Hướng dẫn ôn tập truyện ngắn Hai đứa trẻ Thạch Lam

HAI ĐỨA TRẺ ,THẠCH LAM

KIẾN THỨC CƠ BẢN

TÁC GIẢ

  • Thạch Lam (1910 – 1942) tên khai sinh là Nguyễn Tường Vinh (sau đổi thành Nguyễn Tường Lân), sinh tại Hà Nội, trong một gia đình công chức gốc quan lại. Ông là một trong những thành viên chủ chô’t của nhóm Tự lực văn đoàn.
  • Thuở nhỏ Thạch Lam sống ở quê ngoại: phố huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, sau đó theo cha chuyến sang tỉnh Thái Bình. Sau khi đỗ tú tài phần thứ nhất, ông ra làm báo, viết văn.
  • Những tác phẩm tiêu biếu: các tập truyện ngắn Gió đầu mùa (1937), Nắng trong vườn (1938), Sợi tóc (1942); tập tiểu luận Theo dòng (1941); tùy bút Hà Nội băm sáu phố phường (1943)…
  • Thạch Lam có biệt tài về truyện ngắn, thường viết những truyện không có chuyện, chủ yếu khai thác thế giới nội tâm của nhân vật. Mỗi truyện của ông như một bài thơ trữ tình đượm buồn, giọng điệu điềm đạm.
  • Văn Thạch Lam trong sáng, giản dị mà thâm trầm, sâu sắc.

TÁC PHẨM HAI ĐỨA TRẺ

Xuất xứ

Hai đứa trẻ là một trong những truyện ngắn đặc sắc của Thạch Lam, in ở tập Nắng trong vườn (1938).

Tóm tắt tác  phẩm

(Hai đứa trẻ chủ yếu miêu tả thế giới tâm hồn, tâm trạng của nhân vật Liên  trước cảnh phố huyện nghèo lúc chiều tàn và khi thức đợi đoàn tàu đi qua phố huyện lúc về đêm. Đây là kiểu truyện ngắn mang tính trữ tình, loại truyện không có chuyện nên không tóm tắt).

Phân tích truyện Hai đứa trẻ

Bức tranh thiên nhiên ở phố  huyện nghèo lúc chiều tàn được hiện lên với những âm thanh của tiếng trống thu không, tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng, tiếng muỗi vo ve, tiếng chõng cót két, vói những hình ảnh, màu sắc của  “phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mầy ánh hồng như hòn than sắp tàn”, dãy tre làng đen lại, với đường nét của dãy tre làng “cắt hình rõ rệt trẽn nên trời”. Đó là một bức tranh vốn quen thuộc, gần gũi và gợi cảm thường thây ở những làng quê Việt Nam thời trước Cách mạng.

Trên cái nền của bức tranh ấy là cuộc sống của những con người nghèo nơi phố huyện. Họ xuất hiện trong cảnh chợ tàn, người về hết, tiếng ổn ào cũng không còn, trên sân chi còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và lá mía. Ở đó, chi có mấy  đứa trẻ con nhà nghèo đang tìm tòi, nhặt nhạnh những thứ còn sót lại, mẹ con chị Tí chuẩn bị dọn hàng ra bán buổi tối và bà cụ Thi điên… Những hình ảnh đó đã làm gợi lên sự tàn tạ đến thảm hại của những kiếp người nơi phố huyện này.

Khung cảnh phố huyện ấy như mang cái buồn của buổi chiều quê thấm thía  tâm hồn của cô bé Liên vốn nhạy cảm và tinh tế: “Liên không hiếu sao, nhưng chị thấy lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn”.

Thời gian chuyển dần về đêm, phố huyện ngập chìm trong đêm  tối mênh mông. Đường phố và các ngõ con chứa đầy bóng tối, tối hết cả con đường  ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại càng sẫm đen hơn  nữa. Ánh sáng của sự sống yếu ớt, nhỏ bé: một vài cửa hàng cửa chỉ hé ra một khe ánh sáng, một “quầng sáng thân mật” quanh ngọn đèn chị Tí, một chấm lửa nhỏ từ bếp lửa của bác Siêu, ngọn đèn của Liên thưa thớt từng hột sáng lọt qua phên nứa. Sự tương quan giữa bóng tối và ánh sáng (bóng tối ngập tràn, mênh mông – ánh sáng thì nhỏ nhoi, yếu ớt) đã gợi lên một nỗi buồn đầy thương cảm về những kiếp sống nhỏ bé, những thân phận sống leo lét nơi ga xép phố huyện nghèo.

Trong bức tranh ngập đẩy bóng tối ấy hiện lên những kiếp người mòn mỏi,nhịp sống lặp đi lặp lại một cách đơn điệu, buồn tẻ. Cũng như mọi ngày,những hình ảnh quen thuộc cứ tái diễn: mẹ con chị Tí dọn hàng, bác Siêu thổi lửa, bác xẩm ngồi đàn với cái thau trước mặt,… tất cả buôn bán cũng ế ẩm như mọi khi. Họ như vẫn mong đợi một cái gì: “Chừng ấy người trong bóng tối  mong đợi  một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hàng ngày của họ”Cảnh vật và con người cứ thế hòa quyện trong nỗi buồn đơn điệu, thật thâm thía, xót xa.

Và điều mà những con người nơi đây chờ đợi cũng đã đến. Đó là đoàn tàu. Đoàn tàu đi qua như mang đến một thế giới khác, một thế giới mà hoàn toàn tương phản với khung cảnh nơi phố huyện nghèo nàn này. Nó đem đến cho phố huyện chút hơi thở cuộc sống với những ánh đèn “sáng trưng” của thị thành, những âm thanh của tiếng còi làu, tiếng hành khách “ồn ào”,… Đặc biệt, với chị em Liên, hình ảnh đoàn tàu ấy đã  đưa hai chị em về lại với thời tuổi thơ đẹp khi còn sống ở Hà Nội. Khi tàu đi qua, “Liên lặng theo mơ tưởng. Hà Nội sáng rực vui vẻ và huyên náo” và “Con tàu như đã đem một chút thế giới khác đi qua.Chính vì vậy mà ngày nào cũng vậy, dù “buồn ngủ ríu cả mắt”, hai chị em Liên vẫn cố thức đợi tàu. Nhưng con tàu đi qua quá nhanh, con tàu vụt qua như mang theo cả nỗi niềm nuối  tiếc của hai đứa trẻ và hồi ức của Liên về Hà Nội. Phố huyện lại trở lại vói bóng tối bao quanh, Liên mới ý thức rõ hơn về cuộc sống tù túng của mình và những người dân nơi đây. Liên lại khao khát hơn nữa về một cuộc sống tốt đẹp hon dù nó hết sức mơ hồ, xa xôi.

Thông qua việc miêu tả sinh động cuộc sống và tâm trạng đợi tàu của người dân nghèo nơi phố huyện, nhất là tâm trạng của nhân vật Liên, nhà văn thể hiện sự trân trọng, nâng niu khát vọng vươn lên cuộc sông tươi sáng của những kiếp người nghèo tàn. Đồng thời, nhà văn cũng muôn gửi gắm một thông điệp là con người phải không ngừng khát khao vươn lên một cuộc sống có ý nghĩa và tươi sáng. Đây chính là giá trị nhân văn sâu sắc của truyện.

Đặc Sắc nghệ thuật

Hai đứa trẻ là một truyện ngắn trữ tình có cốt truyện đơn giản. Bức tranh  nghệ thuật được xây dựng bằng bút pháp lãng mạn kết hợp với bút pháp hiện thực, giữa tự sự với trữ tình trong loại truyện không có cốt truyện.

Bằng giọng văn nhẹ nhàng, trầm tĩnh, lời văn dung dị mà sâu sắc, nhà văn đã lôi cuốn người đọc đi vào khám phá thế giới nội tầm của con người để từ đó khơi gợi tình cảm cảm thông, trân trọng đối với những kiếp người nhỏ bé.

Chủ để tư tường

Thông qua việc miêu tả tâm trạng đợi tàu của những người dân nghèo nơi phố huyện, truyện ngắn Hai đứa trẻ thể hiện tấm lòng cảm thông sâu sắc của nhà văn đối với những kiếp người nghèo tàn, đồng thòi đó còn là thái độ trân trọng những khát vọng sống của con người dù cuộc sông phía trước của họ rất mơ hồ, xa xôi.

HƯỚNG DẪN ÔN TẬP DẠNG CÂU HỎI TÁI HIỆN KIẾN THỨC

Câu 1. Trình bày những nét chính về cuộc đời và sự nghiệp văn học của nhà văn Thạch Lam.

Gợi ý trả lời: Tham khảo mục 1

Câu 2. Qua truyện ngắn Hai đứa trẻ, Thạch Lam muốn phát biểu tư tưởng gì?

Gợi ý trả lời

Bằng một truyện ngắn trữ tình có cốt truyện đơn giản, Thạch Lam muôn phát biểu tư tưởng: .

Thông qua bức tranh phố huyện nghèo buổi chiều tàn với những kiếp sông nhỏ nhoi trong thời trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhà văn Thach Lam muốn thể hiện tư tưởng phản kháng đối với  xã hội  tù túng, ngột ngạt đã khiến cho cuộc sống con người mất hết ý nghĩa.

Tuy nhiên, tác giả cũng phát hiện những con người nơi phố huyện ấy vẫn có khát vọng vươn ới một cuộc sống tốt đẹp hon. Hằng đêm, họ trông chờ một đoàn tàu đi qua cùng “những toa hạng trên sang trọng lố nhố những người, đồng và kền  lấp lánh, và các cửa kính sáng” như chờ đợi “một chút thế giới khác đi qua”. Qua đây, nhà văn muốn thể hiện và khẳng định khát vọng muôn được thay đổi cuộc sống, làm cho cuộc sống xã hội trở nên ý nghĩa hơn.

Câu 3.  Hãy nêu những nét chính về tình cảm nhân đạo và bút pháp nghệ thuật của Thạch Lam trong truyện ngắn Hai đứa trẻ.

Gợi ý trả lời

Những nét chính về tình cảm nhân đạo:

+ Tấm lòng thương cảm sâu xa đổi với những kiếp người nhỏ bé, sống cơ cực, quẩn quanh, mòn mỏi nơi phố huyện nghèo nàn, tăm tối.

+ Sự trân trọng, nâng niu những nét đẹp bình dị và khao khát đổi đời  âm thầm của họ.

-Những nét chính về bút pháp nghệ thuật:

+ Kết hợp nhuần nhuyễn giữa lãng mạn vói hiện thực, giữa tự sự với trữ tình trong loại truyện không có cốt truyện.

Phối hợp nhuần nhị giữa tả cành với tả tình; sử dụng điêu luyện ngôn ngữ văn xuôi giàu chất thơ.

 BỘ ĐỀ NGHỊ LUẬN VĂN HỌC VỀ TRUYỆN HAI ĐỨA TRẺ

Để 1: Phân tích tâm trạng của nhân vật Liên trong tác phẩm Hai đứa trẻ của nhà văn Thạch Lam.

 

Đề 2: “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam là một truyện ngắn đượm buồn.

Anh/chị hãy phân tích khung cảnh phố huyện và tâm trạng của nhân vật Liên trong tác phẩm Hai đứa trẻ để làm sáng tỏ ý kiến trên.

1. Vài nét về tác giả và tác phẩm

– Thạch Lam là thành viên của Tự lực văn đoàn; có tấm lòng đôn hậu và quan niệm văn chương tiến bộ; có biệt tài về truyện ngắn; chủ yếu khai thác thế giới nội tâm nhân vật với những cảm xúc mong manh, mơ hồ.
– Hai đứa trẻ (in trong tập Nắng trong vườn) là một truyện ngắn đặc sắc của Thạch Lam, có sự hoà quyện các yếu tố hiện thực và lãng mạn, tự sự và trữ tình.

2. Giải thích ý kiến

– Truyện ngắn trữ tình thường có cốt truyện đơn giản, giàu sắc thái trữ tình, không khí, tâm trạng.
– Làm nên sắc thái trữ tình trong Hai đứa trẻ chủ yếu là cảm xúc buồn thương và giọng thủ thỉ trầm lắng, thiết tha qua miêu tả khung cảnh, tâm trạng.

3. Phân tích khung cảnh phố huyện và tâm trạng của nhân vật Liên

a. Chất trữ tình đượm buồn toát ra từ khung cảnh phố huyện
– Khung cảnh phố huyện khi chiều xuống, đêm về, lúc có chuyến tàu đi qua đều được lọc qua cái nhìn và tâm trạng, cảm giác của nhân vật Liên, nên cũng thấm đượm cảm xúc trữ tình.
+ Cảnh vật hiện lên có hồn, êm ả, thi vị mà đượm buồn.
+ Con người hiện lên với kiếp sống mòn mỏi, tăm tối; tuy vậy tâm hồn họ vẫn ánh lên vẻ đẹp đáng trân trọng: một tình người chân thật, một mơ ước nhỏ nhoi, hay một hi vọng mong manh, …

– Khung cảnh phố huyện có sự tương phản đậm nét giữa bóng tối và ánh sáng: Bóng tối dày đặc, bao trùm lên tất cả; còn ánh sáng thì leo lét lụi tàn, hoặc rực rỡ vụt qua. Khung cảnh ấy gắn liền với những cảm giác xen lẫn buồn vui khó tả, tạo nên nhiều sắc thái trữ tình.

b. Chất trữ tình đượm buồn toát ra từ diễn biến tâm trạng của nhân vật Liên

– Tâm trạng man mác buồn trước khung cảnh phố huyện lúc chiều tàn và trong đêm tối:
+ Cảm giác man mác buồn từ cảnh vật thấm vào lòng người và nỗi buồn trong tâm hồn ngây thơ lan toả ra cảnh vật.
+ Niềm xót xa, thương cảm với những kiếp người nhỏ nhoi, lay lắt trong bóng tối.
– Cảm xúc buồn vui khó tả trước, trong và sau khi chuyến tàu đêm đi qua:
+ Tàu chưa đến: khắc khoải, háo hức chờ mong.
+ Tàu đến: hân hoan, ngây ngất ngắm nhìn.
+ Tàu đi: bâng khuâng, ngậm ngùi, nuối tiếc.

4. Đánh giá chung

– Chất trữ tình đượm buồn mang lại cho Hai đứa trẻ một vẻ đẹp riêng, thể hiện phong cách nghệ thuật đặc sắc của Thạch Lam.
– Ý kiến này đã đưa ra được một đánh giá sâu sắc, thoả đáng.

(Bài viết sưu tầm)

Xem thêm :

Đề 3 :  Bấm vào link để xem chi tiết : Đề đọc hiểu về Hai đứa trẻ Thạch Lam

Đề 4 :  Bấm vào link để xem chi tiết : Nghệ thuật tương phản trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” Thạch Lam

Đề 5 :  Phân tích tình huống đợi tàu trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam

Đề 6 : Đề thi học sinh giỏi về bài Hai đứa trẻ- Thạch Lam

Đề 7 :  Đề thi học sinh giỏi về Hai đứa trẻ- và Chiếc thuyền ngoài xa

Đề 8 : dành cho học sinh giỏi :  So sánh ánh sáng và bóng tối giữa Hai đứa trẻ và Chữ người tử tù

Đề 9 :  Chứng minh Nhận định về Hai đứa trẻ Thạch Lam

Xem thêm :Giáo án bài Hai đứa trẻ Thạch Lam

Xem thêm : Hai đứa trẻ

Hướng dẫn ôn tập bài Hai đứa trẻ Thạch Lam

HAI ĐỨA TRẺ

Thạch Lam –

 Kiến thức cơ bản về Hai đứa trẻ

 Giới thiệu tác giả và tác phẩm:

Tác giả

Thạch Lam là cây bút truyện ngắn xuất sắc của nền văn học hiện đại Việt Nam giai đoạn 1930 -1945. Ông là nhà văn đôn hậu và rất đỗi tinh tế. Ông thường viết những “truyện không có chuyện”, mỗi truyện như một bài thơ trữ tình, giọng điệu điềm đạm nhưng chứa đựng biết bao tình cảm yêu mến chân thành và sự nhạy cảm của nhà văn trước những biến thái của cảnh vật và lòng người. Một trong những truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách ấy của ông là “Hai đứa trẻ”.

Khái quát về tác phẩm:

“Hai đứa trẻ” được in trong tập “Nắng trong vườn” (1938). Không có cốt truyện đặc biệt, “Hai đứa trẻ” như một bài thơ trữ tình miêu tả cảnh vật và con người ở một phố huyện nghèo lúc chiều tàn cho đến đêm khuya khi có con tàu chạy qua. Chỉ có vậy nhưng “Hai đứa trẻ” vẫn có sức hấp dẫn người đọc trong hơn nửa thế kỉ qua.

 

Nội dung văn bản

          Theo chuẩn kiến thức – kĩ năng : Phố huyện lúc chiều tàn; phố huyện lúc đêm khuya; phố huyện lúc chuyến tàu đêm đi qua.

Phố huyện lúc chiều tàn :

– Đó là cảnh chiều tàn với âm thanh báo hiệu “tiếng trống thu không trên cái chòi của huyện nhỏ từng tiếng một vang ra để gọi buổi chiều”; với nền trời phương tây “đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn”, “dãy tre làng trước mặt đen lại…”; văng vẳng âm thanh của “tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào”. Đó là “một chiều êm ả như ru”, không gian ấy khiến cho “Liên không hiểu sao, nhưng chị thấy lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn”.

– Đó còn là cảnh chợ tàn : buổi chợ ở một vùng quê nghèo “trên đất chỉ còn lại rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và lá mía”. “Một mùi âm ẩm bốc lên, hơi nóng của ban ngày lẫn với mùi cát bụi quen thuộc” khiến chị em Liên “tưởng là mùi riêng của đất, của quê hương này”. Trên nền đất chỉ còn lại rác rưởi ấy còn mấy đứa trẻ con nhà nghèo ở ven chợ đang “nhặt nhạnh thanh nứa, thanh tre hay bất cứ cái gì đó có thể dùng được của các người bán hàng để lại”. Nhìn chúng, Liên thấy “động lòng thương” nhưng chính chị cũng không có tiền để cho chúng nó.

Phố huyện lúc đêm khuya :

– Khung cảnh thiên nhiên và con người : “ngập chìm trong đêm tối mênh mông”. Đường phố và các con ngõ chứa đầy bóng tối (ánh sáng chỉ hé ở “khe”cửa của một vài cửa hàng, ở “quầng sáng” quanh ngọn đèn chị Tí, nơi “chấm lửa” nhỏ ở bếp lửa của bác Siêu và từng “hột” sáng lọt qua phên nứa từ hàng của Liên.)

– Nhịp sống của những người dân lặp đi lặp lại một cách đơn điệu, buồn tẻ với những động tác quen thuộc, những suy nghĩ, mong đợi như mọi ngày. Họ mong đợi “một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngày”.

– Tâm trạng của Liên : nhớ lại những ngày tháng tươi đẹp ở Hà Nội ; buồn bã, yên lặng dõi theo những cảnh đời nhọc nhằn, những kiếp người tàn tạ; cảm nhận sâu sắc về cuộc sống tù đọng trong bóng tối của họ.

Phố huyện lúc chuyến tàu đêm đi qua :

Phố huyện sáng bừng lên và huyên náo trong chốc lát rồi lại chìm vào bóng tối. Chị em Liên hân hoan hạnh phúc khi tàu đến, nuối tiếc, bâng khuâng lúc tàu qua. Con tàu mang theo mơ ước về một thế giới khác sáng sủa hơn và đánh thức trong Liên những hồi ức lung linh về Hà Nội xa xăm.

Ý nghĩa của chuyến tàu đêm : là biểu tượng của một thế giới thật đáng sống với sự giàu sang và rực rỡ ánh sáng. Nó đối lập với cuộc sống mòn mỏi, nghèo nàn, tối tăm và quẩn quanh của người dân phố huyện.

Qua tâm trạng của chị em Liên, tác giả như muốn lay tỉnh những con người đang buồn chán, sống quẩn quanh, lam lũ và hướng họ đến một tương lai tốt đẹp hơn. Đó là giá trị nhân bản sâu sắc của truyện ngắn này.

 

Nghệ thuật truyện

– Cốt truyện đơn giản, nổi bật là những dòng tâm trạng chảy trôi, những cảm xúc, cảm giác mong manh mơ hồ trong tâm hồn nhân vật.

– Bút pháp tương phản, đối lập.

– Miêu tả sinh động những biến đổi tinh tế của cảnh vật và tâm trạng con người.

– Ngôn ngữ, hình ảnh giàu ý nghĩa tượng trưng.

– Giọng điệu thủ thỉ thấm đượm chất thơ, chất trữ tình sâu lắng.

 

Ý nghĩa văn bản:

Truyện ngắn “Hai đứa trẻ” thể hiện niềm cảm thương chân thành của Thạch Lam đối với những kiếp sống nghèo khổ, chìm khuất trong mòn mỏi, tăm tối, quẩn quanh nơi phố huyện trước cách mạng và sự trân trọng với những mong ước bé nhỏ, bình dị mà tha thiết của họ.

Một số đề luyện tập về Hai đứa trẻ

Dựa vào kiến thức cơ bản và phương pháp làm bài nghị luận văn học về tác phẩm truyện, học sinh luyện tập với các đề sau:

Đề 1. Phân tích tâm trạng nhân vật Liên trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của nhà văn Thạch Lam.

Đề 2. Phân tích hình ảnh thiên nhiên và con người ở phố huyện nghèo lúc chiều tối trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của nhà văn Thạch Lam.

 Hướng dẫn luyện tập đề 1:

Tìm hiểu đề

Dạng đề: Phân tích một vấn đề (tâm trạng nhân vật) trong tác phẩm truyện.

