Cách viết mở bài , Thân bài, Kết bài trong văn nghị luận

Hướng dẫn cách viết phần mở bài, thân bài, kết luận, những mở bài và kết bài mẫu tham khảo dành cho học sinh lớp 11-12. Bí quyết viết mở bài kết bài hay

Cách viết đoạn mở bài

a.Yêu cầu, đặc điểm

Phần mở  bài còn gọi là đặt vấn đề, có nhiệm vụ nêu vấn đề giải quyết trong phần thân bài. Do đó mở bài phải đi thẳng vào vấn đề không được đề cập đến bất cứ luận điểm, luận cứ nào ở phần dàn ý chi tiết phần thân bài.

Mô hình mở bài:

  • Dẫn dắt
  • Nêu vấn đề (luận đề)
  • Giới hạn phạm vi vấn đề

Một mở bài cần đảm bảo:

–  Ngắn gọn: Dẫn dắt vài ba câu ngắn gọn

–  Đầy đủ: Đọc xong mở bài người đọc biết được bài viết bàn vấn đề gì? Trong nội dung tư liệu nào?

–  Độc đáo: Phải gây được sự chú ý của người đọc tới vấn đề mình viết.

–  Tự nhiên:Viết văn cần giản dị tự nhiên.

Một mở bài cần tránh những ý sau:

–  Tránh vòng vo quá xa mới gắn được vào việc nêu vấn đề.

–  Tránh dẫn dắt không liên quan gì vấn đề sẽ nêu.

–  Tránh nêu vấn đề dài dòng, chi tiết khi viết thân bài lại lặp lại ý.

 b.Cách viết mở bài:

b.1.Mở bài trực tiếp:     

Người viết đi thẳng vào vấn đề cần giải quyết.

Ví dụ:

Phân tích đoạn thơ sau trong đoạn trích “Đất Nước”( trích: Trường ca Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm?

“Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu

. . .

Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha”

Mở bài mẫu:

Trong nền văn học Việt Nam cảm hứng về đất nước không bao giờ khô cạn. Cảm hứng ấy càng được biểu hiện thiết tha trong thơ ca viết về cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Có một nhà thơ đã có cái nhìn, cách cảm nhận về quê hương , đất nước rất riêng đó chính là nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm với đoạn thơ tiêu biểu

“Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu

. . .

Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha”

( Trích: trường ca Mặt đường khát vọng)

b.2.Mở bài gián tiếp:

Người viết dẫn dắt từ một ý liên quan đến vấn đề sẽ nêu, rồi trình bày vấn đề cần giải quyết.

Một số cách mở bài gián tiếp thường gặp

b.2.1. Mở bài gắn với thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong cùng một giai đoạn lịch sử

Ví dụ:

Thông qua đoạn một của đoạn trích “Đất Nước” ” trích trong Trường ca “mặt đường khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm, anh chị hãy phân tích cảm hứng riêng về đất nước của nhà thơ?

Mở bài mẫu:

Cùng với Nguyễn Mỹ, Xuân Quỳnh, Lê Anh Xuân. . .Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong khói lửa ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Nguyễn Khoa Điềm  gắn bó sâu sắc với vùng Trị -Thiên, đặc biệt với thành phố Huế quê hương ông. Với những tác phẩm như tập thơ “Đất ngoại ô” và nhất là trường ca “Mặt đường khát vọng” , Nguyễn Khoa Điềm được coi là một nhà thơ giàu cảm xúc và chất trí tuệ, biểu hiện tập  trung những suy tư của người thanh niên trí thức nỗ lực đóng góp  vào cuộc chiến đấu của dân tộc. Trường ca “Mặt đường khát vọng” được sáng tác vào mùa đông năm 1971 tại chiến trường Trị -Thiên và được in ở miền Bắc vào năm  1974. “Đất Nước” trích gần trọn chương V của trường ca thể hiện khá tập trung những cảm nhận sâu sắc  mới mẻ về đất nước của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm.

b.2.2. Mở bài xuất phát từ một sự kiện lịch sử:

Ví dụ:

Phân tích bài thơ “Việt Bắc” để thấy tình nghĩa thủy chung với ngọn nguồn của cách mạng và của dân tộc qua lối hát giao duyên của dân ca?

Mở bài mẫu:

Tháng 10-1954, cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi. Từ căn cứ địa cách mạng, Bác Hồ, Trung ương Đảng, Chính phủ trở về Hà Nội. Đáp lại ân tình của đồng bào Việt Bắc đã chở che, đùm bọc cho cách mạng, nhà thơ Tố Hữu đã sáng tác bài thơ “ Việt Bắc” theo lối hát giao duyên của dân ca để nói lên tình nghĩa thủy chung của nhân dân ta với ngọn nguồn của cách mạng, của dân tộc.

b.2.3. Mở bài từ những sự kiện quan trọng trong đời sống:

Ví dụ:

Phân tích vẻ đẹp của tình người và niềm hi vọng vào cuộc sống của các nhân vật Tràng, người vợ nhặt, bà cụ Tứ trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân?

Mở bài mẫu:

Nạn đói khủng khiếp dữ dội năm 1945 hằn in trong tâm trí Kim Lân-Một nhà văn hiện thực có thể xem là con đẻ của đồng ruộng, một con người có lòng đi về với “ những gì thuần hậu nguyên thủy của cuộc sống nông thôn”. Ngay sau cách mạng, ông bắt tay vào viết tiểu thuyết “ Xóm ngụ cư”. Khi hòa bình lặp lại (1954) nỗi trăn trở thôi thúc ông viết tiếp thiên truyện ấy. Và cuối cùng truyện ngắn “Vợ nhặt” ra đời. Trong lần này  Kim Lân đã thật sự đem đến cho tác phẩm của mình một khám phá mới, một điểm sáng soi chiếu toàn tác phẩm. Đó là vẻ đẹp của tình người và niềm hi vọng vào cuộc sống của những người nông dân nghèo, tiêu biểu như Tràng, người vợ nhặt, bà cụ Tứ. Thiên truyện thể hiện thành công, khả năng dựng truyện, dẫn truyện và đặc sắc nhất là Kim Lân đã có khám phá ra diễn biến tâm lí thật bất ngờ.

b.2.4. Mở bài từ một đề tài quen thuộc.

Ví dụ :

Phân tích bài thơ “Sóng” của nhà thơ Xuân Quỳnh?

Mở bài mẫu:

         Tình yêu là một đề tài quen thuộc trong thơ ca. Nhưng không phải vì thế mà nó thành đơn điệu và nhàm chán. Mỗi bài thơ, mỗi nhà thơ là một thế giới riêng, một nhu cầu, một khát khao riêng không ai giống ai. Chẳng thế mà ta gặp Xuân Diệu trong thi đàn Việt Nam với chất men say tình yêu nồng nàn, mãnh liệt, người tự cho mình là “kẻ uống tình yêu dập cả môi”, ta gặp Nguyễn Bính “người nhà quê” chân chất thật thà. . . và thật bất ngờ khi gặp một nữ sĩ với tâm hồn dạt dào và say đắm trong tình yêu-Xuân Quỳnh. Thơ tình yêu của Xuân Quỳnh chân thành nữ tính nhưng không kém phần cháy bỏng, nồng nàn. Điều đó thể hiện rõ nét trong bài “Sóng”.

Cách viết đoạn văn thân bài

Đặc điểm và yêu cầu cho đoạn văn chính xác.

Các đoạn văn phần thân bài tương ứng với dàn ý

–  Tương ứng với luận điểm: Tùy theo đề có thể một hoặc nhiều luận điểm, các luận điểm liên quan với nhau và làm sáng rõ chủ đề.

–  Tương ứng với luận cứ: Đó là những khía cạnh và lí lẽ làm sáng tỏ luận điểm.     Mỗi luận điểm có thể nhiều luận cứ được minh họa bằng dẫn chứng.

–  Các  đoạn văn ở phần trình bày luận cứ và  dẫn chứng có quan hệ phụ thuộc với đoạn văn ở luận điểm.

–  Tương ứng với tiểu kết của luận điểm.

–  Tương ứng với sự chuyển tiếp của hai luận điểm.

Yêu cầu về diễn ý và hành văn hay.

Sau khi đã có ý thì vấn đề quan trọng không kém là cách diễn  đạt hay. Biết diễn đạt khéo léo thành lời văn cụ thể sẽ có một đoạn văn hay. Diễn ý hay phụ thuộc nhiều yếu tố sau đây tôi xin nêu ngắn gọn các yếu tố tạo nên như sau:

–  Giọng văn và sự thay đổi giọng văn trong bài viết.

–  Dùng từ độc đáo.

–  Viết câu linh hoạt.

–  Viết văn có hình ảnh.

–  Biết so sánh phù hợp.

–  Dẫn chứng và trình bày dẫn chứng.

Luyện viết đoạn văn.

c.1.Luyện viết đoạn văn tương ứng với luận điểm.

Yêu cầu : Trình bày rõ ràng, chính xác nội dung luận điểm trong câu chủ đề. Câu chủ đề thường đặt ở vị trí đầu đoạn (đoạn diễn dịch) hoặc cuối đoạn (đoạn quy nạp)

Minh họa:

Đề:

Bình luận cách nhìn của Nam Cao về người nông dân qua tác phẩm “Đôi mắt”? Mẫu:

Luận điểm:

Sự đối lập về cách nhìn của Hoàng và Độ về người nông dân.

Đoạn văn:

Hai nhân vật trung tâm trong truyện ngắn này là Hoàng và Độ. Hai người đại diện cho hai cách nhìn về người nông dân. Người kia chỉ nhìn thấy cái hình thức bên ngoài lố bịch  , ngu dốt, đáng khinh và đáng cười của người nông dân. Người kia biết vượt qua được hình thức bên ngoài, nhìn thấy “những nguyên cớ thật đẹp bên trong” của người dân cày. Nam Cao đã làm nổi bật tư tưởng , thái độ cũng như quan điểm của mình qua sự đối lập cách nhìn của hai nhân vật này về người nông dân.

c.2.Viết đoạn văn tương ứng với luận cứ.

Yêu cầu: Cách viết các đoạn văn tương ứng với luận cứ  phải căn cứ vào yêu cầu của từng dạng đề như phân tích, chứng minh, giải thích, bình giảng. . .

Minh họa:

Đề 1:

Phân tích vẻ đẹp của tình người và niềm hi vọng vào cuộc sống ở các nhân vật: Tràng, người vợ nhặt, bà cụ Tứ trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân?

Luận cứ:

Tình huống của vợ nhặt.

Đoạn văn:

Có thể nói Kim Lân đã thật xuất sắc khi dựng lên tình huống “nhặt vợ” của anh cu Tràng. Tình huống ấy là cánh cửa khép mở để nhân vật bộc lộ nét đẹp trong tâm hồn mình. Dường như trong đói khổ người ta dễ đối xử tàn nhẫn với nhau, khi miếng ăn của mỗi người chưa đủ thì làm sao có thể đèo bòng thêm người này, người kia. Trong tình huống ấy, người dễ cấu xé nhau, dễ ích kỉ hơn là vị tha và người ta dễ đối xử tàn nhẫn làm cho nhau đau khổ. Nhưng nhà văn lại khám phá ra một điều ngược lại như ở nhân vật anh cu Tràng, người vợ nhặt và bà cụ Tứ. Chúng ta từng kinh hãi trước “xác người chết đói ngập đầy đường” “người lớn xanh xám như những bóng ma” , trước không khí “vẩn lên mùi hôi của rác rưởi và mùi gây của xác người”, từng ớn lạnh trước “tiếng quạ kêu từng hồi thê thiết” ấy, nhưng lạ thay, chúng ta không thể cầm lòng xúc động trước nghĩa cử cao đẹp mà bình thường, dung dị ấy của Tràng, bà cụ Tứ và cả người vợ ấy của Tràng nữa.

Đề 2:

Phân tích bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng?

Luận cứ:

Nét lãng mạn và hào hùng của người chiến sĩ Tây Tiến.

Đoạn văn:

Giữa bao nhiêu khó khăn hình tượng người lính Tây Tiến vẫn luôn

“Quân xanh màu lá giữ oai hùm”

Nét dữ tợn của người lính Tây Tiến ở đây không hề bị nhạt đi trong lòng người đọc. Bệnh tật, ốm đau tưởng chừng  làm người chiến sĩ yếu đuối nhưng thật bất ngờ khi chúng ta bắt gặp dáng vẻ “dữ oai hùm” của anh lính. “Dữ oai hùm” đã làm  mất đi vẻ yếu ớt trong hình ảnh “không mọc tóc” và “quân xanh màu lá”. Câu thơ trên như tô đậm hơn nét vẽ về người lính Tây Tiến.

“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

Đây là hai câu thơ tập trung vẽ nên bức tranh người lính Tây Tiến vừa  sống lại với hình ảnh Hà Nội, vừa chiến đấu với tương lai trước mắt. Hai câu thơ vừa mang nét lãng mạn vừa mang nét hào hùng. Mắt người lính “trừng” có vẻ dữ tợn nhưng lại thể hiện sự quyết tâm, quyết tâm chiến đấu cho Tổ quốc, cho đất nước. Bên cạnh đó những chàng trai Tây Tiến cũng không hề đánh mất đi vẻ đẹp tâm hồn mình: sự mộng mơ. Hai câu thơ trên đã có thời bị coi là buồn rớt, là bi quan, là  tiểu tư  sản. Đành  rằng  câu thơ có nét buồn nhưng cái buồn ấy không hề làm mất đi sự quyết tâm của người lính. Quyết tâm đánh giặc và chất men lãng mạn  đã kết hợp hài hòa tạo nên một vẻ đẹp tâm hồn của người chiến sĩ một cách sâu sắc. Những người lính Tây Tiến mơ về mảnh đất Hà Thành nơi có hình bóng của người thương, những giấc mộng và mơ ấy đã tiếp thêm sức mạnh cho những  người lính Tây Tiến sống và chiến đấu. Chính vì thế hai câu thơ thật sự lãng mạn và hào hùng.

c.3.Luyện viết ngắn , viết dài.

Yêu cầu:

Cách luyện này rất có ích , hữu hiệu đối với tất cả các em. Tại sao vậy? Tại đặc điểm của văn nghị luận cũng giống như vũ trụ mà chúng ta đang sống vậy. Có thể dài rộng vô cùng nhưng cũng có thể rút gọn thành tối giản. Và bài văn cũng vậy có thể kéo dài thành một cuốn sách cũng có thể rút lại ở một vài câu

Sau khi luyện viết ngắn thành thạo thì sẽ luyện viết dài thành bài văn nghị luận. các bài văn dài thật ra là sự phát triển của một bài văn ngắn. Tuy nhiên cần lưu ý khi viết một bài nghị luận thì không thể kéo dài như viết một cuốn sách mà là độ dài phù hợp với một bài viết, khi viết một bài nghị luận thường là viết theo một khía cạnh của vấn đề vì vậy kích thước phù hợp sẽ là một yếu tố tạo nên thành công của bài nghị luận.

Phương pháp luyện tập:

Có thể luyện tập theo từng cách hoặc các cách sau:

Thứ nhất: Dựa vào khung dàn ý viết lần lượt từng luận điểm.

Thứ hai: Tập tóm tắt văn bản nghị luận.

Thứ ba:Tập chuyển đoạn văn nghị luận ngắn đã viết thành đoạn văn nghị luận dài.

Thứ tư : từ bài nghị luận tìm xem có câu nào, luận điểm nào có thể triển khai được không.

Thứ năm: Có thể từ luận điểm phát triển thêm các luận cứ

Thứ sau: Luyện chung. Các em chọn một bài và cùng nhau nghiên cứu tìm ý và triển khai.

Luyện viết ngắn rồi từ ngắn luyện viết dài là cách mà Bác Hồ đã luyện và rất hiệu nghiệm để nâng cao trình độ viêt báo, viết văn của mình hồi Người mới bắt đầu viết.

c.4.Luyện viết câu, đoạn chuyển tiếp.

Một bài văn là một chỉnh thể thống nhất hoàn chỉnh được tạo ra bởi các phần, các đoạn,các câu. Nếu các phần đó không kết dính với nhau thành một khối thì bài văn sẽ bị phá vỡ. Trong một bài viết thường có nhiều đoạn văn tự thân nó không kết dính được. Chính vì vậy ta phải dùng từ ngữ kết dính , dùng từ ngữ câu đoạn chuyển tiếp.

Những cách thông dụng dùng câu chuyển tiếp.

Cách một:Dùng kết từ hoặc từ ngữ tương đương với kết từ

Cách hai:Cách đặt câu hỏi

Ví dụ: “Ta thấy gì trong xã hội ấy?”

Cách ba: Dùng phép lặp

. . .

Cách viết đoạn kết bài trong văn nghị luận

a.Yêu cầu, đặc điểm:

Phần kết bài có tính chất tổng kết, khái quát những vấn đề đã trình bày ở phần thân bài.

Giáo sư Trần Đình Sử cũng đã nêu vấn đề này như sau : Một kết bài phải thể hiện đúng quan điểm đã trình bày ở phần thân bài, chỉ nêu những ý khái quát có tính tổng kết, đánh giá. Không lan man hay lặp lại cụ thể những gì đã trình bày ở thân bài hay lặp nguyên văn lời lẽ mở bài.

Có 4 cách kết bài như sau:

Cách một : Tóm lược (tóm tắt quan điểm, nội dung đã nêu ở thân bài)

Cách hai: Phát triển , mở rộng thêm vấn đề đặt ra

Cách ba: vận dụng, nêu phương hướng, bài học phát huy hay khắc phục vấn đề nêu ở thên bài.

Cách bốn: Liên tưởng, mượn ý tương tự – những ý kiến có uy tín- để thay cho lời tóm tắt của người làm.

Một kết bài hay trước hết là một kết bài đúng. Đúng nguyên tắc, đúng cách, cho nên một kết bài hay phải đi lên từ một kết bài đúng.

Một số kết bài

Mẫu:

Phân tích bài thơ “ Tây Tiến” của Quang Dũng?

Kết bài 1:

Người lính Tây Tiến ra đi nhưng hình ảnh của anh không bao giờ mờ phai trong tâm trí con người. Hình ảnh người lính và những kỉ niệm đậm mãi trong lòng Quang Dũng và chúng ta

“Tây Tiến người đi không hẹn ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”

Bài thơ khép lại nhưng âm điệu vẫn vang vọng mãi trong tâm hồn mỗi chúng ta. Nhịp điệu trùng điệp, nét lãng mạn hào hùng của bài thơ để lại dấu ấn trong ta. Có những tác phẩm đã gặp nhiều nhưng ta lại quên đi nhưng có những tác phẩm ta bắt gặp một lần nhưng sống mãi. Ấy là Tây Tiến.

Kết bài 2:

Mở đầu bài thơ là dòng sông Mã và kết thúc bài thơ vẫn là tiếng gầm réo của dòng sông. Dòng sông tiễn đưa a và lại đón anh về. Quang Dũng một lần nữa khẳng định ý niệm “nhất khứ bất phục hoàn”(một đi không trở lại). Đó cũng chính là ý chí quyết tâm của cả thế hệ-của cả một thời đại. Những gian khổ hi sinh của cuộc kháng chiến là những kỉ niệm không thể nào quên. Sẽ không bao giờ có lại thời kì gian khổ đến như thế và hào hùng đến như thế. Và cũng khó có một bài “Tây Tiến” lần thứ hai.

(Bài viết sưu tầm)

Xem thêm: Rèn kĩ năng viết phần mở bài kết bài cho học sinh THPT

Một số mở bài hay cho văn nghị luận văn học

Một số mở bài hay cho văn nghị luận văn học

Chia sẻ  Bí kíp viết mở bài hay lấy lòng giám khảo. Các bạn bấm vào link cuối bài để xem Tuyển tập những mở bài nghị luận văn học hay nhất dành cho lớp 11- 12

Lý thuyết viết mở bài

CẤU TRÚC MỞ BÀI

Gồm 3 phần

– Dẫn dắt (Tạo nên sự độc đáo trong phần mở bài)

– Nêu nội dung chính sẽ viết trong bài (Đã có trong phần đề bài)

– Phạm vi kiến thức và phương thức chính sử dụng trong bài viết

Một số cách mở bài dùng cho các tác phẩm trong chương trình  Ngữ văn 12

1. Như cây đàn mất đi một dây, vườn hoa mất đi những bông hoa giàu hương sắc, như bầu trời thiếu vắng những vì sao, không có Huygô, Bandắc, Puskin hay Nguyễn Du, Nguyễn Tuân, Nam Cao… nền văn học của nhân loại sẽ trống trải biết nhường nào. Bởi lẽ những tác giả ấy thực sự đã tìm được “giọng nói của riêng mình”. Và đó chính là “điều còn lại đối với mỗi nhà văn”, điều làm nên vị trí của họ trong lòng người đọc.

