Bài văn của học sinh giỏi phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ Hàn Mặc Tử

Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ, tài liệu tham khảo, những bài văn hay phân tích Đây Thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử.

Mở bài cho bài Đây thôn Vĩ Dạ

 

 

Trong vườn Thơ mới với trăm hương sắc ngọt ngào, người ta đã phong cho Hàn Mặc Tử là thống soái của một trường thơ: Thơ điên. Chỉ với 28 tuổi đời (1912 — 1940) mà ông đã để lại cho nền văn học dân tộc hàng trăm vần thơ đẹp. Đến với thơ Hàn Mặc tử, ta bắt gặp một tâm hổn say trăng đến kì lạ:

Mở cửa nhìn trăng, trăng tái mặt

Khép phòng đốt nến, nến châu rơi

Thơ của ông rợn ngợp trong “hồn” và “trăng” vừa thực vừa mơ. Hồn thơ của ông mãnh liệt nhưng luôn quằn quại đau đớn, dường như có một vật lộn và giằng xé dữ dội giữa linh hồn và thể xác. Những tưởng bước vào đó chỉ có “hồn” và “trăng”, cuồng điên và bệnh hoạn nhưng những vần thơ trong trẻo như Đây thôn Vĩ Dạ buộc mỗi độc giả chúng ta phải có cái nhìn khác đi về nhà thơ đa tài nhưng bạc mệnh này. Đây thôn Vĩ Dạ khiến lòng người phải nghiêng nghiêng về một tình yêu vô bờ bến của tác giả đối với Vĩ Dạ, với những con người Huế

Sao anh không về chơi thôn Vĩ? 
Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên, 
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc 
Lá trúc che ngang mặt chữ điền. 

Gió theo lối gió, mây đường mây 
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay… 
Thuyền ai đậu bến Sông Trăng đó, 
Có chở trăng về kịp tối nay? 

Mơ khách đường xa, khách đường xa, 
Áo em trắng quá nhìn không ra… 
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh, 
Ai biết tình ai có đậm đà ?

Thân bài

Nhắc đến Đây thôn Vĩ Dạ, ta không thể quên được mối tình tuyệt vọng của thi nhân và giai nhân xứ Huế là Hoàng Thị Kim Cúc. Bệnh tật đã dứt lìa nhà thơ  ra khỏi nhiều ước mơ của tuổi trẻ trong đó có khát khao về tình yêu đôi lứa. Những năm cuối đời, Hàn Mặc Tử đã nhận được một bức bưu ảnh “có mây, có nước, có chiếc đò ngang với cô gái chèo đò, có mấy khóm tre, có cá ánh trăng hay ánh mặt trời chiếu xuống nước” cùng mây lời thăm hỏi của cố nhân, xúc động với tấm lòng của bạn cũ, tác giả đã sáng tác bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ với 3 khố thơ 12 câu tả cảnh ngụ tình để đáp lại tình cảm của người xưa. Nhớ đến người xưa, cảnh xưa ta sẽ nhớ đến Vĩ Dạ thôn.

Mở đầu cho một bức tranh thiên nhiên đầy màu sắc ấy, không phải là một câu miêu tả mà là một câu hỏi tu từ, một câu trách yêu hờn dỗi, là lời mời tha thiết, nhẹ nhàng với giọng thơ êm dịu, tình tứ như giọng nói dịu dàng của người con gái Huế:

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Câu hỏi như hàm chứa lời trách yêu rằng: lâu quá rồi “Sao anh không vể chơi thôn Vĩ, về thăm em?”. Cảnh cũ, người xưa vẫn cứ thấp thoáng gợi lên bao hoài niệm thân quen. Câu hỏi sử dụng từ “chơi” thay cho từ “thăm” càng tạo nên sự gần gũi, thân thương đối với cảnh vật và con người nơi thôn Vĩ. Chúng ta ngẫm kĩ thêm chút nữa sẽ thấy ẩn chứa bên trong câu hỏi là một lời tự vấn của chính bản thân tác giả. Ông mượn những lời thôn nữ Vĩ Dạ hỏi “anh” nhưng cũng chính là câu hỏi tự đặt ra để hỏi chính bản thân của mình rằng sao lâu quá rồi không về thăm nơi thôn Vĩ? Đây cùng chính là nỗi giãi bày nỗi niềm thương nhớ của tác giả làm cho bao kỉ niệm xa xưa nay lại sống dậy trong lòng, trong một hồn thơ. Nó gắn liền với cảnh sắc vườn tược và con người nơi xứ Huế mộng mơ, với những khu vườn tươi tốt, hoa trái ngọt, phong cảnh hữu tình. Như lời ca ngợi của nhà thơ Bích Khê về Vĩ Dạ:

Vĩ Dạ thôn! Vĩ Dạ thôn!

Biếc che cành trúc không buồn mà say.

Đối với riêng Hàn Mặc Từ, Vĩ Dạ đã từng in đậm dấu ấn của người thương để lại trong lòng bao nỗi khắc khoải:

Ngày mai tôi bỏ làm thi sĩ

Em lấy chồng rồi hết ước mơ.

Về với Vĩ Dạ là về  với bao cảm xúc mới và đón chào những điều đặc biệt:

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Cảnh vật được mở ra với muôn cây tươi tốt, một bức tranh thiên nhiên toàn đầy sức sống. Cau từng hàng mọc vươn lên trong nắng mới như đón chào những vị khách phương xa. Cảnh sắc bình minh rực rõ với ánh “nắng mới lên” là những ánh nắng sớm, là những nắng đầu tiên trong ngày, nắng còn lẫn sương vói khơi một cảm giác hư vô trong trẻo tinh khôi đến lạ thường. Cấu trúc câu thơ rất đẹp (nắng – cau – nắng), gợi sự quân quýt giữa cau thôn Vĩ và ánh nắng ban mai. Cảnh thật hữu tình! Dường như hàng cau được phát sáng nhờ những tia nắng mới và ngược lại, nắng đẹp hơn lung linh hơn khi chiếu rọi xuống những hàng cau thôn Vĩ. Cả hai tô điếm cho nhau làm nên một ý thơ đầy thi vị.

Sang đến dòng thơ sau, không gian nghệ thuật hạ xuống thấp hơn. E ấp dưới hàng cau xanh vững chãi là “vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. Sương đêm ướt đẫm cây cỏ hoa lá, màu xanh mơn mởn non tơ ngòi lên, bóng lên dưới ánh bình minh trông “mướt quá”. Mưót” là vì mượt mà, óng ả, mướt của một màu xanh rất đặc trung được liên tưởng độc đáo “xanh như ngọc”. Xanh như ngọc chứ không phải là xanh ngọc. Cách so sánh tinh tế khiên cả khu vườn thôn Vĩ đẹp tuyệt vời như một viên ngọc bích. Câu thơ gợi vẻ quyến rũ, long lanh tươi trẻ đầy sức sông dưới bàn tay chăm sóc của ngườ Vĩ Dạ cần cù và đất đai màu mỡ, khí hậu ôn hòa nên cảnh vật quanh năm tươi tốt, xum xuê. Nhưng khu vườn ấy là của ai? Có cụ thể không? Với cách sử dụng đại từ phiếm chỉ “ai”, thi nhân đã nhìn cảnh vật bằng đôi mắt trữ tình, bởi lẽ từ ai không xác định cụ thể, rõ ràng, nó gợi lên những tình cảm sâu kín, những yêu thương e ấp.

Nhớ ai dãi nắng dầm sương

Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao.

Từ “ai” được nhắc đến và cụ thể  hơn ở: Lá trúc che ngang mặt chữ điền “Ai” ở đây là giai nhân, người xuất hiện sau lá trúc e lệ, kín đáo và tình tứ của người con gái xứ Huế mộng mơ. Dùng một vài nét ước lệ, nhà thơ mượn thơ trong nhân gian để gợi tâm hồn, gợi lên tâm lòng của người thiếu nữ:

Mặt em vuông tựa chữ điền

Da em thì trắng áo em đen mặc ngoài

Lòng em có đất có trời

Có câu nhân nghĩa có lời thủy chung.

(Ca dao)

Gương mặt chữ điền phúc hậu lại ẩn hiện qua đường nét thanh mảnh của lá  trúc gợi ra sự duyên dáng, dằm thắm của các cô gái xứ Huê. Nhưng đằng sau cái cảnh vật nên thơ ấy đang chứa đựng những tình cảm kín đáo nơi niềm nhớ thương mong đợi của thi nhân. Dù xa xôi nhưng tác giả  vẫn hướng mình về Vĩ Dạ. Và Vĩ Dạ mãi mong anh trở về thăm. Lời thơ tha thiết một chân tình chưa thế nói hết. Người ấy, tình ấy, khiến cảnh thôn Vĩ càng thơ mộng hơn.

Sang đến khố thơ thứ hai vẫn nổì tiếp mạch thơ, vẫn là những vần thơ trong trẻo, dịu dàng, Nhưng một không gian thoáng đãng, mơ hồ, xa xăm lại được mở ra cảnh vật giờ đây chỉ còn là sự tan tác chia li                                                   ;

Gió theo lới gió, mây đường mây   

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay    

Làn gió ở đây thổi rất nhẹ không đủ sức đế cuốn trôi mây, không đù sức để  làm  cho nước gợn, bởi thế nên dòng nước đã phớt lờ nhưng không buồn cuộn chảy. Gió chỉ  đủ sức làm cho hoa bắp lay động càng gợi lên nổi buồn hiu hắt Trong tiếng Việt từ “lay” vốn không nảy sinh cảm xúc nhưng đặt trong hoàn cảnh này thì nó lại chất chứa một nỗi niềm tâm sự. Đã  hơn một lần ta bắt gặp động từ này trong ca dao Huế.

Ai về Giồng Dứa qua truông

Ció lay bông sậy bỏ buồn cho em.


Với giọng thơ nhẹ  nhàng thoáng buồn, cảnh vật trở nên êm đềm, không gian vắng lộng, mơ buồn. Nghệ thuật đối lập “Gió theo lối gió” đối với “mây đường mây” khiến câu thơ như gãy đôi ra gợi sự chia lìa đôi ngả. Nhưng cái đáng nói ở đây lại là sự chia lìa giữa những hình ảnh thiên nhiên vốn đi liền với nhau (Gió thổi mây theo về), đằng này thì gió đường gió // mây đường mây. Phải chăng trong hình ảnh thiên nhiên ấy chứa đựng nỗi sầu chia li của lòng người? Một dự cảm buổn và lòng khao khát giao hòa với đời, với người cúa thi nhân đã lan tỏa ra cảnh vật, khiến dòng nước cũng trở nên buồn thiu trĩu nặng một tâm sự, một niềm trắc ấn khôn nguôi.

Nỗi niềm ấy bật lên thành hai câu hỏi da diết, khắc khoải:

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?

Câu thơ gợi tả cảnh Vĩ Dạ đò giang tuyệt đẹp nhưng đượm buồn. Hỏi nhưng thật ra tác giả đang hỏi chính lòng mình khi nhớ đến đò xưa bến cũ. Sông Hương bây giò là sông trăng/ hình ảnh trăng là hình ảnh quen trong thơ Hàn Mặc Tử. Thơ anh ngập tràn ánh trăng, thừa mứa ánh trăng đến mức đem đi rao bán. Trăng đối vớii thi nhân là bạn tri âm tri ki. Nói vậy, ta có thể hiếu trăng theo nghĩa đó. Trăng chính là hình ảnh tượng trưng cho tình người tình đời mà Tử đang khao khát. . Khao  khát lại càng tội nghiệp hơn khi ta chợt nhớ đến bi kịch của thiên tài đang phải đối mặt. Đó chính là căn bệnh quái ác đang hành hạ lính hồn và thể xác anh.

Chính bi kịch ấy khiến cho một người yêu trăng, say trăng, giờ đây lại đang đói trăng, đang khát thèm trăng. Hai dòng thơ bật lên, vẽ ra hai không gian đối lập: Ngoài ấy (cuộc đời) và trong này (thi nhân). Nếu ngoài ấy trăng dư giả, đầy tràn cả không gian (sông trăng, bến trăng, thuyền trăng), cả thời gian (cả một đêm trăng). Thì ngược lại, trong này, thi nhân đang khao khát trăng đến cháy bỏng đến khắc khoải thành một nỗi niềm băn khoăn, trăn trở:

“Có chở trăng về kịp tối nay?”. Câu thơ là một nỗi đau, nỗi đau giày vò về  thể xác, cơn đau tính thần giằng xé, bệnh tật, cô độc, tuyệt vọng:

Mây chết đuối ở dòng sông vắng lặng

Trôi thây về xa tận cổ vô biên

Giữa lớp lớp những dòng thơ điên loạn, ma quái khổ đau đó, chính tác giả đang mang trong mình một tâm trạng lo lắng. Từ “kịp” làm tăng thêm sự băn khoăn, lo âu, đau buồn của tác giả. “Chở trăng” như chờ những tình yêu thương nhưng lại phải kịp tối nay. Câu thơ nghe sao mà xót xa lòng. Phải chăng chỉ tối  nay? Chỉ tối nay thôi sao? Đúng vậy. Nếu không kịp tối nay thì rất có thể đây sẽ là lần chia tay vĩnh viễn. Câu thơ khắc khoải một nồi niềm, một dự cảm xót xa, đồng thời cũng thể hiện một niềm khát khao muốn được giao cảm với đời của thi nhân. Thật không nỗi khổ đau nào hơn là phải sống trong xa lánh, cô độc với người đời. Đối với thi nhân thì đây là một án tử mà anh phải đeo mang, gánh chịu.

Ông sợ cuộc sống của ông không thể kéo dài được nữa, ông sợ mình sẽ không còn co hội để  về thăm Vĩ Dạ, về thăm những con người nơi xứ Huế. Giũa muôn trùng câu nhớ và vẻ đẹp hữu tình nơi xứ Huế dã nói lên một tình yêu thầm kín cùa tác giả, một tình yêu kín đáo dịu dàng.

Để cho kỉ niệm đưa tâm hồn mình về với thôn Vĩ, Hàn Mặc Tử như chìm đắm trong cảnh vật nhưng cũng không thôi trăn trở với tâm trạng của một người luôn mang mặc cảm của tình yêu đơn phương, mặc cảm bệnh tật, mặc cảm bị xa lánh. Và, trước hình ảnh người thiếu nữ Huế thoáng  hiện, trắng trong, kín đáo, gần mà như xa, thực mà mơ khiến tác giả phải thốt lên:

Mơ khách đường xa, khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra

“Khách đường xa” gợi sự xa vắng. “Khách đường xa” ở đây có thể là con người thôn Vĩ, những người du khách hay chính những người giai nhân mà chính tác giá đã từng mơ ước. Với nghệ thuật điệp từ “Mơ khách đường xa, khách đường xa” gọi ta liên tưởng đến trong giấc mơ khắc khoải mà dường như mĩ nhân đó đang đi xa nhà thơ, nên câu thơ giống như một tiêng lòng thảng thốt. Hình ảnh “áo trắng” kết hợp với ” khách đường xa” trong không      gian mơ hồ tựa như trinh nữ. sắc trắng thường đem đến cảm giác thanh thoát tinh khôi. Nhung ở đây, ta lại có cảm giác bất thường. Bởi sắc trắng đó nhu làm mờ nhòe thị lực của nhà thơ, khiến “nhìn không ra”. Câu thơ chập chờn bâng khuâng, mờ ảo của “sương khói” Vĩ Dạ:

 

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà

Tất cả ý thơ của hai câu đầu tạo nền đề cho hai câu sau, bao dồn nén cho trăn trở, nhức nhối của “sương khói”, của đại từ phím chỉ “ai”. Vĩ Dạ mưa nhiều, những buổi sớm mai và chiều tà phủ qnờ sương khói. “Sương khói” trong thơ Đường gắn liền với tình cố hương. Ở đây “sương khói” đã làm nhòe đi, đã che khuất  bóng người. Còn tác giả thì đã biết mình mắc căn bệnh hiếm nghèo, một bên là cõi sống non tơ và tình thơ hé mở, một bên là nỗi cô đơn, bệnh tật với cỏi hư vô đang ám ảnh giày vò. Cuộc đời của Hàn Mặc Tử càng trớ nên cay đăng, đau khổ ở trong lòng thể hiện rõ nhất ở câu thơ cuối:                                                        fl

Ai biết tình ai có đậm đà?

Một câu hỏi tu từ không lời đáp và đó còn là tiếng kêu tuyệt vọng đớn đau, hai đại từ  phiếm chỉ “ai” cùng tô đậm thêm tính đa nghĩa cho câu thơ và nhất là đã khơi gợi lên một nỗi niềm u ẩn, mênh mang sâu lắng trong lòng thi nhân. Và đây cũng  như là câu trả lời cho câu hỏi  đầu bài “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?  Kết cấu đầu cuối hô ứng lạo nên một bài thơ đặc sắc. với cấu tứ rất đẹp va tình của thi nhân đối với Huế cũng rất sâu sắc. Không chỉ thế bài thơ giúp người đọc thêm cảm thương cho nhà thơ tài hoa, đa tình mà bạc mệnh, từng say đắm với mối tình tha thiết nhưng suốt đời  phải sống trong bệnh tật. Ngoài ra, ta cũng cần  nhìn nhận đôi chút về đại lừ “ai”, “ai” trong bài thơ có tất cả 4 lần xuất hiện, cả 4 lần đều mơ hồ, ảo ảnh. Đều nói về cái xa vời, khó với, nhà thơ cảm thấy mình hụt hẫng, chới với  giữa hư và thực; mộng và ảo. Một chút hi vọng mong manh mà tha thiết như đang nhạt nhòa và mờ đi trong sương khói.

Kết bài cho bài Đây thôn Vĩ Dạ

Hàn Mặc Tử đã để lại cho to một tứ thơ đẹp : cảnh và người, mộng và thực ,say đắm và bâng khuâng, ngạc nhiên và thẫn thờ, bao hình ảnh đẹp hội tụ trong 3 khổ thơ thất ngôn, câu chữ toàn bích. Đây thôn Vĩ Dạ là một bài thơ tình tuyệt vời. Tuy có ngậm ngùi xót xa nhưng vẫn thiết tha yêu đời, , yêu thiên nhiên. Bài thơ đã tô  đậm thêm tình thương, tình yêu, tình người, tình đời  và cả tình yêu quê hương đất nưóc, làm nên một kiệt tác xinh xắn của thi ca Việt Nam.  Chế Lan Viên đã nhìn nhận “Mai sau những cái tầm thường mực thước sẽ biến tan đi, và còn lại của cái thời kì này chút gì đáng kể đó là Hàn Mặc Tử”

(Trần Thị Kiều Oanh – THPT Mĩ Quý, Tháp Mười, Đồng Tháp)

Dẫn theo Trần Liên Quang, Đỗ Thị Yên

Xem thêm : Phân tích bài Đây thôn Vĩ Dạ Ngữ văn 11 : Đây thôn Vĩ Dạ

Tài liệu dạy thêm về bài Đây thôn Vĩ Dạ- Hàn Mặc Tử

Trở lại với Đây thôn Vĩ Dạ

Vài ba năm trở lại đây, đã có khoảng 20 bài viết về Đây thôn Vĩ Dạ, trong đó ý kiến gặp nhau không ít, nhưng khác nhau, ngược nhau cũng nhiều. Điều đó, chẳng đáng ngạc nhiên. Bởi vì người xưa chả đã nói “văn chương tự cổ vô bằng cứ”. Người nay lại còn nói rõ hơn. Đó là do tính đa nghĩa của văn chương, tính chủ quan, tính cá thể, tính biến chuyển trong quy luật cộng hưởng và tiếp nhận nghệ thuật. Cho nên, không riêng gì với Đây thôn Vĩ Dạ, mà với tác phẩm nào, đặc biệt là tác phẩm hay, thì đều vậy cả thôi.

