Đề thi học sinh giỏi môn văn tỉnh Thanh Hóa

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ ,ĐỀ CHÍNH THỨC KÌ THI HỌC SINH GIỎI CẤP TỈNH
Năm học: 2016 – 2017 Môn thi: Ngữ Văn Lớp 12 – THPT
Ngày thi: 10/03/2017
Thời gian làm bài: 180 phút (không kể thời gian phát đề) Đề thi có 01 trang, gồm 02 câu.

Câu 1 (8.0 điểm):

Bài học sâu sắc nhất mà anh/chị nhận được từ câu chuyện sau:
Một cô gái nhỏ đi bộ tới trường. Dù buổi sáng hôm đó thời tiết có vẻ rất xấu, trên trời những đám mây đen đang kéo tới nhưng cô bé vẫn thực hiện chuyến hành trình tới ngôi trường tiểu học của mình như thường lệ. Buổi chiều, quang cảnh còn tồi tệ hơn hơn, gió bắt đầu rít mạnh cùng với sấm chớp. Mẹ cô vì lo con gái mình sẽ sợ hãi trên đường về nhà và hơn nữa cô sẽ nguy hiểm nếu gặp sét nên đã đi đón con. Theo sau từng đợt sấm rền là những tia chớp như những nhát gươm sáng loáng cắt ngang bầu trời. Lòng đầy lo lắng, bà lái xe theo dọc con đường tới trường của con mình. Và kia! Cô gái nhỏ đang đi, nhưng cứ mỗi lần có chớp lóe lên, cô bé lại dừng lại, nhìn lên trời và mỉm cười. Khi xe của người mẹ tiến đến cạnh con gái, bà hỏi:
– Con làm gì thế? Tại sao con cứ dừng lại và mỉm cười như thế? Con gái?
Cô bé đáp lại:
– Con muốn làm cho mình xinh đẹp hơn vì Thượng đế cứ liên tục chụp ảnh cho con.

(Theo Quà tặng cuộc sống)

Câu 2 (12.0 điểm):

Trong Vũ trụ thơ, Đặng Tiến cho rằng:

Nghệ thuật tạo vẻ đẹp cho những dòng nước mắt và biến nỗi thống khổ của nhân loại thành tiếng hát vô biên.
Anh/chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Từ những cảm nhận về nỗi thống khổ của nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài) và nhân vật người đàn bà hàng chài trong Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu), anh/chị hãy bàn luận về sứ mệnh của văn học đối với thân phận con người.

………………………………….Hết…………………………………….

– Thí sinh không sử dụng tài liệu.
– Giám thị không giải thích gì thêm.

HƯỚNG DẪN CHẤM
ĐỀ CHÍNH THỨC KÌ THI HỌC SINH GIỎI CẤP TỈNH
Năm học: 2016 – 2017
Môn thi: Ngữ Văn
Lớp 12 – THPT
Ngày thi: 10/03/2017
Thời gian làm bài: 180 phút (không kể thời gian phát đề)
Hướng dẫn chấm có 04 trang, gồm 02 câu

Câu Nội dung Điểm
1 Bài học sâu sắc nhất từ câu chuyện 8,0
Yêu cầu chung
– Câu này kiểm tra năng lực viết bài nghị luận xã hội của thí sinh; đòi hỏi thí sinh phải huy động những hiểu biết về đời sống xã hội, kĩ năng tạo lập văn bản và khả năng bày tỏ thái độ, chủ kiến của mình để làm bài.
– Thí sinh có thể làm bài theo nhiều cách khác nhau nhưng phải có lí lẽ và căn cứ xác đáng, được tự do bày tỏ quan điểm riêng của mình, nhưng phải có thái độ chân thành nghiêm túc, phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội.

Yêu cầu cụ thể
* Giải thích ý nghĩa câu chuyện 1.5
– Giới thiệu vắn tắt nội dung câu chuyện: Cô bé tuy còn nhỏ tuổi nhưng khi gặp khó khăn trở ngại (thời tiết xấu) vẫn tiếp tục hành trình đến trường như thường lệ. Khi gặp nguy hiểm (sấm sét) cô bé vẫn an nhiên mỉm cười xem đó như một món quà của Thượng đế (chụp ảnh cho mình).
– Ý nghĩa câu chuyện: Từ hành động và cách nghĩ của cô bé trong một tình huống cụ thể của cuộc sống, câu chuyện mang lại cho người đọc nhiều bài học sâu sắc: bài học về cách ứng xử của con người trước gian nan thử thách: sự kiên trì, sự bình tĩnh, bản lĩnh nghị lực, sự chủ động biến khó khăn thành cơ hội; bài học về niềm tin, về tinh thần lạc quan… (Hướng dẫn chấm chỉ nêu lên một vài bài học mang tính chất gợi ý, bài học sâu sắc nhất mà thí sinh rút ra từ câu chuyện có thể trùng với một trong những định hướng của hướng dẫn chấm, có thể nằm ngoài những định hướng của hướng dẫn chấm, nhưng phải gắn với câu chuyện, phải có cơ sở hợp lí và chuẩn mực). 0.5
1.0
* Bàn luận: 5.0
Từ nhận thức và trải nghiệm riêng, thí sinh có thể bày tỏ suy nghĩ riêng về bài học mà thí sinh cho là sâu sắc nhất từ câu chuyện. Tuy nhiên dù suy nghĩ theo hướng nào cũng phải tập trung vào một bài học sâu sắc nhất mà bản thân nhận được từ câu chuyện, phải có lí lẽ, căn cứ xác đáng và có thái độ bàn luận nghiêm túc, thiện chí.
* Bài học nhận thức và hành động 1.5
Từ bài học sâu sắc nhất nhận được từ nội dung câu chuyện, thí sinh cần nêu được định hướng nhận thức và hành động phù hợp, ý nghĩa cho bản thân. (Lưu ý: Bài học nhận thức và hành động mà thí sinh trình bày phải phù hợp với nội dung câu chuyện, với bài học mà thí sinh rút ra từ câu chuyện, đảm bảo tính nghiêm túc, phù hợp với chuẩn mực đạo đức).
2 Nghệ thuật tạo vẻ đẹp cho những dòng nước mắt và biến nỗi thống khổ của nhân loại thành tiếng hát vô biên.
Từ những cảm nhận về nỗi thống khổ của nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài) và nhân vật người đàn bà hàng chài trong Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu), bàn luận về sứ mệnh của văn học đối với thân phận con người. 12.0
Yêu cầu chung
– Câu này kiểm tra năng lực viết bài nghị luận văn học của thí sinh; đòi hỏi thí sinh phải huy động kiến thức về lí luận văn học, tác phẩm văn học, kĩ năng tạo lập văn bản, khả năng cảm nhận văn chương của mình để làm bài.
– Thí sinh có thể cảm nhận và kiến giải theo những cách khác nhau, nhưng phải có lí lẽ, căn cứ xác đáng.
Yêu cầu cụ thể
* Giải thích ý kiến: 1.0
– “dòng nước mắt”,“nỗi thống khổ”: chính là nỗi đau, sự bất hạnh của con người, là thân phận con người bị chà đạp trong cuộc sống còn nhiều nhọc nhằn, cơ cực, bất công.
– “tiếng hát vô biên”: là tình cảm trân trọng, nâng niu, ngợi ca, niềm tin đối với con người.
– Ý kiến của Đặng Tiến đã khẳng định sứ mệnh của nghệ thuật nói chung, văn học nói riêng: Quan tâm phản ánh, thể hiện nỗi thống khổ của con người không chỉ bằng sự thấu hiểu sẻ chia, âu lo trăn mà còn bằng sức truyền cảm và khả năng sáng tạo của nghệ thuật; khám phá nâng niu và bộc lộ niềm tin, niềm lạc quan đối với vẻ đẹp của con người truyền sức mạnh niềm tin vào chính con người. Đó là sứ mệnh cao cả, sứ mệnh vĩnh cửu của văn học. 0.25
0.25

0.5
* Cảm nhận về nỗi thống khổ của Mị và người đàn bà hàng chài 7.0
– Cảm nhận về nỗi thống khổ của Mị:
+ Nỗi thống khổ của người phụ nữ dưới ách thống trị của cường quyền, thần quyền miền núi:
• Mất tự do, mang thân phận nô lệ (Mị bị bắt làm dâu gạt nợ cho nhà giàu nhưng thực chất là nô lệ cho nhà giàu).
• Bị bóc lột đày đọa về mặt thể xác (lao động khổ sai, sống kiếp trâu ngựa, bị đánh đập tàn nhẫn).
• Bị chà đạp về tinh thần, mất mát đau đớn trong tâm hồn (mất ý niệm về bản thân; mất đi niềm khao khát sống, khao khát tự do; mất đi tình thương tình đồng loại).
→ Nỗi thống khổ của Mị đại diện cho sự bất hạnh khổ đau của người lao động nghèo miền núi dưới ách thống trị của cường quyền, thần quyền. Đó là bi kịch của lịch sử, thời đại được phản ánh bằng cảm hứng lãng mạn cách mạng.
+ Nỗi thống khổ của Mị được thể hiện qua nghệ thuật trần thuật hấp dẫn với sự dịch chuyển điểm nhìn trần thuật linh hoạt, nghệ thuật miêu tả tâm lí bậc thầy, ngôn ngữ đậm chất miền núi, lời văn giàu chất thơ.
– Cảm nhận về nỗi thống khổ của người đàn bà hàng chài:
+ Nỗi thống khổ của người phụ nữ là nạn nhân của đói nghèo, lạc hậu trong cuộc mưu sinh nhọc nhằn, lam lũ:
• Lam lũ, vất vả, nghèo đói (khuôn mặt mệt mỏi, tấm áo bạc phếch và rách rưới, nửa thân dưới ướt sũng).
• Nạn nhân của bạo hành gia đình (chịu đòn roi như nhịp sống hằng ngày không lối thoát).
• Chịu tổn thương đau đớn về tinh thần (bất lực chứng kiến cảnh vô đạo của gia đình, tiếng kêu “Phác, con ơi!”, giọt nước mắt).
→ Nỗi thống khổ của người đàn bà hàng chài đại diện cho nỗi bất hạnh khổ đau của người phụ nữ trong đói nghèo lạc hậu. Đó là bi kịch của cuộc sống ngày thường được nhà văn phản ánh bằng cảm hứng thế sự đời tư.
+ Nỗi thống khổ của người đàn bà hàng chài được thể hiện bằng lối văn giản dị mà sâu sắc, tình huống truyện đặc sắc mang ý nghĩa khám phá, phát hiện về đời sống, ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật được sử dụng linh hoạt, sáng tạo. 3.5