2. Ai đó đã từng nói rằng hoa hồng ở lại giữa cuộc đời nhờ hương thơm say đắm, không nồng nàn như hoa cúc hay ngọt ngào như ngọc lan; loài chim sơn tước ở lại giữa đời bởi tiếng hót thiết tha vút lên giữa dàn đồng ca của núi rừng. Câu chuyện ấy gợi nhắc trong lòng người đọc nỗi băn khoăn: “Có phải điều còn lại với mỗi nhà văn chính là giọng điệu của riêng mình”.

3. Có ai đó đã từng ví mỗi nhà văn như một loài hoa, một thứ chim trong cánh rừng đại ngàn văn học. Mỗi loài hoa tỏa một hương thơm riêng cũng như mỗi thứ chim cất lên một giọng hót riêng. Mỗi nhà văn sẽ chỉ sống được trong lịch sử văn học, trong tâm hồn người đọc khi anh ta tạo ra được một giọng hót, một hương thơm riêng của mình. Bởi lẽ, điều còn lại đối với mỗi nhà văn, chính là giọng nói của riêng mình.

4. “Thơ hay giống như người con gái đẹp, cái để làm quen là nhan sắc, cái để sống với nhau lâu là đức hạnh. Nhanh sắc của thơ là chữ nghĩa, tấm lòng mới là đức hạnh của thơ.” Qua việc đi tìm hiểu tác phẩm… ta thấy nhận định trên lại càng khẳng định được giá trị của mình. ( Nêu phần đề bài yêu cầu).

5. Các tác phẩm về đề tài đất nước, Cách mạng

“Ôi Tổ quốc ta yêu như máu thịt

Như mẹ như cha như vợ như chồng

Ôi Tổ quốc nếu cần ta chết

Cho mỗi ngôi nhà ngọn núi dòng sông”

Lịch sử dân tộc ta đã trải qua những năm tháng kháng chiến trường kỳ gian khổ để có được độc lập tự do và hạnh phúc như ngày hôm nay. Trong những tháng ngày mưa bom bão đạn, những giây phút thiêng liêng một thời khói lửa, ta càng trân trọng hơn những tiếng thơ hay của các văn nghệ sĩ viết về quê hương đất nướ, về cách mạng. Một trong số đó không thể không kể tới….

6. Đề tài tình yêu

Suốt cả chặng đường dài sáng tác của mình, có rất nhiều những người nghệ sĩ cứ đeo đuổi giấc mơ, tìm hiểu và cắt nghĩa về tình yêu. Thế nhưng, câu trả lời vẫn cứ là một con số khó đoán định. Trong nền văn học Việt Nam, ta biết tới ông hoàng thơ tình Xuân Diệu với những vần thơ tình đắm đuối, nồng nàn. Trên thế giới, bản thân ta cũng không thể nào quên đi một trong những bài thơ tình nổi tiếng – “Tôi yêu em” của nhà thơ Puskin. Và giữa biết bao chông chênh cuộc đời, ta lại tình cờ xô trái tim mình vào tiếng thơ giản dị, gần gũi nhưng vô cùng ấm áp và sâu sắc của Xuân Quỳnh. Một trong những tác phẩm nổi tiếng của Xuân Quỳnh không thể không kể tới – với tựa đề vô cùn giản dị: “Sóng”.

(Bài viết sưu tầm)

Xem thêm : Rèn kĩ năng viết phần mở bài kết bài cho học sinh THPT 

  1. Tổng hợp những mở bài cho các tác phẩm lớp 12, phần 1
  2. Một số mở bài cho học sinh tham khảo ( phần 2 )
  3. Tổng hợp những mở bài hay về các tác phẩm lớp 12 ( phần 3 )
  4. Tuyển tập những mở bài hay nhất về các tác phẩm lớp 12 ,dành cho học sinh tham khảo ( Phần 4 )
  5. Tổng hợp những kết bài hay về các tác phẩm lớp 12 ( phần 1 )
  6. Tổng hợp kết bài mẫu về các tác phẩm lớp 11-Hay và đầy đủ
  7. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về các tác phẩm lớp 12 ( phần 2 )

Rèn kĩ năng viết phần mở bài kết bài cho học sinh THPT

Rèn kĩ năng viết phần mở bài kết bài cho học sinh THPT

Hướng dẫn học sinh rèn kĩ năng mở và kết bài trong bài văn nghị luận, áp dụng với kiểu bài nghị luận văn học.

CÁCH VIẾT PHẦN MỞ BÀI TRONG BÀI NGHỊ LUẬN VĂN HỌC

Yêu cầu của phần mở bài:

+ Mở bài nhằm giới thiệu một cách khái quát vấn đề sẽ được triển khai, bàn bạc. Mở bài hay, tự nhiên sẽ như một dòng chảy được khơi thông, ý văn sẽ được mở ra. Ngược lại, mở bài lúng túng không trúng vấn đề sẽ khiến việc triển khai ý khó khăn, khó tạo ra sự lien thông liền mạch.

+ Về hình thức: mở bài thường là một đoạn văn khoảng 5- 7 dòng.

+ Về nội dung:

Mở bài gồm hai phần: Phần dẫn dắt vào vấn đề và phần nêu vấn đề.

+ Thông thường mở bài đối với các tác phẩm văn học như phân tích, cảm nhận một đoạn văn hay nhân vật thường viết như sau : tác giả + vị tí của tác giả trông nền văn học hoặc phong cách + đề tài tiêu biểu+ tác phẩm tiêu biểu+ nêu đoạn văn, đoạn thơ, nhân vật mà đề bài yêu cầu

+ Để viết phần mở bài không vướng mắc, học sinh cần phải nắm được những từ khóa về mỗi tác giả.

Ví dụ với Thanh Thảo cần phải nhớ ông là một trong số nhà thơ tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ.

Hay với Quang Dũng, phải nhớ đó là nhà thơ của xứ Đoài mây trắng, với hồn thơ phóng khoáng, lãng mạn, hào hoa.

Với Nguyễn Trung Thành là nhà văn gắn bó máu thịt với mảnh đất Tây Nguyên trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ.

Ví dụ minh họa :Hướng dẫn học sinh viết mở bài cho 3 đề bài sau:

+ Đề 1: Vẻ đẹp của con người Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ qua hai tác phẩm Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi và Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành.

+ Đề 2: Cảm nhận của anh (chị) về hai đoạn thơ sau

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

(Tây Tiến– Quang Dũng)

Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi nắng chiều lưng nương

Nhớ từng bản khói cùng sương

Sớm khuya bếp lửa người thương đi về

(Việt Bắc- Tố Hữu)

+ Đề 3: Bàn về nghệ thuật xây dựng hai chân dung phụ nữ điển hình, trong truyện ngắn Vợ nhặt– Kim Lân, có ý kiến cho rằng “Chị vợ nhặt được khắc họa ở  phương diện bên ngoài, còn bà cụ Tứ lại hiện lên qua những khắc họa nội tâm bên trong”. Ý kiến của bạn?

Mở bài mẫu tham khảo :

+ Đề bài 1: Hình ảnh những con người Việt Nam đã đi vào thơ ca với những phẩm chất cao đẹp, cần cù trong lao động, nh hung trong chiến đấu. Văn thơ thời kì kháng chiến chống Mĩ đã khám phá, tìm tòi ngợi ca vẻ đẹp của con người Việt Nam. Rừng xà nu và Những đứa con trong gia đình đều là hai tác phẩm xuất sắc viết về đề tài chiến tranh. Qua hai tác phẩm ta thấy được những phẩm chất của con người Việt Nam được hiện lên rất rõ nét.

+ Đề bài 2: Trong cuộc đời ai cũng có ít nhất một niềm thương nỗi nhớ. Có lẽ vì thế mà nỗi nhớ đã trở thành đề tài quen thuộc với các nhà thơ, nhà văn. Nếu trong Tây Tiến, Quang Dũng nhớ da diết về thiên nhiên và con người Tây Bắc thì trong Việt Bắc là nỗi nhớ về những năm tháng nghĩa tình cách mạng. Nỗi nhớ đó được thể hiện qua hai đoạn thơ sau:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

                         ….

Mường Lát hoa về trong đêm hơi”

 

“Nhớ gì như nhớ người yêu

                          …

Sớm khuya bếp lửa người thương đi về”

+ Đề bài 3: Kim Lân là một trong số những nhà văn tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam hiện đại. Ông có sở trường viết truyện ngắn với đề tài nông thôn và những người dân quê. Vợ nhặt là một trong những tác phẩm xuất sắc của Kim Lân được rút ra từ tập truyện Con chó xấu xí. Truyện đã xây dựng thành công hai nhân vật phụ nữ .Về 2 nhân vật này có ý kiến cho rằng”Chị vợ nhặt được khắc họa ở phươngdiện bên ngoài còn bà cụ Tứ lại hiện lên qua những khắc họa nội tâm bên trong”.

Những lỗi học sinh thường mắc phải:

+ Phần dẫn dắt nhiều khi không lien quan đến phần nêu.

+ Mở bài sáo rỗng dùng ngôn từ khoa trương.

+ Ý dẫn dắt không lien quan đến trọng tâm của bài.

+ Dẫn lan man dài dòng.

+ Trình bày chi tiệt, cụ thể nội dung lẽ ra chỉ triển khai ở phần thân bài.

CÁCH VIẾT PHẦN KẾT BÀI TRONG BÀI NGHỊ LUẬN VĂN HỌC

– Vai trò của kết bài:

+ Kết bài là phần cuối của bài viết, có tính chất hô ứng với phần trên nhưng không phải là một vế đối cứng nhắc.

+ Nếu ta coi mở bài có tính chất của một câu hỏi, thì kết bài có tính chất là một câu trả lời, một cách trả lời. Phần kết bài không chỉ khẳng định vấn đề nghị luận mà còn có nghiệm vụ giúp người đọc thấy được khả năng của vấn đề đã được giải quyết với những vấn đề khác, với những thắc mắc tiếp tục được giải đáp. Điểu này chỉ có ý nghĩa khi nó thực sự cần thiết đối với người đọc nếu không nó chỉ là phần liên hệ nhạt nhẽo, cứng nhắc.

→ Vì vậy kết bài nhầm tổng kết thâu tóm lại vấn đề đã được đặt ra ở mở bài và phát triển ở thân bài, đồng thời khơi ngợi những nội dung cảm xúc nối tiếp cho người đọc từ những vấn để đã nêu ra và giải quyết. Việc thâu tóm lại nội dung vấn đề không phải là lặp lại những gì đã trình bày trong phần thân bài mà phải dùng một cách diễn đạt khái quát và ngắn gọn. Việc khơi gợi, tạo những dư ba là lời đã hết nhưng ý vẫn không hết, vẫn khiến người đọc trăn trở, day dứt tiếp nối những gì đã nêu và triển khai ở bài viết.

–  Kết bài có thể được viết theo những cách thức sau:

+ Thâu tóm nội dung đã được trình bày trong toàn bộ bài viết.

+ Từ nội dung đã trình bày kêu gọi hành động.

+ Từ nội dung đã được trình bày gợi cho người đọc vấn đề mới.

+ Từ nội dung đã trình bày mở rộng vấn đề đã liên quan.

  • Cần lưu ý: Lối viết sáng tạo luôn tìm thấy trong những khuôn mẫu, một cách thức thể hiện mới không giống bất cứ khuôn mẫu nào. Đích đến của làm văn trong đó việc rèn luyện viết mở bài, kết bài cũng là như thế.

Hướng dẫn viết kết bài cho một số đề bài:

Trở lại ba đề bài của phần viết mở bài.

+ KB1: “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành và “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi là những tác phẩm xuất sắc của văn học chống Mỹ ở Miền Nam. Mỗi tác phẩm có một vẻ đẹp riêng, không khí riêng, cách nhìn riêng về hiện thực đấu tranh cách mạng và nghệ thuật xây dựng nhân vật. Vẻ đẹp của con người Việt Nam đã làm lên linh hồn của dân tộc góp phần làm cho tác phấm sống mãi với thời gian. Văn học thời kì chống Mỹ cứu nước đã được nhịp sống của dân tộc lật giở lại, chúng ta không khỏi tự hào về những năm tháng đất nước mình đã đi qua, về vẻ đẹp muôn đời của con người đất Việt.

+ KB2: Hai đoạn thơ đếu diễn tả những nỗi nhớ rất sâu đậm về một địa danh cụ thể gắn với một vùng đất chan chứa kỉ niệm. Dù là nỗi nhớ “chơi vơi” hay nỗi nhớ “người yêu” thì chúng ta đều nhận thấy mức độ sâu nặng trong tình cảm nhớ thương của hai nhà thơ. Họ không chỉ nhớ về một nơi cụ thể mà nó còn là nơi cất dấu những kỉ niệm, những ân tình kháng chiến, những gian khổ đã từng trải qua và hơn thế nữa còn là tình cảm quân dân gắn bó. Từ đó có thể coi “Tây Tiến” của Quang Dũng và “Việt Bắc” của Tố Hữu là hai thi phẩm đặc sắc của thơ ca cách mạng. Thông qua cách thể hiện nỗi nhớ rất riêng biệt của từng nhà thơ, chúng ta thấy được cá tính sáng tạo đặc biệt của họ và điều đó tạo nên dấu ấn lâu bền trong lòng người đọc.

+ KB3: Bằng ngòi bút tài hoa khi khắc họa nhân vật, Kim Lân đã thể hiện lòng cảm thông với số phận cùng quẫn của người nông dân trong nạn đói và thái độ ngợi ca trân trọng những phẩm chất tốt đẹp của họ. “Vợ nhặt” xứng đáng là một truyện ngắn đặc sắc viết về đề tài người nông dân trong văn học hiện đại Việt Nam.

­Hướng dẫn học sinh cách triển khai cụ thể:

+ Bước 1: Đọc kĩ đề bài, nhận diện đề rõ ràng, nhận diện đây là kiểu bài gì?  Nghị luận về một bài thơ, một đoạn thơ, một đoạn trích hay một tác phẩm văn xuôi. Nghị luận về một ý kiến về văn học, hai ý kiến bàn về văn học; nghị luận về hai đoạn trích văn xuôi. Muốn viêt tốt phần này đọc kỹ về phấn tiểu dẫn về tác giả trong sách giáo khoa.

+ Bước 2: Với từng kiểu bài cụ thể

  • Với kiểu bài nghị luận về một đoạn thơ, một bài thơ, một đoạn trích, một tác phẩm văn xuôi học sinh giới thiệu tác giả, tác phẩm, nội dung nghị luận (lưu ý phải đảm bảo ngắn gọn, đúng, trúng) trích dẫn nội dung vấn đề cần nghị luận.
  • Với kiểu bài nghị luận về hai đoạn thơ, hai đoạn trích: Học sinh giới thiệu từng tác giả một, giới thiệu hai tác phẩm, tìm ra điểm chung của hai đoạn (viết một câu khái quát) rồi trích dẫn vấn đề.
  • Với kiểu bài nghị luận về một ý kiến, hai ý kiến: Ngoài phần giới thiệu về tác giả, tác phẩm dứt khoát phải giới thiệu được một ý kiến, hai ý kiến đó vào trong phấn mở bài

Ví dụ: Đề thi chọn học sinh giỏi môn ngữ văn 12 năm 2016 của tỉnh Nam Định

“Tôi sẵn sãng gặp gió, gặp bào, gặp em

Nhưng sự hững hờ là tôi không chờ gặp”

Nếu Thanh Thảo “hững hờ” thì có viết được “Đàn ghi ta của Lorca”? Anh/ chị hãy làm sáng tỏ.

Có thể mở bài như sau: Nhà thơ Tố Hữu cho rằng “thơ là điệu tâm hồn đi tìm đồng điệu” Thơ phải dựa trên sự đồng cảm tri âm. Cũng như thế, nhà thơ Thanh Thảo từng viết ““Tôi sẵn sãng gặp gió, gặp bào, gặp em – Nhưng sự hững hờ là tôi không chờ gặp” Chính sự hững hờ không chờ gặp đó đã giúp Thanh Thảo thể hiện tình cảm, sự trân trọng của mình trước nhân cách cao quý của F.G. Lorca trong bài thơ nhuốm màu tượng trưng siêu thực “Đàn ghi ta của Lorca”

+ Bước 3: Phần kết bài

Cách kết bài ngắn gọn và phổ biến nhất học sinh thường làm:

  • Khái quát nội dung, nghệ thuật của đoạn, của bài được nêu ra trong đề bài.
  • Khằng định vị trí của bài, của đoạn trong sự nghiệp văn học của tác giả.
  • Khẳng định vị trí của tác giả trong giai đoạn văn học.

(Lưu ý: Học sinh hay nhầm phần kết bài với phấn đánh giá ở trên)

Với đề bài về nghị luận về một ý kiến, hai ý kiến

  • Khái quát nội dung của phần thân bài
  • Một lần nữa trích dẫn lại một ý kiến, hai ý kiến

Một số mở bài mẫu tham khảo

– Đề 1: Cảm nhận về đoạn thơ sau:

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

(Tây Tiến – Quang Dũng)

Phần mở bài của học sinh:

Quang Dũng là nhà thơ đa tài, ông làm thơ vẽ tranh và soạn nhạc. Nhưng người đọc biết đến Quang Dũng nhiều hơn cả là một nhà thơ.  Thi phẩm được đánh giá là đứa con đầu lòng tráng kiện và hào hoa đó là Tây Tiến (1947). Cả bài thơ là nỗi nhớ về thiên nhiên miền Tây Bắc và binh đoàn Tây Tiến. Nỗi nhớ đó được cụ thể trong đoạn thơ sau

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

( Bài làm của em Nguyễn Lan Hương 12A10)

– Đề 2: Về nhân vật Việt trong “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi, có ý kiến cho rằng “Việt là một cậu bé mới lớn, hồn nhiên, ngộc nghệch, vô tư”, ý kiến khác lại nhấn mạnh “Việt là một chiến sĩ dũng cảm, kiên cường”. Ý kiến của anh/ chị?

Bài viết của học sinh:

Nguyễn Thi là nhà văn của người nông dân Nam Bộ, những nhân vật trong sáng tác của ông thường là những người nông dân dũng cảm, có lòng căm thù giặc sâu sắc. Ông là nhà văn có biệt tài đi sâu vào tâm lý của nhân vật. Điều này được thể hiện ở nhân vật Việt trong tác phẩm “Những đứa con trong gia đình”. Về nhân vật này có ý kiến cho rằng “Việt là một cậu bé mới lớn, hồn nhiên, ngộc nghệch, vô tư” và ý kiến khác lại nhấn mạnh “Việt là một chiến sĩ dũng cảm, kiên cường”

(Bài làm của Dương Quốc Nhật – 12A10)

Lược trích Sáng kiến kinh nghiệm của cô giáo Trần Thị Tươi : Định hướng phát triển năng lực mở bài, kết bài cho học sinh qua bài “Rèn kĩ năng mở bài, kết bài”. ( có chỉnh sửa )

Xem thêm :

  1. Tổng hợp những mở bài cho các tác phẩm lớp 12, phần 1
  2. Một số mở bài cho học sinh tham khảo ( phần 2 )
  3. Tổng hợp những mở bài hay về các tác phẩm lớp 12 ( phần 3 )
  4. Tuyển tập những mở bài hay nhất về các tác phẩm lớp 12 ,dành cho học sinh tham khảo ( Phần 4 )
  5. Tổng hợp những kết bài hay về các tác phẩm lớp 12 ( phần 1 )
  6. Tổng hợp kết bài mẫu về các tác phẩm lớp 11-Hay và đầy đủ
  7. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về các tác phẩm lớp 12 ( phần 2 )

Tổng hợp những mở bài hay và độc đáo về các tác phẩm lớp 12 ( phần 4)

Tuyển tập những mở bài hay nhất về các tác phẩm lớp 12 ,dành cho học sinh tham khảo ( Phần 4 )
Một số mở bài về Tây Tiến – Quang Dũng

Mở bài 1: Phong trào thơ mới 1932 – 1945 đánh dấu sự thành công vượt bậc của văn học Việt Nam với sự đóng góp bởi các tên tuổi nổi tiếng với phong cách thơ lãng mạn, hào sảng nổi trội trong làng thơ như: Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu, Hữu Loan, Hoàng Cầm, Quang Dũng… Và hẳn nhiên, không ai có thể quên Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng, bởi riêng mình Quang Dũng dường như đã tự tách biệt mình ra với hướng đi của các nhà thơ lãng mạn khác.