Nhưng dù thế thì việc tìm kiếm một sự nhận thức thẩm mĩ tối ưu, chuẩn xác hơn, vẫn là điều không thể chối bỏ, nhất là trong phạm vi nhà trường. Xin nhớ cho rằng: tính cá thể và tính tuỳ tiện trong tiếp nhận nghệ thuật không phải là một. Tính cá thể vẫn luôn luồn phải song hành với tính chuẩn mực, mà muốn có tính chuẩn mực này thì phải có cách, hay như mọi người quen nói là phương pháp luận, dĩ nhiên cũng là phải tối ưu, và có tính phổ quát nhưng lại rất  cần có tính cụ thể đối với từng tác phẩm đang cần được chiếm lĩnh.

Trong phương pháp luận chiếm lĩnh Đây thôn Vĩ Dạ có thể có nhiều điều, nhưng có hai điều vốn có liên quan với nhau này là quan trọng nhất, cần được thống nhất với nhau, để không chỉ là dẫn đến sự thống nhất nội dung nhận thức mà còn là đảm bảo chất lượng của nhận thức đối với tác phẩm.

 

  1. Tâm thế sáng tác của Hàn Mặc Tử khi viết Đây thôn Vĩ Dạ là gì?
  2. Tính chỉnh thể trong nội dung tư tưởng thẩm mĩ của Đây thôn Vĩ Dạ

Để hiểu đúng nhiều ức đoán và một ức đoán không thể thiếu về tâm thế sáng tác, có các vấn đề đã được đặt ra và cần được đặt ra để bàn và thống nhất là: Những gì đã từng xảy ra giữa Hàn Mặc Tử với Hoàng Cúc để trực tiếp gây cho Hàn MặcTử viết Đây thôn Vĩ Dại Mối tình giữa Hàn với Hoàng Cúc là đơn phương hay song phương? Hoàng Cúc gửi thư hay gửi ảnh cho Hàn? Gửi ảnh hay gửi bưu ảnh? Câu thơ Sao anh không về thăm thôn Vĩ là của Hoàng Cúc đề trên bưu ảnh hay là của chính Hàn Mặc Tử? Những điều này quả có liên quan đến cách hiểu về nội dung cấu tứ cụ thể của bài thơ. Mà tiếc thay ý kiến không dễ gì thống nhất. Những người có tư cách nhất để nói là Quách Tấn (bạn thân của tác giả, người tự nhận là được Hàn Mặc Tử giao quyền bảo quản văn phẩm cho mình và Nguyễn Bá Tín (em trai Hàn Mặc Tử, viết hồi kí về “Anh tôi”), thì mỗi người lại nói một cách. Cho nên theo yêu cầu bản văn học nghiêm túc thì vẫn đề coi như đang phải treo lại đã. Nhưng dù có rõ hẳn những diều đó rồi thì vẫn không quan trọng bằng vấn đề này; khi viết Đây thôn Vĩ Dạ trong tâm thế của Hàn Mặc Tử  có phải chỉ xoay quanh chuyện với Hoàng Cúc hay còn là bao nhiêu thứ khác ? Sự khác nhau trong cách hiểu về Đây thôn Vĩ Dạ một phần là từ cách trả lời câu hỏi này. Có người đã gói tròn cái tâm thế đó vào chỉ một quan hệ giữa nhà thơ và Hoàng Cúc, mà hiểu như vậy là không ổn. Đành là có chuyện với người tình cũ, có chuyện thư và bức ảnh (hay bưu ảnh)… như trên đã nói, nhưng đâu chỉ có thế. Còn là bao nhiêu chuyện khác. Trước hết là cái cảnh ngộ nhà thơ đang đợi cái chết trong trại hủi Quy Hoà. Và là bao nhiêu kỉ niệm đẹp của nhà thơ về Vĩ Dạ, vể Huế, trong đó có cảnh, có người, mà giờ đây trong cảnh ngộ éo le nghiệt ngã đó, không sao trở lại với chúng được nữa. Ở đây có thể  có sự khơi nguồn thi hứng từ bức thư, cái ảnh gì đó của Hoàng Cúc, nhưng một khi thi hứng đã trỗi dậy thì bao nhiêu kỉ niệm cũ, bao nhiêu cảm hứng khác, phút chốc cũng hội tụ để có được bài thơ. Phải hiểu như thế thì mới hiểu được tính chỉnh thể trong tư tưởng thẩm mĩ của bài thơ.

 

Vậy tính chỉnh thể đó là gì? Cái bao trùm lên tất cả bài thơ, chi phối mọi chi tiết của bài thơ là gì? Là sự ngợi ca thôn Vĩ Dạ, dòng Hương, cô gái xứ Huế ư? Hay là “nỗi niềm âu lo cho hạnh phúc, trong cái Đẹp hoà giải trạng huống đau thương ”? Hay là “một lời gọi, một sự khẳng định, một lời giới thiệu và ngợi ca” và “nỗi buổn và hoài nghi của một tâm hồn đã dự cảm được bất hạnh ”… Theo tôi, đó là: nỗi đau, nuối tiếc và chới với trước bao nhiêu kỉ niệm đẹp: một thồn Vĩ Dạ có “Nắng hàng cau nắng mới lên ”, có “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”, có “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”. Một xứ Huế có thôn Vĩ Dạ đó đã đành, còn có con sông Hương đẹp nhưng buồn, có cảnh “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó ” nên thơ, nhớ đến là ngây ngất làm sao. Rồi ra là những cô gái Huế từ lâu được đặc trưng bằng những cái áo dài trắng toát kia, và dĩ nhiên còn là một mối tình đơn phương, thầm lặng nhưng tuyệt đẹp với Hoàng Cúc ngày nào đù không là trên đất Huế nhưng là với người Huế… Bao nhiêu là điều tốt lành thế, đẹp đẽ thế, ấm áp cõi lòng thế, mà nay làm sao đến được với chúng nữa, một khi mà cái bệnh hủi hiểm nghèo kia đang từng giờ dắt mình về thế giới bên kia. Ngôn ngữ thơ, chi tiết nghệ thuật thơ, tất cả là sự thể hiện cái nỗi đau nuối tiếc, chới với này. Mở đầu là một câu hỏi Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Đó là lời Hoàng Cúc hay không, thật ra chẳng quan trọng, Dù là của Hoàng Cúc trong bưu ảnh đi nữa thì đã vào đây là của Hàn Mặc Tử rồi Điều quan trọng là vào và lại thành một câu hỏi. Hỏi sao khổng về thăm thôn Vĩ? Chính là không về được nữa mà thành ra phải hỏi. Mà hỏi chỉ là hình thức ngôn ngữ bên ngoài để bọc cái nỗi đau bên trong, nỗi đau muốn về lại mà không sao về nổi nữa. Từ câu hỏi này, bao nhiêu là cái đẹp của Vĩ Dạ, của Huế, đẹp, tuyệt đẹp cứ hiện lên như thế nhưng làm sao mà chiếm lĩnh được nữa. Lại hỏi vườn ai? Sao lại vườn ai? Vẫn là cái gì không còn nắm chắc được nữa, dù đó là đẹp đến đâu, mê người đến đâu. Trăng kia trên sông nước Hương Giang, tuôn tràn ánh vàng như thế, nhưng cũng làm sao ngắm nhìn lại nữa. Câu thơ vẫn ở thể nghi vấn: Có chở trăng về kịp tối nay? Để trong đó là cả một sự bất lực, một nỗi đau. Đừng nghĩ rằng ở đây Hàn Mặc Tử muốn ngợi ca đơn thuần cảnh trăng Huế, trăng Hương Giang đẹp như ai đó đã nói. ở đây là sự nuối tiếc trăng đẹp. Hai điều tưởng là một  nhưng thực ra là hai, khác nhau trong thi tứ. Rồi nữa là gió kia, mây kia ở chốn Huế này. Sao lời thơ lại viết: Gió theo tối gió mây đường mây?Không là thế thì sao nữa. Một khi gió mây kia cũng chẳng là của mình nữa. Nó đi theo đường của nó mà thôi. Cuối cùng là khách. Chẳng cần biết cặn kẽ khách đây là ai? Bởi có thể là Hoàng Cúc. Cũng có thẻ còn là ai ai đó nữa. Cái quan trọng ở đây là khách nhưng lại là khách đường xa chứ không phải là khách đường gần. Vì bây giờ trong cảnh ngộ nằm chờ chết kia, còn gì là khách đường gần. Ngay với khách đường xa thì cũng đâu là chuyện nhìn nó trong hiện thực nữa, bàng thị giác sinh học nữa. Chỉ nhìn nó trong tâm tưởng. trong tưởng tượng, trong mơ trong mộng thôi chứ. Mà trong mơ, cùng chẳng phải là cái gì đang dừng lại, nó đang lùi dần, xa dần, mờ dần, tuột dần khỏi mình. Cái chuyện lặp từ khách đường xa, khách đường xa cho ta nghĩ vậy. Mà khách đường xa, khách đường xa ở đây hẳn là cô gái mặc áo trắng rồi. Trắng quá, đáng lẽ là để nhìn ra, chứ sao lại nhìn không ra? Cũnạ lại là chuyện một cái gì đang nhoè đi, đang mờ đi, tuột đi, để cho lòng người nhức nhồi. Hai câu thơ cuối: ở đây sương khói mờ nhân ảnh / Ai biết tình ai có dậm đà là gì? Lại vẫn cái mờ, cái nhoè, cái mất kia. Mà mờ cái nhân ảnh kia mới là đau nhất vì nói gì thì nói, cái nhân ảnh trong đó là cả cái nhân tình mà mất, mà chịu cho nó tuột đi thì đau biết mấy. Câu thơ đúng là nói rõ cái cành ngộ, cái tâm thế của Hàn lúc này, tại cái trại hủi Quy Hoà khủng khiếp kia. Câu thơ còn nói cái nghịch lí đau đớn: Một khi con người nhìn ra sự mất mát của mình lại chính là lúc con người nhận ra cái có đó rõ nhất. Ai biết tình ai có đậm đà? Nói thế chính là biết lắm, biết rõ lắm về cái tình này. Nhưng biết rõ nó đậm đà bao nhiêu là đau đớn với nó bấy nhiêu một khi cũng biết nó đang mất dần đối với mình.

Nói cái bao trùm lên bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ là một nỗi đau nuối tiếc và chới với trước bao nhiêu kỉ niệm đẹp về thôn Vĩ Dạ, về xứ Huế,về con người, về tình yêu… là từ những điều như thế.

GS, Nguyễn Đình Chú

Ôn tập bài Đây thôn Vĩ Dạ SGK Ngữ văn 11

ĐÂY THÔN VĨ DẠ

                                                                                  – Hàn Mặc Tử –

ÔN TẬP KIẾN THỨC CƠ BẢN:

Giới thiệu về tác giả và tác phẩm:

Hàn Mặc Tử là con người tài hoa mà bất hạnh, là “ngôi sao chổi trên bầu thơ Việt Nam” (Chế Lan Viên). Là một trong những nhà thơ có sức sáng tạo mãnh liệt trong phong trào Thơ mới, ông để lại cho đời những vần thơ  vừa “điên loạn”, “đau thương” vừa thiết tha, trong sáng. Tiêu biểu cho những vần thơ trong sáng, thiết tha ấy là bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”. (Nêu vấn đề theo đề bài)

Khái quát về bài thơ:

Bài thơ được viết năm 1938, khi Hàn Mặc Tử đã mắc căn bệnh nan y. Thi phẩm được in trong tập “Thơ điên”, được khơi nguồn cảm hứng từ tấm bưu ảnh mà Hoàng Thị Kim Cúc (cô gái thôn Vĩ mà thi sĩ đã yêu, một tình đơn phương) gửi cho ông. Bài thơ viết theo thể thơ thất ngôn, gồm ba khổ thơ.

Nội dung và nghệ thuật:

Khổ thơ đầu: là bức tranh thôn Vĩ vào buổi bình minh:

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

                                                         Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên.

                                                         Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc.

                                                         Lá trúc che ngang mặt chữ điền.”

Câu thơ mở đầu là câu hỏi : sao anh lại không trở về thôn Vĩ chơi? Đây là câu hỏi tu từ, hỏi không yêu cầu trả lời. Ở đây, nhà thơ tự phân thân ra để tự hỏi mình. Câu hỏi thoáng chút trách móc, hờn giận, nhưng chủ yếu là bộc lộ nỗi lòng nhà thơ. Câu thơ bảy tiếng thì có sáu tiếng đầu liên tục là thanh bằng. Sáu thanh bằng liên tục ấy tạo ra âm hưởng chơi vơi. Có lẽ nỗi nhớ chơi vơi về thôn Vĩ khiến Hàn Mặc Tử đã mở đầu bài thơ bằng âm hưởng chơi vơi ấy. Cuối câu hỏi là một thanh sắc chói gắt, xoáy vào lòng người, làm người đọc cảm nhận được nỗi xót xa, tiếc nuối vì đã không trở về thôn Vĩ thân yêu. Câu thơ bộc lộ rõ nỗi nhớ chơi vơi và niềm xót xa tiếc nuối của thi sĩ khi không có cơ hội trở về thôn Vĩ.

Sau câu hỏi như mời gọi ấy là bức tranh thiên nhiên Vĩ Dạ. Đó là cảnh ở một khu vườn thôn Vĩ vào buổi sáng bình minh, có những ánh nắng đầu tiên của một ngày chiếu dọi lên hàng cau và cả khu vườn ánh lên sắc xanh như ngọc. Cảnh thôn Vĩ được nhìn từ xa nên sự vật đầu tiên mà tác giả trông thấy là “nắng hàng cau” – nắng ban mai chiếu trên hàng cau cao vút. Đó là thứ “nắng mới lên”, thứ nắng gợi ra sự ấm áp, trong trẻo, tinh khôi. Điệp từ “nắng” hai lần trong câu hai gợi tả một không gian tràn ngập ánh nắng, dường như cả khu vườn đang tắm gội dưới ánh bình minh. Tới gần hơn, nhà thơ nhìn thấy vườn “xanh” “mướt” “như ngọc”. “Mướt” là từ tả độ bóng, sự óng ả, mượt mà tràn đầy sức sống của cây lá trong vườn. Từ cảm thán “quá” như một tiếng reo vui kinh ngạc trước vẻ đẹp bất ngờ của khu vườn. Nó lại ánh lên sắc “xanh như ngọc”. Có lẽ, vào buổi sáng sớm, cây lá còn đẫm sương đêm, được ánh nắng dọi lên nên ánh lên long lanh “như ngọc”. Cảnh thôn Vĩ hiện về trong nỗi nhớ của nhà thơ thật gần gũi, thật đẹp, thật trong trẻo, tinh khôi.

Thấp thoáng sau cảnh vật là hình ảnh con người. Con người thôn Vĩ hiện ra với khuôn “mặt chữ điền” – khuôn mặt của người phúc hậu, hiền lành. Khuôn mặt ấy lại thấp thoáng đằng sau “lá trúc” nên càng trở nên duyên dáng, đáng yêu.

Cả khổ thơ một là bức tranh thiên nhiên thôn Vĩ vào buổi bình minh đẹp trong trẻo, tinh khôi, tràn đầy sức sống và con người thôn Vĩ phúc hậu, duyên dáng, đáng yêu. Đằng sau bức tranh có cảnh và người đó, người đọc cảm nhận được tấm lòng yêu đời, yêu người đáng quý của nhà thơ bất hạnh.

Khổ thơ thứ hai : chuyển sang một cảnh khác: cảnh dòng sông đêm trăng

                                                         “Gió theo lối gió, mây đường mây

                                                           Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay.

                                                           Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

                                                           Có chở trăng về kịp tối nay?”

Gió – mây là đôi bạn tâm giao trong vũ trụ. Gió thổi đưa mây bay đi, cả hai cùng hướng. đó là quy luật tự nhiên. Nhưng trong câu thơ của Hàn Mặc Tử thì “gió theo lối gió, mây đường mây”, gió – mây chia lìa đôi nẻo. đây không còn là hình ảnh của thị giác nữa, mà là hình ảnh của mặc cảm. Mặc cảm chia lìa của một con người luôn sợ sẽ phải xa rời trần thế. Mặc cảm ấy đã chia lìa cả những thứ tưởng như không thể chia lìa. Ở câu hai, “dòng nước” được miêu tả “buồn thiu”. Dòng nước trôi chậm, lững lờ đến tĩnh lặng. “Hoa bắp” thì chỉ “lay” nhẹ, chuyển động khẽ khàng, vô hồn. Cảnh thật tĩnh lặng, mang đậm nỗi buồn, hiu hắt. So với khổ thơ đầu, cảnh ở đây hoàn toàn khác. Nắng tắt, chiều xuống, rồi trăng lên. Câu ba, câu bốn tả cảnh dòng sông có trăng soi chiếu. Chắc trăng sáng lắm nên soi tỏ con thuyền. Thuyền “chở” đầy trăng, cả dòng nước tràn đầy ánh trăng trở thành dòng “sông trăng”. Đêm trăng thật đẹp, thật lung linh, huyền ảo. Thế mà có gì đó nghe da diết mà khắc khoải : “Có chở trăng về kịp tối nay?”. Câu hỏi tu từ và động từ “kịp” gợi ra sự chờ đợi đến khắc khoải. Có về “kịp” tối nay không? Dường như, nếu trăng không về “kịp” thì kẻ bị số phận bỏ rơi trong đau khổ ấy sẽ hoàn toàn tuyệt vọng, đau thương. Với các thi nhân, trăng là người bạn thân thiết. Lí Bạch bất chợt bắt gặp ánh trăng ở đầu giường thì nhớ về quê hương (“Tĩnh dạ tứ” – Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh). Bác Hồ của chúng ta ở trong tù có trăng làm bạn (“vọng nguyệt” – Ngắm trăng), khi ra tù làm cách mạng lại có trăng cùng “bàn bạc việc quân” (“Nguyên tiêu” – Rằm tháng giêng)…Còn với Hàn Mặc Tử  lúc này, trăng là tri âm tri kỉ, là cứu cánh duy nhất để con người bất hạnh này thoát khỏi cô đơn và mặc cảm chia lìa. Nỗi niềm khắc khoải chờ đợi trăng ấy của nhà thơ khiến người đọc nhận ra khát khao giao cảm với đời, với người của thi nhân.

Khổ thơ cuối: Nếu như khổ một, khổ hai nỗi nhớ chủ yếu hướng về cảnh thì khổ thơ thứ ba lại hướng về con người:

“Mơ khách đường xa, khách đường xa

                                                          Áo em trắng quá, nhìn không ra.

                                                          Ở đây sương khói mờ nhân ảnh,

                                                          Ai biết tình ai có đậm đà?”