* Bàn luận về sứ mệnh của văn học đối với thân phận con người 3.0
– Văn học chân chính không thể không quan tâm đến thân phận con người. Viết về nỗi thống khổ của con người là sứ mệnh muôn đời, cũng là sứ mệnh vinh quang của văn học chân chính. Bởi:
+ Văn học lấy con người làm đối tượng phản ánh hàng đầu. Hiện thực cuộc sống còn nhiều nhọc nhằn, bất công nên văn chương luôn quan tâm đến nỗi thống khổ và thân phận con người.
+ Quan tâm đến thân phận con người, văn học thấu hiểu sẻ chia với nỗi khổ đau bất hạnh của con người, đặt ra những vấn đề nhức nhối của cuộc sống, đồng thời khám phá, khẳng định, nâng niu vẻ đẹp con người; bồi đắp năng lực cảm nhận nỗi đau của con người, khơi dậy những mong muốn đẹp đẽ, bồi đắp tính Người trong con người.
+ Quan tâm đến thân phận con người, tác phẩm văn học vươn tới giá trị nhân văn sâu sắc, có sức sống lâu bền. Quan tâm đến thân phận con người là thiên chức cao cả cũng là yếu tố quan trọng làm nên tầm vóc của một ngòi bút chân chính.
– Để hoàn thành sứ mệnh lớn lao của văn học người nghệ sĩ cần sống sâu với cuộc đời, nhạy cảm với nỗi đau, trăn trở về số phận con người, viết nên những trang văn mang niềm trăn trở, niềm tin cùng những giải pháp để con người vượt lên nỗi thống khổ, vươn tới những điều tốt đẹp.
– Người đọc cần biết thấu nhận, sẻ chia, trăn trở cùng những vấn đề thân phận con người trong trang văn và ý thức bồi đắp tâm hồn, lối sống cho chính mình. 2.0
0.5
0.5
* Đánh giá – nhận xét 1.0
– Ý kiến của Đặng Tiến không chỉ là một lời bàn xác đáng, sâu sắc về sứ mệnh cao cả của văn học đối với thân phận và vẻ đẹp của con người mà còn là định hướng ý nghĩa đối với nhà văn và độc giả trong sáng tạo và tiếp nhận văn học.
– Với việc thể hiện thành công nỗi thống khổ, thân phận của Mị và người đàn bà hàng chài, truyện ngắn Vợ chồng A Phủ và Chiếc thuyền ngoài xa thực sự là những tác phẩm giá trị, hấp dẫn và có sức sống lâu bền. 0.5
0.5

Lưu ý chung:
1. Đây là đáp án mở, thang điểm có thể không quy định chi tiết đối với từng ý nhỏ, chỉ nêu mức điểm của phần nội dung lớn nhất thiết phải có.
2. Chỉ cho điểm tối đa theo thang điểm với những bài viết đáp ứng đầy đủ những yêu cầu đã nêu mỗi câu, đồng thời phải được triển khai chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, có cảm xúc.
3. Khuyến khích những bài viết có sáng tạo. Chấp nhận bài viết không giống đáp án, có những ý ngoài đáp án nhưng phải có căn cứ xác đáng và lí lẽ thuyết phục.
4. Không cho điểm cao đối với những bài chỉ nêu chung chung, sáo rỗng.
5. Cần trừ điểm đối với những lỗi về hành văn, ngữ pháp và chính tả.

— HẾT —

Xem thêm : Bộ đề luyện thi học sinh giỏi môn văn lớp 10-11- 12 :http://vanhay.edu.vn/hoc-sinh-gioi

Đề thi hay và khó về tác phẩm Chí Phèo- Nam Cao

Bộ đề luyện thi về tác phẩm Chí Phèo- Nam Cao. Phân tích bi kịch của nhân vật Chí Phèo. Nghị luận ý kiến bài về truyện ngắn Chí Phèo

Đề  bài :

Đọc Chí Phèo của Nam Cao, có ý kiến cho rằng: “Bi kịch của Chí Phèo là bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người”, lại có ý kiến khẳng định: “Bi kịch của Chí Phèo, hơn thế, còn là bi kịch con người tự từ chối quyền làm người.”

a. Vận dụng hiểu biết về tiếp nhận văn học, hãy lí giải hiện tượng trên (không quá 05 câu)

b. Hãy viết một bài luận bày tỏ quan điểm cá nhân về bi kịch của nhân vật Chí Phèo

ĐÁP ÁN

Câu a. (1.0 điểm)

Yêu cầu về kĩ năng.

– Biết tổ chức một đoạn văn.

– Không mắc lỗi chính tả dùng từ, đặt câu, diễn đạt.

Yêu cầu về kiến thức

Hai ý kiến cùng bàn về bi kịch của nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao.

Điều này cho thấy tính chất đa dạng, không thống nhất trong tiếp nhận văn học, cùng một tác phẩm, một đối tượng nhưng cách thụ cảm, đánh giá của công chúng có thể rất khác nhau do sự khác biệt trong trình độ, kinh nghiệm sống, tuổi tác, tâm trạng khi tiếp nhận… Hơn nữa, nội dung các tác phẩm càng phong phú, hình tượng nghệ thuật càng phức tạp thì sự tiếp nhận của công chúng càng lắm hình nhiều vẻ.

Câu b. (6.0 điểm)

Yêu cầu chung

–  Năng lực viết bài nghị luận văn học của thí sinh; đòi hỏi thí sinh phải huy động kiến thức về tác phẩm văn học, lí luận văn học, kĩ năng tạo lập văn bản và khả năng cảm thụ văn chương của mình để làm bài.

– Thí sinh có thể cảm nhận và kiến giải theo những cách khác nhau, nhưng phải có lí lẽ, có căn cứ xác đáng, không được thoát li văn bản tác phẩm.

Yêu cầu cụ thể.

Giới thiệu tác giả tác phẩm

Giải thích

Bi kịch: nghĩa gốc, bi kịch là thể của loại hình kịch thường được coi như là đối lập với hài kịch. Từ nghĩa gốc trên, bi kịch còn dùng để chỉ một tình cảnh, một số phận éo le, trắc trở, đau thương. Khái niệm bi kịch được nói đến ở đây là hiểu theo nghĩa thứ hai này.

Bi kịch bị cử tuyệt quyền làm người: con người khao khát sống, khao khát “làm hòa” với mọi người, khao khát hạnh phúc nhưng bị xã hội và giai cấp thống trị cản trở, xô đẩy vào con đường cùng không lối thoát.

Bi kịch con người tự từ chối quyền làm người: con người khao khát sống, khao khát “làm hòa” với mọi người, khao khát hạnh phúc nhưng không đủ bản lĩnh, không đủ dũng khí khẳng định mình, vượt lên những định kiến của cộng đồng, cuối cùng rơi vào tuyệt vọng thậm chí rơi vào cái chết.

Bàn luận

Thí sinh có thể đồng tình với một trong hai ý kiến hoặc bổ sung, kết hợp giữa hai ý kiến để có cái nhìn đầy đủ, toàn diện về bi kịch của Chí Phèo, miễn là lí giải có sức thuyết phục. Sau đây là một số phương án, thí sinh có thể lựa chọn để giám khảo tham khảo.

Phương án 1. Bi kịch Chí Phèo là bi kịch bị cử tuyệt quyền làm người.

– Đây là quan niệm có tính truyền thống được nhiều người chấp nhận.

– Xã hội thực dân phong kiến tiếp tay cho bọn cường hào ác bá (Bá Kiến) đã đẩy Chí Phèo vào con đường tha hóa, trở thành quỷ dữ của làng Vũ Đại

– Xã hội ấy đã từ chối, cử tuyệt quyền làm người của Chí Phèo ngay cả khi Chí Phèo mong mỏi, khao khát được làm người lương thiện nhất

=> Xã hội thực dân phong kiến à bọn cường hào ác bá ở làng Vũ Đại không thể “vô can” trong việc đẩy Chí Phèo đến chỗ bi kịch, đến với cái chết.

Phương án 2. “Bi kịch Chí Phèo, hơn thế, còn là bi kịch con người tự từ chối quyền làm người.”

– Đây là ý kiến mới mẻ, có phần táo bạo khi nhìn nhận đánh giá về bi kịch số phận nhân vật Chí Phèo

– Ý kiến trên xuất phát từ dặc điểm phong cách thời đại . Thời đại Nam Cao, ý thức về con người cá nhân có điều kiện phát triển. Nam Cao thể hiện tinh thần thời đại đó bằng cách chỉ ra rằng; nếu qus lệ thuộc vào cộng đồng, con người sẽ tự thủ tiêu mình; và nếu cộng đồng can thiệp quá sâu vào đời sống cá nhân, nó sẽ hủy diệt cá nhân đó.

– Ý kiến trên xuất phát từ số phận nhân vật Chí Phèo

+ Số phận cô độc và nỗi sợ cô đơn

+ Cái chết của Chí Phèo và sự đuối về ý thức cá nhân

Ý kiến trên quả có cái nhìn sâu sắc về tấn bi kịch của người nông dân Chí Phèo. Rõ ràng Chí phải chịu trách nhiệm về bản thân.

Phương án 3:

Hoàn toàn đổ lỗi cho Chí Phèo là chỉ coi trọng nguyên nhân chủ quan, còn đổ tội cho xã hội lại là coi trọng nguyên nhân khách quan. Trong khi đó, nguyên nhân dẫn đến bi kịch và cái chết của Chí bao gồm cả chủ quan và khách quan, chỉ coi trọng một mặt nào đó cũng là phiến diện.

Viết về bi kịch người nông dân Chí Phèo, Nam Cao muốn đưa đến người đọc thông điệp; mỗi cá nhân phải chịu trách nhiệm về những hành vi của mình, mỗi người phải tự ý thức về cá nhân của mình. Điều đó thể hiện một quan niệm đấy đủ hơn, toàn diện hơn về con người, về giá trị của sự sống. Đó là những nhân tố mới mẻ, độc đáo trong chủ nghĩa nhân đạo của Nam Cao

Biểu điểm

+ Điểm 6 – 7: đáp ứng tốt các yêu câu trên, có thể còn vài sai sót về diễn đạt.

+ Điểm 4 – 5: đáp ứng phần lớn các yêu cầu trên, có thể còn một số sai sót về diễn đạt, chính tả.

+ Điểm 2 – 3: đáp ứng được một phần các yêu cầu trên, còn mắc nhiều lỗi về diễn đạt, chính tả.

+ Điểm 1; không đáp ứng được các yêu cầu trên, mắc nhiều lỗi về diễn đạt, chính tả.

+ Điểm 0: không làm bài

Xem thêm : Những bài văn hay lớp 11 : Bài văn mẫu

Tuyển tập đề thi về truyện ngắn Chí Phèo- Nam Cao : Chí Phèo

Giáo án Ngữ văn 12 theo chủ đề : Làm văn nghị luận về lý luận văn học

Giáo án Ngữ văn 12 theo chủ đề : Làm văn nghị luận về lý luận văn học – Ngữ văn 12 theo định hướng năng lực

CHỦ ĐỀ: LÀM VĂN NGHỊ LUẬN VỀ LÝ LUẬN VĂN HỌC

NGỮ VĂN 12

  1. Chuẩn kiến thức, kỹ năng

– Hoàn thiện kiến thức, kĩ năng về các dạng bài nghị luận văn học trong nhà trường phổ thông.

– Hiểu yêu cầu và cách thức vận dụng tổng hợp các thao tác và các phương thức biểu đạt trong bài văn nghị luận: Chứng minh, giải thích, phân tích, so sánh, bác bỏ, bình luận, tự sự, biểu cảm, miêu tả, thuyết minh …

– Biết vận dụng những kiến thức đó vào lập luận, trình bày vấn đề liên quan đến lí luận văn học

– Biết vận dụng tổng hợp các thao tác nghị luận và các phương thức biểu đạt để viết bài văn nghị luận về một vấn đề lí luận văn học

Năng lực hướng tới          

– Năng lực thu thập, lựa chọn và xử lý thông tin, dẫn chứng tiêu biểu để tạo lập VBNL VH.

– Năng lực xây dựng cấu trúc, dàn ý cho một bài văn nghị luận VH.

– Năng lực trình bày cảm nhận, suy nghĩ và quan điểm của cá nhân về một vấn đề VH.