Mở bài 2: Nhà thơ Vũ Quần Phương đã nhận xét và bài thơ Tây Tiến : “Quang Dũng đứng riêng một ốc đảo, đặc biệt với bài thơ Tây Tiến, ông không có điểm gì chung với những nhà thơ khác, ông đứng biệt lập như một hòn đảo giữa các nhà thơ kháng chiến”. Phải chăng cái mới, cái lạ, cái riêng biệt ấy chính là tượng đài những người chiến sĩ, những người anh hùng của dân tộc đã hy sinh vì dân tộc, được tạc dựng lại vừa mang vẻ đẹp của sự anh dũng, kiên cường vừa mang vẻ đẹp hào hoa, lãng mạn.

Mở bài 3: Mọi cuộc chiến tranh rồi sẽ qua đi, bụi thời gian có thể phủ dày lên hình ảnh của những anh hùng vô danh, nhưng văn học với sứ mệnh thiêng liêng của nó đã khắc họa một cách vĩnh viễn vào tâm hồn người đọc hình ảnh những người con anh hùng của đất nước đã ngã xuống vì nền độc lập của Tổ quốc trong suốt trường kỳ lịch sử. Và “Tây Tiến” là 1 trong những bài thơ hay, tiêu biểu của Quang Dũng cũng đã dựng lên một bức tượng đài bất tử như vậy về người lính cách mạng trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược. Đó là bức tượng đài đã làm cho những người chiến sĩ yêu nước từng ngã xuống trong những tháng năm gian khổ ấy bất tử cùng thời gian

Mở bài 4: Cho đến nayTây tiến vẫn là một đài thơ(Thi Sơn)đầy kỳ bí.Cái ma lực,cái âm hưởng của bài thơTây tiến…chưa ai lý giải hết được.Phải chăng cái hay là bởi lời thơ,ý thơ,hình tượng thơ Giầu nhạc điệu được chứa trong một hồn thơ thật mới lạ và rất sâu sắc ? Con người nồng hậu,nét bút tài hoa trong cách sử dụng ngôn ngữ thơ và hình ảnh thơ đã làm nên kiệt tác thơ Tây tiến. Với Tây tiến,Quang Dũng dưa ta đi vào một thế giới đầy mùi hương hoài niệm,của sự vọng tưởng diệu huyền.Với Tây tiến,Quang Dũng đã xây tượng đài về anh Bộ đội Cụ Hồ thời kháng chiến 9 năm đầy gian khổ nhưng rất đỗi hào hùng

Mở bài 5: Nhà thơ Chế Lan Viên từng để tâm hồn thăng hoa trong những lời thơ sâu sắc: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở / Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”. Trong cuộc đời mỗi người từng gắn bó với nhiều mảnh đất. Mỗi mảnh đất ta qua đều trở thành dấu ấn, trở thành những kỉ niệm khó quên. Nhà thơ Quang Dũng cũng đã từng trải qua cảm xúc ấy. Nỗi nhớ của ông về những năm tháng kháng chiến, về những kỉ niệm gắn bó với mảnh đất Tây Bắc đã được ghi lại chân thực trong bài thơ Tây Tiến.

Tổng hợp những mở bài hay và độc đáo về các tác phẩm lớp 12

Một số mở bài về Việt Bắc – Tố Hữu

Mở bài 1: Đề tài kháng chiến là một đề tài quen thuộc trong thơ ca cách mạng VN trong đó bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu là thi phẩm tiêu biểu. Bài thơ được sáng tác vào tháng 10-1954 sau thắng lợi chiến dịch ĐBP lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, kết thúc kháng chiến chống Pháp thắng lợi. Vì thế bài thơ vừa có ý nghĩa lịch sử lại vừa có ý nghĩa văn học sâu sắc. Có ý kiến cho rằng: “ Bài thơ VB của TH là khúc tình ca và cũng là khúc hùng ca về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến”

Mở bài 2: Bài thơ Việt Bắc là đỉnh cao của thơ tố Hữu và cũng là thành tựu xuất sắc của thơ ca kháng chiến chống Pháp. Bài thơ ra đời nhân một sự kiện lịch sử: tháng 10 năm l954, những người kháng chiến rời căn cứ miền núi trở về miền xuôi. Từ điểm xuất phát ấy, bài thơ ngược về quá khứ để tưởng nhớ một thời cách mạng và kháng chiến gian khổ mà anh hùng, để nói lên nghĩa tình gắn bó thắm thiết với Việt Bắc, với Đảng và Bác Hồ, với đất nước và nhân dân – tất cả là nguồn sức mạnh tinh thần to lớn để dân tộc ta vững vàng bước tiếp trên con đường cách mạng. Nội dung ấy được thể hiện bằng hình thức đậm tính dân tộc.Bài thơ rất tiêu biểu cho phong cách thơ Tố Hữu.

Mở bài 3: Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lần thứ hai của dân tộc ta thắng lợi được nhân loại tiến bộ vinh danh là “cuộc chiến tranh thần thánh”. Tính thần thánh, huyền thoại ấy được biểu hiện ở đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng suốt , ở lòng yêu nước, lý tưởng độc lập – tự do, ở tinh thần kiên cường, dũng cảm của quân dân ta. Với một lực lượng nhỏ bé, vũ khí thô sơ, chưa có nhiều kinh nghiệm chiến đấu, quân ta phải đối diện trước bọn thực dân Pháp binh hùng, tướng mạnh, vũ khí hiện đại,…Vậy mà cuối cùng dân tộc ta đã chiến thắng. Một trong những nguyên nhân thắng lợi là sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân, sức mạnh của tình dân với Cách mạng, tình người mặn nồng, tha thiết, yêu thương, gắn bó với nhau.Vẻ đẹp của khối đoàn kết toàn dân, của tình người ấy đã được nhà văn Tố Hữu ngợi ca bằng những từ ngữ, những câu thơ, những hình tượng thẩm mĩ vô cùng ấn tượng trong đoạn trích phần một của trường ca Việt Bắc. Ngày nay, cuộc chiến đã đi qua, nhưng tình người thì còn lại mãi mãi…

Mở bài 4: Tố Hữu là nhà thơ lớn, con chim đầu đàn của nền thơ ca cách mạng Việt Nam, các chặng đường thơ của ông đều gắn bó với các chặng đường cách mạng dân tộc. Các tác phẩm của Tố Hữu luôn in đậm khuynh hướng trữ tình chính trị và

đậm đà tính dân tộc. Và “Việt Bắc” là một trong những bài thơ hay nhất của đời thơ Tố Hữu, đồng thời cũng là đỉnh cao của thơ kháng chiến chống Pháp. Nó được xem như một bản tổng kết bằng thơ cuộc kháng chiến chống Pháp gian khổ, anh hùng của dân tộc và lời tri ân sâu nặng về nghĩa tình cách mạng. Đoạn trích “…” là lời của cán bộ kháng chiến về xuôi với người dân Việt Bắc, như sự đáp lời cho câu hỏi đau đáu “Mình về mình có nhớ ta?”. Nếu như đồng bào Việt Bắc nhớ cán bộ kháng chiến thì cán bộ kháng chiến cũng dành trọn tình cảm yêu thương cho những con người nghĩa tình ấy. Một tình cảm tri ân đồng vọng.

Mở bài 1: Đất Nước – hai tiếng thiêng liêng ấy vang lên tự sâu thẳm tâm hồn ta vừa cao cả, trang trọng, vừa xiết bao bình dị, gần gũi. Hình tượng Đất nước đã khơi nguồn cho biết bao hồn thơ cất cánh. Văn học kháng chiến 1945 – 1975 trong mạch chảy ngầm dạt dào, mãnh liệt của cuộc sống không chỉ bắt được những âm vang náo nức cùa thời đại mà còn khắc tạc nên tượng đài nghệ thuật Đất nước thật nên thơ, cao đẹp.

Mở bài 2: Trong suy nghĩ của mỗi người, yêu nước thường là một tình cảm lớn lao, xa vời, khó cảm nhận. Nhưng qua bài Đất nước, bằng những câu thơ vừa dồn nén cảm xúc vừa trĩu nặng suy tư, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã thầm nhắc bạn đọc – nhất là lớp người trẻ tuổi “Em ơi em, Đất Nước là máu xương của mình/Phải biết gắn bó và san sẻ…” Đất Nước gắn bó, biểu hiện ngay bên cạnh chúng ta. Phải chăng lòng yêu nước bắt đầu từ những điều giản dị, gần gũi nhất, như yêu cha mẹ, gia đình, mái nhà ta ở, hạt gạo ta ăn, từ mỗi giọt máu, đốt xương của chính mình? Từ tình yêu nhỏ, tuổi trẻ hãy mở rộng tấm lòng để có tình yêu lớn. Từ tình yêu, chúng ta cần thức tỉnh sứ mệnh của mình trước lịch sử. Ngày xưa, sứ mệnh ấy là chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc, còn ngày nay, sứ mệnh ấy là gì?

Mở bài 3: Đất nước là đề tài muôn thuở của thơ văn Việt Nam. Chúng ta đã bắt gặp đất nước chìm trong đau thương, mất mát qua thơ Hoàng Cầm; gặp đất nước đang đổi mới từng ngày qua thơ Nguyễn Đình Thi. Nhưng có lẽ đất nước được nhìn từ nhiều khía cạnh, đầy đủ và trọn vẹn nhất qua bài thơ “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm. Hình hài đất nước từ khi được sinh ra cho đến khi phải trải qua bao nhiêu song gió chiến tranh được tái diễn sinh động qua một hồn thơ tinh tế, phóng khoáng của Nguyễn Khoa Điềm.Tác giả nhìn đất nước từ nhiều khía cạnh, trải qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử. Đất nước là tên gọi thiêng liêng, bình dị nhưng chất chứa bao nhiêu ngọn nguồn của cảm xúc chính tác giả.

Một số mở bài về Sóng – Xuân Quỳnh

Mở bài 1: Tình yêu – một đề tài từng làm rung động trái tim biết bao người và ngân lên thành biết bao lời thơ nhân loai. Mỗi một nhà thơ tìm đến một cách biểu hiện khác nhau: một tình yêu mang yếu tố triết lý trong thơ Tago, một tình yêu nồng nàn đắm say trong thơ Puskin, một tình yêu rạo rực tràn đầy cảm xúc trong thơ Xuân Diệu và đến với bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh tôi bắt gặp một cảm xúc tình yêu đầy trăn trở khát khao của tâm hồn người phụ nữ trong khát vọng hạnh phúc đời thường.

Mở bài 2: Sẽ thật là thãi thừa khi nói về vẻ đẹp, sự huyền bí, sự hấp dẫn, niềm sung sướng và cả những đớn đau do Tình Yêu đem lại. Thế gian đã tốt bao nhiêu giấy, mực, thậm chí cả ..máu để nói, viết, ca tụng cho Tình Yêu. Trong cuộc đời trần tục đầy biến ảo này, mọi thứ đều thay đổi, nhưng có một thứ là bất biến, vĩnh hằng…Đó chính là sự thuần khiết, lung linh của Tình yêu. Có lẽ tự thủa hồng hoang, tình yêu của loài người cũng đã vậy và cho đến nay nó vẫn vậy về bản chất, tình yêu đó chỉ thay đổi về hình thức thể hiện nhưng bảo tồn nguyên vẹn chất liệu nội dung.Thật là đẹp và lãng mạng biết bao khi tác giả Xuân Quỳnh đã mượn hình ảnh sóng để nói lên những trăn trở, khát khao của tâm hồn người phụ nữ trong khát vọng hạnh phúc đời thường.

Mở bài 3: Tình yêu là một đề tài muôn thuở của thơ ca. Muôn đời tình yêu vẫn mới lạ vẫn hấp dẫn với mọi người.Nhiều nhà thơ đã viết về tình yêu đã nói về tình yêu bằng một cảm hứng mãnh liệt in đậm dấu ấn tâm hồn tư tưởng và phong cách của mình. Xuân Quỳnh với bài thơ “sóng”-một bài thơ tình duy nhất trong tập thơ

“Hoa dọc chiến hào” đã để lại trong lòng người đọc một ấn tượng khó quên. Tình yêu ở đây được đề cập đến một cách sâu sắc đậm đà. Chị đã mượn hình tượng sóng để diễn tả những cảm xúc tâm trạng những sắc thái tình cảm vừa phong phú phức tạp vừa thiết tha sôi nổi của một trái tim phụ nữ đang rạo rực khao khát yêu đương.

Mở bài 4: “Sóng” được in trong tập “Hoa dọc chiến hào”, xuất bản năm 1968 của nữ nhà thơ tình nổi tiếng Xuân Quỳnh. Bài thơ nói về tâm trạng, tình yêu mãnh liệt của người con gái khi yêu. Hãy đến với bài thơ bằng nhạc điệu, bài thơ là âm điệu của một cõi lòng bị sóng khuấy động, đang rung lên đồng điệu đồng nhịp với sóng biển. Rạo rực đến xôn xao, khát khao đến khắc khoải, có một hình tượng sóng được vẽ lên bằng âm điệu, một âm điệu dập dồn, chìm nổi, miên man như hơi thở chạy suốt cả bài.

Một số mở bài về Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài

Mở bài 1: Nhà văn Tô Hoài là nhà văn hiện thực nổi tiếng trước Cách Mạng Tháng

Tám. Ông là người có vốn hiểu biết phong phú vê phong tục tập quán của nhiều vùng khác nhau trên đất nước ta, trong đó Tây Bắc là một điển hình sâu sắc nhất. Trong tác phẩm Vợ Chồng A Phủ, Tô Hoài đã làm nên bức tranh hai màu sáng tối, mà đứng đầu hai thái cực ấy chính là cha con thống lý Pá Tra và vợ chồng A Phủ.

Mở bài 2: Nói về việc sáng tác “Truyện Tây Bắc”, Tô Hoài cho biết, “ngoài tài liệu và trên cả sáng tạo”, ông đã đưa vào trong tác phẩm của mình “những ý thơ”: “Ở mỗi nhân vật và trùm lên tất cả miền Tây, tôi đã đưa vào một không khí vời vợi, làm cho đất nước và con người bay bổng lên hơn, rời bỏ được cái ám ảnh tủn mủn, lặt vặt thường làm co quắp nhân vật, nhỏ bé vấn đề và khung cảnh đi”. Thật vậy, cụ thể trong “Vợ chồng A Phủ”, ta bắt gặp một trong những nét đặc sắc nhất của Tô Hoài là biệt tài phát hiện và chuyển tải chất thơ trong cuộc sống bình dị vào trang viết. Chất thơ man mác bao phủ bầu không khí của tác phẩm là sự cộng hưởng hiệu ứng của nhiều thủ pháp nghệ thuật, ánh lên từ tình huống truyện đầy nhân văn, từ ngôn ngữ hàm súc và giọng điệu trần thuật giàu tính nhạc. Để rồi từ đó, hiện lên trong tác phẩm bàng bạc chất thơ này là thiên nhiên, là lối sống, là phong tục và tâm hồn con người không lẫn vào đâu được.

Mở bài 3: Tô Hoài – nhà văn của người dân miền núi. Những năm tháng lặn lội, thâm nhập vào cuộc sống của con người vùng cao đã để lại ấn tượng sâu sắc trong tâm hồn nhà văn. Những bản làng chìm trong sương với những người dân chân chất, thật thà . Những con người sống trong cảnh đời cơ cực đầy những bất công dưới xã hội cũ nhưng lòng vẫn cháy không nguôi khát vọng sống mạnh mẽ tựa như sức sống vững vàng của núi, của rừng. Phẩm chất tốt đẹp đó của con người vùng cao được Tô Hoài phản ánh qua khát vọng sống mãnh liệt của nhân vật Mị – nhân vật chính trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ vào đêm tình mùa xuân rộn ràng của núi rừng Tây Bắc.

Mở bài 4: Nếu ai từng một lần đến với Tây Bắc, đến với những bản làng hiền hòa chìm trong sương, đến với những phong cảnh núi rừng hùng vĩ trữ tình, đến với cuộc sống tươi vui của những đứa con nơi núi rừng hẳn không nghĩ rằng, những con người nơi đây từng khổ cực tram bề. Cảnh đói nghèo cơ cực cùng sức nặng cường quyền và thần quyền đè nặng lên đôi vai những số phận bé nhỏ. Nhưng đằng sau tất cả vẫn là sức sống mãnh liệt, mạnh mẽ. Và Tô Hoài đã phản ánh những điều ấy qua hình tượng nhân vật A Phủ trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ.

Mở bài 5: Nếu chỉ dừng lại ở tác phẩm “Dế mèn phiêu lưu ký”, nhà văn Tô Hoài đã rất nổi tiếng, đã làm được cái việc mà như nhà văn Nam Cao nói là “để đời” đối với sự nghiệp của bất cứ người cầm bút nào. Thế nhưng, nhà văn Tô Hoài không dừng lại ở chú “dế mèn” mà còn đi xa hơn. Ra đi ở tuổi 95, ông đã để lại cho đời hơn 100 đầu sách. Nếu chỉ tính về mặt số lượng thì mấy ai làm được như ông? Còn nói về khía cạnh nghệ thuật, bảo rằng Tô Hoài đi được xa hơn cũng chính bởi khi nghĩ đến ông, người ta cũng nhớ ngay “Vợ chồng A Phủ” – truyện ngắn đã được dựng thành phim và cũng là một tác phẩm tiêu biểu cho văn học hiện thực dân tộc miền núi mà Tô Hoài đã cống hiến.

Mở bài 6: Tô Hoài được biết đến như nhà văn của phong tục và người dân miền núi phía Bắc. Có lẽ vậy mà Tô Hoài chia sẻ: “Tây Bắc đã để thương, để nhớ trong tôi”. Ông tìm kiếm sự chân thực với quan niệm viết văn là một quá trình không tầm thường, phản ánh sự thật ở đời cho dù phải đập vỡ những hình tượng trong lòng bạn đọc. Nếu cùng thời với nhà văn, Nguyễn Tuân lên Tây Bắc tìm thứ vàng mười đã qua thử lửa thì Tô Hoài Lên Tây Bắc với quan niệm Văn chương và khao khát đóng góp cho cuộc đấu tranh của nhân dân. Tám tháng gắn bó với bà con dân tộc miền núi phía Bắc (trong đợ theo bộ đội lên Tây Bắc mở trại sáng tác) là tám tháng Tô Hoài hiểu và cảm đời sống cùng tấm lòng của người dân nơi đây. Trước khi về, tạm biệt dân làng tại chân núi, hai tiếng “Cháo lù! Cháo lù!” (Trở lại! Trở lại!) để lại nỗi nhớ da diết về người thương nơi đây. Ông viết tập Truyện Tây Bắc và trong đó “Vợ chồng A Phủ” là truyện ngắn xuất sắc nhất. Truyện hoàn thành năm 1953 với người phụ nữ tên Mị trải qua cuộc đời đầy bi kịch trước những hào quang bề ngoài. Thế nhưng, sau sự cam chịu sống dật dờ, Mị đã thức tỉnh khao khát hạnh phúc và bứt phá khỏi sợi dây cường quyền, thần quyền để tìm lại tự do cùng với A Phủ.

 Một số mở bài về Vợ nhặt – Kim Lân

Mở bài 1: Nạn đói khủng khiếp và dữ dội năm 1945 đã hằn in trong tâm trí Kim Lân-một nhà văn hiện thực có thể xem là con đẻ của đồng ruộng, một con người một lòng đi về với “thuần hậu phong thủy” ấy. Ngay sau Cách mạng, ông đã bắt tay viết ngay tiểu thuyết “Xóm ngụ cư” khi hòa bình lập lại (1954), nỗi trăn trở tiếp tục thôi thúc ông viết tiếp thiên truyện ấy. Và cuối cùng, truyện ngắn “Vợ nhặt” đã ra đời. Trong lần này, Kim Lân đã thật sự đem vào thiên truyện của mình một khám phá mới, một điểm sáng soi chiếu toàn tác phẩm. Đó là vẻ đẹp của tình người và niềm hi vọng vào cuộc sống của những người nông dân nghèo tiêu biểu như Tràng, người vợ nhặt và bà cụ Tứ. Thiên truyện thể hiện rất thành công khả năng dựng truyện, dẫn truyện và đặc sắc nhất là Kim Lân đã có khám phá ra diễn biến tâm lý thật bất ngờ.

