Hướng dẫn ôn tập bài Chữ người tử tù Nguyễn Tuân

CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ NGUYỄN TUÂN

TÁC GIẢ

  • Nguyễn Tuân (1910 -1987) sinh ra trong một gia đinh nhà nho khi Hán học di tàn. Quê ông ở làng Mọc, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội
  • Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Tuân đến với cách mạng dùng ngòi bút phục vụ hai cuộc kháng chiên của dân tộc. Từ 1948 đến 1958  ông là Tổng thư kí Hội Văn nghệ Việt Nam. Năm 1996, ông được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
  • Tác phẩm tiêu biểu: Một chuyên đi (1938), Vang bóng một thời (1940),thiếu quê hương (1940) sông Đà ( 1960)
  • Nguyễn Tuân là nhà văn lớn, một nghệ sĩ suổt đời đi tìm cái đẹp. Ông có sở trường ở thế loại tùy bút, với phong cách tài hoa và độc đáo.

Chữ người tử tù

Xuất xứ

Chữ người tử từ lúc đầu có tên là Dòng chữ cuối cùng, in năm 1939 trên tạp chí Tao đàn, sau đó được tuyển in trong tập truyện Vang bóng một thời và đối tên thành Chữ người tử tù.

Tóm tắt tác phẩm chữ người tử tù

Huấn Cao là một người có khí phách hiên ngang, nổi tiếng với tài viết chữ đẹp, cầm đầu cuộc nổi loạn chống lại triều đình phong kiến nhưng thất bại, bị bắt giải đến đề lao. Trong những ngày bị giam ở đây, Huấn Cao được viên quản ngục và thầy thơ lại đốì đãi  rất tốt.

Khi nhận được công văn khẩn của quan Hình bộ Thượng thư về việc chuyển các tử tù vào pháp trường trong kinh, viên quản ngục liền nhờ thầy thơ lại vào nhà ngục để hoàn thành tâm nguyện là xin Huấn Cao cho chữ.

Vì cảm mến  thái độ “biệt nhỡn liên tài” và tấm lòng yêu cái đẹp, biết quý người tài của viên quản ngục nên Huấn Cao đã đổng ý cho chữ.

Vào buổi tối trưóc ngày Huấn Cao bị xử tử, ở trong nhà lao đã diễn ra cảnh  cho chữ “xưa nay chưa từng có” Đó là cảnh diễn ra trong “một buồng tôi chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián”. Khi ấy, ba cái đẩu người đang chăm chú trên một tấm lụa bạch còn nguyên vẹn lần hồ. Huấn Cao, một tử tù trên mình đầy xiềng xích đang thỏa chí phóng từng nét bút trên tấm lụa trắng tinh, bên cạnh là thầy thơ lại đang “run run’’ bưng chậu mực, viên quản ngục thì “khúm núm” cât những đổng tiền kẽm đánh dâu ô chữ đặt ỉrến phiên lụa óng. Sau khi đã cho chữ xong, Huân Cao đã khuyên viên quàn ngục nên thay đổi chốn ở và đổi nghể khác để giữ thiên lương cho lành vững. Những lơi khuyên đó cua Huân Cao đã làm viên quản ngục nghẹn ngào lạy tạ vói môi cấu: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”.

Những nội dung chính

Tình huống truyện là cuộc gặp gỡ khác thường của hai con người cũng khác thường :Một người là Huấn Cao,là người tử tù có tài văn lẫn võ, nhất là tài viết thư pháp. Người kia lại là viên quan coi ngục, kè đại diện cho bạo lực tăm tối  nhưng lại rất biết quý người tài và yêu quý nghệ thuật thư pháp. Xét trên bình diện xã hội thi đấy là cuộc gặp gỡ giữa hai người có vị thế đối lập nhau, nghưng  xét trên binh diện nghệ thuật thì đây lại là cuộc gặp gỡ giữa hai con người cùng có tình yêu nghệ thuật, có thể gọi là “tri kỉ” Nhưng tình huống oái oăm ở đây là hai con người ấy lại gặp nhau ngay chốn  nhà lao, vào thòi điểm mà chỉ vài ngày nữa Huấn Cao phải chịu án chém. Kịch tính của truyện dâng lên đến đỉnh điểm khi ngục quan nhận được công văn khẩn về  việc chuyển các từ tù, trong đó có Huấn Cao vào pháp trường trong kinh. Chính tình huống đó buộc ngục quan bất chấp hiểm nguy, tìm cách để có thể kịp thời xin được chữ của ông Huấn. Và cảnh cho chữ diễn ra cũng trong một hoàn cảnh rất đặc biệt…

Thông qua tình huống độc đáo ấy, nhà văn đã ca ngợi nhũng con người có vẻ đẹp tài hoa cùng với khí phách hiên ngang và thiên lương trong sáng mà ông hằng tìm kiếm, ngưỡng vọng. Một trong những con người ấy là Huấn Cao.

 

Trước hết, Huấn Cao là một nghệ sĩ tài hoa. Phẩm chất tài hoa nghệ sĩ của Huấn Cao thế hiện ở nghệ thuật thư pháp. Chữ của Huấn Cao vô cùng quý bởi nó được “viết rất nhanh và rất đẹp”, bởi nó “đẹp lắm, vuông lắm” và nó “nói lên hoài bào tung hoành của một đời người”. Người nào có được chữ của Huấn Cao mà treo là có một “vật báu trên đời”. Chính vì thế mà viên quản ngục luôn ao ước có được chữ của ông Huấn.

Huấn Cao còn là người có khí phách hiên ngang, dũng liệt và bất khuất.Ông dám đứng lên chống lại triều đinh đang suy tàn mà ông căm ghét, khi bị bắt ông vẫn bình thản, coi thường cái chết và “thản nhiên nhận rượu thịt, coi như đó là một việc vẫn làm trong cái hứng sinh bình lúc chưa bị giam cầm”. Hơn thế nữa, ngày mai là chịu án tử hình mà trong đêm ấy, ông vẫn rất ung dung viết những chữ rất đẹp để tặng cho viên quản ngục.

Ngoài ra, vẻ đẹp của Huấn Cao còn tỏa sáng hơn nữa ở thiên lương, tâm hồn trong sáng, cao đẹp. Ông “không vì vàng ngọc hay quyền thế mà phải ép mình viết  câu đối “. Đối vói quản ngục, ông tỏ ra cảm kích trước “tấm lòng biệt nhỡn liên tài” và ân hận vì thiếu chút nữa “đã phụ một tấm lòng trong thiên hạ”. Khi đường hoàng viết những dòng chữ cuối cùng của đời mình, ông Huấn đã chân thành khuyên bảo quản ngục thay đổi chốn ở và nghề nghiệp đế giữ “thiên lương cho lành vững”.

Nguyễn Tuân đã xây dựng nhân vật Huân Cao bằng cả bút pháp lí tưởng hóa và cảm hứng lãng mạn. Qua nhân vật nhà văn đã bộc lộ rõ quan điểm thẩm mĩ của mình: cái đẹp và cái thiện không thể tách rời, một nhân cách đẹp bao giờ cũng là sự thông nhất giữa cái tài và cái tâm.

Ngoài nhân vật Huấn Cao  hình tượng nhân vật được xây dựng thành công của nhà văn còn có viên quản ngục. Viên quản ngục được tác giả ví như “một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ , và Huấn Cao cảm kích coi là “một tấm lòng trong thiên hạ”. Bởi lẽ, ở quản ngục mặc dù không sáng tạo cái đẹp nhưng lại có tâm hồn nghệ sĩ, say mê và biết quý trọng cái đẹp: ao ước có chữ của ông Huấn để treo. Đây chính là” ước nguyện cao quý” của ngục quan. Hơn nữa, ngục quan còn là người có khả năng  “biệt nhỡn liên tài” và có tấm lòng “biết  giá người, biết trọng người ngay”.

Thông qua nhân vật viên quản ngục, Nguyễn Tuân muốn phát biểu cho  quan điếm thấm mĩ của mình: trong mỗi con người đều có bản chất thiên lương và có một con người nghệ sĩ,  và cái đẹp có khả năng cảm hóa con người,  giúp con ngươi có tâm chí thiện.

Cảnh cho chữ là một thành công độc đáo của Chữ người tử  tù. Nghệ thuật thư pháp vá việc cho chữ thường diễn ra ở những nơi thư phòng, cảnh trí nên thơ, tao nhã. Nhưng cảnh cho chữ ở đây lại là một nơi rất đặc biệt, thời gian cũng đặc biệt, con người cũng rất đặc biệt. Nhà văn gọi cảnh ấy là cảnh tượng xưa nay chưa từng có. Nơi diễn ra cảnh cho chữ ở đây là nhà tù  nơi ngự trị của bóng tối, cái ác, những thứ thù địch với cái đẹp. Thời gian cho chữ lại là đêm tối. Vị thế của các nhân vật cũng bị đảo lộn một cách “xưa nay chưa từng có”. Kẻ vốn có quyền hành thì trở nên không có quyền uy. Uy quyển thuộc về ké vốn bị tước mọi thứ quyền – Huấn Cao. Kẻ có quyền sinh quyền sát thì khúm núm, sợ sệt trong khi đó, kẻ tử tù thì lại ung dung, đường bệ thảo những dòng chữ “vuông tươi tắn” trên một bức lụa trắng. Ranh giới tội phạm đã bị xóa bỏ, chỉ còn lại những con người tri kỉ với nhau và cái đẹp của nghệ thuật. Cành cho chữ đã khẳng định được sự chiến thắng của ánh sáng đối với bóng , của cái đẹp đối với sự phàm tục và tàn bạo.

Đặc sắc nghệ thuật

Chữ người tử tù đã thành công trên nhiều phương diện nghệ thuật. Tác phẩm đã thể hiện tài năng của Nguyễn Tuân trong việc tạo dựng tình huống t ruyện độc đáo, trong nghệ thuật dựng cảnh, khắc họa tính cách nhân vật, tạo không khí cổ kính, trang trọng, trong việc sử dụng thủ pháp đối lập và ngôn ngữ giàu tính tạo hình, giàu tính truyền cảm.

Chủ để tư tưởng

Thông qua việc xây dựng hình tượng nhân vật Huân Cao, một con người mang vẻ đẹp độc đáo được lí tưởng hóa, một con người tài hoa, khí phách hiên ngang và thiên lương trong sáng, nhà văn thể hiện quan niệm về cái đẹp: chữ tài phải gắn với chữ tâm, cái đẹp phải đi liền với cái thiện. Đó còn là sự khẳng định và niềm tin mãnh liệt của nhà văn vào sự bất tử của cái đẹp, cái thiện.

HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP DẠNG CÂU HỎI TÁI HIỆN KIẾN THỨC

Câu 1. Trình bày ngắn gọn những nét chính về cuộc đời và sự nghiệp văn học của nhà văn Nguyễn Tuân.

Gợi ý trả lời: Tham khảo mục 1

Câu 2. Nhận xét về  tình huống truyện của truyện ngắn Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân).

Gợi ý trả lời

Tình huống của Chữ người tử tù là cuộc “kì ngộ” của Huấn Cao và viên quản ngục diễn ra chính ngay nơi tù ngục và vào lúc mà chỉ còn ít ngày nữa là Huấn Cao phải thọ án chém. Trong đó, thân phận của hai con người này thật éo le. Trên bình diện xã hội, họ là đối địch nhau (Huân Cao là tử tù, quản ngục là người coi ngục). Nhưng trên bình diện nghệ thuật (nghệ thuật Thư pháp), họ lại là tri kỉ, cùng có tâm hồn nghệ sĩ (Huấn Cao có tài viết chữ đẹp, viên quản ngục thì say mê nghệ thuật và chữ của Huấn Cao…)

Tình huống đặc biệt này có  nhiều ý nghĩa:

+ Đặt nhân vật trong tình huống có tính xung đột như vậy, nhân vật bộc lộ tính cách rất tự nhiên càng rõ nét.

+ Tình huống truyện đã góp phần tạo nên kịch tính cho câu chuyện, giúp cho câu chuyện trờ nên lôi cuốn và hấp dẫn hơn.

+ Đồng thời, tình huống còn giúp nhà văn dễ dàng thể  hiện chủ đề tác phẩm và bộc lộ quan điểm về cái đẹp, khẳng định sự bất  tử của cái đẹp.

ĐỀ NGHỊ LUẬN VĂN HỌC

Đề 1: Phân tích nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm chữ người tử tù của Nguyễn Tuân

Gợi ý bài làm

Mở bài

Nguyễn Tuân là nhà văn lớn, có phong cách tài hoa, độc đáo. Ông thành công cả trong hai giai đoạn trước và sau Cách mạng. Tác phẩm tiêu biểu của ông: Một chuyêh đi, Vang bóng một thời, Thiếu quê hương, Sông Đà,…

Truyện ngắn Chữ người tử tù là tác phẩm xuâ’t sắc của Nguyễn Tuân ỉn trong tập Vang bóng một thời. Nhân vật trong Vang bóng một thời phẩn lớn là những nho sĩ cuối mùa – những con người tài hoa, bất đắc chí. Trong số những con người tài hoa ấy, nổi bật lên hình tượng ông Huấn Cao trong Chữ người tử tù, một con người tài hoa, không chỉ có tài mà còn có cái tâm trong sáng; mặc dù chí lớn không thành nhưng tư thế vẫn hiên ngang, bất khuất.

Thân bài

Huấn Cao mang vẻ đẹp của con người tài hoa nghệ sĩ: tài viết chữ nhanh và đẹp, nét chữ vuông tươi tắn nó nói lên những cái hoài bão tung hoành của một đời con người. Có được chữ của Huấn Cao là có một báu vật trên đời.

Huấn Cao mang vẻ đẹp của con người có khí phách hiên ngang, dũng liệt, bất khuất dám đứng lên chống lại triều đình mà ông căm ghét, bị bắt giam mà vi ung dung, thản nhiên như không hề bị giam cầm.

Huấn Cao còn là người có tâm hồn cao đẹp, thiên lương trong sáng: không bao giờ vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết câu đối , biết mến phục tâm hồn  trong sáng, quý trọng giá người của viên quản ngục.

Qua cảnh cho chữ, những vẻ đẹp ấy của Huấn Cao càng tỏa sáng: Huấn Cao thành biểu tượng của cái đẹp, cái cao cả chiên thắng cái phàm tục, cái dơ bẩn.

Nghệ thuật xây dựng nhân vật: đặt nhân vật trong tình huông độc đáo, bút pháp lăng mạn kết hợp vói bút pháp hiện thực, nghệ thuật tương phản, đối lập, ngôn ngữ giàu tính tạo hình, gây ấn tượng…

Kết bài

Nhân vật Huấn Cao là thành công xuất sắc của Nguyễn Tuân trong Chữ người tử tù. Qua nhân vật, nhà văn thể hiện rất rõ quan điếm thấm mĩ của mình.

Bài văn mẫu :Vẻ đẹp của nhân vật Huấn Cao trong “ Chữ người tử tù”của Nguyễn Tuân

 

Đề 2: Phân tích tình huống truyện trong tác phẩm Chữ người tử tù của nhà văn Nguyễn Tuân.

Gợi ý bài làm

  1. 1. Vài nét về tác giả, tác phẩm– Nguyễn Tuân là nhà văn lớn, có phong cách tài hoa, độc đáo; có nhiều đóng góp quan trọng cho nền văn học hiện đại Việt Nam.
    – Chữ người tử tù (in trong tập Vang bóng một thời) là truyện ngắn xuất sắc, kết tinh tài năng của Nguyễn Tuân trước năm 1945.

