Đề thi thử THPT Quốc gia môn văn có đáp án, số 95

ĐỀ  THI THỬ QUỐC GIA THPT NĂM 2017
Môn: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề
I. Đọc hiểu (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ Câu 1 đến Câu 4:
Xin đừng vội nghĩ cứ có học vấn, bằng cấp cao là nghiễm nhiên trở thành người có văn hoá. Trình độ tri thức văn hoá cũng mới chỉ là tiền đề. Nếu sự rèn luyện nhân cách kém thì tiềm năng hiểu biết đó sẽ tạo nên thói hợm hĩnh, khinh đời; phong cách sống càng xấu đi, càng giảm tính chất văn hoá. Trong thực tế, ta thấy không hiếm những người có học mà phong cách sống lại rất trái ngược. Họ mở miệng là văng tục, nói câu nào cũng đều có kèm từ không đẹp. Mặt vênh vênh váo váo, coi khinh hết thảy mọi người. Trò chuyện với ai thì bao giờ cũng hiếu thắng, nói lấy được, nhưng khi gặp khó khăn thì chùn bước, thoái thác trách nhiệm. Trong lúc đó, có người học hành chưa nhiều, chưa có học hàm, học vị gì nhưng khiêm tốn, lịch sự, biết điều trong giao tiếp, khéo léo và khôn ngoan trong cách ứng xử trước mọi tình huống của cuộc sống. Rõ ràng là chất văn hoá trong phong cách sống phụ thuộc nhiều vào ý thức tu dưỡng tính nết, học tập trường đời và kết quả của giáo dục gia đình.
Tất nhiên, tác động của trình độ học vấn đến sự nâng cao phong cách văn hoá của một người rất lớn. Cách suy nghĩ, cách giải quyết mâu thuẫn, sự ước mơ, kì vọng và sự trau dồi lí tưởng có liên quan mật thiết đến tiềm năng hiếu biết. Đa số những người có học vấn cao thường có phong cách sống đẹp. Không thể phủ nhận thực tế đó, chỉ có điều cần nhớ là trình độ học vấn và phong cách sống văn hoá không phải lúc nào cũng đi đôi với nhau.
(Trích Học vấn và văn hoá — Trường Giang)
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt  chính của văn bản?

Câu 2. Theo tác giả, trình độ học vấn có tác động như thế nào đến phong cách văn hoá của một người?
Câu 3. Đọc đoạn trích, anh/ chị hiểu yếu tố cốt lõi làm nên cốt cách văn hóa của một con người là gì?
Câu 4. Theo anh/ chị, quan điểm của tác giả có phù hợp với cuộc sống hiện đại không? Vì sao?

II. Làm Văn (7,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm):
Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về câu văn được gợi ra từ phần đọc hiểu: Rõ ràng là chất văn hoá trong phong cách sống phụ thuộc nhiều vào ý thức tu dưỡng tính nết, học tập trường đời và kết quả của giáo dục gia đình.

Câu 2 (5,0 điểm): Vẻ đẹp của hình tượng nhân dân trong đoạn thơ sau :
Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng
Họ truyền lửa qua mỗi nhà, từ hòn than qua con cúi
Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói
Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân
Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái
Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm
Có nội thù thì vùng lên đánh bại
Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân…
( Trích Đất nước nguyễn khoa điềm )

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
Phần/ Câu/ Nội dung /Điểm
I ĐỌC HIỂU 3.0
1 Đoạn văn trên sử dụng phương thức biểu đạt chính: Nghị luận 0,25
2 Theo tác giả, trình độ học vấn có tác động đến phong cách văn hoá của mỗi con người:
-Tiềm năng hiểu biết, vốn tri thức sâu rộng là cơ sở hình thành lối suy nghĩ, cách ứng xử, cách giải quyết mâu thuẫn, khát vọng và lí tưởng sống của một con người.
-Trên thực tế, đa số những người có học vấn cao thường có phong cách sống đẹp. 1,00
3 Đọc đoạn trích, có thể thấy yếu tố cốt lõi làm nên cốt cách văn hoá của một con người là:
-Sự giáo dục của gia đình, nhà trường.
-Đặc biệt là ý thức tu dưỡng đạo đức, hoàn thiện nhân cách và không ngừng học tập từ thực tế đời sống của mỗi cá nhân. 0,75
4 HS trình bày theo quan điểm cá nhân. Có lí giải cụ thể. Diễn đạt bằng một đoạn văn ngắn. 1,00
II LÀM VĂN 7.0
1 Bày tỏ suy nghĩ về ý kiến… 2,0
a. Đảm bảo cấu trúc đoạn văn nghị luận 200 chữ
Có đủ các phần mở đoạn, phát triển đoạn, kết đoạn. Mở đoạn nêu được vấn đề, phát triển đoạn triển khai được vấn đề, kết đoạn kết luận được vấn đề.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Sự thay đổi cách xây dựng cổng làng ngày nay làm cho những nét văn hoá xưa bị mai một. 0,25

c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; rút ra biện pháp khắc phục hiện tượng. 1,5
– Câu mở đoạn: Dẫn ý liên quan để nêu vấn đề cần nghị luận: Rõ ràng là chất văn hoá trong phong cách sống phụ thuộc nhiều vào ý thức tu dưỡng tính nết, học tập trường đời và kết quả của giáo dục gia đình.
– Các câu phát triển đoạn:
+ Giải thích: Văn hoá là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần mà con người sáng tạo ra.Phong cách sống là những nét điển hình, được lặp đi lặp lại và định hình thành phong cách, thói quen trong đời sống cá nhân, nhóm xã hội, dân tộc, hay là cả một nền văn hóa. Ý thức tu dưỡng tính nết là mỗi người phải biết tự rèn luyện đạo đức của bản thân. Trường đời là đời sống xã hội, vượt ra ngoài mái ấm gia đình và trường học. Gia đình là tế bào của xã hội, nơi con người được sinh ra, lớn lên và trưởng thành trong vòng tay yêu thương của người thân yêu. Ý cả câu: Con người có văn hoá là nhờ sự kết hợp của ba yếu tố: tự thân rèn luyện, từng trải trong đời và sự giáo dục của gia đình.
+ Phân tích ý nghĩa tác dụng của câu nói:
+ Sự tu dưỡng là một yêu cầu tự nhiên của mỗi cá nhân ở trình độ nhận thức đã phát triển. Mọi cá nhân đều cần làm cho mình tốt lên, bồi bổ tình cảm và ý chí của mình, khắc phục những thói hư tật xấu, làm cho mình biết phân biệt điều thiện với điều ác. Do đó, sự tu dưỡng là con đường nhằm hình thành những phẩm chất đạo đức ở mỗi cá nhân. Tạo cho con người khả năng tự tu dưỡng là một yêu cầu giáo dục đạo đức trong xã hội. ( dẫn chứng thực tế)
+ Muốn hình thành chất văn hoá trong phong cách sống, con người còn phụ thuộc vào trường đời. Bởi vì trường đời là nơi thử thách lớn nhất của con người. Những gì tiếp thu ở gia đình, nhà trường chỉ là một phần nhỏ, là hành trang để ta bước vào đời. Cuộc sống vốn dĩ vô cùng phong phú và phức tạp. Chỉ khi ta bước qua những trở ngại, thách thức thì mới thực sự trưởng thành về nhận thức và hành động… ( dẫn chứng thực tế)
+ Gia đình là cái nôi hình thành văn hoá trong phong cách sống mỗi người. Nhờ có gia đình, mỗi người không những được nuôi dưỡng mà còn được dạy dỗ về tình thương, cách ứng xử trong quan hệ.( dẫn chứng thực tế)
+ Ba yếu tố trên có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, hình thành nên chất văn hoá trong phong cách sống của mỗi người.( dẫn chứng thực tế)
+ Phê phán những người tuy có trình độ học vấn nhưng văn hoá thấp, nhất là trong ứng xử giao tiếp, trong nhận thức và hành động, trở thành kẻ đạo đức giả, có thái độ tự cao, hống hách, coi thường người khác… 0,25

– Câu kết đoạn: Rút ra bài học nhận thức và hành động cho bản thân: Ý thức được văn hoá của con người rất quan trọng. Cần phải tu dưỡng đạo đức hằng ngày, biết tự trọng, biết xấu hổ, sống vị tha, nhân ái… 0,25
d. Sáng tạo
Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận. 0,25
e. Chính tả, dùng từ, đặt câu
Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu. 0,25

2 Vẻ đẹp của hình tượng nhân dân trong đoạn thơ … 5,0
a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận 0,25
Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận 0,50
Vẻ đẹp của hình tượng nhân dân trong đoạn thơ …
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; thể hiện sự cảm nhận sâu sắc và vận dụng tốt các thao tác lập luận để triển khai các luận điểm (trong đó phải có thao tác phân tích, bình luận); biết kết hợp giữa nêu lí lẽ và đưa dẫn chứng. 3.50
– Mở bài:
+Giới thiệu về Nguyễn Khoa Điềm, trường ca Mặt đường khát vọng và chương V Đất Nước;
+ Nêu vấn đề cần nghị luận: Vẻ đẹp của hình tượng nhân dân trong đoạn thơ…
-Thân bài:
+ Nhân dân đã sáng tạo nên mọi giá trị vật chất và tinh thần cho đất nước: hạt lúa, ngọn lửa, giọng nói, tên xã, tên làng,… Những hình ảnh cụ thể và giàu sức gợi ấy được nhà thơ sử dụng để khẳng định công lao vĩ đại của nhân dân :
++ Trong những hạt lúa tưởng chừng bé nhỏ kia, có công sức, tâm huyết, trí tuệ của bao nhiêu thế hệ con người. Người tìm ra cây lúa giữa ngàn cây hoang dại, người tìm ra cách cấy trồng, chăm bón để có những vụ mùa bội thu, người sáng tạo nên những xay, giã, dần, sàng để biến hạt lúa thành hạt gạo trắng ngần…
++Trong tiếng nói ta thừa hưởng của ông cha có tình yêu và sức sống mãnh liệt của tâm hồn Việt – vẫn tồn tại bền vững bất chấp cả ngàn năm bị đô hộ trong mưu toan đồng hoá của giặc ngoại xâm : “Tiếng chẳng mất khi Loa thành đã mất/ Nàng Mỵ Châu quỳ xuống lạy cha già” (Lưu Quang Vũ)…
+Nhân dân đóng vai trò là chủ thể trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.
++Họ “đắp đập be bờ” tạo nên ruộng đồng, bờ bãi phì nhiêu cho đời sau cấy trồng, thu hái…
++Họ đánh đuổi cả ngoại xâm lẫn nội thù để gìn giữ tự do, độc lập cho quê hương, xứ sở…
+ Nghệ thuật thể hiện vẻ đẹp nhân dân trong đoạn thơ:
++ Sử dụng chất liệu văn hóa dân gian: ngôn từ, hình ảnh bình dị, dân dã, giàu sức gợi.
++ Giọng điệu thơ biến đổi linh hoạt.
++ Sức truyền cảm lớn từ sự hòa quyện của chất chính luận và chất trữ tình.
+ Đánh giá chung:
++Trong phần 2 của đoạn trích, nhà thơ tập trung thể hiện tư tưởng đất nước là của nhân dân. Tư tưởng này bao trùm, thấm đượm trong tất cả các chiều, các phương diện cảm nhận về đất nước: không gian địa lí, thời gian lịch sử, bản sắc vãn hoá…
++ Đoạn thơ là bức tượng đài kì vĩ ngợi ca công lao vĩ đại của nhân dân trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước.
– Kết bài
+ Tóm lại vấn đề đã nghị luận;
+ Nêu cảm nghĩ riêng của bản thân về vẻ đẹp nhân dân qua đoạn thơ. 0,50

d. Sáng tạo 0,50
Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận.
e. Chính tả, dùng từ, đặt câu 0,25
Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.
ĐIỂM TOÀN BÀI THI : I + II = 10,00 điểm

Đề văn sưu tầm

Xem thêm : Bộ đề thi thử THPT Quốc gia môn văn có đáp án

Bộ đề thi thử môn văn có đáp án, đề số 94

ĐỀ  THI  THỬ QUỐC GIA THPT NĂM 2017. Đề đọc hiểu và nghị luận xã hội 200 chữ , Cảm nhận vẻ đẹp của hình tượng thiên nhiên trong đoạn trích bài thơ Việt Bắc (Tố Hữu).

Môn: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Đọc hiểu (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau và trả lời các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4:

Cổng làng

Chiều hôm đón mát cổng làng,

Gió hiu hiu đẩy mây vàng êm trôi

Đồng quê vờn lượn chân trời,

Đường quê quanh quất bao người về thôn.

 

Sáng hồng lơ lửng mây son,

Mặt trời thức giấc véo von chim chào.

Cổng làng rộng mở. Ồn ào,

Nông phu lững thững đi vào nắng mai.

 

Trưa hè bóng lặng nắng oi,

Mái gà cục cục tìm mồi dắt con.

Cổng làng vài chị gái non

Dừng chân uể oải chờ cơn gió nồm.

 

Những khi gió lạnh mưa buồn,

Cổng làng im ỉm bên đường lội trơn.

Nhưng khi trăng sáng chập chờn,

Kìa bao nhiêu bóng trên đường thướt tha.

 

Ngày mùa lúa chín thơm đưa…,

Rồi Đông gầy chết, Xuân chưa vội vàng.

Mừng xuân ngày hội cổng làng,

Là nơi chen chúc bao nàng ngây thơ.

 

Ngày nay dù ở nơi xa,

Nhưng khi về đến cây đa đầu làng;

Thì bao nhiêu cảnh mơ màng,

Hiện ra khi thoáng cổng làng trong tre.

( Bàng Bá Lân, dẫn theo Thơ mới (1932-1945)-Tác giả và tác phẩm, NXB Hội nhà văn, 2004)

Câu 1. Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản?

Câu 2. Trong khổ thơ gồm 4 câu in đậm: “Sáng hồng lơ lửng mây son…Nông phu lững thững đi vào sớm mai”?, tác giả đã sử dụng những biện pháp tu từ gì? Chọn, phân tích giá trị thẩm mĩ của một biện pháp tu từ.

Câu 3. Miêu tả hình ảnh cổng làng, nhà thơ đã giúp người đọc hình dung như thế nào về cuộc sống nơi làng quê?

Câu 4. Nêu ý nghĩa hình ảnh cổng là trong 4 câu thơ cuối của bài thơ?

Làm Văn (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm):

Từ văn bản ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy bày tỏ suy nghĩ về ý kiến sau đây bằng một đoạn văn 200 chữ:

 “Khi xưa, các thế hệ ông cha xây dựng cổng làng đều gìn giữ một nét văn hóa riêng của làng mình cho thế hệ mai sau. Ngày nay, cổng làng ở nhiều nơi trong tỉnh “đua nhau” mọc lên với đủ loại to, nhỏ, không có kiểu nào giống kiểu nào khiến cho những nét văn hóa xưa đang dần mai một”. ( Thu Vui)

(Trích nguồn http://baothanhhoa.vn/vn/van-hoa/n147838)

Câu 2 (5,0 điểm):

Cảm nhận vẻ đẹp của hình tượng thiên nhiên trong đoạn trích bài thơ việt bắc(Tố Hữu).

 HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI

Phần Câu Nội dung Điểm
I   ĐỌC HIỂU 3.0
1 Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật; 0,25
2            Trong khổ thơ được in đậm, tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ nhân hoá (véo von chim chào) và câu đặc biệt (cổng làng rộng mở. Ồn ào).

Thí sinh chọn 1 trong 2 biện pháp tu từ trên để phân tích giá trị thẩm mĩ .Khi phân tích cần làm nổi bật giá trị thâm mĩ của biện pháp tu từ – giúp người đọc hình dung, cảm nhận không khí rộn rã, tươi vui khởi đâu một ngày mới nơi làng quê…

1,00
3            Chú ý các khoảng thời gian: sáng, trưa, chiều, mùa đông, mùa xuân, khi gió lạnh mưa buồn, lúc ngày mùa lúa chín… Qua đó, nhà thơ tái hiện một cuộc sông gần gũi, bình dị, êm đềm nơi làng quê. 0,75
4            Trong khổ kết của bài thơ, hình ảnh cổng làng đã trở thành nơi lưu giữ những kỉ niệm đẹp nhất, những kí ức êm đềm nhất về quê hương. Đặc biệt, với mỗi người xa quê, cổng làng đã trở thành biểu tượng cho không gian thân thuộc nhất trong tâm hồn… 1,00
II   LÀM VĂN 7.0
1 Bày tỏ suy nghĩ về ý kiến… 2,0
  a. Đảm bảo cấu trúc đoạn văn nghị luận 200 chữ

Có đủ các phần mở đoạn, phát triển đoạn, kết đoạn. Mở đoạn nêu được vấn đề, phát triển đoạn triển khai được vấn đề, kết đoạn kết luận được vấn đề.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Sự thay đổi cách xây dựng cổng làng ngày nay làm cho những nét văn hoá xưa bị mai một.

0,25

 

c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; rút ra biện pháp khắc phục hiện tượng. 1,5
– Câu mở đoạn: Dẫn ý liên quan nét đẹp văn hoá xưa qua bài thơ Cổng làng của Bàng Bá Lân. Từ đó nêu vấn đề cần nghị luận qua ý kiến của tác giả Thu Vui: Ngày nay, cổng làng ở nhiều nơi trong tỉnh “đua nhau” mọc lên với đủ loại to, nhỏ, không có kiểu nào giống kiểu nào khiến cho những nét văn hóa xưa đang dần mai một.

– Các câu phát triển đoạn:

+ Cùng với cây đa, bến nước, sân đình, cổng làng đã trở thành biểu tượng của làng quê Việt Nam. Mỗi cổng làng đều có nét kiến trúc riêng, tồn tại hàng trăm năm nay. Đó không chỉ là công trình kiến trúc cổ mang giá trị lịch sử văn hóa mà còn thể hiện hồn quê, cốt cách của con người ở mỗi làng xã Việt Nam.Cổng làng có từ hàng trăm năm nay và gắn với sự phát triển của làng. Khi đất nước có chiến tranh, cổng làng được dựng lên để làm chiến lũy chống giặc ngoại xâm. Khi hòa bình lập lại, cổng làng như một sự khẳng định chủ quyền địa giới, góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa của mỗi địa phương.

