Dàn ý và bài văn mẫu phân tích đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia

Hướng dẫn ôn tập. Dàn ý phân tích đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia, trích tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng.

Kiến thức cơ bản về bài Hạnh Phúc của một tang gia.

TÁC GIẢ

  • Vũ Trọng Phụng (1912 – 1939) sinh tại Hà Nội, trong một gia đình  nghèo. Ông quê ở làng Hảo (Bẩn – Yên Nhân), huyện Mĩ Hào, tỉnh Hưng Yên.
  • Sau khi học hết tiểu học, Vũ Trọng Phụng đi làm kiêm sông, nhưng chẳng được bao lâu thì mất việc. Từ đó ông sống chật vật, bấp bênh bằng nghề viết báo, viết văn chuyên nghiệp. Khoảng năm 1937 -1938, Vũ Trọng Phụng mắc bệnh lao, nhung không có điểu kiện chạy chữa. Ông mất tại Hà Nội năm 1939.
  • Vũ Trọng Phụng bắt đẩu có truyện đăng trên báo từ năm 1930. Đây là cây bút có sức sáng tạo dổi dào. Không đẩy mười năm viết văn, ông đã đê’ lại một khổi lượng tác phẩm đổ sộ. Các phóng sự: Cạm bẫy người (1933), Kỉ nghệ lấy Tây (1934), Cơm thầy cơm cô (1936). Các tiểu thuyết: Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê (1936), Lấy nhau vì tình (1937), Trúng số độc đắc (1938).
  • Sáng tác của Vũ Trọng Phụng toát lên niềm căm phẫn mãnh liệt cái xã hội đen tôl, thối nát đương thời mà ông từng gọi là “chó đểu”. Vũ Trọng Phụng có phong cách nghệ thuật độc đáo và đóng góp đáng kể vào sự phát triêh của văn xuôi Việt Nam hiện đại, nhất là ở phóng sự. Ông được nhiều người khi ây gọi là “nhà tiều thuyêì hiện đại”, “ông ma phóng sự Bắc kì”.

TÁC PHẨM

Vài nét khái quát về tiểu thuyết số đỏ và vị trí đoạn trích Hạnh  phúc của một tang gia

Tiếu thuyết Số đỏ được đăng ở Hà Nội báo từ số  40 ngày 7 — 10 — 1936 và in thành sách lần đầu năm 1938.

Tóm tắt nội dung tiểu thuyết Số đỏ:

Số đỏ là câu chuyện kể về Xuân, thường được mọi người gọi là Xuân tóc đỏ. Xuân là một cậu bé, một đứa trẻ lang thang đầu đường xó chợ, sống bằng nghề trèo me, trèo sấu kiếm tiền sống lay lắt qua ngày…

Vì từ nhỏ mồ côi, không ai nuôi dạy, nên bản chất của Xuân bị tha hóa, hắn có những hành động vô giáo dục nên bị cớm bắt giam. Nhưng cơ may đến, Xuân được cứu thoát bới bà Phó Đoan- là một mụ me Tây vô cùng dâm đãng. Từ đó, Xuân làm phục vụ cho một cửa hàng Âu hóa của vợ chồng Văn Minh do mụ Phó Đoan giới thiệu cho, đây là một cửa hàng chuyên phục vụ phái đẹp, nơi luyện quần vợt của bà Phó Đoan và vợ Văn Minh. Xuân tóc đỏ được nhận danh hiệu “sinh viên trường thuốc” rồi danh hiệu “đốc tờ Xuân”, hắn học thuộc lòng những bài quảng cáo thuốc lậu, gia nhập với xã hội thuộc lưu, mở rộng các mối quan hệ với những nhân vật có thế lực, và được cô Tuyết em của Văn Minh con cụ cố Hồng yêu say đắm. Càng ngày hắn càng được nhiều người kính trọng và sợ hãi. Vô tình hắn gây ra cái chết của cụ cố tổ, và được gia đình nhà cụ cố vô cùng biết ơn vì điều này. Vợ chồng Văn Minh ra sức yêu chiều và tô vẽ cho Xuân, đồng thời cũng có ý định gã em gái là Tuyết cho Xuân dù biết quá khứ của hắn, nhưng vì Tuyết cũng đã mang cho mình cái danh hư hỏng nên đối với gia đình họ lại là niềm vui.

Xuân đăng kí đi tranh giải quần vợt nhân dịp vua Xiêm tới Bắc Kì,  hắn xử dụng rất nhiều thủ đoạn đê tiện để được thi đấu với đối thủ chính. Bằng cách hãm hại hai cầu thủ nổi tiếng trước khi trận đấu diễn ra, và cuối cùng hắn là người duy nhất để đấu với quán quân Xiêm. Vì để giữ mối giao hòa với nước Xiêm, nên đã yêu cầu Xuân thua. Kết thúc trận đấu, Xuân diễn thuyết giữa đám đông để mọi người hiểu hắn thua vì tổ quốc, hi sinh vì tổ quốc mình. Thế là hắn được tung hô, trở thành một anh hùng, một vĩ nhân. Được thưởng được tham gia nhiều hội, và hắn trở thành con rể của cụ cố Hồng.

Đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia thuộc chương XV của tiểu thuyết, đoạn trích kể lại cảnh tang gia của gia đình cụ cố Hồng khi cụ cô tổ đã chết.

Những nội dung chính của đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia

Mỗi chương trong tiêu thuyết So đó là một tình huống trào phúng, được Nhà văn dàn dựng như một màn kịch, mỗi màn kịch lại thể hiện một mâu thuẫn trào phúng. Nhan đề Hạnh phúc của một tang gia của chương XV này đã khái quát lên mâu thuẫn trào phúng cơ bản mà nhà văn đã dàn dựng trong chương truyện này. Nghe qua thật bất ngờ và lạ lùng. Theo lẽ thường thì hạnh phúc là niềm vui khi con ngưòi thỏa đirọc ước nguyện trong cuộc sống. Còn tang gia là mất mát thì phải đau thương. Nhưng ỏ đây “tang gia” mà lại “hạnh Điều này thật màu thuẫn, ngược đời, nhưng lại có thật. Chính cái ngược này đã  cho thấy một cành tượng ngược đời, lố bịch của xã hội. Đây chính là tình huống bi hài, cười ra nước mắt.

Sở dĩ trong nhà có tang mà mọi người thấy hạnh phúc là vì cụ cố tổ chết đồng nghĩa với “cái chúc thư kia sẽ vào thời kì thực hành chứ không còn là lí thuyết  viển vông nữa”. Tức là, cụ cố tổ chết thì gia tài sẽ được chia cho đám con cháu của cụ.

Quả thực, cái chết của cụ cố tổ đã mang đến niềm hạnh phúc lớn cho mọi người cả trong và ngoài gia đình cụ. Mỗi người biếu hiện một niềm sung sướng, hạnh phúc riêng. Cụ cô’ Hồng nhắm nghiền mắt và ngất ngây vì sắp được thiên hạ trầm trổ “úi kìa, con giai nhớn đã già đến thế kia kìa”. Ông Phán tọc sừng hết sức mãn nguyện khi cái sừng vô hình trên đầu mình lại có giá trị được cụ Hồng “chia cho con gái và rể thêm một số tiền là vài nghìn đồng”. Ông ăn Minh “phân vân”, “đăm đăm chiêu chiêu”, “vò đầu rứt tóc” để tìm cách làm thế nào đế cái chúc thư kia sớm đi vào thời kì thực hành và xử trí với Xuân ra sao khi hắn có “hai cái tội nhỏ” nhưng “một cái ơn to”. Bà Văn Minh thì nôn nao, mong đến lúc được mặc đồ xô gai tân thời và được dịp lăng-xê những mốt y phục táo bạo nhất. Cậu tú Tân háo hức vì sắp sửa được biểu diễn “nghệ thuật chụp ảnh”. Cô Tuyết thì được dịp mặc “bộ y phục Ngây thơ – cái áo dài voan mỏng, trong có coóc-sê, trông như hở cả nách và nửa vú – nhưng mà viền  đen, và đội một cái mũ mấn xinh xinh”. Đám bạn bè của cụ Hồng cũng được dịp triển làm các huân huy chương đầy ngực và đủ các loại râu ria đầy mép. Hai viên cảnh sát Min đơ và Min toa “sung sướng cực điểm” vì đang thất nghiệp giờ lại được thuê giũ trật tự cho đám tang. Sư cụ Tăng Phú thì “sung sướng mà vênh váo” vì có dịp chứng tỏ rằng mình đã “đánh đổ được Hội Phật giáo”. Đám giai thanh gái lịch thì được dịp đến để đùa vui, trò chuyện, ghen tuông, cười tình… với nhau. Riêng Xuân được thêm năm, đồng và được tăng thêm danh tiếng với mọi người. Xuân được ông Phán mọc sừng trả ơn năm đồng. Lúc hạ huyệt, ông này cứ oặt người đi mà khóc mãi “Hứt!… Hứtl… HứtTrong lúc ấy, ông ta đã bí mật và khéo léo dúi vào tay Xuân cái giấy bạc năm đồng gấp tư để trả công cho Xuân về việc Xuân đã làm cho ông cụ tổ lăn đùng ra chết.

Không chỉ miêu tả niềm hạnh phúc của những người trong và ngoài tang quyến, nhà văn còn tập trung bút lực dựng lên một màn bi hài kịch. Đó là “cảnh đám ma gương mẫu”. Một đám ma to được tổ chức theo cả lối Ta, Tàu, Tây, có kiệu bát cống, lợn quay đi lọng, có đến ba trăm câu đôi, vài ba trăm người đi đưa, có nhà tài tử chụp ảnh… Người đi đưa đám đủ mọi thành phần già trẻ, gái trai, có cả cảnh sát, sư sãi, có cả nhà thiết kế thời trang . Họ xem việc đưa đám là cơ hội để phô danh, quảng cáo cho riêng mình. Các ông bạn của cụ Hồng thì đến để khoe huân chương và khoe râu. Đám giai thanh gái lịch đến để chim nhau, cười tình nhau… bằng những câu nói vui vẻ, ý nhị! Đám tang đưa đến đâu làm huyên náo đến đấy. Cả một thành phố đã nhôn nháo lên khen đám ma to. Thiên hạ đặc biệt chú ý đến những kiểu quần áo tang của tiệm may Âu hóa…

Đúng là một niềm vui rất lớn của mọi người và một đám ma gương mẫu. Tất cả đã nói lên một nghịch lí của xã hội và tình trạng suy đồi về mặt đạo đức của bọn “thượng lưu” thành thị lúc bây giờ.

Đặc sắc nghệ thuật của đoạn trích Hạnh phúc cùa một tang gia

Hạnh phúc cùa một tang gia là một chương truyện tập trung đậm nét chất trào phúng với những tình huống trào phúng đặc sắc. Bằng bút pháp châm biếm điêu luyện, nhà văn vừa xoay quanh mâu thuẫn trào phúng cơ bảnlàm sáng tạo ra những tình huống khác nhau, tạo nên một màn bi hài kịch độc đáo. Ngoài ra, nhà văn đã xây dựng thành công những bức chân dung biếm họ bằng việc kết hợp hai thủ pháp tương phản đối lập với phóng đại.

  1. Chủ đề tư tưởng của đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia Thông qua việc miêu tả những biểu hiện “hạnh phúc của một tang gia”, nhà văn đã phê phán và lên án mạnh mẽ bản chất lố lăng, đạo đức giả của một bộ phận “thượng lưu” thành thị thời trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở nước ta.

HƯỚNG DẪN ÔN TẬP DẠNG CÂU HỎI TÁI HIỆN KIẾN THỨC

Câu 1. Trình bày những nét chính về cuộc đời và sự nghiệp văn học của nhà văn Vũ Trọng Phụng.

Gợi ý trả lời: Tham khảo mục 1

Câu  2. Xác định vị trí trong tác phẩm và giải thích ý nghĩa nhan đề của đoạn trích.

Gợi ý trả lời

Vi trí đoạn trích : Đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia thuộc chương XV của tiếu thuyết Số đỏ, Đoạn trích miêu tả cảnh đám ma to lớn và niềm “hạnh phúc” của mọi người trong và ngoài tang quyến khi cụ tổ chết.

ý nghĩa nhan đề của đoạn trích.

  • Nhan đề rất lạ, rất giật gân: “tang gia “(đúng lí ra là tang gia bối rối, bi ai  ) mà lại  “hạnh phúc”, Đó là hạnh phúc của một gia đình vô phúc, niềm vui của lũ con cháu bất hiếu.
  • Nhan đề đã góp phần phản ánh đúng một sự thực đang mỉa mai, hài hước: con cháu của đại gia đình này thật sự sung sướng, hạnh phúc khi cụ cố tổ chết, Suy rộng ra đây là biếu hiện sự băng hoại đạo đức của không ít  giới “thượng lưu” thành thị bấy giờ.

Nhan đề đã gợi ra và là một tình huống trào phúng chính yếu của toàn chương truyện tình huống cười ra nước mắt,

ĐỀ NGHỊ LUẬN VĂN HỌC

Đề 1: Phân tích những nét đặc sắc về nghệ thuật trào phúng trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia (Trích Số đỏ) của Vũ Trọng Phụng.

Gợi ý bài làm

* Mở bài

  • Vũ Trọng Phụng là một nhà văn tài năng lớn và có phong cách nghệ thuật độc đáo. Tuy mất sớm nhưng ông có những đóng góp đáng kể vào sự phát triến của văn xuôi Việt Nam hiện đại.
  • Đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia (trích tiểu thuyết Sô’ đỏ) là một thành công xuâ’t sắc của ông cả về nội dung và nghệ thuật. Đặc biệt, đoạn trích thế hiện rất rõ phong cách nghệ thuật của ông – bút pháp trào phúng.

Thân bài

  • Cách đặt nhan đề  tạo tình huống mâu thuẫn trào phúng. Nhan đề “Hạnh phúc của một tang gia” (nhan đề đầy đủ là: Hạnh phúc của một tang gia – Văn Minh nữa cũng nói vào – Một đám ma gương mẫu) đã khái quát được mâu thuẫn trào phúng cơ bản mà nhà văn đã dàn dựng trong chương truyện.
  • Thủ pháp tương phản, đôi lập:

+ Đối lập ớ chân dung nhân vật: vẻ ngoài lịch thiệp sang trọng >< bên trong là kè hám lợi, hám danh; vẻ ngoài buồn rầu, gương mặt đúng là của người đưa đám ><bên trong lại vui mừng, hạnh phúc.

+ Đối lập trong cách dựng cảnh: cảnh đám tang mà giống như đám rước, được tổ  chức trọng thể nhưng nghi thức thì thiêu nghiêm chỉnh, hỗn tạp.

  • Thủ pháp cường điệu, tạo tình huống bất ngờ: cái chết của cụ tổ lại là niềm vui sướng tột độ của mọi người; các biểu hiện “hạnh phúc” của những người trong và ngoài tang quyến; cảnh đám ma gương mẫu…
  • Nghệ thuật xây dựng các nhân vật: nhân vật đa dạng thành phần, môi người một tính cách rất điển hình, được phóng đại nhằm tô đậm bản chất lố bịch, đổi bại, vô đạo đức…

❖ Kết bài

  • Bằng bút pháp trào phúng đặc sắc, đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia đã tạo được những tình huống bi hài, lôi cuốn người đọc. Thông qua đó, nhà văn đã thành công xuất sắc trong việc phê phán mạnh mẽ bản chất vô đạo đức của bọn thượng lưu thành thị bây giờ.
  • Đoạn trích còn thể hiện nét độc đáo trong phong cách nghệ thuật của nhà văn Vù Trọng Phụng.

Xem thêm : Phân tích đoạn trích Hạnh Phúc của một tang gia,Số Đỏ, Vũ Trọng Phụng

Tài liệu sưu tầm

Giáo án Hạnh phúc của một tang gia theo phương pháp dạy học tích cực

Thiết kế bài soạn sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột trong giảng dạy đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia”

* Mục tiêu

Kiến thức

– Bộ mặt thật của xã hội tư sản thành thị lố lăng, kệch cỡm.

– Thái độ phê phán mạnh mẽ xã hội đương thời khoác áo văn minh, Âu hóa nhưng thực chất hết sức giả dối, đồi bại và nỗi xót xa kín đáo của tác giả trước sự băng hoại đạo đức con người.

– Bút pháp trào phúng đặc sắc: tạo dựng mâu thuẫn và nhiều tình huống hài hước, xây dựng chân dung biếm họa sắc sảo, giọng điệu châm biếm.

Kỹ năng

– Đọc – hiểu văn bản tự sự được viết theo bút pháp trào phúng.

Thái độ

– Giáo dục phong cách sống, thái độ sống, cách ứng xử lành mạnh, văn minh, có đạo lý.

Hoạt động khởi động

– Cảm nghĩ của em sau khi xem xong đoạn video nói về ngày Bác mất?

GV (đặt câu hỏi): Viết các từ có cùng trường nghĩa diễn tả những trạng thái tình cảm của con người khi chứng kiến sự ra đi của một con người, đặc biệt đó là người thân của họ?

Trạng thái tích cực Trạng thái tiêu cực
– Đau buồn

– Đau xót

– Đau đớn

– Buồn thương

– Tiếc thương

– …………

– Vui mừng

– Vui sướng

– Vui vẻ

– Hạnh phúc

– Thoải mái

– Dễ chịu

– ……….

 

GV (Dẫn dắt): Vậy phải chăng khi sang bên kia thế giới, người ra đi đều nhận được niềm đau đớn, tiếc thương của những thành viên trong gia đình cũng như những người xung quanh? Lấy đó làm đề tài cho một chương văn trong tiểu thuyết Số đỏ của mình, nhà văn Vũ Trọng Phụng phản ánh liệu có theo quy luật tự nhiên ấy? Chúng ta cùng nhau đến với  đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia.

