Phân tích đoạn thơ cuối bài Đàn ghi-ta của Lor-ca : Không ai chôn cất tiếng đàn…

Những đề thi và bài văn hay phân tích bài Đàn ghi ta của lor ca. Hình tượng nhân vật Lor ca, Cảm nhận về bài thơ. Tuyển tập tài liệu ôn thi THPT Quốc gia .

Đề bài :Cảm nhận của anh/chị về  đoạn thơ sau trong bài thơ “Đàn ghi-ta của Lor-ca” của Thanh Thảo:

không ai chôn cất tiếng đàn
tiếng đàn như cỏ mọc hoang
giọt nước mắt vầng trăng
long lanh trong đáy giếng

đường chỉ tay đã đứt
dòng sông rộng vô cùng
Lorca bơi sang ngang
trên chiếc ghi ta màu bạc

chàng ném lá bùa cô gái di-gan
vào xoáy nước
chàng ném trái tim mình
vào lặng yên bất chợt

li-la li-la li-la…

  1. Lập dàn ý :

I/ Mở bài : Giới thiệu Thanh Thảo dẫn vào bài thơ “Đàn ghi-ta của Lor-ca”. Nêu vấn đề : Bài thơ có giá trị sâu sắc về nội dung và nghệ thuật, tiêu biểu là đoạn thơ sau : ( chép đoạn thơ vào)

II/ Thân bài :

1/ Khái quát về bài thơ, đoạn thơ :

            – Giới thiệu vài nét về Lor-ca…

-Nêu hoàn cảnh sáng tác, nội dung, bố cục vị trí đoạn thơ ở đề bài.

2/ Phân tích nội dung, nghệ thuật đoạn thơ :

a/ Bốn câu thơ đầu là suy ngẫm của nhà thơ Thanh Thảo về cuộc đời và sự nghiệp của Lor-ca. Trích thơ, phân tích các ý:

– “Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn” là lời di chúc của Lor-ca

– “Không ai chôn cất tiếng đàn….mọc hoang” là nỗi xót thương cái chết của một thiên tài, xót tiếc cho hành trình cách tân dang dở của Lor-ca và nghệ thuật Tây Ban Nha

– “Giọt nước mắt….đáy giếng”là cái chết không thể tiêu diệt được tâm hồn và sáng tạo nghệ thuật của Lor-ca

    b/ Những câu thơ còn lại tiếp tục là những suy tư của nhà thơ Thanh Thảo về cái chết, cuộc giã từ của Lor-ca. Trích thơ, phân tích các ý:

– Đường chỉ tay bé nhỏ, dòng sông rộng mênh mang, hay là phận người thì ngắn ngủi mà thế giới thì vô cùng. Lor-ca đi vào cõi khác với hình ảnh: “Lor-ca bơi sang ngang – trên chiếc ghi ta màu bạc”.

– Các hành động ném lá bùa, ném trái tim vào xoáy nước, vào cõi lặng yên đều mang nghĩa tượng trưng cho sự giã từ và giải thoát, chia tay thực sự vời những ràng buộc và hệ luỵ trần gian…

   c/ Nghệ thuật :

Bút pháp vừa tả thực, vừa tượng trưng

– Chuỗi âm “li-la li-la li-la” kết thúc bài thơ gợi lên tiếng vang của chùm hợp âm vĩ thanh, sau khi phần chính của bản nhạc đã được diễn tấu xong, hoặc khi ca khúc đã dừng lời.

III/ Kết bài : Kết luận chung về hình tượng Lor-ca, cảm nghĩ về bài thơ,

B. Bài văn tham khảo

Mở bài:

Thanh Thảo là một trong những gương mặt tiêu biểu cho thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Sau 1975, nhất là trong thời kỳ đổi mới văn học, ông có  nhiều nỗ lực trong cách tân thơ Việt với xu hướng đào sâu vào cái tôi nội cảm qua hình thức thơ tự do, hiện đại bằng những hình ảnh và ngôn từ mới mẻ. Bài thơ “Đàn ghi ta của Lor-ca” là một tiêu biểu mà nổi bật là mười ba dòng thơ cuối trong bài thơ:

dẫn chứng thơ 13 dòng thơ

Thân bài :

Phần khái quát

– Khái quát

Lor-ca không chỉ là một nhà thơ, nhạc sĩ, kịch tác gia thiên tài mà còn là nhà chống phát xít kiên cường. Ông bị sát hại năm 1936. Thanh Thảo là một nhà thơ có mối quan tâm đặc biệt đối với những con người có nhân cách và nghĩa khí dù số phận có thể ngang trái. Trong mạch cảm hứng ấy, trường hợp Lor-ca  được xem là thành công hơn cả, mà ngay mười hai dòng đầu của bài thơ cũng đã rất đặc sắ

Bài thơ lấy cảm hứng từ những giây phút bi phẫn trong cuộc đời của Lor-ca và câu nói  “khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn” (Ghi nhớ – Lor-ca) để sáng tác bài thơ này. Bài thơ in trong tập “Khối vuông Ru-bích”(1985). Bài thơ diễn tả hình ảnh Lor-ca và tâm trạng của nhà thơ Thanh Thảo trước cái chết bi thảm của nhà thơ thiên tài Tây Ban Nha. Bài thơ gồm hai phần với sáu khổ thơ và một câu kết. Đoạn thơ trên là hai khổ cuối của bài thơ.

Phân tích cụ thể đoạn thơ :

Lorca đã hi sinh nhưng những kẻ thất bại lại chính là bè lũ phát xít. Bởi chúng chỉ có thể hủy diệt được thân xác của Lorca nhưng không thể hủy diệt được sức sống của anh đang bung nở giữa bản hòa tấu trầm hùng mang âm hưởng của những tiếng Ghi-ta nồng nàn vi diệu. Với thủ pháp nghệ thuật so sánh và liên tưởng, Thanh Thảo đã làm sống dậy một không gian sinh tồn đầy sức sống mãnh liệt.

không ai chôn cất tiếng đàn
……………………………..
long lanh trong đáy giếng

Để hiểu những câu thơ trên, cần căn cứ vào lời di chúc của Lor-ca “Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn”. Di chúc của Lorca không người thực hiện (nỗi xót xa của Thanh Thảo). Không ai hiểu, không ai tri âm với Lorca. Lorca muốn sau khi mình qua đời, sự sáng tạo cũng chấm dứt thì hãy chôn nghệ thuật của mình đi để kẻ hậu sinh khỏi bị cái bóng của mình ngăn cản. Đó là đạo đức của một vĩ nhân-sẵn sàng hy sinh dang vọng cá nhân để cộng đồng phát triển.

Dựa vào cứ liệu ấy, nhà thơ Thanh Thảo đã viết lên khổ thơ trên.Tất cả những hình ảnh trong khổ thơ đều có tính tượng trưng, đa nghĩa. “Tiếng đàn như cỏ mọc hoang” là nỗi xót thương cái chết của một thiên tài, là nỗi xót tiếc cho hành trình cách tân dang dở không chỉ với bản thân Lor-ca mà còn với nền văn chương Tây Ban Nha. Bởi lẽ, nhà cách tân Lor-ca đã chết,nghệ thuật thiếu vắng người dẫn đường, vắng bóng người định hướng, nghệ thuật thành thứ “cỏ mọc hoang“. Hình ảnh so sánh “cỏ mọc hoang “gợi sức sống mãnh liệt và hoang dại của nghệ thuật chân chính như loài cỏ mọc hoang không gì có thể ngăn nổi chúng. Bởi có gì nhiều bằng cỏ? Có gì xanh bằng cỏ? Có gì mãnh liệt bằng cỏ trên mặt đất bao la? Đây chính là sự bất tử, sự vĩnh hằng của nghệ thuật. Dù Lor-ca hi sinh nhưng sản phẩm tinh thần mà ông để lại đó chính là tâm hồn mình, nghệ thuật của mình. Những bài ca tranh đấu của Lorca vẫn đồng hành cùng thời gian và đi cùng năm tháng thăng trầm của lịch sử và nó mãi mãi được hát vang trong lòng của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới.

Tác phẩm nghệ thuật là con đẻ của người nghệ sỹ nhưng khi nghệ sỹ đã trao nó cho công chúng thì sự sống chết mất còn là do sức sống của chính tác phẩm quyết định. Nhiều khi trái tim nghệ sỹ đã ngừng đập nhưng nghệ thuật của họ vẫn tồn tại có khi vĩnh hằng (chỉ riêng nghệ thuật có thể đứng ngoài cái chết – Sê đư rin).

Tuy nhiên, đỉnh điểm của lời ca ngợi vẫn là hai câu thơ:

                                                giọt nước mắt vầng trăng

                                                long lanh trong đáy giếng     

Câu thơ viết theo lối sắp đặt- bị lược bỏ những quan hệ từ làm cho bạn đọc tha hồ liên tưởng, sáng tạo cùng tác giả. Nước mắt biểu tượng cho tình thương, cho sự tri âm. Vầng trăng biểu tượng cho nghệ thuật (của Lorca). Hai câu thơ khẳng định quân thù dù quẳng xác Lorca xuống giếng để phi tang nhưng tình yêu và cái đẹp trong thơ Lorca đã kết thành thứ ánh sáng kì ảo vĩnh hằng trong tâm hồn các thế hệ sau. Không chỉ bất tử, tiếng đàn của chàng ca sĩ hát rong còn mang vẻ đẹp của giọt nước mắt vầng trăng. Một hình ảnh mang nhiều liên tưởng gợi nhiều thi vị. Phải chăng đó chính là vẻ đẹp của nghệ thuật được kết tinh từ những giọt mồ hôi, từ máu và nước mắt của sự lao động nghệ thuật chân chính qua bao thời gian công sức đã nhào nặn thành viên ngọc lấp lánh mang hình hài của giọt nước mắt vầng trăng tinh khiết. Hay đó chính là vẻ đẹp của cuộc đời Lorca đã hóa thân thành viên ngọc quý lung linh tỏa sáng giữa đời. Bất ngờ thay, nơi đáy giếng tối tăm và lạnh lẽo, nơi mà bọn phát xít ngỡ tưởng đã vùi lấp được linh hồn và thể xác của người công dân Lorca, lại là nơi tỏa sáng tâm hồn anh. Hình ảnh thơ đẹp và buồn được viết theo lối tượng trưng nhằm bày nỗi xót thương cái chết của một thiên tài và nỗi xót tiếc hành trình cách tân nghệ thuật dang dở không chỉ với bản thân Lor-ca mà còn với nền văn chương Tây Ban Nha. Lời thơ bộc lộ niềm trân trọng và niềm tin bất tử, bất diệt vào tiếng đàn Lor-ca.

Những câu thơ còn lại tiếp tục là những suy tư của nhà thơ Thanh Thảo về cái chết, cuộc giã từ của Lor-ca:

đường chỉ tay đã đứt
……………………………

li-la li-la li-la…

 Đường chỉ tay đã đứt như biểu tượng cho thái độ chấp nhận định mệnh như một quy luật phũ phàng. Định mệnh hữu hạn đặt dấu chấm hết cho số phận một con người. Dòng sông rộng vô cùng là biểu tượng cho dòng sông số phận cũng là ranh giới giữa cuộc sống và cái chết, dòng sông vô hạn của thực tại và hư vô. Chiếc ghi ta màu bạc là biểu tượng cho cái đẹp của nghệ thuật. Nó trở thành con thuyền chở Lorca sang ngang đi vào cõi siêu sinh bất tử. Màu bạc của đàn ghi ta hư ảo một màu huyền thoại nhưng cũng có thể thấy sắc bạc ấy như sáng lên, ánh lên long lanh, lấp lánh của khát vọng tự do, những cách tân nghệ thuật mà Lor-ca một thời theo đuổi. Chàng nghệ sĩ ấy đã bỏ lại cuộc đời, ném lại tình yêu và số phận mình vào xoáy nước của cuộc đời đầy máu và nước mắt để ra đi. Ở giữa ranh giới giữa sự sống và cái chết, giữa thực tại và siêu thoát, Lor-ca đã giã từ cuộc đời. Tác giả đã thể hiện Lor-ca với hai hành động: ném lá bùa cô gái Di-gan ném trái tim mình. Hai hành động này đã mở ra những cảm nghĩ về Lor-ca từ rất nhiều bình diện. Lor-ca đã hiện diện bằng trái tim đầy tình thương yêu nhưng mặt khác ta cũng thấy Lor-ca không còn nuối tiếc cái lá bùa hộ mệnh vào xoáy nước. Hành động ấy còn mang ý nghĩa tượng trưng: Lor-ca đã biểu hiện thái độ hoàn toàn chủ động trước cái chết. Lor-ca không chỉ thắng được bọn phát xít mà còn chiến thắng cả định mệnh.

Chuỗi âm thanh kết thúc bài thơ li-la li-la li-la là sự giao thoa giữa thanh âm và thi ảnh. Nó không chỉ gợi một cú vê ghi ta vang vọng sau khi lời ca đã ngừng mà còn gợi hoa Tử đinh hương- loài hoa có màu tím ngắt được người phương Tây ưa chuộng. Chuỗi âm thanh liên tiếp gợi hình ảnh những đoá hoa Tử đinh hương với những bông nở liên tiếp. Đó là hoa của Thanh Thảo, hoa của người đời dâng trước tượng đài Lorca, hay đó là những đoá hoa thể hiện sự sống đang nảy nở từ cái chết đau thương của nhà thi sĩ hay là những đoá hoa thể hiện sự sống bất diệt của nghệ thuật Lorca.

Kết bài : Tóm lại, đoạn thơ đã thể hiện khá rõ nét kiểu tư duy thơ của Thanh Thảo: giàu suy tư, mãnh liệt và phóng túng trong cảm xúc, âm điệu thơ luôn biến hoá, hình tượng thơ “mờ nhoè” trộn lẫn giữa thực và mộng (nhuốm màu sắc siêu thực) tạo thành một cấu trúc có tính mời gọi trái tim độc giả. Qua đó, nhà thơ khẳng định sự bất tử trong tiếng đàn nghệ thuật của Lor-ca, đồng thời thể hiện niềm ngưỡng mộ và đồng cảm sâu sắc, là nỗi đau vô hạn trước số phận bi thảm của nhà thơ .

(Tài liệu sưu tầm )

Xem thêm tuyển tập đề thi và những bài văn hay về tác phẩm Đàn ghi ta của lor ca: Đàn ghi ta của lor ca

Đàn Ghi ta của Lor-ca Thanh Thảo

Kiến thức cơ bản cần nắm vững, Hướng dẫn cách ôn tập , tổng hợp những dạng đề xoay quanh bài Đàn ghi ta của Lorca

ĐÀN GHI TA CỦA LOR-CA

I/ KIẾN THỨC CƠ BẢN

_ Thanh Thảo là đại diện tiêu biểu của thế hệ nhà thơ thời kì chống Mĩ .

_ Thơ Thanh Thảo là tiếng nói của người trí thức, người suy tư , trăn trở về các vấn đề của xh và thời đại. Đặc biệt thơ ông thường khai thác cái tôi nội cảm và tìm những cách diễn đạt mới qua hình thức thơ tự do.

_ “Đàn ghita của Lor-ca” thể hiện sự khâm phục, nguỡng mộ, một khúc tri âm của Thanh Thảo đối với nghệ sĩ Lor-ca – người đại diện cho tinh thần tự do và khát vọng cách tân nghệ thụât của Tây Ban Nha.

II/ NỘI DUNG

1/ Hình tượng Lor-ca (1898-1936 )

_ Lorca nhà thơ tiêu biểu của TBN ở thế kỉ XIX . Trước một đất nước TBN bị cai trị theo kiểu độc tài về chính trị và sự già cỗi về nghệ thuật, Lor-ca vừa cổ vũ nhân dân đấu tranh đòi quyền sống chính đáng ,vừa khởi xướng, thúc đẩy cách tân trong nghệ thuật

_ Hỏang sợ trước sự ảnh hưởng xã hộ to lớn của ông, năm 1936, bọn phát xít bắt giam và bắn chết ông . Cái chết ấy đã dấy lên một làn sóng phẫn nộ, tên tuổi ông trở thành 1 biểu tượng của văn hóa TBN và thế giới chống phát xít.

2/ Phân tích thơ:

6 câu đầu: Hình ảnh Lorca: Con người đấu tranh cho tự do, người nghệ sĩ cách tân trong khung cảnh chính trị và nghệ thuật TBN

_ Hình ảnh Lorca xuất hiện trong tiếng đàn đầy ám ảnh:

“ Những tiếng đàn bọt nước

                  ……..mỏi mòn”

_ Những hình ảnh trong đoạn thơ giúp chúng ta hình dung ra không khí thờì Lorca sống. Lúc này TBN bị cai trị bởi chính quyền độc tài, nền nghệ thuật còn xưa cũ. Muốn thay đổi những điều đó Lorca đã đấu tranh đổi mới:

+ “Tiếng đàn bọt nước” là thân phận bọt bèo ngắn ngủi , là bi kịch người  nghệ sĩ Lorca

+ “ Áo choàng đỏ gắt” gợi khát vọng đấu tranh và khung cảnh đấu trường của chàng kỵ sĩ cô đơn. Đó cũng là đấu trường của người chiến sĩ Lor-ca đối đầu với chính quyền , của người nghệ sĩ Lor-ca có khát vọng cách tân đối đầu với nền nghệ thuật lạc hậu.

+ Những hình dung từ “ chếnh chóang” , “ mỏi mòn” , “ đơn độc” , gợi nhớ hình ảnh Lor-ca cô đơn trong cuộc đấu tranh ấy. Phải chăng đây cũng là bi kịch của những người chiến sĩ tiên phong?

+ Âm thanh “ li-la li-la li-la” của tiếng đàn ghi ta làm nổi bật người nghệ sĩ hát rong Lor-ca – người đã dùng tiếng đàn để giãy bày khát vọng yêu thương nhân dân mình.

=> Đây là những hình ảnh tượng trưng, siêu thực, giàu biểu tượng, thể hiện phép tương giao,  nhất là lối sắp đặt trường phái nghệ thuật tượng trưng . Nó gợi sự tương phản giữa âm thanh nhỏ bé và màu sắc gay gắt; giữa tiếng đàn nghệ sĩ với áo chòang đấu sĩ; giữa nghệ thuật và bạo lực; giữa số phận con người với hiện thực dữ dội.

16 câu tíếp theo: Lor-ca bị sát hại và sự dang dở của khát vọng cách tân nghệ thuật của Lor-ca vì không ai kế tụ.c

_ Đây là những dòng tự sự làm cái chết của Lor-ca hiện rõ

                                    “ Tây Ban Nha….

                                       ……mộng du”

+ Các hình ảnh đối lập “ TBN – hát nghêu ngao” , “ bỗng kinh hoàng áo chòang bê bết đỏ” gợi sự thương tâm, bi tráng, phủ phàng : cái chết đến quá bất ngờ với Lor-ca . Tiếng hát ngợi ca cái đẹp bị vùi dập không thương tiếc

+ Dù luôn bị ám ảnh bởi cái chết của mình, nhưng Lor-ca không nghĩ nó lại đến sớm như vậy – đến vào lúc chàng không ngờ nhất.  Cho nên, khi “ bị điệu về bãi bắn – chàng đi như người mộng du”

_ Tiếp theo. cái chết của Lor-ca được diễn tả qua những yếu tố tương phản đậm màu sắc siêu thực : âm thanh , màu sắc, hình khối, dòng máu chảy:

Tiếng ghita nâu

                                         ….. máu chảy

+ Tiếng đàn ghi ta được lặp lại vừa diễn tả cảm xúc mãnh liệt, đa chiều trong thơ của ông, vừa khẳng định sự phong phú về nội dung của thơ Lor-ca: “ tiếng ghi ta nâu” trầm tĩnh nghĩ suy; “ tiếng ghi ta lá xanh biết mấy”  thiết tha, hi vọng; “ tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan” bàng hòang, sửng sốt, tức tưởi; “tiếng ghita ròng ròng máu chảy” đau đớn nghẹn ngào.

+ Trong tiếng đàn ghi ta, nỗi đau, tình yêu, cái chết và sự bất tử hòa vào nhau thành giai điệu bi thương

_ Từ sự đồng cảm , tri ân với khát vọng và bi kịch của người nghệ sĩ , Thanh Thảo nói lên những suy tưởng sâu xa về số phận của nghệ thuật

“ Không ai chôn cất tiếng đàn

                                         …………….đáy giếng”

+ Tác giả ngầm hướng người đọc hiểu bài thơ bằng việc đưa di chúc của Lor-ca ở lời đề từ “ khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn” . Nó có những nét nghĩa: tình yêu say đắm của Lor-ca với nghệ thuật; tình yêu tha thiết của tác giả đối với xứ sở TBN; nhà cách tân Lor-ca biết một ngày nào đó thơ ca của mình sẽ cản trở những người đến sau trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật . Do đó, ông dặn phải dũng cảm chôn nghệ thuật của ông đi để làm nên cái mới . Đó là đạo đức của người nghệ sĩ lớn

+ Câu thơ “ không ai chôn cất tiếng đàn – Tiếng đàn như cỏ mọc hoang” gợi lên nhiều suy tưởng: Sự bất tử của nghệ thuật, dù bọn phản động có thể giết Lor-ca nhưng ko thể hủy diệt tiếng đàn của ông. Nó vẫn sống, phát triển mạnh mẽ như môt thứ “ cỏ mọc hoang”. Là nỗi xót thương cái chết của 1 thiên tài. Sự tiếc nuối hành trình cách tân dang dở của Lor-ca, cũng tiếc nuối cho nền văn chương TBN vì nhà cách tân đã chết, nghệ thuật thiếu người dẫn dắt nên nó trở thành “cỏ mọc hoang”.

+ Hình ảnh đẹp mà buồn “ giọt nước mắt vầng trăng long lanh đáy giếng” cũng tạo nên những liên tưởng đa chiều; Đó có thể là lời ngợi ca : cái đẹp của thơ Lor-ca long lanh như ánh sáng vầng trăng sẽ tồn tại mãi. Đó cũng là sự thương xót ,tri âm của Thanh Thảo ( nước mắt ) trước vầng trăng nghệ thuật rất đẹp của Lor-ca

9 dòng cuối : Nghĩ về cuộc giải thóat , tác giả giã từ Lor-ca và sức sống của nghệ thuật

_ Dự cảm về cái chết của mình, Lor-ca đau đớn chấp nhận số phận:

                                       “ Đường chỉ tay đã đứt

                                          …….li- la li-la li-la…..

+ “Đường chỉ tay đã đứt » biểu tượng cho số phận ngắn ngủi , định mệnh đã đặt dấu chấm hết trên đường đời của một con người tài hoa.

+ “Dòng sông rộng vô cùng” là biểu tượng cho dòng sông số phận và cũng là ranh giới giữa sự sống và cái chết.

_ Nhà cách tân chết khi sự sáng tạo đổi mới không ai tiếp bước. Nhưng còn đau đớn hơn khi tên tuổi và sự nghiệp của anh ta trở thành một vật cản cho sự sáng tạo của các thế hệ sau. Cho nên, Lor-ca giã từ, giải thoát cho người ta khỏi cái bóng của mình bằng cách :

Lor-ca bơi sang ngang

                                         Trên chiếc ghita màu bạc

_ Chàng giã từ cách quyết liệt :

Chàng ném lá bùa cô gái Di-gan

                                                            ……bất chợt

Các hành động “ ném lá bùa” , “ ném trái tim” mang ý nghĩa tượng trưng cho sự giã từ giải thóat , chia tay thực sự với những ràng buộc, những hệ lụy của trần gian.

_ Chuỗi âm thanh “ li-la li-la li-la” kết thúc bài thơ tạo cho nó có cấu trúc như một bản giao hưởng , gợi sự hồi sinh của Lor-ca trong giai điệu bất tử của xứ sở TBN . Tiếng đàn , nghệ thuật , tình yêu và khát vọng tự do của Lor-ca tồn tại mãi mãi.

3/ KẾT LUẬN

_ Bài thơ “ Đàn ghita của Lor-ca” bộc lộ nỗi đau xót sâu sắc trước cái chết bi thảm của Lor-ca. Đồng thời Thanh Thảo thể hiện niềm tin mãnh liệt vào sự bất tử của tên tuổi và sự nghiệp của Lor-ca

_ Hình tượng Lor-ca được biểu đạt bằng hình thức độc đáo: cấu tứ hài hòa giữa thơ và nhạc, hình ảnh phong phú và đa dạng, ngôn từ mới mẻ, gợi cảm.

(Bài viết sưu tầm)

Xem thêm : Kiến thức cơ bản cần nắm vững, Hướng dẫn cách ôn tập , tổng hợp những dạng đề xoay quanh bài Đàn ghi ta của Lorca : http://vanhay.edu.vn/tag/dan-ghi-ta-cua-lor-ca

Đề thi về Hình tượng tiếng đàn trong bài đàn Ghi ta của Lor ca ( Thanh Thảo)

Ôn thi THPT Quốc gia môn văn. Hướng dẫn ôn tập bài Đàn Ghi ta của Lor ca ( Thanh Thảo).

Đề bài:

Cảm nhận về hình tượng tiếng đàn trong bài thơ Đàn ghi ta của Lorca của Thanh Thảo. Từ đó, trình bày suy nghĩ của anh/chị về sức sống bất diệt của nghệ thuật chân chính.

Đáp án :

 Giới thiệu tác giả Thanh Thảo, bài thơ

Giói thiệu  vấn đề: Ý nghĩa của hình tượng tiếng đàn trong bài thơ Đàn ghi ta của Lorca của Thanh Thảo và suy nghĩ về sức sống bất diệt của nghệ thuật chân chính.

Mở bài tham khảo :

Trên thế gian này, vạn vật đếu sợ thời gian bời nó có sức mạnh ghê gớm. Nó tàn phá và huỷ diệt tất cả những trên đường đi của mình. Bụi thời gian sẽ xoá mờ bao kỉ niệm và đẩy tất cả vào quên lãng. Thế nhưng, thời gian lại phải lùi bước và nghiêng mình trước những giá trị nghệ thuật đích thực. Thời gian càng lùi xa, thì giá trị những tác phẩm ấy càng được khẳng định……….. (dẫn dắt tiếp vào vấn đề nghị luận )

Thân bài :

* Cảm nhận về hình tượng tiếng đàn

– Bao trùm tác phẩm là âm thanh của tiếng ghi-ta. Tiếng đàn là hình tượng xuyên suốt bài thơ, là một biểu tượng đa nghĩa.