Mở bài 2: Truyện ngắn “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân lấy bối cảnh là nạn đói khủng khiếp năm 1945 để diễn tả được cái đói có sức nặng như thế nào, nhưng ngụ

ý của tác giả chính là việc dựa trên nạn đói để lột tả tính cách “trong như ngọc sáng ngời” của những con người, những mảnh đời lầm thân. Nhân vật bà cụ Tứ là một hình tượng điển hình cho người đàn bà nghèo khổ đến cùng cực nhưng có tình yêu thương con đến vô bờ bến. Hẳn rằng người đọc sẽ không bao giờ quên những lời mà Kim Lân đã dành cho bà.

Mở bài 3: Dịch đói năm 1944-1945 đã cướp đi rất nhều sinh mạng của đồng bào ta. Ở các vùng nông thôn Bắc Bộ, hầu như gia đình nào cũng có người chết đói, anh em, vợ chồng, cha mẹ, con cái ly tán khắp nơi. Sự sống của mỗi người bị cái đói đe dọa từng ngày. Trong bối cảnh xã hội đó, truyện Vợ Nhặt lại được viết ra thì thật lạ. Một cuộc sống vợ chồng, một nguồn sống cho một mầm sống tương lai tại sao lại được bắt đầu ảm đạm và phấp phỏng như thế dưới ngòi bút đầy tinh tế và tài hoa của Kim Lân

Mở bài 4: Nạn đói khủng khiếp và dữ dội năm 1945 đã hằn in trong tâm trí Kim Lân – một nhà văn hiện thực có thể xem là con đẻ của đồng ruộng, một con người một lòng đi về với “thuần hậu phong thuỷ” ấy.Ngay sau Cách mạng, ông đã bắt tay ngay vào viết tác phẩm Xóm ngụ cư khi hoà bình lặp lại (1954), nỗi trăn trở tiếp tục thôi thúc ông viết tiếp thiên truyện ấy. Và cuối cùng, truyện ngắn Vợ Nhặt ra đời. Trong lần này, Kim Lân đã thật sự đem vào thiên truyện của mình một khám phá mới, một điểm sáng soi chiếu toàn tác phẩm. Đó là vẻ đẹp của tình người và niềm hi vọng vào cuộc sống của những người nông dân nghèo tiêu biểu như Tràng, người vợ Nhặt và bà cụ Tứ. Thiên truyện thể hiện rất thành công khả năng dựng truyện, dẫn truyện và đặc sắc nhất là Kim Lân đã có công khám phá ra diễn biến tâm lý thật bất ngờ.

Một số mở bài về  Rừng xà nu – Nguyễn Trung Thành

Mở bài 1: Đọc truyện ngắn Rừng xà nu, người đọc có ấn tượng mạnh mẽ song trùng là vẻ đẹp của cánh rừng và những người anh hùng trên vùng đất Tây Nguyên huyền thoại. Rừng xà nu được khắc họa từ đầu đến cuối tác phẩm vừa mang nét tự nhiên, vừa tượng cho biết bao tính cách của con người. Trong đó, nổi bật là nhân vật Tnu. Tnu cũng xuất hiện ngay từ đầu rồi đi suốt văn bản, song hành, đầy biến động, để lại ấn tượng đậm nét trong lòng người đọc như rừng xà nu vậy. Một rừng cây – một đời người. Xà nu – loại cây thông chỉ có ở núi rừng nơi đây không chỉ “ưỡn tấm ngực lớn của mình ra che chở cho dân làng” mà còn góp phần sinh ra, nuôi lớn, bảo vệ và hóa thân vào tinh thần, ý chí, vào sức mạnh anh hùng của mỗi người dân, và đặc biệt là Tnu. Tnu là người con của dân làng cũng là người con của rừng xà nu.

Mở bài 2: …Để dẫn ra một tác phẩm tiêu biểu có thể minh hoạ cho sự tồn tại của “nền văn học sử thi” trong văn học Việt Nam 1945 – 1975 tưởng không có tác phẩm nào tiêu biểu hơn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành. Quả đây là một truyện ngắn mang đậm tính sử thi và cảm hứng lãng mạn (thực ra với các tác phẩm thuộc loại này chỉ nói đến tính sử thi là đủ bởi cảm hứng lãng mạn đã trở thành một phần tất yếu của nó).

Mở bài 3: Truyện ngắn Rừng xà nu là tác phẩm xuất sắc viết về đề tài miền núi, đề tài chiến tranh, cách mạng. Truyện ngắn này đã đạt giải thưởng Văn học Nguyễn Đình Chiểu năm 1965. Rừng xà nu phản ánh cuộc đấu tranh của đồng bào Tây Nguyên chống Mĩ Ngụy, làm ngời lên lòng yêu nước bất khuất và sức sống kiên cường của người dân Tây Nguyên nói riêng, đồng bào miền Nam nói chung. Tác phẩm Nguyễn Trung Thành nổi bật ở cảm hứng lãng mạn và khuynh hướng sử thi trong văn học giai đoạn 1945 – 1975. Nổi bật lên trong truyện ngăn Rừng xà nu là nhân vật Tnú.

 Một số mở bài về Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu

Mở bài 1: Nguyễn Minh Châu là nhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam thời chống Mĩ, cũng là “người mở đường tinh anh và tài năng” (Nguyên Ngọc) cho công cuộc đổi mới văn học từ sau 1975. Ở giai đoạn trước, ngòi bút của ông theo khuynh hướng sử thi, đậm tính chiến đấu và thiên hướng trữ tình lãng mạn, thời kì sau chuyển sang cảm hứng thế sự cùng những vấn đề triết lí nhân sinh. “Chiếc thuyền ngoài xa” là truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Minh Châu trong thời kì sau. Tác phẩm kể về chuyến đi thực tế của nghệ sỹ nhiếp ảnh Phùng, qua đó thể hiện cái nhìn sâu sắc của tác giả về vấn đề nghệ thuật và cuộc sống. Những phát hiện của nghệ sỹ nhiếp ảnh Phùng làm nổi bật tư tưởng của nhà văn.

Mở bài 2: Trong văn học cách mạng trước năm 1975, thước đo giá trị chủ yếu của nhân cách là sự cống hiến, hy sinh cho cách mạng, là các tiêu chuẩn đạo đức cách mạng được thể hiện chủ yếu trong mối quan hệ với đồng chí, đồng bào, với kẻ thù. Sau năm 1975, văn chương trở về với đời thường và Nguyễn Minh Châu là một trong số những nhà văn đầu tiên của thời kỳ đổi mới đã đi sâu khám phá đời sống ở bình diện đạo đức thế sự. Khi làm cho người đọc ý thức về sự thật, có khả năng nhìn thẳng vào sự thật, phát hiện nhiều mối quan hệ xã hội phức tạp, chằng chịt, thì văn chương đã ít nhiều đáp ứng được nhu cầu nhìn nhận và hoàn thiện nhiều mặt của nhân cách con người. Truyện Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu là phát hiện về đời sống và con người theo hướng đó.

Mở bài 3: Nguyễn Minh Châu là người suốt đời đi tìm cái đẹp và cái thật, thao thiết kiếm tìm “hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn con người.” Trước 1975, Nguyễn Minh Châu được biết đến với những tác phẩm đậm chất sử thi như: Cửa sông, Miền cháy, Dấu chân người lính. Thế nhưng, sau 1975, chính Nguyễn Minh Châu lại là người đi tiên phong trong công cuộc đổi mới văn học. Chiếc thuyền ngoài xa được in năm 1983 là một bước tiến dài rất đáng trân trọng trong hành trình khám phá vào tầng chìm, vào chiều sâu của cuộc sống và con người của văn xuôi Nguyễn Minh Châu.

Mở bài 4: Không phải ngẫu nhiên mà có người cho rằng Nguyễn Minh Châu là nhà văn của những biểu tượng. Bởi lẽ, trong tác phẩm của mình, Nguyễn Minh

Châu thường không trực tiếp phát biểu những suy nghĩ, quan điểm mà chỉ bộc lộ những suy nghĩ cách nhìn về cuộc đời của mình qua những biểu tượng, những hình tượng đa nghĩa.Không phải ngẫu nhiên mà có người cho rằng Nguyễn Minh Châu là nhà văn của những biểu tượng. Bởi lẽ, trong tác phẩm của mình, Nguyễn Minh Châu thường không trực tiếp phát biểu những suy nghĩ, quan điểm mà chỉ bộc lộ những suy nghĩ cách nhìn về cuộc đời của mình qua những biểu tượng, những hình tượng đa nghĩa. Cách đặt tên tác phẩm, tên nhân vật và xây dựng hình tượng trong truyện ngắn “Mảnh trăng cuối rừng” của ông là một ví dụ. Và có lẽ hình tượng “Chiếc thuyền ngoài xa” trong truyện ngắn cùng tên của ông cũng như vậy.

(Tài liệu sưu tầm)

Xem thêm những bài viết cùng chủ đề :

1.Cách viết phần mở bài trong bài văn nghị luận: http://vanhay.edu.vn/cach-viet-phan-mo-bai-trong-bai-van-nghi-luan-xh

2, Cách mở bài cho dạng đề so sánh văn học:http://vanhay.edu.vn/cach-mo-bai-cho-dang-de-so-sanh-van-hoc

3, Mở bài- Kết bài trong văn nghị luận:http://vanhay.edu.vn/mo-bai-ket-bai-trong-van-nghi-luan

4. Kĩ năng viết mở bài trong văn nghị luận:http://vanhay.edu.vn/ki-nang-viet-mo-bai-trong-van-nghi-luan

5. Tổng hợp những mở bài về các tác phẩm lớp 12 ( phần 1 ):http://vanhay.edu.vn/tong-hop-nhung-mo-bai-ve-cac-tac-pham-lop-12

6. Một số mở bài mẫu tham khảo (p2):http://vanhay.edu.vn/mot-mo-bai-mau-tham-khao-p2

7. Tổng hợp những mở bài về các tác phẩm lớp 12 ( phần 3 ) http://vanhay.edu.vn/tong-hop-nhung-mo-bai-ve-cac-tac-pham-lop-12-phan-3

Tài liệu tổng hợp từ nhiều nguồn

Một số mở bài mẫu tham khảo (p2)

Một số mở bài cho học sinh tham khảo.

Xem thêm: Tổng hợp những mở bài hay về các tác phẩm lớp 12 ( phần 1) . link bài viết:

http://vanhay.edu.vn/tong-hop-nhung-mo-bai-ve-cac-tac-pham-lop-12

MỞ BÀI CHO DẠNG ĐỀ PHÂN TÍCH NHÂN VẬT

Cách 1: “Đối tượng của văn học vốn là thân phận con người, nên chỉ có kẻ nào đọc và hiểu nó sẽ hóa thành không phải là một chuyên gia nghiên cứu văn học mà là một kẻ hiểu biết con người một cách sâu sắc”. ( Văn chương lâm nguy, Todorov).
Quả thực, con người luôn là nơi bắt đầu và cũng là nơi đi đến của văn học. Với mỗi thế giới khác nhau của mỗi một tác phẩm, người đọc lại có một thể nghiệm riêng về con người. Và trong tác phẩm…….., nhà văn/nhà thơ ……..đã dùng ngòi bút của mình để mang đến những trang văn neo đậu mãi trong tâm hồn chúng ta về nhân vật…….

Cách 2: Puskin từng viết: “Linh hồn là ấn tượng của một tác phẩm. Cây cỏ sống được là nhờ ánh sang, chim muông sống được là nhờ tiếng ca, một tác phẩm sống được là nhờ tiếng lòng của người cầm bút”. Và nhà văn/nhà thơ…….. đã để tiếng lòng của mình cất lên, để linh hồn của tác phẩm ………bay lên qua hình tượng
nhân vật……..

Cách 3: Nhà phê bình văn học G.Jung từng viết “Từ sự không thỏa mãn với đương thời, nỗi buồn sáng tạo dẫn đưa nghệ sĩ đi vào bề sâu cho tới khi nó tìm thấy trong vô thức mình cái nguyên tượng có khả năng bù đắp lại cao nhất sự tổn thất và què quặt của tinh thần hiện đại.” Và trong tác phẩm…..…, nhà văn/nhà thơ đã để
nguyên tượng ấy hiện lên đầy sống động qua nhân vật…….

Cách 4: Văn học như một thiên thần mang sứ mệnh che chở và bảo vệ con người. Trong tác phẩm …….., nhà văn/nhà thơ ……..đã để ngòi bút của mình thực hiện trọn vẹn sứ mệnh cao cả đó qua hình tượng nhân vật………thật ấn tượng.

mot so mo bai tham khao

NGHỊ LUẬN VỀ ĐOẠN TRÍCH, THƠ, VĂN XUÔI

Cách 1: Đâu là cầu nối giữa quá khứ và tương lai, đâu là thanh nam châm thu hútmọi thế hệ? Đó chẳng phải là văn học hay sao. Văn học vẫn luôn sống một cuộc đời cao đẹp gắn liền với con người và kết tinh những giọt ngọc của thời đại. Tất cả những giá trị vĩnh cửu đó đã thăng hoa cùng ngòi bút của nhà văn/nhà thơ……để tác phẩm ……., đặc biệt là đoạn trích ………còn vấn vương trong trái tim biết bao bạn đọc.

Cách 2: Nếu phải tìm bản nhạc hay nhất, có lẽ tôi sẽ chọn văn chương. Bởi chỉ khi đến với văn chương, người nghệ sĩ mới được tự do để trái tim dẫn dắt, được thể hiện quan niệm của chính mình và rồi mang đến cho người đọc biết bao giai điệu cảm xúc với nhiều cung bậc. Và tác giả….. đã để tác phẩm …….. của mình là nốt ngân đầy sáng tạo trong bản hòa tấu của văn học, đặc biệt là đoạn trích…..

MỞ BÀI CHO DẠNG ĐỀ SO SÁNH CÁC TÁC PHẨM

Mở bài cần nêu được khái quát tên tác phẩm, tác giả và đối tượng cần so sánh. Có thể dẫn từ những câu nhận định văn học sau:

  • Nếu tác giả không có lối đi riêng thì người đó không bao giờ là nhà văn cả… Nếu anh không có giọng riêng, anh khó trở thành nhà văn thực thụ (Sê – Khôp)
  • Nghệ thuật là lĩnh vực của cái độc đáo vì vậy nó đồi hỏi người viết sự sáng tạo phong cách mới lạ, thu hút người đọc. (LLVH)
  • Cái quan trọng trong tài năng văn học là tiếng nói của chính mình, là cái giọng riêng của chính mình mà không thể tìm thấy trong cổ họng của bất kỳ một người nào khác. (Tuốc– ghê – nhép)Không có tiếng nói riêng không mang lại những điều mới mẻ cho văn chương mà chỉ biết dẫm theo đường mòn thì tác phẩm nghệ thuật sẽ chết. (Lêonit Lêonop)

CÁCH MỞ BÀI  CHO DẠNG ĐỀ NGHỊ LUẬN VĂN HỌC

ĐỀ TÀI KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ

Có thể nói văn học thời kì là một bộ phận của công cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc, đã có những đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Với trách nhiệm xã hội đó, mặc nhiên tinh thần yêu nước là nội dung bao trùm của toàn bộ nền văn học. Phẩm chất yêu nước ấy có từ văn học của cha ông qua các thời đại, mỗi khi dân tộc đứng trước họa xâm lăng, nhưng đến văn học giai đoạn chống Mỹ được thể hiện tập trung nhất, sâu sắc nhất, biến thành sức mạnh vật chất cụ thể nhất trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tồ quốc. Và ở đó ngời sáng vẻ đẹp của những chiến sĩ
anh dũng,kiên cường, một lòng hướng về dân tộc. Người đọc có thể sống trọn với những ngày tháng hào hùng ấy qua hình ảnh người lính……trong tác phẩm……của………

MỞ BÀI VỀ NGƯỜI NÔNG DÂN / NHỮNG CON NGƯỜI BẤT HẠNH

Cách 1: “Cuộc sống còn tuyệt vời biết bao trong thực tế và trên trang sách. Nhưng cuộc sống cũng bi thảm biết bao. Cái đẹp còn trộn lẫn niềm sầu buồn. Cái nên thơ còn lóng lánh giọt nước mắt ở đời.” (Trích trong Nhất ký của Nguyễn Văn Thạc). Có lẽ ta không thể cảm nhận trọn vẹn “niềm sầu buồn” hay “giọt nước mắt” đó nếu nhà văn/nhà thơ……..không dùng ngòi bút của mình để in dấu tất cả qua hình tượng nhân vật………. với đầy những áp bức, bóc lột và bất công nhưng trên hết những người nông dân ấy vẫn giữ trọn vẻ đẹp nhân cách, tâm hồn.
Cách 2: “Nhà văn tồn tại ở trên đời trước hết để làm công việc giống như kẻ nâng giấc cho những con người bị cùng đường, tuyệt lộ, bị cái ác hoặc số phận đen đủi dồn đến chân tường. Những con người cả tâm hồn và thể xác bị hắt hủi và đọa đày đến ê chề, hoàn toàn mất hết lòng tin vào con người và cuộc đời. Nhà văn tồn tại ở trên đời để bênh vực cho những con người không có ai để bênh vực.”(Nguyễn Minh Châu). Với hình tượng nhân vật…….trong tác phẩm…….., nhà văn/nhà  thơ…………. đã thực hiện trọn vẹn sứ mệnh ấy.

( Nguồn : cô Diễm Hằng )

Kĩ năng viết mở bài trong văn nghị luận

CHUYÊN ĐỀ

KỸ NĂNG VIẾT MỞ BÀI TRONG VĂN NGHỊ LUẬN

 

Nhà văn Nga Macxim Gorki đã từng nói: “ Khó hơn cả là phần mở đầu, cụ thể là câu đầu, cũng như trong âm nhạc, nó chi phối giọng điệu của tác phẩm và người ta thường tìm nó rất lâu”. Với yêu cầu đặt ra của việc viết đoạn mở bài một cách nhanh chóng, đảm bảo các yêu cầu chức năng của nó làm cho không ít học sinh cảm thấy khó khăn.

* Mục đích:

Mục đích của mở bài là giới thiệu về vấn đề mà mình sẽ viết, thực chất là trả lời câu hỏi: Ở bài viết này, mình định viết về điều gì?

* Yêu cầu:

– Ngắn gọn: Phần mở bài quá dài dòng không những khiến học sinh mất thời gian mà còn khiến các em bị cạn kiệt ý tưởng cho phần thân bài. Trong phần này chỉ nên hé mở những gì mình định viết ở phần thân bài.

– Đầy đủ: Phần mở bài phải nêu được vấn đề cần nghị luận, phạm vi tư liệu, thao tác nghị luận chính.

– Độc đáo: Phần mở bài phải gây được sự chú ý cho người đọc về vấn đề cần nghị luận bằng cách nêu hoặc có những liên tưởng khác lạ, bất ngờ cho người đọc. Bạn sẽ dễ chiếm cảm tình của người đọc bằng cách này nhất, bởi nó làm bạn nổi bật giữa hàng trăm bài văn khác.

– Tự nhiên: Phần mở bài cũng chỉ nên dùng các ngôn từ giản dị, mộc mạc, tránh sáo rỗng, tránh gượng ép. Bởi điều này sẽ gây cho người đọc cảm giác mơ hồ, khó chịu về sự giả tạo.

– Tránh lạc đề: Nên nhớ đây là bài thi, nếu phần mở bài của bạn lạc đề thì không những mất điểm mà còn mất luôn cảm tình của người chấm! 

  • Cấu trúc của một mở bài

Cấu trúc của một mở bài gồm 4 nội dung chính:

– Dẫn dắt vấn đề: Nêu một vài ý liên quan đến luận đề cần bàn, chuẩn bị tư tưởng dẫn dắt người đọc, người nghe vào nội dung bàn luận hay tình huống có vấn đề đặt ra ở đề bài. Điều quan trọng ở phần này là tạo được sự hấp dẫn, thu hút người đọc. (VD: Liên hệ bông hoa → ong bướm).

– Nêu vấn đề: Nêu vấn đề một cách ngắn gọn, khái quát và chính xác. Vấn đề mà mở bài nêu ra chính là vấn đề mà nội dung bài viết đề cập tới. 