Con người hiện ra trong “mơ” hư ảo, chập chờn. Đó lại là “khách đường xa”, là khách ở nơi xa xôi. Phép điệp lặp lại hai lần cụm từ “khách đường xa” càng tô đậm thêm sự xa xôi, hư ảo. Đến câu thơ thứ hai, dường như thiếu nữ thôn Vĩ hiện ra rõ ràng hơn trong màu “trắng” của “áo em”. Sắc “trắng” được cực tả “trắng quá” để miêu tả vẻ đẹp trong trắng, trinh khiết của “em”. Nhưng sắc trắng ấy cũng làm tôi “nhìn không ra”. Thì ra là vậy. “Em” vẫn chập chờn, hư ảo quá, xa xôi quá, khó với tới quá. Với tôi, em là như vậy. Niềm đau ấy khiến thi sĩ quay trở lại với thực tại của mình: “Ở đây sương khói mờ nhân ảnh”. “Ở đây”, nơi tôi đang sống đây, trong cõi lòng tôi đây, thì chỉ còn là “sương khói mờ nhân ảnh”, chỉ còn sự u ám, lạnh lẽo, cô đơn. Cuối bài thơ là một câu hỏi : “Ai biết tình ai có đậm đà?” Tình yêu đơn phương với Hoàng Cúc khiến nhà thơ day dứt, băn khoăn: Không biết, em có biết tình tôi dành cho em đậm đà lắm hay không? Không biết tình cảm của em với tôi có chút gì đậm đà chưa? Câu thơ chứa đựng niềm day dứt mà vẫn rất tha thiết của một con người đang yêu nhưng lại sợ tình yêu không thành. Nó khiến cho người đọc thêm cảm thương cho thi sĩ tài hoa mà bạc mệnh, yêu say đắm mà suốt đời lại phải sống trong cô đơn, tật bệnh.

Cuối cùng, không thể không nhắc đến đại từ “ai” rải rác trong bài thơ: Cả bốn lần, đại từ phiếm chỉ này xuất hiện trong bài thơ đều mơ hồ, ám ảnh:

“Vườn ai mướt quá xanh như ngọc?”

“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó?”

“Ai biết tình ai có đậm đà?”

Con người nhà thơ nói đến là phiếm chỉ, xa vắng trong hoài niệm, mông lung trong cảm xúc. Hi vọng về mối tình đơn phương ấy như đang nhạt nhòa theo sương khói. Không chỉ thế, đại từ “ai” còn tạo ra nét duyên dáng “rất Huế” cho cả bài thơ.

Nghệ thuật cả bài thơ:

Với trí tưởng tượng phong phú cùng với nghệ thuật so sánh, nhân hóa; thủ pháp lấy động tả tĩnh, sử dụng câu hỏi tu từ và những hình ảnh sáng tạo, có sự hòa quyện giữa thực và ảo, Hàn Mặc Tử đã dẫn người đọc trở về với thôn Vĩ thơ mộng, hữu tình; đồng thời thể hiện lòng yêu đời, ham sống mãnh liệt mà đầy uẩn khúc của nhà thơ.

Ý nghĩa văn bản:

Bức tranh phong cảnh Vĩ Dạ và lòng yêu đời, ham sống mãnh liệt mà đầy uẩn khúc của nhà thơ.

LUYỆN TẬP:

        Dựa vào kiến thức cơ bản và phương pháp làm bài nghị luận văn học về bài thơ, đoạn thơ, học sinh luyện tập với các đề sau:

Đề 1: Phân tích bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của nhà thơ Hàn Mặc Tử.

Đề 2: Phân tích vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên trong khổ thơ sau:

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

                                                         Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên.

                                                         Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc.

                                                         Lá trúc che ngang mặt chữ điền.”

(“Đây thôn Vĩ Dạ” – Hàn Mặc Tử)

(Tài liệu sưu tầm )

Xem thêm :Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về  Đây thôn vĩ dạ

Giáo án Đây thôn Vĩ Dạ theo phương pháp dạy học tích cực

Xây dựng bài học theo tiến trình hoạt động của học sinh. Soạn bài Đây thôn Vĩ Dạ Ngữ văn 11, định hướng phát triển năng lực. Giáo án chuẩn cấu trúc 2018

ĐÂY THÔN VĨ DẠ

                                          (Tiết 1)                          Hàn Mặc Tử

 

MỤC TIÊU CẦN ĐẠT

Giúp học sinh:

Về kiến thức:

– Hiểu được những nét cơ bản về cuộc đời và sự nghiệp thơ ca của Hàn Mặc Tử.

– Cảm nhận được những nét đặc sắc của bài thơ nói chung và của khổ thơ đầu nói riêng: khổ thơ đầu của bài thơ là bức tranh phong cảnh và cũng là tâm cảnh, thể hiện nỗi buồn cô đơn của nhà thơ trong một mối tình xa xăm, vô vọng. Hơn thế, đó còn là tấm lòng thiết tha của nhà thơ với thiên nhiên, cuộc sống  trần thế và con người.

– Nhận biết được sự vận động của tứ thơ, của tâm trạng chủ thể trữ tình và bút pháp tài hoa, độc đáo của Hàn Mặc Tử.

Về kĩ năng:

– Rèn luyện kĩ năng đọc – hiểu văn bản thuộc thể loại thơ trữ tình, có thể vận dụng kĩ năng đó vào trong nhiều văn bản mà các em sẽ gặp sau này

– Rèn luyện kĩ năng cảm thụ thơ trữ tình

 Về thái độ, tình cảm:

– Từng bước hình thành lòng yêu mến và trân trọng tài năng thơ ca của Hàn Mặc Tử – Một nhân cách vượt lên nỗi đau của bệnh tật để không ngừng sáng tạo.

– Có ý thức vươn lên vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống qua tấm gương tràn đầy nghị lực sống của Hàn Mặc Tử.

Định hướng góp phần hình thành năng lực

– Năng lực giao tiếp (nghe, nói, đọc, viết)

– Năng lực thẩm mĩ (cảm thụ và sáng tạo)

– Năng lực hợp tác

– Năng lực tự học…

 CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH

Chuẩn bị của giáo viên

– Giáo án/thiết kế bài học

– Các slides trình chiếu (nếu có)

– Các phiếu học tập, bao gồm: các sơ đồ để HS điền thông tin, các bài tập dùng để kiểm tra, đánh giá HS trong quá trình đọc hiểu.

Chuẩn bị của học sinh

Chuẩn bị bài ở nhà theo các yêu cầu sau:

– Đọc trước bài “Đây thôn Vĩ Dạ” trong SGK Ngữ văn 11, Tập Hai.

TIẾN TRÌNH THỰC HIỆN

Hoạt động của GV và HS Nội dung cần đạt
Hoạt động 1: Khởi động

GV chia lớp học thành 4 nhóm tham gia trò chơi: Tìm hiểu về các nhà thơ trong phong trào thơ mới Việt Nam

Nội dung:

– Kể tên các tác giả, tác phẩm trong phong trào thơ mới của văn học Việt Nam

–  Nhận xét nào sau đây là đúng về Hàn Mặc Tử?

a. Nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới

b. Nhà thơ lạ nhất trong các nhà thơ mới

c. Nhà thơ quen nhất trong các nhà thơ mới

d. Nhà thơ cổ điển nhất trong các nhà thơ mới

 

Cách chơi: Trong vòng 10 phút, mỗi nhóm kể tên các tác giả, tác phẩm (đã học và đã đọc) trong phong trào thơ mới của văn học Việt Nam và trả lời câu hỏi trắc nghiệm. Nhóm nào kể, trả lời đúng và nhanh hơn là nhóm chiến thắng.

Hoạt động 2: Hình thành Kiến thức

1. Hướng dẫn học sinh đọc – hiểu phần tiểu dẫn SGK.

Bước 1:

GV: Trên cơ sở phân chia nhóm và giao bài tập hoạt động nhóm về nhà, mỗi nhóm chuẩn bị một sản phẩm sơ đồ tư duy về tác giả Hàn Mặc Tử  để trình bày

Bước 2:

Thảo luận, hoạt động nhóm thực hiện ở nhà

Bước 3:

GV: Yêu cầu một nhóm cử đại diện trình bày sơ đồ tư duy về tác giả Hàn Mặc Tử?

HS: Đã chuẩn bị bài ở nhà, có những hiểu biết nhất định về cách trình bày sơ đồ tư duy về một tác giả,

– Một nhóm cử đại diện

trình bày sơ đồ tư duy về tác giả Hàn Mặc Tử ?

HS các nhóm còn lại tham ra nhận xét phần thảo luận của nhóm trình bày

 

 

Bước 4:

 

 GV: Nhận xét, bổ xung, mở rộng và chốt lại kiến thức

 

 

 

 

2. Tìm hiểu những nét khái quát về bài thơ.

Bước 1

– Hướng dẫn HS đọc đoạn cuối phần tiểu dẫn SGK và trả lời câu hỏi:

+ Trình bày xuất xứ của bài thơ?

+ Hoàn cảnh ra đời bài thơ có gì đặc biệt?

– Nhận xét bổ sung, mở rộng vấn đề và sau đó chốt lại kiến thức

Hướng dẫn HS tìm hiểu về âm điệu và đề tài của bài thơ bằng các câu hỏi trắc nghiệm

1. Dòng nào nhận xét đúng về âm điệu bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ?

a. Trầm hùng, bi phẫn trang trọng

b. Hào sảng, khoan thai dõng dạc

c. Nhẹ nhàng, da diết, khắc khoải

d. Chậm buồn, ảo não, nghẹn ngào

2. Đề tài của bài thơ là:

a. Tình yêu thiên nhiên

b. Tình yêu quê hương đất nước

c. Tình yêu lứa đôi

d. Cả A, B,C

 

 – Yêu cầu HS đọc bài thơ theo âm điêu vừa tìm hiểu.

 

– Nhận xét và đọc mẫu.

– Em hãy xác định bố cục của bài thơ?

Bước 2

– Làm việc nhóm trao đổi thảo luận và đưa ra câu trả lời

 

– Ba nhóm tiến hành thảo luận trên cơ sở câu hỏi và phiếu bài tập GV giao

Bước 3

– Một nhóm cử đại diện lên trình bày

 

– Các nhóm còn lại chú ý phần trình bày của nhóm đại diện sau đó nhận xét, bổ xung

Bước 4

GV Nhận xét và chốt lại kiến thức

 

 

 

 

 3. Đọc – hiểu khổ thơ  đầu.

Bước 1

– Yêu cầu HS đọc khổ 1 làm việc nhóm và trình bày

Xác định Hình thức? Sắc thái? Chủ thể trữ tình trong câu thơ đầu?

GV bổ sung, nhấn mạnh

– Nêu câu hỏi thảo luận và phát phiếu trả lời cho từng nhóm.

– Bức tranh thôn Vĩ trong hoài niệm của thi nhân hiện lên như thế nào?

 

– Xác định hình thức nghệ thuật và tác dụng của hình thức nghệ thuật ấy?(từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ)

 

– Hình ảnh người thôn Vĩ hiện lên qua chi tiết nào? sức gợi của chi tiết đó? Từ bức tranh ngoại cảnh em hiểu gì về cảm xúc của thi nhân?

Bước 2

– Làm việc nhóm trao đổi thảo luận và đưa ra câu trả lời

– Ba nhóm tiến hành thảo luận trên cơ sở câu hỏi và phiếu bài tập GV giao

 

Bước 3

– Một nhóm cử đại diện lên trình bày

 

– Các nhóm còn lại chú ý phần trình bày của nhóm đại diện sau đó nhận xét, bổ xung

Bước 4

GV nhận xét, bổ xung và chốt lại kiến thức

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hoạt động 3:  Luyện tập

Bước 1

GV trình chiếu cho HS làm bài tập trắc nghiệm

Câu 1: Bài thơ Đây thôn Vĩ được giới thiệu, miêu tả theo trình tự nào?

A. Khái quát – Cụ thể, Cao – Thấp

B. Cụ thể – Khái quát, Thấp – Cao

C. Quá khứ – Hiện tại, Thấp – Cao

D. Hiện tại – Quá khứ, Cao – Thấp

Câu 2 : Nhận xét nào sau đây là đúng với thôn Vĩ?

A. Tươi tắn, trong trẻo, tràn đầy ánh sáng, âm thanh

B. Trong trẻo, tươi sáng, tràn đầy sức sống

C. Thanh nhẹ, thơ mộng, man mác buồn thương

D. Tươi tắn, nhộn nhịp, tràn đầy xuân sắc

Câu 3 : Nhận xét nào đúng với cách miêu tả người thôn Vĩ?

A. Chi tiết, cụ thể, rõ nét

B.  Tập trung miêu tả hình dáng

C. Khắc hoạ nét thần thái

D. Chú ý tính cách

Câu 4: Một trong nhưng nỗi niềm mà thi nhân gửi gắm qua khổ 1 là gì?

A. nỗi nhớ người yêu da diết

B. khát khao được trở về, tắm mình trong vẻ đẹp của thôn Vĩ

C. thể hiện tâm trạng tiếc nuối những gì đã qua

Câu 5: Những hình ảnh sử dụng trong khổ thơ đầu có đặc điểm:

A. Giản dị, gần gũi, đậm chất dân gian

B. Táo bạo, hiện đại, tạo cảm giác mạnh

C. Trang trọng, hàm xúc, mang đậm màu sắc cổ điển

D. Giàu sức gợi, mang màu sắc tượng trưng

Bước 2

HS làm việc cá nhân

Bước 3

HS trả lời nhanh đáp án

Bước 4

GV nhận xét và chốt lại đáp án

Hoạt động 4: Vận dụng

Bước 1

– Thông qua diễn biến tâm trạng của nhân vật trữ tình trong đoạn thơ em có suy nghĩ gì về tình yêu thiên nhiên đất nước và nghị lực sống của con người thời hiện đại?

– Từ bài thơ trên rút ra bài học gì cho bản thân?

(viết đoạn văn ngắn 7-10 dòng)

Bước 2

– Làm việc nhóm trao đổi thảo luận và đưa ra câu trả lời

– Ba nhóm tiến hành thảo luận trên cơ sở câu hỏi và phiếu bài tập GV giao

Bước 3

– Một nhóm cử đại diện lên trình bày

– Các nhóm còn lại chú ý phần trình bày của nhóm đại diện sau đó nhận xét, bổ xung

Bước 4

GV nhận xét, bổ xung và chốt lại kiến thức

Hoạt động 5: Mở rộng, sáng tạo

Bước 1

GV yêu cầu HS làm bài tập ở nhà sau đó nộp sản phẩm vào buổi học sau.

GV yêu cầu HS sưu tầm những bài viết phê bình văn học về tác giả và tác phẩm của các nhà thơ trong phong trào thơ mới (đăng trên báo/tạp chí hoặc trong cách sách chuyên khảo) để làm tư liệu học tập. Nội dung các bài viết có thể là:

– Đánh giá về giai đoạn văn học.

– Đánh giá về một bộ phận/xu hướng văn học.

– Đánh giá về tác giả Hàn Mặc Tử và tác phẩm đây thôn Vĩ Dạ

Bước 2

HS làm việc nhóm ở nhà

Bước 3

Chuẩn bị sản phẩm để giờ sau trình bày

 

 

 

HS nêu đúng tên các tác giả và tác phẩm thuộc phong trào thơ mới của văn học Việt Nam

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

a. Cuộc đời

– Hàn Mặc Tử (1912 – 1940), tên thật là Nguyễn Trọng Trí

– Quê quán: làng Lệ Mĩ, huyện Phong Lộc, nay thuộc TP. Đồng Hới (Quảng Bình), xuất thân trong một gia đình công giáo nghèo.

– Ông có một số phận đau thương và bất hạnh đến nghiệt ngã.

+ Cha mất sớm, ông ở với mẹ tại Quy Nhơn.

+ Năm 24 tuổi, ông mắc bệnh phong. Ông về hẳn Quy Nhơn để chữa trị.

+ Ông mất khi tuổi đời còn rất trẻ(28 tuổi)

Những nghiệt ngã của số phận đã ảnh hưởng rất lớn đến hồn thơ của ông.

b. Sự nghiệp sáng tác

– Ông là nhà thơ lạ nhất trong phong trào thơ mới.

– Ông là một trong những nhà thơ có sức sáng tạo mạnh mẽ nhất trong phong trào thơ mới.

– Phong cách thơ hàn Mặc Tử: Thơ Hàn Mặc tử là một thế giới nghệ thuật kì dị. Ở đó có sự đan xen, biến hóa của nhiều hình ảnh phức tạp, bí ẩn. Tuy nhiên đằng sau thế giới hình ảnh đó là một tâm hồn tràn ngập tình yêu đời, chan chứa khát khao sống.

– Tác phẩm chính : Gái quê (1936); Thơ Điên (Đau thương) (1938); Xuân như ý, Thượng thanh khí, Cẩm châu duyên (1939); Duyên kì ngộ (kịch thơ 1939); Quần tiên hội (kịch thơ 1940); Chơi giữa mùa trăng (thơ văn xuôi 1940).

 

 

 

 

 

2. Tác phẩm

a. Hoàn cảnh sáng tác

 

– Bài thơ được sáng tác năm 1938, in trong tập “Thơ điên”, phần “Hương thơm”.

– Ban đầu bài thơ có tên : Ở đây thôn Vĩ Dạ, về sau đổi lại thành Đây thôn Vĩ Dạ.

– Theo một số tài liệu, bài thơ được gợi cảm hứng từ tấm bưu thiếp vẽ phong cảnh Huế có hình người chèo đò trên sông Hương với lời thăm hỏi chúc thi sĩ mau bình phục của Hoàng Thị Kim Cúc – một cô gái ở thôn Vĩ Dạ gửi cho Hàn Mặc Tử, khi tác giả đang dưỡng bệnh ở Quy Hoà

=> Qua đó, ta thấy bài thơ là những dòng kí ức, là nỗi nhớ khôn nguôi về một miền đất xa vời.

 

 

 

 

 

b. Âm điệu bài thơ

– Nhẹ nhàng, da diết, khắc khoải

 

 

c. Đề tài bài thơ

– Sự hòa quyện giữa tình yêu thiên nhiên, tình yêu quê hương đất nước và tình yêu lứa đôi

 

d. Bố cục

Bài thơ gồm 3 khổ thơ:

Khổ 1: Cảnh nhà vườn xứ Huế vào buối sáng

Khổ 2: Cảnh sông nước đêm trăng và tâm trạng ngóng trông đầy khắc khoải của nhà thơ

Khổ 3: Hình bóng con người cùng những hoài nghi, mơ tưởng trong tâm trạng của thi nhân.

 

 

 

 

 

 

 

 

II. Đọc – hiểu văn bản

1.  Khổ 1

* Câu thơ mở đầu

“ Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”

– Hình thức: câu hỏi tu từ

– Sắc thái biểu cảm: + Hỏi han

+ Mời mọc

+ Trách móc

– Chủ thể trữ tình: tác giả

=> là sự phân thân tác giả: thể hiện sự băn khoăn, day dứt trong tâm trạng của thi nhân.

=> Câu hỏi thể hiện một ước ao được trở về thôn Vĩ trong sự mặc cảm và bất lực. Câu thơ còn được xem như một lời mở đầu, một cái cớ để nhà thơ có thể đưa hồn mình về với thôn Vĩ một cách thật tự nhiên.