– Tiếng đàn là biểu tượng cho đất nước Tây Ban Nha cùng với hình ảnh áo choàng đỏ. Tiếng đàn ghi-ta góp phần khẳng định và ca ngợi vẻ đẹp nổi bật của con người và đất nước Tây Ban Nha: phóng khoáng, sôi nổi, giàu nhiệt huyết, yêu tự do và lãng mạn.

– Tiếng đàn gắn liền với hình ảnh Lorca, thể hiện vẻ đẹp tâm hồn và cuộc đời người nghệ sĩ. Tiếng đàn nói lên tình cảm gắn bó với quê hương đất nước (tiếng ghi ta nâu). Tiếng đàn gửi gắm tình yêu của thi sĩ dành cho cô gái ấy. Tiếng đàn vỡ tan gợi lên số phận mong manh của người nghệ sĩ. Tiếng đàn gắn liền với Lorca ở những giây phút ngắn ngủi cuối cùng của cuộc đời (tiếng ghi ta ròng ròng máu chảy).

– Tiếng đàn tượng trưng cho sự bất tử của người nghệ sĩ chân chính, của nghệ thuật chân chính (tiếng đàn như cỏ mọc hoang).

– Hình tượng tiếng đàn với nhiều tầng nghĩa đã liên kết các khổ thơ, khơi gợi mạch cảm xúc dạt dào của tác giả. Đây cũng là hình tượng thơ được sáng tác theo phong cách tượng trưng, siêu thực, góp phần làm nên thành công đặc biệt của bài thơ.

Nghệ thuật: Lối thơ không viết hoa đầu dòng tạo mạch thơ liên tục, hình ảnh tượng trưng, siêu thực, hình tượng sáng tạo…

* Suy nghĩ về sức sống bất diệt của nghệ thuật chân chính

– Nghệ thuật chân chính là sự kết tinh và thăng hoa của tài năng và tâm hồn người nghệ sĩ. Đó cũng chính là sự phản ánh cái đẹp cao cả nói chung của cuộc đời.

– Nghệ thuật chân chính luôn có sức sống kì diệu và bất tử, người nghệ sĩ không thể sống mãi với thời gian nhưng những giá trị tinh thần đích thực mà họ để lại luôn được đông đảo nhân dân ngưỡng mộ và gìn giữ, lưu truyền đến muôn đời.

– Nghệ thuật chân chính mang những giá trị chân, thiện, mĩ đến cho cuộc đời. Nó khẳng định một chân lí của nghệ thuật: dù ở thời đại nào, ở quốc gia nào, trong hoàn cảnh nào con người vẫn sẽ luôn tôn sùng nghệ thuật chân chính.

Kết bài :

Thật khó để có thể tiếp nhận những tác phẩm theo trường phái trừu tượng như bài thơ Đàn ghita của Lorca. Mỗi người đọc lại liên tưởng và cảm nhận bài thơ theo một chiều hướng khác nhau. Quả thật đây là một tác phẩm nghệ thuật đích thực bởi lẽ nó không chấm hết ở dòng cuối cùng mà lại mở ra cho ta những suy tưởng về cuộc đời…Hình tượng tiếng đàn tượng trưng cho sức sống bất diệt của nghệ thuật trong cuộc sống.

Xem thêm tuyển tập đề thi về bài Đàn ghi ta của Lorca của Thanh Thảo : http://vanhay.edu.vn/tag/dan-ghi-ta-cua-lor-ca

Ôn tập bài Đàn ghi ta của Lor-ca, Thanh Thảo ( Full )

Tài liệu ôn thi THPT Quốc gia môn văn. Bộ đề luyện thi về tác phẩm Đàn ghi ta của Lorca- Thanh Thảo

ĐÀN GHI TA CỦA LORCA

Thanh Thảo

KHÁI QUÁT VỀ TÁC GIẢ – TÁC PHẨM

Nhà thơ Thanh Thảo

Là nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Ông không chỉ làm thơ mà còn viết báo, tiểu luận phê bình và nhiều thể loại khác nhưng đóng góp quan trọng nhất của Thanh Thảo thơ ca.

Một trí thức nhiều suy tư, trăn trở về các vấn đề xã hội và thời đại: Muốn cuộc sống được cảm nhận và thể hiện ở chiều sâu nên luôn khước từ lối biểu đạt dễ dãi; đào sâu vào cái Tôi nội cảm, tìm kiếm những cách biểu đạt mới qua hình thức câu thơ tự do, giải phóng mọi ràng buộc nhằm mở đường cho một cơ chế liên tưởng phóng khoáng, xoá những khuôn sáo bằng những nhịp điệu bất thường, đem đến cho thơ một mĩ cảm hiện đại bằng hệ thống hình ảnh và ngôn từ mới mẻ.

Kiểu tư duy: giàu suy tư, mãnh liệt, phóng túng trong xúc cảm và nhuốm màu sắc tượng trưng siêu thực.

+ Tượng trưng: tìm vào trạng thái tâm hồn với những linh cảm được khơi dậy từ vô thức, cho rằng hiện tượng trong vũ trụ tồn tại như những dấu hiệu tượng trưng cho bản chất huyền bí của tạo vật mà chỉ riêng nhà thơ mới có những thiên bẩm kì diệu để thâm nhập và biểu đạt được những hình ảnh tượng trưng ấy. Thơ là một thứ “siêu cảm giác”, không thể giải thích được. Không cần có hình tượng rõ nét, thơ được quan niệm như một bản hoà âm hoàn hảo. Dường như có nét tương đồng giữa sinh sôi của tạo hoá với sự sáng tạo thơ ca.

+ Siêu thực: Hướng tới một hiện thực cao hơn thực tại. Thế giới siêu thực chỉ có thểcảm thấy trong giấc mơ, trong tiềm thức, lúc đãng trí, thần kinh suy nhược, rối loạn. Khám phá thế giới ấy, nghệ sĩ sẽ phát hiện ra những điều sâu kín mà thiêng liêng, bí ẩn mà chính xác trong cuộc sống con người. Đề cao yếu tố tâm linh và sự ngẫu hứng, sáng tác thường được cấu thành bởi những dòng liên tưởng tiềm thức rời rạc, không thể khắc hoạ được những bức tranh thực tại toàn vẹn.

Phêđêricô Gaxia Lorca (1898-1936)

Là một trong những tài năng sáng chói của văn học hiện đại Tây Ban Nha. Ngay từ nhỏ Lorca là một thần đồng với năng khiếu thiên bẩm trên nhiều lĩnh vực nghệ thuật: thơ ca, hội hoạ, âm nhạc, sân khấu,… Lorca từng tốt nghiệp đại học Luật nhưng lại tham gia vào đời sống nghệ thuật.

Trước một Tây Ban Nha – dưới sự cai trị của chế độ độc tài- đã trở nên phản động về chính trị và già cỗi về nghệ thuật, Lorca đã nồng nhiệt cổ vũ nhân dân đấu tranh với mọi thế lực áp chế, đòi quyền sống chính đáng đồng thời cũng khởi xướng và thúc dẩy mạnh mẽ những cách tân trong lĩnh vực nghệ thuật. Lorca đã tự nguyện làm người du ca đi lang thang với cây đàn ghita hát lên những bài ca lãng tử, dùng tiếng đàn giãi bày nôĩ đau buồn và niềm khát vọng yêu thương của nhân dân.

Ông đã bị chế độ phản động cực quyền thân phát xít bắt giam và bắn chết. Cái chết thảm khốc của Lorca đã dâng lên một làn sóng phẫn nộ hết sức mạnh mẽ trên thế giới với bè lũ Phrăngcô. Tên tuổi của Lorca trở thành biểu tượng chống chủ nghĩa phát xít, bảo vệ văn hoá dân tộc và văn minh nhân loại.

Bài thơ “Đàn ghita của Lorca”

Được viết liền mạch trong khoảng thời gian rất ngắn, sau khi ngồi chơi và đàm đạo về thơ Lorca với những người bạn tâm đắc ^ kết quả của ấn tượng và nhận thức sâu sắc của Lorca.

LORCA là nhà thơ mà Thanh Thảo rất ngưỡng mộ. Cả thơ ca, cuộc đời và cái chết của Lorca đã gây cho tác giả những xúc cảm và ấn tượng. Chính những hình ảnh và nhạc điệu trong nhiều bài thơ của Lorca đã dẫn dắt Thanh Thảo khi viết “Đàn ghita của Lorcaorca” ^ Kết quả của cuộc gặp gỡ về cảm xúc, giọng điệu và hình ảnh (sự gặp gỡ của hồn thơ)

Thanh Thảo từng được biết đến Tây Ban Nha qua những tác phẩm của Hemingway- một nhà văn Mĩ, lại đọc thơ Lorca từ khi còn trẻ, hình ảnh Tây Ban Nha và hình ảnh trong những câu thơ Lorca đã lặn sâu vào tâm trí và trở thành một ám ảnh để khi viết bài thơ, nó bật ra một cách hoàn toàn tự nhiên ^ kết quả sự thăng hoa của vô thức và ám ảnh về con người, cuộc đời và thơ Lorcaorca- một con hoạ mi Tây Ban Nha.

Bài thơ được viết như một khúc tưởng niệm Lorca, làm sống dậy hình ảnh Lorca và thể hiện sự tri âm, đồng cảm và ngưỡng vọng một người nghệ sĩ tài hoa có cốt cách anh hùng và số phận bi thương.

TÌM HIỂU CHI TIẾT

  1. Nhan đề và đề từ:

Đàn ghita – còn gọi là Tây Ban cầm- gắn liền với đất nước Tây Ban Nha xinh đẹp và hào phóng, rực lửa và mê đắm với những trận đấu bò và vũ điệu Flamencô, cùng gắn liền với Phêđêricô Gaxia Lorca- một nhà thơ nhân dân, một người chiến sĩ cống phát xít- một ngườinghệ sĩ đã dùng tiếng đàn ghita cất lên lời ca tranh đấu chống chủ nghĩa phát xít vừa gắn với nền văn hoá Tây Ban Nha vừa gắn với cuộc đời và khát vọng LORCA.

“Đàn ghita của Lorca”: tiếng nói nghệ thuật của riêng LORCA- không thuần tuý chỉ là âm thanh, giai đỉệu mà còn là toàn bộ con người LORCA với tinh thần đấu tranh vàd khát vọng đổi mới nghệ thuật. Trong trường hợp này, cây đàn ghita đã gắn bó và biểu hiện tâm hồn nghệ sĩ của Lorca – tình yêu cuộc sống và khí phách kiên cường của người chiến sĩ yêu tự do, hoà nhập trái tim mình với quần chúng nhân dân.

Câu thơ của Lorca “Nếu tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn”: ước nguyện của Lorca gắn với cây đàn. Trong cuộc sống, Lorca đã dùng cây đàn ghita cất lên lời ca tranh đấu thì khi đi vào cõi chết, ông vẫn muốn mang theo cây đàn để tiếp tục hát lên những lời ca tranh đấu thì khi đi vào cõi chết, ông vẫn muốn mang theo cây đàn để tiếp tục hát lên những bài ca của tình yêu và khát vọng tự do. Tiếng đàn ghita sẽ là sự sống, là niềm tin, là hi vọng, là sức mạnh đấu tranh vượt lên cái chết. Nếu hiểu câu nói đó theo nghĩa tình yêu say đắm của Lorca với nghệ thuật; tình yêu tha thiết của ông với xứ sở Tây Ban Nha thì chưa đủ. Sử dụng câu thơ này làm đề từ, Thanh Thảo có lẽ muốn đây là chìa khoá hướng người đọc đến thông điệp sâu xa. Lời đề từ không chỉ khẳng định rằng Lorca sẽ bất tử cùng với tiếng đàn, cây đàn sẽ kéo dài sự sống, nốí dài khát vọng của Lorca mà còn nói đến ước nguyện của Lorca: nhà thơ không muốn thơ ca cách tân của mình trở thành vật án ngữ trong sáng tạo của thế hệ sau. Nghệ thuật phải được đổi mới không ngừng. Người cầm bút phải biết chôn những gì Lorca đã làm – chôn không có nghĩa là phủ nhận mà phải biết nối tiếp, nhân lên. Nhưng thơ ca Tây Ban Nha có lẽ vì quá ngưỡng mộ Lorca nên chưa ai biết vượt qua Lorca. Vì vậy, chẳng phải ngẫu hứng mà Thanh Thảo viết:

 Không   ai chôn cất tiếng đàn

Tiếng đàn như cỏ mọc hoang.

Nhà thơ xót tiếc hành trình cách tân của một thiên tài bị dang dở, Lorca mất đi, văn chương thiếu người dẫn đường. Nỗi buồn dường như thấm vào tâm tư người nghệ sĩ phương đông vì nỗi không ai hiểu thực sự, sâu sắc lời di chúc của Lorca.

2. Hình tượng tiếng đàn

Trong văn chương: Được gợi ra qua cách so sánh với những âm thanh khác (tiếng hạc, tiếng suối, tiếng gió thoảng ngoài, tiếng trời đổ mưa, tiếng ngọc gieo trên mâm vàng, tiếng gươm đao xô sát…); Được liên tưởng với các hiện tượng thiên nhiên như ánh sáng, nước mắt (“mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân”- Nguyệt cầm của Xuân Diệu). Trong bài “Đàn ghita của Lorca”: Thanh Thảo không trực tiếp miêu tả âm thanh tiếng đàn mà tập trung miêu tả một thế giới của tưởng tượng và cảm xúc mà tiếng đàn ấy gợi lên. Dường như trong quan niệm của Thanh Thảo, tiếng đàn là âm thanh tiếng lòng của Lorca, phản chiếu cuộc sống và tâm hồn của Lorca.

Nói về tiếng đàn nhưng nhà thơ Thanh Thảo dùng những từ không miêu tả trực tiếp âm thanh “nâu”, “tròn”, “vỡ tan” và bằng những hình ảnh thoạt nhìn không có mối liên hệ gì với nhau “bọt nước”, “bầu trời cô gái ấy”, “lá xanh biết mấy”, “bọt nước vỡ tan”, “ròng ròng máu chảy”, “cỏ mọc hoang” tạo nên sự giao thoa lạ lùng mà đầy gợi cảm giữa âm thanh và hình ảnh.

Là “Đàn ghita của Lorca”, lẽ đương nhiên có thể hiểu tiếng đàn ở đây là âm thanh, là giai điệu, là sự ngân rung của tâm hồn tràn đầy cảm xúc của Lorca với tư cách một chiến sĩ đấu tranh cho tự do và một nghệ sĩ thiết tha với cuộc sống.

Hệ thống hình ảnh mà Thanh Thảo sử dụng để gợi ra tiếng đàn ghita của Lorca là những hình ảnh có khả năng gợi mở một bức tranh cuộc sống muôn màu muôn vẻ mà cũng có sức ám ảnh lạ lùng.”

+ “bọt nước”: trong tự nhiên, bọt nước tạo thành do tác động từ bên ngoài vào mặt nước, do sự xô đẩy của những lớp sóng hoặc do những vận động ở tầng sâu đáy nước- nó có thể xuất hiện liên tục song cũng là sự tồn tại mong manh ngắn ngủi. Đó là một hình ảnh thị giác gợi cái hữu hạn mong manh, cái phù du trôi nổi. Cũng như âm thanh tiếng đàn, ở ý nghĩa vật chất, là cái tồn tại trong một khoảng hữu hạn của thời gian, vang lên rồi tắt. Cũng như đời người, hiện diện rồi tan biến mất. Đây là liên tưởng đầu tiên về tiếng đàn của Lorca và cũng là một liên tưởng lạ lùng, độc đáo, gợi nhiều ám ảnh. Nhất là khi đặt nó trong mối quan hệ với cuộc đời của Lorca: rất ngắn ngủi (chết khi mới 38 tuổi) và rất đau thương (khi chưa hòan thành khát vọng đấu tranh và chưa đi hết con đường sáng tạo nghệ thuật, bị bắt, bắn chết rồi bị ném xác xuống giếng để phi tang). Trong liên tưởng của Thanh Thảo, hình ảnh Lorca và tiếng đàn Lorca đã nhập vào bọt nước, hiện diện thành bọt nước, mong manh và ám ảnh như bọt nước.

+ “tiếng ghita nâu / bầu trời cô gái ấy”: “nâu”có thể là màu của vỏ đàn, màu của đất đai quê hương hay màu da cô gái Lorca yêu. Song khi gắn với “bầu trời cô gái ấy” thì “tiếng ghita nâu” đã là âm vang và màu sắc của tình yêu, tiếng ghita đã chứa đựng trong nó thế giới của những rung động tình yêưu say mê đắm đuối. Lạ là ở chỗ âm thanh tiếng ghita lại mở ra một khoảng trời, một phần đời sống riêng tư với tình yêu dành cho “cô gái ấy” nghĩa là nó chứa đựng cái phần cuộc sống riêng tư mà cũng rạo rực say mê.

+ “tiếng ghita lá xanh biết mấy”: lá xanh là thiên nhiên tươi tắn, là cỏ cây với cuộc sống tự nhiên; “lá xanh biết mấy” đã là sắc xanh làm xao xuyến cả tâm hồn. “Tiếng ghita lá xanh biết mấy” là tiếng ghita mang màu xanh của sự sống và niềm thiết tha khắc khoải với sự sống.

+ “tiếng ghita tròn bọt nước vỡ tan”: “tròn” gợi sự hoàn tất, “bọt nước vỡ tan” gợi sự mất mát, kết thúc của cái sự tồn tại mong manh- khi tiếng ghita vang lên những âm thanh cuối cùng của giai điệu cuộc sống cũng là khi sự sống đột ngột chấm dứt.

+ “tiếng ghita ròng ròng máu chảy’- là sự sống ở dạng tồn tại đau thương và bi tráng nhất. Âm thanh tiếng ghita là giai điệu, là sự sống của tâm hồn. Máu chảy ròng ròng lại gợi sự hủy diệt tàn bạo và vết thương đau đớn, gợi sự sống đang bị hủy diệt tàn bạo nhất. Đây là cách liên tưởng rất bạo ( khác hẳn với kiểu liên tưởng của Nguyễn Du “Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay”- gợi ngón tay bật máu khi dạo đến khúc cao trào của bản nhạc, cũng gợi nỗi đau ứa máu của ngời chơi đàn. Vì trong sự liên tưởng của Nguyễn Du, tiếng đàn là phương tiện biểu hiện nỗi lòng, còn trong liên tưởng của Thanh Thảo, bản thân tiếng đàn là một sự sống , một sinh thể cũng bị tổn thương và “chảy máu” như chính con người). Đây cũng là một cách liên tưởng rất tự nhiên và tất yếu từ thực tế cuộc đời Lorca (bị bắn chết tàn bạo rồi ném xác xuống giếng). Song quan trọng hơn, cách liên tưởng ấy của Thanh Thảo cho thấy một quan niệm của nhà thơ về nghệ thuật: nghệ thuật (tiếng đàn của Lorca) phản ánh cuộc sống và khi hấp thụ vào mình cái phong phú của cuộc sống thì bản thân nó cũng trở thành một sinh thể có sự sống, có linh hồn.

+ “không ai chôn cất tiếng đàn/ tiếng đàn như cỏ mọc hoang”: tiếng đàn không thể chôn cất được bởi nó là môt giá trị tinh thần, sự tồn tại của nó vượt ra ngoài mọi giới hạn vật chất. về mặt cách thức, cách so sánh này nằm trong hệ thống của toàn bài (âm thanh được biểu hiện bằng hình ảnh). về mặt ý nghĩa, đây là một cách liên tưởng rất lạ lùng: “cỏ mọc hoang’ vừa gợi sức sống mãnh liệt, hoang dại, sức lan tỏa không gì ngăn cản được, vừa là chứng nhân, vừa là một tri âm với người lãng tử trong khúc du ca (thơ Lorca: “Ghi ta bần bật khóc/không thể nào/ dập tắt’). Trong trường hợp này tiếng đàn là biểu tượng cho một sức sống mãnh liệt vẫn tiếp tục. Cũng có thể hiểu đây là lời đối thoại của Thanh Thảo với Lorca. Lorca mong muốn được chôn cùng với cây đàn. Thanh Thảo không phải không đồng tình với nguyện ước ấy mà chỉ mở rộng để khẳng định rằng: Cây đàn của Lorca có thể chôn cất, thể xác Lorca có thể vùi lấp song tiếng đàn và tấm lòng của Lorca thì sẽ được trân trọng đón nhận và lưu giữ bởi tiếng đàn ấy mang trong nó một sức sống vẫy gọi để kết nối mọi cá nhân trong khát vọng vươn tới tự do và sáng tạo.Sau cùng là một triết lí về nghệ thuật mà Thanh Thảo một khẳng định: nghệ thuật nằm ngoài mọi quy luật của băng hoại, chỉ mình nó không thừa nhận cái chết

Thông qua hệ thống hình ảnh, Thanh Thảo vừa gợi ra một bức tranh cuộc sống muôn màu vẻ của người nghệ sĩ, vừa gợi được sự vận động của hiện tượng tiếng đàn trong cuộc sống từ một thực thể tồn tại ngắn ngủi, mong manh đến một thực thể hội tụ trong nó muôn sắc màu của sự sống và rồi cuối cùng trở thành một sinh thể, một sự sống có sức sống bất diệt.

Cùng với hệ thống hình ảnh, trong bài thơ có hai lần Thanh Thảo mô phỏng âm thanh tiếng đàn bằng chuỗi điệp âm “li – la li – la li – la” như một chuỗi âm buông do người đệm đàn lướt qua hàng dây- những âm thanh ngẫu hứng mà đầy xao xuyến. Hai lần chuỗi âm thanh này xuất hiện đều tạo nên những điểm nhấn làm nổi bật hình tượng tiếng đàn. Lần thứ nhất nó vang lên lãng đãng, ngân nga trong một không gian dữ dội của đấu trường chính trị và đấu trường nghệ thuật trên xứ sở Tây Ban Nha. Lần thứ hai nó vang lên như những dư âm không dứt của tiếng đàn, những dư ảnh không tan của sự sống (li-la còn gợi nhắc đến tên một loài hoa, hoa tử đinh hương) vẫn đang lặng lẽ tỏa hương. Ở vị trí mở đầu và kết thúc bài thơ, chuỗi âm thanh này góp phần hoàn tất hình tượng tiếng đàn như một sự sống mãnh liệt mà mơ hồ, kiêu bạc và lãng đãng, ngân vang da diết mà lặng lẽ để gợi mở những cảm nhận, hình dung thậm chí là những ám ảnh về một hình tượng khác- hoàn chỉnh và trọn vẹn hơn- hình tượng Lorca.

3. Hình tượng Lorca

a. Đất nước Tây Ban Nha (với không gian văn hoá đặc trưng và không khí dữ dội của những xung đột chính trị và nghệ thuật)

“Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt Tây Ban Nha bỗng kinh hoàng ”

Hình ảnh “áo choàng đỏ gắt’ gợi ra một không gian văn hoá đặc trưng của đất nước Tây Ban Nha với những trận đấu bò và chiếc áo choàng đỏ rực của đấu sĩ. Màu “đỏ gắt” trong tự nhiên là cộng hưởng của màu áo đỏ với màu nắng rực cháy trên không gian đầy cát bỏng, trong ý nghĩa biểu tượng lại gợi liên tưởng đến tính chất dữ dội của một đấu trường đặc biệt- nơi diễn ra những xung đột gay gắt giữa khát vọng dân chủ và nền chính trị độc tài, giữa khát vọng cách tân nghệ thuật với nền nghệ thuật già nua.

Từ “kinh hoàng” (hoảng hốt, ghê sợ tột độ) gợi liên tưởng đến không khí khủng bố căng thẳng dữ dội của chế độ độc tài, cũng gợi liên tưởng đến bầu không gian kinh hoàng những ấn tượng chết chóc- nhất là khi đặt bên cạnh “áo choàng bê bết đỏ ” và “tiếngghita ròng ròng máu chảy”.

Âm thanh tiếng đàn ghita (Tây Ban Nha), hình ảnh chiếc áo đấu sĩ (matactor) và hình ảnh chàng hiệp sĩ lang thang, đơn độc với “vầng trăng chếnh choáng’ và “yên ngựa mỏi mòn” gợi liên tưởng đến giấc mơ hiệp sĩ của Đôn Kihôtê, lại cũng gợi ra một ấn tượng lãng mạn, say đắm, một hình tượng đậm chất lý tưởng và chất nghệ sĩ.

b. Lorca và cuộc hành trình đơn độc:

Trong thực tế, Lorca đã khơi dậy phong trào đấu tranh chống lại chế độ độc tài phát xít và khởi xướng, thúc đầy những cách tân trong nghệ thuật. Trên lập trường chính trị, Lorca là người đi đầu khởi xướng những cách tân nên cũng không dễ dàng tìm được sự thấu hiểu và ủng hộ trong một nền nghệ thuật đã trở nên già cỗi ^ Lorca như một hiệp sĩ cô đơn trong cuộc hành trình, cô đơn như Đôn Kihôtê trong khát vọng tình yêu và trong cuộc chiến đấu chống lại quái vật và yêu ma.

Để thể hiện được thực tế đó của cuộc đời Lorca và đặc điểm đó của hình tượng Lorca, Thanh Thảo không kể một câu chuyện cụ thể và mạch lạc, cũng không xây dựng một hệ thống chi tiết tường minh và lôgic. Lối thơ tượng trưng, siêu thực khiến ngòi bút nhà thơ đầy ngẫu hứng trong lựa chọn hình ảnh. Sự thấu hiểu và ngưỡng mộ một tài năng khiến Thanh Thảo tiến đến xu hướng lý tưởng hoá để tạo nên một sự hoà nhập chuyển hoá của cá nhân Lorca và đất nước Tây Ban Nha:

Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt

li – la li – la li – la

đi lang thang về miền đơn độc

với vầng trăng chếnh choáng

trên yên ngựa mỏi mòn

Nói về Lorca song Thanh Thảo không vội nhắc đến tên Lorca, thay vào đó, danh từ “Tây Ban Nha” được dùng không chỉ một lần có tác dụng gợi cảm đặc biệt: vừa gợi hình tượng Lorca trong môi trường, không khí đặc trưng của đất nước Tây Ban Nha, vừa tạo liên tưởng đến một sự hoà nhập của Lorca trong đất nước quê hương mình. Hơn nữa, hình ảnh “áo choàng đỏ gắt’ của nền văn hoá Tây Ban Nha không thích hợp để ghép với một cái tên cụ thể. Sự kết hợp “Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt’ một mặt vẫn cho phép hiểu đó là hình ảnh của Lorca như một hiệp sĩ trên đấu trường thời đại một mặt nâng hình tượng Lorca thành một biểu tượng tráng lệ của thời đại đó.

