Ôn tập bài Chiều tối ( Mộ) SGK Ngữ văn 11

CHIỀU TỐI

Hồ Chí Minh

ÔN TẬP KIẾN THỨC CƠ BẢN  VỀ BÀI CHIỀU TỐI

Về tác giả và tác phẩm:

Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới. Người không chỉ là một nhà cách mạng kiệt xuất mà còn là một nhà văn, nhà thơ lớn. Người để lại một khối lượng sáng tác lớn với nhiều tác phẩm có giá trị. Một trong số đó là bài thơ “Chiều tối”. (Nêu vấn đề theo đề bài)

Khái quát về bài thơ:

Bài thơ thuộc tập thơ “Nhật kí trong tù” – viết trong khoảng thời gian người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam và giải đi khắp các nhà lao ở tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc). “Chiều tối” là bài thứ 31 trong 134 bài của tập thơ, được gợi cảm hứng trong lần Người bị giải đi từ nhà lao Tĩnh Tây sang nhà lao Thiên Bảo. Bài thơ được viết bằng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt.

Nội dung và nghệ thuật:

Hai câu đầu: khung cảnh thiên nhiên núi rừng Quảng Tây buổi chiều tối.

“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ,

                                          Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không”.

                                          (“Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ,

                                          Cô vân mạn mạn độ thiên không”.)

Bằng bút pháp chấm phá trong thơ cổ, chỉ với vài nét vẽ “chim” và “mây”, Bác đã vẽ ra bức tranh núi rừng Quảng Tây buổi chiều tối. Trong thơ ca cổ, hình ảnh cánh “chim” thường tượng trưng cho thời gian chiều tối:

“Chim bay về núi tối rồi” (Ca dao)

“Chim hôm thoi thót về rừng” (“Truyện Kiều” – Nguyễn Du)

Thế nên, ngay đầu bài thơ, dù không có một từ chỉ thời gian nhưng người đọc vẫn cảm nhận được không gian sắp về tối. Tuy nhiên, thi liệu cổ ấy (“chim”) đã được Bác vận dụng sáng tạo. Trong thơ xưa, hình ảnh cánh chim thường được miêu tả qua trạng thái bên ngoài của nó (bay). Còn trong thơ Bác, Người cảm nhận sâu sắc trạng thái bên trong của nó : “chim mỏi” sau một ngày kiếm ăn vất vả. Tấm lòng thương yêu vô bờ bến của con người “chỉ biết quên mình cho hết thảy” đã đồng cảm với cánh chim mỏi mệt ấy. Bức tranh núi rừng buổi chiều muộn còn có “mây”. Đây cũng là thi liệu quen thuộc trong thơ ca cổ điển:

“Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt” ( Thu điếu – Nguyễn Khuyến)

“Cô vân độc khứ nhàn” (Lưng trời thơ thẩn đám mây một mình –

Thơ Lí Bạch)

Nếu như hình ảnh đám mây trong thơ ca xưa thường gợi ra sự nhàn tản, thoát tục của một nhà nho tìm về với chốn làng quê ẩn dật thì trong thơ Bác, nó là hình ảnh của hiện thực. Trên đường chuyển lao, ánh mắt Bá hướng lên cao và bắt gặp đám mây trôi chầm chậm, lơ lửng (“mạn mạn”) trên bầu trời. Đám mây ấy gợi ra không gian tĩnh lặng nhưng cũng thanh bình, thơ mộng của vùng rừng núi buổi chiều muộn.

Những cụm từ “quyện điểu” (chim mỏi) và “cô vân” (đám mây lẻ) vừa gợi tả cảnh, vừa gợi lên tâm trạng của con người. Sau một ngày bị giải đi bộ vất vả trên đường rừng núi gập ghềnh, chân tay lại bị xiềng xích, chờ đợi phía trước lại là một nhà lao khác chật chội, bẩn thỉu; lại đang ở nơi đất khách quê người nên Bác cũng cảm thấy mệt mỏi, cô đơn. Tuy vậy, ánh mắt Bác vẫn hướng lên bầu trời, đồng cảm với cánh chim “mỏi”, thả hồn theo đám mây lẻ trôi lững lờ.  Phải có một tấm lòng yêu thiên nhiên tha thiết và một phong thái ung dung, tự tại, vượt lên trên hoàn cảnh thì mới có thể chan hòa cùng với thiên nhiên như thế. Hai câu đầu vừa đậm màu sắc cổ điển với bút pháp chấm phá và những hình ảnh thơ cổ; vừa đậm tính hiện đại với vẻ đẹp tâm hồn của người tù – chiến sĩ cộng sản Hồ Chí Minh. Đó cũng chính là “chất tình” dào dạt và chất “thép” cứng cỏi thường gặp trong thơ Người.

Hai câu sau: Bức tranh cuộc sống con người miền sơn cước:

“Cô em xóm núi xay ngô tối,

                                          Xay hết lò than đã rực hồng”.

                                          (“Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,

                                          Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng”.)

Trên con đường chuyển lao, ánh mắt người tù cộng sản nhận ra người lao động trong công việc: cô gái xóm núi xay ngô. Cũng như các nhà thơ, nhà văn xưa, tấm lòng nhân đạo của họ hướng về những con người yếu đuối: người phụ nữ có số phận bất hạnh (Thúy Kiều trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du; nàng Vũ Nương trong truyện “Người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ; nàng chinh phụ lẻ loi chờ chồng trong “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn…); Bác cũng hướng tới người phụ nữ, nhưng trong thơ Bác, đó lại là một người phụ nữ lao động bình thường, giản dị trong lao động. Đó chính là tình yêu thương của một chiến sĩ cộng sản đối với con người thuộc giai cấp vô sản, nhân dân lao động – đối tượng mà người dành cả cuộc đời mình đấu tranh vì họ. Điệp ngữ “ma bao túc” ở cuối câu ba được lặp lại ở đầu câu bốn, gợi tả những vòng xoay liên tục, liên tục của cái cối xay ngô. Những vòng xoay liên tục ấy gợi ra không khí làm việc miệt mài, chăm chỉ và vẻ đẹp khỏe khoắn trong lao động của cô gái xóm núi. Cuối bài thơ là chữ “hồng”, được xem là “nhãn tự” của bài thơ. Một chữ “hồng” gợi không gian sáng rực, gợi không khí ấm áp, tươi vui. Thế đấy, dù đang mệt mỏi, cô đơn là thế, chỉ cần nhìn thấy người lao động cần cù, chăm chỉ trong cuộc sống đời thường, tâm hồn Bác đã rực lên niềm vui, ấm áp trở lại. Không như quy luật thông thường, chiều rồi chuyển dần về tối, cuối bài thơ lại là không gian sáng rực. Cái tài tình của Bác cũng là ở chỗ này. Cả bài thơ không có một chữ “tối”, thế mà người đọc vẫn thấy thời gian đã về tối rồi. Chính cái ánh lửa đỏ rực của lò than khiến người ta nhận ra điều đó, bởi trời có tối thì nhìn từ xa mới thấy được ánh lửa đỏ rực lên. Cùng với sự vận động của thời gian là sự vận động trong tư tưởng của Người: từ buồn sang vui, từ lạnh lẽo cô đơn sang ấm nóng tình người. Bác là thế đấy: dạt dào tình yêu – yêu con người, yêu cuộc sống mà vẫn luôn cứng cỏi, kiên cường, luôn lạc quan, yêu đời, luôn hướng về ánh sáng, tương lai. Hình ảnh con người trở thành trung tâm của bức tranh thiên nhiên và mạch thơ vận động hướng về sự sống, về ánh sáng ấy khiến hai câu sau đậm tính hiện đại.