– Nêu giới hạn vấn đề : Nêu được phạm vi bàn luận trong khuôn khổ tư liệu nào (1 đề tài, 1 tác phẩm hay nhiều tác phẩm…)

– Nêu thao tác nghị luân chính của bài: Phân tích, bình luận, chứng minh, giải thích…
– Ngoài 4 nội dung chính vừa nêu trên, cấu trúc của một mở bài có thể có thêm một nội dung phụ, đó là: Nêu nhận định về tầm quan trọng của vấn đề, ý nghĩa của vấn đề đối với cuộc sống, xã hội, dòng văn học; với trước đó và đương thời… (phần này không nhất thiết phải có, tuỳ thuộc vào từng vấn đề cụ thể).

Cách xác định vấn đề

Bằng cách đặt và trả lời cho câu hỏi: Bài làm cần viết về cái gì? Từ đó xác định trọng tâm kiến thức cần nêu. Hãy dùng bút tô đậm những từ chìa khóa trong đề ra và lấy đó làm từ trọng điểm cho phần mở bài của mình.
Xác định vấn đề bàn luận là điều căn bản cốt yếu nhất vì nếu xác định sai thì coi như toàn bộ nội dung bài viết sẽ chệch hướng hoàn toàn, như vậy nghĩa là lạc đề. Muốn xác định được vấn đề thì phải tìm hiểu kỹ đề bài. Thông thường đề bài có hai dạng:

* Dạng nổi (Lộ thiên)

Dạng nổi là dạng đề mà các yêu cầu về nội dung, hình thức, cách thức, phương hướng, phạm vi, mức độ nghị luận được nêu ra trực tiếp và rõ ràng trong đề bài. Ở đề bài này vấn đề cần bàn luận đã có sẵn.

Ví dụ 1: Vai trò của biển với đời sống nhân loại.

Vấn đề trọng tâm đã được nói rõ ở đề bài đó là khẳng định vai trò quan trọng của biển đối với sự tồn tại và phát triển của nhân loại.

Ví dụ 2: Tình yêu với biển đảo quê hương của thanh niên Việt Nam.

Vấn đề cần tìm đã rất rõ ràng, đó là tình yêu biển đảo của thanh niên Việt Nam.

Lưu ý: Nhiều khi đề có đoạn dẫn rất dài, hãy chú ý đọc kỹ để tìm vấn đề được chỉ rõ ngay trong đề. Ở những trường hợp này nhiều đề bài sau khi nêu nội dung (đoạn trích thơ, văn hoặc nhận định) thường có yêu cầu thí sinh phải làm rõ điều gì đó. Đấy chính là vấn đề cần lý giải.

Ví dụ: Hãy phân tích đoạn Mỵ ở nhà thống lý Pá Tra để thấy được nỗi đau và sức sống tiềm tàng của người phụ nữ mèo vùng Tây bắc.

Vấn đề đã rất rõ: Thể loại phân tích vấn đề để nêu bật 2 nội dung đề yêu cầu: Nỗi đau khổ và sức sống tiềm tàng của nhân vật Mỵ.

* Dạng chìm

Dạng chìm là dạng đề trong đó người ra đề không cho dữ kiện rõ về các yêu cầu của nội dung cũng như cách thức, phạm vi… nghị luận. Bởi thế người viết phải phân tích, tổng hợp, khái quát nội dung vấn đề từ chính nội dung của đoạn văn, đoạn thơ, hoặc tác phẩm, câu trích…

Ví dụ: Biển đảo quê hương hôm nay với thanh niên Việt Nam.

Đề bài đưa ra một vấn đề “nóng” hiện nay, để làm rõ vấn đề cần có suy nghĩ: Biển đảo quê hương hôm nay có vấn đề gì? Vì sao phải đặt vấn đề đó hôm nay? Trách nhiệm của thanh niên với biển đảo…

Chú ý: Học sinh khi đọc đề cần xác định thật rõ ràng những yêu cầu của đề theo hướng:

– Về nội dung, cần xem yêu cầu vấn đề cần nghị luận có giới hạn ở đâu? Giai đoạn nào? Tác phẩm hay đoạn nào? Đề tài gì? Chủ đề gì?

– Về hình thức, cần quan tâm đến kiểu bài mà đề yêu cầu: Phân tích, bình luận, bình giảng… hay đi kèm 2 kiểu bài hoặc tổng hợp các kiểu?

Các cách mở bài

– Mở bài trực tiếp có hai cách: Mở thẳng vấn đề và mở trực tiếp có thêm phần dẫn dắt (thời gian, không gian và hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm).

– Mở bài gián tiếp: Mở bằng câu chuyện, mở bằng cách nêu câu hỏi, mở bằng cách nêu sự kiện, con số….

GS Nguyễn Đăng Mạnh tổng kết: “Các cách mở bài khác nhau chủ yếu ở phần dẫn dắt. Phần nêu vấn đề và phần giới hạn vấn đề thường không thay đổi, viết mở bài theo kiểu gì thì ai cũng phải nêu được phần này. Nói gọn lại cứ thay đổi phần dẫn dắt ta sẽ có một mở bài mới”.

Một số mẫu mở bài ứng dụng từ thực tế

Đặt vấn đề (mở bài) trực tiếp – trực khởi
* Mở thẳng vấn đề

– Dẫn dắt ngắn gọn bằng câu văn liên quan trực tiếp tới vấn đề.
– Nêu rõ vấn đề định bàn luận.
– Nêu giới hạn vấn đề.

Ví dụ: Phân tích nhân vật Mỵ trong “Vợ chồng A phủ ” của Tô Hoài.

Mở bài: Mỵ là nhân vật trung tâm trong tác phẩm “Vợ chồng A phủ ” (1). Hình ảnh Mỵ là hình ảnh của người phụ nữ Mèo đầy bi kịch trong xã hội thực dân phong kiến miền núi, nhưng đồng thời trong Mỵ tiềm ẩn sức sống mạnh mẽ vươn dậy làm chủ số phận của mình, đặc biệt khi gặp ánh sáng Đảng soi đường (2). Để thấy rõ điều này chúng ta cùng đi vào phân tích nhân vật Mỵ trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn Tô Hoài (3).

Phân tích: Bài làm trên thực hiện giới thiệu luôn vấn đề: Mỵ là nhân vật trung tâm trong (câu 1) và xác định giới hạn nghị luận đó là bi kịch và sức sống tiềm tàng của Mỵ (câu 2), phạm vi tư liệu và thao tác nghị luân chính trong bài viết (câu 3).

* Mở trực tiếp có thêm phần dẫn dắt

– Dẫn dắt bằng cách nêu bối cảnh làm vấn đề xuất hiện như: thời gian, không gian, địa điểm xảy ra sự kiện liên quan đến tác phẩm/vấn đề; xuất xứ của tác phẩm văn học….

– Nêu rõ vấn đề định bàn luận.

– Nêu giới hạn vấn đề.

Ví dụ, với đề bài trên ta thêm câu dẫn để thành MB mới như sau:
Một trong những thành công của tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” là nghệ thuật xây dựng nhân vật, trong đó tiêu biểu là nhân vật người phụ nữ miền núi. Mỵ là nhân vật trung tâm trong tác phẩm “Vợ chồng A phủ ”. Hình ảnh Mỵ là hình ảnh của người phụ nữ Mèo với số phận đầy bi kịch trong xã hội thực dân phong kiến miền núi, nhưng đồng thời trong Mỵ cũng tiềm ẩn sức sống mạnh mạnh mẽ vươn dậy làm chủ số phận của mình, đặc biệt khi gặp ánh sáng Đảng soi đường. Để thấy rõ điều này chúng ta cùng đi vào phân tích nhân vật Mỵ trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn Tô Hoài.

* Ưu điểm và hạn chế của cách mở bài này :
– Ưu điểm:
+ Đi thẳng ngay vào bài nên tránh được sự lan man, xa đề hoặc lạc đề.
+ Dễ vận dụng đối với các học sinh có kỹ năng lập luận yếu.
+Tiết kiệm được thời gian suy nghĩ cho người viết.
– Hạn chế: Ít tạo được ấn tượng lôi cuốn người đọc.

Đặt vấn đề (mở bài) theo cách gián tiếp – lung khởi

Theo kết luận của GS Nguyễn Đăng Mạnh, có thể rút ra kết luận bản chất của một mở bài hay hoặc không hay theo lối viết mở bài gián tiếp phụ thuộc hoàn toàn vào cách dẫn dắt. Và đây chính là những lời mở đầu sớm nhất của mở bài, nó thường gây khó khăn cho học sinh. Dưới đây chúng tôi trình bày một số cách mà học sinh dễ áp dụng và đạt hiệu quả cao.

Học sinh chỉ việc sử dụng theo công thức: (1) Đoạn dẫn + (2) Nêu vấn đề + (3) Giới hạn vấn đề + (4) Thao tác nghị luận chủ yếu + (5) Nhận định về tầm quan trọng của vấn đề, ý nghĩa.

Lưu ý: Sau đoạn dẫn thì 4 nội dung còn lại không nhất thiết phải xếp theo trình tự như đã nêu trên.

(1) Đoạn dẫn mở bài theo tư liệu tác giả

Yêu cầu: Nêu tên tác giả, vị trí tác giả trong nền văn học hoặc phong cách, đề tài tiêu biểu, tác phẩm tiêu biểu.

VD thêm đoạn dẫn vào ví dụ trên để có 1 mở bài gián tiếp theo cách (1).
Tô Hoài là một tác giả văn học nổi tiếng từ trước cách mạng tháng 8 và đồng thời cũng là nhà văn tiêu biểu của nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa. Trong số rất nhiều tác phẩm giá trị của ông có tập “Truyện Tây Bắc” mà trong đó ấn tượng nhất vẫn là “Vợ chồng A phủ”. Mỵ là nhân vật trung tâm trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ ”. Hình ảnh Mỵ là hình ảnh của người phụ nữ Mèo đầy bi kịch trong xã hội thực dân phong kiến miền núi, nhưng đồng thời trong Mỵ tiềm ẩn sức sống mạnh mạnh mẽ vươn dậy làm chủ số phận của mình, đặc biệt khi gặp ánh sáng Đảng soi đường. Để thấy rõ điều này chúng ta cùng đi vào phân tích nhân vật Mỵ trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn Tô Hoài.

(2) Đoạn dẫn mở bài theo lối quy nạp

Yêu cầu: Tìm một vấn đề mang tính chất chân lý là tiền đề để khẳng định vẫn đề. 
VD thêm đoạn dẫn vào ví dụ trên để có 1 mở bài gián tiếp theo cách (2).
Thời gian không ngừng trôi và bốn mùa luân chuyển. Con người chỉ xuất hiện một lần trong đời và cũng chỉ một lần ra đi mãi mãi vào cõi vĩnh hằng. Nhưng những gì là thơ, là văn, là nghệ thuật đích thực… thì vẫn còn mãi mãi với thời gian. “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài là một tác phẩm nghệ thuật như thế. Một trong những lý do làm cho tác phẩm sống mãi là nhà văn đã xây dựng thành công nhân vật Mỵ. Mỵ là nhân vật trung tâm trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ”. Hình ảnh Mỵ là hình ảnh của người phụ nữ Mèo đầy bi kịch trong xã hội thực dân phong kiến miền núi, nhưng đồng thời trong Mỵ tiềm ẩn sức sống mạnh mạnh mẽ vươn dậy làm chủ số phận của mình, đặc biệt khi gặp ánh sáng Đảng soi đường. Để thấy rõ điều này chúng ta cùng đi vào phân tích nhân vật Mỵ trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn Tô Hoài.

(3) Đoạn dẫn mở bài theo lối so sánh hai vấn đề tương tự

Yêu cầu : Tìm 1 vấn đề tương tự (đề tài, chủ đề, hình ảnh , tác phẩm…) làm cầu nối so sánh với vấn đề của đề bài để tạo đoạn dẫn.

VD1 thêm đoạn dẫn vào ví dụ trên để có 1 mở bài gián tiếp theo cách (3).
Khi đọc “Mùa lạc” của Nguyễn Khải ta gặp nhân vật Đào, cô gái có quá khứ đau thương nhưng đã trỗi dậy mạnh mẽ khi đón nhận cuộc sống mới và những con người mới. Nhưng đau thương hơn và sự vươn dậy quyết liệt hơn phải kể đến nhân vật Mỵ trong “Vợ chồng A phủ ” của nhà văn Tô Hoài. Mỵ là nhân vật trung tâm trong tác phẩm. Hình ảnh Mỵ là hình ảnh của người phụ nữ Mèo đầy bi kịch trong xã hội thực dân phong kiến miền núi, nhưng đồng thời trong Mỵ tiềm ẩn sức sống mạnh mẽ vươn dậy làm chủ số phận của mình, đặc biệt khi gặp ánh sáng Đảng soi đường. Để thấy rõ điều này chúng ta cùng đi vào phân tích nhân vật Mỵ trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn.

VD2 Đề ra: Phân tích bi kịch của nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Nam Cao.

Có thể mở bài như sau:

Viết về nỗi khốn cùng của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng có lẽ ít ai còn có thể vượt qua được “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố, “Bước đường cùng” của Nguyễn Công Hoan. Viết về sự lưu manh tha hóa của con người có lẽ khó còn ai có thể sánh ngang với Nguyên Hồng trong tiểu thuyết “Bỉ vỏ”. Nhưng phải đến khi Chí Phèo ngật ngưỡng bước ra từ trong trang sách của nhà văn Nam Cao người ta mới thấy hết được cái khốn cùng, cái lưu manh, cái bi kịch bất hạnh của con người. Bi kịch sinh ra làm người mà bị xã hội từ chối quyền làm người.

(4) Đoạn dẫn mở bài theo lối so sánh hai vấn đề đối lập

Yêu cầu : Tìm 1 vấn đề đối lập tạo thế bắc cầu để giới thiệu vấn đề cần bàn.
VD thêm đoạn dẫn vào ví dụ trên để có 1 mở bài gián tiếp theo cách (4).
Chúng ta đã gặp không ít những số phận người phụ nữ bi thương trong các tác phẩm văn học Việt Nam, đó là một nàng Vũ Nương oan khuất, một nàng Kiều bi kịch, một Chị Dậu tủi hờn… Nhưng khi tiếp cận với dòng văn học cách mạng, vẫn những người phụ nữ ngày xưa ấy nay lại trỗi dậy mạnh mẽ đứng dậy làm chủ đời mình. Một trong những nữ nhân vật văn học tiêu biêu biểu là Mỵ trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của Nhà văn Tô Hoài. Mỵ là nhân vật trung tâm trong tác phẩm. Hình ảnh Mỵ là hình ảnh của người phụ nữ Mèo đầy bi kịch trong xã hội thực dân phong kiến miền núi, nhưng đồng thời trong Mỵ tiềm ẩn sức sống mạnh mạnh mẽ vươn dậy làm chủ số phận của mình, đặc biệt khi gặp ánh sáng Đảng soi đường. Để thấy rõ điều này chúng ta cùng đi vào phân tích nhân vật Mỵ trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn Tô Hoài.

(5) Đoạn dẫn mở bài dựa vào lời đánh giá ấn tượng của một tác giả.
Yêu cầu : Lấy 1 đánh giá của một tác giả uy tín có nội dung trùng với vấn đề đã xác định làm điểm tựa để phát triển tiếp.

VD thêm đoạn dẫn vào ví dụ trên để có 1 mở bài gián tiếp theo cách (5).
Khi nhận định về nhân vật Mỵ, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử viết: “Mỵ là linh hồn của truyện Vợ chồng A Phủ”. Mỵ là nhân vật trung tâm trong tác phẩm. Hình ảnh Mỵ là hình ảnh của người phụ nữ Mèo đầy bi kịch trong xã hội thực dân phong kiến miền núi, nhưng đồng thời trong Mỵ tiềm ẩn sức sống mạnh mẽ vươn dậy làm chủ số phận của mình, đặc biệt khi gặp ánh sáng Đảng soi đường. Để thấy rõ điều này chúng ta cùng đi vào phân tích nhân vật Mỵ trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn Tô Hoài.

(6) Đoạn dẫn mở bài bằng cách dựa vào xuất xứ và những thông tin khác về tác phẩm

Yêu cầu : Lấy các thông tin liên quan đến vấn đề sau khi chọn lọc các chi tiết quan trọng, hấp dẫn, bố trí thành đoạn dẫn.

VD thêm đoạn dẫn vào ví dụ trên để có 1 mở bài gián tiếp theo cách này.
“Vợ chồng A Phủ” in trong tập truyện Tây Bắc (1954). Tập truyện được tặng giải nhất – Giải thưởng Hội văn nghệ Việt Nam 1954 – 1955. Truyện viết về cuộc sống của người dân lao động vùng núi cao, dưới ách thống trị tàn bạo của bọn thực dân phong kiến miền núi. Nổi bật lên là hình tượng nhân vật Mỵ. Mỵ là nhân vật trung tâm trong tác phẩm. Hình ảnh Mỵ là hình ảnh của người phụ nữ Mèo đầy bi kịch trong xã hội thực dân phong kiến miền núi, nhưng đồng thời trong Mỵ tiềm ẩn sức sống mạnh mạnh mẽ vươn dậy làm chủ số phận của mình, đặc biệt khi gặp ánh sáng Đảng soi đường. Để thấy rõ điều này chúng ta cùng đi vào phân tích nhân vật Mỵ trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn Tô Hoài.

(7) Đoạn dẫn mở bài bằng cách liên hệ thực tế

Để viết được mở bài bằng cách này chúng ta cần quan sát những sự việc diễn ra trong thực tết cuộc sống rồi lấy đó làm phần dẫn dắt để mở bài.

Ví dụ : Bình luận về mối quan hệ giữa văn học nghệ thuật và hiện thực cuộc sống. Chứng minh bằng một số tác phẩm văn học.

– Mở bài: Có ai đó đã ví sáng tạo nghệ thuật như việc thả diều. Con diều dù có bay bổng bao nhiêu vẫn phải gắn với mặt đất bằng một sợi dây vững chắc. Ý tưởng ấy gợi cho ta nhiều suy nghĩ sâu sắc về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực cuộc sống. Hãy đến với một số tác phẩm văn học lớn, chúng ta sẽ thấy rõ mối quan hệ máu thịt này.

(8) Đoạn dẫn mở bài bằng cách dẫn dắt từ một câu chuyện kể

Cách mở bài này là từ một câu chuyện kể chúng ta dẫn dắt vào mở bài. Cũng ví dụ trên ta có mở bài như sau:

“Thần thoại Hy Lạp” còn để lại một câu chuyện đầy cảm động về chàng lực sĩ Ăngtê và đất mẹ. Thần Ăngtê sẽ bất khả chiến bại khi chân chàng gắn chặt vào lòng đất mẹ Gaia. Có thể ví mối quan hệ giữa văn học và hiện thực cuộc sống hệt như quan hệ giữa Ăngtê và đất mẹ vậy. Chưa tin ư, chúng ta cùng khám phá những tác phẩm văn học lớn để thấy rõ điều này.

(9) Đoạn dẫn mở bài gắn với thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong cùng một giai đoạn lịch sử 

Ví dụ: Thông qua đoạn một của đoạn trích “Đất Nước” trích trong Trường ca “Mặt đường khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm, anh chị hãy phân tích cảm hứng riêng về đất nước của nhà thơ? 

Mở bài: Cùng với Nguyễn Mỹ, Xuân Quỳnh, Lê Anh Xuân…, Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong khói lửa ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Nguyễn Khoa Điềm gắn bó sâu sắc với vùng Trị – Thiên, đặc biệt với thành phố Huế quê hương ông. Với những tác phẩm như tập thơ “Đất ngoại ô” và nhất là trường ca “Mặt đường khát vọng”, Nguyễn Khoa Điềm được coi là một nhà thơ giàu cảm xúc và đậm chất trí tuệ, biểu hiện tập trung những suy tư của người thanh niên trí thức nỗ lực đóng góp vào cuộc chiến đấu của dân tộc. Trường ca “Mặt đường khát vọng” được sáng tác vào mùa đông năm 1971 tại chiến trường Trị – Thiên và được in ở miền Bắc vào năm 1974. “Đất Nước” trích gần trọn chương V của trường ca thể hiện khá tập trung những cảm nhận sâu sắc mới mẻ về đất nước của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm. 

