Đề đọc hiểu đoạn đối thoại giữa Hồn Trương Ba và xác hàng thịt

Bộ đề đọc hiểu luyện thi THPT Quốc gia , dành cho  học sinh lớp 12

Đề đọc hiểu đoạn đối thoại giữa Hồn Trương Ba và xác hàng thịt

Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi :

«… HỒN TRƯƠNG BA : (sau một lát) Ông Đế Thích ạ, tôi không thể tiếp tục mang thân anh hàng thịt được nữa, không thể được !

ĐẾ THÍCH : Sao thế ? Có gì không ổn đâu !

HỒN TRƯƠNG BA : Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn.

ĐẾ THÍCH : Thế ông ngỡ tất cả mọi người đều được là mình toàn vẹn cả ư ? Ngay cả tôi đây. Ở bên ngoài, tôi đâu có được sống theo những điều tôi nghĩ bên trong. Mà cả Ngọc Hoàng nữa, chính người lắm khi cũng phải khuôn ép mình cho xứng với danh vị Ngọc Hoàng. Dưới đất, trên trời đều thế cả, nữa là ông. Ông đã bị gạch tên khỏi sổ Nam Tào. Thân thể thật của ông đã tan rữa trong bùn đất, còn chút hình thù gì của ông đâu !

HỒN TRƯƠNG BA : Sống nhờ vào đồ đạc, của cải người khác, đã là chuyện không nên, đằng này đến cái thân tôi cũng phải sống nhờ anh hàng thịt. Ông chỉ nghĩ đơn giản là cho tôi sống, nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết !… »

(Trích Hồn Trương Ba, da hàng thịt – Lưu Quang Vũ)

 Câu 1 : Hoàn cảnh nào dẫn đến đoạn hội thoại trên ?

Câu 2 : « Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn. »

Các câu văn trong lời thoại trên, phân loại theo mục đích nói là kiểu câu gì, được dùng với mục đích nào ?

Câu 3 : Hãy ghi lại 2 lời thoại trong đoạn trích trên thể hiện rõ nhất quan niệm của Hồn Trương Ba về ý nghĩa sự sống. Anh (chị) hiểu gì về quan niệm ấy ?

Câu 4 :  Trong những trường hợp sau đây đâu là biểu hiện của lối sống « bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo » ?

  1. Trong thâm tâm, ta coi thường, khinh ghét một người nào đó nhưng buộc phải nói cười, vồn vã, tay bắt mặt mừng
  2. Có khi bản tính mình sôi nổi, tinh nghịch nhưng buộc phải “đóng vai” hiền hậu, nết na
  3. Khi đứng trước một sự việc, một hiện tượng – mình có cách nhìn nhận, đánh giá khác hẳn mọi người nhưng ngại va chạm này nọ nên đành tỏ thái độ đồng tình
  4. Cả A, B, C.

ĐÁP ÁN

Câu 1: Đoạn văn là đối thoại của Hồn Trương Ba với Đế Thích trong hoàn cảnh : Sau một thời gian sống trong thân xác anh hàng thịt, hồn Trương Ba cảm thấy vô cùng đau khổ, bế tắc khi phải rơi vào bi kịch. Ông quyết định châm hương gọi Đế Thích để bày tỏ quan niệm sống của mình.

   Câu 2 :

« Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn. »

Các câu văn trong lời thoại trên, phân loại theo mục đích nói là kiểu câu tường thuật, được dùng với mục đích cầu khiến.

   Câu 3 :

Ghi lại đúng 2 câu bày tỏ rõ nhất quan niệm của Hồn Trương Ba về ý nghĩa sự sống và hiểu đúng ý nghĩa của quan niệm ấy. Cụ thể :

–  Lời thoại Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn  có ý nghĩa  triết lí sâu sắc về sự sống: con người là một thể thống nhất, tâm hồn và thể xác phải hài hoà, được sống đúng là mình, sống thực với con người mình là một nhu cầu, một quyền lợi thiêng liêng, là khát vọng cao đẹp của con người.

– Lời thoại Ông chỉ nghĩ đơn giản là cho tôi sống nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết: sống hay không sống không phải là vấn đề mà quan trọng là sống như thế nào, sống ra sao, sống có ý nghĩa hay không. Sống thực sự cho ra con người là điều không dễ dàng. Khi sống nhờ, sống gửi, sống không phải là mình thì cuộc sống ấy thật là vô nghĩa, còn khổ hơn là cái chết.

–  Hai lời thoại làm rõ tình cảnh trớ trêu, bi kịch của  hồnTrương Ba trong sự tự ý thức của nhân vật, góp phần tô đậm chủ đề tác phẩm: được sống làm người là quý giá nhưng được sống là chính mình, sống trọn vẹn, hài hòa giữa thể xác và tâm hồn còn quý giá hơn nhiều.

Câu 4 : phương án D.

Xem thêm : Đề đọc hiểu văn bản ngữ văn 12 có đáp án

Hồn Trương Ba da hàng thịt

Phân tích bi kịch và khát vọng của Trương Ba qua lời thoại với Đế Thích

Ôn thi THPT Quốc gia môn văn. Hướng dẫn ôn tập bài Hồn Trương Ba da hàng thịt.

Đề bài :

Trong cuộc trò chuyện giữa Hồn Trương Ba và Đế Thích, nhân vật Hồn Trương Ba nói  « không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn ». Anh(chị) hãy phân tích tính bi kịch và khát vọng của nhân vật Hồn Trương Ba trong trích đoạn kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt để làm sáng tỏ lời thoại của nhân vật.

Đáp án :

* *Mở bài:
– Lưu Quang Vũ được coi là một hiện tượng đặc biệt của sân khấu, một trong những nhà soạn kịch tài năng nhất của nền văn học Việt Nam hiện đại.
– Hồn Trương Ba, da hàng thịt là một trong những vở kịch gây tiếng vang lớn. Từ cốt truyện dân gian, nhà văn xây dựng một vở kịch hiện đại chứa đựng nhiều vấn đề mới mẻ, có ý nghĩa tư tưởng và triết lý nhân sinh sâu sắc.
– Hồn Trương Ba bị đẩy vào tình huống éo le, có sự đấu tranh gay gắt với chính thể xác mà mình được trú ngụ. Lớp kịch này là một phần của cảnh 7. Nỗi đau khổ dằn vặt trong nhân vật Hồn Trương Ba phát triển lên đến đỉnh điểm để từ đó đi đến quyết định cuối cùng.
* *Thân bài:
* Giải thích:
+ Thể xác và linh hồn là một thể thống nhất, là hai mặt tồn tại không thể thiếu trong một con người.
+ Bi kịch là nỗi đau đớn, tủi cực đến tột cùng không sao thoát khỏi được.
+ Khát vọng:là những mong muốn của con người về những điều lớn lao, tốt đẹp với một sự thôi thúc mạnh mẽ.
* Phân tích:
– Bi kịch của nhân vật Hồn Trương Ba:
+ Nỗi khổ day dứt của một nhân vật khi tâm hồn thanh cao phải ẩn nấp trong xác anh hàng thịt thô thiển, hơn thế Hồn Trương Ba có nguy cơ bị thân xác lấn át. Hồn phải trải qua những cuộc đấu tranh với thể xác đầy ham muốn bản năng. Cuộc đối thoại giữa hồn và xác càng khiến hồn rơi vào bế tắc, đau khổ.
+ Từ khi phai trú ngụ trong thân xác anh hàng thịt để sống, hồn Trương Ba càng trở nên đáng sợ và xa lạ trong mắt người thân.(dẫn chứng: Hồn Trương Ba đâu còn là người làm vườn chăm chỉ, hiền hậu, hết lòng yêu thương vợ con như ngày xưa. Hồn Trương Ba vụng về, thô lỗ chữ không còn nhẹ nhàng khéo léo khi chăm sóc cây cối hay chữa nan diều cho Cu Tỵ. Ngay cả chị con dâu rất yêu thương bố chồng mà chị cũng không khỏi ngỡ ngàng, xót xa sự thay đổi của bố chồng…)
=> Thái độ cư xử của người thân khiến cho Hồn Trương Ba đau khổ, tuyệt vọng, đi đến quyết định giải thoát.

– Khát vọng của Hồn Trương Ba:
+ Hồn Trương Ba cảm thấy không thể sống “bên trong một đằng bên ngoài một nẻo” muốn tách ra khỏi thân xác kềnh càng thô lỗ. Những lời thoại của Hồn Trương Ba với Đế Thích chứng tỏ nhân vật Hồn Trương Ba đã tự ý thức về tình cảnh trớ trêu đầy tính bi hài.
+ Để giữ sự trong sạch của mình Hồn Trương Ba đã chấp nhận cái chết vĩnh viễn, khước từ cuộc sống không phải là mình. Quyết định dứt khoát xin Đế Thích cho Cu Tỵ được sống lại cho mình được chết hẳn chứ không nhập vào ai nữa.
=> Hồn Trương Ba là kết quả của một quá trình diễn biến hợp lý cho thấy Trương Ba là con người nhân hậu, sáng suốt, giàu lòng tự trọng. Đặc biệt đó là con người ý thức được ý nghĩa của cuộc sống, khao khát được sống đúng với mình.

– Nghệ thuật thể hiện:
+ Xây dựng tình huống kịch căng thẳng.
+Ngôn ngữ nhân vật sinh động.
+ Cùng với diễn tả những hành động bên ngoài, tác giả còn rất thành công khi phản ánh thế giới tinh thần của nhân vật.

* Kết bài: Đánh giá khẳng định vấn đề. Qua bi kịch và khát vọng của nhân vật Hồn Trương Ba tác giả muốn gửi gắm triết lý sâu sắc về lí lẽ sống: cuộc sống rất đáng quý nhưng không phải sống thế nào cũng được; sống nhờ, sống gửi, sống chắp vá…thì con người chỉ rơi vào bi kịch.

Đề sưu tầm

Xem thêm tuyển tập đề thi về bài Hồn Trương Ba da hàng thịt- Lưu Quang Vũ : http://vanhay.edu.vn/tag/hon-truong-ba-da-hang-thit

Đề luyện tập về bài Hồn Trương Ba, da hàng thịt Lưu Quang Vũ

Bộ đề luyện thi THPT Quốc gia môn văn. Tổng hợp những đề thi về bài Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ.

Đề bài :

“Hồn Trương Ba: Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn là tôi toàn vẹn.

Đế Thích: Thế ông ngỡ tất cả mọi người đều được là mình toàn vẹn cả ư? Ngay cả tôi đây. Ở bên ngoài, tôi đâu có được sống theo những điều tôi nghĩ bên trong. Mà cả Ngọc Hoàng nữa, chính người lắm khi cũng phải khuôn ép mình cho xứng với danh vị Ngọc Hoàng. Dưới đất, trên trời đều thế cả, nữa là ông. Ông đã bị gạch tên khỏi sổ Nam Tào. Thân thể thật của ông đã tan rữa trong bùn đất, còn chút hình thù gì của ông đâu!

`Hồn Trương Ba: Sống nhờ vào đồ đạc, của cải của người khác, đã là chuyện không nên, đằng này cái thân tôi cũng phải sống nhờ vào anh hàng thịt. Ông chỉ nghĩ đơn giản là cho tôi sống, nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết!

Đế Thích: ( không hiểu) Nhưng mà ông muốn gì?

Hồn Trương Ba: Ông từng nói: Nếu thân thể người chết còn nguyên vẹn, ông có thể làm cho hồn người đó trở về. Thì đây, (chỉ vào người mình) thân thể anh hàng thịt còn lành lặn nguyên xi đây, tôi trả lại cho anh ta. Ông hãy làm cho hồn anh ta được sống lại với  thân xác này.

Đế Thích: Sao lại có thể đổi tâm hồn đáng quý của bác lấy chỗ cho cái phần hồn tầm thường của anh hàng thịt ?

Hồn Trương Ba: Tầm thường, nhưng đúng là của anh ta, sẽ sống hòa thuận được với thân anh ta, chúng sinh ra là để sống với nhau. Vả lại, còn…còn chị vợ anh ta nữa…chị ta thật đáng thương!”

( Trích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” – Lưu Quang Vũ, Sách giáo khoa Ngữ văn 12 tập 2, trang 149, nhà xuất bản Giáo dục)

So sánh quan điểm sống của Trương Ba và Đế Thích trong đoạn trích trên. Từ đó, anh/chị hãy bình luận ngắn gọn về tác hại của lối sống bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo.

*Giới thiệu khái quát:

– Tác giả Lưu Quang Vũ: là nghệ sĩ đa tài, nổi tiếng với những vở kịch nói gây tiếng vang trên sân khấu những năm 80 của thế kỉ XX.

– Vở kịch Hồn Trương ba, da hàng thịt: Viết năm 1981 nhưng đến năm 1984 mới được công chiếu. Đó là thời điểm đất nước có nhiều chuyển biến, sự đổi mới của thực tiễn đòi hỏi văn học nghệ thuật phải lột xác, thay đổi cách tiếp cận đời sống, con người và cách thể hiện trong tác phẩm. từ một câu chuyện cổ dân gian, nhà văn Lưu Quang Vũ đã sáng tạo thành vở kịch nói hiện đại và qua đó gửi gắm nhiều tư tưởng, triết lí nhân sinh sâu sắc.

– Nhân vật Trương Ba: người làm vườn giỏi, sống nhân hậu, trong sáng. Đế Thích,vị tiên trên trời giỏi đánh cờ, sửa sai cho quan thiên đình bằng cách cho hồn Trương Ba sống lại trong thân xác hàng thịt.

*So sánh quan điểm của hai nhân vật qua đoạn trích.