+ Hậu quả của việc đua nhau xây dựng cổng làng ngày nay: những nét văn hóa xưa đang dần mai một. Bản sắc văn hoá dân tộc bị lu mờ, không còn mang ý nghĩa giáo dục, ý nghĩa thẩm mĩ.

+ Nguyên nhân của sự thay đổi cổng làng ngày nay: hiện nay chưa có quy định cụ thể nào về việc xây dựng cổng làng, chủ yếu là do địa phương tự thiết kế và xây dựng. Điều này dẫn đến việc các cổng làng được xây không theo một kích thước, kiểu dáng nào mà chủ yếu tùy thuộc vào tiềm lực tài chính của mỗi địa phương.

0,25

 

 

 

 

1,00

 

 

 

           – Câu kết đoạn: cổng làng cần được nghiên cứu và thiết kế phù hợp, không cần thiết phải xây to, hoành tráng gây lãng phí mà xây làm sao phải giữ được nét riêng và toát lên được cái hồn quê … 0,25
d. Sáng tạo

Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận.

0,25
e. Chính tả, dùng từ, đặt câu

Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.

0,25

 

  2 Cảm nhận vẻ đẹp của hình tượng thiên nhiên trong đoạn trích bài thơ Việt Bắc (Tố Hữu). 5,0
  a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận 0,25
  Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề.  
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận 0,50
Vẻ đẹp của hình tượng thiên nhiên trong đoạn trích bài thơ Việt Bắc (Tố Hữu).  
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; thể hiện sự cảm nhận sâu sắc và vận dụng tốt các thao tác lập luận để triển khai các luận điểm (trong đó phải có thao tác phân tích, bình luận); biết kết hợp giữa nêu lí lẽ và đưa dẫn chứng. 3.50
– Mở bài:

+Giới thiệu về Tố Hữu và bài thơ Việt Bắc

+ Nêu vấn đề cần nghị luận: Vẻ đẹp của hình tượng thiên nhiên trong đoạn trích bài thơ Việt Bắc

-Thân bài:

+ Thiên nhiên Việt Bắc êm đềm, thơ mộng :

++ Những khoảng thời gian, không gian im vắng, tĩnh lặng “Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương” ; những âm thanh mang theo chất thơ và nhịp sống riêng của miền rừng núi : “Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều/ Chày đêm nện cối đều đều suối xa”…

++Những bức tranh về cảnh rừng Việt Bắc qua bốn mùa tươi sáng, ấm áp, thanh bình : “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi”, “Ngày xuân mơ nở trắng rừng”, “Ve kêu rừng phách đổ vàng”, “Rừng thu trăng rọi hoà bình”.

+Thiên nhiên Việt Bắc hùng vĩ, hiên ngang :

++ Thiên nhiên hiểm trở, hùng vĩ: “Núi giăng thành luỹ sắt dày/ Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”… Núi rừng Việt Bắc đã trở thành cái nôi bao bọc, chở che cho dân tộc suốt một thời kháng chiến.

++ Thiên nhiên anh hùng luôn kề vai sát cánh cùng con người trong chiến đấu: “Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây”.

+ Nghệ thuật thể hiện vẻ đẹp thiên nhiên: Chất trữ tình, chính trị. Thể thơ lục bát truyền thống. Kết cấu đối đáp giao duyên. Hình ảnh đậm chất dân tộc. Giọng điệu khúc hát ru.

+ Đánh giá chung:

++Hình tượng thiên nhiên ấy đã phản chiếu vẻ đẹp tâm hồn của người dân Việt Bắc, của đất nước Việt Nam trong cuộc chiến đấu giữ nước đầy gian khổ, hi sinh.

++ Góp phần thể hiện phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu

– Kết bài

+ Tóm lại vấn đề đã nghị luận;

+ Nêu cảm nghĩ riêng của bản thân về vẻ đẹp thiên nhiên qua đoạn thơ.

0,50

 

 

 

2,50

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

0,5

d. Sáng tạo 0,50
Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận.  
e. Chính tả, dùng từ, đặt câu 0,25
Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.  
    ĐIỂM TOÀN BÀI THI : I + II = 10,00 điểm  

Đề văn sưu tầm .

Xem thêm những đề thi khác tại đây :  Bộ đề thi thử THPT Quốc gia môn văn có đáp án

Đề thi thử kì thi THPT Quốc gia môn văn chuẩn cấu trúc,đề 93

 ĐỀ THI  THỬ QUỐC GIA THPT NĂM 2017 Môn: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Phần I. Đọc hiểu (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4 :

Hàng ngày, người ta online, đặc biệt là những người trẻ – những người chưa được trang bị để đối phó với điều nàỵ, và vì thế họ bị lạm dụng, bị làm tổn thương đến mức không thể tưởng tượng có thể sống tiếp tới ngày hôm sau nữa hay không, và một số thảm kịch đã xảy ra. Nó không còn ở trong thế giới ảo nữa.

ChildLine — một tổ chức phi lợi nhuận của Anh chuyên giải quyết những vấn đề của người trẻ đã đưa ra một thống kê đáng kinh ngạc vào năm ngoái: từ năm 2012 tới 2013, các cuộc gọi và email yêu cầu được giúp đỡ liên quan tới xúc phạm trong thế giới ảo tăng tới 87%.

Một phân tích tổng hợp cho thấy, lần đầu tiên tỉ lệ tự tử vì bị sỉ nhục trên mạng nhiều hơn đáng kể so với bị ức hiếp trực tiếp. Và điều khiến tôi hoảng hốt là một nghiên cứu khác vào năm ngoái chỉ ra rằng sự sỉ nhục mang lại cảm giác mạnh hơn cả hạnh phúc và tức giận.

Xử sự tàn ác với người khác thì không có gì là mới, nhưng với sự giúp đỡ của công nghệ, của thế giới ảo, sự sỉ nhục ấy được khuếch đại và còn lưu lại mãi mãi.

Nếu như sự xấu hổ ở thế giới thực chỉ trong phạm vi gia đình, làng xóm, trường học hay cộng đồng xung quanh, thì ở thế giới ảo, hàng triệu người có thể đâm vào tim bạn bằng những lời lẽ của họ.

Trong hai thập kỉ qua, chúng ta đã gieo những hạt giống của sự xấu hổ và sự tổn thương trên mảnh đất văn hoá của chúng ta, cả ở thế giới thật và ảo.Những trang lá cải paparazzi, những chương trình truyền hình thực tế, chính trị, các hãng tin và đôi khi là hacker, tất cả đều đang gieo hạt xấu hổ.

Thế nhưng, trong nền văn hoá sỉ nhục này, làm người khác tổn thương được trả giá. Cái giá này không đo được những gì mà các nạn nhân như Tyler và quá nhiều người, đặc biệt là phụ nữ, người dân tộc thiếu số, các thành viên trong cộng đồng người đồng tính phải gánh chịu.

Nhưng nó lại đo được lợi nhuận của những người săn tìm. Họ kiếm tiền bằng những click chuột. Càng nhiều hổ thẹn thì càng nhiều click chuột. Càng nhiều click thì càng nhiều tiền quảng cáo. Chúng ta đang ở trong một vòng tròn nguy hiểm. Chúng ta click vào những loại tin lá cải càng nhiều thì chúng ta gây nguy hiểm cho cuộc sống của đồng loại mình càng lớn.

Thay đổi hành vi bắt đầu bằng việc củng cố niềm tin. Chúng ta đã thấy điều đó đúng với phân biệt chủng tộc, ám ảnh với người đồng tính và rất nhiều thành kiến khác, bây giờ và trong quá khứ. Khi chúng ta thay đổi niềm tin về hôn nhân cùng giới, nhiều người được sống bình đẳng hơn. Khi chúng ta bắt đầu coi trọng sự bền vững, nhiều người đã bắt đầu tái chế rác thải.

Vì thế, khi văn hoá sỉ nhục bắt đầu lan rộng, cái mà chúng ta cần là một cuộc cách mạng văn hoá. Chế giễu công khai là một môn thể thao đổ máu cần phải dừng lại. Đã đến lúc cần một sự can thiệp với Internet và với nền văn hoá của chúng ta.

(Trích Cái giá của nỗi nhục nhã-Monica Lewinxki, Dẫn theo http:// vietnamnet.vn, ngày 06/4/2015)

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt  chính của văn bản?

Câu 2. Chỉ ra và nêu hiệu quả nghệ thuật biện pháp tu từ trong câu văn sau: Trong hai thập kỉ qua, chúng ta đã gieo những hạt giống của sự xấu hổ và sự tổn thương trên mảnh đất văn hoá của chúng ta, cả ở thế giới thật và ảo.

Câu 3. Hành động click vào những loại tin lá cải để lại hậu quả gì?

Câu 4.Vì sao sự sỉ nhục trên thế giới ảo còn nặng nề và nguy hiểm hơn trong thế giới thực?

Phần II. Làm văn (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm):

Hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về “cuộc cách mạng văn hoá” cần có khi “Văn hoá sỉ nhục bắt đầu lan rộng” được gợi ra ở phần Đọc hiểu

Câu 2. (5,0 điểm)

Phân tích nghệ thuật miêu tả tâm trạng nhân vật Mỵ của nhà văn Tô Hoài trong đoạn trích dưới đây :

Lúc ấy đã khuya. Trong nhà ngủ yên thì Mị trở dậy thổi lửa. Ngọn lửa bập bùng sáng lê, Mị lé mắt trông sang thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại. Nhìn thấy tình cảnh như thế, Mị chợt nhớ lại đêm năm trước, A Sử trói Mị, Mị cũng phải trói đứng thế kia. Nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ, không biết lau đi được. Trời ơi, nó bắt trói đứng người ta đến chết, nó bắt mình chết cũng thôi, nó bắt trói đến chết người đàn bà ngày trước cũng ở cái nhà này. Chúng nó thật độc ác. Cơ chùng này chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết. Ta là thân đàn bà, nó đã bắt về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi… Người kia việc gì mà phải chết thế. A Phủ… Mị phảng phất nghĩ như vậy. 

 Đám than đã vạc hẳn lửa. Mị không thổi, cũng không đứng lên. Mị nhớ lại đời mình. Mị lại tưởng tượng như có thể một lúc nào, biết đâu A Phủ chẳng đã trốn được rồi, lúc ấy bố con Pá Tra sẽ bảo là Mị đã cởi trói cho nó. Mị liền phải trói thay vào đấy. Mị phải chết trên cái cọc ấy. Nghĩ thế, trong tình cảnh này, làm sao Mị cũng không thấy sợ…

Lúc ấy, trong nhà đã tối bưng. Mị rón rén bước lại, A Phủ vẫn nhắm mắt. Nhưng Mị tưởng như A Phủ đương biết có người bước lại… Mị rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây. A Phủ cứ thở phè từng hơi, không biết mê hay tỉnh. Lần lần, đến lúc gỡ được hết dây trói ở người A Phủ thì Mị cũng hốt hoảng. Mị chỉ thì thào được một tiếng “Đi ngay…” rồi Mị nghẹn lại. A Phủ bỗng khuỵu xuống, không bước nổi. Nhưng trước cái chết có thể đến nơi ngay, A Phủ lại quật sức vùng lên, chạy.

         Mị đứng lặng trong bóng tối…”

       

(Trích  vợ chồng a phủ  – Tô Hoài)

—HẾT—

HƯỚNG DẪN CHẤM, THANG ĐIỂM

Phần Câu Nội dung Điểm
I ĐỌC HIỂU 3.0
1          Phương thức biểu đạt chính: nghị luận 0,25
2          Chỉ ra và nêu hiệu quả nghệ thuật biện pháp tu từ trong câu văn sau: Trong hai thập kỉ qua, chúng ta đã gieo những hạt giống của sự xấu hổ và sự tổn thương trên mảnh đất văn hoá của chúng ta, cả ở thế giới thật và ảo.

– Biện pháp tu từ ẩn dụ: gieo những hạt giống mảnh đất văn hoá

          – Hiệu quả nghệ thuật: làm câu văn mang tính gợi hình ảnh cụ thể, tạo sự liên tưởng để cảnh báo hiện tượng xấu trong cuộc sống thật và thế giới ảo, đó là sự sỉ nhục người khác.

1,00
3             Hành động click vào những loại tin lá cải để lại hậu quả: Là hành động góp phần gieo những hạt giống của sự sỉ nhục, nỗi xấu hổ và tham dự vào “môn thể thao đổ máu” làm tổn thương người khác. 0,50
4 Sự sỉ nhục trên thế giới ảo còn nặng nề và nguy hiểm hơn trong thế giới thực vì:

-Con người có thể ẩn danh, giấu mặt nên không có trách nhiệm với lời lẽ, thái độ cùa mình.

-Sự sỉ nhục bị khuếch đại với số lượng, phạm vi lớn: “ở thế giới ảo, hàng triệu người có thể đâm vào tim bạn bằng những lời lẽ của họ”.

-Sự sỉ nhục có thể lưu lại mãi mãi, và mỗi lần có ai đó chạm tới, sự sỉ nhục đó lại hiện lên, lại khiến người bị sỉ nhục tổn thương.

1,00
LÀM VĂN 7.0
1             Viết đoạn văn nghị luận trình bày suy nghĩ của anh/chị về “cuộc cách mạng văn hoá” cần có khi “Văn hoá sỉ nhục bắt đầu lan rộng” được gợi ra ở phần Đọc hiểu 2,0
a. Đảm bảo cấu trúc đoạn văn nghị luận 200 chữ

Có đủ các phần mở đoạn, phát triển đoạn, kết đoạn. Mở đoạn nêu được vấn đề, phát triển đoạn triển khai được vấn đề, kết đoạn kết luận được vấn đề.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

“cuộc cách mạng văn hoá” cần có khi “Văn hoá sỉ nhục bắt đầu lan rộng”

0,25

 

c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; rút ra bài học nhận thức và hành động 1,5
          – Câu mở đoạn: Dẫn ý liên quan để nêu vấn đề cần nghị luận: “cuộc cách mạng văn hoá” cần có khi “Văn hoá sỉ nhục bắt đầu lan rộng”.

– Các câu phát điển đoạn:

+Cuộc “cách mạng văn hoá” chính là thay đổi mạnh mẽ quan niệm, thái độ khi tham gia vào thế giới ảo và hành động cần phải có, để chấm dứt “môn thê thao đổ máu”, để ngừng gieo rắc sự sỉ nhục và xấu hổ.

+ Những việc làm cụ thể

++Không click vào những tin tức lá cải; không hùa theo số đông để sỉ nhục, phỉ báng, vùi dập người khác.

++Cẩn trọng khi đưa tin và khi tiếp nhận thông tin trên thế giới ảo.

++Có trách nhiệm với lời lẽ, thái độ của mình lúc tham gia bàn luận – ngay cà khi ẩn danh.

++Bàn luận một cách lịch sự và bao dung.

0,25

 

1,00

 

 

 

– Câu kết đoạn: Rút ra bài học nhận thức và hành động phù hợp cho bản thân. 0,25
d. Sáng tạo

Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận.

e. Chính tả, dùng từ, đặt câu

Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.

0,25

 

 

0,25

2               Nghệ thuật miêu tả tâm trạng nhân vật Mỵ của nhà văn Tô Hoài trong đoạn trích 5,0
a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận 0,25
  Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận 0,50
           Nghệ thuật miêu tả tâm trạng nhân vật Mỵ của nhà văn Tô Hoài trong đoạn trích
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; thể hiện sự cảm nhận sâu sắc và vận dụng tốt các thao tác lập luận để triển khai các luận điểm (trong đó phải có thao tác phân tích, so sánh); biết kết hợp giữa nêu lí lẽ và đưa dẫn chứng. 3.50
  – Giới thiệu về tác giả, tác phẩm; nêu vấn đề cần nghị luận

– Phân tích nghệ thuật miêu tả tâm trạng nhân vật Mỵ của nhà văn Tô Hoài trong đoạn trích :

+Đây là đoạn trích miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật khá phức tạp với nhiều thay đổi. Có thể thấy tâm trạng nhân vật đã được miêu tả qua các sự việc:

++Mị trở dậy thổi lửa trong đêm (tâm trạng nhân vật không có gì đặc biệt).

++ Mị vô tình nhìn sang A Phủ lúc ấy đang bị trói đứng ở cột.

++Mị liên hệ đến việc mình bị trói, người đàn bà ngày trước bị trói,…

++ Mị nhận thấy A Phủ bị chết là bất công, nhưng Mị cũng sợ bị cha con Pá Tra trói thay vào đó nếu A Phủ trốn thoát.

++ Mị cắt dây trói cho A Phủ và chạy trốn cùng A Phủ.

Các sự việc ấy gắn kết với nhau vì thái độ, sự cảm thông của Mị đối với người cùng cảnh ngộ, nhận thức về sự bất công ngay trong ngôi nhà của thống lí Pá Tra khiến Mị thắng được nỗi sợ hãi, dẫn đến hành động quyết liệt của Mị.

+Các chi tiết “đánh dấu” sự chuyển biến trong suy nghĩ, tình cảm của Mị đã được tác giả sử dụng trong ngôn ngữ kể :

++Tạo nhịp điệu cho lời kể (“Lúc ấy đã khuya…”, “Lúc ấy, trong nhà đã tối bưng…”) tạo cảm giác về tình huống truyện căng thẳng, kịch tính.

++ Khắc hoạ hình ảnh ngọn lửa Mị thổi bùng lên trong đêm. Trong ánh sáng đó, Mị nhìn thấy người bị trói đến chết, sắp chết ; Mị thấy lại hình ảnh của người đàn bà ngày trước bị trói, thấy lại cảm giác của bản thân mình khi bị trói đêm năm trước…

++ Miêu tả nhận thức trong sâu thẳm tâm hồn nhân vật Mị qua hình ảnh “đám than đã vạc hẳn lửa…”, “trong nhà đã tối bưng”, “Mị đứng lặng trong bóng tối”, “trời tối lắm”,… Những chi tiết miêu tả bóng tối nhưng lại có tác dụng thể hiện sự “sáng lên” trong nhận thức của nhân vật về con đường tự giải thoát mình.

– Khẳng định mức độ thành công của nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật trong đoạn trích – đóng góp cho sự thành công của tác phẩm.

0,50

2,50

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

0,5

d. Sáng tạo 0,50
Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận.
e. Chính tả, dùng từ, đặt câu 0,25
Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.
ĐIỂM TOÀN BÀI THI : I + II = 10,00 điểm

Đề văn sưu tầm .