* Ba câu thơ tiếp

@ Cảnh thôn Vĩ:

Nắng hàng cau

+ Cau là cây cao nhất, cây đầu tiên đón ánh nhắng trong vườn-> tinh khôi

+ Nắng rọi vào sương trên những lá cau, tạo thành sự hoà phối giữa màu và ánh->vẻ đẹp tinh khôi, thanh khiết; giản dị mà giàu sức gợi.

+ Thân cau, bóng cau là những nét mảnh mai-> thanh thoát

-> Thân cau thẳng tắp và chia những đốt đều đặn, hiện lên như cây thước để đo mực nắng của thiên nhiên

+ “Nắng mới lên”: cái nắng đầu tiên của một ngày-> tinh khôi, trong trẻo

-> lặp lại từ “nắng” như nhấn mạnh một hình ảnh ám ảnh và đầy ấn tượng trong lòng nhà thơ, đồng thời khái quát nét đặc trưng của nắng miền trung

=> nắng tràn ngập, hàng cau tắm mình trong biển nắng mai.

– vườn ai: gợi cảm giác mơ hồ, bất định gây ấn tượng về một vẻ đẹp bí ẩn không thể chiếm lĩnh, không thể sở hữu.

mướt quá vừa là một sự cực tả cái vẻ mượt mà, non tơ, óng chuốt, mơn mởn xanh tươi, vừa thể hiện giọng điệu trữ tình mê đắm, say sưa.

xanh như ngọc là một hình ảnh so sánh rất tự nhiên, giản dị

=> gợi một vẻ đẹp trong sáng thanh thoát và sang trọng. Hình ảnh so sánh này còn gợi lên vẻ đẹp tốt tươi, màu mỡ và trù phú của làng quê này.

@ Người thôn Vĩ

–  “Mặt chữ điền”: là biểu tượng của nét đẹp phúc hậu, hiền lành, trung thực.

“lá trúc che ngang”: lá trúc mảnh mai, gợi nét đẹp kín đáo, dịu dàng của con người xứ Huế.

=> Câu thơ giàu chất tạo hình: sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người trong vẻ đẹp kín đáo, dịu dàng.

 

 

 

 

Đáp án

Câu 1: A

 

 

 

 

Câu 2: B

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Câu 3: C

 

 

 

 

 

Câu 4: B

 

 

 

 

 

 

Câu 5: D

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Gợi ý

– Trân trọng, tự hào với vẻ đẹp của quê hương xứ sở

– Gắn bó, thân thiện và dành tình yêu sâu sắc với thiên nhiên,

– Có ý thức bảo vệ giữ gìn thiên nhiên – môi trường sống tốt đẹp, lành mạnh

– Ý thức sâu sắc về trách nhiệm của bản thân đối với xã hội

– Cần có nghị lực sống mạnh mẽ để có thể đối mặt và vượt qua “giông tố” trong cuộc đời

 

PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1

Nhóm/Tổ/Tên học sinh:

Lớp:

Trường:

           Bài học: Đây thôn Vĩ Dạ

Vẽ sơ đồ tư duy về tác giả Hàn Mặc Tử?

PHIẾU HỌC TẬP SỐ 2

Nhóm/Tổ/Tên học sinh:

Lớp:

Trường:

           Bài học: Đây thôn Vĩ Dạ

– Bức tranh thôn Vĩ trong hoài niệm của thi nhân hiện lên như thế nào?

 PHIẾU HỌC TẬP SỐ 3

Nhóm/Tổ/Tên học sinh:

Lớp:

Trường:

           Bài học: Đây thôn Vĩ Dạ

 

– Xác định hình thức nghệ thuật và tác dụng của hình thức nghệ thuật ấy?(từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ)

 PHIẾU HỌC TẬP SỐ 4

Nhóm/Tổ/Tên học sinh:

Lớp:

Trường:

           Bài học: Đây thôn Vĩ Dạ

– Hình ảnh người thôn Vĩ hiện lên qua chi tiết nào? sức gợi của chi tiết đó? Từ bức tranh ngoại cảnh em hiểu gì về cảm xúc của thi nhân?

 PHIẾU HỌC TẬP SỐ 5

Nhóm/Tổ/Tên học sinh:

Lớp:

Trường:

           Bài học: Đây thôn Vĩ Dạ

 

Thông qua diễn biến tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ em có suy nghĩ gì về tình yêu thiên nhiên đất nước và nghị lực sống của con người thời hiện đại?(viết đoạn văn ngắn 7-10 dòng)

( Đây là giáo án sưu tầm )

Xem thêm : Trọn bộ giáo án Ngữ văn soạn theo hướng đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá

Giáo án ngữ văn 10 

Giáo án ngữ văn 11

Giáo án ngữ văn 12

Tài liệu bài Đây thôn Vĩ Dạ

Giáo án Đây thôn Vĩ Dạ soạn theo phương pháp mới

Soạn giáo án bài Đây thôn Vĩ Dạ Ngữ văn lớp 11 theo cấu trúc mới,  xây dựng bài học theo tiến trình hoạt động của học sinh. Giáo án định hướng phát triển năng lực

Tiết 94

ĐÂY THÔN VĨ DẠ

                                Hàn Mặc Tử

 

A – MỤC TIÊU BÀI HỌC: Giúp HS:

Về kiến thức: + Cảm nhận được vẻ đẹp thơ mộng, đượm buồn của thôn Vĩ và nỗi buồn, cô đơn trong cảnh ngộ bất hạnh của một con người tha thiết yêu thiên nhiên, yêu sự sống.

+ Thấy được phong cách Hàn Mặc Tử qua bài thơ: Một hồn thơ đau đớn hướng về cuộc đời trần thế, trí tưởng tượng phong phú, hình ảnh thơ có sự hòa quyện giữa thực và ảo.

  Về kĩ năng: Rèn kĩ năng đọc – hiểu một bài thơ trữ tình theo đặc trưng thể loại, kĩ năng cảm thụ, phân tích tác phẩm thơ.

Về thái độ: Có được tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, ý chí và nghị lực ngay cả trong những hoàn cảnh khó khăn.

Định hướng năng lực hình thành: năng lực thu thập thông tin liên quan đến văn bản; năng lực giải quyết những tình huống liên quan đến văn bản; năng lực đọc- hiểu thơ hiện đại Việt Nam theo đặc trưng thể loại; năng lực trình bày suy nghĩ, cảm nhận của bản thân, năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận…

B – CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH:

  1. Chuẩn bị của giáo viên

– SGK, SGV, thiết kế bài giảng, tư liệu, máy chiếu…

  • Các phiếu học tập: phiếu câu hỏi, bài tập dùng để kiểm tra
  • Phân công nhóm học tập
  1. Chuẩn bị của học sinh: chuẩn bị bài ở nhà theo yêu cầu sau:
  • Tìm hiểu về văn học giai đoạn 1930 – 1945
  • Soạn bài theo câu hỏi phâng hướng dẫn học bài
  • Tìm hiểu một số lời bình về tác giả và tác phẩm

C – TIẾN TRÌNH DẠY HỌC:

 

Hoạt động của GV và HS Nội dung cần đạt
Hoạt động 1: Khởi động (04 phút)

Hình thức: Cả lớp

Kỹ thuật: Trò chơi

B1: GV chia lớp thành 4 nhóm, tham gia trò chơi nhận diện chân dung nhà văn qua một đoạn trích trong Thi nhân Việt Nam:

Tham khảo một đoạn trích trong Thi nhân Việt Nam của nhà phê bình văn học Hoài Thanh “ Ta thoát lên tiên….trở về hồn ta cùng Huy Cận.”

? Đoạn trích gợi cho em nhớ tới những tác phẩm nào của ai mà em biết?

B2. Các nhóm thảo luận, thống nhất đáp án.

B3. Trong 2 phút viết và trình bày kết quả rồi đánh giá kết quả của đội bạn.

B4. GV nhận xét, chốt lại.

? Em ấn tượng nhất với từ ngữ nào mà Hoài Thanh đã dùng để nói về thơ Hàn Mặc Tử.

Trên cơ sở câu trả lời của học sinh, giáo viên dẫn dắt vào bài học.

 

 

Học sinh lần lượt hoạt động theo sự điều khiển của giáo viên.

   – Đại diện các nhóm học sinh lên trình bày và đánh giá về kết quả.

– Một học sinh – có kiến thức khá trở lên trả lời câu hỏi số 2.

Hoạt động 2: Hình thành kiến thức

2.1Tìm hiểu chung(02 phút)

-Hình thức: Làm việc nhóm

– Kỹ thuật: Đặt câu hỏi

B1: GV nêu câu hỏi

+ Nhóm 1: Nêu những nét chính về cuộc đời Hàn Mặc Tử?

+ Nhóm 2: Nêu những nét chính về sự nghiệp sáng tác của Hàn Mặc Tử?

+Nhóm 3: Nêu xuất xứ và hoàn cảnh ra đời của bài thơ?

+ Nhóm 4: Giới thiệu những hiểu biết của em về Vĩ Dạ?

B2: Các nhóm hs suy nghĩ trả lời

B3: Đại diện các nhóm trình bầy

B4: GV chốt lại

 

 

2.2 Đọc văn bản(05 phút)

-Hình thức: Cá nhân

– Kỹ thuật: Đặt câu hỏi

B1: GV nêu câu hỏi

? Theo em nên đọc bài thơ với giọng điệu như thế nào?

?Xác định bố cục và nội dung  chính của từng đoạn?

? Nêu cảm nhận ban đầu của em về mạch thơ?

B2: hs suy nghĩ trả lời

B3: Hs trình bầy

B4: GV chốt lại

 

 

I. TÌM HIỂU CHUNG:

1/ Tác giả:

a) Cuộc đời: (1912 – 1940)

Tên khai sinh : Nguyễn Trọng Trí.

– Gia đình công giáo nghèo ở Quảng Bình

– Tốt nghiệp trung học ở Huế – vào Bình Định làm ở sở Đạc Điền, sau đó vào Sài Gòn làm báo.

+ 24 tuổi mắc bệnh phong.

+28 tuổi (1940) ông mất tại trại phong Quy Hòa

-> Cuộc đời nhiều bi thương

b. Sự nghiệp sáng tác::

– Nhà thơ có sức sáng tạo mãnh liệt.

– Tác phẩm tiêu biểu( sgk)

– Đặc điểm thơ của Hàn Mặc Tử :

+ Diện mạo phức tạp, bí ẩn.

+ Hồn thơ vừa trong trẻo, tinh khiết, vừa đau đớn hướng về cuộc đời trần thế.

=> Những nghiệt ngã của số phận đã ảnh hưởng sâu sắc. đến hồn thơ Hàn Mặc Tử.

2/ Tác phẩm

a) Xuất Xứ :

– Sáng tác _1938 – lúc đầu có tên là “ở đây thôn Vĩ Dạ”

– In trong tập “thơ Điên” (1938) sau đổi thành “Đau thương”

+ Đặc trưng của Thơ Điên: Một trạng thái sáng tạo nặng về siêu thực, tượng trưng, huyền ảo…

b) Hoàn cảnh sáng tác

– Khi Hàn Mặc Tử đã lâm bệnh

– Khơi nguồn cảm hứng

+ Từ tấm bưu ảnh mà Hoàng Cúc gửi tặng.

+ Từ mối tình đơn phương với Hoàng Cúc.

+ Từ tình yêu và kỉ niệm với xứ Huế.

c) Thôn Vĩ Dạ

d) Bố cục : 3 phần

Khổ 1: Cảnh ban mai thôn Vĩ

Khổ 2: Cảnh  sông nước đêm trăng.

Khổ 3: Tâm tình của thi nhân

2.3 Tìm hiểu câu thơ mở đầu

-Hình thức: Làm việc nhóm

– Kỹ thuật: Đặt câu hỏi

B1: GV phát phiếu học tập, nêu câu hỏi

+ Nhóm 1+2: Nhận xét về hình thức và thanh điệu của câu thơ?

+ Nhóm 3+4: Theo em câu thơ là lời của ai, mang hàm nghĩa gì?

– Các nhóm thảo luận,viết vào phiếu học tập, cử đại diện trình bày, các nhóm nhận xét, góp ý, giáo viên kết luận.

B2: Các nhóm hs suy nghĩ trả lời

B3: Đại diện các nhóm trình bày

B4: GV chốt lại

2.4 Tìm hiểu cảnh thôn Vĩ trong hoài niệm

-Hình thức: Làm việc nhóm

– Kỹ thuật: Đặt câu hỏi

B1: GV nêu câu hỏi

-Nhóm 1: Tìm và phân tích những chi tiết miêu tả nắng thôn Vĩ?

– Nhóm 2: Tìm và phân tích những chi tiết miêu tả vườn thôn Vĩ?

? Tìm và phân tích chi tiết miêu tả hình ảnh con người?

 

 

 

B2: Các nhóm hs suy nghĩ trả lời

B3: Đại diện các nhóm trình bầy

B4: GV chốt lại

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

·        Câu hỏi thảo luận mở rộng

Gv nêu câu hỏi thảo luận:

+ Nhận xét chung về cảnh Thôn Vĩ ở khổ thơ thứ nhất?

+ Em cảm nhận như thế nào về tình cảm của Hàn Mặc Tử đối với mảnh đất và con người nơi đây?

GV: Tiểu kết bằng sơ đồ nội dung kiến thức.

+ Hàn Mặc Tử  kh ông sinh ra ở Vĩ Dạ, đó là nơi ông đã từng đến và đi, vậy điều gì khiến cho Vĩ Dạ trở nên thân thương đến vậy?

+ Đối với thi nhân Vĩ Dạ có chỉ là Vĩ Dạ?

 

II. ĐỌC – HIỂU:

1/ Khổ 1: Cảnh ban mai thôn Vĩ .

       a.Câu thơ mở đầu :

– Hình thức câu hỏi tu từ – nhiều thanh bằng gợi âm hưởng nhẹ nhàng, bâng khuâng, da diết.

– Ý nghĩa:

+ Lời của cô gái thôn Vĩ: Lời trách cứ nhẹ nhàng cũng là lời mời gọi chân thành tha thiết của người con gái thôn Vĩ

+ Lời tự vấn của Hàn Mặc Tử : Lời tự vấn, tự hỏi mình là ước ao thầm kín của nhà thơ .

+ “Không về”- hàm ý vĩnh viễn không thực hiện được -> Niềm xót xa day dứt, nuối tiếc, cũng là tiếng nói đầy mặc cảm bởi căn bệnh hiểm nghèo.

=>Câu thơ đa thanh nhưng chiều sâu là tiếng lòng của Hàn Mặc Tử , là ước ao thầm kín, là niềm khát khao được trở về thôn Vĩ, được thăm lại cảnh cũ, người xưa.

b. 3 câu thiếp theo: Cảnh thôn Vĩ trong hoài niệm.

   + Nắng hàng cau :  sự hài hòa trong cách phối màu của ánh nắng vàng rực rỡ trên nền cau xanh tươi -> ánh năng trong trẻo, mát lành.

~“Nắng mới lên” : ánh nắng ban mai tinh khôi, thanh khiết, trong trẻo, nguyên lành.

– Điệp từ “nắng” -> làm bừng sáng không gian Vĩ Dạ

+ “mướt” :màu xanh,mượt mà, óng ả, mỡ màng

+ “Mướt quá” : cực tả vẻ non tơ tươi tốt, đầy sức sống của khu vườn, vừa như một tiếng reo ngỡ ngàng ngạc nhiên say đắm

+ Hình ảnh so sánh “xanh như ngọc”: màu xanh vừa có màu vừa có ánh, đó là sắc xanh lung linh ngời sáng

+ Đại từ “ai” phiếm chỉ -> gợi cảm giác mơ hồ không xác định.

+ “Vườn ai” – Vườn thôn Vĩ nửa gần, nửa xa -> gợi nhớ nhung, ngậm ngùi, xa vắng

Hình ảnh con người : “Lá trúc…”

+ Mặt chữ điền : đầy đặn, phúc hậu, ngay thẳng và cương trực.

+ Lá trúc che ngang: Vẻ đẹp kín đáo dịu dang, duyên dáng

=> Cảnh trong sáng, người thuần hậu. Thiên nhiên và con người hài hòa trong vẻ đẹp dịu dàng , thắm đượm tình quê, hồn quê.

=> Tình yêu và nỗi nhớ của Hàn Mặc Tử đối với cảnh và người xứ Huế..

 

 

Hoạt động 3: Tổng kết, luyện tập

 03 phút)

Hình thức: Cá nhân

Kỹ thuật: Đặt câu hỏi

B1 Gv nêu yêu cầu học sinh nhận xétchung về giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của đoạn thơ.

B2: HS thực hiện yêu cầu

B3: Hs trả lời

B4: Gv chốt đáp án

 

– Vĩ Dạ: + Địa danh cụ thể- gắn với những kỷ niệm của thi nhân

+ Vĩ Dạ  còn tượng trưng cho thế giới bên ngoài tươi đẹp.Thèm về thăm Vĩ Dạ là thèm  khát về với cuộc đời, với hạnh phúc, tình yêu.

 

 

Hoạt động 4: Vận dụng, mở rộng

Gv nêu câu hỏi. Hs suy nghĩ làm bài tập thu hoạch ở nhà.

Hs lựa chọn một trong những vấn đề sau:

+Qua khổ thơ 01 em hiểu thêm gì về HNT?

+ Tái hiện lại bức tranh thôn vĩ bằng hình ảnh – vẽ tranh

(lòng yêu thiên nhiên, yêu đời, yêu cuộc sống, con người, nghị lực của 1 con người đã vượt lên trên nghiệt ngã của số phận để sáng tác, để viết bài ca về tình đời, tình người…)

 

 

 

 

 

4/ Dặn dò:

– Hệ thống lại kiến thức

– Bài mới: Đọc và soạn bài “Đây thôn Vĩ Dạ”(tiếp) theo câu hỏi trong SGK trang

Rút kinh nghiệm

 

 

Phiếu học tập số1

 

Tham khảo một đoạn trích trong Thi nhân Việt Nam của nhà phê bình văn học Hoài Thanh “Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngẩn ngơ buồn trở về hồn ta cùng Huy cận.

? Đoạn trích gợi cho em nhớ tới những tác phẩm nào của ai mà em biết?

 Phiếu học tập số2

Tìm hiểu câu thơ mở đầu “Sao anh không về chơi thôn Vĩ”

+ Nhóm 1+2: Nhận xét về hình thức và thanh điệu của câu thơ?

+ Nhóm 3+4: Theo em câu thơ là lời của ai, mang hàm nghĩa gì?

– Các nhóm thảo luận,viết vào phiếu học tập, cử đại diện trình bày, các nhóm nhận xét, góp ý, giáo viên kết luận.