– Năng lực tạo lập văn bản NL về một vấn đề VH.

– Năng lực hợp tác, giải quyết vấn đề.

Bảng mô tả các mức độ đánh giá chủ đề: Làm văn nghị luận về lý luận văn học – Ngữ văn 12 theo định hướng năng lực

(Chương trình Ngữ văn lớp 12 chỉ chú trọng vào kĩ năng thực hành làm văn nghị luận, không có bài lí thuyết nên bảng mức độ đánh giá chủ yếu đánh giá năng lực thực hành tạo lập VB của học sinh)

Nhận biết Thông hiểu Vận dụng
Vận dụng thấp Vận dụng cao
– Xác định dạng đề – Chỉ ra những nội dung của vấn đề nghị luận

 

– Lập dàn ý.

– Chọn ý để triển khai thành đoạn văn hoàn chỉnh.

 

– Viết đoạn văn mở bài/kết bài.

 

– Viết bài văn nghị luận về vấn đề lí luận văn học.

– Trình bày những kiến giải riêng, phát hiện sáng tạo liên quan đến vấn đề lí luận văn học.

– Xác định được vấn đề nghị luận (thể loại văn học, giá trị văn học, quá trình và phong cách văn học…).
 

– Xác định phạm vi kiến thức cần sử dụng

– Lựa chọn các phương thức biểu đạt, thao tác lập luận cho cho bài viết.

– Kết hợp các phương thức biểu đạt, thao tác lập luận cho cho bài viết.

– Lựa chọn dẫn chứng tiêu biểu để tạo lập đoạn/bài văn nghị luận về vấn đề lí luận văn học

– Xác định được các thao tác lập luận cần sử dụng để tạo lập VB
Câu hỏi định tính, định lượng:

–         Câu hỏi mở:

+ Câu hỏi mở đòi hỏi trả lời ngắn

+ Câu hỏi mở đòi hỏi trả lời dài

Bài tập thực hành: Bài viết nghị luận văn học liên quan đến ý kiến bàn về văn học

– Bài nghị luận ý kiến, nhận định về tác phẩm văn học và lí luận văn học

– Bài so sánh phong cách nghệ thuật

– Bài tự chọn theo những định hướng cho trước

 

 Hệ thống câu hỏi/Bài tập minh họa

Thơ là tấm lòng nhưng trước hết thơ phải là cuộc sống.

                       (Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại – Hà Minh Đức).

Quan điểm của anh/chị về ý kiến trên? Hãy làm sáng tỏ bằng việc phân tích bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh.

Nhận biết Thông hiểu Vận dụng
Vận dụng thấp Vận dụng cao
Vấn đề nêu ra thuộc dạng đề nghị luận nào?

– Phạm vi vấn đề và nội dung nghị luận là gì?

– Cần sử dụng những đơn vị kiến thức nào liên quan đến thể loại thơ (đặc trưng cơ bản nhất của thơ: hình ảnh, ngôn ngữ, tư tưởng, cảm xúc,… ) và những đơn vị kiến thức nào trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh?

– Cần sử dụng những thao tác lập luận nào để giải quyết vấn đề?

– Giải thích ý kiến (thơ, thơ là tấm lòng, thơ trước hết phải là cuộc sống)

+ Bản chất của thơ là gì?

+Vì sao nói thơ là tấm lòng?

+ Vì sao lại khẳng định Thơ là tấm lòng nhưng trước hết thơ phải là cuộc sống.

– Cần sử dụng những đơn vị kiến thức nào trong bài thơ Sóng để làm sáng tỏ vấn đề?

*Lập dàn ý cho đề bài trên.

– Hình thành các luận điểm cho bài viết

+ Lập luận vấn đề lí luận

+ Sử dụng những kiến thức nào của bài thơ Sóng để làm sáng tỏ:

Tác giả: Cuộc đời, sự nghiệp, phong cách sáng tác,…

 Tác phẩm: Bối cảnh, nguồn cảm hứng, mạch vận động của cảm xúc và hình tượng thơ, âm điệu, ngôn từ…

* Viết được đoạn văn mở bài, kết bài, các đoạn triển khai ý ở thân bài

– Hoàn thành bài viết: chặt chẽ, thuyết phục, sáng tạo…

+ Làm rõ mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống. Vận dụng làm rõ ý kiến qua bài thơ Sóng

+ Sóng là tiếng lòng, là nhận thức của Xuân Quỳnh về cuộc đời. Cảm nhận như thế nào về những đổi mới, nét độc đáo thơ Xuân Quỳnh?

+ Rút ra bài học trong quá trình lao động nghệ thuật và tiếp nhận văn học

 

 

 

  1. Xây dựng đề kiểm tra minh họa

Ma trận đề kiểm tra          

Mức độ

Chủ đề

Nhận biết Thông hiểu Vận dụng Tổng số
Vận dụng thấp Vận dụng cao
I. Đọc – hiểu

Đoạn trích: “Phong cách văn học …chính là người” – SGK NV12/tập 1/tr181

 

– Nhận diện những thông tin chính của đoạn trích

– Chỉ ra khái niệm được đề cập

– Câu văn thể hiện nội dung, bản chất của khái niệm.

 

 

 

 

– Cơ sở hình thành khái niệm

 

 

 

Cơ sở tạo nên tính hấp dẫn, sức sống của một tác phẩm văn học.

   
Số câu

Số điểm

Tỉ lệ

2 (C1,3)

1,0

10%

1 (C2)

1,0

10%

1(C4)

1,0

10%

  4

3,0

30%

II. Làm văn

Nghị luận

văn học

    Vận dụng kiến thức lí luận văn học, kiến thức đọc hiểu bài thơ Tây Tiến và kĩ năng tạo lập văn bản để viết bài nghị luận vấn đề lí luận văn học.  
Số câu

Số điểm

Tỉ lệ

  1

7,0

70%

1

7,0

70%

Tổng số câu

Tổng số điểm

Tỉ lệ

2 (C)

1,0

10%

1

1,0

10%

1

1,0

10%

1

7,0

70%

5

10,0

100% 

 

 

ĐỀ KIỂM TRA        

Thời gian làm bài: 120 phút              

Phần I: Đọc hiểu (3 điểm)        

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

Phong cách văn học (hay phong cách nghệ thuật) nảy sinh do chính những nhu cầu của cuộc sống, bởi vì cuộc sống luôn đòi hỏi sự xuất hiện những nhân tố mới mẻ, những cái không lặp lại bao giờ; và nó cũng nảy sinh từ nhu cầu của quá trình sáng tạo văn học vì đó là một yếu tố quan trọng tạo nên tính hấp dẫn, sức sống của tác phẩm. Phong cách là những nét riêng biệt, độc đáo của một tác giả trong quá trình nhận thức và phản ánh cuộc sống, những nét độc đáo ấy thể hiện trong tất cả yếu tố nội dung và hình thức của từng tác phẩm cụ thể. Nói cách khác, phong cách là sự thể hiện tài nghệ của người nghệ sĩ trong việc đưa đến cho độc giả một cái nhìn mới mẻ về cuộc đời thông qua những phương thức, phương tiện nghệ thuật mang đậm dấu ấn cá nhân của người sáng tạo, vì thế Buy-phông viết: “phong cách chính là người” .

(Quá trình văn học và phong cách văn học, SGK Ngữ văn 12, tập 1, trang 181, NXB GD 2013)

  1. Đoạn trích chủ yếu đề cập đến khái niệm nào của lí luận văn học?
  2. Khái niệm đó nảy sinh từ những cơ sở thực tế nào?
  3. Tìm câu văn thể khái quát nội dung khái niệm đó.
  4. Những cơ sở tạo nên tính hấp dẫn, sức sống của tác phẩm văn học?

 

Phần II: Làm văn (7 điểm)    

Thơ là thơ đồng thời là hoạ, là nhạc, là chạm khắc theo một cách riêng

                                                                                              (Sóng Hồng)

Quan điểm của anh/chị về ý kiến trên? Hãy làm sáng tỏ bằng việc phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng.

 

 

HƯỚNG DẪN CHẤM

Phần I: Đọc hiểu

  1. Đoạn trích đề cập đến khái niệm: Phong cách văn học (hay phong cách nghệ thuật) – 0,5 điểm
  2. Khái niệm đó nảy sinh từ những cơ sở thực tế:

– Từ những nhu cầu của cuộc sống – 0,5 điểm

– Từ nhu cầu của quá trình sáng tạo văn học – 0,5 điểm

  1. Câu văn thể khái quát nội dung khái niệm:

Phong cách là những nét riêng biệt, độc đáo của một tác giả trong quá trình nhận thức và phản ánh cuộc sống, những nét độc đáo ấy thể hiện trong tất cả yếu tố nội dung và hình thức của từng tác phẩm cụ thể – 0,5 điểm

4, HS sử dụng kiến thức đã học để trả lời một cách ngắn gọn, thuyết phục – 1,0 điểm

Phần II: Làm văn

  1. Yêu cầu về kỹ năng:

Biết làm kiểu bài nghị luận văn học, phân tích, chứng minh văn bản Tây Tiến của Quang Dũng để làm sáng tỏ một vấn đề lí luận văn học. Lập luận chặt chẽ, bố cục rõ ràng, diễn đạt lưu loát có cảm xúc, ngôn ngữ chọn lọc, không mắc các loại lỗi.

  1. Yêu cầu về kiến thức:

Có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng phải đáp ứng những yêu cầu cơ bản sau:

* Giới thiệu vấn đề nghị luận.

* Giải thích ý kiến:

Thơ là thơ : Thơ trước hết phải là chính nó, nghĩa là phải mang đầy đủ những đặc trưng riêng khác với bất kì loại hình nghệ thuật nào: truyện, kịch… Thơ là phương thức trữ tình, là tiếng nói của tình cảm, cảm xúc được thể hiện bằng một cấu tạo ngôn ngữ đặc biệt.

– Thơ đồng thời là họa, là nhạc, là chạm khắc theo một cách riêng:

+ Thơ là họa: Họa có nghĩa là hội họa, đặc trưng ngôn ngữ thơ giàu tính tạo hình, thơ có thể gợi lên trong tâm trí người đọc những hình ảnh, chi tiết sống động, chân thực như bản thân sự sống vốn có.

+ Thơ là nhạc: Nhạc là âm nhạc. Ngôn ngữ thơ giàu nhạc tính. Tính nhạc của thơ thể hiện ở: thể thơ, cách gieo vần, ngắt nhịp, thanh điệu,…

          + Thơ còn là chạm khắc: Khả năng tạo dựng hình khối, đường nét sống động, chân thực của ngôn ngữ thơ ca.

=> Sóng Hồng đã khẳng định vẻ đẹp, giá trị độc đáo của thơ ca: thơ là thơ nhưng thơ còn có màu sắc, đường nét của hội hoạ, thanh âm của âm nhạc và hình khối của chạm khắc. Tuy nhiên, tất cả những biểu hiện ấy phải được thể hiện theo “một cách riêng” nghĩa là nhà thơ phải có phong cách nghệ thuật riêng.

* Chứng minh qua bài Tây Tiến:

– Chất thơ của Tây Tiến:

+ Bài thơ thể hiện cảm xúc mãnh liệt của Quang Dũng: nỗi nhớ đơn vị cũ, nhớ thiên nhiên núi rừng, con người Tây Bắc.

+ Ngôn ngữ thơ hàm súc, đa nghĩa, có tính biểu cảm cao.