Yêu cầu của đề:

  • Yêu cầu về nội dung: Làm nổi bật tâm trạng của nhân vật Liên..
  • Yêu cầu về thao tác: Phân tích là thao tác chính, cần kết hợp các thao tác khác như: chứng minh, bình luận, so sánh…
  • Yêu cầu về tư liệu: Dẫn chứng là những từ ngữ, câu văn, chi tiết tiêu biểu ở văn bản trong sách giáo khoa Ngữ văn 11.

 

Lập dàn ý

Mở bài: Giới thiệu tác giả Thạch Lam, dẫn vào truyện ngắn “Hai đứa trẻ”. Nêu vấn đề: Truyện miêu tả sâu sắc tâm trạng nhân vật Liên – cô gái mới lớn có tâm hồn nhạy cảm và trái tim tràn đầy yêu thương.

Thân bài:

Khái quát: Nêu xuất xứ, thời gian sáng tác, tóm tắt truyện.

Phân tích :

Tâm trạng Liên trước cảnh phố huyện lúc chiều tàn.

– Trước cảnh chiều tàn với âm thanh báo hiệu “tiếng trống thu không trên cái chòi của huyện nhỏ từng tiếng một vang ra để gọi buổi chiều”; với nền trời phương tây “đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn”, “dãy tre làng trước mặt đen lại…”; văng vẳng âm thanh của “tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào”. Đó là “một chiều êm ả như ru”, không gian ấy khiến cho “Liên không hiểu sao, nhưng chị thấy lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn”.

– Trước cảnh chợ tàn : buổi chợ ở một vùng quê nghèo “trên đất chỉ còn lại rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và lá mía”. “Một mùi âm ẩm bốc lên, hơi nóng của ban ngày lẫn với mùi cát bụi quen thuộc” khiến chị em Liên “tưởng là mùi riêng của đất, của quê hương này”. Trên nền đất chỉ còn lại rác rưởi ấy còn mấy đứa trẻ con nhà nghèo ở ven chợ đang “nhặt nhạnh thanh nứa, thanh tre hay bất cứ cái gì đó có thể dùng được của các người bán hàng để lại”. Nhìn chúng, Liên thấy “động lòng thương” nhưng chính chị cũng không có tiền để cho chúng nó.

Tâm trạng Liên trước cảnh phố huyện lúc đêm khuya

– Khung cảnh thiên nhiên và con người : “ngập chìm trong đêm tối mênh mông”. Đường phố và các con ngõ chứa đầy bóng tối (ánh sáng chỉ hé ở “khe”cửa của một vài cửa hàng, ở “quầng sáng” quanh ngọn đèn chị Tí, nơi “chấm lửa” nhỏ ở bếp lửa của bác Siêu và từng “hột” sáng lọt qua phên nứa từ hàng của Liên.)

– Nhịp sống của những người dân lặp đi lặp lại một cách đơn điệu, buồn tẻ với những động tác quen thuộc, những suy nghĩ, mong đợi như mọi ngày. Họ mong đợi “một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngày”.

– Tâm trạng của Liên : nhớ lại những ngày tháng tươi đẹp ở Hà Nội ; buồn bã, yên lặng dõi theo những cảnh đời nhọc nhằn, những kiếp người tàn tạ; cảm nhận sâu sắc về cuộc sống tù đọng trong bóng tối của họ.

Tâm trạng Liên trước cảnh phố huyện lúc chuyến tàu đêm đi qua

Phố huyện sáng bừng lên và huyên náo trong chốc lát rồi lại chìm vào bóng tối. Chị em Liên hân hoan hạnh phúc khi tàu đến, nuối tiếc, bâng khuâng lúc tàu qua. Con tàu mang theo mơ ước về một thế giới khác sáng sủa hơn và đánh thức trong Liên những hồi ức lung linh về Hà Nội xa xăm.

Ý nghĩa của chuyến tàu đêm : là biểu tượng của một thế giới thật đáng sống với sự giàu sang và rực rỡ ánh sáng. Nó đối lập với cuộc sống mòn mỏi, nghèo nàn, tối tăm và quẩn quanh của người dân phố huyện. Qua tâm trạng của chị em Liên, tác giả như muốn lay tỉnh những con người đang buồn chán, sống quẩn quanh, lam lũ và hướng họ đến một tương lai tốt đẹp hơn.

Nghệ thuật miêu tả tâm trạng:

– Cốt truyện đơn giản, nổi bật là những dòng tâm trạng chảy trôi, những cảm xúc, cảm giác mong manh mơ hồ trong tâm hồn nhân vật.

– Miêu tả sinh động những biến đổi tinh tế của cảnh vật và tâm trạng con người.

– Ngôn ngữ, hình ảnh giàu ý nghĩa tượng trưng.

– Giọng điệu thủ thỉ thấm đượm chất thơ, chất trữ tình sâu lắng.

Kết bài :

  • Kết luận chung về tâm trạng của Liên. Ý nghĩa của tâm trạng.
  • Cảm nghĩ về tác giả.

 Bài văn mẫu về Hai đứa trẻ

Thạch Lam là cây bút truyện ngắn xuất sắc của nền văn học hiện đại Việt Nam giai đoạn 1930-1945. Ông là nhà văn đôn hậu và rất đỗi tinh tế. Ông thường viết những “truyện không có chuyện”, mỗi truyện như một bài thơ trữ tình, giọng điệu điềm đạm nhưng chứa đựng biết bao tình cảm yêu mến chân thành và sự nhạy cảm của nhà văn trước những biến thái của cảnh vật và lòng người. Một trong những truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách ấy của ông là “Hai đứa trẻ”. Truyện đã miêu tả sâu sắc tâm trạng nhân vật Liên – một cô gái mới lớn với tâm hồn nhạy cảm và trái tim tràn đầy yêu thương.

“Hai đứa trẻ” được in trong tập “Nắng trong vườn” (1938). Không có cốt truyện đặc biệt, “Hai đứa trẻ” như một bài thơ trữ tình miêu tả cảnh vật và con người ở một phố huyện nghèo lúc chiều tàn cho đến đêm khuya khi có con tàu chạy qua. Chỉ có vậy nhưng “Hai đứa trẻ” vẫn có sức hấp dẫn người đọc trong hơn nửa thế kỉ qua.

Khi chiều về, trước cái giờ khắc của ngày tàn, nhìn thấy “những đám mây hồng như hòn than sắp tàn”, “dãy tre làng trước mặt đen lại cắt hình rõ nét trên nền trời”, nghe thấy “tiếng trống thu không”, “tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào, Liên thấy cái buồn của buổi chiều quê “thấm thía vào tâm hồn ngây thơ của chị, Liên không hiểu sao, nhưng chị thấy lòng buồn man mác trước giờ khắc của ngày tàn”. Nỗi buồn man mác dù không hiểu sao lại buồn ấy là biểu hiện của một tâm hồn nhạy cảm trước cảnh vật thiên nhiên.

Trời tối hẳn, các nhà đã lên đèn, “chợ họp giữa phố đã vãn từ lâu”. Chứng kiến cảnh chợ tàn của một vùng quê nghèo, “trên đất chỉ còn lại rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn, lá mía”, “hơi nóng của ban ngày lẫn với mùi cát bụi quen thuộc” khiến Liên thấy lòng xao xuyến, cô tưởng như đó là “mùi riêng của đất, của quê hương này”. Nhìn thấy những đứa trẻ con nhà nghèo đang tìm tòi nhặt nhạnh những thứ còn có thể dùng được của các người bán hàng để lại trên nền đất rác rưởi, Liên thấy “động lòng thương” nhưng chính chị cũng không có gì để mà cho chúng. Cái động lòng của Liên là biểu hiện của một tấm lòng nhân hậu, một trái tim giàu tình thương, đó cũng chính là cái động lòng trắc ẩn của nhà văn trước những kiếp người nghèo khổ.

Chứng kiến cảnh mẹ con nhà chị Tí với gánh hàng nước nghèo, với cuộc sống “ngày thì mò cua bắt tép, tối đến mở gánh hàng nước, nhưng chị Tí cũng chẳng kiếm được là bao”, Liên có chút gì đó xót xa, thương cảm, nỗi buồn trong Liên vì thế như càng khắc sâu hơn. Tuy vậy, chị cũng có một thoáng vui, đó là khi dọn hàng. Chiếc chìa khóa và dây xà tích bạc khiến Liên “hãnh diện”, vì nó tỏ ra chị là người con gái lớn và đảm đang. Nhưng niềm vui kéo dài chẳng được bao lâu. Nó chợt vụt tắt khi bà cụ Thi hơi điên xuất hiện. Bà vào hàng Liên mua rượu khiến chị thấy “lòng hơi run sợ”. Nhìn cụ cùng với tiếng cười “khanh khách” nhỏ dần, hai chị em Liên đứng sững nhìn theo cụ. Hình ảnh bà cụ Thi đã gieo vào lòng Liên một cảm giác khắc khoải.

Khi trời bắt đầu đêm, “một đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng qua gió mát”, “đường phố và các con ngõ dần dần chứa đầy bóng tối”, chỉ còn lại những khe sáng lọt ra từ vài cửa hàng còn thức, nghe tiếng trẻ con vui đùa, An thèm muốn nhập bọn, nhưng hai chị em đành lặng lẽ quan sát vì sợ trái lời mẹ dặn. Bầu trời đêm mùa hạ có hàng ngàn ngôi sao ganh nhau lấp lánh, chúng thu hút ánh mắt của hai chị em Liên. Nhưng vũ trụ lại thăm thẳm bao la đối với tâm hồn hai đứa trẻ như “chứa đầy bí mật xa lạ” và “làm mỏi trí nghĩ” hai chị em lại quay về với mặt đất, nơi có quầng sáng xung quanh ngọn đèn dầu lay động trên chõng hàng chị Tí. Rồi, khi từ xa, xuất hiện chấm lửa nhỏ và vàng lơ lửng, đó là gánh hàng phở của bác Siêu, thì An tỏ ra mừng rỡ. Có lẽ, có thêm bác Siêu thì không gian nơi phố huyện sẽ bớt buồn tẻ hơn chăng? Hay gánh phở với mùi thơm ngào ngạt ấy gợi một kỉ niệm không quên? Đó là kỉ niệm về một Hà Nội “sáng rực, lấp lánh” mà bây giờ trong Liên đã không còn rõ rệt gì. Nhớ về Hà Nội, Liên lại thấy lòng buồn hơn, bởi từ khi về phố huyện nhỏ này, cuộc sống của Liên chỉ quanh quẩn nơi gian hàng gần gốc cây bàng với cái tối xung quanh.

Càng về đêm, trời càng tối hơn, “tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại càng sẫm đen hơn nữa”. Ánh sáng trên phố huyện giờ chỉ còn là “ngọn đèn con” của chị Tí, cái bếp lửa của bác Siêu và ngọn đèn vặn nhỏ trong cửa hàng của Liên hắt ra ngoài những “hột sáng”. Trên phố huyện, có thêm một gia đình bác xẩm với manh chiếu, chiếc thau sắt trắng để trước mặt nhưng bác chưa hát vì chưa có khách nghe. Câu chuyện rời rạc, tẻ nhạt của chị Tí với bác Siêu cùng với mấy tiếng đàn bầu bần bật trong yên lặng của bác xẩm càng làm cho phố huyện tĩnh lặng hơn. Chừng ấy con người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho cuộc sống nghèo khổ hàng ngày của họ. Tất cả họ đang cố thức đợi chuyến tàu đêm cuối cùng đi qua, mong bán thêm được chút hàng.

Cũng như họ, tuy đã “buồn ngủ ríu cả mắt” nhưng chị em Liên vẫn “gượng để thức khuya chút nữa” để chờ đoàn tàu đi qua dù “không trông mong còn ai đến mua nữa”. Chị em Liên cố thức là “vì cớ khác” : muốn được nhìn đoàn tàu từ Hà Nội đi qua phố huyện. Ánh sáng của đèn ghi xuất hiện từ xa khiến An như mừng rỡ : “Đèn ghi đã ra kia kìa!”. Rồi đoàn tàu đến mang theo những cửa kính sáng rực chiếu ánh cả xuống đường, những người, đồng và kền sáng lấp lánh. Thoáng hân hoan, hạnh phúc ấy qua mau, con tàu vụt đi vào đêm tối, Liên vẫn còn “lặng theo mơ tưởng”. Con tàu như đã đem một chút thế giới khác đi qua, một thế giới khác hẳn đối với Liên, khác hẳn cái quầng sáng ngọn đèn của chị Tí và ánh lửa của bác Siêu. Đoàn tàu ấy với các toa đèn sáng trưng như là một thế giới  thật đáng sống với sự giàu sang và rực rỡ ánh sáng. Nó đối lập với cuộc sống mòn mỏi, nghèo nàn, tối tăm và quẩn quanh của người dân phố huyện. Con tàu chỉ xuất hiện trong giây lát nhưng nó đã khuấy động trong lòng hai đứa trẻ một ước mơ, dù chỉ là mơ hồ, về một sự đổi thay, về một thế giới tươi đẹp đáng sống hơn. Hình ảnh hai chị em Liên và những người dân phố huyện đêm nào cũng cố thức đợi chuyến tàu và “lặng theo mơ tưởng” là biểu hiện của ước mơ còn mơ hồ trong họ : ước mơ vươn tới một thế giới đầy ánh sáng, muốn phủ định thực tại tầm thường nhạt nhẽo, quẩn quanh với bóng tối dày đặc hàng đêm. Thạch Lam đã rất tinh tế nhận ra điều đó và miêu tả lại với một sự nâng niu, trân trọng vô bờ. Qua tâm trạng của chị em Liên, tác giả như muốn lay tỉnh những con người đang buồn chán, sống quẩn quanh, lam lũ và hướng họ đến một tương lai tốt đẹp hơn.

Đoàn tàu đi qua, An đã ngủ, Liên cũng đến bên em nằm xuống. Một cảm giác mơ hồ, mong manh, chập chờn, xa xôi đưa Liên vào giấc ngủ yên tĩnh như đêm trong phố huyện, tịch mịch và đầy bóng tối. Có lẽ, đó là cảm giác bâng khuâng, nuối tiếc của Liên khi tàu qua, phố huyện trở lại với cái tối cố hữu của nó.

Không có một cốt truyện hấp dẫn, một tình huống li kì nhưng truyện vẫn tạo được sự chú ý, thu hút của người đọc bởi tài năng khắc họa tâm lí nhân vật của nhà văn. Ông đã khám phá, miêu tả những rung động thoáng qua, những cảm giác tinh vi của nhân vật. Ngôn ngữ, hình ảnh giàu ý nghĩa tượng trưng và giọng điệu thủ thỉ giàu chất thơ cũng là nét đặc sắc nghệ thuật góp phần làm nên sự lôi cuốn kì lạ của tác phẩm.

Tóm lại, truyện ngắn “Hai đứa trẻ” đã miêu tả tinh tế, sâu sắc tâm trạng của nhân vật Liên. Qua đó, người đọc thấy được Thạch Lam “lặng lẽ hướng về người nghèo với niềm cảm thương chân thành” (Nguyễn Hoành Khung) đồng thời hướng họ đến một tương lai tốt đẹp hơn. Đó cũng là một đóng góp mới của ông cho tư tưởng nhân đạo trong văn học giai đoạn 1930 – 1945.

Bài viết sưu tầm.

Xem thêm : tuyển tập đề thi và những bài văn hay về Hai đứa Trẻ: Hai đứa trẻ

Giáo án bài Hai đứa trẻ soạn theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học

Soạn bài Hai đứa trẻ- Ngữ văn lớp 11. Giáo án chuẩn cấu trúc 2018, soạn theo 5 hoạt động

Tuần 10- Tiết 37, 38

 HAI ĐỨA TRẺ

                                                                                           (Thạch Lam).

Mục tiêu bài học:

  1. Về kiến thức :
  • Bức tranh phố huyện với cảnh ngày tàn, chợ tàn, những kiếp người tàn qua cảm nhận của hai đứa trẻ
  • Niềm xót xa, thương cảm của nhà văn đ/v cuộc sống quẩn quanh, tù túng của những con người nghèo nơi phố huyện và sự trân trọng, nâng niu những khát vọng nhỏ bé nhưng tươi sáng của họ.
  • Tp đậm đà yếu tố hiện thực vừa phảng phất chất lãng mạn, chất thơ; là truyện tâm tình với lối kể thủ thỉ như một lời tâm sự.
  1. Về kĩ năng :
  • Đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại
  • Phân tích tâm trạng nhân vật trong tp tự sự
  1. Về thái độ : yêu thương, trân trọng những con người nghèo khổ
  2. Định hướng phát triển năng lực:

–  Năng lực chung: NL giải quyết vấn đề, NL hợp tác, NL tự học, NL sáng tạo.

–  Năng  lực đặc thù: NL giao tiếp bằng ngôn ngữ, cảm thụ văn học, tạo lập văn bản.

SỰ CHUẨN BỊ CỦA GV VÀ HS :

GV: SGK, SGV, tài liệu tham khảo

HS:   SGK, tài liệu tham khảo

  1. Tổ chức các hoạt động dạy và học:
  2. Ổn định tổ chức:
  3. Kiểm tra bài cũ: kiểm tra vở soạn học sinh.

3.Tiến trình bài học;                                         

Hoạt động 1: Trải nghiệm sáng tạo

  Lời vào bài:  Nói đến xu hướng văn học lãng mạn Việt Nam  giai đoạn 1930 – 1945, chúng ta không thể không nói đến nhà văn Thạch Lam. Thạch Lam chỉ  sáng tác trong khoảng 6 năm  và mất khi mới 32 tuổi;  nhưng ông đã  có những đóng góp tích cực đối với nền văn xuôi Việt Nam trên con đường hiện đại hóa. Ông là cây bút truyện ngắn tài hoa xuất sắc, đã đem đến cho văn học một phong cách nghệ thuật truyện ngắn độc đáo với tư tưởng nhân đạo, sâu sắc mới mẻ. Điều đó được  thể hiện qua truyện ngắn  “Hai đứa trẻ”.

                                                Hoạt động 2: HĐ hình thành kiến thức

                              Phương pháp thực hiện:GV tổ chức giờ dạy theo cách kết hợp các phương pháp gợi tìm, kết hợp các hình thức trao đổi thảo luận, trả lời các câu hỏi.

Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung cần đạt
Bước 1: Tìm hiểu chung

 CH: Đã chuẩn bị bài ở nhà, em hãy nêu những nét cơ bản về tác giả Thạch Lam.

GV gợi ý:

– Năm sinh- mất, quê?

– Con người?

– Vị trí văn học?

– Quan điểm sáng tác?

– Phong cách nghệ thuật truyện ngắn?

– Các tác phẩm tiêu biểu?

HS trả lời.

GV kết luận

GV giảng:- Đó là một phố huyện nghèo có chợ, ga xếp đêm đêm có một chuyến tàu chạy qua đã nhiều đêm trong tâm trí Thạch Lam ® trở thành không gian nghệ thuật trở đi trở lại trong nhiều sáng tác của ông.

– Chính đặc điểm con người đã làm nên giá trị nhân đạo và ngòi bút nhạy cảm trước những biến thái tinh vi của tâm hồn con người trong văn Thạch Lam.

GV giảng: Thạch Lam và 2 người anh Nhất Linh và Hoàng Đạo là thành viên của nhóm Tự Lực Văn Đoàn –  thuộc xu hướng lãng mạn nhưng khuynh hướng tư tưởng của Thạch Lam có phần  nghiêng về hiện thực.

CH:  Nêu xuất xứ, vị trí của tác phẩm?

HS trả lời.

 

GVgiảng: Tác phẩm viết trước Cách mạng tháng T¸m năm 1945. Đất nước bị thực dân Pháp đô hộ, đời sống nhân dân cực khổ, lầm than.  Trong khi  các nhà văn hiện thực phản ánh hiện thực trên tinh thần tố cáo, lên án x· héi  thì các nhà văn lãng mạn chủ yếu bộc lộ cảm xúc buồn chán trước hiện thực, thể hiện khát vọng thay đổi cuộc sống.

 

 

 

 

CH: Em hãy nêu chủ đề tác phẩm?

 

 

 

CH: Theo em, truyện ngắn này có thể chia làm mấy phần?

HS trả lời.

GV chia bố cục tác phẩm.

 

Bước 2: Đọc-hiểu văn bản.

GV định hướng: “Hai đứa trẻ” là truyện ngắn không có cốt truyện. Tuyện ngắn chỉ là bức tranh phố huyện nghèo được hiện lên qua cái nhìn của chị em Liên, chủ yếu là Liên. Vì vậy khi tìm hiểu tác phẩm, chúng ta sẽ đi tìm hiểu tâm trạng của Liên trước bức tranh phố huyện ở những thời điểm khác nhau.

Ở Tiết 1, chúng ta đi tìm hiểu phần 1: Tâm trạng của nhân vật Liên trước bức tranh phố huyện lúc chiều muộn.

Tiết 2: Tâm trạng của Liên khi về đêm và lúc đợi tàu đi qua phố huyện.

 

GV đọc diễn cảm đoạn : “Tiếng trống thu không….một bên sáng, một bên tối”.  (Giọng đọc chậm rãi, nhẹ nhàng gợi được không khí làng quê toát lên từ những câu văn của Thạch Lam).

CH: Bức tranh thiên nhiên phố huyện lúc chiều tàn được nhà văn khắc hoạ qua những chi tiết nào?

Gợi mở:

–         Những âm thanh nào? Nghệ thuật gì?

GV bình: Câu văn mở đầu dịu dàng như một lời thơ đã gợi ra không khí buồn vắng, hắt hiu của  phố huyện nhỏ ở một  nơi khuất nẻo.

Màu  sắc thế nào? Nghệ thuật miêu tả?

 

 

 

 

 

– Đường nét thế nào? Nghệ thuật gì?