Cả bài thơ chỉ với hai mươi tám chữ mà chứa đựng biết bao nhiêu cảm xúc, ý nghĩa. Người đọc không thể nào quên được một tâm hồn thi sĩ chan chứa tình yêu thiên nhiên, tình yêu con người, yêu cuộc sống và cũng không thể nào quên được bản lĩnh “thép” của người chiến sĩ cộng sản Hồ Chí Minh – dù trong hoàn cảnh nào vẫn luôn ung dung tự tại, lạc quan, yêu đời, vượt lên trên tất cả để vui với niềm vui của người lao động, để hướng về phía ánh sáng, tương lai.

Tóm lại, “Chiều tối” là một trong những bài thơ tiêu biểu của tập “Nhật kí trong tù”. Sự kết hợp giữa bút pháp cổ điển và tinh thần hiện đại làm bài thơ vừa có dáng dấp của một bài thơ tứ tuyệt cổ kính vừa mang đậm tinh thần thời đại. Bài thơ vẽ ra bức tranh thiên nhiên và cuộc sống con người miền sơn cước mà Bác thấy trên đường chuyển lao, từ đó người đọc thấy được tình yêu thiên nhiên, cuộc sống; tinh thần lạc quan yêu đời, luôn hướng về ánh sáng, tin tưởng vào tương lai của thi sĩ – chiến sĩ Hồ Chí Minh. Bài thơ là minh chứng tiêu biểu cho “những vần thơ thép” mà vẫn “mênh mông bát ngát tình” của Bác.

Nghệ thuật cả bài thơ:

Với hệ thống từ ngữ cô đọng, hàm súc, thủ pháp đối lập, điệp liên hoàn…bài thơ bộc lộ vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách nghệ sĩ – chiến sĩ Hồ Chí Minh.

Ý nghĩa văn bản:

Vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách nghệ sĩ – chiến sĩ Hồ Chí Minh: yêu thiên nhiên, yêu con người, yêu cuộc sống; kiên cường vượt lên trên hoàn cảnh, luôn ung dung, tự tại và lạc quan trong mọi cảnh ngộ đời sống.

LUYỆN TẬP BÀI CHIỀU TỐI

           Dựa vào kiến thức cơ bản và phương pháp làm bài nghị luận văn học về bài thơ, đoạn thơ, học sinh luyện tập với các đề sau:

Đề 1: Phân tích bài thơ “Chiều tối” (Mộ) của Hồ Chí Minh.

Đề 2: Phân tích vẻ đẹp cổ điển và hiện đại trong bài thơ “Chiều tối” (Mộ) của Hồ Chí Minh.

Bài viết sưu tầm.

Xem thêm : Chiều tối

Cảm nhận về bài thơ Chiều tối ( Mộ)- Ngữ văn 11

Bài văn mẫu phân tích bài thơ Chiều Tối ( Mộ ) – Hồ Chí Minh. SGK Ngữ văn 11

CHIỀU TỐI

 Mở bài Cho bài thơ Chiều tối

Với bút pháp vừa cổ điển vừa hiện đại, bằng một vài nét chấm phá, Bác đã khắc họa được một bức tranh trời chiều xinh xắn nơi núi rừng có ánh lửa hồng của lò than nhà ai chiếu sáng hình ảnh cô gái lao động. Từ bức tranh thơ bừng sáng lên một tấm lòng lạc quan, đôn hậu đối với con người và đặc biệt nhạy cảm trước vẻ đẹp thiên nhiên của Bác. Đó chính là nét đặc sắc nhất của bài thơ “ Chiều tối”.

 

Thân bài: Phân tích bài thơ Chiều tối

Hoàn cảnh sáng tác:

Trong tác phẩm “ Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch” tác giả Trần Dân Tiên có cho biết hoàn cảnh sáng tác của bài thơ như sau: “ Người ta giải Cụ Hồ đi nhưng không cho biết Cụ đi đâu.Tay bị trói giật cánh khuỷu, cổ mang xích, có sáu người lính mang súng giải đi, đi mãi nhưng vẫn không cho biết đi đâu. Dầm mưa, dãi nắng, trèo núi, qua truông. Mỗi buổi sáng gà gáy đầu, người ta đã giải Cụ Hồ đi, mỗi buổi chiều, khi chim về tổ, người ta dừng lại ở một địa phương nào đó giam Cụ vào trong một xà lim, trên một đống ra bẩn, không cởi trói cho Cụ ngủ”.

Sự hài hòa giữ cảnh và tình: ( Biểu hiện tâm trạng trong cảnh vật)

Phải gắn bài thơ,với cảnh tù đày, chuyển lao đầy gian khổ của Bác như thế, chúng ta mới thấy hết ý nghĩa sâu xa của bài thơ. Suốt ngày phải chuyển lao gian khổ, gần về tối, người tù ngẩng đầu lên đỉnh trời rồi bất chợt nhận ra cánh chim bay về rừng tìm chốn ngủ và làn mây lẻ loi lững lờ trôi. Dù lâm vào cảnh ngộ bị đọa đày, Hồ Chí Minh vẫn thể hiện tình cảm yêu mến, thiết tha và thái độ đồng cảm, chia sẻ với tạo vật thiên nhiên vùng sơn cước lúc chiều buông. Bởi: “ Bác yêu trăng như thể yêu người”. Đối với Bác hoa với trăng là bạn.