    2. Phân tích tình huống truyện

    – Nội dung tình huống:  Đó là cuộc gặp gỡ đầy trớ trêu, éo le giữa người tù Huấn Cao với viên quản ngục chốn lao tù. Xét về phương diện xã hội, họ ở thế đối lập nhau (một bên là tử tù chờ ngày ra pháp trường; một bên là quản ngục nắm trong tay sinh mệnh của tù nhân). Nhưng xét về phương diện nghệ thuật, họ là những người có tâm hồn đồng điệu.

    – Diễn biến tình huống:
    + Thái độ lúc đầu của Huấn Cao: Tỏ ra coi thường, khinh bạc ngay cả khi nhận được sự chăm sóc lặng lẽ, chu tất của viên quản ngục (Huấn Cao: “Ta chỉ muốn có một điều. Là nhà ngươi đừng đặt chân vào đây.”).
    + Sự thay đổi thái độ của Huấn Cao: Khi hiểu ra tấm lòng chân thành và sở thích cao quý của viên quản ngục, Huấn Cao hết mực trân trọng và đồng ý “cho chữ” (Huấn Cao: “Thiếu chút nữa, ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”).
    + Cảnh cho chữ trong nhà ngục: Diễn ra như “một cảnh tượng xưa nay chưa từng có”. Không gian và thời gian rất đặc biệt (nơi ngục tù, lúc đêm khuya); vị thế các nhân vật bị đảo ngược (tử tù thành thần tượng, ân nhân của cai ngục; cai ngục thành người ngưỡng mộ, chịu ơn tử tù).

    – Ý nghĩa, hiệu quả nghệ thuật của tình huống:
    + Làm bộc lộ, thay đổi quan hệ, thái độ, hành vi khác thường của các nhân vật; làm toả sáng vẻ đẹp của cái Tài, cái Dũng, cái Thiên lương.
    + Góp phần khắc họa tính cách của các nhân vật; tăng kịch tính và sức hấp dẫn của tác phẩm.

    3. Đánh giá chung

    – Chữ người tử tù thành công trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật.
    – Tình huống truyện trên đây góp phần thể hiện rõ những nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân.

    Tài liệu sưu tầm và tổng hợp

 

Xem thêm : Phân tích cảnh cho chữ trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân

Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về Chữ người tử tù :  chữ người tử tù

Tất tần tật về Chữ Người tử tù -Nguyễn Tuân

 ÔN TẬP CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ

– Nguyễn Tuân –

Kiến thức cơ bản về truyện ngắn Chữ người tử tù

Khái quát về tác phẩm:

Truyện “ Chữ người tử tù” lúc đầu có tên là “Dòng chữ cuối cùng” in trên  tạp chí “Tao đàn” (1939), sau được tuyển in trong tập “Vang bóng một thời” và đổi tên thành “Chữ người tử tù”.

Truyện “Chữ người tử tù” kể về nhân vật Huấn Cao, một người “văn võ toàn tài”. Mở đầu truyện là cảnh nhà ngục tỉnh Sơn chuẩn bị đón sáu tên tử tù nguy hiểm, trong đó đứng đầu là Huấn Cao. Trước khi tù đến, viên quản ngục đã tỏ lòng khâm phục Huấn Cao vì cái tài viết chữ đẹp, vì tài cầm quân, tài bẻ khóa, vượt ngục. Suốt nửa tháng, quản ngục đã biệt đãi Huấn Cao và năm tử tù nhưng vì chưa hiểu nỗi niềm của viên quản ngục nên Huấn Cao vẫn tỏ ra  “khinh bạc”. Có lệnh chuyển tù, quản ngục đã nhờ viên thơ lại đến nói với Huấn Cao tâm sự của mình (muốn xin mấy chữ đại tự trên lụa trắng). Nhận ra tấm lòng của quản ngục, Huấn Cao đã đồng ý. Đêm hôm đó, cảnh cho chữ kì lạ diễn ra trong ngục tối. Viết xong, Huấn Cao khuyên quản ngục thay chốn ở mà giữ “thiên lương”. Quản ngục cảm động, vái  người tử tù “xin lĩnh ý”.

 Những đề thi về Chữ người tử tù

Dựa vào kiến thức cơ bản và phương pháp làm bài nghị luận văn học về tác phẩm, đoạn trích văn xuôi, học sinh luyện tập với các đề văn sau:

Đề 1.

Hãy phân tích nhân vật Huấn Cao trong truyện “Chữ người tử tù” của nhà văn Nguyễn Tuân.

Đề 2.

Hãy phân tích nhân vật viên quản ngục trong truyện “Chữ người tử tù” của nhà văn Nguyễn Tuân.

Đề 3.

Hãy phân tích cảnh cho chữ – một “cảnh tượng xưa nay chưa từng có” – trong truyện “Chữ người tử tù” của nhà văn Nguyễn Tuân.

 Hướng dẫn luyện tập đề 1 :

Tìm hiểu đề

Dạng đề : Phân tích nhân vật trong tác phẩm truyện.

Yêu cầu của đề :

  • Yêu cầu về nội dung : Làm nổi bật đặc điểm hình tượng nhân vật Huấn Cao.
  • Yêu cầu về thao tác : Phân tích là thao tác chính, cần kết hợp các thao tác khác như: chứng minh, bình luận, so sánh…
  • Yêu cầu về tư liệu : Dẫn chứng là những từ ngữ, câu văn, chi tiết tiêu biểu ở văn bản trong sách giáo khoa Ngữ văn 11.

Lập dàn ý

Mở bài : Giới thiệu tác giả Nguyễn Tuân, dẫn vào truyện ngắn “Chữ người tử tù”. Nêu vấn đề : Trong tác phẩm này, nhà văn đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật Huấn Cao hội tụ nhiều vẻ đẹp.

Thân bài :

Khái quát : Nêu xuất xứ, thời gian sáng tác, tóm tắt truyện.

Phân tích :

Vẻ đẹp của sự tài hoa.

Vẻ đẹp của khí phách ngang tàng.

Vẻ đẹp của thiên lương trong sáng.

Nghệ thuật xây dựng nhân vật

Tạo dựng tình huống truyện độc đáo, đặc sắc (cuộc gặp gỡ và mối quan hệ éo le, trớ trêu giữa viên quản ngục và Huấn Cao).

Sử dụng thành công thủ pháp đối lập, tương phản.

Xây dựng thành công hình tượng nhân vật Huấn Cao – con người hội tụ nhiều vẻ đẹp.

Ngôn ngữ góc cạnh, giàu hình ảnh, có tính tạo hình, vừa cổ kính, vừa hiện đại.

Kết bài :

Kết luận chung về đặc điểm nhân vật. Ý nghĩa của hình tượng nhân vật.

Cảm nghĩ về tác giả.

Bài văn mẫu phân tích nhân vật Huấn Cao

Bài viết

Nguyễn Tuân là nhà văn lớn của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại. Ông  là một nghệ sĩ tài hoa, uyên bác, có cá tính độc đáo. Sáng tác của ông có nhiều thể loại và ở thể loại nào cũng có những thành công đáng kể. Một trong số tác phẩm kết tinh tài năng độc đáo của Nguyễn Tuân ở thể loại truyện ngắn là “ Chữ người tử tù”. Trong tác phẩm này, nhà văn đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật Huấn Cao hội tụ nhiều vẻ đẹp.

Truyện “ Chữ người tử tù” lúc đầu có tên là “Dòng chữ cuối cùng” in trên  tạp chí “Tao đàn” (1939), sau được tuyển in trong tập “Vang bóng một thời” và đổi tên thành “Chữ người tử tù”.

Truyện “Chữ người tử tù” kể về nhân vật Huấn Cao, một người “văn võ toàn tài”. Mở đầu truyện là cảnh nhà ngục tỉnh Sơn chuẩn bị đón sáu tên tử tù nguy hiểm, trong đó đứng đầu là Huấn Cao. Trước khi tù đến, viên quản ngục đã tỏ lòng khâm phục Huấn Cao vì cái tài viết chữ đẹp, vì tài cầm quân, tài bẻ khóa, vượt ngục. Suốt nửa tháng, quản ngục đã biệt đãi Huấn Cao và năm tử tù nhưng vì chưa hiểu nỗi niềm của viên quản ngục nên Huấn Cao vẫn tỏ ra  “khinh bạc”. Có lệnh chuyển tù, quản ngục đã nhờ viên thơ lại đến nói với Huấn Cao tâm sự của mình (muốn xin mấy chữ đại tự trên lụa trắng). Nhận ra tấm lòng của quản ngục, Huấn Cao đã đồng ý. Đêm hôm đó, cảnh cho chữ kì lạ diễn ra trong ngục tối. Viết xong, Huấn Cao khuyên quản ngục thay chốn ở mà giữ “thiên lương”. Quản ngục cảm động, vái  người tử tù “xin lĩnh ý”.

          Trước hết, vẻ đẹp của hình tượng nhân vật Huấn Cao thể hiện ở phương diện tài hoa. Huấn Cao là một nghệ sĩ trong nghệ thuật thư pháp. Chữ của Huấn Cao “ đẹp lắm”, “vuông lắm”. Để thể hiện tài hoa ở chữ, Nguyễn Tuân không miêu tả kĩ lưỡng về chữ đó mà ông tập trung thể hiện sức hấp dẫn, sức chinh phục của những nét chữ. Tài hoa trong nghệ thuật thư pháp của Nguyễn Tuân đã nức tiếng gần xa. Trước khi đến nhà ngục, danh tiếng của Huấn Cao đã được quản ngục biết đến và hằng ngưỡng mộ, kính phục. Khi Huấn Cao đặt chân đến nhà ngục, tài hoa của ông đã khơi dậy trong viên quản ngục niềm khao khát cháy bỏng: được treo riêng ở nhà một câu đối do ông Huấn Cao viết và đó sẽ là “báu vật trên đời”. Không chỉ ao ước, khao khát, viên quản ngục còn tìm mọi cách “biệt đãi” để mong Huấn Cao cho chữ. Ngay cả khi bị Huấn Cao tỏ ra  khinh bạc, viên quản ngục cũng chỉ biết vâng lời, nhẫn nhục và vẫn hết lòng trọng đãi. Có thể nói, tài hoa của Huấn Cao đã hoàn toàn chinh phục viên quản ngục. Trước cái đẹp tài hoa của ông Huấn, quản ngục đã bất chấp sự nguy hiểm đến danh vị và sinh mạng. Hành động hạ mình trước Huấn Cao của viên quản ngục chính là  sự khuất phục của quyền uy trước cái đẹp.

         Cùng với tài hoa, ở Huấn Cao còn chói ngời khí phách hiên ngang. Huấn Cao mang ý chí “chọc trời khuấy nước” nên đã cầm quân chống lại triều đình phong kiến thối nát, khi bị bắt thì “bẻ khóa, vượt ngục” để tiếp tục thực hiện lí tưởng. Điều này cũng thể hiện rõ qua ý nghĩ của Quản ngục về Huấn Cao “những kẻ chọc trời khuấy nước đến trên đầu người ta cũng chẳng biết có ai nữa”. Như vậy Huấn Cao rõ ràng là một trang anh hùng nghĩa liệt có lí tưởng, có dũng khí, có chí lớn, yêu công bằng và tự do. Khí phách hiên ngang của Huấn Cao còn hiện rõ ở tinh thần “uy vũ bất năng khuất”(không sợ gông xiềng, đòn roi, cường quyền). Vừa đến nhà ngục, bất chấp việc lính giơ roi dọa dẫm, Huấn Cao vẫn điềm  nhiên chỉ huy những người tù dỗ cái gông nặng đến bảy, tám tạ xuống nền đá làm rơi ra một trận mưa rệp. Hành động này cho thấy, với Huấn Cao việc gì ông muốn là ông có thể làm được, bất chấp khó khăn đến đâu và có được phép hay không. Lúc viên quản ngục cho người đem rượu thịt đến, Huấn Cao đã điềm nhiên ăn uống như cái lúc còn tung hoành ngoài đời. Như vậy, với Huấn Cao, nhà giam và án tử hình treo trên đầu chẳng có gì là đáng sợ, nhà tù chỉ có thể giam cầm ông về thể xác, còn về tinh thần, ông vẫn hoàn toàn tự do. Đặc biệt, khi Huấn Cao tưởng viên quản ngục đến để mua chuộc mình, ông đã tỏ ra “ khinh bạc đến điều” và nói: “Ta chỉ muốn có một điều, là nhà ngươi đừng đặt chân vào đây”. Với câu nói đó, Huấn Cao đã đuổi thẳng cổ viên quản ngục đi mà không sợ sự lôi đình, sự báo thù và những thủ đoạn tàn bạo của một ngục quan bị sỉ nhục. Khí phách của Huấn Cao càng ngời sáng rực rỡ hơn khi ông nhận được tin ngày mai sẽ bị đưa về kinh xử chém. Với những con người bình thường, khi đối mặt với cái chết, họ thường tỏ ra khiếp sợ. Vậy mà , khi được tin cái chết đã đến, Huấn cao vẫn thanh thản “mím cười”. Hơn thế, Huấn Cao vẫn ung dung , chủ động sắp xếp kế hoạch để cho chữ viên quản ngục sau khi đã nhận ra tấm lòng yêu quý cái đẹp của ông ta. Trong cảnh cho chữ, Huấn cao đã hiện lên thật uy nghi : cổ đeo gông, chân vướng xiềng, tay tung hoành những nét chữ thể hiện khí phách của một con người hoài bão. Như vậy, ở Huấn Cao có vẻ đẹp hiên ngang của một trang anh  hùng nghĩa liệt.

          Không chỉ là một nghệ  sĩ tài hoa, một trang anh hùng hiên ngang khí phách, Huấn Cao còn là ngừơi có thiên lương cao đẹp. Thiên lương đó được thể hiện ở sự tự trong, coi khinh tiền bạc để bảo vệ cái đẹp. Huấn Cao không bao giờ vì vàng bạc, quyền uy mà ép mình cho chữ bao giờ. “ Tính ông vốn khoảnh, trừ chỗ tri kỉ, ông ít chịu cho chữ”. Vẻ đẹp thiên lương của Huấn Cao còn thể hiện rõ ở chỗ ông coi trọng  những tâm hồn luôn hướng tới cái đẹp. Huấn Cao đã rất cứng cỏi khi nghĩ rằng Quản ngục là kẻ đại diện cho quyền lực phi nghĩa. Khi biết Quản ngục có tấm lòng yêu chuộng cái đẹp, thái độ của ông khác hẳn, ông đồng ý cho chữ và nói những lời chân thành “ Ta cảm cái lòng biệt nhỡn liên tài…Thiếu chút nữa ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”. Lời nói đó đã hé mở lối sống của Huấn Cao: sống là phải đáp lại những tấm lòng tốt. Huấn Cao không chỉ yêu và bảo vệ cái đẹp của nghệ thuật, ông còn luôn hướng tới bảo vệ cái đẹp của cuộc sống, của tâm hồn con người. Điều đó được thể hiện trong lời khuyên của ông với viên quản ngục:  hãy bỏ nghề, về quê mà ở vì ở đây khó giữ thiên lương cho “ lành vững”. Như vậy, Huấn Cao là người có cái tâm trong sáng.