Những từ láy “lang thang’, “đơn độc”, “chếnh choáng”, “mỏi mòn” có giá trị tạo hình biểu cảm được đúng một cách hợp lí để gợi ra một hình tượng mang đậm cốt cách Tây Ban Nha: hình tượng một hiệp sĩ cô đơn với bước chân mỏi mệt trong cuộc hành trình đơn độc song lòng vẫn đắm say mải miết theo đuổi lý tưởng vì cái đẹp, cái cao cả của đời mình – một hình ảnh không thể không gợi liên tưởng đến tinh thần hiệp sĩ và tư thế cô đơn của Đôn Kihôtê – một hình tượng văn học của đất nước Tây Ban Nha.

+“lang thang”- nay đây, mai đó, không dừng lại ở một nơi nào, không bó buộc trong một không gian nào- cốt cách tự do và hình ảnh người nghệ sĩ tự nguyện làm người du ca đi lang thang với cây đàn ghita hát lên bài ca lãng tử, dùng tiếng đàn giãi bày nỗi buồn đau và khát vọng yêu thương của nhân dân.

+ “đơn độc”- một mình, không có ai bên cạnh- hình ảnh của Lorca trong cuộc đấu tranh chính trị và khát vọng cách tân nghệ thuật, cũng gợi tư thế của một hiệp sĩ với lí tưởng cao cả đẹp đẽ mà không phải ai cũng có thể thấu hiểu và ủng hộ.

+ “chếnh choáng’- cảm giác của người đang say- say với cái đẹp và say với lí tưởng của mình dù cái đẹp ấy, lí tưởng ấy không được thực tại đón nhận và trân trọng.

+ “mỏi mòn”- trạng thái hao sút dần về sức lực, thể chất- hình ảnh con người đã mệt mỏi, đã bị vắt kiệt sức lực trong cuộc hành trình đơn độc của mình.

Bản thân các từ láy rất giàu giá trị biểu cảm, khi đặt trong các kết hợp đã tạo nên những hình ảnh vừa chân thực, vừa thi vị vừa cụ thể vừa có sức khái quát để tạo những ấn tượng đầy lãng mạn.

+ “đi lang thang’ là bước chân của người nghệ sĩ với khúc du ca, “miền đơn độc” lại là một không gian trống trải quạnh vắng không sao tìm được ai cùng đi bên mình để có được một chút ấm áp ^ cuộc hành trình đơn độc của một hiệp sĩ- nghệ sĩ cô đơn.

+ “vầng trăng chếnh choáng’ là sự say đắm của vầng trăng hay của con người với vầng trăng; “vầng trăng” là hiện thân của cái đẹp. Con người nghệ sĩ say đắm với cái đẹp là điều bình thường. Nhưng ngay cả cái đẹp cũng bị quyến rũ, bị cuốn hút theo những khát vọng và cảm xúccủa nghệ sĩ mới thật là điều kì lạ, độc đáo. Nó chứng tỏ cảm xúc ấy phải thật sâu sắc và khát vọng ấy phải thật mãnh liệt, thật cao cả.

+ “yên ngựa mỏi mòn”- những bước chân ngựa nặng nề mệt mỏi cùng với dáng vẻ mệt mỏi của con người trên yên ngựa- mệt mỏi vì đã phải đi một chặng đường xa mà cái đích vẫn xa vời, mệt mỏi và một mình đơn độc.

Khi kết hợp lại tất cả các yếu tố ngôn ngữ trong đoạn thơ, ta có một nét phác đầu tiên khá chân thực, chính xác và vô cùng gợi cảm về Lorca: “áo choàng đỏ gắt cùng với âm thanh tiếng đàn li – la li – la li – la đi lang thang về miền đơn độc với vầng trăng chếnh choáng trên yên ngựa mỏi mòn” gợi một liên tưởng thú vị: con người nghệ sĩ đã đồng hành cùng vầng trăng chếnh choáng, song thật khó để xác định xem con người đang chếnh choáng trên yên ngựa mỏi mòn hay chính vầng trăng kia đang chếnh choáng trên yên ngựa. Có lẽ là cả hai. Từ đó, ta có thể hình dung ra hình tượng của một chàng lãng tử với cuộc hành trình về miền xa thẳm. Chàng lãng tử ấy mang trong tâm hồn mình cả cuộc sống dữ dội và giấc mơ lãng mạn, cả ý chí kiên cường và những xúc cảm say đắm làm chếnh choáng cả vầng trăng. Đồng thời ta cũng có thể hình dung ra hình tượng một người nghệ sĩ cô đơn trên hành trình đi tìm cái Đẹp trong thế giới bạo tàn, cô đơn trong chính cuộc đấu tranh vì tự do và cái Đẹp mà nhân tố không phải ai cũng thấu hiểu.

c.Lorca và số phận thảm khốc

Được gợi ra trước hết qua một tương phản:

Tây Ban Nha hát nghêu ngao

Lorca với tâm hồn thanh thản và cốt cách tự do hiện lên như một người du ca hát lên bài ca lãng tử

Tây Ban Nha bỗng kinh hoàng áo choàng bê bết đỏ

Dân tộc Tây Ban Nha với cảm xúc choáng váng tột độ, đau đớn tột cùng và ghê sợ, bàng hoàng khi Lorca- hiện thân của khát vọng tự do- bị bắt và bắn chết tàn bạo. Nhà thơ như nhập thân vào hình tượng, đồng thời cũng tự phân thân để trải nghiệm đến tận cùng hai tâm trạng- tâm trạng của Lorca và tâm trạng của dân tộc Tây Ban Nha mà Lorca là đại diện ưu tú. Nỗi kinh hoàng của dân tộc Tây Ban Nha không chỉ là vì cái chết của Lorca mà còn vì cách ứng xử tàn bạo, vô nhân đạo trước khát vọng tự do của con người.

Ở khổ thơ đầu, hình ảnh “áo choàng đỏ gắt” gợi ra cốt cách tự do và tính cách dữ dội, phong cách anh hùng và cá tính nghệ sĩ thì ở khổ thơ này, hình ảnh “áo choàng bê bết đỏ ” lại gợi tấm thảm kịch của con người mang khát vọng tự do. “Ảo choàng đỏ gắt’ là một biểu tượng có chức năng khái quát, “áo choàng bê bết đỏ” lại là một sự kiện cụ thể (Lorca bị điệu về bãi bắn) ^ Thanh Thảo không đi sâu miêu tả sự kiện Lorca bị giết mà chỉ gợi một ấn tượng dữ dội về nó để biêt hiện cảm xúc đau đớn của chính mình và gợi nỗi đau trong lòng người đọc. Song trong cảm nhận và biểu hiện của Thanh Thảo, nỗi đau không phải điều cuối cùng đọng lại. Cái đọng lại sau cùng là niềm tin vào sự bất tử của Lorca .

d, Lorca và sự bất tử

Được gợi mở bằng một so sánh đặc biệt: “chàng đi như người mộng du”. Trong không khí của đoạn thơ, “đi” là một hành động thụ động của đôi chân (vì con người thể xác đã bị bắt, bị điệu về bãi bắn), còn trong mạch vận động của hình tượng, đây lại là một bước chuyển đột ngét từ sự sống bên ngoài vào sự sống bên trong, từ vận động của đôi chân đến sự vận động của tâm hồn, từ hành trình tới sự kết thúc vật chất đến sự khởi đầu bất tử của tinh thần. Vì “mộng du” tức là thoát khỏi thế giới thực tại để sống và bay bổng trong một thế giới khác- ở đây là thế giới của sự sống- một sự sống mạnh mẽ và phóng khoáng, tươi tắn mà lãng đãng để

không thể nào huỷ diệt được. Thanh Thảo đã gợi ra một sự hoá thân, hoà nhập tuyệt đỉnh giữa hình tượng tiếng đàn và hình tượng Lorca : khi Lorca bị điệu về bãi bắn cũng là lúc tiếng đàn ngân lên (tiếng ghita nâu, tiếng ghita lá xanh). Khi Lorca bị bắn là khi tiếng ghita dạo khúc cao trào rồi tắt lịm (tiếng ghita tròn bọt nước vỡ tan, tiếng ghita ròng ròng máu chảy). Khi xác của Lorca bị ném xuống giếng là khi sự sống của tiếng đàn trỗi dậy “như cỏ mọc hoang”. Và khi dư ba của tiếng đàn “như cỏ mọc hoang’ là khi “Lorca bơi sang ngang trên chiếc ghita màu bạc”… ^ Hình tượng tiếng đàn- Lorca đã vượt khỏi giới hạn vật chất của hình ảnh và âm thanh để trở thành hình tượng tinh thần có sức sống bất diệt.

giọt nước mắt vầng trăng

long lanh trong đáy giếng Hình ảnh “vầng trăng’ xuất hiện hai lần đều không phải như những thực thể của thế giới khách quan mà như một biểu tượng gắn liền với những năng lượng tinh thần đặc biệt. Lần thứ nhất, trăng xuất hiện trong trạng thái “chếnh choáng’ rất nghệ sĩ. Lần thứ hai lại được gợi ra trong một nỗi đau rất con người mà cũng thẳm sâu như chính vũ trụ- nơi trăng kia hiện diện. Ở câu thơ này, vầng trăng trước hết thuộc về vũ trụ bát ngát với ánh sáng dịu dàng và vẻ đẹp mĩ lệ. Đối lập với vầng trăng là đáy giếng- nơi kẻ thù ném xác Lorca hòng xoá dấu vết tội ác, nơi tăm tối mịt mùng, không sao soi thấu được, nơi lưu giữ hiện thân của đau thương và tội ác xấu xa. Hai hình ảnh tương phản này gợi hai thế giới hoàn toàn cách biệt, xa lạ và không thể nào tìm mối liên hệ. Vậy mà Thanh Thảo đã phát hiện ra mối liên hệ giữa chúng bằng một liên tưởng độc đáo. Trớc hết, “giọt nước mắt vầng trăng’ vừa có thể hiểu là giọt nước mặt của vầng trăng (trăng khóc cho cái chết oan khuất của Lorca hay chính là vũ trụ đã cảm thấu nỗi đau khôn cùng của con người), vừa có thể hiểu rằng là giọt nước mắt của vũ trụ rơi vào đáy giếng để soi sáng sự thật bị chôn vùi. “Đáy giếng’ là nơi chôn vùi thân xác Lorca , nơi cất giấu một bí mật về tội ác của chế độ độc tài, “đáy giếng’ cũng là nơi đón nhận sự toả sáng của mối đồng cảm sâu xa từ vũ trụ.

Sức tưởng tượng mạnh mẽ: “Đường chỉ tay đã đứt” là sự chấm dứt cuộc sống vật chất, “dòng sông rộng vô cùng’ là cuộc đời vô hạn vẫn tiếp tục chảy trôi. Tương quan ấy đã gợi một cảm giác bi quan: có lẽ sự tồn tại hữu hạn, mong manh của một đời người ngắn ngủi đứt gãy nửa chừng sẽ bị dìm cho chìm nghỉm dưới đáy sông, sẽ trở nên vô nghĩa trước cái vô cùng của sóng nước. Thế nhưng Thanh Thảo lại bằng tưởng tượng đem đến một cảm nhận hoàn toàn ngược lại:

 

Lorca bơi sang ngang

trên chiếc ghita màu bạc “bơi” là hành động để tồn tại và khẳng định sự tồn tại trên dòng sông, “bơi sang ngang’ là không bị cuốn đi và không muốn buông trôi theo dòng nước – phải chống chọi với sức băng cuốn của sóng nước song cũng thể hiện rõ tư thế đứng cao hơn mọi sự chảy trôi thông thường; bơi bằng và trên chiếc “ghita màu bạc’’ là dùng cây đàn ghita chở tải sự sống của mình vượt lên mọi sự băng hoại, chảy trôi. Chiếc đàn ghia ta đã chở sự sống và linh hồn Lorca vượt qua giới hạn ngắn ngủi của đời người để đến với cõi vô cùng của cuộc sống. Đó vừa là thực tế, vừa là niềm tin tuyệt đối của Thanh Thảo vào sự bất tử của Lorca. Vậy là, sự tưởng tượng xét đến cùng lại bắt nguồn từ nhận thức về giá trị tinh thần của tiếng đàn Lorca , từ giá trị của tiếng nói và những cống hiến của Lorca cho nghệ thuật. Vậy là ta lại thấy ở đây một khía cạnh nữa trong quan niệm nghệ thuật của Thanh Thảo: sự sống vật chất của người nghệ sĩ chỉ là hữu hạn song sản phẩm nghệ thuật mà nghệ sĩ tạo ra sẽ đưa nghệ sĩ vào cõi bất tử.

Dòng tưởng tượng tiếp tục trào dâng mạnh mẽ về sự sống bất diệt và niềm kiêu hãnh của Lorca : “lá bùa cô gái Digan” là vật có phép thiêng để trừ tà và tránh tai hoạ. Ném “lá bùa” vào “xoáy nước” là sẵn sàng đối mặt với hiểm hoạ và định mệnh trong cuộc đời- hành động làm bật lên tư thế đầy kiêu hãnh (“xoáy nước” là hiểm hoạ trên dòng sông số phận, “ném lá bùa” là ném sự bảo vệ về sinh mạng). “Ném trái tim” lại là sự dâng hiến trọn vẹn trong thanh thản và vô tư những rung cảm trong sáng, chân thành và thiêng liêng nhất của chính mình- hành động làm bật lên sự cao cả của tấm lòng, sự cao thượng trong tình cảm. Cả sự kiêu hãnh và trái tim cao thượng đều là dấu hiệu của cốt cách nghệ sĩ – hiệp sĩ, nó làm tỏa sáng vẻ đẹp của hình tượng Lorca (hai lần Thanh Thảo dùng từ “ném”. Lần thứ nhất là hành động của một hiệp sĩ dám coi khinh cái chết bởi cái chết do kẻ thù gây ra cũng không thể ngăn cản tư tưởng, tâm hồn Lorca hòa vào sự sống bất tử của nhân dân. Lần thứ hai là hành động của một nghệ sĩ sẵn sàng và tự nguyện dâng trọn tâm hồn mình cho cuộc đời để ra đi trong yên lặng. Chính sự dâng hiến vô tư và tự nguyện ấy đã khiến tiếng đàn ghita của Lorca ngân vang bất diệt không chỉ bằng âm thanh mà còn bằng cả dư âm. Hai lần Thanh Thảo mô tả tiếng đàn “li – la li – la li – la”. Lần thứ nhất là những âm thanh vang lên trong không gian dữ dội của đất nước Tây Ban Nha thành lời ca tranh đấu. Lần thứ hai là những âm thanh vang lên trong “lặng im bất chợt”, vang lên từ cõi vô cùng và sự bất diệt. Lần thứ nhất là âm thanh thực. Lần thứ hai đã là những dư âm không dứt để khơi dậy và nối dài cảm xúc, rung động và tỏa sáng lí tưởng cao cả đẹp đẽ của Lorca ).

Chúng tôi đi không tiếc đời mình

Tuổi hai mươi làm sao không tiếc Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc

Tham khảo:

Nghệ thuật phản ánh cuộc sống và khi hấp thụ vào mình cái phong phú của cuộc sống thì bản thân nó cũng trở thành một sinh thể có sự sống, có linh hồn

không ai chôn cất tiếng đàn tiếng đàn như cỏ mọc hoang giọt nước mắt vầng trăng long lanh trong đáy giếng Nghệ thuật nằm ngoài quy luật của băng hoại, chỉ mình nó không thừa nhận cái chết

đường chỉ tay đã đứt

dòng sông rộng vô cùng

“Đàn ghita của Lorca” cũng chứa đựng trong nó triết lí về nghệ thuật của nhà thơ Thanh Thảo: triết lí về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống, về sức sống của nghệ thuật và về mối quan hệ giữa sức sống của nghê thuật với sự tồn tại về mặt tinh thần của nghệ sĩ trong cuộc đời. Những điều này thực ra không mới song trong bài thơ này, nó chính là cơ sở để Thanh Thảo khẳng định giá trị những sáng tạo nghệ thuật và những cống hiến về tư tưởng của Lorca đồng thời cũng là cơ sở để nhà thơ khẳng định niềm tin vào sự bất tử của những cống hiến ấy.

“Đàn ghita của Lorca” là một bài thơ hay và giàu sáng tạo. Bài thơ không chỉ tạo dựng chân dung người nghệ sĩ- chiến sĩ Phêđêricô Gaxia Lorca một cách trung thực và gợi cảm mà còn giúp người đọc cảm nhận sâu sắc vẻ đẹp tâm hồn và tính cách đậm chất Tây Ban Nha của Lorca. Bài thơ giàu nhạc điệu- kết quả của sự hòa nhập chất nhạc đặc biệt của thơ Lorca và năng lượng sáng tạo đặc biệt của hồn thơ Thanh Thảo (những câu thơ không viết hoa đầu dòng tạo mạch thơ liên tục, xâu chuỗi với nhau để kết nối các biểu tượng vốn rời rạc và đầy sức ám ảnh; những liên tưởng thơ bất ngờ, phóng khoáng tạo một gợi mở độc đáo về tiếng đàn ghita của Lorca ; những tương phản gay gắt được xây dựng liên tiếp để làm nổi bật những ấn tượng đậm nét về con người, cuộc sống và sức sống bất diệt của những giá trị tinh thần mà Lorca tạo nên trong bối cảnh xã hội và thời đại dữ dội lúc bấy giờ; những hình dung từ được dùng một cách tình cờ, không cố ý song đều gắn một cách vô thức với số phận và cuộc đời Lorca để tạo nên một ám ảnh và làm nổi bật chủ đề tư tưởng của bài thơ…). Nhạc điệu của bài thơ không phải là chất nhạc do âm, vần hay thanh điệu đem lại mà là giai điệu của tâm hồn, của trái tim đồng điệu trong lí tưởng và khát vọng nên khó thấy hơn và cũng dễ ám ảnh hơn.

“Đàn ghita của Lorca” là tiếng nói tri âm của người nghệ sĩ với một người nghệ sĩ, một người chiến sĩ với một người chiến sĩ. Sự đồng cảm của Thanh Thảo và Lorca trong bài thơ vừa cho người đọc hiểu về Lorca vừa cho người đọc một cái nhìn trọn vẹn hơn về con người Thanh Thảo- một trí thức giàu suy tư và một người nghệ sĩ tràn đầy nhiệt huyết, lí tưởng. “Đàn ghita của Lorca” như là sự tiếp nối trọn vẹn cái mạch thơ đã được khơi dòng từ trường ca “Những người đi tới biển”

 

Lorca bơi sang ngang

trên chiếc ghita màu bạc

 

Sự sống chết của nghệ sĩ chỉ là hữu hạn song sản phẩm nghệ thuật mà nghệ sĩ tạo ra sẽ đưa nghệ sĩ vào cõi bất tử

chàng ném lá bùa cô gái Digan vào xoáy nước

chàng ném trái tim mình vào lặng yên bất chợt

li – la li – la li – la

Xem thêm bộ đề luyện thi về tác phẩm Đàn ghi ta của Lorca- Thanh Thảo :http://vanhay.edu.vn/tag/dan-ghi-ta-cua-lor-ca

Đề thi thử THPT Quốc gia môn văn số 49

Bộ đề thi thử THPT Quốc gia môn văn có đáp án. Nghị luận xã hội 200 chữ về ý nghĩa của sự đồng cảm, chia sẻ trong cuộc sống.Cảm nhận  về hình tượng Lorca trong bài thơ Đàn ghi ta của Lorca Thanh Thảo

ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA  NĂM HỌC 2016-2017
Môn: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

Phần I. Đọc hiểu (3,0 điểm)

Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi :

Tại Thế vận hội đặc biệt Seatle (dành cho những người tàn tật) có chín vận động viên đều bị tổn thương về thể chất hoặc tinh thần, cùng tập trung trước vạch xuất phát để tham dự cuộc đua 100 m. Khi súng hiệu nổ, tất cả đều lao đi với quyết tâm chiến thắng. Trừ một cậu bé. Cậu cứ bị vấp ngã liên tục trên đường đua. Và cậu bật khóc. Tám người kia nghe tiếng khóc, giảm tốc độ và ngoái lại nhìn. Rồi họ quay trở lại. Tất cả, không trừ một ai ! Một cô gái bị hội chứng Down dịu dàng cúi xuống hôn cậu bé:
– Như thế này, em sẽ thấy tốt hơn.
Cô gái nói xong, cả chín người cùng khoác tay nhau sánh bước về vạch đích. Khán giả trong sân vận động đồng loạt đứng dậy. Tiếng vỗ tay hoan hô vang dội nhiều phút liền. Mãi về sau, những người chứng kiến vẫn còn truyền tai nhau câu chuyện cảm động này.

(Nguồn: http://phapluatxahoi.vn/giai-tri/van-hoc/chien-thang-661)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản trên? (0,5 đ)
Câu 2: Tại sao tất cả khán giả trong sân vận động đều đứng dậy vỗ tay hoan hô không dứt? (1,0 đ)
Câu 3: Chỉ ra câu đặc biệt được sử dụng trong văn bản trên? Nêu tác dụng? (1,0 đ)
Câu 4: Đặt tiêu đề cho văn bản trên (0,5 đ)

Phần II. Làm văn (7,0 điểm)

Câu 1: (2,0 điểm): Từ câu chuyện được nêu ở phần Đọc hiểu, anh/ chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) nói về ý nghĩa của sự đồng cảm, chia sẻ trong cuộc sống.
Câu 2 (5,0 điểm)
Cảm nhận của anh /chị về hình tượng Lorca trong bài thơ Đàn ghi ta của Lorca (Thanh Thảo).
—– Hết —–

ĐÁP ÁN VÀ BIỂU ĐIỂM KÌ THI THPT QUỐC GIA  NĂM 2017
Môn: NGỮ VĂN

Câu I

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản: tự sự
Câu 2: Tất cả khán giả trong sân vận động đều đứng dậy vỗ tay hoan hô không dứt vì cách hành xử cao đẹp, sự đồng cảm, lòng vị tha , tinh thần thi đấu cao đẹp của các vận động viên khuyết tật.
Câu 3:
* Câu đặc biệt được sử dụng trong văn bản :
+ Trừ một cậu bé.
+ Tất cả, không trừ một ai !
*Tác dụng :
-Trừ một câu bé: tạo sự chú ý về sự khác biệt của một vận động viên trên đường đua
-Tất cả, không trừ một ai: nhấn mạnh gây sự chú ý về sự đồng lòng thực hiện một hành động cao cả.
Câu 4: Có thể đặt nhiều tiêu đề: Cuộc thi đặc biệt, Cuộc thi cảm động, Tinh thần đồng đội… 0,5

Câu 1. II Về kĩ năng:
– Biết cách viết đoạn văn nghị luận xã hội, bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ, vận dụng tốt các thao tác lập luận, dẫn chứng tiêu biểu, chọn lọc.
– Đoạn văn trong sáng, mạch lạc, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.
Về kiến thức: Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đảm bảo các ý cơ bản sau:
1. Giải thích: Đồng cảm là cùng chung cảm xúc, suy nghĩ, cùng chung một trạng thái tâm trạng, là sự hiểu nhau giữa hai con người hoặc giữa con người và cộng đồng. Chia sẻ là cùng nhau hưởng thụ hoặc cùng nhau hành động “có phúc cùng hưởng, có hoạ cùng chia” khiến niềm vui nhân đôi và nỗi buồn vơi bớt => Đồng cảm và chia sẻ đều là biểu hiện của tình người, của ý thức vì người khác. Đồng cảm và chia sẻ là một nếp sống tốt đẹp trong xã hội.
2. Bàn bạc:
– Trong cuộc sống, không phải ai cũng luôn gặp những điều may mắn, không phải ai cũng thành công ngay từ lần đầu tiên và không phải ai sinh ra cũng đều hạnh phúc
– Sự đồng cảm và sẻ chia giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn, bất hạnh có thêm sức mạnh, nghị lực, niềm tin trong cuộc sống, làm giảm đi những đau khổ trong cuộc sống.
– Nó có vai trò quan trọng góp phần hoàn thân nhân cách con người, xây dựng một xã hội văn minh, nhân ái, làm cho mối quan hệ giữa con người với con người trở nên tốt đẹp hơn, thân thiện hơn, mọi người gần gũi gắn bó hơn…
– Tình cảm ấy đã trở thành một truyền thống đạo lí tốt đẹp của dân tộc Việt Nam: “Thương người như thế thương thân”, “Lá lành đùm lá rách – Lá rách ít đùm lá rách nhiều”. Trong xã hội chúng ta hiện nay, tình yêu thương vẫn được mọi người kế thừa và tiếp nối: Quỹ nhân đạo vì người nghèo, Quỹ chữ thập đỏ, Trái tim cho em, Cặp lá yêu thương, phong trào ủng hộ đồng bào lũ lụt, tấm lòng hảo tâm của các cá nhân, nhà doanh nghiệp, các công ti, các cơ quan… Phê phán lối sống ích kỉ, vô cảm, thờ ơ của một bộ phận thế hệ trẻ hiện nay
3. Bài học:
+ Cần nhận thức được ý nghĩa quan trọng của đồng cảm và sẻ chia trong cuộc sống.
+ Cần tích cực rèn luyện bản thân, hoàn thiện nhân cách, có những hành động cụ thể biểu hiện sự đồng cảm, sẻ chia của mình với mọi người.
Câu 2.II

A. Mở bài:
+ Dẫn dắt
+ Giới thiệu vấn đề
B. Thân bài
I.Giới thiệu về Lorca
+ Một người nghệ sỹ tài năng, con họa mi của xứ sở Tây Ban Nha
+ Người chiến sỹ đấu tranh cho tự do
+ Bị bắt và bắn chết khi mới 37 tuổi
–> Lorca trở thành đối tượng thẩm mỹ trong nhiều tác phẩm thơ ca, âm nhạc.
II. Hình tượng Lorca trong bài thơ Đàn ghi ta của Lorca
1.Lorca và cuộc hành trình đơn độc
– Lorca được đặt trong khung cảnh đất nước Tây Ban Nha
– Lorca đã khơi dậy phong trào đấu tranh chống lại chế độ độc tài phát xít và khởi xướng những cách tân trong nghệ thuật. Tuy nhiên trên hành trình đó người chiến sỹ và nghệ sỹ Lorca đơn độc “ đi lang thang về miền đơn độc” “ trên yên ngựa mỏi mòn”
2. Lorca và số phận thảm khốc
– Cái chết bất ngờ, thảm khốc : “áo choàng bê bết đỏ, bị điệu về bãi bắn”
– Tiếng đàn biểu tượng cho tư tưởng, thế giới nghệ thuật của Lorca cũng bị hành hình như chủ nhân của nó “ tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan” “ tiếng ghi ta ròng ròng máu chảy”
– Tuy vậy trước cái chết chàng vẫn hiên ngang, bất khuất, chủ động, kiêu hãnh “đi như người mộng du”, “bơi sang ngang trên chiếc ghi ta màu bạc”, “ném lá bùa”, “ném trái tim”…
3.Lorca và sự bất tử
– So sánh “ tiếng đàn như cỏ mọc hoang” , “ không ai chôn cất tiếng đàn” và chuỗi li la li la –> sức sống kì diệu của tiếng đàn và nghệ thuật mà Lorca để lại và khẳng định sự bất tử của người nghệ sỹ.
– Hình ảnh “giọt nước mắt vầng trăng. ..đáy giếng” –> gợi nỗi đau lớn, khôn nguôi của nhân loại tiến bộ khi mất Lorca.
III.Đánh giá chung
– Vẻ đẹp bi tráng của hình tượng Lorca
– Sự đồng cảm, tri âm, ngưỡng mộ của Thanh Thảo với Lorca
– Hình ảnh tượng trưng, siêu thực, nghệ thuật so sánh, ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, kết hợp giữa thơ và nhạc kết hợp tạo nên vẻ đẹp cho hình tượng
C. Kết bài 0,25—

Xem thêm :

Giáo án Ngữ văn 12 theo chủ đề : Thơ trữ tình Việt Nam và nước ngoài

Giáo án Ngữ văn 12 theo chủ đề 

CHỦ ĐỀ THƠ TRỮ TÌNH VIỆT NAM VÀ NƯỚC NGOÀI

Bước I: Chuẩn kiến thức, kĩ năng.