Hình ảnh thơ của Bác xuất hiện thật tự nhiên. Tuy là hình ảnh thơ mang màu sắc ước lệ của thơ cổ điển, nhưng vẫn phù hợp với cảnh thực, tâm trạng thực của nhà thơ. Bởi cũng như tâm trạng con người đang mệt mỏi cô đơn, hình ảnh cánh chim xuất hiện ở câu thơ đầu tiên gợi cho ta một cái gì đó mệt mỏi, chán chường

“ Quyên Điểu quy lâm tầm túc phụ”

Ở đây đã có sự hòa hợp cảm thông giữa con người và cảnh vật. Điều đó cũng được thể hiện rõ hơn ở câu thơ thứ hai bởi từ “ Cô vân mạn mạn độ thiên không”. Bản dịch chưa lột tả được hết ý, hết tình trong hình ảnh “ cô vân” và từ “ mạn mạn” trong nguyên tác. Hình ảnh “ cô vân” nói lên làn mây lẻ loi cô đơn gợi nỗi buồn đơn côi của cảnh chiều. Từ “mạn mạn” nghĩa là chậm chậm cũng gợi lên sự uể oải, lững lờ của đám mây chiều. Điều đó làm cho làn mây cũng trở nên có tâm trạng hơn,dường như nó cũng mang nỗi buồn như con người.

Thơ ca cổ điển xưa nay hay sử dụng thủ pháp lấy không gian để miêu tả thời gian. Cho nên trong cảnh chiều muộn thường xuất hiện hình ảnh cánh chim, làn  mây:

Chim hôm thoi thót về rừng

(Nguyễn Du)

“Chúng điểu cao phi tận

Cô vân độc khứ nhàn”

(Lý Bạch)

Xuân Diệu dịch:

“Chim rừng một loạt cao bay

Trên trời lơ lửng đám mây một mình”

Ở đây thơ Bác cũng có hình ảnh chim bay mỏi nhưng lại có thêm hình ảnh cỏ vân. Song không phải là cô vân độc khứ nhàn, gợi sự nhàn nhã, cô độc, thanh cao, phiêu diêu, thoát tục mà là “Cô vân mạn mạn độ thiên không” làm cho khung cảnh buổi chiều thêm cô đơn, mệt mỏi buồn thương hơn. Đúng là câu thơ của một tù nhân vào buổi chiều tà nơi xa xứ. Bởi “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Buồn vì xa tổ quốc quê hương, bạn bè đồng chí, trong khi Cách mạng đang mong chờ, buồn vì bị mất tự do không biết bao giờ mới được ra khỏi tù. Người trong cảnh ấy, cảnh trong tình này Bác vui sao được? Chưa kể cảnh ngộ trong bài thơ chiều tối của Bác còn là điểm tiếp nối hai sự đoạ đầy của người tù. Sự đoạ đầy ban ngày chưa qua, sự đoạ đầy ban đêm đang chờ đợi phía trước.

Hai câu sau: ý thơ của Bác rất hiện đại luôn luôn hướng về sự sống và ánh sáng. Nhưng nếu bài thơ của Bác chỉ dừng lại ở đó thì nhà thơ Hồ Chí Minh của chúng ta có hơn gì các nhà thơ cổ điển như Bà Huyện Thanh Quan, Đỗ Phủ, Lý Bạch, đặc biệt là nhà thơ Liễu Tống Nguyên với bài thơ “Giang Tuyết” hết sức tĩnh lặng và lạnh lẽo.

“Ngàn non bóng chim tắt

Muôn nẻo dấu người không

Thuyền đơn, ông tơi nón

Một mình câu tuyết sông”

Song thơ Bác rất cổ điển mà cũng rất hiện đại cho nên đến hai câu sau Bác viết:

“Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc

Bao túc ma hoàn lô dĩ hang”

Đến hai câu thơ này bức tranh trữ tình về cảnh trời mây đã nhường chỗ cho bức tranh sinh hoạt gần gũi ấm áp của con người. Câu thơ chỉ là một lời lẽ bình thường. Nhưng ý thơ thì sinh động và đẹp đẽ biết bao trong nguyên văn “Sơn thôn thiếu nữ”, mà dịch thành “có em xóm núi” thì lời dịch đã làm sai lệch mất ý thơ rất hay trong nguyên tác. Với câu thơ ấy, bác đã đưa hình ảnh cô gái lao động lên vị trí trung tâm, đẩy lùi về phía sau nền trời chiều với cánh chim bay mỏi và làn mây trôi nhẹ. Ta nên nhớ rằng trong thơ xưa, cảnh thiên nhiên thường vắng bóng con người, và con người bị hoà vào thiên nhiên:

“Lom khom dưới núi tiều vài chú

Lác đác bên sông chợ mấy nhà”

Bài thơ “Chiều tối” được kết thúc bằng một hình ảnh thật tự nhiên mà bất ngờ thú vị “xay hết lò than đã rực hồng”. Ngọn lửa hồng ấm áp đã bừng sáng.

Như thế là bài thơ tứ tuyệt của Bác đã diễn tả được sự vận động của thời gian từ chiều đến tối hẳn. Tìm hiểu trong câu thơ nguyên tác của Bác, chúng ta thấy câu thơ không có chữ “tối” mà nói được cái tối, bởi thời gian cứ trôi dần theo cánh chim bay, làn mây, cùng nhịp vòng quay cối xay ngô. Điệp từ “bao túc” được Bác dùng theo trật tự đảo gợi được sự đều đều của vòng quay, cối xay ngô của sự tuần hoàn luân chuyển của thời gian và cho đến khi cối xay dừng lại lò than đã rực hồng, tức là thời gian đã tối hẳn. Có thế mới làm nổi rõ được cái rực hồng của lò than vốn đã hồng từ lúc nào. Ở đây, tưởng dùng cái sáng để nói cái tối. Đó là một thủ pháp rất quen thuộc của thơ ca cổ điển. Thế mà bản dịch đã đưa thêm một chữ tối vào làm giảm tính hàm xúc và mất đi vẻ đẹp cổ điển tinh tế có màu sắc rất Đường Tống này của hình ảnh thơ Bác.