(10) Đoạn dẫn mở bài xuất phát từ một sự kiện lịch sử

Ví dụ 1: Phân tích bài thơ “Việt Bắc” để thấy tình nghĩa thủy chung với ngọn nguồn của cách mạng và của dân tộc qua lối hát giao duyên của dân ca? 

Mở bài: Tháng 10 – 1954, cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi. Từ căn cứ địa cách mạng, Bác Hồ, Trung ương Đảng, Chính phủ trở về Hà Nội. Đáp lại ân tình của đồng bào Việt Bắc đã chở che, đùm bọc cho cách mạng, nhà thơ Tố Hữu đã sáng tác bài thơ “Việt Bắc” theo lối hát giao duyên của dân ca để nói lên tình nghĩa thủy chung của nhân dân ta với ngọn nguồn của cách mạng, của dân tộc. 

Ví dụ 2: Phân tích vẻ đẹp của tình người và niềm hi vọng vào cuộc sống của các nhân vật Tràng, người vợ nhặt, bà cụ Tứ trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân? 

Mở bài: Nạn đói khủng khiếp dữ dội năm 1945 hằn in trong tâm trí Kim Lân. Một nhà văn hiện thực có thể xem là con đẻ của đồng ruộng, một con người có lòng đi về với “những gì thuần hậu nguyên thủy của cuộc sống nông thôn”. Ngay sau Cách mạng, ông bắt tay vào viết tiểu thuyết “Xóm ngụ cư”. Khi hòa bình lập lại (1954), nỗi trăn trở thôi thúc ông viết tiếp thiên truyện ấy. Và cuối cùng truyện ngắn “Vợ nhặt” ra đời. Trong lần này Kim Lân đã thật sự đem đến cho tác phẩm của mình một khám phá mới, một điểm sáng soi chiếu toàn tác phẩm. Đó là vẻ đẹp của tình người và niềm hi vọng vào cuộc sống của những người nông dân nghèo, tiêu biểu như Tràng, người vợ nhặt, bà cụ Tứ. Thiên truyện thể hiện thành công, khả năng dựng truyện, dẫn truyện và đặc sắc nhất là Kim Lân đã có khám phá diễn biến tâm lí nhân vật thật bất ngờ. 

(11) Đoạn dẫn mở bài xuất phát từ một đề tài quen thuộc. 

Ví dụ : Phân tích bài thơ “Sóng” của nhà thơ Xuân Quỳnh? 

Mở bài: Tình yêu là một đề tài quen thuộc trong thơ ca. Nhưng không phải vì thế mà nó thành đơn điệu và nhàm chán. Mỗi bài thơ, mỗi nhà thơ là một thế giới riêng, một nhu cầu, một khát khao riêng không ai giống ai. Chẳng thế mà ta gặp Xuân Diệu trong thi đàn Việt Nam với chất men say tình yêu nồng nàn, mãnh liệt, người tự cho mình là “kẻ uống tình yêu dập cả môi”, ta gặp Nguyễn Bính “dạt dào với những câu hát đồng quê” chân chất thật thà… và thật bất ngờ khi gặp một nữ sĩ với tâm hồn mãnh liệt và say đắm trong tình yêu – Xuân Quỳnh. Thơ tình yêu của Xuân Quỳnh chân thành nữ tính nhưng không kém phần cháy bỏng, nồng nàn. Điều đó thể hiện rõ nét trong bài “Sóng”. 

  • Lưu ý:

Ưu điểm và hạn chế của cách mở bài này ngược với ưu điểm và hạn chế trong cách mở bài trực tiếp. Khi mở bài theo cách này thì sang phần thân bài học sinh cần có một đoạn văn chuyển ý nêu khái quát về tác giả, tác phẩm, vừa làm cho bài viết uyển chuyển hơn vừa tránh thiếu ý của bài viết.

Có hàng trăm cách mở bài khác nhau, trên đây chỉ là vài gợi ý để học sinh có thể chủ động áp dụng.

Tóm lại:

Kết cấu của đoạn mở bài theo cách gián tiếp gồm 3 phần :

– Mở đầu đoạn :

+ Viết những câu dẫn dắt có liên quan gần gũi với vấn đề chính cần nghị luận.
+ Tuỳ nội dung vấn đề cần nghị luận mà người viết lựa chọn câu dẫn dắt có thể là một câu thơ, một câu danh ngôn, hoặc một câu chuyện kể…

– Phần giữa đoạn:

+ Nêu luận đề (nếu bình giảng thơ thì thường là nêu ấn tượng bao trùm mang tư tưởng chủ đề mà bản thân cảm nhận được).

– Phần kết đoạn: Nêu phương thức nghị luận và phạm vi tư liệu sẽ trình bày.
4. Những lời khuyên với học sinh

Trên đây, chúng tôi đã cố gắng tóm lược những vấn đề căn cốt của việc viết mở bài trong văn nghị luận. Học sinh cần đọc kỹ phần 1 trong bài sau đó mới theo ứng dụng tại phần 2. Điều quan trọng nhất là tìm vấn đề định nghị luận là gì? Hãy viết nháp nó ra hoàn chỉnh. Dựa trên bản nháp đó tùy theo sở trường, năng lực, điều kiện của mình, nếu gặp những kiến thức có các dạng gợi ý trên đây, học sinh sẽ thêm vào đoạn dẫn là có một mở bài hoàn hảo. 
( Chuyên đề được sưu tầm. Có chỉnh sửa và lược bớt một số phần )

Xem thêm :tuyển tập những mở bài hay và độc đáo :http://vanhay.edu.vn/tong-hop-nhung-mo-bai-ve-cac-tac-pham-lop-12

Mẹo viết Mở bài- Kết bài trong văn nghị luận

Cách viết phần Mở bài, kết bài trong văn nghị luận. Tổng hợp những mở bài và kết bài hay tham khảo

Mở bài:

– Mở bài nhằm giới thiệu một cách khái quát vấn đề sẽ được triển khai, bàn bạc.

– Về hình thức, mở bài thường là một đoạn văn.

– Về nội dung, mở bài thường có hai phần: phần đầu có nhiệm vụ dẫn dắt, khơi gợi để dẫn đến vấn đề nghị luận, phần sau nêu vấn đề trọng tâm của bài viết.

– Mở bài thường trình bày vấn đề theo hai cách: mở bài trực tiếp và gián tiếp. Mở bài trực tiếp là trình bày thẳng vào vấn đề; mở bài gián tiếp đi từ một ý kiến, một nội dung có liên quan để dẫn đến vấn đề.

– Mở bài trực tiếp thường giới thiệu về tác giả (vị trí trong nền văn học, phong cách nghệ thuật), tác phẩm (vị trí, giá trị với tác giả và nền văn học), vấn đề nghị luận. Nếu mở bài gián tiếp thì những phần giới thiệu tác giả, tác phẩm đặt vào ngay phần đầu của thân bài.

– Ví dụ: (Hướng dẫn HS tìm hiểu một số mở bài hay)

Đề 1: Vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh.

Mở bài: Như bông cúc nhỏ sinh ra để luôn tự hát về những triền đất mênh mang nắng gió, Xuân Quỳnh sinh ra, dường như, cũng luôn để cất tiếng hát về cuộc đời này, về tình yêu như một điều không thể thiếu. Một trái tim dạt dào cảm xúc và luôn mãnh liệt đam mê như thế tìm đến với thơ ca – một thể loại giàu chất trữ tình là một điều tất yếu. Đọc bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh ta bắt gặp vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ với những biểu hiện tinh tế, phong phú.

Đề 2: Phân tích hình tượng cây xà nu trong tác phẩm “Rừng xà nu” của nhà văn Nguyễn Trung Thành.

Mở bài: Tây Nguyên – mảnh đất hùng vĩ và thơ mộng, với những con người nồng hậu yêu thương mà kiên cường bất khuất, từ lâu đã là nguồn cảm hứng cho biết bao văn nhân nghệ sĩ. Mỗi người đều tìm thấy ở mảnh đất này một biểu tượng đẹp cho tâm hồn cất cánh, ngòi bút thăng hoa. Ngọc Anh có “Bóng cây kơnia” như nỗi lòng thổn thức, thiết tha của tình yêu thủy chung, son sắt; Thu Bồn có “Bài ca chim Chơrao” ngân vang khúc hát trong trẻo, nồng đượm của tình người chiến thắng… Còn Nguyễn Trung Thành lại đem đến cho chúng ta hình tượng những cánh rừng xà nu nối tiếp chạy đến chân trời trong tác phẩm cùng tên.

–  Lưu ý:

Một mở bày hay cần phải:

+ Dẫn dắt, nêu trọng tâm và giới hạn vấn đề ngắn gọn.

+ Tạo được sự chú ý của người đọc.

+ Viết tự nhiên, giản dị, nhưng sinh động, độc đáo.

Khi viết mở bài cần tránh:

+ Ý dẫn dắt không liên quan đến trọng tâm của bài nghị luận.

+ Dẫn dắt lan man dài dòng.

+ Trình bày chi tiết cụ thể, những nội dung lẽ ra chỉ triển khai ở phần thân bài.

Kết bài:

– Kết bài nhằm tổng kết, thâu tóm lại vấn đề đã được đặt ra ở mở bài, đồng thời khơi gợi những nội dung, cảm xúc tiếp nối cho người đọc từ vấn đề đã nêu ra và giải quyết.

– Một số cách kết bài thường gặp:

+ Tóm tắt, nhận xét và đánh giá khái quát về nội dung, tư tưởng của người viết đối với vấn đề đã trình bày trong các phần trước.

+ Khái quát nội dung và đặt ra câu hỏi nhằm khơi gợi suy nghĩ và tình cảm ở người đọc.

+ Khái quát nội dung và mở rộng, nâng cao vấn đề đã được bàn bạc trong các phần trên.

– Kết bài phải nâng lên được phong cách nghệ thuật tác giả và những bài học lí luận, bài học nhân sinh.

– Một số ví dụ về các cách kết bài: (Hướng dẫn HS tìm hiểu một số kết bài hay)

Diễn đạt:

– Nguyên tắc chung là dựa theo dàn ý để viết thành bài văn chứ không viết một cách tùy tiện. Có thế, bài viết mới thống nhất, cân đối, chặt chẽ và có sức thuyết phục.

– Khi viết học sinh cần lưu ý rèn luyện cách dùng từ ngữ, sử dụng kết hợp các kiểu câu, các phép tu từ, lựa chọn giọng văn cho phù hợp với bài viết. Lời văn nghị luận cần đảm bảo tính chuẩn xác, chặt chẽ, đồng thời cần có tính biểu cảm, cảm xúc…

Kiểm tra, hoàn chỉnh bài viết:

– Bước này học sinh thường coi nhẹ, ít chú ý và chưa hình thành một thói quen trong khi làm bài. Hậu quả là đã để lại những lỗi không đáng có, ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả của bài làm.

– Đây là bước bắt buộc, phải có để hoàn chỉnh bài viết của mình. Cần đọc lại để sửa những lỗi sau:

+ Lỗi về nội dung: có ý nào viết còn thiếu, chưa hoàn chỉnh, hoặc chưa thống nhất.

+Lỗi về kiến thức: kiến thức sai tên tác giả, tác phẩm, dẫn chứng sai hoặc không chính xác ( lỗi này học sinh thường hay mắc phải).

Xem thêm :Tổng hợp những mở bài cho các tác phẩm lớp 12:http://vanhay.edu.vn/tong-hop-nhung-mo-bai-ve-cac-tac-pham-lop-12

Tổng hợp những kết bài hay về các tác phẩm lớp 12 :http://vanhay.edu.vn/tong-hop-nhung-ket-bai-ve-cac-tac-pham-lop-12-phan-1

Tổng hợp những mở bài về các tác phẩm lớp 12 ( phần 1 )

Tổng hợp những mở bài cho các tác phẩm lớp 12 ( phần 1 )

Xem phần lí thuyết tại đây

Cách viết phần mở bài trong bài văn nghị luận

Các em lưu ý : mỗi đề thi sẽ có một mở bài khác nhau,không thể có một mở bài chung cho nhiều đề thi. Bởi vậy những mở bài dưới đây chỉ mang tính tham khảo. Khi làm bài, tuỳ yêu cầu của đề, các em có thể chỉnh sửa đôi chút cho phù hợp .

Một số mở bài cho bài Tuyên ngôn Độc Lập –Hồ Chí Minh

MB 1.

Theo chiều dài bốn ngàn năm của lịch sử dân tộc có nhiều dấu mốc đáng ghi nhớ gắn với sự nghiệp đấu tranh chống ngoại xâm. Một trong những mốc lịch sử trọng đại  ấy là sự kiện Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công,  khai sinh ra nước VNDCCH. Để tuyên bố với nhân dân cả nước và thế giới biết nước Việt Nam từ nay độc lập, Hồ Chí Minh đã viết tuyên ngôn độc lập. Một văn kiện đặc biệt vừa tính văn học, vừa mang tính lịch sử.( dẫn dắt nêu vấn đề nghị luận. Hoặc trích đoạn văn cần phân tích )

MB 2.

Trải qua mấy ngàn năm lịch sử, dân tộc ta phải đương đầu với đủ loại ngoại xâm: Từ Bắc xuống, từ Nam lên, tứ Tây sang, từ Đông vào cho nên cùng với những chiến công hiển hách: phá Tống, bình Nguyên, diệt Minh, đuổi Thanh;  nền văn học chúng ta cũng đã có những áng văn kiệt tác khẳng định đanh thép chủ quyền độc lập của dân tộc. Bên cạnh bài thơ Thần của Lý Thường Kiệt sang sảng ngâm trên sông Như Nguyệt, Bình Ngô đại cáo một thiên cổ hùng văn của Nguyễn Trãi, ngày nay chúng ta có Tuyến ngôn Độc lập y một áng văn chính luận mẫu mực, nổi tiếng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tinh hoa của dân tộc, khí phách của non sông. .( dẫn dắt nêu vấn đề nghị luận. Hoặc trích đoạn văn cần phân tích )
MB 3.

Em hãy phân tích nghệ thuật Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hồ Chí Minh để thấy rõ nghệ thuật lập luận đặc sắc của Bác Hồ?

Hồ Chí Minh (1890 – 1969) là một tác gia lớn của nền văn học dân tộc Việt Nam. Người đã viết thành công trên nhiều thể loại văn chính luận, truyện ký, thơ ca và ở thể loại nào cũng có những tác phẩm xuất sắc mẫu mực. Riêng ở thể loại văn chính luận Hồ Chí Minh đã chứng tỏ mình là một cây bút xuất sắc, mẫu mực mà dẫn chứng hùng hồn là tác phẩm “Tuyên ngôn độc lập” 1945. “Tuyên ngôn độc lập” là một bản tuyên bố lịch sử được Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại vườn hoa Ba Đình vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Bản “Tuyên ngôn độc lập” vừa tuyên bố nền độc lập của dân tộc vừa bác bỏ luận điểm xâm lược của kẻ thù. “Tuyên ngôn độc lập” là một áng văn chính luận vừa có giá trị pháp lí, giá trị lịch sử, giá trị nhân văn và giá trị nghệ thuật cao. Cái tạo nên giá trị nghệ thuật cao chính là ở bút pháp lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, dẫn chứng hùng hồn, văn phong xúc tích trong sáng.

 

MB 4.

Sinh thời Hồ Chí Minh không bao giờ nhận mình là nhà văn nhà thơ mà chỉ là người bạn của văn nghệ người yêu văn nghệ. Nhưng trên bước đường hoạt động cách mạng Người nhận thấy văn chương có thể phụng sự đắc lực cho tuyên truyền. Cộng với một tài năng nghệ thuật và một tinh thần nghệ sĩ chan chứa cảm xúc nên người đã sáng tác nên nhiều tác phẩm có giá trị. Tiêu biểu trong số nhưng tác phẩm đó phải kể đến tác phẩm tuyên ngôn độc lập. Nó không chỉ áng văn chính luận hay sắc sảo với những lập luận chặt chẽ mà nó còn mang ý nghĩa như tuyên ngôn khẳng định cho một đất nước – đó chính là nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. .( dẫn dắt nêu vấn đề nghị luận. Hoặc trích đoạn văn cần phân tích )

MB 5:Bàn về sức thuyết phục của bản Tuyên ngôn độc lập

TNĐL là một tác phẩm chứa nhiều giá trị. Nhìn từ nhiều góc độ khác nhau, giá trị nào của tác phẩm này cũng , thật sâu sắc. Về mặt thể loại văn học, Tuyên Ngôn Độc Lập là một áng văn chính luận hào hùng, mẫu mực, đáng lưu truyền muôn thuở. Một trong những nét nổi bật của bản Tuyên Ngôn Độc Lập là  lập luận sắc sảo, chặt chẽ tạo nên một sức thuyết phục rất lớn. Xuất phát từ quan điểm sáng tác và đặc trưng thể loại của tác phẩm này, chúng ta sẽ thấy được cội nguồn của sức thuyết phục ấy.

Một số mở bài cho bài thơ Tây tiến -Quang Dũng

MB 1 :

Đề bài : Cảm nhận về đoạn thơ

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

…..Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.

 

Ai đã từng đi qua một thời trận mạc chắc hẳn trong lòng thường lưu giữ những kỉ niệm khó quên.  Quang Dũng cũng vậy, những năm tháng gắn bó với binh đoàn Tây tiến  đã để lại ấn tượng không thể phai mờ trong trái tim ông. Nỗi nhớ Tây Tiến, nhớ đồng đội , nhớ núi rừng  thôi thúc ông viết Tây tiến – bài thơ với những vần thơ đậm chất anh hùng ca bay lên từ hiện thực tàn khốc. Đoạn đầu bài thơ chính là đoạn ghi lại những kỉ niệm những kỉ niệm đầy ắp và nỗi nhớ của nhà thơ về những ngày tháng gắn bó cùng binh đoàn:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

…..Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.
MB 2:

Đề bài : Chứng minh chất hiện thực và lãng mạn của bài thơ Tây tiến thông qua đoạn thơ sau :

Tây tiến đoàn binh không mọc tóc…..

Chín năm kháng chiến chống Pháp với bao gian khổ, hi sinh, mất mát nhưng đã để lại một dấu son chói lọi trong lịch sử dân lộc. Những năm tháng đáng nhớ ấy là  nguồn cảm hứng bất tận cho thi ca. Nhiều bài thơ ra đời ngay từ những ngày đầu kháng chiến và tạo nên sức mạnh cho người lính đi tới thắng lợi cuối cùng . Trong những bài thơ đặc sắc , chúng ta phải kể đến Tây Tiến của Quang Dũng. Bài thơ giàu chất hiện thực nhưng lại dạt dào cảm hứng lãng mạn. Đoạn thơ sau dù chỉ là trích đoạn, cũng cho thấy rất rõ đặc điểm ấy:

( Trích dẫn đoạn thơ )
MB3 :

Cảm nhận của anh/ chị về hình tượng người lính Tây Tiến trong đoạn thơ sau

Tây tiến đoàn binh không mọc tóc…

 

Bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng được xem là một trong những tác phẩm xuất sác của thơ ca Việt Nam giai đoạn sau 1945. Bài thơ cho chúng ta cảm nhận một cách rõ nét, sinh động vẻ đẹp hùng vĩ, thơ mộng của thiên nhiên miền Tây. Đặc  biệt bài thơ đã khắc sâu trong tâm trí người đọc vẻ đẹp  hình tượng người lính, vẻ đẹp ấy được thể hiện tập trung ở đoạn thơ:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quăn xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành!

Đề bài :Cùng tái hiện vẻ đẹp của những đoàn quân ra trận, mỗi nhà thơ lại có cách khám phá thể hiện riêng. Trong bài Tây Tiến, Quang Dũng viết:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

Trong Việt Bắc, Tố Hữu viết:

“Những đường Việt Bắc của ta

Đêm đêm rầm rập như là đất rung

Quân đi điệp điệp trùng trùng

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan”

Bài làm:

Súng nổ rung trời giận dữ

Người lên như nước vỡ bờ

Nước Việt Nam từ máu lửa

Rũ bùn đứng dậy sáng lòa”

Đã có những tháng ngày như thế, những tháng ngày đất nước hừng hực sục sôi trong khí thế của cuộc kháng chiến gian khổ mà anh hùng. Đã có những con người như thế, những con người nhỏ bé nhưng tạo sức mạnh của những đoàn quân một thời làm khiếp sợ kẻ thù, ra trận với ý chí “Quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh” để giành lấy độc lập, tự do cho dân tộc. Cùng tái hiện vẻ đẹp của những đoàn quân ra trận, mỗi nhà thơ lại có cách khám phá và thể hiện riêng. Trong bài Tây Tiến, Quang Dũng viết:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

Trong Việt Bắc, Tố Hữu viết:

“Những đường Việt Bắc của ta

Đêm đêm rầm rập như là đất rung

Quân đi điệp điệp trùng trùng

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan”.