– Hiểu được những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của các bài thơ và đoạn trích.

– Hiểu được đề tài, chủ đề, khuynh hướng tư tưởng, cảm hứng thẩm mĩ, giọng điệu, tình cảm của nhân vật trữ tình, những sáng tạo đa dạng về ngôn ngữ, hình ảnh của mỗi tác phẩm.

– Vận dụng được những hiểu biết về thơ trữ tình Việt Nam và nước ngoài giai đoạn 1945 đến hết thế kỉ XX vào đọc hiểu những văn bản tương tự ngoài chương trình, sách giáo khoa.

– Biết cách đọc  hiểu hiểu thơ trữ tình theo đặc trưng thể loại.

– Biết vận dụng những tri thức và kĩ năng đã học vào làm văn nghị luận: Phân tích một đoạn thơ, bài thơ.

->Từ đó học sinh có thể hình thành các năng lực sau:

+ Năng lực thu thập thông tin liên quan đến văn bản.

+ Năng lực giải quyết các tình huống đặt ra trong văn bản.

+ Năng lực đọc hiểu thơ trữ tình Việt nam theo đặc trưng thể loại.

+ Năng lực trình bày suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về ý nghĩa của văn bản.

+ Năng lực hợp tác, trao đổi, thảo luận về nội dung và nghệ thuật của văn bản.

Bước II: Bảng mô tả các mức độ đánh giá chủ đề.

“ Thơ trữ tình Việt Nam và nước ngoài theo định hướng năng lực”

 

Nhận biết Thông hiểu Vận dụng
Vận dụng thấp Vận dụng cao
– Nêu thông tin về tác giả ( cuộc đời, con người, phong cách nghệ thuật), về tác phẩm(xuất xứ, hoàn cảnh ra đời). – Vận dụng hiểu biết về tác giả (cuộc đời, con người), hoàn cảnh ra đời của tác phẩm để lý giải nội dung, nghệ thuật cảu bài thơ. – Vận dụng đặc điểm phong cách nghệ thuật của nhà thơ vào hoạt động tiếp cận và đọc hiểu văn bản.

 

– Nhận ra đề tài, cảm hứng, thể thơ.

 

– Hiểu được cội nguồn nảy sinh cảm hứng.

– Hiểu được đặc điểm cơ bản của các thể thơ.

 

– Vận dụng hiểu biết về đề tài, cảm hứng, thể thơ vào phâm tích lý giải giá trị nội dung và nghệ thuật.

 

– Biết bình luận, đánh giá đúng đắn những ý kiến nhận định về các tác phẩm thơ đã được học.

– Rút ra bài học, liên hệ cuộc sống.

– Nhận diện chủ thể trữ tình, đối tượng trữ tình, thế giới hình tượng(thiên nhiên, cảnh vật, không gian, thời gian trong bài thơ…). – Hiểu tâm trạng, tình cảm của nhân vật trữ tình trong bài thơ.

 

– Biết đánh giá tâm trạng, tình cảm của nhân vật trữ tình.

 

– Biết cách tự nhận diện, phân tích và đánh giá thế giới hình tượng, tâm trạng của nhân vật trữ tình trong những bài thơ khác.
– Phát hiện các biện phấp nghệ thuật đặc sắc(từ ngữ, biện pháp, nhạc điệu, bút pháp…).

 

– Phân tích được ý nghĩa của thế giới hình tượng đối với việc thể hiện tình cảm, cảm xúc của nhân vật trữ tình.

 

– Khái quát hóa đời sống tâm hồn, nhân cách của nhà thơ.

– Đánh giá giá trị nghệ thuật của tác phẩm.

 

– Nêu được các đóng góp của tác giả đối với sự đổi mới thể loại, nghệ thuật thơ, xu hướng hiện đại hóa văn học nói chung và thơ ca nói riêng.
– Giải thích được tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ, đoạn thơ.

 

– Đọc diễn cảm toàn bộ tác phẩm. – Đọc sáng tạo.

– Đọc nghệ thật.

– Viết bài bình thơ.

– Sưu tầm các bài thơ hay tương tự của tác giả, của giai đoạn văn học này.

– Lý giải được ý nghĩa, tác dụng cảu các biện pháp nghệ thuật.

 

Bước III: Câu hỏi và bài tập minh họa.

Văn bản: Sóng- Xuân Quỳnh

Nhận biết Thông hiểu Vận dụng
Vận dụng thấp Vận dụng cao
– Nêu những nét chính về cuộc đời, các tác phẩm tiêu biểu đặc điểm thơ của nhà thơ Xuân Quỳnh? – Hiểu được đặc điểm cơ bản của thể thơ 5 chữ và tác dụng của nó trong việc biểu hiện nhịp điệu của bài thơ? – Nhận xét về giọng điệu thơ ở khổ 3 và 4.Hai khổ thơ 3,4 Xuân Quỳnh đã cắt nghĩa, lý giải điều gì về tình yêu? Nó thể hiện tâm trạng gì của người phụ nữ đang yêu? – Đánh giá chung về nội dung và nghệ thuật của bài thơ Sóng?
– Nêu hoàn cảnh sáng tác bài thơ Sóng? – Vì sao hình tượng sóng là hình tượng trung tâm bao trùm bài thơ? – Cách lý giải về cuô nguồn tình yêu của Xuân Quỳnh có gì đặc biệt? – Vì sao nói bài thơ Sóng có âm điệu vô cùng độc đáo?
– Nêu cảm hứng sáng tác và âm điệu của bài thơ? – Sóng được miêu tả trạng thái như thế nào? Qua đó thể hiện tâm trạng gì của người phụ nữ trong tình yêu? – Ở khổ thơ 5 Sóng được miêu tả như thế nào? Qua đó nói nên điều gì về tâm trạng của em và quy luật của tình yêu? – So sánh tâm trạng của nhân vật trữ tình trong khổ 5 của bài Sóng với 4 câu thơ đầu trong bài tương tư của Nguyễn Bính?
– Nêu được nhân vật trữ tình trong bài thơ? – Qua sự trường tồn của sóng Xuân Quỳnh nói nên quy luật gì của tình yêu? – Khổ 6,7 Sóng được khám phá thêm ở góc độ nào? Anh (chị) phát hiện thêm điều gì về tâm hồn của em trong bài thơ? – “Sóng” là  lời tự bạch của một tâm hồn phụ nữ đang yêu, thiết tha nông nàn, chung thủy, muốn vượt lên thử thách của thời gian và sự hữu hạn của đời người?
– Chỉ ra được biện pháp nghệ thuật qua bài thơ? – Chỉ ra các biện pháp nghệ thuật sử dùng trong hai khổ thơ đầu? – Ở hai khổ thơ cuối Xuân Quỳnh đã bộc bạch quan niệm gì? – Hãy ngâm và bình bài thơ?
-Đọc diễn cảm toàn bộ bài thơ?

 

Bước IV: Câu hỏi kiểm tra minh họa cho bài “ Sóng”-Xuân Quỳnh.

Mục tiêu

  1. Kiến thức.

– Vận dụng các kiến thức cơ bản đã học trong các văn bản đọc hiểu để viết bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ.

  1. Kĩ năng.

– Tìm hiểu đề, lập dàn ý cho bài văn nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ.

– Huy động kiến thức và những cảm xúc, trải nghiệm của bản thân để viết bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ.

  1. Thái độ.

– Giáo dục kĩ năng sống  cho học sinh: Quan niệm một tình yêu trong sáng, lành mạnh.

  1. Năng lực hướng tới.

+ Năng lực thu thập thông tin liên quan đến văn bản.

+ Năng lực giải quyết các tình huống đặt ra trong văn bản.

+ Năng lực đọc hiểu thơ trữ tình Việt nam theo đặc trưng thể loại.

+ Năng lực trình bày suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về ý nghĩa của văn bản.

+ Năng lực hợp tác, trao đổi, thảo luận về nội dung và nghệ thuật của văn bản.

+ Năng lực viết văn nghị luận về bài thơ, đoạn thơ.

Hình thức đề kiểm tra.

– Trắc nghiệm kết hợp với tự luận.

III. Ma trận đề kiểm tra.

 

Chủ đề Nhận biết Thông hiểu Vận dụng Tổng số
Vận dụng thấp Vận dụng cao
I. Trắc nghiệm – Nêu những nét chính về tác giả, hoàn cảnh sáng tác bài thơ.

– Hình tượng chính xuyên suốt bài thơ.

– Những trạng thái đối lập của sóng.

– Quy luật tự nhiên của sóng.

Số câu:

Số điểm:

Tỉ lệ:

4

1

10%

4

1

10%

8

2

20%

II. Tự luận – Tác giả.

– Hoàn cảnh sáng tác.

– Đặc điểm thơ.

– Đoạn trích.

– Các biện pháp nghệ thuật.

– Hiểu được những trạng thái tâm lý phức tạp của tình yêu.

– Hiểu được khát vọng của tuổi trẻ: Vĩnh hằng, muôn thuở, nhân bản.

– Vận dụng những hiểu biết về tác giả, tác phẩm, kĩ năng làm văn nghị luận để viết bài văn nghị luận về đoạn thơ, bài thơ . – Liên hệ với  câu thơ, bài thơ so sánh tình yêu với sóng và biển.
Số câu:

Số điểm:

Tỉ lệ:

1

3

40%

1

1

10%

1

1,5

15%

1

1,5

15%

1

8

80%

Tổng chung:

Số câu:

Số điểm:

Tỉ lệ:

 

5

5

50%

 

5

2

20%

 

1

1,5

15%

 

1

1,5

15%

 

9

10

100%

 

Đề kiểm tra

Phần I: Trắc nghiệm ( 2 điểm)

Câu 1: Xuân Quỳnh là nhà thơ trẻ thuộc thế hệ những nhà thơ thời kì nào của đất nước?

  1. Chống Pháp.
  2. Chống Mĩ.
  3. Thời kì đổi mới.

Câu 2: Thơ Xuân Quỳnh có đặc điểm như thế nào?

  1. Đằm thắm, giản dị, luôn gắn bó với hạnh phúc đời thường.
  2. Hồn nhiên, tươi tắn.
  3. Luôn da diết khát vọng yêu thương và được yêu thương.
  4. Cả A, B, C.

Câu 3: Bài thơ Sóng được sáng tác năm nào?

  1. Năm 1967.
  2. Năm 1968.
  3. Năm 1969.
  4. Năm 1970.

Câu 4: Hình tượng chính xuyên suốt bài thơ là hình tượng nào?

  1. Sóng.
  2. Sóng và em.

Câu 5: Hai câu thơ sau miêu tả điều gì?

“Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ”

  1. Những trạng thái của con sóng ngoài đại dương.
  2. Bản chất phong phú đến kì lạ của tình yêu.
  3. Những trạng thái cảm xúc của một trái tim đang yêu.
  4. Cả A, B, C.

Câu 6: Hai khổ thơ đầu bộc lộ khát vọng muôn thở nào của con người?

  1. Khát vọng hạnh phúc.
  2. Khát vọng tình yêu.
  3. Khát vọng được hiến dâng.
  4. Khát vọng  đi xa, đến với biển lớn cuộc đời.

Câu 7: Lời thú nhận chân thành của Xuân Quỳnh : “Em cũng không biết nữa/Khi nào ta yêu nhau” đã cho thấy bản chất nào của tình yêu?

  1. Sự vĩnh hằng.
  2. Sự mong manh.
  3. Sự bí ẩn.
  4. Sự nồng nàn.

Câu 8: Câu thơ:“Lòng em nhớ đến anh/Cả trong mơ còn thức” cho thấy mãnh lực của tình yêu như thế nào?

  1. Chiếm trọn không gian.
  2. Chiếm trọn thời gian.
  3. Chiếm trọn cả cõi vô thức trong tâm hồn con người.
  4. Cả A, B, C.

Phần II : Phần tự luận( 8 điểm )

Phân tích hai khổ thơ đầu trong bài Sóng của Xuân Quỳnh?

“Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ

Sông không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể.

Ôi con sóng ngày xưa

Và ngày sau vẫn thế

Nỗi khát vọng tình yêu

Bồi hồi trong ngực trẻ”.

( “Sóng” của Xuân Quỳnh – Ngữ Văn 12 tập 1)

Hướng dẫn chấm

Phần I :Trắc nghiệm ( 0,25 đ/câu)

Câu 1: Đáp án B.

Câu 2: Đáp án D.

Câu 3: Đáp án B.

Câu 4: Đáp án A.

Câu 5: Đáp án D.

Câu 6: Đáp án B.

Câu 7: Đáp án C.

Câu 8: Đáp án C.

 

Phần II : Tự luận ( 8 điểm )

1.Yêu cầu về kĩ năng:

– Biết cách làm bài nghị luận về bài thơ, đoạn thơ.

– Vận dụng tốt các thao tác nghị luận để làm bài.

– Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu, diễn đạt.

– Có những cách viết độc đáo, sáng tạo.

  1. Yêu cầu về kiến thức:

Thí sinh có thể viết theo các cách khác nhau miễn là thuyết phục, đảm bảo theo yêu  cầu của thể loại và đề bài.

Gợi ý:

a.Mở bài: ( 1 điểm )

Giới thiệu tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác bài thơ, vị trí của đoạn thơ cần phân tích.

– Xuân Quỳnh là một trong số những nhà thơ tiêu biểu nhất của thế hệ các nhà thơ trẻ thời kì chống Mĩ. Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên, tươi tắn, vừa chân thành, đằm thắm và luôn da diết trong khát vọng về hạnh phúc bình dị đời thường.

–  “Sóng” được sáng tác năm 1967 trong chuyến đi thực tế vùng biển Diêm Điền Thái Bình. Là bài thơ đặc sắc viết về tình yêu, tiêu biểu cho phong cách thơ xuân Quỳnh in trong tập (Hoa dọc chiến hào – 1968).

– Hai khổ thơ đầu bộc lộ khát vọng tình yêu muôn thủơ của con người ( Trích dẫn nguyên văn hai khổ thơ đầu).

Thân bài: ( 6 điểm )

Phân tích nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ.

Khổ 1:

– Hai câu thơ đầu sóng được miêu tả ở những trạng thái trái ngược ( Dữ dội / dịu êm ;Ồn ào / lặng lẽ ). Bốn tính từ liên tiếp diễn tả sống động các sắc thái đối cực của sóng.

– Hai câu thơ sau: Biện pháp nghệ thuật nhân hóa, tương phản: Sóng hồn nhiên, quyết liệt không chịu bó mình trong sông chật hẹp, sóng tìm ra biển để thỏa sức vẫy vùng: (Sông không hiểu nổi mình/Sóng tìm ra tận bể). Người phụ nữ khao khát một tình yêu đích thực, không nhẫn nhục, chịu đựng mà chủ động, quyết liệt tìm đến với chân trời yêu bao la.

Khổ 2:

– Quy luật của sóng biển ngày xưa, ngày sau vẫn cồn cào trong lòng biển : (Ôi con sóng ngày xưa/Và ngày sau vẫn thế).

– Quy luật của tình yêu: Vĩnh hằng, muôn thuở, nhất là trong trái tim tuổi trẻ: (Nỗi khát vọng tình yêu/Bồi hồi trong ngực trẻ).Khát khao mang tính nhân bản của loài người.

Kết luận: ( 1 điểm )

Đánh giá chung về nội dung và nghệ thuật của hai khổ thơ đầu:

– Nghệ thuật: Nhân hóa, tương phản, ẩn dụ. Sóng là hình ảnh ẩn dụ của tâm trạng người phụ nữ đang yêu là sự hóa thân của tác giả.

– Nội dung: Hai khổ thơ đầu giầu chất suy tư. Từ con sóng biển, Xuân Quỳnh không chỉ khám phá và biểu đạt những quy luật tình cảm của con người mà còn khẳng định tình yêu muôn thuở của nhân loại.

  1. Biểu điểm:

– Điểm 7- 8  : Đáp ứng tốt các yêu cầu trên, có thể còn vài sai sót về diễn đạt.

– Điểm 5-6 : Đáp ứng phần lớn các yêu cầu trên, có thể còn một số sai sót về diễn đạt, chính tả.

– Điểm 3-4 : Đáp ứng được một nửa của yêu cầu trên, còn mắc nhiều lỗi về diễn đạt và chính tả.

– Điểm 2-1 : Đáp ứng được một phần ba của yêu cầu trên, còn mắc nhiều lỗi về diễn đạt và chính tả.

– Điểm 0 : Không làm bài, lạc đề.

 

Tiết: 37

SÓNG

                             Xuân Quỳnh

MỤC TIÊU :

  1. Kiến thức:

Giúp HS:

– Nắm được vẻ đẹp tâm hồn, khát vọng tình yêu của nữ sĩ.

– Nét đặc sắc về mặt nghệ thuật kết cấu, hình tượng, ngôn từ.

  1. Kĩ năng:

– Rèn luyện kĩ năng phân tích thơ trữ tình.

  1. Thái độ, tư tưởng:

 – Có quan niệm về tình yêu một cách đúng đắn.

  1. Năng lực:

– Năng lực rút thông tin từ văn bản.

– Năng lực đọc hiểu và cảm thụ thẩm mỹ.

– Năng lực trao đổi, hợp tác.

  1. CHUẨN BỊ :
  2. Giáo viên:

– Sách giáo khoa Ngữ văn 12 – tập 1.

– Sách giáo viên Ngữ văn 12 – tập 1.

– Bài tập Ngữ văn 12 – tập 1.

  1. Học sinh:

– SGK, vở ghi, vở soạn.

III. TIẾN TRÌNH BÀI DẠY:

  1. Kiểm tra bài cũ:

* Hoạt động 1: 5 phút

Câu hỏi:

– Đọc 2 khổ thơ đầu bài Đò lèn của Nguyễn Duy. Cho biết cái tôi của tác giả thời tuổi nhỏ được tái hiện như thế nào ?

Đáp án:

– Học sinh đọc diễn cảm hai khổ đầu của bài thơ Đò Lèn.

– Tác giả nhớ lại cái tôi thời tuổi nhỏ của mình: Câu cá, bắt chim sẻ, đi chợ, ăn chộm nhãn Chùa Trần, đi xem lễ Đền Sòng… Một cái tôi vô tư, hồn nhiên và tinh nghịch. Tác giả không thi vị hóa quá khứ.

* Hoạt động 2: 1 phút

  1. 2. Tiến trình dạy:

 Vào bài: Một cuộc đời đa đoan, một trái tim đa cảm là một Xuân Quỳnh luôn coi tình yêu là cứu cánh nhưng cũng luôn day dứt về giới hạn của tình yêu.

 

HOẠT ĐỘNG CỦA GV VÀ HS NỘI DUNG BÀI HỌC
* Hoạt động 3: 10 phút

Hướng dân học sinh tìm hiểu chung về tác giả và văn bản.

 – Thao tác 1: Hướng dẫn tìm hiểu về tác giả.

+ GV: Dựa vào Tiểu dẫn, hãy giới thiệu đôi nét về tác giả XQ ?

+ GV: Trình chiếu ảnh XQ – LQV, gia đình XQ

+ GV: Trong những thông tin đó, thông tin nào đáng chú ý nhất giúp ta hiểu về nhà thơ cũng như sáng tác của XQ ?

+ GV: Giới thiệu một số bài thơ khác của Xuân Quỳnh.

o Trình chiếu minh họa một số bài thơ  nổi tiếng của Xuân Quỳnh: Thuyền và biển. Hoa cỏ may, Sóng, Thư tình cuối mùa thu, …

? Thơ Xuân Quỳnh có đắc điểm gì?

– HS trả lời:

– GV nhận xét, bổ sung:

 

 

 

 

 

– Thao tác 2: Hướng dẫn tìm hiểu về tác phẩm.

+ GV: Nêu hoàn cảnh sáng tác của bài thơ?

– HS trả lời:

– GV nhận xét, bổ sung:

 

+ GV: Nhan đề phần nào thuyết minh cho người đọc biết đề tài: Thiên nhiên sóng biển

+ GV: Bài thơ của Xuân Quỳnh có phải chỉ nói về sóng biển ?

+ GV: Gọi 1 HS đọc diễn cảm bài thơ.

+ GV: Trình chiếu văn bản bài thơ – hình nền là hình ảnh sóng .

+ GV: Hình tượng nào bao trùm và xuyên suốt bài thơ ? Theo em hình tượng đó có ý nghĩa gì ?

– HS trả lời:

– GV nhận xét, bổ sung:

+ GV: Ngoài sóng biển còn có hình ảnh nào? Hai hình ảnh đó có mối quan hệ như thế nào ?

+ GV: Mượn sóng để nói tình yêu, sự liên tưởng của tác giả có gì mới lạ?

+ GV: Thể hiện nét riêng độc đáo của XQ trong bài thơ ở chỗ nào ?

+ GV: Tìm bố cục bài thơ ?

– HS trả lời:

– GV nhận xét, bổ sung:

 

 

 

 

* Hoạt động 4: 25 phút

Hướng dẫn HS tìm hiểu Sóng – đối tượng cảm nhận tình yêu

– Thao tác 1: Hướng dẫn tìm hiểu   Sóng – đối tượng cảm nhận tình yêu (khổ 1 & 2).

+ GV: Gọi HS đọc khổ 1

+GV: Hình tượng sóng được tác giả miêu tả như thế nào?

+ GV: Từ những trạng thái của sóng tác giả liên tưởng đến điều gì ? Sự liên tưởng đó có phù hợp?

– HS trả lời:

– GV nhận xét, bổ sung:

+ GV: Em hiểu 2 câu thơ “Sông không hiểu ….tận bể” như thế no ?

+ GV: Gợi ý :

o “sông”?

à không gian nhỏ

o “bể” ?

à không gian rộng lớn

 

 

+ GV: Gọi HS đọc khổ 2 .

+ GV: Nhà thơ đã phát hiện ra điều gì tương đồng giữa sóng và tình yêu ?

– HS trả lời:

– GV nhận xét, bổ sung:

+ GV:  Liên hệ:

o “Làm sao sống được mà không yêu

Không nhớ, không thương một kẻ nào?”

( Xuân Diệu )

o Bài hát : Vẫn hát lời tình yêu – Trịnh Công Sơn

I. Tìm hiểu chung : ( 10′)

 

1. Tác giả :

– Xuân Quỳnh (1942 – 1988), Hà Tây (SGK)

– Cuộc đời đa đoan, nhiều thiệt thòi, lo âu, vất vả, trái tim đa cảm, luôn khao khát tình yêu, gắn bó hết mình với cuộc sống, luôn chăm chút nâng niu hạnh phúc bình dị, đời thường.

– Cái “Tôi” giàu vẻ đẹp nữ tính, rất thành thật, giàu đức hi sinh, vị tha. Ở Xuân Quỳnh khát vọng sống, khát vọng tình yêu chân thành, mãnh liệt luôn gắn với cảm thức lo âu về sự phai tàn, đổ vỡ, những dự cảm bất trắc.

-Tác phẩm tiêu biểu: SGK

– Nhà thơ tiêu biểu của lớp nhà thơ trẻ thời chống Mỹ, cũng là gương mặt nhà thơ nữ đáng chú ý của nền thơ ca Việt Nam hiện đại .

– Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên, tươi tắn vừa chân thành, đằm thắm và luôn da diết trong khát vọng về hạnh phúc đời thường.

2. Văn bản:

 

a. Hoàn cảnh sáng tác :

– Sáng tác năm 1967, được in trong tập thơ Hoa dọc chiến hào ( 1968 )

– Tiêu biểu cho hồn thơ của Xuân Quỳnh.

 

 

 

b. Hình tượng Sóng

 

 

 

– Hình tượng sóng xuyên suốt và bao trùm bài thơ, song hành với “Em”, có lúc tách đôi có lúc hòa nhập cộng hưởng.

– Có ý nghĩa biểu tượng cho khát vọng tình yêu của Xuân Quỳnh -> Hình tượng đẹp và xác đáng.