          Xây dựng nhân vật Huấn Cao với vẻ đẹp ngời sáng, Nguyễn Tuân đã thể hiện rõ tài hoa độc đáo trong  phong cách sáng tác của mình. Nguyễn Tuân đã đặt cả hai nhân vật vào tình huống éo le. Trong tình thế ngang trái đó, các nhân vật sẽ dần dần bộc lộ nhân cách của mình. Trong tác phẩm, Nguyễn Tuân còn sử dụng nghệ thuật tương phản : Huấn Cao xuất hiện luôn trong tư thế ung dung, hiên ngang, còn viên quản ngục và  thầy thơ lại luôn khép nép , nhún nhường. Chính nhờ nghệ thuật  này, Nguyễn Tuân đã tạo nên một ngôi sao chính vị rực rỡ – Huấn Cao. Đặc biệt, Nguyễn Tuân còn sử dụng nghệ thuật “ vẽ mây nảy trăng”. Để tô đậm nhân vật Huấn Cao, Nguyễn Tuân lại nói nhiều đến viên quản ngục và thầy thơ lại. Những lời nhận xét, đánh giá của thầy thơ lại và viên quản ngục càng làm cho vẻ đẹp của Huấn Cao ngời sáng rực rỡ hơn. Hình tượng nhân  vật Huấn Cao đã in đậm dấu ấn về phong cách sáng tác của Nguyễn Tuân.

Tóm lại, tài hoa, khí phách, thiên lương trong sáng đã hội tụ và tỏa sáng ở nhân vật Huấn Cao. Qua hình tượng Huấn Cao, Nguyễn Tuân muốn khẳng định cái đẹp là bất diệt, cái tài và cái tâm, cái đẹp và cái thiện không thể tách rời; đồng thời thể hiện sự trân trọng những giá trị tinh thần của dân tộc. Tác phẩm khép lại nhưng để lại dư âm trong lòng người đọc nhiều cảm xúc. Đó là sự cảm phục trước vẻ đẹp của nhân vật Huấn Cao và trước tài năng của nhà văn Nguyễn Tuân. Với tác phẩm này, Nguyễn Tuân không chỉ “Vang  bóng một thời” mà còn mãi mãi “vang bóng” trên văn đàn văn học Việt Nam.

Bài văn mẫu phân tích nhân vật Quản Ngục

Nhân vật viên quản ngục

Đặc điểm nhân vật:

a.Có sở thích cao quý : cũng là người “biết đọc vỡ nghĩa sách thánh hiền”, từ những ngày nào, ông có một “sở nguyện” là có một ngày kia được treo ở nhà riêng của mình một đôi câu đối do chính tay ông Huấn Cao viết. Với ông thì “có được chữ ông Huấn mà treo là có một báu vật trên đời”. Bởi vậy mà khi có một ông Huấn trong tay mình, dưới quyền mình nhưng lại không can đảm giáp mặt, viên quản ngục chỉ lo mai mốt chi đây, ông Huấn bị hành hình mà không kịp xin được chữ thì “ân hận suốt đời mất”. Cũng bởi vậy mà khi tiếp đọc công văn giải Huấn Cao ra pháp trường mà ông “tái nhợt” người đi. Để rồi sau đó mãn nguyện nói lời cảm tạ ông Huấn “kẻ mê muội này xin bái lĩnh”. Đằng sau câu nói, người đọc cũng hiểu, ngục quan sẽ nghe theo lời giáo huấn của ông Huấn, từ nay, ông sẽ bỏ cái nghề mà ông đã chọn nhầm này để về quê, giữ thiên lương cho “lành vững”. Ông sẽ rời xa chốn quan trường ấy mà không hề nuối tiếc bởi cái “sở nguyện” cả đời của ông đã được thực hiện.

b.Biết say mê và quý trọng cái đẹp, biết cảm phục tài năng, nhân cách và “biệt nhỡn liên tài” :

– Vừa nhận được công văn sắp có sáu tên tù án chém sẽ được chuyển đến nhà lao tỉnh Sơn trong nay mai, trong đó có Huấn Cao, ông đã “ngờ ngợ” và hỏi lại thầy thơ lại cho chắc chắn. Đó có phải là người mà ông kính nể bởi cái tài “viết chữ rất nhanh và rất đẹp” và ao ước được gặp mặt bấy lâu nay ? Khi thầy thơ lại chắc chắn đó là Huấn Cao, việc đầu tiên mà quản ngục làm là nhắc thầy thơ lại  “bảo ngục tốt nó quét dọn lại cái buồng giam trong cùng”. Quét dọn cho sạch sẽ để “tiếp đón” một tử tù. Nếu là một tử tù bình thường thì quả là lạ. Nhưng đây lại là ông Huấn, là “thiên hạ đệ nhất thư pháp”, là người mà ông ngưỡng mộ bấy nay, vậy thì chuyện quét dọn lại buồng giam để đón tiếp là bình thường. Hành động mở đầu truyện này đã hé mở một nhân cách đẹp :  biết say mê và quý trọng cái đẹp, biết cảm phục tài năng, nhân cách và “biệt nhỡn liên tài”.

– Tối hôm đó, sau khi đã cắt đặt xong mọi việc để tiếp đón tử tù, khi xung quanh trời đã “tối mịt”, chỉ còn những thanh âm của đêm khuya thì ngục quan vẫn đang “băn khoăn ngồi bóp thái dương”. “Khuôn mặt nghĩ ngợi” ấy vẫn chưa dứt khỏi những ý nghĩ về Huấn Cao. Ông đang suy nghĩ : “ta muốn biệt đãi ông Huấn Cao, ta muốn cho ông ta đỡ cực trong những ngày cuối cùng còn lại”. Ông thương ông Huấn vì “chọc trời khuấy nước” mà đã phải chịu bao đau đớn cực khổ bởi đòn roi tra tấn trong nhà ngục. Ông cảm phục tài năng, nhân cách cứng cỏi của ông Huấn mà muốn cho ông đỡ khổ trong những ngày cuối cùng còn lại. Thế nhưng, ông cũng phải cẩn thận bởi tính mạng của mình cũng không giữ được nếu việc đến tai quan trên. Bởi vậy, dù đã suy đoán về tính cách thầy thơ lại “hẳn không phải là kẻ xấu hay là vô tình”, có lẽ “hắn cũng như mình, chọn nhầm nghề mất rồi”, thế nhưng ông vẫn cẩn thận “để mai ta dò ý tứ hắn lần nữa xem sao rồi sẽ liệu”. Những suy nghĩ trong đêm khuya ấy cho người đọc thấy viên quản ngục tuy làm việc cho triều đình phong kiến, tuy làm công việc cai quản tù nhân nhưng ông không phải là một hung thần với đôi tay vấy máu. Chẳng qua là ông đã “chọn nhầm nghề” mà thôi.

– Sáng hôm sau, lính tỉnh dẫn sáu tên tử tù đến trước cửa ngục thất. Trái với phong tục nhận tù mọi ngày, hôm nay viên quan coi ngục “nhìn sáu tên tù mới vào với cặp mắt hiền lành”. Lòng kiêng nể của ông với ông Huấn Cao tuy cố giữ kín đáo mà cũng đã rõ quá rồi. Khi kiểm điểm phạm nhân, ngục quan còn có biệt nhỡn đối riêng với Huấn Cao khiến bọn lính phải nhắc ông “để tâm”. Ông thừa hiểu mấy chữ “để tâm” của bọn lính là gì nhưng vẫn ung dung “việc quan ta đã có phép nước” làm cho chúng không hiểu và sáu tên tử tù thì cứ ngạc nhiên về thái độ ấy. Tấm lòng say mê, quý trọng cái đẹp, sự cảm phục tài năng, nhân cách và “biệt nhỡn liên tài” trong quản ngục ngày càng rõ.

– Suốt nửa tháng sau đó, ở trong buồng tối, hàng ngày Huấn Cao vẫn thản nhiên dùng rượu, thịt do người thơ lại gầy gò mang đến. Đó là “ít quà mọn” do thầy quản “biếu” ông dùng kẻo “trong buồng đây, lạnh lắm”. Rồi một hôm, chính quản ngục trực tiếp mở cửa buồng kín để “khép nép” bày tỏ tấm lòng mình : “…biết ngài là một người có nghĩa khí, tôi muốn châm chước ít nhiều…”. Mặc dù biết rằng “phép nước ngặt lắm” và có thể “phiền lụy riêng cho tôi nhiều lắm” nếu quan trên biết việc này, nhưng viên quản ngục vẫn cứ biệt đãi ông Huấn Cao với tấm lòng kính nể, yêu mến chân thành. Bởi vậy, dù có bị ông Huấn “xỉ nhục đến điều”, ngục quan vẫn không hề tức giận, ngược lại còn lễ phép lui ra với câu nói “Xin lĩnh ý” và từ hôm ấy cơm rượu lại vẫn đưa đến đều đều và lại có phần hậu hơn trước. Ông không hề lấy làm oán thù mà còn hiểu rằng : những người chọc trời quấy nước, đến trên đầu người ta, người ta cũng còn chẳng biết có ai nữa, huống chi cái thứ mình chỉ là một kẻ tiểu lại giữ tù. Nếu không phải là một người có nhân cách cao cả, một người biết say mê và quý trọng cái đẹp, biết cảm phục tài năng, nhân cách và “biệt nhỡn liên tài” thì làm sao có thể hành động và suy nghĩ như thế được ?

– Kết thúc câu chuyện, người đọc không thể nào quên hình ảnh : “Ngục quan cảm động, vái người tù một vái, chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào : “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”. Một ngục quan mà lại quỳ lạy dưới chân một tử tù ! Trên bình diện xã hội, thật đó là chuyện không thể xảy ra. Thế nhưng, đọc đến đây, không hề có ai thấy lạ. Bởi người đọc hiểu rằng, bây giờ chỉ còn một kẻ say mê, trân trọng cái đẹp và nhân cách quỳ dưới biểu tượng của cái đẹp, cái cao cả. Ẩn hiện đâu đó quan niệm của người anh hùng “nhất sinh đê thủ bái mai hoa” (một đời ta chỉ cúi đầu sùng bái trước hoa mai).

– Sống giữa một “đống cặn bã”, một “lũ quay quắt” chỉ sống bằng tàn nhẫn, lừa lọc, ông vẫn giữ được “tính cách dịu dàng và lòng biết giá người, biết trọng người ngay”. Quả thực đó là “một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ”, một đóa sen thơm ngát giữa bùn lầy. Xây dựng hình tượng viên quản ngục, nhà văn muốn nói rằng : trong mỗi con người luôn chứa tâm hồn yêu cái đẹp, cái tài; và cái đẹp chân chính trong bất kì hoàn cảnh nào vẫn luôn giữ được “phẩm chất”, “nhân cách”.

Nghệ thuật xây dựng nhân vật:

Bằng nghệ thuật xây dựng tình huống truyện độc đáo, đặc sắc, thủ pháp tương phản đối lập, nhà văn không chỉ khắc họa một “ngôi sao chính vị rực rỡ” là Huấn Cao mà còn hướng con người đến với chân – thiện – mỹ bằng hình tượng của viên quản ngục. Tuy xây dựng hình tượng viên quản ngục bằng bút pháp hiện thực khiến hình ảnh của ông thực hơn, đời hơn so với hình ảnh lí tưởng của Huấn Cao, thế nhưng, người đọc vẫn cảm thấy viên quản ngục cũng là một ngôi sao rực rỡ giữa đất trời.

Kết luận :

Tóm lại, truyện ngắn “Chữ người tử tù” bên cạnh khắc họa hình tượng nhân vật Huấn Cao với vẻ đẹp lí tưởng, còn khắc họa hình tượng viên quản ngục có nhân cách cao quý. Tác phẩm khép lại nhưng để lại dư âm trong lòng người đọc nhiều cảm xúc. Đó là sự cảm phục trước vẻ đẹp của nhân vật Huấn Cao và trước tài năng của nhà văn Nguyễn Tuân. Với tác phẩm này, Nguyễn Tuân không chỉ “Vang  bóng một thời” mà còn mãi mãi “vang bóng” trên văn đàn văn học Việt Nam.

Xem thêm : Phân tích cảnh cho chữ trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân

Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về Chữ người tử tù :  chữ người tử tù

Phân tích cảnh cho chữ trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân

Tài liệu luyện thi bài :Chữ người tử tù. Phân tích ý nghĩa cảnh cho chữ, Hình tượng nhân vật Huấn Cao, Đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm. Xem thêm : Chữ người tử tù

Đề bài : Phân tích cảnh cho chữ để thấy được những nét đặc sắc về phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân.

Mở bài.

Nguyễn Tuân là nhà văn có phong cách độc đáo. Có người đã cho rằng mỗi sáng tác của ông như đóng một dấu triện riêng. Tuy nhiên,  điều thú vị là, dấu ấn này không phải qua vài tác phẩm mới bộc lộ, mà ngay từ tập truyện ngắn đầu tay Vang bóng một thời (1940) đã được in đậm. Chữ người tử tù là một truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Tuân nằm trong tập truyện trên. Người đọc có thể nhận ra những nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật của tác giả bậc thầy này qua cảnh cho chữ độc đáo của thiên truyện.

Thân bài.

* Khái quát về tác phẩm Chữ người tử tù.

Chữ người tử tù là truyện ngắn hội tụ nhiều cái “nhất” trong sự nghiệp của Nguyên Tuân: Có nhân vật đẹp nhất (Huấn Cao), nhân vật lạ nhất (Quản ngục), cảnh độc đáo nhất (cảnh cho chữ). Đương nhiên, với tất cả những điều ấy, truyện ngắn này cũng có một vị trí đặc biệt, mọi người đều thống nhất rằng đây là một trong những truyện hay nhất trong Vang bóng một thời (1940) – tập truyện ngắn đầu tay của nhà văn đã được Tự lực văn đoàn trao giải. Câu chuyện xoay quanh những ngày cuối đời, trong biệt giam của Huấn Cao trước khi về kinh thụ án. Vẻ đẹp của nhân vật này, tư tưởng của thiên truyện đều toả sáng rực rỡ trong cảnh cho chữ, khi Huấn Cao viết tặng Quản ngục bức châm -“tiếng hát thiên nga” của một đời tài hoa. Chính vì vậy, có thể khẳng định rằng ở cảnh này, mọi nét đậm nhất trong phong cách của Nguyễn Tuân đã tụ lại.

* Khái quát về phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân.

Nguyễn Tuân là một nhà văn có phong cách độc đáo. Có thể thấy những nét nổi bật như sau:

– Luôn nhìn các sự vật hiện tượng từ độ văn hoá, thẩm mĩ.

– Luôn nhìn con người ở góc độ nghệ sĩ

– Đi tìm những cái phi thường, độc đáo, đặc biệt.

– Vận dụng kiến thức đa ngành để làm nổi bật đối tượng.

– So sánh, tưởng tượng, liên tưởng rất phóng túng, bất ngờ nhưng chính xác.

– > Những điều này đều có thể thấy đựơc trong cảnh cho chữ ở cuối truyện Chữ người tử tù.

* Phân tích sơ lược cảnh cho chữ.

Nếu nói như GS Nguyễn Đăng Mạnh: “Nguyễn Tuân là nhà văn của những tính cách phi thường, những tình cảm, cảm giác mãnh liệt”, thì có thể nhanh chóng nhận ra rằng cảnh cho chữ đã hội tụ tất cả những nét vượt trội ấy. Đây là một khung cảnh đặc biệt, và chính người khắc hoạ cũng khẳng định rằng đó là “một cảnh tượng xưa nay chưa từng có”.

Sự đặc biệt này hiện ra ở mọi góc của cảnh: Nhân vật, thời gian, không gian.

– Nhân vật:

+ Bình thường, ngưòi cho chữ và người được cho chữ là những tri âm tri kỉ đến độ “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”. ở họ luôn toát ra sự an nhiên, điềm tĩnh, ung dung của bậc túc nho.

+ ở đây, người cho chữ là 1 tử tù, người được cho chữ là quản ngục. Họ có vị trí đối nghịch trong xã hội. Hơn nữa, họ mới gặp nhau hơn nửa tháng. Đặc biệt, cảnh cho chữ đã diễn ra một sự thay bậc đổi ngôi, khi người tù thì dù “cổ đeo gông, chân vướng xiềng” vẫn đứng thẳng người và đĩnh đạc, còn quản ngục “khúm núm” và nghẹn ngào. Trong quan hệ xã hội họ là kẻ thù nhưng trong bình diện nghệ thuật, họ lại là tri âm tri kỉ.