 

 

 

 

CH: Nhận xét ngòi bút miêu tả cảnh thiên nhiên của Thạch Lam? Cảm nhận của em về vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên nà

GV bình: Trong đoạn văn tả cảnh thiên nhiên, Thạch Lam đã viết những câu văn giàu chất thơ, chất nhạc:  “ Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru”. Câu văn toàn thanh bằng, nhịp chậm, điệp từ “chiều”, từ láy, NT so sánh tinh tế  đã gợi không khí một buổi chiều quê êm đềm thơ mộng mang cốt cách Việt Nam® Thể hiện sự nâng niu trân trọng của Thạch Lam với những gì là hồn xưa của dân tộc.

 

CH:Trước giờ khắc ngày tàn ấy, tâm trạng của Liên như thế nào? Tìm những chi tiết miêu tả tâm trạng của Liên?

(Gợi mở: tư thế, dáng vẻ,  tâm hồn)

 

GV bình giảng: Liên có cảm giác buồn mơ hồ không hiểu vì Liên vẫn còn là môt đứa trẻ hồn nhiên ngây thơ. Đây cũng là nỗi buồn mơ hồ không hiểu của văn học lãng mạn:  “Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn” (Xuân Diệu). Dường như trong “Chiếc linh hồn nhỏ” của cô bé nơi phố huyện đã vương vấn chút “Mang mang thiên cố sầu” của văn học lãng mạn. Thạch Lam đã để cho cô bé Liên dường như nghe được một cách vô thức sự hữu hạn của đời người trước cái vô hạn của thời gian.

CH: Nhận xét nghệ thuật miêu tả tâm trạng nhân vật? Qua đó, nêu cảm nhận của em về vẻ đẹp tâm hồn của Liên?

 GV: Phải là một ngòi bút tinh tế lắm, tác giả mới cảm nhận được những cảm xúc mơ hồ ấy của Liên. Đây chính là một biệt tài trong văn Thạch Lam.

 GV gọi 1 HS đọc diễn cảm đoạn văn tả cảnhchợ tàn:“Chợ họp giữa phố…không có tiền để mà cho chúng nó”. Hướng dẫn cách đọc: giọng đọc chậm rãi, nhẹ nhàng gợi không khí làng quê.

 

CH: Cảnh chợ tàn được gợi qua chi tiết nào? (Gợi mở: âm thanh, hình ảnh, mùi vị?)

 

GV liên hệ: Như  nhà thơ Huy Cận đã từng viết “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”

                                       (Tràng giang)

GV: Cái nhìn đôn hậu, đằm thắm với quê hương  của Thạch Lam khiến cả rác rưởi cũng gợi nghĩ những điều thân thuộc, gợi tình quê đậm đà.

CH: Nhận xét nghệ thuật miêu tả cảnh chợ tàn của tác giả? (Gơị mở: tả thực hay lãng mạn,  cảm nhận bằng những giác quan nào?) Nêu cảm nhận của em về cảnh chợ tàn?

GV bình: Đến đây chúng ta đã thấy rõ nét đặc trưng trong văn Thạch Lam ở sự kết hợp giữa yếu tố lãng mạn và hiện thực. Nếu ở cảnh chiều tàn, ngòi bút Thạch Lam thật lãng mạn trữ tình thì ở cảnh chợ tàn, nhà văn lại dùng ngòi bút tả thực.

CH: Vậy tâm trạng của Liên trước cảnh chợ tàn như thế nào? Cảm nhận của em về  vẻ đẹp tâm hồn của Liên.

 

GV dẫn dắt: Trên nền cảnh chiều tàn, chợ tàn, tác giả còn khắc hoạ hình ảnh những kiếp người tàn.

–         GV yêu cầu HS theo dõi SGK, trên cơ sở đã soạn bài ở nhà, HS trả lời câu hỏi.

CH: Những kiếp người tàn là ai? Cuộc sống của họ như thế nào??

GV gợi mở:

– Chị em Liên: Hoàn cảnh sống trước kia và  hiện nay?

GV giảng làm rõ hơn tính cách của Liên: Cứ mỗi chiều, Liên lại dọn hàng, đếm hàng, tính tiền như một người chủ gia đình thực sự. Ở nhân vật Liên, ta thấy dáng  dấp người phụ nữ đảm đang, hiền thục. Liên tỏ ra hãnh diện với sợi dây xà tích bằng bạc, đeo chiếc chìa khoá, chứng tỏ Liên đã lớn, được mẹ tin cậy. Đó là tính cách của một cô bé mới lớn.

 

– Những đứa trẻ nhà nghèo?

 

GV giảng: Những đứa trẻ  tâm hồn ngây thơ trong sáng đáng lẽ phải được nuôi dưỡng, được đến trường. Nhưng ở đây chúng phải tự kiếm sống, phải sớm từ giã tuổi thơ ®thật tội nghiệp, đáng thương. Ta thấy ẩn sau những hình ảnh  đó là tấm lòng xót xa, đầy thương cảm của Thạch Lam.

– Mẹ con chị 

Cụ Thi ?

 

CH: Nhận xét nghệ thuật khắc hoạ hình ảnh con người? ( Gợi mở: cử chỉ, hành động, đối thoại, đồ vật vây quanh). Cảm nhận của em về cuộc sống của con người  nơi phố huy

GV giảng bình: Hình ảnh những con người hiện ra qua con mắt của Liên  như một vòng đời của phố huyện. Nếu cuộc sống không có gì thay đối thì tương lai của Liên và An sẽ ra sao? Hay chỉ là sự tàn tạ cả về thể xác và tinh thần? Vẽ ra tương quan giữa hai đứa trẻ  trên một thế giới già nua như hai mầm cây non trên một mảnh đất khô cằn bạc phếch, liệu chúng có thể  trưởng thành, khoẻ mạnh hay chúng sẽ sớm tàn tạ, héo úa! Đây chính là tấm lòng trắc ẩn mênh mông, một sắc thái riêng trong tư tưởng nhân đạo của Thạch Lam.

GV chuyển ý: Trong số những con người phố huyện ấy, ai là người khổ  nhất, vì sao? Có lẽ Liên  là người khổ nhất. Bởi vì Liên không chỉ thiếu thốn về vật chất mà Liên còn  thiếu thốn về tinh thần. Liên rất nhạy cảm, biết buồn thương trước  cuộc sống hiện tại của mình và những người dân  nơi đây.

CH: Tâm trạng của Liên trước những kiếp người tàn nơi phố huyện như thế nào? (Gợi mở: Nhìn những đứa trẻ, nhìn chị Tí, cụ Thi). Qua đó, nêu cảm nhận của em về  vẻ đẹp tâm hồn của Liên.

 

 

CHKQ: Qua tìm hiểu tâm trạng của nhân vật Liên trước cảnh chiều tàn, chợ tàn và những kiếp người tàn, em có nhận xét gì về bút pháp  nghệ thuật? Tác giả thể hiện tư tưởng gì?

 

HS trả lời, giáo viên chốt lại bằng máy chiếu

 

 

 

 

 

 

 

 

CH: Tìm những chi tiết tả cảnh và nhân xét?

HS trả lời.

 

 

 

GV bình:

– Bóng tối được miêu tả nhiều trạng thái khác nhau, có mặt suốt từ đầu đến cuối tác phẩm.

à Gợi cho người đọc thấy một kiếp sống bế tắc, quẩn quanh của người dân phố huyện nói riêng và nhân dân trước cách mạng tháng Tám nói chung.

à Đó là biểu tượng của những tâm trạng vô vọng, nỗi u hoài trong tâm thức của một kiếp người.

CH: Khi đêm xuống, phố huyện xuất hiện thêm những ai? Họ ntn?

GV bình:  Biểu tượng ngọn đèn dầu nơi phố huyện.

– Ngọn đèn dầu được nhắc hơn 10 lần trong tác phẩm.

à Tất cả không đủ chiếu sáng, không đủ sức phá tan màn đêm, mà ngược lại nó càng làm cho đêm tối trở nên mênh mông hơn, càng ngợi sự tàn tạ, hắt hiu, buồn đến nao lòng.

– Ngọn đèn dầu là biểu tượng về kiếp sống nhỏ nhoi, vô danh vô nghĩa, lay lắt. Một kiếp sống leo lét mỏi mòn trong đêm tối mênh mông của xã hội cũ, không hạnh phúc, không tương lai, cuộc sống như cát bụi. Cuộc sống ấy cứ ngày càng một đè nặng lên đôi vai mỗi con người nơi phố huyện.

– Cả một bức tranh đen tối. Những hột sáng của ngọn đèn dầu hắt ra giống như những lỗ thủng trên một bức tranh toàn màu đen.

 

CH: Trước đêm tối tâm trạng L ntn?

 

 

 

 

 

CH: Vì sao chị em L đợi tàu?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CH: Chuyến tàu có ý nghĩa ntn?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bước 3: Hướng dẫn tổng kết.

CH: Nêu những đạc sắc NT và Ý nghĩa của truyện?

Hướng dẫn về nhà.

– Nắm nội dung bài học. Hiểu giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm.

– Cảm nhận bản thân khi học xong tác phẩm.

– Soạn bài theo phân phối chương trình.

I/ Tìm hiểu chung:

1/ Tác giảThạch Lam (1910 – 1942), tên thật là Nguyễn Tường Vinh (Nguyễn Tường Lân) sinh tại Hà Nội, thuở nhỏ sống ở quê ngoại: phố huyện Cẩm Giàng – Hải Dương.

Con người: là người đôn hậu, tinh tế.

– Là thành viên của nhóm Tự lực văn đoàn.

– Quan điểm sáng tác: lành mạnh, tiến bộ.

– Có biệt tài về truyện ngắn: có phong cách nghệ thuật độc đáo:

+ Truyện không cú chuyện, chủ yếu khai thác thế giới nội tâm với những xúc cảm mong manh, mơ hồ.

+ Mỗi truyện như­ một bài thơ trữ tình đư­ợm buồn, giọng điệu điềm đạm nhưng chứa đựng biết bao tình cảm mến yêu chân thành và sự nhạy cảm của tác giả trước những biến thái của cảnh vật và lòng người

+ Văn phong trong sáng, giản dị, thâm trầm, sâu sắc.

– Tác phẩm chính:

+ Các tập truyện ngắn: “Gió đầu mùa” (1937), “Nắng trong vườn” (1938), “Sợi tóc” (1942).

+ Tiểu thuyết : “Ngày mới” (1939)

+ Tập tiểu luận: “Theo dòng” (1941.

+ Tuỳ bút: “Hà Nội băm sáu phố phường” (1943)

2/ Tác phẩm:

 

– Xuất xứ: In trong tập “ Nắng trong vườn” (1938)

Vị trí: Là truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật truyện ngắn của Thạch Lam, có sự hòa quyện hai yếu tố hiện thực và lãng mạn trữ tình.

– Chủ đề: Bức tranh phố huyện nghèo  trước cách mạng táng Tám từ lúc chiều muộn đến đêm khuya  qua cái nhìn và tâm trạng của nhân vật Liên

– Bố cục:

 

 

Gồm 3 phần.

+ Phần 1: ( Từ đầu đến “ tiếng cười khanh khách nhỏ dần về phía làng ):Tâm trạng của Liên trước bức tranh phố huyện lúc chiều muộn.

+ Phần 2: ( Tiếp theo đến “ chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ.” ):

Tâm trạng của L trước bức tranh phố huyện khi đêm vể.

+ Phần 3( còn lại): Tâm trạng của Liên trong cảnh đợi tàu lúc đêm khuya.

II/ Đọc – hiểu văn bản.

1/ Phần một: Tâm trạng của Liên trước bức tranh phố huyện lúc chiều muộn.

 

a/ Trước cảnh chiều tàn

 

* Cảnh:

– Âm thanh:

+ Tiếng trống thu không… từng tiếng một vang ra để gọi buổi chiều ® câu văn chậm rãi

-> điểm nhịp thời gian.

+ Tiếng ếch nhái kêu ran, tiếng muỗi vo ve – những âm thanh đặc trưng của làng quê ® lấy động tả tĩnh ® không khí vắng vẻ, đìu hiu, hoang vắng.

® Miêu tả từ xa đến gần, nhỏ đần, tất cả như cộng hưởng tạo nên một bản nhạc đồng quê êm đềm

 

– Màu sắc: Phương tây:

+ Đỏ rực như lửa cháy

+ Đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn.

®Tính từ, so sánh ® màu sắc rực rỡ bùng cháy  trước khi tàn lụi ® cảnh hoàng hôn sống động, báo hiệu một  ngày đã qua.

– Đường nét: Dãy tre làng đen lại cắt hình rõ rệt trên nền trời (ánh hồng)® Nghệ thuật tương phản giàu chất hội họa ® hoàng hôn dần buông xuống.

 

 

 

 

=> Bằng cảm hứng lãng mạn tinh tế, câu văn như câu thơ(Chiều,chiều rồi…), kết hợp hài hoà các chi tiết miêu tả âm thanh, màu sắc, đường nét, tác giả đã  gợi lên bước đi của thời gian từ, đồng thời gợi lên một bức tranh thiên nhiên thôn dã trong cái giờ khắc của ngày tàn: đẹp, êm đềm,  thơ mộng, đượm buồn mang hồn quê Việt Nam.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

* Tâm trạng của Liên:

 

– Tư thế: Ngồi yên lặng ® trầm tư suy nghĩ.

– Đôi mắt: Ngập đầy bóng tối ® buồn trào dâng

– Tâm hồn:

+ Ngây thơbuồn thấm thía.

+ Không hiểu sao nhưng thấy lòng buồn man mác trước giờ khắc ngày tàn.

® buồn mơ hồ không hiểu.

=>Từ tư thế, dáng vẻ đến tâm hồn cho thấy tâm trạng  của Liên: buồn trước bước đi của thời gian, trước cảnh thiên nhiên vắng lặng đìu hiu ® Tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, yêu thiên nhiên.

 b/ Trước cảnh chợ  tàn:

 

* Cảnh :  một ngày chợ phiên

– Âm thanh: Chợ họp giữa phố đã vãn từ lâu, người về hết, tiếng ồn ào cũng mất® chỉ còn sự trống vắng, quạnh hiu

 

–  Hình ảnh: Trên đất chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn, lá mía ® những phế thải của một phiên  chợ quê nghèo.

– Mùi vị: Một mùi âm ẩm, hơi nóng ban ngày, mùi cát bụi ® Cảm nhận bằng khứu giác mùi vị của đất quê hương. Phải chăng đó là mùi vị của nghèo khổ, lầm than, cơ cực?

=>Bằng ngòi bút tả thực, cảm nhận bằng nhiều giác quan: thị giác, thính giác, khứu giác, và bằng cả tâm hồn tinh tế nhạy cảm, những chi tiết giàu sức gợi, cảnh chợ tàn gợi bức tranh sinh hoạt của phố huyện nghèo nàn, xơ xác, tiêu điều.

 

* Tâm trạng của Liên:

Cảm nhận mùi vị quen thuộc

Tưởng là mùi riêng của đất, của quê hương

® tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, gắn bó với quê hương.

 

c/ Trước những kiếp người tàn:

 *Những kiếp người:

–  Liên và An:

+  Trước ở Hà Nội, từ khi bố mất việc, hai chị em về quê.

+ Mẹ giao trông coi một gian hàng tạp hoá  nhỏ xíu.

+ Chiều nào cũng dọn hàng, đếm hàng, tính tiền, ngồi trên cái chõng sắp gãy nhìn cảnh và người phố huyện.

+ Ngày chợ phiên mà chỉ bán được 2,5 bánh xà phòng, một cút rượu ti nhỏ

® Gia cảnh khó khăn, sa sút, mức sống eo hẹp.

-Những đứa trẻ con nhà nghèo: cúi lom khom trên mặt đất, đi lại tìm tòi, nhặt nhạnh thanh nứa, thanh tre, cái gì có thể dùng được của những người bán hàng để lại® đáng thương, tội nghiệp.

– Mẹ con chị Tý:

+ Ngày:  mò cua bắt tép.

+ Tối: lại dọn hàng nước, chả kiếm được bao nhiêu nhưng chiều nào chị cũng dọn hàng, từ chập tối cho đến đêm. ® cuộc sống cầm cự,cầm chừng trong vô vọng.

 

– Cụ Thi: hơi điên, xuất hiện với tiếng cười khanh khách, uống một hơi cạn sạch cút rượu ti rồi lảo đảo đi vào bóng tối ® tàn tạ cả  thể xác và tinh thần.

=>Bằng ngòi bút tả thực, qua các chi tiết: cử chỉ, hành động chậm chạp;  đối thoại ít, rời rạc, giọng thấp như tiếng thở dài, bao quanh họ là những đồ vật tàn,..tác giả đã khắc hoạ hình ảnh những con người nhỏ bé, từ  trẻ đến già đều  nghèo khổ, chật vật, tàn tạ. Qua đó, tác giả thể hiện niềm xót thương  đối với cuộc sống của những người dân phố huyện trước Cách mạng tháng Tám: ® đó là tấm lòng nhân đạo sâu sắc của tác giả.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

* Tâm trạng của Liên:

 

– Với những đứa trẻ con nhà nghèo:  động lòng thương nhưng chính chị cũng không có tiền để mà cho chúng nó.

– Với mẹ con chị Tí: Ân cần hỏi han.

– Với cụ Thi: lẳng lặng rót một cút rượu ti đầy, lòng hơi run sợ, mong cụ chóng đi.

® Liên có tâm hồn nhạy cảm, nhân hậu, giàu lòng trắc ẩn, yêu thương con người – nét đẹp tâm hồn  mà nhà văn nâng niu, trân trọng

 

=> + Nghệ thuật: kết hợp yếu tố hiện thực với yếu tố lãng mạn trữ tình; câu văn xuôi  như câu thơ, khéo kết hợp các chi tiết, nghệ thuật miêu tả tâm trạng nhân vật tinh tế.

+ Nội dung: – Thạch Lam đã phần nào phản ánh bức tranh hiện thực đời sống của người dân.

– Tác giả thể hiện một cách nhẹ nhàng mà thấm thía niềm xót thương với những kiếp người nhỏ bé, sống nghèo khổ, tàn tạ ở một  phố huyện  nhỏ trước Cách mạng tháng Tám,  trân trọng những nét đẹp tâm hồn của họ. ®Đó là giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc của đoạn trích.

2/ Đoạn 2: Tâm trạng của L trước bức tranh phố huyện lúc đêm khuya:.

a/ Khung cảnh và con người:

* Cảnh:

– Bẩu trời: – Hàng ngàn ngôi sao ganh nhau…

– Hoa bàng khẽ rụng…

– Thoảng qua gió mát.

-> Đẹp , êm đềm, tĩnh lặng- một đêm hạ êm như nhung.

– Mặt đất: ngập chìm trong bóng tối. Đường phố và các ngõ chứa đầy bóng tối.(…)

à Tg phản đối lập->bóng tối bao trùm tất cả, tràn ngập trong tác phẩm, tạo nên một bức tranh u tối, một không gian tù đọng, gợi cảm giác ngột ngạt.

* Nhiệp sống của những người dân: Có thêm

 

+ Đêm về bác phở Siêu xuất hiện.

+ Trong bóng tối gia đình bác hát Sẩm kiếm ăn.

à lặp đi lặp lại đơn diệu, buồn tẻvoiws những động tác quen thuộc, những suy nghĩ mong đợi như mọi ngày.  Họ mong đợi “một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngày”

b/ Tâm trạng của Liên :

Liên và An lặng lẽ ngắm các vì sao, lặng lẽ quan sát những gì diễn ra ở phố huyện và xót xa cảm thông, chia sẻ với những kiếp người nhỏ nhoi sống lay lắt trong bóng tối của cơ cực đói nghèo, tù đọng trong bóng tối của họ.

– Nhớ lại những tháng ngày tươi đẹp ở Hà Nội.

 

àNỗi buồn cùng bóng tối đã tràn ngập trong đôi mắt Liên, nhưng trong tâm hồn cô bé vẫn dành chỗ cho một mong ước, một sự đợi chờ trong đêm.

3. Phố huyện lúc chuyến tàu đêm đi qua:

* Hình ảnh chuyến tàu;

 

 

– Hình ảnh con tàu lặp 10 lần trong tác phẩm.

– Chuyến tàu đêm qua phố huyện là niềm vui duy nhất trong ngày của chị em Liên.

+ Mang đến một thế giới khác: ánh sáng xa lạ, âm thanh nao nức, tiếng ồn ào của khách…khác và đối lập với nhịp điệu buồn tẻ nơi phố huyện.

+ Chuyến tàu ở Hà Nội về: trở đầy ký ức tuổi thơ của hai chị em Liên, mang theo một thứ ánh sáng duy nhất, như con thoi xuyên thủng màn đêm, dù chỉ trong chốc lát cũng đủ xua tan cái ánh sáng mờ ảo nơi phố huyện.

 

– Việc chờ tàu trở thành một nhu cầu như cơm ăn nước uống hàng ngày của chị em Liên. Liên chờ tàu không phải vì mục đích tầm thường là đợi khách mua hàng mà vì mục đích khác:

+ Được nhìn thấy những gì khác với cuộc đời mà hai chị em Liên đang sống.

+ Con tàu mang đến một kỷ niệm, đánh thức hồi ức về kỷ nịêm mà chị em cô đã từng được sống.

+ Giúp Liên nhìn thầy rõ hơn sự ngưng đọng tù túng của cuộc sống phủ đầy bóng tối hèn mọn, nghèo nàn  của cuộc đời mình

Liên là người giàu lòng thương yêu, hiếu thảo và đảm đang. Cô là người duy nhất trong phố huyện biết ước mơ có ý thức về cuộc sống. Cô mỏi mòn trong chờ đợi.

* Ý nghĩa biểu tượng của chuyến tàu đêm:

– Hình ảnh con tàu lặp 10 lần trong tác phẩm.

Là biểu tượng của một thế giới thật đáng sống với sự giàu sang và sự rực rỡ ánh sáng. Nó đối lập với cuộc sống mòn mỏi, nghèo nàn, tối tăm và quẩn quanh với người dân phố huyện.