 

Từ tình huống trên, nhìn vào nhan đề đoạn trích, đối chiếu với các từ cùng trường nghĩa đã liệt kê, các em nhận thấy cần đặt ra những câu hỏi nào?

 

– Tại sao nhà có người mất lại hạnh phúc?

– Người mất ấy là ai?

– Người mất có quan hệ như thế nào với những người trong gia đình?

– Gia đình được nhắc đến ở đây là gia đình như thế nào?

– Những người trong gia đình có đau buồn không? Nếu có thì họ đau buồn như thế nào?

– Họ có hạnh phúc không? Nếu có thì họ hạnh phúc như thế nào?

– Sự việc này xảy ra ở thời đại nào mà lại có nghịch lý đó?

Vậy, dựa vào hiểu biết và  suy nghĩ của bản thân, bạn nào có thể đưa ra dự đoán cho những vấn đề được các bạn đặt ra ở trên? – Nói đến tang gia, chắc chắn người mất phải là một người thân trong gia đình.

– Gia đình này có người mất mà vẫn thấy hạnh phúc khả năng là người mất là người xấu khi sống làm những việc không tốt, hại người; hoặc đây là người mắc bệnh khó chữa, khi sống phải đau đớn nên người nhà coi cái chết như là sự giải thoát cho họ..

– Nếu người chết là người tốt thì những người trong gia đình này phải chăng là những người sống vô cảm, thiếu tình thân?

– Nếu họ là những người thiếu tình thân thì chắc chắn xã hội lúc đấy là xã hội có nhiều điều “chướng tai gai mắt”, giống như xã hội trong buổi giao thời khi người Pháp vừa hoàn thành xong quá trình xâm lược Việt Nam, khi nền tảng đạo đức xã hội ngày càng suy đồi, khi những giá trị tốt đẹp của xã hội cũ bị mất đi uy tín và mai một dần mà nhà thơ trào phúng Trần Tế Xương từng nhắc đến trong bài thơ “Đất Vị Hoàng”: Nhà kia lỗi phép con khinh bố/ Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng.

 

GV: Vậy những câu hỏi và những phán đoán của các bạn về đoạn trích như thế có đúng không? Làm thế nào để tìm được câu trả lời cho các câu hỏi đó?

HS (Đề xuất phương án)

– Phải tìm hiểu về cuộc đời với các yếu tố: gia đình, quê hương, thời đại, bản thân. – Phải tìm hiểu hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm.

–  Phải tìm hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích…

HS (Đặt câu hỏi):

? Điều gì trong cuộc đời Vũ Trọng Phụng khiến ông có thể có cái nhìn như thế về cuộc sống?

? Hoàn cảnh nào đã chi phối đến nội dung của tác phẩm?

? Tại sao tác giả đặt nhan đề của chương tiểu thuyết như vậy? Nó có ý nghĩa gì?

? Ngoài mâu thuẫn thể hiện ở nhan đề thì đoạn trích có những mâu thuẫn trào phúng nào khác nữa?

? Nguyên nhân nào dẫn đến việc những người trong gia đình cụ cố Hồng lại vui mừng trước cái chết của cụ cố tổ?

? Niềm vui ấy là niềm vui gì? Nó được thể hiện cụ thể như thế nào trong tác phẩm?

? Phải chăng chỉ có người trong tang gia mới hạnh phúc hay cái chết của cụ cố tổ còn đem lại hạnh phúc cho những ai nữa?

? Để thể hiện được hạnh phúc của tang gia ấy, Vũ Trọng Phụng sử dụng nghê thuật nào?

? Qua vấn đề được phản ánh, nhà văn Vũ Trọng Phụng thể hiện tư tưởng gì?

? Vấn đề được gợi ra trong tác phẩm có ý nghĩa như thế nào trong xã hội ngày nay?

  1. Hoạt động hình thành kiến thức
  2. Đọc văn bản
? Những yếu tố nào về cuộc đời Vũ Trọng Phụng chi phối cách nhìn của ông  về cuộc đời? I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

a. Cuộc đời

* Gia đình

– Vũ Trọng Phụng (), xuất thân trong một gia đình bình dân, “nghèo gia truyền” (Ngô Tất Tố), bị giày vò bởi miếng cơm manh áo hàng ngày. Cha mất khi ông mới 7 tuổi.

* Bản thân

– Tính cách: bình dị, khuôn phép, nền nếp (Lưu Trọng Lư), căm ghét XHTD nửa PK.

– Ông là người chăm học và có sức sáng tạo dồi dào.

* Thời đại

– Thực dân Pháp thực thi những chính sách khuyến khích lối sống ăn chơi sa đọa trụy lạc hóa thanh niên Việt Nam. Ở thành thi, những tiệm hút, nhà chứa, sòng bạc mọc lên như nấm. Phong trào Âu hóa, “vui vẻ trẻ trung” như một nạn dịch lan tràn…

* Quá trình trưởng thành

– Chỉ được học hết tiểu học, phải đi làm kiếm sống  nhưng chẳng bao lâu thì mất việc; sống chật vật, bấp bênh bằng nghề viết báo, viết văn.

– Ông mất năm 27 tuổi vì mắc bệnh hiểm nghèo nhưng không có điều kiện chạy chữa.

– Thường xuyên tiếp xúc thân tình, bỗ bã trước các tầng lớp dưới đáy xã hội và bằng những học hỏi không mặc cảm, Vũ Trọng Phụng có được vốn sống phong phú và sự hiểu biết kỹ càng những người nghèo khổ nơi thành thị, những hạng cùng đinh mạt hạng, lưu manh… đồng thời với đó là sự thông thuộc cả tầng lớp trên như dân biểu, viên chức…

=> Tất cả những hiện thực bát nháo, lố lăng, trụy lạc, tha hóa, đầy rẫy bất công, cách biệt sang hèn, tiếng khóc chen lẫn tiếng cười đủ các giọng điệu in đậm và hiện rõ nét trên những trang viết của ông, tạo thành bức tranh xã hội phồn tạp, gây ấn tượng sâu sắc và nóng hổi hơi thở của cuộc sống đương thời với đủ chân dung.

b. Sự nghiệp

– Sự nghiệp văn chương: khối lượng tác phẩm đồ sộ

+ Phóng sự: Cạm bẫy người, Kỹ nghệ lấy tây, Cơm thầy cơm cô -> “Ông vua p/s của Bắc kỳ”

+ Tiểu thuyết: Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê, Lấy nhau vì tình

– Quan điểm sáng tác:“ Các ông cho tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết. Tôi và những người cùng chí hướng với tôi cho tiểu thuyết là sự thực ở đời” (VTP).

– Vị trí: Nhà văn  hiện thực xuất sắc của VHVN giai đoạn 1936- 1939.

2. Tác phẩm

– Tiểu thuyết Số đỏ:

+ Hoàn cảnh sáng tác: viết năm 1936, năm đầu của Mặt trận dân chủ ĐÔng Dương, không khí đấu tranh dân chủ sôi nỏi, chế độ kiểm duyệt sách báo khắt khe của chính quyền thực dân tạm thời bãi bỏ. Bối cảnh đó tạo điều kiện cho các nhà văn công khai, mạnh mẽ vạch trần giả dối, thối nát, bịp bợm của các phong trào “Âu hóa”, “vui vẻ trẻ trung” mà bọn thống trị khuyến khích, lợi dụng nhằm ru ngủ lòng yêu nước, tinh thần đấu tranh của nhân dân ta.

– Đoạn trích: Hạnh phúc của một tang gia.

+ Vị trí: thuộc chương XV của tiểu thuyết.

* Đọc văn bản

– HS đề xuất cách đọc và đọc văn bản, tóm tắt văn bản.

– Tự tìm hiểu “Chú thích”.

– HS xác định bố cục của đoạn trích: Gồm 3 phần

+ Phần 1 (từ đầu -> biết rồi, khổ lắm, nói mãi): Giới thiệu cái chết của cụ Tổ.

+ Phần 2(tiếp theo -> …gây ra cho Tuyết vậy): Chuẩn bị cất đám.

+ Phần 3 (còn lại): Cảnh đưa đám và hạ huyệt.

– GV: Hãy kể tên các nhân vật xuất hiện trong đoạn trích và xác định mối quan hệ của các nhân vật ấy  với người đã mất?

-> HS: Kể tên và xác định mối quan hệ giữa các nhân vật.

  1. Tìm hiểu văn bản
Hoạt động dạy học Kết quả cần đạt
– GV lần lượt dẫn dắt học sinh nghiên cứu tìm lời giải cho các câu hỏi học sinh đặt ra ban đầu.

Hoạt động 1: Tìm hiểu nhan đề đoạn trích

* Làm việc cá nhân

– GV: Nhắc lại các câu hỏi đề xuất của học sinh

? Tại sao tác giả đặt nhan đề của chương tiểu thuyết như vậy? Nó có ý nghĩa gì?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– GV giới thiệu về 2 đặc điểm lớn của nghệ thuật trào phúng

– GV (dẫn dắt): Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh, phẩm chất của một tác phẩm phụ thuộc vào chỗ tác giả đã dàn dựng được những tình huống trào phúng và xây dựng được những nhân vật trào phúng thành công đến mức nào. Đọc Số đỏ người đọc dễ dàng nhận thấy mỗi chương trong tác phẩm là một tình huống trào phúng được dàn dựng như một màn kịch và mỗi màn lại thể hiện một mâu thuẫn trào phúng. Vậy mâu thuẫn trào phúng ấy được thể hiện như thế nào trong đoạn trích?

 

– Từ việc chỉ ra tình huống trào phúng với sự mâu thuẫn giữa cái bên ngoài và cái bên trong, giữa cái bình thường và cái bất bình thường, căn cứ vào sự phân chia bố cục của đoạn, giáo viên chia lớp thành 4 nhóm thực hiện các nhiệm vụ học tập tương ứng theo bảng gợi ý:

 

Bên ngoài

– bình thường

Bên trong – bất bình thường
……………… ……………..

+ HS tự nhận xét, rút ra kết luận.

+ GV nhận xét, chốt kiến thức.

 

+ Nhóm 1: Mâu thuẫn trào phúng trong nguyên cớ của niềm hạnh phúc..

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhóm 2: Mâu thuẫn trào phúng ở các nhân vật trong tang gia

– Gv (gợi ý): Biểu diễn bằng sơ đồ mối quan hệ của các nhân vật trong tang gia?

-> HS: Biểu diễn bằng sơ đồ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhóm 3:  Mâu thuẫn trào phúng ở những người ngoài tang gia

[?] Cái chết của cụ Tổ mang đến niềm vui, hạnh phúc cho những người ngoài gia đình cụ cố Hồng. Đó là những ai? Họ hạnh phúc vì điều gì?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

* Thảo luận cá nhân

? Em có nhận xét gì về con cháu cũng như những người ngoài trước cái chết của cụ cố tổ? Thái độ của nhà văn?

 

 

 

Nhóm 4: Mâu thuẫn trào phúng trong cảnh đưa đám.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhóm 5: Mâu thuẫn trào phúng trong cảnh hạ huyệt

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

* Thảo luận cá nhân

? Ghi nhanh những giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích

II. Đọc – hiểu văn bản

 

 

 

1. Nhan đề đoạn trích

– Tiêu đề đầy đủ do tác giả đặt là: “Hạnh phúc của một tang gia – Văn Minh nữa cũng nói vào – một đám ma gương mẫu”

– Hai yếu tố ngôn ngữ đối lập nhau về nghĩa:

Hạnh phúc – Bên trong Tang gia – Bên ngoài
Là trạng thái sung sướng vì cảm thấy hoàn toàn đạt được ý nguyện. Nhà có tang, nhà có người mất là điều bất hạnh, mang đến sự đau đớn, tiếc thương.

 

Là điều may mắn, tốt đẹp, ai cũng mong đợi. Là sự mất mát, ngoài mong muốn.
Cái khác thường Cái thông thường
-> Sự kết hợp từ lạ lùng đã hé mở mâu thuẫn trào phúng, bộ lộ tiếng cười mỉa mai, châm biếm. Đối với cụ cố Hồng, cái chết của “ông cụ già”, là ông, là bố, đem lại cho mọi thành viên trong gia đình cảm giác sung sướng vì hoàn toàn đạt được ý nguyện.

-> Tang gia chỉ là cái vỏ bọc bên ngoài để che đậy niềm hạnh phúc quái đản của bầy con cháu bất hiếu.

-> Nhan đề hay, giàu ý nghĩa, làm nổi bật mâu thuẫn giữa hạnh phúc và bất hạnh; trang nghiêm, thành kính và nhố nhăng. Không chỉ gói trọn tư tưởng chủ đề của đoạn trích mà còn bộc lộ khả năng trào phúng, châm biếm sâu cay của tác giả.

-> Tình huống trào phúng.

 

 

 

 

 

 

 

 

2. Mâu thuẫn trào phúng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

a. Mâu thuẫn trào phúng trong nguyên cớ của niềm hạnh phúc.

Nguyên cớ
Bình thường

(Bên ngoài)

Bất bình thường

(Bên trong)

Cụ cố tổ chết “Chết thật”

 

Cụ cố tổ được đem đi chôn Người ta tưng bừng, vui vẻ đi đưa giấy cáo phó
Tổ chức đám tang Con cháu vui mừng khôn xiết
Kết quả:

Thành thử tang gia ai cũng vui vẻ cả.

– Mọi người “sung sướng lắm”, “vui sướng thỏa thích”, “sung sướng cực điểm”, “tưng bừng vui vẻ”…

Nguyên nhân:

– Tờ di chúc đi vào “thời kỳ thực hành”.

– Gia tài mới được chia cho con cháu.

 

Nhận xét:

– Câu văn thông báo về cái chết của cụ cố tổ nhưng hàm chứa một nụ cười mỉa mai, châm biếm, giễu cợt. Đặc biệt, thái độ của tác giả được hé lộ ở từ “thật” cuối câu khiến người đọc hình dung tiếng thở phào sung sướng, khoan khoái, nhẹ nhõm đến vỡ òa, cực điểm, không thể giấu diếm của cả gia đình tang chủ

 

b. Mâu thuẫn trào phúng ở các nhân vật trong tang gia.

 

Nhân vật Bình thường

(Bên ngoài)

Bất bình thường

(Bên trong)

Cụ cố Hồng Gắt gỏng – bối rối của tang gia Mơ màng nghĩ diễn cảnh già nua, được khen ngợi
-> Ngu dốt, háo danh
Ông Văn Minh

(Cháu nội)

Phân vân, đăm đăm, chiêu chiêu, vò đầu bứt tóc – Làm thế nào cái chúc thư kia sớm đi vào thời kỳ thực hành.

– Nghĩ cách xử trí Xuân Tóc Đỏ.

-> Bản chất giả dối, bất nhân với những quan niệm sống vô đạo đức.
Bà Văn Minh

(Cháu dâu)

Sốt cả ruột Đợi mãi đến lúc được mặc bộ đồ xô gai tân thời và những mốt táo bạo.
-> Chạy theo lối sống văn minh rởm, lố lăng.
Cô Tuyết

(Cháu gái)

Mang vẻ mặt buồn lãng mạn – Buồn vì không thấy Xuân đâu.

– Mặc trang phục hở hang để chứng tỏ mình chưa đánh mất hẳn chữ trinh.

-> Hư hỏng, lố lăng, kệch cỡm
Ông Phán mọc sừng

(Cháu rể)

  – Sung sướng được chia thêm tiền vì đôi sừng trên đầu
-> Bất kể danh dự, hám tiền, vô liêm sỉ.
Cậu Tú Tân

(Cháu nội)

Điên người lên – Mãi không được dùng đến máy ảnh.

– Sướng điên cả người vì được dùng cái máy ảnh mới mua

  -> Bất hiếu
Ông Typn

(Người thân)

Bực mình – Mãi không được ra mắt công chúng.

– Cơ hội được trình diễn các sản phẩm thời trang

-> Vô tình
Nhận xét

– Những suốt ruột không liên quan đến người chết mà nếu liên quan chỉ là ở chỗ cái chết xảy ra thì đó là thời điểm để họ thực hiện những toan tính riêng tư của mình, hoặc là tàn nhẫn, hoặc là lố bịch, kệch cỡm.

– Mỗi người trong gia đình cụ cố Hồng đều có những hạnh phúc riêng trước cái chết của cụ Tổ.

– Lên án, tố cáo những con người trong xã hội tư sản thượng lưu giàu có, nhưng mất hết tình người. Đó quả là đám con cháu đại bất hiếu.

-> Chân dung trào phúng

 

c. Mâu thuẫn trào phúng ở những người ngoài tang gia.

Nhân vật Bình thường Bất bình thường
Xuân Tóc Đỏ Trực tiếp gây ra cái chết của cụ cố tổ – Có công lớn với gia đình cụ cố Hồng.

– Được chờ đợi bởi Tuyết, được săn đón bởi cụ bà.

-> Ma mãnh, tàn nhẫn
Cảnh sát Min Đơ, Min Toa Cảnh sát – Được thuê giữ trật tự cho đám ma.

– Thuê giữ trật tự cho đám ma: sung sướng cực điểm.

-> Sự suy thoái về đạo đức.
Bạn cụ cố Hồng Các quan khách trong đám tang – Ngực đầy huy chương.

– Đủ các kiểu râu.

– Cảm động khi nhìn thấy làn da trắng của Tuyết.