Xem thêm những đề thi khác tại đây :  Bộ đề thi thử THPT Quốc gia môn văn có đáp án

Bộ đề thi thử THPT Quốc gia môn văn, đề số 92

Đề thi thử kì thi THPT Quốc gia năm 2017. Tài liệu ôn thi dành cho học sinh lớp 12, đề đọc hiểu và Nghị luận xã hội  200 chữ , đề thi về bài Đất nước nguyễn khoa điềm

Môn: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Câu I (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4 :

Pablo là một nhạc công chơi violon điêu luyện, ở quê nhà, ai cũng biết tới anh vì Pablo được mời tới chơi ở hầu hết các sự kiện trong vùng. Pablo cũng muốn được vào học một trường đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp để phát triển sự nghiệp của mình, vì thế nên khi biết Học viện âm nhạc Paris nổi tiếng tuyển sinh, Pablo đã ghi danh thi và ngày đêm luyện tập mong sẽ thi đỗ.

Trong buổi thi tuyển, mặc dù Pablo đã cố gắng hết sức thể hiện tài năng của mình với những cảm xúc rất thật nhưng anh vẫn không được trong danh sách trúng tuyển. Thất vọng và buồn bã, Pablo đi lang thang giữa Paris hoa lệ và đến một quảng trường rộng, Pablo đứng kéo cây vĩ cầm thể hiện những bản nhạc kinh điển với tâm trạng buồn. Anh quên mất xung quanh, chìm đắm vào những bản nhạc, hết bản này nối tiếp bản khác. Khi dừng lại thì quanh anh là một đám đông đứng nghe và họ vỗ tay rào rào đề nghị anh chơi tiếp, hộp đàn của anh đầy các đồng xu do những người nghe đặt vào.

Pablo nâng đàn lên chuẩn bị chơi tiếp theo yêu cầu của khán giả thì một người khách chen vào và ném những đồng xu vào hộp đàn của anh với vẻ rất ngạo mạn. Pablo liền cúi xuống nhặt hết những đồng xu ấy và đưa lại cho người khán giả nọ, rồi bảo: “Thưa ông, tiền của ông bị rơi này”. Người đàn ông cầm mấy đồng xu và lại ném xuống, nói: “Tiền của anh đấy, nhận lấy đi”.

Pablo cúi đầu và nói: “Xin cảm ơn tấm lòng của ông, vừa rồi tiền của ông rơi, tôi đã nhặt giúp ông lên, bây giờ tiền của tôi rơi, xin phiền ông cũng nhặt giúp nó lên cho tôi”. Khán giả đứng xung quanh xì xào nhận xét, người đàn ông thoáng mỉm cười, cúi xuống nhặt những đồng xu để vào hộp đàn rồi bỏ đi.

Người đàn ông ấy là một trong những vị giám khảo của Học viện âm nhạc Paris đã bất ngờ đi qua quảng trường, nghe Pablo chơi đàn và quyết định thử anh. Ông nói: “Một người nghệ sỹ chân chính cần phải có nhân phẩm tốt nữa”. Và ông đã quyết định thêm Pablo vào danh sách học viên mới. Đúng như ông suy nghĩ, Pablo sau này đã trở thành một nghệ sỹ đàn vĩ cầm nổi tiếng về tài danh và nhân đức.

(Theo An ninh Thủ đô)

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt  chính được sử dụng trong văn bản trên.

Câu 2. Anh/Chị hiểu thế nào về hành động Pablo liền cúi xuống nhặt hết những đồng xu ấy và đưa lại cho người khán giả nọ?

Câu 3. Theo anh/chị, vì sao vị giám khảo của Học viện âm nhạc Paris đã quyết định thêm Pablo vào danh sách học viên mới?

Câu 4. Văn bản trên gửi gắm bức thông điệp gì đối với anh/chị?

II:LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm)

Hãy viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về câu nói“Một người nghệ sỹ chân chính cần phải có nhân phẩm tốt nữa”được rút ra  trong văn bản ở phần Đọc hiểu.

Câu 2(5,0 điểm): Phân tích tư tưởng “Đất nước của Nhân dân” đã thể hiện trong đoạn trích Đất Nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng – Nguyễn Khoa Điềm).

 Đáp án

Phần Câu Nội dung Điểm
I   ĐỌC HIỂU 3.0
1 Phương thức biểu đạt chính: tự sự 0,5
2  Hiểu về hành động Pablo liền cúi xuống nhặt hết những đồng xu ấy và đưa lại cho người khán giả nọ:

– Pablo không tức giận trước thái độ quá đáng của người khách khi ông ta cố tình ném những đồng xu vào hộp đàn của anh với thái độ không thiện chí;

– Pablo cúi xuống là thể hiện sự nhún nhường, nhẫn nhịn trong ứng xử, thể hiện hành vi rất văn hoá của người nghệ sĩ chân chính.

0,5
3 Vị giám khảo của Học viện âm nhạc Paris đã quyết định thêm Pablo vào danh sách học viên mới:

-Vì ông đã nhận ra ở Pablo những đức tính tốt đẹp mà người nghệ sĩ khác không có;

– Vì ông đã tìm được người có tài năng và đức độ để cống hiến cho nghệ thuật.

1,00
4  Văn bản trên gửi gắm bức thông điệp

Trong cuộc đời, có những lúc bạn sẽ gặp phải sự khinh thường và hạ nhục đến từ những người xung quanh, đó thật sự là những giây phút khó khăn vì khi ấy nhân phẩm của chúng ta bị chà đạp. Phản kháng lại gay gắt là bản năng của con người khi gặp phải những điều này nhưng có thể lại làm cho tình hình tệ hại hơn. Thế nên, lúc đó, bạn đừng dùng lý trí mà hãy dùng một tâm thái khoan dung, độ lượng để đối lại, bạn sẽ bảo vệ được danh dự của mình. Bởi vì, khi đứng trước chính nghĩa, không dã tâm nào có thể đứng vững. Hãy biết cúi xuống để thể hiện phẩm chất sáng ngời của bạn.

1,00
II   LÀM VĂN 7.0
1 Viết một đoạn văn ngắn (khoảng 200 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về câu nói có trong phần Đọc hiểu: 2,0
  a. Đảm bảo cấu trúc đoạn văn nghị luận 200 chữ

Có đủ các phần mở đoạn, phát triển đoạn, kết đoạn. Mở đoạn nêu được vấn đề, phát triển đoạn triển khai được vấn đề, kết đoạn kết luận được vấn đề.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Đề cao giá trị nhân phẩm đối với người nghệ sĩ.

0,25

 

c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; rút ra bài học nhận thức và hành động. 1,5
– Câu mở đoạn: Dẫn ý liên quan để nêu vấn đề. “Một người nghệ sỹ chân chính cần phải có nhân phẩm tốt nữa”

– Các câu phát triển đoạn:

+ Giải thích:

++ Nghệ sĩ chân chính: là người ý thức được thiên chức của mình trong quá trình sáng tạo;

++Nhân phẩm là toàn bộ những phẩm chất mà mỗi con người có được. Nói cách khác, nhân phẩm là giá trị làm người của mỗi con người.

++ Ý cả câu: Nhân phẩm là thước do dành cho nghệ sĩ chân chính nói riêng, con người nói chung.

+Phân tích, chứng minh, bình luận:

++ Người có nhân phẩm tốt là người có lương tâm, có nhu cầu vật chất và tinh thần lành mạnh, biết tôn trọng các quy tắc, chua63m mực đạo đức tiến bộ;

++Người có nhân phẩm được xã hội đánh giá cao và được kính trọng. Người thiếu nhân phẩm hoặc tự đánh mất nhân phẩm sẽ bị xã hội đánh giá thấp, bị coi thường và bị khinh rẻ, bị tố cáo và lên án;

0,25

 

 

0,25

 

 

 

 

 

 

0,5

 

– Câu kết đoạn: đưa ra bài học nhận thức và hành động phù hợp. Gợi ý: Để có nhân phẩm tốt, ta cần có lương tâm trong sáng,biết sống độ lượng và vị tha. Biết tôn trọng nhân phẩm của chính mình cũng như của mọi người xung quanh…

 

0,5
d. Sáng tạo

Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận.

0,25
e. Chính tả, dùng từ, đặt câu

Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.

0,25

 

  2 tư tưởng “Đất nước của Nhân dân” đã thể hiện trong đoạn trích Đất Nước 5,0
  a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận 0,25
  Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề.  
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận 0,50
tư tưởng “Đất nước của Nhân dân” đã thể hiện trong đoạn trích Đất Nước  
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; thể hiện sự cảm nhận sâu sắc và vận dụng tốt các thao tác lập luận để triển khai các luận điểm (trong đó phải có thao tác phân tích, so sánh); biết kết hợp giữa nêu lí lẽ và đưa dẫn chứng. 3.50
I. Mở bài:

-Giới thiệu Nguyễn Khoa Điềm- hồn thơ giàu suy tư, chiêm nghiệm;

– Giới thiệu đoạn trích Đất nước – thuộc chương V của trường ca Mặt đường khát vọng.

– Nêu vấn đề cần nghị luận: tư tưởng “Đất nước của Nhân dân” đã thể hiện trong đoạn trích Đất Nước .

II. Thân bài   

1. Phân tích

a.Hình thức nghệ thuật:

– Nguyễn Khoa Điềm đã lựa chọn hình thức trữ tình là lời tâm tình đằm thắm của một người con trai với một người con gái. Những đôi lứa yêu nhau khi tình tự thường nói đến những gì riêng tư nhất song ở đây họ lại nói đến đất nước. Bởi vì trong những năm tháng chiến tranh, đất nước chính là mối quan tâm lớn nhất, thường trực nhất của người Việt Nam. Nội dung chính luận thường có vẻ khô khan song nhờ được thể hiện qua hình thức này mà trở nên thấm đẫm màu sắc trữ tình tươi mát.

– Trong đoạn trích, chất liệu văn hoá dân gian đã trở thành chất liệu cơ bản để xây dựng hình tượng, thể hiện tư tưởng. Nguyễn Khoa Điềm đã lựa chọn và sử dụng rất nhiều yếu tổ của văn hoá dân gian: thành ngữ, tục ngữ, ca dao, truyền thuyết, cổ tích và cả kiến thức về những phong tục, tập quán lâu đời của người Việt. Ngay từ câu thơ mở đầu đoạn trích, nhà thơ đã gợi ra bầu không khí quen thuộc của cổ tích qua “những cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể”. Đất nước là một khái niệm thiêng liêng, một hình vóc lớn lao song thật ra nó đã thấm thìa trong tâm hồn ta từ thời thơ ấu – có từ chính những gì đơn sơ, bình dị nhất vẫn bao bọc xung quanh cuộc sống của chúng ta. Đó là miếng trầu, cây tre, gừng cay muối mặn, cái kèo cái cột, hạt gạo một nắng hai sương… Đó là nơi anh đến trường, nơi em tắm, nơi ta hò hẹn, nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm… Phát hiện ra điều này, Nguyễn Khoa Điềm đã dùng chính chất liệu văn hoá, văn học dân gian, cái thứ chất liệu đặc biệt luôn sẵn có trong tâm thức người Việt để thể hiện và truyền đạt tư tưỏng “đất nước của nhân dân”. Mật độ các yếu tố văn hoá – văn học dày đặc. Đặt trong đoạn trích, yếu tố đó làm cho toàn bộ đoạn trích như được bao bọc trong bầu khí quyển dân gian. Có lẽ không gì tốt và hay hơn là dùng chính chất liệu dân gian, kết tinh tài năng và tâm hồn nhân dân lao động để thể hiện tư tưởng ”Đất nước của nhân dân”.

b. Nội dung

Khái niệm đất nước thường được hiểu trên các phương diện địa lí, lịch sử, văn hoá, trong mối quan hệ với con người. Mang tư tưởng “Đất nước của nhân dân”, Nguyễn Khoa Điềm đã khẳng định rõ trong đoạn trích này: Địa lí là hoá thân cuộc đời nhân dân, lịch sử do nhân dân tạo thành và văn hoá cũng do nhân dân xây dựng trong quá trình sinh sống.

b.l. Địa lí của nhân dân: Nhân dân hoá thân vào dáng hình Đất Nước. Khác với nhà khoa học, nói tới địa lí là nói tới ranh giới lãnh thổ, địa phận, nói đến những thông tin số liệu về các vùng miền và có thể mô hình hoá thành bản đồ, biểu đồ… Nguyễn Khoa Điềm đã gợi niềm tự hào về địa lí quê hương bằng cách gợi ra những danh lam thắng cảnh, những di tích lịch sử – văn hoá của đất nước. Mỗi địa danh ấy đều gắn với một truyền thuyết, một huyền thoại do nhân dân lao động sáng tạo để giải thích nguồn gốc sự hình thành của nó. Trong các truyền thuyết, mỗi ngọn núi, con sông đều là hoá thân của một con người. Trong tích truyện xưa, những con người ấy có thể có tên hoặc không tên, song trong cách nói của Nguyễn Khoa Điềm, họ đều là những con người vô danh. Người vợ nhớ chồng, cặp vợ chồng yêu nhau, người học trò nghèo, người dân nào… Những con người vô danh ấy đã hoá thân và làm nên eái hữu danh cho đất nước. Trong mỗi vóc dáng của núi sông gò bãi đều có dấu ấn cuộc đời và tâm hồn cha ông. Với cách nói này, Nguyễn Khoa Điềm không những đã khẳng định địa lí quê hương được làm nên bởi nhân dân mà còn thể hiện sự tri ân với công lao nhân dân đã làm nên đất nước.

b.2. Lịch sử của nhân dân: Nhân dân làm nên lịch sử Đất Nước.Cũng nói về 4000 năm lịch sử, song Nguyễn Khoa Điềm không nói đến các sự kiện, các nhân vật nổi tiếng, các biến cố hay quá trình vận động. Nhà thơ đã nhìn vào chiều sâu của cả quá trình lịch sử 4000 năm để nhận ra một quy luật bất biến của sự sống, của nhịp sống: đó là “cần cù làm lụng” lúc hoà bình và “ra trận” khi có giặc. Chính việc chiến đấu và dựng xây, vun đắp và bảo vệ mới làm nên một đất nước hôm qua, hôm nay và cả mai sau. Và những ai đã “làm lụng” và “ra trận”! Đó chính là “những người con gái con trai bằng tuổi chúng ta”. Cách nói này vừa khẳng định nhân dân vô danh đã làm nên lịch sử, vừa tạo nên liên tưởng về một sức mạnh vô hình gắn kết mọi thế hệ là lịch sử của sức sống, sự sống dân tộc, vừa khẳng định lịch sử được làm nên bởi lớp lớp ”nhữrtg người con gái con trai bằng tuổi chúng ta”, vừa khẳng định rằng chính chúng ta có trách nhiệm viết tiếp trang sử mới của dân tộc, của đất nước mình.

b.3. Văn hoá của nhân dân: Nhân dân để lại dòng chảy văn hoá dân tộc. Nhà thơ đã gợi ra một cuộc chạy tiếp sức không ngừng nghỉ của các thế hệ nhân dân (họ) để nuôi dưỡng, bồi đắp, lưu truyền dòng chảy văn hoá để kết nối các thế hệ. “Hạt lúa”, “ngọn lửa” là biểu tượng văn hoá vật chất của nền văn minh lúa nước ở Việt Nam; “giọng nói”, “tên xã tên làng” là biểu trưng thiêng liêng của văn hoá tinh thần (“tiếng nói” lưu giữ và biểu hiện đời sống tâm hồn, tinh thần, “tên xã tên làng” gợi nhắc cội nguồn, truyền thống). Văn hoá tinh thần còn bộc lộ trong cách ứng xử với những thế lực đố kị với sự sống dân tộc (ngoại xâm và nội thù). Văn hoá tinh thần kết tinh cao nhất, sâu sắc nhất trong ca dao, thần thoại. Nhà thơ đã sử dụng một cách sáng tạo, tài hoa những câu ca dao đặc sắc tiêu biểu cho diện mạo tinh thần người Việt: say đắm trong tình yêu, quý trọng tình nghĩa song cũng thật mãnh liệt và dữ dội trong căm thù. Những vẻ đẹp ấy được ca dao thần thoại lưu truyền từ đời này sang đời khác để làm nên khuôn mặt tinh thần đặc sắc của người Việt Nam.

2.Bình luận, đánh giá

– Quan niệm về đất nước đã xuất hiện nhiều trong văn học: Nam quốc sơn hà, Bình Ngô đại cáo, Việt Nam quốc sử diễn ca… song trong các tác phẩm ấy, chủ thể sở hữu đất nước không phải là nhân dân: là vua trong Nam quốc sơn hà, là các triều đại trong Bình Ngô đại cáo, là các anh hùng trong Việt Nam quốc sử diễn ca. Phải đến những năm kháng chiến chông Pháp và chông Mĩ, các nhà thơ khi gắn số phận mình với số phận dân tộc mới nhận ra đất nước là của nhân dân. Đất nước vĩ đại vì có nhân dân vĩ đại.

-Với thể thơ tự do, những câu thơ dài ngắn khác nhau thể hiện rất linh hoạt những cung bậc cảm xúc của nhân vật trữ tình, ngôn ngữ thơ, hình ảnh thơ lại giàu tính triết lí có khả năng khơi gợi những liên tưởng xa và rộng, Nguyễn Khoa Điềm đã khẳng định vẻ đẹp kì diệu, vĩ đại của đất nước qua tư tưởng đất nước của nhân dân. Từ nhận thức đúng đắn này, lớp trí thức trẻ tuổi miền Nam trong những năm đánh Mĩ đã tự nguyện “gắn bó”, “san sẻ” và “hoá thân” cho đất nước, nghĩa là xuống đường hoà nhập với cuộc đấu tranh chung của dân tộc.

III. Kết bài:

–          Tóm lại ý nghĩa tư tưởng Đất Nước của nhân dân

– Liên hệ và nêu cảm nghĩ về vai trò của nhân dân trong xây dựng và bảo vệ đất nước.

