao động hăng say, không biết đến binh đao, chiên trận. Họ hiền lành, chân thật đến mức:

“Cui cút làm ăn; toan lo nghèo khó

            Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung; chỉ biết ruộng trâu ở trong làng bộ.

            Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm; tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.”

Chân thực và giản dị người nông dân Nam Bộ đã hiện ra với những vè đẹp vốn có của họ. Hình ảnh họ hiện lên- hình ảnh những người nông dân chất phác với làn da ngăm sạm vì dạn dày sương gió của đồng áng chứ không phải là nắng mưa của thao trường; bàn tay họ chai sạn nhưng là do cầm cuốc, cầm cày chứ không phải cầm khiên, cầm mác chiến đấu… Tất cả đã khẳng định một vẻ đẹp của họ, tiêu biểu cho vẻ đẹp của người nông dân Việt Nam đó là: yêu lao động, yêu hòa bình.

Khi thực dân Pháp kéo quân vào giày xéo đất nước ta, giết hại nhân dân ta tới mức:

“Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy

                                        Mất ổ đàn chim dáo dác bay.”

thì thử hỏi lòng dân ai không oán giận? Nhưng trong hoàn cảnh ấy không phải ai cũng có sức mạnh để đứng lên, ai cũng đủ dũng cảm để chiến đấu và hi sinh để bảo vệ từng tấc đất của quê hương. Chỉ có những người nông dâ n vốn yêu chuộng hòa bình họ bỗng “rũ bùn đứng dậy sáng lòa”, trở thành những nghĩa sĩ kiên cường mang trên đôi vai sức vóc của cả dân tộc. Vẫn là người nông dân ấy nhưng trước họa xâm lăng Nguyễn Đình Chiểu đã nhận thấy ở họ một sức mạnh chiến đấu, một sức sống tiềm tàng, khỏe khoắn, cương trực- một vẻ đẹp đặc trưng của con người Nam Bộ: “Làm ơn há dễ trông người trả ơn”.  Với lòng yêu quê hương sâu sắc, với lòng căm thù giặc cao độ, những người nông dân lương thiện đã trở thành những nghĩa sĩ kiên cường, bất khuất, tuyệt vời:

“Bữa thấy bòng bòng che trắng lốp, muốn tới ăn gan; ngày xem ống khói chạy đen sì muốn ra cắn cổ.

            Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu; hai vầng nhật nguyệt chói lòa, đâu dung lũ treo dê bán chó.”

Chỉ đặt trong những hoàn cảnh cam go thì sức mạnh tiềm tàng của họ mới tỏa sáng để làm nên những điều kì diệu của cả dân tộc. Họ vốn là những người hiền lành, mộc mạc, chấn chất, hoàn toàn xa lạ với việc quân “ chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung”, còn nói gì đến việc “ tập khiên, tập sung, tập mác, tập cờ”, còn nói gì đến “ mười tám ban võ nghệ”. Nhìn thấy những chiếc tàu Pháp ngày càng nghênh ngang đi lại trên sông ngòi quê hương, chứng kiến cảnh nhân dân lầm than, khốn khố dưới chế độ phong kiến thối nát, vua quan nhà Nguyễn chỉ là một lũ bù nhìn, phát xít thực dân thì ra sức vơ vét, bóc lột, “quần ngư tranh thực”… những người nông dân yêu chuộng hòa bình ấy không khỏi căm phẫn. Họ chỉ “muốn tới ăn gan”, “muốn ra cắn cổ”- một lòng căm thù giặc sục sôi nhưng vẫn còn mạng đậm chất nông dân thật thà, chân chất, rất đời thường. Họ vẫn ngày đêm trông ngóng, hi vọng, hướng mắt về phương Bắc- nơi vẫn còn giữu chủ quyền, nhưng càng hi vọng lại càng thất vọng:

  “Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa.”

Biết tới khi nào “thánh đế soi ân thấu” để họ có thể đón lấy  “một trận mưa nhuần rửa núi sông”. Bản chất hiền lành, mộc mạc, cần lao của những người nông dân càng hiệnlên rõ nét qua những phép so sánh: “ trông tin quan như trời hạn trông mưa”, “ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ”… rất thực, rất “nông dân’ nhưng cũng rất dầy đủ, rất sâu sắc khi lột tả niềm căm hận, phẫn uất của họ.

Thưong biết bao nhiêu những người nông dân nghĩa sĩ ấy thì ta lại càng biết ơn, cảm phục bấy nhiêu trước tinh thần, ý chí của họ; càng căm thù lũ bán nước và cướp nước. Họ chỉ là những người nông dân nghèo khổ, họ không được học hành tử tế, họ chẳng có của cải giàu sang, họ chỉ có tinh thần và đôi cánh sức mạnh. Thế nhưng khi vận mệnh quốc gia dân tộc lâm nguy thì vua chẳng hay, quan cũng chẳng màng… đó là những ngươi có thế lực, có nhận thức, được coi là cha mẹ của nhân dân nhưng khi quân giặc giày xéo thì vua đâu? Quan đâu? Chỉ có những người nông dân rũ bùn đứng lên chiến đấu. Hơn bao giờ hết họ đẹp một vẻ đẹp sáng ngời cả dân tộc. Động lực nào đã khiến cho những con người nhỏ bé ấy an đảm đứng lên chống lại một thế lực bạo tàn như thực dân Pháp? Đó là tình yêu quê hương,đất nước; đó là tình yêu hòa bình; là để gìn giữ từng tấc đất thớ thịt mà cha ông ta đã 4000 năm bảo vệ và xây dựng… Là nghĩa sĩ nhưng họ không mang giáp trụ, không súng, không khiên, trến tâm thân ấy chỉ là một manh áo vải- một manh áo vải màu đất, màu quê hương bền bỉ, đậm đà. Họ mang cả hương lúa đượm nồng, mùi đất cày đất cấy quê hương cù với lòng yêu nước sục sôi và lòng căm thù giặc tột cùng để làm động lực đem ra chiến trường:

“Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu bầu ngòi; trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ.

            Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia; gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai họ.

            Chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không; nào sợ thằng Tây bắn đạn to đạn nhỏ,x ô cửa xông vào liều mình như chẳng có.”