Đây là giáo án sưu tầm

Xem thêm : Trọn bộ giáo án Ngữ văn soạn theo hướng đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá

Giáo án ngữ văn 10 

Giáo án ngữ văn 11

Giáo án ngữ văn 12

Đây thôn Vĩ Dạ

Giáo án văn 11 theo chủ đề: Thơ lãng mạn 1930-1945

Soạn giáo án Ngữ văn 11 theo chủ đề dạy học, soạn bài Đây thôn Vĩ Dạ, Tràng Giang, Vội Vàng theo định hướng phát triển năng lực 

CHUYÊN ĐỀ: THƠ LÃNG MẠN 1930-1945

BƯỚC 1: CHUYÊN ĐỀ: THƠ LÃNG MẠN 1930-1945

BƯỚC 2: XÂY DỰNG NỘI DUNG CHỦ ĐỀ BÀI HỌC

Gồm các văn bản thơ:  Vội vàng– Xuân Diệu, Tràng giang– Huy Cận, Đây thôn Vĩ Dạ– Hàn Mặc Tử, Chiều xuân- Anh Thơ, Tương tư- Nguyễn Bính.

Thời gian: 5 tiết

BƯỚC 3: XÂY DỰNG MỤC TIÊU BÀI HỌC

Kiến thức:

  • Những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm thơ lãng mạn 1930-1945.
  • Đặc điểm cơ bản của các tác phẩm thơ lãng mạn 1930-1945.

Kĩ năng:

  • Huy động tri thức về tác giả, hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm, ngôn ngữ…để đọc hiểu văn bản.
  • Đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại:

+ Nhận diện thể thơ và giải thích ý nghĩa của việc sử dụng thể thơ

+ Nhận diện sự phá cách trong việc sử dụng thể thơ (nếu có)

+ Nhận diện đề tài , chủ đề , cảm hứng chủ đạo của bài thơ.

+ Nhận diện và phân tích tâm trạng, tình cảm của nhân vật trữ tình trong bài thơ.

+ Phân tích được vẻ đẹp nội dung và  nghệ thuật của một bài thơ trữ tình hiện đại Việt Nam.

+ Đánh giá những sáng tác độc đáo của mỗi nhà thơ qua các bài thơ đã học.

  • Đọc diễn cảm, đọc sáng tạo những đoạn thơ hay.
  • Nhận diện , phân tích và đánh giá những nét đặc sắc về nghệ thuật của các bài thơ trong chủ đề (hình ảnh, chi tiết, biện pháp tu từ, vần nhịp…)
  • Nhận biết được sự giống nhau và khác nhau giữa thơ trung đại và hiện đại về đề tài, cảm hứng, thể loại và ngôn ngữ.
  • Vận dụng những kiến thức , kĩ năng đã học đề đọc những bài thơ lãng mạn 1930-1945 khác của Việt Nam; nêu những kiến giải, suy nghĩ về các phương diện nội dung nghệ thuật của các bài thơ được học trong chủ đề; viết đoạn văn hoặc bài văn nghị luận về những bài thơ đã học trong chủ đề rút ra những bài học về lý tưởng sống, cách sống từ những bài thơ đã học và liên hệ, vận dụng vào thực tiễn cuộc sống của bản thân.

Thái độ:

  • Giáo dục một thái độ sống tích cực, một nhân cách sống trong sáng, yêu đời, biết cống hiến tuổi trẻ cho lý tưởng và xã hội.
  • Yêu đời, yêu thiên, yêu cuộc sống, yêu nước.
  • Có ý thức xác định lẽ sống, lý tưởng sống cao đẹp.

Năng lực:

Định hướng góp phần hình thành các năng lực: năng lực giao tiếp (nghe nói, đọc, viết), năng lực thẩm mĩ (cảm thụ và sáng tạo) năng lực hợp tác, năng lực tự học, …

BƯỚC 4: XÁC ĐỊNH VÀ MÔ TẢ MỨC ĐỘ YÊU CẦU CỦA MỖI LOẠI CÂU HỎI/BÀI TẬP CÓ THỂ SỬ DỤNG ĐỂ KIỂM TRA , ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC VÀ PHẨM CHẤT HỌC SINH TRONG DẠY HỌC.

 

Mức độ nhận biết Mức độ thông hiểu Mức độ vận dụng và vận dụng cao
Nêu những nét chính về tác giả Chỉ ra những biểu hiện về con người tác giả được thể hiện trong tác phẩm. Nêu những hiểu biết thêm về tác giả qua việc đọc hiểu bài thơ.
Nêu hoàn cảnh sáng tác  bài thơ. Phân tích tác động của hoàn cảnh ra đời đến việc thể hiện nội dung tư tưởng của bài thơ. Nêu những việc sẽ làm nếu ở hoàn cảnh tương tự của tác giả.
Chỉ ra ngôn ngữ được sử dụng để sáng tác bài thơ Lý giải một số từ ngữ, hình ảnh…trong các câu thơ. Đánh giá việc sử dụng ngôn ngữ của tác giả trong bài thơ.
Xác định thể thơ Chỉ ra những đặc điểm về bố cục, vần, nhịp… Đánh giá tác dụng của thể thơ trong việc thể hiện nội dung bài thơ.
Xác định nhân vật trữ tình. – Nêu cảm xúc của nhân vật trữ tình trong từng câu/cặp câu thơ.

– Khái quát bức tranh tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ.

Nhận xét về tâm trạng của nhân vật trữ tình trong câu/cặp câu/ bài thơ.
Xác định hình tượng nghệ thuật được xây dựng trong bài thơ. -Phân tích những đặc điểm của hình tượng nghệ thuật thơ.

-Nêu tác dụng của hình tượng nghệ thuật trong việc giúp nhà thơ thể hiện cái nhìn về cuộc sống và con người

-Đánh giá cách xây dựng hình tượng nghệ thuật.

– Nêu cảm nhận/ ấn tượng riêng của bản thân về hình tượng nghệ thuật.

Chỉ ra câu/ cặp câu thơ thể hiện rõ nhất tư tưởng của nhà thơ. Lí giải tư tưởng của nhà thơ trong câu/ cặp câu thơ đó. Nhận xét về tư tưởng của tác giả được thể hiện trong bài thơ.

 

BƯỚC 5: BIÊN SOẠN CÁC CÂU HỎI/ BÀI TẬP CỤ THỂ THEO CÁC MỨC ĐỘ YÊU CẦU ĐÃ MÔ TẢ.

 

Với bài thơ Vội vàng có thể sử dụng các câu hỏi sau:

Mức độ nhận biết Mức độ thông hiểu Mức độ vận dụng và vận dụng cao
Nêu những nét chính về tác giả Xuân Diệu. Xuân Diệu là người như thế nào? Bài thơ giúp em hiểu thêm gì về tác giả?
Nêu xuất xứ của bài thơ. – Trình bày những hiểu biết của em về tập thơ? Tập thơ đó có vị trí như thế nào trong đời thơ Xuân Diệu.
Nhan đề của bài thơ là gì? Giải thích ý nghĩa của nhan đề đó Lý giải tại sao nhà thơ lại đặt nhan đề là “Vội vàng”
Đọc và xác định thể thơ? Em hiểu thế nào về thể thơ tự do. Hãy kể tên một số bài thơ cùng loại.
Nhân vật trữ tình trong bài thơ là ai? -Những từ ngữ nào trong bài thơ giúp em xác định được nhân vật trữ tình.

– Cảm hứng chủ đạo của nhân vật trữ tình trong bài thơ là gì?

Em có nhận xét gì về tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ?
1. Tình yêu cuộc sống tha thiết:

 

– Mở đầu bài thơ, tác giả thể hiện một khát vọng kì là đên ngông cuồng. Đó là khát vọng gì? Từ ngữ  nào thể hiện điều này?

 

– Vậy bức tranh mùa xuân hiện ra như thế nào? Chi tiết nào thể hiện điều này?

 

Nghệ thuật đó có tác dụng gì?

 

Có gì mới trong cách sử dụng nghệ thuật của tác giả?

 

 

 

– Hãy cho biết  tâm trạng của tác giả qua đoạn thơ trên?

 

2. Nỗi băn khoăn về sự ngắn ngủi của kiếp người:

 

Chi tiết nào thể hiện được điều đó? – Từ quan niệm thời gian là tuyến tính, nhà thơ đã cảm nhận được điều gì?

 

– Quan niệm về thời gian của người xưa và Xuân Diệu có gì khác?

 

  – Quan niệm sống của Xuân Diệu là gì qua đoạn thơ đó?

 

  3.Lời giục giã cuống quýt vội vàng để tận hưởng tuổi xuân của mình

 

– Đọc đoạn thơ 3 – Cảm nhận được sự trôi chảy của thời gian, Xuân Diệu đã làm gì để níu giữ thời gian?

– Hãy nhận xét về đặc điểm của hình ảnh, ngôn từ, nhịp điệu trong đoạn thơ mới?

 

Giáo dục KNS: Trình bày những ấn tượng sâu đậm của cá nhân về hồn thơ Xuân Diệu ?

 

  Giáo dục KNS: Bài thơ thể hiện quan niệm sống đẹp của một tâm hồn khao khát sống hay chỉ là lối sống tiêu cực gấp gấp.

 

Tổng kết – Hãy nêu đặc sắc nghệ thuật của bài thơ? – Hãy rút ra ý nghĩa của văn bản  ?

 

 

 

Với bài thơ Tràng giang có thể sử dụng các câu hỏi sau:

Mức độ nhận biết Mức độ thông hiểu Mức độ vận dụng và vận dụng cao
Nêu những nét chính về tác giả Huy Cận. Huy Cận là người như thế nào? Bài thơ giúp em hiểu thêm gì về tác giả?
– Nêu hoàn cảnh sáng tác của bài thơ.

 

 

– Hoàn cảnh đó sẽ có ảnh hưởng như thế nào đến tâm trạng của tác giả? Em hãy kể vắn tắt một số hiểu biết của em về giai đoạn lịch sử lúc bây giờ?
Nêu xuất xứ của bài thơ. – Trình bày những hiểu biết của em về tập thơ? Tập thơ đó có vị trí như thế nào trong đời thơ Huy Cận.
Nhan đề của bài thơ là gì? Giải thích ý nghĩa của nhan đề đó Mối quan hệ giữa nhan đề và âm hưởng của bài thơ?
Đọc và xác định thể thơ? Em hiểu thế nào về thể thơ đó. Hãy kể tên một số bài thơ cùng loại.
Nhân vật trữ tình trong bài thơ là ai? -Những từ ngữ nào trong bài thơ giúp em xác định được nhân vật trữ tình?

– Cảm hứng chủ đạo của nhân vật trữ tình trong bài thơ là gì?

Em có nhận xét gì về tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ?
1/Ba khổ thơ đầu:Bức tranh thiên nhiên và tâm trạng của nhà thơ
Khổ 1:

– Đọc khổ thơ

– Nhận xét về hình ảnh,nhạc điệu,cách gieo vần của khổ thơ? – Hãy phân tích những hình ảnh sông nước,thuyền,cành củi khô để thấy được biểu hiện tâm trạng của tác giả?

 

Khổ 2:

– Đọc khổ thơ

– Cảnh sông được miêu tả như thế nào?

– Từ “đâu” gợi ta có cảm giác gì về dấu hiệu sự sống?

– Suy nghĩ của em về âm thanh được nói đến trong câu này?

– Nhận xét về hình ảnh “trời sâu chót vót”?

– Thủ pháp nghệ thuật tương phản phát huy tác dụng gì?

– Tâm trạng của tác giả biểu hiện ntn?

Khổ 3:

– Đọc khổ thơ

– Tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật nào?

 

– Hình ảnh cánh bèo manh tính ước lệ tượng trưng cho điều gì?

– Câu hỏi tu từ cho ta thấy gì về sự giao kết tình người?

 

– Vì sao trong ba khổ thơ đầu nhà thơ bày tỏ nỗi buồn sâu lắng,thống thiết trước thiên nhiên? (Gv có thể gợi mở cho các em về bối cảnh đất nước)

2/Tình yêu quê hương

 

– Đọc khổ thơ

– Xác định những từ ngữ mang vẻ đẹp cổ điển?

 

 

– Vì sao nói thiên nhiên trong bài thơ đậm màu sắc cổ điển mà vẫn gần gũi thân thuộc?

– Tình yêu thiên nhiên ở đây có thấm đượm lòng yêu nước thầm kín không? Vì sao?

– Phân tích điểm khác nhau về nỗi nhớ trong thơ xưa và trong thơ HC(Gv giới thiệu bàiHoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu)

Tổng kết:

– Liệt kê những thủ pháp nghệ thuật được sử dụng trong bài thơ?

 

– Hãynhận xét những đặc sắc nghệ thuật của bài thơ?

 

Em hãy rút ra ý nghĩa văn bản?

Giáo dục KNS Em hãy trình bày suy nghĩ, cảm nhận về vẻ đẹp của giọng điệu, gương mặt thơ Huy Cận trong dòng Thơ Mới.

 

Với bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ có thể sử dụng các câu hỏi sau:

Mức độ nhận biết Mức độ thông hiểu Mức độ vận dụng và vận dụng cao
Nêu những nét chính về tác giả Hàn Mặc Tử. Hàn Mặc Tử là người như thế nào? Bài thơ giúp em hiểu thêm gì về tác giả?
– Nêu hoàn cảnh sáng tác của bài thơ.

 

 

– Hoàn cảnh đó sẽ có ảnh hưởng như thế nào đến tâm trạng của tác giả? Kể một số giai thoại về tình yêu củaHàn Mặc Tử liên quan đến hoàn cảnh sáng tác bài thơ.
Nêu xuất xứ của bài thơ. – Trình bày những hiểu biết của em về tập thơ? Tập thơ đó có vị trí như thế nào trong đời thơ Hàn Mặc Tử.
Nhan đề của bài thơ là gì? – Giải thích ý nghĩa của nhan đề đó Lý giải tại sao nhà thơ lại đổi nhan đề bài thơỞ đây thônVĩ thành Đây thôn Vĩ Dạ?
Đọc và xác định thể thơ? Em hiểu thế nào về thể thơ đó. Hãy kể tên một số bài thơ cùng loại.
Nhân vật trữ tình trong bài thơ là ai? -Những từ ngữ nào trong bài thơ giúp em xác định được nhân vật trữ tình?

– Cảm hứng chủ đạo của nhân vật trữ tình trong bài thơ là gì?

Em có nhận xét gì về tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ?
1/Bức tranh thôn Vĩ
a. Vĩ Dạ hừng đông
– Đọc khổ thơ

– Tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật gì?

– Câu hỏi đầu tiên gợi điều gì?

– Cảnh Thôn Vĩ hiện lên ra sao?

– Bóng dáng của người con gái Huế xuất hiện gây thêm ấn tượng gì cho lời mời gọi?
b. Vĩ Dạ đêm trăng
– Đọc khổ thơ

– Tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật gì?

– Nhận xét về cách sử dụng biện pháp tu từ?

– Tâm trạng của chủ thể trữ tình thay đổi ntn?

– Hình ảnh bến sông trăng gợi cho em cảm giác gì về vẻ đẹp của thiên nhiên

– Phân tích bức tranh thiên nhiên ở khổ 2,nó có sự khác biệt gì so với khổ 1?

– Đằng sau phong cảnh ấy là tâm sự gì của nhà thơ?

2/Tâm trạng của nhà thơ:
– Đọc khổ thơ

– Tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật gì?

– Em hiểu ntn về câu thơ “Áo em….”?

 

   – Câu hỏi cuối cùng bộc lộ tâm trạng gì và nó có liên quan ntn với câu hỏi mở đầu?

– Mối tình của tác giả có liên quan như thế nào đến những tâm sự trong bài thơ này?

 

KẾ HOẠCH BÀI HỌC

 

  1. Mục tiêu bài học:
  2. Kiến thức:
  • Những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của 5 tác phẩmthơ lãng mạn 1930-1945. Mỗi tác phẩm tập trung làm rõ cho một đặc điểm nổi bật của thơ mới

+ Vội vàng: Thơ mới luôn khẳng định, đề cao cái tôi cá nhân,thơ mới mang cảm hứng tình yêu và  thiên nhiên.

+ Tràng giang: Thơ mới thấm thía nỗi buồn cô đơn.

+ Đây thôn Vĩ Dạ: Thơ mới thể hiện niềm khát khao hướng về cuốc sống trần thế.

+ Hai bài đọc thêm:….

  • Khái quát đặc điểm cơ bản của các tác phẩm thơ lãng mạn 1930-1945.

 

  1. Kĩ năng:

Đọc hiểu  một tác phẩm trữ tình  theo đặc trưng thể loại.

Phân tích một bài thơ mới.

  • Nhận biết được sự giống nhau và khác nhau giữa thơ trung đại và hiện đại về đề tài, cảm hứng, thể loại và ngôn ngữ.
  • Vận dụng những kiến thức , kĩ năng đã học đề đọc những bài thơ lãng mạn 1930-1945 khác của Việt Nam; nêu những kiến giải, suy nghĩ về các phương diện nội dung nghệ thuật của các bài thơ được học trong chủ đề; viết đoạn văn hoặc bài văn nghị luận về những bài thơ đã học trong chủ đề rút ra những bài học về lý tưởng sống, cách sống từ những bài thơ đã học và liên hệ, vận dụng vào thực tiễn cuộc sống của bản thân.

Giáo dục KNS:-Tư duy sáng tạo: Phân tích, bình luận triết lí, khát vọng sống.

-Tự nhận thức về mục đích, giá trị cuộc sống đối với mỗi cá nhân.

-Giao tiếp: cảm thông chia sẻ cùng tâm trạng tác giả

  1. Thái độ:
  • Giáo dục một thái độ sống tích cực, một nhân cách sống trong sáng, yêu đời, biết cống hiến tuổi trẻ cho lý tưởng và xã hội.
  • Yêu đời, yêu thiên, yêu cuộc sống, yêu nước.
  • Có ý thức xác định lẽ sống, lý tưởng sống cao đẹp.

  4.Hình thành các năng lực cho học sinh

– Năng lực thu thập thông tin liên quan đến văn bản.

– Năng lực giải quyết những tình huống đặt ra trong các văn bản.

– Năng lực đọc – hiểu một tác phẩm thơ trữ tình theo đặc trưng thể loại.

– Năng lực trình bày suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về ý nghĩa của văn bản.

– Năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận về nội dung và nghệ thuật của văn bản.

  1. Chuẩn bị của GV và HS:
  2. Chuẩn bị của GV

Sgk, giáo án, đọc tài liệu tham khảo, phiếu học tập, máy chiếu, tranh ảnh…

  1. Chuẩn bị của HS.

– Hs chủ động tìm hiểu bài qua hệ thống câu hỏi sgk.

– Giấy Ao, bút phớt…

III. Tiến trình dạy học:

Bước 1 : Khởi động

– Em hãy kể tên một số nhà thơ trong phong trào thơ mới mà em biết ?

– Trả lời các câu hỏi

+Ai là nhà Nhà thơ mới nhất trong những nhà thơ mới?

+ Trong dàn đồng ca đa điệu buồn  của thơ mới ai được xem là điệu buồn ảo não nhất ?

+ Nhà thơ nào đã đề cập đến tôn giáo trong thơ.

+ Ai được mệnh danh là nhà thơ của đồng quê.

Học sinh trả lời, GV xác  nhận kiến thức và dẫn dắt giới thiệu chung  về chuyên đề, sau  đó dẫn dắt giới thiệu về Xuân Diệu và bài Vội vàng.