Cùng với sự vận động của thời gian ấy là sự vận động của cảnh sắc, tư tưởng tính chất của tác giả. Sự vận động và chuyển biến thật bất ngờ khoẻ khoắn. Từ tối đến sáng, từ tàn lụi đến sự sống, từ buồn đến vui, từ lạnh lẽo đến cô đơn đến ấm nồng. Suốt ngày phải chuyển lao gian khổ vượt vúi băng rừng, lội suối; còn phía trước biết đâu một số tối nhà ngục lạnh giá đầy muỗi rệp, xích xiềng đang chờ đợi. Đã thế, cảnh chiều buông nơi miền sơn cước tỉnh Quảng Tây lại dễ khêu gợi nỗi sầu tha hương, vậy ý thơ của Bác đi từ bóng tối đến ánh sáng, từ buồn đến vui, một cái vui tràn đầy trong cuộc sống (Hoài Thanh). Điều này được thể hiện rõ nhất ở chữ “hồng” cuối bài thơ. Đây chính là chỗ đẹp nhất của bài “Chiều tối”.

“Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên

Giang phong ngư hoả đối sầu miên

Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự

Dạ bản chung thành đáo kháng huyền”.

Không phải là hình ảnh “Lửa trại cây bến, sầu vương giấc hồ” trong thơ “Trương kể” mà là ánh lửa hồng đầm ấm reo vui hạnh phúc, ánh lửa hồng của sự sống, niềm lạc quan. Với một chữ “hồng” Bác đã làm sáng rực lên toàn bộ bài thơ đã làm mất đi sự mệt mỏi, uể oải, vội vã, nặng nề đã diễn tả trong 3 câu thơ đầu, đã làm sáng rực lên gương mặt cô gái sau khi xay xong ngô tối. Chữ “hồng” trong nghệ thuật đời thường, người ta gọi là nhãn tự (chữ con mắt). Một mình chữ “hồng” đã làm cân bằng sinh khớ cho cả bài thơ, đúng như Hoàng Trung Thông đã nhận xét: “Với chữ “hồng” đó, có ai còn cảm giác nặng nề, mệt mỏi nhọc nhằn nữa đâu mà chỉ thấy màu đỏ đã nhuốm lên cả bóng đêm, cả thân hình, cả lao động của cô gái yêu kia. Đó là màu đỏ của tình cảm nhân ái, lạc quan Bác Hồ“. Chữ “hồng” cũng góp phần tạo nên chất hội hoạ cho bài thơ, khắc hoạ được một bức tranh có cảnh vật có con người, có gam màu tối sáng. Như vậy Bác Hồ đã vượt lên trên cái cảnh ngộ khổ đau buồn bã của bản thân để hướng tâm hồn mình đến quan tâm chia sẻ với niềm vui giản dị của cô gái là xay ngô nơi xóm núi. Mới biết mọi vui buồn sướng khổ của chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều khi không thể giải thích được bằng cảnh ngộ riêng của Người mà phải căn cứ vào cảnh ngộ của người khác; của nhân dân, của nhân loại. Đây là một tấm lòng nhân đạo lớn đã đạt đến mức “nâng niu tất cả chỉ quên mình”.

 

“Ôi lòng Bác vậy cứ thương ta

Thương cuộc đời chung, thương cỏ hoa

Chỉ biết quên mình cho hết thảy

Như dòng sông chảy nặng phù sa”

Kết Luận:

 

Chiều tối” là một bài thơ  nhỏ mà đã thể hiện một phong cách lớn: phong cách Bác Hồ:

“Tinh hoa trái đất, chất kim cương

Con người đẹp nhất trong nhân loại

Trí tuệ tình yêu của bốn phương”

Bài thơ đã toả sáng một tấm lòng nhân đạo bao la. Chính tấm lòng ấy đã làm cho bài thơ “Chiều tối” không phải là kết thúc bằng hình ảnh bóng đêm tăm tối mà bừng sáng một ngọn lửa hồng ấm áp.

Bài viết sưu tầm

Xem thêm : Tuyển tập những bài văn hay, những đề thi về bài Chiều tối, Giáo án bài Chiều tối soạn theo 5 hoạt động, điịnh hướng phát triển năng lực học sinh : Chiều tối

 

Giáo án bài chiều tối theo định hướng phát triển năng lực

Soạn giáo án bài Chiều tối Ngữ văn lớp 11 theo phương pháp dạy học tích cực, phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh. Thư viện bài giảng Ngữ văn lớp 10-11-12

 THIẾT KẾ BÀI HỌC

CHIỀU TỐI – Hồ Chí Minh

(Ngữ văn 11, kì 2, 01 tiết)

KẾT QUẢ CẦN ĐẠT

Về kiến thức:

Cảm nhận được hình tượng thiên nhiên và bức tranh cuộc sống con người trong bài thơ.

– Thấy được vẻ đẹp tâm hồn của Hồ Chí Minh: yêu thiên nhiên và cuộc sống con nguời, nghị lực cách mạng, khát vọng tự do.

– Hiểu được vẻ đẹp cổ điển và tinh thần hiện đại của bài thơ.

Về kĩ năng: Rèn luyện kĩ năng đọc hiểu tác phẩm thơ trữ tình cách mạng.

Về thái độ:

– Củng cố thêm tình yêu thiên nhiên và cuộc sống lao động của con người.

– Bồi đắp thêm lòng ham sống và tinh thần lạc quan của tuổi trẻ.

Các năng lực cần có cho học sinh

– Năng lực cảm thụ tác phẩm thơ trữ tình cách mạng.

– Năng lực hợp tác khi trao đổi thảo luận.

– Năng lực giải quyết các tình huống đặt ra.

CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH

  1. Chuẩn bị của giáo viên:

– Giáo án, SGK Ngữ văn 11, tập 2

– Phiếu học tập

  1. Chuẩn bị của học sinh: Chuẩn bị bài ở nhà theo các yêu cầu sau:

– Đọc lại các tác phẩm đã học trong tập thơ “Nhật kí trong tù” của Hồ Chí Minh

– Soạn bài theo hướng dẫn học bài/SGK Ngữ văn 11 tập 2.

TIẾN TRÌNH DẠY HỌC

 

Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung cần đạt
I.   Hoạt động 1 – Khởi động

Giáo viên yêu cầu học sinh ghi ra phiếu làm việc cá nhân:

Nội dung: Kể tên các bài thơ đã học trong tập thơ “Nhật kí trong tù” của Hồ Chí Minh, nhớ lại một bài thơ mà học sinh yêu thích nhất.

Cách tiến hành: Trong vòng 5 phút, học sinh kể tên các bài thơ và đọc thuộc một bài thơ mình yêu thích nhất.

GV giới thiệu bài thơ “Chiều tối”.