          Một khí thế ào ào như thác đổ, mạnh mẽ như vũ bão khiến cho quân giặc kinh hoàng. Còn thấy đâu hình ảnh một người nông dân chỉ biết “ cui cút làm ăn, toan lo nghèo khó” mà giờ họ là những người lính khoác áo vải. Chỉ bằng những vật dụng thô sơ thường ngày: “ngọn tầm vông”, “rơm con cúi”, “lưỡi dao phay”… họ đã xông lên đánh bại kẻ thù với những vũ khí tân trang, chẳng sợ “đạn to đạn nhỏ” mà “liều mình như chẳng có”. Hàng loạt động từ mạnh đã bắt nhịp cho dòng máu nóng đang sục sôi trong huyết quản của những người nông dân khoác áo nghĩa binh: “đốt”, “chém”, “đạp rào lướt tới”, “xô cửa xông vào”… Những màu sắc, đường nét sắc sảo và hình khối gồ ghề khiến người đọc có thể hình dung được những hành động quyết liệt, những âm thanh cuồng nộ của những người nông dân vùng lên đánh giặc;

“Sống làm chi, theo quân tả đạo quăng vùa gươm, xô bàn độ, thấy lại thêm buồn

            Sống làm chi ở lính Mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.”

          Với những đường nét hoành tráng, nhà nghệ sĩ nhân dân đã tạc nên “tượng đài nghệ thuật” một cách hùng tráng. Hùng tráng vì đây là hànhđộng của những anh hùng có nghĩa lớn. Hùng tráng vì ở lí tưởng tốt đẹp, phẩm chất cao cả của những người nghĩa sĩ nông dân. Hùng tráng vì nó được dựng lên trong một thời đại sóng gió, bão táp, trong những giờ phút nghiêm trọng của đất nước.

Hùng tráng mà bi thương vì họ là những anh hùng chiến bại. Bức tượng đài về những người anh hùng cao cả ấy được dựng nên trong nước mắt, trong tiếng khóc của nhà thơ và của nhân dân. Nhưng bi tráng mà không bi lụy, tuy họ là những người chiến bại nhưng trong lòng nhân dần, trong quốc hồn quốc túy thì họ là những người thắng trận, họ lag những anh hùng vĩ đại. Đó là tiếng khóc dành cho người nông dân nghĩa sĩ, là tiếng khóc cho một thời đại của tác giả, gia đình, thăm quyến, dân tộc. Tiếng khóc mang tầm sử thi, tiếng khóc mang trọn niềm kiêu hãnh, tự hào không phải của một người khóc cho một người mà của sông núi, cỏ cây, đất nước… đang ngưỡng vọng đối với linh hồn họ. Những người con “ưu tú” của dân tộc ấy đã ra đi, đã chiến đấu để lại mẹ già, con thơ; để lại gốc đa , sân đình và xả thân vì nghĩa lớn, thanh thản như cày xong một thửa ruộng. Để rồi đằng sau sự ra đi ấy là niềm thương tiếc, đau buồn; nỗi mất mát lớn lao khi con mất cha, vợ mất chồng, mẹ mất con, gia đình mất đi trụ cột:

“Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây; trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ.

            Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng; nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng lụy nhỏ.”

Họ sống mãi trong tình thương, trong trái tim của những người thân yêu, trong lòng nhân dân:

“Chùa Tân Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm

            Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đỏ.”

Họ đã trở thành người bất tử. tưởng chừng cuộc chiến đáu anh dũng của họ vẫn tiếp diễn cùng với sự nghiệp giữ nước vĩ đại của dân tộc:

“Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia.”

Hình tượng người nông dân nghĩa sĩ là một thành công lớn của Nguyễn Đình Chiểu. Những người nông dân ấy hiện lên rất gần gũi, thân thương mà lại lớn lao, sừng sững. Nguyễn Đình Chiểu không viết về họ bằng những lời ngợi ca, những hình ảnh bóng bẩy, ngôn từ trau chuốt mà ông chấm phá những nét vẽ mộc mạc, gần gũi, giản gị thậm chí còn có đôi chút quê mùa nhưn chính người nông dân Nam Bộ để làm nên hình tượng người nông dân “ tương xứng với vẻ ngoài vốn có của họ”. Khi hòa bình họ là những người nông dân hiền hòa như mảnh đát quê hương, miệt mài, hăng say trong lao động để tô điểm cho đất nước, nhưng khi có bóng quân thù họ với tay cày tay cuốc, với tâm hồn và tấm lòng, với tinh thần và ý chí đã mạng trọn mùi mẫn chân quê ra chiến trường trận địa quyết dốc sức xả thân để bảo vệ từng tấc đất thớ thịt của quê hương. Vẻ đẹp sức mạnh của người nông dân ít được khắc họa trong văn học cổ. Nếu như Nguyễn Trãi đã bộc lộc sự tiến bộ trong tư tưởng của mình qua việc “lấy dân làm gốc” thì có lẽ Nguyễn Đình Chiểu là người thứ hai sau Nguyễn Trãi đã phát hiện, trân trọng và ngợi ca vẻ đẹp tiềm ẩn của người nông dân. Phạm Văn Đồng đã từng cho rằng: “Ngòi bút, nghĩa là tâm hồn của Nguyễn Đỉnh chiểu đã diễn tả thật là sinh động và não nùng, cảm tình của dân tộc đối với người nghĩa sĩ của nghĩa quân, vốn là người nông dân,  xưa kia chỉ quen cày cuốc, bỗng chốc trở thành người anh hùng cứu nước.”

Và rồi, chúng ta- mỗi người con Lạc cháu Hồng, mỗi người dân Việt Nam hôm nay lại không khỏi xúc động, tự hào, biết ơn trước sự hi sinh quên mình của nững người nông dân nghĩa sĩ ấy. Chính họ đã góp phần làm ngời sáng thêm trang sử vẻ vang của cách mạng dân tộc sau này. Hình tượng người nông dân nghĩa sĩ trong tác phẩm còn gợi chúng ta nhớ về quá khứ với dáng vóc của vị vua áo vải Quang Trung- Nguyễn Huệ; gợi mở trong lòng chúng ta về hình ảnh của người nông dân khoác màu áo lính trong thời hiện đại:

Ruộng nương anh gửi bạn thân cày

                                         Gian nhà không mặc kệ gió lung lay

                                         Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính

                                         Áo anh rách vai

                                         Quần tôi có vài mảnh vá

                                         Chân không giày

                                          Miệng cười buốt giá

                                        Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.”