 

– Hình tượng quen thuộc nhưng trong bài thơ của Xuân Quỳnh sóng vẫn mang một vẻ đẹp riêng, độc đáo:  Mãnh liệt mà đầy nữ tính.

 

d. Bố cục:

– 2 khổ đầu: Sóng biển và tình yêu.

– 5 khổ giữa: Sóng – tâm hồn em suy nghĩ, trăn trở  về tình yêu.

– 2 khổ cuối: Sóng – tâm hồn em khát vọng tình yêu, hạnh phúc.

 

II. Đọc – hiểu văn bản : ( 25′)

 

 

 1. Sóng – đối tượng cảm nhận tình yêu (khổ 1 & 2)

Khổ 1 :

+ “Dữ dội – dịu êm     trạng thái đối cực của

Ồn  ào – lặng lẽ”        sóng

à Nhịp của những con sóng lòng nhiều cung bậc, sắc thái cảm xúc trong trái tim người phụ nữ đang yêu : Khi sôi nổi – say đắm khi dịu dàng – sâu lắng  .

+ “ Sông không …

                        ….tận bể”   

 o Sông không hiểu nỗi mình: Con sóng mang khát vọng  lớn lao.

o “Sóng tìm ra tận bể” : Hành trình tìm ra tận bể chất chứa sức sống tiềm tàng, bền bỉ để vươn tới giá trị tuyệt đích của chính mình.

à Tình yêu của Xuân Quỳnh luôn hướng tới những gì lớn lao, cao cả.

Khổ 2 :

+ Quy luật của sóng : Xưa – nay à vẫn thế

+ Quy luật của tình cảm : Tình yêu luôn là khát vọng muôn đời của tuổi trẻ.

 

 

 

 

 

* Hoạt động 5: 2 phút

  1. 3. Củng cố, luyện tập: ( 2′)

– Học thuộc bài thơ.

– Hình tượng  Sóng ?

* Hoạt động 6: 2 phút

  1. 4. Hướng dẫn chuẩn bị bài: ( 2′)

  Luyện tập : Sưu tầm những câu thơ, bài thơ so sánh tình yêu với sóng biển (Ca dao, thơ VN, thơ nước ngoài).

– GV trình chiếu hình ảnh minh họa bài thơ Thuyền và biển – Xuân Quỳnh: Bài hát Thuyền và biển được phổ thơ của Xuân Quỳnh.

Chuẩn bị bài mới: Chuẩn bị bài ” Sóng” tiết 2

* Rút kinh nghiệm tiết dạy:

…………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

 

 

******************************************

 

Ngày soạn: 22 /11 / 2014
Ngày dạy 25/11 25/11 26/11/2014
Lớp 12B2 12B3 12B4

 

 

Tiết: 38

SÓNG

                             Xuân Quỳnh

  1. MỤC TIÊU :

 

  1. Kiến thức:

Giúp HS:

– Nắm được vẻ đẹp tâm hồn, khát vọng tình yêu của nữ sĩ.

– Nét đặc sắc về mặt nghệ thuật kết cấu, hình tượng, ngôn từ.

  1. Kĩ năng:

– Rèn luyện kĩ năng phân tích thơ trữ tình.

  1. Thái độ, tư tưởng:

 – Có quan niệm về tình yêu một cách đúng đắn.

  1. Năng lực:

– Năng lực rút thông tin từ văn bản.

– Năng lực đọc hiểu và cảm thụ thẩm mỹ.

– Năng lực trao đổi, hợp tác.

 

  1. CHUẨN BỊ :
  2. Giáo viên:

– Sách giáo khoa Ngữ văn 12 – tập 1.

– Sách giáo viên Ngữ văn 12 – tập 1.

– Bài tập Ngữ văn 12 – tập 1.

  1. Học sinh:

– SGK, vở ghi, vở soạn.

III. TIẾN TRÌNH BÀI DẠY:

  1. Kiểm tra bài cũ: ( ko)

 

* Hoạt động 2: 1 phút

2. Tiến trình dạy:

 Vào bài: Một cuộc đời đa đoan, một trái tim đa cảm là một Xuân Quỳnh luôn coi tình yêu là cứu cánh nhưng cũng luôn day dứt về giới hạn của tình yêu.

 

HOẠT ĐỘNG CỦA GV VÀ HS NỘI DUNG BÀI HỌC
 

 

 

 

* Hoạt động 2: Hướng dẫn HS tìm hiểu: Sóng – tâm hồn em suy nghĩ, trăn trở về tình yêu (20’)

– GV gọi HS đọc bài thơ:

+ GV: Khổ 3 & 4 , tác giả bộc lộ điều gì? Cách thể hiện như thế nào?

+ GV: Liên hệ

o Thơ Xuân Diệu : “ Làm sao cắt nghĩa được tình yêu”

o Câu nói của nhà toán học Pascan : “trái tim có những lí lẽ riêng mà lí trí không thể nào hiểu nổi”

à Nghệ thuật tương đồng trong cảm nhận .

+ GV: Sau nỗi trăn trở suy tư là tâm trạng gì trong trái tim của người phụ nữ này ?

+ GV: Nỗi nhớ trong tình yêu là cảm xúc tự nhiên của con người, đã được miêu tả rất nhiều trong thơ ca xưa cũng như nay:

o Nhớ ai bổi hổi bồi hồi

Như đứng đống lửa, như ngồi đống than (Ca dao)

o “Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời”

(Chinh phụ ngâm)

o “Anh nhớ tiếng, anh nhơ hình, anh nhớ ảnh. Anh nhớ em, anh nhớ lắm. Em ơi!.”

(Xuân Diệu)

+ GV: Nỗi nhớ của nữ sĩ Xuân Quỳnh được thể hiện như thế nào ?

– HS trả lời:

– GV nhận xét, chốt ý:

+ GV: Tìm các biện pháp tu từ được sử dụng để tác giả thể hiện nỗi nhớ?

– HS trả lời:

– GV nhận xét, chốt ý:

+ GV: Khổ thơ này có gì đặc biệt so với các khổ thơ trong bài ?

– HS trả lời:

– GV nhận xét, chốt ý:

 

 

 

 

 

 

+ GV: Tình yêu của Xuân Quỳnh không chỉ gắn liền với nỗi nhớ mà còn hướng tới điều gì ?

– HS trả lời:

– GV nhận xét, chốt ý:

 

+ GV: “xuôi về phương bắc – ngược về phương nam” cách nói có gì khác thường? Nhằm nhấn mạnh điều gì ?

+ GV: Câu thơ “Hướng về anh một phương” cho thấy cách thể hiện tình cảm của tác giả như thế nào?

+ GV: Quan niệm của nh thơ Xuân Quỳnh về tình yêu thể hiện như thế nào trong khổ thơ 6 v 7?

+ GV: Gợi ý

o Mạnh mẽ và chủ động trong tình yêu, dám bày tỏ tình yêu của mình, nỗi nhớ, khát khao của lòng mình.

o Vẫn giữ vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ : thủy chung rất mực trong tình yêu.

 

 

 

 

 

 

 

 – HĐ 3: Hướng dẫn tìm hiểu Sóng – Khát vọng tình yêu của Xuân Quỳnh (15’)

+ GV: Gọi HS đọc khổ 8 .

+ GV: Em hiểu như thế nào về khổ thơ này?

+ GV: Gợi ý cho HS tìm hiểu các quan hệ từ trong các câu thơ 1&2, 3&4.

o …tuy … (nhưng)…

à quan hệ đối lập

o …..dẫu …. (nhưng ) ….

à quan hệ đối lập

Cuộc đời  > <  năm tháng

à sự nhạy cảm và lo âu của XQ về giới hạn của cuộc đời trước sự trôi chảy của thời gian

+ GV: Gọi HS đọc khổ 9 .

+ GV: Khép lại bài thơ Sóng, nhà thơ bộc lộ cảm xúc gì ?

– HS trả lời:

– GV nhận xét, chốt ý:

 

* Hoạt động 4 : Hướng dẫn HS tổng kết bài học. (5’)

– Thao tác 1: Hướng dẫn tổng kết Nghệ thuật .

+ GV: Đánh giá về nghệ thuật của bài thơ ? Nhận xét  về thể thơ, nhịp thơ và hình tượng “sóng” ?

– HS trả lời:

– GV nhận xét, chốt ý:

+ GV: Các yếu tố ấy có hiệu quả gì trong việc thể hiện nội dung, cảm xúc của bài thơ ?

– HS trả lời:

– GV nhận xét, chốt ý:

– Thao tác 2: Hướng dẫn tổng kết Nội dung.

+ GV: Em cảm nhận được vẻ đẹp gì trong tâm hồn của nhà thơ qua bài thơ Sóng?

+ GV: Gọi học sinh đọc phần Ghi nhớ.

I. Tìm hiểu chung :

II. Đọc – hiểu văn bản :

    1. Sóng – đối tượng cảm nhận tình yêu (khổ 1 & 2)

2. Sóng – tâm hồn em suy nghĩ, trăn trở về tình yêu

 

 

 

Khổ 3 & 4:  Nỗi trăn trở truy tìm khởi nguồn của tình yêu :

   

    +“   Sóng bắt đầu từ gió

            Gió bắt đầu từ đâu ?

            Em cũng không biết nữa

            Khi nào ta yêu nhau”

 

 

à Cách cắt nghĩa tình yêu rất hồn nhiên, chân thành , nữ tính và trực cảm .

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Khổ 5 : Nỗi nhớ :

 

 

 

 

+ Bao trùm cả không gian : “… dưới lòng sâu…. …trên mặt nước ….”

+ Thao thức trong mọi thời gian : “ngày đêm không ngủ được.”

àphép đối thể hiện nỗi nhớ da diết, sâu đậm.

 

+ Tồn tại trong ý thức và đi vào cả tiềm thức “ Lòng em nhớ ……….. còn thức”

à cách nói cường điệu nhưng hợp lý nhằm tô đậm nỗi nhớ mãnh liệt trong lòng nhà thơ.

+ Vừa hóa thân vào sóng vừa trực tiếp xưng “em” để bộc lộ nỗi nhớ

à tình yêu mãnh liệt

+ Phép điệp

à âm điệu nồng nàn, tha thiết cho lời thơ.

Khổ 6 : Lòng thủy chung

 

 

 

 

+ “Em”:  phương bắc – phương nam à “Hướng về anh một phương”

 

à lời thề thủy chung tuyệt đối

 

 

 

 

Khổ 7 : Bến bờ hạnh phc

+ “sóng” : ngoài đại dương à “Con nào chẳng tới bờ

à quy luật tất yếu.

+ Lòng thủy chung là sức mạnh vượt qua mọi trở ngại để tình yêu đến bến bờ hạnh phúc.

=> Lời khẳng định cho một cái tôi của một con người luôn vững tin ở tình yêu .

 

3. Sóng – Khát vọng tình yêu của Xuân Quỳnh

 

Khổ 8

+ Sự nhạy cảm và lo âu của XQ về cuộc đời trước sự trôi chảy của thời gian .

+ Nhịp thơ chùng lại, thấm đẫm suy tư .

 

Khổ 9 :

+ “Làm sao …..       khao khát sẻ chia và hòa

Thành trăm ”      nhập vào cuộc đời.

+ “Giữa biển …..     khát vọng đc sống mãi

Để ngàn …..”     trong TY, bất tử với TY

à khát vọng khôn cùng về tình yêu bất diệt.

 

III. Tổng kết :

1. Nghệ thuật :

– Thể thơ 5 chữ tạo nên âm hưởng nhịp nhàng vừa mô phỏng được nhịp điệu dào dạt của sóng vừa diễn tả được những trạng thái tinh tế của tình yêu.

– Hình tượng “sóng” có sự gợi cảm phong phú bất ngờ trong sự đối sánh với nhân vật trữ tình “em” -> Khát vọng tình yêu của nhà thơ.

2. Nội dung :

Sóng là một bài thơ hay thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ đang yêu.

à Ghi nhớ (SGK)

* Hoạt động 5: 2 phút

3. Củng cố, luyện tập: ( 2′)

– Học thuộc bài thơ.

– Hình tượng  Sóng ?

– Vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ đang yêu trong bài thơ Có nét gì giống – khác vớ vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam ?

– Đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ ?

* Hoạt động 6: 2 phút

4. Hướng dẫn chuẩn bị bài: ( 2′)

  Luyện tập : Sưu tầm những câu thơ, bài thơ so sánh tình yêu với sóng biển (Ca dao, thơ VN, thơ nước ngoài).

– GV trình chiếu hình ảnh minh họa bài thơ Thuyền và biển – Xuân Quỳnh: Bài hát Thuyền và biển được phổ thơ của Xuân Quỳnh.

Chuẩn bị bài mới : Luyện tập vận dụng kết hợp các phương thức biểu đạt trong bài văn nghị luận .

+ Xem lại cách vận dụng  các phương thức biểu đạt đã học : Tự sự, biểu cảm, thuyết minh .

+ Trong văn nghị luận có cần thiết phải sử dụng các phương thức đó trong bài văn không ?

+ Chuẩn bị các bài Luyện tập tại lớp trong SGK trang 158.

* Rút kinh nghiệm tiết dạy:

Câu hỏi/ Bài tập minh họa: ĐÀN GHI TA CỦA LOR- CA

                                                                                  Thanh Thảo

 

NHẬN BIẾT THÔNG HIỂU VẬN DỤNG
VẬN DỤNG THẤP VẬN DỤNG CAO
– Hãy giới thiệu vài nét về tiểu sử của nhà thơ Thanh Thảo và LORCA?

–  Nêu  hoàn cảnh ra đời của bài thơ?

– Nêu bố cục của bài thơ?

– Xác định đề tài, cấu trúc của bài thơ?

– Đọc thuộc lòng bài thơ.

– Em hiểu gì ý nghĩa câu thơ đề từ?

– Nêu ý nghĩa biểu tượng của các hình ảnh:

Aó choàng đỏ, vầng trăng, yên ngựa, h/a thính giác li la li la, tiếng đàn bọt nước, vầng trăng chếnh choáng?

– Nhà thơ thanh Thảo đã dùng thủ pháp nghệ thuật gì để diễn tả cái chết của Lor- ca? Điều đó cho em hiểu gì về t/c của nhà thơ TT?

– Em hiểu thế nào về câu thơ ” tiếng đàn như cỏ mọc hoang” ?

 

 

– Em cảm nhận được vẻ đẹp gì trong tâm hồn của nhà thơ qua bài thơ?

 

– Cảm nhận của em về hai câu thơ:

              những tiếng đàn bọt nước

              Tay Ban Nha áo choàng đỏ gắt

– Phân tích nội dung và nghệ thuật của bài thơ?

– Đọc diễn cảm bài thơ?

 

– Phân tích hình tượng LorCa?

 

 

Tiết 40 –  Đọc văn : 

ĐÀN GHI TA CỦA LOR-CA

-Thanh Thảo-

   I/Mục tiêu bài học: Giúp HS:

.Giúp học sinh:

  1. Kiến thức

–  Thấy được vẻ đẹp bi tráng của hình tượng Gar-xia Lor-ca.

–  Hiểu và cảm nhạn được mạch cảm xúc và suy tư đa chiều vừa sâu sắc vừa mãnh liệt của tác giả cùng nét độc đáo trong hình thức biểu đạt thơ mang phong cách tượng trưng.

  1. Kĩ năng

–  Củng cố, nâng cao kĩ năng phân tích thơ, nhất là thơ tượng trưng.

  1. Thái độ, tư tưởng:

–  Bồi dưỡng tâm hồntới chân, thiện, mỹ trong tình yêu nghệ thuật.

  1. Năng lực

– Năng lực rút thông tin từ văn bản.

– Năng lực đọc hiểu và cảm thụ thẩm mỹ.

– Năng lực giải quyết tình huống

– Năng lực trao đổi, hợp tác

II. CHUẨN BỊ :

  1. Giáo viên:

– Giáo án lên lớp

– Sách giáo khoa Ngữ văn 12 – tập 1.

– Sách giáo viên Ngữ văn 12 – tập 1.

– Bài tập Ngữ văn 12 – tập 1.

  1. Học sinh:

– SGK, vở ghi, vở soạn.

III. TIẾN TRÌNH BÀI DẠY:

  1. Kiểm tra bài cũ: ( 5′)

 Câu hỏi: Đọc thuộc bài thơ Sóng và cho biết giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ

Đáp án:

     *Nghệ thuật :

– Thể thơ 5 chữ tạo nên âm hưởng nhịp nhàng vừa mô phỏng được nhịp điệu dào dạt của sóng vừa diễn tả được những trạng thái tinh tế của tình yêu.

– Hình tượng “sóng” có sự gợi cảm phong phú bất ngờ trong sự đối sánh với nhân vật trữ tình “em” -> Khát vọng tình yêu của nhà thơ.

     *Nội dung :

Sóng là một bài thơ hay thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ đang yêu.

2. Bài mới:

Hoạt động của Gv Hoạt động của HS Nội dung kiến thức
HĐ1:HD Hs tìm hiểu Tiểu dẫn (sgk).

– GV yêu cầu 1 Hs đọc Tiểu dẫn (sgk).

– GV: Hãy trình bày những nét chính về nhà thơ Thanh Thảo; Những tác phẩm tiêu biểu và đặc điểm của thơ Thanh Thảo.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

?  Em biết gì về nhà thơ hiện đại Tây Ban Nha Lor- ca?

GV thuyết trình ——>

Khi nào tôi chết

Hãy vùi thây tôi cùng với

Cây đàn d­ưới lớp cát

Khi nào tôi chết

Hãy vùi thây tôi giữa rặng cây cam

Và đám bạc hà

Khi nào tôi chết

hãy vùi thây tôi, tôi xin các ng­ười đó

Nơi một chiếc chong chóng gío

Khi nào tôi chết

 

 

-GV: Bổ sung các kiến thức về Lor-ca; về trào lưu văn học siêu thực; về trào lưu văn học tượng trưng…

 

 

 

 

-GV: Gọi 1 Hs đọc bài thơ.

-GV: Cho hs xác định bố cục.

-GV: Nhận xét cách chia bố cục của hs và điều chỉnh, bổ sung.

 

 

 

 

 

 

-GV: Theo em qua bài thơ nhà thơ muốn nói lên điều gì? ( Câu hỏi tìm chủ đề)

 

 

 

– Hs đọc Tỉểu dẫn.

 

 

– Hs dựa vào Sgk trả lời.

 

– Hs theo dõi, ghi chép.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

-Hs đọc bài thơ.(lưu ý cách đọc xúc cảm, luyến láy…như cung bậc đàn ghi ta)

 

– Hs chia bố cục và lý giải về cách chia bố cục đó.

 

-Hs tự ghi chép các ý chính.

 

-Hs dựa vào định hướng ở bố cục để trả lời.

I/ Giới thiệu chung:

1. Nhà thơ Thanh Thảo

– Tên khai sinh: Hồ Thành Công sinh năm 1946

– Quê quán: Huyện Mộ Đức tỉnh Quảng Ngãi, ông t­ừng tham gia công tác ở chiến tr­ong miền Nam

– Tác phẩm:

+ Những ng­ời đi tới biển(1977)

+ Dấu chân qua trảng cỏ(1978)

+ Khối vuông ru- bích(1985)

Đặc điểm thơ
+ Tiếng nói của ng­ời tri thức suy t­ trăn trở về các vấn đề xã hội và thời đại.
+ Có xu hư­ớng đào sâu cái tôi nội cảm, tìm kiếm cách biểu đạt mới qua thơ tự do
=> Kiểu thơ giàu suy t­ mãnh liệt phóng túng trong cảm xúc

Cấu trúc thơ: mới mẻ sáng tạo theo mô hình khối vuông ru- bích

2. Lor- ca

 

Tiểu sử Phê-đê-ri- cô Ga-xi -a Lor-ca

Sinh ra ở tỉnh Gra-na-đa, Tây Ban Nha.

Năm 1910 lor-ca đã tham gia hội nghệ thuật tỉnh.

Năm 1914 ông học luật, triết học và văn học ở đại học Gra- na- đa.

Năm 1918 in tập thơ đầu tay: ấn t­ợng và phong cảnh và bắt đầu nổi tiếng

Năm 1919 Lor- ca lên Ma-đrít tham gia vào đời sống văn nghệ, ông quen Grê-gô-ri-ô giám đốc nhà hát=> Lor-ca viết và dựng vở kịch đầu tiên: Yêu thuật của b­ớm.

Năm 1929 Lor- ca sang New York và kết quả là sự ra đời tập thơ: Nhà thơ ở New York (1931)

Năm 1931 ông quay lại Tây Ban Nha khi nư­ớc này bắt đầu lập chính thể cộng hoà. Khi nội chiến xảy ra Lor- ca từ giã Ma-đrít trở về Gra-na-da => ảnh h­ởng lớn đến đời sống tinh thần của Tây Ban Nha => Năm 1936 chế độ phản độnh cực quyền thân phát xít đã bắt giam và bắn chết ông.

 

3/Bài thơ:

a/ Xuất xứ:

– Rút trong tập “Khối vuông Ru – bích”.

– Thể hiện tư duy thơ Thanh Thảo: giàu suy tư, nhuốm màu sắc tượng trưng, siêu thực.

b/ Bố cục: Gồm 4 phần:

* Câu 1 – 6: Lor-ca – con người tự do, nghệ sĩ cách tân trong khung cảnh chính trị, nghệ thuật TBN.

* Câu 7- 18: Lor-ca với cái chết oan khuất và nỗi xót xa về sự dang dở của khát vọng cách tân nghệ thuật.

* Câu 19- 22: Niềm xót thương Lor-ca.

* Câu 23- 31: Suy tư về cuộc giải thoát và cách giã từ của Lor-ca.

c/ Chủ đề:

– Khắc hoạ cuộc đời nghệ sĩ Lor-ca với lý tưởng cách tân nghệ thuật và cái chết oan khuất.

– Thể hiện niềm ngưỡng mộ và xót thương của tác giả đối với Lor-ca.

HĐ2: HD Hs tìm hiểu bài thơ:

– GV: đọc lại 18 dòng thơ đầu.

 

-GV: Em có suy nghĩ gì khi bắt gặp h/ả “Áo choàng đỏ gắt”, “ tiếng đàn ghi ta…?”

 

 

 

 

-GV:Các h/ả “đi lang thang, vầng trăng chếnh choáng, yên ngựa mỏi mòn, hát nghêu ngao, li la…” giúp ta liên tưởng đến điều gì?

 

 

 

GV dẫn dắt chuyển ý: Từ bối cảnh chính trị và nghệ thuật TBN lúc bấy giờà số phận bi thương của Lor-ca.

 

 

GV:Tác giả đã tái hiện cái chết oan khuất của Lor-ca qua các h/ả, chi tiết nào?

 

 

 

 

 

 

-GV: Cảm nhận của em về các bpnt được tác giả sử dụng trong bài thơ?

(ý nghĩa của các bpnt đó?)

 

 

 

 

 

 

GV: Nhận xét, giảng giải bổ sung và cho hs ghi vở những nét cơ bản.

(Tránh sự áp đặt cách hiểu cho hs, tôn trọng ý kiến hs)

 

 

 

-Hs lắng nghe, nhập cảm.

 

 

-Hs nêu cảm nhận.

 

 

 

 

 

-Hs lý giải, phân tích các h/ả.

 

 

 

 

 

 

 

-Hs theo dõi, nêu cảm nhận chung về hình tượng Lor-ca trên cơ sở định hướng của GV.

 

 

-Hs dựa vào văn bản, tìm các h/ả, chi tiết liên quan.

 

 

 

 

 

 

-Hs liệt kê các bpnt, thảo luận nhanh giữa các thành viên trong bàn về ý nghĩa của các bpnt và trình bày trước lớp.

(Khuyến khích những cách hiểu riêng).

 

 

 

 

-Hs theo dõi, ghi chép.

II/ Đọc – hiểu văn bản:

1/ Hình tượng nghệ sĩ Lor-ca:

 a/ Lor-ca, một con người tự do, nghệ sĩ cách tân trong khung cảnh chính trị và nghệ thuật TBN:

– Áo choàng đỏ:

+ Gợi bản sắc văn hoá TBN.

+ H/ả Lor-ca như một đấu sĩ với khát vọng dân chủ trước nền chính trị TBN độc tài lúc bấy giờ.

– Tiếng đàn:

+ Ghi ta: nhạc cụ của người TBN.

+ Tài năng nghệ thuật của Lor-ca với khát vọng cách tân nghệ thuật

Đi lang thang; vầng trăng chếnh choáng; yên ngựa mỏi mòn; hát nghêu ngao; li la…:

+ Phong cách nghệ sĩ dân gian tự do.

+ Sự cô đơn của Lor-ca trước thời cuộc chính trị, trước nghệ thuật TBN già cỗi.

b/ Lor-ca và cái chết oan khuất:

– Hình ảnh:

+ Áo choàng bê bết đỏ – Gợi cảnh tượng khủng khiếp về cái chết của Lor-ca.

+ Tiếng ghi ta:

. nâu: trầm tĩnh, nghĩ suy.

. xanh: thiết tha, hy vọng.

. tròn bọt nước vỡ tan: bàng hoàng, tức tưởi.

. ròng ròng máu chảy: sự đau đớn, nghẹn ngào.

=> Âm nhạc đã thành thân phận, tiếng đàn thành linh hồn, sinh thể.

– Biện pháp nghệ thuật:

+ Đối lập:

Hát nghêu ngao >< áo choàng bê bết đỏ

 

khát vọng  ><  hiện thực phũ phàng         (giữa tiếng hát yêu đời vô tư , giữa tình yêu cái Đẹp và hành động tàn ác, dã man).

+ Nhân hoá: Tiếng ghi ta… máu chảy.

+ Hoán dụ: Áo choàng, tiếng ghi ta àLor-ca.

+ Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: Tiếng ghi ta vỡ ra thành màu sắc, hình khối, hành động…

* Với việc sử dụng bpnt tài tình, tác giả đã khắc hoạ thật ấn tượng về cái chết đầy bi phẫn của người nghệ sĩ Lor-ca.