Tây Tiến cũng là bài thơ giàu chất hoạ, chất nhạc và điêu khắc:

+ Chất hoạ: Bức tranh thiên nhiên, núi rừng Tây Bắc hùng vĩ, hoang sơ, bí ẩn, dữ dội, mà mĩ lệ  thơ mộng trữ tình.

+ Chất nhạc: phép đối, điệp âm, sử dụng từ láy, cách ngắt nhịp, phối thanh Bằng – Trắc… => tạo nên giọng điệu gân guốc, mạnh mẽ khi nói về con đường hành quân gập ghềnh, trắc trở; giọng điệu êm đềm man mác khi nói về thiên nhiên thơ mộng trữ tình; giọng thơ vui tươi, khoẻ khoắn khi tái hiện kỉ niệm về tình quân dân thắm thiết trong đêm liên hoan.

+ Đường nét của điêu khắc: chạm khắc bức tượng đài về người lính Tây Tiến sống động, chân thực, mang vẻ đẹp lẫm liệt, kiêu hùng, hào hoa, lãng mạn mà bi tráng.

– Bài thơ Tây Tiến thể hiện phong cách riêng, độc đáo của Quang Dũng: bút pháp lãng mạn và tinh thần bi tráng, hồn thơ bay bổng và ngôn ngữ sáng tạo, tinh tế, tài hoa.

* Đánh giá chung

– Ý kiến của Sóng Hồng đã khẳng định sức sống và vẻ đẹp của thơ ca.

– Bài thơ Tây Tiến xứng đáng là một trong những thi phẩm xuất sắc của nền thi ca cách mạng Việt Nam.

  1. Thang điểm:

Điểm 6-7: Đáp ứng tốt các yêu cầu trên, có thể mắc một vài lỗi nhỏ không đáng kể..

Điểm 4-5: Cơ bản đáp ứng các yêu cầu, có thể thiếu ý hoặc mắc một số lỗi về diễn đạt, chính tả.

Điểm 2-3: Bài sơ sài, thiếu ý hoặc còn lúng túng trong triển khai vấn đề, mắc nhiều lỗi các loại.

Điểm 1: Bài viết quá sơ sài, có quá nhiều sai sót, không hiểu rõ và không biết triển khai vấn đề.

Điểm 0: Không làm bài hoặc lạc đề hoàn toàn.

Tài liệu sưu tầm

Xem thêm : Giáo án ngữ văn 12 

 

Giáo án Ngữ Văn 12 theo định hướng phát triển năng lực, chủ đề Lí luận văn học

Giáo án Ngữ Văn 12 theo định hướng phát triển năng lực, chủ đề Lí luận văn học

Chủ đề: LÍ LUẬN VĂN HỌC (LỚP 12)

 Chuẩn kiến thức, kĩ năng

– Nắm được:

Khái niệm: giá trị văn học, tiếp nhận văn học, quá trình văn học, phong cách văn học và trào lưu văn học.

  • Nhận diện được:

+  Những giá trị cơ bản của văn học; mối quan hệ giữa các giá trị trong một tác phẩm văn học.

+ Ý nghĩa, quá trình và đặc điểm của quá trình tiếp nhận văn học. Có ý thức chủ động, tích cực trong hoạt động tiếp nhận văn học.

– Từ đó, học sinh có thể hình thành các năng lực sau:

+ Năng lực nhận diện các trào lưu văn học, phát hiện những biểu hiện của phong cách văn học.

+ Năng lực vận dụng những trí thức lí luận để khám phá giá trị văn học; biết so sánh các giá trị với các giá trị của những khoa học khác.

+ Năng lực vận dụng những tri thức lí luận để tiếp nhận văn học và tạo lập bản mới một cách tích cực và chủ động.

Bảng mô tả các mức độ đánh giá chủ đề Lí luận văn học (lớp 12) theo định hướng năng lực

 

Nhận biết Thông hiểu Vận dụng thấp Vận dụng cao
– Khái niệm: giá trị văn học, tiếp nhận văn học, quá trình văn học, phong cách văn học, trào lưu văn học…

– Liệt kê được các giá trị văn học, các trào lưu văn học.

– Mô tả các  đặc điểm cơ bản của giá trị văn học, tiếp nhận văn học, quá trình văn học, trào lưu văn học, phong cách văn học.

 

 

– Phân biệt giữa giá trị văn học và chức năng văn học; văn bản văn học và tác phẩm văn học; các loại phong cách văn học…

– Thấy được mối quan hệ của các giá trị văn học.

–  Nắm được vai trò, tính chất của quá trình tiếp nhận văn học…

– Hiểu được điều kiện để tiếp nhận văn học có hiệu quả; tầm quan trọng của phong cách nhà văn trong hoạt động sáng tác và tiến trình văn học…

– Lấy ví dụ minh họa làm rõ các khái niệm và đặc điểm…

 

 

 

–                   – Phân tích và chỉ ra được các giá trị văn học trong một tác phẩm cụ thể.

–                   – Nhận diện và lí giải được phong cách của nhà văn trên một văn bản cụ thể.

–                   – Phân biệt được các trào lưu văn học (văn học lãng mạn, văn học hiện thực 1930 – 1945…)

 

 

–                  Xác định được tính chất đa giá trị của văn học.

–                     Tự chủ, có quan điểm riêng, đánh giá giá trị của văn bản cụ thể, hoặc các hiện tượng tiếp nhận phức tạp.

– Bình luận, đánh giá những ý kiến, nhận định về các tác giả, tác phẩm đã học và đọc.

– Phát biểu những suy nghĩ, quan điểm cá nhân về các tác phẩm, các giá trị sống được gợi lên từ tác phẩm.

–                  Luận bàn, bày tỏ ý kiến cá nhân về giá trị văn học trong mối quan hệ với loại hình nghệ thuật và các hình thức giải trí khác.

–                   Vận dụng kiến thức tổng hợp (tiếp nhận và giá trị hiểu biết văn bản, văn học…) để viết được bài luận phê bình văn học nhỏ.

Loại câu hỏi/bài tập

Câu hỏi Định tính, Định lượng:
– Trắc nghiệm KQ (về quá trình văn học, phong cách văn học, trào lưu văn học, giá trị văn học, tiếp nhận văn học)

– Câu tự luận trả lời ngắn (lí giải, phát hiện, nhận xét, đánh giá,…)

– Phiếu quan sát làm việc nhóm (trao đổi, thảo luận về các tri thức lí luận văn học)

Bài tập:

– Bài nghị luận (giải thích, phân tích, chứng minh các vấn đề lí luận văn học) về giá trị văn học, tiếp nhận văn học, trào lưu văn học và phong cách văn học.

– Thuyết minh, thuyết trình về phong cách của một tác giả, một trào lưu văn học…

– Bài nghiên cứu, báo cáo khoa học thực hiện (theo nhóm hoặc cá nhân) về lịch sử tiếp nhận một tác phẩm, hoặc so sánh, đối chiếu phong cách, điểm chung, nét riêng của hai hay nhiều tác giả, tác phẩm cùng trào lưu, đề tài…

  • Câu hỏi/ Bài tập minh họa

Văn bản: Giá trị văn học và tiếp nhận văn học

Nhận biết Thông hiểu Vận dụng
Thấp Cao
–                  Trình bày khái niệm giá trị văn học?

–                  Nêu các giá trị cơ bản của văn học? Trình bày biểu hiện của từng giá trị? Lấy ví dụ?

 

–                  Tiếp nhận văn học là gì? Tính chất của tiếp nhận văn học? Có mấy cấp độ tiếp nhận văn học? Lấy ví dụ?

 

–                 Phân biệt các giá trị và chức năng văn học?

–                     –  Giải thích khái quát biểu hiện của từng giá trị? –  Chỉ ra mối quan hệ của các giá trị? Có người cho rằng “giá trị cao quí nhất của văn chương là nuôi dưỡng tâm hồn con người”, hay nói như Thạch Lam là “làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn”. Nói như vậy có đúng không? Vì sao?

–                     – Có ý kiến cho rằng: “các giá trị của văn học chỉ được thực hiện thông qua quá trình tiếp nhận văn học”. Đúng hay sai? Vì sao?

–                     – Theo anh/ chị làm thế nào để tiếp nhận văn học thực sự có hiệu quả?

–                      

–                   – Phân tích, chỉ ra các giá trị cơ bản của bài thơ Tây Tiến? (hoặc giá trị cơ bản của truyện ngắn Vợ chồng A Phủ)

–             Vẽ sơ đồ về quá trình tiếp nhận văn học?

–             Lấy một số ví dụ anh/ chị biết về tiếp nhận văn học có tính chất phức tạp? (Tây Tiến, người vợ nhặt trong Vợ nhặt, người đàn bà hàng chài trong Chiếc thuyền ngoài xa…)

–                  Có nhận định cho rằng “Văn học là hiện tượng đa giá trị”. Ý kiến của anh/ chị?

–                  Có ý kiến cho rằng “Người vợ nhặt trong tác phẩm cùng tên của Kim Lân là một người phụ nữ có nhiều tính nết gây mất thiện cảm”. Lại có ý kiến “Đó là một người phụ nữ đáng thương, có nhiều phẩm chất đáng quí”.

Từ hiểu biết của bản thân về nhân vật người vợ nhặt, anh/ chị hãy bình luận những  ý kiến trên.

 Xây dựng đề kiểm tra minh họa

  1. Mục đích và hình thức ra đề
  • Mục đích:

+ Kiểm tra, đánh giá việc nắm chuẩn kiến thức, kĩ năng về lí luận văn học lớp 12: giá trị và tiếp nhận văn học.

+ Rèn luyện các năng lực: nhận biết, thông hiểu, vận dụng…

  • Hình thức:

+ Tự luận và trắc nghiệm khách quan kết hợp

+ Thời gian: 120 phút

  1. Ma trận đề

THỜI GIAN LÀM BÀI : 120 PHÚT

 

Mức độ

 

Chủ đề

Nhận biết Thông hiểu Vận dụng Cộng
TN TL TN TL thấp cao  
Chủ đề 1: Các giá trị văn học Nhận biết biểu hiện của giá trị nhận thức, giáo dục thẩm mĩ. Nhận biết biểu hiện giá trị nhận thức, giá trị giáo dục của Tây Tiến qua một đoạn trích
Số câu 06 01
Số điểm 1.5 1.5
% 15% 15%
Chủ đề 2: Tiếp nhận văn học Nắm được tính chất, đặc điểm của tiếp nhận văn học Dùng kiến thức lí luận tiếp nhận để áp dụng nhận diện, lí giải hiện tượng đa chiều trong tiếp nhận tác phẩm Chí Phèo – Nêu  được quan điểm chính kiến

– Viết được một bài nghị luận văn học hoàn chỉnh , logic để bảo vệ quan điểm của mình về bi kịch của nhân vật Chí Phèo .

Số câu 01
Số điểm 7.0
% 70%

Đề kiểm tra

 Thời gian làm bài: 120 phút 

Phần I. Đọc – hiểu (3,0 điểm)

Dòng nào dưới đây không phải là giá trị cơ bản của văn học?

Giá trị khoa học.

Giá trị nghệ thuật.

Giá trị nhận thức.

Giá trị thẩm mĩ.

Dòng nào dưới đây không phải là phương thức tạo nên giá trị nghệ thuật của văn học?

Cách sử dụng ngôn ngữ của nhà văn.

Cách lựa chọn chi tiết, hình ảnh, phân tích tâm lí nhân vật… của nhà văn.

Cách lựa chọn phương tiện máy móc kĩ thuật để viết văn bản của nhà văn.