–  Giải thích quan điểm: cách nhìn về cuộc sống (mục đích, ý nghĩa, lí do…sự sống của con người). Quan điểm  đúng thể hiện lập trường, đạo đức, vốn sống, văn hóa và sự tiến bộ, tích cực trong cuộc sống.Qua điểm sai lệch biểu hiện lối sống tiêu cực, hành động sai trái, tạo cơ hội cho kẻ xấu làm điều ác, hãm hại người tốt…

– Hoàn cảnh của Trương Ba: Bất đắc dĩ phải sống trong thân xác hàng thịt, dần dần Trương Ba bị nhiễm nhiều thói xấu của xác hàng thịt: thèm ăn ngon, thèm rượu thịt, không làm chủ được cảm xúc…nhất là sự thay đổi của Trương Ba làm người thân đau khổ, bản thân ông bế tắc tuyệt vọng. Trương Ba đã thắp hương gọi Đế Thích và hai người đã đối thoại với nhau thể hiện rõ quan điểm của nhau. Trương Ba:người dưới đất, Đế Thích tiên trên trời.  Đoạn đối thoại thuộc Cảnh 7 của vở kịch, thời điểm mâu thuẫn đẩy lên gay gắt nhất và phải được giải quyết triệt để bằng hành động và lời nói dứt khoát của nhân vật chính.

Quan điểm của Trương Ba:

+ Không chấp nhận lối sống : bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo. Đó là lối sống giả dối, gây đau khổ cho người thân, gây phiền toái cho chính mình. Điều đó chứng tỏ Trương Ba đã dũng cảm đối diện với hoàn cảnh nghiệt ngã, dám từ bỏ cuộc sống không phải là mình, chiến thắng sự hèn nhát tầm thường, yếu đuối của bản thân, không chịu lùi bước trước xác hàng thịt.

+ Khát vọng được sống là mình: trọn vẹn cả linh hồn và thể xác. Đó mới thực sự là sống có ý nghĩa, sống hạnh phúc và đem lại hạnh phúc cho mọi người.

+  Phê phán Đế Thích nghĩ đơn giản, sống quan liêu hời hợt: Chỉ cần cho tôi sống nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết.Đối với Trương Ba, sống không được là mình mà phải nhờ vả, mượn thân xác người khác chẳng qua là sự tồn tại, vô hồn, không ý nghĩa.

+  Dám từ bỏ những thứ không phải của mình để trả lại sự sống cho anh hàng thịt. Trương Ba không chỉ cao thượng mà rất nhân hậu vị tha.

=>Quan điểm của Trương Ba không chấp nhận cuộc sống giả tạo, gượng ép,chắp vá, vô nghĩa. Trương Ba có lòng tự trọng, sống cao thượng, khao khát sống là chính mình trọn vẹn thể xác và linh hồn. Đó là lối sống đẹp đẽ, đáng trân trọng của những người hiểu rõ mục đích ý nghĩa của cuộc sống.

–  Quan điểm của Đế Thích:

+ Không ai được sống là mình, trên trời dưới đất đều sống kiểu bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo: Tôi, ông và cả Ngọc hoàng thượng đế tối cao cũng vậy. Đó là sự thật phải chấp nhận không nên thay đổi, phủ nhận.

+  Chỉ cần thể xác được sống lại cho linh hồn trú ngụ còn thể xác và linh hồn không thống nhất không quan trọng…Vậy quan điểm của Đế Thích không coi trọng sự sống thực sự mà chỉ coi trọng sự tồn tại. Đó là quan điểm của vị tiên trên trời quan liêu hời hợt, vô cảm.

+ Không nên đổi tâm hồn đáng quý của bác cho tâm hồn tầm thường của anh hàng thịt, Đế Thích cho rằng sống chắp vá, sống gượng ép: bên trong một đằng bên ngoài một nẻo không nguy hại gì cho ai. Vì vậy hãy cố gắng chập nhận và sống chung với hoàn cảnh đó.

  • Nhận xét hai quan điểm sống:

+ Trương Ba đúng đắn, tích cực, coi trọng sự sống thực sự là mình còn Đế Thích sai lầm, quan liêu chỉ coi trọng sự tồn tại còn sống được là mình không cần quan tâm.

+ Quan điểm của Trương Ba thể hiện tư tưởng chủ đề của vở kịch và cũng là thông điệp của nhà văn đến mọi người: Hãy sống là mình, trọn vẹn thống nhất thể xác và linh hồn. Nếu không chỉ là sự tồn tại vô nghĩa, tạo cơ hội cho kẻ xấu lợi dụng, cái ác hoành hành.

+ Nhà văn phê phán lối sống giả tạo, lối sống hời hợt, chắp vá, gượng ép hoặc quá đề cao nhu cầu vật chất hơn tinh  thần, tinh thần hơn vật chất đang diễn ra phổ biến, trở thành trào lưu đáng báo động trong xã hội.

* Bình luận tác hại của lối sống bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo:

– Đối với bản thân người có lối sống đó: dần dần sẽ bị tha hóa, ích kỉ, thực dụng, giả dối, suy thoái nhân cách, đánh mất danh dự, lòng tự trọng.: tham nhũng, hối lộ, gây ra những tệ nạn xã hội. Bị mọi người coi thường xa lánh.

– Đối với cộng đồng: mất đoàn kết, hiểu lầm, mâu thuẫn, tranh giành, hãm hại nhau, kìm hãm sự phát triển.

Cách phòng tránh: Sống yêu thương nhân hậu vị tha, mạnh dạn dũng cảm đấu tranh với biểu hiện tiêu cực, giả dối, bảo vệ người tốt lẽ phải.

*Đánh giá chung:

–  Nghệ thuật: ngôn ngữ kịch giản dị, có sức khái quát cao, thể hiện rõ xung đột kịch và tích cách nhân vật.

– Tính chất triết lí từ hai nhân vật có quan điểm sống trái ngược nhau làm nên thành công của vở kịch.

– Mâu thuẫn được giải quyết: Trương Ba không chấp nhận sống chung với sự tầm thường giả dối của người khác, ông muốn được sống thuận theo lẽ tự nhiên: trọn vẹn là mình hòa hợp linh hồn thể xác.

–  Tài năng soạn kịch của Lưu Quang Vũ: từ một tình huống trong truyện cổ dân gian, nhà văn đã sử dụng sáng tạo thành  xung đột kịch gay gắt căng thẳng.

(Đề sưu tầm)

Xem thêm :Tổng hợp những đề thi về bài Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ :http://vanhay.edu.vn/tag/hon-truong-ba-da-hang-thit

Đề đọc hiểu : Hồn Trương Ba da Hàng thịt- Lưu Quang Vũ

Bộ đề luyện thi, đề đọc hiểu, nghị luận xã hội, đề nghị luận về bài Hồn Trương Ba, Da Hàng thịt- Lưu Quang Vũ.

1. Đề bài :

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu

HỒN TRƯƠNG BA, DA HÀNG THỊT

(Trích)

“…Hồn Trương Ba (một mình): Mày đã thắng thế rồi đấy, cái thân xác không phải của ta ạ, mày đã tìm được đủ mọi cách để lấn át ta…(sau một lát). Nhưng lẽ nào ta lại chịu thua mày, khuất phục mày và tự đánh mất mình? “Chẳng còn cách nào khác”! Mày nói như thế hả? Nhưng có thật là không còn cách nào khác? Không cần đến cái đời sống do mày mang lại! Không cần!

(Đứng dậy, lập cập nhưng quả quyết, đến bên cột nhà, lấy một nén hương châm lửa, thắp lên. Đế Thích xuất hiện.

Đế Thích: Ông Trương Ba ! (thấy vẻ nhợt nhạt của Hồn Trương Ba) Ông có ốm đau gì không? Một tuần nay tôi bị canh giữ chặt quá, không xuống đánh cờ với ông được, nhưng ông đốt hương gọi, tôi đoán là ông có chuyện khẩn, tôi liều mạng xuống ngay. Có việc gì thế?

Hồn Trương Ba: (sau một lát) Ông Đế Thích ạ, tôi không thể tiếp tục mang thân anh hàng thịt được nữa, không thể được!

Đế Thích: Sao thế? Có gì không ổn đâu!

Hồn Trương Ba: Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn.

Đế Thích: Thế ông ngỡ tất cả mọi người đều được là mình toàn vẹn cả ư? Ngay cả tôi đây. Ở bên ngoài, tôi đâu có được sống theo những điều tôi nghĩ bên trong. Mà cả Ngọc Hoàng nữa, chính người lắm khi cũng phải khuôn ép mình cho xứng với danh vị Ngọc Hoàng. Dưới đất, trên trời đều thế cả, nữa là ông. Ông đã bị gạch tên khỏi sổ Nam Tào. Thân thể thật của ông đã tan rữa trong bùn đất, còn chút hình thù gì đâu ông!

Hồn Trương Ba: Sống nhờ vào đồ đạc, của cải của người khác đã là chuyện không nên, đằng này đến cái thân tôi cũng phải sống nhờ anh hàng thịt. Ông chỉ nghĩ đơn giản là cho sống, nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết!

Đế Thích: (không hiểu) Nhưng mà ông muốn gì?

Hồn Trương Ba: Ông từng nói : Nếu thân thể người chết còn nguyên vẹn, ông có thể làm cho hồn người đó trở về. Thì đây, (chỉ vào người mình) thân thể anh hàng thịt còn lành lặn nguyên xi đây, tôi trả lại cho anh ta. Ông hãy làm cho hồn anh ta được sống lại với thân xác này.

Đế Thích: Sao lại có thể đổi tâm hồn đáng quý của bác lấy chỗ cho cái phần hồn tầm thường của anh hàng thịt?

Hồn Trương Ba: Tầm thường, nhưng đúng là của anh ta, sẽ sống hòa thuận được với thân anh ta, chúng sinh ra là để sống với nhau. Vả lại, còn …còn chị vợ anh ta nữa…chị ta thật đáng thương!

Đế Thích: Nhưng thế hồn ông muốn trú vào đâu?

Hồn Trương Ba: Ở đâu cũng được, chứ không ở đây nữa. Nếu ông không giúp, tôi sẽ..tôi sẽ…nhảy xuống sông hay đâm một nhát dao vào cổ, lúc đó thì hồn tôi chẳng còn, xác anh hàng thịt cũng mất….”

(Lưu Quang Vũ, SGK Ngữ văn 12, tập 2, Nxb GD 2008)

Câu hỏi : Câu nói: “Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn”  của hồn Trương Ba có ý nghĩa gì?

  1. Con người phải có khát vọng sống và lý tưởng sống
  2. Con người phải có cuộc sống đầy đủ về vật chất và tinh thần
  3. Con người phải là một thể thống nhất hài hòa giữa hồn và xác
  4. Con người phải có sự thống nhất giữa hành động và suy nghĩ

2. HƯỚNG DẪN CHẤM

CÂU 1

Mục đích của câu hỏi nhằm đánh giá khả năng khái quát thông tin của câu nói trong văn bản.

Mức đầy đủ

Mã 1: Phương án C

Mức không tính điểm

Mã 0: Các phương án khác

Mã 9: Không trả lời

Câu hỏi 2: Qua cuộc đối thoại của hồn Trương Ba với Đế Thích, tác giả Lưu Quang Vũ đã gửi gắm những quan niệm của mình về điều gì?

  1. Cái chết
  2. Hạnh phúc
  3. Lẽ sống
  4. Cả A, B, C

HƯỚNG DẪN CHẤM CÂU 2

Mục đích của câu hỏi nhằm đánh giá khả năng đọc hiểu văn bản.

Mức đầy đủ

Mã 2: Phương án D

Mức không đầy đủ

Mã 1: Nêu được 1 trong các phương án A, B, C.

Mức không tính điểm

Mã 0: Có câu trả lời khác

Mã 9: Không trả lời

Câu hỏi 3: Câu nói: “Sống nhờ vào đồ đạc, của cải của người khác đã là chuyện không nên, đằng này đến cái thân tôi cũng phải sống nhờ anh hàng thịt. Ông chỉ nghĩ đơn giản là cho sống, nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết …” của hồn Trương Ba nói với Đế Thích đã khiến người đọc có liên tưởng đến những cách sống nào của con người trong xã hội?

HƯỚNG DẪN CHẤM CÂU 3

Mục đích của câu hỏi nhằm đánh giá khả năng liên tưởng, vận dụng những kiến thức đã học từ văn bản vào đời sống.

Mức đầy đủ

Mã 2: HS nêu được đầy đủ cách sống của con người trong xã hội: sống dựa dẫm vào người khác; sống không đúng, không thật với chính mình; sống mất cân bằng giữa vật chất và tinh thần; sống có ý nghĩa….

Mức không đầy đủ

Mã 1: Nêu được 1 trong các ý trên hoặc nêu được các ý nhưng chưa đầy đủ.

Mức không tính điểm

Mã 0: Có câu trả lời khác

Mã 9: Không trả lời

Câu hỏi 4: Câu nói trên của hồn Trương Ba với Đế Thích đã thể hiện ý thức sâu sắc của ông về vấn đề sống và cách sống sao cho không vô nghĩa . Em có suy nghĩ gì về vấn đề này trong thời đại ngày nay?

HƯỚNG DẪN CHẤM CÂU 4

Mục đích của câu hỏi nhằm đánh giá khả năng thể hiện cảm nhận của HS về ý nghĩa triết lí sâu xa của câu nói trong văn bản.

Mức đầy đủ

Mã 3: HS trình bày được những ý sau:

  • Tạo lập được đoạn văn, đảm bảo logic về ý.
  • Thể hiện được cảm nhận của cá nhân về ý nghĩa của câu nói: sống cần phải chân thật, sống là chính mình, không sống thừa, sống dựa dẫm …thì cuộc sống mới có ý nghĩa, mới có giá trị….
  • Diễn đạt sáng rõ, đúng chính tả.

Mức không đầy đủ

Mã 2: Viết được đoạn văn, trình bày được một số ý, nhưng chưa thật đầy đủ, sâu sắc.

Mã 1: Chỉ viết được 1 vài câu, ý sơ sài.

Mức không tính điểm

Mã 0: Viết sai lạc nội dung.