– Không gian:

+Thông thường, người ta viết chữ cho nhau ở nơi thư phòng sạch sẽ, không gian của học thuật.

+ ở đây, người ta viết chữ cho nhau trong “một buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián”. Đây là không gian mà cái xấu, cái ác thống trị.

– Thời gian:

+ Bình thường, người ta cho chữ khi thư nhàn, thong thả, trong ánh sáng của buổi mai  ấm áp.

+ ở đây, người ta cho chữ  vào ban đêm một cách vội vã, chạy đua với thời gian, gấp rút tránh những ánh mắt của bọn lính đến phiên canh buổi sáng và tránh cái công văn oan nghiệt giải người về kinh thụ án.

* Chỉ ra những nét tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân trong cảnh này.

– Luôn nhìn sự vật hiện tượng dưới góc độ văn hoá thẩm mĩ và nhìn con người ở góc độ tài hoa nghệ sĩ.

+ Nếu nhìn cảnh cho chữ bằng con mắt xã hội học, không khó để thấy ngay mầm mống phản loạn ở đó: Những thứ không cần thiết lại được đem vào biệt giam, người cầm quyền trong tù lại “khúm núm”, “run run” trước tử tù…

Tuy nhiên, tác giả đã nhìn bằng con mắt văn hoá thẩm mĩ và thấy đây là cảnh phi thường. ở đó, mọi trật tự của xã hội dung tục đã bị đảo lộn hết, chỉ có cái đẹp thống lĩnh, cái cao cả và cái thiện lên ngôi để cứu rỗi tâm hồn con người như niềm hi vọng của thế giới.

+ Nguyễn Tuân cũng không nhìn nhân vật bằng con mắt thông thường. Với ông, Huấn Cao không phải là tử tù nguy hiểm mà là người nghệ sĩ bậc thầy trong nghệ thuật thư pháp, đang sáng tạo ra cái đẹp siêu việt trước khi đi vào cõi bất tử. Trong cảnh này, cái tài, thiên lương và khí phách của bậc chính nhân quyện vào nhau làm nên một vẻ đẹp có thể cứu rỗi những tâm hồn.

– Đi tìm những cái phi thường, quá độ, vượt ngưỡng.

Nguyễn Tuân không phải là nhà văn của những gì nhàn nhạt, trong khuôn khổ, ông luôn tìm đến những cái độc đáo. Trong cảnh này, mọi thứ đều vượt lên trật tự thông thường và người ta phải lấy một tiêu chí khác để đánh giá. Chính Nguyễn Tuân cũng khẳng định đây là “một cảnh tượng xưa nay chưa từng có”.

– Vận dụng kiến thức đa ngành để làm nổi bật đối tượng.

+ Kiến thức điện ảnh: Để làm nổi bật cảnh cho chữ, tác giả như một nhà quay phim lành nghề đưa máy quay đến cận cảnh, để thấy “tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián”, rồi lại đưa ống kính lên cao để soi rõ “ba cái đầu người đang chăm chú trên một tấm lụa bạch còn nguyên vẹn lần hồ”. Tiếp đó lại quay viễn cảnh với động tác của cả ba nhân vật.

+ Kiến thức hội hoạ: Tác giả vẽ bức tranh cho chữ với sự đối chọi gay gắt của hai mảng màu sáng và tối. Màu sáng của bó đuốc, tấm lụa bạch còn màu tối của, phân chuột, phân gián, mạng nhện.

Hai mảng màu ấy làm nền cảnh cho tâm cảnh là hình tượng Huấn Cao đang xuất thần sinh thành ra những con chữ như một báu vật.

+ Kiến thức điêu khắc: Nguyễn Tuân khắc hoạ hình tượng như một bức điêu khắc sống động với tư thế “đứng thẳng người dậy và đĩnh đạc”, với trạng thái “ thở dài, buồn bã”. Ngoài ra, khi miêu tả ba người chăm chú trên tấm lụa bạch, người ta đã thấy đậm chất điêu khắc với những đường nét được chạm nổi, sống động.

– Ngoài ra, ngôn ngữ của Nguyễn Tuân sử dụng ở đây độc đáo, giàu chất tạo hình, có sắc thái biểu cảm cao và rất sáng tạo. Hơn nữa, chúng còn có nhịp điệu chậm rãi, trang trọng với những từ Hán Việt, gợi hồn xưa đất nước. Đây cũng chính là điều mà Tự lực văn đoàn ngạc nhiên khi đọc Vang bóng một thời và trao giải cho tập truyện, điều làm nên cái riêng của Nguyễn Tuân.

– > Tóm lại, nhìn từ mọi góc độ, đều thấy được những nét đặc trưng của Nguyễn Tuân trong cảnh cho chữ. chính vì vậy, có thể thấy rằng bút lực của nhà văn tài hoa đã tập trung ở cảnh này.

* Mở rộng liên hệ với một số tác phẩm khác của Nguyễn Tuân trước và sau cách mạng tháng Tám để thấy phong cách nghệ thuật của nhà văn bậc thầy này có những nét ổn định và có những cách tân.

Qua đó khẳng định rằng chính phong cách nghệ thuật đặc sắc đã góp phần làm nên thành công của Nguyễn Tuân trong Chữ người tử tù nói riêng và vị trí của Nguyễn Tuân trong văn học Việt Nam nói chung.

Kết luận.

Nhà thơ Lê Đạt đã viết: “Mỗi công dân có một dạng vân tay/ Mỗi nhà thơ thứ thiệt có một dạng vân chữ”. Yêu cầu này không chỉ đối với nhà thơ, mà với nhà văn cũng thật cần thiết. Nguyễn Tuân chính là nhà văn có “vân chữ” không thể lẫn, điều ấy đã được chứng minh thuyết phục qua cảnh cho chữ trong  truyện ngắn Chữ người tử tù.

Tài liệu sưu tầm.

Xem thêm : Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về Chữ người tử tù :  chữ người tử tù

Chứng minh nhận định: Huấn Cao là nhân vật đẹp nhất trong đời văn Nguyễn Tuân

Tuyển tập đề thi về nhân vật Huấn Cao trong Chữ người tử tù : Phân tích hình tượng nhân vật, Cảnh cho chữ,…Những bài văn hay về tác phẩm

Đề bài : Hãy phân tích nhân vật Huấn Cao trong truyện ngắn Chữ người tử tù để chứng minh rằng: “Huấn Cao là nhân vật đẹp nhất trong đời văn Nguyễn Tuân’.

a.Mở bài.

Nhân vật là kết tinh của cả tác phẩm, là nơi hội tụ tài năng của nhà văn. Xây dựng thành công nhân vật là điểm tựa vững chắc cho truyện ngắn.

Chữ người tử tù (rút từ tập Vang bóng một thời, 1940) của Nguyễn Tuân đạt đến đỉnh cao của thành công vì đã khắc hoạ thành công  nhân vật Huấn Cao – nhân vật được đánh giá là “đẹp nhất trong đời văn Nguyễn Tuân” ( Chu Văn Sơn).

Thân bài.

* Khái quát về tác phẩm Chữ người tử tù: Cốt truyện, giá trị của truyện, cảm hứng chủ đạo, thông điệp của thiên truyện…

* Khái quát về nhân vật: Nguyên mẫu (Cao Bá Quát), vị trí (trung tâm của truyện), kiểu nhân vật, hoàn cảnh của nhân vật…

* Phân tích để chứng minh.

– Huấn Cao mang một vẻ đẹp toàn bích mà hiếm có nhân vật nào của Nguyễn Tuân đạt tới.

+ Các nhân vật khác thường chỉ nổi bật trên một phương diện:

Trước cách mạng tháng Tám 1945, nhân vật của Nguyễn Tuân thường thiên về vẻ đẹp tinh thần, ở một phương diện: Trí tuệ (Nhân vật Đầu Xứ Anh, Đầu Xứ Em trong truyện Khoa thi cuối cùng), Tài năng (Bát Lê trong Chém treo ngành), nội tâm (cụ Kép trong Hương cuội)…

Sau cách mạng tháng Tám 1945, nhân vật của Nguyễn Tuân cũng nổi bật ở một nét nào đó: Trong chiến đấu (anh cảm tử quân trong Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi), trong lao động (ông lái đò trong Người lái đò sông Đà)…

-> Các nhân vật khác toả sáng trong một phương diện nhưng Huấn Cao mang một vẻ đẹp toàn diện.

+ Huấn Cao đẹp một vẻ toàn bích:

Vẻ đẹp của  nghệ sĩ thư pháp bậc thầy: Tạo được những bức tranh chữ được coi là “báu vật trên đời” với hình dáng chuẩn mực “đẹp lắm, vuông lắm”, với thần thái “thể hiện được cái hoài bão tung hoành của 1 đời con người” .

Vẻ đẹp tinh thần chủ động, làm chủ hoàn cảnh “có tài bẻ khoá và vượt ngục nữa”

Vẻ đẹp của khí phách hiên ngang: Nguyễn Du nhận xét “Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn”. Tuy nhiên Huấn Cao nằm ngoài quy luật ấy. Trong ngục thất, ông vẫn hiên ngang bất khuất, ung dung tự tại. Điều đó bộc lộ qua hành động (rỗ gông, bỏ ngoài tai lời đe doạ của tên lính áp giải), qua thái độ (“thản nhiên nhận rượu thịt, coi như đó là một việc vẫn làm trong cái hứng sinh bình lúc chưa bị giam cầm”), qua ngôn ngữ (lời nói trịch thượng , tỏ ra khinh bạc đến điều với quản ngục).

Vẻ đẹp của thiên lương trong sáng: trước khi vào tù, ông đã từ bỏ đặc quyền , đặc lợi của tầng lớp trên để đứng về phía nhân dân, đấu tranh cho quyền lợi của họ. Khi vào tù, Huấn Cao vẫn nguyên vẹn tấm lòng ấy. Điều đó thể hiện qua lí do ông cho chữ quản ngục (“cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài của các người” chứ không phải lung lay vì tiền bạc. quyền thế), qua lời khuyên từ đáy lòng dành cho quản ngục.

-> Huấn Cao hội tụ mọi vẻ đẹp: Tài năng xuất chúng, tấm lòng nhân hậu, khí phách hiên ngang.

V Goth có nói “trước một trí tuệ vĩ đại, tôi cúi đầu, trước một trái tim vĩ đại, tôi quỳ gối”. Huấn Cao là nhân vật có cả vẻ đẹp của trí tuệ và trái tim, xứng đáng được tôn kính.

– Huấn Cao “đẹp nhất trong đời văn Nguyễn Tuân” còn vì nhà văn đã khắc hoạ nhân vật bằng những lời văn đẹp nhất và dành sự yêu mến, ngưỡng mộ cho nhân vật.

Tác giả dụng công tạo tình huống làm nền cho Huấn Cao xuất hiện, khiến nhân vật được tôn lên rất nhiều.

Trong cảnh cho chữ, Nguyễn Tuân để Huấn Cao nổi bật trong khung cảnh lao tù khiến cho hình tượng toả sáng.

Tác giả gọi nhân vật là “Ông”, “ông Huấn” và dùng những ngôn từ Hán Việt trang trọng để nói về nhân vật.

-> Chính sự yêu mến và tài năng nghệ thuật của Nguyễn Tuân khiến nhân vật trở thành hình tượng đẹp nhất.

* ý nghĩa của nhân vật: Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Tuân dụng công khắc hoạ nhân vật này, bởi ông muốn đây sẽ là biểu tượng cho cái thiện, cái đẹp. Thông qua nhân vật, nhà văn bày tỏ niềm tin mãnh liệt vào cái đẹp và sự kì diệu của nó.

* Mở rộng liên hệ với các nhân vật khác cùng giai đoạn, cùng kiểu nhân vật để khẳng định đây là nhân vật đẹp nhất.

Kết luận:

Nếu toàn bộ thiên truyện là một màu ảm đạm. là bóng tối của tù ngục thì Huấn Cao chính là ánh sáng rực rỡ trong tác phẩm, khiến cho người ta thêm yêu cái đẹp và tin ở cuộc đời này. Điều đó có được là do vẻ đẹp của nhân vật.

Tổng hợp kết bài mẫu về các tác phẩm lớp 11-Hay và đầy đủ

Tuyển tập những kết bài mẫu tham khảo.Kết bài về các tác phẩm lớp 11 : Hai đứa trẻ, Chữ người tử tù, Hạnh phúc một tang gia, Chí Phèo, Vội vàng, Tràng giang, Đây thôn Vĩ Dạ, Từ ấy

Tổng hợp những kết bài hay về tác phẩm Hai đứa trẻ ( Thạch Lam)

  1. Thạch Lam đã mô tả thế giới nội tâm của nhân vật bằng ngòi bút tinh vi. Tài năng của nhà văn đã làm sống dậy những cảm xúc vốn mong manh, hư ảo của hồn người. Vượt qua bóng đêm, vượt của sự buồn tẻ của kiếp người, Hai đứa trẻ chính là bài ca về niềm tin yêu cuộc sống. Niềm tin yêu đó được kết tinh từ ánh sáng tư tưởng tiến bộ, từ ánh  sáng lòng nhân ái của nhà văn. “Không có ước mơ nào là quá muộn” nhà văn Anatole France đã nói như vậy. Còn Eleannor Roosevelt thì phát biểu “Tương lai thuộc về những ai tin tưởng vào cái đẹp của ước mơ”. Tôi tin ánh sáng nhà văn Thạch Lam nhen lên  trong tâm hồn hai đứa trẻ sẽ trở thành ngọn đuốc soi rọi cho con người bước qua bóng  tối. Niềm tin vào sự đổi thay của cuộc đời chính là chỗ dựa để con người sống có mơ  ước, sống có ý nghĩa.
  2. Không có những tình huống li kì, những tính cách sắc nét, không đi sâu những cảnh áp bức bóc lột, những số phận thương tâm,…mọi thứ trong Hai đứa trẻ cứ nhẹ nhàng diễn ra trên từng trang viết, lặng lẽ đưa ra những hình ảnh xoàng xĩnh quen thuộc ở một phố huyện nghèo qua con mắt một đứa trẻ. Nhưng chính vẻ đẹp của những cái bình thường, lặng lẽ, xoàng xĩnh ấy qua ngòi bút tinh tế, giọng văn nhỏ nhẹ của tác giả lại tạo nên sức hút kì lạ. Bức tranh đời sống nghèo trong truyện vừa rất mực chân thực, vừa chan chứa niềm cảm thương, chân thành của Thạch Lam đối với những người lao động nghèo khổ sống quẩn quanh, bế tắc, bị chôn vùi trong kiếp tối tăm. Tất cả để lại ấn tượng, sự đồng cảm sâu sắc nơi người đọc một cách rất tự nhiên nhưng lắng đọng, khó quên vô cùng.