Xuân diệu hồn nhiên yêu đời, yêu cuộc sống, say mê với cái đẹp, nhạy cảm với sự trôi chảy của thời gian. Nhưng càng  yêu say đắm, Xuân Diệu sợ cuộc sống, sợ tình yêu và vẻ đẹp sẽ bỏ mình bay đi mất. Chính vì thế mà trong thơ ông có những thái độ hốt hoảng, lo âu, yêu sống một cách vội vàng cuống quýt, vồ vập.

“Vội vàng” tiêu biểu cho trạng thái cảm xúc ấy của Xuân Diệu.

 

Bước 2 : Hình thành kiến thức

VỘI VÀNG

 

(Xuân Diệu)

 

Hoạt động I: Tìm hiểu chung:

– Mục tiêu:

+ Giúp HS hiểu XD là nhà thơ lớn, nhà văn hóa lớn, có sức sáng tạo mãnh liệt, bền bỉ và sự nghiệp văn học phong phú.

+ Giúp HS nắm được xuất xứ, bố cục của bài thơ.

– Nhiệm vụ:  Học sinh làm việc cá nhân, phát huy kĩ năng đọc sgk

– Phương thức:Yêu cầu Hs đọc phần tiểu dẫn, gạch chân những chi tiết quan trọng về tác giả Xuân Diệu.

Gv hướng dẫn học sinh tự đọc sgk và tìm các ý cơ bản theo yêu cầu.

– Sản phẩm:

+ XD là nhà thơ lớn, nhà văn hóa lớn, có sức sáng tạo mãnh liệt, bền bỉ và sự nghiệp văn học phong phú.

+ Xuất xứ, bố cục của bài thơ.

  1. 1. Tác giả.

GV:

– Yêu cầu Hs đọc phần tiểu dẫn, gạch chân những chi tiết quan trọng về tác giả XD

HS: thực hiện theo yêu cầu của GV.

GV: yêu cầu HS trình bày trước lớp nội dung quan trọng về XD.

HS: trình bày, Hs khác lắng nghe, nhận xét.

GV: nhận xét, bổ sung và chốt ý:

 

– Xuân Diệu (1916- 1985) tên khai sinh là Ngô Xuân Diệu.

– Quê: Can Lộc – Hà Tĩnh nhưng sông với mẹ ở Quy Nhơn.

– Là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới.

– Là nghệ sĩ lớn, nhà văn hóa lớn có sức sáng tạo mãnh liệt, bền bỉ và có sự nghiệp văn học phong phú.

 

  1. Tác phẩm

GV: Hãy cho biết xuất xứ của bài thơ?Chia bố cục bài thơ và nêu nội dung chính từng phần?

HS: đọc tiểu dẫn và trả lời câu hỏi, các HS khác theo dõi và nhận xét.

GV: nhận xét khả năng tiếp nhận và sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ học tập của tất cả học sinh trong lớp.

GV: nhận xét, bổ sung và chốt ý:

– Xuất xứ:  In trong tập Thơ thơ (1938)- tập thơ đầu tay và cũng là tập thơ khẳng định vị trí của Xuân Diệu – “Nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”.

-Bố cục: 3 đoạn.

+ 13 câu đầu: Tình yêu cuộc sống trần thế “tha thiết”.

+ 16 câu (câu 14à29): Nỗi băn khoăn về sự ngắn ngủi của kiếp người.

+ 10 câu cuối: Lời giục giã cuống quýt vội vàng để tận hưởng tuổi xuân của mình…

 

PHƯƠNG ÁN KT ĐÁNH GIÁ GV đánh giá học sinh về khả năng tiếp nhận và sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ và tốc độ làm việc, HS đánh giá lẫn nhau thông qua việc gọi học sinh nhận xét câu trả lời của bạn

 

HOẠT ĐỘNG 2: Đọc- hiểu văn bản( tập trung cho đặc điểm thơ mới khẳng định đề cao cái tôi cá nhân)

– Mục tiêu: Giúp HS cảm nhận được:

+  Tình yêu cuộc sống tha thiết:

. Khát vọng kì lạ đến ngông cuồng:

. Bức tranh mùa xuân hiện ra như một khu vườn tràn ngập hương sắc thần tiên, như một cõi xa lạ:

. Nghệ thuật và hiệu quả NT.

– Tâm trạng của tác giả qua đoạn thơ trên

– Nỗi băn khoăn về sự ngắn ngủi của kiếp người:

– Quan niệm về thời gian của người xưa.

– Quan niệm về thời gian của Xuân Diệu.

– Từ quan niệm thời gian là tuyến tính, nhà thơ đã cảm nhận thời gian như 1 dòng chảy, thời gian trôi đi tuổi trẻ cũng sẽ mất. Thời gian tuyến tính à Xuân Diêu thể hiện cái nhìn biện chứng về vũ trụ, thời gian.

– Nhiệm vụ:  Học sinh thảo luận nhóm, theo bàn, theo cặp đôi, kỹ thuật trình bày 1 phút, làm việc cá nhân.

– Phương thức:Gv giao nhiệm vụ, yêu cầu HS trao đổi, thảo luận theo nhóm, theo bàn, theo cặp đôi và làm việc cá nhân.

Gv hướng dẫn học sinh khai thác văn bản và tìm các chi tiết, hình ảnh …

– Sản phẩm:

+ Sản phẩm thảo luận của HS.

GV: Chia lớp thành 3 nhóm yêu cầu HS thảo luận.

Nhóm 1: Phiếu học tập số 1

– Mở đầu bài thơ, tác giả thể hiện một khát vọng kì lạ, ngông cuồng. Đó là khát vọng gì?

– Từ ngữ  nào thể hiện điều này?

Nhóm 2: Phiếu học tập số 2

– Bức tranh mùa xuân hiện ra như thế nào trong 13 câu thơ đầu?

– Chi tiết nào thể hiện điều này?

Nhóm 3: Phiếu học tập số 3

– Để miêu tả bức tranh thiên nhiên đầy xuân tình, tác giả sử dụng nghệ thuật gì?

– Có gì mới trong cách sử dụng nghệ thuật của tác giả?

– Nghệ thuật đó có tác dụng gì?

 

HS:  tiến hành thảo luận, cử nhóm trưởng điều hành thảo luận, thư k‎ý ghi chép sản phẩm thảo luận.

GV: theo dõi, quan sát, phát hiện kịp thời những khó khăn của học sinh để giúp đỡ kịp thời.

HS: trình bày sản phẩm thảo luận trước lớp, HS khác lắng nghe, nhận xét, bổ sung.

GV: nhận xét, đánh giá về kết quả hoạt động và quá trình thảo luận của học sinh. Khả năng tiếp nhận, tham gia tích cực, chủ động, sáng tạo, hợp tác của Hs trong việc thực hiện nhiệm vụ.

GV: tổng hợp, phân tích, đánh giá kết quả hoạt động và quá trình thảo luận của học sinh. Chốt ý:

  1. Tình yêu cuộc sống tha thiết:

– Khát vọng kì lạ đến ngông cuồng:

“ Tắt nắng ; buộc gió” + điệp ngữ “tôi muốn” : khao khát đoạt quyền tạo hóa, cưỡng lại quy luật tự  nhiên, những vận động của đất trời.

Cái tôi cá nhân đầy khao khát đồng thời cũng là tuyên ngôn hành động với thời gian.

– Bức tranh mùa xuân hiện ra như một khu vườn tràn ngập hương sắc thần tiên, như một cõi xa lạ:

+ Bướm ong dập dìu

+ Chim chóc ca hót

+ Lá non phơ phất trên cành.

+ Hoa nở trên đồng nội

Vạn vật đều căng đầy sức sống, giao hòa sung sướng. Cảnh vật quen thuộc của cuộc sống, thiên nhiên qua con mắt yêu đời của nhà thơ đã biến thành chốn thiên đường, thần  tiên.

– Nghệ thuật:

 + Điệp ngữ: này đây    tuần tháng mật.

kết hợp với hình ảnh,  Hoa … xanh rì

âm thanh, màu sắc:      Lá cành tơ …

Yến anh … khúc tình si

Ánh sang chớp hàng mi

+ So sánh: tháng giêng ngon nhứ cặp môi gần: táo bạo. Nhà thơ phát hiện ra vẻ đẹp kì diệu của thiên nhiên và thổi vào đó 1 tình yêu rạo rực, đắm say ngây ngất.

Sự phong phú bất tận của thiên nhiên, đã bày ra một khu địa đàng ngay giữa trần gian  – “một thiên đàng trần thế”

GV Yêu cầu HS thảo luận cặp đôi(thời gian 1 phút): Hãy cho biết  tâm trạng của tác giả qua đoạn thơ trên?

HS: trao đổi, thảo luận, và trình bày sản phẩm.

GV: tổng hợp, phân tích, đánh giá kết quả hoạt động và quá trình thảo luận của học sinh.

GV: nhận xét khả năng tham gia tích cực của học sinh trong trình bày, trao đổi, thảo luận về kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập. GV  bổ sung và chốt ý:

– Tâm trạng đầy mâu thuẫn nhưng thống nhất: Sung sướng >< vội vàng: Muốn sống gấp, sống nhanh, sống vội tranh thủ thời gian.

Giáo viên hướng dẫn nắm đoạn “Xuân Diệu là nhà thơ …trong thơ” và cắt nghĩa từ “mới nhất” ở những phương diện nào? (nội dung và nghệ thuật).

  1. Nỗi băn khoăn về sự ngắn ngủi của kiếp người:

GV Yêu cầu HS thảo luận theo bàn (thời gian 3 phút):

– Quan niệm về thời gian của người xưa như thế nào?

– Quan niệm về thời gian của Xuân Diệu có gì khác?

– Từ quan niệm thời gian là tuyến tính, nhà thơ đã cảm nhận được điều gì? Chi tiết nào thể hiện được điều đó?

HS: trao đổi, thảo luận, và trình bày sản phẩm.

GV: tổng hợp, phân tích, đánh giá kết quả hoạt động và quá trình thảo luận của học sinh.

GV: nhận xét khả năng tham gia tích cực của học sinh trong trình bày, trao đổi, thảo luận về kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập. GV  bổ sung và chốt ý:

– Người xưa, các nhà thơ trung đại(HXH).

…”Xuân vẫn tuần hoàn” à Thời gian qua đi rồi trở lại, thời gian vĩnh cửu à quan niệm này xuất phát từ cái nhìn tĩnh, siêu hình, lấy sinh mệnh vũ trụ làm thước đo.

–  Xuân Diệu lại cho rằng:

Xuân đương tới – đương qua

Xuân còn non – sẽ già

à thời gian như 1 dòng chảy, thời gian trôi đi tuổi trẻ cũng sẽ mất. Thời gian tuyến tính à Xuân Diêu thể hiện cái nhìn biện chứng về vũ trụ, thời gian.

GV yêu cầu HS sử dụng kỹ thuật trình bày 1 phút: Từ quan niệm thời gian là tuyến tính, nhà thơ đã cảm nhận được điều gì? Chi tiết nào thể hiện được điều đó?

 HS: Động não suy nghĩ, trình bày sản phẩm.

GV: tổng hợp, phân tích, đánh giá kết quả hoạt động và quá trình thực hiện của học sinh.

GV: nhận xét khả năng tham gia tích cực của học sinh trong quá trình trình bày về kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập. GV  bổ sung và chốt ý:

– Cái nhìn động:

+ Xuân Diêu cảm nhận sự mất mát ngay chính sinh mệnh mình.

Xuân hết nghĩa là tôi cũng mất

…tuổi trẻ chẳng 2 lần thắm lại

Mùa xuân, tuổi trẻ không tồn tại mãi, nó ngắn ngủi vô cùng, tuổi trẻ đẹp nhất của đời mỗi người. Xuân Diệu lấy tuổi trẻ làm thước đo thời gian. Thời gian mất nghĩa là tuổi trẻ cũng mất à Cảm nhận sâu sắc, thấm thía.

+Hình ảnh sự vật:   Cơn gió xinh … phải bay đi

Chim rộn ràng … đứt tiếng reo.

tàn phai, héo úa, chia phôi, tiễn biệt.

 

– Mau: gấp gáp, vội vàng, cuống quýt, hưởng thụ.

Quan niệm mới, tích cực thấm đượm tinh thần nhân văn.

PHƯƠNG ÁN KT ĐÁNH GIÁ GV đánh giá học sinh về khả năng tiếp nhận, sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ và tốc độ làm việc, HS đánh giá lẫn nhau thông qua việc gọi học sinh nhận xét câu trả lời của bạn

…………………..

(lần lượt các bài tiếp theo)

HOẠT ĐỘNG 3 : Củng cố- luyện tập

– Mục tiêu:Giúp HS củng cố kiến thức về tác giả, tác phẩm, đặc trưng của  thơ lãng mạn 30-45.

– Nhiệm vụ:  Học sinh trao đổi, thảo luận và làm việc nhóm.

– Phương thức:Gv giao nhiệm vụ, yêu cầu HS trao đổi thảo luận nhóm.

– Sản phẩm:

+ Đáp án của HS.

Yêu cầu:

  • Chỉ ra những đặc trưng nổi bật của thơ lãng mạn30-45 (về nội dung và nghệ thuật).
  • Để khai thác một bài thơ lãng mạn 30-45 ta cần phải chú ý những gì?

 

PHƯƠNG ÁN KT ĐÁNH GIÁ GV đánh giá học sinh về khả năng tiếp nhận, sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ và tốc độ làm việc, HS đánh giá lẫn nhau thông qua việc gọi học sinh nhận xét câu trả lời của bạn

 

 

HOẠT ĐỘNG 4: Vận dụng (Có thể làm ở nhà)

– Mục tiêu: Giúp HS củng cố kiến thức, kĩ năng đã học đề để đọc những bài thơ lãng mạn 1930-1945 khác của Việt Nam; nêu những kiến giải, suy nghĩ về các phương diện nội dung nghệ thuật của các bài thơ được học trong chủ đề; viết đoạn văn hoặc bài văn nghị luận về những bài thơ đã học trong chủ đề rút ra những bài học về lý tưởng sống, cách sống từ những bài thơ đã học và liên hệ, vận dụng vào thực tiễn cuộc sống của bản thân.

– Nhiệm vụ:  Học sinh trao đổi, thảo luận tìm tòi và làm việc cá nhân.

– Phương thức:Gv giao nhiệm vụ, yêu cầu HS trao đổi, làm việc cá nhân (Có thể làm ở nhà)

– Sản phẩm:

+ Bài viết của HS.

Em hãy viết một đoạn văn (khoảng 100 từ) phát biểu cảm nhận của bản thân về hình ảnh thơ mà em ấn tượng nhất trong các bài thơ lãng mạn mà em đã học

PHƯƠNG ÁN KT ĐÁNH GIÁ GV đánh giá học sinh về khả năng tiếp nhận, sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ và tốc độ làm việc, HS đánh giá lẫn nhau thông qua ý thức tự giác làm việc và sản phẩm nộp Gv.

 

HOẠT ĐỘNG 5: Mở rộng sáng tạo (Có thể làm ở nhà)

– Mục tiêu: Giúp HS củng cố kiến thức, kĩ năng đã học đề để đọc những bài thơ lãng mạn 1930-1945 khác của Việt Nam; nêu những kiến giải, suy nghĩ về các phương diện nội dung nghệ thuật của các bài thơ được học trong chủ đề; viết đoạn văn hoặc bài văn nghị luận về những bài thơ đã học trong chủ đề rút ra những bài học về lý tưởng sống, cách sống từ những bài thơ đã học và liên hệ, vận dụng vào thực tiễn cuộc sống của bản thân.

– Nhiệm vụ:  Học sinh trao đổi, thảo luận và làm việc cá nhân.

– Phương thức:Gv giao nhiệm vụ, yêu cầu HS trao đổi, làm việc cá nhân (Có thể làm ở nhà)

– Sản phẩm:

+ Bài viết của HS.

So sánh sự giống nhau và khác nhau giữa thơ trung đại và hiện đại về đề tài, cảm hứng, thể loại và ngôn ngữ.

PHƯƠNG ÁN KT ĐÁNH GIÁ GV đánh giá học sinh về khả năng tiếp nhận, sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ và tốc độ làm việc, HS đánh giá lẫn nhau thông qua ý thức tự giác làm việc và sản phẩm nộp Gv.

Giáo án sưu tầm

Xem thêm :

Giáo án ngữ văn 10 

Giáo án ngữ văn 11

Giáo án ngữ văn 12

Tổng hợp kết bài mẫu về các tác phẩm lớp 11-Hay và đầy đủ

Tuyển tập những kết bài mẫu tham khảo.Kết bài về các tác phẩm lớp 11 : Hai đứa trẻ, Chữ người tử tù, Hạnh phúc một tang gia, Chí Phèo, Vội vàng, Tràng giang, Đây thôn Vĩ Dạ, Từ ấy

Tổng hợp những kết bài hay về tác phẩm Hai đứa trẻ ( Thạch Lam)

  1. Thạch Lam đã mô tả thế giới nội tâm của nhân vật bằng ngòi bút tinh vi. Tài năng của nhà văn đã làm sống dậy những cảm xúc vốn mong manh, hư ảo của hồn người. Vượt qua bóng đêm, vượt của sự buồn tẻ của kiếp người, Hai đứa trẻ chính là bài ca về niềm tin yêu cuộc sống. Niềm tin yêu đó được kết tinh từ ánh sáng tư tưởng tiến bộ, từ ánh  sáng lòng nhân ái của nhà văn. “Không có ước mơ nào là quá muộn” nhà văn Anatole France đã nói như vậy. Còn Eleannor Roosevelt thì phát biểu “Tương lai thuộc về những ai tin tưởng vào cái đẹp của ước mơ”. Tôi tin ánh sáng nhà văn Thạch Lam nhen lên  trong tâm hồn hai đứa trẻ sẽ trở thành ngọn đuốc soi rọi cho con người bước qua bóng  tối. Niềm tin vào sự đổi thay của cuộc đời chính là chỗ dựa để con người sống có mơ  ước, sống có ý nghĩa.
  2. Không có những tình huống li kì, những tính cách sắc nét, không đi sâu những cảnh áp bức bóc lột, những số phận thương tâm,…mọi thứ trong Hai đứa trẻ cứ nhẹ nhàng diễn ra trên từng trang viết, lặng lẽ đưa ra những hình ảnh xoàng xĩnh quen thuộc ở một phố huyện nghèo qua con mắt một đứa trẻ. Nhưng chính vẻ đẹp của những cái bình thường, lặng lẽ, xoàng xĩnh ấy qua ngòi bút tinh tế, giọng văn nhỏ nhẹ của tác giả lại tạo nên sức hút kì lạ. Bức tranh đời sống nghèo trong truyện vừa rất mực chân thực, vừa chan chứa niềm cảm thương, chân thành của Thạch Lam đối với những người lao động nghèo khổ sống quẩn quanh, bế tắc, bị chôn vùi trong kiếp tối tăm. Tất cả để lại ấn tượng, sự đồng cảm sâu sắc nơi người đọc một cách rất tự nhiên nhưng lắng đọng, khó quên vô cùng.