Củng cố, luyện tập

– GV hệ thống những kiến thức cơ bản của bài thơ để HS nắm được

Bài tập

Cảm nhận của em về hai câu thơ:

              những tiếng đàn bọt n­ớc

              Tay Ban Nha áo choàng đỏ gắt

* Hoạt động 8: 2 phút

Hướng dẫn học sinh học bài và làm bài

– Học bài cũ:

+ Đọc thuộc bài thơ

+ Nắm vững ý nghĩa các hình ảnh thơ

* Rút kinh nghiêm tiết dạy

          TIẾT 41                      

                                      ĐÀN GHI TA CỦA LOR- CA (Tiếp)

                                                                                  Thanh Thảo

 

I/ MỤC TIÊU

Giúp học sinh:

  1. Kiến thức

–  Thấy được vẻ đẹp bi tráng của hình tượng Gar-xia Lor-ca.

–  Hiểu và cảm nhạn được mạch cảm xúc và suy tư đa chiều vừa sâu sắc vừa mãnh liệt của tác giả cùng nét độc đáo trong hình thức biểu đạt thơ mang phong cách tượng trưng.

  1. Kĩ năng

–  Củng cố, nâng cao kĩ năng phân tích thơ, nhất là thơ tượng trưng.

  1. Thái độ, tư tưởng:

–  Bồi dưỡng tâm hồn, hướng tới chân, thiện, mỹ trong tình yêu nghệ thuật.

  1. Năng lực

– Năng lực rút thông tin từ văn bản.

– Năng lực đọc hiểu và cảm thụ thẩm mỹ.

– Năng lực trao đổi, hợp tác

II. CHUẨN BỊ :

  1. Giáo viên:

– Giáo án lên lớp

– Sách giáo khoa Ngữ văn 12 – tập 1.

– Sách giáo viên Ngữ văn 12 – tập 1.

– Bài tập Ngữ văn 12 – tập 1.

  1. Học sinh:

– SGK, vở ghi, vở soạn.

III. TIẾN TRÌNH BÀI DẠY:

  1. Kiểm tra bài cũ:
  2. Bài mới:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

-GV: Đọc phần thơ còn lại.

 

-GV: Theo em, Lor-ca muốn nhắn gửi thông điệp gì qua câu nói “khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn”?

 

-GV: Cho hs nêu cảm nhận 4 câu thơ “Không ai chôn …cỏ mọc hoang”.

 

 

 

-GV: Yêu cầu hs giải mã các h/ả “giọt nước mắt , đường chỉ tay, dòng sông, lá bùa, chiếc ghi ta màu bạc…”.

 

 

 

-GV:Định hướng cách hiểu.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

-Hs theo dõi sgk

 

 

 

-Hs thảo luận nhóm và nêu cảm nhận.

 

 

 

 

 

 

 

– Hs dựa vào văn bản, suy nghĩ, trả lời. (Khuyến khích những cách hiểu riêng).

 

 

 

 

-Hs theo dõi, ghi chép.

I. Tiểu dẫn: ( 7′)

1. Nhà thơ Thanh Thảo

 

2. Lor- ca

 

3. Bài thơ

 

II/ Đọc – hiểu văn bản:

1/ Hình tượng nghệ sĩ Lor-ca:

 

2/ Nỗi xót thương và suy tư về cuộc giã từ của Lor-ca:

– Lời Lor-ca (đề từ): “Khi tôi chết …cây đàn.”

+ Niềm đam mê nghệ thuật.

+ Hãy biết quên nghệ thuật của Lor-ca để tìm hướng đi mới.

“Không ai chôn cất… cỏ mọc hoang”

+ Nghệ thuật của Lor-ca (cái Đẹp): có sức sống và lưu truyền mãi mãi như “cỏ mọc hoang”.

+ Phải chăng không ai dám vượt qua cái cũ, thần tượng để làm nên nghệ thuật mới.

Giọt nước mắt …trong đáy giếng:

+ Vầng trăng nơi đáy giếngàsự bất tử của cái Đẹp.

Đường chỉ tay: ẩn dụ về định mệnh nghiệt ngã.

-… dòng sông, ghi ta màu bạc…à gợi cõi chết, siêu thoát.

– Các hành động: ném lá bùa, ném trái tim: có ý nghĩa tượng trưng cho một sự giã từ, một sự lựa chọn.

* Tiếng lòng tri âm sâu sắc đối với người nghệ sĩ, thiên tài Lor-ca.

 

-GV: Tiếng “Li la- li la- li la” trong bài thơ có ý nghĩa gì?

 

-GV: định hướng.

 

-Hs tìm hiểu yếu tố âm nhạc trong bài thơ. Nêu ý nghĩa?

 

-Hs ghi chép.

3/Yếu tố âm nhạc trong bài thơ:

– Chuỗi âm thanh “Li la- li la- li la” luyến láy ở đầu và cuối như khúc dạo đầu và kết thúc bản nhạc.

– Sự kính trọng và tri âm Lor-ca- nghệ sĩ thiên tài.

HĐ3: HD hs tổng kết, dặn dò.

-GV: Yêu cầu hs tự tổng kết bài học về phương diện nội dung và nghệ thuật.

 

-GV: Nhận xét, định hướng ý chính.

 

 

 

 

 

 

 

-Hs dựa vào nội dung tìm hiểu văn bản để tổng kết.

 

-Hs ghi lại những nét chính.

 

 

 

 

III/ Tổng kết:

1/ Nghệ thuật:

– Thể thơ tự do, không dấu câu, không dấu hiệu mở đầu, kết thúc.

– Sử dụng h/ả, biểu tượng – siêu thực có sức chứa lớn về nội dung.

– Kết hợp hài hoà hai yếu tố thơ và nhạc.

2/ Nội dung:

Tác giả bày tỏ nỗi đau xót sâu sắc trước cái chết oan khuất của thiên tài Lor-ca- một nghệ sĩ khát khao tự do, dân chủ, luôn mong muốn cách tân nghệ thuật.

 

  1. Củng cố, luyện tập

– GV hệ thống những kiến thức cơ bản của bài thơ để HS nắm được

Bài tập

Cảm nhận của em về hình tượng Lorca trong bài thơ:

  1. Hướng dẫn học sinh học bài và làm bài

– Học bài cũ:

+ Đọc thuộc bài thơ

+ Nắm vững giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ

– Soạn bài: Bác ơitự do.

* Rút kinh nghiêm tiết dạy

(Tài liệu sưu tầm )

Xem thêm : Trọn bộ giáo án Ngữ văn 12

Giáo án Ngữ văn 12 theo chủ đề: Thơ Việt Nam và nước ngoài

 GIÁO ÁN  THEO CHỦ ĐỀ KHỐI 12

1/ Phân phối chương trình chuẩn Văn 12-HKI theo chủ đề:

Chủ đề 1  Văn học sử

Khái quát văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến hết thế kỷ XX

Chủ đề 2 :Nghị luận xã hội

Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

Nghị luận về một hiện tượng đời sống

Bài viết số 1 – Nghị luận xã hội

Chủ đề 3 :Tác giả văn học

Tuyên ngôn độc lập (Phần I: Tác giả)

Chủ đề 4 :Tiếng Việt

Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt

Tuyên ngôn độc lập (Phần 2: Tác phẩm)

Chủ đề 5 :Văn nghị luận hiện đại Việt Nam và nước ngoài

-Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ dân tộc.

-Đọc thêm: – Mấy ý nghĩ về thơ (Trích).

-Đốt – xtôi -ep-xki (Trích)

Chủ đề 6 :Văn bản nhật dụng

Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS ( Cô phi An Nan)

Chủ đề 7 :Phong cách ngôn ngữ

Phong cách ngôn ngữ khoa học.

Phong cách ngôn ngữ hành chính

Chủ đề 8 :Thơ kháng chiến chống Pháp 1945-1954 và xây dựng CNXH 1955-1965

Tây Tiến

Việt Bắc (Phần I: Tác giả)

Việt Bắc

Đọc thêm: – Đất nước.

– Dọn về làng.

-Tiếng hát con tàu

Chủ đề 9 :Nghị luận văn học

Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ.

Chủ đề 10 :Luật thơ

Chủ đề 11 :Phát biểu

Phát biểu theo chủ đề

Phát biểu tự do

Chủ đề 12 : Thơ kháng chiến chống Mỹ 1965-1975

Sóng

Bác ơi

Chủ đề 13 : Biện pháp tu từ

Chủ đề 14 : Thao tác lập luận và phương thức biểu đạt

Luyện tập vận dụng kết hợp các phương thức biểu đạt

Luyện tập vận dụng kết hợp các thao tác lập luận

Chủ đề 15 : Thơ hiện đại Việt Nam sau 1975 và thơ nước ngoài

Đàn ghi-ta của Lorca.

Đọc thêm

-Đò Lèn

– Tự do.

Chủ đề 16 : Kí hiện đại Việt Nam

Người lái đò sông Đà

Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Trích)

Đọc thêm: – Những ngày đầu tiên của nước Việt Nam mới

Kiểm tra tổng hợp cuối học kỳ  1

 2/ Minh hoạ giáo án mẫu:

15 3 Chủ đề 14

Thơ hiện đại Việt Nam sau 1975 và thơ nước ngoài

40-41 44-45 Đàn ghi-ta của Lorca

 

16 35 46 Đọc thêm

-Đò Lèn

– Tự do.

 

 

MỤC TIÊU CẦN ĐẠT


1. Kiến thức-Kĩ năng-Thái độ

            a.Kiến thức

Sau bài học, người học hiểu được:

– Hình tượng cao cả, đẹp đẽ của nhà thơ-chiến sĩ Lor-ca .

– Hình thức biểu đạt mang phong cách hiện đại của Thanh Thảo.

– Cảm nhận được tình cảm tri ân sâu sắc pha nỗi xót xa ân hận muộn màng của nhà thơ đối với người bà đã khuất.

– Hiểu được những nét riêng của Nguyễn Duy trong cách nhìn về quá khứ, về tuổi thơ cũng như trong cách thể hiện những cảm nhận về người bà lam lũ tảo tần giàu yêu thương. (Đò Lèn)

– Khát vọng tự do của con người ( bài Tự do)

Kĩ năng

Sau bài học, người học có thể:

–  Đọc-  hiểu thơ trữ tình theo đặc trưng thể loại.

– Làm quen với cách biểu đạt mang đậm dấu ấn của trường phái siêu thực

Thái độ:

Sau bài học, người học ý thức:

-Trân trọng, ngưỡng mộ tài năng của người nghệ sĩ.

– Tình yêu quê hương, đất nước, gia đình.

-Trân quí độc lập tự do của dân tộc.

                       

Hình thành năng lực:

– Năng lực thu thập thông tin liên quan thơ hiện đại Việt Nam sau 1975 và thơ nước ngoài

– Năng lực đọc – hiểu  các tác phẩm thơ hiện đại Việt Nam từ sau 1975 và thơ nước ngoài

– Năng lực trình bày suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về thơ hiện đại Việt Nam

– Năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận về thành tựu, hạn chế, những đặc điểm cơ bản, giá trị của những tác phẩm văn học của giai đoạn này.

– Năng lực phân tích, so sánh đặc điểm của thơ hiện đại Việt Nam từ sau 1975 so với các giai đoạn trước đó; so sánh thơ siêu thực Việt Nam với thơ siêu thực nước ngoài.

– Năng lực tạo lập văn bản nghị luận.

Phát triển phẩm chất:

-Biết nhận thức được ý nghĩa của thơ hiện đại Việt Nam trong lịch sử văn học dân tộc

-Biết trân quý những giá trị văn hóa truyền thống mà thơ hiện đại đem lại

-Có ý thức tìm tòi về thể loại, từ ngữ, hình ảnh trong thơ hiện đại Việt Nam .

B.KẾ HOẠCH THỰC HIỆN CHỦ ĐỀ

  1. Thời gian thực hiện

-Thực hiện trong 02 tuần: 15, 16

-Số tiết thực hiện trên lớp: 03

+  2 tiết: Đàn ghi-ta của Lorca

+ 1 tiết: Đọc thêm:-Đò Lèn- Tự do.

  1. Chuẩn bị của giáo viên và học sinh

a/Chuẩn bị của giáo viên

-Giáo án

-Phiếu bài tập, trả lời câu hỏi

– Sưu tầm tranh, ảnh về Thanh Thảo, đàn ghi ta, đấu bò tót, băng bài hát: Tiếng đàn ghi-ta của Lor-ca (phổ thơ Thanh Thảo); ảnh về tác giả Nguyễn Duy, Eluya.

-Bảng phân công nhiệm vụ cho học sinh hoạt động trên lớp

-Bảng giao nhiệm vụ học tập cho học sinh ở nhà

b/Chuẩn bị của học sinh

-Đọc trước ngữ liệu trong SGK để trả lời câu hỏi tìm hiểu bài

-Các sản phẩm thực hiện nhiệm vụ học tập ở nhà (do giáo viên giao từ tiết trước)

-Đồ dùng học tập

  1. Lập bảng mô tả mức độ nhận thức

 

 

Nhận biết

 

Thông hiểu

 

Vận dụng

Vận dụng thấp Vận dụng cao
Nêu được hoàn cảnh lịch sử xã hội văn hóa của Văn học sau 1975; nước Pháp trong chiến tranh thế giới thứ II. Ảnh hưởng của  hoàn cảnh lịch sử xã hội văn hóa đến  sự phát triển của văn học. Phân loại được trào lưu sáng tác văn học – Vận dụng hiểu biết về  hoàn cảnh lịch sử xã hội ra  để lí giải nội dung ,nghệ thuật của tác phẩm văn học.
-Nêu được  chủ đề, những thành tựu  của thơ Việt nam sau 1975

– Kể tên tác phẩm thơ tiêu biểu ở trong nước và ngoài nước.

Những đóng góp nổi bật của thơ hiện đại Việt Nam sau 1975. Lý giải nguyên nhân của những hạn chế. Lấy được những dẫn chứng để chứng minh. – So sánh thành tựu giai đoạn này với giai đoạn trước 1975

– So sánh trào lưu CN siêu thực giữa thơ Việt nam và thế giới.

 

THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC DẠY HỌC

 

HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM

GV hướng dẫn học sinh tìm hiểu về thơ hiện đại Việt Nam từ sau năm 1975 bằng câu hỏi đọc hiểu sau ( Tích hợp kiến thức Ngữ văn 9)

  1. Đọc đoạn thơ sau đây và trả lời các câu hỏi bên dưới:
    “…Từ hồi về thành phố
    quen ánh điện cửa gương
    vầng trăng đi qua ngõ
    như người dung qua đường…”
    1. Đoạn thơ được trích trong bài thơ nào? Tác giả bài thơ là ai?
    2. Bài thơ ấy sáng tác trong hoàn cảnh nào? Nêu chủ đề của bài thơ?

Gợi ý trả lời:

  1. Đoạn thơ trên trích trong bài thơ Ánh trăng – Nguyễn Duy
  2. Bài thơ được sáng tác năm 1978 tại thành phố Hồ Chí Minh, 3 năm sau ngày Miền Nam giải phóng. Bài thơ được in trong tập thơ “Ánh trăng” được tặng giải A của Hội nhà văn Việt Nam 1984

Từ một câu chuyện riêng, tiếng thơ của Nguyễn Duy như một lời cảnh tỉnh, nhắc nhở thấm thía về thái độ sống “uống nước nhớ nguồn”,“ân nghĩa thuỷ chung” cùng quá khứ.

 

Từ đó, giáo viên giới thiệu vào bài: trong chương trình Ngữ văn 9, các em đã học một số nhà thơ tiêu biểu trong văn học Việt Nam sau 1975 ( như bài Ánh trăng của Nguyễn Duy, bài thơ Sang thu-Hữu Thỉnh). Như vậy, văn học Việt Nam từ sau 1975 có gì nổi bật? Chúng ta cùng tìm hiểu chủ đề Thơ hiện đại Việt Nam sau 1975 và thơ nước ngoài, trong đó có bài cùng trào lưu sáng tác qua các bài thơ tiêu biểu như Đàn ghi-ta của Lorca ( Thanh Thảo); Đò Lèn ( Nguyễn Duy)- Tự do (P.Eluya)

HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH KIẾN THỨC MỚI

 

TUẦN 15-TIẾT 44-45

Nội dung Mô tả hoạt động của thầy và trò  
Hoạt động của thầy Hoạt động của trò
Họat động 1: TÌM HIỂU NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA THƠ HIỆN ĐẠI VIỆT NAM SAU 1975

(15 phút).

A. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA THƠ HIỆN ĐẠI VIỆT NAM SAU 1975

I. Hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa

– Sau đại thắng mùa xuân 1975, đất nước thống nhất, bước vào thời kì xây dựng CNXH;

– Sau 1986 là thời kì đổi mới, kinh tế thị trường định hướng XHCN

– Văn học cũng phải đổi mới phù hợp với cuộc sống mới.

II. Những thành công nội dung và nghệ thuật thơ sau 1975

1/ Nội dung:

– Cảm hứng chính của thơ sau 1975 là cảm hứng thế sự, đời tư.

– Thơ sau 1975 khẳng định con người cá tính trong đó con người không tự thoả mãn, bằng lòng mà luôn tìm kiếm giá trị tinh thần, khai thác và trở lại qua khứ lịch sử, phong tục quê hương, bà mẹ với những cảm xúc chân thành, bùi ngùi của người đã một thời vì việc chung mà quên đi cái riêng

2/Nghệ thuật:

a/ Xuất hiện những bài thơ theo xu hướng hiện đại chủ nghĩa như chủ nghĩa ấn tượng, tượng trưng, chủ nghĩa siêu thực

b/ Thể thơ: bên cạnh thể truyền thống, đã nở rộ Trường ca

* Thao tác 1 :

GV: Yêu cầu HS xem lại bài Khái quát văn học Việt Nam từ 1945 đến hết thế kỷ XX để trả lời các câu hỏi sau:

1.      1/Hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa của đất nước sau năm 1975?

 

2.      2/Những thành công nội dung và nghệ thuật thơ sau 1975?

 

3/ Kể tên các tác giả tiêu biểu của thơ Việt Nam sau năm 1975?

 

 

 

 

 

 

 

 

* HS trả lời cá nhân

 

 

 

CÁC TÁC PHẨM

 

ĐÀN GHI TA CỦA LORCA (THANH THẢO)

 

Nội dung Mô tả hoạt động của thầy và trò  
Hoạt động của thầy Hoạt động của trò
Họat động 1: TÌM HIỂU CHUNG (15 phút).
I- Tìm hiểu chung:

1- Tác giả:

– Thanh Thảo là một trong những gương mặt tiêu biểu cho các nhà thơ trưởng thành trong k/c chống Mĩ.

– Ngòi bút hướng nội giàu suy tư, trăn trở về cuộc sống của nhân dân, đất nước và thời đại; luôn tìm tòi những hình thức biểu đạt mới.

2- Tác phẩm:

– In trong tập “Khối vuông ru bích”- 1985, là một trong những sáng tác tiêu biểu cho kiểu tư duy thơ tượng trưng.

– Đàn ghi ta (Tây Ban Cầm) có 6 dây, một nhạc cụ truyền thống của Tây Ban Nha.

– Lor-ca (1898 – 1936): nhà thơ thiên tài của TBN, người có khát vọng tự do và cách tân nghệ thuật mãnh liệt, bị chính quyền phản động thân phát xít bắt giam và giết hại.

* Thao tác 1 :

Hướng dẫn HS tìm hiểu chung về tác giả và tác phẩm

 

? Nêu những nét chính về nhà thơ Thanh Thảo?

 

? Nêu những đặc điểm thơ Thanh Thảo?

 

 

? Nêu xuất xứ của bài thơ và những hiểu biết về Lorca?

 

+ GV nhấn mạnh và giải thích câu thơ đề từ – lời của chính Phê-đê-ri-cô Gác-xi-a Lor-ca: Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn. với những ý nghĩa khác nhau.

 

 

 

 

 

* HS trả lời cá nhân

Tác giả Thanh Thảo (1946):Hồ Thành Công (Quảng Ngãi)- một trong những nhà thơ nổi tiếng thời chống Mĩ với các tập trường ca và tập thơ có những khám phá đổi mới trong tư duy thơ và hình thức thể loại.

+ HS đọc kĩ và tự tóm tắt mục Tiểu dẫn trong SGK, tr.162 – 163.

Tập thơ Khối vuông ru bích (1985) với bài thơ Đàn ghi-ta của Lor-ca.

+ HS đọc chú thích (1), (2), SGK tr.162 để hiểu về cây đàn ghi-ta; con người và sự nghiệp của nhà thơ – nhạc sĩ Tây Ban Nha.

 

 
Họat động 2: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN ( 45 PHÚT)
II- Đọc- hiểu văn bản:

1.  Hình tượng Lor-ca qua cảm nhận của nhà thơ

a. Người nghệ sĩ tự do với khát vọng cách tân nghệ thuật:

* Với những hình ảnh tượng trưng:

– Tiếng đàn bọt nước.

– Áo choàng đỏ gắt -> gợi không gian đậm chất văn hoá Tây Ban Nha.

+ Khát vọng dân chủ của công dân Lor-ca >< nền chính trị độc tài TBN.

+ Khát vọng cách tân nghệ thuật >< nền nghệ thuật già nua TBN.

– Li-la li-la li-la.

– Vầng trăng chếnh choáng.

– Trên yên ngựa mỏi mòn.

-> Người nghệ sĩ – chiến sĩ tự do và cô đơn trong cuộc chiến đấu chống lại chế độ độc tài.

-> Hình ảnh Lor-ca được giới thiệu  chỉ bằng vài nét chấm phá -> ảnh hưởng của trường phái ấn tượng.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

b- Cái chết bất ngờ với Lor-ca:

– Lor-ca bị bắt và hành hình:

+ Áo choàng bê bết đỏ.

+ Lor-ca bị điệu về bãi bắn.

+ Chàng đi như người mộng du.

-> Lor-ca đến với cái chết một cách hiên ngang và bình thản.

– Hình ảnh tượng trưng diễn tả nỗi lòng của Lor-ca:

=> Hình ảnh Lor-ca với cái chết bất ngờ, oan khuất, bi phẫn bởi những thế lực tàn ác.

– Nghệ thuật khắc họa tiếng đàn:

+ Phép điệp: “tiếng ghi ta” và nâng cấp độ âm thanh bằng những thanh T gieo vào tiếng cuối.

+ Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác qua hệ thống âm thanh (ghi ta) vỡ ra thành màu sắc (nâu, xanh) thành hình khối (tròn bọt nước vỡ tan) thành hình ảnh động (ròng ròng máu chảy).

=> Tiếng đàn là nỗi lòng, là tình yêu đối với cái đẹp của Lor-ca. Cái chết đã biến Lor-ca thành hình tượng bất tử, là lời tuyên chiến mạnh mẽ của người nghệ sĩ chân chính trong môi trường bạo lực thống trị.

* Thao tác 1: Hướng dẫn HS đọc văn bản

+ Chú ý giọng điệu phóng khoáng, khi cô đơn, khi đau đớn, khi tha thiết, câu thơ mô phỏng tiếng hát, tiếng đàn: li-la-li-la-li-la cần đọc nhanh, âm thanh ríu rít.

+ GV cùng HS đọc toàn văn bài thơ. Nhận xét cách đọc và kết quả đọc.

* Thao tác 2:  Tìm hiểu Hình tượng Lor-ca qua cảm nhận của nhà thơ

+ GV hỏi:

Hình ảnh Lor-ca nhà thơ – nhạc sĩ – nghê sĩ Tây Ban Nha hiên lên như thế nào trong tưởng tượng của Thanh Thảo?

Tiếng đàn ghi-ta li-la-li-la và được ví như bọt nước, hình ảnh áo choàng đỏ gắt, vầng trăng chếnh choáng, yên ngựa mỏi mòn… gợi cho em những liên tưởng gì?

+ HS suy nghĩ, liên tưởng, trả lời.

 

 

 

 

 

 

+ GV hỏi:

-Cái chết của người anh hùng đấu tranh cho tự do trong cảm nhận và suy tư của nhà thơ Việt nửa thế kỉ sau được diễn tả như thế nào?

-Những hình ảnh nào được nhắc lại và phát triển thêm? Dụng ý nghê thuật của tác giả?

-Em hình dung những hình ảnh ẩn dụ tả tiếng đàn: tiếng đàn nâu, tiếng đàn xanh, tiếng đàn tròn bọt nước vỡ tan…như thế nào?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

+ HS đọc diễn cảm 6 câu đầu.

* HS trả lời cá nhân

-Hình ảnh so sánh ẩn dụ mới mẻ: tiếng đàn bọt nước thể hiên sự tinh tế mong manh của tiếng đàn mới mẻ, của ước vọng đổi mới nền âm nhạc Tây Ban Nha của nhà nghê sĩ thiên tài.

-Hình ảnh áo choàng đỏ gắt mang ý nghĩa khái quát biểu tượng một trong những đặc điểm văn hoá đặc trưng của đất nước này: những lễ hội, phong tục đấu bò tót trong những đấu trường đẫm máu với những dũng sĩ, đấu sĩ anh hùng khoác tấm choàng đỏ thắm để dụ và kích thích con bò.

-Câu thơ mô phỏng tiếng đàn ghi-ta vang lên như điệp khúc rộn ràng mà du dương. Trên cái nền âm thanh đặc biêt quyến rũ ấy là hình ảnh người nghê sĩ một mình một ngựa đi về những miền cô đơn. Trong cơn say chếnh choáng của khát vọng đổi mới, nhà thơ đã có những sáng tạo vượt thoát ra khỏi nền nghê thuật già nua đương thời.

* HS trả lời cá nhân

+ HS đọc 12 câu tiếp.

-Cái chết của nhạc sĩ thật đột ngột, đau đớn. Chàng bị nhà cầm quyền giết hại. Hình ảnh chiếc áo choàng bê bết đỏ gợi liên hệ đến những cuộc đấu bò đẫm máu mà đôi khi những đấu sĩ anh hùng cũng bị thương hoặc thiệt mạng dưới cặp sừng của con súc sinh.

-Hình ảnh Lor-ca đi ra bãi bắn như người mộng du trong tiếng ghi ta nâu, xanh, vỡ tan bọt nước, ròng ròng máu chảy là cách thể hiên mới mẻ, ấn tượng, chuyển đổi màu sắc – âm thanh trong cảm xúc và tưởng tượng của nhà thơ, gây ấn tượng mới và mạnh nơi người đọc.

+ Tiếng ghi ta nâu -> trầm tĩnh, nghĩ suy.

+ Tiếng ghi ta lá xanh -> thiết tha, hy vọng.

+ Tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan -> bàng hoàng, tức tưởi.