                 (“Đồng chí”- Chính Hữu)

Hay;

                                      “Lũ chúng tôi

                                        Bọn người tứ xứ

                                        Gặp nhau từ hồi chư biết chữ

                                        Quen nhau từ buổi một mai

                                        Súng bắn chưa quen

                                        Quân sự mươi bài

                                        Lòng vẫn cười vui kháng chiến.”

                                                                        (“Nhớ”- Hồng Nguyên)

Đó đều là hình tượng người nông dân trong chiến đấu được khắc họa thành công và trở thành một đề tài trong văn học Việt nam thời kì kháng chiến cách mạng.

Gấp trang sách lại, hình ảnh về người nông dân nghĩa sĩ trong tác phẩm “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” hiện lên trong lòng người đọc đầy dư ba, gợi ta nhớ về quá khứ, nhắc nhở mỗi người về lịch sử, về cuộc sống hôm nay. Như con chim trước lúc chết kịp để lại tiếng hót cho đời, bông hoa trước lúc tàn cũng kịp để lại hương sắc cho cuộc sống; họ- những người nông dân nghĩ sĩ đã cống hiến cho dân tộc, cho nhân dântấm lòng yêu nước kiên trung, tinh thần xả thân vì nghĩa lớn trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Sự thành công trong việc khắc họa hình tượng ấy lại một lần nữa khẳng định tính đúng đắn của ý kiến trên và khẳng định tài năng của Nguyễn Đỉnh Chiểu- “một ngôi sao sáng trên bầu trời văn học Việt Nam”, một nhà văn, nhà thơ, một nhà yêu nước vĩ đại của dân tộc ta thời kì đầu chống thực dân Pháp.

Xem thêm những đề thi về Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc- Nguyễn Đình Chiểu : http://vanhay.edu.vn/tag/van-te-nghia-si-can-giuoc

Bộ đề thi học sinh giỏi môn Văn có đáp án : http://vanhay.edu.vn/hoc-sinh-gioi

Đề thi học sinh giỏi: : “Truyện cổ tích thần kì là những hư cấu kì ảo về một hiện thực chỉ có trong mơ ước”

Bộ đề ôn luyện thi học sinh giỏi môn Văn. Tổng hợp những đề thi học sinh giỏi Ngữ văn lớp 10

Đề ra: Có ý kiến cho rằng: “Truyện cổ tích thần kì là những hư cấu kì ảo về một hiện thực chỉ có trong mơ ước”.

Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào? Chứng minh qua một số truyện cổ tích đã được học.

BÀI LÀM

Con người luôn hướng đến những điều tốt đẹp về một cuộc sống đủ đầy, hạnh phúc hơn, một cuộc sống bình đẳng, nơi đó cái thiện sẽ lên ngôi chiến thắng cái ác. Những ước mơ ngàn đời ấy được thể hiện rõ nét qua những câu chuyện cổ tích bình dị, mang cả điệu hồn dân tộc, ru ta lớn khôn từ thời tấm bé. Khi thực tại quá tối tăm thì những người dân lao động chỉ biết tìm thấy chút ánh sáng le lói cháy lên qua những ngọn nến ước mơ nơi cuối đường hầm. Chính vì thế mà đã có nhận định cho rằng: “Cổ tích thần kì là những hư cấu kì ảo về một hiện thực chỉ có trong mơ ước”.

Truyện cổ tích thần kì là loại tiêu biểu nhất của truyện cổ tích. Những truyện thuộc tiểu loại này thường ra đời từ rất sơm và những đặc trưng cơ bản của truyện cổ tích đều có thể tìm thấy ở kiểu truyện này. Đặc trưng nổi bật của truyện cổ tích là sử dụng yếu tố kì ảo một cách đậm đặc. Đó là một yếu tố không thể thiếu được của cốt truyện, phản ánh mhữmg ước mơ, nguyện vọng về một xã hội lí tưởng của nhân dân và kết thúc truyện thường có hậu.

Truyện cổ tích tập trung phản ánh số phận của những con người nhỏ bé, khốn khổ, tủi nhục trong xã hội đầy áp bức bất công… Mỗi nhân vật có một số phận khác nhau mhưng đều có chung những phẩm chất tốt đẹp: hiền lành, tốt bụng, tài năng. Đó là anh Khoai nghèo khó, bần hàn nhưng cần cù, chất phác; là chàng Sọ Dừa đội lốt xấu xí nhưng chăm chỉ, hiền lành; là chàng Thạch Sanh có số phận bất hạnh nhưng tài năng, thương người… Họ đại diện cho tầng lớp nhân dân thấp cổ bé họng, sống trong lầm than, khổ cực nhưng vẫn giữ tâm hồn trong sáng, lương thiện, đức tính chăm chỉ, cần cù vốn có.

Truyện cổ tích thần kì xây dựng thành công một thế giới trong mơ ước. Thông qua những câu chuyện ấy một ánh sáng lí tưởng của nhân dân được nêu lên về một xã hội công bằng, dân chủ. Trong đó, người lương thiện, tốt bụng, tài năng sẽ được hưởng hạnh phúc xứng đáng với những phẫm chất tốt đẹp của họ. Một cô Tấm thảo hiền trở thành hoàng hậu; một chàng Thạch Sanh trở thành phò mã… Tất cả đều là những ước mơ, những giấc mơ giản dị mà đẹp đẽ thể hiện cho khát vọng của con người trong cuộc sống. Họ mong muốn những người ở hiền sẽ được gặp lành, còn những kẻ độc ác, xấu xa sẽ bị trừng trị thích đáng. Mơ ước và con người sống trong mơ ước ấy không ngừng đấu tranh để đạt được mơ ước, để biến mơ ước ấy thành hiện thực. Họ mơ ước trong hiện thực và mơ ước về hiện thực, không phải những điều tốt đẹp ở cõi tiên hay một nơi nào khác mà ngay chính giữa cuộc đời họ. Nó vẫn là thế giới ở trần gian, tồn tại, biến động với tất cả sự phong phú, đa dạng, phức tạp của nó. Chỉ có điều, thế giới ấy được hoàn thiện hóa, lí tưởng hóa lên mà thôi.