Mã 9: Không trả lời

Xem thêm :Tuyển tập đề thi về bài Hồn Trương Ba da hàng thịt- Lưu Quang Vũ :Hồn Trương Ba da hàng thịt

Xây dựng hệ thống câu hỏi dạy học bài Hồn Trương Ba Da Hàng thịt

Xây dựng hệ thống câu hỏi dạy học bài Hồn Trương Ba Da Hàng thịt- Lưu Quang Vũ

  1. Tiểu dẫn

Câu hỏi nhớ: Em có thể trình bày những hiểu biết của bản thân về nhà viết kịch Lưu Quang Vũ?

Câu hỏi gợi ý: Cuộc đời của Lưu Qung Vũ  cần lưu ý điều gì?

Sự nghiệp văn học của Lưu Quang Vũ có gì đặc biệt?

Lưu Quang Vũ (1948-1988), quê gốc ở Đà Nẵng, sinh tại Phú Thọ, trong một gia đình tri thức.

– Sáng tác thơ từ những năm 60 của thế kỉ XX.

– Những năm 80 viết kịch, với những vở kịch đặc sắc: Sống mãi tuổi 17, Hẹn ngày trở lại, Hồn Trương Ba da hàng thịt…

– Lưu Quang Vũ là một nghệ sĩ đa tài: làm thơ, vẽ tranh, viết truyện,..nhưng thành công nhất trong  lĩnh vực kịch. Ông là một trong những nhà viết kịch tài năng nhất của nền VHVN hiện đại.

– Được tặng giải thưởng HCM về VHNT năm 2000.

Tác phẩm chính:

– Thơ: Hương cây, Mây trắng của đời tôi…

– Kịch: Nàng Xi-ta, Lời thề thứ 9, Hồn Trương Ba da hàng thịt…

Câu hỏi nhớ: Em biết gì về vở kịch Hồ Trương Ba, da hàng thịt?

Vở kịch viết năm 1981, đến 1984 ra mắt công chúng.Là một trong những vở kịch đặc sắc nhất của Lưu Quang Vũ.

– Sự chuyển biến mạnh mẽ của xã hội, của văn học VN vào những năm 80 của thế kỉ XX. Công cuộc đổi mới của Đảng phát động nhằm phát huy mọi sự sáng tạo của nhân dân, trong đó có giới văn nghệ sĩ. Số phận con người, vấn đề cá nhân cần được khám phá, những vấn đề nóng bỏng của đời sống trở thành cảm hứng sáng tác của nhiều người. Trong thời gian đó, Lưu Quang Vũ cho ra đời vở kịch này.

– Mượn cốt truyện dân gian, nhưng Lưu Quang Vũ đã có nhiều sáng tạo, đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ, có ý nghĩa tư tưởng, triết lí và nhân văn sâu sắc.

+ Trong truyện dân gian, nhân vật Trương Ba tiếp tục sống bình thường, hạnh phúc khi nhập vào xác hàng thịt.

+ Trong vở kịch, tác giả tập trung diễn tả tình cảnh trớ trêu, nỗi đau khổ, giày vò của Trương Ba khi sống nhờ, sống tạm “bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo”.

2. Đọc – hiểu văn bản

Câu hỏi khám phá:Theo em hồn Trương Ba đã có những hành động như thế nào?

Trả lời:

  • Độc thoại với chính mình.
  • Đối thoại với xác hàng thịt.
  • Đối thoại với mọi người tron gia đình.

Câu hỏi khám phá: Trương Ba có những tâm sự gì trước khi đối thoại với xác hàng thịt?

+ Hành động ôm đầu => trạng thái u uất, bế tắc, không lối thoát => Đau khổ, dằn vặt, quẫn bách đến cùng cực, không thể chịu đựng dày vò hơn được nữa (vụt đứng dậy) => những dòng độc thoại đầy nước mắt.

+ Lời nói: phủ định “Không! Không! Tôi không muốn sống như thế này mãi” thể hiện tâm trạng:

  • Chán cái chỗ ở không phải của tôi lắm rồi.
  • Sợ cái thân thể kềnh càng thô lỗ và muốn rời xa ngày “tức khắc”.
  • Khao khát “tách ra cái xác này, dù chỉ một lát”.

Nhận xét: các câu cảm thán, ngắn => lời văn dồn dập, hối thúc => trạng thái căng thẳng, bức bách.

Câu hỏi đọc – hiểu:Theo em, cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và xác hàng thịt diễn ra như thế nào?

Câu hỏi gợi ý: mục đích, hoàn cảnh, cách xưng hô, giọng điệu, cử chỉ, vị thế?

 

Hồn Trương Ba Xác hàng thịt
Mục đích:

Phủ định sự lệ thuộc của linh hồn vào xác thịt , coi xác thịt chỉ là cái vỏ bề ngoài, không có ý nghĩa. Khẳng định linh  hồn vẫn có đời sống riêng: nguyên vẹn trong  sạch, thẳng thắn.

– Cử chỉ :

Ôm đầu, đứng vụt dậy, nhìn chân tay, bịt tai lại

Uất ức, tức giận, bất lực

– Xưng hô:

Mày – Ta

Khinh bỉ, xem thường

– Giọng điệu:

Giận dữ, khinh bỉ, mắng mỏ, đồng thời ngậm ngùi tuyệt vọng

– Vị thế:

Bị động, kháng cự yếu ớt, đuối lí, tuyệt vọng à Người thua cuộc, chấp nhận trở lại xác hàng thịt

 

Mục đích:

Khẳng định sự âm u, đui mù của thể xác có sức mạnh ghê gớm, có khả năng điều khiển linh hồn cao khiết. Dồn Trương Ba vào thế  đuối lí buộc phải thỏa hiệp, quy phục.

 

– Cử chỉ :

 Lắc đầu

 

 

Tỏ vẻ thương hại

 

– Xưng hô :

Ông – Tôi

Ngang hàng, thách  thức

– Giọng điệu:

Ngạo nghễ thách thức, thì thầm ranh mãnh

 

– Vị thế:

Chủ động đặt nhiều câu hỏi phản biện à Kẻ thắng thế, buộc được hồn Trương Ba quy phục mình

 

Câu hỏi khám phá:Theo em, những người thân của Trương Ba đã phản ứng như thế nào khi thấy Trương Ba là xác hàng thịt?

– Người vợ: Buồn bã đau khổ muốn chết, có ý định bỏ đi nhường chồng cho cô vợ hàng thịt

– Cái Gái: Quyết liệt và dữ dội không nhận ông nội

– Người con dâu: Thông cảm, xót thương.

Câu khám khám phá: Tâm trạng của Trương sau khi đối thoại với người thân trong nhà là như thế nào?

– Lúc đầu: Biện minh cho mình

+ Sao bà lại nói thế?

+ Sáng nào ông cũng ra cuốc xới chăm chút cây cối ngoài vườn…:Chỉ có ông nội cháu mới quý cây như thế

– Sau đó : Đau khổ, bế tắc, thất vọng về mình

+ Thầy đã làm u khổ…, u cũng không khổ như bây giờ

+ Thẫn thờ, lặng ngắt như tảng đá, tay ôm đầu, run rẩy, lập cập, cầu cứu.

Câu hỏi phân tích: Em có thể so sánh màn đối thoại giữa Trương Ba với xác hàng Thịt, và  những người thân trong nhà?

So với màn đối thoại với xác hàng thịt

Màn đối thoại với xác hàng thịt Màn đối thoại với người thân
Đau khổ, bất lực khi bản thân phải chịu sự điều khiển  Đau khổ đến tột cùng khi nhận thấy không chỉ mình chịu khổ mà người thân cũng chịu đau khổ. Thậm chí họ còn đau khổ hơn lúc chôn ông xuống.

 

 

Câu hỏi khám phá: Trương Ba và Đế Thích quan niệm như thế nào về sự sống?

Đế Thích: Khuyên Trương Ba chấp nhận vì thế giới không toàn vẹn  Cái nhìn quan liêu hời hợt về cuộc sống con người

-Trương Ba:

+ Không thể bên trong một đằng, …  Tôi muốn được là tôi toàn vẹn.

+ Sống nhờ vào đồ đạc,…, nhưng sống thế nào thì ông chẳng cần biết!

Vấn đề quyết định không phải là sống, mà là sống như thế nào! Điều này có ý nghĩa

  • Con người là 1 thể thống nhất, hồn xác phải hài hòa đồng thuận. Dù khiếm khuyết về tinh thần hay thể xác cũng là 1 cuộc sống không trọn vẹn
  • Sống thiếu chân thực với mình là cuộc sống vô nghĩa, bất hạnh và cũng jhông cần thiết cho ai.

Khát vọng hoàn thiện nhân cách của Trương Ba Tư tưởng, ý nghĩa triết lí của tác giả.

Câu hỏi khám phá: Tại sao khi được phép nhập vào xác cu Tị ngây thơ, Trương Ba từ chối ?Sự từ chối đó thể hiện điều gì trong nhận thức, tính cách Trương Ba?

Trương Ba yêu thương cu Tị

– Ông không chấp nhận tái diễn lại bi kịch sống trong thân xác người khác

Con người nhân hậu, sáng suốt, giàu lòng tự trọng và có ý thức cao về ý nghĩa cuộc sống.

Câu hỏi đọc – hiểu: Qua đoạn trích, em hãy trình bày những giá trị cơ bản của tác phẩm (ý nghĩa phê phán, giá trị nhân văn)?

  1. Ý nghĩa phê phán :

– Phê phán 2 quan niệm sống lệch.

– Phê phán lối sống giả tạo, làm con người có nguy cơ đánh mất mình.

– Phê phán những tiêu cực xã hội.

  1. Giá trị nhân văn :

– Kêu gọi, đấu tranh cho sự hoàn thiện vẻ đẹp nhân cách con người.

– Khẳng định: con người phải sống như chính mình.

Câu hỏi vận dụng:

  1. 1. Suy nghĩ của anh (chị) về câu nói: “Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn”. (Hồn Trương Ba, da hàng thịt – Lưu Quang Vũ)
  2. Giả định Đế Thích cho Trương Ba được quyền sống trong xác cu Tị và Trương Ba đồng ý. Theo anh (chị), cuộc sống của Trương Ba sau đó sẽ như thế nào? Trình bày những ý tưởng của anh (chị) về những rắc rối sẽ xảy ra và viết một lớp kịch ngắn về điều đó.
  3. Anh (chị) hãy tưởng tượng và viết một kết thúckhác cho vở kịch?

Tác giả : Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Xem thêm

  1. Tài liệu, đề thi, những bài văn hay về Hồn Trương Ba da hàng thịt Ngữ văn 12 : Hồn Trương Ba da hàng thịt
  2. Trọn bộ giáo án ngữ văn khối 12 

Ôn tập bài Hồn Trương Ba, da hàng thịt- Lưu Quang Vũ

Tổng hợp kiến thức cần nhớ và những đề thi về bài Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ

Phần 1 : Một số đề thi về  bài Hồn Trương Ba, da hàng thịt- Lưu Quang Vũ

Về vở kịch này, các em có thể ôn tập theo những câu hỏi sau

ĐỀ 1 : Phân tích nhân vật Hồn Trương Ba trong đoạn trích “Hồn Trương Ba da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ.
1. Mở bài

– Lưu Quang Vũ là một trong những cây bút tài hoa để lại những dấu ấn trong nhiều thể loại : thơ, văn xuôi và đặc biệt là kịch. Ông là một trong những nhà soạn kịch tài năng nhất của nền văn học nghệ thuật Việt Nam hiện đại.
– Hồn Trương Ba, da hàng thịt là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất, đánh dấu sự vượt trội trong sáng tác của Lưu Quang Vũ.
– Nhân vật Trương Ba – một nhân vật bi kịch
2. Thân bài
a. Giới thiệu chung
– Hoàn cảnh ra đời, xuất xứ
– Đây là một vở kịch mà Lưu Quang Vũ đã dựa vào cốt truyện dân gian, tuy nhiên chiều sâu của vở kịch chính là phần phát triển sau của tuyện dân gian.
b. Phân tích
– Hoàn cảnh éo le, bi đát của ông Trương Ba
+ Trương Ba là người làm vườn yêu cây cỏ, yêu thương mọi người, sống nhân hậu, chân thực, chưa tới số chết, nhưng vì sự tắc trách của quan nhà trời mà Trương Ba phải chết.
+ Hồn Trương Ba phải trú nhơ vào xác anh hàng thịt, một người thô lỗ,… Tính cách Trương Ba ngày càng thay đổi. Bi kịch của sự oan trái
– Cuộc đối thoại giữa hồn và xác
+ Hồn là biểu tượng cho sự thanh nhã, cao khiết, trong sạch, đạo đức nhưng tất cả hoàn toàn trái ngược qua phần đối thoại với xác. Hồn Trương Ba để lại trong mắt xác hàng thịt là một kẻ phàm ăn, tục uống ; mê rượu và háo sắc ; cư xử thô bạo với mọi người,…
+ Những biểu hiện ngay trong đối thoại khi Hồn Trương Ba không còn là chính mình : cư chỉ, điệu bộ lúng túng, khổ sở ; giọng điệu có khi yếu ớt, lời thoại ngắn ; khi đuối lý lại dùng lời lẽ thô bạo để trấn áp “Ta… Ta… đã bảo mày im đi” .Bi kịch của sự tồn tại riêng rẽ : con người không thể chỉ sống bằng thân xác mà cũng không thể sống bằng tinh thần.
– Nỗi đau khổ của Hồn Trương Ba khi tìm về những người thân trong gia đình
+ Người vợ vừa hờn ghen vừa dằn dỗi chồng, có cảm giác ông là người sống xa lạ với mọi người. + Đứa con trai cả quyết định bán khu vườn để đầu tư vào sạp thịt.
+ Cái Gái, đứa cháu nội mà ông yêu quý nhất, không thừa nhận ông là ông nội, thậm chí nó còn cự tuyệt đến quyết liệt “Nếu ông nội tôi hiện về được, hồn ông nội tôi sẽ bóp cổ ông”. Trong mắt nó, Hồn Trương Ba chỉ là một tên đồ tể, tay chân vụng về, luôn phá hoại.
+ Con dâu tỏ ra thông cảm, hiểu và đau cho nỗi đau sống nhờ và sự thay đổi của Hồn Trương Ba. à Bi kịch bị người thân xa rời, khước từ cuộc sống.
– Khát vọng giải thoát khỏi thân xác người khác. + Trương Ba tự ý thức bi kịch của mình : “Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn”. à Bi kịch sống nhờ vào thân xác người khác – Trương Ba trước cái chết của cu Tị
+ Trước đề nghị đổi thân xác của Đế Thích, tính cách TB từ chỗ lưỡng lự, suy nghĩ rồi quyết định dứt khoát.
+ Trương Ba muốn chết thật là để cho mình được sống mãi hoài nhớ của mọi người. à Giải thoát bi kịch của một sự giả tạo trong con người Hồn Trương Ba.
c. Đánh giá
– Hồn Trương Ba là một nhân vật quá chú trọng đời sống tinh thần mà coi nhẹ thân xác.
– Bi kịch của nhân vật Hồn Trương Ba là bi kịch về nỗi đau của sự vênh lệch giữa thể xác và tâm hồn trong một con người.
– Nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật, nghệ thuật tạo tình huống và diễn tiến kịch kích độc đáo.
3. Kết luận
– Đánh giá chung về nhân vật.
– Khẳng định tài năng viết kịch của Lưu Quang Vũ và sức sống của tác phẩm.
ĐỀ 2 Trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt, có một lời thoại quan trọng “Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn”.
Anh/chị hãy phân tích tình huống éo le của nhân vật Hồn Trương Ba trong xác anh hàng thịt để làm sáng tỏ lời thoại trên.
Gợi ý cách làm bài
1. Mở bài
– Giới thiệu tác giả (con người và phong cách)
– Giới thiệu tác phẩm (giá trị của tác phẩm)
– Tác phẩm có rất nhiều lời thoại mang tính triết lý, trong đó lời nói của Trương Ba “Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi trọn vẹn” đã gợi lên tình huống éo le của nhân vật.
2. Thân bài
a. Giới thiệu chung
– Hồn Trương Ba, da hàng thịt là một trong những truyện hay trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam. Lưu Quang Vũ đã dựa vào cốt truyện này để viết thành vở kịch nói cùng tên vào năm 1981 và được trình diễn lần đầu tiên vào năm 1984.
– Vở kịch đặt ra vấn đề, đó là bi kịch sống nhờ của Hồn Trương Ba trong xác anh hàng thịt.
– Lời thoại trên là lời của Hồn Trương Ba nói với Đế Thích, có ý nghĩa triết lý về sự thống nhất, hài hòa giữa hồn và xác trong một con người.