0,50

 

 

 

 

 

2,00

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

0,5

 

 

 

 

 

0,5

d. Sáng tạo 0,50
Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận.  
e. Chính tả, dùng từ, đặt câu 0,25
Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.  
    ĐIỂM TOÀN BÀI THI : I + II = 10,00 điểm  

 Đề văn sưu tầm

Xem thêm những đề thi khác tại đây :  Bộ đề thi thử THPT Quốc gia môn văn có đáp án

Đề thi thử THPT Quốc gia môn văn chuẩn cấu trúc, đề số 91

ĐỀ THI  THỬ QUỐC GIA THPT NĂM 2017

Môn: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Phần I. Đọc hiểu (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4 :

Một nhà hiền triết đưa học trò đi ngao du khắp thế gian. Họ tìm gặp, trò chuyện, học hỏi hầu hết những bậc thầy nổi tiếng ở nhiều đất nước. Sau 10 năm, nhà hiền triết cùng học trò trở về quê hương. Trước khỉ vào thành, nhà hiền triết nói với học trò của mình: “Mười năm ngao du, các con đều đã trở thành kẻ sĩ học rộng hiểu nhiều. Giờ đây, ta sẽ giảng cho các con một bài học cuối cùng”.

Các học trò kéo đến ngồi quanh nhà hiền triết. Ông hỏi: “Hiện chúng ta đang ngồi ở đâu?”. Họ đồng thanh trả lời rằng đang ngồi trên bãi cỏ hoang ở bên nạoài thành. Nhà hiền triết lại hỏi: “Trên bãi cỏ hoang này có những cây gì?”. Học trò đồng thanh đáp: “Trên bãi hoang mọc toàn cỏ dại ạ!”.

Nhà hiền triết nói: “Đúng! Trên bãi cỏ hoang này mọc toàn cỏ dại. Bây giờ ta muốn biết bằng cách gì để trừ hết thứ cỏ dại này?”. Các học trò nhìn nhau hết sức  ngạc nhiên, vì không ngờ nhà hiền triết xưa nay vốn chỉ đi sâu nghiên cứu những điều huyền bí của cuộc sống, mà trong bài học sau cùng này lại hỏi họ một vấn đề giản đơn như thế.

Một người lên tiếng trước: “Dạ thưa thầy, chỉ cần có một cái cuốc là xong hết ạ!”.

Nhà hiền triết khe khẽ gật đầu.

Một người học trò khác như phát hiện ra điều gì mới, nói tiếp: “Dạ thưa thầy, đốt lửa để diệt cỏ cũng là một cách rất hay ạ!”.

Nhà hiền triết im lặng mỉm cười, ra hiệu gọi một người khác.

Người học trò thứ ba nói: “Thưa thầy, rắc vôi lên cũng có thể diệt được hết tất cả các giống cỏ đấy ạ!”.

Tiếp ngay sau đó là người học trò thứ tư: “Diệt cỏ phải trừ tận qốc, chỉ cẩn nhổ được rễ lớn là xong  hết!”.

Nghe xong, nhà hiền triết đứng dậy, nói: “Bài học hôm nay đến đây là hết, các con hãy về đi, một năm nữa quay lại đây ta sẽ nói chuyện sau”.

Một năm sau, mọi người quay trở lại thì thấy bãi cỏ dại năm trước đã biến mất, thay vào đó là cánh đồng ngô lúa xanh tươi. Họ lại ngồi quây quần gần ruộng lúa, chờ nhà hiền triết nhưng mãi vẫn không thấy ông tới.

(Sưu tầm)

Câu 1. Văn bản trên viết về chuyện gì?

Câu 2. Xác định   phong cách ngôn ngữ của văn bản?

Câu 3. Giải thích ý nghĩa ẩn dụ của các hình ảnh: cỏ dại, ngô lúa.

Câu 4. Theo anh (chị), nhà hiền triết muốn truyền cho các học trò bài học nào?

 

Phn II. Làm văn (7,0 đim)

Câu 1 (2,0 điểm):

Viết một đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về câu văn: Một năm sau, mọi người quay trở lại thì thấy bãi cỏ dại năm trước đã biến mất, thay vào đó là cánh đồng ngô lúa xanh tươi.  được gợi ra từ phần Đọc hiểu.

 Câu 2. (4,0 điểm)

Cảm nhận của anh chị về cảnh dân làng Xô Man cứu Tnú trong truyện “rừng xà nu ” của Nguyễn Trung Thành:

Một ngón tay Tnú bốc cháy. Hai ngón, ba ngón. Không có gì đượm bằng  nhựa xà nu. Lửa bắt rất nhanh. Mười ngón tay đã thành mười ngọn đuốc.

Tnú nhắm mắt lại, rồi mở mắt ra,  trừng trừng.

          Trời ơi! Cha mẹ ơi! Anh không cảm thấy lửa cháy ở mười đầu ngón tay  nữa. Anh nghe lửa cháy trong lồng ngực, cháy ở bụng. Máu anh mặn chát ở đầu  lưỡi. Răng anh đã cắn nát môi anh rồi. Anh không kêu lên. Anh Quyết nói:  “Người Cộng sản không thèm kêu van…” Tnú không thèm, không thèm kêu  van. Nhưng trời ơi! Cháy! Cháy cả ruốt đây rồi! Anh Quyết ơi! Cháy!Không, Tnú sẽ không kêu! Không!

            Tiếng cười giần giật của thằng Dục. Các cụ già chồm dậy. Bọn lính gạt ra.  Tiếng kêu ré của đồng bào. Tiếng chân ai rầm rập quanh nhà ưng. Ai thế?

 Tnú thét lên một tiếng. Chỉ một tiếng thôi. Nhưng là tiếng thét của anh vang dội thành nhiều tiếng thét dữ dội hơn.  Tiếng “Giết!”. Tiếng chân người đạp trên sàn nhà ưng ào ào. Tiếng bọn lính kêu thất thanh. Tiếng cụ Mết ồ ồ: “Chém! Chém hết!” Cụ Mết, đúng  rồi, cụ Mết đã đứng đấy, lưỡi mác dài trong tay. Thằng Dục nằm dưới lưỡi mác  của cụ Mết. Và thanh niên, tất cả thanh niên trong làng, mỗi người một cây rựa  sáng loáng, những cây rựa mài bằng đá mà Tnú mang từ đỉnh núi Ngọc Linh về…

    Tiếng anh Brôi nói, trầm tĩnh:

   -Tnú! Tnú! Tỉnh dậy chưa! Đây này, chúng tôi giết hết rồi. Cả mười đứa, đây này! Bằng giáo, bằng mác. Đây này!

    Lửa đã tắt trên mười đầu ngón tay Tnú. Nhưng đống lửa xà nu giữa nhà  vẫn đỏ. Xác mười tên lính giặc ngổn ngang quanh đống lửa đỏ…

( Trích “Rừng xà nu”-Nguyễn Trung Thành)

 

HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI

Phần Câu Nội dung Điểm
I   ĐỌC HIỂU 3.0
1          Văn bản viết về chuyện nhà hiền triết và các học trò bàn cách diệt trừ cỏ dại. 0,75
2          Phong cách ngôn ngữ của văn bản: nghệ thuật 0,25
3            Trong văn bản này, cỏ dại ẩn dụ cho cái xấu, cái ác, cho những tâm trạng tiêu cực,…; ngô lúa ẩn dụ cho cái đẹp, cái thiện, niềm vui, hạnh phúc, sự bình yên,… trong tâm hồn mỗi con người và trong cuộc sống. 1,00
4    Đoạn văn đảm bảo các ý:

Nhà hiền triết muốn truyền cho các học trò bài học :

-Nuôi dưỡng, bảo vệ cái đẹp, cái thiện chính là cách tốt nhất để loại bỏ cái xấu, cái ác

-Muốn tâm hồn bình yên, thư thái hãy vun trồng, gìn giữ những suy nghĩ, cảm xúc, tư tưởng đẹp đẽ, tốt lành

1,00
II   LÀM VĂN 7.0
1 Viết một đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về câu văn: Một năm sau, mọi người quay trở lại thì thấy bãi cỏ dại năm trước đã biến mất, thay vào đó là cánh đồng ngô lúa xanh tươi.  được gợi ra từ phần Đọc hiểu. 2,0
  a. Đảm bảo cấu trúc đoạn văn nghị luận 200 chữ

Có đủ các phần mở đoạn, phát triển đoạn, kết đoạn. Mở đoạn nêu được vấn đề, phát triển đoạn triển khai được vấn đề, kết đoạn kết luận được vấn đề.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

Cách loại bỏ cái ác, cái xấu trong cuộc sống.

0,25

 

c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng;   rút ra bài học nhận thức và hành động. 1,5
c.1. Giải thích câu nói:

Nghĩa đen:  lấy cánh đồng ngô lúa xanh non thay thế cho đám cỏ dại

Nghĩa bóng:  Cần phải chọn cách đúng nhất, nhân văn nhất để chiến thắng cái xấu, cái ác, bảo vệ cái đẹp, cái thiện

c.2. Phân tích ý nghĩa tác dụng, chứng minh, bình luận câu nói:

– Ý nghĩa tác dụng:

+ Câu văn đã giúp ta nhận ra một điều: giữa thiện – ác có mối quan hệ qua lại, vừa đấu tranh triệt tiêu nhau lại vừa thúc đẩy nhau cùng phát triển, đó là một quy luật tất yếu của cuộc sống.

+ Ban đầu, cái xấu, cái ác có thể mạnh, tồn tại một cách tinh vi, xảo quyệt. Nhưng cuối cùng đều bị lên án, bị đưa ra ngoài ánh sáng và bị trừng trị, tiêu diệt vì  những hành vi của của cái xấu đều đi ngược lại quy luật của cuộc sống xã hội.

+ Cái đẹp, cái thiện có sức mạnh cảm hoá cái xấu, cái ác.

– Bàn bạc mở rộng

+ Cần có cái nhìn toàn diện, phân biệt đúng tốt, xấu, thiện, ác, không quá bi quan song cũng không nên ảo tưởng rằng cuộc sống chỉ toàn màu hồng.

+Biết đề phòng cảnh giác với nguy cơ tha hoá trong chính bản thân mình, luôn luôn tự đấu tranh để cho phần tốt đẹp chiến thắng dần phần xấu xa dung tục.

 

0,25

 

 

 

 

 

 

 

 

0,5

 

 

 

0,25

– Bài học nhận thức và hành động: Rút ra bài học phù hợp cho bản thân. 0,25
d. Sáng tạo

Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận.

0,25
e. Chính tả, dùng từ, đặt câu

Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.

0,25

 

  2  Cảm nhận của anh chị về cảnh dân làng Xô Man cứu Tnú trong truyện “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành 5,0
  a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận 0,25
  Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề.  
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận 0,50
            Cảnh dân làng Xô Man cứu Tnú trong truyện “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành.  
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; thể hiện sự cảm nhận sâu sắc và vận dụng tốt các thao tác lập luận để triển khai các luận điểm (trong đó phải có thao tác phân tích, so sánh); biết kết hợp giữa nêu lí lẽ và đưa dẫn chứng. 3.50
c.1.Giới thiệu về tác giả,  tác phẩm; nêu vấn đề cần nghị luận

c.2. Phân tích cảnh dân làng Xô Man cứu Tnú qua  đoạn trích:

– Về nội dung:

+ Đoạn văn kể chuyện nhân vật Tnú bị thằng Dục tra tấn mười ngón tay bằng chính nhựa xà nu ;

+ Tnú là người tuyệt đối trung thành với cách mạng, có bản lĩnh kiên cường, bất khuất trước kẻ thù tàn bạo

+ Tnú có lòng căm thù giặc sâu sắc.

+ Mười ngón tay Tnú trở thành vẻ đẹp bi hùng và lãng mạn. Tiếng thét Giết của anh thành tiếng kèn xung trận của phong trào đồng khởi long trời lở đất của người dân làng Xô Man, của nhân dân Tây Nguyên trong cuộc chiến tranh cách mạng.

+ Trong cuộc nổi dậy của dân làng Xô Man, nhà văn đã xây dựng một tập thể anh hùng. Đứng đầu là hình ảnh cụ Mết với tiếng hô “Chém! Chém hết!” rực lửa căm hờn. Cụ đã dẫn đầu dân làng, cùng với họ xông lên giết giặc để cứu Tnú, đem lại sự bình yên cho buôn làng Xô Man. Cuộc chiến đấu thắng lợi nhờ có vũ khí vật chất tuy còn thô sơ ( giáo , mác lấy từ núi Ngọc Linh về) và nhờ có vũ khí tinh thần là lòng căm thù giặc cao độ, tinh thần đoàn kết của dân làng.

–  Nghệ thuật:

+Tnú vừa có những nét riêng cá tính sống động, vừa mang phẩm chất có tính khái quát, tiêu biểu. Tnú trở thành nhân vật mang đậm tính sử thi.

+ Lời văn với những câu văn giàu tính tạo hình, giàu nhạc điệu, khi thâm trầm, khi tha thiết, trang nghiêm.

 

c.3/ Đánh giá chung:

-Dân làng Xô Man cứu A Phủ là hành động được đặt trong mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng. Họ đến với nhau khi nhận thức được chân lí: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”( Lời dạy của cụ Mết). Họ sớm giác ngộ cách mạng, một lòng một dạ trung thành đi theo Đảng. Đoạn trích đã phản ánh tinh thần đồng khởi của người dân miền núi Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Mĩ. Nhà văn Nguyễn Trung Thành thể hiện thành công khả năng miêu tả gợi cảm hứng sử thi, tô đậm vẻ đẹp lẫm liệt, bi hùng ở nhân vật.

– đoạn văn tiêu biểu ca ngợi sự vùng lên đấu tranh, đề cao tinh thần phản kháng mạnh mẽ của người dân miền núi xa xôi của Tổ quốc trước bạo lực của kẻ thù tàn bạo, độc ác.

– Nhà văn phản ánh chân thực hiện thực và có cái nhìn nhân đạo đối với người dân miền núi. Đó là niềm tin vào khả năng đấu tranh của người lao động để được đổi đời, tìm đến hạnh phúc và về với cách mạng.

0,50

2,25

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

0,75

d. Sáng tạo 0,50
Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận.  
e. Chính tả, dùng từ, đặt câu 0,25
Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.  
    ĐIỂM TOÀN BÀI THI : I + II = 10,00 điểm

Đề văn sưu tầm

Xem thêm : Bộ đề thi thử THPT Quốc gia môn văn có đáp án

Đề thi thử THPT QG môn Văn chuẩn cấu trúc, đề 90

 KÌ THI THỬ THPT QUỐC GIA MÔN NGỮ VĂN                            

Thời gian làm bài : 120 phút.

(Không kể thời gian phát đề)

                                                                              

MỤC TIÊU ĐỀ KIỂM TRA

  1. Kiến thức

Kiểm tra mức độ đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng được quy định trong chương trình ngữ văn lớp 12 theo hai nội dung : đọc hiểu, làm văn với mục đích đánh giá năng lực đọc hiểu và tạo lập văn bản của học sinh

  1. Kĩ năng
  • Rèn luyện, củng cố kĩ năng tìm hiểu đề, lập dàn ý, tổ chức bài văn, các thao tác phân tích, bình luận. Kĩ năng nắm bắt vấn đề rộng và sâu.
  1. Thái độ
  • Ý thức tự rèn luyện cách trình bày ngắn gọn, nâng cao năng lực tư duy tổng hợp
  • Giáo dục kĩ năng sống

+  Suy nghĩ vấn đề nghị luận, lựa chọn cách giải quyết đúng đắn, lập luận chặt chẽ, logic để triển khai một đoạn văn, một bài văn

+ Tự nhận thức, xác định được các giá trị chân chính trong cuộc sống mà mỗi người hướng tới

HÌNH THỨC KIỂM TRA

Tự luận

Thời gian: 120 phút

THIẾT LẬP MA TRẬN

Mức độ, chủ đề Nhận biết Thông hiểu Vận dụng thấp Vận dụng cao Tổng số
1. Đọc hiểu

 

-Phương thức biểu đạt của văn bản

– Biện pháp nghệ thuật được sử dụng

–  Tác dụng của biện pháp tu từ

– Nội dung, ý nghĩa của hình ảnh thơ

Số câu:

Số điểm:

Tỉ lệ:

 2

1.5

15%

2

1,5

15%

4

3

30%

II/ Làm văn: Câu 1: NLXH  – Xác định đúng yêu cầu đề bài  – Hiểu đúng vấn đề cần bàn luận.

– Biết lựa chọn và sắp xếp các luận điểm, luận chứng

– Vận dụng hiểu biết về xã hội và kĩ năng tạo lập văn bản để viết đoạn văn nghị luận xã hội về tư tưởng đạo lý

– Bày tỏ quan điểm cá nhân và rút ra bài học cho bản thân

Số câu:

Số điểm

Tỉ lệ

 

0,25

2,5%

 

0,25

2,5%

 

1,5

15%

1

2

20%

II/ Làm văn: Câu 2: NLVH  – Tác giả, tác phẩm

– Vấn đề cần nghị luận

– Biết lựa chọn và sắp xếp các luận điểm, luận chứng

-Sử dụng các thao tác lập  luận phù hợp

– Vận dụng hiểu biết về tác giả, tác phẩm, lí luận văn học để giải quyết vấn đề nghị luận

– Bày tỏ quan điểm cá nhân về vấn đề bàn luận

Số câu:

Số điểm

Tỉ lệ

 

0,5

5%

 

1,5

15%

 

3

30%

1

5

50%

Tổng số câu

Tổng số điểm

Tỉ lệ %

 

2,25

22,5%

 

3,25

32,5%

 

4,5

45%

 

10

100%

 

BIÊN SOẠN CÂU HỎI THEO MA TRẬN

PHẦN 1: ĐỌC HIỂU (3 điểm)

Đọc bài thơ sau và thực hiện các yêu cầu :

Tôi là viên đá mọn không tên

Tôi tự hào sung sướng tuổi thanh niên

Chiến đấu lớn dưới ngọn cờ của Đảng.

Tôi yêu bản hùng ca không tắt

Mà lời ca sang sảng những tên người

Bế Văn Đàn hiến trọn tuổi hai mươi

Thân trai trẻ vì nhân dân làm giá súng.

Phan Đình Giót như một hòn núi lớn

Ngực yêu đời đè bẹp lỗ châu mai

La Văn Cầu vì rất quý những bàn tay

Đã chặt đứt cánh tay mình xông tới.

Lý Tự Trọng đầu không hề chịu cúi

Lúc ra pháp trường còn đọc truyện Nguyễn Du

Chị Sáu ơi! Bông hoa chị cài đầu

Còn thắm mãi giữa ngàn cây Côn Đảo.