Trong xã hội loài người, xã hội mà con người đã, đang và sẽ sống luôn luôn tồn tại biết bao nhiêu sự phức tạp, đa dạng thẫm chí cả những mâu thuẫn hết sức gay gắt nóng bỏng. Bên cạnh những điều tốt đẹp, tươi sáng vẫn còn không ít những cái xấu xa, đen tối nhởn nhơ giữa cuộc đời, đặc biệt trong xã hội phong kiến- hoàn cảnh ra đời chủ yếu của truyện cổ tích. Mà con người ngay từ khi xuất hiện đã không ngừng vươn tới chân, thiện, mĩ. Do đó, người ta không thể chấp nhận những điều xấu xa, giả dối kia. Người ta phải xây dựng nên trong khát vọng và trí tưởng tượng của mình một thế giới khác tươi đẹp hơn. Đó cũng là một hình thức phủ nhận hiện thực đen tối. Khi ước mơ không thể thực hiện thì qua những câu chuyện cổ tích ánh sáng kì ảo, chói ngời hạnh phúc vào cuộc đời tối tăm, bất hạnh của con người, khiến họ yêu đời và sống mạnh mẽ hơn. Trong thế giới truyện cổ tích, người hiền sẽ gặp lành, kẻ ác bị trừng trị; sự công bằng được thực hiện, lao động được nhẹ nhàng, tuổi già và cái chết bị đẩy xa; người dị dạng, xấu xí trở nên đẹp đẽ; người mất vợ hoặc người yêu được đoàn tụ; người nghèo sẽ giàu có, người bị áp bức, đau khổ sẽ có địa vị và quyền thế cao sang…

Có thể nói, truyện cổ tích thần kì là sự phản ánh mơ ước của nhân dân về một thế giới tốt đẹp hơn trong tương lai bằng những hư cấu kì ảo. Họ không khoanh tay đứng nhìn để cho mơ ước của mình mãi mãi là điều không tưởng. Chính vì mơ ước là cái không có thực trong hiện tại nên sự phản ánh mơ ước phải là những hư cấu kì ảo do trí tưởng tượng của con người tạo ra. Do đó, nói: “Cổ tích thần kì là những hư cấu kì ảo về một hiện thực chỉ có trong mơ ước” có nghĩa là: truyện cổ tích thần kì là sự phản ánh mơ ước của nhân dân ta về một thế giới tốt đẹp hơn trong tương lai bằng những hư cấu kì ảo. Đồng thời nó cũng phản ánh quyết tâm của người lao động, là đấu tranh cho mơ ước ấy thành hiện thực…

Trong truyện “Tấm Cám” có một bức tranh cuộc sống với những mâu thuẫn gay gắt trong xã hội. Truyện kể “mẹ Tấm chết từ hồi Tấm mới biết đi”, lời kể ấy đã xác định thân phận mồ côi của Tấm. Trong bao nỗi đau buồn của một đứa trẻ, có lẽ đau khổ, thiệt thòi nhất là thiếu mẹ. Tục ngữ có câu: “Cha chết ăn cơm với cá, mẹ chết liếm lá đầu chợ” để khái quát nỗi đau khổ, thiệt thòi vô cùng của đứa con mồ côi mẹ. Mồ côi cha đã khổ, mồ côi mẹ lại càng thiệt thòi, đau khổ hơn nhiều.

Mọi đau khổ của Tấm đều bắt nguồn từ quan hệ với mẹ con dì ghẻ. Tấm cô đơn chỉ biết khóc mỗi khi bị hành hạ. Bị Cám lừa trút mất giỏ tép, mất hi vọng cái yếm đào, Tấm khóc. Bị lừa đi chăn trâu đồng xa để ở nhà mẹ con Cám làm thịt chú bống bé nhỏ bầu bạn với Tấm, cô lại khóc. Lần thứ ba Tấm khóc là khi cô không được đi hội làng. Tấm lại khóc và dường như tiếng khóc lại một lần nữa đẩy nỗi đau của cô lên cao hơn. Tiếng khóc hay tiếng lòng, hay nỗi uất hận đã đè nén thành hình, thành khối để rồi bật ra nơi từng tiếng khóc nghẹn ngào, ấm ức.

Thân phận đầy đau khổ của cô Tấm trong truyện cổ là thân phận chung của những người nghèo, người mồ côi lương thiện trong xã hội. Mâu thuẫn giữa Tâm với mẹ con dì ghẻ không chỉ là mâu thuẫn là mâu thuẫn dì ghẻ- con chồng mà còn là hình thức biểu hiện cụ thể của xung đột Thiện- Ác trong cuộc đời. Tấm đại diện cho nhân vật thiện chămm chỉ, lương thiện, đôn hậu. Cái ác hiện hình trong mẹ con mụ dì ghẻ qua hành động: lừa gạt lấy mất giỏ tép để tước đoạt ước mơ nhỏ bé của Tấm là cái yếm đào; lén lút giết chết con bôngd là giết chết người bạn nhỏ bé của Tấm; đang tâm trộn thóc với gạo nhằm dập tắt niềm vui được đi hội làng, được giao cảm với đời của cô… Tiếng khóc tội nghiệp của Tấm mỗi lần bị chèn ép, áp bức có sức lay động mọi trái tim nhân hậu, gọi dậy niềm cảm thông chia sẻ với mọi người.