b. Phân tích tình huống éo le của nhân vật Hồn Trương Ba trong xác anh hàng thịt
+ Tình huống éo le, bi đát – Nguyên nhân dẫn đến tình huống éo le : việc gạch tên chết người vô trách nhiệm của quan nhà trời và “thiện ý sửa sai” của Đế Thích. – Nỗi khổ của Hồn Trương Ba khi phải sống nhờ vào xác anh hàng thịt : vợ con nghi ngờ, xa lánh ; do sự xui khiến của thân xác hàng thịt, Hồn Trương Ba có những hành vi, cử chỉ thô lỗ, vụng về.
– Hồn Trương Ba cương quyết không sống trong xác anh hàng thịt. Khát vọng giải thoát khỏi thân xác người khác khiến Hồn Trương Ba gọi Đế Thích lên để nói rõ bi kịch sống nhờ, sống không đúng mình.
+ Ý nghĩa của lời thoại
– Lời thoại này thể hiện rõ quan niệm về hạnh phúc của nhà viết kịch. Hồn Trương Ba đã có một thân xác để tồn tại, để tiếp tục sống, ngỡ đó là hạnh phúc. Nhưng hóa ra hạnh phúc ở đời không phải là được sống mà sống như thế nào.
– Bức thông điệp mà Lưu Quang Vũ muốn nhắn gửi qua bi kịch của Trương Ba: con người phải được sống như chính mình, sống hòa hợp giữa hồn và xác – tâm hồn trong sạch như thân xác được khỏe mạnh. “Tôi muốn là tôi toàn vẹn”, đấy mới là hạnh phúc.
c. Đánh giá
– Tình huống éo le của vở kịch là nét đặc sắc tạo nên sự khác biệt giữa truyện dân gian và vở kịch.
– Thông qua lời thoại của nhân vật, Lưu Quang Vũ đã thể hiện quan niệm sống giàu giá trị nhân văn.
– Nhà văn đã dựng lên được những kịch tính thông qua cử chỉ, hành động, đặc biệt là lời thoại của nhân vật sinh động có tầm khái quát cao.
3. Kết luận
– Lời thoại của Trương Ba “Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi trọn vẹn” là một câu nói giàu tính triết lý, cũng lại là bi kịch cho số phận của một con người.
– Khẳng định tài năng của Lưu Quang Vũ và sức sống của tác phẩm.

Xem thêm tại đây nhé : http://vanhay.edu.vn/nghi-luan-xa-hoi-ve-hon-truong-ba-da-hang-thit-luu-quang-vu/
ĐỀ 3 Kịch Lưu Quang Vũ giàu giá trị nhân văn. Anh/chị hãy phân tích đoạn trích cảnh VII Hồn Trương Ba, da hàng thịt trong sách giáo khoa để làm rõ điều đó.
Gợi ý làm bài
1. Mở bài
– Giới thiệu tác giả (con người và phong cách)
– Giới thiệu tác phẩm (giá trị của tác phẩm)
– Giới thiệu vấn đề nghị luận : giá trị nhân văn
2. Thân bài
a. Giới thiệu chung (Tham khảo một số đề trên)
b. Giải nghĩa giá trị nhân văn:

Giá trị nhân văn của một tác phẩm là sự lột tả mâu thuẫn tâm lý của các nhân vật trong đời sống, hay chính mâu thuẫn trong từng con người, trong cái trong sáng có sự sa ngạ, lầm lạc và trong ánh sáng có bóng tối. Nó là cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, giữa đẹp và xấu, giữa hy vọng và tuyệt vọng của con người.
c. Phân tích
– Hoàn cảnh trớ trêu của Hồn Trương Ba khi phải sống nhờ thân xác anh hàng thịt.
– Nỗi đau đớn giày vò của Hồn Trương Ba khi phải sống nhờ, sồng khác mình, qua các chi tiết : + Lời dẫn kịch : ngồi ôm đầu một hồi lâu, bịt tai lại, như tuyệt vọng, bần thần nhập lại xác anh hàng thịt,…
+ Lời của nhân vật : Ta… ta đã bão là mày im đi, Trời,…
+ Lời độc thoại nội tâm : Mày đã thắng thế rồi, cái thân xác không phải là của ta ạ… à Ý nghĩa nhân văn của tác phẩm :
– Ý nghĩa nhân văn của vở kịch là ở chỗ Lưu Quang Vũ đã khẳng định, tôn trọng cái cá thể, khẳng định vị trí, vai trò của cá nhân trong xã hội. Qua lời thoại đầy chất triết lý, nhà văn gửi bức thông điệp kêu gọi con người như sống chính mình. “Tôi muốn được là tôi toàn vẹn”, câu nói đơn giản của nhân vật Hồn Trương Ba chính là chìa khóa mở ra giá trị nhân văn của tác phẩm. – Ý nghĩa nhân văn của vở kịch còn là ở chỗ nhà văn đã đấu tranh cho sự hoàn thiện vẻ đẹp nhân cách con người. Để cho nhân vật Hồn Trương Ba khước từ cuộc sống vay mượn thân xác người khác, Lưu Quang Vũ đã mở hướng cho nhân vật vươn tới một lẽ sống đích thực, dẫu thân xác có trở về hư vô.
d. Đánh giá
– Cảnh VII, của vở kịch giàu giá trị nhân văn :
+ Cần tạo cho con người có được sự hài hòa giữa hai mặt tinh thần và vật chất ; không được kỳ thị những đòi hỏi vật chất của con người ; cần tôn trọng quyền tự do cá nhân ; cần biết rút kinh nghiệm về những sai lầm để hướng tới tương lai. – Giá trị nhân văn mà Lưu Quang Vũ đặt ra đến nay vẫn còn nguyên vẹn và vẫn còn mang tính thời sự.
3. Kết luận
– Khẳng định giá trị của tác phẩm (nội dung, nghệ thuật).
– Khẳng định tài năng của Lưu Quang Vũ.
ĐỀ 4 Phân tích mối tương quan đối lập giữa Hồn Trương Ba và xác anh hàng thịt trong vở kịch Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ. Chỉ ra những điểm khác nhau cơ bản của hai nhân vật này.
1. Mở bài
– Giới thiệu tác giả (con người và phong cách)
– Giới thiệu tác phẩm (giá trị của tác phẩm)
– Giới thiệu về mối tương quan đối lập và sơ lược về Hồn Trương Ba và da hàng thịt.
2. Thân bài
a. Giới thiệu chung
– Hoàn cảnh ra đời, xuất xứ
– Hồn Trương Ba da hàng thịt là vở kịch đặc sắc của Lưu Quang Vũ. Dựa vào tích xưa, Lưu Quang Vũ đã bộc lộ khả năng sáng tạo của mình khi xây dựng hai nhân vật Hồn Trương Ba và xác anh hàng thịt.
– Đây là hai nhân vật chính của tác phẩm, tư tưởng triết lý nhân sinh của vở kịch bật lên mối tương quan đối lập giữa hai nhân vật này.
b. Phân tích mối tương quan đối lập giữa hai nhân vật Hồn Trương Ba và xác anh hàng thịt
– Cuộc gặp gỡ giữa Hồn Trương Ba và xác anh hàng thịt
+ Sự sai lầm của thượng giới dẫn đến cuộc đối đầu đầy bi kịch.
+ Hồn Trương Ba đau khổ trong xác anh hàng thịt (dc)
– Những mâu thuẫn không thể giải quyết giữa Hồn Trương Ba và xác anh hàng thịt
+ Hồn Trương Ba không thể sống chung trong cái xác vay mượn, tách ra khỏi để tranh luận.
+ Cuộc tranh luận diễn ra căng thẳng quyết liệt, không có sự thỏa hiệp.
c. Những điểm khác nhau cơ bản giữa Hồn Trương Ba và xác anh hàng thịt
– Ông Trương Ba chất phác, hiền lành, nho nhã
– Anh hàng thịt thân xác vạm vỡ, kềnh càng, thô lỗ.
– Hồn Trương Ba thanh cao, sống theo những chuẩn mực đạo đức
– Xác anh hàng thịt hưởng thụ, sống thiên về bản năng, dễ dàng chạy theo những ham muốn trần tục.
d. Đánh giá
– Hồn và xác là hai phần đối lập, nhưng luôn tồn tại trong một con người, không thể tách rời nhau. – Đưa ra sự đối lập này, nhà văn muốn nhấn mạnh rằng : con người không chỉ sống bằng thân xác mà cũng không chỉ sống bằng tinh thần.
– Nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật kịch thông qua những lời thoại.
3. Kết luận
– Khẳng định sự đối lập giữa hai nhân vật Hồn Trương Ba và xác anh hàng thịt.
– Khẳng định giá trị của tác phẩm, tài năng của Lưu Quang Vũ

Đề 5 :

Trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ có đoạn:
Hồn Trương Ba: Ông Đế Thích ạ, tôi không thể tiếp tục mang thân anh hàng thịt được nữa, không thể được!
Đế Thích: Sao thế? Có gì không ổn đâu!
Hồn Trương Ba: Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn.
Đế Thích: Thế ông ngỡ tất cả mọi người đều được là mình toàn vẹn cả ư? Ngay cả tôi đây. Ở bên ngoài, tôi đâu có được sống theo những điều tôi nghĩ bên trong. Mà cả Ngọc Hoàng nữa, chính người lắm khi cũng phải khuôn ép mình cho xứng với danh vị Ngọc Hoàng. Dưới đất, trên trời đều thế cả, nữa là ông. Ông đã bị gạch tên khỏi sổ Nam Tào. Thân thể thật của ông đã tan rữa trong bùn đất, còn chút hình thù gì của ông đâu!
Hồn Trương Ba: Sống nhờ vào đồ đạc, của cải người khác, đã là chuyện không nên, đằng này đến cái thân tôi cũng phải sống nhờ anh hàng thịt. Ông chỉ nghĩ đơn giản là cho tôi sống, nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết!
(Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2013, tr. 149)

Phân tích khát vọng của nhân vật Hồn Trương Ba trong đoạn trích trên. Từ đó, trình bày suy nghĩ của anh/chị về vấn đề: con người cần được sống là chính mình.

Đáp án ở link này :http://vanhay.edu.vn/nghi-luan-xa-hoi-van-de-con-nguoi-can-duoc-song-la-chinh-minh-trong-hon-truong-ba-da-hang-thit/

Đề 6 :

Nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao trước khi đâm chết Bá Kiến và tự kết thúc cuộc đời mình đã nói: ”Ai cho tao lương thiện? ”

Nhân vật Trương Ba trong tác phẩm Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ, khi gặp Đế Thích đòi trả lại thân xác người hàng thịt đã nói: “Không thể bên trong một, đằng bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn”.

Viế bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của anh/chị về những câu nói đó?