+ Tiếng ghi ta ròng ròng máu chảy -> đau đớn, nghẹn ngào.

2- Tâm trạng của tác giả:

– Đồng cảm với nguyện vọng của Lor-ca (Qua lời di chúc của Lor-ca)

– Câu thơ:“không ai chôn cất tiếng đàn, tiếng đàn như cỏ mọc hoang”:

-> Nghệ thuật thành thứ cỏ mọc hoang – Cái đẹp không thể huỷ diệt, sẽ sống truyền lan giản dị mà kiên cường.

– Trân trọng Lor-ca và đã hoàn thành tâm nguyện của ông: để Lor-ca thực sự được giải thoát:

+ Lor-ca bơi sang ngang.

+ ném lá bùa.

+  ném trái tim vào xoáy nước, vào cõi lặng yên

-> đều mang ý nghĩa tượng trưng  cho sự giã từ và giải thoát, chia tay thực sự với những ràng buộc và hệ luỵ trần gian.

=> Cái chết không thể tiêu diệt được tâm hồn và những sáng tạo nghệ thuật của Lor- ca. Nhà cách tân vĩ đại của đất nước TBN đã trở thành bất tử trong chính cuộc giã từ này.

* Thao tác 3 :

Hướng dẫn HS đọc hiểu Tâm trạng của tác giả:

Tổ chức cho HS thảo luận nhóm:

Nhóm 1: Tại sao Thanh Thảo lại viết: “Không ai chôn cất tiếng đàn /tiếng đàn như cỏ mọc hoang”?

 

 

 

Nhóm 2:  Theo em, Lor-ca muốn nhắn gửi thông điệp gì qua câu nói “khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn”?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhóm 3: Giải mã các h/ả “giọt nước mắt , đường chỉ tay, dòng sông, lá bùa, chiếc ghi ta màu bạc…”.

 

 

Nhóm 4:  Suy nghĩ về cách giải thoát và giã từ của Lor-ca? Tiếng “Li la- li la- li la” trong bài thơ có ý nghĩa gì?

 

 

* 1 HS đọc, cả lớp theo dõi.

* HS đại diện nhóm trả lời, nhóm còn lại góp ý bổ sung

 

* Nhóm 1

+ Nỗi xót thương cho cái chết của một thiên tài

+ Là nỗi xót tiếc hành trình cách tân dang dở không chỉ của Lor-ca mà còn với nền văn chương TBN.

 

* Nhóm 2

-chính nhà thơ, trong câu thơ đề từ lại mong muốn hâu thế sẽ vượt qua mình.

-Chôn tôi với cây đàn không chỉ là vì không thể thiếu được, xa được cây đàn ngay cả khi đã chết mà còn hàm ý nghệ thuật của Lor-ca sẽ nhất định được phát triển và thay thế bằng nghệ thuật mới của lớp trẻ, hay hơn, giá trị hơn, hiện đại hơn…

* Nhóm 3

giọt nước mắt: sự thương tiếc , đường chỉ tay, dòng sông, lá bùa, chiếc ghi ta màu bạc…: gợi số mệnh đã an bài.

* Nhóm 4

-Lor-ca cưỡi trên chiếc ghi-ta màu bạc, ném lá bùa vào xoáy nước, ném trái tim mình vào lặng yên bất chợt, bơi qua dòng sông mênh mông – biên giới của 2 cõi – thanh thản, vĩnh bịêt những hệ luỵ trần gian, trong tiếng đàn ghi-ta vẫn văng vẳng li-la-li-la… gợi cho người đọc nỗi buồn và tình yêu, ngưỡng vọng thấm thía.

Họat động 3: Tổng kết:( 10 PHÚT)
III. Tổng kết:

1/ Nghệ thuật: Thể thơ tự do, không dấu câu, không dấu hiệu mở đầu, kết thúc sử dụng hình ảnh, biểu tượng – siêu thực có sức chứa lớn về nội dung; tạo ra màu sắc Tây Ban Nha rất đậm nét trong bài thơ ; kết hợp hai yếu tố thơ và nhạc.

2) Ý nghĩa văn bản:

       Ngợi ca vẻ đẹp nhân cách, tâm hồn và tài năng của Lor-ca – nhà thơ, nhà cách tân vĩ đại của văn học Tây Ban Nha và thế giới thế kỉ XX.

* Thao tác 1 :

Yêu cầu hs tự tổng kết bài học về phương diện nội dung và nghệ thuật.

 

* HS trả lời cá nhân

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

* Tổng kết bài học theo những câu hỏi của GV.

 

Họat động 4: HƯỚNG DẪN TỰ HỌC – DẶN DÒ ( 5 PHÚT)

-Đặc sắc nghệ thuật của bài thơ này là ở tính hiện đại của nó.Em có đồng ý với nhận xét này không? Thử chứng minh.

-Đọc kĩ và ghi nhớ nội dung mục Ghi nhớ tr.165.

– Chuẩn bị bài: Đọc thêm Đò Lèn

TUẦN 16-TIẾT 46- Đọc thêm

Nội dung Mô tả hoạt động của thầy và trò Tư liệu, phương tiện, đồ dùng
Hoạt động của thầy Hoạt động của trò
Họat động 1: ĐỌC THÊM BÀI ĐÒ LÈN( 20 PHÚT)
BÀI ĐÒ LÈN

I . Tìm hiểu chung:

1. Tác giả.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

2. Tác phẩm.

a. Hoàn cảnh sáng tác.

b. Bố cục: 2 phần.

– Phần 1. 5 khổ đầu- Kỉ niện về tuổi thơ bên bà ngoại.

– Phần 2. còn lại – nỗi đau khi bà qua đời và sự thức tỉnh của cháu.

 

II/ Đọc thêm :

1/ Kí ức tuổi thơ của tác giả.

=> Tất cả đều gắn với từng địa danh cụ thể, kỉ niệm ngọt ngào và hạnh phúc biết bao.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

2.  Kỉ niệm  về người bà &  sự hối hận chân thành, sâu sắc nhưng  muộn màng.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

3. Những đặc sắc trong cách thể hiện của ND trong thi đề viết về tình bà cháu:

– Sử dụng thủ pháp đối lập :

+ Đối lập giữa cái tinh nghịch vô tư của người cháu với cái cơ cực, tần tảo của người bà.

+ Đối lập giữa hoàn cảnh đói kém, chiến tranh ác liệt, hoàn cảnh gia đình đau thương với cái đơn chiếc, già nua tội nghiệp của người bà.

+ Đối lập giữa cái vĩnh hằng của vũ trụ với cái ngắn ngủi, hữu hạn của cuộc đời con người.

– Sử dụng phép so sánh đối chiếu :

+ Giữa cái hư và cái thực; giữa bà với Tiên , Phật, thánh thần => tương đồng

+ Giữa thần thánh với bà đặt trong một bối cảnh chiến tranh

– Giọng điệu: thành thực, thẳng thắng.

4. Ý nghĩa văn bản : Bài thơ để lại nhiều dư vị trong tâm hồn, chạm đến cõi sâu kín và thường nhật trong cuộc sống tình cảm của mỗi con người. Dường như ND vừa nói hộ vừa nhắc nhở cho nhiều người về lẽ sống ở đời, đặc biệt là thái độ sống của mỗi người trong hiện tại đối với những gì gần gũi nhất trong cuộc sống của mình.

* Thao tác 1 :

Hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản

HS dựa vào đoạn thơ, tìm chi tiết, hình ảnh.Qua đó, phát hiện ra những cung bậc  tình cảm của tác giả khi nghĩ về bà.

 

– Đọc tiểu dẫn và tóm tắt ý chính.

 

– Những nét chính về tác giả?

 

 

– Đặc điểm thơ Nguyễn Duy?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– Hoàn cảnh sáng tác bài thơ? Chủ đề, bố cục?

 

 

 

 

 

– Đọc  văn bản.

– Chú ý đọc phần 1 với giọng vui tươi, hóm hỉnh, tinh nghịch, hồn nhiên.

+ Phần 2 đọc với giọng xót xa, cay đắng và ân hận.

Gọi 2 hs đọc, gv nhận xét và đọc mẫu.

-Chia  nhóm thảo luận.

Nhóm 1 thảo luận phần 1.

– Kỉ niệm về tuổi thơ bên bà ntn?

– Nhận xét về tính cách nhân vật trữ tình?

– Ý nghĩa “ trong suốt, hư- thực”?

 

Nhóm 2 thảo luận về hình ảnh của bà ngoại?

– Liên hệ với hình ảnh bà trong những bài thơ mà em biết?

Vd: + Bên kia sông Đuống- Hoàng Cầm.

+ Bếp lửa- Bằng Việt.

– Nhận xét về từ thập thững?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

-Nhóm 3. Thảo luận về sự thức tỉnh khi đã trưởng thành của nhân vật trữ tình?

 

– Ý nghĩa khổ thơ cuối?

 

– Bài thơ này có ý nghĩa ntn?

 

 

* 1 HS đọc, cả lớp theo dõi.

* HS trả lời cá nhân

– Nguyễn Duy Nhuệ (1948-), quê :Đông Vệ – Tp Thanh Hoá

– Từng trải qua tuổi thơ lam lũ, sớm mồ côi và thiếu tình mẹ nhưng bù lại cậu bé được sống trong tình yêu thương của bà ngoại.

– Nguyễn Duy nhập ngũ, tham gia kháng chiến, gắn bó với nhân dân, đất nước, những khó khăn gian khổ đã hun đúc lên trong ông sự cương trực, mạnh mẽ, trĩu nặng suy tư mà thắm thiết tình nghĩa.

– Thơ Nguyễn Duy bộc lộ rõ nét một thế giới nội tâm có bản sắc, một nhà thơ của vẻ đẹp đời thường. Ông nhạy cảm với những buồn, vui, nhọc nhằn của người dân, đặc biệt là người thân bởi ông ít có điều kiện đền đáp họ.

– Thơ ông mang hơi hướng ca dao, thâm trầm trong triết lí, hồn nhiên và hóm hỉnh, khoẻ khoắn của người lao động.

 

* HS trả lời cá nhân

– Viết tháng 9-1983, khi ông có dịp trở về quê, sống trong những kí ức buồn vui thời thơ ấu.

– Đò Lèn là địa danh, quê ngoại ông.

* Nhóm 1

Kí ức tuổi thơ của tác giả.

-Thời thơ ấu hiện lên sinh động, chân thực.Tác giả không che giấu sự hiếu động của mình qua những trò tinh nghịch của đứa trẻ vùng nông thôn nghèo. + Say mê với trò chơi con trẻ:

– Câu cá ở cống Na, bắt chim sẻ trên vành tai tượng Phật, theo bà đi chợ níu váy bà sợ lạc, ăn trộm nhãn chùa Trần.

– Thích chơi đền cây Thị, chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng.

 

* Nhóm 2

-Hình ảnh Bà ngoại: Bà hiện về cùng khung cảnh thân thiết của quê hương.

+ Mò cua xúc tép, đi gánh chè xanh Ba Trại, buôn bán ngược xuôi.

+ Khi Quán Cháo, khi Đồng Giao: những miền đất xa xôi, hẻo lánh, đòn gánh trên vai, bà tần tảo buôn bán ngược xuôi, nơi đâu cũng in dấu chân bà.

– “Thập thững”: là từ láy vừa tạo hình vừa biểu cảm diễn tả sự khó nhọc, bước đi xiêu vẹo, không tự chủ, đường gập ghềnh mà sức người đã kiệt, đêm đông gió rét.

 

* Nhóm 3

– Tác giả lẫn lộn giữa hai bờ hư- thực, bởi hư là tiên, phật, thánh, thần (thế giới cổ tích) , thực là sự vất vả, lam lũ, khổ cực của bà.

+ 2 từ “trong suốt” biểu hiện sự thơ ngây, trong trẻo của trẻ thơ.Yêu bà nhưng không thương bà, vô tâm trước vất vả của bà bởi thơ ngây, hồn nhiên.

– Chiến tranh, nhà bà bay mất, quê hương bị tàn phá:      Đền Sòng bay, bay tuốt cảhôi.

Nuối tiếc đến xót xa, cay đắng.

– Tình cảm của nhà thơ khi nghĩ về bà ngoại:

+ Thấu hiểu nỗi cơ cực, tần tảo, tình yêu thương của bà .Thể hiện tình yêu thương, sự tôn kính, lòng tri ân sâu sắc đối với bà.

+ Sự ân hận, ngậm ngùi , xót đau muộn màng :

“Khi tôi biết thương bà thì đã muộn

Bà chỉ còn một nấm cỏ thôi”

– Khổ thơ cuối đánh dấu bước trưởng thành của người cháu. ý thức cá nhân bộc lộ chân thành, tha thiết vừa là sợi dây vô hình nối quá khứ với hiện tại, nối con người đang sống hôm nay với người đã khuất, nối cá nhân với cội nguồn của mình.

– Khổ thơ là bài học thấm thía: đừng tự ru mình trong những ảo ảnh ngọt ngào, sống giữa cuộc đời hãy tỉnh táo, không thể thơ ngây.

Tổng kết bài học theo những câu hỏi của GV.

Đò Lèn-Tự do

Đọc thêm: “Tự do” ( P. Ê-LUY-A)
Họat động 2: ĐỌC THÊM TỰ DO ( 20 PHÚT)
I. Tiểu dẫn.

1. Tác giả:

– Pôn Ê-luy-a (1895-1952) là nhà thơ lớn nước Pháp.

– Từng tham gia trào lưu siêu thực. Trong chiến tranh thế giới lần thứ 2, ông thoát ly chủ nghĩa siêu thực, cùng nhân dân Pháp kháng chiến chống chủ nghĩa phát xít.

– Thơ ông mang đậm chất trữ tình chính trị, hơi thở của thời đại

2. Bài thơ “Tự do“:

– Hoàn cảnh sáng tác: Được viết vào mùa hè 1941, lúc nước Pháp đang bị phát xít Đức xâm lược.

– Xuất xứ: Bài thơ được in trong tập “Thơ ca và chân lý, 1942” (1942).

* Thao tác 1 :

Hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản

1. Dựa vào TD, em hãy tóm lược những nét cơ bản nhất về tác giả và tác phẩm ?

 

2. Nhận xét phần trả lời của hs, nhấn mạnh nội dung chính.

 

3. Lưu ý hs: nguyên tác bài thơ có 21 khổ thơ (không kể dòng cuối cùng: Tự Do), không vần, không dấu chấm câu- trừ dòng cuối cùng. Bản dịch có 12 khổ thơ.

 

HS (đã đọc TD ở nhà) phát biểu.

– Nêu được các nét lớn về tác giả.

– Nêu được hoàn cảnh ra đời bài thơ.

II. Hướng dẫn đọc hiểu .

Em = TỰ DO (nhân hóa)

 

Tứ thơ bao trùm: Khát vọng tự do.

 

1. Nội dung.

a, 11 khổ đầu: Tôi viết tên em- Tự Do.

 

– Từ “trên” thể hiện cả không gian và thời gian:

+ Chỉ địa điểm – không gian( tôi viết Tự Do ở đâu, vào đâu)
+ Chỉ thời gian ( tôi viết Tự Do khi nào)

– Tôi viết tên em lên mọi không gian bao la, lên mọi thời gian; Viết tên em lên những vật cụ thể hữu hình và cả những cái vô hình.

® Hình ảnh được liên tưởng ngẫu hứng. Tình yêu, khát vọng tự do cháy bỏng của nhà thơ

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

b, Khổ cuối: Tôi gọi tên em – Tự Do.

– Tự do- sức mạnh nhiệm màu.

– Tự do- tái sinh những cuộc đời

® Tình yêu tự do cũng là lời kêu gọi hy sinh vì tự do.

 

* Thao tác 2 :

Hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản

1. Hướng dẫn cách đọc: giọng tha thiết, bồi hồi; nhấn giọng ở câu kết mỗi khổ thơ và từ TỰ DO.

2. Gọi 1 hs đọc bài thơ.

1. Em hãy nêu ngắn gọn ấn tượng chung nhất của mình sau khi đọc bài thơ ?

(Về hình thức, về nhân vật em, về tứ thơ ?)

* Diễn giảng thêm: Bài thơ trữ tình chính trị, khắc họa không khí thời đại – mang đậm PC của tác giả.

 

2. Dựa vào đặc điểm hình thức và nội dung bài thơ, em hãy chia đoạn và gọi tên các đoạn thơ ?

 

3. Gọi đại diện nhóm 1 trình thuyết trình theo phân công.

 

4. Nhận xét. Gợi ý hs phát biểu bổ sung (nếu cần). Kết luận các nội dung chính.

 

DG: Hình ảnh thơ giản dị lấy từ cuộc sống nhưng vẫn rất sâu xa.

(Có thể lưu ý về tính siêu thực của bài thơ: ngẫu hứng, phi logic, phá vỡ sự ngăn cách khách thể và chủ thể,  chú trọng hình ảnh thị giác …)

– Lưu ý hs: chọn 1,2 khổ thơ tiêu biểu để phân tích (VD khổ 4,5).

4. HD tìm hiểu khổ thơ cuối.

– Tự Do có ý nghĩa như thế nào đối với tác giả và mọi người ?

5.Yêu cầu hs tóm tắt những đặc sắc về nghệ thuật bài thơ.

HS trả lời được:

– Hình thức: điệp

– Tự Do được nhân hóa thành em.

– Dựa vào HCRĐ rút ra tứ thơ.

HS chia bài thơ làm 2 đoạn, dùng điệp khúc để gọi tên.

 

 

Nhóm 1 trình bày (C2,3 sgk): (2-3 phút)

– Nổi bật hình thức lặp kết cấu, điệp từ trên… trên theo kiểu “xoáy tròn”; câu thứ tư mỗi khổ như một điệp khúc.

– “Tôi viết tên em” lên mọi không gian, thời gian

(Hữu hình: Viết trên trang vở, trên bàn học, trên cây xanh, trên đất cát, trên tuyết, trên gươm đao người lính, trên mũ áo các vua quan).

(Vô hình: Viết trên thời thơ ấu âm vang, viết trên những mảnh đời trong xanh, trên ao mặt trời ẩm mốc, viết trên hồ vầng trăng lung linh…)

 

Hs trả lời được các nét nghĩa của đoạn thơ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

HS dựa vào phần phân tích trên trả lời.

2. Nghệ thuật:

– Trùng điệp thủ pháp liệt kê, nhân hóa, lặp từ ngữ, cấu trúc … qua các khổ thơ.

– Hiệu quả: Nhạc điệu thơ gợi mạch cảm xúc hướng về tự do tuôn trào, triền miên, mạnh mẽ.

III. Kết luận.

– Chủ đề: Khát vọng tự do cũng là lời kêu gọi hành động vì tự do của nhà thơ (và của cả dân tộc Pháp) khi đất nước bị phát xít xâm lăng.

– Không thể sống trong nô lệ, Tự Do trở thành mệnh lệnh của cuộc sống, là lương tâm của thời đại.Vì thế, bài thơ được xem là thánh ca của thơ kháng chiến Pháp.

* Thao tác 3 :

Hướng dẫn HS tổng kết nghệ thuật-ý nghĩa văn bản

.

 

(Giải thích gọn về tính đa chủ thể của bài thơ)

 

2. Diễn giảng thêm: tác động rộng lớn của bài thơ khi nó ra đời và khát vọng tự do vĩnh cửu của con người, của các dân tộc.

 

Nhóm 2 trình bày (C4 sgk). Từ đó khái quát chủ đề bài thơ.(1-2 phút)

 

 

 

 

* Tổng kết bài học theo những câu hỏi của GV.

 

Họat động 3: HƯỚNG DẪN TỰ HỌC – DẶN DÒ ( 5 PHÚT)

– Học thuộc bài thơ, nắm vững nội dung bài học.

– Chuẩn bị bài: Chủ đề 15-Kí hiện đại Việt Nam

 

  • HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH
  1. Trình bày hiểu biết của anh/ chị về chủ nghĩa siêu thực, tượng trưng?
  2. So sánh sự khác nhau biểu hiện chủ nghĩa siêu thực, tượng trưng qua 2 bài thơ của Thanh Thảo và P.Eluya.
  • HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG

1/Đọc đoạn thơ trên và thực hiện các yêu cầu sau:

 

những tiếng đàn bọt nước
Tây-ban-nha áo choàng đỏ gắt
li-la li-la li-la
đi lang thang về miền đơn độc
với vầng trăng chếnh choáng
trên yên ngựa mỏi mòn

Tây-ban-nha
hát nghêu ngao
bỗng kinh hoàng
áo choàng bê bết đỏ
Lorca bị điệu về bãi bắn
chàng đi như ngươời mộng du

tiếng ghi-ta nâu
bầu trời cô gái ấy
tiếng ghi-ta lá xanh biết mấy
tiếng ghi-ta tròn bọt nước vỡ tan
tiếng ghi-ta ròng ròng
máu chảy

  1. Nêu ý chính của đoạn thơ ?
  2. Nêu hiệu quả nghệ thuật các từ láy “đơn độc ”, “chếnh choáng”, “mỏi mòn ” trong đoạn thơ?
  3. Nêu hiệu quả nghệ thuật của phép điệp cấu trúc :“tiếng ghi-ta ” trong đoạn thơ.

 

Trả lời:

  1. Ý chính của đoạn thơ :

– Hình ảnh của Lorca, chàng nghệ  sĩ, người chiến sĩ cách mạng có lí tưởng cao đẹp nhưng số phận bất hạnh.

– Cái chết đầy bi phẫn của Lor-ca, người nghệ sĩ đấu tranh cho tự do đã bị bọn phát xít Phrăng-cô dẫn ra pháp trường sát hại

  1. Hiệu quả nghệ thuật các từ láy “đơn độc ”, “chếnh choáng”, “mỏi mòn ” trong đoạn thơ : Lor-ca hiện ra như một ca sĩ dân gian cô đơn , một kị sĩ lãng du phóng khoáng yêu tự do nhưng thầm lặng, Anh là người tiên phong trong cuộc đấu tranh cách tân nghệ thuật và khát vọng tự do.
  2. Hiệu quả nghệ thuật của phép điệp cấu trúc :“tiếng ghi-ta ” trong đoạn thơ:

Thanh Thảo đã lặp lại 4 lần cụm từ tiếng ghi ta thể hiện cảm xúc mãnh liệt và cảm nhận đa chiều của tác giả về cái chết của Lor-ca. Thủ pháp chuyển đổi cảm giác góp phần tạo nên những cảm nhận rất mới, phù hợp với những nỗ lực và khát vọng cách tân của người nghệ sĩ Lor-ca.

 

Bài tập viết đoạn văn: Viết đoạn văn phân tích hiệu quả nghệ thuật hình ảnh trong 2 câu thơ: giọt nước mắt vầng trăng/ long lanh nơi đáy giếng.

Trả lời :

Hiệu quả nghệ thuật hình ảnh trong 2 câu thơ: giọt nước mắt vầng trăng/ long lanh nơi đáy giếng  : Nước mắt biểu tượng cho tình thương, cho sự tri âm. Vầng trăng biểu tượng cho nghệ thuật (của Lorca). Hai câu thơ khẳng định quân thù dù quẳng xác Lorca xuống giếng để phi tang nhưng tình yêu và cái đẹp trong thơ Lorca đã kết thành thứ ánh sáng kì ảo vĩnh hằng trong tâm hồn các thế hệ sau. Không chỉ bất tử, tiếng đàn của chàng ca sĩ hát rong còn mang vẻ đẹp của giọt nước mắt vầng trăng. Một hình ảnh mang nhiều liên tưởng gợi nhiều thi vị. Đó chính là vẻ đẹp của nghệ thuật được kết tinh từ những giọt mồ hôi, từ máu và nước mắt của sự lao động nghệ thuật chân chính qua bao thời gian công sức đã nhào nặn thành viên ngọc lấp lánh mang hình hài của giọt nước mắt vầng trăng tinh khiết. Đó cũng chính là vẻ đẹp của cuộc đời Lorca đã hóa thân thành viên ngọc quý lung linh tỏa sáng giữa đời.

 

3/Viết đoạn văn ngắn bày tỏ suy nghĩ về vấn đề đặt ra qua đoạn thơ.

Tôi đi lính, lâu không về quê ngoại
dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi
Khi tôi biết thương bà thì đã muộn
Bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi!

(Trích Đò Lèn – Nguyễn Duy)

Trả lời:

Đoạn văn đảm bảo các nội dung:

-Ý chính của đoạn thơ là lời sám hối muộn màng mà xúc động của nhà thơ khi bà ngoại không còn.

-Đoạn thơ mang cảm hứng tự nhận thức lại của một người trải nghiệm nhận ra cái giá phải trả cho những hành động hư ảo của mình, đồng thời báo trước sự trỗi dậy của ý thức tự giác đánh giá bản thân, hướng tới xác lập những giá trị nhân bản trong văn học thời kì hậu chiến.

– Bài học nhận thức và hành động: sống phải biết yêu thương, biết nâng niu, trân trọng những tình cảm quý giá của con người. Đừng để tất cả đi qua rồi mới sám hối thì sẽ muộn màng.

 

HOẠT ĐỘNG BỔ SUNG

 1/Đọc đoạn thơ trong bài “Tự do” SGK ngữ văn 12  và trả lời các câu hỏi: 

Trên những trang vở học sinh

Trên bàn học trên cây xanh

Trên đất cát và trên tuyết

Tôi viết tên em

 

…Trên sức khỏe được phục hồi

Trên hiểm nguy đã tan biến

Trên hi vọng chẳng vấn vương

Tôi viết tên em

 

Và bằng phép màu một tiếng

Tôi bắt đầu lại cuộc đời

Tôi sinh ra để biết em

Để gọi tên em

TỰ DO

( Tự do – Pôn Ê-luy-a – SGK Ngữ văn 12, cơ bản, tập 1,tr. 120)

Câu 1. Cho biết đoạn thơ trên  thuộc  thể thơ nào?

Câu 2. Xác định 02 biện pháp tu từ được tác giả sử dụng trong đoạn thơ trên .

Câu 3. Nêu nội dung chính của đoạn thơ trên .

Câu 4. Anh/chị hãy  giải thích  ngắn gọn mục đích của tác giả khi viết từ  TỰ DO  ở cuối bài thơ bằng chữ in hoa?.