Tổng hợp những kết bài hay về tác phẩm Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân)

  1. “Vang bóng một thời” là một tiếng vọng đầy cuốn hút trong trào lưu văn học lãng mạn 1930 – 1945 và “Chữ người tử tù” là một tiếng nói góp phần làm nên sự thành công của tập truyện này. Có thể nói rằng, những đặc trưng của phương pháp sáng tác lãng mạn chủ nghĩa không phải đã tập trung đầy đủ ở đây nhưng nhà văn đã thực sự đem chúng ta đến một thế giới mà trong đó nhân vật lãng mạn vượt lên khỏi hoàn cảnh để sống khác biệt với những tầm thường, tăm tối quanh mình. Cái Đẹp, cái Thiện và sự tài hoa đã cùng nhau châu tuần về đó.
  2. Chữ người tử tù đã thể hiện tư tưởng thẩm mĩ của Nguyễn Tuân. Cái đẹp, cái tài đã chiến thắng tất cả. Nó nâng đỡ và dìu dắt con người xích lại với nhau tạo nên sức mạnh chiên thắng mọi gông xiềng, quyền uy và thế lực. Nghệ thuật khắc họa nhân vật của cụ Nguyễn đầy ấn tượng đã tạo ra cho tác phẩm những bức tranh, hình ảnh đầy kịch tính với một ngôn ngữ khỏe khoắn, gân guổc đầy cảm giác và tân kỳ. Người ta thường nói đến phong cách của Nguyẽn Tuân gói gọn trong chữ “ngông” song thực tế không phải vậy. vẻ đẹp của quản ngục là biểu tượng cho thiên lương của con người, ở đây nó còn là hiện thân của cái đẹp. Nói như Vũ Ngọc Phan giá trị của tác phẩm “gần đạt đến sự toàn mĩ” là từ nhân vật này chăng?

Tổng hợp những kết bài hay về đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia (Số đỏ)

Có thể kết luận rằng: Từ cái “chết thật” của “ông cụ già” đến đám ma giả của tang gia, và từ cái đám ma giảtang gia đến niềm vui thật của bọn người hám danh, hám lợi, đạo đức giả được kể trong chương truyện này là cả một hành trình sáng tạo của một tài năng lớn – tài năng trào phúng Vũ Trọng Phụng.

Tổng hợp những kết bài hay về tác phẩm  Chí Phèo (Nam Cao)

  1. Chí Phèo – một tấn bi kịch của một người nông dân nghèo bị tha hóa trong xã hội cũ, một con người điển hình. Ở cuối tác phẩm, “đột nhiên thị thoáng thấy hiện ra một cái lò gạc cũ bỏ không, xa nhà cửa, và vắng người qua lại…”, chi tiết ấy muốn nói với chúng ta rằng, một ngày gần đây thôi,Thị Nở lại bụng mang dạ chửa vượt cạn giữa đồng không mông quạnh,giữa con mắt thờ ơ của người dân làng Vũ Đại,lai một Chí Phèo con xuất hiện. Điều này chứng tỏ rằng “Chí Phèo” không phải là bi kịch của một con người mà là bi kịch của người nông dân tồn tai trong lòng nông thôn trước Cách mạng tháng Tám. Mang đậm giá trị tố cáo rất cao, lên án giai cấp phong kiến thống trị tha hoá, những bị kịch như vậy sẽ còn tiếp.
  2. Hình tưcmg nhân vật Chí Phèo đế lại trong lòng người đọc nhiều niềm xúc động và lòng cảm thông sâu sắc đối với nhũng kiếp người tàn tạ trước Cách mạng tháng Tám. Cùng với những chị Dậu, anh Pha, lão Hạc,… hình tượng nhân vật Chí Phèo khẳng định tính tất yếu phải có một cuộc cách mạng dân tộc và cách mạng giai cấp đế đòi lại quyền sống cho người dân Việt Nam khi đó. Cho đến ngày nay, những nhân vật văn học ấy vẫn là những lời nhắc nhở, cảnh tỉnh chúng ta phải biết yêu hon, trân trọng hon hạnh phúc mình đang có và ra sức cống hiến xây dựng cuộc đời tươi đẹp này.

Tổng hợp những kết bài hay về tác phẩm Vội vàng (Xuân Diệu)

  1. Nhà thơ Thế Lữ, trong lời Tựa cho tập Thơ Thơ củaXuân Diệu, đã có nhận xét khá tinh tế: “Xuân Diệu là một người của đời, một người ở giữa loài người. Lầu thơ của ông xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian” . Qua những ý thơ của Vội vàng, ta càng cảm nhận sâu sắc hơn lời nhận xét ấy. Sống là hạnh phúc. Muốn đạt tới hạnh phúc phải sống vội vàng. Thế là, vội vàng là cách đến với hạnh phúc, là chính hạnh phúc, và hình như cũng là cái giá phải trả cho hạnh phúc vậy ! Tahiểu vì sao khiXuân Diệuxuất hiện, lập tức thi sĩ đã thuộc về tuổi trẻ!
  2. Với bài thơ “Vội vàng”,  Xuân  Diệu đã phảvào  nền  thi  ca  Việt  Nam  một trào lưu “Thơ mới”. Mới lạnhưng táo bạo, độc dáo ởgiọng điệu và cách dùng từ, ngắt nhịp, nhất là cách cảm nhận cuọc sống bằng tất cảcác giác quan, với một trái tim chan chứa tình yêu. “Vội vàng” đã thểhiện một cảm quan nghệthuật rất đẹp, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Đó là lòng yêu con người, yêu  cuộc đời. Đó là tình yêu cảnh  vật,  yêu  mùa  xuân  và  tuổi  trẻ…  Và  là  ham  muốn  mãnh  liệt muốn níu giữthời gian, muốn tận hưởng vịngọt ngào của cảnh sắc đất trời “tươi non mơn mởn”. Phải chăng trời đất sinh ra thi sĩ Xuân Diệu trên xứsởhữu tình này, là đểca hát vềtình yêu, đểnhảy múa trong những điệu nhạc tình si?! Thơ Xuân Diệu -vội vã với nhịp đập của thời gian

Tổng hợp những kết bài hay về tác phẩm Tràng giang (Huy Cận)

  1. Bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận với sựkết hợp bút pháp hiện thực và cổđiển đã vẽlên một bức tranh thiên nhiên u buồn, hiu quạnh.Qua đó khắc họa được tâm trạng cô liêu, đơn độc của con người và một tình yêu quê hương, mong ngóng vềquê hương chân thành, sâu sắc của Huy Cận.
  2. Tràng giang – Bài thơ sẽ còn mãi đi vào lòng người với phong cách tiêu biểu rất “Huy Cận”, với vẻ đẹp cổ điển trang nhã sâu lắng và vẻ đẹp hiện đại mang nặng một tấm lòng yêu nước, yêu quê hương.

Tổng hợp những kết bài hay về tác phẩm Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử)

  1. Đây thôn Vĩ Dạlà một bức tranh đẹp vềcảnh và người của miền quê đất nước qua tâm hồn thơ mộng, giàu tưởng tượng và đầy yêu thương của nhà thơ với nghệthuật gợi liên tưởng, hòa quyện thiên nhiên với lòng người. Trải qua bao năm tháng, cái tình Hàn Mặc Tửvẫn còn tươi nguyên, nóng hổi, lay động day dứt lòng người đọc. “Tình yêu trong ước mơ của con người đau thương ấy có sức bay bổng lạkì” nhưng nó cũng giản dị, trong sáng, tươi đẹp như làng quê Vĩ Dạ. Xin thành kính thắp một nén nhang trước một nghệsĩ tài hoa, một trái tim suốt cuộc đời thổn thức vì tình yêu, một tâm hồn thi sĩ đã thăng hoa nỗi đau thương, bất hạnh của đời mình thành những đóa hoa thơ mà trong đó thơm ngát nhất, thanh khiết nhất là Đây thôn Vĩ Dạ
  2. “Đây thôn Vĩ Dạ” là một bức tranh đẹp vềcảnh và người của một miền quê đất nước qua tâm hồn thơ mộng, giàu trí tưởng tượng và đầy yêu thương của một nhà thơ đa tình đa cảm. Bằng thủpháp nghệthuật liên tưởng cùng với những câu hỏi tu từ xuyên suốt bài thơ, tác giả Hàn Mặc Tửđã phác họa ra trước mắt ta một khung cảnh nên thơ, đầy sức sống và ẩn trong đấy là nỗi lòng của chính nhà thơ: nỗi đau đớn trước sựcô đơn, buồn chán trần thế, đau cho số phận ngắn ngủi của mình. Dầu vậy nhưng ông vẫn sống hết mình trong sựđau đớn của tinh thần và thể xác. Điều đó chứng tỏ ông không buông thả mình trong dòng sông số phận mà luôn cố gắng vượt lên nó để khi xa lìa cõi đời sẽ không còn gì phải hối tiếc.
  3. “Thơ đi từ cái thực tới cái ảo ảnh, từảo ảnh đi tới cái huyền diệu, từ huyền diệu đi tới chiêm bao. Bao trùm cả bài thơ là thế giới mơ”, đó là lời của Hàn Mặc Tử về thơ và có lẽ chính là vềĐây thôn Vĩ Dạ. Với hình ảnh độc đáo giàu sức gợi, giàu giá trị thẩm mĩ, ngôn ngữ ngữ cực tả luôn trong trong sáng, súc tích, cách sử dụng xuyên suốt những câu hỏi tu từ, cách sử dụng nhịp điệu thơ theo cảm xúc có khi là tha thiết đắm say, có khi là chậm rãi buồn tẻ, Đây thôn Vĩ Dạ thể hiện tình yêu tha thiết của tác giả đối với xứ Huế, nơi nhà thơ đã từng có nhiều kỷ niệm ngọt ngào, đồng thời thểhiện khát khao được sống, được yêu của một con người. Nhà thơ đã vẽ nên một bức tranh phong cảnh thật đẹp về thiên nhiên xứ Huế, từ đó thể hiện tình yêu và khát vọng sống mãnh liệt.

Tổng hợp những kết bài hay về tác phẩm Từ ấy (Tố Hữu)

  1. “Từ ấy” là tiếng reo vui không chỉ của nhà thơ, mà còn là của cả một thế hệ thanh niên khi tìm thấy lí tưởng của Đảng, nguyện chiến đấu hết mình vì lí tưởng, vì nhân dân, vì đất nước. Họ là những người chiến sĩ trẻ, mang trong mình nhiệt huyết, mang trong mình lí tưởng, và lòng yêu thương đồng bào, yêu thương đất nước. Có thể nói, thơ của Tố Hữu là thơ của nhân dân, những lí tưởng cao đẹp được diễn tả bằng những từ ngữ lãng mạn nhưng cũng vô cùng giản dị, gần gũi, là đại diện cho một lớp nhà thơ mới
  2. Bài thơ “Từ ấy” của Tố Hữu là một bài thơ vừa có tính triết lý sâu sắc, vừa rất gần gũi, bình dị, thân thuộc. Sau mấy chục năm đọc lại, những vần thơ đó vẫn là một câu hỏi thấm thía mà những người cộng sản hôm nay không thể không suy ngẫm một cách nghiêm túc để tự mình tìm ra lời giải đáp thấu đáo. Giữa cái chung và cái riêng, giữa cộng đồng -tập thể và cá nhân, giữa vật chất tầm thường và tinh thần –tư tưởng của người cộng sản.

Tài liệu sưu tầm. Nguồn : Page Cô Diễm Hằng

Xem thêm :

  1. Tổng hợp những mở bài mẫu hay nhất
  2. Cách viết phần kết bài trong bài văn nghị luận
  3. Tuyển tập những kết bài về các tác phẩm lớp 12

Đề thi hay và khó về những bài thơ mới Ngữ văn lớp 11

Đề thi hay và khó về những bài thơ mới lớp 11. Phân tích những bài thơ  mới ngữ văn 11 để làm sáng tỏ nhận đinh của Hoài Thanh :”Họ yêu vô cùng thứ tiếng trong mấy mươi thế kỉ đã chia sẻ vui buồn với cha ông. Họ dồn tình yêu quê hương trong tình yêu tiếng Việt”

Đề bài :

Họ yêu vô cùng thứ tiếng trong mấy mươi thế kỉ đã chia sẻ vui buồn với cha ông. Họ dồn tình yêu quê hương trong tình yêu tiếng Việt.”
(Một thời đại trong thi ca – Hoài Thanh)
Anh/ chị hãy làm sáng tỏ ý kiến của Hoài Thanh, qua việc phân tích một số bài thơ Mới  đã học trong chương trình Ngữ văn 11 như: Vội vàng – Xuân Diệu, Tràng giang – Huy Cận, Đây thôn Vĩ Dạ – Hàn Mặc Tử, Tương tư – Nguyễn Bính.

Hướng dẫn cách làm

Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Lòng yêu nước thương nòi qua tình yêu tiếng Việt của các nhà thơ Mới.

1. Giới thiệu vấn đề
– Hoài Thanh là một trí thức yêu nước, một nhà phê bình văn học xuất sắc nhất của nền văn học Việt Nam hiện đại. Sở trường của ông là phê bình thơ. Cách bình của Hoài Thanh không bằng lí trí mà bằng tình cảm, không bằng lí lẽ khô khan mà bằng cách diễn đạt giàu hình ảnh và cảm xúc; ngắn gọn mà nói đúng được cái thần thái độc đáo của mỗi hồn thơ, câu thơ.
– Trước Cách mạng, ông có cuốn Thi nhân Việt Nam (viết chung với Hoài Chân), một tuyển Thơ mới xuất sắc, lời bình tinh tế, tài hoa, có giá trị tổng kết sâu sắc cả một phong trào thơ lãng mạn trong cuộc cách tân hiện đại hóa thơ ca. Khi nói về các nhà thơ của phong trào Thơ mới, Hoài Thanh nhận xét: “Họ yêu vô cùng thứ tiếng trong mấy mươi thế kỉ đã chia sẻ vui buồn với cha ông. Họ dồn tình yêu quê hương trong tình yêu tiếngViệt.”

2.Giải thích đề
– “Họ” ở đây là các nhà Thơ mới như Thế Lữ, Huy Thông, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính…Đó là thế hệ nhà thơ lãng mạn Việt Nam (1932 – 1941), những trí thức có lương tri đang sống và sáng tác trong thời kì nước ta bị thực dân Pháp đô hộ.
– Trong hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ, có nhiều cách biểu lộ lòng yêu nước…. Các nhà Thơ mới đành gửi lòng yêu nước thương nòi của mình vào tình yêu tiếng Việt. Vì họ nghĩ rằng, tiếng Việt đã hứng vong hồn dân tộc những thế hệ qua. Vận mệnh dân tộc đã gắn bó với vận mệnh tiếng Việt. Họ dùng tiếng nói của dân tộc để sáng tác thơ, duy trì tiếng nói và các thể thơ mang hồn cốt dân tộc. Qua thơ, họ ngợi ca thiên nhiên đất nước, gửi gắm nỗi buốn mất nước.
3. Phân tích một số bài Thơ mới để làm sáng tỏ.
a. Vai trò, đặc điểm, vị trí của tiếng Việt
– Tiếng Việt là tiếng nói của dân tộc ta, đã hình thành từ lâu đời, trải qua bao thăng trầm lịch sử, tiếng Việt càng trở nên giàu và đẹp, thể hiện được tâm hồn và sức sống của người Việt Nam:
– Chưa thể trở thành chiến sĩ cách mạng, nhà thơ cách mạng, các nhà Thơ mới đã dùng tiếng Việt sáng tác thơ ca, như một cách giữ gìn, kế thừa và tôn vinh tiếng nói và văn hóa của dân tộc.
b. Chứng minh các nhà Thơ mới có tình yêu tha thiết tiếng Việt, dồn tình yêu quê hương trong tình yêu tiếng Việt
– Qua thơ, các nhà Thơ mới đã phát triển, đổi mới ngôn từ, làm cho tiếng Việt trở nên rất phong phú, trong sáng, tinh tể, hiện đại. Trong khi văn học trung đại sáng tác văn học bằng chữ Hán, chữ Nôm (ảnh hưởng chữ Hán) và các thể thơ chủ yếu là Đường luật; thì các nhà Thơ mới làm thơ bằng tiếng Việt, chữ quốc ngữ, tôn vinh các thể thơ truyền thống như: thơ lục bát, thơ bốn chữ, thơ năm chữ…Họ coi tiếng nói của cha ông là là hương hỏa quý giá, mang hồn thiêng dân tộc, nên đã trau chuốt từ ngữ, hình ảnh: (Vội vàng- Xuân Diệu)
– Nhờ đổi mới về hình thức nghệ thuật ngôn từ (như câu chữ, hình ảnh, nhịp điệu, các cách tu từ…), các nhà Thơ mới đã thể hiện được sinh động trong thơ những hình ảnh, cảnh sắc, thần thái của cảnh trí đất nước mà trong thơ cổ vẫn chỉ là ước lệ. Chính là, các nhà Thơ mới đã dồn tình yêu nước vào tình yêu tiếng Việt:
– Không chỉ vẽ nên những cánh sắc quê hương đất nước với những tình cảm trong sáng, qua thơ các nhà Thơ mới còn gửi gắm nỗi buồn mất nước thầm kín mà thiết tha: Tràng giang – Huy Cận
4.Bìnhluận
– Tình yêu tiếng Việt, yêu nghệ thuật thơ ca, yêu bản sắc văn hóa dân tộc của các nhà Thơ mới rất phong phú sâu sắc. Đó một biểu hiện tinh tế của tình yêu quê hương đất nước.
– Có thể còn có những tác giả, tác phẩm Thơ mới có thái độ chán chường ủy mị yếu đuối, nhưng đó chỉ là nét cá biệt, không phải là tinh thần của Thơ mới. Thơ mới bộc lộ cái tôi cá nhân sầu buồn, đó là nỗi sầu buồn nhân văn, khi hướng tình cảm của mình về quê hương đất nước. Bởi vậy tình yêu quê hương đất nước, dồn trong tình yêu tiếng Việt của các nhà Thơ mới, đã góp phần rung lên tiếng tơ lòng muôn điệu của những tâm hồn Việt. Tình yêu đó rất đáng trân trọng
(Đề sưu tầm)

Xây dựng hệ thống câu hỏi dạy học bài thơ “ Đây thôn Vĩ Dạ” Hàn Mặc Tử

Xây dựng hệ thống câu hỏi dạy học bài thơ “ Đây thôn Vĩ Dạ” (Hàn Mặc Tử) . Soạn bài Đây thôn Vĩ Dạ Ngữ văn 11

1.Tiểu dẫn:                                                             

– Câu hỏi nhớ: Em hãy trình bày những nét chính về cuộc đời và đời thơ của Hàn Mặc Tử?

-Câu hỏi đọc hiểu: Những biến cố trong cuộc đời có ảnh hưởng như thế nào đến hồn thơ của ông?

– Câu hỏi nhớ: Em hãy trình bày xuất xứ của bài thơ? Hoàn cảnh ra đời của bài thơ có gì đặc biệt?

– Câu hỏi đọc hiểu: Em hãy phân chia bố cục của bài thơ và nêu nội dung chính của từng phần?

2.khổ thơ đầu

Câu hỏi đọc hiểu: Chỉ ra các biện pháp nghệ thuât được sử dụng trong câu đầu?nhận xét các sắc thái biểu cảm của câu hỏi đó?