Đáp án:http://vanhay.edu.vn/de-thi-thu-thpt-quoc-gia-mon-van-tinh-ninh-binh

Xem thêm những đề thi khác về bài Hồn Trương Ba, da hàng thịt ở link này :

:http://vanhay.edu.vn/tag/hon-truong-ba-da-hang-thit/

Phần 2 :kiến thức cần nhớ về bài Hồn Trương Ba, da hàng thịt- Lưu Quang Vũ

1. Cuộc đời và sự nghiệp của Lưu Quang Vũ

Lưu Quang Vũ (1948-1988), quê gốc ở Đà Nẵng. Năm 1965 – 1970, ông nhập ngũ, phục vụ quân chủng Phòng không – Không quân. Đây là thời kỳ tài thơ Lưu Quang Vũ nở rộ. Năm 1970 – 1978, ông xuất ngũ và làm đủ mọi nghề để sinh sống. Từ tháng 8/1979, Lưu Quang Vũ làm phóng viên tạp chí Sân khấu. Năm 1988, giữa lúc tài năng đang vào độ chín, tên tuổi vang dội trên văn đàn, Lưu Quang Vũ đã qua đời trong một tai nạn giao cùng người bạn đời Xuân Quỳnh và con Lưu Quỳnh Thơ. Lưu Quang Vũ là một cây bút tài hoa đã để lại dấu ấn trong nhiều thể loại : thơ, văn xuôi, đặc biệt là kịch. Thiên hướng và năng khiếu nghệ thuật của LQV sớm bộc lộ từ nhỏ và vùng quê Bắc Bộ đã in dấu nhiều trong sáng tác của ông sau này. Ở thể loại nào người đọc cũng bắt gặp một LQV với tâm hồn nổi gió, sức sống mãnh liệt và khả năng sáng tạo miệt mài. Năm 2000, Lưu Quang Vũ được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về nghệ thuật sân khấu. Các tác phẩm chính : Thơ : Hương cây, Mây trắng, Bầy ong trong đêm sâu Kịch : Sống mãi tuổi 17, Mùa hạ cuối cùng, Hồn Trương Ba da hàng thịt, Tôi và chúng ta, Nàng Si-ta,…
2. Tóm tắt tác phẩm

Trương Ba là một người là vườn và giỏi đánh cờ đã bị Nam Tào bắt chết nhầm. Vì muốnsửa sai, nên Nam Tào và Đế Thích cho Hồn Trương Ba sống lại và nhập vào xác hàng thịt mới chết. Trú nhờ trong xác anh hàng thịt, Trương Ba gặp rất nhiều phiền toái : lý tưởng sách nhiễu, chị hàng thịt đòi chồng, gia đình Trương Ba cũng cảm thấy xa lạ,… mà bản thân Trương Ba thì đau khổ vì phải sống trái tự nhiên và giả tạo. Đặc biệt thân xác hàng thịt làm Trương Ba nhiễm một số thói xấu và những nhu cầu vốn không phải chính bản thân ông. Trước nguy cơ tha hóa về nhân cách và sự phiền toái do mượn thân xác của kẻ khác, Trương Ba quyết định trả lại xác cho hàng thịt và chấp nhận cái chết.
3. Nhan đề

Nhan đề Hồn Trương ba, da hàng thịt gợi cảm giác về độ vênh lệch của hai yếu tố quan trọng trong một con người. Hồn là phần trừu tượng, da thịt thân xác là cái cụ thể, là cái bình có thể chứa linh hồn, hồn nào xác ấy. Nhưng ở đây hồn người người này lại ở trong xác người kia. Hồn và xác lại không tương hợp ; tính cách, hành động, lối sống của Trương Ba và anh hàng thịt trái ngược nhau. Tên gọi của vở kịch đã thâu tóm được những mâu thuẫn, xung đột bên trong của một con người.
4. Xuất xứ của vở kịch Hồn Trương Ba da hàng thịt
– Lưu Quang Vũ viết vở kịch Hồn Trương Ba da hàng thịt năm 1981, đến năm 1984 thì ra mắt công chúng. Vở kịch dựa vào câu chuyện dân gian, nhưng đã có những thay đổi cơ bản.
– Điểm khác biệt :
+ Trong truyện dân gian, nhân vật Trương Ba tiếp tục sống bình thường, hạnh phúc khi được nhập hồn vào thân xác anh hàng thịt. Ngắn gọn và đơn giản, truyện dân gian mang một tư tưởng triết học có phần cơ bản đúng, nhưng chỉ đề cao linh hồn, tuyệt đối hóa linh hồn, không để ý đến mối quan hệ giữa thể xác và linh hồn.
+ Vở kịch của Lưu Quang Vũ tại tập trung diễn tả tình cảnh trớ trêu, nỗi đau khổ, giày vò của Trương Ba từ khi “bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo”. Từ đó đưa đến những tư tưởng mới : sự tồn tại độc lập của thân xác đối với linh hồn và khẳng định một quan niệm đúng đắn về cách sống.

.5 Thông điệp
– Được sống làm người thật là quý giá ; nhưng được sống đúng là mình, sống trọn vẹn với những giá trị mình muốn có và theo đuổi còn quý giá hơn.
– Cuộc sống chỉ thực sự có ý nghĩa khi người ta được sống tự nhiên với sự hài hoà giữa tâm hồn và thể xác.

6.. Chi tiết cuối cùng của vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Lưu Quang Vũ)
– Những hành động của cái Gái :
+ Bẻ quả na cho cu Tị một nửa.
+ Đôi trẻ ăn ngon lành.
+ Cái gái lấy những hạt na vùi xuống đất.
– Qua đó, tác giả muốn thể hiện :
+ Cuộc sống tiếp nối, sinh sôi tuần hoàn theo quy luật.
+ Sự bất tử của linh hồn trong sự sống và trong lòng mọi người.
7.. Cuộc trò chuyện giữa Hồn Trương Ba với Đế Thích
+ Hai lời thoại của Hồn trong cảnh này có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng :
– Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn…
– Sống nhờ vào đồ đạc, của cải người khác đã là chuyện không nên, đằng này đến cái thân tôi cũng phải sống nhờ anh hàng thịt. Ông chỉ nghĩ đơn giản là cho tôi sống, nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết!
+ Những ý nghĩa triết lí sâu sắc và thấm thía qua hai lời thoại này.
– Thứ nhất, con người là một thể thống nhất, hồn và xác phải hài hòa. Không thể có một tâm hồn thanh cao trong một thân xác phàm tục, tội lỗi. Khi con người bị chi phối bởi những nhu cầu bản năng của thân xác thì đừng chỉ đổ tội cho thân xác, không thể tự an ủi, vỗ về mình bằng vẻ đẹp siêu hình của tâm hồn.
– Thứ hai, sống thực sự cho ra con người quả không hề dễ dàng, đơn giản. Khi sống nhờ, sống gửi, sống chắp vá, khi không được là mình thì cuộc sống ấy thật vô nghĩa. Những lời thoại của Hồn Trương Ba với Đế Thích chứng tỏ nhân vật đã ý thức rõ về tình cảnh trớ trêu, đầy tính chất bi hài của mình, thấm thía nỗi đau khổ về tình trạng ngày càng vênh lệch giữa hồn và xác, đồng thời càng chứng tỏ quyết tâm giải thoát nung nấu của nhân vật trước lúc Đế Thích xuất hiện.

Xem thêm :

Những bài văn hay về Hồn Trương Ba da hàng thịt

Tuyển tập đề thi về các tác phẩm lớp 12

Nghị luận xã hội: vấn đề con người cần được sống là chính mình trong Hồn Trương Ba Da hàng thịt

Thêm một đề văn Nghị luận xã hội cho các em tham khảo nhé !

Trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ có đoạn:
Hồn Trương Ba: Ông Đế Thích ạ, tôi không thể tiếp tục mang thân anh hàng thịt được nữa, không thể được!
Đế Thích: Sao thế? Có gì không ổn đâu!
Hồn Trương Ba: Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn.
Đế Thích: Thế ông ngỡ tất cả mọi người đều được là mình toàn vẹn cả ư? Ngay cả tôi đây. Ở bên ngoài, tôi đâu có được sống theo những điều tôi nghĩ bên trong. Mà cả Ngọc Hoàng nữa, chính người lắm khi cũng phải khuôn ép mình cho xứng với danh vị Ngọc Hoàng. Dưới đất, trên trời đều thế cả, nữa là ông. Ông đã bị gạch tên khỏi sổ Nam Tào. Thân thể thật của ông đã tan rữa trong bùn đất, còn chút hình thù gì của ông đâu!
Hồn Trương Ba: Sống nhờ vào đồ đạc, của cải người khác, đã là chuyện không nên, đằng này đến cái thân tôi cũng phải sống nhờ anh hàng thịt. Ông chỉ nghĩ đơn giản là cho tôi sống, nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết!
(Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2013, tr. 149)

Phân tích khát vọng của nhân vật Hồn Trương Ba trong đoạn trích trên. Từ đó, trình bày suy nghĩ của anh/chị về vấn đề: con người cần được sống là chính mình.

Admin hướng dẫn các em như sau :

Đây là dạng đề nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học. Bài làm của các em cần tuân thủ theo hai bước cơ bản. Nếu các em chưa nắm vững cách làm dạng đề nghị luận về vấn đề đặt ra trong tác phẩm văn học thì có thể đọc bài lí thuyết nhé. Link bài viết :

http://vanhay.edu.vn/nghi-luan-ve-van-de-xh-trong-tac-pham-van-hoc

Với đề bài trên, chúng ta làm như sau :

Mở bài :

  • Giới thiệu tác giả Lưu Quang Vũ và vở Kịch “Hồn Trương Ba da  hàng thịt”
  • Giới thiệu đoạn trích trong đề bài
  • Giới thiệu vấn đề nghị luận: con người cần được sống là chính mình.

Thân bài

Luận điểm 1 :Phân tích khát vọng của nhân vật Hồn Trương Ba

– Khát vọng được thoát ra khỏi nghịch cảnh phải sống nhờ trong thân xác anh hàng thịt:
+ Ý thức được tình cảnh trớ trêu là phải sống bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo.
+ Thấm thía nỗi đau khổ và không chấp nhận tình trạng vênh lệch giữa hồn và xác. Các từ ngữ
không thể tiếp tục, không thể được, không thể trong lời thoại của Trương Ba cho thấy thái độ kiên
quyết, dứt khoát của nhân vật.
– Khát vọng được sống là chính mình:
+ Muốn là mình một cách toàn vẹn; thể xác và linh hồn hòa hợp; bên trong bên ngoài, suy nghĩ và hành động thống nhất.
+ Mong muốn một cuộc sống có ý nghĩa, không chấp nhận sự dung tục, tầm thường:Ông chỉ nghĩ đơn giản là cho tôi sống, nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết!
* Đánh giá
– Khát vọng của Hồn Trương Ba đã cho ta thấy vẻ đẹp tâm hồn của con người trong cuộc đấu tranh chống
lại sự dung tục, giả tạo; bảo vệ quyền được sống là chính mình; hướng đến sự hoàn thiện nhân cách.
– Khát vọng của Hồn Trương Ba được thể hiện sâu sắc nhờ ngôn ngữ kịch hấp dẫn, giàu sức khái quát
và tính triết lí.
Luận điểm 2 : Bày tỏ suy nghĩ của mình về vấn đề: con người cần được sống là chính mình

  • Thế nào là được sống là chính mình? nghĩa là khi con người sống đúng với những giá trị bản thân, với những cảm xúc, khát vọng của chính mình, với đam mê và nhiệt huyết của bản thân.
  • Vì sao con người cần được sống là chính mình?

-Bởi lẽ, cuộc đời con người là cả một hành trình dài. Và trên hành trình ấy, ta phải gặp biết bao hạng người, đối mặt với nhiều khó khăn, có lúc ta hạnh phúc, có lúc ta quỵ ngã. Nếu sống đúng, sống chân thật thì bản thân thì mọi người sẽ ở bên ta lúc mệt mỏi, chia sẻ với ta những niềm vui,nỗi buồn. Hơn nữa, cuộc đời thực khác với những thứ ảo ảnh, phù phiếm. không ai có thể diễn kịch cho bản thân trong vai diễn cuộc đời. Mỗi người có một tích cách khác nhau, nhu cầu khác nhau. Không thể áp đặt lối sống, phong cách của người này đối với người khác. Sống đích thực với bản thân khiến con người ta thoải mái hơn, tự nhiên và tự tin hơn.

-Trái ngược với sống đích thực, sống đúng với bản thân là cách sống giả tạo, sống hình thức. nghĩa là mỗi người tự tạo cho mình một lớp vỏ bọc giả dối để đánh lừa người khác, nhằm thõa mãn thú vui nhất thời của bản thân và hậu quả cuối cùng là người đó tự đào thải chính mình ra khỏi xã hội.

 

  • Làm thế nào để con người được sống là chính mình: đối với mỗi sinh viên, mỗi bạn trẻ trong hành trang vào đời của mình phải trang bị những tri thức, kĩ năng để luôn chủ động, linh hoạt trước những biến thiên của cuộc sống, luôn giữ vững cá tính và phong cách của bản thân. Sống hoà nhập nhưng không hoà tan, sống theo cá tính , phong cách riêng nhưng không lập dị, khác thường, con người sẽ có được hạnh phúc thực sự.

Kết bài :

  •  Đánh giá chung về giá trị tác phẩm
  • Khẳng định quan niệm sống đúng đắn

Xem thêm :

Tổng hợp những mở bài về các tác phẩm lớp 12 ( phần 1 )

Tổng hợp những mở bài cho các tác phẩm lớp 12 ( phần 1 )

Xem phần lí thuyết tại đây

Cách viết phần mở bài trong bài văn nghị luận

Các em lưu ý : mỗi đề thi sẽ có một mở bài khác nhau,không thể có một mở bài chung cho nhiều đề thi. Bởi vậy những mở bài dưới đây chỉ mang tính tham khảo. Khi làm bài, tuỳ yêu cầu của đề, các em có thể chỉnh sửa đôi chút cho phù hợp .

Một số mở bài cho bài Tuyên ngôn Độc Lập –Hồ Chí Minh

MB 1.

Theo chiều dài bốn ngàn năm của lịch sử dân tộc có nhiều dấu mốc đáng ghi nhớ gắn với sự nghiệp đấu tranh chống ngoại xâm. Một trong những mốc lịch sử trọng đại  ấy là sự kiện Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công,  khai sinh ra nước VNDCCH. Để tuyên bố với nhân dân cả nước và thế giới biết nước Việt Nam từ nay độc lập, Hồ Chí Minh đã viết tuyên ngôn độc lập. Một văn kiện đặc biệt vừa tính văn học, vừa mang tính lịch sử.( dẫn dắt nêu vấn đề nghị luận. Hoặc trích đoạn văn cần phân tích )

MB 2.