– Học sinh kể đúng tên tên các bài thơ đã học trong tập thơ “Nhật kí trong tù” của Hồ Chí Minh, đọc được một bài thơ mà học sinh yêu thích nhất.
II. Hoạt động 2 – Hình thành kiến thức  
1.  Hướng dẫn học sinh tìm hiểu chung về văn bản I. Tìm hiểu chung

 

MỤC TIÊU – Nắm được hoàn cảnh sáng tác, thể loại, hình thức văn tự của tập thơ “Nhật kí trong tù” và hoàn cảnh sáng tác cụ thể, vị trí, thể loại, bố cục của bài thơ “Chiều tối”.
NHIỆM VỤ – Học sinh đọc Tiểu dẫn và tìm ra được hoàn cảnh sáng tác, thể loại, hình thức văn tự của tập thơ “Nhật kí trong tù” và hoàn cảnh sáng tác, vị trí của bài thơ “Chiều tối”.

– Học sinh đọc văn bản và xác định thể loại, bố cục của bài thơ “Chiều tối”.

PHƯƠNG THỨC – Sử dụng kĩ thuật đọc lướt, tư vấn chuyên gia.
SẢN PHẨM – Học sinh nêu được hoàn cảnh sáng tác, thể loại, hình thức văn tự của tập thơ “Nhật kí trong tù” và hoàn cảnh sáng tác cụ thể, vị trí, thể loại và bố cục của bài thơ “Chiều tối”.
PHƯƠNG ÁN KT ĐÁNH GIÁ

 

 

Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung cần đạt
GV yêu cầu tất cả học sinh đọc lướt phần Tiểu dẫn và thực hiện các yêu cầu sau:

– Nêu xuất xứ của bài thơ?

– Tập thơ được sáng tác trong hoàn cảnh nào?

– Tập thơ gồm bao nhiêu bài, hình thức văn tự của tập thơ?

– Nêu hoàn cảnh sáng tác cụ thể của bài thơ “Chiều tối”?

 

 

Sau khi học sinh làm việc cá nhân, đặt câu hỏi, tổ chuyên gia tư vấn, GV nhận xét và chốt lại những kiến thức cơ bản.

GV yêu cầu học sinh đọc văn bản, xác định thể loại và phân chia bố cục.

 

1. Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác

– Xuất xứ: Bài thơ số 31 trong tập thơ “Nhật kí trong tù”

+ Hoàn cảnh sáng tác: Tập thơ được sáng tác trong khoảng thời gian Bác bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam (8/1942 – 9/1943).

+ Tập thơ gồm 134 bài thơ chữ Hán, hầu hết được viết theo lối thơ Đường luật.

– Hoàn cảnh sáng tác cụ thể của bài thơ: Cảm hứng của bài thơ được gợi lên từ một buổi chiều muộn, trên đường chuyển lao của Hồ Chí Minh từ nhà lao Tĩnh Tây đến nhà lao Thiên Bảo vào cuối thu năm 1942.

 

 

2. Thể loại, bố cục

– Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.

– Bố cục: hai phần

+ Hai câu đầu: Bức tranh thiên nhiên

+ Hai câu sau: Bức tranh cuộc sống

2.      Hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản II. Đọc hiểu văn bản
a.      Hướng dẫn học sinh tìm hiểu hai câu thơ đầu 1. Hai câu thơ đầu

        

MỤC TIÊU – Cảm nhận bức tranh thiên nhiên lúc chiều muộn nơi núi rừng và và tâm trạng, cảm xúc của nhân vật trữ tình.

– Thấy được nghệ thuật tả cảnh được sử dụng trong hai câu thơ đầu.

NHIỆM VỤ – Học sinh tự đọc hai câu thơ đầu và trao đổi nhóm để trả lời câu hỏi.
PHƯƠNG THỨC – Sử dụng kĩ thuật chia sẻ nhóm đôi.
SẢN PHẨM – Phân tích được vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên chiều tối nơi núi rừng và tâm trạng, cảm xúc của nhân vật trữ tình.

– Chỉ ra được nghệ thuật tả cảnh trong hai câu thơ đầu.

PHƯƠNG ÁN KT ĐÁNH GIÁ

 

Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung cần đạt
Giáo viên yêu cầu học sinh trao đổi nhóm (theo kĩ thuật chia sẻ nhóm đôi) để thực hiện các yêu cầu sau:

– Bức tranh thiên nhiên trong hai câu thơ đầu được miêu tả qua hình ảnh nào? Hình ảnh đó mở ra khoảng không gian, thời gian nào?

 

– Trạng thái cảnh vật được miêu tả như thế nào (chú ý so sánh bản dịch thơ với bản dịch nghĩa, tìm những chỗ chưa sát với nguyên tác)? Ý nghĩa của sự miêu tả đó là gì?

 

– Cảm nhận của em về cảnh trong hai câu thơ đầu qua bút pháp tả cảnh của Hồ Chí Minh?

 

Học sinh trao đổi, thảo luận theo nhóm.

GV quan sát, lựa chọn ba nhóm tiêu biểu, mỗi nhóm trình bày một nội dung đã thảo luận, các nhóm còn lại nhận xét.

GV nhận xét và chốt kiến thức.

 

– Màu sắc cổ điển của bức tranh thiên nhiên

+ Thi liệu cổ điển: cánh chim bay về núi và đám mây lẻ loi là những hình ảnh quen thuộc thường thấy trong thơ cổ báo hiệu thời gian cuối ngày, vạn vật tìm đến sự nghỉ ngơi.

+ Bút pháp chấm phá: cánh chim nhỏ bé, đám mây đơn lẻ đủ sức gợi lên một bầu trời mênh mông, hoang sơ và tĩnh lặng.

– Sự cảm nhận thiên nhiên tinh tế, nhạy cảm: vẻ mệt mỏi, nặng trĩu của cánh chim trong dáng bay, sự lẻ loi, chậm rãi trôi của đám mây trên bầu trời. Trạng thái cảnh vật có sự đồng điệu với trạng thái thể chất và chất chứa tâm sự cô đơn, lẻ loi của người tù sau một ngày đày ải nơi đất khách.

– Vẻ đẹp tâm hồn Bác: tâm hồn thi sĩ với tình yêu thiên nhiên và ý chí nghị lực phi thường của một nhà thơ – chiến sĩ: dù mệt mỏi nhưng nhà thơ vẫn ung dung ngắm nhìn cảnh vật để rồi thi hứng đến với Bác hết sức tự nhiên.

=> Bức tranh thiên nhiên mang đậm màu sắc cổ điển; cảnh vật và tâm hồn con người hài hòa, đồng điệu; hình ảnh thơ đẹp nhưng đượm buồn.