                                          ( Vinh quang thay thế hệ Hồ Chí Minh, Vương Trùng Dương)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt  chính của văn bản trên.

Câu 2: Đoạn thơ sử dụng biện pháp tu từ nào là chính? Tác dụng.

Câu 3: Hình ảnh Lý Tự Trọng “ra pháp trường còn đọc truyện Nguyễn Du” và chị Võ Thị Sáu với “bông hoa chị cài đầu” gợi lên ý nghĩa gì?

Câu 4: Tại sao tác giả lại xem mình là “viên đá mọn không tên”?

PHẦN II. LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1: (2,0 điểm)

Từ những tấm gương Bế Văn Đàn, Phan Đình Giót, Võ Thị Sáu…Anh/ chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) nói lên lòng biết ơn của mình với các thế hệ cha anh và trách nhiệm của thanh niên hiện nay

Câu 2 (5,0 điểm)

          Có ý kiến cho rằng:  Kết cấu bài thơ “ Sóng” ( Xuân Quỳnh) dựa trên sự tương đồng giữa tâm trạng của người phụ nữ đang yêu với những con sóng.

Anh/ chị hãy chỉ ra sự tương đồng đó và hiệu quả thẩm mĩ từ nghệ thuật kết cấu của bài thơ.

  (Học sinh không được sử dụng tài liệu. Giám thị không giải thích gì thêm)

…Hết…

HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA MÔN NGỮ VĂN              

 

Phần Câu Nội dung Điểm
I.                    1              Biểu cảm 0,5
  2 – Biện pháp tu từ chính: liệt kê (tên tuổi và hành động dũng cảm của những anh hùng trẻ tuổi trong 2 cuộc kháng chiến của dân tộc.)

– Tác dụng:

+ Nhấn mạnh vẻ đẹp kiên cường, bất khuất của những cá nhân anh hùng đã làm nên thời đại anh hùng, qua đó bộc lộ niềm tự hào, ngợi ca, biết ơn của tác giả.

+ Tạo âm hưởng mạnh mẽ, hào hùng cho đoạn thơ.

 

0,75
  3   Hình ảnh Lý Tự Trọng “ra pháp trường còn đọc truyện Nguyễn Du” và chị Võ Thị Sáu với “bông hoa chị cài đầu” gợi lên ý nghĩa:

– Làm nổi bật tư thế hiên ngang, bất khuất đến bất diệt trước sự tàn ác của kẻ thù của những con người sẵn sàng hi sinh cho độc lập, tự do của Tổ quốc.

– Khắc họa sâu đậm lòng yêu nước, tinh thần lạc quan, thư thái cùng vẻ đẹp tâm hồn đầy chất nhân văn ngay cả khi đối diện với cái chết.

 

0,75
  4 Tác giả  xem mình là “viên đá mọn không tên”vì:

– Tác giả cảm nhận sâu sắc vai trò và những đóng góp to lớn của các thế hệ cha anh đi trước đối với công cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc.

Nhắc đến những tấm gương anh dũng tác giả cảm thấy mình nhỏ bé, thậm chí vô danh, vô nghĩa khi chưa có những đóng góp, cống hiến xứng đáng cho dân tộc.

– Việc xem mình là “viên đá mọn không tên” thể hiện thái độ khiêm tốn, chân thành và bộc lộ khao khát được thể hiện phần trách nhiệm của cá nhân với đất nước

1,0

 

II. 1 Yêu cầu về hình thức:

– Viết đúng 01 đoạn văn, khoảng 200 từ.

– Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu,…

Yêu cầu về nội dung:

1. Khẳng định vấn đề

– Bế Văn Đàn, Phan Đình Giót, Võ Thị Sáu…là những tấm gương tiêu biểu trong thời chiến đã anh dũng hy sinh để bảo vệ nền độc lập dân tộc.

– Họ đã cùng hàng triệu người con ưu tú của đất nước viết tiếp những trang sử vẻ vang trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta.

2. Bàn luận

a. Thể hiện lòng biết ơn

– Nhận thức sâu sắc và đúng đắn vai trò của những thế hệ cha anh đi trước đã không tiếc máu xương, sẵn sàng hi sinh cho độc lập, tự do của Tổ quốc. Từ đó hình thành thái độ cảm phục, ngợi ca, biết ơn một cách chân thành.

– Thể hiện lòng biết ơn qua những việc làm, hành động cụ thể: luôn tự hào về lịch sử dân tộc, làm giàu vốn hiểu biết của mình bằng cách tìm hiểu những tấm gương yêu nước, những vị anh hùng,…

 b. Trách nhiệm

– Xây dựng lối sống đúng đắn, tích cực, có mục tiêu, lí tưởng rõ ràng.

– Ra sức học tập, tiếp thu tri thức góp phần thúc đẩy đất nước phát triển, hội nhập.

– Lên án những hành vi, việc làm sai trái làm ảnh hưởng đến danh dự quốc gia, những hành vi chống phá nền độc lập dân tộc, xâm phạm lãnh thổ…

3. Bài học và liên hệ bản thân

– Noi gương thế hệ cha anh đi trước, sống có trách nhiệm với bản thân, xã hội.

– Liên hệ: (thí sinh bày tỏ một cách chân thành, tích cực)

 

 

 

 

 

0,25

 

 

 

 

 

 

1,5

0,75

 

 

 

 

 

 

0,75

 

 

 

 

 

 

0,25

  2 * Yêu cầu về kĩ năng: đảm bảo một bài văn nghị luận có bố cục  rõ ràng, hợp lí; tổ chức sắp xếp hệ thống các ý  một cách lôgic, chặt chẽ; diễn đạt trôi chảy, mạch lạc; chữ viết rõ ràng, cẩn thận, không sai chính tả.

* Yêu cầu về kiến thức: đảm bảo hệ thống các ý sau:

 
Khái quát về tác giả, tác phẩm, nêu vấn đề nghị luận 0,5
– Kết cấu bài thơ là sự tương đồng giữa hình tượng những con sóng và tâm trạng phụ nữ khi đang yêu: sóng là hình tượng ẩn dụ của tâm trạng người  phụ nữ  đang yêu. Sóng là một sự hòa nhập và phân tách của nhân vật trữ tình em. Nhà thơ đã sáng tạo hình tượng sóng khá độc đáo nhằm  thể hiện những cung bậc tình cảm và tâm trạng của người phụ nữ khi đang yêu. 1.0
Biểu hiện của sự tương đồng  giữa tâm trạng người phụ nữ khi đang yêu  với những con sóng:

– Sóng là biểu tượng cho sự bí ẩn trong tình yêu, biểu tượng cho niềm khát khao một tình yêu lớn, một tình yêu mãnh liệt:

+ Khổ 1: Hai trạng thái của sóng cũng là hai trạng thái tâm hồn của người phụ nữ đang yêu, tưởng như đối lập nhưng lại rất thống nhất ( dữ dội – dịu êm, ồn ào – lặng lẽ) => đó là sự bí ẩn của tình yêu.

+ Khổ 2: Phát hiện ra sự tương đồng giữa sóng và khát vọng tình yêu.

+ Khổ 3,4: Cắt nghĩa nguồn gốc của sóng và nơi bắt đầu của tình yêu.

– Sóng là biểu tượng cho nỗi nhớ trong tình yêu của người phụ nữ (Khổ 5)

– Sóng là biểu tượng cho sự thủy chung trong tình yêu của người phụ nữ, sức mạnh vượt qua thử thách của tình yêu. (Khổ 6,7)

– Sóng là biểu tượng cho những trăn trở, lo âu trong cõi lòng  người phụ nữ đang yêu.(Khổ 8)

– Sóng là biểu tượng cho khát vọng mãnh liệt muốn bất tử hóa tình yêu ( Khổ 9)

2,0
Hiệu quả thẩm mĩ:

– Sóng là hình tượng không mới nhưng trở nên rất đẹp, một vẻ đẹp rất riêng  trong cảm nhận của nhà thơ Xuân Quỳnh. Qua hình tượng sóng những cung bậc tình cảm của người phụ nữ đang yêu được diễn tả vừa cụ thể, sống động, vừa kín đáo, tế nhị, nữ tính.

– Sự trở đi trở lại của hình tượng sóng đưa đến cho bài thơ âm hưởng dạt dào, khi nhịp nhàng, khi sôi nổi trào dâng, khi lắng sâu, khi miên man trăn trở. Đó là âm điệu của sóng biển và sóng lòng.

1,0
Đánh giá, khẳng đinh lại vấn đề 0,5

Xem thêm : Bộ đề thi thử THPT Quốc gia môn văn có đáp án

Đề thi và những bài văn hay về Sóng Xuân Quỳnh

Đề thi thử THPT Quốc gia môn văn số 88- có ma trận đáp án

Bộ đề thi thử soạn theo chuẩn cấu trúc của Bộ, có ma trận đáp án, đề đọc hiểu, nghị luận xã hội 200 chữ, đề thi về Tuyên Ngôn Độc lập SGK Ngữ văn 12

ĐỀ THI THPT QUỐC GIA NĂM 2017  Môn: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

 MỤC TIÊU ĐỀ KIỂM TRA

Kiến thức

– Kiểm tra mức độ đạt chuẩn kiến thức, kỹ năng được quy định trong chương tình môn Ngữ văn lớp 12 theo hai nội dung: Đọc hiểu, làm văn (NHXH, NLVH) với mục đích đánh giá năng lực đọc hiểu và tạo lập văn bản cho học sinh qua hình thức tự luận.

– Cụ thể:

+ Nhận biết và vận dụng hiểu biết về tác phẩm đã học

+ Nhớ được nội dung khái quát của văn bản đã học

+ Có kỹ năng làm văn nghị luận về tư tưởng đạo lý hoặc hiện tượng trong đời sống.

+ Biết vận dụng kiến thức kỹ năng đã học để hoàn thành một văn bản nghị luận (NLXH, NLVH)

Kỹ năng

– Rèn luyện củng cố kỹ năng tìm hiểu đề lập dàn ý, tổ chức bài văn, các thao tác phân tích, bình luận, chứng minh, so sánh. Kỹ năng nắm bắt vấn đề rộng và sâu sắc.

 Thái độ

– Ý thức tự rèn luyện cách trình bày ngắn gọn, rõ ràng đồng thời nâng cao năng lực tư duy tổng hợp.

– Giáo dục kỹ năng sống.

– Suy nghĩ vấn đề nghị luận, lựa chọn cách giải quyết đúng đắn, lập luận chặt chẽ, logic để triển khai một đoạn văn, một tác phẩm văn học.

– Tự nhận thức, xác định được giá trị chân chính trong cuộc sống mà mỗi người cần hướng tới.

HÌNH THỨC ĐỀ KIỂM TRA

  • Hình thức tự luận
  • Cách tổ chức kiểm tra: Cho học sinh làm bài kiểm tra tự luận trong 120 phút

III. THIẾT LẬP MA TRẬN

 

        Mức độ

 

Chủ đề

 

Nhận biết

 

Thông hiểu

Mức độ Tổng
Vận dụng thấp Vận dụng cao
I. Đọc hiểu

(1 câu)

-Phương thức biểu đạt.

– Hiểu được tâm trạng của cô bé

 

– Lí giải được tâm trạng của người cha -Trình bày được thông điệp có ý nghĩa rút ra từ văn bản.    
Số câu

Số điểm

Tỉ lệ

2

1

10%

1

1

10%

1

1

10%

  4

3,0

30%

 

II. Làm

Văn

(2câu)

NLXH

(1 câu)

-Nhận biết được vấn đề đặt ra ở đề bài về sự giận dữ của người cha -Hiểu đúng vấn đề cần bàn luận

– Biết lựa chọn và sắp xếp các luận điểm

-Vận dụng những hiểu biết về xã hội và kỹ năng tạo lập văn bản đề viết đoạn văn nghị luận về hiện tượng xã hội.

-Bày tỏ quan điểm cá nhân và rút ra bài học cho bản thân.

-Liên hệ với đời sống thực tiễn, so sánh mở rộng vấn đề nghị luận  
Số câu

Số điểm

Tỉ lệ

 

 

0,25

25%

 

 

0,75

75%

 

 

0,5

5%

 

 

0,5

5%

1

 

2,0

20%

NLVH

( 1câu)

-Nhận biết những nét chính về tác giả, tác phẩm

– Xác định được vấn đề, phạm vi cần bàn luận

– Giải thích được các ý kiến bàn về tác phẩm.

-Chỉ ra được nét đặc sắc trong nghệ thuật lập luận của Hồ Chí Minh.

-Vận dụng kiến thức đã học viết một bài văn nghị luận về một đoạn trích trong tác phẩm

-Nêu nhận xét đánh giá của bản thân về vấn đề cần bàn luận

-So sánh, mở rộng vấn đề cần nghị luận.  
Số câu

Số điểm

Tỉ lệ

 

 

0,5

5%

 

 

1

10%

 

 

2,5

25%

 

 

1

10%

1

 

5,0

50%

Tổng số câu

Tổng số điểm

Tỉ lệ

1,75

17,5%

2,75

27,5%

4

40%

1,5

15%

6

10

100%

BIÊN SOẠN CÂU HỎI THEO MA TRẬN

 Phần I : Đọc hiểu (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

          Một người đàn ông đang đánh bóng chiếc xe hơi mới mua của mình thì cô con gái 4 tuổi của ông lại dùng đá để viết lên chiếc xe ấy. Điên tiết, ông ta cầm lấy bàn tay của đứa trẻ và đánh rất nhiều, và ông không nhận ra mình đang đánh bằng một cái mỏ lết. Lúc đến bệnh viện, cô bé phải cưa bỏ tất cả những ngón tay của mình vì vết thương quá nghiêm trọng.

          Khi đứa trẻ nhìn thấy cha, cô bé tuyệt vọng hỏi “Cha ơi, đến khi nào thì ngón tay con sẽ mọc lại?”. Người cha đau đớn trong lặng câm. Ông trở lại chiếc xe hơi và tức giận đá vào nó. Phải đến lúc thấm mệt ông mới nhìn vào chỗ có những vết rạch mà con gái ông đã viết. Cô bé đã viết:

          “Con yêu cha”.

                                               (Theo Qùa tặng cuộc sống)

 

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt  chính được sử dụng trong văn bản trên? (0,5 điểm)

Câu 2. Câu nói: “Cha ơi, đến khi nào thì ngón tay con sẽ mọc lại?” thể hiện tâm trạng gì của cô bé? (0,5 điểm)

Câu 3. Theo anh/chị, vì sao Người cha đau đớn trong lặng câm? (1,0 điểm)

Câu 4. Câu văn khép lại câu chuyện mà cô bé đã viết: “Con yêu cha.” gửi gắm bức thông điệp gì? (1,0 điểm)

Phần II : Làm văn (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm)

Hãy viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về sự giận dữ của con người  được rút ra  trong văn bản ở phần Đọc hiểu.

Câu 2 (5,0 điểm)

          Nhận xét đoạn mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập  của Hồ Chí Minh, có ý kiến cho rằng: “Đoạn mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ Tịch Hồ Chí Minh  vừa khéo léo vừa kiên quyết lại hàm chứa nhiều ý nghĩa sâu sắc”. Bằng cảm nhận của mình về đoạn trích sau, anh/chị hãy làm sáng tỏ điều đó.

Hỡi đồng bào cả nước,

          “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Lời bất hủ ấy trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mĩ. Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói:

“Người ta sinh ra bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.

Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.

(Tuyên ngôn Độc lập – Hồ Chí Minh, Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2012)

———– Hết ———-

Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.

Họ và tên thí sinh:……………………………………………. Số báo danh: …………………

  ĐÁP ÁN – THANG ĐIỂM

ĐỀ THI THPT QUỐC GIA NĂM 2017

Môn: Ngữ văn

 

Phần Câu Nội dung Điểm
I   ĐỌC HIỂU 3.0
1          Phương thức biểu đạt chính: tự sự 0,5
2          Cô bé có tâm trạng qua câu nói: “Cha ơi, đến khi nào thì ngón tay con sẽ mọc lại?”:

– Cô bé khao khát có những ngón tay lành lặn như trước đây để được sống trong sự hồn nhiên, trong sáng của tuổi thần tiên;

– Cô bé đau đớn khi những ngón tay không còn nữa

0,5
3            Người cha đau đớn trong lặng câm, bởi vì:

– Ông không ngờ trong một phút nóng giận, do tiếc của mà ông đã huỷ hoại đôi bàn tay của đứa con bé bỏng

– Ông đã nhận ra sai lầm của mình, tỏ ra ăn năn, hối hận nhưng đã muộn.

1,0
4    Cô bé đã viết: “Con yêu cha” gửi gắm bức thông điệp:

–  Đây là câu kết truyện đầy bất ngờ và để lại xúc động trong lòng người đọc vì tình thương cha của cô bé;

– Hãy hiểu một điều rằng, cả sự tức giận lẫn tình yêu thương đều không có giới hạn. Nên nhớ, “Đồ vật là để sử dụng, nhưng con người là để yêu thương”. Đừng để sự nóng nảy tức thời làm bạn cả đời phải hối hận.

1,0
II   LÀM VĂN 7.0
1          Viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về sự giận dữ của con người  được rút ra  trong văn bản ở phần Đọc hiểu. 2,0
  a. Đảm bảo cấu trúc đoạn văn nghị luận 200 chữ

Có đủ các phần mở đoạn, phát triển đoạn, kết đoạn. Mở đoạn nêu được vấn đề, phát triển đoạn triển khai được vấn đề, kết đoạn kết luận được vấn đề.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: sự giận dữ của con người

0,25

 

c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; rút ra bài học nhận thức và hành động. 1,25
– Câu mở đoạn: Dẫn ý liên quan để nêu vấn đề cần nghị luận: sự giận dữ của con người để lại những hậu quả không tốt.