-> Biến đám ma thành hội thi, dâm ô.
Bạn cô Tuyết, bà Văn Minh – giai thanh, gái lịch Những người đưa đám vẻ mặt buồn rầu Chim nhau, cười tình với nhau, bình phẩm nhau, chê bai nhau… bằng vẻ mặt buồn rầu.
-> Những kẻ hám lợi, dâm ô, vô đạo đức
Sư cụ tăng phú Đi đưa đám Sung sướng vênh váo vì đã đánh đổ được hội Phật giáo…
-> Trơ trẽn, háo danh
Hàng phố Nhốn nháo – Khen đám mo to.

– Chú ý đặc biệt vào những kiểu quần áo tang.

-> Vô tình,
Nhận xét

– Tất cả đều sung sướng và hạnh phúc không kém gì những người trong tang gia.

– Sự xuống cấp trong giá trị đạo đức của con người khi cái chết của người này lại trở thành hạnh phúc của người kia. Và giây phút đau thương ấy đã trở thành một ngày hội tưng bừng.

-> Chân dung trào phúng

 

* Tiểu kết

=> Phê phán mạnh mẽ sự suy thoái về đạo đức ở xã hội thành thị thời Pháp thuộc, mà điển hình là sự bất hiếu, vô đạo đức, không còn chút nhân tâm, nhân phẩm ở những người trong gia đình cụ cố Hồng. Rộng ra đó là cả xã hội “khốn nạn”, “chó đểu” (Vũ Trọng Phụng).

 

d. Mâu thuẫn trào phúng trong cảnh đưa đám.

  Bình thường Bất bình thường
Cách tổ chức – Kèn, vòng hoa, câu đối.

– Chụp ảnh.

– Theo cả lối Ta, Tàu, Tây.

– Thi nhau chụp ảnh như ở hội chợ.

Người đi đưa Người đi đưa Đến đưa đám nhưng là để làm những việc riêng.
Nhận xét

– Sự lố lăng, phô trương đến mức kệch cỡm, lố bịch của những kẻ háo danh trong xã hội đương thời.

– Đám ma to tát, huyên náo và rộn ràng như một đám rước. Nó là một cuộc diễu hành, tự phơi bày tất cả cái xấu xa kệch cỡm của XH thị dân.

– Tác giả vừa mỉa mai, châm biếm, vừa đau đớn, chua chát vạch trần bản chất của đám con cháu: đám ma to tác nhưng lại thiếu mọt thứ cần thiết nhất là tình cảm chân thành dành cho người quá cố.

 

e. Mâu thuẫn trào phúng trong cảnh hạ huyệt.

  Bình thường Bất bình thường
Cậu Tú tân Luộm thuộm trong chiếc áo thụng – Bắt bẻ từng người để chụp ảnh.

– Nhảy lên những ngôi mả khác để chụp ảnh khỏi giống nhau.

-> Nhà đạo diễn đại tài biến đám tang thành sàn diễn.

– Kẻ thích phô trương, vô học.

Phán mọc sừng Khóc to, muốn lặng đi Dúi vào tay Xuân cái giấy bạc năm đồng gấp tư.
-> Một diễn viên hạng sang kiếm tiền trên xác chết, biến đám ma thành nơi buôn bán.

-> Đỉnh điểm của sự trào lộng.

Nhận xét

– Lột trần bộ mặt đạo đức giả, vô đạo đức, quái thai, vô liêm sỉ.

– Sự suy đồi, băng hoại về đạo đức.

 

III. Tổng kết

1. Nghệ thuật

– Bút pháp châm biếm thể hiện tài năng bậc thầy: Phát hiện những chi tiết đối lập nhau gay gắt cùng tồn tại trong một sự vật, con người, từ đó làm bật lên tiếng cười. Vừa xoay quanh những mâu thuẫn trào phúng cơ bản, vừa xoay quanh những tình huống khác nhau, tạo thành một màn hài kịch biến hóa.

– Cách quan sát, miêu tả linh hoạt từ toàn cảnh đến cận cảnh làm bật lên mâu thuẫn giữa chân thành, giả dối.

– Kết hợp thủ pháp đối lập và cường điệu để tạo nên những bức chân dung biếm họa, những sự thật phi lý mà họp lý, lật tung bộ mặt của bọn đạo đức giả.

2. Nội dung

Vạch trần sự thật xấu xa của cái gọi là “Âu hóa”, “văn minh” mà kẻ thù đang khuyến khích, lợi dụng lúc bấy giờ. Đoạn trích đã góp lên tiếng chuông cảnh tỉnh về sự xuống cấp đạo đức của một bộ phận người Việt Nam trước đây cũng như bây giờ.

 

Hoạt động luyện tập

Bài tập 1:

Hoàn thiện sơ đồ sau:

Điền thông tin còn thiếu vào sơ đồ:

 

Nhân vật Tang gia – Thông thường Hạnh phúc – Khác thường
Trong gia đình …….. Đau đớn, … Vui vẻ, ….
Ngoài gia đình ……..    

 

Bài tập 2: Đặt trong xã hội ngày nay, vấn đề Vũ Trọng Phụng đặt ra về cách ứng xử của con cái trước cái chết của người thân như thế nào?

Hoạt động vận dụng

Từ việc đọc hiểu văn bản, có cách tiếp cận với một tác phẩm trào phúng, vận dụng trong văn nghị luận văn học, nghị luận về một vấn đề đặt ra trong tác phẩm văn học.

Hoạt động tìm tòi, mở rộng

Tìm đọc toàn bộ tiểu thuyết Số đỏ để có cái nhìn hoàn chỉnh về nhân vật cũng như bộ mặt xã hội đương thời mà Vũ Trọng Phụng muốn phản ánh.

Giáo án sưu tầm.

Tác giả : Phạm Thị Thương Huyền

Tổng hợp kết bài mẫu về các tác phẩm lớp 11-Hay và đầy đủ

Tuyển tập những kết bài mẫu tham khảo.Kết bài về các tác phẩm lớp 11 : Hai đứa trẻ, Chữ người tử tù, Hạnh phúc một tang gia, Chí Phèo, Vội vàng, Tràng giang, Đây thôn Vĩ Dạ, Từ ấy

Tổng hợp những kết bài hay về tác phẩm Hai đứa trẻ ( Thạch Lam)

  1. Thạch Lam đã mô tả thế giới nội tâm của nhân vật bằng ngòi bút tinh vi. Tài năng của nhà văn đã làm sống dậy những cảm xúc vốn mong manh, hư ảo của hồn người. Vượt qua bóng đêm, vượt của sự buồn tẻ của kiếp người, Hai đứa trẻ chính là bài ca về niềm tin yêu cuộc sống. Niềm tin yêu đó được kết tinh từ ánh sáng tư tưởng tiến bộ, từ ánh  sáng lòng nhân ái của nhà văn. “Không có ước mơ nào là quá muộn” nhà văn Anatole France đã nói như vậy. Còn Eleannor Roosevelt thì phát biểu “Tương lai thuộc về những ai tin tưởng vào cái đẹp của ước mơ”. Tôi tin ánh sáng nhà văn Thạch Lam nhen lên  trong tâm hồn hai đứa trẻ sẽ trở thành ngọn đuốc soi rọi cho con người bước qua bóng  tối. Niềm tin vào sự đổi thay của cuộc đời chính là chỗ dựa để con người sống có mơ  ước, sống có ý nghĩa.
  2. Không có những tình huống li kì, những tính cách sắc nét, không đi sâu những cảnh áp bức bóc lột, những số phận thương tâm,…mọi thứ trong Hai đứa trẻ cứ nhẹ nhàng diễn ra trên từng trang viết, lặng lẽ đưa ra những hình ảnh xoàng xĩnh quen thuộc ở một phố huyện nghèo qua con mắt một đứa trẻ. Nhưng chính vẻ đẹp của những cái bình thường, lặng lẽ, xoàng xĩnh ấy qua ngòi bút tinh tế, giọng văn nhỏ nhẹ của tác giả lại tạo nên sức hút kì lạ. Bức tranh đời sống nghèo trong truyện vừa rất mực chân thực, vừa chan chứa niềm cảm thương, chân thành của Thạch Lam đối với những người lao động nghèo khổ sống quẩn quanh, bế tắc, bị chôn vùi trong kiếp tối tăm. Tất cả để lại ấn tượng, sự đồng cảm sâu sắc nơi người đọc một cách rất tự nhiên nhưng lắng đọng, khó quên vô cùng.

Tổng hợp những kết bài hay về tác phẩm Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân)

  1. “Vang bóng một thời” là một tiếng vọng đầy cuốn hút trong trào lưu văn học lãng mạn 1930 – 1945 và “Chữ người tử tù” là một tiếng nói góp phần làm nên sự thành công của tập truyện này. Có thể nói rằng, những đặc trưng của phương pháp sáng tác lãng mạn chủ nghĩa không phải đã tập trung đầy đủ ở đây nhưng nhà văn đã thực sự đem chúng ta đến một thế giới mà trong đó nhân vật lãng mạn vượt lên khỏi hoàn cảnh để sống khác biệt với những tầm thường, tăm tối quanh mình. Cái Đẹp, cái Thiện và sự tài hoa đã cùng nhau châu tuần về đó.
  2. Chữ người tử tù đã thể hiện tư tưởng thẩm mĩ của Nguyễn Tuân. Cái đẹp, cái tài đã chiến thắng tất cả. Nó nâng đỡ và dìu dắt con người xích lại với nhau tạo nên sức mạnh chiên thắng mọi gông xiềng, quyền uy và thế lực. Nghệ thuật khắc họa nhân vật của cụ Nguyễn đầy ấn tượng đã tạo ra cho tác phẩm những bức tranh, hình ảnh đầy kịch tính với một ngôn ngữ khỏe khoắn, gân guổc đầy cảm giác và tân kỳ. Người ta thường nói đến phong cách của Nguyẽn Tuân gói gọn trong chữ “ngông” song thực tế không phải vậy. vẻ đẹp của quản ngục là biểu tượng cho thiên lương của con người, ở đây nó còn là hiện thân của cái đẹp. Nói như Vũ Ngọc Phan giá trị của tác phẩm “gần đạt đến sự toàn mĩ” là từ nhân vật này chăng?

Tổng hợp những kết bài hay về đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia (Số đỏ)

Có thể kết luận rằng: Từ cái “chết thật” của “ông cụ già” đến đám ma giả của tang gia, và từ cái đám ma giảtang gia đến niềm vui thật của bọn người hám danh, hám lợi, đạo đức giả được kể trong chương truyện này là cả một hành trình sáng tạo của một tài năng lớn – tài năng trào phúng Vũ Trọng Phụng.

Tổng hợp những kết bài hay về tác phẩm  Chí Phèo (Nam Cao)

  1. Chí Phèo – một tấn bi kịch của một người nông dân nghèo bị tha hóa trong xã hội cũ, một con người điển hình. Ở cuối tác phẩm, “đột nhiên thị thoáng thấy hiện ra một cái lò gạc cũ bỏ không, xa nhà cửa, và vắng người qua lại…”, chi tiết ấy muốn nói với chúng ta rằng, một ngày gần đây thôi,Thị Nở lại bụng mang dạ chửa vượt cạn giữa đồng không mông quạnh,giữa con mắt thờ ơ của người dân làng Vũ Đại,lai một Chí Phèo con xuất hiện. Điều này chứng tỏ rằng “Chí Phèo” không phải là bi kịch của một con người mà là bi kịch của người nông dân tồn tai trong lòng nông thôn trước Cách mạng tháng Tám. Mang đậm giá trị tố cáo rất cao, lên án giai cấp phong kiến thống trị tha hoá, những bị kịch như vậy sẽ còn tiếp.
  2. Hình tưcmg nhân vật Chí Phèo đế lại trong lòng người đọc nhiều niềm xúc động và lòng cảm thông sâu sắc đối với nhũng kiếp người tàn tạ trước Cách mạng tháng Tám. Cùng với những chị Dậu, anh Pha, lão Hạc,… hình tượng nhân vật Chí Phèo khẳng định tính tất yếu phải có một cuộc cách mạng dân tộc và cách mạng giai cấp đế đòi lại quyền sống cho người dân Việt Nam khi đó. Cho đến ngày nay, những nhân vật văn học ấy vẫn là những lời nhắc nhở, cảnh tỉnh chúng ta phải biết yêu hon, trân trọng hon hạnh phúc mình đang có và ra sức cống hiến xây dựng cuộc đời tươi đẹp này.

Tổng hợp những kết bài hay về tác phẩm Vội vàng (Xuân Diệu)

  1. Nhà thơ Thế Lữ, trong lời Tựa cho tập Thơ Thơ củaXuân Diệu, đã có nhận xét khá tinh tế: “Xuân Diệu là một người của đời, một người ở giữa loài người. Lầu thơ của ông xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian” . Qua những ý thơ của Vội vàng, ta càng cảm nhận sâu sắc hơn lời nhận xét ấy. Sống là hạnh phúc. Muốn đạt tới hạnh phúc phải sống vội vàng. Thế là, vội vàng là cách đến với hạnh phúc, là chính hạnh phúc, và hình như cũng là cái giá phải trả cho hạnh phúc vậy ! Tahiểu vì sao khiXuân Diệuxuất hiện, lập tức thi sĩ đã thuộc về tuổi trẻ!
  2. Với bài thơ “Vội vàng”,  Xuân  Diệu đã phảvào  nền  thi  ca  Việt  Nam  một trào lưu “Thơ mới”. Mới lạnhưng táo bạo, độc dáo ởgiọng điệu và cách dùng từ, ngắt nhịp, nhất là cách cảm nhận cuọc sống bằng tất cảcác giác quan, với một trái tim chan chứa tình yêu. “Vội vàng” đã thểhiện một cảm quan nghệthuật rất đẹp, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Đó là lòng yêu con người, yêu  cuộc đời. Đó là tình yêu cảnh  vật,  yêu  mùa  xuân  và  tuổi  trẻ…  Và  là  ham  muốn  mãnh  liệt muốn níu giữthời gian, muốn tận hưởng vịngọt ngào của cảnh sắc đất trời “tươi non mơn mởn”. Phải chăng trời đất sinh ra thi sĩ Xuân Diệu trên xứsởhữu tình này, là đểca hát vềtình yêu, đểnhảy múa trong những điệu nhạc tình si?! Thơ Xuân Diệu -vội vã với nhịp đập của thời gian

Tổng hợp những kết bài hay về tác phẩm Tràng giang (Huy Cận)

  1. Bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận với sựkết hợp bút pháp hiện thực và cổđiển đã vẽlên một bức tranh thiên nhiên u buồn, hiu quạnh.Qua đó khắc họa được tâm trạng cô liêu, đơn độc của con người và một tình yêu quê hương, mong ngóng vềquê hương chân thành, sâu sắc của Huy Cận.
  2. Tràng giang – Bài thơ sẽ còn mãi đi vào lòng người với phong cách tiêu biểu rất “Huy Cận”, với vẻ đẹp cổ điển trang nhã sâu lắng và vẻ đẹp hiện đại mang nặng một tấm lòng yêu nước, yêu quê hương.

Tổng hợp những kết bài hay về tác phẩm Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử)

  1. Đây thôn Vĩ Dạlà một bức tranh đẹp vềcảnh và người của miền quê đất nước qua tâm hồn thơ mộng, giàu tưởng tượng và đầy yêu thương của nhà thơ với nghệthuật gợi liên tưởng, hòa quyện thiên nhiên với lòng người. Trải qua bao năm tháng, cái tình Hàn Mặc Tửvẫn còn tươi nguyên, nóng hổi, lay động day dứt lòng người đọc. “Tình yêu trong ước mơ của con người đau thương ấy có sức bay bổng lạkì” nhưng nó cũng giản dị, trong sáng, tươi đẹp như làng quê Vĩ Dạ. Xin thành kính thắp một nén nhang trước một nghệsĩ tài hoa, một trái tim suốt cuộc đời thổn thức vì tình yêu, một tâm hồn thi sĩ đã thăng hoa nỗi đau thương, bất hạnh của đời mình thành những đóa hoa thơ mà trong đó thơm ngát nhất, thanh khiết nhất là Đây thôn Vĩ Dạ
  2. “Đây thôn Vĩ Dạ” là một bức tranh đẹp vềcảnh và người của một miền quê đất nước qua tâm hồn thơ mộng, giàu trí tưởng tượng và đầy yêu thương của một nhà thơ đa tình đa cảm. Bằng thủpháp nghệthuật liên tưởng cùng với những câu hỏi tu từ xuyên suốt bài thơ, tác giả Hàn Mặc Tửđã phác họa ra trước mắt ta một khung cảnh nên thơ, đầy sức sống và ẩn trong đấy là nỗi lòng của chính nhà thơ: nỗi đau đớn trước sựcô đơn, buồn chán trần thế, đau cho số phận ngắn ngủi của mình. Dầu vậy nhưng ông vẫn sống hết mình trong sựđau đớn của tinh thần và thể xác. Điều đó chứng tỏ ông không buông thả mình trong dòng sông số phận mà luôn cố gắng vượt lên nó để khi xa lìa cõi đời sẽ không còn gì phải hối tiếc.
  3. “Thơ đi từ cái thực tới cái ảo ảnh, từảo ảnh đi tới cái huyền diệu, từ huyền diệu đi tới chiêm bao. Bao trùm cả bài thơ là thế giới mơ”, đó là lời của Hàn Mặc Tử về thơ và có lẽ chính là vềĐây thôn Vĩ Dạ. Với hình ảnh độc đáo giàu sức gợi, giàu giá trị thẩm mĩ, ngôn ngữ ngữ cực tả luôn trong trong sáng, súc tích, cách sử dụng xuyên suốt những câu hỏi tu từ, cách sử dụng nhịp điệu thơ theo cảm xúc có khi là tha thiết đắm say, có khi là chậm rãi buồn tẻ, Đây thôn Vĩ Dạ thể hiện tình yêu tha thiết của tác giả đối với xứ Huế, nơi nhà thơ đã từng có nhiều kỷ niệm ngọt ngào, đồng thời thểhiện khát khao được sống, được yêu của một con người. Nhà thơ đã vẽ nên một bức tranh phong cảnh thật đẹp về thiên nhiên xứ Huế, từ đó thể hiện tình yêu và khát vọng sống mãnh liệt.