Cách xây dựng kết cấu tác phẩm của nhà văn.

Dòng nào dưới đây nêu đúng lĩnh vực tri thức mà văn học có thể cung cấp cho con người?

Sức bền vật liệu.

Trọng lượng trong không gian.

Tâm hồn con người.

Cấu trúc gen.

Khi nói đến các tư tưởng nhân đạo, lòng vị tha, tinh thần yêu chuộng công lí, yêu thương quê hương đất nước,…. trong tác phẩm, là đang đề cập trực tiếp đến giá trị nào sau đây của văn học?

Giá trị thẩm mĩ.

Giá trị nghệ thuật.

Giá trị giáo dục.

Giá trị nhận thức.

Khi nói đến cách sử dụng từ ngữ, gieo vần, cách ví von, ẩn dụ, cách trần thuật, gọi tên nhân vật,… trong tác phẩm đang đề cập trực tiếp đến giá trị nào sau đây của văn học?

Giá trị thẩm mĩ.

Giá trị nghệ thuật.

Giá trị giáo dục.

Giá trị nhận thức.

Khi nói đến kiến thức về đời sống mà văn học đem đến là ta đang đề cập trực tiếp đến giá trị nào sau đây của văn học?

Giá trị thẩm mĩ

Giá trị nghệ thuật.

Giá trị giáo dục.

Giá trị nhận thức.

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

                                    Quân xanh màu lá, dữ oai hùm

                                    Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

                                    Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

                                    Rải rác biên cương mồ viễn xứ

                                   Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

                                   Áo bào thay chiếu anh về đất

                                   Sông Mã gầm lên khúc độc hành

(Tây Tiến – Quang Dũng, Ngữ văn 12 , Tập một, NXB Giáo dục, Năm 2011, tr. 39).

Trình bày giá trị nhận thức và giá trị giáo dục của đoạn thơ trên (không quá 10 câu).

 

Phần II. Tự luận (7.0 điểm)

Đọc Chí Phèo của Nam Cao, có ý kiến cho rằng: “Bi kịch của Chí Phèo là bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người”, lại có ý kiến khẳng định: “Bi kịch của Chí Phèo, hơn thế, còn là bi kịch con người tự từ chối quyền làm người.”

  1. Vận dụng hiểu biết về tiếp nhận văn học, hãy lí giải hiện tượng trên (không quá 05 câu)
  2. Hãy viết một bài luận bày tỏ quan điểm cá nhân về bi kịch của nhân vật Chí Phèo

 

Hướng dẫn chấm

Phần I. Đọc – hiểu (3.0 điểm)

Câu 1. (0,25 điểm) Phương án A

Câu 2. (0,25 điểm) Phương án C

Câu 3. (0,25 điểm) Phương án C

Câu 4. (0,25 điểm) Phương án B

Câu 5. (0,25 điểm) Phương án B

Câu 6. (0,25 điểm) Phương án D

Câu 7 (1.5 điểm): Giá trị nhận thức và giáo dục của đoạn thơ trên.

  • Yêu cầu về kĩ năng: Biết viết một đoạn văn ngắn gọn, mạch lạc.
  • Yêu cầu về nội dung:
  1. Giá trị nhận thức (1.0 điểm)

–   Nhận thức về hiện thực cuộc kháng chiến chống Pháp.

–  Nhận thức về hiện thực cuộc sống của người lính Tây Tiến (Đời sống vật chất và tinh thần)

– Nhận thức về thái độ tình cảm của tác giả đối với người lính Tây Tiến…

  1. Giá trị giáo dục (0.5 điểm)

– Giáo dục tình cảm yêu nước

– Giáo dục tình cảm yêu mến, quí trọng người lính thời kì kháng chiến chống Pháp

 

Phần II. Làm văn (7.0 điểm)

Câu a. (1.0 điểm)

  1. Yêu cầu về kĩ năng.

– Biết tổ chức một đoạn văn.

– Không mắc lỗi chính tả dùng từ, đặt câu, diễn đạt.

  1. Yêu cầu về kiến thức
    • Hai ý kiến cùng bàn về bi kịch của nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao.
    • Điều này cho thấy tính chất đa dạng, không thống nhất trong tiếp nhận văn học, cùng một tác phẩm, một đối tượng nhưng cách thụ cảm, đánh giá của công chúng có thể rất khác nhau do sự khác biệt trong trình độ, kinh nghiệm sống, tuổi tác, tâm trạng khi tiếp nhận… Hơn nữa, nội dung các tác phẩm càng phong phú, hình tượng nghệ thuật càng phức tạp thì sự tiếp nhận của công chúng càng lắm hình nhiều vẻ.

Câu b. (6.0 điểm)

  1. Yêu cầu chung

–  Năng lực viết bài nghị luận văn học của thí sinh; đòi hỏi thí sinh phải huy động kiến thức về tác phẩm văn học, lí luận văn học, kĩ năng tạo lập văn bản và khả năng cảm thụ văn chương của mình để làm bài.

– Thí sinh có thể cảm nhận và kiến giải theo những cách khác nhau, nhưng phải có lí lẽ, có căn cứ xác đáng, không được thoát li văn bản tác phẩm.

  1. Yêu cầu cụ thể.

Giới thiệu tác giả tác phẩm

Giải thích

  • Bi kịch: nghĩa gốc, bi kịch là thể của loại hình kịch thường được coi như là đối lập với hài kịch. Từ nghĩa gốc trên, bi kịch còn dùng để chỉ một tình cảnh, một số phận éo le, trắc trở, đau thương. Khái niệm bi kịch được nói đến ở đây là hiểu theo nghĩa thứ hai này.
  • Bi kịch bị cử tuyệt quyền làm người: con người khao khát sống, khao khát “làm hòa” với mọi người, khao khát hạnh phúc nhưng bị xã hội và giai cấp thống trị cản trở, xô đẩy vào con đường cùng không lối thoát.
  • Bi kịch con người tự từ chối quyền làm người: con người khao khát sống, khao khát “làm hòa” với mọi người, khao khát hạnh phúc nhưng không đủ bản lĩnh, không đủ dũng khí khẳng định mình, vượt lên những định kiến của cộng đồng, cuối cùng rơi vào tuyệt vọng thậm chí rơi vào cái chết.

Bàn luận

Thí sinh có thể đồng tình với một trong hai ý kiến hoặc bổ sung, kết hợp giữa hai ý kiến để có cái nhìn đầy đủ, toàn diện về bi kịch của Chí Phèo, miễn là lí giải có sức thuyết phục. Sau đây là một số phương án, thí sinh có thể lựa chọn để giám khảo tham khảo.

Phương án 1. Bi kịch Chí Phèo là bi kịch bị cử tuyệt quyền làm người.

– Đây là quan niệm có tính truyền thống được nhiều người chấp nhận.

– Xã hội thực dân phong kiến tiếp tay cho bọn cường hào ác bá (Bá Kiến) đã đẩy Chí Phèo vào con đường tha hóa, trở thành quỷ dữ của làng Vũ Đại

– Xã hội ấy đã từ chối, cử tuyệt quyền làm người của Chí Phèo ngay cả khi Chí Phèo mong mỏi, khao khát được làm người lương thiện nhất

=> Xã hội thực dân phong kiến à bọn cường hào ác bá ở làng Vũ Đại không thể “vô can” trong việc đẩy Chí Phèo đến chỗ bi kịch, đến với cái chết.

Phương án 2. “Bi kịch Chí Phèo, hơn thế, còn là bi kịch con người tự từ chối quyền làm người.”

– Đây là ý kiến mới mẻ, có phần táo bạo khi nhìn nhận đánh giá về bi kịch số phận nhân vật Chí Phèo

– Ý kiến trên xuất phát từ dặc điểm phong cách thời đại . Thời đại Nam Cao, ý thức về con người cá nhân có điều kiện phát triển. Nam Cao thể hiện tinh thần thời đại đó bằng cách chỉ ra rằng; nếu qus lệ thuộc vào cộng đồng, con người sẽ tự thủ tiêu mình; và nếu cộng đồng can thiệp quá sâu vào đời sống cá nhân, nó sẽ hủy diệt cá nhân đó.

– Ý kiến trên xuất phát từ số phận nhân vật Chí Phèo

+ Số phận cô độc và nỗi sợ cô đơn

+ Cái chết của Chí Phèo và sự đuối về ý thức cá nhân

  • Ý kiến trên quả có cái nhìn sâu sắc về tấn bi kịch của người nông dân Chí Phèo. Rõ ràng Chí phải chịu trách nhiệm về bản thân.

Phương án 3:

  • Hoàn toàn đổ lỗi cho Chí Phèo là chỉ coi trọng nguyên nhân chủ quan, còn đổ tội cho xã hội lại là coi trọng nguyên nhân khách quan. Trong khi đó, nguyên nhân dẫn đến bi kịch và cái chết của Chí bao gồm cả chủ quan và khách quan, chỉ coi trọng một mặt nào đó cũng là phiến diện.
  • Viết về bi kịch người nông dân Chí Phèo, Nam Cao muốn đưa đến người đọc thông điệp; mỗi cá nhân phải chịu trách nhiệm về những hành vi của mình, mỗi người phải tự ý thức về cá nhân của mình. Điều đó thể hiện một quan niệm đấy đủ hơn, toàn diện hơn về con người, về giá trị của sự sống. Đó là những nhân tố mới mẻ, độc đáo trong chủ nghĩa nhân đạo của Nam Cao

Biểu điểm

+ Điểm 6 – 7: đáp ứng tốt các yêu câu trên, có thể còn vài sai sót về diễn đạt.

+ Điểm 4 – 5: đáp ứng phần lớn các yêu cầu trên, có thể còn một số sai sót về diễn đạt, chính tả.

+ Điểm 2 – 3: đáp ứng được một phần các yêu cầu trên, còn mắc nhiều lỗi về diễn đạt, chính tả.

+ Điểm 1; không đáp ứng được các yêu cầu trên, mắc nhiều lỗi về diễn đạt, chính tả.

+ Điểm 0: không làm bài

Tài liệu sưu tầm

Xem thêm :

  1. Giáo án Ngữ văn 10 
  2. Giáo án Ngữ văn 11
  3. Giáo án Ngữ văn 12

Đề thi chọn đổi tuyển học sinh giỏi quốc gia môn Văn tỉnh Thanh Hóa

Đề thi chọn đổi tuyển học sinh giỏi quốc gia môn Văn tỉnh Thanh Hóa :

Phải chăng, người muốn là mình mà không dám là mình thì dần dần có thể sẽ đánh mất mình?Cuộc sống được miêu tả trong văn xuôi không chứa đựng chất thơ sẽ trở thành thô thiển, thành một thứ chủ nghĩa tự nhiên không cánh, không thúc gọi, không dẫn dắt ta đi đâu cả.

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

THANH HÓA

 

ĐỀ CHÍNH THỨC

Số báo danh:

………………….

 

 

KỲ THI CHỌN ĐỘI TUYỂN DỰ THI HSG QUỐC GIA

NĂM HỌC 2014 – 2015

 

MÔN THI: NGỮ VĂN

Ngày thi: 10/10/2014

Thời gian: 180 phút (không kể thời gian giao đề)

(Đề gồm 02 câu, có 01 trang)

 

 

 

Câu 1 (8,0 điểm)

Phải chăng, người muốn là mình mà không dám là mình thì dần dần có thể sẽ đánh mất mình?