– Các câu phát triển đoạn:

+ Giải thích: Sự giận dữ là trạng thái mất bình tĩnh do bực bội khó chịu gây nên và thường khiến chúng ta phải đưa ra những phản ứng mạnh. Biểu hiện như người cha trong câu chuyện ở phần đọc hiểu vì điên tiết đứa con gái 4 tuổi  dùng đá viết lên chiếc xe mới nên ông đã không biết mình đánh đến tàn phế bàn tay của con…

+ Tác hại của sự giận dữ: tổn hại sức khoẻ và tổn thương tinh thần của cả 2 phía, đặc biệt là người bị giận dữ có khi phải trả giá bằng mạng sống vì một lí do không chính đáng; người giận dữ làm cho người khác bị tổn thương, bị xúc phạm danh dự. Mọi người sẽ xa lánh người có tính nóng nảy. Mọi mối quan hệ xã hội bị phá vỡ…

+ Nguyên nhân: xuất phát từ bản thân người giận dữ không biết kìm chế cảm xúc. Họ coi cái tôi của mình quá lớn. Họ mất tỉnh tảo, không biết lẽ phải, đúng sai, bất chấp hậu quả sẽ xảy ra.

+ Biện pháp khắc phục: rèn luyện kĩ năng kìm chế cảm xúc; sống hoà đồng, yêu thương; biết lắng nghe, thấu hiểu người khác…

0,25

 

1,0

 

 

 

 

– Bài học nhận thức và hành động: Rút ra bài học phù hợp cho bản thân. 0,5
 

 

 

 

 

 

Câu 2 Nhận xét đoạn mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh, có ý kiến cho rằng: “Đoạn mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ Tịch Hồ Chí Minh  vừa khéo léo vừa kiên quyết lại hàm chứa nhiều ý nghĩa sâu sắc”. Bằng cảm nhận của mình về đoạn trích sau, anh/chị hãy làm sáng tỏ điều đó.  
1. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận: Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề, thân bài phát triển được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề. 0,5
 2. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Đoạn mở đầu Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh được viết rất cao tay: vừa khéo léo vừa kiên quyết lại hàm chứa nhiều ý nghĩa sâu sắc. 0,5
3. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm qua việc phân tích để làm sáng tỏ đoạn mở đầu bản Tuyên ngôn và vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng. 4,0
  – Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm, đoạn mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập.

– Phân tích làm sáng tỏ đoạn mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ Tịch Hồ Chí Minh được viết rất cao tay: vừa khéo léo vừa kiên quyết lại hàm chứa nhiều ý nghĩa sâu sắc.

* Nhiệm vụ của phần mở đầu một bản Tuyên ngôn là nêu nguyên lí làm cơ sở tư tưởng cho toàn bài. Nguyên lí của Tuyên ngôn Độc lập là khẳng định quyền tự do độc lập của dân tộc. Nhưng ở đây Bác không nêu trực tiếp nguyên lí ấy mà lại dựa vào hai bản Tuyên ngôn Độc lập của Mĩ năm 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1791 để khẳng định “Quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” của tất cả các dân tộc trên thế giới. Đây chính là nghệ thuật “Lấy gậy ông đập lưng ông”.

* Bác đã khẳng định quyền độc lập, tự do của dân tộc ta bằng chính những lời lẽ của tổ tiên người Mĩ, người Pháp đã ghi lại trong hai bản Tuyên ngôn từng làm vẻ vang cho truyền thống tư tưởng và văn hóa của những dân tộc ấy. Cách viết như thế là vừa khéo léo vừa kiên quyết:

– Khéo léo vì tỏ ra rất trân trọng những danh ngôn bất hủ của người Pháp, người Mĩ để “khoá miệng” bọn đế quốc Pháp, Mĩ đang âm mưu xâm lược và can thiệp vào nước ta (sự thật lịch sử đã chứng tỏ điều này).

– Kiên quyết vì nhắc nhở họ đừng có phản bội tổ tiên mình, đừng có làm dấy bùn lên lá cờ nhân đạo của những cuộc cách mạng vĩ đại của nước Pháp, nước Mĩ, nếu nhất định tiến quân xâm lược Việt Nam.

* Đặt ba cuộc cách mạng ngang hàng nhau, ba nền độc lập ngang hàng nhau, ba bản Tuyên ngôn ngang hàng nhau (và thực sự, cuộc cách mạng tháng Tám 1945 đã giải quyết đúng nhiệm vụ của hai cuộc cách mạng của Mĩ (1776) và của Pháp (1791).

Sau khi nhắc đến những lời bất hủ trong bản Sau khi nhắc đến những lời bất hủ trong bản Tuyên ngôn Độc lập của Mĩ, Bác viết: “Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Ý kiến “Suy rộng ra”ấy quả là một đóng góp đầy ý nghĩa của Bác đối với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, nó như phát súng lệnh khởi đầu cho bão táp cách mạng ở các thuộc địa sẽ làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân trên khắp thế giới vào nửa sau TK XX.

– Đánh giá khái quát vấn đề, cách lập luận của tác giả trong đoạn mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập.

0,5

 

 

 

 

 

 

1

 

 

 

 

 

 

 

1

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

0,5

( Đề sưu tầm)

Nhóm giáo viên thực hiện

Xem thêm : Bộ đề thi thử THPT Quốc gia môn văn có đáp án

Đề và đáp án chính thức THPT Quốc gia môn văn 2017

Bộ Giáo dục và đào tạo, kì thi THPT quốc gia năm 2017.

Môn Ngữ văn, thời gian làm bài 120 phút

I, Đọc hiểu ( 3 điểm )

Đọc đoạn văn sau và thực hiện các yêu cầu :

Lòng trắc ẩn có nguồn gốc từ sự thấu cảm. Thấu cảm là khả năng nhìn thế giới bằng con mắt của người khác, đặt mình vào cuộc đời của họ. Giống như cái lạnh thấu tủy hay cái đau thấu xương, thấu cảm là sự hiểu biết thấu đáo, trọn vẹn một ai đó, khiến ta hiểu được những suy nghĩ của họ, cảm được những cảm xúc của họ, và tất cả xảy ra mà không có sự phán xét. Khả năng đọc được tâm trí và tâm hồn của người khác là một khả năng phát triển ở những người mẫn cảm. Thấu cảm khiến ta hồi hộp khi quan sát một người đang đi trên dây ở trên cao, làm chúng ta cùng vui buồn với một nhân vật trong truyện.

Thấu cảm xảy ra trong từng khoảnh khắc của cuộc sống. Một đứa trẻ ba tuổi chìa con gấu bông của mình cho em bé sơ sinh đang khóc để dỗ nó. Một cô gái nhăn mặt khi theo dõi bạn mình trên giường bệnh chật vật uống một viên thuốc đắng. Mùa EURO 2016 kết thúc với một hình ảnh đẹp: một cậu bé Bồ Đào Nha tiến tới an ủi một fan người Pháp cao to gấp rưỡi mình, đang ôm mặt khóc vì đội Pháp thua trận chung kết. Anh người Pháp cúi xuống ôm cậu bé mà người vẫn rung lên nức nở. Cậu đợi cho tới khi anh đi khuất hẳn rồi mới tiếp tục phất cờ mừng chiến thắng.

(Trích Thiện, Ác và Smartphone – Đặng Hoàng Giang, NXB Hội nhà văn, 2017, tr.275)

Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.

Câu 2. Theo tác giả, thấu cảm là gì?

Câu 3. Nhận xét về hành vi của đứa trẻ ba tuổi, cô gái có bạn bị ốm, cậu bé Bồ Đào Nha được nhắc đến trong đoạn trích.

Câu 4. Anh/ Chị có đồng tình với ý kiến: Lòng trắc ẩn có nguồn gốc từ sự thấu cảm? Vì sao?

II. LÀM VĂN (7.0 điểm)

Câu 1. (2.0 điểm)

Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, anh/ chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của sự thấu cảm trong cuộc sống.

Câu 2. (5.0 điểm)

Đất là nơi anh đến trường

Nước là nơi em tắm

Đất Nước là nơi ta hò hẹn

Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm

Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”

Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi”

Thời gian đằng đẵng

Không gian mệnh mông

Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ

Đất là nơi Chim về

Nước là nơi Rồng ở

Lạc Long Quân và Âu Cơ

Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng

Những ai đã khuất

Những ai bây giờ

Yêu nhau và sinh con đẻ cái

Gánh vác phần người đi trước để lại

Dặn dò con cháu chuyện mai sau

Hàng năm ăn đâu làm đâu

Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ

(Trích Đất nước, trường ca Mặt đường khát vọng – Nguyễn Khoa Điềm, Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016, tr.118-119)

Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ trên. Từ đó, bình luận quan niệm về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm.

Dưới đây là đáp án tham khảo môn văn, kì thi THPT Quốc gia 2017.

Đáp án được soạn bởi các thầy cô

Phần 1 đọc hiểu :

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính : Nghị Luận
Câu 2: Theo tác giả thấu cảm là khả năng nhìn thế giới bằng con mắt của người khác
Đặt mình vào cuộc đời của họ, là sự hiểu biết thấu đáo trọn vẹn một ai đó khiến ta hiểu được những suy nghĩ của họ, cảm nhận được những cảm xúc của họ, mà tất cả xảy ra không có sự phán xét.


Câu 3: hành vi của đứa trẻ 3 tuổi, cô gái có bạn bị ốm, cậu bé Bồ Đào Nha đã chứng tỏ cho chúng ta thấy, họ có sự đồng cảm với những người xung quanh dù là có quen biết hay không : “ đứa trẻ dù chỉ có 3 tuổi nhưng đã biết chia sẻ con gấu bông của mình để dỗ một em bé sơ sinh đang khóc , cô gái cảm nhận được nỗi đau của mình trên giường bệnh, cảm giác như chính cơ thể bị đau mà nhăn mặt. Cậu bé Bồ Đào Nha tuy là fan của đội bóng đối thủ, nhưng lại sẵn sang an ủi một người Pháp đang ôm mặt khóc vì đội Pháp thua trận chung kết “ Tất cả đều là những cử chỉ đẹp đẽ thể hiện được lòng trắc ẩn của những người được nhắc đến trong đoạn trích


Câu 4: Các em trình bày là đồng tình với quan điểm “ lòng trắc ẩn có nguồn gốc từ sự thấu cảm”
Giải thích theo quan điểm cá nhân nhưng đảm bảo các ý chính sau:
– Nếu không thấu cảm thì chúng ta không cảm nhận được nỗi đau của ng khác và cảm thong với những điều mà họ làm
– Không có sự thấu cảm chúng ta sẽ dễ bị chi phối và phán xét hành động của những người xung quanh
– Rút ra cho bản thân là trong cuộc sống nên biết thấu cảm, thấu hiểu , sẻ chia .


Phần làm văn


Câu 1 ( NLXH )


Bài nghị luận cần xoay quanh những ý sau :
* Giải thích sự thấu cảm là gì : Đặt mình vào cuộc đời của họ, là sự hiểu biết thấu đáo trọn vẹn một ai đó khiến ta hiểu được những suy nghĩ của họ, cảm nhận được những cảm xúc của họ, mà tất cả xảy ra không có sự phán xét.
*Chứng minh : đưa ra những dẫn chứng xác đáng mà em cho là phù hợp , có nguồn xác thực. Chú Ý hạn chế, hoặc không nên sử dụng dẫn chứng văn học
*
Bàn luận: Sự thấu cảm có ý nghĩa quan trọng trong cuộc sống.

+ Sự thấu cảm là cội nguồn của lòng trắc ẩn, của tình yêu thương, mang con người lại gần nhau hơn.

+ Có cái nhìn hiểu biết, thấu đáo, trọn vẹn; giúp ta biết cảm thông và chia sẻ với niềm vui, nỗi buồn; vị tha với lỗi lầm của người khác.

+ Sự thấu cảm có thể mang lại sức mạnh kỳ diệu làm thay đổi con người, hướng con người tới sự hoàn thiện nhân cách.
* Phản biện : Thấu cảm không có nghĩa là chúng ta bao che cho những hành vi xấu , ác ( đạo đức, pháp luật ) của người khác.Phê phán những người sống thờ ơ, dửng dưng, lạnh lùng, vô cảm.
* Rút ra bài học :

+ Ý thức được ý nghĩa và sức mạnh của tình yêu thương và sự cảm thông.

+ Biết sẻ chia ngay từ những điều nhỏ bé của cuộc sống với mọi người xung quanh. “Có gì đẹp trên đời hơn thế Người yêu người sống để yêu nhau”.

+Hãy biết đặt mình vào người khác, không tùy tiện phán xét người khác.

NLVH :
Giới thiệu vấn đề
Đất nước luôn là tiếng gọi thiêng liêng muôn thuở, muôn nơi và của bao triệu trái tim con người . Đất nước đi vào đời chúng ta qua những lời ru ngọt ngào êm dịu, qua những làn điệu dân ca mượt mà và những vần thơ sâu lắng, thiết tha và rất đỗi tự hào của bao lớp thi nhân . Ta bắt gặp một hình tượng đất nước đau thương nhưng vẫn ngời lên ý chí đấu tranh trong trang thơ Nguyễn Đình Thi đồng thời cũng rất dịu dàng ý tứ trong thơ Hoàng Cầm . Nhưng với Nguyễn Khoa Điềm , ta bắt gặp một cái nhìn toàn vẹn, tổng hợp từ nhiều bình diện khác nhau về một đất nước của nhân dân . Tư tưởng ấy đã qui tụ mọi cách nhìn và cảm nhận của Nguyễn Khoa Điềm về đất nước . Thông qua những vần thơ kết hợp giữa cảm xúc và suy nghĩ, trữ tình và chính luận, nhà thơ muốn thức tỉnh ý thức, tinh thần dân tộc, tình cảm với nhân dân, đất nước của thế hệ trẻ Việt Nam trong những năm chống Mĩ cứu nước . ( trích thơ )
Giải quyết vấn đề

1, Ý khái quát

* Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm:

– Tác giả Nguyễn Khoa Điềm là nhà thơ trữ tình – chính luận, thơ ông chín cả trong cảm xúc và suy tư.

– Đoạn trích thuộc chương 5 – Trường ca “Mặt đường khát vọng” hoàn thành ở chiến khu Trị Thiên năm 1971, in lần đầu năm 1974, viết về sự thức tỉnh của thế hệ trẻ vùng đô thị tạm chiến miền Nam Việt Nam về non sông đất nước và sứ mệnh của thế hệ mình.

2, Phân tích

a. Cắt nghĩa Đất Nước ở không gian địa lý:

– Nguyễn Khoa Điềm chiết tự Đất Nước thành 2 thành tố “Đất” và “Nước”.

– Đất Nước không hề xa lạ, mà đó là không gian sinh tồn không thể thiếu của mỗi con người (nơi riêng tư thầm kín, chứng kiến tình yêu lứa đôi, sự hy sinh âm thầm lặng lẽ của nhân dân): “Đất là nơi anh đến trường Nước là nơi em tắm Đất Nước là nơi ta hò hẹn Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”.

– Đất Nước gần gũi, giản dị mà cũng thật thiêng liêng, lớn lao, kỳ vĩ:

+ Không gian rộng dài, giàu đẹp: “Đất là nơi… biển khơi” + Không gian đoàn tụ của dân tộc gắn liền với cội nguồn lịch sử cao quý, thiêng liêng con Rồng cháu Tiên.

b. Cắt nghĩa Đất Nước từ bình diện lịch sử: Từ không gian địa lý của Đất Nước, tác giả đã gợi những trang sử hào hùng vẻ vang của dân tộc, được kế thừa và nối tiếp qua các thế hệ: “Những ai đã khuất…giỗ Tổ”.

– Những câu thơ nhắc đến cội nguồn cao quý, lâu đời: dòng dõi Rồng Tiên, thời kỳ các Vua Hùng dựng nước.

– Những câu thơ vẽ ra hình ảnh các thế hệ nhân dân nối tiếp nhau trong công cuộc dựng nước và giữ nước.

– Những câu thơ nhắc nhở về sứ mệnh được lịch sử giao phó của các thế hệ nhân dân (lòng biết ơn và ý thức phát huy truyền thống).

Như vậy, Đất Nước không phải là một khái niệm trừu tượng mà Đất Nước hiện diện cụ thể trong cuộc sống của mỗi con người. Sự sống mỗi cá nhân không phải chỉ là riêng của cá nhân mà còn là của Đất Nước, bởi mỗi cuộc đời đều được thừa hưởng những di sản văn hóa tinh thần và vật chất của dân tộc, của Nhân dân.

– Về nghệ thuật:

Cách sử dụng điệp từ (Đất Nước), điệp cấu trúc (Đất Nước là nơi…); những động từ diễn tả cuộc sống sinh hoạt đời thường: đến trường, tắm, hò hẹn, đánh rơi bay về, về ở … chất chính luận và trữ tình và âm điệu câu thơ, điệu nói có tính chân thực và khái quát về suy nghĩ và hành động của đồng bào cùng chung nguồn gốc (những ai đã khuất, những ai bây giờ, yêu nhau và sinh con đẻ cái…cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ).

– Thể thơ tự do với nhịp điệu linh hoạt trong biểu đạt những cảm xúc, cách sử dụng điệp từ, điệp cấu trúc, hàng loạt động từ,… giọng điệu tâm tình dễ đi vào lòng người,…thể hiện rõ nét phong cách trữ tình – chính luận của thơ Nguyễn Khoa Điềm.

3.  Bình luận:

– Quan niệm về Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm vừa sâu sắc, vừa mới mẻ, gợi nhắc đến niềm tự hào về Đất Nước và ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân trong việc xây dựng và bảo vệ Đất Nước. Điều này có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh lúc bấy giờ.

– Quan niệm gắn liền với tư tưởng Đất Nước của Nhân dân, được thể hiện bằng hình thức biểu đạt giàu suy tư. Giọng thơ trữ tình chính luận thiết tha và các chất liệu văn hóa dân gian được sử dụng nhuần nhị, sáng tạo.
Kết  thúc vấn đề :
Qua đoạn trích Đất Nước, chúng ta phần nào nhận thấy đặc điểm của phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm là sự kết hợp giữa chính luận với trữ tình, giữa suy tưởng với cảm xúc. Chất chính luận nằm trong ý đồ tư tưởng của tác giả là nhằm thức tỉnh tinh thần dân tộc của thế hệ trẻ thành thị miền Nam, để họ dứt khoát trong sự lựa chọn đứng về phía nhân dân và cách mạng. Chất trữ tình không chỉ được biểu hiện ở những câu thơ bộc lộ trực tiếp tình cảm, cảm xúc của tác giả mà còn thấm vào trong cái nhìn, trong thái độ trân trọng, yêu quý đối với mỗi hình ảnh, chi tiết về Đất Nước gắn liền với Nhân dân được miêu tả và đề cập đến trong đoạn trích. Chính nhờ suy tưởng mà nhà thơ đã phát hiện được nhiều ý nghĩa mới mẻ và sâu sắc từ những điều quen thuộc: những truyện cổ tích, câu ca dao, những địa danh, thắng cảnh của đất nước đều chứa đựng tâm sự, quan niệm, lối sống, cuộc đời và máu thịt của nhân dân. Nhưng những suy nghĩ, phát hiện ấy không phải được nói lên bằng những mệnh đề khô khan, mà qua hình tượng thơ và những cảm xúc trữ tình. Trong đoạn thơ, sự triển khai cảm hứng của tác giả tuy phóng túng, đa dạng nhưng vẫn quy về điểm cốt lõi : Đất Nước của Nhân dân. Bài thơ khơi dậy lòng yêu nước và tinh thần tự hào dân tộc, cùng trách nhiệm công dân trong mỗi chúng ta.