Tổng hợp những kết bài hay về tác phẩm Từ ấy (Tố Hữu)

  1. “Từ ấy” là tiếng reo vui không chỉ của nhà thơ, mà còn là của cả một thế hệ thanh niên khi tìm thấy lí tưởng của Đảng, nguyện chiến đấu hết mình vì lí tưởng, vì nhân dân, vì đất nước. Họ là những người chiến sĩ trẻ, mang trong mình nhiệt huyết, mang trong mình lí tưởng, và lòng yêu thương đồng bào, yêu thương đất nước. Có thể nói, thơ của Tố Hữu là thơ của nhân dân, những lí tưởng cao đẹp được diễn tả bằng những từ ngữ lãng mạn nhưng cũng vô cùng giản dị, gần gũi, là đại diện cho một lớp nhà thơ mới
  2. Bài thơ “Từ ấy” của Tố Hữu là một bài thơ vừa có tính triết lý sâu sắc, vừa rất gần gũi, bình dị, thân thuộc. Sau mấy chục năm đọc lại, những vần thơ đó vẫn là một câu hỏi thấm thía mà những người cộng sản hôm nay không thể không suy ngẫm một cách nghiêm túc để tự mình tìm ra lời giải đáp thấu đáo. Giữa cái chung và cái riêng, giữa cộng đồng -tập thể và cá nhân, giữa vật chất tầm thường và tinh thần –tư tưởng của người cộng sản.

Tài liệu sưu tầm. Nguồn : Page Cô Diễm Hằng

Xem thêm :

  1. Tổng hợp những mở bài mẫu hay nhất
  2. Cách viết phần kết bài trong bài văn nghị luận
  3. Tuyển tập những kết bài về các tác phẩm lớp 12

Đề thi học sinh giỏi môn văn 11 Hà Huy Tập

Trọn bộ tài liệu bồi dưỡng học sinh giỏi ngữ văn 11. Đề thi học sinh giỏi Ngữ văn 11 cấp trường

SỞ GD& ĐT NGHỆ AN

TRƯỜNG THPT HÀ HUY TẬP  

 KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI TRƯỜNG NĂM HỌC 2016-2017

                               Môn thi: NGỮ VĂN-  LỚP 11     

Thời gian làm bài: 150  phút (không kể thời gian phát đề)

Câu 1(4,0 điểm)

Đọc đoạn trích và thực hiện các yêu cầu ở dưới:

Narziss là một chàng trai rất xinh đẹp. Vẻ đẹp của chàng khiến các nữ thần phải say mê, đắm đuối. Nhưng chàng không hề để tâm hay đáp lại một ai. Ngày ngày, chàng soi mặt trên hồ nước để tự chiêm ngưỡng sắc đẹp của mình. Chàng say mê mình đến nỗi một ngày kia nghiêng quá đà, ngã xuống hồ và chết đuối. Từ nơi đó mọc lên một bông hoa đẹp mang tên Narziss, đó là hoa thuỷ tiên.

(Lược dẫn theo Nhà giả kim, Paolo Coelho, NXB Văn học, 2015, tr 11)

  1. Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích. (0,5 điểm)
  2. Hãy đặt nhan đề cho đoạn trích. (0,5 điểm)
  3. Nêu nội dung đoạn trích. (1,0 điểm)
  4. Từ câu chuyện về chàng Narziss, nếu được phép giải thích ý nghĩa cho các loài hoa, anh/chị sẽ nói như thế nào về hoa thuỷ tiên? (2,0 điểm)

Câu 2. (6,0 điểm)

Suy nghĩ của anh /chị về nhan đề quyển sách trên.

Câu 3. (10,0 điểm)

Về văn học trào phúng, có ý kiến cho rằng: “Đó là một khái niệm bao trùm lĩnh vực văn học của tiếng cười”

(Từ điển thuật ngữ văn học, Nhiều tác giả, NXB Giáo dục, 2008, tr 303)

Cảm nhận của anh/chị về tiếng cười của Vũ Trọng Phụng trong đoạn  trích Hạnh phúc của một tang gia (trích Số đỏ)

———————-Hết—————–

YÊU CẦU CHUNG:

  1. Có kiến thức văn học và xã hội đúng đắn, sâu rộng; kĩ năng làm văn tốt: bố cục rõ ràng, kết cấu chặt chẽ, diễn đạt trong sáng, giàu hình ảnh và sức gợi cảm, ít mắc lỗi về chính tả, ngữ pháp…
  2. Đáp ứng yêu cầu đổi mới cách thức kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh. Hướng dẫn chấm chỉ nêu một số nội dung cơ bản, định tính chứ không định lượng. Giám khảo cần hết sức linh hoạt khi vận dụng hướng dẫn chấm, không chỉ đánh giá kiến thức và kĩ năng mà còn chú ý đến thái độ, cảm xúc, tình cảm của người viết. Cẩn trọng và tinh tế đánh giá bài làm của thí sinh trong tính chỉnh thể, cần khuyến khích những tìm tòi, sáng tạo riêng trong nội dung và hình thức bài làm. Chấp nhận các kiến giải khác nhau, kể cả không có trong hướng dẫn chấm, miễn là hợp lí, có sức thuyết phục.
  3. Tổng điểm của toàn bài là 20,0 điểm, cho lẻ đến 0,25 điểm. Hướng dẫn chấm cho từng câu, từng ý trên cơ sở đó giám khảo có thể thống nhất định ra các thang điểm cụ thể khác.

YÊU CẦU CỤ THỂ:

Câu I. (4,0 điểm)

Yêu cầu về kĩ năng:

Thí sinh có kĩ năng đọc hiểu văn bản.

Diễn đạt rõ ý, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.

Yêu cầu về kiến thức:

  1. Phương thức biểu đạt của đoạn trích: tự sự

– điểm: 0,5: trả lời theo phương án trên

– điểm 0: phương án khác hoặc không có câu trả lời

  1. Đặt nhan đề cho đoạn trích: HS có thể đặt các nhan đề khác nhau miễn là phù hợp nội dung văn bản và ngắn gọn: theo nhân vật chính, theo một chi tiết đặc sắc trong văn bản, theo nội dung/ý nghĩa văn bản (Narziss, chuyện chàng Narziss, hoa thuỷ tiên, sự tích hoa thuỷ tiên…)

 điểm: 0,5 nhan đề phù hợp nội dung văn bản và ngắn gọn

– điểm 0,25: nhan đề phù hợp nội dung văn bản nhưng dài dòng

– điểm 0: nhan đề không phù hợp nội dung văn bản hoặc không có câu trả lời

  1. Nội dung đoạn trích: kể về sự tích hoa thuỷ tiên

– điểm 1,0: trả lời theo phương án trên, có thể có cách diễn đạt khác

– điểm 0,5: nêu đúng nội dung nhưng diễn đạt còn dài dòng

– điểm 0: phương án khác hoặc không có câu trả lời

  1. Từ câu chuyện về chàng Narziss, giải thích ý nghĩa cho hoa thuỷ tiên:

– Chàng Narziss được yêu mến , say mê nhưng không hề để tâm hay đáp lại một aià đó là một người lạnh lùng, vô tình.

– Chàng tự chiêm ngưỡng sắc đẹp của mình,  say mê mìnhà đó là một con người chỉ biết yêu bản thân

Như vậy, hoa thuỷ tiên có thể là là biểu tượng cho những kẻ lạnh lùng, ích kỉ

Giám khảo lưu ý: đây là ý nghĩa do hình tượng văn học gợi ra; đáp án không nêu ý nghĩa của hoa thuỷ tiên trong đời sống

  • Điểm 2,0: nêu được đầy đủ các ý trên, có thể có thêm một số ý nghia khác, miễn là hợp lí
  • Điểm 1,0 : nêu được nửa số ý
  • Điểm 0: phương án khác (không căn cứ và nội dung đoạn trích)

Câu 2. (6,0 điểm)

Yêu cầu về kĩ năng:

– Thí sinh biết cách làm một bài văn nghị luận xã hội.

– Xây dựng bố cục rõ ràng, hệ thống lập luận chặt chẽ, diễn đạt trôi chảy, không mắc lỗi chính tả, dùng từ và ngữ pháp.

Yêu cầu về kiến thức:

Đây là dạng đề mở. Thí sinh có thể trình bày suy nghĩ của mình theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đảm bảo được những ý cơ bản sau:

  1. Giải thích ý kiến

– “hướng gió” là những điều kiện khách quan, là hoàn cảnh xã hội nhiều biến động thử thách

– điều khiển cánh buồm: là hành động của bản thân, yếu tố chủ quan thuộc về con người

con người không thay đổi được hoàn cảnh thì phải biết tính toán, hành động khắc phục hoàn cảnh hoặc lợi dụng hoàn cảnh để hoàn thành mục tiêu, để đạt được thành công.

Ý kiến trên đề cao vai trò chủ quan của con người trước các điều kiện khách quan của cuộc sống

  1. Bàn luận

* Đây là ý kiến đúng đắn: Sự thành công hay thất bại trong cuộc đời mỗi người là do chính bản thân người ấy quyết định.

– Hoàn cảnh khách quan là yếu tố ngoài bản thân nên rất khó tác động, trừ các bậc vĩ nhân, không phải tất cả mọi người đều có thể thay đổi hoàn cảnh, cũng không phải hoàn cảnh luôn là điều kiện thuận lợi cho con người. Nếu trong hoàn cảnh khó khăn thử thách mà con người biết vượt lên, biết tự điều chỉnh tư duy, hành động để ứng phó với các yếu tố bất lợi thì sẽ đi đúng hướng và đến được cái đích cần đến.

– Dù hoàn cảnh có thuận lợi nhưng nếu con người không biết nắm bắt cơ hội, không tận dụng được sự hỗ trợ của các yếu tố khách quan thì sẽ không vươn tới được ước mơ.

* Mở rộng:  Không thể phủ nhận vai trò của hoàn cảnh sống, của các điều kiện khách quan trong sự thành bại của con người.

Gặp điều kiện thuận lợi sẽ được “thuận buồm xuôi gió”, gặp “cuồng phong” dễ bị cuốn đến chỗ thảm bại.

  1. Bài học nhận thức và hành động

– Để tự quyết định cuộc đời mình, cần phải tự nhận thức chính mình, tích lũy tri thức, rèn luyện bản lĩnh, giữ vững ý chí, kiên định lập trường.

– Phát huy năng lực bản thân, tận dụng các yếu tố khách quan để đạt mục đích

Cách cho điểm:

– Điểm 5 – 6: Đáp ứng tất cả các yêu cầu về nội dung; có thể mắc vài lỗi nhỏ về diễn đạt.

Điểm 3 – 4: Đáp ứng phần lớn các yêu cầu về nội dung; có thể mắc vài lỗi chính tả diễn đạt.

– Điểm 1 –2: Đáp ứng được một phần các yêu cầu về nội dung; mắc nhiều lỗi chính tả, diễn đạt.

 

Câu III. (10,0 điểm)

Yêu cầu về kĩ năng:

– Thí sinh biết cách làm một bài văn nghị luận văn học.

– Xây dựng bố cục bài văn chặt chẽ, mạch lạc

– Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu; khuyến khích bài viết sáng tạo.

Yêu cầu về kiến thức:

– Đây là dạng đề mở. Thí sinh có thể trển khai bài làm của mình theo nhiều cách khác Tuy nhiên, bài làm cần đạt được một số yêu cầu cơ bản sau:

Giới thiệu tác giả, tác phẩm và vấn đề nghị luận

2.Giải thích

– Trào phúng có nghĩa là dùng lời lẽ khôi hài để mỉa mai, cười nhạo kẻ khác. Tiếng cười thường được tạo ra khi người ta phát hiện ra mâu thuẫn trào phúng, đó chính là sự mâu thuẫn hay không tương xứng giữa bản chất và biểu hiện, giữa mục đích và phương tiện, đặc biệt là giữa nội dung (xấu xa) và hình thức (đẹp đẽ). Muốn tiếng cười xuất hiện, đối tượng phải mang tính hài, đối tượng được miêu tả bằng bút pháp phóng đại, biếm hoạ, giọng văn giễu nhại.

– Văn học của tiếng cười là một khái niệm  chỉ tất cả các thể loại, các tác phẩm văn học mang cảm hứng trào phúng, sử dụng bút pháp trào phúng, lấy tiếng cười làm mục đích hài hước, phương tiện bộc lộ thái độ chế giễu, mỉa mai, phê phán cái xấu, cái đáng cười. Đó là  ca dao hài hước,  trào phúng, truyện cười dân gian, thơ trào phúng ( của Nguyễn Khuyến, Tú Xương…), truyện trào phúng (của Nguyễn Công Hoan…)

– Tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng là tác phẩm xuất sắc của văn học hiện thực trào phúng giai đoạn 1930-1945

Tiếng cười của Vũ Trọng Phụng trong đoạn trích

* Đối tượng của tiếng cười

Cười xã hội thượng lưu thành thị đương thời. Xã hội thu nhỏ trong đoạn trích gồm đám động những nhân vật có tên và không tên

  • Nhân vật có tên: các thành viên trong gia đình cụ cố Hồng (Văn Minh, Cụ cố Hồng, Tuyết, Tú Tân..) các thành viên khác (Typn, cảnh sát…)
  • Nhân vật không tên: những người đưa đám

Tất cả đều chứa đựng sự mâu thuẫn giữa vẻ bề ngoài buồn rầu, đau khổ, văn minh, chí hiếu và bản chất bên trong vui vẻ, sung sướng, bất hiếu, vô văn hoá…

*Mục đích tiếng cười

Tác giả phê phán mãnh liệt bản chất lố lăng, đồi bại của xã hội thượng lưu thành thị, muốn tống tiễn nó vào cõi chết

*Nghệ thuật tạo tiếng cười

– Xây dựng tình huống trào phúng cơ bản: hạnh phúc của gia đình có tang

– Xây dựng hình tượng đám đông bằng nghệ thuật biếm hoạ: cường điệu, nói ngược, tạo chi tiết nghệ thuật đặc sắc

– Sử dụng lời văn:

+ Đặt câu chứa đựng mâu thuẫn, nghịch lí (giữa hai vế trong một câu, giữa hai câu gần nhau)

+ Tạo giọng văn hài hước

  1. Đánh giá

– Hạnh phúc của một tang gia là chương truyện đặc sắc của tiểu thuyết: chương truyện đã hội đủ các nhân vật của toàn tiểu thuyết và đã thu nhỏ bộ mặt xã hội tư sản thành thị với tất cả bản chất xấu xa của nó: háo danh, hám lợi, giả tạo, rởm đời, vô văn hoá và bao trùm là thói đạo đức giả

– Chương truyện cũng tiêu biểu cho bút pháp trào phúng của Vũ Trọng Phụng nói riêng, của văn học trào phúng nói chung

 

Cách cho điểm:

– Điểm 9-10: Khai thác ý phong phú, sâu sắc, đúng hướng. Trình bày mạch lạc, dẫn chứng hợp lí, rõ ràng, thuyết phục, có sức sáng tạo; hành văn trong sáng, có cảm xúc, hình ảnh.

– Điểm 7-8: Đáp ứng được phần lớn các yêu cầu trên Văn trôi chảy, mạch tư duy rõ ràng; không mắc lỗi chính tả, ngữ pháp và dùng từ.

– Điểm 5-6: Hiểu vấn đề, đã giải quyết được ý chính yếu… Văn khá trôi chảy, mắc vài ba lỗi chính tả, ngữ pháp cơ bản.

– Điểm 3-4: Hiểu vấn đề nhưng giải thích lúng túng, mắc nhiều lỗi chính tả, diễn đạt.

Điểm dưới 3: Còn non kém về nhiều mặt.

Xem thêm : Tuyển tập đề thi học sinh giỏi Ngữ văn lớp 10-11-12 : http://vanhay.edu.vn/hoc-sinh-gioi

Những bài văn hay của học sinh giỏi : Bài văn mẫu

Đề thi kết thúc học kì 1 Ngữ văn 11 THPT Đông Kinh

Đề thi học kì 1 ngữ văn 11.Phân tích nghệ thuật trào phúng trong đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia”. Đề đọc hiểu :Vẻ đẹp của người chạy marathon về chót

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI

TRƯỜNG THPT ĐÔNG KINH

—————-

 MA TRẬN KHUNG ĐỀ THI HK I  MÔN NGỮ VĂN 11

(Thời gian làm bài: 90 phút)

 

Mức độ/

Chủ đề

Nhận biết Thông hiểu Vận dụng Tổng số
I. Đọc hiểu

Văn bản nhật dụng

– Phương thức biểu đạt của văn bản – Nội dung chính của văn bản.

– Ý nghĩa chi tiết trong văn bản.