Câu 2 (12,0 điểm)

Nhà văn Nga K.Pau-tôp-xki cho rằng:

Cuộc sống được miêu tả trong văn xuôi không chứa đựng chất thơ sẽ trở thành thô thiển, thành một thứ chủ nghĩa tự nhiên không cánh, không thúc gọi, không dẫn dắt ta đi đâu cả.

Anh/chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Từ cảm nhận về một vài tác phẩm văn xuôi yêu thích, anh/chị hãy bình luận ý kiến trên.

……………………………………………HẾT………………………………………….

 

 

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

THANH HÓA

 

 

HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ THI CHỌN ĐỘI TUYỂN

HỌC SINH GIỎI QUỐC GIA LỚP 12 THPT                 

NĂM HỌC 2014 – 2015

 

MÔN THI: NGỮ VĂN

Ngày thi: 10/10/2014

 (Đáp án gồm có 04 trang)

 

 

Câu Ý Nội dung Điểm
1   Phải chăng, người muốn là mình mà không dám là mình thì dần dần có thể sẽ đánh mất mình? 8,0
Yêu cầu chung
– Câu này kiểm tra năng lực viết bài nghị luận xã hội của thí sinh; đòi hỏi thí sinh phải huy động những hiểu biết về đời sống xã hội, kĩ năng tạo lập văn bản và khả năng bày tỏ thái độ, chủ kiến của mình để làm bài.

– Thí sinh có thể làm bài theo nhiều cách khác nhau nhưng phải có lí lẽ và căn cứ xác đáng, được tự do bày tỏ quan niệm riêng của mình, nhưng phải có thái độ chân thành nghiêm túc, phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội.

Yêu cầu cụ thể
a. Giải thích 1,5
 

 

 

 

Muốn là mình: là khao khát thể hiện, bộc lộ và khẳng định bản thân.

Không dám là mình: là không đủ bản lĩnh, dũng khí và sự tự tin để thể hiện, bộc lộ và khẳng định mình.

Đánh mất mình: không còn là chính mình.

-> Câu hỏi đặt ra ở đề bài là băn khoăn về sự nguy hại của lối sống không dám là mình.

 

 

 

 

b. Luận bàn 5,0
Thí sinh có thể trình bày nhiều suy nghĩ khác nhau về vấn đề muốn là mình mà không dám là mình thì dần dần có thể sẽ đánh mất mình nhưng việc luận bàn cần hướng đến các phương diện sau:

– Khát khao được là mình, được sống với chính mình là nhu cầu cần thiết, chính đáng và là niềm hạnh phúc của con người. Tuy nhiên, không phải lúc nào, không phải ai cũng dám là mình.

– Chỉ ra các biểu hiện ở những dạng thức, mức độ khác nhau của lối sống không dám là mình.

– Cần lí giải được vì sao người muốn là mình mà không dám là mình.

– Có đúng là người muốn là mình mà không dám là mình thì dần dần có thể sẽ đánh mất mình không?

 

 

 

c. Bài học nhận thức và hành động 1,5
Từ luận bàn trên, thí sinh cần phải rút ra bài học nhận thức và hành động để thể hiện, khẳng định mình một cách chính đáng, để được sống là chính mình một cách có ý nghĩa.  
2   Cảm nhận về một vài tác phẩm văn xuôi yêu thích để bình luận ý kiến của nhà văn Nga K.Pau-tôp-xki 12,0
    Yêu cầu chung
  – Câu này kiểm tra năng lực viết bài nghị luận văn học của thí sinh; đòi hỏi thí sinh phải huy động kiến thức về lí luận văn học, tác phẩm văn học, kĩ năng tạo lập văn bản, khả năng cảm nhận văn chương của mình để làm bài.

– Thí sinh có thể cảm nhận và kiến giải theo những cách khác nhau, nhưng phải có lí lẽ, căn cứ xác đáng.

 

 

  Yêu cầu cụ thể
a. Giải thích ý kiến 3,0
  * Cắt nghĩa ý kiến:

Chất thơ: là chất trữ tình thể hiện ở việc bộc lộ tình cảm, cảm xúc bằng ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhạc điệu và sức biểu cảm.

Cuộc sống được miêu tả trong văn xuôi không chứa đựng chất thơ sẽ trở thành thô thiển: là một cuộc sống chân thực đến trần trụi, thô ráp.

Cuộc sống được miêu tả trong văn xuôi không chứa đựng chất thơ sẽ trở thành một thứ chủ nghĩa tự nhiên không cánh, không thúc gọi, không dẫn dắt ta đi đâu cả: là hiện thực phản ánh không mang tính định hướng, không có khả năng tác động đến tư tưởng, tâm hồn người đọc.

-> Bằng cách nói phủ định, ý kiến đã khẳng định ý nghĩa của chất thơ trong văn xuôi: chất thơ chính là đôi cánh nâng đỡ để cuộc sống được phản ánh vừa trở nên thi vị, trong sáng, giàu tính thẩm mĩ vừa thúc gọi, dẫn dắt, bồi đắp những tư tưởng, tình cảm nhân văn cho tâm hồn bạn đọc.

1,5
  * Lí giải ý kiến:

– Phương thức biểu đạt chủ yếu của văn xuôi là tự sự, nhà văn thường chú ý đến xây dựng cốt truyện, nhân vật, sự kiện, tình tiết, tình huống. Trong khi đó phương thức biểu đạt chủ yếu của thơ là biểu cảm, nhà thơ tập trung bộc lộ tiếng nói tâm hồn mình bằng vần điệu. Vậy nên, khi văn xuôi chứa đựng chất thơ sẽ tạo nên phong vị ngọt ngào, dễ lan thấm vào tâm hồn người đọc.

– Trong thực tế sáng tác, các nhà văn thường có xu hướng phối hợp, đan xen nhiều thể loại. Đưa chất thơ vượt biên giới thể loại sang văn xuôi chính là sự vận dụng kết hợp linh hoạt, sáng tạo nhiều phương thức biểu đạt của nhà văn.

1,5
b. Cảm nhận về một vài tác phẩm văn xuôi yêu thích 7,0
  Thí sinh được tự do lựa chọn một vài tác phẩm văn xuôi yêu thích để cảm nhận. Tuy nhiên đây không phải là cảm nhận toàn bộ tác phẩm mà cần tập trung hướng sự cảm nhận vào hai phương diện:

– Chỉ ra được biểu hiện của chất thơ trong tác phẩm trên cả nội dung và hình thức nghệ thuật.

– Phân tích được ý nghĩa của chất thơ trong việc phản ánh hiện thực ở tác phẩm văn xuôi trên hai khía cạnh:

+ Thứ nhất, làm cho cuộc sống trong trang văn trở nên thi vị, trong sáng, vút cao.

+ Thứ hai, khiến hiện thực đó có thể định hướng, dẫn dắt tâm hồn người đọc.

 

 

 

 

3,0

 

4,0

c. Bình luận ý kiến 2,0
  – Khẳng định câu nói của nhà văn Nga K.Pau-tôp-xki là sự đề cao, đánh giá ý nghĩa của chất thơ trong văn xuôi. Đồng thời cũng là sự chia sẻ kinh nghiệm quý giá của một nhà văn đã không ngừng lao động sáng tạo viết nên những áng văn xuôi đẹp, thấm đẫm chất thơ.

– Đây cũng chính là sự gợi nhắc, cổ vũ cho người cầm bút vận dụng kết hợp nhiều phương thức biểu đạt để mong có được những tác phẩm văn chương giá trị.

– Đưa chất thơ vào trong văn xuôi không có nghĩa là nhà văn thoát li hiện thực cuộc sống, tô hồng và thi vị hóa cuộc sống.

Lưu ý chung

1. Đây là đáp án mở, thang điểm không quy định chi tiết đối với từng ý nhỏ, chỉ nêu mức điểm của phần nội dung lớn nhất thiết phải có.

2. Chỉ cho điểm tối đa theo thang điểm với những bài viết đáp ứng đầy đủ những yêu cầu đã nêu mỗi câu, đồng thời phải được triển khai chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, có cảm xúc.

3. Khuyến khích những bài viết có sáng tạo. Chấp nhận bài viết không giống đáp án, có những ý ngoài đáp án nhưng phải có căn cứ xác đáng và lí lẽ thuyết phục.

4. Không cho điểm cao đối với những bài chỉ nêu chung chung, sáo rỗng.

5. Cần trừ điểm đối với những lỗi về hành văn, ngữ pháp và chính tả.

 …………………………………………..HẾT…………………………………………..

Xem thêm : Tuyển tập đề thi học sinh giỏi môn Văn

 

Đề thi học sinh giỏi : Vấn đề cá tính sáng tạo của Thạch Lam và Nam Cao

Đề thi học sinh giỏi : Vấn đề cá tính sáng tạo của Thạch Lam và Nam Cao

Đề bài : Có ý kiến cho rằng : “Mỗi nhà văn là một thế giới, nhà văn này không thể thay thế cho nhà văn kia. Cho nên mỗi nhà văn bằng tài năng và cá tính sáng tạo của mình đều có thể trực tiếp đóng góp cho sự phong phú và đa dạng của một nền văn học”.

Anh (chị) hiểu gì về ý kiến trên? Lấy dẫn chứng minh hoạ từ truyện ngắn của Thạch Lam và Nam Cao.

Định hướng cách giải quyết:

  1. Giải thích nhận định:

Nhận định đề cập đến sự đóng góp của mỗi nhà văn cho nền văn học bằng tài năng và cá tính sáng tạo của họ – thực chất là vấn đề phong cách của nhà văn.

  1. Bàn luận :

– Sáng tạo VH là hoạt động tinh thần mang tính cá thể hoá cao độ. Mỗi nhà văn với quan niệm riêng, với con mắt nhìn đời riêng sẽ có cách thể hiện riêng bằng những phương tiện nghệ thuật phù hợp để ghi dấu ấn của mình trong cuộc đời. Đây là khát vọng chân chính của nghệ sĩ.

– Để làm được điều đó nhà văn phải có tài năng, có văn hoá, có tư tưởng nghệ thuật độc đáo và có bản lĩnh trước cuộc đời.

  1. Chứng minh :

3.1. Điểm gặp gỡ trong cây bút truyện ngắn của Thạch Lam và Nam Cao : đây là cây bút truyện ngắn xuất sắc, nổi bật của văn học giai đoạn 1930 – 1945. Truyện ngắn của họ có những đặc điểm chung như :

– Cốt truyện mỏng hoặc không có cốt truyện

– Chú trọng khai thác, miêu tả tâm lí nhân vật

3.2. Những đóng góp riêng :

* Thế giới nhân vật :

– Nhân vật của Thạch Lam có tâm hồn rất mực nhân hậu, cảm thông đến đau đớn, xót xa trước số phận những hạng người nhỏ bé trong XH, những con người hiền lành, tốt bụng, phải sống kiếp sống cực nhọc và nhất là vô danh, vô nghĩa, không hạnh phúc, ánh sáng, tương lai – những cuộc đời bị bỏ quên ở một xó xỉnh tối tăm nào đó, bị chôn vùi trong khung cảnh buồn bã, ngưng đọng, tương lai mù mịt; đối tượng được ông đặc biệt chú ý là phụ nữ và trẻ em. Ý thức cá nhân thức tỉnh sâu sắc mới thấy hết nỗi đau buồn, thậm chí hoảng sợ trước tình trạng mỗi cá nhân không được sống thật sự cuộc sống có ý nghĩa.

– Nhân vật của Nam Cao: chủ yếu là người nông dân nghèo và người trí thức nghèo. Nhân vật thường mang những xung đột nội tâm gay gắt.