Tổng hợp những kết bài hay về tác phẩm Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân)

  1. “Vang bóng một thời” là một tiếng vọng đầy cuốn hút trong trào lưu văn học lãng mạn 1930 – 1945 và “Chữ người tử tù” là một tiếng nói góp phần làm nên sự thành công của tập truyện này. Có thể nói rằng, những đặc trưng của phương pháp sáng tác lãng mạn chủ nghĩa không phải đã tập trung đầy đủ ở đây nhưng nhà văn đã thực sự đem chúng ta đến một thế giới mà trong đó nhân vật lãng mạn vượt lên khỏi hoàn cảnh để sống khác biệt với những tầm thường, tăm tối quanh mình. Cái Đẹp, cái Thiện và sự tài hoa đã cùng nhau châu tuần về đó.
  2. Chữ người tử tù đã thể hiện tư tưởng thẩm mĩ của Nguyễn Tuân. Cái đẹp, cái tài đã chiến thắng tất cả. Nó nâng đỡ và dìu dắt con người xích lại với nhau tạo nên sức mạnh chiên thắng mọi gông xiềng, quyền uy và thế lực. Nghệ thuật khắc họa nhân vật của cụ Nguyễn đầy ấn tượng đã tạo ra cho tác phẩm những bức tranh, hình ảnh đầy kịch tính với một ngôn ngữ khỏe khoắn, gân guổc đầy cảm giác và tân kỳ. Người ta thường nói đến phong cách của Nguyẽn Tuân gói gọn trong chữ “ngông” song thực tế không phải vậy. vẻ đẹp của quản ngục là biểu tượng cho thiên lương của con người, ở đây nó còn là hiện thân của cái đẹp. Nói như Vũ Ngọc Phan giá trị của tác phẩm “gần đạt đến sự toàn mĩ” là từ nhân vật này chăng?

Tổng hợp những kết bài hay về đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia (Số đỏ)

Có thể kết luận rằng: Từ cái “chết thật” của “ông cụ già” đến đám ma giả của tang gia, và từ cái đám ma giảtang gia đến niềm vui thật của bọn người hám danh, hám lợi, đạo đức giả được kể trong chương truyện này là cả một hành trình sáng tạo của một tài năng lớn – tài năng trào phúng Vũ Trọng Phụng.

Tổng hợp những kết bài hay về tác phẩm  Chí Phèo (Nam Cao)

  1. Chí Phèo – một tấn bi kịch của một người nông dân nghèo bị tha hóa trong xã hội cũ, một con người điển hình. Ở cuối tác phẩm, “đột nhiên thị thoáng thấy hiện ra một cái lò gạc cũ bỏ không, xa nhà cửa, và vắng người qua lại…”, chi tiết ấy muốn nói với chúng ta rằng, một ngày gần đây thôi,Thị Nở lại bụng mang dạ chửa vượt cạn giữa đồng không mông quạnh,giữa con mắt thờ ơ của người dân làng Vũ Đại,lai một Chí Phèo con xuất hiện. Điều này chứng tỏ rằng “Chí Phèo” không phải là bi kịch của một con người mà là bi kịch của người nông dân tồn tai trong lòng nông thôn trước Cách mạng tháng Tám. Mang đậm giá trị tố cáo rất cao, lên án giai cấp phong kiến thống trị tha hoá, những bị kịch như vậy sẽ còn tiếp.
  2. Hình tưcmg nhân vật Chí Phèo đế lại trong lòng người đọc nhiều niềm xúc động và lòng cảm thông sâu sắc đối với nhũng kiếp người tàn tạ trước Cách mạng tháng Tám. Cùng với những chị Dậu, anh Pha, lão Hạc,… hình tượng nhân vật Chí Phèo khẳng định tính tất yếu phải có một cuộc cách mạng dân tộc và cách mạng giai cấp đế đòi lại quyền sống cho người dân Việt Nam khi đó. Cho đến ngày nay, những nhân vật văn học ấy vẫn là những lời nhắc nhở, cảnh tỉnh chúng ta phải biết yêu hon, trân trọng hon hạnh phúc mình đang có và ra sức cống hiến xây dựng cuộc đời tươi đẹp này.

Tổng hợp những kết bài hay về tác phẩm Vội vàng (Xuân Diệu)

  1. Nhà thơ Thế Lữ, trong lời Tựa cho tập Thơ Thơ củaXuân Diệu, đã có nhận xét khá tinh tế: “Xuân Diệu là một người của đời, một người ở giữa loài người. Lầu thơ của ông xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian” . Qua những ý thơ của Vội vàng, ta càng cảm nhận sâu sắc hơn lời nhận xét ấy. Sống là hạnh phúc. Muốn đạt tới hạnh phúc phải sống vội vàng. Thế là, vội vàng là cách đến với hạnh phúc, là chính hạnh phúc, và hình như cũng là cái giá phải trả cho hạnh phúc vậy ! Tahiểu vì sao khiXuân Diệuxuất hiện, lập tức thi sĩ đã thuộc về tuổi trẻ!
  2. Với bài thơ “Vội vàng”,  Xuân  Diệu đã phảvào  nền  thi  ca  Việt  Nam  một trào lưu “Thơ mới”. Mới lạnhưng táo bạo, độc dáo ởgiọng điệu và cách dùng từ, ngắt nhịp, nhất là cách cảm nhận cuọc sống bằng tất cảcác giác quan, với một trái tim chan chứa tình yêu. “Vội vàng” đã thểhiện một cảm quan nghệthuật rất đẹp, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Đó là lòng yêu con người, yêu  cuộc đời. Đó là tình yêu cảnh  vật,  yêu  mùa  xuân  và  tuổi  trẻ…  Và  là  ham  muốn  mãnh  liệt muốn níu giữthời gian, muốn tận hưởng vịngọt ngào của cảnh sắc đất trời “tươi non mơn mởn”. Phải chăng trời đất sinh ra thi sĩ Xuân Diệu trên xứsởhữu tình này, là đểca hát vềtình yêu, đểnhảy múa trong những điệu nhạc tình si?! Thơ Xuân Diệu -vội vã với nhịp đập của thời gian

Tổng hợp những kết bài hay về tác phẩm Tràng giang (Huy Cận)

  1. Bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận với sựkết hợp bút pháp hiện thực và cổđiển đã vẽlên một bức tranh thiên nhiên u buồn, hiu quạnh.Qua đó khắc họa được tâm trạng cô liêu, đơn độc của con người và một tình yêu quê hương, mong ngóng vềquê hương chân thành, sâu sắc của Huy Cận.
  2. Tràng giang – Bài thơ sẽ còn mãi đi vào lòng người với phong cách tiêu biểu rất “Huy Cận”, với vẻ đẹp cổ điển trang nhã sâu lắng và vẻ đẹp hiện đại mang nặng một tấm lòng yêu nước, yêu quê hương.

Tổng hợp những kết bài hay về tác phẩm Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử)

  1. Đây thôn Vĩ Dạlà một bức tranh đẹp vềcảnh và người của miền quê đất nước qua tâm hồn thơ mộng, giàu tưởng tượng và đầy yêu thương của nhà thơ với nghệthuật gợi liên tưởng, hòa quyện thiên nhiên với lòng người. Trải qua bao năm tháng, cái tình Hàn Mặc Tửvẫn còn tươi nguyên, nóng hổi, lay động day dứt lòng người đọc. “Tình yêu trong ước mơ của con người đau thương ấy có sức bay bổng lạkì” nhưng nó cũng giản dị, trong sáng, tươi đẹp như làng quê Vĩ Dạ. Xin thành kính thắp một nén nhang trước một nghệsĩ tài hoa, một trái tim suốt cuộc đời thổn thức vì tình yêu, một tâm hồn thi sĩ đã thăng hoa nỗi đau thương, bất hạnh của đời mình thành những đóa hoa thơ mà trong đó thơm ngát nhất, thanh khiết nhất là Đây thôn Vĩ Dạ
  2. “Đây thôn Vĩ Dạ” là một bức tranh đẹp vềcảnh và người của một miền quê đất nước qua tâm hồn thơ mộng, giàu trí tưởng tượng và đầy yêu thương của một nhà thơ đa tình đa cảm. Bằng thủpháp nghệthuật liên tưởng cùng với những câu hỏi tu từ xuyên suốt bài thơ, tác giả Hàn Mặc Tửđã phác họa ra trước mắt ta một khung cảnh nên thơ, đầy sức sống và ẩn trong đấy là nỗi lòng của chính nhà thơ: nỗi đau đớn trước sựcô đơn, buồn chán trần thế, đau cho số phận ngắn ngủi của mình. Dầu vậy nhưng ông vẫn sống hết mình trong sựđau đớn của tinh thần và thể xác. Điều đó chứng tỏ ông không buông thả mình trong dòng sông số phận mà luôn cố gắng vượt lên nó để khi xa lìa cõi đời sẽ không còn gì phải hối tiếc.
  3. “Thơ đi từ cái thực tới cái ảo ảnh, từảo ảnh đi tới cái huyền diệu, từ huyền diệu đi tới chiêm bao. Bao trùm cả bài thơ là thế giới mơ”, đó là lời của Hàn Mặc Tử về thơ và có lẽ chính là vềĐây thôn Vĩ Dạ. Với hình ảnh độc đáo giàu sức gợi, giàu giá trị thẩm mĩ, ngôn ngữ ngữ cực tả luôn trong trong sáng, súc tích, cách sử dụng xuyên suốt những câu hỏi tu từ, cách sử dụng nhịp điệu thơ theo cảm xúc có khi là tha thiết đắm say, có khi là chậm rãi buồn tẻ, Đây thôn Vĩ Dạ thể hiện tình yêu tha thiết của tác giả đối với xứ Huế, nơi nhà thơ đã từng có nhiều kỷ niệm ngọt ngào, đồng thời thểhiện khát khao được sống, được yêu của một con người. Nhà thơ đã vẽ nên một bức tranh phong cảnh thật đẹp về thiên nhiên xứ Huế, từ đó thể hiện tình yêu và khát vọng sống mãnh liệt.

Tổng hợp những kết bài hay về tác phẩm Từ ấy (Tố Hữu)

  1. “Từ ấy” là tiếng reo vui không chỉ của nhà thơ, mà còn là của cả một thế hệ thanh niên khi tìm thấy lí tưởng của Đảng, nguyện chiến đấu hết mình vì lí tưởng, vì nhân dân, vì đất nước. Họ là những người chiến sĩ trẻ, mang trong mình nhiệt huyết, mang trong mình lí tưởng, và lòng yêu thương đồng bào, yêu thương đất nước. Có thể nói, thơ của Tố Hữu là thơ của nhân dân, những lí tưởng cao đẹp được diễn tả bằng những từ ngữ lãng mạn nhưng cũng vô cùng giản dị, gần gũi, là đại diện cho một lớp nhà thơ mới
  2. Bài thơ “Từ ấy” của Tố Hữu là một bài thơ vừa có tính triết lý sâu sắc, vừa rất gần gũi, bình dị, thân thuộc. Sau mấy chục năm đọc lại, những vần thơ đó vẫn là một câu hỏi thấm thía mà những người cộng sản hôm nay không thể không suy ngẫm một cách nghiêm túc để tự mình tìm ra lời giải đáp thấu đáo. Giữa cái chung và cái riêng, giữa cộng đồng -tập thể và cá nhân, giữa vật chất tầm thường và tinh thần –tư tưởng của người cộng sản.

Tài liệu sưu tầm. Nguồn : Page Cô Diễm Hằng

Xem thêm :

  1. Tổng hợp những mở bài mẫu hay nhất
  2. Cách viết phần kết bài trong bài văn nghị luận
  3. Tuyển tập những kết bài về các tác phẩm lớp 12

Đề thi thử THPT Quốc gia môn Ngữ văn, đề số 51

Bộ đề luyện thi THPT Quốc gia môn văn có đáp án. Nghị luận xã hội 200 chữ : Nơi nào có ý chí, nơi đó có con đường.  Cảm nhận hình tượng Người lái đò sông Đà và hình tượng Huấn Cao, Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân

KỲ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA NĂM 2017

Môn thi: NGỮ VĂN

ĐỀ THI MINH HỌA

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu

Có những ngã ba nối những dòng sông lớn của một đại châu; sóng dựng trùng trùng;

Có những ngã ba nối những con đường dài chạy từ các thủ đô to

Như những mạch máu khổng lồ

Trên thân hình trái đất

Trong đó mỗi con người là một hạt hồng cầu đỏ chói

Có những ngã ba là nơi gặp gỡ của những dòng văn mình lớn, đông, tây, kim, cổ…

Tất cả những ngã ba trên con có thể học biết (trong sách địa dư, trên bản đồ)

Mai sau lớn lên con có thể đến thăm và chụp ảnh nữa…

Xong rồi con có thể quên…

Nhưng con ơi, chớ quên ngã ba Đồng Lộc”

                                                                   (Ngã ba Đồng Lộc, Huy Cận)

Câu 1. Đoạn thơ trên là lời giao tiếp của ai với ai? Nói về điều gì?

Câu 2. Tác giả chủ yếu sử dụng phép liên kết gì?

Câu 3. Hãy chỉ ra các phép tu từ trong đoạn thơ và cho biết giá trị của các phép tu từ đó.

Câu 4. Theo em, tác giả muốn nói điều gì qua lời khuyên “Chớ quên ngã ba Đồng Lộc”?

LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm)

Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến “Nơi nào có ý chí, nơi đó có con đường”.

Câu 2 (5,0 điểm)

Một trong những nét đặc trưng phong cách nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Tuân là luôn khám phá con người dưới phương diện tài hoa nghệ sĩ.

Qua nhân vật Huấn Cao trong truyện ngắn Chữ người tử tù người lái đò trong tùy bút Người lái đò Sông Đà, anh/ chị hãy bình luận nhận định trên.

 

—————- Hết —————-

 Thí sinh không sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.

Họ tên thí sinh…………………………………………..; Số báo danh……………………………………….

HƯỚNG DẪN CHẤM BÀI

Môn Ngữ Văn

(Đáp án gồm có 04 trang)

 

CÂU NỘI DUNG ĐIỂM
PHẦN ĐỌC HIỂU 3,0
Câu 1 Đoạn thơ là lời của người cha – thế hệ đi trước nói với người con – thế hệ đi sau. Đó là lời khuyên đừng quên những người đã ngã xuống để bảo vệ nền độc lập dân tộc, đừng quên lịch sử hào hùng của đất nước ta. 0,50
Câu 2 Đoạn thơ sử dụng phép lặp để liên kết 0,50
Câu 3 Chỉ ra được 2 biện pháp tu từ:

– So sánh: “Như những mạch máu khổng lồ”

– Ẩn dụ: Hạt hồng cầu đỏ chói

Tác dụng: Làm cho đoạn thơ vừa trừu tượng vừa cụ thể; vừa sống động vừa bộc lộ được niềm tự hào mãnh liệt.

1,0
Câu 4 Học sinh tự do bộc lộ cảm xúc nhưng cảm xúc phải chân thành, phù hợp với nội dung đoạn thơ, với thời đại ngày nay. Chủ đề chính là: phải luôn ân nghĩa thủy chung, luôn ghi nhớ và biết ơn công lao của các bậc cha anh đi trước đã hy sinh cho nền độc lập dân tộc; luôn tự hào về truyền thống yêu nước của dân tộc. 1,0
PHẦN ĐỌC HIỂU  
1 Viết bài văn nghị luận bày tỏ suy nghĩ về một tư tưởng đạo lý được nêu trong đề bài 2,0
  a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận:

Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết luận. Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn đề và thể hiện được nhận thức của cá nhân.

0,25
  b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Vai trò của ý chí và nghị lực trong cuộc sống của mỗi người. 0,50

 

  c. Triển khai vấn đề cần nghị luận thành các luận điểm phù hợp; sử dụng tốt các thao tác lập luận; biết kết hợp giữa nêu lí lẽ và dẫn chứng; rút ra bài học nhận thức và hành động. 1,25
  • Giải thích ý nghĩa của câu nói

Ý chí: là nghị lực tinh thần thuộc phần nội tại của con người, có tác dụng giúp họ kiên trì theo đuổi mục tiêu đã được đặt ra, thực hiện được lí tưởng sự nghiệp đã hướng tới.