 

Đáp án :

Câu 1. Đoạn thơ trên  thuộc  thể thơ tự do

Câu 2. Hai biện pháp tu từ: điệp từ (trên, tôi, em);  lặp cấu trúc (ở hai dòng thơ Tôi viết tên em…) hoặc nhân hóa (gọi tự do là em)…

Câu 3.  Đoạn thơ bộc lộ tình yêu Tự do tha thiết, mãnh liệt của tác giả

Câu 4.  Tác giả viết hoa từ TỰ DO ở cuối bài nhằm mục đích:

-Thể hiện sự thiêng liêng, cao cả của hai tiếng TỰ DO

– Nhấn mạnh đề tài của bài thơ,  giải thích  tình cảm gắn bó, khao khát, tôn thờ,  … của tác giả dành trọn cho TỰ DO. TỰ DO là tất cả những gì ông  mong mỏi, mơ ước mọi lúc, mọi nơi

2/Phân tích đoạn thơ sau trong bài thơ “Đàn ghi-ta của Lor-ca” của Thanh Thảo:

không ai chôn cất tiếng đàn
tiếng đàn như cỏ mọc hoang
giọt nước mắt vầng trăng
long lanh trong đáy giếng

đường chỉ tay đã đứt
dòng sông rộng vô cùng
Lorca bơi sang ngang
trên chiếc ghi ta màu bạc

chàng ném lá bùa cô gái di-gan
vào xoáy nước
chàng ném trái tim mình
vào lặng yên bất chợt

li-la li-la li-la…

 Lập dàn ý :

I/ Mở bài : Giới thiệu Thanh Thảo dẫn vào bài thơ “Đàn ghi-ta của Lor-ca”. Nêu vấn đề : Bài thơ có giá trị sâu sắc về nội dung và nghệ thuật, tiêu biểu là đoạn thơ sau : ( chép đoạn thơ vào)

II/ Thân bài :

1/ Khái quát về bài thơ, đoạn thơ :

            – Giới thiệu vài nét về Lor-ca…

-Nêu hoàn cảnh sáng tác, nội dung, bố cục vị trí đoạn thơ ở đề bài.

2/ Phân tích nội dung, nghệ thuật đoạn thơ :

a/ Bốn câu thơ đầu là suy ngẫm của nhà thơ Thanh Thảo về cuộc đời và sự nghiệp của Lor-ca. Trích thơ, phân tích các ý:

– “Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn” là lời di chúc của Lor-ca

– “Không ai chôn cất tiếng đàn….mọc hoang” là nỗi xót thương cái chết của một thiên tài, xót tiếc cho hành trình cách tân dang dở của Lor-ca và nghệ thuật Tây Ban Nha

– “Giọt nước mắt….đáy giếng”là cái chết không thể tiêu diệt được tâm hồn và sáng tạo nghệ thuật của Lor-ca

    b/ Những câu thơ còn lại tiếp tục là những suy tư của nhà thơ Thanh Thảo về cái chết, cuộc giã từ của Lor-ca. Trích thơ, phân tích các ý:

– Đường chỉ tay bé nhỏ, dòng sông rộng mênh mang, hay là phận người thì ngắn ngủi mà thế giới thì vô cùng. Lor-ca đi vào cõi khác với hình ảnh: “Lor-ca bơi sang ngang – trên chiếc ghi ta màu bạc”.

– Các hành động ném lá bùa, ném trái tim vào xoáy nước, vào cõi lặng yên đều mang nghĩa tượng trưng cho sự giã từ và giải thoát, chia tay thực sự vời những ràng buộc và hệ luỵ trần gian…

   c/ Nghệ thuật :

Bút pháp vừa tả thực, vừa tượng trưng

– Chuỗi âm “li-la li-la li-la” kết thúc bài thơ gợi lên tiếng vang của chùm hợp âm vĩ thanh, sau khi phần chính của bản nhạc đã được diễn tấu xong, hoặc khi ca khúc đã dừng lời.

III/ Kết bài : Kết luận chung về hình tượng Lor-ca, cảm nghĩ về bài thơ,

 (Tài liệu sưu tầm )

Xem thêm :

  1. Trọn bộ giáo án Ngữ văn lớp 10
  2. Trọn bộ giáo án Ngữ văn lớp 11
  3. Trọn bộ giáo án Ngữ văn lớp 12

 

So sánh hình tượng người lính trong bài Tây Tiến và hình tượng Lor ca

Vẻ đẹp bi tráng của hình tượng người lính trong trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng và hình tượng Lor ca trong bài thơ Đàn ghi ta của Lor ca của Thanh Thảo.

Hướng dẫn :

1. Vài nét về Tác giả, tác phẩm :

  • Bài tây tiến và tác giả Quang Dũng
  • Bài Đàn ghi ta của Lor ca và nhà thơ Thanh Thảo

2. Phân tích

– Bi là buồn, bi ai – tráng là hào hùng, hùng tráng.

– Chất bi tráng hoà quyện vào nhau. Cái bi là sự gian khổ, hi sinh nhưng không lụy. Cái bi được thể hiện bằng một giọng điệu hào hùng, màu sắc tráng lệ.

Giống nhau

– Đều là những hình tượng được sáng tạo bởi những người trí thức-nghệ sĩ đa tài.

– Người lính Tây Tiến và Lor ca là những con người có tài năng, phóng khoáng, yêu tự do, anh dũng đấu tranhcho tự do và sẵng sàng hi sinh cho những lí tưởng cao đẹp.

– Đều có tình yêu quê hương đất nước sâu sắc, có trái tim nhạy cảm, yêu đời với những nỗi nhớ da diết nồng nàn.

– Cái chết của người lính Tây Tiến và Lor ca đề mang vẻ đẹp bi tráng, hào hùng vượt lên trên hiện thực khốc liệt, bi thảm. Cuộc đời và vẻ đẹp tâm hồn của họ có sức sống bất tử với đất trời và trong lòng người.

Khác nhau

Người lính Tây Tiến

– Bằng bút pháp lãng mạn, Quang Dũng đã dựng lên chân dung người lính được đặt trong khung cảnh miền Tây vừa hoang sơ dữ dội, lại vừa hết sức thơ mộng. Ngòi bút của nhà thơ chú trọng đến những nét độc đáo khác thường làm nổi bật vẻ đẹp hào hùng, hào hoa.

– Vẻ đẹp bi tráng của hình tượng người lính được đặc tả trên các phương diện:

+ Vẻ đẹp bi tráng ở chân dung của người lính qua bức tượng đài tập thể. Cảm hứng lãng mạn khiến cách nhìn những người lính có vẻ tiều tuỵ tàn tạ trong hình hài nhưng lại chói ngời vẻ đẹp lí tưởng, mang dáng dấp của những tráng sĩ thủa xưa. Đó là ý chí, tư thế hiên ngang vượt lên, coi thường gian khổ, hi sinh. (Tây Tiến đoàn binh….oai hùm)

+ Những câu thơ khẳng định mạnh mẽ khí phách của tuổi trẻ, không chỉ tự nguyện chấp nhận mà còn vượt lên cái chết, sẵn sàng hiến dâng cả tuổi thanh xuân cho nghĩa lớn của dân tộc. Đó là dũng khí tinh thần và hành động cao đẹp của người lính Tây Tiến. Tư thế ra trận, lý tưởng lên đường hào hùng mà bi tráng. (Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh….Tây tiến người đi không hẹn ước)

+ Quang Dũng không hề che dấu sự gian khổ, khó khăn trên những chặng đường hành quân, những căn bệnh hiểm nghèo và cả những hi sinh của người lính. (Anh bạn….bỏ quên đời)

+ Tuy nhiên, những người lính không hề chìm trong bi thương, bi luỵ. Bài thơ viết về sự hi sinh của người lính một cách thấm thía bằng cảm hứng bi tráng. cái chết gợi lên sự bi thương (hình ảnh những nấm mồ viễn xứ). Cái chết hợp trời đất và lòng người nên thiêng liêng và bất tử.

– Bút pháp miêu tả: lãng mạn kết hợp với bi tráng, nghệ thuật tương phản, phối hợp thanh điệu, tiết tấu…

Hình tượng Lor ca

Thanh Thảo đã khắc họa thành công bối cảnh văn hóa, chính trị, xã hội đa sắc màu của Tây Ba Nha. Đây là cái nôi nuôi dưỡng tâm hồn và hình thành nên tài năng của Lor ca. Đó cũng thời đại đầy dữ dội để xuất hiện một thiên tài.

– Vẻ đẹp bi tráng của hình tượng Lor ca được đặc tả trên các phương diện:

+ Tây Ba Nha  như một đấu trường khổng lồ. Đó là cuộc đấu quyết tử giữa một bên là khát vọng dân chủ của người chiến sĩ Lor ca và nền chính trị độc tài thân Phát xít; giữa người nghệ sĩ mang khát vọng cách tân nghệ thuật với sự bảo thủ của nền nghệ thuật già nua. Vì thế, áo choàng đỏ gắt vừa gợi được khí chất ngang tang của người nghệ sĩ yêu tự do, vừa gợi được tính chất quyết liệt trong cuộc đấu tranh giữa ánh sáng – bóng tối, chính – tà, cũ – mới trong nền chính trị và nghệ thuật Tây Ba Nha thời đó.

+ Hình ảnh vầng trăng, yên ngựa, những trạng thái của người thi sĩ: chếnh choáng, mỏi mòn khắc họa bức chân dung Lor ca người nghệ sĩ lãng tử, lãng du đang ngây ngất say đời, say nghệ thuật, say thơ, say lý tưởng. Tuy vậy, những cụm từ miền đơn độc, mỏi mòn lại gợi ra một hình ảnh khác của Lor ca. Xét ở góc độ nào, trong sáng tạo nghệ thuật cũng như trong tranh đấu Lor ca đều đơn độc.

+ Cái chết bi tráng: Giây phút bi phẫn nhất của Lor-ca  đó là khi ông bị bọn phát xít Phrăng-cô giết, ném xác xuống giếng để phi tang. Báo chí Tây Ba Nha nói vụ giết Lor-ca vẫn là một trong những vết thương chưa lành ở Tây Ba Nha. Tây Ba Nha trở nên kinh hoàng khi nghe tin Lor-ca  bị giết hại. Từ “Tây Ba Nha – hát nghêu ngao” đến “bỗng kinh hoàng” là một sự đổ vỡ ghê gớm. Tội ác của các thế lực tàn bạo là kẻ thù đối nghịch của cái đẹp gây nên nỗi kinh hoàng trong lòng người. Hình ảnh Lor-ca bị hành hình được diễn tả qua nghệ thuật hoán dụ: áo choàng bê bết đỏ, đi về bãi bắn được miêu tả trong tâm thế “như người mộng du”.  Lor-ca đã chết một cách nghệ sĩ, chập chờn bước vào cõi tử coi thường mọi đau đớn.

+ Cái chết của Lor-ca gắn với tiếng đàn ghita. Thanh Thảo miêu tả tiếng đàn trên hai bình diện: âm thanh và màu sắc. Bằng những hình ảnh thơ mang phong cách tượng trưng siêu thực được viết với nghệ thật ẩn dụ chuyển đổi cảm giác. Dưới bút thơ tài hoa của Thanh Thảo, tiếng đàn ghita đã vỡ ra thành hình, thành sắc để phục sinh cái chết oan khuất của Lor-ca .Thanh Thảo đã thể hiện nỗi đau với “những vết thương bốc cháy như mặt trời”.

+ Tuy nhiên, Lor ca không hề chìm trong bi thương, bi luỵ. Bài thơ viết về sự hi sinh của Lor ca một cách thấm thía bằng cảm hứng bi tráng. Cái chết hợp trời đất và lòng người nên thiêng liêng và bất tử. So sánh âm thanh tiếng đàn – vô hình với cỏ – hữu hình, đó là một điều đặc biệt. Hình ảnh thơ biểu trưng cho sự bất diệt của người nghệ sĩ và nghệ thuật chân chính. Lor-ca ra đi nhưng nghệ thuật, vẻ đẹp tâm hồn của ông sẽ sống mãi kiên cường. Hình ảnh “vầng trăng long lanh trong đáy giếng” là lời khẳng định cho vẻ đẹp đầy nhân tính, bất diệt của thơ và người Lor-ca  sẽ tỏa sáng đến muôn đời, bất chấp sự hủy diệt tàn bạo của các thế lực tàn ác. Thi sĩ đã đi vào cõi tử bằng chiếc ghi ta mang vẻ đẹp của nghệ thuật cách tân, của khát vọng tự do. Chiếc thuyền ghi ta có màu bạc là màu của sự trong trắng, ngay thẳng không chịu quỳ gối trước bất công tàn bạo. Hình ảnh thơ mang vẻ đẹp thần thoại. Điệp âm li la gợi hình ảnh những bông hoa Tử đinh hương liên tiếp xoè nở như một cách khẳng định đầy tin tưởng về sự sống bất diệt, vĩnh hằng của Lor ca. Từ cuộc đời nhà thơ Tây Ba Nha đã nở ra những đoá hoa li la.

– Bút pháp miêu tả: thể thơ tự do mang phong cách tượng trưng, siêu thực, kết hợp giữa tự sự và trữ tình, giữa thơ và nhạc, giữa màu sắc thơ viếng phương đông và chất bi tráng trong nhạc giao hưởng phương Tây, hình ảnh thơ lạ hoá, áo hoá…

Đánh giá

– Quang Dũng và Thanh Thảo gặp nhau ở tư tưởng lớn, bất tử vẻ đẹp bi tráng của những con người sẵn sàng hi sinh vì độc lập, tự do và hạnh phúc của nhân loại.

– Quang Dũng và Thanh Thảo là những nhà thơ có phong cách nghệ thuật tài hoa độc đáo.

Xem thêm :

  1. Tuyển tập những đề thi , bài văn hay về Tây Tiến- Quang Dũng : Tây Tiến
  2. Tuyển tập những đề thi , bài văn hay về Đàn ghi ta của Lor-ca, Thanh Thảo : Đàn ghi ta của Lor-ca
  3. Dạng đề so sánh văn học

 

So sánh nhân vật Vũ Như Tô và nhân vật Lor-ca Ngữ văn 12

So sánh nhân vật  Vũ Như Tô và nhân vật Lor-ca  Ngữ văn 12

Đề bài :Cảm nhận của anh, chị về bi kịch của hai hình tượng nhân vật Vũ Như Tô trong trích đoạn Vĩnh biệt cửu trùng đài của Nguyễn Huy Tưởng và hình tượng Lor ca trong bài thơ Đàn ghi ta của Lor ca của Thanh Thảo.

Hướng dẫn cách làm

  1. Giới thiệu Tác giả, tác phẩm

  2. Khái quát

– Bi kịch hiểu theo nghĩa thông thường là nỗi đau khổ triền miên về tinh thần không có gì giải thoát được. Nhưng theo văn học, bi kịch chỉ xảy ra khi có sự xung đột giữa khát vọng, hoài bão, lý tưởng chân chính với thực tại. Thực tại chưa đủ điều kiện cho phép cá nhân thực hiện hoài bão, lý tưởng của mình nên rơi vào thất bại, sống trong dằn vặt, đau đớn, thậm chí dẫn đến cái chết thảm thương.

– Bi kịch của hai hình tượng nhân vật Vũ Như Tô và Lor ca là những người nghệ sĩ tài hoa nhưng đề có số phận oan nghiệt.

  1. So sánh điểm giống nhau

– Vũ Như Tô và Lor ca là những nghệ sĩ có những ước mơ, khát vọng đẹp. Vũ Như Tô muốn xây cửu trùng đài để tranh tinh xảo với hoá công, làm rạng rỡ đất nước…, Lor ca là người nghệ sĩ dam mê cách tân nghệ thuật, là người chiến sĩ đấu tranh cho tự do, dân chủ.

– Cả hai nhân vật đều lâm vào bi kịch đớn đau trong bối cảnh xã hội thối nát, bạo tàn.

+ Vũ Như Tô vì xây cử trùng đài mà bị nhân dân căm ghét và cuộc nổi loạn của phu phen cùng các phe cánh thống trị phong kiến đã đốt cử trùng đài và giết chết Vũ Như Tô.

+ Lor ca là một tài năng sáng chói của văn học Tây Ba Nha, là một tâm hồn trong trắng, một thi sĩ giàu mộng mơ, yêu tha thiết tự do và cái đẹp, một chiến sĩ kiên cường. Hoảng sợ trước sự ảnh hưởng của ông, chế độ độc tài Phát xít sát hại Lor ca.

  1. Khác nhau

Vũ Như Tô

– Vũ Như Tô là vở bi kịch của Nguyễn Huy Tưởng viết năm (1941). Nhân vật Vũ Như Tô có tài, khao khát sáng tạo cái đẹp để cống hiến cho nghệ thuật, cho cuộc đời. Tuy vậy, Vũ Như Tô là người nghệ sĩ thiếu nhãn quan chí trị – xã hội sắc bén, ông chỉ biết sống chết cho nghệ thuật, xa rời thực tiễn. Ông tưởng dựa vào thế lực, tiền bạc của bọn vua chúa phong kiến để xây một công trình tuyệt thế cho nhân dân, nhưng ông đâu biết rằng toà lâu đài ấy xây bằng mồ hôi, máu của nhân dân. Bởi vậy, đến lúc chết Vũ Như Tô vẫn không biết mình xây cử trùng đài là có công hay có tội.

– Nguyễn Huy Tưởng trân trọng tài năng, hoài bão của Vũ Như Tô nhưng không đồng tình với nhân vật của mình. Qua bi kịch của Vũ Như Tô Nguyễn Huy Tưởng cho thấy cái đẹp không tách rời cái chhaan và cái thiện, tác phẩm nghệ thuật chân chính không chỉ đơn giản là cái đẹp thuần tuý, không chỉ là thứ nghệ thuật cao siêu mà phải dựa trên quyền lợi của cộng đồng, phục vụ nhân dân. Người nghệ sĩ có quyền vươn lên những mộng lớn nhưng phải phù hợp với thực tế đời sống, với đòi hỏi của muôn đời.

– Bi kịch của nhân vật Vũ Như Tô được truyền tải đến người đọc qua những tình huống kịch tính của thể loại bi kịch.

Lor ca

– Lor-ca là một nghệ sĩ du ca lãng tử, một chiến sĩ yêu tự do nhưng cô đơn trong tranh đấu. Người nghệ sĩ, chiến sĩ ấy suốt cả đời mình đã đấu tranh đòi công lí cho nhân dân và những cách tân trong nghệ thuật. Lor ca điển hình cho thân phận người nghệ sĩ tài hoa mà mệnh bạc, phải chết oan khuất dưới tay bọn phát xít tàn bạo. Tuy vậy, Lor-ca là một tâm hồn bất diệt, một nghệ sĩ chân chính. Nhân cách và tài năng nghệ thuật của ông sẽ sống mãi với muôn đời.

– Qua bài thơ, Thanh Thảo bày tỏ tấm lòng tri âm, ngưỡng vọng sâu sắc tới Lor-ca. Nhà thơ cũng gửi tới người đọc một thông điệp đầy tiến bộ: cái đẹp của nhân cách con người, cái đẹp của sự sáng tạo nghệ thuật chân chính sẽ có sức sống bất diệt. Đây cũng là con đường mà Thanh Thảo hằng theo đuổi.

– Bi kịch của Lor ca được truyền tải tới người đọc qua thể thơ tự do mang phong cách tượng trưng, siêu thực giàu cảm xúc, thấm đẫm chất nhạc và tính triết lí sâu sắc.

5. Đánh giá

– Vũ Như Tô và Lor ca là hai người nghệ sĩ ở hai đất nước, ở hai thời đại khác nhau nhưng đề có những bi kịch điển hình cho người nghệ sĩ tài hoa – bạc mệnh.

– Hai tác phẩm thể hiện sự tri âm của hai nhà văn với những nhân cách cao đẹp, với4nghệ thuật chân chính. Phải chăng đó là một quy luật trong sáng tạo nghệ thuật, vì thế mà Tiên Phong Mộng Liên Đường chủ nhân Nguyễn Đăng Tuyển từng có lời bình Truyện Kiều như sau: “Thuý Kiều khóc Đạm Tiên, Tố Như tử làm Truyện Thuý Kiều, việc tuy có khác nhau mà lòng thì là một, người đời sau thương người đời nay, người đời nay thương người đời xưa, hai chữ tài tình thật là một cái thông luỵ của bọn tài tử khắp trong gầm trời và suốt cả xưa nay vậy”.

Xem thêm :

Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài– Nguyễn Huy Tưởng

Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về Đàn ghi ta của Lor-ca, Thanh Thảo

So sánh Độc Tiểu Thanh kí và Đàn ghi ta của Lor-ca

So sánh  Độc Tiểu Thanh kí và  Đàn ghi ta của Lor-ca

Đề bài :

Sự gặp gỡ và sáng tạo độc đáo của Nguyễn Du trong “Độc Tiểu Thanh kí” và Thanh Thảo ở “Đàn ghi ta của Lor-ca”.

Định hướng cách giải quyết:

  1. Sự gặp gỡ của Nguyễn Du trong “Độc Tiểu Thanh kí” và Thanh Thảo ở “Đàn ghi ta của Lor-ca”:

1.1. Vì sao trong văn chương lại có sự gặp gỡ?

Các tác phẩm văn chương có thể có những điểm gặp gỡ về nội dung và nghệ thuật vì:

– Người nghệ sĩ cùng chung một mối quan tâm (những vấn đề có tính chất vĩnh cửu, mang tầm nhân loại); chung mục đích sáng tạo (đưa con người đến với những giá trị cao quý chân – thiện – mĩ)…

– Kiểu tư duy, cách thể hiện có thể có điểm tương đồng: ở đâu, thời kì nào người ta cũng có cách nghĩ như thế, cách thể hiện như thế.

– Theo quy luật kế thừa trong sáng tạo nghệ thuật: văn học của mỗi thời kì, mỗi quốc gia không bao giờ ra đời từ môi trường chân không mà luôn có sự kế thừa…

1.2. Chỉ ra và phân tích những biểu hiện của sự gặp gỡ của Nguyễn Du và Thanh Thảo ở hai bài thơ “Độc Tiểu Thanh kí” và “Đàn ghi ta của Lor-ca”

+ Niềm đồng cảm sâu sắc, niềm tiếc thương day dứt, đớn đau, phẫn uất, bất bình cho cái Đẹp bị huỷ diệt, đầy đoạ, dập vùi

+ Sự nâng niu, trân trọng cái Đẹp, khẳng định sức sống của cái Đẹp, gắn với khát vọng bất tử hoá cái Đẹp

+ Hướng con người tới những tình cảm nhân văn cao đẹp, đặt ra những câu hỏi lớn lao cho thời đại, là tiếng nói cất lên từ thời đại nhưng còn đọng lại và có tầm nhân loại….

( Cần chỉ ra các biểu hiện trên ở từng tác phẩm)

  1. Điểm độc đáo của Nguyễn Du trong “Độc Tiểu Thanh kí” và Thanh Thảo ở “Đàn ghi ta của Lor-ca”:

2.1. Bên cạnh sự tương đồng luôn là sự khác biệt đi liền với sự độc đáo, mới lạ vì:

– Xuất phát từ quy luật sáng tạo văn học:

+ Quá trình viết văn phải là quá trình tìm tòi sáng tạo cái mới, không được lặp lại.

+ Bản thân mỗi tác phẩm văn học là một chỉnh thể, một sản phẩm duy nhất không lặp lại.

+ Mỗi nhà văn vừa với tư cách một cá tính sáng tạo vừa với tư cách đại diện cho con người thời đại có cách cảm, cách nghĩ, cách thể hiện riêng.

– Người tiếp nhận: đa dạng, phong phú, mang tính cá nhân cá thể luôn có nhu cầu tìm đến cái mới cũng góp phần làm nên bức tranh muôn màu của văn học.

2.2. Chỉ ra và phân tích được những nét độc đáo về nột dung và nghệ thuật của hai tác phẩm:

+ Độc Tiểu Thanh kí:

Về nội dung cảm xúc: Nguyễn Du thương cho kiếp hồng nhan, phong lưu bạc mệnh, tài tử đa cùng. Mạch thơ đi từ thương người sang thương đời, thương mình. Bài thơ đan xen biết bao cảm xúc (thương cảm, xót xa, phẫn uất, thất vọng, khắc khoải…).

Về nghệ thuật: Tác phẩm là thơ chữ Hán theo thể thơ Đường luật cổ điển. Nhà thơ nói bằng nghệ thuật đối, bằng những câu hỏi tu từ như xoáy vào hồn người, bằng cách xưng tên da diết khắc khoải, bằng giọng thơ trang trọng mà tràn đầy cảm xúc yêu thương…

+ Đàn ghi ta của Lor-ca:

Về nội dung cảm xúc: Thanh Thảo thương xót cho cuộc đời người chiến sĩ-nghệ sĩ.

Về nghệ thuật: Mạch cảm xúc làm cho bài thơ kết cấu giống như một bản giao hưởng về cuộc đời Lor-ca. Nhà thơ xây dựng hình ảnh giàu ý nghĩa biểu trưng, sử dụng thể thể thơ tự do theo khuynh hướng thơ tượng trưng, siêu thực mới mẻ  giầu chất nhạc, chất hoạ…

  1. Đánh giá, mở rộng:

 Qua điểm gặp gỡ và những sáng tạo độc đáo của Nguyễn Du và Thanh Thảo nói riêng trong hai thi phẩm thấy được ý nghĩa của sáng tạo văn chương, thấy được vai trò, nhiệm vụ của nhà văn, của độc giả trong quá trình sáng tạo và thưởng thức văn chương:

– Sự gặp gỡ và nét khác biệt với những sáng tạo độc đáo, thú vị làm nên sự phong phú, giàu có kì diệu của văn học:

– Điểm tương đồng làm nên tính tập trung, thống nhất của văn học, làm cho mọi người có thể hiểu nhau, đồng cảm với nhau qua văn học (bất chấp khoảng cách về không gian, thời gian)

– Điểm khác biệt độc đáo sẽ làm tiến trình văn học ngày một dài hơn, kho tàng văn học nhân loại giàu có hơn; đời sống tinh thần con người sẽ phong phú hơn và người nghệ sĩ ghi được tên tuổi của mình trong dòng đời nước chảy.

Xem thêm :

  1. Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về Đọc Tiểu Thanh Kí– Nguyễn Du
  2. Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về Đàn ghi ta của Lor-ca -Thanh Thảo
  3. Dạng đề so sánh văn học