– Viết đoạn văn nêu suy nghĩ về vấn đề đặt ra trong văn bản.
Số câu 1 2 1 4
Số điểm (Tỉ lệ) 1,0 (10% ) 2,0 (20%) 1,0 (10%) 4,0 (40%)
II. Làm văn

Nghị luận văn học

– Viết bài nghị luận văn học về một vấn đề trong tác phẩm văn học.
Số câu 1 1
Số điểm (Tỉ lệ) 6,0 (60%) 6,0 (60%)
Tổng số câu 1 2 2 5
Tổng số điểm (Tỉ lệ) 1,0

(10%)

2,0

(20%)

7,0

(70%)

10,0

(100%)

 

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI, TRƯỜNG THPT ĐÔNG KINH

ĐỀ THI HỌC KÌ I NĂM HỌC 2016 – 2017, MÔN NGỮ VĂN 11 

Thời gian: 90 phút (không kể phát đề)

 

PHẦN I – ĐỌC HIỂU (4 điểm)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới

… Lần nào cũng vậy, khi những người thắng cuộc đã lên bục nhận giải, chụp ảnh, trả lời truyền hình, rồi đã về nhà tắm rửa xong, thì nhóm người này vẫn hì hục, nhẫn nại ở những cây số cuối cùng. Tôi đứng ở ven đường để ngắm lòng quyết tâm đầy đau đớn của họ. Thường khi họ rẽ vào khúc ngoặt cuối cùng dẫn tới đích thì các băng rôn đã được tháo xuống từ lâu, cũng không còn ai đứng ở vạch đích để bấm thời gian cho họ, và người xem cũng đã ra về gần hết. Bám sát gót những người đang lê lết này là các nhân viên vệ sinh khua chổi quét đường.

Tôi không để ý tới những người về đầu vì họ là dân chuyên nghiệp, họ sinh ra để dẫn đầu, họ có tố chất để làm điều siêu phàm. Những người về cuối thì hiểu rằng họ không có vai trò gì trong cái cuộc thi thố này. Họ chẳng đem lại vinh quang cho ai, mà thất bại của họ cũng không làm ai mảy may quan tâm. Động cơ để họ cắn răng lê bước tiếp không phải là những gửi gắm của một tập thể, chẳng phải là danh dự của một quốc gia, hay danh tiếng của bản thân mà họ cần phải bảo vệ. Họ đơn thuần bướng bỉnh và có thể hơi điên rồ. Họ tiếp tục chỉ vì bỏ cuộc không phải là lựa chọn của họ..”

(Vẻ đẹp của người chạy marathon về chót, trích Bức xúc không làm ta vô can, Đặng Hoàng Giang, NXB Nhã Nam, 2015, tr.157 )

Câu 1: Hãy xác định phương thức biểu đạt có trong đoạn trích trên.

Câu 2: Em hiểu câu “Họ tiếp tục chỉ vì bỏ cuộc không phải là lựa chọn của họ..” sử dụng trong đoạn trích nghĩa là gì?

Câu 3: Hãy nêu nội dung chính của đoạn trích trên.

Câu 4: Qua đoạn trích trên, anh/chị hãy trình bày suy nghĩ về giá trị của việc chiến thắng chính bản thân mình trong cuộc sống? Trình bày bằng đoạn văn 7 câu.

PHẦN II – LÀM VĂN (6 điểm)

Phân tích nghệ thuật trào phúng trong đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” (trích “Số đỏ”) của Vũ Trọng Phụng.

________________________

*Lưu ý:

– Thí sinh không sử dụng tài liệu.

– Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.

HƯỚNG DẪN ĐÁP ÁN VÀ THANG ĐIỂM ĐỀ THI HK I – VĂN 11

PHẦN I – ĐỌC HIỂU (4 điểm)

Câu 1 (1,0 điểm) Tự sự, nghị luận, biểu cảm.

* Nếu có 2/3 phương thức: 0,75 điểm

* Nếu có 1/3 phương thức: 0,5 điểm

Câu 2 (1,0 điểm)

– Ý cần có: họ nỗ lực để thực hiện đến cùng cái đích mà mình đặt ra, không bỏ dở giữa chừng.

* Nếu có ý “nỗ lực” hoặc “không bỏ giữa chừng”: 0,5 điểm

Câu 3 (1,0 điểm)

Ý cần có: Sự trân trọng của tác giả với những người chạy thi về sau cùng bởi họ đã không từ bỏ, không nản chí để đạt đến cái đích của chính mình.

* Nếu có ý “trân trọng” hoặc “không từ bỏ”: 0,5 điểm

Câu 4 (1,0 điểm)

– Đảm bảo dung lượng 7 câu.

– Hình thức đoạn văn: diễn dịch, quy nạp…

– Một số ý nên có:

+ Chiến thắng chính bản thân mình giúp có ý nghĩa quan trọng với mỗi người.

+ Giúp ta mạnh mẽ hơn và không chịu khuất phục trước hoàn cảnh.

+ Luôn tạo ra niềm tin trong cuộc sống.

+ Đưa dẫn chứng ngắn gọn.

* Nếu đoạn văn từ 4 – 6 câu hoặc 8 – 10 câu mà có các ý cơ bản: 0,5 điểm.

* Nếu đoạn văn dưới 4 câu hoặc trên 10 câu: 0 điểm

PHẦN II – LÀM VĂN (6 điểm)

  1. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận: có đủ mở bài (nêu được vấn đề), thân bài (triển khai được vấn đề), kết bài (kết luận được vấn đề). 0,25 điểm
  2. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phung trong đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” 0,50 điểm
  3. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; thể hiện sự cảm nhận sâu sắc và vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng.

– Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm, đoạn trích và nghệ thuật trào phúng trong đoạn trích.                                                                   0,50 điểm

Giải thích khái niệm “trào phúng” (tiếng cười châm biếm) và chỉ ra biểu hiện của nó (mâu thuẫn – tình huống – nhân vật trào phúng)             0,25 điểm

Phân tích mâu thuẫn trào phúng ngay trong nhan đề (hạnh phúc và tang gia). Từ mâu thuẫn đó, nảy sinh các tình huống trào phúng, gắn với các chân dung trào phúng:                                                                         0,50 điểm

+ Cảnh chuẩn bị đám tang với không khí “bối rối” trong “niềm vui của từng người của gia đình” (cố Hồng, ông bà Văn Minh và tiệm may Âu hóa, Phán mọc sừng, Tuyết, Tú tân)                                                                   1,0 điểm

+ Cảnh cất đám và đưa tang với không khí “náo nhiệt” và nhiều niềm vui “ý nhị” khác của những người ngoài gia đình (vật dụng trong đám tang, bạn cố Hồng, Xuân tóc đỏ, sư Tăng  Phú, 2 cảnh sát, đám “giai thanh gái lịch”…) 1,0 điểm

+ Cảnh hạ huyệt với tài đạo diễn của Tú tân, với tiếng khóc đặc biệt của ông Phán mọc sừng đã khép lại phi vụ làm ăn với Xuân tóc đỏ.      0,50 điểm

+ Đánh giá về cách sử dụng giọng điệu, từ ngữ, hình ảnh…của tác giả để tăng thêm tiếng cười mỉa mai, châm biếm.                          0,50 điểm

Đánh giá về sức mạnh tố cáo xã hội “thượng lưu” rởm và sự băng hoại của tình người trong xã hội                                                              0,50 điểm

  1. Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận. 0,25 điểm
  2. Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu 0,25 điểm

 _______________

* Lưu ý: giáo viên linh hoạt chấm điểm trong từng phần để tránh ảnh hưởng đến quyền lợi của học sinh.

 Xem thêm :

  1. Tuyển tập đề thi học kì khối 11
  2. Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về Hạnh phúc của một tang gia- trích Số đỏ, Vũ Trọng Phụng : Hạnh phúc của một tang gia

Đề kiểm tra học kì 1 Ngữ văn lớp 11

 Đề kiểm tra học kì 1 Ngữ văn lớp 11. Đọc hiểu : Tổ quốc nhìn từ biển.Nghị luận xã hội  200 từ:“Không thầy đố mày làm nên”.phân tích cảnh đám ma gương mẫu trong đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” (Trích “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng)

 

SỞ GD & ĐT SƠN LA                           ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ I

TRƯỜNG THPT SỐP CỘP                          Năm học: 2016 -2017

                                                                  Môn: Ngữ Văn – Lớp:11

                                                   Thời gian: 120 phút (không kể thời gian giao đề)

MỤC TIÊU BÀI KIỂM TRA

  1. Kiến thức :
  • Kiểm tra khả năng nắm bắt, vận dụng kiến thức ngữ văn của học sinh sau một học kì học ngữ văn 11( Kiến thức tiếng việt, đọc văn, làm văn…).
  1. Kĩ năng :
  • Vận dụng kĩ năng đọc hiểu văn học vào đọc hiểu một đoạn trích của văn bản văn học.
  • Vận dụng phương pháp nghị luận xã hội vào làm văn nghị luận xã hội: trình bày suy nghĩ về một tư tưởng đạo lí.
  • Vận dụng phương pháp nghị luận văn học vào phân tích tình huống và nhân vật văn học.
  • Rèn luyện kĩ năng tư duy, kĩ năng trình bày, kĩ năng đọc hiểu, kĩ năng viết bài của học sinh.
  1. Thái độ :
  • Rèn luyện tính sáng tạo, khả năng tự lập cho học sinh.
  • Giáo dục tính chuyên cần, chịu khó cho học sinh, lòng yêu thích môn học.
  1. Năng lực :
  • Cảm thụ văn học.
  • Trình bày suy nghĩ của bản thân.
  • Tạo lập văn bản.

HÌNH THỨC KIỂM TRA : TỰ LUẬN.

ĐỀ KIỂM TRA :

MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA

 

NỘI DUNG – CHỦ ĐỀ MỨC ĐỘ TỔNG SỐ
NHẬN BIẾT THÔNG HIỂU VẬN DỤNG THẤP VẬN DỤNG CAO
TL TL TL TL
I. Đọc hiểu – Nêu được các phương thức biểu đạt.

– Nội dung chính của đoạn thơ.

– Các biện pháp tu từ.

– Nêu tác dụng của biện pháp tu từ.

Số câu

Số điểm

Tỉ lệ

Số câu: 1

Số điểm: 3

Tỉ lệ: 30%

Số câu:

Số điểm:

Tỉ lệ:

Số câu:

Số điểm:

Tỉ lệ:

Số câu:

Số điểm:

Tỉ lệ:

Số câu: 1

Số điểm: 3

Tỉ lệ: 30%

II. Làm văn
1. Nghị luận xã hội – Giới thiệu vấn đề, trích dẫn câu tục ngữ.

 

– Hiểu được quan niệm của nhân dân ta về vai trò của người thầy.

– Hiểu được truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc.

– Vận dụng kiến thức kĩ năng viết đoạn văn nghị luận có bố cục 3 phần.

 

– Khẳng định tính đúng đắn và đạo lý tốt đẹp của câu tục ngữ đối với các thế hệ học trò từ xưa cho đến nay.

 

Số câu

Số điểm

Tỉ lệ

Số câu: 1

Số điểm: 0.5

Tỉ lệ: 5%

Số câu: 1

Số điểm: 1.0

Tỉ lệ: 10%

Số câu: 1

Số điểm: 0.25

Tỉ lệ: 2.5%

Số câu:1

Số điểm: 0.25

Tỉ lệ: 2.5%

Số câu: 1

Số điểm: 2

Tỉ lệ: 20%

2. Nghị luận văn học – Giới thiệu tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác, đoạn trích và vấn đề nghị luận.

– Nêu được các chi tiết thể hiện cảnh đám ma gương mẫu.

– Hiểu  được cảnh đám ma gương mẫu được tổ chức long trọng.

– Thành phần đi đưa đám.

– Cảnh hạ huyệt.

– Các biện pháp nghệ thuật.

– Vận dụng kiến thức kĩ năng để viết một bài văn nghị lụân văn học. – Đánh giá được cảnh đám ma gương mẫu là bức tranh thể hiện sự suy thoái đạo đức, sự phê phán của tác giả đối với tầng lớp thương lưu.
Số câu

Số điểm

Tỉ lệ

Số câu: 1

Số điểm: 1.5

Tỉ lệ: 15%

Số câu: 1

Số điểm: 2.0

Tỉ lệ: 20%

Số câu: 1

Số điểm: 0,75

Tỉ lệ: 7.5%

Số câu: 1

Số điểm: 0.75

Tỉ lệ: 7.5%

Số câu: 1

Số điểm: 5

Tỉ lệ: 50%

Tổng số Số câu: 3

Số điểm: 5

Tỉ lệ: 50%

Số câu: 2

Số điểm: 3

Tỉ lệ: 30%

Số câu: 2

Số điểm: 1.0

Tỉ lệ: 10%

Số câu: 2

Số điểm: 1.0

Tỉ lệ: 10%

Số câu: 3

Số điểm: 10

Tỉ lệ: 100%

 

ĐỀ KIỂM TRA THEO MA TRẬN

     SỞ GD & ĐT SƠN LA                    ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ I

TRƯỜNG THPT SỐP CỘP                     Năm học: 2016 -2017

                                                                   Môn: Ngữ Văn – Lớp:11

                                                 Thời gian: 120 phút (không kể thời gian giao đề)

 

Phần I: Đọc hiểu( 3.0 điểm)

Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu:

“Đất Tổ quốc khi chập chờn bóng giặc

Các con nằm thao thức phía Trường Sơn

Biển Tổ quốc chưa một ngày yên ả

Biển cần lao như áo mẹ bạc sờn”.

                                                    Tháng 4/2009

(Trích: Tổ Quốc nhìn từ Biển – Nguyễn Việt Chiến)

1. Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn thơ trên.

2. Nêu nội dung chính của đoạn thơ.

3. Xác định hai biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ? Nêu tác dụng?

Phần II: Làm văn( 7.0 điểm)

Câu 1: (2.0 điểm)

Anh (chị) hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 từ) để trình bày suy nghĩ của mình về câu tục ngữ“Không thầy đố mày làm nên”.

Câu 2: (5.0 điểm)

Anh (chị) hãy phân tích cảnh đám ma gương mẫu trong đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” (Trích “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng)?

 

……………….HẾT………………..

 

III. ĐÁP ÁN VÀ THANG ĐIỂM

 

Phần I: Đọc hiểu 3.0

– Phương thức biểu đạt: Phương thức biểu cảm/biểu cảm.1.0

– Nội dung chính: Sự trăn trở, lo lắng về tình hình biển đảo đang bị đe dọa bởi các thế lực xâm lăng và sự biết ơn với biển đảo quê hương 1.0

– Hai biện pháp tu từ: Điệp từ, so sánh….. 0.5

– Tác dụng:

+ Điệp từ: Sự trăn trở, lo âu về tình hình biển đảo.

+ So sánh: Sự biết ơn với biển đảo. 0.5

Phần II: Làm văn 7.0

Câu 1: (2.0 điểm)

Anh (chị) hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 từ) để trình bày suy nghĩ của mình về câu tục ngữ“Không thầy đố mày làm nên”.

a. Yêu cầu về kĩ năng:

– Học sinh biết cách viết một đoạn văn nghị luận xã hội có bố cục ba phần: Mở đoạn – Thân đoạn – Kết đoạn. Có sử dụng thao tác lập luận so sánh trong đoạn văn.

– Học sinh hiểu yêu cầu của đề, có định hướng giải quyết vấn đề đúng đắn; có lí lẽ thuyết phục, dẫn chứng xác thực, lập luận chặt chẽ.

– Hạn chế các lỗi diễn đạt; chữ viết rõ ràng, trình bày sạch sẽ.

b. Yêu cầu về kiến thức:

Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách. Sau đây là các ý cơ bản.

Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề, trích dẫn câu tục ngữ “Không thầy đố mày làm nên”. 0.5

Thân đoạn:

– Câu tục ngữ thể hiện quan niệm của nhân dân ta về vai trò của người thầy:

+ Thầy là người không chỉ dạy những kiến thức cần thiết, không chỉ dạy chữ mà còn dạy đạo lí làm người. Trong quá trình học tập, thầy là người giúp học sinh hiểu biết rất nhiều mặt của cuộc sống.

+ Thầy còn là người góp phần định hướng nghề nghiệp cho học sinh…

+ Con người khó có thể làm tốt mọi việc nếu thiếu đi vai trò của người thầy. 0.5

– Câu tục ngữ còn là lời khẳng định về truyền thống tôn sư trọng đạo tốt đẹp của dân tộc ta. Vì thế bản thân người học sinh nói riêng và mọi người nói chung phải biết kính trọng, nhớ ơn thầy cô giáo – những người đã giúp đỡ, truyền thụ những điều hay lẽ phải để góp phần giúp chúng ta nên người. 0.5

Kết đoạn: Khẳng định lại tính đúng đắn và đạo lí tốt đẹp của câu tục ngữ đối với các thế hệ học trò từ xưa cho đến nay và cả mai sau. 0.5

Câu 2: (5.0 điểm)

Anh (chị) hãy phân tích cảnh đám ma gương mẫu trong đoạn trích“Hạnh phúc của một tang gia” (Trích “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng).

A. Yêu cầu về kĩ năng:

– Học sinh biết cách làm bài văn nghị luận văn học có bố cục ba phần: Mở bài – Thân bài – Kết bài.

– Học sinh biết cách lập luận chặt chẽ, thuyết phục; biết cách lựa chọn những dẫn chứng chính xác, tiêu biểu để phân tích làm rõ yêu cầu của đề.

–  Văn phong sáng rõ, mạch lạc; hạn chế các lỗi diễn đạt, chính tả.

B. Yêu cầu về kiến thức:

– Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách. Sau đây là các ý‎ cơ bản:

Mở bài: Giới thiệu ngắn gọn tác giả, tác phẩm, đoạn trích và vấn đề nghị luận: cảnh đám ma gương mẫu. 0.5

Thân bài:

* Nội dung:

– Cảnh đám ma gương mẫu được tổ chức long trọng, hoành tráng đúng ý muốn của cụ cố Hồng: đám ma tổ chức theo cả lối Ta, Tàu, Tây, có kiệu bát cống, lợn quay đi lọng, lốc bốc xoảng và bú dích, và vòng hoa, ba trăm câu đối, vài trăm người đi đưa… 1.0

– Cảnh đưa đám:

+ Người đi đưa gồm những ông “tai to mặt lớn”, họ rất cảm động khi“trông  thấy làn da trắng thập thò trong làn áo voan trên cánh tay và ngực Tuyết”.  Trong số những người đi đưa có rất nhiều những giai thanh gái lịch, họ thản nhiên chim nhau, cười tình với nhau, bình phẩm nhau, chê bai nhau, ghen tuông nhau, hẹn hò nhau… với vẻ mặt buồn rầu của những người đi đưa đám ma.