Con đường: là con đường đi tới thành công, đạt được mục đích, thực hiện được lí tưởng cao quý của cuộc đời.

– Nội dung câu nói trên: Ý chí, niềm tin là yếu tố tạo nên thành công trên mọi con đường. Nói cách khác, để tìm ra con đường đi tới thành công trong cuộc đời cần có ý chí, sự nỗ lực, quyết tâm và kiên trì theo đuổi mục đích.

0,25
  • Bàn luận vấn đề

– Ý chí là nghị lực tinh thần giúp con người kiên trì theo đuổi mục tiêu cao quý của cuộc đời. Khi kiên trì theo đuổi mục đích chúng ta sẽ tìm ra con đường đi tới thành công.

– Có ý chí và lòng quyết tâm con người sẽ vượt qua tất cả những khó khăn cản trở trên đường đời.

– Không có ý chí chúng ra sẽ nản lòng, chùn bước và gục ngã trước những khó khăn.

0,75
  • Bài  học nhận thức và hành động

– Đây không phải là một tư tưởng duy ý chí mà là một nhân sinh quan tích cực.

– Ý kiến trên thực sự là một chân lý, là kim chỉ nam hành động cho mọi người nhất là đối với thanh niên chúng ta.

0,25
2 Khám phá con người dưới phương diện tài hoa nghệ sĩ là một nét đặc trưng trong phong cách nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Tuân. Điều này được thể hiện rõ qua nhân vật Huấn Cao trong truyện ngắn Chữ người tử tùngười lái đò trong tùy bút Người lái đò Sông Đà. 5,0
  a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận:

Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết luận. Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn đề và thể hiện được nhận thức của cá nhân.

0,25
  b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Đặc trưng phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân được thể hiện qua nhân vật Huấn Cao trong truyện ngắn Chữ người tử tùngười lái đò trong tùy bút Người lái đò Sông Đà. 0,50
  c. Triển khai vấn đề cần nghị luận thành các luận điểm phù hợp, sử dụng tốt các thao tác lập luận; biết kết hợp giữa nêu lí lẽ và đưa dẫn chứng; biết bình luận nâng cao vấn đề. 4,0
·         Vài nét về tác giả, tác phẩm và nhân vật

– Nguyễn Tuân được mệnh danh là người suốt đời đi tìm cái đẹp. Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân trước và sau Cách mạng vừa mang tính thống nhất vừa thể hiện sự chuyển biến.

– Vài nét về vị trí của hai tác phẩm: Chữ người tử tù là một trong những thành công nổi bật của tập Vang bóng một thời ca ngợi vẻ đẹp của những con người tài hoa, nghệ sĩ. Người lái đò sông Đà là thiên tùy bút tiêu biểu nhất trong tập Túy bút Sông Đà ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên và con người Tây Bắc.

– Huấn Cao là ông lái đò là những nhân vật tiêu biểu trong sáng tác của Nguyễn Tuân. Đó đều là những con người tài hoa nghệ sĩ.

0,50
·          Giải thích ý kiến

– Nhận định đặt ra vấn đề về phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân: khám phá con người trên phương diện tài hoa nghệ sĩ.

– Đây là một nhận định đúng về nhân vật trong các sáng tác của Nguyễn Tuân, đó là lớp nhân vật tài hoa, nghệ sĩ (những con người có tài năng hơn người, tài năng ấy được nâng lên thành nghệ thuật và ở họ còn có một tâm hồn nghệ sĩ). Điều này thể hiện rõ qua nhân vật Huấn Cao trong Chữ người tử tù và ông lái đò trong Người lái đò sông Đà.

1,0
·          Bình luận ý kiến trên qua phân tích nhân vật Huấn Cao và Ông lái đò

– Vấn đề con người tài hoa, nghệ sĩ trong các sáng tác của Nguyễn Tuân không đơn thuần chỉ là những người lao động trong nghệ thuật mà con người dù làm ở bất cứ ngành nghề nào thì tài năng của họ cũng đạt đến thành thạo, điêu luyện và trở thành những con người tài hoa, nghệ sĩ.

+ Huấn Cao có tài viết chữ đẹp, dưới bàn tay của Huấn Cao, viết chữ Hán đã được nâng lên thành một thứ nghệ thuật – nghệ thuật thư pháp: thể hiện qua ước muốn, khát khao của viên Quản ngục có được chữ của Huấn Cao treo trong nhà như một báu vật; qua tương truyền (cả vùng tỉnh Sơn đều biết tài viết chữ của Huấn Cao); qua lời nói của Huấn Cao (những nét chữ vuông tươi tắn nó nói lên hoài bão tung hoành của một đời con người). Bên cạnh đó, Huấn Cao là người có tâm hồn nghệ sĩ, người có thiên lương trong sáng. Không chỉ vậy, ông còn cảm hóa, truyền dạy thiên lương cho người khác. Nét tài hoa, nghệ sĩ được Nguyễn Tuân đặc tả ở cảnh cho chữ.

+ Ông lái đò: Dưới tay “lái ra hoa” của ông lái đò thì công việc lái đò đã được nâng lên thành một nghệ thuật: nghệ thuật vượt thác: Tài vượt thác, leo ghềnh, nắm chắc binh pháp của thân sông thần đá; thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này; thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước,… Bên cạnh đó ông lái đò còn là người có tâm hồn nghệ sĩ: sau khi vượt qua ghềnh thác sông Đà ở thượng nguồn, ông hòa mình vào cuộc sống thành bình và thiên nhiên tươi đẹp ở hạ lưu.

– Xây dựng nhân vật Huấn Cao, ông lái đò là những con người tài hoa, nghệ sĩ, tác giả ca ngợi, khám phá cái đẹp và gửi đến người đọc những thông điệp thẩm mĩ khác nhau.

– Bên cạnh những điểm thống nhất trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân là việc khám phá con người ở phương diện tài hoa, nghệ sĩ qua nhân vật Huấn Cao và ông lái đò, tác giả còn tạo nên sự phong phú, đa dạng, chuyển biến trong việc khám phá: con người tài hoa, nghệ sĩ ở nhân vật Huấn Cao là con người ở thời kì vang bóng, xuất chúng, đặc tuyển còn ông lái đò là con người của hiện tại, là người anh hùng trong cuộc sống đời thường…

2,0
·         Đánh giá chung

– Nhận định trên đã thể hiện được phong cách nghệ thuật độc đáo của nhà văn Nguyễn Tuân trong cách xây dựng nhân vật.

– Bên cạnh đó, người đọc còn bắt gặp một Nguyễn Tuân với phong cách “ngôn” của một nhà văn uyên bác; luôn đặt nhân vật vào những hoàn cảnh thử thách; tô đậm và khắc chạm vào tâm trí độc giả bằng những ấn tượng, va đập mạnh. Nguyễn Tuân là nhà văn của việc sáng tạo trong ngôn ngữ, độc đáo điêu luyện trong liên tưởng, so sánh…

0,50
  d. Sáng tạo:

Có nhiều cách diễn đạt độc đáo; thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận

0,25
  ĐIỂM TOÀN BÀI THI: I + II = 10 ĐIỂM  

 Xem thêm :

 

 

Đề kiểm tra học kì 1 môn Ngữ văn lớp 11

 ĐỀ THI KẾT THÚC HỌC KỲ I MÔN: NGỮ VĂN 11 

Đề đọc hiểu về bài ca dao, Phân tích cảnh cho chữ trong Chữ người tử tù Nguyễn Tuân, phân tích cảnh đợi tàu trong hai đứa trẻ- Thạch Lam

THỜI GIAN: 90 phút

Họ và tên:…………………………………..                                    (Đề A)

Số báo danh:…………………………………………

 

Câu 1 ( 3 điểm )

Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ sau:

Bây giờ mận mới hỏi đào

Vườn hồng đã có ai vào hay chưa

Mận hỏi thì đào xin thưa

Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào

Câu 2 ( 7 điểm ) Trình bày cảm nhận của em về cảnh cho chữ – một “ cảnh tượng xưa nay chưa từng có ” trong tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân.

———————- Hết————————–                                               

HƯỚNG DẪN CHẤM

Đề A

 Câu                                         Nội dung Điểm
   1 – Biện pháp nghệ thuật: ẩn dụ

– Hình ảnh ẩn dụ: mận, đào, vườn hồng

Tác dụng: Thể hiện sự kín đáo, tế nhị trong tình yêu

   1

2

   2 – Giới thiệu tác giả Nguyễn Tuân, tác phẩm Chữ người tử tù, cảnh cho chữ.

– Cảm nhận cảnh cho chữ – một “ cảnh tượng xưa nay chưa từng có ” ( Kết hợp thao tác phân tích và bình luận ) :

+ Giới thiệu sơ qua bối cảnh cho chữ: thời gian, không gian, người cho chữ, người nhận chữ…

+ Việc cho chữ vốn là việc thanh cao, ở đây sáng tạo nghệ thuật lại diễn ra vào lúc đêm khuya, trong nhà ngục tối tăm chật hẹp, ẩm ướt, cái đẹp được sáng tạo giữa chốn hôi hám, nhơ bẩn ; thiên lương cao cả lại tỏa sáng ở một nơi mà bóng tối và cái ác đang ngự trị. ( Dẫn chứng )

+ Người nghệ sĩ tài hoa say mê viết từng nét chữ là một tử tù nhưng uy nghi, ung dung đĩnh đạc, kẻ nắm giữ luật pháp (viên quản ngục) thì “ khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ ”, thầy thơ lại “ run run bưng chậu mực ”… (Dẫn chứng )

+ Trật tự, kỉ cương của nhà tù bị đảo ngược, có thay bậc đổi ngôi : tù nhân trở thành người ban phát cái đẹp, răn dạy ngục quan, còn ngục quan thì khúm núm, vái lạy tù nhân… (Dẫn chứng )

–  Đánh giá chung :

+ Nghệ thuật thể hiện : nghệ thuật đối lập của bút pháp lãng mạn được sử dụng triệt để, ngôn ngữ giàu chất tạo hình…

+ Cảnh cho chữ thể hiện chủ đề tác phẩm (sự chiến thắng của thiên lương, sự tôn vinh cái đẹp, cái thiện và nhân cách cao cả), thể hiện quan niệm về cái đẹp của nhà văn (cái đẹp phải đi cùng với cái thiện, với thiên lương … )

1.5

 

 

4.0

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1.5


ĐỀ THI KẾT THÚC HỌC KỲ I

MÔN: NGỮ VĂN 11

                                                                                                     THỜI GIAN: 90 phút

Họ và tên:…………………………………..                                    (Đề B)

Số báo danh:…………………………………………   

 

Câu 1 ( 3 điểm ).

Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ sau:

Thuyền về có nhớ bến chăng

                                      Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền

Câu 2 (7đ) Trình bày cảm nhận của em về cảnh đợi tàu của hai chị em Liên – An trong truyện ngắn Hai đứa trẻ (Thạch Lam).

 

———————- Hết————————–                                                      

HƯỚNG DẪN CHẤM

Đề B

Câu                                     Nội dung Điểm
  1

 

 

 

– Biện pháp tu từ: ẩn dụ

– Hình ảnh ẩn dụ: thuyền, bến

Tác dụng: bày tỏ nỗi nhớ, tình cảm thủy chung của người con gái một cách tế nhị

   1

2

 

 

  2 a. Giới thiệu tác giả Thạch Lam, tác phẩm Hai đứa trẻ, cảnh đợi tàu

b. Cảm nhận cảnh đợi tàu :

– Tâm trạng đợi tàu của hai đứa trẻ: háo hức, khắc khoải, chăm chú dõi theo, mơ tưởng về quá khứ, luyến tiếc …(dẫn chứng)

– Khung cảnh đoàn tàu : rực rỡ, sang trọng với tiếng hành khách ồn ào, các toa hạng sang đồng và kền lấp lánh…(dẫn chứng)

– Ý nghĩa biểu tượng chuyến tàu đêm :

+ Hình ảnh của một cuộc sống khác, đối lập với cuộc sống buồn tẻ, nghèo nàn, tối tăm nơi phố huyện…(dẫn chứng)

+ Chuyến tàu chở đầy kí ức tuổi thơ của hai chị em Liên và An (dẫn chứng)

+ Chuyến tàu của niềm hi vọng (dẫn chứng)

c.  Đánh giá chung

– Nghệ thuật thể hiện : khung cảnh đoàn tàu được miêu tả tỉ mỉ với âm thanh, ánh sáng, từ xa đến gần, theo trình tự thời gian; tâm trạng nhân vật được thể hiện tinh tế, giọng văn nhẹ nhàng, sâu lắng ….

– Cảnh đợi tàu thể hiện cái nhìn xót thương, đồng cảm của nhà văn trước cuộc sống tẻ nhạt nơi phố huyện ; sự trân trọng khát vọng muốn được thay đổi cuộc sống của nhân vật.

  1.5

 

4

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1.5

Xem thêm:

 

Đề thi kết thúc học kì 1 môn Ngữ văn lớp 11

 ĐỀ THI HẾT HỌC KỲ I  MÔN THI: NGỮ VĂN – KHỐI 11

Đề đọc hiểu Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ, Cảm nhận về cảnh cho chữ trong Chữ người tử tù- Nguyễn Tuân

ĐỀ THI CHÍNH THỨC                Thời gian: 90 phút, không kể thời gian giao đề

( Đề thi gồm 2 câu 1 trang )                         Họ và tên:  …………………………………….           Số báo danh: …………

Câu 1 ( 3 điểm ).

Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi:

 Gà eo óc gáy sương năm trống,
Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên.
Khắc giờ đằng đẵng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.

  1. Đoạn thơ trên được trích từ tác phẩm nào? Tác giả là ai?
  2. Đoạn thơ sử dụng phương thức biểu đạt nào?
  3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp nghệ thuật sử dụng trong đoạn thơ ?

Câu 2 ( 7 điểm )

Trình bày cảm nhận của em về cảnh cho chữ – một “ cảnh tượng xưa nay chưa từng có ”  trong tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân.

———————- Hết————————–

MÔN THI: NGỮ VĂN – KHỐI 11

HƯỚNG DẪN CHẤM

 Câu                                         Nội dung Điểm
  1a – Đoạn thơ được trích từ đoạn Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ ( Trích Chinh phụ ngâm )

– Nguyên tác: Đặng Trần Côn

Bản diễn Nôm: Đoàn Thị Điểm

   0.75
  1b – Đoạn thơ sử dụng phương thức biểu cảm.

->> Tâm trạng trống trải, buồn rầu, nỗi kinh hãi ngại ngùng của người chinh phụ khi sống trong cảnh cô đơn.

   0.75
  1c – Từ láy:

+ Eo óc ( láy phụ âm đầu khuyết ) : Miêu tả tiếng gà gáy từ xa vọng lại, nhấn mạnh không gian tĩnh mịch, thời gian đã chuyển dần về sáng, người chinh phụ thao thức suốt đêm không ngủ.

+ Phất phơ: miêu tả tán cây hòe khẽ lay động trong gió nhẹ ->> không gian hoang vắng, tĩnh mịch, làm tăng thêm nỗi trống trải trong lòng người.

+ Đằng đẵng, dằng dặc : nhấn mạnh khoảng thời gian dài, nỗi buồn miên man vô tận, trải dài theo thời gian năm tháng, từ láy nhấn mạnh, kéo dài thêm sự xa cách.

+ Mê mải : lòng dạ, tâm trí miên man không tập trung của người chinh phụ.

– So sánh : Khắc giờ – như niên

Mối sầu – Tựa miền biển xa

– Ý nghĩa:

+ Đó là sự cảm nhận thời gian qua tâm trạng, so sánh nhấn mạnh nỗi buồn trong lòng người chinh phụ, vì mong ngóng, khắc khoải đợi chờ nên cảm giác thời gian trôi chậm.