Trải qua mấy ngàn năm lịch sử, dân tộc ta phải đương đầu với đủ loại ngoại xâm: Từ Bắc xuống, từ Nam lên, tứ Tây sang, từ Đông vào cho nên cùng với những chiến công hiển hách: phá Tống, bình Nguyên, diệt Minh, đuổi Thanh;  nền văn học chúng ta cũng đã có những áng văn kiệt tác khẳng định đanh thép chủ quyền độc lập của dân tộc. Bên cạnh bài thơ Thần của Lý Thường Kiệt sang sảng ngâm trên sông Như Nguyệt, Bình Ngô đại cáo một thiên cổ hùng văn của Nguyễn Trãi, ngày nay chúng ta có Tuyến ngôn Độc lập y một áng văn chính luận mẫu mực, nổi tiếng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tinh hoa của dân tộc, khí phách của non sông. .( dẫn dắt nêu vấn đề nghị luận. Hoặc trích đoạn văn cần phân tích )
MB 3.

Em hãy phân tích nghệ thuật Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hồ Chí Minh để thấy rõ nghệ thuật lập luận đặc sắc của Bác Hồ?

Hồ Chí Minh (1890 – 1969) là một tác gia lớn của nền văn học dân tộc Việt Nam. Người đã viết thành công trên nhiều thể loại văn chính luận, truyện ký, thơ ca và ở thể loại nào cũng có những tác phẩm xuất sắc mẫu mực. Riêng ở thể loại văn chính luận Hồ Chí Minh đã chứng tỏ mình là một cây bút xuất sắc, mẫu mực mà dẫn chứng hùng hồn là tác phẩm “Tuyên ngôn độc lập” 1945. “Tuyên ngôn độc lập” là một bản tuyên bố lịch sử được Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại vườn hoa Ba Đình vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Bản “Tuyên ngôn độc lập” vừa tuyên bố nền độc lập của dân tộc vừa bác bỏ luận điểm xâm lược của kẻ thù. “Tuyên ngôn độc lập” là một áng văn chính luận vừa có giá trị pháp lí, giá trị lịch sử, giá trị nhân văn và giá trị nghệ thuật cao. Cái tạo nên giá trị nghệ thuật cao chính là ở bút pháp lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, dẫn chứng hùng hồn, văn phong xúc tích trong sáng.

 

MB 4.

Sinh thời Hồ Chí Minh không bao giờ nhận mình là nhà văn nhà thơ mà chỉ là người bạn của văn nghệ người yêu văn nghệ. Nhưng trên bước đường hoạt động cách mạng Người nhận thấy văn chương có thể phụng sự đắc lực cho tuyên truyền. Cộng với một tài năng nghệ thuật và một tinh thần nghệ sĩ chan chứa cảm xúc nên người đã sáng tác nên nhiều tác phẩm có giá trị. Tiêu biểu trong số nhưng tác phẩm đó phải kể đến tác phẩm tuyên ngôn độc lập. Nó không chỉ áng văn chính luận hay sắc sảo với những lập luận chặt chẽ mà nó còn mang ý nghĩa như tuyên ngôn khẳng định cho một đất nước – đó chính là nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. .( dẫn dắt nêu vấn đề nghị luận. Hoặc trích đoạn văn cần phân tích )

MB 5:Bàn về sức thuyết phục của bản Tuyên ngôn độc lập

TNĐL là một tác phẩm chứa nhiều giá trị. Nhìn từ nhiều góc độ khác nhau, giá trị nào của tác phẩm này cũng , thật sâu sắc. Về mặt thể loại văn học, Tuyên Ngôn Độc Lập là một áng văn chính luận hào hùng, mẫu mực, đáng lưu truyền muôn thuở. Một trong những nét nổi bật của bản Tuyên Ngôn Độc Lập là  lập luận sắc sảo, chặt chẽ tạo nên một sức thuyết phục rất lớn. Xuất phát từ quan điểm sáng tác và đặc trưng thể loại của tác phẩm này, chúng ta sẽ thấy được cội nguồn của sức thuyết phục ấy.

Một số mở bài cho bài thơ Tây tiến -Quang Dũng

MB 1 :

Đề bài : Cảm nhận về đoạn thơ

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

…..Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.

 

Ai đã từng đi qua một thời trận mạc chắc hẳn trong lòng thường lưu giữ những kỉ niệm khó quên.  Quang Dũng cũng vậy, những năm tháng gắn bó với binh đoàn Tây tiến  đã để lại ấn tượng không thể phai mờ trong trái tim ông. Nỗi nhớ Tây Tiến, nhớ đồng đội , nhớ núi rừng  thôi thúc ông viết Tây tiến – bài thơ với những vần thơ đậm chất anh hùng ca bay lên từ hiện thực tàn khốc. Đoạn đầu bài thơ chính là đoạn ghi lại những kỉ niệm những kỉ niệm đầy ắp và nỗi nhớ của nhà thơ về những ngày tháng gắn bó cùng binh đoàn:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

…..Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.
MB 2:

Đề bài : Chứng minh chất hiện thực và lãng mạn của bài thơ Tây tiến thông qua đoạn thơ sau :

Tây tiến đoàn binh không mọc tóc…..

Chín năm kháng chiến chống Pháp với bao gian khổ, hi sinh, mất mát nhưng đã để lại một dấu son chói lọi trong lịch sử dân lộc. Những năm tháng đáng nhớ ấy là  nguồn cảm hứng bất tận cho thi ca. Nhiều bài thơ ra đời ngay từ những ngày đầu kháng chiến và tạo nên sức mạnh cho người lính đi tới thắng lợi cuối cùng . Trong những bài thơ đặc sắc , chúng ta phải kể đến Tây Tiến của Quang Dũng. Bài thơ giàu chất hiện thực nhưng lại dạt dào cảm hứng lãng mạn. Đoạn thơ sau dù chỉ là trích đoạn, cũng cho thấy rất rõ đặc điểm ấy:

( Trích dẫn đoạn thơ )
MB3 :

Cảm nhận của anh/ chị về hình tượng người lính Tây Tiến trong đoạn thơ sau

Tây tiến đoàn binh không mọc tóc…

 

Bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng được xem là một trong những tác phẩm xuất sác của thơ ca Việt Nam giai đoạn sau 1945. Bài thơ cho chúng ta cảm nhận một cách rõ nét, sinh động vẻ đẹp hùng vĩ, thơ mộng của thiên nhiên miền Tây. Đặc  biệt bài thơ đã khắc sâu trong tâm trí người đọc vẻ đẹp  hình tượng người lính, vẻ đẹp ấy được thể hiện tập trung ở đoạn thơ:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quăn xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành!

Đề bài :Cùng tái hiện vẻ đẹp của những đoàn quân ra trận, mỗi nhà thơ lại có cách khám phá thể hiện riêng. Trong bài Tây Tiến, Quang Dũng viết:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

Trong Việt Bắc, Tố Hữu viết:

“Những đường Việt Bắc của ta

Đêm đêm rầm rập như là đất rung

Quân đi điệp điệp trùng trùng

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan”

Bài làm:

Súng nổ rung trời giận dữ

Người lên như nước vỡ bờ

Nước Việt Nam từ máu lửa

Rũ bùn đứng dậy sáng lòa”

Đã có những tháng ngày như thế, những tháng ngày đất nước hừng hực sục sôi trong khí thế của cuộc kháng chiến gian khổ mà anh hùng. Đã có những con người như thế, những con người nhỏ bé nhưng tạo sức mạnh của những đoàn quân một thời làm khiếp sợ kẻ thù, ra trận với ý chí “Quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh” để giành lấy độc lập, tự do cho dân tộc. Cùng tái hiện vẻ đẹp của những đoàn quân ra trận, mỗi nhà thơ lại có cách khám phá và thể hiện riêng. Trong bài Tây Tiến, Quang Dũng viết:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

Trong Việt Bắc, Tố Hữu viết:

“Những đường Việt Bắc của ta

Đêm đêm rầm rập như là đất rung

Quân đi điệp điệp trùng trùng

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan”.

Một số mở bài cho Người lái đò sông Đà– Nguyễn Tuân

MB 1 :

Nói đến Nguyễn Tuân, người ta thường nghĩ ngay đến “chủ nghĩa xê dịch”. Ông tới miền Tây Bắc rộng lớn, xa xôi không chỉ để thoả mãn cái thú tìm đến miền đất lạ cho thoả niềm khát khao “Xê dịch” mà chủ yếu để tìm kiếm chất vàng của thiên nhiên và ở tâm hồn của người lao động. Những trang viết hay nhất của ông thường là những trang tả đèo cao, vực sâu, thác nước dữ dội hoặc những cảnh thiên nhiên  đẹp một cách tuyệt đỉnh, tuyệt vời.  “Người lái đò sông Đà” là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách của nhà văn. Tác phẩm là những trang văn miêu tả rất tinh tế vẻ đẹp hình tượng con sông Đà vừa hùng vĩ, dữ dội nhưng cũng rất trữ tình và lãng mạn.

MB 2 :Đề bài: Cảm nhận của em về  hình tượng người lái đò trong tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân
Tuỳ bút “Người lái đò sông Đà” là một trong những tác phẩm đặc sắc của Nguyễn Tuân được in trong tập sông Đà (1960). Viết tuỳ bút này, Nguyễn Tuân tự coi mình là người đi tìm cái thứ vàng mười của núi rừng Tây Bắc và nhất là cái thứ vàng mười trong những con người đang nhiệt tình gắn bó với công cuộc xây dựng quê hương. Chất vàng mười i ấy chính là vẻ đẹp người lái đò sông Đà. Dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân người lái đò vừa là người anh hùng vừa là người nghệ sỹ tài hoa trong nghề của mình.

MB3  : Cảm nhận về một đoạn văn trong tác phẩm Người lái đò sông Đà

Nguyễn Tuân là cây bút tài hoa , uyên bác , cả đời say mê tìm kiếm vẻ đẹp của cuộc sống . Ông có sở trường về thể loại tuỳ bút . Một trong những sáng tác tiêu biểu của ông là tuỳ bút “ Người lái đò sông Đà” . Tác phẩm đã khắc hoạ vẻ đẹp đa dạng vừa hung bạo vừa trữ tình của con sông Đà và ca ngợi người lái đò giản dị mà kì vĩ trên dòng sông . Đoạn trích dưới đây là đoạn tiêu biểu của  thiên tuỳ bút này: ( trích dẫn đoạn văn trong đề bài. Các em không cần chép đoạn trích vào bài thi nhé ! chỉ chép câu đầu và  chấm chấm (…) câu cuối  của đoạn )

MB 4 : Phân tích nét độc đáo trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân qua tuỳ bút “Người lái đò sông Đà”
Nguyễn Tuân là một trong những cây bút xuất sắc của văn xuôi hiện đại Việt Nam.  Mỗi tác phẩm của ông là một bài ca về cái đẹp của cuộc sống, của con người, đặc biệt là những người lao động bình dị mà tài hoa.  Bên cạnh đó, tác phẩm của ông được người đọc đặc biệt chú ý về phong cách nghệ thuật rất riêng và rất độc đáo . “Người lái đò Sông Đà ” là một bài tùy bút tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật  của ông.

Một số mở bài cho bài thơ Việt Bắc– Tố Hữu

MB 1 :

Đề bài: Cảm nhận của em về hai đoạn thơ sau:

“Ta với mình, mình với ta
…Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu.”

“Dẫu xuôi về phương bắc
…Hướng về anh một phương.”

 

Bài làm
Trong cuộc đời mỗi con người, ai cũng có ít nhất một niềm thương, nỗi nhớ. Niềm thương, nỗi nhớ ấy luôn thường trực trong ta tạo nên những rung động mãnh liệt trong cảm xúc. Với các thi nhân , cảm xúc lại là yếu tố vô cùng quan trọng. Nó giúp cho các nhà thơ làm nên những thi phẩm say đắm lòng người. Tiếng nói từ trái tim sẽ đến được với trái tim. Đoạn thơ:

” Ta với mình, mình với ta
Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh
Mình đi, mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu.”

trích trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu và đoạn thơ:

“Dẫu xuôi về phương bắc
Dẫu ngược về phương nam
Nơi nào em cũng nghĩ
Hướng về anh một phương.”

trích trong bài thơ “Sóng của Xuân Quỳnh là những vần thơ dạt dào cảm xúc như thế.

( Bài viết của học sinh)

MB 2 :

Đề bài : Cảm nhận của anh/ chị về đoạn thơ sau….

Bài làm:

Có thể nói Tố Hữu  là  nhà thơ vĩ đại  của nền văn học Việt Nam. Tác phẩm của ông ghi dấu các  sự kiện, các dấu mốc của lịch sử quan trọng ở nước ta suốt hơn nửa thế kỉ. Việt Bắc là một trong số những bài thơ tiêu biểu. Tác phẩm  ghi lại sự kiện Đảng và Nhà nước chuẩn bị rời Việt Bắc về Hà Nội sau cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi. Trong bài thơ của mình, Tố Hữu đã thể hiện những tình cảm tha thiết của người đi – kẻ ờ, thể hiện những cảm nhận sâu sắc của tác giả về thiên nhiên và con người Việt Bắc. Điều này được thể hiện rõ nét qua đoạn thơ:

Ta về mình có nhớ ta,

….Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung

MB 3 :

Đề bài:
”Việt Bắc” tiêu biểu cho giọng thơ tâm tình ngọt ngào tha thiết của Tố Hữu và nghệ thuật biểu hiện giàu tính dân tộc của thơ ông.Hãy chứng minh điều đó qua đoạn trích hai mươi câu thơ đầu của bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu.