Sống giữa vũng lầy của cuộc đời, “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” Tấm- đại diện cho người nông dân vẫn vươn lên tỏa ngát như những bông sen mảnh mai mà bền bỉ sức sống. Tước vùi dập của cái ác Tấm hay chính là nhân dân vẫn đấu tranh vì hạnh phúc đến cùng.  Tấm tuy đã trở thành hoàng hậu nhưng vẫn bị cái ác tiêu diệt, săn đuổi. Cô Tám lương thiện, hiếu thảo trèo cau hái quả cúng hca đã bị mẹ con Cám chặt cây giết chết. Cô Tấm hiền lành, ngây th vừa ngã xuống một cô gái mạnh mẽ và quyết liệt hơn sống dậy, hóa thân trở về với cuộc đời, công khai chống lại cái ác đòi hạnh phúc. Cuộc chiến đấu đó thật gian nan, quyết liệt nhưng cũng thật hấp dẫn đối với độc giả. Bởi trong cuộc đời, những gì người mồ côi, nhỏ nhoi, yếu thế không làm được thì Tấm đã thay họ thự hiện “oán thì trả oán, ân thì trả ân” đến tận cùng.

Tấm thảo hiền thì dì ghẻ chặt cây sát hại mà không cam chịu chết. Cô hóa vàng an, bay vào cung vua báo hiệu sự có mặt của mình trong lời nhắc nhỏ: “Giặt áo chồng tao phơi lao, phơi sào/ Chớ phơi bờ rào rách áo chồng tao”, vàng anh bị giết chết Tấm hóa cây xoan đào tuyên chiến với kẻ thù trực tiếp và dữ dội hơn: “Lây tranh chồng chị, chị khoét mắt ra”, khug cửi bị đốt cháy. Từ đống tro tàn chết chóc, Tấm hóa cây thị trở lại với đời. Trong sự hóa thân ấy có sự kiên nhẫn và lòng dũng cảm. Phải chăng trong nhân vật Tấm đã hội tụ sự dịu dàng và tính cách bất khuất của người pụ nữ Việt Nam xa xưa.

Tấm đã hóa thân, cái thiện không chịu chết một cách oan ức trong im lặng đã vùng dậy còn cái ác cũng tìm mọi cách tiêu diệt cái thiện. Những lần chết đi sống lại của tấm phản ánh cuộc đấu tranh quyết liệt, gay gắt của cuộc chiến đấu giữ cái thiện với cái ác; đồng thời cũng thể hiện sức sống mãnh liệt, không thể bị triệt tiêu của cái thiện.

Chim vàng anh, cây xoan đào, quả thị là những nơi Tấm gửi gắm linh hồn, cũng là những vật bình dị, thân thương trong cuộc sống dân dã. Nếu như lần đầu câu chuyện, mỗi lần Tấm khóc Bụt thường hiện lên ban tặng vật thần kì, thì phần sau cuộc đấu tranh với cái ác quyết liệt hơn nhưng Tấm không còn khóc, cũng không còn thấy sự xuất hiện của Bụt, chỉ thấy tấm hành động liên tiếp để chống lại kẻ thù. Cũng chính nhân dân lao động, những người có thân phận như Tấm, những người thấu hiểu và cảm thương cô Tấm thiệt thòi, đã gửi vào cô Tấm ý thức mãnh liệt giành và giữ hạnh phúc của mình. Đằng sau câu chuyện đã ẩn chứa một chân lí: Hạnh phúc chỉ có bền chặt khi ta biết dành và giữ lấy. Vì vậy, nếu lúc đầu mỗi lần Tấm uất ức chỉ biết ngồi khóc, còn bụt làm thay tất cả thì đến đây chim vàng anh, khug cửi, quả thị không thay tấm trong cuộc chiến đấu mà chỉ là nơi hóa thân, tạm ẩn mình để trở về đấu tranh với cái ác quyết liệt hơn.

Nhưng sau nhiwuf lần chết đi sống lại của Tấm, trong lốt chim, cây, quả… Tấm hiểu rằng không thể có hạnh phúc trọn vẹn chừng nào cái ác còn tồn tại, chừng nào mẹ con Cám còn hiển diện. Cô lừa cám để sai người đào hố, dội nước sôi tự tìm đến cái chết. Kết thúc đó nêu lên một triết lí dân gian “ác giả ác bào”, phù hợp với mong ước của nhân dân về sự trừng phạt tận gốc kẻ thù. Cuối cùng hạnh phúc đã trở về với Tấm như món quà tặng quý giá cho lòng thủy chung và sự dũng cảm của cô.

Sự hóa thân nhiều lần rồi trở về cuộc đời của tấm là biểu hiện sinh động của quan niệm về công bằng xã hội và hạnh phúc. Người lương thiện phải được hạnh phúc, còn kẻ ác nhất định bị trừng phạt, đó là quy luật của lòng nhân đạo, tình yêu thương con người. Người lao động không chờ đợi hạnh phúc và mơ hồ ở cõi nào khác mà tìm và giữ hạnh phúc thực sự ngay trên mảnh đất mình từng gắn bó ở nơi trần thế.

Truyện cổ tích thần kì thường giải quyết mâu thuẫn theo hướng: Thiện thắng Ác và nười lương thiện nhất định sẽ được hưởnh hạnh phúc. Con đường dẫn đến hạnh phúc của nhân vật thiện chính là xu hướng giả quyết mâu thuẫn rất đặc trưng của truyện cổ tích. Để giải quyết mâu thuẫn đó, truyện cổ tích thường dử dụng yếu tố kì ảo.

Trong truyện “Tấm Cám” các yểu tố kì ảo được đưa vào sử dụng với “mật độ” dày đặc. Đó là những thế lực siêu nhiên như ông Bụt. Bụt thường xuất hiện đúng lúc mỗi khi tấm khóc, an ủi, nâng đỡ cô mỗi khi Tấm gặp khó khăn hay đau khổ. Tấm mất yếm đào- Bụt cho cá bống, Tấm mất cá bống- Bụt cho hi vọng đổi đời. Tấm không được đi hội- Bụt cho đàn chim sẻ đến giúp. Bụt cho tấm có ngựa, có quần áo mới… đưa Tấm đến hội, gặp nhà vua, được làm hoàng hậu và đạt đến đỉnh cao hạnh phúc. Cùng với Bụt, con gà cũng là yếu tố kì ảo, biết cảm thông với Tấm, chim sẻ cũng giúp Tấm nhặt thóc ra thóc, gạo ra gạo, trợ giúp Tấm trên đường tới hạnh phúc. Hoàng hậu Tấm là hình ảnh cao nhất về hạnh phúc mà nhân dân có thể mơ ước cho cô gái mồ côi nghèo, cô đơn trong xã hội xưa. Những hình ảnh chim vàng anh, khung cửi, quả thị… cũng đều là những yếu tố kì ảo, là vật hóa thân của tấm hỗ trợ cô trên con đường tìm đến hạnh phúc. Mỗi lần hóa thân sức sống ấy lại càng trỗi dậy mãnh liệt hơn, tràn trề hơn khiến cho cuộc chiến giữ Thiện và Ác càng cam go, quyết liệt.