2. Hướng dẫn học sinh tìm hiểu hai câu thơ cuối b. Hai câu thơ cuối

 

MỤC TIÊU – Cảm nhận được vẻ đẹp bức tranh cuộc sống lao động của con người và tình yêu cuộc sống, ý chí nghị lực phi thường và khát vọng tự do của Hồ Chí Minh.
NHIỆM VỤ – Học sinh đọc hai câu cuối, thảo luận trả lời câu hỏi trong phiếu học tập số 1.
PHƯƠNG THỨC – Sử dụng phiếu học tập.
SẢN PHẨM – Học sinh ghi được kết quả thảo luận ra phiếu học tập.
PHƯƠNG ÁN KT ĐÁNH GIÁ

 

Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung cần đạt
Giáo viên phát phiếu học tập số 1 cho học sinh, học sinh làm việc cá nhân và thảo luận theo nhóm (đã được chia theo bàn) để thực hiện các yêu cầu sau:

– Hai câu thơ sau miêu tả chi tiết, hình ảnh gì?

– Xác định biện pháp nghệ thuật và tác dụng của các biện pháp nghệ thuật đó?

– Tìm hiểu tâm trạng của nhân vật trữ tình?

– Cảm nhận của em về bức tranh cuộc sống hiện lên ở hai câu cuối và vẻ đẹp của cái tôi trữ tình thể hiện trong hai câu thơ này?

Học sinh hoàn thiện phiếu học tập.

GV chọn 2 nhóm báo cáo kết quả, các nhóm còn lại nhận xét.

GV tổng kết và chốt kiến thức cơ bản.

– Hình ảnh cô gái xay ngô toát lên vẻ trẻ trung, khỏe khoắn, giản dị của con người lao động trở thành trung tâm, điểm nhấn của bức tranh.

– Hình ảnh ngọn lửa hồng mang đến ánh sáng, hơi ấm, niềm vui xua tan bóng đêm lạnh lẽo, hiu quạnh.

– Nghệ thuật điệp liên hoàn kết hợp đảo ngữ: ma bao túc- bao túc ma giàu ý nghĩa:

+ Diễn tả chân thực vòng quay liên hoàn của cối xay ngô

+ Khắc họa hình ảnh cô gái xóm núi vất vả, cực nhọc nhưng khỏe khoắn và hăng say lao động.

+ Diễn tả sự dịch chuyển của thời gian và không gian.

=> Bức tranh chiều tối nơi núi rừng không chỉ có thiên nhiên mà còn đậm hơi thở cuộc sống. Ở đó ẩn chứa tình yêu của Bác đối với con người và cuộc đời đồng thời thể hiện khát vọng tự do, ý chí nghị lực phi thường của người tù cách mạng Hồ Chí Minh.

c. Hướng dẫn học sinh tổng kết bài học c. Tổng kết

 

MỤC TIÊU – Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ.
NHIỆM VỤ – Học sinh làm việc cá nhân, trả lời câu hỏi.
PHƯƠNG THỨC – Sử dụng kĩ thuật trình bày một phút.
SẢN PHẨM – Tổng kết được giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ
PHƯƠNG ÁN KT ĐÁNH GIÁ – GV đánh giá và có thể cho điểm với những ý kiến hay.

 

Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung cần đạt
GV yêu cầu học sinh làm việc cá nhân trong thời gian một phút (theo kĩ thuật trình bày một phút) và thực hiện yêu cầu:

– Khát quát giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.

Học sinh trình bày.

Giáo viên nhận xét, chốt lại những kiến thức cơ bản.

– Nội dung: Bức tranh chiều tối cho thấy tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống của một tâm hồn thi sĩ nhạy cảm, tinh tế, đồng thời thể hiện được ý chí nghị lực phi thường của nhà thơ – chiến sĩ Hồ Chí Minh.

– Nghệ thuật: Bài thơ tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh: vừa giàu tính cổ điển vừa mang sắc thái tinh thần hiện đại luôn hướng về sự vận động phát triển tới ánh sáng, tương lai.

III. Hoạt động 3  – Thực hành

GV phát phiếu học tập cho học sinh.

GV đặt câu hỏi: Qua bài thơ, em học tập được điều gì từ Hồ Chí Minh?

3. Thực hành

– Phiếu học tập 2

IV. Hoạt động vận dụng và mở rộng (thực hiện ở nhà)

GV yêu cầu học sinh sưu tầm thêm một số bài thơ có hình ảnh cánh chim, chòm mây trong thơ ca trung đại. Vẽ lại bức tranh chiều tối theo cảm nhận cá nhân.

4.  Vận dụng và mở rộng

PHIẾU HỌC TẬP 1

Nhóm/ Tổ/ Tên học sinh:

Lớp

Tìm trong hai câu cuối Nhận xét Tâm trạng của nhân vật trữ tình Cảm xúc cá nhân
Chi tiết, hình ảnh      

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Biện pháp nghệ thuật  

 

PHIẾU HỌC TẬP 2

Nhóm/ Tổ/ Tên học sinh

Lớp:

 

So sánh Hai câu đầu Hai câu sau
Hình ảnh Con người
Bút pháp miêu tả Tả thực
Thời gian Chiều
Không gian Cuộc sống lao động
Tâm trạng chủ thể trữ tình Buồn

Giáo án sưu tầm

Xem thêm : Trọn bộ giáo án và chuyên đề dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh

Giáo án ngữ văn 10 

Giáo án ngữ văn 11

Giáo án ngữ văn 12

Tuyển tập tài liệu ôn thi môn Văn 11, những đề thi xoay quanh bài Chiều tối, những bài văn hay phân tích bài thơ Chiều tối- Hồ Chí Minh : Chiều tối

Phân tích hình tượng người chiến sĩ trong bài Chiều tối và Từ ấy

Đề bài :

Hãy phân tích vẻ đẹp của hình tượng người chiến sĩ cách mạng trong hai bài thơ Chiều tối (Hồ Chí Minh) và Từ ấy (Tố Hữu).

Hướng dẫn: Bài viết có thể tổ chức theo nhiều cách, miễn là nêu được các ý sau đây:

  1. Giới thiệu về hai tác giả, tác phẩm

– Hồ Chí Minh là lãnh tụ cách mạng vĩ đại, đồng thời cũng là nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc. Trong di sản văn học của Người, thơ ca là mảng sáng tác rất có giá trị, trong đó có thể kể đến tập thơ “Nhật kí trong tù”được sáng tác trong những ngày Người bị giam giữ ở các nhà lao thuộc tỉnh Quảng Tây. Chiều tối (Mộ -1942) là bài thơ được trích từ tập thơ này.