-Câu hỏitu từ nhiều sắc thái                         Lời hỏi thăm                                       của cô gái thôn vĩ với  nhà thơ

+ Nhiều tiếng thanh bằng                 =>       Lời trách móc nhẹ nhàng =>            cũng là tiếng lòng

+Âm điệu nhẹ nhàng ,trầm lắng                   Lời  mời gọi tha thiết                       của nhà thơ hỏi chính mình.

 

Câu hỏi khám phá: Câu hỏi “Sao anh không về chơi Thôn Vĩ” có nhầm mục đích đối thoại không? Tác dụng của câu hỏi đó?

Trả lời: Câu hỏi không hướng đến đối thoại,được đặt ra để tự vấn, tự trả lời=>thể hiện niềm khao khát được trở về thôn vĩ,thăm lại cảnh cũ,người xưa của Hàn Mặc Tử.

Câu hỏi khám phá:Thiên nhiên thôn Vĩ trong tưởng tượng của nhà thơ hiện lên như thế nào?

Câu hỏi gợi ý:

+ Những cảnh vật nào được Hàn Mặc Tử chú trọng miêu tả?

+Em hình dung như thế nào về nắng mới lên?

+Thử tưởng tượng và tái hiện cảnh tượng “nắng hàng cau”?

+ Khu vườn Vĩ Dạ được tác giả miêu tả như thế nào? Những từ ngữ nào làm em chú ý?

+Đại từ phiếm định “ai” được đặt sau “vườn” gợi cho em cảm giác gì?

+ Thử hình dung và tái hiện hình ảnh so sánh “xanh như ngọc”?em nhận xét như thế nào về bức tranh thôn Vĩ qua tưởng tượng của nhà thơ?

Trả lời:

Những cảnh vật nào được Hàn Mặc Tử chú trọng miêu tả
Nắng

-“Nắng mới lên”  : nắngsớm mai , tinh khôi, rực rỡ .

-“Nắng hàng cau”: những hàng cau ,vươn cao ,thẳng tắp , còn đẫm sương đêm như bừng sáng. lấp loáng trong nắng sớm.

-Điệp từ “nắng”  -> Không gian chan hòa ánh nắng nhằm nhấn mạnh một hình ảnh ám ảnh trong lòng nhà thơ, một hình ảnh ấn tượng lòng người đi xa.

 

Khu vườn

*Đại từ “ai” ->niềm thương mến

– Câu hỏi“vườn ai” -> phải chăng là vườn nhà người mà anh thầm thương trộm nhớ

+ Đại từ “ai” được sử dụng làm cho khái niệm “vườn” được mở rộng, đồng thời nó gợi cảm giác mơ hồ, bất định gây ấn tượng về một vẻ đẹp bí ẩn không thể chiếm lĩnh, không thể sở hữu.

– Tính từ + từ cảm thán “mướt quá” (sự đan xen giữa xúc giác và thị giác, giữa ánh và màu)

và hình ảnh so sánh“ xanh như ngọc” (trong màu xanh có ánh sáng, có sương long lanh của buổi sớm mai):

Vườn aimướt quáxanh như ngọc”

->Bộc  lộ niềm phấn chấn, tiếng reo vui , sự ngỡ ngàngtrước vẻ đẹp mượt mà, tươi non, ánh lên màu xanh ngọc của sắc lá. =>thiên nhiên trong trẻo, tươi sáng, tinh khôi, đầy sức sống.

 

Câu hỏi tích lũy: So sánh hình ảnh “nắng hàng cau” trong Đây thôn Vĩ Dạ với hình ảnh “ nắng ửng”, “ nắng chang chang” trong Mùa xuân chín ?

Trả lời:

:+ “Nắng ửng”, “nắng chang chang” được miêu tả một cách trực tiếp…

+ “Nắng hang cau nắng mới lên” chỉ gợi chứ không tả. Cách bố trí từ ngữ cũng rất đặc biệt “ nắng – hàng cau – nắng”…

Câu hỏi khám phá: Con ngươi ở thôn Vĩ trong tưởng tượng của nhà thơ hiện lên như thế nào?

Câu hỏi gợi ý:              

+Con người trong bức tranh thôn Vĩ hiện lên qua những chi tiết nào?

+ Hình ảnh “lá trúc che ngang” thể hiện cho điều gì?

+Theo em, “mặt chữ điền” là mặt của ai? Dân gian ta quan niệm như thế nào về những người có khuôn mặt chữ điền?

Trả lời:

 

Con người Thôn vĩ
“lá trúc che ngang”

 

-Vẻ đẹp kín đáo, bản tính dịu dàng của con người xứ Huế

“mặt chữ điền”

 

-Hình ảnh được cách điệu hóa.

-Đó không là mặt của một ai cụ thể mà nó đại diện cho vẻ đẹp của tâm hồn Huế,con người Huế: ngay thẳng,phúc hậu.


Câu hỏi tích lũy:
Từ bức tranh thôn Vĩ, em hình dung tâm trạng của nhà thơ trong khổ đầu này như thế nào?

Trả lời:

-Tâm trạng nhà thơ: Đó là niềm vui khi nhận được thư của người con gái mình thầm thương trộm nhớ, niềm hi vọng lóe sáng về tình yêu và hạnh phúc.

3.Khổ thơ thứ hai

-Câu hỏi đọc hiểu:Ở hai câu thơ đầu , hình ảnh nào được nhà thơ cảm nhận qua lăng kính tâm trạng ?

Trả lời:Ở hai câu thơ đầu , hình ảnh  “gió” , “mây” , “dòng nước” , “hoa bắp” được nhìn qua  lăng kính  tâm trạng của thi nhân .

-Câu hỏi khám phá: Chỉ ra các yếu tố  nghệ thuật được tác giả sử dụng trong câu thơ  đầu và nêu tác dụng của nó?

Trả lời:

Gió theo lối gió  , mây đường mây ”

– Dấu  phẩy “,”

nằmgiữa dòng thơ

– Hai vế đối lập                                                    Ngăn cách , chia lìa

-Nhịp thơ: 4/3

-Điệp từ “gió” ,“mây”

“ Dòng nước buồn thiu , hoa bắp lay.

+ Lối nói nhân hóa Dòng nước buồn thiu”

->dòng sông lặng tờ như mang nặng  nỗi niềm

+ Hai tiếng “ buồn thiu”

->nỗi buồn héo hắt,tê tái

+ Động từ “lay”

->lay động khẽ khàng

+ Hình ảnh  “hoa bắp lay”

-> Cảnh buồn hơn, hiu hắt hơn

=>Ngoại cảnh cũng chính là  tâm cảnh .

-Câu hỏi đọc hiểu:Hai câu thơ tiếp theo mở ra với hình ảnh nào ?  Tâm trạng của nhà thơ ?

Trả lời:Hai câu thơ tiếp theo mở ra vớihình ảnh “bến sông trăng”, “thuyền…chở trăng”  và tâm trạng hoài vọng  , lo âu.

-Câu hỏi khám phá:Đại từ “ai”  trong “thuyền ai” có ý nghĩa gì?

Trả lời:Đại từ “ai” trong“thuyền ai”

->nhân vật phiếm chỉ , để thi nhân giãi bày  nỗi niềm riêng .

-Câu hỏi khám phá:Hình ảnh “bến sông trăng”, “thuyền…chở trăng”mở ra một không gian như thế nào ?

Trả lời: Hình ảnh “bến sông trăng” “thuyền…chở trăng” vừa thực vừa mơ :

  • Có một “bến sông trăng”, “thuyền…chở trăng”như thế ở ngoài đời
  • Cũng có một “bến sông trăng”, “thuyền…chở trăng” như thế trong tâm tưởng của con người

-> Khungcảnh trở nên lung linh , huyền ảo.

-Câu hỏi khám phá:Câu hỏi tu từ  kết hợp  từ “kịp” trong hai câu thơ sau hàm ý gì?

Trả lời:Câu hỏi tu từ +Từ “kịp” :

“Có chở trăng về kịp tối nay ?                 =>         ”Mong đợi khắc khoải ,

Sự    phấp phỏng , lo âu

=>  Căn bệnh hiểm nghèo đang chia cắt nhà thơ với cuộc đời

Câu hỏi phân tích: Theo các em tác giả mong chờ điều gì ở con thuyền chở trăng?tại sao phải kịp tối nay? Theo em , “Tối nay” là tối nào ?qua đó ta thấy được điều gì trong tâm hồn thi sĩ?

Trả lời:

Tác giả mong chờ một con thuyền chở trăng từ cõi ảo về cõi thực,để xua đi nỗi buồn,tâm trạng cô đơn

->phải chở trăng về kịp tối nay vì chỉ có trăng mới có thể làm bạn với thi sĩ lúc này.

+ “Tối nay”

-> Thời gian phiếm định – thời gian xác định .

+“Tối nay” không phải là đêm thần tiên như Xuân Diệu viết:

“Đêm nay nằm yến tiệc sóng tiên trên trời”

mà là đêm xa cách , chia lìa :

“Gió theo lối gió, mây đường mây”.

àkhát khao yêu đương giao cảm với đời của thi s

4.khổthơ thứ ba

Câu hỏi đọc hiểu:Nhận xét về cách ngắt nhịp của câu thơ thứ nhất? mở đầu câu thơ bằng từ “mơ”, vậy từ “ mơ ”thể hiện tâm trạng của nhà thơ như thế nào?

Trả lời:

– Nhịp thơ : 1/3/3

-Từ “mơ”->  nhà thơ chìm sâu trong mộngtưởng với niềm mong đợi thiết tha

Câu hỏi khám phá:Theo em ,“ Khách đường xa” là ai?Điệp ngữ “khách đường xa” được sử dụng trong câu có tác dụng gì?

Trả lời:

-“ Khách đường xa”-> chính là cô gái Vĩ Dạ mà nhà thơ hằng mong ước

-Điệp ngữ “khách đường xa” ->nhấn mạnh sự xa cách vời vợi,nỗi xót xa của nhà thơ trước lời mời gọi của cô gái thôn vĩ

Câu hỏi khám phá:Em có nhận xét gì về cách miêu tả hình ảnh người con gái thôn vĩ? Cụm từ “ nhìn không ra “ tái hiện giác quan  thị giác hay để miêu tả tà áo trắng?

Trả lời:

-Hình ảnh người cn gái thôn vĩ được miêu tả đặc biệt với tà áo trắng

=>miêu tả tăng tiến: áo trắng->trắng quá->nhìn không ra.

=>Nhìn không ra là để cực tả sắc trắng

=> hai câu thơ đầu giúp người đọc hình dung ra hình ảnh người con gái thôn vĩ với vẻ đẹp đơn sơ tinh khiết.

Câu hỏi khám phá: Sự chuyển hoá đại từ “ai” sang đại từ “em” có ý nghĩa gì?

Trả lời:

– Có sự chuyển hoá từ  đại từ “ai” trong (“ vườn ai” , “thuyền ai’) sang “em”-> Tình cảm yêu thương nồng thắm Cùng Tính từ kết hợp với từ cảm thán “trắng quá”

Vẻ đẹp cao khiết

=>     Ngưỡng vọng, tôn thờ

Đau đớn, xót xa

Câu hỏi đọc hiểu: Hình ảnh “sương khói mờ nhân ảnh” gợi cảm giác như thế nào?

Trả lời: Cảm giác vừa thực vừa mơ:

thực:có hình người,có dáng người

mơ: ình ảnh lờ mờ,phảng phất trong sương khói

Câu hỏi khám phá:Đại từ phiếm chỉ“ai”  được sử dụng hai lần trong một dòng thơ chỉ ai và hàm ý nghĩa gì?

Trả lời:

 

Đại từ “ai”  có hai cách hiểu :

 

Đại từ “ai” (1) chính là cái tôi trữ tình của tác giả. – Đại từ “ai” (2) là “em”, người trong mộng .

-> “Anh”  không biết tình cảm của “em” dành cho “anh”   “có đậm đà  ?”

-> Hàn Mặc Tử  hoài nghi , đau xót

 

– Đại từ “ai” (1) chỉ “em” .

–  Đại từ “ai” (2) chính là  tác giả.

->  “Em” có biết  tình cảm  “anh” dành  cho “em” “đậm đà” lắm không ?

-> Hàn Mặc Tử  bộc bạch tấm chân tình

 

=>Câu hỏi thể hiện khát vọng yêu thương , đồng cảm .

(Tài liệu sưu tầm )

Xem thêm :

  1. Trọn bộ giáo án Ngữ văn 11
  2. Tuyển tập đề thi, những bài văn hay về Đây thôn Vĩ Dạ- Hàn Mặc Tử : Đây thôn Vĩ Dạ

Hàn Mặc Tử- Hồn thơ bí ẩn và phức tạp nhất trong phong trào Thơ Mới

Hàn Mặc Tử- Hồn thơ bí ẩn và phức tạp nhất trong phong trào Thơ Mới

Trong các nhà thơ mới, Hàn Mặc Tử lạ nhất, phức tạp nhất, bất hạnh nhất, bí ẩn nhất. Như ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời…

Là sản phẩm của nguồn thơ điên bằng đau thương đặc biệt, Đây thôn Vĩ Dọ là lời tỏ tình với cuộc đời của một tình yêu tuyệt vọng.

Bên dưới mỗi hàng chữ sáng tươi là cả một mối u hoài.

Tuy không có những tiếng rên la, những hình ảnh kì dị, ma quái, nhưng mạch liên tưởng toàn bài cũng rất lạ lùng, đứt đoạn, phi logic, cóc nhảy: ngoại cảnh – tâm cảnh, tươi sáng-  âm u, hi vọng – thất vọng  kết nối tương phản. Đó là hai phía của một khối u hoài uẩn khúc.

Khổ đầu: ước ao thầm kín ngấm ngầm bên trong lại cất lên như lời mời mọc  từ bên ngoài, hoài niệm âm u lại mang gương mặt sáng sủa, khát khao, rạo rực.

Khổ 2 ước mong khẩn thiết dâng lên hoá thành hoài vọng chới với, nghẹn ngào.

Khổ 3: mong ngóng vừa ló rạng hoá thành nỗi hoài nghi.

Liên tưởng điên – phi lôgic tạo ra âm hưởng nhất quán, vẻ đẹp độc đáo của bài thơ. Tất cả xuất phát từ tình yêu tuyệt vọng – mặc cảm sâu xa của Hàn Mặc tử. […]

Trong bệnh tật, tâm hồn Hàn hình thành hai thế giới: trong này và ngoài kia phân định nghiệt ngã, cách nhau bằng cả tầm tuyệt vọng. Ngoài kia là mùa xuân, thắm tươi, trăng, nhạc, ánh sáng, hạnh phúc, thiên đường, hi vọng,… Trong này chẳng có mùa, là đêm tối, địa ngục, khổ hạnh, âm u, mờ nhân ảnh, lãnh cung… trong này chỉ còn về lại được ngoài kia bằng ước ao thầm lén, khắc khoải hi vọng và tuyệt vọng mà thôi!

Tấm thiệp của Hoàng Cúc đã đánh thức khát vọng về cái ngoài kia. Thôn Vĩ Dạ là địa chỉ khởi đầu của ngoài kia trong hồn Tử. Khát vọng về thăm Vĩ Dạ của Tử cũng là khát vọng về ngoài kia. Vườn xa, thuyền xa, đường xa hợp thành thế giới ngoài kia đối lập với ở đây — trong này.

Sự tương phản giữa hai miền không gian không chỉ là mặc cảm của con người đang sắp chia lìa cuộc đời mà còn là mặc cảm của thi sĩ đang phải lìa xa cái đẹp mà anh đang tôn thờ, chiêm ngưỡng. Cái đẹp, theo quan niệm của Tử là thanh khiết, thanh tú, trinh nguyên, vẻ đẹp của vườn, nắng, trăng, thuyền, khách đường xa là biểu hiện cụ thể của vẻ đẹp ấy. Và mặc cảm chia lìa là mặc cảm tuyệt vọng khiến cho nó trở nên khắc khoải, da diết. Câu hỏi mở đầu là lời Tử phân thân để hỏi chính mình. Ba câu sau tả vườn. Nắng tinh khiết thanh tân lan toả trên những hàng cau, thân cau, lá cau, biến cả Vườn thành viên ngọc lớn. Vườn toả vào không gian những ánh xanh của ngọc thanh tú và cao sang. Chữ ai chuyển tải cảm giác xa xót, thực tại xa vời, tồn tại mong manh ở ngoài tầm với, thuộc thế giới ngoài kia. Từ quá chỉ mức độ, là tiếng kêu ngạc nhiên, ngỡ ngàng như chợt nhận ra vẻ đẹp của vườn trong khoảnh khắc hiếm hoi ấy. Mặt chữ điền là mặt người thôn Vĩ hay người trở về thôn Vĩ? Nếu là mặt người thôn Vĩ thì sẽ là mặt phụ nữ vì một người đàn ông thôn Vĩ trở về không phải để ngắm khuôn mặt đàn ông. Nếu là mặt người trở về thôn Vĩ thì chỉ có thể là khuôn mặt của Tử tự họạ chân dung của mình đầy kiêu hãnh và vơ vào. Có thể hiểu cả hai cách như trên.

 

Qua lăng kính chia lìa, tuyệt vọng tình yêu, những cảnh vật đơn sơ cũng trở nên vô cùng lộng lẫy. Đó là thiên đường trần gian nhưng không thuộc về mình nữa. Về thôn Vĩ là việc bình thường nhưng với Tử lại quá tầm tay với, thành hạnh phúc ngoài tầm tay.

Khổ 2 không chỉ tả dòng sông Hương mà dòng sông nào đó thể hiện mặc cảm chia lìa, phiêu tán. Tất cả như đang bỏ đi, ngang trái trớ trêu. Chữ lay rất hay. Từ câu ca dao hiện về trong hồn Tử chăng?

Ai về trồng dứa qua truông

Gió lay bông sậy bỏ buồn cho em!

Hay là:

Lá ngô lay ở bờ sông,

Bờ sông vẫn gió người không thấy về.

(Trúc Thông)

Sông trăng và thuyền trăng: huyền ảo càng thêm huyền ảo. Nhưng đó cũng mới là vẻ đẹp bề nổi, dễ thấy. Chữ kịp mới mang bi kịch tâm hồn nhà thơ. Mặc cảm thân phận trong hiện tại ngắn ngủi, sống chạy đua với thời gian, từng ngày, từng khắc. Cuộc chia li vĩnh viễn đang tới gần. Mong mỏi, đau thương và tuyệt vọng.

Khổ 3 khắc khoải hoá thân thành nhịp điệu. Gấp gáp hơn, khẩn khoản hơn.

Hình ảnh người con gái áo trắng tinh khiết được Tử tôn thờ là hiện thân của thế giới ngoài kia với sắc áo trắng nhoà nhạt đến mức nhìn không ra.

Đến đây, Tử mới trở về nơi tồn tại của mình, với lãnh cung chia lìa bất hạnh của mình.

Cuộc đời ngoài kia vẫn thắm sắc và vẫn cách ở đây một tầm tuyệt vọng, vẫn cách xa một tầm tay với. Chỉ có cái tình kia là sợi dây duy nhất níu Tử với trần gian. Mà xem ra cái tình ấy cũng mong manh làm sao!

Xem thêm : Soạn bài Đây thôn Vĩ Dạ Ngữ văn 11