Bài làm:
Việt Bắc – Một sáng tác thành công của nhà thơ Tố Hữu được viết ra như một bản anh hùng ca , ca ngợi cuộc kháng chiến và con người kháng chiến. Bải thơ như lời hát tâm tình của mối tình tha thiết và day dứt giữa đồng bào Việt Bắc với người cán bộ về xuôi. Tác phẩm không chỉ hấp dẫn người đọc ở nội dung sâu sắc mà còn bởi giọng thơ tâm tình ngọt ngào cùng nghệ thuật biểu hiện giàu tính dân tộc.

MB 4 : Cảm nhận về đoạn thơ :

“Mình về mình có nhớ ta

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

Bài làm :

Tố Hữu là nhà thơ trữ tình chính trị, là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam. Thơ Tố Hữu thể hiện lẽ sống lớn, tình cảm lớn của con người Cách mạng. Thơ ông đậm đà tính dân tộc trong nội dung và hình thức thể hiện. Bài thơ “Việt Bắc” là đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cũng là đỉnh cao của thơ ca kháng chiến chống Pháp. Bài thơ Việt Bắc có nhiều đoạn thơ hay mà tiêu biểu là đoạn thơ sau:

“Mình về mình có nhớ ta

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

MB5 :

Việt Bắc là đỉnh cao của thơ ca kháng chiến chống Pháp và cũng là đỉnh cao của thơ Tố Hữu là bài thơ tiêu biểu cho phong cách này. Bằng cấu từ đầy màu sắc trữ tình dân gian, 1 thứ ngôn ngữ ngọt ngào tha thiết, những hình ảnh rất giàu chất thơ Tố Hữu đã từ cuộc chia tay giữa những người kháng chiến đối với đồng bào Việt Bắc mà tái hiện lại một Việt Bắc trong kháng chiến đầy gian khổ hy sinh nhưng thấm đẫm nghĩa tình quần chúng giữa cách mạng với nhân dân, lãnh tụ với dân tộc, miền ngược với miền xuôi, quá khứ, hiện tại, tương lai như hoà quyện vào nhau. Điều đó đã được thể hiện ngay trong 8 câu thơ mở đầu bài thơ.

Một số mở bài cho bài thơ Sóng -Xuân Quỳnh

MB1 : Cảm nhận của anh/ chị về đoạn thơ sau :

“Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể

Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ”

Bài làm :

Xuân Quỳnh là một trong số những nhà thơ trẻ xuất sắc trưởng thành từ kháng chiến chống Mỹ và là một trong số ít những nhà thơ nữ viết rất nhiều và rất thành công về đề tài tình yêu. Một trong những thành công xuất sắc về đề tài này của nữ sĩ là bài thơ “Sóng”, hai khổ thơ đầu bài thơ tác giả  viết:

“Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể

Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ”

MB2 :

Từ xa xưa, tình yêu luôn là điều bí ẩn đối với con người. Có lẽ cũng vì thế mà mỗi nhà thơ đều có cách lí giải và cảm nhận riêng về tình yêu. Ta bắt gặp một Xuân Diệu  say đắm, nồng nàn, khao khát được yêu đương mãnh liệt, một Nguyễn Bính chân chất của tình yêu đồng nội, gần gũi với thôn quê. Và có lẽ chắc chắn người đọc sẽ không quên được  Xuân Quỳnh với nhiều trạng thái cảm xúc vừa gần gũi, giản dị, vừa ồn ào, mãnh liệt. Bài thơ “sóng” là tiếng lòng chân chất, mộc mạc và cũng đầy những bất an về tình yêu đôi lứa.. Bài thơ mở đầu bằng những cảm xúc khi yêu:

Theo yêu cầu, cô viết tiếp mở bài tham khảo cho Rừng Xà nu và Những đứa con trong gia đình

Một số mở bài cho tác phẩm Rừng xà nu – Nguyễn Trung Thành

MB1 . Dùng  cho nhân vật T Nú :

Rừng xà nu  là bản anh hùng ca về cuộc chiến đấu anh hùng của đồng bào Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mĩ. Tái hiện chân thực cuộc chiến đâu kiên cường của nhân dân Tây Nguyên trong những ngày đánh Mỹ, nhà văn tập trung miêu tả hình thành của một thê hệ tiếp nối, phát huy truyền thống anh hùng của cha ông, và qua đó nhà văn cũng phản ánh sự trưởng thành của nhân dân Tây Nguyên trong cuộc đấu tranh một mất một còn với kẻ thù mới là đế quốc Mỹ. Tiêu biểu cho thế hệ thanh niên đó là Tnú.

MB 2  : Dùng cho đề bài : cảm nhận của anh/ chị về đoạn văn sau :

Làng ở trong tầm đại bác của đồn giặc. Chúng nó bắn đã thành lệ, mỗi ngày hai lần, hoặc buổi sáng sớm và xế chiều, hoặc đứng bóng và sẩm tối….Đứng trên đồi xà nu ấy trông ra xa, đến hết tầm mắt cũng không thấy gì khác ngoài những đồi xà nu nối tiếp tới chân trời.
Bài làm:
Rừng xà nu được Nguyễn Trung Thành viết vào mùa hè 1965 khi đến quốc  Mỹ bắt đầu đổ quân ào ạt vào miền Nam nước ta. Tác phẩm rất thành công trong việc khắc hoạ hình ảnh rừng xà nu-  một loài cây hùng vĩ, cao thượng, man dại, trong sáng cũng là hình ảnh ẩn dụ cho người dân Tây Nguyên nói riêng, con người Việt Nam nói chung. Ngay ở đoạn văn mở đầu truyện, ta bắt gặp hình ảnh rừng xà nu hùng vĩ, để lại ất tượng sâu sắc trong lòng người đọc.

Mở bài khác :

Mỗi nhà văn dường như đều gắn bó với  một vùng quê nhất định . Nếu như Nguyên Hồng tha thiết với Hải Phòng –thành phố hoa phượng đỏ, Nam Cao gắn bó cả cuộc đời với làng Vũ Đại qua những trang văn sắc lạnh mà thấm đẫm nước mắt, thì Nguyễn Trung Thành dường như có một niềm yêu thiết tha và mối giao cảm kì lạ với Tây Nguyên. Trong suốt hai cuộc kháng chiến, chính mảnh đất và con người nơi đây là nguồn cảm hứng lớn lao cho sáng tác của ông, làm nên tác phẩm “Rừng xà nu”- một bản anh hùng ca thời hiện đại. Đến với “Rừng xà nu”, ngay ở đoạn văn mở đầu truyện, ta bắt gặp hình ảnh rừng xà nu hùng vĩ, để lại ất tượng sâu sắc trong lòng người đọc.

Một số mở bài cho tác phẩm Những đứa con trong gia đình – Nguyễn Thi

MB 1 : Cảm nhận về đoạn văn trong tác phẩm: “Cúng mẹ và cơm nước xong, mấy chị em, chú cháu thu xếp đồ đạc dời nhà. …. Lần đầu tiên Việt mới thấy lòng mình rõ như thế. Còn mối thù thằng Mĩ thì có thể rờ thấy được, vì nó đang đè nặng ở trên vai”.

Nhắc tới Nguyễn Thi, người đọc không thể không nhắc tới ” Người mẹ cầm súng, ” Khi mẹ vắng nhà”, và đặc biệt là truyện ngắn ” Những đứa con trong gia đình” . Trong tác phẩm, cảm động nhất là đoạn văn kể chuyện chị em Chiến, Việt làm cơm cúng má rồi dời bàn thờ má sang nhà chú Năm. Đoạn truyện đã đem lại những rung động sâu xa cho người đọc trước vẻ đẹp tâm hồn của con người Việt Nam trong kháng chiến: ” Cúng mẹ và cơm nước xong….”

MB 2 : So sánh Việt và Tnú

 

Truyện ngắn  Rừng xà nu  của Nguyễn Trung Thành và Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi là 2 tác phẩm xuất sắc, phản ánh cuộc chiến đấu của con người Việt Nam trong kháng chiến. Tnú và Việt là hai nhân vật chính , tiêu biểu cho phẩm chất người cộng sản kiên cường. Qua hai nhân vật, tác giả Nguyễn Trung Thành và Nguyễn Thi đã khắc họa thành công   vẻ đẹp con người Việt Nam trong kháng chiến. Ở mỗi nhân vật đều có những vẻ đẹp riêng, hấp dẫn người đọc.

Một số mở bài cho bài Đất nước- Nguyễn Khoa Điềm

MB 1 :

Đề bài yêu cầu cảm nhận 9 câu thơ đầu trong bài Đất Nước, ta có thể tham khảo mở bài sau:
“Đất Nước” từ lâu đã là nguồn cảm hứng bất tận của thơ ca nói riêng và văn học nói chung. Nếu như các nhà thơ cùng thời thường chọn điểm nhìn về Đất Nước bằng những hình ảnh kỳ vĩ, mỹ lệ hay cảm hững về lịch sử qua các triều đại thì Nguyễn Khoa Điềm lại chọn điểm nhìn gần gũi, quen thuộc bình dị để miêu tả về Đất Nước. Đến với bài thơ “Đất Nước” của Nguyễn Khoa Điềm ta như đứng trước muôn màu văn hóa, truyền thống, phong tục tươi đẹp vô ngần. Vẻ đẹp ấy được hiện lên sâu sắc nhất qua chín câu thơ đầu. (trích thơ)

MB2 : So sánh Đất nước của Nguyễn Đình Thi và Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm

Trải suốt chiều dài lịch sử văn học, hình tượng đất nước đã bắt nhịp trái tim của không biết bao nhiêu nghệ sĩ để đi vào thơ với vẻ đẹp thiêng liêng và niềm tin yêu sâu sắc. Hồn thiêng đất nước, tinh thần dân tộc hào hùng được bắt nguồn từ “Nam quốc sơn hà”, “Hịch tướng sĩ”, “Tuyên ngôn Độc lập”… và tiếp nối bền vững qua mỗi thời kì. “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi và “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm gặp gỡ nhau ở đề tài ấy. Hai đoan thơ tiêu biểu ở hai bài thơ đã góp phần thể hiện rõ….

MB 3 :Đề bài: Nhận xét về chương V Đất Nước cuả Nguyễn Khoa Điềm có ý kiến cho rằng:” Tác giả đã phát biểu tư tưởng “Đất Nước của Nhân Dân, ĐN của ca dao thần thoại” và tư tưởng này chi phối cả nội dung và hình thức nghệ thuật của bản trường ca”.Từ đoạn trích ĐN anh chị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.
Bài làm
Nhắc đến lối thơ trữ tình chính luận ta không thể không nhắc đến Nguyễn Khoa Điềm- một nhà thơ xuất sắc của nền thơ ca hiện đại trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. “Mặt đường khát vọng” được viết năm 1971 là tác phẩm tiêu biểu nhất của ông. Trong đó chương V là chương trung tâm kết nối mạch ngầm của văn bản bằng hình tượng nghệ thuật trung tâm là Đất Nước. Nhận xét về chương này có ý kiến cho rằng: “Tác giả đã phát biểu tư tưởng “Đất Nước của Nhân Dân, ĐN của ca dao thần thoại” và tư tưởng này chi cả nội dung và hình thức nghệ thuật của bản trường ca”.

Một số mở bài cho bài thơ Đàn ghi ta của Lor-Ca – Thanh Thảo

1. Đề bài: ” Phân tích hình tượng nhân vật Lor-ca trong bài thơ “Đàn ghi ta của Lor-ca” của Thanh Thảo.

Bài làm:

Cùng với Xuân Quỳnh, Thanh Thảo cùng thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Mỹ nhưng trang thơ Thanh Thảo lại có dấu ấn rất riêng. Ông là người đi đầu trong phong trào cách tân thơ Việt, con đường mà ông lựa chọn để cách tân thơ Việt là việc đào sâu cái tôi nội cảm, tìm kiếm những cách biểu đạt  mới qua hình thức những câu thơ tự do, phá bỏ mọi ràng buộc, khuôn sáo. Thanh Thảo đi theo trường phái thơ tượng trưng siêu thực có nguồn gốc từ phương Tây mà Lor-ca là một đại biểu đi đầu trong trường phái thơ đó. Bài thơ “Đàn ghi ta của Lor-ca” được rút ra từ tập “Khối vuông ru bích”, bài thơ đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật Lor-ca.

2. Đề Bài:

 Phân tích hình tương nhân vật Lor-ca trong bài thơ “Đàn ghi ta của Lor-ca” của nhà thơ Thanh Thảo.

 Bài Làm:

Bài viết của Mơ Cao, học sinh trường THPT Bình Minh, Kim Sơn Ninh Bình

 Thanh Thảo là một nhà thơ khoác áo lính, ông sinh ra tại Quảng Ngãi, tốt nghiệp khoa văn trường Đại Học Tổng Hợp nhưng sau đó vào chiến trường miền Nam công tác. Thanh Thảo luôn nỗ lực tìm tòi hướng để cách tân thơ Việt. Ông đi theo trường phái thơ tượng trưng siêu thực có nguồn gốc từ phương Tây mà Lor-ca là một trong những người đi đầu trong trường phái thơ đó. Bài thơ “Đàn ghi ta của Lor-ca” đã xây dựng thành công hình tượng nghệ sĩ Lor-ca.

 

 Một số mở bài cho tác phẩm Người lái đò Sông Đà – Nguyễn Tuân (trích)

  1. Đề bài:Phân tích hình tượng sông Đà trong tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân

Bài làm

Nguyễn Tuân là bậc thầy về ngôn ngữ trong nền văn học hiện đại Việt Nam. Những tác phẩm của ông viết bằng cái “ngông” và bằng tình yêu tha thiết. “Người lái đò sông Đà” là bài tùy bút lấy cảm hứng từ chuyến đi thực tế. Hình ảnh con sông Đà được nhìn qua lăng kính tâm hồn nghệ sỹ với nhiều vẻ đẹp khác nhau mang lại ấn tượng độc đáo đối với người đọc. Nguyễn Tuân đã rất thành công khi xây dựng hình tượng sông Đà bằng chất liệu ngôn ngữ  và tình cảm tha thiết.

( Sưu tầm)

2. cảm nhận đoạn : “Thuyền tôi trôi trên sông Đà… trên dòng trên”.