– Tố Hữu là nhà cách mạng, cũng là nhà thơ trữ tình chính trị tiêu biểu nhất của nền thơ ca cách mạng. Sự nghiệp cách mạng của Tố Hữu gắn bó chặt chẽ với sự nghiệp thơ ca của ông. Từ ấy (1938) là bài thơ hay được trích trong tập thơ cùng tên ghi lại thời khắc đặc biệt trong cuộc đời cách mạng và nghệ thuật của Tố Hữu khi nhà thơ được giác ngộ lí tưởng cách mạng, tìm thấy con đường đi cho cuộc đời mình và thơ ca.

– Cả hai bài thơ đều hướng tới khắc họa vẻ đẹp trong tâm hồn và lí tưởng sống cao đẹp của người chiến sĩ cách mạng.

2.  Vẻ đẹp hình tượng người chiến sĩ cách mạng trong bài thơ Chiều tối (Hồ Chí Minh)

– Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt: khi Hồ Chí Minh sang Trung Quốc tranh thủ sự viện trợ của phe Đồng minh. Khi đến Quảng Tây thì Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam. Vì không có chứng cớ khép tội nên chúng không thể đưa ra xét xử. Chúng đã hành hạ Người bằng cách giải đi khắp các nhà lao của tỉnh Quảng Tây trong hơn một năm trời nhằm tiêu diệt ý chí của người chiến sĩ cách mạng. Bài thơ này cũng giống như nhiều các sáng tác khác được viết trên hành trình chuyển lao từ Tĩnh Tây đi Thiên Bảo, vào khoảng bốn tháng sau khi Người bị bắt. Tác phẩm là bức chân dung tự họa của con người Hồ Chí Minh ở thời điểm gian nan thử thách nhất trên con đường cách mạng.

– Đó là người chiến sĩ cách mạng có tâm hồn rộng mở, phóng khoáng, đón nhận vẻ đẹp của cảnh thiên nhiên núi rừng. Bức tranh thiên nhiên cảnh chiều mở ra ở cả chiều cao, chiều rộng của không gian và được vẽ bằng những nét phác họa đơn sơ, với những hình ảnh đậm đà sắc màu cổ điển như cánh chim và chòm mây, có chút buồn vắng, quạnh hiu những vẫn thanh thoát, ấm áp hơi thể sự sống. Bức tranh thiên nhiên đã nói lên nhân vật trữ tình là con người tinh tế, nhạy cảm, yêu thiên nhiên tha thiết vượt lên trên cảnh ngộ tù đày.

– Đó cũng là người chiến sĩ có tấm lòng nhân đạo, bao la, yêu thương, quan tâm chia sẻ với con người lao động, một tâm hồn luôn hướng về sự sống và ánh sáng. Dù vẫn phải tiếp tục chuyển lao trong cảnh trời tối, con người đã quên đi nỗi nhọc nhằn của riêng mình, hướng về cô gái nhỏ lao động nơi xóm núi xay ngô và lò than rực hồng đã đỏ để cảm thông, chia sẻ, ấm áp, vui lây niềm vui lao động của con người.

– Bút pháp khắc hoạ chân dung người chiến sĩ cách mạng: là bút pháp gợi tả, những hình ảnh đậm đà màu sắc cổ điển mà vẫn thấm đẫm tinh thần hiện đại. Vẻ đẹp của người chiến sĩ cách mạng hiện qua bức tranh cảnh vật thiên nhiên và bức tranh sinh hoạt lao động của con người. Đó là con người ung dung, hoà hợp với thiên nhiên nhưng vẫn luôn trong tư thế làm chủ hoàn cảnh, hướng về con người, sự sống và ánh sáng, chất thi sĩ và chất chiến sĩ hoà quyện làm một.

3. Hình tượng người chiến sĩ cách mạng trong bài thơ Từ ấy (Tố Hữu)

– Bài thơ ra đời với một bước ngoặt trong cuộc đời và sự nghiệp nghệ thuật của Tố Hữu. Ngày nhà thơ được kết nạp vào Đảng cộng sản, đứng vào hàng ngũ những người cách mạng chiến đấu vì một lí tưởng chung, ông đã viết bài thơ này. Đặt trong hoàn cảnh sáng tác ấy, bài thơ đã cho thấy tình yêu, niềm say mê với lí tưởng cách mạng và lẽ sống cao đẹp làm nên vẻ đẹp hình tượng người chiến sĩ trong bài thơ.

– Đó là con người có tình yêu, niềm say mê mãnh liệt với lí tưởng cộng sản. Lí tưởng chính là ánh nắng hạ rực lửa, là mặt trời chói sáng, soi rọi giúp cho nhà thơ nhận ra con đường đi đến với chân lí, lẽ phải, công bằng, niềm tin, hi vọng. Lí tưởng còn hồi sinh, chỉ đường, đem đến cảm xúc mới, sức sống mới cho nghệ thuật thơ ca của người chiến sĩ.

– Đó là người chiến sĩ có lẽ sống nhân đạo cao đẹp. Con người ấy từ khi được giác ngộ lí tưởng, ý thức rằng cuộc sống và nghệ thuật thơ ca của mình không thuộc về cá nhân mình nữa mà thuộc về quần chúng cần lao và cuộc đấu tranh chung của dân tộc. Con người đã tự nguyện đem cái “tôi” nhỏ bé của mình gắn kết với cuộc đời để tạo nên sức mạnh đoàn kết, tranh đấu. Người chiến sĩ cũng ý thức rằng mình sẽ là một thành viên ruột thịt trong đại gia đình cách mạng của những người lao khổ, bị áp bức, chiến đấu vì một lí tưởng cao đẹp.

– Bút pháp khắc hoạ: được khắc họa qua cách miêu tả trực tiếp bằng những cảm nhận của nhân vật trữ tình khi bắt gặp ánh sáng của lí tưởng hoặc những lời ước nguyện, lời thề quyết tâm chiến đấu vì lí tưởng chung. Bài thơ làm hiện lên chân dung của một cái “tôi” chiến sĩ không cách biệt, trốn tránh cuộc đời như cái “tôi” thơ mới mà trẻ trung, hăm hở, nhiệt huyết, tràn đầy tình yêu, niềm say mê với lí tưởng cộng sản, sống có trách nhiệm với cuộc đời, với nhân dân đau khổ bị áp bức, với cuộc đấu chung của dân tộc.