Qua tâm trạng của Liên tác giả muốn lay tỉnh ngững người đang buồn chán, sống quẩn quanh, lam lũ và hướng họ đến một tương lai tốt đẹp hơn. Đó là giá trị nhân bản của truyện ngắn này.

à Đó là  biểu tượng cho một cuộc sống sôi động, nhộn nhịp, vui vẻ, hiện đại. Dù chỉ trong giây lát nó cũng đưa cả phố huyện thoát ra khỏi cuộc sống tù đọng, u ẩn, bế tắc.

III. Tổng kết :

 

Nghệ thuật:.

– Cốt truyện đơn giản, nổi bật là những dòng tâm trạng chảy trôi, những cảm xúc, cảm giác mong manh, mơ hồ trong tâm hồn nhân vật.

– Bút pháp tương phản đối lập.

– Miêu tả sinh động những biến đổi tinh tế của cảnh vật và tâm trạng của con người.

– Ngôn ngữ giàu hình ảnh, tượng trưng.

– Giọng điệu thủ thỉ, thấm đượm chất thỏ chất trữ tình sâu sắc.

Ý nghĩa văn bản:

Truyện ngắn “Hai đứa trẻ” thể hiện niềm cảm thương chân thành của Thạch Lam đối với những kiếp sống nghèo khổ, chìm khuất trong mòn mỏi, tăm tối, quẩn quanh nơi phố huyện trước cách mạng và sự trân trọng với những mong ước nhỏ bé, bình dị mà tha thiết của họ.

 

 

Hoạt động 3: HĐ thực hành

Phương pháp thực hiện: GV tổ chức giờ dạy theo cách phát phiếu học tập, HS viết tại lớp, TĐTL

GV phát phiếu Bài tập:    So sánh Hai đứa trẻ với Tắt đèn, Lão hạc ( đã học ở chương trình THCS) để thấy con người và xã hội trong những năm  trước cách mạng tháng Tám năm 1945?

 Đáp án gợi ý:

+ Điểm chung: Cái nhìn hiện thực và nhân đạo đối với xã hội VN đang chìm đắm trong cảnh nô lệ, lầm than.

+ Nét riêng: Phong cách và bút pháp nghệ thuật của các nhà văn: Hiện thực – L.mạn

GV hướng dẫn HS làm BT.

Hoạt động 4 : Hoạt động  ứng dụng

    Phương pháp thực hiện: GV tổ chức giờ dạy theo cách đưa câu hỏi , HS về nhà  chuẩn bị, giáo viên kiểm tra, cho học sinh thảo luận trên lớp.

* Câu hỏi: Phân tích bút pháp lãng mạn của Thạch Lam thể hiện trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ”

 

Hoạt động 5:  Hoạt động bổ sung

Phương pháp thực hiện:GV tổ chức giờ dạy theo cách đưa câu hỏi , HS về nhà sưu tầm qua tài liệu tham khảo, qua mạng.

Câu hỏi:

1/ Tìm đọc một số truyện ngắn của Thạch Lam

2/ Phân tích phong cách nghệ thuật của Thạch Lam thể hiện qua truyện ngắn.

3/ Sưu tầm một số tranh ảnh về nhà văn.

Dặn dò:

– Về nhà học, làm bài và chuẩn bị bài tiếp theo.

(Tài liệu sưu tầm )

Xem thêm : Trọn bộ giáo án Ngữ văn soạn theo hướng đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá

Giáo án ngữ văn 10 

Giáo án ngữ văn 11

Giáo án ngữ văn 12

Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về Hai đứa trẻ : Hai đứa trẻ

Chứng minh Nhận định về Hai đứa trẻ Thạch Lam

Ôn thi học sinh giỏi môn Văn. Bộ đề ôn luyện tác phẩm Hai đứa trẻ- Thạch Lam

Có ý kiến cho rằng: “Thạch Lam thường viết những truyện không có chuyện, chủ yếu khai thác thế giới nội tâm của nhân vật với những xúc cảm mong manh, mơ hồ trong cuộc sống thường ngày.

        Từ diễn biến tâm trạng của Liên và An khi đợi tàu trong truyện ngắn Hai đứa trẻ, anh/chị hãy làm sáng tỏ nhận định trên.

A. MB:
– Vị trí Thạch Lam
– Dẫn nhận định
B.TB
I. Giải thích ý kiến:
– Truyện không có chuyện: Danh nghĩa là tác phẩm tự sự- nghĩa là có hệ thống sự việc để tạo nên cốt truyện. Nhưng truyện Thạch Lam ít sự việc đến mức gần như không có cốt truyện.
– Thạch Lam chủ yếu khai thác thế giới nội tâm của nhân vật với những xúc cảm mong manh, mơ hồ trong cuộc sống thường ngày: Câu chuyện không gay cấn, giàu kịch tính mà từ những điều đơn giản trong cuộc sống thường ngày, nhà văn đi sâu miêu tả thế giới nội tâm nhân vật với những biến thái tinh vi, mơ hồ.
Đây là một nhận định về đặc điểm nổi bật của kiểu truyện tâm tình mà Thạch Lam là đại diện tiêu biểu.
– Chi tiết Liên và An đợi tàu nằm ở cuối tác phẩm “Hai đứa trẻ”, tập trung rõ giá trị tư tưởng cả tác phẩm cũng như đặc sắc trong việc miêu tả nhân vật với những cảm xúc mong manh, tinh tế của nhà văn.
II. Chứng minh ý kiến:
1. Thạch Lam thường viết truyện không có chuyện:
Sự việc đơn giản: Chị em Liên và An thức đợi chuyến tàu đêm từ Hà Nội về đi qua phố huyện rồi mới đi ngủ.
2. Thạch Lam chủ yếu khai thác thế giới nội tâm của nhân vật với những xúc cảm mong manh, mơ hồ trong cuộc sống thường ngày:
a. Khi tàu ở xa: Hai đứa trẻ háo hức, tha thiết chờ đợi và cảm nhận về chuyến tàu qua:
– Âm thanh: tiếng còi xe lửa kéo dài ra theo ngọn gió xa xôi, tiếng xe rít mạnh vào ghi, tiếng hành khách ồn ào khe khẽ.
– Hình ảnh: Làn khói bừng sáng trắng đằng xa.
Cảm nhận kĩ lưỡng, bằng nhiều giác quan.
b. Khi tàu lại gần: Hai đứa trẻ quan sát chuyến tàu tỉ mỉ:
– Toa đèn sáng trưng, những toa hạng trên sang trọng lố nhố những người, đồng và kền lấp lánh, các cửa kính sáng.
– So với mọi khi: không đông, thưa vắng người, kém sáng hơn.
Cảm nhận tinh tế bằng cả hiện tại và hồi ức.
c. Khi tàu đi qua:
– Liên cùng em nhìn theo cái chấm nhỏ khuất dần sau rặng tre.
– Lặng theo mơ tưởng vì đây là chuyến tàu từ Hà Nội về- nơi luôn sáng rực, vui vẻ, huyên náo, và so sánh thế giới trên tàu với cuộc sống nghèo nàn, tối tăm, tĩnh mịch ở phố huyện này.
– Cảm nhận cả phố huyện lại trở về trạng thái sống lặng lẽ, chỉ nghe tiếng trống cầm canh và tiếng chó cắn, với những mảnh đời trong bong tối: Chị Tí, bác Siêu, gia đình bác xẩm ngủ gục trên manh chiếu.
– Liên thấy mình sống giữa bao nhiêu sự xa xôi: nhận thức được rõ hơn, sâu hơn sự ngưng đọng, tù túng của cuộc sống phủ đầy bóng tối: mơ ước mong manh, le lói về tương lai như chiếc đèn con của chị Tí chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ.
Con tàu đến đã tác động một cách mạnh mẽ vào lòng người, trở thành nhu cầu, một phần tất yếu trong cuộc sống của hai đứa trẻ.Từ đó mà chúng ý thức được đầy đủ và sâu sắc cuộc sống buồn tẻ của mình.
III. Bình luận:
– Đời sống nội tâm của hai đứa trẻ đã góp phần quan trọng tạo nên chất thơ của truyện ngắn.
– Diễn biến tâm trạng của Liên và An khi đợi tàu đã giúp mỗi người nhận ra cuộc sống vô vị, lặng lẽ để khao khát vươn lên cuộc sống tốt đẹp hơn.
– Nhà văn thành công trong việc miêu tả diễn biến tâm trạng của Liên và An trước một sự việc đời thường như thế la do ông là người đôn hậu, tinh tế, từng có quãng thời gian tuổi thơ như hai đứa trẻ trong tác phẩm. Và trên hết là nhà văn có quan niệm văn chương lành mạnh, tiến bộ.
C. KB: Khẳng định lại vấn đề.

Đề sưu tầm.

Xem thêm tuyển tập đề thi học sinh giỏi môn Văn :http://vanhay.edu.vn/hoc-sinh-gioi

Tuyển tập đề thi co đáp án về Hai đứa trẻ Thạch Lam :http://vanhay.edu.vn/tag/hai-dua-tre

Bài viết số 5 Ngữ văn 11

Đề kiểm tra Ngữ văn lớp 11, đề đọc hiểu Tổ quốc nhìn từ biển ,Phân tích hình ảnh chuyến tàu đêm chạy qua phố huyện trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” (Thạch Lam).

ĐỀ BÀI.

Phn I. Đọc hiu (2.0đ)

Đọc đoạn thơ sau đây và thực hiện các yêu cầu bên dưới:

“Nếu Tổ quốc neo mình đầu sóng cả

Những chàng trai ra đảo đã quên mình

Một sắc chỉ về Hoàng Sa thuở trước

Còn truyền đời con cháu mãi đinh ninh

                                          

Nếu Tổ quốc nhìn từ bao mất mát

Máu xương kia dằng dặc suốt ngàn đời

Hồn dân tộc ngàn năm không chịu khuất

Dáng con tàu vẫn hướng mãi ra khơi”

                                      (Trích Tổ quốc nhìn từ biển – Nguyễn Việt Chiến)

1. Xác định phương thức biểu đạt của văn bản trên.? ( 0,5 điểm)

2, Nhân vật trữ tình đã gửi gắm cảm xúc, tâm tư gì vào đoạn thơ? ( 0,5 điểm)

3. Tìm và phân tích hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ?  ( 0,5điểm)

4. Đoạn thơ mang đến cho người đọc nhận thức gì về Tổ quốc xưa và nay? ( 0,5 điểm)

 

Phn I ( 8, 0 điểm)

Câu 1 (3,0 điểm)

Đọc đoạn trích sau:

[…] Trên các cột đèn tín hiệu ở Bờ hồ Hoàn Kiếm, người ta đã lắp đặt thiết bị mà khi người đi bộ bấm vào nút thì xe cộ sẽ dừng lại để mình đi qua. Thế nhưng, thiết bị ấy hình như chỉ có người nước ngoài sử dụng, còn người mình thì cứ thế mà băng qua đường. Phóng viên đứng quan sát một lúc lâu và tưởng chừng như đã có thể đưa ra nhận xét cuối cùng về thử nghiệm kia, thì một nhóm 9X đã dùng nút bấm đó. Nhà báo vui mừng nhận xét: “Tương lai, 9X sẽ có ý thức giao thông tốt…”(Bài tập Ngữ văn 11, Tập một, trang 81)

Viết đoạn văn trình bày suy nghĩ của anh / chị sau khi đọc mẩu chuyện trên.

 

Câu 2  (5,0 điểm)   

Phân tích hình ảnh chuyến tàu đêm chạy qua phố huyện trong truyện ngắn Hai đứa trẻ (Thạch Lam).

 

Đáp án

1.Phương thức biểu đạt: Biểu cảm

2. Nhân vật trữ tình đã gửi gắm những suy ngẫm, tự hào về lịch sử dân tộc, nhìn từ góc độ công cuộc giữ gìn biển đảo, trách nhiệm của mỗi con người trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc hôm nay.

3. Biện pháp tu từ được sử dụng  trong đoạn thơ là: phép điệp cú pháp (Nếu Tổ quốc neo mình đầu sóng cả/ Nếu Tổ quốc nhìn từ bao mất mát). Hiệu quả nhấn mạnh cảm xúc tự hào, suy ngẫm lắng đọng về lịch sử đau thương mà hùng tráng của dân tộc.

4. Đoạn thơ mang đến cho người đọc nhận thức về Tổ quốc xưa và nay: Một đất nước luôn phải đối đầu với nạn ngoại xâm, nhân dân phải hi sinh máu xương để bảo vệ từng tấc đất, thước biển nhưng vẫn bất khuất, hiên ngang

Câu 1.Làm văn

  1. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận: (0,25 điểm)

Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề.

  1. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: (0,5 điểm)

Đây là dạng đề mở nên thí sinh có thể lựa chọn các vấn đề khác nhau để bàn luận nhưng cần gắn với văn bản đã cho.

Gợi ý một số vấn đề: Ý thức về tham gia giao thông của người Việt Nam hiện nay (trong đó có thế hệ 9X); Một tương lai mới mở ra với thế hệ 9X biết kỉ luật, chấp hành tốt các quy định; …

  1. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; rút ra bài học nhận thức và hành động:

– Giải thích: Từ mẩu chuyện, giải thích vấn đề đã nêu ra ở mở bài. (0,25 điểm)

– Bàn luận: (1,25 điểm)

+ Thí sinh trình bày nhận định, đánh giá ý nghĩa, tác dụng của vấn đề đề bằng cách lập luận và phân tích dẫn chứng để làm rõ vấn đề. (ví dụ: Tình trạng giao thông ở Việt Nam hiện nay và ý thức của người tham gia giao thông; Vì sao lại có những tình trạng như vậy; Biểu hiện; Ý thức của 9X; Thế hệ 9X ngày nay biết kỉ luật tốt; Tương lai đất nước phụ thuộc vào các thế hệ mai sau;…)

+ Bày tỏ thái độ, suy nghĩ của bản thân.

– Bài học nhận thức và hành động: Rút ra bài học phù hợp cho bản thân. (0,25 điểm)

  1. Sáng tạo: (0,25 điểm)

Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận.

  1. Chính tả, dùng từ, đặt câu: (0,25 điểm)

Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.

 

Câu 2. (5,0 điểm)

Yêu cầu về kĩ năng:

Học sinh biết cách làm bài văn nghị luận văn học, kết cấu hợp lí, phân tích được ý nghĩa của hình tượng chuyến tàu đêm như một biểu tượng của vẻ đẹp tâm hồn và tình cảm yêu thương vô hạn của Thạch Lam với những người nghèo; diễn đạt trôi chảy; cách dùng từ, đặt câu mạch lạc; văn viết đúng chính tả. 

Yêu cầu về kiến thức:

Trên cơ sở những hiểu biết về nhà văn Thạch Lam và truyện ngắn “Hai đứa trẻ”, học sinh có thể trình bày theo nhiều cách, nhưng cần làm rõ được các ý cơ bản sau:

– Nêu được vấn đề cần nghị luận.

– Chuyến tàu đi qua phố huyện mang đến ánh sáng, làm huyên náo trong chốc lát rồi lại chìm vào bóng tối.

– Tâm trạng chị em Liên: hân hoan hạnh phúc khi tàu đến, bâng khuâng lúc tàu đi qua.

– Con tàu mang theo ước mơ về một thế giới khác sáng sủa hơn và đánh thức trong Liên những hồi ức về Hà Nội xa xăm, Hà Nội  sáng rực và huyên náo.

– Chuyến tàu đêm là biểu tượng về một thế giới thật đáng sống với sự giàu sang và rực rỡ. Nó đối lập với cuộc sống mòn mỏi, nghèo nàn, tối tăm và quẩn quanh của người dân phố huyện.

– Tác giả sử dụng bút pháp tương phản, đối lập; giọng điệu thủ thỉ thấm đượm chất thơ, chất trữ tình sâu lắng.

– Đánh giá chung về ý nghĩa hình ảnh đã phân tích: “Hình tượng chuyến tàu đêm như một biểu tượng của vẻ đẹp tâm hồn và tình cảm yêu thương vô hạn của Thạch Lam với những người nghèo”

Cách cho điểm:

Điểm 5: Bài làm đáp ứng tốt những yêu cầu trên, có sáng tạo, phát hiện mới mẻ đáng trân trọng, có thể có một số sai sót không đáng kể.

Điểm 4: Bài làm đáp ứng tương đối tốt những yêu cầu trên, mắc ít lỗi diễn đạt, chính tả.

Điểm 3: Bài làm đáp ứng được ½ các yêu cầu trên, mắc ít lỗi diễn đạt, chính tả.      

Điểm 2: Bài làm còn sơ sài, mắc nhiều lỗi chính tả và diễn đạt.

Điểm 1: Bài làm còn sơ sài, mắc rất nhiều lỗi chính tả và diễn đạt.

Điểm 0: Bài làm hoàn toàn lạc đề.

Xem thêm : Tuyển tập những đề thi, bài văn hay, soạn bài Hai đứa trẻ lớp 11 : Hai đứa trẻ

Đề thi học kì 1 môn Ngữ văn lớp 11

Đề thi học kì lớp 11 môn Ngữ văn có đáp án chi tiết. Đề đọc hiểu Những cái chết trẻ,Tâm trạng đợi tàu đêm đi qua phố huyện của nhân vật Liên trong truyện ngắn Hai đứa trẻ (Thạch Lam)

ĐỀ THI HỌC KÌ 1 NĂM HỌC 2016-2017 Môn thi: NGỮ VĂN 11

PHẦN ĐỌC HIỂU (2,0 điểm)

       Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

Xã hội cứ phải “sốc” vì cái chết của mấy cô cậu trẻ tuổi với slogan (khẩu hiệu) “Việt Nam nói là làm !”. Nhưng họ đã nói và làm cái gì ?

       Đó là những status (dòng trạng thái trên Facebook) nói rằng nếu được nhiều người like (thích, đồng tình) thì sẽ nhảy xuống sông, sẽ mang xăng đốt trường, thậm chí sẽ tự tử ! Sau khi treo status “câu like” chưa đến một ngày thì các Facebooker (người dùng Facebook) này đã nhận được hàng chục ngàn like, vượt xa “chỉ tiêu” đề ra.

       Lời nói không thể gió bay vì đã bị cư dân mạng buộc chặt bằng hàng ngàn comments (ý kiến), hàng trăm share (chia sẻ) khích bác, xúi giục, đe nẹt, chửi bới mà phần lớn đến từ những người trẻ. Không khác được, chủ nhân “status ngàn like” đã phải làm đúng như đã nói, dù chỉ là nói trên Facebook !

       Vâng, “Việt Nam nói là làm” của một bộ phận giới trẻ là như vậy đấy !

(Dẫn theo Nguyễn Thị Hậu, Những cái chết trẻ, Vietnamnet.vn)

Câu 1. Văn bản trên được viết theo phong cách ngôn ngữ gì ? (0,5 điểm)

Câu 2. Theo anh/chị, ở đoạn trích trên, người viết có nên bỏ dấu ngoặc đơn và các từ trong dấu ngoặc đơn không ? Vì sao ? (1,0 điểm)

Câu 3. Anh/chị hiểu gì về thái độ của người viết qua câu văn: “Vâng, “Việt Nam nói là làm” của một bộ phận giới trẻ là như vậy đấy !” ? (0,5 điểm)

PHẦN LÀM VĂN (8,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm)

Anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 20 dòng) bày tỏ quan điểm của mình về hiện tượng được nêu trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.

Câu 2 (6,0 điểm)

Tâm trạng đợi tàu đêm đi qua phố huyện của nhân vật Liên trong truyện ngắn Hai đứa trẻ (Thạch Lam).

 

———-Hết———-

ĐÁP ÁN – THANG ĐIỂM Môn thi: NGỮ VĂN 11

 

Phần Câu Nội dung Điểm
I   ĐỌC HIỂU 2,0
1 Phong cách ngôn ngữ báo chí (hoặc phong cách ngôn ngữ chính luận) 0,5
2 – Không nên 0,25
– Vì đó là những yếu tố ngữ pháp và từ vựng dùng để giải thích ý nghĩa cho từ nước ngoài 0,75
3 Thái độ: thất vọng, lo ngại, chê trách, phê phán…

(Thí sinh có thể có những từ diễn đạt khác, miễn là cảm nhận được thái độ đúng đắn của người viết)

0,5
II LÀM VĂN 8,0
  1 Anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 10 dòng) bày tỏ quan điểm của mình về hiện tượng được nêu trong đoạn trích ở phần đề  Đọc hiểu. 2,0
– Nhận thức được hiện tượng được nêu trong đoạn trích: Tình trạng nghiện mạng xã hội đã phát triển theo hướng dị dạng trong một bộ phận giới trẻ. (Cụ thể: nghiện những câu chuyện khác người, hành động khác người và sẵn sàng bấm nút like, share cho ai đó đề xướng một hành động kỳ lạ. Điều này khiến cho người khởi xướng, ban đầu chỉ là đùa cho vui, sau bị thúc đẩy làm những hành động sai trái). 0,5
– Bày tỏ được quan điểm riêng đúng đắn, tích cực, thuyết phục về hiện tượng được nêu. 1,5
2 Tâm trạng đợi tàu đêm đi qua phố huyện của nhân vật Liên trong truyện ngắn Hai đứa trẻ Thạch Lam. 6,0
a. Đảm bảo cấu trúc bài văn 0,5
b. Xác định đúng luận đề 0,25
c. Triển khai luận đề thành các luận điểm; vận dụng tốt các phương thức biểu đạt, các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng.  
* Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm, nêu luận đề. 0,5
* Tâm trạng  đợi tàu đêm đi qua phố huyện của nhân vật Liên

Lưu ý: Thí sinh có thể lựa chọn kiểu bài phân tích/ cảm nhận/ phát biểu cảm nghĩ…, song về cơ bản cần đảm bảo các nội dung sau:

 
– Trình bày được hoàn cảnh hai chị em Liên chờ tàu 0,25
– Diễn biến tâm trạng nhân vật Liên:

+ Khi tàu chưa đến: đầy háo hức, mong chờ (tiếng reo giục giã hối thúc của Liên đối với An; cảm nhận và phát hiện những dấu hiệu đầu tiên của đoàn tàu…)

+ Khi tàu đến: cảm nhận đoàn tàu trong không khí trang trọng (dắt em đứng dậy để nhìn đoàn xe vụt qua…); tâm trí choáng ngợp, say mê (đoàn tàu qua phố huyện chỉ trong khoảnh khắc nhưng được nhà văn miêu tả tỉ mỉ, chi tiết từ điểm nhìn của hai chị em Liên); lưu luyến, tiếc nuối khi đoàn tàu rời xa phố huyện (còn nhìn theo cái chấm nhỏ của chiếc đèn xanh treo trên toa sau cùng…)

+ Khi tàu đã đi qua: Đầy xúc động (cầm tay em không đáp trước những chia sẻ của An, vỗ vai em, ngồi xuống chõng); thoáng buồn, thất vọng (Chuyến tàu đêm nay không đông như mọi khi , thưa vắng người và hình như kém sáng hơn); mơ tưởng, hoài niệm về Hà Nội; buồn thương, chán chường trước cuộc sống hiện tại (Liên thấy mình sống giữa bao nhiêu sự xa xôi không biết như chiếc đèn con của chị Tí chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ -> ám ảnh của sự nghèo khổ, tối tăm, tàn lụi nơi phố huyện)

3,0
* Đánh giá:

– Nghệ thuật miêu tả tâm trạng nhân vật:

+ Kết cấu tâm lí: Mạch truyện phát triển theo dòng cảm xúc nhân vật. Nhà văn tập trung đi sâu miêu tả những cảm xúc tinh tế trong tâm hồn nhân vật, góp phần tạo nên chất trữ tình/ chất thơ cho tác phẩm

+ Diễn biến tâm lí nhân vật Liên với nhiều sắc thái, xúc cảm đan xen nhau được miêu tả bằng nhiều hình thức: tả cảnh ngụ tình, cử chỉ, điệu bộ, ngôn ngữ nửa trực tiếp…

+ Ngôn ngữ miêu tả: trong sáng, giàu sức biểu cảm, giàu giá trị tạo hình, giàu nhạc tính.