+ So sánh mối sầu với khoảng không gian rộng lớn, vô tận để nhấn mạnh nỗi buồn trong lòng người.

 

   1.5
   2 – Giới thiệu tác giả Nguyễn Tuân, tác phẩm Chữ người tử tù, cảnh cho chữ.

– Cảm nhận cảnh cho chữ – một “ cảnh tượng xưa nay chưa từng có ” ( Kết hợp thao tác phân tích và bình luận ) :

+ Giới thiệu sơ qua bối cảnh cho chữ: thời gian, không gian, người cho chữ, người nhận chữ…

+ Việc cho chữ vốn là việc thanh cao, ở đây sáng tạo nghệ thuật lại diễn ra vào lúc đêm khuya, trong nhà ngục tối tăm chật hẹp, ẩm ướt, cái đẹp được sáng tạo giữa chốn hôi hám, nhơ bẩn ; thiên lương cao cả lại tỏa sáng ở một nơi mà bóng tối và cái ác đang ngự trị. ( Dẫn chứng )

+ Người nghệ sĩ tài hoa say mê viết từng nét chữ là một tử tù nhưng uy nghi, ung dung đĩnh đạc, kẻ nắm giữ luật pháp (viên quản ngục) thì “ khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ ”, thầy thơ lại “ run run bưng chậu mực ”… (Dẫn chứng )

+ Trật tự, kỉ cương của nhà tù bị đảo ngược, có thay bậc đổi ngôi : tù nhân trở thành người ban phát cái đẹp, răn dạy ngục quan, còn ngục quan thì khúm núm, vái lạy tù nhân… (Dẫn chứng )

–  Đánh giá chung :

+ Nghệ thuật thể hiện : nghệ thuật đối lập của bút pháp lãng mạn được sử dụng triệt để, ngôn ngữ giàu chất tạo hình…

+ Cảnh cho chữ thể hiện chủ đề tác phẩm (sự chiến thắng của thiên lương, sự tôn vinh cái đẹp, cái thiện và nhân cách cao cả), thể hiện quan niệm về cái đẹp của nhà văn (cái đẹp phải đi cùng với cái thiện, với thiên lương … )

1.5

 

 

4.0

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1

Xem thêm :

Xây dựng hệ thống câu hỏi dạy học bài chữ người tử tù- Nguyễn Tuân

Xây dựng hệ thống câu hỏi dạy học bài chữ người tử tù Ngữ văn 12

1. Tiểu dẫn

Câu hỏi nhớ: Em hãy trình bày những nét chính về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Tuân?

Câu hỏi đọc hiểu:Em hãy nêu một số nét độc đáo của tập truyệnngắn?

Câu hỏi đọc hiểu: Bố cục truyên ngắn gồm mấy phần?nội dung chính của từng phần?

2. Tìm hiểu tác phẩm

1.Tình huống truyện

a.Xác định tình huống truyện

Câu hỏi đọc hiểu: Toàn bộ truyện ngắn này xoay quanh sự kiện chính nào?

Trả lời: Cuộc gặp gỡ tình cờ, oái oăm giữa Huấn Cao- một tử tù nguy hiểm và thầy trò viên quản ngục.

b.Phân tích tình huống truyện

b.1.Diện mạo của tình huống

Câu hỏi đọc hiểu: Cuộc gặp gỡ diễn ra ở đâu? Đó vốn là không gian như thế nào?Cuộc gặp gỡ diễn ra vào thời gian nào?Việc chọn không gian, thời gian ấy có  tác dụng như thế nào trong việc xây dựng tình huống truyện?

Trả lời:

+ Không gian: Nhà tù → Không phải là nơi dành cho những cuộc gặp gỡ.

+ Thời gian: Là những ngày cuối cùng trước khi ra pháp trường nhận án chém của Huấn Cao.

=>góp phần tạo nên kịch tính cho tình huống.

Câu hỏi khám phá:Hãy cho biết thân phận và những mối quan hệ giữa các nhân vật trong tác phẩm?

Câu hỏi gợi ý:

+Bước vào cuộc gặp gỡ này Huấn Cao đang ở trong hoàn cảnh nào?

+ Viên quản ngục đang phải thực thi nhiệm vụ gì?

+Như vậy, xét trên bình diện xã hội Huấn Cao và viên quản ngục có mối quan hệ như thế nào?

+ Huấn Cao lại được biết đến với những tài năng gì?

+ Viên quản ngục lại có sở nguyện gì?

+Như vậy, xét trên bình diện nghệ thuật Huấn Cao và viên quản ngục lại có mối quan hệ như thế nào?

+Xây dựng những mối quan hệ ấy, tác giả đã tô đậm tính chất gì cho tình huống truyện?

Trả lời:

– Huấn Cao: là người cầm đầu cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình, bây giờ đã bị bắt, bị xử án chém, là  tử tù đang đợi ngày ra pháp trường.

– Viên quản ngục: Là quan lại, là tay sai cho triều đình mục nát, tiếp quản Huấn Cao trong những ngày cuối cùng

→ Trên bình diện xã hội họ có quan hệ hoàn toàn đối địch.

– Huấn Cao: Là người có tài viết chữ rất nhanh và đẹp (người tài hoa), là người có tài bẻ khoá, vượt ngục, người  chỉ  biết cúi đầu trước thiên lương  (người có khí phách)

– Viên quản ngục: có sự yêu thích đặc biệt với cái đẹp, ao ước có được chữ Huấn Cao.Viên quản ngục là một tấm lòng trong thiên hạ.

→ Trên bình diện nghệ thuật họ lại là tri kỉ. Ở họ đều có những phẩm chất cao quí mà người kia ngưỡng mộ.

=>Góp phần tô đậm tính chất éo le, oái oăm cho tình huống truyện.

Câu hỏi khám phá:Cuộc đối mặt giữa các nhân vật được diễn ra như thế nào?

 Câu hỏi gợi ý:

+Theo em Viên Quản Ngục bị cầm tù bởi điều gì?

+Kết thúc cuộc đối mặt này người tù nhân nào đã được giải phóng?

+Huấn Cao đã sử dụng sức mạnh của cái gì để giải phóng Viên Quản Ngục?

Trả lời:

-Huấn Cao là tử tù đang bị cầm tù về nhân thân nhưng tự do về nhân cách

-VQN tự do về nhân thân nhưng đang bị cầm tù về nhân cách. Con người chức phận đang trói buộc con người khát vọng.

→ Kết thúc: Huấn Cao đã giải cứu được VQN

=> Sức mạnh của cái đẹp, cái thiên lương

b.2.Diễn biến của tình huống

 Câu hỏi đọc hiểu:Theo em, diễn biến của tình huống dựa vào cơ sở nào?

 Trả lời: Theo sự xuất hiện của hai phiến trát mà viên quản ngục đã nhận được.

b.2.1. Khi viên quản ngục nhận được phiến trát thứ nhất.

 Câu hỏi đọc hiểu:Phiến trát thứ nhất có nội dung gì?

Trả lời: Nội dung là giao nhận sáu tên tử tù trong đó có Huấn Cao.

Câu hỏi khám phá:Em hãy nêu diễn biến và thái độ của Viên Quản Ngục trước khi găp Huấn Cao?

 Câu hỏi gợi ý:

+Khi đó viên quản ngục đã biết gì về Huấn Cao?

 +Viên quản ngục đã có những biểu hiện, và thái độ như thế nào?

 + Viên quản ngục đã suy nghĩ như thế nào về nghề mà hắn đang làm?

 +Qua đó, tác giả đã đánh giá về viên quản ngục như thế nào?

Trả lời:

– Viên quản ngục:

+ Biết được huấn Cao là người có tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp, là người có khí phách…

+ VQN băn khoăn, nghĩ ngợi, ngồi bóp thái dương, với gương mặt kín đáo và êm nhẹ.

+ VQN nghĩ “có lẽ mình chọn nhầm nghề mất rồi”.

+ VQN thể hiện ý muốn biệt đãi Huấn Cao trong những ngày cuối cùng này.

→ VQN là một người dịu dàng có lòng biết giá người, biết trọng người ngay, là một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ.

Câu hỏi tái hiện: Tác giả đã miêu tả sự xuất hiên của Huấn Cao như thế nào?

Câu hỏi khám phá: Ngay từ lúc xuất hiện Huấn Cao đã thể hiện nét tính cách gì?

Trả lời:

– Sự xuất hiện của Huấn Cao:

+ Là người đi đầu.

+ Trước sự đe doạ của những tên lính áp giải, Huấn Cao vẫn lạnh lùng chúc mũi gông nặng bảy tám tạ xuống nền đá tảng.

→ Huấn Cao là người hiên ngang không sợ cường quyền..

Câu hỏi khám phá:Viên Quản Ngục có thái độ như thế nào trước sự xuất hiện của Huấn Cao?Những biểu hiện ấy càng tô đậm hơn tính cách gì của Viên Quản Ngục?Lúc này Viên Quản Ngục còn bày tỏ ao ước gì?Qua đó em hiểu thêm gì về Viên Quản Ngục?

Trả lời:

– Thái độ và cách ứng xử của VQN với Huấn Cao:

+ Nhìn với cặp mắt hiền lành, lòng kiêng nể, kính trọng đặc biệt

+ trong suốt nửa tháng VQN dâng rượu thịt biệt đãi Huấn Cao.

+ Khi bị Huấn Cao khinh miệt đuổi ra, VQN lui cùng một câu “Xin lĩnh ý”, VQN coi Huấn Cao là người chọc trời khuấy nước còn mình chỉ là kẻ tiểu lại giữ tù

→ VQN là người biết cúi đầu trước con người tài hoa, khí phách.

+ VQN ao ước có được chữ huấn Cao để treo trong nhà. Ông coi đó là một vật báu. Vì chữ Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm…

→ VQN không sản sinh ra cái đẹp nhưng lại vô cùng say mê cái đẹp. Là người có “tấm lòng biệt nhỡn liên tài”

Câu hỏi khám phá:Trong khi đó, Huấn cao lai có thái độ và cách ứng xử như thế nào với VQN?Qua đó, tô đậm thêm nét tính cách nào của Huấn Cao?Điều này chúng tỏ mối quan hệ giữa họ lúc này như thế nào?

Trả lời:

– Thái độ và cách ứng xử của Huấn Cao với VQN:

+ Thản nhiên nhận rượu thịt.

+ Vô cùng khinh miệt VQN, coi VQN không xứng đáng được bước chân vào nơi mình đang ở.

→ Trước cường quyền, trước cái chết đang cận kề  nhưng Huấn Cao vẫn hiên ngang bất khuất.

+ Huấn Cao chưa biết tấm lòng “biệt nhỡn liên tài” của VQN

=> Mối quan hệ hoàn toàn đối địch, giữa họ có một vực sâu ngăn cách

b.2.2. Khi VQN nhận được phiến trát thứ hai

Câu hỏi đọc hiểu: Phiến trát thứ hai có nội dung gì?

Trả lời:

– Nội dung: Bắt giải Huấn Cao và các đồng chí của ông vào kinh nhận án chém.

Câu hỏi khám phá: Khi nhận phiến trát thứ hai  mang nội dung bắt giải Huấn Cao vào kinh nhận án chém VQN có thái độ như thế nào? Tại sao VQN lại có thái độ đó?

Câu hỏi khám phá: Trong tình huống nguy cấp này, VQN đã có hành động như thế nào?Hành động này của VQN có ý nghĩa gì?

Trả lời:

– VQN:

+ “tái nhợt người đi”.→ VQN vô cùng sợ hãi và choáng váng. Vì:con người mà ông ngưỡng mộ đã không thể  thoát khỏi cái chết. Hơn nữa khát khao có được chữ Huấn Cao chưa thoả.

+  VQN nhờ thầy thơ lại bày tỏ ước nguyện của mình với Huấn Cao.

→ VQN bất chấp mối nghi ngại đã vây khốn bao năm, con người khát vọng đang vùng lên trước sự vây hãm của con người chức phận.

→ Tình yêu cái đẹp trong VQN là vô cùng lớn. Ông là con người dũng cảm

Câu hỏi khám phá:Khi nghe thầy thơ lại bày tỏ nguyện vọng của VQN, Huấn Cao đã có ngay thái độ như thế nào? Sự cảm động và ân hận ấy đã tô đâm vẻ đẹp gì cho hình tượng nhân vật Huấn Cao?Từ đây mối quan hệ của Huấn Cao và VQN thay đổi như thế nào?

Trả lời:

– Huấn Cao:

+ vô cùng cảm động và ân hận

→ Một sự xúc động và ân hận chân thành nhưng rất kiêu sang. Nó tô đậm nét đẹp thiên lương cho hình tượng nhân vật.

=> Mối quan hệ tri kỉ. VQN cúi đầu trước Huấn Cao, Huấn cao cũng cúi đầu trước VQN.Cả hai đang cúi đầu trước vẻ đẹp cao quí mà mình tôn thờ.

b.2.3. Cảnh cho chữ

Câu hỏi đọc hiểu: Theo em vì sao có cảnh cho chữ?

Trả lời: Huấn Cao xúc động lớn trước tấm lòng của VQN. Từ xúc động của cái Tâm ông đã dùng cái Tài để thực hiện. Huấn Cao đồng ý cho chữ VQN

→ Cái Tâm  và cái Tài đang chuyển hoá sang nhau để sinh thành cái Đẹp

Câu hỏi tái hiện:Em hãy thuật lại cảnh cho chữ?

–  Không gian: giữa nhà tù.

– Thời gian: vào một đêm khuya đồng thời đó cũng là những giờ phút cuối cùng của Huấn Cao.

– Người cho chữ là kẻ tử tù “cổ đeo gông, chân vướng xiềng.

–  Người xin chữ là quan coi ngục

– Viết xong người cho chữ- người tử tù- còn khuyên ngục quan bỏ nghề…

– Ngục quan vái người tù và xin bái lĩnh.

Câu hỏi sáng tạo:Nguyễn Tuân nhận xét đó là cảnh tượng như thế nào?Em có đồng tình với nhận xét đó không?Vì sao?Em nhận thấy mối quan hệ giữa người tử tù và VQN có gì đặc biệt?

→ Cảnh tượng xưa nay chưa từng có

– bởi vì:

Tiêu chí Thông thường Trong truyện ngắn
Không gian

 

 

 

 

Thời gian

 

 

Người nghệ sỹ cho chữ

 

 

 

 

Quan hệ giữa các nhân vật.

 

 

 

– diễn ra ở những địa chỉ văn hoá như thư phòng, trà thất…

 

 

 

– trong những thời gian thanh thiên, bạch nhật

– là người tự do phóng khoáng, ung dung, thư thái

 

 

– uy quyền thuộc về VQN.

– thái độ núm núm sợ sệt thuộc về người tử tù.

– Chức phận giáo huấn thuộc về cai ngục. Người tử tù phải lắng nghe.

– Diễn ra ở trong một buồng giam tối tăm chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột phân gián.

→ là nơi ngự trị của bóng tối và cái ác, nơi thù địch với cái đẹp.

=>cái đẹp chọn đúng chỗ thù địch với cái đẹp để chào đời.

 

– Diễn ra lúc đêm khuya, lúc Huấn Cao sắp lìa đời.

→ là thời gian cho những lời trăng trối cuối cùng.

=> Phải chăng bức thư pháp kia cũng là di huấn đặc biệt mà Huấn Cao gửi lại cuộc đời?

 

– là người tù cổ đeo gông chân vướng xiềng và ngay ngày mai là phải nhận án chém. Nhưng người nghệ sỹ vẫn mang phong thái uy nghi, lộng lẫy…

→ Bất chấp tất cả, người nghệ sỹ vẫn say mê sáng tạo cái đẹp.