+ Đám đi qua bốn phố, đi đến đâu làm huyên náo đến đó. Bạn cậu tú Tân thi nhau chụp ảnh như ở hội chợ.

+ Xuân Tóc Đỏ xuất hiện đúng lúc cùng với sáu chiếc xe và hai vòng hoa đồ sộ càng làm cho đám ma thêm nhốn nháo.

→ Cảnh đưa đám có vẻ ngoài long trọng nhưng chẳng khác gì một đám rước lố lăng, vô văn hóa của những con người vô đạo đức. 1.25

– Đỉnh cao của đám ma là cảnh hạ huyệt:

+ Cậu tú Tân bắt bẻ mọi người tạo dáng để chụp ảnh kỉ niệm lúc hạ huyệt, bạn của cậu nhảy lên các nấm mộ khác để chụp cho ảnh khỏi giống nhau.

+ Ông Phán mọc sừng oặt người đi khóc mãi không thôi và dúi vào tay Xuân một cái giấy bạc năm đồng gấp tư. 1.25

* Nghệ thuât:

– Miêu tả từ xa đến gần, kết hợp giữa âm thanh, màu sắc. Sử dụng điệp ngữ Đám cứ đi…

– Nghệ thuật tương phản, đối lập, khắc họa chân dung biếm họa. Giọng điệu mỉa mai, châm biếm. 0.5

Kết bài: Đánh giá cảnh đám ma gương mẫu là bức tranh thể hiện sự suy thoái đạo đức của một gia đình và cả xã hội thượng lưu lúc bấy giờ. Qua đó, ta thấy được sự phê phán của tác giả đối với tầng lớp thượng lưu thành thị của xã hội đương thời. 0.5

* Lưu ý:

– Học sinh có thể diễn tả và sắp xếp ‎ý theo nhiều cách nhưng phải nêu đủ và mạch lạc các ý cơ bản trên thì mới đạt điểm tối đa.

– Học sinh có những ‎sáng kiến riêng hợp l‎ý thì vẫn được chấp nhận.

Xem thêm :

  1. Tuyển tập đề thi Ngữ văn khối 11
  2. Những bài văn hay, những đề thi về bài Hạnh phúc của một tang gia

Tài liệu dạy học bài Hạnh Phúc của một tang gia- Vũ Trọng Phụng

Tài liệu dạy học bài Hạnh Phúc của một tang gia- Vũ Trọng Phụng. Bài giảng dành cho giáo viên tham khảo.

HẠNH PHÚC CỦA MỘT TANG GIA

( Trích Số đỏ)  VŨ TRỌNG PHỤNG

A.     Mục Tiêu Bài Học:

– Nhận ra bản chất lố lăng, đồi bại của xã hội “thượng lưu” thành thị những năm trước cách mạng tháng tám năm 1945.

– Thấy được thái độ phê phán mạnh mẽ và bút pháp châm biếm mãnh liệt, đầy tài năng của Vũ Trọng Phụng: vừa xoay quanh mâu thuẫn trào phúng cơ bản, vừa sáng tạo ra những tình huống khác nhau, tạo nên một màn hài kịch phong phú, biến hoá ở chương XV của tiểu thuyết “Số đỏ”.

I.        Tiến Trình Bài Dạy:

Đặt vấn đề:

Tổ chức cho học sinh tìm hiểu tiểu dẫn

1.       Câu hỏi khám phá: Dựa vào SGK và tư liệu tham khảo trình bày những nét cơ bản về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của VTP?

Vũ Trọng Phung sinh 1912 tại Hà Nội, cha mất khi Vũ Trọng Phung vừa được 7 tháng, mẹ Vũ Trọng Phung ở vậy nuôi con, phụng dưỡng mẹ chồng bằng nghề khâu vá thuê. Do nghèo khổ lại bị bệnh lao nặng vì làm vịêc quá sức Vũ Trọng Phụng mất vào ngày 13/10/1939 để lại bà mẹ, vợ và con gái chưa đầy 1 tuổi.

Ông được mệnh danh là “Ông vua phóng sự của Bắc Kì”. Quan điểm sáng tác của Vũ Trọng Phụng thể hiện trong lời nhận định: “Các ông cho tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết. Tôi và những người cùng chí hướng với tôi cho tiểu thuyết là sự thực ở đời”. Vũ Trọng Phụng được đánh giá là nhà văn hiện thực xuất sắc giai đoạn 1936 – 1939.

Sự nghiệp văn chương (ông là nhà văn lao động sáng tạo không ngừng. Ông cũng là người bình dị, “người của khuôn phép nền nếp” (Lưu Trọng Lư).

– Ông căm ghét xã hội thực dân nửa phong kiến đương thời. Đây là cơ sở để tạo nên nhiều tác phẩm hấp dẫn của nhà văn.

2.       Câu hỏi khám phá: đọc đoạn trích trong SGK sau đó hãy nêu vị trí và bố cục đoạn trích, nội dung cơ bản mỗi đoạn?

Vị trí và bố cục đoạn trích

+Vị trí

– Đoạn trích là toàn bộ chương XV của tác phẩm Số đỏ.

– Trước đoạn trích nhà văn miêu tả “trước đó cụ Cố Tổ đã mấy lần suýt chết, mấy lần làm con cháu mừng hụt” rồi vô tình Xuân gây ra cái chết của cụ tổ. Đoạn trích này bắt đầu từ đótri

+ Bố cục: Chia làm 3 đoạn

+ Đoạn một: từ đầu đến “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi” , giới thiệu cái chết của cụ tổ.

+ Đoạn hai: tiếp đó đến “Chia buồn tấp nập”. Nội dung: trước tang gia là niềm vui và hạnh phúc của một gia đình đại bất hiếu.

+ Đoạn ba còn lại: Miêu tả cảnh đưa đám và cảnh hạ huyệt.

3.       Câu hỏi định hướng: ý nghĩa nhan đề “Hạnh phúc của một tang gia”?

4.       Câu hỏi gợi mở:

²  Từ nhan đề gợi lên điều gì nghịch lí?

²  Trong cái nghịch lí ấy đã tố cáo được vấn đề gì?

Nhan đề tạo sự đối lập gây tiếng cười thâm thúy: “Tang gia” là đau đớn, u buồn,ảm đạm. “Hạnh phúc” là sự sung sướng, được thỏa mãn nguyện vọng.Hai trạng thái đó đối lập nhau trong một nhan đề đã tạo nên nghịch lý gây sự tò mò,chú ý ở người đọc.

Nhan đề góp phần bộc lộ nội dung đoạn trích: cái chết của cụ cố Tổ đã đem lại cho cả gia đình này một niềm hạnh phúc hoan hỉ. Cái chết của cụ cố tổ đem đến hạnh phúc, sung sướng cho tất cả con cháu,người thân và bạn bè, niềm hạnh phúc đó to lớn đến mức nó cự tự phát bung ra, tràn trề,không kìm nén lại được. Bởi cụ cố tổ làm di chúc là sau khi cụ chết mới được chia gia tài. Cái chết của cụ khiến cho cái chúc thư kia thực sự “bắt đầu đi vào giai đoạn thực hành chứ không còn là lý thuyết suông nữa”, do đó ai cũng hạnh phúc. Ông Phán mọc sừng sẽ có thêm vài nghìn đồng nhờ giá trị của đôi sừng hươu trên đầu. Cụ cố Hồng hoan hỉ nghĩ đến lúc cụ mặc bộ đồ xô gai. Văn Minh thì thầm kín sung sướng vì chúc thư được thực hiện thì ông được chia một tài sản lớn. Bà Văn Minh và ông Typn thì sung sướng vì những bộ đồ của tiệm may Âu Hóa được dịp lăng xê…nghĩa là mỗi thành viên trong gia đình này đều có những “hạnh phúc” cho riêng họ.
Nhan đề góp phần tố cáo mạnh mẽ,lật tẩy bộ mặt thật của một xã hội tư sản lố lăng, kệch cỡm, học đòi, đang làm bang hoại giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc.

II.     Triển Khai Bài Dạy

a.       Tình huống trào phúng và mâu thuẫn trào phúng

1.       Câu hỏi đọc hiểu: Tình huống nào làm nảy sinh HP của một tang gia?

Tình huống cụ cố Tổ chết, chết thật dù rằng chết một cách bình tĩnh.

2.       Câu hỏi sáng tạo: Nhận xét gì về cách diễn đạt tình huống, nó gợi lên ý nghĩa gì?

Tình huống bi nhưng nhà văn lại diễn đạt bằng một thứ ngôn ngữ  ráo hoảnh những từ như “chết thật” “chết một cách bình tĩnh” nó cho biết cụ cố Tổ đã mấy lần suýt chết, đám con cháu đã sốt ruột chờ đợi cái chết này vậy mà cứ “chết một cách bình tĩnh” dù người ta đã vận dụng đủ loại thuốc hổ lốn “bùn đen trộn cứt trâu” hay cả cái lí thuyết nhiều thầy thối ma “công dụng đến mức mất mạng”. Và bây giờ cụ cố Tổ đã chết thật là may mắn!

3.       Câu hỏi đọc hiểu: Vì sao đám con cháu lại sốt ruột mong đợi cái chết của cụ cố Tổ đến như vậy?

Vì cụ có một gia tài kếch xù mà cụ lại ghi vào di chúc “gia tài chia sau khi cụ chết” thành thử ra con cháu ai nấy đều sốt ruột mong đợi cái chết của cụ.

4.       Câu hỏi đọc hiểu: Như vậy cái chết của cụ cố Tổ với lại đống gia tài của cụ làm nảy sinh điều gì?

 

Cái chết của cụ cố Tổ vì vậy mà nảy sinh sự kiện tang gia nhưng đồng thời đem lại niềm hạnh phúc cho mọi người.

Gv bình:

Như vậy mâu thuẫn trào phúng giữa hạnh phúc và tang gia đã xuất hiện từ tình huống kỳ bí đó. Tiếng cười đã có hoàn cảnh, cơ sở để bộc lộ, để “khai sinh” một cách vẻ vang!

5.       Câu hỏi đọc hiểu: Hai yếu tố này mâu thuẫn với nhau như thế nào?

– Hạnh phúc / tang gia

+ Tang gia là gia đình có người thân vừa mới nằm xuống, lúc này không thể có một cuộc sống bình thường chứ chưa thể nói tới điều gì khác. Nhưng ở đây xảy ra điều kì lạ: Tang gia ấy rất hạnh phúc. Đó là dịp may hiếm có để tất cả các thành viên đều thoả mãn một nguyện vọng hạnh phúc nào đó.

6.       Câu hỏi sáng tạo: Yếu tố nào được nhà văn miêu tả kỹ lưỡng đến  trần trụi? Ý nghĩa?

Mâu thuẫn giữa cái bên ngoài và cái bên trong:

+ Vỏ ngoài: rõ ràng là nhà có tang, có người chết, con cháu dán cáo phó khắp nơi, thuê xe, kiệu, có khách khứa đến hỏi thăm tấp nập, có quá trình đưa tiễn, hạ huyệt.

+ Bên trong: Ai nấy đều hạnh phúc sung sướng.

– Yếu tố bên trong được miêu tả kỹ lưỡng, trần trụi. Những niềm hạnh phúc được che đậy bằng cái vỏ tang gia giả dối bị lôi ra ánh sáng. Và nhà văn đã làm được  điều đó, để cười vào chúng lên án chúng bằng việc kí hoạ những niềm hạnh phúc  thành những chân dung tính cách thực sự chân thực, sắc sảo.

GV bình:

Vì thế mà người đọc có cơ hội được cười thoải mái vào những chân dung hạnh phúc ấy.

b.      Chân dung trào phúng:

1.       Câu hỏi đọc hiểu:

Cái chết của cụ cố Tổ tạo nên niềm hạnh phúc chung nào cho gia đình con cháu cụ?

Cái chết của cụ cố Tổ là một sự kiện trọng đại tạo dựng đại hỷ cho gia đình cụ.

GV bình:

Cái chết của cụ Tổ tạo một dịp may cho tất cả mọi người chung một nhịp sống rộn ràng vui vẻ đón nhận cái gia tài kếch xù sẽ được chia sau đám tang của cụ. ‘Bọn con cháu ai nấy đều sung sướng thoả thích … người ta từng bừng đi đưa giấy cáo phó, gọi phường kèn, thuê xe đám ma”

Tuy nhiên trong niềm hạnh phúc chung ấy ai cũng có những hạnh phúc riêng: Nhà văn kể: “Cái chết kia làm cho nhiều người sung sướng lắm”.

2.       Câu hỏi đọc hiểu:

Người đầu tiên trong gia đình cụ cố Hông được lợi phải kể đến là ai?

Được chia thêm tiền nhờ đôi sừng ấy làm cho Phán có tâm trạng như thế nào?

– Phán mọc sừng: là người đầu tiên được lợi từ cái chết của cụ cố Tổ là thằng cháu rể bị mọc sừng. Ngay sau cái chết của cụ Tổ hắn đã được bố vợ (cố Hồng) ghé vào tai hứa sẽ chia thêm cho mấy nghìn bạc vì có công trong việc làm cho cụ cố chết bằng chính sự việc bị mọc sừng.

Có được cái lợi ấy, hắn sung sướng hả hê tự hào vì không ngờ rằng đôi sừng trên đầu hắn lại có giá trị to thế.

3.       Câu hỏi khám phá: Qua niềm sung sướng ấy của Phán mọc sừng em có suy nghĩ gì về tư cách của hắn?

Phán mọc sừng hiện lên đúng lá một quái thai, hắn cúi mình trước đồng tiền một cách đê tiện nên sẵn sàng đánh đổi hạnh phúc vợ chồng, danh dự của một thằng đàn ông lấy vinh quang của đôi sừng vô hình trên đầu hắn mà không cảm thấy nhục nhã.

4.       Câu hỏi đọc hiểu:

Nhân vật vào lẽ ra phải có trách nhiệm nhiều nhất trong lúc tang gia này?

Tuy nhiên đương lúc tang gia bối rối ấy cố Hồng có thái độ như thế nào?

Thâm chí hắn chỉ mơ tưởng tới điều gì?

Con trai trưởng: cố Hồng lẽ ra là người phải lưu tâm nhiều nhất có trách nhiệm với cái chết của cụ cố Tổ.

Cố Hồng vẫn dửng dưng như không nằm bẹp hút thuốc phiện một cách bình tĩnh, lập lại như một cái máy 1872 câu “Biết  rồi, khổ lắm nói mãi” mà thực chất chả biết cái gì?

Thâm chí hắn chỉ mơ tưởng tới hình ảnh mình “mặc áo xô gai, chống gậy vừa ho lụ khụ vừa mếu máo, sung sướng được thiên hạ chỉ chỏ khen: “ái chà, con giai nhớn của cụ già đến thế kia à?”

5.       Câu hỏi khám phá: Qua tâm trạng, thái độ của cố Hồng em đánh giá gì về chân dung nhân vật này?

Cố Hồng là 1 “trưởng giả”, hiếu danh, hủ lậu, hợm hĩnh một cách vô nghĩa lí, vô tình, vô trách nhiệm.

6.       Câu hỏi đọc hiểu:

Bà cố Hồng trong lúc tang gia cứ bấn lên vì điều gì?

Rốt cuộc, bà có cảm thấy hạnh phúc trong đám tang không?

Bà cố Hồng là dâu trưởng bà bấn lên không phải vì tang gia bối rối mà vì bây giờ bà mới nhận thấy hết giá trị của ông Đốc tờ Xuân, cụ lo bây giờ Xuân sẽ hối hôn với cô Tuyết cô con gái hư hỏng một cách có lý luận của bà.

Rốt cuộc bà cũng gặt được hạnh phúc, sự sung sướng khi được cậu Tú Tân thông báo có xe, kiệu, lọng, vòng hoa và cả Xuân Tóc Đỏ đến đưa đám. Bà cảm động hết sức vì “ấy giá không có cái món ấy thì là thiếu, chưa được to, may mà ông Xuân đã nghĩa hộ tôi”.

GV bình:

Cái “món ấy” với bà cố Hồng, đó không phải chỉ là xe, lọng, vòng hoa mà quan trọng là vì có ông me xừ Xuân đến giúp đáp phúng viếng, làm danh giá cho đám tang, mà số phận của cô Tuyết như thế cũng được giải quyết êm thấm.

7.       Câu hỏi đọc hiểu:

Còn thằng cháu đích tôn (ông Văn Minh) có bộ mặt như thế nào trong lúc tang gia?

Vì sao hắn lại đăm chiêu, nghĩ ngợi đầy vẻ đưa đám thế?

Có một bộ mặt đưa đám vò đầu bứt tóc, mặt đăm chiêu nghĩ ngợi rất hợp thời trong đám ma.

Vẻ nghĩ ngợi, bối rối kiểu đưa đám ấy chẳng qua là vì hắn đang lao lung nghĩ cách hiện thực hoá cái chúc thư của cụ Tổ, làm thế nào để gột rửa cái quá khứ nhơ nhớp của thằng Xuân để gán cho Tuyết.