+…

– Ý nghĩa:

+ Nhân vật Liên: Nỗi buồn chán trước cuộc sống thực tại; tâm hồn giàu khát vọng: mơ ước đổi thay, khao khát hướng tới một cuộc sống tươi đẹp hơn…

+ Tác giả: buồn thương chân thành với cuộc sống nghèo khó, mỏi mòn; trìu mến nâng niu những xúc cảm đẹp đẽ, nên thơ của Liên; đồng cảm, chia sẻ, nâng đỡ khát vọng, mơ ước đổi thay của nhân vật…

+ Người đọc: Tình cảm dành cho nhân vật Liên; bài học nhân sinh qua thông điệp nghệ thuật của nhà văn

1,0
d. Sáng tạo: Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ, cảm xúc sâu sắc về vấn đề nghị luận 0,25
e. Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu 0,25

 Xem thêm :

Đề thi khảo sát chất lượng học kì 1 môn Ngữ văn 11

Đề đọc hiểu Trăng nở nụ cười, Nghệ thuật đối lập trong Hai đứa trẻ- Thạch Lam

ĐỀ KIỂM TRA HỌC KỲ  I MÔN NGỮ VĂN  11–  Năm học 2016 – 2017

Thời gian làm bài 90 phút

  1. Kiến thức

– Đánh giá việc học sinh vận dụng kiến thức kĩ năng đã học để tự đọc hiểu văn bản.

– Đánh giá việc học sinh vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để nhận biết, thông hiểu và vận dụng các kiến thức.

  1. Kĩ năng

– Biết vận dụng các thao tác lập luận để viết bài văn nghị luận văn học.

  1. Thái độ

– Có thái độ nghiêm túc trong học tập, kiểm tra để có thể tự đánh giá năng lực của bản thân.

  1. Năng lực

– Năng lực nhận thức.

– Năng lực trình bày suy nghĩ, cảm nhận của bản thân về vấn đề đặt ra trong bài kiểm  tra.

HÌNH THỨC KIỂM TRA: Tự luận

III. THIẾT LẬP MA TRẬN

    Mức độ

 

 

Nhận biết Thông hiểu Vận dụng Cộng
Vận dụng thấp Vận dụng cao
1.  Đọc hiểu – Trình bày thông tin về văn bản : các biện pháp tu từ, các hiện tượng ngôn ngữ – Lí giải sự phát hiện ý nghĩa các hình ảnh, biện pháp tu từ

 

Liên hệ với các tác phẩm cùng đề tài Trình bày suy nghĩ, cảm nhận cá nhân.  
Số câu: 1

Tỉ lệ: 30%

(5% x 10 điểm = 0,5 điểm) 5% x 10 điểm = 0,5 điểm) (20 % x 10 điểm = 2 điểm)

 

30% x 10 = 3,0 điểm
2. Làm   văn

Nghị luận văn học

 

  Nhận diện được kiểu bài   nghị luận văn học

 

Hiểu được nội dung vấn đề cần trình bày.

 

Nắm vững kĩ năng làm văn nghị luận văn học, biết cách thiết lập các luận điểm, phối hợp các thao tác lập luận, sử dụng thành thạo các dẫn chứng.  
Số câu: 1

Tỉ lệ: 70%

10 % x 10 điểm = 1,0 điểm) 20 % x 20 điểm = 2,0 điểm) (40% x10 điểm = 4,0 điểm) (70% x10 điểm = 7,0 điểm)
T. cộng 1,5 điểm 2,5 điểm 6,0điểm 10 điểm

ĐỀ KIỂM TRA HỌC KỲ I MÔN NGỮ VĂN

Năm học 2016 – 2017, Khối: 11.
Thời gian làm bài 90 phút

 Câu 1 (3điểm)

TRĂNG NỞ NỤ CƯỜI

Đâu Thị Nở, đâu Chí Phèo,
Đâu làng Vũ Đại đói nghèo Nam Cao ???
Vẫn vườn chuối gió lao xao
Sông Châu vẫn chảy nôn nao mạn thuyền…

Ả ngớ ngẩn. Gã khùng điên.
Khi tình yêu đến bỗng nhiên thành người!
Vườn xuông trăng nở nụ cười
Phút giây tan chảy vàng mười trong nhau.

Giữa đời vàng lẫn với thau
Lòng tin còn chút về sau để dành
Tình yêu nên vị cháo hành
Đời chung bát vỡ thơm lành lứa đôi!

(Lê Đình Cánh )

  1. Bài thơ giúp anh/chị liên tưởng đến tác phẩm nào đã học trong chương trình phổ thông?  Xác định thể thơ? Cách gieo vần?
  2. Nội dung chính của bài thơ?
  3. Câu thơ:“Khi tình yêu đến bỗng nhiên thành người” có ý nghĩa gì? Liên quan các nhân vật nào trong tác phẩm ?
  4. Hai câu thơ cuối nhắc đến chi tiết nghệ thuật nào trong tác phẩm? Hãy viết một đoạn văn ngắn khoảng 15 câu bình luận chi tiết nghệ thuật này?

Câu 2: Đối lập là một thủ pháp nghệ thuật đặc trưng của văn học lãng mạn. Thủ pháp đó đã được thể hiện như thế nào qua đoạn văn miêu tả cảnh hai chị em Liên đêm đêm thức đợi chuyến tàu đi qua phố huyện? (Hai đứa trẻ Thạch Lam)

 

…………………….Hết……………………………

 HƯỚNG DẪN CHẤM BÀI KIỂM TRA HỌC KỲ I

Năm học : 2016 – 2017,Môn : Ngữ văn – Khối 11

 Thời gian làm bài : 90 phút

NỘI DUNG ĐIỂM
1. – Bài thơ giúp ta liên tưởng tới truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao.

– Thể thơ lục bát; gieo vần chân và vần lưng.

 

0.5
2.  – Bài thơ được gợi cảm xúc từ mối tình của Chí Phèo và thị Nở. Tình cảm mộc mạc của một người dàn bà xấu xí đã giúp Chí thức tỉnh. 0.5
3. Câu thơ: “Khi tình yêu đến bỗng nhiên thành người” thể hiện sức mạnh, sức cảm hóa lớn lao mà tình yêu mang đến. Liên quan các nhân vật: Chí Phèo và Thị Nở trong tác phẩm Chí Phèo”.

 

1.0
4. * Vị cháo hành được nhắc đến trong hai câu thơ cuối là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc trong tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao.

* Ý nghĩa:

– Về nội dung:

+ Thể hiện sự chăm sóc ân cần, tình thương vô tư, không vụ lợi của thị Nở khi Chí Phèo ốm đau, trơ trọi.

+ Là biểu hiện của tình người hiếm hoi mà Chí Phèo được nhận, là hương vị của hạnh phúc, tình yêu muộn màng mà Chí Phèo được hưởng.

+ Là liều thuốc giải cảm và giải độc tâm hồn Chí, gây ngạc nhiên, xúc động mạnh, khiến nhân vật ăn năn, suy nghĩ về tình trạng thê thảm hiện tại của mình. Nó khơi dậy niềm khao khát được làm hoà với mọi người, hi vọng vào một cơ hội được trở về với cuộc sống lương thiện. Như vậy, bát cháo hành đã đánh thức nhân tính bị vùi lấp lâu nay ở Chí Phèo.

– Về nghệ thuật:

+ Là chi tiết rất quan trọng thúc đẩy sự phát triển của cốt truyện, khắc họa sâu sắc nét tính cách, tâm lí và bi kịch của nhân vật.

+ Góp phần thể hiện sinh động tư tưởng Nam Cao: tin tưởng vào sức mạnh cảm hoá của tình người.

1.0

Câu 1 (3,0 điểm)

Câu 2 (7,0 điểm)

1. Yêu cầu về kỹ năng:

– Biết cách làm bài văn tự sự . Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt rõ ràng; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.

 

2. Yêu cầu về kiến thức.

* Giới thiệu : Tác giả Thạch Lam, tác phẩm Hai đứa trẻ; vấn đề cần nghị luận

* Thủ pháp đối lập

– Là một trong những đặc trưng cơ bản của văn học lãng mạn

– Tác dụng : làm nổi bật đối tượng được miêu tả, gây ấn tượng mạnh mẽ đối với người đọc.

* Thủ pháp đối lập thể hiện trong đoạn văn

Đoạn văn miêu tả cảnh chị em Liên đêm đêm thức đợi chuyến tàu

a. Xây dựng những tương quan đối lập

*) Đối lập giữa hoạt động, âm thanh của đoàn tàu và sự yên tĩnh nơi phố huyện

          + Hoạt động, âm thanh của đoàn tàu :

– Tiếng còi xe lửa từ xa vang lại trong đêm khuya kéo dài ra theo gió xa xôi ; Tiếng còi đã rít lên, tàu rầm rộ đi tới

– Tiếng dồn dập, tiếng xe rít mạnh vào ghi

– Tiếng hành khách ồn ào khe khẽ

Đó là những hoạt động, âm thanh vang động, mạnh mẽ, riết róng, hối hả. Đây là đoàn tàu của âm thanh và của niềm vui.

          + Sự yên tĩnh nơi phố huyện :

 Người vắng mãi

 Hàng cơm đóng cửa im lặng như ngoài phố

 Ngoài kia đồng ruộng mênh mang và yên lặng

 Liên ngập vào giấc ngủ yên tĩnh, cũng yên tĩnh như đêm ở trong phố, tịch mịch.

– Có miêu tả âm thanh : Trống cầm canh đánh tung lên một tiếng ngắn khô khan không vang động ra xa, rồi chìm ngay vào bóng tối ; tiếng chó cắn ; hoa bàng rụng xuống vai Liên khe khẽ thỉnh thoảng từng loạt một… nhưng tất cả đều rất ngắn, nhỏ, càng tô đậm sự yên tĩnh.

Âm thanh, hoạt động của đoàn tàu đối lập với sự yên tĩnh nơi phố huyện. Nó như phá tan sự yên tĩnh trong giây lát.

*) Đối lập giữa ánh sáng của đoàn tàu và bóng tối nơi phố huyện

          + Ánh sáng của đoàn tàu :

                   – Ngọn lửa xanh biếc sát mặt đất như ma chơi

                   – Một làn khói bừng sáng trắng lên đằng xa

                   – Các toa đèn sáng trưng chiếu ánh cả xuống đường

                   – Những đốm than đỏ bay tung trên đường sắt

                   – Cái chấm nhỏ của chiếc đèn xanh treo trên toa sau cùng

Ánh sáng rực rỡ của đoàn tàu làm cả phố huyện như bừng lên, náo nức. Đây là đoàn tàu ánh sáng.

          + Bóng tối nơi phố huyện :

– Hàng cơm đóng cửa tối đen như ngoài phố

– Đêm tối vẫn bao bọc chung quanh, đêm của đất quê

– Trong một đoạn văn ngắn mà rất nhiều bóng tối, tối đen, đêm tối, đêm tối, đêm, bóng tối, đêm khuya, đêm tối, đêm, đầy bóng tối.

– Thiên truyện bắt đầu vào lúc hoàng hôn, khi bóng tối bắt đầu xâm nhập phố huyện và kết thúc vào lúc 9 giờ đêm, khi bóng tối đã bao trùm, làm chủ. Đặc biệt câu văn cuối cùng Liên ngập vào giấc ngủ yên tĩnh, cũng yên tĩnh như đêm ở trong phố, tịch mịch và đầy bóng tối.

– Có miêu tả ánh sáng, ánh sáng của tự nhiên : Ngàn sao vẫn lấp lánh, một con đom đóm bám vào dưới mặt lá vùng sáng nhỏ xanh nhấp nháy, sao trên trời vẫn lấp lánh ; ánh sáng của cuộc sống con người : hai ba đèn lồng lung lay các bóng dài, bóng đèn lồng với bóng người đi về, đèn ghi, Liên vặn nhỏ ngọn đèn… nhưng hoặc quá xa vời, hoặc quá yếu ớt, càng tô đậm bóng tối.

Ánh sáng của đoàn tàu đối lập với bóng tối dày đặc, bao trùm phố huyện. Nó như xua tan bóng tối trong giây lát.

*) Đối lập giữa sự sang trọng của đoàn tàu và sự nghèo nàn nơi phố huyện

          + Sự sang trọng của đoàn tàu : những toa hạng trên sang trọng lố nhố những người ngồi, đồng và kền lấp lánh, các cửa kính sáng. Đây là đoàn tàu của sự sang trọng.

          + Sự nghèo nàn nơi phố huyện :

– Chị Tí sửa soạn đồ đạc, đêm nay chỉ bán được cho hai, ba bác phu uống nước và hút thuốc lào, số tiền kiếm được rất ít ỏi.

– Bác Siêu gánh hàng đi vào trong làng, dọn ra rồi lại dọn vào, chẳng bán được cho ai.

– Vợ chồng bác xẩm ngủ gục trên manh chiếu rách, không hát vì không có khách nghe, chẳng xin được đồng nào.

– Chị em Liên chẳng bán thêm được cho ai…

Tất cả đều cho thấy một cuộc sống nghèo nàn, bán buôn ế ẩm, đơn điệu, tẻ nhạt.

Sự sang trọng của đoàn tàu đối lập với sự nghèo nàn nơi phố huyện. Nó như đẩy lùi sự nghèo nàn trong giây lát.

b. Thể hiện tấm lòng nhân đạo cao cả của nhà văn

+ Khơi gợi ở nhân vật những nhận thức sâu sắc, thấm thía :

– Nhận thức được đoàn tàu với những hoạt động, âm thanh mạnh, ánh sáng rực rỡ và sự sang trọng khác hẳn, đối lập, tương phản với hiện thực cuộc sống của phố huyện, của chị em Liên Con tàu như đã đem theo một chút thế giới khác đi qua. Thế giới ấy khác hẳn đối với Liên, khác hẳn cái vầng sáng ngọn đèn của chị Tý và ánh lửa của bác Siêu... (cách nói nhấn mạnh thế giới khác, thế giới ấy khác hẳn, khác hẳn).

– Ý thức được con tàu ánh sáng, hạnh phúc ấy chỉ là mơ ước vời xa Liên nhận thấy mình sống giữa bao nhiêu sự xa xôi.

– Ý thức được thực tại cuộc sống của mình vẫn chỉ như chiếc đèn con của chị Tý chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ. Hình ảnh trở đi, trở lại nhiều lần trong tác phẩm, trong tâm trí Liên như một thứ ám ảnh về hiện thực cuộc đời lắt lay và bế tắc.

+ Đánh thức khao khát ở nhân vật về một thế giới khác, cuộc sống khác tươi sáng, hạnh phúc : Liên lặng theo mơ tưởng. Hà Nội xa xăm. Hà Nội sáng rực, vui vẻ và huyên náo. Đó là thế giới của ánh sáng, niềm vui, hạnh phúc đối lập với thế giới nghèo nàn, yên tĩnh và đầy bóng tối nơi phố huyện. Do đó càng mơ tưởng, khao khát thoát khỏi thế giới này để vươn tới thế giới kia.

+ Nhà văn khát khao đổi thay số phận cho con người (đoàn tàu vừa là hình ảnh thực, vừa là hình ảnh mơ ước, trở thành biểu tượng của ánh sáng và hạnh phúc, là khao khát đổi thay số phận cho những cảnh đời – bóng tối) nhưng cuối cùng cũng đành bất lực (Nhưng Liên không nghĩ được lâu, mắt chị nặng dần, rồi sau Liên ngập vào giấc ngủ yên tĩnh, cũng yên tĩnh như đêm ở trong phố, tịch mịch và đầy bóng tối).

c. Thể hiện quan niệm của nhà văn : Con người, dù trong bất kì hoàn cảnh khốn khổ nào, cũng không bao giờ mất niềm tin, niềm hi vọng Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hàng ngày của họ.

* Đánh giá khái quát

– Khẳng định lại đối lập là một thủ pháp nghệ thuật đặc trưng của văn học lãng mạn. Thủ pháp đó đã được thể hiện rõ nét qua hai đoạn văn.

– Sự vận dụng triệt để thủ pháp đối lập ở hai nhà văn đã tạo nên những trang văn hay và đẹp, góp phần làm phong phú thêm dòng văn học lãng mạn VN .

 

 

 

Xem thêm :

 

Đề kiểm tra học kì 1 môn Ngữ văn lớp 11

 ĐỀ THI KẾT THÚC HỌC KỲ I MÔN: NGỮ VĂN 11 

Đề đọc hiểu về bài ca dao, Phân tích cảnh cho chữ trong Chữ người tử tù Nguyễn Tuân, phân tích cảnh đợi tàu trong hai đứa trẻ- Thạch Lam

THỜI GIAN: 90 phút

Họ và tên:…………………………………..                                    (Đề A)

Số báo danh:…………………………………………

 

Câu 1 ( 3 điểm )

Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ sau:

Bây giờ mận mới hỏi đào

Vườn hồng đã có ai vào hay chưa

Mận hỏi thì đào xin thưa

Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào

Câu 2 ( 7 điểm ) Trình bày cảm nhận của em về cảnh cho chữ – một “ cảnh tượng xưa nay chưa từng có ” trong tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân.

———————- Hết————————–                                               

HƯỚNG DẪN CHẤM

Đề A

 Câu                                         Nội dung Điểm
   1 – Biện pháp nghệ thuật: ẩn dụ

– Hình ảnh ẩn dụ: mận, đào, vườn hồng

Tác dụng: Thể hiện sự kín đáo, tế nhị trong tình yêu

   1

2

   2 – Giới thiệu tác giả Nguyễn Tuân, tác phẩm Chữ người tử tù, cảnh cho chữ.

– Cảm nhận cảnh cho chữ – một “ cảnh tượng xưa nay chưa từng có ” ( Kết hợp thao tác phân tích và bình luận ) :

+ Giới thiệu sơ qua bối cảnh cho chữ: thời gian, không gian, người cho chữ, người nhận chữ…

+ Việc cho chữ vốn là việc thanh cao, ở đây sáng tạo nghệ thuật lại diễn ra vào lúc đêm khuya, trong nhà ngục tối tăm chật hẹp, ẩm ướt, cái đẹp được sáng tạo giữa chốn hôi hám, nhơ bẩn ; thiên lương cao cả lại tỏa sáng ở một nơi mà bóng tối và cái ác đang ngự trị. ( Dẫn chứng )

+ Người nghệ sĩ tài hoa say mê viết từng nét chữ là một tử tù nhưng uy nghi, ung dung đĩnh đạc, kẻ nắm giữ luật pháp (viên quản ngục) thì “ khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ ”, thầy thơ lại “ run run bưng chậu mực ”… (Dẫn chứng )

+ Trật tự, kỉ cương của nhà tù bị đảo ngược, có thay bậc đổi ngôi : tù nhân trở thành người ban phát cái đẹp, răn dạy ngục quan, còn ngục quan thì khúm núm, vái lạy tù nhân… (Dẫn chứng )

–  Đánh giá chung :

+ Nghệ thuật thể hiện : nghệ thuật đối lập của bút pháp lãng mạn được sử dụng triệt để, ngôn ngữ giàu chất tạo hình…

+ Cảnh cho chữ thể hiện chủ đề tác phẩm (sự chiến thắng của thiên lương, sự tôn vinh cái đẹp, cái thiện và nhân cách cao cả), thể hiện quan niệm về cái đẹp của nhà văn (cái đẹp phải đi cùng với cái thiện, với thiên lương … )

1.5

 

 

4.0

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1.5


ĐỀ THI KẾT THÚC HỌC KỲ I

MÔN: NGỮ VĂN 11

                                                                                                     THỜI GIAN: 90 phút

Họ và tên:…………………………………..                                    (Đề B)

Số báo danh:…………………………………………   

 

Câu 1 ( 3 điểm ).

Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ sau:

Thuyền về có nhớ bến chăng

                                      Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền

Câu 2 (7đ) Trình bày cảm nhận của em về cảnh đợi tàu của hai chị em Liên – An trong truyện ngắn Hai đứa trẻ (Thạch Lam).

 

———————- Hết————————–                                                      

HƯỚNG DẪN CHẤM

Đề B

Câu                                     Nội dung Điểm
  1

 

 

 

– Biện pháp tu từ: ẩn dụ

– Hình ảnh ẩn dụ: thuyền, bến

Tác dụng: bày tỏ nỗi nhớ, tình cảm thủy chung của người con gái một cách tế nhị

   1

2

 

 

  2 a. Giới thiệu tác giả Thạch Lam, tác phẩm Hai đứa trẻ, cảnh đợi tàu

b. Cảm nhận cảnh đợi tàu :

– Tâm trạng đợi tàu của hai đứa trẻ: háo hức, khắc khoải, chăm chú dõi theo, mơ tưởng về quá khứ, luyến tiếc …(dẫn chứng)

– Khung cảnh đoàn tàu : rực rỡ, sang trọng với tiếng hành khách ồn ào, các toa hạng sang đồng và kền lấp lánh…(dẫn chứng)

– Ý nghĩa biểu tượng chuyến tàu đêm :

+ Hình ảnh của một cuộc sống khác, đối lập với cuộc sống buồn tẻ, nghèo nàn, tối tăm nơi phố huyện…(dẫn chứng)

+ Chuyến tàu chở đầy kí ức tuổi thơ của hai chị em Liên và An (dẫn chứng)

+ Chuyến tàu của niềm hi vọng (dẫn chứng)

c.  Đánh giá chung

– Nghệ thuật thể hiện : khung cảnh đoàn tàu được miêu tả tỉ mỉ với âm thanh, ánh sáng, từ xa đến gần, theo trình tự thời gian; tâm trạng nhân vật được thể hiện tinh tế, giọng văn nhẹ nhàng, sâu lắng ….

– Cảnh đợi tàu thể hiện cái nhìn xót thương, đồng cảm của nhà văn trước cuộc sống tẻ nhạt nơi phố huyện ; sự trân trọng khát vọng muốn được thay đổi cuộc sống của nhân vật.

  1.5

 

4

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1.5

Xem thêm:

 

Giáo án Ngữ văn 11 theo chủ đề :Đọc hiểu truyện hiện đại Việt Nam

Giáo án Ngữ văn 11 

CHỦ ĐỀ :ĐỌC- HIỂU TRUYỆN HIỆN ĐẠI VIỆT NAM

CHUẨN KIẾN THỨC, KỸ NĂNG

– Hiểu được những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm, đoạn trích trong chủ đề.

– Hiểu được một số đặc điểm cơ bản của truyện Việt Nam giai đoạn 1900 – 1945

– Bước đầu nhận biết sự giống nhau và khác nhau giữa truyện trung đại và hiện đại trên một số phương điện như đề tài, thể loại, ngôn ngữ, nhân vật, trần thuật…

– Biết cách đọc – hiểu một văn bản truyện hiện đại.

– Vận dụng được những hiểu biết về truyện hiện đại Việt Nam giai đoạn 1900 – 1945 vào đọc hiểu những văn bản tương tự ngoài chương trình SGK.

Từ đó HS có thể hình thành những năng lực sau:

– Năng lực thu thập thông tin liên quan đến văn bản.

– Năng lực giải quyết những tình huống đặt ra trong văn bản

– Năng lực đọc – hiểu truyện hiện đại Việt Nam theo đặc trưng thể loại.

– Năng lực trình bày suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về ý nghĩa của văn bản.

– Năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận về nội dung, nghệ thuật của văn bản.

 

  BẢNG MÔ TẢ CÁC MỨC ĐỘ ĐÁNH GIÁ CHỦ ĐỀ “ĐỌC HIỂU  TRUYỆN HIỆN ĐẠI VIỆT NAM ”

 

NHẬN BIẾT THÔNG HIỂU VẬN DỤNG
VẬN DỤNG THẤP VẬN DỤNG CAO
– Nêu thông tin về tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác, thể loại… – Lý giải được mối quan hệ, ảnh hưởng của hoàn cảnh sáng tác với việc xây dựng cốt truyện và thể hiện nội dung tư tưởng của tác phẩm – Vận dụng hiểu biết về tác giả, tác phẩm để phân tích, lí giải giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm – So sánh các phương diện của tác phẩm về nội dung và nghệ thuật với các tác phẩm có cùng đề tài hoặc cùng thể loại, cùng phong cách của tác giả
– Nhận diện được ngôi kể, trình tự kể – Hiểu được ảnh hưởng của giọng kể đối với việc thể hiện nội dung tư tưởng của tác phẩm – Khái quát đặc điểm, phong cách của tác giả từ tác phẩm cụ thể – Trình bày những kiến giải riêng, phát hiện sáng tạo về văn bản.

 

– Nắm được cốt truyện, nhận ra đề tài, cảm hứng chủ đạo – Lý giải được sự phát triển và mối quan hệ của các sự kiện – Chỉ ra được các biểu hiện và khái quát các đặc điểm của thể loại từ tác phẩm cụ thể – Biết tự đọc và khám phá chiều sâu giá trị của tác phẩm mới cùng thể loại hoặc cùng phong cách nghệ thuật.
– Nhận diện hệ thống nhân vật (xác định được nhân vật trung tâm, nhân vật chính, nhân vật phụ…) – Giải thích, phân tích đặc điểm về bình diện xã hội, tính cách, số phận nhân vật. Từ đó khái quát chung về nhân vật – Trình bày cảm nhận chung về tác phẩm – Vận dụng tri thức đọc hiểu văn bản để kiến tạo những giá trị sống của cá nhân (yêu cuộc sống, trân trọng cái đẹp, cái thiện sống có ý nghĩa,…)
– Phát hiện và nêu được tình huống truyện. – Phân tích được ý nghĩa của tình huống truyện – Thuyết trình về tác phẩm, làm nổi bật những giá trị đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. – Chuyển thể văn bản (vẽ tranh, đóng kịch…)

– Nghiên cứu khoa học, dự án.

– Chỉ ra được các chi tiết nghệ thuật đặc sắc của mỗi tác phẩm, đoạn trích và các đặc điểm nghệ thuật của thể loại truyện – Lý giải được ý nghĩa và tác dụng của các từ ngữ, hình ảnh, câu văn, chi tiết nghệ thuật và biện pháp tu từ

 

Câu hỏi định tính và định lượng

– Trắc nghiệm khách quan về tác giả, tác phẩm, đặc điểm thể loại, chi tiết nghệ thuật,…

– Câu tự luận trả lời ngắn (lý giải về ý nghĩa nhan đề tác phẩm, ý nghĩa một chi tiết trong tác phẩm …)

– Bài nghị luận (trình bày suy nghĩ, cảm nhận về tác phẩm, về nhân vật trong tác phẩm, trình bày những kiến giải riêng về cách hiểu một chi tiết trong tác phẩm …)

– Phiếu quan sát làm việc nhóm (trao đổi, thảo luận về giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm: chú ý đến những chi tiết đặc sắc, tâm lí của nhân vật trong tình huống cụ thể …)

Bài tập thực hành

– Hồ sơ của học sinh: tập hợp các sản phẩm thực hành (tranh ảnh thuyết minh về tác giả, tác phẩm, tư liệu ngoài sgk về tác giả, tác phẩm, đặc trưng thể loại, phong cách nghệ thuật)

– Bài tập dự án (So sánh về phong cách nghệ thuật của các tác giả trong cùng giai đoạn, so sánh về đặc trưng thể loại trong giai đoạn ở những tác giả khác nhau …)

– Trình bày miệng (thuyết trình, đọc diễn cảm, kể sáng tạo, đóng vai kể lại truyện, trao đổi, thảo luận về những vấn đề trong tác phẩm và liên quan đến tác phẩm)

 

Câu hỏi/ Bài tập minh họa

Văn bản : HAI ĐỨA TRẺ

                       (Thạch Lam)

 

Nhận biêt Thông hiểu Vận dụng
Thấp Cao
1.  Nêu hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ của tác phẩm.

2. Xác định hình thức kết cấu truyện trong văn bản.

3. Xác định kiểu cốt truyện trong văn bản.

4. Xác định chủ đề của tác phẩm.

5. Liệt kê các chi tiết miêu tả nội tâm nhân vât trong tác phẩm .

6. Nhận biết được bút pháp nghệ thuật mà tác giả sử dụng.

1. Giải thích về nhan đề Hai đứa trẻ.

2. Cảm nhận về các đoạn văn tiêu biểu trong truyện.

3. Cảm nhận một chi tiết, hình ảnh mà anh chị thích nhất (Chẳng hạn: Chi tiết đợi tàu,…)

4. Xác địnhc các biện pháp tu từ có trong tác phẩm và tác dụng của nó.

5. Hiểu được những nội dung chính trong tác phẩm.

1. Làm sáng tỏ nghệ thuật ngôn ngữ tác giả trong tác phẩm tác phẩm.

2. Làm rõ bút pháp trữ tình trong tác phẩm.

3. Qua tác phẩm, đối chiếu với những nhận định về tác giả Thạch Lam (phong cách nghệ thuật độc đáo, hành văn nhẹ nhàng sâu kín, phản ánh tâm hồn tác giả…) và đặc sắc của loại truyện này (Loại truyện như không có cốt truyện…).

1. So sánh truyện Hai đứa trẻ với những tác phẩm hiện thực và lãng mạn cùng thời để thấy được những nét chung và riêng.

2. Làm rõ gía trị cuộc sống /những bài học đạo lý rút ra được từ tác phẩm (yêu cuộc sống, thiên nhiên , quê hương đất nước, sống có ý nghĩa,…)

 

MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA:

 

       Mức độ

 

Chủ đề

Nhận biết Thông hiểu Vận dụng Tổng số
Thấp Cao
I. Đọc – hiểu: Tác phẩm “Hai đứa trẻ ” (Thạch Lam)

 

Nhận biết sự việc, thời gian, địa điểm, và hình thức nghệ thuật, trong một đoạn văn cho trước của tác phẩm.

 

– Hiểu được những nét chính về nội dung và nghệ thuật trong một đoạn văn cho trước của tác phẩm.

 

Vận dụng hiểu biết về tác giả (Cuộc đờì, con người), hoàn cảnh ra đời tác  phẩm để lí giải ý nghĩa của một chi tiết nghệ thuật.
Số câu

Số điểm

Tỷ lệ

2

1,0

10%

2

2,0

20%

1

1,0

10%

5

4,0

40%

2. Làm văn

NLVH

– Vận dụng đặc điểm phong cách nghệ thuật nhà văn vào hoạt động tiếp cận và đọc hiểu văn bản

– Liên hệ thực tế xã hội và rút ra bài học

Số câu

Số điểm

Tỷ lệ

1

6,0

60%

1

6,0

60%

Tổng chung:

Số câu

Số điểm

Tỷ lệ

 

2

1,0

10%

 

2

2,0

20%

 

1

1,0

10%

 

1

6,0

60%

 

6

10

100%

 

ĐỀ KIỂM TRA

Thời gian làm bài: 90 phút

 

Phần I. Đọc – hiểu (4,0 điểm):

Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:

…” Chợ họp giữa phố vãn từ lâu. Người về hết và tiếng ồn ào cũng mất. Trên đất chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và lá mía. Một mùi âm ẩm bốc lên, hơi nóng của ban ngày lẫn với mùi cát bụi quen thuộc quá, khiến chị em Liên tưởng là mùi riêng của đất, của quê hương này. Một vài người bán hàng về muộn đang thu xếp hàng hoá, đòn gánh đã xỏ sẵn vào quang rồi, họ còn đứng nói chuyện với nhau ít câu nữa.

Mấy đứa trẻ con nhà nghèo ở ven chợ cúi lom khom trên mặt đất đi lại tìm tòi. Chúng nhặt nhạnh thanh nứa, thanh tre hay bất cứ cái gì đó có thể dùng được của các người bán hàng để lại, Liên trông thấy động lòng thương nhưng chính chị cũng không có tiền để mà cho chúng nó “….

Câu 1: (0.5 điểm) Đoạn văn trên trích ra từ văn bản nào? Tác giả là ai?

Câu 2:(0.5 điểm) Nêu bút pháp nghệ thuật chủ yếu mà tác giả đã sử dụng trong đoạn trích?

Câu 3: (1 điểm) Nêu nội dung chủ yếu của đoạn văn trên? Em có cảm nhận gì về đời sống nơi đây?

Câu 4: (1điểm) Nhân vật trữ tình trong đoạn tríach trên có tâm trạng gì? Em hiểu gì về tấm lòng nhà văn?

 Câu 5: (1điểm) Đóng góp của tác giả cho nền văn học Việt Nam giai đoạn trước cách mạng tháng 8/1945? Qua đoạn trích trong tác phẩm em rút ra được bài học gì cho bản thân?

Phần II. Làm văn 6,0 điểm):        

Phân tích cảnh đợi tàu và diễn biến tâm trạng của hai chị em Liên và An trong tác phẩm Hai đứa trẻ (Thạch Lam)?

HƯỚNG DẪN CHẤM

Câu Nội dung Điểm
I.

Đọc hiểu

a. Yêu cầu về kĩ năng:

– Học sinh có kĩ năng đọc hiểu văn bản.

– Diễn đạt rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.

b. Yêu cầu về kiến thức:

1 Đoạn văn bản trên thuộc truyện ngắn ” Hai đứa trẻ” rút ra từ tập

” Nắng trong vườn” của nhà văn Thạch Lam.

0,5
2 Giọng điệu câu văn chậm rãi, êm dịu, giàu hình ảnh, nhạc điệu lại vừa uyển chuyển, tinh tế. 0,5
3  – Miêu tả về cuộc sống con người nơi phố huyện nghèo:

+ Cảnh chợ tàn: Người về hết, tiếng ồn ào cũng mất, chỉ còn lại những rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị.

+ Con người: Mấy đứa trẻ con nhà nghèo đang tìm tòi, nhặt nhạnh những thứ còn sót lại ở chợ.

– Gợi lên sự tàn lụi, nghèo đói, khó khăn, tiêu điều đến thảm hại của phố huyện.

0,5

 

 

 

 

0,5

4 – Tâm trạng của Liên:

+ Buồn man mác.

+ Cảm nhận được mùi riêng của đất, của quê hương này.

+ Động lòng thương bọn trẻ con nhà nghèo.

– Tấm lòng của nhà văn: yêu mến quê hương đất nước và xót thương cho những kiếp người nghèo khổ.

0,5

 

 

 

0,5

5 – Thể hiện đặc trưng phong cách nghệ thuật của tác giả Thạch Lam, đóng góp cho nền văn học Việt Nam kiểu truyện như không có cốt truyện.

– Mỗi chúng ta cần có ý thức xây dựng một cuộc sống có ý nghĩa, tươi sáng cho bản thân và những người xung quanh.

1
II

Làm văn

a. Yêu cầu về kĩ năng:

– Học sinh biết cách làm bài nghị luận văn học kết hợp với nghị luận xã hội.

– Vận dụng tốt các thao tác lập luận.

– Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.

– Khuyến khích những bài viết sáng tạo.

b. Yêu cầu về kiến thức:

– Giới thiệu khái quát về tác giả Thạch Lam, tác phẩm Hai đứa trẻ,hai chị em Liên và An, cảnh đợi tàu. 1,0
– Lí do đợi tàu của chị em Liên và mọi người nơi phố huyện:

+ Là để được nhìn thấy sự náo nhiệt cuối cùng của đêm khuya, và với một số người còn là để bán được chút hàng.

+ Đối với chị em Liên: Đoàn tàu có một ý nghĩa đặc biệt. Nó mang tới niềm hi vọng, tưởng nhớ về Hà Nội đầy ánh sáng và sang trọng mà tuổi thơ hai chị em đã trải qua.

+ Con tàu là cả một thế giới khác hẳn, đồng và kền sáng lấp lánh, sang trọng…đối lập hoàn toàn với ngọn đèn con của chị Tí và bóng đêm đen kịt nơi này.

 

0,5

 

0,5

 

 

0.5

– Cảnh đợi tàu:

+ Được miêu tả kĩ lưỡng, tỉ mỉ, cụ thể theo trình tự thời gian, theo diễn biến tâm trạng của hai chị em: Sự xuất hiện của người gác ghi, ngọn lửa xanh biếc, tiếng còi kéo dài trong gió, tiếng dồn dập của bánh xe xiết mạnh vào đường ray, làn khối bằng sáng, tiếng hành khách ồn ào, cảnh tàu qua, những đốm than đỏ bay tung, chiếc đèn xanh treo ở đầu toa cuối khuất dần sau rặng tre.

+ Phố huyện ồn ào, sáng bừng trong chốc lát rồi lại trở lại chìm sâu trong bóng đêm yên tĩnh. Phố huyện chấm dứt hoạt động cuối cùng để chìm dần vào giấc ngủ sau một ngày vất vả và lam lũ.

1

 

 

 

 

 

 

0,5

– Qua cảnh này, Thạch Lam một lần nữa thể hiện niềm trân trọng, thương xót đối với những kiếp người nghèo nhỏ bé, tăm tối, mỏi mòn, buồn chán nơi phố huyện, ga xép ở xứ thuộc địa Bắc Kì một thuở.

– Mặt khác, phải chăng nhà văn còn muốn lay tỉnh những con người đang sống quẩn quanh, lam lũ, buồn chán hãy cố vươn ra ánh sáng, không chấp nhận cái ao đời bằng phẳng, nhạt nhẽo, vô vị, tù túng để hướng tới cuộc sống có ý nghĩa xứng đáng với cuộc sống con người.

0,5

 

 

 

0,5

– Thể hiện một cách nhẹ nhàng khát vọng hướng tới cuộc sống tốt đẹp, tươi sáng của những con người bé nhỏ, nghèo khổ, bình thường, là giá trị nhân bản của tác phẩm này.

– Liên hệ: Tình yêu thiên nhiên, quê hương đất nước.

1

 

………..Hết………….

(Tài liệu sưu tầm )

Xem thêm :

  1. Trọn bộ giáo án Ngữ văn khối 10
  2. Các chuyên đề môn Văn
  3. Tổng hợp tài liệu , đề thi, bài văn hay  về truyện ngắn Hai đứa trẻ Ngữ văn 11: Hai đứa trẻ 

Giáo án môn văn theo chủ đề: Chủ nghĩa nhân đạo trong Chí Phèo và Hai Đứa Trẻ

Giáo án môn văn theo chủ đề: Chủ nghĩa nhân đạo trong Chí Phèo và Hai Đứa Trẻ

Ngày soạn: 20/10/2016     Môn: Đọc văn

Tiết PPCT: 37 – 40            

CH ĐỀ TÍCH HP: CHỦ NGHĨA NHÂN ĐẠO TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM 1930 – 1945 QUA HAI TÁC PHẨM: HAI ĐỨA TRẺ; CHÍ PHÈO

ĐI TƯỢNG DY HC:         Học sinh lớp 11A2, 11A9 – Ninh Hải

THI LƯỢNG DY HC:        4 tiết

 

I/ GIỚI THIỆU CHUNG

Tên chủ đề: CHỦ NGHĨA NHÂN ĐẠO TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM 1930 – 1945 QUA HAI TÁC PHẨM: HAI ĐỨA TRẺ; CHÍ PHÈO

Nội dung chương trình các môn học được tích hợp trong chủ đề:

Cơ sở xây dựng chủ đề:

+ Ngữ văn 11:     –        Hai đứa trẻ – Thạch Lam

–        Chí Phèo – Nam Cao

– Thời lượng: 4 tiết

– Thời điểm thực hiện chủ đề: Tuần 10  – lớp 11 A2, 11A9

Nội dung chủ đề:

Bao gồm các nội dung:

+ Cuộc đời, sự nghiệp, phong cách nghệ thuật, quan điểm sáng tác của Thạch Lam, Nam Cao.

+ Bức tranh phố huyện với cảnh ngày tàn, chợ tàn, những kiếp người tàn qua cảm nhận của hai đứa trẻ.

+ Hình tượng nhân vật Chí Phèo. Liên hệ với số phận người nông dân trước CMT8 năm 1945.

+ Những đóng góp mới của ngòi bút Thạch Lam, Nam Cao cho tư tưởng nhân đạo trong văn học Việt Nam 1930 – 1945.

c/ Ý nghĩa xây dựng chủ đề:

– Có sự xâu chuỗi về kiến thức và kĩ năng.

– Tránh sự trùng lặp về nội dung, giảm được thời gian giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh.

– Phát huy năng lực tự học trải nghiệm sáng tạo cho học sinh.

– Đổi mới phương pháp dạy học.

  1. Mục tiêu của chủ đề:

Sau khi học xong chủ đề, học sinh cần:

a/ Về kiến thức:

– Tình yêu thương con người của hai nhà văn thông qua những kiếp người nhỏ nhoi, quẩn quanh, bế tắc; bị sự tuyệt quyền sống, quyền làm người. Đổng thời là sự trân trọng vẻ đẹp trong tâm hồn và khát vọng của họ về một cuộc sống tươi sáng.
– Nắm được những giá trị nghệ thuật đặc sắc trong văn phong của mỗi nhà văn.

b/ Về kĩ năng:

– Đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại.

– Đọc sáng tạo.

– Tóm tắt tác phẩm tự sự.

– Kĩ năng phân tích nhân vật trong tác phẩm tự sự.

– Kĩ năng xâu chuỗi, phân tích, đánh giá các sự kiện, các tình huống.

– Kĩ năng tạo lập văn bản.

– Kĩ năng trình bày một vấn đề.

– Kĩ năng nắm bắt thông tin ngoài văn bản tác phẩm văn học.

c/ Thái độ:

Giáo dục HS biết cảm thông, yêu thương những con người nghèo khổ. Biết đồng cảm và giúp đỡ những con người bất hạnh trong cuộc sống.