Cập nhật đáp án chính thức của Bộ Giáo dục

I ĐỌC HlỂU 3.0
1 Chỉ ra được phương thức biểu đạt chính: nghị luận/ phương thức nghị luận.0.5
2 Theo tác giả, thấu cảm là khả năng nhìn thế giới bằng con mắt của người khác, đặt mình vào cuộc đời của họ,là sự hiểu biết thấu đáo, trọn vẹn một ai đó… 0.5
3 Nhận xét được đó là những hành vi tưởng như bình thường nhưng có ý nghĩa trong đời sống; thể hiện sự thấu cảm, chia sẻ;… 1.0
4 Nêu rõ quan điểm đồng tình hoặc không đồng tình; lí giải họp lí, thuyết phục về mối quan hệ giữa lòng trắc ẩn và sự thấu cảm. 1.0
II LÀM VĂN 7.0
1 Trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của sự thấu cảm trong cuộc sống 2.0
a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn
Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – họp, móc xích hoặc song hành. 0.25
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận Ý nghĩa của sự thấu cảm trong cuộc sống. 0.25
c. Triển khai vấn đề nghị luận
Thí sinh lựa chọn các thao tác lập luận phù họp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng cần làm rõ ý nghĩa của sự thấu cảm đối với cá nhân và xã hội. Có thể theo hướng sau:
– Sự thấu cảm bồi đắp lòng nhân ái, giúp con người biết sống yêu thương, biết chia sẻ và có trách nhiệm.
– Sự thấu cảm tạo nên mối quan hệ thân thiện giữa người với người, giúp cho xã hội tốt đẹp hơn. 1.0
d. Chính tả, dùng từ, đặt câu
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ nghĩa, ngữ pháp tiếng Việt. 0.25
e. Sáng tạo
Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận. 0.25
2 Cảm nhận đoạn thơ và bình luận quan niệm về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm 5.0
a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận
Mở bài giới thiệu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề. 0.25
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Cảm nhận đoạn thơ và bình luận quan niệm về đất nước. 0.5

– triển khai vấn đề nghị luận
Vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng.
Giới thiệu ngăn gọn vê tác giả, tác phâm, đoạn trích 0.5
* Cảm nhận đoạn thơ : thí sinh có thê cảm nhận theo nhiều cách nhưng cần đáp ứng các yêu cầu sau:
– về nội dung: Đoạn trích thể hiện cảm xúc, suy tư và là sự cắt nghĩa khái niệm đất nước của tác giả từ nhiều phương diện.
+ Địa lí: không gian đất nước rộng lớn, mênh mông mà gần gũi, thân quen; thiêng liêng mà bình dị; là nơi sinh tồn của bao thế hệ,…
+ Lịch sử: gắn với cội nguồn, sự tiếp nối của các thế hệ từ quá khứ đến hiện tại và tương lai, làm nên đất nước trường tồn,…
+ Văn hóa: gắn với những quan niệm, phong tục, tập quán,… kết tinh vẻ đẹp tâm hồn nhân dân.
– về nghệ thuật: Đoạn trích sử dụng hiệu quả, sáng tạo thể thơ tự do, chất liệu văn hóa và văn học dân gian; kết hợp hài hòa giữa chất trữ tình và chính luận; cách cắt nghĩa khái niệm Đất Nước theo lối chiết tự,… 2.0
* Bình luận quan niệm về đất nước
Thí sinh cần bình luận hợp lí, thuyết phục. Có thể theo hướng sau:
– Nguyễn Khoa Điềm quan niệm đất nước là sự tổng hợp, thống nhất các phương diện lịch sử, địa lí và văn hóa trong mối liên hệ gắn bó với đời sống nhân dân. Điều đó góp phần thể hiện tư tưởng cốt lõi của đoạn trích Đất Nước – tư tưởng Đất Nước của Nhân dân.
– Đây là quan niệm mới mẻ, sâu sắc, tiêu biểu cho quan niệm về đất nước trong văn học Cách mạng giai đoạn 1945 – 1975; góp phần thức tỉnh tinh thần dân tộc ở thế hệ trẻ đô thị vùng tạm chiếm miền Nam thời chống Mĩ; khơi gợi tình yêu, trách nhiệm với đất nước của tuổi trẻ ngày nay. 1.0
d. Chính tả, dùng từ, đặt câu
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ nghĩa, ngữ pháp tiếng Việt. 0.25
e. Sáng tạo
Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận. 0.5
TỔNG ĐIỂM: 10.0

 

Bộ đề thi thử THPT Quốc gia môn văn, đề số 87

Đề thi thử nghiệm, kì thi THPT Quốc gia môn văn. Bộ đề thi thử kì thi THPT Quốc gia môn văn có đáp án, tổng hợp tài liệu ôn thi dành cho học sinh lớp 12

Thời gian làm bài 120p

I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4:

Một ngày tù nghìn thu ở ngoài
Lời nói người xưa đâu có sai
Sống khác loài người vừa bốn tháng
Tiều tụy còn hơn mười năm trời.
Bởi vì:
Bốn tháng cơm không no
Bốn tháng đêm thiếu ngủ
Bốn tháng áo không thay
Bốn tháng không giặt giũ.
Cho nên:
Răng rụng mất một chiếc
Tóc bạc thêm mấy phần
Gầy đen như quỷ đói
Ghẻ lở mọc đầy thân.
May mà:
Kiên trì và nhẫn nại
Không chịu lùi một phân
Vật chất tuy đau khổ
Không nao núng tinh thần”.
(“Bốn tháng rồi”, Hồ Chí minh)

Câu 1. Xác định các phương thức biểu đạt của văn bản.
Câu 2. Nêu nội dung chính của bài thơ.
Câu 3. Chỉ ra 01 biện pháp nghệ thuật có trong bài thơ và phân tích hiệu quả nghệ thuật.
Câu 4:

“May mà:
Kiên trì và nhẫn nại
Không chịu lùi một phân
Vật chất tuy đau khổ
Không nao núng tinh thần”.

Đoạn thơ trên gợi cho Anh/Chị những suy nghĩ gì?
II. LÀM VĂN
Câu 1: Từ ý thơ phần Đọc hiểu, Anh/chị hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 200 từ) trình bày suy nghĩ về tính lạc quan trong cuộc sống.
Câu 2: Nhận xét về hình tượng người lái đò trong thiên tùy bút “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân, có ý kiến cho rằng: “Trong cuộc chiến đấu không cân sức với thiên nhiên dữ dội, hiểm độc, ông đò là vị chỉ huy trí dũng tuyệt vời”. Ý kiến khác lại cho rằng: “Trong nghệ thuật vượt thác leo ghềnh, ông đò là người nghệ sĩ có “tay lái ra hoa”. Bằng cảm nhận về hình tượng người lái đò, hãy trình bày suy nghĩ của Anh/Chị về các ý kiến trên.

HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI

I. ĐỌC HIỂU
Câu 1. Phương thức biểu cảm, miêu tả, tự sự.
Câu 2. Nội dung: Kể về khoảng thời gian 4 tháng Bác bị đày đọa về thể xác, điều kiện vật chất thiếu thốn khi ở nhà lao nhưng tinh thần của Người vẫn luôn lạc quan.
Câu 3. Biện pháp nghệ thuật liệt kê: Bốn tháng cơm không no, đêm thiếu ngủ, áo không thay, không giặt giũ.
– Tác dụng: Nhấn mạnh chế độ hà khắc ở nhà tù và và cuộc sống bị đày đọa.
(Có thể trả lời phép tu từ: So sánh, đối lập và phân tích được hiệu quả nghệ thuật)
Câu 4. Đoạn thơ gợi cho chúng ta suy nghĩ về lòng kiên trì, nhẫn nại trong cuộc sống. Nếu thiếu kiên trì, nhẫn nại thì khó mà dẫn đến thành công trong mọi việc được. Vì vậy ta hãy cố gắng học tập, phấn đấu đến mục tiêu mà mình đã đặt ra. Chúng ta hãy kiên trì nhiều hơn nữa để có thể đạt được thứ mình mong muốn và được mọi người tôn trọng.
II. LÀM VĂN
Câu 1:
(Gợi ý viết đoạn):
Có người từng nói, trước một công việc, chỉ cần có lòng lạc quan là bạn đã thành công 50%. Như vậy – sự lạc quan mang lại nhiều lợi ích. Lạc quan tức là không lo lắng thái quá, tinh thần luôn thoải mái dù khó khăn cận kề. Sự lạc quan làm tăng cơ hội thành công. Winston Churchil, trong những ngày đen tối nhất của Chiến tranh thế giới thứ hai, vẫn khẳng định với tất cả mọi người rằng nước Anh sẽ chiến thắng. Điều đó cũng có ý nghĩa là hãy hành động. Những nhà lãnh đạo tài năng có thể không phải lúc nào cũng đến được cái đích xa nhất, nhưng con mắt lạc quan của họ luôn mở ra cơ hội thắng lợi trong một số chặng của cuộc hành trình. Hãy quyết định tiếp cận mọi hoạt động với tinh thần “sẽ thành công”. Hãy cân nhắc những sự lựa chọn khác. Lúc khởi đầu, nếu anh đã có ý nghĩ “Tôi không thể làm được điều đó” thì anh sẽ chẳng tạo ra được giá trị nào hết. Bác Hồ của chúng ta luôn lạc quan một cách kiên định về tương lai cách mạng và chính điều góp phần to lớn đưa con thuyền cách mạng đến bến bờ thắng lợi. Hãy đặt mục tiêu rằng sự lạc quan của anh là không thể lay chuyển được. Cách tiếp cận này có thể được nhiều người ủng hộ, đặc biệt khi những thử thách trong việc lãnh đạo ngày càng trở nên gay gắt hơn. Hãy thường xuyên thể hiện cách tiếp cận “sẽ thành công” đối với mọi người. Đôi khi, mọi người chỉ cần nghe anh nói rằng họ có thể chiến thắng thì sự khích lệ đó sẽ giúp họ chiến thắng thực sự. Anh luôn có thể khơi dậy sự lạc quan bằng cách nói với họ: “Tôi biết là chúng ta sẽ làm hết sức mình”. Khi gặp thất bại, hãy giải thích rằng điều đó chỉ là trường hợp cá biệt, ngoài mong đợi và không kéo dài. Chẳng hạn, khi mọi người đã nản lòng, anh có thể nói: “Điều này rất hiếm khi xảy ra” chứ đừng nói: “Chúng ta sẽ thường xuyên gặp phải khó khăn này”. Hãy coi sự thất bại như một “trường hợp cá biệt” chứ không phải “trường hợp phổ biến”. Hãy nói: “Việc đó chỉ ảnh hưởng đến chúng ta trong một phạm vi nhỏ” chứ đừng nói: “Việc đó sẽ làm hỏng mọi việc khác”. Giải thích nguyên nhân vấn đề là do ngoại cảnh, dựa trên những nhân tố nằm ngoài tầm kiểm soát chứ đừng nên đổ lỗi cho yếu tố nội tại và sự thiếu năng lực cá nhân. Tránh xa những tiêu cực, hoài nghi, do dự và dễ cáu giận. Đôi lúc, cũng cần phải nỗ lực hết sức để không bị chết chìm. Nếu xung quanh anh toàn những điều tiêu cực thì sẽ chẳng thể giữ được mãi sự lạc quan. Hãy loại bỏ mọi nguồn tin mang tính tiêu cực. Hãy tránh xa những người thường xuyên kêu ca phàn nàn. Hãy đón nhận những tin tích cực để luôn có suy nghĩ tích cực. Như vậy, lạc quan đã góp phần tăng giá trị cho bản thân và xã hội!

Câu 2:
– Nguyễn Tuân là một trong những cây bút tiêu biểu của văn xuôi hiện đại. Mỗi tác phẩm của ông là một bài ca về cái đẹp của cuộc sống, của con người với tư tưởng, tình cảm gắn bó với đất nước quê hương.
– “Người lái đò Sông Đà” được coi là một trong những tác phẩm thành công xuất sắc nhất trong Tùy bút Sông Đà. Với khao khát truy tìm “chất vàng mười của tâm hồn vùng Tây Bắc – thứ vàng mười đã được thử lửa”, Nguyễn Tuân đã viết lên bài ca cuộc sống của con người và thiên nhiên Tây Bắc với nhiều nét độc sáng mới lạ. Có ý kiến cho rằng: “Trong cuộc chiến đấu không cân sức với thiên nhiên dữ dội, hiểm độc, ông đò là vị chỉ huy trí dũng tuyệt vời”. Ý kiến khác lại cho rằng: “Trong nghệ thuật vượt thác leo ghềnh, ông đò là người nghệ sĩ có “tay lái ra hoa”. Cần bình luận các ý kiến trên để có một cái nhìn đúng đắn và toàn diện về ông lái đò.
– Trong tác phẩm, nhà văn xây dựng hai nhân vật đó là con sông Đà và người lái đò trên dòng sông ấy. Đó là một dụng ý nghệ thuật cao tay của bậc tu tử tài hoa. Bức tranh thiên nhiên dữ dội, con quái vật hiểm ác, kẻ thù số một kia chỉ là phông nền để tác giả tô vẽ, ngợi ca, tôn vinh sức mạnh kì vĩ của con người. Vì thế, hình tượng người lái đò sông Đà được nhà văn xây dựng như một dũng tướng tài ba, là một nghệ sĩ lão luyện trong nghề chèo đò vượt thác.
– Vốn dĩ xuất thân từ núi rừng nên ông lái gắn bó chặt chẽ với cuộc sống nơi đây. Ông sinh ra trên bờ sông Đà, dòng sông thác lũ đó là nguồn nuôi sống cho ông ngay từ khi còn để trỏm. Cho đến cuộc sống sau này, cuộc đời ông vẫn là những hành trình leo thác, vượt sông, hình như con người và thiên nhiên gắn bó mật thiết cho nên khi đã nghỉ đò mà ông vẫn nhớ về thác lũ và trận địa đá trên sông.
– Trên dòng sông Đà, người lái đò xuôi ngược cả trăm lần. Dòng sông với ông “như một trường thiên anh hùng ca mà ông đã thuộc đến cả những cái chấm than, chấm câu và những đoạn xuống dòng”. Ông hiểu được quy luật của các dòng nước, đóng đinh vào trí nhớ của mình từng con thác, xoáy nước, luồng lành, luồng dữ, cửa sinh, cửa tử; thông minh, gan dạ, hoạt bát, tự tin như một dũng tướng trong trận đồ bát quái, đưa người và hàng vượt qua 73 con thác đến đích an toàn. Con người ấy được ví như “thứ vàng mười” nhưng lại là một tay nhà đò nghèo khổ, tay lêu nghêu như cái sào, chân lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh như kẹp lấy cái cuống lái tưởng tượng, giọng ồn ào như tiếng thác nước mặt ghềnh sông, nhỡn giới vòi vọi như lúc nào cũng mong một cái bến xa nào đó trong sương mù. Thân hình cao to và gọn quánh như chất sừng chất mun, khuôn mặt khắc khổ in hằn dấu vết của công việc đầy gian nan, nguy hiểm. Ông là một nhân vật không tên, vì ông là đại diện cho bao nhiêu con người trên đất nước Việt Nam ngày đêm âm thầm, cần mẫn trong lao động, không ngừng phải đối diện với thiên tai địch họa để giành lấy sự sống và bảo vệ quê hương đất nước. Nhờ đó mà hình tượng trở nên lớn lao, kì vĩ.
– Người lái đò là người rất mực trí dũng và bản lĩnh:
+ Để làm nổi bật phẩm chất này, Nguyễn Tuân đã có dụng ý nghệ thuật sâu xa là để cho người lái đò xuất hiện trên một hoàn cảnh đầy thử thách, khốc liệt. Nguyễn Tuân khẳng định “Ông muốn ghi cái đoạn này cái hình ảnh chiến đấu gian lao của người lái đò trên chiến trường sông Đà, trên một quãng thủy chiến ở mặt trận sông Đà”. Nhà văn đã mô tả một cách chân thật vừa trân trọng, vừa yêu thương, vừa cảm phục nhân vật ông lái đò vô cùng hiên ngang, trí dũng trong cuộc chiến đấu với những thác nước, đá sông đầy hung dữ, nguy hiểm. Cuộc vượt thác, dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân diễn ra như một cuộc thủy chiến dữ dội có nhiều hồi, nhiều đợt, mỗi đợt lại có những thử thách ác liệt khác nhau, dòng sông bày ra những thạch trận hiểm hóc khác nhau: “Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục trong lòng sông…để vồ lấy con thuyền. Đá bày ra thạch trận trên sông với những boongke chìm và pháo đài nổi, phối hợp với đá, nước thác reo hò làm thanh viện cho đá phải tiêu diệt tất cả thuyền trưởng thủy thủ ngay ở chân thác”. Kho từ vựng giàu có và vốn kiến thức văn hóa khoa học phong phú, uyên bác như quân sự, võ thuật, thể dục thể thao, điện ảnh….của Nguyễn Tuân được dịp huy động để miêu tả cuộc thủy chiến ác liệt giữa người lái đò và sóng thác sông Đà: “Sóng nước thúc gối vào bụng và hông thuyền…có lúc chúng đội cả thuyền lên…sóng thác đã đánh đến miếng đòn hiểm độc nhất”. Có lúc tưởng như ông lái đò sẽ bị con thủy quái sông Đà vô cùng hung bạo ấy ngấu nghiến nuốt chửng. Trước sức mạnh của kẻ thù số một của con người, ông lái đò vẫn không hề nao núng, trái lại vẫn bình tĩnh chủ động chiến đấu một cách dũng cảm đầy mưu trí như một vị chỉ huy tài trí tuyệt vời, điều khiển con thuyền lần lượt vượt qua các thác ghềnh như “Phá cái trận đồ bát quái của dòng sông hung bạo”…. “Dòng nước hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông Đà”. Nhưng người lái đò vẫn “Cưỡi lên thác sông Đà…đến cùng như cưỡi hổ”. Hình ảnh ông đò gợi nhớ câu chuyện Võ Tòng đả hổ trong thiên tiểu thuyết “Thủy hử” nổi tiếng của Trung Quốc. Có được cái tư thế hào hùng Võ Tòng đó, người lái đò sông Đà Việt Nam không chỉ có bản lĩnh của sức mạnh lòng dũng cảm mà còn có cả trí thông minh tuyệt vời…trong cuộc chiến đấu không cân sức với thiên nhiên dữ dội, hiểm độc của con
– Người lái đò tài hoa nghệ sĩ:
+ Ông lái đò còn là người rất mực tài hoa, có phong thái ung dung, pha chút nghệ sĩ. Sóng, thác sông Đà rất khắc nghiệt, chỉ cần người lái đò một phút thiếu chính xác, khinh suất, nhỡ tay, hoa mắt là có thể phải trả giá bằng cả chính sinh mạng của mình. Nhưng sóng, thác sông Đà dù có hung dữ đến đâu, cũng bị khuất phục trước người lái đò trí dũng đó. Bởi người lái đò là một nghệ sĩ có kĩ nghệ chở đò rất kỳ diệu. Nghệ thuật ấy được biểu hiện rõ nhất ở khả năng nắm chắc các quy luật tất yếu của dòng sông Đà, nhờ thế mà người lái đò ở tư thế chủ động, tự do, người chiến thắng. Ông lái đò đã nắm chắc mọi quy luật của dòng sông. Lúc thì “Ông cưỡi thác nắm lấy bờm sóng mà phóng nhanh qua cửa tử” lúc lại “Ghì cương đè sấn lên mà chặt đôi con thác để mở đường tiến”. Bằng những động tác thuần nhuyễn trong nghề nghiệp của mình, ông lái đò đã lái con thuyền “như một mũi tên tre xuyên qua hơi nước”, xuyên qua biết bao ghềnh thác hiểm nghèo của dòng sông hung bạo này. Nguyễn Tuân gọi người lái đò của mình có “tay lái ra hoa” là như vậy. Người lái đò trở thành một người nghệ sĩ, một người anh hùng chiến thắng thiên nhiên.
– Bình luận về các ý kiến:
+ Hai ý kiến đều chính xác, thể hiện cái nhìn đúng đắn về hình tượng người lái đò sông Đà.
+ Bản thân mỗi ý kiến chưa thực sự đầy đủ, cần kết hợp cả hai ý kiến với nhau để thấy được vẻ đẹp toàn diện của hình tượng ông đò.
– Mở rộng:
+ Hình tượng người lái đò được Nguyễn Tuân khắc họa bằng một nghệ thuật điêu luyện: sử dụng nhiều biện pháp tu từ (nhân hóa, so sánh, liên tưởng, tưởng tượng, trùng điệp…); từ ngữ phong phú, sống động, giàu hình ảnh, có sức biểu cảm cao; câu văn đa dạng, nhiều tầng, giàu nhịp điệu; huy động tri thức của nhiều lĩnh vực khoa học – nghệ thuật…
+ Trong thiên tùy bút, hình tượng ông đò còn được tác giả khám phá ở góc nhìn của một người lao động bình thường trong giờ phút ngừng chèo, nghỉ ngơi. Ở góc nhìn này, Nguyễn Tuân cho người đọc thấy được vẻ đẹp giản dị, đời thường của một người lao động.
+ Thông qua hình tượng ông đò, Nguyễn Tuân muốn phát biểu quan niệm: người anh hùng không chỉ có trong chiến đấu mà còn có trong cuộc sống lao động hằng ngày.
– Với hai vẻ đẹp: “trí dũng, tài hoa”, ông lái đò trong tùy bút “Người lái đò sông Đà” đã trở thành một trong những hình tượng tuyệt đẹp trong sáng tác của Nguyễn Tuân sau Cách mạng tháng Tám: một người lao động bình thường với chất “vàng mười của Tây Bắc”, một người nghệ sĩ tài hoa.