8.       Câu hỏi khám phá: Vậy em nhận xét như thế nào về cái giả, cái thật của con người Văn Minh?

Như vậy con người Văn Minh, cái vẻ đám ma chỉ là giả, nó che dấu cái bản chất vụ lợi có thật trong con người hắn. Hắn chẳng qua cũng là một quái thai , giả nhân giả nghĩa trong gia đình đó, xã hội đó.

9.       Câu hỏi định hướng: Đối với bà Văn Minh và Typn cái chết của cụ cố Tổ tạo điều kiện gì cho họ?

Họ đều đang sốt ruột chờ đợi để trình diễn tang phục, bộ đồ xô gai tân thời ở tiệm “âu hoá”.Cái chết của cụ Cố Tổ trở thành dịp may hiếm có để “lăng xê” những mốt quần áo những thứ quần áo tang phục tối thượng tiết kiệm vải được may với quan niệm quần áo không phải để mặc để che mà để phô diễn da thịt, “Có thể ban cho những ai có tang đang đau đớn vì kẻ chết “cũng được hưởng chút ít hạnh phúc ở đời.

10.  Câu hỏi sáng tạo: Vẽ lên những bộ mặt vụ lợi của đám con cháu này nhà văn cho ta thấy điều gì về bộ mặt xã hội tư sản nửa thực dân ở nước ta đầu thế kỷ?

Xã hội tư sản nửa thực dân vừa chào đời đã đầm đìa máu và bùn, con người sống vô tình, vụ lợi, cái chết của một người trở thành dịp kiếm ăn của bao kẻ. Người ta sẵn sàng kinh doanh trên xác người chết. Ngòi bút trào phúng hiện thực của Vũ Trọng Phụng đã không ngần ngại vạch ra chân dung dị dạng đó của nó.

GV bình:

Niềm hạnh phúc nảy sinh từ tang gia cứ thế chảy trong mạch huyết trong đám con cháu cụ Tổ từ già tới trẻ, từ lúc phát tang cho tới lúc hạ huyệt.

11.  Câu hỏi đọc hiểu: Tuyết được miêu tả như thế nào trong đám tang này?

Mặc bộ đồ xô gai ngây thơ, chiếc áo dài voan mỏng, trong có coóc xê, nửa kín nửa hở … lượn lờ đi lại mời khách, trên mặt điểm một nét buồn lãng mạn. Đi qua đi lại trước mặt các cụ ngực đầy huân chương làn da trắng và bộ ngực thập thò khiến ai nấy đều cảm động hơn là nghe thấy tiếng kèn xuân nữ ai oán. Tuyết đau khổ một cách chính đáng vì không thấy bạn giai đâu.

GV bình:

Với Tuyết đám ma là cơ hội để phô diễn thân thể, thời trang, trình bày với thiên hạ về sự hư hỏng một cách có lí luận của mình, rằng mình mới chỉ đánh mất nửa chữ trinh.

12.  Câu hỏi đọc hiểu: Cậu Tú Tân sướng điên lên vì điều gì?

Đi du học mấy năm không đỗ bằng nào, chỉ đem về được mỗi cái máy ảnh. Cậu đang sướng điên lên vì lâu rồi mới có cơ hội để hiện thực hía vm máy ảnh. Cậu ta chạy lên chạy xuống hào hứng bấm máy tanh tách, thậm chí lúc hạ huyệt còn bắt bẻ điều chỉnh từng người mà dẫm bừa lên mồ mả người ta.

13.  Câu hỏi khám phá: Như vậy em nhận xét gì bộ mặt con cháu nội ngoại gia đình cố Hồng?

Gia đình có tang lại là tang cụ cố Tổ nhưng con cháu nội ngoại không một ai khóc thương, suy nghĩ tưởng nhớ. Trái lại họ đều vui vẻ, hả hê. Họ tổ chức đám tang không phải vì là một nghi lễ thiêng liên vĩnh biệt một con người, dứt đi một phần máu mủ mà vì tiền tài, vì danh vọng, vì một mối tình nhem nhuốc, vì một cuộc buôn bán lén lút xấu xa. Mỗi người trong họ đều có một động cơ riêng, một niềm hạnh phúc riêng tây trong đám tang này nhưng họ đều giống nhau ở chỗ bất hiếu, bất nhân, vô đạo đức, mất hết nhân tâm, nhân phẩm.

GV bình:

Đúng như cụ cố Tổ khi ốm cũng nói với họ: “Để tao chết. Sống cũng nhục! Cố chạy chữa thì chạy chữa cho cái thanh danh nhà tao mà bọn chúng mày đang bôi nhọ”. Và quả thực chúng đã để cụ cố chết nhưng cũng không chạy chữa thanh danh. Họ đang sống một cách nhốn nháo nhưng đang nêu gương cho cả xã hội.

14.  Câu hỏi đọc hiểu: Ngoài gia đình cố Hồng người đầu tiên được sung sướng  là ai?

Xuân Tóc đỏ: Hắn đang từ kẻ có tội bỗng trở thành có công. Vênh vang, danh giá vì nhờ hắn mà cụ cố Tổ lăn đùng ra chết. Ngay lập tức được gia đình cố Hồng chào đón nhiệt liệt, tin cậy …

15.  Câu hỏi đọc hiểu: Trước khi cố Tổ chết bọn cảnh sát Min Đo Min Toa sống trong cảnh tượng nào? và chúng được gì từ đám tang này?

Bọn cảnh sát MinĐơ MinToa đang sống trong cảnh “thất nghiệp”, buồn như nhà buôn vỡ nợ vì chả rình phạt được ai bỗng nhờ có đám tang thành thử lại có công ăn việc làm vì thế mà chúng dốc lòng phục vụ đám tang tận tình.

16.  Câu hỏi đọc hiểu: Đám đông bạn bè gia đình cố Hồng được miêu tả như thế nào trong đám tang?(Họ đến dự đám tang làm gì với bộ dạng như thế nào?)

Đám đông bạn bè gia đình cố Hồng dự tang lễ đông đủ nhưng không phải là đến chia buồn chẳng qua thấy đây cũng là một cơ hội phô trương thanh thế, kheo mẽ cái mã hào nhoáng của bọn trưởng giả. Vì thế mà đến dự tang các cụ trên ngực đầy huân chương nào là Bắc Đẩu bội tinh, long bội tinh, cao niên bội tinh, Vạn tượng bội tinh. Trên mép và cằm đều đủ râu ria hoặc dài hoặc ngắn hoặc đen hoặc hung hoặc lún phún hay rầm rậm … Các cụ đến dự đám tang nhưng lòng cảm động biết bao khi trông thấy Tuyết …

GV bình:

Vũ Trọng Phụng thực sự thành công khi khắc hoạ nhân vật đám đông, những con người không tên tuổi nhưng nhân cách đều nhem nhuốc.

17.  Câu hỏi đọc hiểu: Còn hàng phố thì sao, họ có vui không,vui vì điều gì?

Hàng phố: Vui vì lâu quá rồi mới được xem một đám ma to thế .

18.  Câu hỏi định hướng: Tại sao Vũ Trọng Phụng hướng ngòi bút miêu tả những niềm hạnh phúc lây lan bên ngoài gia đình cố Hồng?

Vũ Trọng Phụng không chỉ dừng ở vịêc miêu tả bộ mặt hạnh phúc trong gia đình Cố Hồng mà hướng ngòi bút ra khái quát toàn bộ gương mặt xã hội để phản ánh sự thật trong 1 xã hội 1 thời đại “chó đểu’, kẻ nào nhân cách cũng nhem nhuốc. Đằng sau cái vẻ ngoài là đi đưa tang, vẻ hết lòng tận tụy phục vụ đám ma, bộ đồ xô gai, vẻ mặt đăm chiêu… đều là sự giả rối …

19.  Câu hỏi đọc hiểu: Hình ảnh trào phúng nào nổi bật ở đoạn trích?

Đám ma gương mẫu là hình ảnh trào phúng nổi bật, gây cười.

20.  Câu hỏi định hướng: Nhìn bao quát ta thấy đám ma ấy như thế nào

Nhìn bao quát:

+ Nhìn bao quát đám ma trong cụ cố tổ được tổ chức to tát, linh đình nào xe, lọng, vòng hoa đủ cả, có tới 300 câu đối, vài trăm người đưa…

+ Đám ma lủng củng, hỗn loạn được tổ chức theo cả lối tá, Tây, tàu, đua kèn, Kiệu, bát cống, lợn quay đi lọng, lốc bốc xoảy, kèn bú dích…

21.  Câu hỏi định hướng: Cái tính chất tính lủng củng linh đình ấy của đám ma khiến nhà văn phải so sánh với hình ảnh nào?

Cái tính chất lủng củng linh đình ấy cùa đám ma khiến nhà văn phải so sánh với hình ảnh một hội chợ, giả thật lẫn lộn và thật nực cười khi nó càng cố phô trương càng giống một phường chèo hay một đám rước.

22.  Câu hỏi khám phá: Hành trình đưa tiễn của cái đám rước ấy diễn ra như thế nào?

Hành trình đưa tiễn của “đám cưới” ấy diễn ra chậm chạp diễn qua lần phố này lại qua phố khác. Nhưng câu văn “đám cứ đi …” cứ lặp đi  lặp lại và những cái dấu chấm lửng gợi cho người đọc liên tưởng tới những “đám rước” thực sự như một phường chèo bát nháo.

23.  Câu hỏi khám phá: Mô tả cái hành trình đưa tiễn với vẻ chậm chạp đơn điệu nhà văn nêu bật lên điều gì ở cái đám tang to tát này?

Cái hành trình đưa tiễn được mô tả chậm chạp thực chất không phải vì đó là cuộc đưa tiễn linh thiêng nuối tiếc mà chẳng qua là vì nhằm phô trương, kheo mẽ.

GV bình:

Như vậy cái vẻ to tát, lủng củng, đưa tiễn nặng nề chậm chạp đều là cái vô hình thức giả dối nực cười vì thanh thế gia đình mà thôi. Cái thực chất của hình ảnh trào phúng ấy được nhà văn quay cận cảnh kỹ lưỡng.

24.  Câu hỏi khám phá: Nhìn cận cảnh đám ma ấy hiện ra như thế nào?

Nhìn cận cảnh

+ Người đi đưa đông nhưng đặc biệt toàn mặc kiểu quần áo tang tân thời ở tiệm may Âu Hoá thu hút mọi người xem đám.

+ Họ dự đám nhưng không có những tiếng khóc, nỗi niềm ai oán, trái lại họ toàn trò chuyện với nhau, chim nhau, cười tình với nhau. Cả đám tang chỉ vang lên những tiếng thì thầm về nhà cửa, vợ con, quần áo, sắc đẹp … Toàn những chuyện tầm phào đại loại “thằng ấy bạc tình bỏ mẹ” , “Con bé nhà ai kháu thế – Gớm cái ngực đầm quá đi mất”.

25.  Câu hỏi sáng tạo: Nhận xét gì về nghệ thuật miêu tả của VTP?

Nhà văn sử dụng khả năng quan sát tinh tế của một nhà phóng sự bóc trần sự thật trần trụi, cùng với bút pháp, ngôn ngữ trào phúng tô đậm, chân dung kí hoạ trang phục nhiều hơn là thái độ người đưa mạ, lặp đi lặp lại điệp ngữ: “Những người đưa ma, rất xứng với những người đưa ma” tái hiện chân dung đám đông ối a ba phèng, toàn những người giả trá, vô tình.

26.  Câu hỏi đọc hiểu:

Hình ảnh đám ma kết thúc ở cảnh nào?

Cảnh hạ huyệt của đám ma diễn ra gây ấn tượng bởi những chi tiết tác phẩm nào?

Rồi đám ma cũng đến lúc hạ huyệt.

Đám ma đến cảnh hạ huyệt càng đáng nhớ  hơn:

– Cậu Tú Tân làng xăng bắt bẻ từng người này là chống gậy, gục đầu, cong lưng, lau mắt như thế này đi làm cậu chụp ảnh. Bạn bè cậu quýnh lên dẫm bừa bãi lên mồ mả nhà người ta.

– Cảnh hạ huyệt diễn ra nhanh chóng sau 3 tiếng khóc như cố nặn ra của Phán mọc sừng “Hứt … Hứt … hứt…” người mềm oặt ra nhưng dúi nhanh vào tay Xuân …

27.  Câu hỏi sáng tạo: Với những chi tiết ấy VTP đã thực sự làm sáng tỏ điều gì ở cái đám tang này?

Tất cả đều là giả dối từ lúc đưa cho tới lúc hạ huyệt. Sự giả dối ấy bộc lộ rõ nhất ở cảnh cuối, người ta chỉ mau chóng vùi cho xong một xác chết. Mọi sự gục đâù, lau nước mắt đều để chụp ảnh, có duy nhất một tiếng khóc “Hứt … hứt .. hứt ” của Phán mọc sừng chẳng qua cũng để che khuất 1 hành động mua bán xấu xa giữa Phán và Xuân.

28.  Câu hỏi ghi nhớ: Hình ảnh đám tang của cụ cố Tổ gợi cho em nhớ tới hình ảnh đám tang nào trong một tác phẩm của Ban Zắc?

Hình ảnh đám tang này gợi liên tưởng tới hình ảnh đám tang của lão Gôriô trong tác phẩm Lao Gôriô của Ban Zắc.

29.  Câu hỏi tích lũy: Hãy so sánh nghệ thuật miêu tả của nhà văn Ban Zắc và Vũ Trọng Phọng khi dựng hình ảnh đám tang?

– Nếu Ban Zắc sử dụng cái bi, vẽ nhanh, vẽ ít và ít ra ở đám tang của lão Gô ri ô vẫn còn giọt nước mắt của tình người của Rastinhắc để làm nổi bật bi kịch cô độc của con người cho tới lúc chết.

– Thì Vũ Trọng Phụng sử dụng cái hài, vẽ chậm, vẽ nhiều chi tiết, và cũng có một tiếng khóc nhưng là tiếng khóc giả để tổ đậm bộ mặt rởm đời của những kẻ đang sống: Lũ con cháu bất hiếu, giả trả vô nhân đạo.

30.  Câu hỏi khám phá: Anh chị đánh giá như thế nào về giá trị của đoạn trích?

Nội dung

+ Qua màn bi hài kịch này nhân văn tố cáo bộ mặt quái gở, vô nghĩa lý, chó đểu toàn hạng người nhân cách nhem nhuốc hiếu danh, hủ lậu, lưu manh, hám lợi … tất cả đều bất hiếu, nhẫn tâm .

Nghệ thuật

+ Nghệ thuật trào phúng xuất sắc xây dựng được tình huống trào phúng, mâu thuẫn trào phúng, chân dung trào phúng, hình ảnh trào phúng một cách độc đáo, khiến cho tiếng cười, cái hào được khai sinh một cách vẻ vang bóc trần bộ mặt rởm đời của một xã hội văn minh “chó đểu”.

31.  Câu hỏi củng cố: Em suy nghĩ gì về ngôn từ được nhà văn sử dụng xây dựng đoạn trích?

– Sử dụng đa dạng ngôn từ:

– Ngôn từ tương phản: Bên cạnh những “tiếng kèn xuân nữ ai oán” là “ai cũng vui vẻ sung sướng, hả hê, vênh váo”, bên cạnh”Những bộ mặt nghiêm chỉnh” là “người ta chim nhau, cười tình với nhau …”

– Điệp ngữ : “Đám cứ đi ..” “những người đi đưa ma”, “rất xứng với những người đi đưa ma” như gợi ra cách nói mỉa mai, châm biếm…

– Những từ gợi âm thanh kỳ cục: “Hứt … Hứt …,” “lốc bóc xoảng … “

– Ngôn từ ấy như những lớp sóng làm nổi bật màn hài kịch kỳ quái có thật ở xã hội tư sản nước ta trước cách mạng tháng 8.

(Tài liệu sưu tầm )

Xem thêm :

Tuyển tập đề thi về Hạnh phúc của một tang gia :Hạnh phúc của một tang gia

  1. Giáo án Ngữ văn 10 
  2. Giáo án Ngữ văn 11
  3. Giáo án Ngữ văn 12 

Giáo án thao giảng Hạnh Phúc của một tang gia- Vũ Trọng Phụng

Giáo án thao giảng, Soạn bài: Hạnh Phúc của một tang gia- Vũ Trọng Phụng

Ngày soạn: 23/10/2016

Tuần         :    11

Tiết PPCT:    43-44

Bài dạy     :

HẠNH PHÚC CỦA MỘT TANG GIA

                                    – Vũ Trọng Phụng-

Mục tiêu cần đạt:

  1. Về kiến thức :
  • Bộ mặt thật của xh tư sản thành thị lố lăng, kệch cỡm.
  • Thái độ phê phán mạnh mẽ xh đương thời khoác áo văn minh. “Âu hóa” nhưng thực chất hết sức giả dối, đồi bại và nỗi xót xa kín đáo của Tg trước sự băng hoại đạo đức của con người.

– Bút pháp trào phúng đặc sắc: tạo dựng mâu thuẫn và nhiều tình huống hài hước, xây dựng chân dung biếm họa sắc sảo, giọng điệu châm biếm.

 2.Về kĩ năng : Đọc –hiểu văn bản được viết theo bút pháp trào phúng

3.Về thái độ :

– Nhận rõ bộ mặt bịp bợm của xh thượng lưu tư sản.

– Sống có đạo đức, có hiếu nghĩa, phê phán lối sống vật chất tầm thường.

4.Về định hướng phát triển năng lực:

 –  Năng lực sáng tạo: Hs xác định và hiểu được những ý tưởng mà VTP muốn gửi gắm. Trình bày được suy nghĩ của mình trước giá trị cuộc sống được thể hiện qua tác phẩm.