– Giáo dục HS có cách sống đúng đắn, phù hợp với xã hội; sống phải có lí tưởng và có sự đồng cảm với thân phận con người.

d/ Các năng lực chính hướng tới:

– Năng lực chung: năng lực giao tiếp, hợp tác; năng lực tự học; năng lực giải quyết vấn đề; năng lực đọc hiểu; năng lực kết nối thông tin; năng lực giao tiếp, ứng xử; năng lực quản lí bản thân.

– Năng lực đặc thù bộ môn: năng lực giao tiếp bằng tiếng Việt: tiếp nhận văn bản và tạo lập văn bản; năng lực thẩm mỹ; năng lực trải nghiệm, thực hành, thuyết trình.

3/ Sản phẩm cuối cùng:

– Bài thuyết trình về:

+ Cuộc đời, sự nghiệp, phong cách nghệ thuật, quan điểm sáng tác của nhà văn Thạch Lam, Nam Cao.

+ Bức tranh phố huyện với cảnh ngày tàn, chợ tàn, những kiếp người tàn qua cảm nhận của hai đứa trẻ.

+ Hình tượng nhân vật Chí Phèo. Liên hệ với số phận người nông dân trước CMT8 năm 1945.

+ Những đóng góp mới của ngòi bút Thạch Lam, Nam Cao cho tư tưởng nhân đạo trong văn học Việt Nam 1930 – 1945.

4/ Phương pháp dạy học:

– Kết hợp các phương pháp dạy học tích hợp: thảo luận nhóm, nêu vấn đề, tranh luận, đàm thoại;

– Dạy học theo dự án

– Xem tranh ảnh, băng hình.

– Thuyết trình, đóng kịch

II/ BẢNG MÔ TẢ CÁC MỨC ĐỘ NHẬN THỨC VÀ ĐỊNH HƯỚNG NĂNG LỰC CHÍNH ĐƯỢC HÌNH THÀNH THÔNG QUA CHỦ ĐỀ

1/ Bảng mô tả

Nội dung Nhận biết Thông hiểu Vận dụng
Vận dụng thấp Vận dụng cao
 

 

 

 

CHỦ NGHĨA NHÂN ĐẠO TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM 1930 – 1945 QUA HAI TÁC PHẨM: HAI ĐỨA TRẺ; CHÍ PHÈO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nêu thông tin về tác giả (cuộc đời, con người, phong cách nghệ thuật, quan điểm sáng tác); về tác phẩm (xuất xứ, hoàn cảnh ra đời, thể loại). Giải thích được những tác động của hoàn cảnh sáng tác đến việc xây dựng cốt truyện, kết thúc truyện và thể hiện cái nhìn về nhân vật. Vận dụng hiểu biết về tác giả (cuộc đời, con người), hoàn cảnh ra đời của tác phẩm để lý giải nội dung, nghệ thuật của tác phẩm. So sánh các phương diện nội dung, nghệ thuật giữa các tác phẩm cùng đề tài hoặc thể loại; phong cách tác giả.
Nắm được cốt truyện, nhận ra đề tài, chủ đề, cảm hứng chủ đạo của tác phẩm; nắm được các tình huống đặc sắc. Hiểu được cội nguồn nảy sinh cảm hứng ; lí giải được các tình huống, các sự kiện. Vận dụng hiểu biết về đề tài, cảm hứng, tình huống, các sự kiện để chỉ ra các biểu hiện của chủ nghĩa nhân đạo. Từ đề tài, chủ đề, cốt truyện, cảm hứng, thể loại… tự xác định con đường phân tích một văn bản mới cùng đề tài, thể loại.
Nêu được ý nghĩa của truyện; xác định được nhân vật trung tâm. Giải thích, phân tích được đặc điểm của các nhân vật. Ấn tượng sâu đậm về các nhân vật. Biết cách tự nhận diện, phân tích và đánh giá hình tượng nhân vật trong những tác phẩm khác cùng cùng đề tài, thể loại.
Phát hiện các chi tiết, biện pháp nghệ thuật đặc sắc Lý giải ý nghĩa và tác dụng của các chi tiết nghệ thuật.  Đánh giá giá trị nghệ thuật của tác phẩm Biết bình luận, đánh giá đúng đắn các chi tiết nghệ thuật đặc sắc của truyện.
Chỉ ra được các giá trị của truyện Phân tích các giá trị của truyện. Khái quát giá trị, đóng góp của tác phẩm đối với sự đổi mới thể loại, nghệ thuật truyện ngắn, chủ ngĩa nhân đạo trong văn xuôi Việt Nam 1930 1945; tự phát hiện và đánh giá giá trị nghệ thuật của tác phẩm tương tự không có trong chương trình.

2/ Câu hỏi và bài tập:

– Trình bày những hiểu biết của em về cuộc đời, sự nghiệp, phong cách nghệ thuật, quan điểm sáng tác của các nhà văn: Thạch Lam, Nam Cao?

+ Bức tranh phố huyện với cảnh ngày tàn, chợ tàn, những kiếp người tàn qua cảm nhận của hai đứa trẻ?

+ Hình tượng nhân vật Chí Phèo? Liên hệ với số phận người nông dân trước CMT8 năm 1945?

+ Những đóng góp mới của ngòi bút Thạch Lam, Nam Cao cho tư tưởng nhân đạo trong văn học Việt Nam 1930 – 1945?

III/ THIẾT KẾ KẾ HOẠCH DẠY HỌC

1. Chuẩn bị của giáo viên và học sinh

1.1.Chuẩn bị của giáo viên:

– Máy tính, máy chiếu

– Tranh ảnh về các nội dung, vấn đề liên quan đến Thạch Lam, Nam Cao.

– Các tư liệu có liên quan

– Phấn, bảng, bút, nháp, giáo án word, giáo án điện tử; một số hình ảnh và video clip sưu tầm được.

– Bản kế hoạch phân công, tổ chức nhiệm vụ cho học sinh.

– Các tài liệu, website cần thiết giới thiệu cho học sinh.

– Giấy A0, bút dạ, phiếu học tập…. để học sinh thảo luận nhóm.

– Trong khi thực hiện bài học:

+ Phiếu học tập định hướng.

+ Biên bản làm việc nhóm.

+ Phiếu đánh giá cá nhân trong hoạt động nhóm.

+ Phiếu đánh giá cá nhân trong hoạt động định hướng.

+ Phiếu đánh giá báo cáo.

– Kết thúc bài học: Báo cáo tổng kết.

1.2. Chuẩn bị của học sinh

– Giấy A0, bút màu, thước kẻ….

– Sưu tầm các tranh ảnh, tư liệu có liên quan đến nội dung đến bài học

– Chuẩn bị tài liệu báo cáo theo các nhóm

– Các ấn phẩm do học sinh tự thiết kế.

2. Hoạt động học tập

Dự án được thực hiện trong 1 tuần (8 tiết)

HOẠT ĐỘNG 1: KHỞI ĐỘNG  VÀ GIAO NHIỆM VỤ

 (1). Mục tiêu:

Xây dựng được các chủ đề cần tìm hiểu;

Thành lập được các nhóm theo sở thích;

Phổ biến nhiệm vụ cho các nhóm;

  Rèn luyện kĩ năng làm việc nhóm.

 (2).  Thời gian: tuần 10: tiết 1

(3). Cách thức tổ chức hoạt động:

Bước 1: Giáo viên và học sinh cùng thảo luận để xác định các nội dung chính của đề tài:

– Nội dung 1:  Nêu vài nét về cuộc đời, sự nghiệp, phong cách nghệ thuật, quan điểm sáng tác của các nhà   văn: Thạch Lam, Nam Cao?

– Nội dung 2: Bức tranh phố huyện với cảnh ngày tàn, chợ tàn, những kiếp người tàn qua cảm nhận của hai đứa trẻ?

– Nội dung 3: Hình tượng nhân vật Chí Phèo? Liên hệ với số phận người nông dân trước CMT8 năm 1945?

– Nội dung 4: Những đóng góp mới của ngòi bút Thạch Lam, Nam Cao cho tư tưởng nhân đạo trong văn học Việt Nam 1930 – 1945?

Bước 2: Thành lập nhóm

GV Phát phiếu thăm dò sở thích nhóm (Phụ lục I).

GV Công bố kết quả sắp xếp nhóm theo sở thích.

– Các nhóm bàn bạc bầu nhóm trưởng, thư kí

Bước 3: GV giao nhiệm vụ cho từng nhóm, hướng dẫn lập kế hoạch nhóm

Nhóm Nội dung nhiệm vụ Điều chỉnh nhiệm vụ
I

 

Nêu vài nét về cuộc đời, sự nghiệp, phong cách nghệ thuật, quan điểm sáng tác của các nhà   văn: Thạch Lam, Nam Cao?
II

 

Bức tranh phố huyện với cảnh ngày tàn, chợ tàn, những kiếp người tàn qua cảm nhận của hai đứa trẻ?
III Hình tượng nhân vật Chí Phèo? Liên hệ với số phận người nông dân trước CMT8 năm 1945?
IV

 

Những đóng góp mới của ngòi bút Thạch Lam, Nam Cao cho tư tưởng nhân đạo trong văn học Việt Nam 1930 – 1945?

 (4). Sản phẩm:

– Thành lập được 04 nhóm học sinh, mỗi nhóm có 8 – 12 học sinh. Các nhóm đã bầu được các nhóm trưởng.

– Các nhóm đã nhận nhiệm vụ của nhóm mình và bước đầu xây dựng kế hoạch và phân công nhiệm vụ.

HOẠT ĐỘNG 2: XÂY DỰNG KẾ HOẠCH LÀM VIỆC TỪNG NHÓM

 (1). Mục tiêu:

– Các nhóm dưới sự hướng dẫn của giáo viên sẽ thảo luận về chủ đề được giao, xây dựng đề cương.

– Các nhóm xác định được những việc cần làm, thời gian dự kiến, phương pháp tiến hành.

– Các nhóm tự phân công tìm hiểu, nghiên cứu, sưu tầm tranh ảnh, tư liệu, video về các nội dung được phân công.

– Rèn luyện được kĩ năng làm việc nhóm.

– Góp phần hình thành kĩ năng thu thập thông tin, phỏng vấn, điều tra thực tế,…

– Kỹ năng trình bày vấn đề và viết báo cáo.

 (2). Thời gian: chuẩn bị ở nhà 1 tuần

 (3). Cách thức tổ chức hoạt động:

Bước 1:

GV định hướng cho học sinh và các nhóm trong quá trình xây dựng kế hoạch làm việc.

Bước 2:

Giải đáp thắc mắc cho HS. Giúp đỡ HS khi HS yêu cầu.

Bước 3:

– Các nhóm HS dựa trên phiếu định hướng hoạt động phân công nhiệm vụ, xây dựng kế hoạch sinh hoạt nhóm để hoàn thành nhiệm vụ.

– Nhóm trưởng tiếp nhận ý kiến đóng góp của các thành viên, hoàn thiện báo cáo của nhóm, chuẩn bị trình bày trước lớp vào tiết sau.

(4). Sản phẩm:

– Bài thuyết trình và Clip về cuộc đời, sự nghiệp, phong cách nghệ thuật, quan điểm sáng tác của các nhà   văn: Thạch Lam, Nam Cao.

– Bài thuyết trình và Clip về bức tranh phố huyện với cảnh ngày tàn, chợ tàn, những kiếp người tàn qua cảm nhận của hai đứa trẻ?

– Bài thuyết trình và Clip về hình tượng nhân vật Chí Phèo. Liên hệ với số phận người nông dân trước CMT8 năm 1945.

– Bài thuyết trình về những đóng góp mới của ngòi bút Thạch Lam, Nam Cao cho tư tưởng nhân đạo trong văn học Việt Nam 1930 – 1945?

(5).  Các nhóm hoàn thành sản phẩm: chuyển đến tất cả các bạn trong lớp để đọc trước và chuẩn bị các câu hỏi

HOẠT ĐỘNG 3: HÌNH THÀNH KIẾN THỨC MỚI QUA CÁC BÁO CÁO CỦA CÁC NHÓM

(1). Mục tiêu: 

– Học sinh báo cáo được kết quả làm việc của các nhóm: trình bày báo cáo thông qua thuyết trình, thảo luận.

– Biết tự đánh giá sản phẩm của nhóm mình và đánh giá sản phẩm của các nhóm khác.

– Hình thành được kĩ năng: lắng nghe, thảo luận, nêu vấn đề và thương thuyết.

– Góp phần rèn luyện các kĩ năng bộ môn.

(2).  Thời gian:  tuần 10: tiết thứ 2, 3, 4

(3).  Thành phần tham dự:

– Tổ trưởng chuyên môn

– Giáo viên trong tổ chuyên môn và GVCN lớp tham gia dự án

– Học sinh lớp 11A2, 11A9

(4). Nhiệm vụ của học sinh

– Báo cáo các nội dung chủ đề theo sự phân công.

– Thảo luận và chuẩn bị các câu hỏi cho các nhóm khác.

– Tự đánh giá bài thu hoạch của nhóm mình và tham gia đánh giá sản phẩm của các nhóm khác.

(5). Nhiệm vụ của giáo viên

– Dẫn dắt vấn đề, tổ chức thảo luận

– Quan sát, đánh giá

– Hỗ trợ, cố vấn.

– Thu hồi các sản phẩm và các phiếu giao việc trong nhóm

– Nhận xét và đánh giá các sản phẩm của học sinh

  (6). Cách thức tổ chức hoạt động:

Bước 1:

GV phát cho HS và các đại biểu tham dự sản phẩm của các nhóm; phiếu đánh giá và tự đánh giá sản phẩm của các nhóm.

– Dẫn dắt vấn đề cho học sinh tiến hành báo cáo và thảo luận.

Bước 2. Các nhóm cử đại diện báo cáo các nội dung chủ đề theo sự phân công.

* Nhóm 1: Nêu vài nét về cuộc đời, sự nghiệp, phong cách nghệ thuật, quan điểm sáng tác của các nhà văn: Thạch Lam, Nam Cao?

(Hình thức báo cáo: Thuyết trình + Clip+ thảo luận; Sản phẩm: Bản báo cáo + Clip

(1) Đại diện nhóm trình bày bài thuyết trình

(2) HS các nhóm khác lắng nghe bài thuyết trình và ghi nhận thông tin.

(3) Sau khi nhóm I thuyết trình xong, GV yêu cầu các học sinh ở các nhóm khác phản biện lại xung quanh vấn đề: cuộc đời, sự nghiệp, phong cách nghệ thuật và quan niệm sáng tác.

(4) GV nhận xét, kết luận về bài thuyết trình của nhóm I

+ Nội dung

+ Hình thức

+ Cách trình bày và trả lời câu hỏi của các bạn nhóm khác.

 * Nhóm 2: Bức tranh phố huyện với cảnh ngày tàn, chợ tàn, những kiếp người tàn qua cảm nhận của hai đứa trẻ?

(Hình thức báo cáo: Thuyết trình + Clip + thảo luận; Sản phẩm: Bản báo cáo + Clip)

(1) Đại diện nhóm trình bày bài thuyết trình

(2) HS các nhóm khác lắng nghe bài thuyết trình và ghi nhận thông tin.

(3) Sau khi nhóm II thuyết trình xong, GV yêu cầu các học sinh ở các nhóm khác đưa ra các câu hỏi xoay quanh vấn đề: bức tranh phố huyện ở mỗi thời khắc trong tác phẩm và bức tranh phố huyện ngày hôm nay.

(4) GV nhận xét, kết luận về bài thuyết trình của nhóm II

+ Nội dung

+ Hình thức

+ Cách trình bày và trả lời câu hỏi của các bạn nhóm khác.

  * Nhóm 3: Hình tượng nhân vật Chí Phèo? Liên hệ với số phận người nông dân trước CMT8 năm 1945?

 (Hình thức báo cáo: Thuyết trình+ thảo luận; sản phẩm: Bài thuyết trình)

(1) Đại diện nhóm trình bày bài thuyết trình

(2) HS các nhóm khác lắng nghe bài thuyết trình và ghi nhận thông tin.

(3) Sau khi nhóm 3 thuyết trình xong, GV yêu cầu các học sinh ở các nhóm khác đưa ra các câu hỏi xoay quanh vấn đề về nhân vật Huấn Cao; nghệ thuật thư pháp của dân tộc.

(4) GV nhận xét, kết luận về bài thuyết trình của nhóm III

+ Nội dung

+ Hình thức

+ Cách trình bày và trả lời câu hỏi của các bạn nhóm khác.

  * Nhóm 4: Những đóng góp mới của ngòi bút Thạch Lam, Nam Cao cho tư tưởng nhân đạo trong văn học Việt Nam 1930 – 1945?

(Hình thức báo cáo: Thuyết trình + thảo luận; Sản phẩm: Bài thuyết trình và Clip)

(1) Đại diện nhóm trình bày bài thuyết trình

(2) HS các nhóm khác lắng nghe bài thuyết trình và ghi nhận thông tin.

(3) Sau khi nhóm 4 thuyết trình xong, GV yêu cầu các học sinh ở các nhóm khác đưa ra các câu hỏi

(4) GV nhận xét, kết luận về bài thuyết trình của nhóm 4

+ Nội dung

+ Hình thức

+ Cách trình bày và trả lời câu hỏi của các bạn nhóm khác.

HOẠT ĐỘNG 4: YÊU CẦU HỌC SINH VỀ TÌM ĐỌC THAM KHẢO VÀ NGHIÊN CỨU THÊM TÁC PHẨM “CHÍ PHÈO” CỦA NAM CAO

IV/ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ:

Kiểm tra học sinh bằng hình thức kiểm tra Tự luận – Viết bài tập làm văn số 3

Ra đề bài làm văn số 1:

Anh (chị) hãy phân tích giá trị nhân đạo trong truyện ngắn “Chí Phèo” của nhà văn Nam Cao.

GV phát đề cho HS làm bài tại lớp

 

(Kiểm tra chung – bài viết số 3)

 

* Mở bài:  Giới thiệu về tác giả, tác phẩm (xuất xứ, hoàn cảnh ra đời), khái quát giá trị nhân đạo độc đáo, sâu sắc, mới mẻ của “Chí Phèo”.
* Thân bài:
1. Giải thích khái niệm “giá trị nhân đạo” trong văn học: là giá trị cơ bản nhất của tác phẩm văn học chân chính, được tạo nên bởi niềm cảm thông sâu sắc đối với nỗi khổ đau của con người, sự nâng niu, trân trọng những nét đẹp trong tâm hồn con người; đồng thời tác phẩm cũng đã đứng về phía các nạn nhân mà lên án những thế lực tàn bạo chà đạp lên hạnh phúc, quyền sống và phẩm giá của con người.
2. Giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chí Phèo”:
– Nhà văn đã khám phá ra nỗi khổ bị đày đọa, lăng nhục, bị cự tuyệt quyền làm người của người lao động lương thiện. Đồng thời bày tỏ niềm cảm thông sâu sắc với nỗi khổ đó.
Qua tấn bi kịch và số phận bi thảm của Chí Phèo Nam Cao cất lên tiếng kêu cứu thảm thiết và đầy phẫn uất cho người lao động lương thiện.
– Thái độ lên án gay gắt những thế lực tàn bạo đã gây nên tấn bi kịch đau thương cho người lao động (bọn thống trị độc ác; nhà tù thực dân; những thành kiến, định kiến vô nhân đạo).
– Thái độ trân trọng, nâng niu những nét đẹp của người nông dân và khám phá ra phẩm chất lương thiện của họ ẩn giấu đằng sau những tâm hồn tưởng như u mê, cằn cỗi:
a. Những vẻ đẹp ở Chí Phèo:

– Chí Phèo vốn là người nông dân lương thiện:

+ Khoẻ mạnh về thể xác (anh canh điền khoẻ mạnh).

+ Lành mạnh về tâm hồn: Giàu lòng tự trọng, biết phân biệt giữa tình yêu cao thượng và cảm giác nhục dục thấp hèn; đã từng có mơ ước rất bình dị…

– Khi đã bị nhà tù và xã hội thực dân phong kiến biến Chí thành “con quỷ dữ làng Vũ Đại”, nhưng dưới đáy sâu tâm hồn hắn vẫn lấp lánh ánh sáng nhân phẩm: khát khao tình yêu hạnh phúc lứa đôi; khát khao được làm người lương thiện; có tinh thần phản kháng…

b. Những vẻ đẹp ở nhân vật Thị Nở:

Thị Nở trở thành người phụ nữ rất giàu tình thương. Đằng sau cái bề ngoài xấu xí và tính khí “dở hơi” còn ẩn chứa một trái tim nhân hậu.

Thị Nở rất khát khao tình yêu và hạnh phúc. Cuộc gặp gỡ của hai kẻ khốn khổ đã tạo nên sự đồng cảm và Thị Nở đã yêu Chí Phèo, ước ao được chung sống với Chí.

* Kết bài: Đánh giá, khái quát lại vấn đề.

 

CHÍ PHÈO

                          – Nam Cao –

I/ Mục tiêu cần đạt:

  1. Kiến thức:

–        Nắm được cốt truyện, phân tích nhân vật Chí Phèo, Bá Kiến, bi kịch làm người của Chí Phèo.

–      Giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc và mới mẻ của tác phẩm.

–        Nghệ thuật của kiệt tác: xây dựng nhân vật điển hình, miêu tả tâm lí, cách kể chuyện, ngôn ngữ, giọng điệu.

  1. Kỹ năng:

–        Có kĩ năng phân tích nhân vật và mâu thuẫn nội tâm.

–        Đọc – hiểu tác phẩm theo đặc trưng thể loại.

  1. Thái độ:

–        Đồng cảm với thân phận con người. Có thái độ sống đúng đắn và chuẩn mực trong quan hệ gia đình và xã hội.

  1. Hình thành năng lực, phẩm chất:

–        Năng lực thu thập thông tin; năng lực giải quyết vấn đề; năng lực tự học.

–        Năng lực trình bày suy nghĩ, cảm nhận; năng lực hợp tác; năng lực quản lí bản thân.