Những đau khổ của nfười mồ côi là có thật và phổ biến, còn hạnh phúc mà họ được hưởng rất hiếm hoi, phần lớn chỉ là mơ ước. Để phản ánh mơ ước về hạnh phúc thông qua nhân vật mồ côi, truyện cổ tích đã “chữa lại” số phận không may mắn cho họ thông qua những yếu tố thần kì. Điều đó thể hiện tinh thần lạc quan, yêu đời, hi vọng ở tương lai công bằng, dân chủ của nhân dân lao động.

Cùng với truyện “Tấm Cám”, đến với truyện “Chử Đồng Tử” những ước mơ ấy của nhân dân cũng được thể hiện một cách sâu sắc. Nhân vật Chử Đồng Tử là chàng trai nghèo đánh cá có cuộc sống bần hàn, nghèo khó. Cả “gia tài” của hai cha con chỉ có mỗi một cái khố chung nhau mặc. Trong khi đó, cuộc sống nơi cung đình thì xa hoa, giàu sang tột đỉnh. Chỉ một chuyến đi chơ của công mà có biết bao kẻ hầu người hạ, thuyền, lọng nườm nượp.

Như một sự tình cờ khi Tiên Dung vào bờ tắm thì gặp phải Chử Đồng Tử đang vùi mình dưới cát và duyên số kết thành hai người đã đến vớ nhau. Cuộc hôn nhân của công chúa Tiên dung và chàng trai đánh cá nghèo Chử Đồng Tử vượt ra ngoài khuôn khổ phong kiến, điều đó thể hiện cho khát vọng bình đẳng giữa con người với con người của nhân dân ta.

Hoàn cảnh hai người gặp nhau thật độc đáo. Đó là khung cảnh giữa đất trời bao la, phóng khoáng và Tiên Dung là người ngỏ lời trước. Sống trong xã hội phong kiến thì con người luôn phải chịu ảnh hưởng của tư tưởng nam nữ “Trâu đi tìm cọc”, hành động ấy của Tiên Dung đã nêu lên khát vọng tình yêu trong tự do, thuận theo tình cảm.

Khi bị vua Hùng phản đối, hai vợ chồng Chử Đồng Tử đã tự mình gây dựng nên cuộc sống và họ đã sống trong nhân dân, làm ăn thịnh vượng. Đó là lời ca ngợi tinh thần tự lực cánh sinh, phấn đấu thực hiện ước mơ. Đồng thời, khi cuộc sống đã yên bề gia thất hai vợ chồng vẫn không đối đầu với vua cha mà vẫn hào hảo. Đó chính là tiếng nói của nhân dân không muốn xảy ẻa chiến tranh. Biểu hiện cao đẹp cho giá trị nhân đạo, khát vọng dân chủ mãnh liệt của nhân dân ta.

Và để thực hiện được ước mơ ấy, tác giả dân gian đã thổi vào những yếu tố kì ảo để giúp nhân vật của mình trong bước đường đi tìm hạnh phúc. Để có được tòa thành lớn, có kẻ hầu người hạ đó là nhờ nhà sự Phật Quang truyền cho phép mầu. Tất cả các chi tiết như được “sắp xếp” một cách cẩn trọng, khi Chử Đồng Tử lên núi lấy nước đã vô tình gặp được nhà sư Phật Quang và được ông truyền đạo để rồi có khả năng siêu biệt có thể hóa phép thành nhà cao cửa rộng. Chi tiết cả người lẫn lâu đài thành quách cùng bay về trời để mãi được sống tự do là một chi tiết kì ảo được nhân dân sáng tạo ra để gửi gắm vào đó chân lí “ở hiền gặp lanh”, ước mơ được sống tự do…

Con người muốn hoàn thiện mình, xã hội muốn tiến lên thì phải luôn luôn mơ ước đến những điều tốt đẹp hơn và không ngừng đấu tranh để đạt đến điều mơ ước ấy. “Là những hưb cấu kì ảo về một hiện thực chỉ có trong mơ ước”, truyện cổ tích thàn kì và văn học dân gian nói rộng ra đúng là kho báu tinh thần của dân tộc, rất đáng chúng ta trân trọng và học hỏi.

Xem thêm : Tuyển tập đề thi học sinh giỏi môn văn có đáp án và bài văn mẫu : http://vanhay.edu.vn/hoc-sinh-gioi

Đề thi học sinh giỏi : Cảm hứng yêu nước trong văn học trung đại Việt Nam

Bộ đề ôn luyện thi học sinh giỏi môn Văn. Tổng hợp những đề thi học sinh giỏi Ngữ văn lớp 10

Đề ra: Về cảm hứng yêu nước của văn học Việt Nam thời Trung đại sách giáo khoa Ngữ    Văn 10 có viết:

“ Điều đáng lưu ý là văn thơ nói đến những nội dung yêu nước đã không chỉ tồn      tại ở dạng quan niệm, tư tưởng đơn thuần mà quan trọng hơn là sự tồn tại ở dạng cảm xúc, cảm hứng, tâm huyết với đủ màu vẽ và cung bậc”.

Hãy chứng minh và phân tích 1 số tác phẩm để làm sáng tỏ.