* Cách miêu tả và biểu hiện :

– Thạch Lam : khai thác tinh tế thế giới nội tâm nhân vật với những cảm xúc mơ hồ, mong manh, tinh tế.

– Nam Cao nhìn đời, nhìn người bằng đôi mắt hiện thực sắc sảo, nghiêm ngặt, bằng đôi mắt của tình thương và lòng vị tha. Ông thường xuyên băn khoăn, day dứt về vấn đề nhân phẩm, nhân cách con người; phát hiện và miêu tả tâm lí thông qua cái hàng ngày, từ đó đưa ra những triết lí thâm trầm.

* Ngôn ngữ:

– Thạch Lam: bàng bạc chất thơ

– Nam Cao: đa thanh, đối thoại

(Cần phân tích dẫn chứng cụ thể trong truyện ngắn của hai nhà văn)

  1. Nguyên nhân dẫn đến sự giống nhau, khác nhau: do hoàn cảnh lịch sử, môi trường sống, phong cách nhà văn…
  2. Đánh giá: đóng góp của Thạch Lam, Nam Cao đã góp phần trong việc tạo nên sự phong phú, đa dạng cho văn học, đặc biệt cho truyện ngắn Việt Nam ngày càng được hoàn thiện hơn, hiện đại hơn, hấp dẫn hơn.

Xem thêm :

Đề thi học sinh giỏi : Chứng minh nhận định"Âm điệu là cỗ xe chuyên chở điệu hồn thi phẩm"

Nghĩ về thơ, thi sĩ Hoàng Cầm từng khẳng định:

Âm điệu là cỗ xe chuyên chở điệu hồn thi phẩm.

          Hãy lắng nghe âm điệu ấy trong một số bài thơ mà anh/chị tâm đắc.

Yêu cầu chung
– Câu này kiểm tra năng lực viết bài nghị luận văn học của thí sinh; đòi hỏi thí sinh phải huy động kiến thức về lí luận văn học, tác phẩm văn học, kĩ năng tạo lập văn bản, khả năng cảm nhận văn chương của mình để làm bài.
– Thí sinh có thể cảm nhận và kiến giải theo những cách khác nhau, nhưng phải có lí lẽ, căn cứ xác đáng.
Yêu cầu cụ thể
Giải thích ý kiến
* Cắt nghĩa ý kiến:
– Âm điệu: là sự hòa điệu giữa cảm xúc thơ và tiết điệu ngôn ngữ, là dạng thức hết sức vi diệu của điệu hồn trong thơ. Cảm xúc được gợi ra từ nghệ thuật tổ chức các yếu tố: thể thơ, nhịp điệu, thanh điệu, vần điệu, giọng điệu…
– Điệu hồn: chiều sâu xúc cảm, tinh thần của bài thơ.
=> Bằng cách nói khẳng định “chuyên chở”, Hoàng Cầm đã nhấn mạnh vai trò của của âm điệu trong thơ. Đây là phương tiện đắc lực trong việc thể hiện cảm xúc và linh hồn của bài thơ, cảm xúc hóa thân trong âm điệu thơ.
* Lí giải ý kiến:
– Đặc trưng của thơ là trữ tình, nghiêng về biểu hiện thế giới chủ quan của con người với trạng thái tình cảm, rung động (thơ là tiếng lòng, là rung cảm mãnh liệt của nhà thơ trước cuộc sống)
– Nội dung cảm xúc trong thơ được thể hiện qua cách tổ chức ngôn từ đặc biệt, hàm súc, giàu nhạc tính, cụ thể các yếu tố: thể thơ, nhịp điệu, vần điệu, thanh điệu, giọng điệu… Đọc thơ, cảm được âm điệu coi như đã nhập được vào hồn thơ, chạm vào được “cõi thơ” thực sự.
Trong thực tế, có rất nhiều bài thơ mà sức hấp dẫn, sức sống của nó trong lòng người đọc bắt đầu từ âm điệu.
Lắng nghe âm điệu trong một số bài thơ tâm đắc
Thí sinh được tự do lựa chọn một vài thi phẩm mình tâm đắc để cảm nhận. Tuy nhiên cần tập trung vào những vấn đề chính sau:
– Các dấu hiệu nghệ thuật thuộc âm điệu bài thơ: từ thể thơ đến thanh điệu, nhịp điệu, vần điệu, giọng điệu, khoảng lặng ngôn từ… Mỗi thi phẩm có một âm điệu riêng với cách tổ chức các yếu tố nghệ thuật đó một cách đặc biệt.
– Cảm nhận rõ ý nghĩa của âm điệu trong việc bộc lộ cảm xúc, chiều sâu tư tưởng của thi phẩm:
+ Tạo nên sự hấp dẫn cho bài thơ về mặt nghệ thuật, đặc biệt là âm vang của lời thơ.
+ Dẫn dắt, hòa điệu tâm hồn người đọc vào thế giới cảm xúc lắng sâu cùng điệu hồn thi phẩm.
Bình luận ý kiến
– Ý kiến của thi sĩ Hoàng Cầm giúp ta nhận thức sâu sắc vai trò của âm điệu trong thơ. Chỉ khi bài thơ là kết quả của sự rung động mãnh liệt và sự sáng tạo độc đáo trong cách tổ chức ngôn từ thì âm điệu thơ mới trở nên ngân vang. Như thế, âm điệu đã trở thành tín hiệu thẩm mĩ quan trọng của bài thơ.
– Ý kiến ấy không chỉ có ý nghĩa với người sáng tác mà còn là sự định hướng, gợi mở cho người tiếp nhận, đọc thơ, cần “lấy hồn tôi để hiểu hồn người”, cần nắm bắt âm điệu thơ để đến được điệu hồn thi phẩm.
– Từ phương diện âm điệu, có thể thấy được thực tài, thực tâm của người nghệ sĩ, đó cũng là một yêu cầu để thi phẩm có sức sống lâu bền trong lòng người đọc.

Xem thêm :

Đề thi học sinh giỏi : Chức năng của văn chương đối với cuộc sống

Bàn về văn học, Thanh Thảo cho rằng:

Văn chương giúp ta trải nghiệm cuộc sống ở những tầng mức và những chiều sâu đáng kinh ngạc. Nó giúp con người sống “ra người” hơn, sống tốt hơn, nếu ta biết tìm trong mỗi quyển sách những vệt sáng, những nguồn sáng soi rọi vào những góc khuất của cuộc đời và của con người.

(Theo Nhà văn nói về môn VănVăn học và tuổi trẻ – NXB GD, 2015)

Anh/chị hiểu ý kiến trên như thế nào, bằng việc tìm hiểu một số truyện ngắn hiện đại, hãy làm sáng tỏ.

HƯỚNG DẪN :

Yêu cầu chung
– Câu này kiểm tra năng lực viết bài nghị luận văn học của thí sinh; đòi hỏi thí sinh phải huy động kiến thức về lí luận văn học, tác phẩm văn học, kĩ năng tạo lập văn bản, khả năng cảm nhận văn chương của mình để làm bài.
– Thí sinh có thể cảm nhận và kiến giải theo những cách khác nhau, nhưng phải có lí lẽ, căn cứ xác đáng.
Yêu cầu cụ thể
1. Giải thích ý kiến
* Cắt nghĩa ý kiến:
– Văn chương: là loại hình nghệ thuật bao gồm các sáng tác dùng ngôn từ nghệ thuật để phản ánh cuộc sống con người.
– Văn chương giúp ta trải nghiệm cuộc sống ở những tầng mức và những chiều sâu đáng kinh ngạc: văn chương thầm lặng đem đến cho người đọc những trải nghiệm mà một cuộc đời khó lòng thấu trải hết. Nó giúp người đọc thỏa mãn nhu cầu nếm trải sự sống muôn hình vạn trạng. Đến với văn học, ta không chỉ khám phá, nhận thức hiện thực mà còn cảm nhận, hiểu biết tư tưởng, tình cảm, ước mơ, khát vọng của nhân loại và chính mình.
– Nó giúp con người sống “ra người” hơn, sống tốt hơn, nếu ta biết tìm trong mỗi quyển sách những vệt sáng, những nguồn sáng soi rọi vào những góc khuất của cuộc đời và của con người:
+ nếu ta biết tìm trong mỗi quyển sách những vệt sáng, những nguồn sáng soi rọi vào những góc khuất của cuộc đời và của con người:
(+) vệt sáng, nguồn sáng soi rọi vào những góc khuất của cuộc đời và của con người: sự phát hiện của nhà văn về những vẻ đẹp tiềm ẩn bên trong thế giới tâm hồn con người, có tác động tích cực đối với con người, cuộc đời. Người đọc sẽ nhận ra ý nghĩa của văn chương với tâm hồn mình từ chính điều này.
(+) Nếu người đọc chủ động tìm kiếm cái đẹp ẩn kín, tiềm tàng cũng như nhận ra sự thể hiện những vẻ đẹp sâu thẳm trong hình tượng nghệ thuật ở tác phẩm thì sẽ nhận ra được những thông điệp thẩm mĩ sâu xa.
+ Nó giúp con người sống “ra người” hơn, sống tốt hơn: tác phẩm văn học đem lại cho con người niềm vui trong sáng, thánh thiện, làm nảy nở trong tâm hồn ta những xúc cảm cao đẹp, hướng ta đến những phẩm chất tốt đẹp mang tính nhân văn.
* Lí giải ý kiến:
– Văn học nghệ thuật phản ánh cuộc sống một cách tổng hợp, toàn vẹn trong mọi quan hệ đa dạng, phức tạp, tập trung khám phá chiều sâu khôn cùng của tâm hồn con người.
– Văn học có sứ mệnh cao cả bởi tác động sâu sắc tới đời sống tinh thần con người: văn học làm giàu thêm nhận thức của con người về thế giới xung quanh, về chính bản thân mình; văn học bồi đắp, nâng đỡ, thanh lọc tâm hồn con người -> khiến con người trở nên hoàn thiện, người hơn, sống tốt hơn.
– Văn học luôn đồng hành với nhân loại, có vị trí không thể thay thế được trong đời sống của con người.
2. Làm sáng tỏ ý kiến bằng việc tìm hiểu một số truyện ngắn hiện đại trước 1945
Thí sinh được tự do lựa chọn một vài truyện ngắn hiện đại mà mình yêu thích để thấu hiểu vấn đề. Tuy nhiên, đây không phải là cảm nhận toàn bộ tác phẩm mà cần tập trung vào hai phương diện:
– Chỉ ra các thông điệp nghệ thuật, những trải nghiệm về cuộc sống, số phận, nhân cách hay chiều sâu tâm hồn con người trong tác phẩm. Từ tác phẩm, khám phá những điều mới mẻ trong cái bình thường, phát hiện chân lí sâu xa trong những điều giản dị.
– Từ việc phát hiện cái Đẹp sâu xa của nội dung tác phẩm ở những vệt sáng, nguồn sáng soi rọi vào những góc khuất của nhân vật, hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm mà nhận ra giá trị nâng đỡ, thanh lọc tâm hồn con người của tác phẩm. Đó cũng chính là sứ mệnh cao cả muôn đời của văn chương nghệ thuật.
Bình luận ý kiến
– Ý kiến là lời tâm sự, chia sẻ của một người cầm bút luôn yêu quý và trân trọng văn chương, chỉ ra sứ mệnh cao cả của văn chương với con người.
– Ý kiến là định hướng để người đọc tìm hiểu, tiếp cận tác phẩm trong chiều sâu tư tưởng của nó.
– Bồi dưỡng tình yêu, niềm say mê văn học nói riêng, tình nhân ái, tư tưởng sống đẹp cho bạn đọc nói chung.