Một số mở bài cho Người lái đò sông Đà– Nguyễn Tuân

MB 1 :

Nói đến Nguyễn Tuân, người ta thường nghĩ ngay đến “chủ nghĩa xê dịch”. Ông tới miền Tây Bắc rộng lớn, xa xôi không chỉ để thoả mãn cái thú tìm đến miền đất lạ cho thoả niềm khát khao “Xê dịch” mà chủ yếu để tìm kiếm chất vàng của thiên nhiên và ở tâm hồn của người lao động. Những trang viết hay nhất của ông thường là những trang tả đèo cao, vực sâu, thác nước dữ dội hoặc những cảnh thiên nhiên  đẹp một cách tuyệt đỉnh, tuyệt vời.  “Người lái đò sông Đà” là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách của nhà văn. Tác phẩm là những trang văn miêu tả rất tinh tế vẻ đẹp hình tượng con sông Đà vừa hùng vĩ, dữ dội nhưng cũng rất trữ tình và lãng mạn.

MB 2 :Đề bài: Cảm nhận của em về  hình tượng người lái đò trong tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân
Tuỳ bút “Người lái đò sông Đà” là một trong những tác phẩm đặc sắc của Nguyễn Tuân được in trong tập sông Đà (1960). Viết tuỳ bút này, Nguyễn Tuân tự coi mình là người đi tìm cái thứ vàng mười của núi rừng Tây Bắc và nhất là cái thứ vàng mười trong những con người đang nhiệt tình gắn bó với công cuộc xây dựng quê hương. Chất vàng mười i ấy chính là vẻ đẹp người lái đò sông Đà. Dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân người lái đò vừa là người anh hùng vừa là người nghệ sỹ tài hoa trong nghề của mình.

MB3  : Cảm nhận về một đoạn văn trong tác phẩm Người lái đò sông Đà

Nguyễn Tuân là cây bút tài hoa , uyên bác , cả đời say mê tìm kiếm vẻ đẹp của cuộc sống . Ông có sở trường về thể loại tuỳ bút . Một trong những sáng tác tiêu biểu của ông là tuỳ bút “ Người lái đò sông Đà” . Tác phẩm đã khắc hoạ vẻ đẹp đa dạng vừa hung bạo vừa trữ tình của con sông Đà và ca ngợi người lái đò giản dị mà kì vĩ trên dòng sông . Đoạn trích dưới đây là đoạn tiêu biểu của  thiên tuỳ bút này: ( trích dẫn đoạn văn trong đề bài. Các em không cần chép đoạn trích vào bài thi nhé ! chỉ chép câu đầu và  chấm chấm (…) câu cuối  của đoạn )

MB 4 : Phân tích nét độc đáo trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân qua tuỳ bút “Người lái đò sông Đà”
Nguyễn Tuân là một trong những cây bút xuất sắc của văn xuôi hiện đại Việt Nam.  Mỗi tác phẩm của ông là một bài ca về cái đẹp của cuộc sống, của con người, đặc biệt là những người lao động bình dị mà tài hoa.  Bên cạnh đó, tác phẩm của ông được người đọc đặc biệt chú ý về phong cách nghệ thuật rất riêng và rất độc đáo . “Người lái đò Sông Đà ” là một bài tùy bút tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật  của ông.

Một số mở bài cho bài thơ Việt Bắc– Tố Hữu

MB 1 :

Đề bài: Cảm nhận của em về hai đoạn thơ sau:

“Ta với mình, mình với ta
…Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu.”

“Dẫu xuôi về phương bắc
…Hướng về anh một phương.”

 

Bài làm
Trong cuộc đời mỗi con người, ai cũng có ít nhất một niềm thương, nỗi nhớ. Niềm thương, nỗi nhớ ấy luôn thường trực trong ta tạo nên những rung động mãnh liệt trong cảm xúc. Với các thi nhân , cảm xúc lại là yếu tố vô cùng quan trọng. Nó giúp cho các nhà thơ làm nên những thi phẩm say đắm lòng người. Tiếng nói từ trái tim sẽ đến được với trái tim. Đoạn thơ:

” Ta với mình, mình với ta
Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh
Mình đi, mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu.”

trích trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu và đoạn thơ:

“Dẫu xuôi về phương bắc
Dẫu ngược về phương nam
Nơi nào em cũng nghĩ
Hướng về anh một phương.”

trích trong bài thơ “Sóng của Xuân Quỳnh là những vần thơ dạt dào cảm xúc như thế.

( Bài viết của học sinh)

MB 2 :

Đề bài : Cảm nhận của anh/ chị về đoạn thơ sau….

Bài làm:

Có thể nói Tố Hữu  là  nhà thơ vĩ đại  của nền văn học Việt Nam. Tác phẩm của ông ghi dấu các  sự kiện, các dấu mốc của lịch sử quan trọng ở nước ta suốt hơn nửa thế kỉ. Việt Bắc là một trong số những bài thơ tiêu biểu. Tác phẩm  ghi lại sự kiện Đảng và Nhà nước chuẩn bị rời Việt Bắc về Hà Nội sau cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi. Trong bài thơ của mình, Tố Hữu đã thể hiện những tình cảm tha thiết của người đi – kẻ ờ, thể hiện những cảm nhận sâu sắc của tác giả về thiên nhiên và con người Việt Bắc. Điều này được thể hiện rõ nét qua đoạn thơ:

Ta về mình có nhớ ta,

….Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung

MB 3 :

Đề bài:
”Việt Bắc” tiêu biểu cho giọng thơ tâm tình ngọt ngào tha thiết của Tố Hữu và nghệ thuật biểu hiện giàu tính dân tộc của thơ ông.Hãy chứng minh điều đó qua đoạn trích hai mươi câu thơ đầu của bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu.

Bài làm:
Việt Bắc – Một sáng tác thành công của nhà thơ Tố Hữu được viết ra như một bản anh hùng ca , ca ngợi cuộc kháng chiến và con người kháng chiến. Bải thơ như lời hát tâm tình của mối tình tha thiết và day dứt giữa đồng bào Việt Bắc với người cán bộ về xuôi. Tác phẩm không chỉ hấp dẫn người đọc ở nội dung sâu sắc mà còn bởi giọng thơ tâm tình ngọt ngào cùng nghệ thuật biểu hiện giàu tính dân tộc.

MB 4 : Cảm nhận về đoạn thơ :

“Mình về mình có nhớ ta

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

Bài làm :

Tố Hữu là nhà thơ trữ tình chính trị, là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam. Thơ Tố Hữu thể hiện lẽ sống lớn, tình cảm lớn của con người Cách mạng. Thơ ông đậm đà tính dân tộc trong nội dung và hình thức thể hiện. Bài thơ “Việt Bắc” là đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cũng là đỉnh cao của thơ ca kháng chiến chống Pháp. Bài thơ Việt Bắc có nhiều đoạn thơ hay mà tiêu biểu là đoạn thơ sau:

“Mình về mình có nhớ ta

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

MB5 :

Việt Bắc là đỉnh cao của thơ ca kháng chiến chống Pháp và cũng là đỉnh cao của thơ Tố Hữu là bài thơ tiêu biểu cho phong cách này. Bằng cấu từ đầy màu sắc trữ tình dân gian, 1 thứ ngôn ngữ ngọt ngào tha thiết, những hình ảnh rất giàu chất thơ Tố Hữu đã từ cuộc chia tay giữa những người kháng chiến đối với đồng bào Việt Bắc mà tái hiện lại một Việt Bắc trong kháng chiến đầy gian khổ hy sinh nhưng thấm đẫm nghĩa tình quần chúng giữa cách mạng với nhân dân, lãnh tụ với dân tộc, miền ngược với miền xuôi, quá khứ, hiện tại, tương lai như hoà quyện vào nhau. Điều đó đã được thể hiện ngay trong 8 câu thơ mở đầu bài thơ.

Một số mở bài cho bài thơ Sóng -Xuân Quỳnh

MB1 : Cảm nhận của anh/ chị về đoạn thơ sau :

“Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể

Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ”

Bài làm :

Xuân Quỳnh là một trong số những nhà thơ trẻ xuất sắc trưởng thành từ kháng chiến chống Mỹ và là một trong số ít những nhà thơ nữ viết rất nhiều và rất thành công về đề tài tình yêu. Một trong những thành công xuất sắc về đề tài này của nữ sĩ là bài thơ “Sóng”, hai khổ thơ đầu bài thơ tác giả  viết:

“Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể

Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ”

MB2 :

Từ xa xưa, tình yêu luôn là điều bí ẩn đối với con người. Có lẽ cũng vì thế mà mỗi nhà thơ đều có cách lí giải và cảm nhận riêng về tình yêu. Ta bắt gặp một Xuân Diệu  say đắm, nồng nàn, khao khát được yêu đương mãnh liệt, một Nguyễn Bính chân chất của tình yêu đồng nội, gần gũi với thôn quê. Và có lẽ chắc chắn người đọc sẽ không quên được  Xuân Quỳnh với nhiều trạng thái cảm xúc vừa gần gũi, giản dị, vừa ồn ào, mãnh liệt. Bài thơ “sóng” là tiếng lòng chân chất, mộc mạc và cũng đầy những bất an về tình yêu đôi lứa.. Bài thơ mở đầu bằng những cảm xúc khi yêu:

Theo yêu cầu, cô viết tiếp mở bài tham khảo cho Rừng Xà nu và Những đứa con trong gia đình

Một số mở bài cho tác phẩm Rừng xà nu – Nguyễn Trung Thành

MB1 . Dùng  cho nhân vật T Nú :

Rừng xà nu  là bản anh hùng ca về cuộc chiến đấu anh hùng của đồng bào Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mĩ. Tái hiện chân thực cuộc chiến đâu kiên cường của nhân dân Tây Nguyên trong những ngày đánh Mỹ, nhà văn tập trung miêu tả hình thành của một thê hệ tiếp nối, phát huy truyền thống anh hùng của cha ông, và qua đó nhà văn cũng phản ánh sự trưởng thành của nhân dân Tây Nguyên trong cuộc đấu tranh một mất một còn với kẻ thù mới là đế quốc Mỹ. Tiêu biểu cho thế hệ thanh niên đó là Tnú.

MB 2  : Dùng cho đề bài : cảm nhận của anh/ chị về đoạn văn sau :

Làng ở trong tầm đại bác của đồn giặc. Chúng nó bắn đã thành lệ, mỗi ngày hai lần, hoặc buổi sáng sớm và xế chiều, hoặc đứng bóng và sẩm tối….Đứng trên đồi xà nu ấy trông ra xa, đến hết tầm mắt cũng không thấy gì khác ngoài những đồi xà nu nối tiếp tới chân trời.
Bài làm:
Rừng xà nu được Nguyễn Trung Thành viết vào mùa hè 1965 khi đến quốc  Mỹ bắt đầu đổ quân ào ạt vào miền Nam nước ta. Tác phẩm rất thành công trong việc khắc hoạ hình ảnh rừng xà nu-  một loài cây hùng vĩ, cao thượng, man dại, trong sáng cũng là hình ảnh ẩn dụ cho người dân Tây Nguyên nói riêng, con người Việt Nam nói chung. Ngay ở đoạn văn mở đầu truyện, ta bắt gặp hình ảnh rừng xà nu hùng vĩ, để lại ất tượng sâu sắc trong lòng người đọc.

Mở bài khác :

Mỗi nhà văn dường như đều gắn bó với  một vùng quê nhất định . Nếu như Nguyên Hồng tha thiết với Hải Phòng –thành phố hoa phượng đỏ, Nam Cao gắn bó cả cuộc đời với làng Vũ Đại qua những trang văn sắc lạnh mà thấm đẫm nước mắt, thì Nguyễn Trung Thành dường như có một niềm yêu thiết tha và mối giao cảm kì lạ với Tây Nguyên. Trong suốt hai cuộc kháng chiến, chính mảnh đất và con người nơi đây là nguồn cảm hứng lớn lao cho sáng tác của ông, làm nên tác phẩm “Rừng xà nu”- một bản anh hùng ca thời hiện đại. Đến với “Rừng xà nu”, ngay ở đoạn văn mở đầu truyện, ta bắt gặp hình ảnh rừng xà nu hùng vĩ, để lại ất tượng sâu sắc trong lòng người đọc.

Một số mở bài cho tác phẩm Những đứa con trong gia đình – Nguyễn Thi

MB 1 : Cảm nhận về đoạn văn trong tác phẩm: “Cúng mẹ và cơm nước xong, mấy chị em, chú cháu thu xếp đồ đạc dời nhà. …. Lần đầu tiên Việt mới thấy lòng mình rõ như thế. Còn mối thù thằng Mĩ thì có thể rờ thấy được, vì nó đang đè nặng ở trên vai”.

Nhắc tới Nguyễn Thi, người đọc không thể không nhắc tới ” Người mẹ cầm súng, ” Khi mẹ vắng nhà”, và đặc biệt là truyện ngắn ” Những đứa con trong gia đình” . Trong tác phẩm, cảm động nhất là đoạn văn kể chuyện chị em Chiến, Việt làm cơm cúng má rồi dời bàn thờ má sang nhà chú Năm. Đoạn truyện đã đem lại những rung động sâu xa cho người đọc trước vẻ đẹp tâm hồn của con người Việt Nam trong kháng chiến: ” Cúng mẹ và cơm nước xong….”

MB 2 : So sánh Việt và Tnú

 

Truyện ngắn  Rừng xà nu  của Nguyễn Trung Thành và Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi là 2 tác phẩm xuất sắc, phản ánh cuộc chiến đấu của con người Việt Nam trong kháng chiến. Tnú và Việt là hai nhân vật chính , tiêu biểu cho phẩm chất người cộng sản kiên cường. Qua hai nhân vật, tác giả Nguyễn Trung Thành và Nguyễn Thi đã khắc họa thành công   vẻ đẹp con người Việt Nam trong kháng chiến. Ở mỗi nhân vật đều có những vẻ đẹp riêng, hấp dẫn người đọc.

Một số mở bài cho bài Đất nước- Nguyễn Khoa Điềm

MB 1 :

Đề bài yêu cầu cảm nhận 9 câu thơ đầu trong bài Đất Nước, ta có thể tham khảo mở bài sau:
“Đất Nước” từ lâu đã là nguồn cảm hứng bất tận của thơ ca nói riêng và văn học nói chung. Nếu như các nhà thơ cùng thời thường chọn điểm nhìn về Đất Nước bằng những hình ảnh kỳ vĩ, mỹ lệ hay cảm hững về lịch sử qua các triều đại thì Nguyễn Khoa Điềm lại chọn điểm nhìn gần gũi, quen thuộc bình dị để miêu tả về Đất Nước. Đến với bài thơ “Đất Nước” của Nguyễn Khoa Điềm ta như đứng trước muôn màu văn hóa, truyền thống, phong tục tươi đẹp vô ngần. Vẻ đẹp ấy được hiện lên sâu sắc nhất qua chín câu thơ đầu. (trích thơ)

MB2 : So sánh Đất nước của Nguyễn Đình Thi và Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm

Trải suốt chiều dài lịch sử văn học, hình tượng đất nước đã bắt nhịp trái tim của không biết bao nhiêu nghệ sĩ để đi vào thơ với vẻ đẹp thiêng liêng và niềm tin yêu sâu sắc. Hồn thiêng đất nước, tinh thần dân tộc hào hùng được bắt nguồn từ “Nam quốc sơn hà”, “Hịch tướng sĩ”, “Tuyên ngôn Độc lập”… và tiếp nối bền vững qua mỗi thời kì. “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi và “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm gặp gỡ nhau ở đề tài ấy. Hai đoan thơ tiêu biểu ở hai bài thơ đã góp phần thể hiện rõ….

MB 3 :Đề bài: Nhận xét về chương V Đất Nước cuả Nguyễn Khoa Điềm có ý kiến cho rằng:” Tác giả đã phát biểu tư tưởng “Đất Nước của Nhân Dân, ĐN của ca dao thần thoại” và tư tưởng này chi phối cả nội dung và hình thức nghệ thuật của bản trường ca”.Từ đoạn trích ĐN anh chị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.
Bài làm
Nhắc đến lối thơ trữ tình chính luận ta không thể không nhắc đến Nguyễn Khoa Điềm- một nhà thơ xuất sắc của nền thơ ca hiện đại trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. “Mặt đường khát vọng” được viết năm 1971 là tác phẩm tiêu biểu nhất của ông. Trong đó chương V là chương trung tâm kết nối mạch ngầm của văn bản bằng hình tượng nghệ thuật trung tâm là Đất Nước. Nhận xét về chương này có ý kiến cho rằng: “Tác giả đã phát biểu tư tưởng “Đất Nước của Nhân Dân, ĐN của ca dao thần thoại” và tư tưởng này chi cả nội dung và hình thức nghệ thuật của bản trường ca”.

Một số mở bài cho bài thơ Đàn ghi ta của Lor-Ca – Thanh Thảo

1. Đề bài: ” Phân tích hình tượng nhân vật Lor-ca trong bài thơ “Đàn ghi ta của Lor-ca” của Thanh Thảo.

Bài làm:

Cùng với Xuân Quỳnh, Thanh Thảo cùng thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Mỹ nhưng trang thơ Thanh Thảo lại có dấu ấn rất riêng. Ông là người đi đầu trong phong trào cách tân thơ Việt, con đường mà ông lựa chọn để cách tân thơ Việt là việc đào sâu cái tôi nội cảm, tìm kiếm những cách biểu đạt  mới qua hình thức những câu thơ tự do, phá bỏ mọi ràng buộc, khuôn sáo. Thanh Thảo đi theo trường phái thơ tượng trưng siêu thực có nguồn gốc từ phương Tây mà Lor-ca là một đại biểu đi đầu trong trường phái thơ đó. Bài thơ “Đàn ghi ta của Lor-ca” được rút ra từ tập “Khối vuông ru bích”, bài thơ đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật Lor-ca.

2. Đề Bài:

 Phân tích hình tương nhân vật Lor-ca trong bài thơ “Đàn ghi ta của Lor-ca” của nhà thơ Thanh Thảo.

 Bài Làm:

Bài viết của Mơ Cao, học sinh trường THPT Bình Minh, Kim Sơn Ninh Bình

 Thanh Thảo là một nhà thơ khoác áo lính, ông sinh ra tại Quảng Ngãi, tốt nghiệp khoa văn trường Đại Học Tổng Hợp nhưng sau đó vào chiến trường miền Nam công tác. Thanh Thảo luôn nỗ lực tìm tòi hướng để cách tân thơ Việt. Ông đi theo trường phái thơ tượng trưng siêu thực có nguồn gốc từ phương Tây mà Lor-ca là một trong những người đi đầu trong trường phái thơ đó. Bài thơ “Đàn ghi ta của Lor-ca” đã xây dựng thành công hình tượng nghệ sĩ Lor-ca.

 

 Một số mở bài cho tác phẩm Người lái đò Sông Đà – Nguyễn Tuân (trích)

  1. Đề bài:Phân tích hình tượng sông Đà trong tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân

Bài làm

Nguyễn Tuân là bậc thầy về ngôn ngữ trong nền văn học hiện đại Việt Nam. Những tác phẩm của ông viết bằng cái “ngông” và bằng tình yêu tha thiết. “Người lái đò sông Đà” là bài tùy bút lấy cảm hứng từ chuyến đi thực tế. Hình ảnh con sông Đà được nhìn qua lăng kính tâm hồn nghệ sỹ với nhiều vẻ đẹp khác nhau mang lại ấn tượng độc đáo đối với người đọc. Nguyễn Tuân đã rất thành công khi xây dựng hình tượng sông Đà bằng chất liệu ngôn ngữ  và tình cảm tha thiết.

( Sưu tầm)

2. cảm nhận đoạn : “Thuyền tôi trôi trên sông Đà… trên dòng trên”.