 

 BÀI LÀM

Trong dòng chảy của nền văn học dân tộc, cảm hứng yêu nước và cảm hứng nhân đạo tựa như hai mạch ngầm xuyên suốt, cuôn chảy qua bao chặng đường lịch sử. Đặc biệt trong thời kì văn học Trung đai trước nhiều biến cố lịch sử lòng yêu nước ấy lại hừng hực cháy trong tâm hồn các thi nhân để rồi tuôn trào nơi đầu bút lực những nỗi lòng,tâm sự ngân lên như những nốt nhạc trầm bổng trong 1 bản đàn. Có lẽ chăng xuất phát từ đó mà sách giáo khoa Ngữ văn 10 đã cho rằng:

“ Điều đáng lưu ý là văn thơ nói đến những nội dung yêu nước đã không chỉ tồn tại ở dạng quan niệm, tư tưởng đơn thuần mà quan trọng hơn là sự tồn tại ở dạng cảm xúc, cảm hứng, tâm huyết với đủ màu vẽ và cung bậc”.

Thế nào là cảm hứng yêu nước? Nói đến cảm hứng yêu nước là nói đến nội dung tình cảm trong mỗi tác phẩm tình văn học. Cảm hứng yêu nước được bộc lộ qua thơ bằng muôn hình vạn trạng. Đó là tình yêu quê hương, đất nước, yêu cảnh sắc thiên nhiên, xứ sở. Đó là ý chí chống xâm lăng vì khát vọng ấm no, hạnh phúc, được sống trong tự do, độc lập, hòa bình bền vững. Đó là niềm tự hào về truyền thống lịch sử, truyền thống văn hiến Việt Nam lâu đời, giàu bản sắc. Đó còn là ý thức tự lập, tự cường, xây dựng và bảo vệ đất nước muôn đời giàu đẹp.

Bước vào kỉ nguyên xây dựng quốc gia phong kiến độc lập sau hàng nghìn năm đô hộ, biểu hiện trước hết của tư tưởng yêu nước là ý thức tự cường, tự tôn dân tộc, ý thức về chủ quyền độc lập. Đó là lời thơ hào sảng trong “Nam quốc sơn hà” của Lí Thường Kiệt:

“Sông núi nước nam vua Nam ở

Rành rành định phận ở sách trời”.

Chủ quyền độc lập thiêng liêng bất khả xâm phạm được khẳng định qua những câu thơ chắc nịch, giọng thơ đanh thép, hùng hồn. Đó là một “bài thơ thần”, xứng đáng là Bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của đất nước Đại Việt.

Đến bài “Cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi- bản tuyên ngôn độc lập thứ hai, chân lí lịch sử ấy nâng lên ở một tầm cao mới với cái nhìn toàn diện, đầy đủ và sâu sắc hơn. Từ việc dừng lại ở việc khẳng định chủ quyền độc lập ở bài “Nam quốc sơn hà” thì bài “Cáo bình Ngô” đã tiếp nối và phát triển lên thành chân lí muôn đời: Đại Việt là đất nước có nền văn hiến lâu đời, có biên giới riêng, có phong tục tập quán riêng, có quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước vẻ vang và cùng tồn tại với các vương triều phong kiến phương Bắc. Sự phát triển ấy về khái niệm quốc gia dân tộc được thể hiện rõ nét qua tư tưởng lấy dân làm gốc, tập hợp sức mạnh của nhân dân để xây dựng lực lượng nòng cốt, tạo dựng sức mạnh chiến đấu và chiến thắng.

Với ý thức sâu sắc như vậy về quốc gia, dân tộc, khi tổ quốc bị xâm lăng, yêu nước là căm thù giặc sục sôi, là tinh thần quyết chiến quyết thắng để bảo vệ chủ quyền độc lập dân tộc, là đoàn kết toàn dân “Tướng sĩ một lòng phụ tử”, bền gan chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn.

Yêu nước không chỉ dừng lại ở đó, mà khi đất nước thanh bình, nội dung của tư tưởng yêu nước thể hiện ở khát vọng xây dựng đất nước hòa bình và hạnh phúc lâu bền:

“Thái bình nên gắng sức

Non nước ấy ngàn thu”.

Hai câu thơ thể hiện cho ước mơ, niềm tin vô hạn của tác giả và cũng là ước mơ ngàn đời của nhân dân về một đất nước thái bình, thịnh trị, trường tồn đến muôn đời. Đó là hào khí sục sôi, vang dội của một đời, của một thời, sáng ngời cả hồn thiêng sông núi, âm vang đến muôn đời.

Nhưng sức sống lâu bền của một tác phẩm văn chương khồn chỉ ở chỗ là chứa đựng nội dung tư tưởng đơn thuần mà điều cốt yếu hơn, quan trọng hơn là những nội dung, tư tưởng tồn tại ở dạng cảm xúc, cảm hứng, tâm huyết với đủ màu vẽ và cung bậc. Với những hoàn cảnh khác nhau, những cảnh ngộ khác nhau, cá tính sáng tạo khác nhau cảm hứng yêu nước được thể hiẹn dưới nhiều dọng điệu khác nhau. Mỗi tác phẩm là một nốt nhạc, có nốt trầm, có nốt bổng hòa quyện làm nên một bản anh hùng ca bất diệt, ca lên đến muôn đời âm vang của thời đại.

Đó là giọng điệu dõng dạc, hào sảng động vọng trong không gian với khí thế ngùn ngụt, hình ảnh thơ tráng lệ, kì vĩ trong bài thơ “Nam quốc sơn hà” của Lí Thường Kiệt:

“Sông núi nước nam vua Nam ở

Rành rành định phận ở sách trời”.

Là giọng thơ đĩnh đạc, lời văn rắn rỏi, chắc nịch như khắc, như tạc qua bài “Cáo bình Ngô”:

“Như nước Đại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

Núi sông bờ cõi đã chia

Phong tục Bắc Nam cũng khác

Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương”.

Những tình cảm nồng cháy như được khơi dậy qua từng câu, từng chữ, từng lời thơ, ánh lên trong tâm hồn mỗi người một niềm tự hào mãnh liệt về dáng đứng oai hùng của dân tộc trong lịch sử.