– Năng lực hợp tác: HS cùng chia sẻ, phối hợp với nhau qua hđ thảo luận nhóm.

– Năng lực giao tiếp TV:HS giao tiếp cùng tác giả qua vb, nâng cao khả năng sử dụng TV.

– Năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mỹ:HS cảm nhận vẻ đẹp ngôn ngữ văn học-tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật VTP; nhận ra được những giá trị thẩm mỹ của tác phẩm…

Phương pháp và phương tiện dạy học

  1. Phương pháp dạy học

– Phương pháp đọc hiểu, phân tích, thuyết trình kết hợp trao đổi thảo luận.

– Tích hợp phân môn: Làm văn, tiếng Việt, làm  văn

  1. Phương tiện dạy học

– Sgk. Giáo án, đọc tài liệu tham khảo.

Nội dung và tiến trình lên lớp:

  1. Ổn định lớp
  2. Kiểm tra bài cũ.

    3.Tổ chức dạy và học bài mới

    3.1. Hoạt động khởi động: Vũ Trọng Phụng – ông vua phóng sự đất Bắc đồng thời cũng là nhà tiểu thuyết lừng lẫy của văn học hiện thực Việt Nam. Ông sáng tác rất nhiều nhưng khi nhắc đến Vũ Trọng Phụng, người ta nhắc đên “ Giong tố, Số đỏ”. Nếu “ Giông tố” được xem là bộ tiểu thuyết lớn nhất thì “Số đỏ” là tác phẩm “ xứng đáng làm vẻ vang cho một nền văn học”. “ Số đỏ” phê phán xã hội Việt Nam trước cách mạng tháng Tám – một xã hội đầy bất công, giả dối, nhố nhăng với những trò Âu hóa đáng khinh bỉ.

3.2. Hoạt động hình thành kiến thức mới :

 

Hoạt động của học sinh Hướng dẫn của giáo viên Nội dung cần đạt

 

GV chuẩn xác kiến thức.

 

– Trình bày vài nét về tác giả Vũ Trọng Phụng?

 

 

 

 

 

 

– Em hiểu nhan đề : Số đỏ có nghĩa là gì?

 

– Nêu xuất xứ của đoạn trích “ Số đỏ” ?

– Đoạn trích được trích ở chương mấy của tiểu thuyết số đỏ?

 

 

– Suy nghĩ gì về nhan đề đoạn trích: Hạnh phúc của một tang gia?

 

 

 

 

-Niềm vui chung cho cả gia đình cụ cố Hồng là gì?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– Trình bày phần bài tập nhóm ở nhà

 

 

 

– Thái độ của từng thành viên trong gia đình cụ cố Hồng khi cụ Tổ chết( Cố Hồng, vợ chồng Văn Minh, ông Tuýp và tiệm may Âu hóa)?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– Cái chết của cụ Tổ còn đem lại niềm vui và hạnh phúc cho những ai nữa ? Tại sao họ lại hạnh phúc khi cụ Tổ chết?

-Tác giả muốn nói gì với bạn đọc thông qua cách miêu tả thái độ của các thành viên trong và ngoài gia đình cụ cố Hồng?

 

– Đám tang cụ Tổ được miêu tả như thế nào?

 

– Nhận xét thái độ của mọi người trong đám tang

 

– Nhận xét tiếng khóc của ông Phán mọc sừng? về hình ảnh: Đám cứ đi?

– Suy nghĩ của em về những chi tiết cuối cùng trong đoạn trích “Hứt…tư”

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

HS trao đổi cặp và trả lời miệng.

– Chủ đề tác phẩm?

 

 

 

 

 

– Đặc sắc nghệ thuật

 

 

 

 

 

– GV yêu cầu hs đọc phần tiểu dẫn sgk

– GV hướng dẫn HS trình bày về tiểu  sử, sự nghiệp

 

– GV hướng dẫn HS tìm hiểu xuất xứ, hoàn cảnh   ra đời tác phẩm

 

 

– GV khái quát, hệ thống kiến thức về nội dung đoạn trích

 

 

 

 

 

 

– Gợi ý qua nhan đề truyện

– Yêu cầu HS nêu nêu cảm nhận

 

 

 

 

– Gợi ý nhận xét về: nhịp điệu, hình ảnh

 

– GV hướng dẫn HS nêu nhận xét và chốt ý

 

 

– Hướng dẫn HS tìm, liệt kê

– GV hướng dẫn HS nhận xét

 

 

– GV yêu cầu HS trình bày phần thảo luận nhóm đã được giao về nhà chuẩn bị

 

– Gợi ý những chi tiết được khắc họa trong sgk

 

+Yêu cầu HS nêu cảm nhận của bản thân

 

+Gợi ý HS khái quát, cảm nhận

 

+ Từ đó phát hiện ra những thủ pháp  nghệ thuật

 

 

 

 

 

 

 

 

– Gợi  ý cho HS qua những chi tiết trong văn bản

 

– Yêu cầu HS cảm nhận

– GV treo tranh ảnh về cảnh đám tang

 

 

– Gợi ý cho HS tìm những chi tiết trong văn bản

 

 

– Yêu cầu HS cảm nhận

 

 

– Gợi ý cho HS tìm những chi tiết

 

 

 

 

 

– Yêu cầu HS phát hiện và cảm nhận

 

 

 

 

 

 

– GV  hướng dẫn HS tổng kết

 

– Gợi ý cho HS nhận xét

I. Tìm hiểu chung:

1. Tác giả.

– Vũ Trọng Phụng (1912 – 1939)

– Là nhà văn hiện thực xuất sắc trước cách mạng tháng Tám.

– Ông nổi tiếng về tiểu thuyết. Truyện ngắn và đặc biệt thành công ở thể phóng sự.

– Để lại nhiều kiệt tác như : Số đỏ; giông tố; vỡ đê; cơm thầy cơm cô,…

2. Giới thiệu Tác phẩm

a.Tiểu thuyết Số đỏ

– Được coi là tác phẩm xuất sắc nhất của văn học Việt Nam, có thể “ làm vinh dự cho mọi nền văn học”(Nguyễn Khải)

– Đăng báo Hà Nội từ số 40 ngày 7-10-1936, in thành sách năm 1938

3. Đoạn trích.

– Thuộc chương 15 của tiểu thuyết Số đỏ.

– Nhan đề : Do nhà biên soạn sách đặt.

II. Đọc hiểu văn bản.

1.Tình huống trào phúng của đoạn trích

– Nhan đề lạ, giật gân: Nhà có tang  mà lại vui vẻ, sung sướng, hạnh phúc

→ Hạnh phúc của một gia đình vô phúc, niềm vui của lũ con cháu đại bất hiếu.

– Phản ánh một sự thật mỉa mai, hài hước và tàn nhẫn

→ Tình huống trào phúng chủ yếu của toàn bộ chương truyện.

2. Hạnh phúc của tang gia và những người ngoài gia quyến

a. Niềm vui chung cho cả gia đình

-Nguyên nhân :“cụ cố tổ chết cái chúc thư kia sẽ đi vào thời kì thực hành chứ không còn lí thuyết viễn vông nữa”

– Không khí gia đình:

+ Trước khi phát tang: Nhốn nháo, nóng ruột đem chôn cho chóng cái xác chết của cụ tổ.

+ Khi phát tang: “ai cũng vui vẻ cả”, “ bối rối”

->Giọng điệu mỉa mai châm biếm, thủ pháp đối lập(ngôn ngữ)

=> Một gia đình đại bất hiếu.

b. Niềm vui của những thành viên trong gia đình

– Cố Hồng (con trai cả):

+ Khoe đám ma->Khoe của, khoe chữ hiếu

+ Khoe già-> gia đình có phúc, có lộc

→ Bức hí hoạ một kẻ ngu dốt háo danh.

– Ông Văn Minh (cháu nội ): Băn khoăn, đăm chiêu,-> vẻ mặt, thái độ vô tình lại “hợp thời trang”

→ Giả dối, bất nhân

– Bà Văn Minh (cháu dâu): Lăng xê các mốt y phục.

– Cô Tuyết: “ Buồn lãng mạn” “đúng mốt một nhà có đám”.

→ Thực dụng, thiếu tình người, biến đám tang thành sân diễn thời trang

– Cậu Tú Tân: Sướng điên vì được dùng máy ảnh mới mua-> Vô tâm ,đáng lên án.

– Ông Phán: Sung sướng vì không ngờ rằng cái sừng trên đầu mình lại có giá trị.→Trục lợi, vô lương tâm, không biết liêm sĩ.

=>Giong văn mỉa mai, phô bày sự lố bịch, thiếu văn hóa, vô đạo đức.

c. Niềm vui của những người ngoài gia đình

– Hai vị cảnh sát Min Đơ và Min Toa “ sung sướng cực điểm” ->Thích thú khi được giữ trật tự cho đám tang

– Bạn bè cụ cố Hồng: Khoe đủ thứ huân chương, các kiểu râu ria…-> phô trương không đúng lúc, đúng chỗ.

– Sư cụ tăng phú:  Sung sướng và vênh váo.

– Xuân tóc đỏ: Tiền, tình, danh vọng.

– Hàng phố: Được xem đám ma to,cơ hội tán tỉnh, ve vãn

-> Đó chính là sự suy đồi về đạo đức, sự tha hoá về nhân cách con người.Đó là lời tố cáo của tác giả đối với xã hội âu hoá rởm.

3. Cảnh  đám ma gương mẫu

– Bề ngoài thật long trọng, “ gương mẫu” -> đám rước nhố nhăng

– Người đi dưa: Đủ mọi thành phần, được núp dưới vẻ mặt buồn râu

+ Hàng phố “nhốn nháo…to”, thỏ mãn sự hiếu kì, thích cái lạ đời,dị thường.

Sự giả tạo, đóng kịch  của giới tri thức rởm, đạo đức suy đồi của nền văn minh Âu hoá rởm.

* Cảnh hạ huyệt:

– Cậu Tú Tân yêu cầu mọi người tạo dáng để chụp ảnh, con cháu tự nguyện trở thành những diễn viên đại tài:

– Cụ Cố Hồng ho khạc, mếu máo và ngất đi.

– Đặc biệt là “màn kịch siêu hạng” của ông Phán mọc sừng cứ oặt người đi khóc to  “Hứt!…Hứt!…Hứt!…” và dúi vào tay Xuân một cái giấy bạc năm đồng gấp tư”

Đám tang diễn ra như một tấn đại hài kịch. Nó nói lên tất cả sự lố lăng vô đạo đức của cái xã hội thượng lưu ngày trước. Cái xã hội mà tác giả gọi là Chó đểu, khốn nạn.

III. Tổng kết

1.Chủ đề

Đoạn trích “ Hạnh phúc của một tang gia” là một bi hài kịch, phơi bày bản chất nhố nhăng, đồi bại của một gia đình đồng thời phản ánh bộ mặt thật của xã hội thượng lưu thành thị trước Cách mạng tháng Tám.

2. Đặc sắc nghệ thuật.

Nghệ thuật tạo tình huống cơ bản rồi mở ra những tình huống khác.

– Phát hiện những chi tiết đối lập gây gắt cùng tồn tại trong một con người, sự vật, sự việc.

– Thủ pháp cường điệu, nói ngược, được sử dụng một cách linh hoạt.

– Miêu tả biến hóa, linh hoạt và sắc sảo đến từng chi tiết, nói trúng nét riêng của từng nhân vật.

 

 

3.3 Hoạt động thực hành ứng dụng

Đám tang của cụ cố tổ trong chương “Hạnh phúc của mottj tang gia” là đáng khóc hay đáng cười? vì sao?

3.4. Hoạt động bổ sung

Phân tích nghệ thuật trào phúng đặc sắc của chương truyện”

Hướng dẫn soạn bài tiếp theo

Soạn bài mới: Ngữ cảnh

(Tài liệu sưu tầm )

Xem thêm :

  1. Trọn bộ giáo án Ngữ văn lớp 10
  2. Trọn bộ giáo án Ngữ văn lớp 11
  3. Trọn bộ giáo án Ngữ văn lớp 12

Đề thi học sinh giỏi về tiểu thuyết Số Đỏ- Vũ Trọng Phụng

Nguyễn Đình Thi nhận xét : “Nếu được dùng đến chữ “hóa công” thì có thể gọi người viết tiểu thuyết là một “hóa công”nhỏ , viết tiểu thuyết là sáng tạo ra một thế giới .”

Anh /chị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên qua tiểu thuyết Số Đỏ- Vũ Trọng Phụng

1.Giải thích

-Lời bàn của NĐT đã đánh giá rất cao nhưng rất chân thực về công việc viết tiểu thuyết .

-“Hóa công” : hiểu theo quan niệm thông thường là cách gọi đấng siêu nhiên , thần thánh đã sáng tạo ra thế giới tự nhiên . Cách gọi này thường gắn vơi đời sống tâm linh, thể hiện thái độ tôn kính , ngưỡng mộ .

-Theo cách nói của Nguyễn Đình Thi , “hóa công” nhỏ là để chỉ tài năng sáng tạo của người nghệ sĩ trong trong mỗi tiểu thuyết .  Đây là cách so sánh mới lạ , độc đáo mà chính xác đối với những đóng góp của người nghệ sĩ chân chính .

-Nếu coi người viết tiểu thuyết là một “hóa công” nhỏ thì thế giới nghệ thuật do người nghệ sĩ ấy sáng tạo ra xứng đáng là một thế giới thu nhỏ . Bởi vì , tiểu thuyết là một loại hình tự sự phản ánh thế giới khách quan trên bình diện rộng . Thế giới của tiểu thuyết càng phong phú , càng chân thực thì tài năng của nhà văn càng rõ nét .

-Lời nhận định của NĐT đã khái quát một quy luật sáng tạo nghệ thuật : người viết tiểu thuyết từ những quan sát , trải nghiệm thực tế , đưa vào tác phẩm của mình mô hình thu nhỏ của thế giới khách quan . Đó chính là yêu cầu sáng tạo nghệ thuật chân chính .

Đề thi học sinh giỏi về tiểu thuyết Số Đỏ- Vũ Trọng Phụng

2.Chứng minh và bình luận

  a.Khái quát về tiểu thuyết Số đỏ và tài năng của một bậc “hóa công” Vũ Trọng Phụng

-Số đỏ là một tác phẩm xuất sắc của nền văn học hiện thực 1930-1945 , tiêu biểu cho tài năng nghệ thuật của tiểu thuyết gia Vũ Trọng Phụng .

-Tiểu thuyết Số đỏ là một mô hình thu nhỏ đầy đủ , sống động về thực trạng đời sống xã hội thành thị tư sản Việt Nam đầu thế kỉ XX với tất cả những mặt lố lăng , kệch cỡm : nhân vật của tác phẩm là tầng lớp tư sản thành thị với lối sống giả dối , suy đồi à một xã hội chó đểu , vô nghĩa lí .

-Với Số đỏ , VTP đã chứng tỏ bàn tay của một đấng “hóa công” khi xây dựng thế giới tiểu thuyết đồ sộ với hơn 30 nhân vật , vô số hành động , các mâu thuẫn trào phúng được khai thác triệt để để phục vụ mục đích phê phán , tố cáo cái thực trạng xã hội thối nát , giả dối ấy .

  b.Đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia , trích chương XV của tiểu thuyết , giống như một phân cảnh nhỏ trong chuỗi dài tấn hài kịch mà VTP xây dựng .

-Đoạn trích là sân khấu hài kịch mà tất cả các nhân vật đều có đất diễn , thậm chí diễn rất đạt vai trò của mình . Đám tang cụ Cố tổ là cơ hội phô diễn lố bịch của đám con cháu , bạn bè , là nơi diễn ra cuộc doanh thương bẩn thỉu của đám người hám danh lợi .(chứng minh màn hài kịch của cô Tuyết , cậu Tú Tân , nhất là cuộc mua bán của ông Phán mọc sừng với Xuân Tóc đỏ …)

-Đoạn trích chỉ nằm trong một phần của toàn bộ chương tiểu thuyết nhưng có khả năng khái quát , tổng hợp hiện thực ở quy mô lớn : cả xã hội thành thị đều có mặt đầy đủ ở đám tang với đầy đủ hạng người , dáng vẻ (chứng minh hình ảnh những người trong đám tang : ngoài những người trong gia đình cụ cố Hồng còn có đủ đám giai thanh gái lịch , những vị tai to mặt lớn với đủ loại huy chương , huân chương nhưng là những kẻ đạo đức giả , vô văn hóa…)

-Những chân dung trào phúng mà VTP tạo ra rất riêng nhưng vẫn có tầm phổ quát (chứng minh qua nhân vật cụ cố Hồng , Xuân tóc đỏ và ông Phán mọc sừng…)

-Những yếu tố nghệ thuật đặc sắc : nghệ thuật trào phúng bậc thầy , bút pháp cường điệu , phóng đại , giọng điệu linh hoạt , thủ pháp điện ảnh …

3.Đánh giá

-VTP đã đóng góp lớn lao vào việc hình thành và phát triển nền tiểu thuyết hiện đại.Ông từng phát biểu tiểu thuyết phải là “sự thực ở đời”.

-Từ lời bàn của NĐT , đặt ra yêu cầu đối với người viết tiểu thuyết và bài học tiếp nhận vẻ đẹp của thế giới nghệ thuật được tạo lập trong tiểu thuyết  : không sao chép hiện thực , phản ánh cuộc sống một chiều mà người nghệ sĩ phải luôn trăn trở , không ngừng sáng tạo , đổi mới để hiện thực cuộc sống tuy rộng lớn , bao quát nhưng không trùng lặp .

Xem thêm :

  1.  Bộ đề thi học sinh giỏi  Ngữ văn lớp 10-11-12
  2. Nghị luận ý kiến bàn về văn học