Nói đến Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám, người ta phải nhắc Vang bóng một thời cũng như sau cách mạng tháng Tám, nhắc đến Nguyễn Tuân người ta không thể quên tập tùy bút Sông Đà của ông. Thông qua Sông Đà, bằng ngòi bút tài hoa, già dặn của mình, Nguyễn Tuân không chỉ phác họa được bức chân dung ông lái đò trên sông Đà, bức chân dung người lao động trên sông nước được nâng lên ngang tầm nghệ sĩ, mà còn đem đến con sông Đà một cái hồn người thực sự: cũng biết vui, buồn, giận dỗi, phẫn nộ, nhớ thương… Nhưng, gấp lại trang sách, đọng lại trong tôi vẫn là đoạn này: “Thuyền tôi trôi trên sông Đà… trên dòng trên”.
( sưu tầm)

3.

Về đoạn trích tuỳ bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân, có ý kiến cho rằng: Đó là một công trình khảo cứu công phu. Nhưng ý kiến khác lại nhấn mạnh: Đó là một áng văn giàu tính thẩm mĩ.

         Từ việc phân tích đoạn trích tuỳ bút, anh/chị hãy bình luận những ý kiến trên

Nguyễn Tuân là nhà văn tài hoa, am hiểu sâu rộng về nhiều lĩnh vực và  là người nghệ sĩ đặc biệt giàu cảm hứng trước những vẻ đẹp kì vĩ, phi thường, dữ dội . NLĐSĐ là tác phẩm được rút từ tập truyện Tây Bắc (1960),  là kết quả nhiều lần lên Tây Bắc và trong chuyến đi thực tế 1958 của Nguyễn Tuân.Về tác phẩm này ,có ý kiến cho rằng “đó là một công trình khảo cứu công phu”, ý kiến khác lại cho rằng “đó là một áng văn giàu tính thẩm mĩ”. Phải chăng đó là hai ý kiến trái ngược nhau?

Một số mở bài cho bài Ký Ai đã đặt tên cho dòng sông – Hoàng Phủ Ngọc Tường (trích)

Cảm nhận về hình tượng sông Hương trong bài :Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường

Con sông Hương thơ mộng của xứ Huế đã làm ngẩn ngơ không ít những tâm hồn nhạy cảm và cũng làm “khổ” không ít bậc nghệ sĩ tài hoa. Ta bắt gặp sông Hương ở muôn mặt của nghệ thuật: thơ, ca, nhạc, hoạ. Đến với bút kí Ai đã dặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường một lần nữa ta cảm nhận vẻ đẹp sông Hương và sự đam mê của tác giả khi viết về dòng sông.
( sưu tầm)

Một số mở bài cho tác phẩm Vợ chồng A – Phủ – Tô Hoài (trích)

1.Phân tích giá trị nhân đạo của truyện Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài

BÀI LÀM

Có ai đó đã từng nhận xét: suy cho cùng thì ý nghĩa thực sự của văn học là góp phần nhân đạo hoá con người. Tác phẩm văn học là sản phẩm tinh thần của con người, do con người làm ra để đáp ứng nhu cầu của nó. Vì vậy tác phẩm văn học chỉ thực sự cóđ giá trị khi nó lên tiếng vì con người, ca ngợi và bảo vệ con người. Với ý nghĩa đó một tác phẩm lớn trước hết phải là một tác phẩm có giá trị nhân đạo sâu sắc. Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài là một tác phẩm như thế.

2.  Đề bài :

Cảm nhận của anh/ chị về  đoạn văn trích sau đây trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài:

“Ngày Tết, MỊ cũng uống rượu, Mị lén lấy hũ rượu, cứ uống ực từng bát. Rồi say, Mị lịm mặt ngồi đấy nhìn mọi người nhảy đồng, người hát, nhưng lòng MỊ thì đang sống về ngày trước…..

Chó sủa xa xa. Chừng đã khuya. Lúc này là lúc trai làng đến bên vách làm hiệu, rủ người yêu dỡ vách ra rừng chơi, Mị nín khóc. Mị lại bồi hồi.”

BÀI LÀM

Vợ chồng A Phủ là một truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách Tô Hoài sau Cách mạng tháng Tám. Hiện thực và nhân đạo là nội dung nổi bật của thiên truyện này. Nội dung ấy lại được thể hiện bằng giọng văn trần thuật, miêu tả và thể hiện tâm trạng, tính cách nhân vật hết sức tinh vi và sâu sắc. Đoạn vân trên thể hiện rất rõ tài năng của Tô Hoài trong việc mô tả và khắc họạ tâm trạng nhân vật Mị, một nhân vật trung tâm của thiên truyện Vợ chồng A Phủ.

 

Một số mở bài cho tác phẩm Vợ nhặt – Kim Lân

1, Đề bài :

Truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao kết thúc bằng hình ảnh:
Đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa, và vắng người lại qua…
(Ngữ văn 11, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011, tr.155)

Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân kết thúc bằng hình ảnh:
Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới…
(Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011, tr.32)

Cảm nhận của anh/chị về ý nghĩa của những kết thúc trên.

Mở bài tham khảo nhé :

Dòng văn học hiện thực phê phán Việt Nam  thường khai thác một khía cạnh phổ biến đó là tình cảnh bi thảm của người nông dân trước cách mạng tháng Tám .Trong số những trang văn cảm động về người nông dân phải kể đến hai truyện ngắn nổi bật : Chí Phèo của nhà văn Nam Cao và Vợ nhặt của Kim Lân .Mỗi truyện đều có một cách kết thúc riêng  ,song mỗi cách kết thúc đều mang những giá trị riêng. Truyện ngắn Chí Phèo kết thúc bằng hình ảnh:
Đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa, và vắng người lại qua…Truyện ngắn Vợ nhặt kết thúc bằng hình ảnh:
Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới

2.  Đề bài : cảm nhận của anh / chị về cảnh gặp gỡ đầu tiên giữa mẹ Tràng với nàng con dáu qua đoạn ván trích sau đây trong tác phẩm Vợ nhặtt của Kim Lân:

“Tràng nhắc mẹ:

Kia nhà tôi nó chào u….

… Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời? Có ra thì rồi con cái chúng mày về sau!”

Bài làm :

Đã rất nhiều lầ n đọc truyện Vợ nhặt của Kim Lân nhưng lần nào cũng thế, cứ đọc đến đoạn miêu tả cảnh gặp gỡ đầu tiên giữa bà cụ Tứ (mẹ Tràng) với người “con dâu mới” mà con trai bà vừa “nhặt” được về  là tôi lại thấy lòng mình rưng rưng cảm động. Với những lời văn trần thuật giản dị và mộc mạc, tác giả đã dựng được lại rất sinh động những diễn biến tâm lý tinh vi và phức tạp đang diễn ra trong tâm trạng của một bà mẹ nghèo, trước một tình huống éo le không hiểu nên mừng hay lo, là hạnh phúc hay tai họa.

3.Phân tích tình huống truyện Vợ Nhặt- Kim Lân

BÀI LÀM

Nói đến nghệ thuật truyện ngắn, người ta thường coi ba yếu tố sau đây là cơ bản nhất: tình huống truyện, nhân vật truyện và cách trần thuật. Có nhiều truyện ngắn, sự sáng , tạo tình huống đóng vai trò then chốt. Đặt vào tình huống ấy, nhân vật truyện bộc lộ sâu sắc tâm lý, tính cách. Tư tưởng của thiên truyện cũng nhờ thế mà được thể hiện đậm đà. Và xoay quanh tình huống ấy, các tình tiết cũng trở nên hấp dẫn.Truyện Vợ nhặt của Kim Lân thuộc loại tác phẩm như thế.

4. Đề bài : Cảm nhận của anh/ chị về  chi tiết bát cháo hành trong truyện Chí Phèo ( Nam Cao) và bát cháo cám trong truyện Vợ nhặt ( Kim Lân).

Mở bài tham khảo:

Nam cao và Kim Lân đều là những cây bút có sở trường truyện ngắn, có nhiều trang viết cảm động về đề tài nông thôn và người nông dân. Điểm chung của hai nhà văn là họ đều có những truyện ngắn giản dị nhưng chứa chan tinh thần nhân đạo.Hình ảnh bát cháo hành trong Chí Phèo và bát cháo cám trong Vợ nhặt đều là những hình ảnh đặc sắc, góp phần thể hiện rõ nét nội dung tư tường của các tác phẩm và tài năng của các nhà văn.

Xem thêm bài viết phần 2 :http://vanhay.edu.vn/mot-mo-bai-mau-tham-khao-p2

 

Cách viết phần mở bài trong bài văn nghị luận

Cách viết phần mở bài trong bài văn nghị luận

Đối với học sinh, một trong những phần các em thường bối rối khi viết văn nghị luận là phần mở bài. Tuy đây không phải là phần trọng tâm của bài văn nhưng nó là  phần không thể thiếu, góp phần làm nổi bật vấn đề. Nhiều em học sinh còn lúng túng, mất khá nhiều thời gian cho phần này.

Bài viết chia sẻ với các em một số “mẹo vặt ” để viết mở bài, cách này nhiều người đã áp dụng và thấy khá hiệu quả. Bài viết có 2 phần : Phần 1 hướng dẫn chung, phần 2 là một số mẹo vặt dành cho học sinh yếu

I.Hướng dẫn Cách viết phần mở bài trong bài văn nghị luận

Phần mở bài trong văn nghị luận là phần đặt vấn đề, thông thường có hai cách:

     – Trực tiếp: Là cách đi thẳng vào vấn đề cần nghị luận. Nghĩa là sau khi đã tìm hiểu đề và tìm được vấn đề trọng tâm của bài nghị luận, ta nêu thẳng vấn đề đó ra bằng một luận điểm rõ ràng. Tuy nhiên khi mở bài trực tiếp, ta cũng phải trình bày cho đủ ý, không nói thiếu nhưng cũng không nên nói hết nội dung, phải đáp ứng đủ các yêu cầu của một phần mở bài đúng mực trong nhà trường. Đặt vấn đề theo cách trực tiếp dễ làm, nhanh gọn, tự nhiên, dễ tiếp nhận, tuy nhiên thường khô khan, cứng nhắc, thiếu hấp dẫn cho bài viết.

Nếu đề bài yêu cầu nghị luận về tác phẩm thì mở bài phải giới thiệu được tên tác giả, tên tác phẩm, trích dẫn khổ thơ, hoặc giới thiệu vấn đề nghị luận.

    – Gián tiếp: Với cách này người viết phải dẫn dắt vào đề bằng cách nêu lên những ý có liên quan đến luận đề (vấn đề cần nghị luận) để gây sự chú ý cho người đọc sau đó mới bắt sang luận đề.Mở bài theo cách này tạo được sự uyển chuyển, linh hoạt cho bài viết, hấp dẫn người đọc, tuy nhiên kiểu mở bài này dễ dẫn đến sự lan man, lạc đề cho bài viết.

Những bạn học yếu nên mở bài theo cách thứ nhất ( không phải nghĩ nhiều, nhưng không được điểm giỏi)

* Ví dụ minh họa 1

Đề bài :

Bàn về quan niệm sống.

       – Mở bài trực tiếp:

 Trong cuộc sống mỗi người đều có quan niệm sống riêng. Có người chỉ sống vì tiền tài danh vọng mà quên đi giá trị đích thực của cuộc sống.Quan niệm sống tốt là sự hài hòa giữa danh vọng ,tiền bạc với các mối quan hệ và giá trị của con người với thiên nhiên,không bị chi phối bởi vật chất, sống hết mình, làm việc hết mình.                                                                                                                                                            (Bài viết của học sinh)

        -Mở bài gián tiếp:

Nhà văn Pháp Đ.Đi-đơ-rô từng quan niệm “ Nếu không có mục đích ,anh không làm được gì cả.Anh cũng không làm được gì vĩ đại nếu như mục đích bình thường.Đây là quan niệm đúng và rất phù hợp với chúng ta.Trong cuộc sống mỗi người đều có một lí tưởng sống riêng để tự vươn tới,tự hoàn thiện và phát triển bản thân. Bất kì ai cũng cần tự tạo cho mình một lí tưởng và có lòng quyết tâm theo lí tưởng  ấy ”.

(Bài viết của học sinh)

Đối với nghị luận văn học, các em cũng làm tương tự

* Ví dụ minh họa 2

Đề bài :

Phân tích tình huống truyện độc đáo trong Vợ nhặt của Kim Lân

– Mở bài trực tiếp:

“Vợ nhặt” được coi là kiệt tác trong sự nghiệp sáng tác của Kim Lân, cũng là một truyện ngắn xuất sắc của văn xuôi Việt Nam hiện đại. Một trong những yếu tố quan trọng giúp tạo ra những giá trị tư tưởng và nghệ thuật đặc sắc cho truyện ngắn chính là việc Kim Lân đã xây dựng thành công tình huống truyện độc đáo.

  -Mở bài gián tiếp:

Đối với nghệ thuật truyện ngắn, tạo ra được một tình huống độc đáo mới lạ để làm bật nổi vấn đề, bật nổi tâm trạng, tư tưởng, tính cách của các nhân vật và chủ đề của tác phẩm là một điều có ý nghĩa then chốt. Một truyện ngắn đặc sắc là nhờ được tổ chức chung quanh một tình huống như thế, và Vợ nhặt của Kim Lân là một trường hợp tiêu biểu.

* Ví dụ minh họa 3

+Nói đến Chính Hữu không thể không nói đến bài thơ “Đồng chí”.Bài thơ như một điểm sáng trong tập “Đầu súng trăng treo”- tập thơ viết về đề tài người lính của ông. ( mở bài trực tiếp )

+Đề : Phân tích nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao.

Khi “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố và “Bước đường cùng” của Nguyễn Công Hoan ra đời, tôi chắc ít ai nghĩ rằng, thân phận người nông dân dưới ách đế quốc phong kiến lại có thể có một nỗi khổ nào hơn những nỗi khổ của chị Dậu, anh Pha.Nhưng khi Chí Phèo bước ra từ những trang sách của Nam cao, thì người ta mới nhận ra rằng đây là hiện thân đầy đủ những gì gọi là khốn khổ, tủi nhục nhất của người dân cùng ở một nước thuộc địa. Hình ảnh Chí Phèo qua tác phẩm cùng tên của Nam Cao đã khắc họa  một cách đầy ám ảnh hình tượng đó
-> Cách dẫn nhập từ cáchình tượng có liên quan

II. Mẹo viết phần mở bài cho học sinh yếu

Cô hướng dẫn các bạn học yếu cách mở bài an toàn nhé, nhưng sẽ không được điểm cao đâu. Cách này chỉ áp dụng trong trường hợp vào phòng thi tâm lí hồi hộp, không nghĩ ra được mở bài, vậy thì hãy bỏ ra 5 phút để học thuộc những “mẫu ” có sẵn, vào phòng thi chỉ việc thay tên tác phẩm, tên nhân vật, hoặc thay vấn đề nghị luận là được. Cụ thể , ví dụ mở bài sau :

Nam Cao là một cây bút chuyên về truyện ngắn. Ông đã rất thành công ở các tác phẩm khai thác đề tài về những con người bị tha hóa trong xã hội cũ . Một trong những tác phẩm tiêu biểu của ông là
truyện ngắn ” Chí phèo “. Tác phẩm khắc họa thành công chân dung nhân vật Chí phèo, người nông dân lương thiện bị đẩy vào con đường tha hóa.

Các em có thể dùng mở bài này cho rất nhiều tác phẩm liên quan : ví dụ

+Kim lân là một cây bút chuyên về truyện ngắn. Ông đã rất thành công ở các tác phẩm khai thác đề tài  người nông dân trong xã hội  cũ. Một trong những tác phẩm tiêu biểu của ông là truyện ngắn ” Vợ nhặt”. Tác phẩm khắc họa thành công chân dung nhân vật Bà cụ Tứ, một bà mẹ nông dân nghèo, có tấm lòng nhân hậu….

+Nguyễn Tuân là một cây bút chuyên về truyện ngắn. Ông đã rất thành công ở các tác phẩm khai thác đề tài về những con người tài hoa trong xã hội cũ . Một trong những tác phẩm tiêu biểu của ông là
truyện ngắn ” Chữ người tử tù “. Tác phẩm khắc họa thành công chân dung nhân vật Huấn cao, một người tài hoa xuất chúng, có khí phách và thiên lương trong sáng…

Các em có thể  ” chế ra hàng loạt những mở bài tương tự, kể cả những đề thuộc lĩnh vực khác, ví dụ:

Huy cận là một cây bút xuất sắc trong phong trào thơ mới. Ông đã rất thành công ở các tác phẩm khai thác đề tài phong cảnh sông nước quê hương . Một trong những tác phẩm tiêu biểu của ông là
Bài thơ “Tràng giang” . Bài thơ được gợi hứng từ cảnh sông hồng mênh mang sóng nước…

Một số mẫu có sẵn, các em có thể học thuộc :

1. Xây dựng một hình tượng nhân vật đã khó, nhưng để nhân vật đó có sức lay động và chiếm trọn trái tim người đọc còn khó hơn. Ấy vậy mà nhà thơ/nhà văn … đã làm được điều đó. Nhân vật “ABC/XYZ” của ông đã ghi dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc về hình ảnh của một ( tùy đề bài yêu cầu phân tích nhân vật nào thì khái quát nhân vật đó)

2. Thời gian vẫn trôi đi và bốn mùa luôn luân chuyển. Con người chỉ xuất hiện một lần trong đời và cũng chỉ một lần ra đi mãi mãi vào cõi vĩnh hằng. Nhưng những gì là thơ, là văn, là nghệ thuật đích thực thì vẫn còn mãi mãi với thời gian. T ác phẩm “ABC/XYZ” của nhà văn/ nhà thơ….là một trong số những tác phẩm nghệ thuật như thế.
Đặc biệt là trích đoạn….( nếu người ta yêu cầu phân tích đoạn trích)

3. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã góp thêm những trang vàng vào lịch sử dân tộc. Đã có rất nhiều văn nghệ sẽ đã có được cảm hứng sáng tác từ đề tài này. Chính vì vậy đây cũng là giai đoạn văn học có nhiều thành công góp phần làm rạng rỡ nền văn học nước nhà.
”…….” Của nhà văn/ nhà thơ ……… là một trong những đóng góp như vậy.
Hình ảnh của những người lính quả cảm, kiên cường, ngày đêm chiến đấu bảo vệ đất nước/ Nhân vật chính trong tác phẩm ( tên) …đã thật sự để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng người đọc

(Mở bài như thế này chỉ áp dụng với các bài văn viết về chiến tranh, người lính), ví dụ: Tây Tiến,…

4. Trong trái tim mỗi con người luôn có một khoảng dành riêng cho quê hương, tình cảm ấy dạt dào cháy bỏng & có sức sống mãnh liệt, bền bỉ. Đặc biệt trong hoàn cảnh khó khăn, nguy hiểm, tình cảm ấy càng tỏa sáng rạng ngời. Với ngòi bút sắc sảo chân thực cùng tâm hồn đồng cảm sâu sắc, nhiều nhà văn VN hiện đại đã khắc họa thành công hình ảnh con ng VN có tình yêu làng quê tha thiết. Nhưng có lẽ thành công hơn cả là nhà văn…. Với nhân vật……..

5. Chúng ta đã gặp không ít những số phận người phụ nữ bi thương trong các tác phẩm văn học Việt Nam, đó là một nàng Vũ Nương oan khuất, một nàng Kiều bi kịch, một Chị Dậu tủi hờn… Nhưng khi tiếp cận với dòng văn học cách mạng, vẫn những người phụ nữ ngày xưa ấy lại trỗi dậy mạnh mẽ đứng dậy làm chủ đời mình. Một trong những nhân vật văn học nữ tiêu biêu biểu là nhân vật…. của nhà văn/ nhà thơ…..

Cái này áp dụng cho Truyện Kiều, Chiếc Thuyền Ngoài Xa, Vợ Chồng A-phủ….

6. Trong vô số những nạn nhân của xã hội phong kiến có một tầng lớp mà hết thảy các nhà văn nhân đạo đều đau xót trân trọng và tập chung viết về họ đó là người phụ nữ. trong số những tác phẩm viết về đề tài này nổi bật nhất phảI kể đến tác phẩm….

(Tài liệu sưu tầm )

Xem thêm : Tổng hợp nhưng mở bài về các tác phẩm lớp 12 , phần 1 :

Cách mở bài cho dạng đề so sánh văn học :

Một số mở bài mẫu tham khảo. phần 2 :

Tổng hợp những mở bài về các tác phẩm lớp 12, phần 3 :

Tổng hợp những mở bài hay và độc đáo về các tác phẩm lớp 12, phần 4 :

Xem thêm : Cách viết phần kết bài trong văn nghị luận