Ta như hừng hực bầu máu nóng trong những lời nói gan ruột của Trần Quốc Tuấn trong “Hịch tướng sĩ” : “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức chưa xả thịt, lột da, nuốt gan, uống máu quân thù. Dẫu trăm thây phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa ta cũng vui lòng”. Đó là nỗi đau đớn, xót xa đến xé lòng của vị tướng sĩ hét mực yêu nước. Để rồi từ khí thế xung thiên ấy ta như nghe vang vọng tiếng đồng thanh: “Quyết đánh!” của các bô lão trong Hội nghị Diên Hồng, như thấy rực cháy ánh lửa quân sĩ tướng tá sáng bừng dưới ánh trăng mài gươm giáo để xung trận, thích lên cánh tay hai chữ “Sát thát” với một ý chí kiên định. Tinh thần, ý chí sắt đá, kiên định ấy đã làm nên chiến thắng quân Mông- Nguyên vang dội núi sông trong lịch sử.

Nỗi căm thù, uất hận vút lên thành lời, thành những bản cáo trạng đanh thép: “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con nhỏ xuống dưới ầm tai vạ”, trở thành tiếng thét vang dội, thành lời thề quyết chiến:

“Ngẫm thù lớn hà đội trời chung

Căm giặc nước thề không cùng sống”.

Ta như thấy hiện lên trước mắy không gian hào hùng, khí thế, chiến công nối tiếp chiến công làm nên một bản tráng ca ngân lên cao vút, dài vô tận khi đọc những vần thơ hả hê của Nguyễn Trãi trong “Cáo bình Ngô”:

“Đánh một trận sạch không kình ngạc

Đánh hai trận tan tác chim muông

Cơn gió to trút sạch lá khô

Tổ kiến hỏng sụt toang đê vỡ…”

Giọng thơ cuồn cuộn như triều dâng thác đổ,. Niềm tự hào, kiêu hãnh, niềm vui sướng bất tận, hả hê tạo ra nhạc điệu bay bổng dồn dập, âm thanh giòn giã nối đuôi nhau mạnh mẽ như có gươm đao loảng xoảng trong một trận tuyến vang trời.

Nội dung yêu nước trong văn học trung đại được thể hiện bằng những cảm xác, giọng điệu đa dạng, không chỉ là lòng căm thù giặc sục sôi, tinh thần quyết chiến quyết thắng hừng hực, như một nét vẽ tinh tế mà sâu sắc về lòng yêu nước sự hổ thẹn trong bài thơ “Thuật hoài” của Phạm Ngũ Lão cũng là một cách tỏ bày độc đáo:

“Công danh nam tử còn vương nợ

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”.

“Thẹn” vì chưa trả hết nợ công danh, lập công báo quốc; thẹn vì chưa có được tài năng như Gia Cat Lượng để phò vua giúp dân. Nỗi “thẹn” ấy là biểu hiện cao đẹp cho lí tưởng sống, hoài bão sống lớn lao của người con trai đời Trần làm sáng bừng lên hào khí Đông A một thời.

Đó còn là nỗi niềm hoài vọng về quá khứ đã qua trước di tích vẫn còn để rồi tiếc ngậm ngùi trong lòng một niềm tiếc nuối:

“Đến nay sông nước tuy chảy hoài, mà nhục quân thù khôn rửa nổi”.

Là sự suy ngẫm về lẽ tồn vong của muôn đời, sự thành bại của sự nghiệp cũng ngân lên giọng điệu hùng tráng:

“Giặc tan muôn thuở thái bình

Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao”.

Và khi đất nước trở về thái bình, thịnh trị lòng yêu nước ấy lại hóa thân vào sông núi, một cành hoa, một cây cỏ, một cánh chim trời chao liệng:

“Nước biếc, non xanh, thuyền gối bãi

Đêm thanh nguyệt hạc, khách bên lầu”.

Trong cảnh nước mất nhà tan, nỗi đau đời, uất hận khi vận nước đổi thay dồn lại, nén chạt tạo nên giọng điệu trầm uất, bi tráng. Bài thơ “Cảm hoài” nổi tiếng của Đặng Dung với hai câu kết:

“Thù nước chưa xong đầu đã bạc

Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày”.

Đặng Dung đã kí thác cho đời thăm thẳm một nỗi đau đời, một niềm bi phẫn, trầm uất, đắng cay, xót xa vì người anh hùng sinh lầm thế kỉ. Hình ảnh một dũng tướng mái đầu đã bạc mải miết mài gươm dưới ánh trăng khơi gợi biết bao cảm xúc liên tưởng, chẳng khác nào “con ngựa già còn ham rong ruổi’. cái ánh sáng lóe lên trong câu thơ thần là ánh sáng vằng vặc của bóng trăng khuya giữa bầu trời mênh mông, bát ngát, cũng là ánh sáng lưỡi gươm chính khí chưa cất lên được để tiêu diệt kẻ thù, cũng là ánh sáng của tấm lòng yêu nước trung trinh của nhà thơ. Lời đã hết, bài thơ đã khép lời mà cảm xúc thơ vẫn lai láng, bồi hồi, xúc động. Đó là bài thơ có giọng điệu bi tráng bậc nhất trong thơ ca Việt Nam thời Trung đại- tiếng lòng của một dũng tướng chiến bại.

Sống trong những triều đại khác nhau, chịu sự chi phối khác nhau của lịch sử, đồng thời mỗi người với một tâm tính, một cá tính sáng tạo đã làm nên những cảm hứng riêng về cảm hứng yêu nước. Có nỗi buồn, có niềm vui, niềm say mê hứng khởi, có giận thương, có buồn tủi, có bâng khuâng hổ thẹn, có rạo rực hả hê…Nguồn cảm hứng vô tận được thể hiện bằng nhiều cách nói, nhiều giọng điệu riêng. Có giọng điệu hùng tráng ở nhiều cấp độ, hình thái khác nhau. Có giọng điệu bi tráng, phẫn uất thành tiếng than, lời gọi. Có giọng điệu nhẹ nhàng, say sưa trước cảnh sắc thiên nhiên, đất nước… Tất cả tạo nên sự đa thanh, đa sắc, thể hiện sâu sắc, phong phú nội dung tư tưởng yêu nước- một vẻ đẹp rực rỡ của tâm hồn dân tộc./.

Xem thêm : Tuyển tập đề thi học sinh giỏi môn văn có đáp án và bài văn mẫu : http://vanhay.edu.vn/hoc-sinh-gioi