Bảng mô tả theo định hướng phát triển năng lực:

Vấn đề

 

Nội dung

Nhận biết Thông hiểu Vận dụng
Vận dụng thấp Vận dụng cao
1. Tiểu dẫn   Nêu thông tin về hoàn cảnh sáng tác phẩm “ Chí Phèo”, nhan đề tác phẩm.   Giải thích tác động của hoàn cảnh sáng tác đến việc xây dựng cốt truyện, kết thúc truyện và thể hiện cái nhìn về người nông dân trong tác phẩm.   Vận dụng những hiểu biết về tác giả, tác phẩm để phân tích, lý giải giá trị nội dung, nghệ thuật phẩm.   So sánh các phương diện nội dung, nghệ thuật giữa các tác phẩm cùng đề tài hoặc thể loại; phong cách tác giả.
 

 

 

 

 

2. Tìm hiểu cụ thể tác phẩm

  Nắm được cốt truyện, nhận ra đề tài, cảm hứng chủ đạo tác phẩm “ Chí Phèo”.   Lý giải sự phát triển của các sự kiện và mối quan hệ của các sự kiện.   Chỉ ra các biểu hiện và khái quát các đặc điểm của thể loại từ tác phẩm.   Biết đọc và khám phá các giá trị của một văn bản mới cùng thể loại.
 Liệt kê các chi tiết nghệ thuật có ý nghĩa trong truyện   Lý giải ý nghĩa và tác dụng của các chi tiết nghệ thuật. – Cảm nhận về các chi tiết nghệ thuật đặc sắc của truyện.
 Lý giải ý nghĩa nhan đề của truyện.
 Chỉ ra giá trị nhân đạo và hiện thực của truyện Phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo của truyện

II/ Phương tiện dạy học:

–        GV: Sgk, Sgv; giáo án, bảng phụ, phiếu học tập, tài liệu tham khảo, tranh ảnh minh họa, tư liệu.

–       HS: Sgk, vở ghi, vở soạn, vẽ tranh, sưu tầm tài liệu, đóng kịch.

III/ Cách thức tiến hành:

–        Giáo viên tổ chức giờ dạy học theo cách kết hợp các phương pháp: gợi tìm, tái hiện, trao đổi thảo luận, vấn đáp.

–        Kĩ thuật đặt câu hỏi tình huống, thuyết trình.

–        Tích hợp phân môn Làm văn, Tiếng việt và đọc văn

IV/ Tiến trình dạy học:

1/ Hoạt động trải nghiệm:

* Kiểm tra bài cũ:

–        Huấn Cao được Nguyễn Tuân gửi gắm qua hình tượng nhân vật nào trong văn học? Tìm một số truyện ngắn của Nguyễn Tuân trước CMT8-1945 mà em biết?

* Giới thiệu bài mới: Trình chiếu cho học sinh xem một số hình ảnh về tác phẩm “Chí Phèo”.

  1. Hoạt động hình thành kiến thức mới:
Hoạt động của GV và HS Nội dung cần đạt
* Hoạt động 1: Hướng dẫn HS tìm hiểu phần tiểu dẫn.

 

Hoạt động này hình hành năng lực thu thập thông tin liên quan đến văn bản

 

– Cho biết các tên của tác phẩm? Sự thay đổi nhan đề như thế nhằm dụng ý gì?

 

– Cho biết giá trị của tác phẩm? (lưu ý về vai trò trong nền văn học VN, nhất là giai đoạn 1930-1945).

– Tóm tắt ngắn gọn tác phẩm.

 

 

– Nhận xét về đề tài người nông dân trong Chí Phèo? Những nhân vật Nam Cao nhắc đến trong Chí Phèo.

(GV làm việc, vì đoạn trích không đầy đủ).

 

* Hoạt động 2: Hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản.

 

Hoạt động này hình thành năng lực đọc – hiểu, tóm tắt văn bản; năng lực giải quyết tình huống, trình bày suy nghĩ, cảm nhận, hợp tác.

 

 

Thao tác 1: GV yêu cầu HS tìm hiểu xã hội nông thôn Việt Nam trước CMT8 thu nhỏ qua hình ảnh làng Vũ Đại?

 

– Nhận xét về bức tranh làng Vũ Đại?

 

 

 

Thao tác 2: GV yêu cầu HS tìm hiểu hình tượng nhân vật Bá Kiến

 

+ GV: Em có nhận xét gì về địa vị xã hội, âm mưu, phương châm cai trị, bản chất của Bá Kiến?

 

+ HS: Theo dõi, ghi nhận và nhận xét.

 

 

 

 

+ GV: So với nhân vật địa chủ cường hào thường thấy trong các tác phẩm văn chương cũ, em thấy Bá Kiến là người như thế nào?

 

+ GV: Qua hình ảnh Bá Kiến, tác giả muốn nói lên điều gì?

+ HS: Lắng nghe, suy nghĩ và trả lời.

+ GV: Nhận xét và kết luận.

 

Thao tác 3: GV yêu cầu HS tìm hiểu hình tượng nhân vật Chí Phèo.

+ GV: Trước khi đi tù Chí Phèo là người như thế nào?  xuất thân, công việc, nhân phẩm qua thái độ bóp chân cho bà Ba).

+ HS: Theo dõi, ghi nhận, tìm dẫn chứng và trả lời.

+ GV: Nhận xét, nhấn mạnh và chốt lại ý chính.

 

+ GV: cho HS xem đoạn phim Làng Vũ Đại ngày ấy + đọc một đoạn trong sgk miêu tả ngoại hình Chí Phèo sau khi  ra tù.

+ GV: HS chuẩn bị theo nhóm và trình bày trên bảng phụ, sau đó lên thuyết trình)

 

– Nhóm 1, 2: Khi ở tù về Chí có thay đổi gì về ngoại hình, tâm hồn và nhân tính? Qua đó, nhà văn Nam Cao muốn nói điều gì?

+ GV: GV nhận xét phần trình bày và bổ sung

 

 

 

+ GV: Phân tích tiếng chửi của Chí? Tiếng chửi đó thể hiện được điều gì ở con người Chí?

 

 

 

Nhóm 3, 4:  Khi gặp Thị Nở, được yêu, được quan tâm thì Chí có sự chuyển biến như thế nào? Khi tỉnh rượu Chí nhận ra được điều gì? Từ sự thức tỉnh đó Chí nhớ và liên tưởng tới điều gì?

 

 

GV nhận xét phần trình bày và bổ sung

 

 

 

 

 

+ GV phát vấn thêm

– Phân tích hình ảnh bát cháo hành của Thị Nở? Bát cháo hành có ý nghĩa như thế nào đối với Chí Phèo?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Qua hình ảnh bát cháo hành tác giả muốn nói lên điều gì?

 

 

 

Nhóm 5, 6: Khi bị Thị Nở từ chối, Chí Phèo có những diễn biến tâm lý như ra sao? Tâm trạng ấy dẫn đến kết quả gì?

.

 

 

 

 

 

 

 

+ GV: Vì sao Chí Phèo lại giết Bá kiến mà không đòi tiền như mọi khi? Ý nghĩa của hành động này?

+ HS: Tìm dẫn chứng và phân tích.

 

+ GV: Xác nhận, giảng thêm và chốt lại.

 

 

+ GV: Dẫn dắt, lí giải nguyên nhân sâu xa và ý nghĩa của việc Chí Phèo đến nhà Bá Kiến chứ không phải đến nhà Thị Nở.

+ HS: Trao đổi, thảo luận và trả lời.

 

 

 

 

 

 

Thao tác 4: GV yêu cầu HS tìm hiểu giá trị nghệ thuật của tác phẩm.

+ GV: Nêu những nét nổi bật của nghệ thuật truyện ngắn Nam Cao thể hiện trong tác phẩm Chí Phèo.

+ HS: Trao đổi, phát biểu.

+ GV: Chốt lại

 

 

 

* Hoạt động 3: Hướng dẫn HS tổng kết nội dung bài học

 

Hoạt động này hình thành năng lực khái quát, đánh giá vấn đề.

– Theo em, tác phẩm này có ý nghĩa như thế nào về mặt nội dung và nghệ thuật?

– HS đọc ghi nhớ /Sgk

I/ Tìm hiểu chung:

1/ Tên tác phẩm:

– Cái lò gạch cũ (1940): Quẩn quanh, bế tắc.

– Đôi lứa xứng đôi (1941): Gây sự tò mò.

– Chí Phèo (1946): Số phận nhân vật.

– Truyện được khai thác dựa trên người thực, việc thực ở làng Đại Hoàng – quê ông; kết hợp hư cấu để tạo nên một bức tranh hiện thực về nông thôn Việt Nam trước cách mạng tháng Tám với tất cả những bi kịch đau đớn, gay gắt.

– Truyện Chí Phèo nói lên số phận bi thảm của người nông dân nghèo, lương thiện bị xã hội TDPK xô đẩy vào con đường lưu manh, tội lỗi không có lối thoát.

2/ Giá trị của tác phẩm:

– Kiệt tác trong văn xuôi VN hiện đại.

– Có giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc

3/ Tóm tắt tác phẩm:

(HS tự tóm tắt)

II/ Đọc- hiểu văn bản:

1/ Vài nét về hình ảnh làng Vũ Đại:

– Đặc điểm:

+ Xa phủ xa tỉnh

+ Thế “quần ngư tranh thực” → nhiều phe cánh đấu đá lẫn nhau: Bá Kiến, Đội Tảo,…

– Là nơi đầy rẫy bọn đầu bò đâm thuê chém mướn:

+ Năm Thọ đi thì Binh chức lần về.

+ Binh Chức chết thì lại nở ra một Chí Phèo

+ Chí Phèo cùng với Bá Kiến là 2 con quỷ dữ làng Vũ Đại.

Þ Làng Vũ Đại tập trung những mâu thuẫn gay gắt, quyết liệt giữa giai cấp nông dân và địa chủ. Đây là hình ảnh thu nhỏ của nông thôn VN trước cách mạng tháng 8.

2. Nhân vật Bá Kiến:

– Bản chất: gian hùng:

+ Cái cười Tào Tháo

+ Giọng quát rất sang

– Phương châm trị người:

+ Mềm nắn rắn buông,

+ Thứ nhất sợ kẻ anh hùng…sợ kẻ cố cùng liều thân,

+ Bám thằng có tóc… trọc đầu,

+ Hãy ngấm ngầm đẩy nó xuống… dắt nó lên để nó đền ơn.

→ Một con người gian xảo, đầy mưu mô và thâm độc; điển hình cho giai cấp thống trị phong kiến còn xót lại.

– Thói ghen tuông đê tiện → tìm cách cho Chí Phèo đi tù

– Xử nhũn với Chí Phèo, biến Chí Phèo trở thành tay chân đắc lực cho mình.

Þ con người xảo quyệt, gian ác, mưu mô, điển hình cho giai cấp thống trị phong kiến còn sót lại.

3. Hình tượng nhân vật Chí Phèo:

a. Bản chất lương thiện:

– Trẻ mồ côi, lớn lên trong sự đùm bọc của mọi người trong làng.

– Anh canh điền hiền lành, khỏe mạnh, làm thuê để kiếm sống.

– Khi bị bà Ba bắt bóp tay, chân → cảm thấy nhục, xấu hổ

– Từng mơ ước đơn sơ: có một mái ấm gia đình hạnh phúc như mọi người.

b. Chí Phèo – Con người lưu manh hóa (sau khi ra tù):

+ Ngoại hình: biến dạng, méo mó

+ ý thức: sống vô thức, đời Chí là một cơn say dài, bất tận

+ Cảm xúc: tê liệt về cảm xúc

+ Hành động: Côn đồ (đập phá, rạch mặt ăn vạ)… → phi nhân tính (đâm thuê, chém mướn)

– Ngôn ngữ: chửi bới, dọa nạt

– Con người tha hóa: mất cả nhân hình và nhân tính → trở thành con quỉ dữ của làng Vũ Đại, bị gạt ra khỏi xã hội loài người.

Þ Bi kịch nỗi đau của con người bị tàn phá về thể xác, bị huỷ diệt về tâm hồn, bị cự tuyệt không cho làm người

→ Giá trị tố cáo mạnh mẽ.

c. Cuộc gặp gỡ Chí Phèo – Thị Nở:

– Thay đổi trong con người Chí:

+ Thấy bâng khuâng tỉnh hẳn

+ Cảm nhận âm thanh của sự sống vốn quen thuộc (tiếng chim hót, tiếng cười nói của người đi chợ, tiếng gõ mái chèo đuổi cá.)

+ Hồi tưởng ước mơ về cuộc sống gia đình ấm cúng → buồn

+ Sợ hãi và lo lắng về tuổi già, bệnh, sự cô đơn

+ Bủn rủn rùng mình khi nghĩ đến rượu

” Sự thức tỉnh tỉnh linh hồn, đối mặt và nhận ra hoàn cảnh của mình.

– Bát cháo hành của Thị Nở làm Chí ngạc nhiên , xúc động:

+ Mắt ươn ướt: cảm động

+ Tâm trạng ăn năn, vui, buồn (Có người chăm sóc, nhìn thấy cuộc đời thú vật của mình, hối hận về những gì gây ra)

+ Chí thèm khát hạnh phúc, lương thiện (tin Thị sẽ là người mở đường cho hắn)

” Bát cháo hành có ý nghĩa thức tỉnh nhân tính Chí Phèo. Vị thơm của cháo là vị thơm của tình người, tình yêu và sự chăm sóc ân cần của Thị Nở đã đánh thức phần người trong sáng đã bị vùi lấp từ lâu của Chí Phèo.

=> Tác giả đã trân trọng tình người đáng quý đằng sau những khuôn mặt quỷ đó, đây chính là giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm.

d. Bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người:

– Khát vọng được trở lại làm người bị dập tắt khi bị Thị Nở cự tuyệt tình yêu vì: Bà cô thị Nở không cho, định kiến xã hội → rơi vào bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người.

– Hành động:

+ Uống rượu, càng uống càng thấy tỉnh, nhớ mùi cháo hành,…

+ Chửi mắng Thị Nở và bà cô Thị Nở; tìm đến giết họ

+ Đến nhà Bá Kiến, giết Bá Kiến → tự sát.

– Hành động giết Bá Kiến: nhanh, mạnh, dứt khoát:

+ Nhận rõ kẻ thù giai cấp, kẻ cướp quyền làm người của Chí

+ Khao khát trả thù và vạch trần tội ác của giai cấp thống trị.

– Hành động tự sát:

+ Khao khát mãnh liệt được làm người lương thiện

+ Ý thức sâu sắc về nỗi đau bị xã hội từ chối

+ Không chấp nhận cuộc sống thú vật

” Hành động tự phát, đấu tranh trong tuyệt vọng và bất lực. Đây là bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của người nông dân lao động nghèo trước cách mạng.

Þ Tố cáo xã hội, chính cái xã hội đó đã biến những con người nông dân hiền lành chất phác trở thành kẻ lưu manh, đồng thời khẳng định bản chất lương thiện của người nông dân.

4/ Nghệ thuật:

– Xây dựng được những nhân vật điển hình bất hủ (Chí Phèo, Bá kiến)

– Sở trường miêu tả, phân tích tâm lí của nhân vật.

– Các kết cấu mới mẻ, không theo trình tự thời gian.

– Cốt truyện hấp dẫn, giàu kịch tính.

– Sử dụng nhiều lời ăn tiếng nói của nhân dân.

– Ngôn ngữ sinh động, đa thanh kết hợp với trần thuật linh hoạt, biến hóa.

III/ Tổng Kết:

 

 

– Ghi nhớ / Sgk

3/ Hoạt động thực hành, ứng dụng: 

–        Cho học sinh đóng lại cảnh Chí Phèo bị Thị Nở đoạn tuyệt.

4/ Hoạt động bổ sung:

–        Bài tập: Viết đoạn văn ngắn trình bày cảm nhận của em về “bát cháo hành liều thuốc giải độc” mà Thị Nở nấu cho Chí Phèo ăn?

* Đánh giá, rút kinh nghiệm sau tiết dạy:

PHỤ LỤC 1

 

PHIẾU ĐIỀU TRA NHU CẦU CỦA HỌC SINH

(Trước khi thực hiện dự án)

Họ và tên: ………………………

Lớp: …………………………………

Hãy trả lời câu hỏi dưới đây bằng cách đánh dấu X vào ô trống trong bảng có câu trả lời phù hợp với em.

  1. Em quan tâm (hoặc có hứng thú) đến nội dung nào của dự án?
Nội dung Không
1. Cuộc đời, sự nghiệp, phong cách nghệ thuật, quan điểm sáng tác của các nhà văn: Thạch Lam, Nam Cao.
2. Bức tranh phố huyện với cảnh ngày tàn, chợ tàn, những kiếp người tàn qua cảm nhận của hai đứa trẻ.
3. Hình tượng nhân vật Chí Phèo. Liên hệ với số phận người nông dân trước CMT8 năm 1945.
4. Những đóng góp mới của ngòi bút Thạch Lam, Nam Cao cho tư tưởng nhân đạo trong văn học Việt Nam 1930 – 1945.

 

  1. Khả năng của học sinh: Đánh dấu (x) vào ô trả lời
Stt Nội dung điều tra Trả lời
Không
1 Khả năng hướng dẫn và chỉ đạo nhóm
2 Khả năng tìm kiếm thông tin trên mạng internet
3 Khả năng phân tích và tổng hợp thông tin
4 Khả năng thuyết trình

 

  1. Dự kiến thực hiện sản phẩm: Học sinh Đánh dấu (x) vào ô trả lời
Stt Sản phẩm mong muốn được thực hiện Trả lời
1 Trình bày trên giấy A0
2 Bài trình bày bằng máy chiếu
3 Bài trình bày bằng sơ đồ, bài viết, tranh vẽ…..

 

  1. Mong muốn của học sinh khi tham gia vào dự án: Đánh dấu (x) vào ô trả lời
Stt Mong muốn của học sinh Trả lời
1 Phát triển năng lực hợp tác
2 Phát triển năng lực sử dụng công nghệ thông tin
3 Phát triển năng lực giao tiếp
4 Phát triển năng lực thu thập và xử lý thông tin
5 Phát triển năng lực giải quyết vấn đề
6 Phát triển năng lực tự học, tự nghiên cứu

 

 

PHỤ LỤC 2

BIÊN BẢN LÀM VIỆC NHÓM

 

  1. Thời gian, địa điểm, thành phần:

Địa điểm: ………………………………………………………………………………………………………………………………………

Thời gian: từ…… giờ……. đến …… giờ ………. ngày…… .tháng……….năm ……………………………………………….

Nhóm số: ………;                                Số thành viên: ………………..                            Lớp:…….

Số thành viên có mặt: ……………………………………………………………………………………………………………………..

Số thành viên vắng mặt: ………………………………………………………………………………………………………………….

  1. Nội dung công việc: (Ghi rõ tên chủ đề thảo luận hoặc nội dung thực hành)

……………………………………………………………………………………………………………………………………………………..

……………………………………………………………………………………………………………………………………………………..

……………………………………………………………………………………………………………………………………………………..

STT Họ và tên Công việc được giao Thời hạn

 hoàn thành

Ghi chú
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12

 

  1. Kết quả làm việc:

………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

  1. 4. Thái độ tinh thần làm việc:

………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

  1. 5. Đánh giá chung:

……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………..

  1. 6. Ý kiến đề xuất:

……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………….

 

 

PHỤ LỤC 3

 

PHIẾU ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG NHÓM 1

 

Yêu cầu về nội dung:

Bài thuyết trình phải thể hiện được các nội dung sau:

– Về hình thức: Ngắn gọn, lo gic, đầy đủ, rõ ràng

– Về cách thức trình bày: Đại điện thuyết trình (chú ý giọng điệu, thái độ, cử chỉ..) có tư liệu, hình ảnh clip… hỗ trợ.

 

PHIẾU ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG NHÓM 2

 

Yêu cầu về nội dung:

Bài thuyết trình phải thể hiện được các nội dung sau:

– Về hình thức: Ngắn gọn, lo gic, đầy đủ, rõ ràng, sinh động

– Về cách thức trình bày: Đại điện thuyết trình (chú ý giọng điệu, thái độ, cử chỉ..) có tư liệu, hình ảnh clip… hỗ trợ.

 

PHIẾU ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG NHÓM 3

 

Bài thuyết trình phải thể hiện được các nội dung sau

Bài thuyết trình phải thể hiện được các nội dung sau:

– Về hình thức: Ngắn gọn, lo gic, đầy đủ, rõ ràng, sinh động, lôi cuốn

– Về cách thức trình bày: Đại điện thuyết trình (chú ý giọng điệu, thái độ, cử chỉ..) có tư liệu, hình ảnh clip… hỗ trợ.

 

PHIẾU ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG NHÓM 4

 

Bài thuyết trình phải thể hiện được các nội dung sau

Bài thuyết trình phải thể hiện được các nội dung sau:

– Về hình thức: Ngắn gọn, lo gic, đầy đủ, rõ ràng, sinh động, lôi cuốn

– Về cách thức trình bày: Đại điện thuyết trình (chú ý giọng điệu, thái độ, cử chỉ..) có tư liệu, hình ảnh clip… hỗ trợ.

 

PHỤ LỤC 4

 

PHIẾU THĂM DÒ HỌC SINH SAU BÀI HỌC

 

Họ và tên: ……………………………………………..

Nhóm: …………………………………………………..

 

1. Chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc trong văn xuôi 1930 – 1945 qua hai tác phẩm “Hai đứa trẻ”, “Chí Phèo”? 2. Liên hệ với những giá trị sống hiện tại của bản thân và những người xung quanh sau khi học xong chủ đề?
………………………………..

(Tài liệu sưu tầm )

Xem thêm :

  1. Trọn bộ giáo án Ngữ văn lớp 10
  2. Trọn bộ giáo án Ngữ văn lớp 11
  3. Trọn bộ giáo án Ngữ văn lớp 12