Nguồn tài liệu : FB thầy Phan Thế Hoài

Xem thêm :Bộ đề thi thử THPT Quốc gia môn văn theo cấu trúc mới :http://vanhay.edu.vn/tag/de-thi-thpt-quoc-gia-ngu-van

Full bộ đề thi thử THPT Quốc gia môn văn , số 86

Đề thi thử kì thi THPT Quốc gia năm 2017, đề minh họa kì thi THPT Quốc gia môn văn soạn theo cấu trúc mới, có đáp án chi tiết

Đề số 86

ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

Sáu con người, do sự tình cờ của số phận, mắc kẹt vào cùng một cái hang rất tối và lạnh. Mỗi người chỉ còn một que củi nhỏ trong khi đống lửa chính đang lụi dần.

Người phụ nữ đầu tiên định quẳng que củi vào lửa, nhưng đột nhiên rụt tay lại. Bà vừa nhìn thấy một khuôn mặt da đen trong nhóm người da trắng. Người thứ hai lướt qua các bộ mặt quanh đống lửa, thấy một người trong số đó không đi chung nhà thờ với ông ta. Vậy là thanh củi cũng bị thu về. Người thứ ba trầm ngâm trong một bộ quần áo nhàu nát. Ông ta kéo áo lên tận cổ, nhìn người đối diện, nghĩ thầm:“Tạo sao mình lại phải hi sinh thanh củi để sưởi ấm cho con heo béo ị giàu có kia?”. Người đàn ông giàu lui lại một chút, nhẩm tính: “Thanh củi trong tay, phải khó nhọc lắm mới kiếm được, tại sao ta phải chia sẻ nó với tên khố rách áo ôm lười biếng đó?”. Ánh lửa bùng lên một lần cuối, soi rõ khuôn mặt người da đen đang đanh lại, lộ ra những nét hằn thù: “Không, ta  không cho phép mình dùng thanh củi này sưởi ấm những gã da trắng!”.

Chỉ còn lại người cuối cùng trong nhóm. Nhìn những người khác trầm ngâm trong im lặng, anh ta tự nhủ: “Mình sẽ cho thanh củi, nếu có ai đó ném phần của họ vào đống lửa trước.”

Cứ thế, đêm xuống dần. Sáu con người nhìn nhau căng thẳng, tay nắm chặt những que củi. Đống lửa chỉ còn than đỏ rồi lụi tắt. Sáng hôm sau, khi những người cứu hộ tới nơi, cả sáu đều đã chết cóng…

(Theo Quà tặng cuộc sống)

Câu 1. Kể tên các phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản trên?

Câu 2. Người viết văn bản trên đã đặt các nhân vật vào một tình huống như thế nào? Ý nghĩa của cách tạo dựng tình huống đó?

Câu 3. Theo anh/chị, trong văn bản trên, có những nguyên nhân nào khiến cả sáu người chết cóng?

Câu 4. Hãy đặt tiêu đề cho văn bản.

LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm)

Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về cách nghĩ và hành động của sáu con người trong câu chuyện trên.

Câu 2 (5,0 điểm)

Nhận xét về bài kí Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường, có ý kiến cho rằng: Từ thượng nguồn dòng chảy đến lúc đổ ra biển sông Hương đã đi với Huế cả một mối tình trọn vẹn. 

Bằng việc cảm nhận vẻ đẹp của sông Hương qua thủy trình của nó, anh/chị hãy làm sáng tỏ nhận định trên.          

Đáp án:

. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Câu 1. Các phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản trên là: tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm.

Câu 2. Các nhân vật bị đặt vào một tình huống đặc biệt:

– Sáu người bị mắc kẹt vào một cái hang, thời tiết lạnh lẽo, khắc nghiệt, đống lửa duy nhất lại đang tàn dần trong khi đó mỗi người đều đang sở hữu một que củi.

– Ý nghĩa của tình huống: Tình huống có tính chất thử thách các nhân vật, qua đó tính cách các nhân vật bộc lộ rõ nét: tất cả đều hẹp hỏi, nhỏ nhen, ích kỉ, thiếu tình yêu thương đồng loại, thiếu tinh thần đoàn kết…

Câu 3. Nguyên nhân khiến sáu người chết cóng:

– Trước hết là vì hoàn cảnh khắc nghiệt: cái lạnh của hang đá làm họ kiệt sức.

– Tuy nhiên, nếu các nhân vật biết cách chia sẻ thanh củi của mình thì có lẽ họ đã không chết cóng. Họ không chỉ chết vì cái lạnh của hang đá mà còn chết vì chính cái lạnh từ tâm hồn họ. Đó là sự phân biệt chủng tộc, sự kì thị tôn giáo, sự phân biệt giàu nghèo… Nói cách khác là do lối sống hẹp hòi, ích kỉ, thiếu tình yêu thương đồng loại, thiếu tinh thần đoàn kết cộng đồng trong hoàn cảnh thử thách.

Câu 4. Thí sinh có thể đặt nhiều tiêu đề khác nhau những cần ngắn gọn, phù hợp với nội dung văn bản và gây được ấn tượng.

Ví dụ: Lạnh, Nơi lạnh nhất ở đâu

LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm)

Thí sinh viết một đoạn văn có dung lượng khoảng 200 chữ, đảm bảo đúng yêu cầu về nội dung và hình thức của một đoạn văn. Có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần có lập luận hợp lí, thuyết phục, bày tỏ quan điểm rõ ràng, không vi phạm các chuẩn mực đạo đức và quy định của pháp luật. Sau đây là gợi ý:

– Cách nghĩ và hành động của sáu con người trong câu chuyện trên thể hiện lối sống cá nhân, ích kỉ, thiếu tình thương, thiếu tinh thần đoàn kết, nhất là trong hoàn cảnh thử thách. Chính cách hành xử và lối sống ấy đã đẩy họ đến kết cục bi thảm.

– Cuộc sống không tránh khỏi những trở ngại, thử thách. Để vượt qua, ý chí, nghị lực của con người là chưa đủ, cần lắm tinh thần tập thể, ý thức đoàn kết cộng đồng, sự đồng cảm sẻ chia giữa người với người.

– Phê phán lối sống ích kỉ, định kiến, vô cảm.

Câu 2 (5,0 điểm)

Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm, vấn đề cần nghị luận

– Hoàng Phủ Ngọc Tường là nhà văn gắn bó sâu sắc với Huế. Ông viết về Huế bằng tất cả tài năng và trái tim say đắm của mình.

Ai dã đặt tên cho dòng sông? là bài bút kí xuất sắc, viết tại Huế, năm 1981 in trong tập sách cùng tên. Với cái nhìn tình tứ của một nghệ sĩ, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã diễn tả hành trình của sông Hương như một cuộc tìm kiếm người tình mong đợi, và từ thượng nguồn dòng chảy đến lúc đổ ra biển sông Hương đã đi với Huế cả một mối tình trọn vẹn

Phân tích, làm sáng tỏ nhận định

* Khái quát: Ngay từ dòng văn mở đầu đoạn trích, tác giả đã không dấu nổi niềm tự hào khi giới thiệu Trong những dòng sông đẹp ở các nước mà tôi thường nghe nói đến, hình như chỉ có sông Hương là thuộc về một thành phố duy nhất. Câu văn không chỉ nâng sông Hương lên sánh ngang với các dòng sông đẹp trên thế giới mà còn nhấn mạnh đặc điểm riêng biệt của dòng Hương: tạo hóa sinh ra sông Hương là để dành riêng cho Huế, chỉ cho Huế mà thôi. Đây cũng là ý tưởng bao trùm khi viết bài kí này của Hoàng Phủ Ngọc Tường: nhìn sông Hương và Huế như một cặp tình nhân lí tưởng, gắn bó với nhau trong một tình yêu muôn thuở.

Nếu như chẳng có dòng Hương

                                Câu thơ xứ Huế nửa đường đánh rơi

(Nếu như chẳng có sông Hương –  Huy Tập)

* Sông Hương đã đi với Huế cả một mối tình trọn vẹn: có một điểm nhất quán trong cái nhìn của Hoàng Phủ Ngọc Tường khi miêu tả sông Hương đó là luôn nhìn dòng sông này như một người con gái với tình yêu tha thiết dành cho Huế.

Ở thượng nguồn dòng chảy:

+ Sông Hương mang trong mình sức sống mãnh liệt như một bản trường ca của rừng già với tiết tấu khi thì hùng tráng dữ dội (rầm rộ giữa những bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như những cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn), lúc lại dịu dàng và say đắm. Nhà văn đã so sánh sông Hương với một cô gái Di gan phóng khoáng và man dại, mang vẻ đẹp nguyên sơ, thuần khiết của núi rừng.

+ Tuy nhiên, sông Hương không chỉ mải mê với cảnh sắc thiên nhiên của đại ngàn Trường Sơn. Trong hành trình ở núi đồi nơi đây, sông Hương đã tích tụ cho mình một lượng phù sa lớn để đến khi rời khỏi rừng nó đã trở thành bà mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở. Có thể nói sẽ không thể có kinh thành Huế hôm nay nếu không nhờ dòng Hương chuyên chở phù sa, miệt mài bồi đắp qua bao thế kỉ.

+ Đặc biệt, ngay từ thượng nguồn dòng chảy, dù còn ở rất xa kinh thành Huế, sông Hương đã mang tâm hồn sâu thẳm của con người ở vùng đất cố đô: dòng sông hình như không muốn bộc lộ, đã đóng kín lại ở cửa rừng và ném chìa khóa trong những hang đá dưới chân núi Kim Phụng. Có lẽ vì thế mà ngay từ khi ra khỏi núi, sông Hương đã là một cô gái đầy bí ẩn và cuốn hút.

Ở ngoại vi thành phố Huế:

+ Từ một cô gái Di gan phóng khoáng và man dại ở thượng nguồn, đến cánh đồng Châu Hóa, sông Hương đã trở thành người gái đẹp nằm ngủ mơ màng chờ người tình đến đánh thức. Cách so sánh đầy gợi cảm này đã lồng câu chuyện tình yêu nhuốm màu cổ tích vào mối quan hệ giữa sông Hương và Huế. Để rồi, hành trình của sông Hương như cuộc tìm kiếm có ý thức để đi tới nơi gặp thành phố tương lai của nó

+ Hành trình để tìm gặp người tình mong đợi của sông Hương cũng khá gian truân: dòng sông đã phải chuyển dòng một cách liên tục – vòng giữa khúc quanh đột ngột – uốn mình theo những đường cong thật mềm, đã phải vượt qua bao núi đồi, vực thẳm…

+ Qua hành trình ấy, sông Hương lại có những vẻ đẹp mới: với màu sắc trẻ trung (trở nên xanh thẳm, sớm xanh, trưa vàng, chiều tím) như sức trẻ và niềm khao khát của tuổi thanh xuân. Đặc biệt là vẻ đẹp trầm mặc… như triết lí, như cổ thi mang chiều sâu tâm linh của cảnh sắc và con người Huế.

Về đến Huế:

+ Nhìn thấy Huế từ xa, Sông Hương vui tươi hẳn lên như một người con gái đã tìm được người tình mà nó hằng mong đợi. Đến khi giáp mặt thành phố sông Hương uốn một cánh cung thật nhẹ khiến dòng sông mềm hẳn đi, như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu. Cách so sánh độc đáo khiến người đọc liên tưởng đến hình ảnh các cô gái Huế e lệ, kín đáo, dịu dàng.

+ Đi giữa lòng thành phố thân yêu, sông Hương trôi đi chậm, thực chậm, cơ hồ chỉ còn là một mặt hồ yên tĩnh, nhà văn gọi đó là điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế. Có lẽ bởi vì quá yên mến thành phố Huế mà sông Hương không nỡ rời xa.

+ Không chỉ yêu mến, sông Hương còn dâng tặng Huế tất cả vẻ đẹp thơ mộng của mình, để rồi nó trở thành người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya. Như vậy, sông Hương từng là bà mẹ phù sa đem màu mỡ cho đất đai nuôi sống con người, nay sông Hương lại sản sinh ra âm nhạc để bồi đắp tâm hồn con người. Tình cảm của người gái đẹp sông Hương dành cho Huế thật sâu đậm biết bao!

Khi chi tay Huế để về biển cả: đang chảy theo hướng chính bắc, sông Hương đột ngột đổi dòng, rẽ ngoặt sang hướng đông tây để gặp lại thành phố lần cuối ở góc thị trấn Bao Vinh xưa cổ. Nhà văn gọi đó là nỗi vương vấn, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu, như Thúy Kiều chí tình trở lại tìm Kim Trọng cuả nó, để nói một lời thề trước khi về biển cả. Cuộc chia tay giữa sông Hương với Huế cũng dùng dằng, nấn ná, đầy lưu luyến như một cặp tình nhân.

=> Đến đây, sông Hương đã đi với Huế cả một mối tình trọn vẹn, một mối tình đầy tâm trạng, đầy cảm xúc, một mối tình có đầu có cuối, có thủy có chung.

Đánh giá chung:

– Dưới cái nhìn lãng mạn của Hoàng Phủ Ngọc Tường, sông Hương không chỉ là một dòng sông đơn thuần mà còn gắn bó với Huế như một cặp tình nhân chung thủy. Qua bài kí, tác giả thể hiện tình yêu tha thiết với mảnh đất mà ông gắn bó. Tình yêu Huế từ thâm căn cốt tủy đã chảy thành những dòng văn vừa đẹp, vừa sang, vừa tha thiết khiến ai chưa một lần đến Huế cũng có thể cảm nhận được vẻ đẹp độc đáo của Hương giang.

– Vốn ngôn ngữ phong phú, tài hoa, giàu chất thơ kết hợp với trí tưởng tượng phóng khoáng đã tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt của bài kí và cũng là nét riêng trong nghệ thuật viết kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Đề sưu tầm

Xem thêm những đề thi khác ở link này :http://vanhay.edu.vn/tag/de-thi-thpt-quoc-gia-ngu-van

Tải trọn bộ tài liệu ôn thi môn văn :http://vanhay.edu.vn/bai-viet-noi-bat