Nói đến Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám, người ta phải nhắc Vang bóng một thời cũng như sau cách mạng tháng Tám, nhắc đến Nguyễn Tuân người ta không thể quên tập tùy bút Sông Đà của ông. Thông qua Sông Đà, bằng ngòi bút tài hoa, già dặn của mình, Nguyễn Tuân không chỉ phác họa được bức chân dung ông lái đò trên sông Đà, bức chân dung người lao động trên sông nước được nâng lên ngang tầm nghệ sĩ, mà còn đem đến con sông Đà một cái hồn người thực sự: cũng biết vui, buồn, giận dỗi, phẫn nộ, nhớ thương… Nhưng, gấp lại trang sách, đọng lại trong tôi vẫn là đoạn này: “Thuyền tôi trôi trên sông Đà… trên dòng trên”.
( sưu tầm)

3.

Về đoạn trích tuỳ bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân, có ý kiến cho rằng: Đó là một công trình khảo cứu công phu. Nhưng ý kiến khác lại nhấn mạnh: Đó là một áng văn giàu tính thẩm mĩ.

         Từ việc phân tích đoạn trích tuỳ bút, anh/chị hãy bình luận những ý kiến trên

Nguyễn Tuân là nhà văn tài hoa, am hiểu sâu rộng về nhiều lĩnh vực và  là người nghệ sĩ đặc biệt giàu cảm hứng trước những vẻ đẹp kì vĩ, phi thường, dữ dội . NLĐSĐ là tác phẩm được rút từ tập truyện Tây Bắc (1960),  là kết quả nhiều lần lên Tây Bắc và trong chuyến đi thực tế 1958 của Nguyễn Tuân.Về tác phẩm này ,có ý kiến cho rằng “đó là một công trình khảo cứu công phu”, ý kiến khác lại cho rằng “đó là một áng văn giàu tính thẩm mĩ”. Phải chăng đó là hai ý kiến trái ngược nhau?

Một số mở bài cho bài Ký Ai đã đặt tên cho dòng sông – Hoàng Phủ Ngọc Tường (trích)

Cảm nhận về hình tượng sông Hương trong bài :Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường

Con sông Hương thơ mộng của xứ Huế đã làm ngẩn ngơ không ít những tâm hồn nhạy cảm và cũng làm “khổ” không ít bậc nghệ sĩ tài hoa. Ta bắt gặp sông Hương ở muôn mặt của nghệ thuật: thơ, ca, nhạc, hoạ. Đến với bút kí Ai đã dặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường một lần nữa ta cảm nhận vẻ đẹp sông Hương và sự đam mê của tác giả khi viết về dòng sông.
( sưu tầm)

Một số mở bài cho tác phẩm Vợ chồng A – Phủ – Tô Hoài (trích)

1.Phân tích giá trị nhân đạo của truyện Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài

BÀI LÀM

Có ai đó đã từng nhận xét: suy cho cùng thì ý nghĩa thực sự của văn học là góp phần nhân đạo hoá con người. Tác phẩm văn học là sản phẩm tinh thần của con người, do con người làm ra để đáp ứng nhu cầu của nó. Vì vậy tác phẩm văn học chỉ thực sự cóđ giá trị khi nó lên tiếng vì con người, ca ngợi và bảo vệ con người. Với ý nghĩa đó một tác phẩm lớn trước hết phải là một tác phẩm có giá trị nhân đạo sâu sắc. Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài là một tác phẩm như thế.

2.  Đề bài :

Cảm nhận của anh/ chị về  đoạn văn trích sau đây trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài:

“Ngày Tết, MỊ cũng uống rượu, Mị lén lấy hũ rượu, cứ uống ực từng bát. Rồi say, Mị lịm mặt ngồi đấy nhìn mọi người nhảy đồng, người hát, nhưng lòng MỊ thì đang sống về ngày trước…..

Chó sủa xa xa. Chừng đã khuya. Lúc này là lúc trai làng đến bên vách làm hiệu, rủ người yêu dỡ vách ra rừng chơi, Mị nín khóc. Mị lại bồi hồi.”

BÀI LÀM

Vợ chồng A Phủ là một truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách Tô Hoài sau Cách mạng tháng Tám. Hiện thực và nhân đạo là nội dung nổi bật của thiên truyện này. Nội dung ấy lại được thể hiện bằng giọng văn trần thuật, miêu tả và thể hiện tâm trạng, tính cách nhân vật hết sức tinh vi và sâu sắc. Đoạn vân trên thể hiện rất rõ tài năng của Tô Hoài trong việc mô tả và khắc họạ tâm trạng nhân vật Mị, một nhân vật trung tâm của thiên truyện Vợ chồng A Phủ.

 

Một số mở bài cho tác phẩm Vợ nhặt – Kim Lân

1, Đề bài :

Truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao kết thúc bằng hình ảnh:
Đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa, và vắng người lại qua…
(Ngữ văn 11, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011, tr.155)

Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân kết thúc bằng hình ảnh:
Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới…
(Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011, tr.32)

Cảm nhận của anh/chị về ý nghĩa của những kết thúc trên.

Mở bài tham khảo nhé :

Dòng văn học hiện thực phê phán Việt Nam  thường khai thác một khía cạnh phổ biến đó là tình cảnh bi thảm của người nông dân trước cách mạng tháng Tám .Trong số những trang văn cảm động về người nông dân phải kể đến hai truyện ngắn nổi bật : Chí Phèo của nhà văn Nam Cao và Vợ nhặt của Kim Lân .Mỗi truyện đều có một cách kết thúc riêng  ,song mỗi cách kết thúc đều mang những giá trị riêng. Truyện ngắn Chí Phèo kết thúc bằng hình ảnh:
Đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa, và vắng người lại qua…Truyện ngắn Vợ nhặt kết thúc bằng hình ảnh:
Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới

2.  Đề bài : cảm nhận của anh / chị về cảnh gặp gỡ đầu tiên giữa mẹ Tràng với nàng con dáu qua đoạn ván trích sau đây trong tác phẩm Vợ nhặtt của Kim Lân:

“Tràng nhắc mẹ:

Kia nhà tôi nó chào u….

… Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời? Có ra thì rồi con cái chúng mày về sau!”

Bài làm :

Đã rất nhiều lầ n đọc truyện Vợ nhặt của Kim Lân nhưng lần nào cũng thế, cứ đọc đến đoạn miêu tả cảnh gặp gỡ đầu tiên giữa bà cụ Tứ (mẹ Tràng) với người “con dâu mới” mà con trai bà vừa “nhặt” được về  là tôi lại thấy lòng mình rưng rưng cảm động. Với những lời văn trần thuật giản dị và mộc mạc, tác giả đã dựng được lại rất sinh động những diễn biến tâm lý tinh vi và phức tạp đang diễn ra trong tâm trạng của một bà mẹ nghèo, trước một tình huống éo le không hiểu nên mừng hay lo, là hạnh phúc hay tai họa.

3.Phân tích tình huống truyện Vợ Nhặt- Kim Lân

BÀI LÀM

Nói đến nghệ thuật truyện ngắn, người ta thường coi ba yếu tố sau đây là cơ bản nhất: tình huống truyện, nhân vật truyện và cách trần thuật. Có nhiều truyện ngắn, sự sáng , tạo tình huống đóng vai trò then chốt. Đặt vào tình huống ấy, nhân vật truyện bộc lộ sâu sắc tâm lý, tính cách. Tư tưởng của thiên truyện cũng nhờ thế mà được thể hiện đậm đà. Và xoay quanh tình huống ấy, các tình tiết cũng trở nên hấp dẫn.Truyện Vợ nhặt của Kim Lân thuộc loại tác phẩm như thế.

4. Đề bài : Cảm nhận của anh/ chị về  chi tiết bát cháo hành trong truyện Chí Phèo ( Nam Cao) và bát cháo cám trong truyện Vợ nhặt ( Kim Lân).

Mở bài tham khảo:

Nam cao và Kim Lân đều là những cây bút có sở trường truyện ngắn, có nhiều trang viết cảm động về đề tài nông thôn và người nông dân. Điểm chung của hai nhà văn là họ đều có những truyện ngắn giản dị nhưng chứa chan tinh thần nhân đạo.Hình ảnh bát cháo hành trong Chí Phèo và bát cháo cám trong Vợ nhặt đều là những hình ảnh đặc sắc, góp phần thể hiện rõ nét nội dung tư tường của các tác phẩm và tài năng của các nhà văn.

Xem thêm bài viết phần 2 :http://vanhay.edu.vn/mot-mo-bai-mau-tham-khao-p2

 

Nghị luận về quan niệm sống trong Hồn Trương ba da hàng thịt Lưu Quang Vũ

ĐỀ BÀI: Trong vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”, (Lưu Quang Vũ ), nhân vật Trương Ba bày tỏ quan niệm sống của mình: “Không thể bên trong một đằng, bên  ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn”. Hãy viết một bài văn ngắn nói lên suy nghĩ của anh (chị) về quan niệm sống nêu trên.

Đáp án

Mở bài:

Dẫn dắt vấn đề , trích dẫn câu nói của nhân vật

  • Cuộc sống thật phong phú, đa dạng, phức tạp, chúng ta luôn tự hỏi: Sống thế nào cho đúng? Làm thế nào để có một cuộc sống đẹp?
  •  Trong vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”,  nhân vật Trương Ba bày tỏ quan niệm sống của mình: “Không thể bên trong một đằng, bên  ngoài một nẻo được.Tôi muốn được là tôi toàn vẹn”.

Nghị luận xã hội về Hồn Trương ba da hàng thịt Lưu Quang Vũ

Thân bài:

Giải thích ý nghĩa câu nói:

– Bên trong: Là thế giới nội tâm của con người (gồm nhận thức, tư tưởng, khát vọng). Đây là phần mà người ta không nhìn thấy được chủ có thể cảm nhận qua tiếp xúc, tìm hiểu và gắn bó.

– Bên ngoài: là cái có thể quan sát, nhận biết bằng thị giác (gồm hình thức, hành vi, lời nói, việc làm).

– Quan hệ giữa bên ngoài và bên trong: Thường là quan hệ thống nhất – cái bên ngoài là biểu hiện cụ thể của cái bên trong và ngược lại, cái bên ngoài cũng được cái bên trong quy định, chi phối.

– Bên trong một đằng, bên  ngoài một nẻo: Không có sự hài hòa, thống nhất của bên ngoài và bên trong, tức là lời nói, việc làm không thống nhất với suy nghĩ, tình cảm, nhận thức. Sự không thống nhất này khiến con người rơi vào tình trạng sống giả tạo, trở nên lệch lạc, mất thăng bằng.

– Ý nghĩa câu nói của Trương Ba:  Cần phấn đấu để đạt sự hài hòa, cân bằng giữa nhận thức, hành vi, giữa cái bên trong với cái bên ngoài. Mỗi người hãy sống là mình, luôn làm chủ bản thân cả về thể xác lẫn tìn thần. Đó là cách sống để con người đạt được sự thanh thản.

Phân tích, chứng minh ý nghĩa câu nói:

+ Khẳng định đây là quan niệm sống đúng đắn

+Chứng minh trong Hồn Trương ba da hàng thịt: 

Phần hồn Trương Ba- một người làm vườn chăm chỉ, cần cù, tinh tế đã nâng niu chăm sóc vườn cây, một con người mẫu mực, sống đạo đức và giàu tình nghĩa với vợ con, với cháu nội, với láng giềng xung quanh. Đó là những phẩm chất quý giá khiến Trương Ba được mọi người nể trọng, quý mến.

Xác hàng thịt – một con người thô bạo, tham lam, coi trọng sự hưởng thụ vật chất.

Hồn Trương Ba phải sống nhờ trong xác anh hàng thịt:  trong trường hợp này  trở nên mâu thuẫn, không thể tồn tại.

– Kết quả: Trong sự xung đột, nhu cầu thể xác lại có phần thắng thế và cái thể xác phàm tục kia lại có thể lên tiếng nhạo báng nhu cầu cao quý của linh hồn. Đây là một điều phi lí và đau lòng bởi phần xác đã xúc phạm, đã làm tổn thương đến phần hồn.

+Liên hệ thực tế :

– Khi con người được sống là mình, con người khẳng định được cái tôi của bản thân sẽ được mọi người yêu mến.

– Có một bộ phận không nhỏ những người không tạo được sự hài hòa giữa bên ngoài và bên trong:

  • Bên trong tốt đẹp, có nhân tính, có lương tâm, có khả năng nhận thức, hiểu biết nhưng không thắng được hoàn cảnh, bị hoàn cảnh xô đẩy đến chỗ có những hành vi trái với lương tâm, trái với chuẩn mực đạo đức. Đó là trường hợp con người phải sống kệch lạc, mất thăng bằng.
  • Bên trong kém cỏi, tầm thường song ở vào vị trí buộc mình phải tỏ ra có đạo đức, có hiểu biết, có tình cảm cao thượng. Đó là trường hợp con người phải sống giả tạo.

Đánh giá, bàn bạc:

  • Mỗi người cần tự kiểm soát mọi hành vi, để không chạy theo dục vọng tầm thường, không sa đà vào lối sống buông tuồng, dung tục.
  • Bên cạnh đó, cần quan tâm đến bản thân mình, quan tâm đến những nhu cầu, nguyện vọng chính đáng dù là bình thường nhất để được sống một cách thoải mái, tự nhiên.
  • Phương châm sống đúng đắn: Cố gắng tìm sự hài hòa giữa nhu cầu về tinh thần và nhu cầu về vật chất để tạo nên một cuộc sống cân bằng và nghiêm túc với bản thân mình, tạo cho mình quyền được hạnh phúc.

Kết bài:

Khẳng định lối sống đúng đắn: hãy là chính mình, hãy trung thực, thẳng thắn với bản thân, không “nói một đằng làm một nẻo”.

Xem thêm  : Những bài văn nghị luận xã hội hay lớp 12

Hồn Trương Ba da hàng thịt