=>Trong mọi hoàn cảnh cái đẹp đều có thể được sản sinh.

 

– VQN có quyền hành nhưng không có quyền uy

– Huấn Cao một người đã bị tước đi mọi thứ quyền, kể cả quyền tối thiểu là được sống thì lại có quyền uy.

-VQN khúm núm sợ sệt

– Người tử tù vẫn đường bệ ung dung

– Huấn Cao đang giáo dục VQN. VQN đang lắng nghe một cách thành tâm, thành kính như nhận lời chỉ giáo thiêng liêng của một bậc thầy về nhân cách.

→ Quan hệ hoàn toàn đảo ngược

Câu hỏi khám phá:Điều cốt yếu nào tạo nên cảnh tượng “xưa nay chưa từng có” ấy?Cái Đẹp có sức mạnh như thế nào?

Trả lời:

– Điều cốt yếu tạo nên cảnh tượng “xưa nay chưa từng có” là cái Đẹp

– Tất cả các nhân vật đều đang sống theo tiếng gọi của cái Đẹp. Họ đang đem tất cả những gì đẹp đẽ nhất cao cả, cao quí nhất để dành cho nhau. Không còn ngục quan, không còn tử tù chỉ còn những người tri âm tri kỉ đang qui tụ, quây quần quanh cái đẹp của tình người và nghệ thuật.

=> Sức mạnh của cái Đẹp có thể phá tan mọi gông cùm xiềng xích, phá tan mọi cánh cửa nhà lao, phá vỡ những bức rào ngăn cách để đưa những tấm lòng đến với nhau.

=> Cuộc kì ngộ đã thành cuộc hạnh ngộ

Ý nghĩa của tình huống.

Câu hỏi tích lũy:Trong việc phác hoạ hình tượng những nhân vật, tình huống truyện này có vai trò như thế nào?Tình huống ấy chứa đựng quan niêm gì?Qua đó tác giả cũng gửi niềm tin như thế nào vào cái đẹp?

Trả lời:

– Góp phần tô đậm vẻ đẹp nhân cách của các nhân vật. Tình huống là phép thử nhiệm màu nhất để các  nhân vật bộc lộ hết mình. Trong tình huống này các nhân vật có cơ hội toả sáng rực rỡ nhất.

– Chứa đựng quan niệm: Cái Đẹp là bất diệt.

– Gửi niềm tin mãnh liệt: Cái Đẹp sẽ thanh lọc cuộc đời này.

3. Tổng kết

Câu hỏi khám phá: Giá trị nôi dung của truyện ngắn? Thành công chủ yếu về nghệ thuật của truyện ngắn?

Trả lời:

* Nội dung

– Qua truyện ngắn, nhà văn thể hiện quan niêm về cái đẹp, khẳng định sự bất tử của cái đẹp và bộc lộ thầm kín lòng yêu nước.

* Nghệ thuật

– Nghệ thuật xây dựng tình huống độc đáo, thủ pháp đối lập, cách tạo không khí trang trọng, cổ xưa.

Tác giả : Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Xem thêm :

  1. Trọn bộ giáo án ngữ văn 11
  2. Tuyển tập đề thi, những bài văn hay về truyện Chữ Người tử tù Ngữ văn 11 : Chữ người tử tù

Giáo án thao giảng Chữ Người tử tù- Nguyễn Tuân

Giáo án thao giảng , soạn bài Chữ Người tử tù- Nguyễn Tuân

Ngày soạn: 23/10/2016

Tuần         :    10

Tiết PPCT:    39-40

Bài dạy     :

CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ

Giáo Viên : Dương Diệu Hà

                                                               – Nguyễn Tuân-

Mục tiêu cần đạt:

  1. Về kiến thức :
  • Đặc điểm chính của hình tượng nhân vật Huấn Cao
  • Quan niệm về cái đẹp và tấm lòng yêu nước kín đáo của Ng.Tuân
  • Xây dựng tình huống truyện độc đáo ; tạo không khí cổ xưa ; bút pháp

lãng mạn và nghệ thuật tương phản ; ngôn ngữ giàu tính tạo hình.

2.Về kĩ năng : Đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại.

 3.Về thái độ : yêu thương, trân trọng những truyền thống văn hóa dân tộc

4.Về định hướng phát triển năng lực:

 –  Năng lực sáng tạo: Hs xác định và hiểu được những ý tưởng mà NT muốn gửi gắm. Trình bày được suy nghĩ của mình trước giá trị cuộc sống được thể hiện qua tác phẩm.

– Năng lực hợp tác: HS cùng chia sẻ, phối hợp với nhau qua hđ thảo luận nhóm.

– Năng lực giao tiếp TV:HS giao tiếp cùng tác giả qua vb, nâng cao khả năng sử dụng TV.

– Năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mỹ:HS cảm nhận vẻ đẹp ngôn ngữ văn học-tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật NT; biết rung động trước cái đẹp và tâm hồn đẹp; nhận ra được những giá trị thẩm mỹ của tác phẩm…

Phương pháp và phương tiện dạy học

  1. Phương pháp dạy học

– Phương pháp đọc hiểu, phân tích, thuyết trình kết hợp trao đổi thảo luận.

– Tích hợp phân môn: Làm văn, tiếng Việt, làm  văn

  1. Phương tiện dạy học

– Sgk. Giáo án, đọc tài liệu tham khảo.

Nội dung và tiến trình lên lớp:

  1. Ổn định lớp
  2. Kiểm tra bài cũ.

    3.Tổ chức dạy và học bài mới

    3.1. Hoạt động khởi động: Khi viết về Nguyễn Tuân, nhà phê bình Nguyễn Đăng Mạnh đã viết: “Nguyễn Tuân là nhà văn của chủ nghĩa hiện thực thẫm mĩ”. Phong cách của Nguyễn Tuân là phong cánh tài hoa trong việc sưn tìm cái đẹp cao cả, uyên bác trong việc sử dụng từ ngữ và kiến thức văn hóa, phong cách của một cây bút vừa cổ điển vừa hiện đại. Điều này đã thể hiện rất rõ trong “ Chữ người tử tù” trích “ Vang bóng một thời”.

3.2. Hoạt động hình thành kiến thức mới :

 

Hoạt động của học sinh Hướng dẫn của giáo viên Nội dung cần đạt

 

– Nêu vài nết về tác giả?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– Xuất xứ truyện?

 

 

 

– Tình huống truyện có gì đặc biệt?

 

 

 

 

 

 

 

– Tại sao HC bị bắt? Vẻ đẹp của hình tượng HC được thể hiện ở những phưng diện nào?

 

– Tìm những chi tiết trong văn bản dể chứng minh?

– Ca ngợi tài củả HC nhà văn thể hiện quan niệm và tư tưởng gì?

 

 

 

– Là một người viết chữ đẹp nhưng HC chỉ mới cho chữ cho ngững ai?vì sao vậy?

– Tại sao HC lại nhận lời cho  chữ VQN? Điều đó nói lên vẻ đẹp nào trong con người ông?

– Nêu cảm nhận về câu nói của HC” thiếu …ha”

 

Có người cho rằng HC không chỉ là một người nghệ sĩ có tâm hồn cao đẹp mà còn là người anh hùng có khí phách hiên ngang?hãy chứng minh?

 

 

 

 

 

– Qua hình tương nhân vật HC nhà văn muốn thể hiện quan điểm như thế nào về mootj con người nhân cách cao cả?

– VQN là người như thế nào: nghề nghiệp? sở thích?

– QN có thái đọ như thế nào khi gặp HC?tại sao có thái đọ như vậy?

– Đánh giá nhân vật VQN?

 

 

– Quan niệm nghệ thuật của nhà văn?

 

 

 

 

 

– Cảnh cho chữ diễn ra lúc nào? ở đâu?tại sao nói đây là cảnh tượng xưa này chưa tứng có?

– Nêu ý nghĩa cảnh cho chữ?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– Ý nghĩa văn bản?

 

 

–  Đặc sắc nghệ thuật

 

 

 

– GV yêu cầu hs đọc phần tiểu dẫn sgk

– GV hướng dẫn HS trình bày về tiểu  sử, sự nghiệp

 

– GV hướng dẫn HS tìm hiểu xuất xứ, hoàn cảnh   ra đời tác phẩm

 

 

– GV khái quát, hệ thống kiến thức về nội dung đoạn trích

– Gợi ý qua sự gặp gỡ giữu hai nhân vật, họ khác nhau như thế nào?và họ có điểm chung nào?

 

 

– GV hướng dẫn HS nêu nhận xét và chốt ý

 

 

 

– Hướng dẫn HS tìm, liệt kê

 

 

 

– GV hướng dẫn HS nhận xét

 

 

 

 

– Gợi ý những chi tiết được khắc họa trong sgk

 

– Yêu cầu HS nêu cảm nhận của bản thân

 

– Gợi ý HS khái quát, cảm nhận

 

 

– GV tổ chức hoạt động theo cặp

 

 

– Gợi  ý cho HS qua những chi tiết trong văn bản

 

 

 

– Yêu cầu HS cảm nhận

 

 

 

– Yêu cầu HS cảm nhận

 

 

 

 

 

– Yêu cầu HS phát hiện và cảm nhận

 

 

 

 

– Liên kết giữ các phân, rút ra quan niệm nghệ thuật

 

 

– Liên hệ cảnh cho chữ ngoài đời thực và trong văn chương từ xưa đến nay

– Chỉ ra sự đối lập tương phản giữa các vấn đề

– Tữ những chi tiết rút ra quan niệm nghệ thuật ẩn sâu

 

 

 

 

 

 

 

– GV  hướng dẫn HS tổng kết

 

– Gợi ý cho HS nhận xét

I. Tìm hiểu chung:

1. Tác giả.

– Nguyễn Tuân: 1910 – 1987 – Người Hà nội.

– Sinh ra trong một gia đình nhà nho.

– Ông là một nghệ sĩ  tài hoa,uyên bác, phong cách nghệ thuật độc đáo

– Ngòi bút phóng túng và có ý thức sâu sắc về cái tôi cá nhân.

– Sở trường là tuỳ bút.

2. Tác phẩm Chữ người tử tù

– Lúc đầu có tên là: Dòng chữ cuối cùng, in 1938 trên tạp chí Tao đàn, sau đó đổi tên thành: Chữ người tử tù và được in trong tập truyện :Vang bóng một thời.

II. Đọc hiểu văn bản.

   1. Tình huống truyện 

– Cuộc gặp gỡ khác thường của hai con người khác thường :

+ Viên quản ngục- kẻ đại diện cho quyền lực tăm tối nhưng lại khao khát ánh sáng và chữ nghĩa.

+ Huấn Cao – người tử tù có tài viết chữ đẹp, chống lại triều đình phong kiến.

→ Cuộc hội ngộ diễn ra giữa chốn ngục tù căng thẳng, kịch tính, có ý nghĩa đối đầu giữa cái đẹp cái thiên lương>< quyền lực tội ác. → cái đẹp, cái thiên lương đã thắng thế.

2. Nhân vật Huấn Cao

a. Một người nghệ sĩ tài hoa trong nghệ thuật thư pháp

– Người có tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp

– Lời ca ngợi, mơ ước cháy bỏng của viên quản ngục  Chữ ông Huấn…đời

-> Nghệ thuật thư pháp

= >

+ Trân trọng, ngưỡng mộ người tài

+ Trân trọng nghệ thuật thư pháp

->truyền thống văn hóa dân tộc

b. Một nhân cách, một thiên lương cao cả

– Tâm hồn trong sáng cao đẹp Không vì…bao giờ

->trọng nghĩa khinh lợi

– Khi biết được tấm lòng viên QN : HC nhận lời cho chữ-> chỉ cho những người biết trọng cái tài và quý cái đẹp

– Câu nói của HC Thiếu chút nữa…thiên hạ-> Trân trọng những người có sở thích thanh cao, có nhân cách cao đẹp

c. Một con người có khí phách hiên ngang bất khuất

– là thủ lĩnh trong phong trào chống lại triều đình

– Ngây khi đặt chân vào ngục :

+ Không thèm để ý, không thèm chấp câu nói của tên lính

+ Thản nhiên rũ rệp trên thang gông

-> Khí phách, tiết tháo

– Khi được VQN biệt đãi Thản nhiên nhận rượu thịt như Việc vẫn làm trong hứng bình sinh

-> Phong thái tự do, ung dung, xem nhẹ cái chết

– Trả lời VQN bằng thái đọ khinh miệt đến điều  Ngươi hỏi ta…vào đây

-> Không quỵ lụy trước cường quyền

=> Khí phách của một anh hùng

*QNTM NT:

– Cái đẹp và cái thiện không thể tách rời

– Một nhân cách cao đẹp bao giờ cũng là sự thống nhất giữa cái tâm và cái tài

=>  – QNTM tiến bộ

– Tình cảm yêu nước thầm kín

b. Nhân vật Quản ngục.

–  Có tâm hồn nghệ sĩ, say mê và quý trọng cái đẹp, say mê chơi chữ đến kì lạ.          – Thú chơi chữ Sở nguyện cao quý .Suốt đời chỉ có một ao ước: Có được chữ Huấn Cao mà treo trong nhà

– Là người có tấm lòng Biết giá người, biết trọng người ngay, biết  Biệt nhỡn liên tài

->Là Một tấm lòng trong thiên hạ, Âm thanh trong trẻo…xô bồ

=>QNNT:

-Trong mỗi con người đều ẩn chứa một con người nghệ sĩ, một tâm hồn yêu cái đẹp, cái tài.

– Có khi, có lúc cái đẹp tồn tại trong môi trường của cái ác, cái xấu và nó vẫn phát triển mạnh mẽ và bền bỉ.

*Cảnh cho chữ: Cảnh tượng xưa nay chưa từng có

– Hoàn cảnh, địa điểm: Bẩn thỉu, tối tăm, chật hẹp

– Tư thế của người cho chữ và nhận chữ

-> Nghệ thuật:

+ Tả cảnh, tả người

+ Nhịp điệu chậm rãi, câu văn giàu hình ảnh

=> QNTM

– Cái đẹp và cái thiện không bao giờ tách rời nhau

– Khẳng định sự chiến thắng của cái đẹp, tài năng và nhân cách

– Cái đẹp có thể nảy sinh trên nền của cái ác nhưng không bao giờ chung sống với cái ác, cái xấu

– Cái đẹp có sức mạnh cảm hóa, cái đẹp là bất tử

=>TT

– Lòng Yêu nước thầm kín

– Hướng con người đến : Chân – thiện – mĩ

III.Tổng kết

1.Ý nghĩa văn bản

– Khẳng ddinghj sự chiến thắng của cái đẹp,cái thiện, nhân cách cao cả

– Bộc lộ lòng yêu nước thầm kín của nhà văn

2. Đặc sắc nghệ thuật

– Tạo tình huống truyện độc đáo, đặc sắc

– Sử dụng thành công thủ pháp đối lập tương phản

– Xây dựng thành công nhân vật

– Ngôn ngữ góc cạnh, giàu hình ảnh, có tính tạo hình

 

 

 

 

 

3.3 Hoạt động thực hành ứng dụng

Nghệ thuật độc đáo được thể hiên qua  cảnh cho chữ

3.4. Hoạt động bổ sung

Phân tích  hình tượng nhân vật Huấn Cao?

Hướng dẫn soạn bài tiếp theo

Soạn bài mới: Luyện tập thao tác so sánh

(Tài liệu sưu tầm )

Xem thêm :

  1. Trọn bộ giáo án Ngữ văn lớp 10
  2. Trọn bộ giáo án Ngữ văn lớp 11
  3. Trọn bộ giáo án Ngữ văn lớp 12