Xem thêm :Tuyển tập đề thi học sinh giỏi môn văn

Đề thi học sinh giỏi : Chứng minh hai nhận định về thơ lớp 12

Đề thi học sinh giỏi : Chứng minh hai nhận định về thơ lớp 12

Trong Nhân giai từ thoại, Vương Quốc Duy, nhà thơ đời Thanh của Trung Quốc, có đưa ra nhận định:

“Nhà thơ, đối với vũ trụ nhân sinh, nên bước vào bên trong, mà lại nên đi ra bên ngoài. Bước vào bên trong mới có thể viết được. Đi ra bên ngoài mới có thể quan sát được. Bước vào bên trong mới có sinh khí. Đi ra bên ngoài mới đạt cao siêu”.

(Lí luận văn học nghệ thuật cổ điển Trung Quốc- Khâu Chấn Thanh (Mai Xuân Hải dịch), NXB Văn học, 2001, trang 67).

Và trong Nghĩ về thơ, nghĩ về thơ, nghĩ…in trong tập Đối thoại mới (1973), Chế Lan Viên Viết:

“Mỗi câu thơ là một lần lặn vào trang giấy

Lặn vào cuộc đời

Rồi lại ngoi lên”.

Từ hai ý kiến trên, hãy cho biết suy nghĩ của anh/chị về mối quan hệ giữa sự “bước vào’, “bước ra”, “lặn vào”, “ngoi lên” trong sáng tạo văn học và hiện thực đời sống thông qua phân tích một tác phẩm thơ trong chương trình Ngữ văn lớp 12.

Gợi ý:

Yêu cầu chung: Đề bài này đề cập đến vấn đề cơ bản trong lí luận văn học là mối quan hệ giữa sáng tạo nghệ thuật và hiện thực đời sống thông qua hai nhận định của Vương Quốc Duy và Chế Lan Viên. Vì vậy, trong khi trình bày những vấn đề lí thuyết, học sinh phải bám sát hai nhận định, thực hiện thao tác giải thích và phân tích để bàn luận, đồng thời phân tích một vài tác phẩm thơ lớp 12 để làm sáng tỏ các luận điểm.

Yêu cầu cụ thể

1/ Đặt vấn đề:

– Hai ý kiến đều đề cập đến mối quan hệ giữa sáng tạo nghệ thuật và hiện thực đời sống .

2/ Giải quyết vấn đề:

a/ Giải thích nhận định

– Trong quá trình sáng tạo, nghệ sĩ phải “bước vào”. “lặn vào” để “say”, để trải nghiệm, thẩm thấu, chiếm lĩnh hiện thực, nhưng đồng thời cũng phải biết “bước ra”, “ngoi lên” để tạo một độ lùi, một sự gián cách với đối tượng phản ánh để “tỉnh”, để chiêm nghiệm, khám phá hiện thực dưới nhiều góc độ và mang tính khái quát cao hơn.

– Văn học là một hình thái ý thức xã hội, luôn láy hiện thực đời sống làm đối tượng và chất liệu phản ánh. Hai ý kiến đề cập đến động thái của người nghệ sĩ với hiện thực đời sống trong quá trình sáng tạo. Người nghệ sĩ phải thâm nhập để thấu hiểu hiện thực, đồng thời cũng phải biết vượt lên hiện thực để chiêm nghiện.

b/ Phân tích vấn đề

– Hiện thực là nguồn gốc của nhận thức, của ý thức, là mảnh đất dồi dào, màu mỡ của nghệ thuật. Văn học bao giờ cũng là sự nhận thức và phản ánh hiện thực.

– Nhà văn muốn phản ánh hiện thực một cách sâu sắc thì phải “bước vào”, “lặn vào” hiện thực để thâm nhập vào đối tượng một cách tuyệt đối cả trên bề rộng lẫn chiều sâu. Đời sống bao giờ cũng phức tạp, đa chiều và luôn biến chuyển, nhà văn phải trải nghiệm thì mới có vốn sống, mới hiểu sâu vào đời sống để sáng tác.

– Tuy nhiên, không chỉ đắm mình trong thế giới hiện thực để khai thác chất liệu đời sống, người nghệ sĩ phải biết “bước ra”, “ngoi lên” khỏi môi trường chất liệu ấy, dùng chính lí trí và cảm xúc, cái say và cái tỉnh của mình để quan sát, soi ngắm một cách kỹ lưỡng, thấu suốt để khám phá mọi ngóc ngách, mọi giá trị của hiện thực, đồng thời, khái quát hoá lên tầm triết lí, tầm tư tưởng để đạt ngưỡng “cao siêu”.

– “Bước vào” là để thâm nhập vào nhân quần, “bước ra” là dùng chính bản thể sáng tạo độc đáo của người nghệ sĩ để chiêm nghiệm nhân quần ấy. Vì vậy, nhận định còn cho thấy vai trò của cá nhân người nghệ sĩ đối với hiện thực được tái hiện. Đó là quá trình chuyển hoá cái khách quan thành cái chủ quan, đưa khách thể vào cái nhìn của chủ thể. như vậy, sự phản ánh mới sâu sắc và có giá trị về mặt tư tưởng.

Lưu ý: Trong quá trình phân tích, học sinh phải dùng tác phẩm theo yêu cầu của đề để chứng minh.

c/ Đánh giá vấn đề

– Hai ý kiến đặt ra những vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với người cầm bút.

– Hai nhận định này không chỉ miêu tả quá trình, trạng thái sáng tạo mà còn thể hiện phương pháp và ý thức sáng tạo của người nghệ sĩ.

3/ Kết thúc vấn đề

– Khẳng định mối quan hệ giữa văn học và hiện thực -một mối quan hệ tất yếu giữa cái phản ánh và cái được phản ánh- sẽ góp phần làm nên sức sống vững bền của tác phẩm cũng như tên tuổi của người nghệ sĩ.

Xem thêm : Tuyển tập đề thi học sinh giỏi môn văn

Đề thi học sinh giỏi : Chứng minh hai nhận định về thơ

Có ý kiến cho rằng ngôn ngữ thơ phải giản dị. Ý kiến khác lại nhấn mạnh làm thơ là cần một  phần nghìn miligam quặng chữ. Quan điểm của em về vấn đề này?

Gợi ý:

Chọn một trong hai câu:“Vạt áo của triệu nhà thơ không bọc hết vàng mà đời rơi vãi/  Hãy nhặt lấy chữ của đời mà góp nên trang.” hay “Nhà thơ như con ong biến trăm hoa thành mật ngọt/ Một mật ngọt thành đòi vạn chuyến ong bay” (Chế Lan Viên) để dẫn dắt theo định hướng đề (mở bài gián tiếp).

1/ Ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên của tác phẩm văn học (Goorki). Etmông Fabex nói: “Chữ bầu lên nhà thơ”. Ngôn ngữ trong văn học giống như màu sắc trong hội họa, âm thanh trong âm nhạc. Trong sự lao động của nhà văn có sự lao động về ngôn ngữ, trong sự giày vò của sáng tạo nghệ thuật có sự giày vò về ngôn từ. Thành công của tác phẩm một phần lớn là nhờ khả năng ngôn ngữ của tác giả.

2/ Ngôn ngữ thơ giản dị là ngôn ngữ thơ giống như ngôn ngữ hằng ngày của đời sống nhân dân.

Vì sao ngôn ngữ thơ phải giản dị:

– Thơ tồn tại như sự minh chứng cho sức sống của ngôn ngữ dân tộc. Một đất nước yêu thơ ca chứng tỏ quốc gia ấy có tâm hồn lành mạnh, sâu sắc và tinh tế. Chưa có dân tộc nào chối bỏ hay hạ thấp các nhà thơ chân chính, những người biết tôn vinh và chia sẻ với tổ quốc, đồng bào mình bằng thi ca.

– Cũng không ai đánh giá, ghi nhận, xếp hạng nhà thơ chính xác, công bằng và sòng phẳng như đông đảo quần chúng nhân dân. Họ đọc thơ bằng trái tim và sự chiêm nghiệm, từng trải cuộc sống, bằng những linh cảm bản năng, bằng lòng yêu không gì có thể thay thế được với tiếng nói mẹ đẻ.

– Với các thi sĩ chúng ta, tôi nghĩ, làm thơ, trước hết là để đi vào thẳm sâu hay bay cao trong cõi ngôn ngữ Việt. Sau đó mới là giao lưu, hội nhập với bè bạn bốn phương. Khó đạt tới sự thấu tỏ tuyệt đối về cảm xúc và ý tứ, về những lung linh của con chữ, về tiết tấu nhịp điệu mang dấu ấn văn hóa, lịch sử, phong tục, thói quen bản địa khi đọc thơ không nguyên văn ngôn ngữ nguồn cội của thi sĩ. Thơ không chỉ có nghĩa mà chủ yếu phải là tình, là hồn, những khái niệm ai cũng biết nhưng lý giải một cách thấu triệt và sâu sắc là vô cùng khó. Trong thơ có hơi thở, hồn vía của dân tộc mình, đồng bào mình. Nó chính là cái thấm sâu nhất, lâu nhất và đương nhiên chi phối nhiều hơn cả trong hành trình sáng tạo của người cầm bút.

– Các nhà thơ đích thực ít ai không khởi đầu và đề cao chất truyền thống trong sáng tác thi ca, trong đó có việc sử dụng ngôn ngữ. Nhà văn không biết đến văn học dân gian là nhà văn tồi (M.Goorki)

(dẫn chứng)

3/ Nhưng làm thơ còn là cần một phần nghìn mili gam quặng chữ: ngôn ngữ thơ ca phải tinh luyện, mang dấu ấn sáng tạo riêng của người nghệ sĩ.

  • Vì sao ngôn ngữ thơ ca cần sáng tạo, tinh luyện:

+ Vì đặc trưng của ngôn ngữ thơ: hàm súc, cảm xúc, hình tượng (khác với văn xuôi).

+ Vì yêu cầu mỗi nhà thơ thứ thiệt cần có một vân chữ / không trộn lẫn (Lê Đạt).

+ Vì căn cứ vào đối tượng miêu tả, nội dung bài thơ và ý tưởng nghệ thuật của nhà thơ=> lựa chọn ngôn ngữ phù hợp.

(Dẫn chứng- lựa chọn những từ đắt, hay trong một số bài thơ để phân tích. Ý này cần làm rõ hơn ý ngôn ngữ thơ giản dị.)

4/ Đánh giá

  • Hai ý kiến bổ sung cho nhau.

– Việc sử dụng lựa chọn ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên quyết định thành công của mỗi tác phẩm.

– Bên cạnh ngôn ngữ hay, độc đáo bài thơ cần có nội dung sâu sắc và ý nghĩa được diễn đạt những qua ngôn ngữ đó.

– Bài học với người sáng tao: lựa chọn và sáng tạo ngôn ngữ phù hợp, sáng tạo trong sự kế thừa và cách tân.

– Bài học cho người tiếp nhận: tìm hiểu thơ bắt đầu từ việc tiếp cận ngôn ngữ văn bản, bám vào đặc trưng của thơ, phong cách nghệ thuật nhà thơ để thấy đóng góp riêng trong sử dụng từ ngữ của người nghệ sĩ ngôn từ.

Xem thêm : Tuyển tập đề thi học sinh giỏi môn văn