4. Điểm tương đồng và khác biệt ở hình tượng người chiến sĩ trong hai bài thơ

d1. Điểm tương đồng: cả hai bài thơ đều tập trung khắc họa hình tượng người chiến sĩ cách mạng, những người con ưu tú nhất của lịch sử dân tộc có tâm hồn cao đẹp, có lí tưởng sống nhân đạo, chất thi sĩ và chiến sĩ hoà quyện trong tâm hồn, lí tưởng của họ.

d 2. Điểm khác biệt:

– Ở “Chiều tối” là vẻ đẹp của người chiến sĩ yêu thiên nhiên, gắn bó với cuộc sống, một hồn thơ luôn hướng về sự sống và ánh sáng ở những thời điểm thử thách gay go nhất trên hành trình cách mạng. Vẻ đẹp tâm hồn con người được thể hiện qua bút pháp gợi tả với những hình ảnh đậm màu sắc cổ điển.

– Còn ở “Từ ấy”, đó là người chiến sĩ có tình yêu mãnh liệt với ý tưởng, có lẽ sống cao đẹp, sẵn sàng hi sinh, dâng hiến vì cuộc đấu tranh của dân tộc, giống nòi. Nhân vật trữ tình được khắc hoạ trực tiếp bằng những hình thơ sôi nổi, trẻ trung, tươi mới.

Xem thêm :

  1. Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về Chiều tối– Hồ Chí Minh
  2. Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về Từ ấy– Tố Hữu
  3. Dạng đề so sánh văn học

Đề thi cuối năm ngữ văn 11

ĐỀ THI HẾT HỌC KÌ II Năm học 2015 – 2016. Đề đọc hiểu : Tiếng mẹ đẻ – nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức, Cảm nhận  bài thơ Chiều tối (Mộ) của Hồ Chí Minh

Môn: Ngữ văn Thời gian làm bài: 120 phút

PHẦN I. ĐỌC – HIỂU (3 điểm)

Đọc đoạn văn  dưới đây và trả lời câu hỏi:

           “Tiếng nói là người bảo vệ quý báu nhất nền độc lập của các dân tộc, là yếu tố quan trọng nhất giúp giải phóng các dân tộc bị thống trị. Nếu người An Nam hãnh diện giữ gìn tiếng nói của mình và ra sức làm cho tiếng nói ấy phong phú hơn để có khả năng phổ biến tại An Nam các học thuyết đạo đức và khoa học của châu Âu, việc giải phóng dân tộc An Nam chỉ còn là vấn đề thời gian. Bất cứ người An Nam nào vứt bỏ tiếng nói của mình thì cũng đương nhiên khước từ niềm hi vọng giải phóng giống nòi… Vì thế, đối với người An Nam chúng ta, từ chối tiếng mẹ đẻ, đồng nghĩa với từ chối sự tự do của mình”

(Nguyễn An Ninh, Tiếng mẹ đẻ – nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức, Ngữ văn 11 tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam, 2006)

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt và thao tác lập luận được sử dung trong đoạn trích.

Câu 2. Chỉ ra những đặc điểm của phong cách ngôn ngữ chính luận trong đoạn trích.

Câu 3. Nội dung trong đoạn văn bản là gì? Theo tác giả tiếng Việt có vai trò quan trọng với người An Nam như thế nào?

PHẦN II. LÀM VĂN

Câu 1. (3 điểm)

Hiện có khoảng 70 – 80% trẻ em trong độ tuổi từ 10 – 15 ham thích game online và hiện tại, số người chơi game, nghiện game không hề suy giảm…

Theo các chuyên gia, chứng nghiện game kéo theo những hệ lụy xã hội nghiêm trọng như đánh nhau, bỏ học, sống không mục đích, ảo tưởng, tự tử và thậm chí là giết người… Xuất phát từ nhu cầu giải trí nhưng thế giới ảo này lại đang dần biến nhiều thanh thiếu nhi, giới trẻ thành những con nghiện.”

(http:// vtv.vn/ doi-song)

Anh/chị hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ của mình về ảnh hưởng của game online đối với giới trẻ hiện nay.

Câu 2. (4 điểm)Cảm nhận của anh/chị về bức tranh thiên nhiên và sự sống con người trên đường chuyển lao qua cảm nhận của người tù cách mạng qua bài thơ Chiều tối (Mộ) của Hồ Chí Minh

Phiên âm

Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ

Cô vân mạn mạn độ thiên không

Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc

Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng

 

Dịch nghĩa:

Chim mỏi về rừng tìm cây ngủ

Chòm mây lẻ trôi lững lờ trên tầng không;

Thiếu nữ xóm núi xay ngô,

Ngô vừa xay xong, lò than đã đỏ.

Dịch thơ

Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ

Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không

Cô em xóm núi xay ngô tối

Xay hết lò than đã rực hồng

(SGK  Ngữ văn 11 tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam, 2006)

__________________________________________Hết______________________________________________

 

ĐÁP ÁN VÀ HƯỚNG DẪN CHẤM

Phần 1: Đọc hiểu (3 điểm)

NỘI DUNG CẦN ĐẠT Điểm
Câu 1. Phương thức biểu đạt: Nghị luận/ Phương thức nghị luân/ Phương thức biểu đạt nghị luận (0.5đ)

Văn bản có sự kết hợp của các thao tác lập luận: Bình luận (0.5đ)

1 đ
Câu 2. Các yếu tố của Phong cách ngôn ngữ chính luận

– Về nội dung: Việc giữ gìn và phát huy tiếng nói của dân tộc có vai trò quan trong trong việc giải phóng giống nói. Vấn đề này có tính chất xã hội(0.5 đ)

– Các yếu tố ngôn ngữ: Sử dụng nhóm từ ngữ thuộc phong cách ngôn ngữ chính luận: dân tộc, giải phóng, thống trị, học thuyết khoa học và đạo đức, tự do; sử dụng kiểu câu nêu giả thiết – kết luận, kết hợp thao tác lập luận giải thích và bình luận để làm nổi bật vai trò quan trọng của tiếng nói dân tộc.(0.5 đ)

1 đ
Câu 3. Nội dung của đoạn văn bản: Tiếng nói dân tộc (tiếng Việt) có vai trò quan trọng trong việc giải phóng giống nòi. (0.5 đ)

Tiếng Việt có khả năng phổ biến tại An Nam các học thuyết đạo đức và khoa học của châu Âu, việc giải phóng dân tộc An Nam chỉ còn là vấn đề thời gian.Vì thế, đối với người An Nam chúng ta, từ chối tiếng mẹ đẻ, đồng nghĩa với từ chối sự tự do của mình.(0.5đ)

1 đ

 

Phần 2: Làm văn (7 điểm)

Nội dung Điểm
Yêu cầu chung:  Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng đảm bảo được bố cục của một bài văn nghị luận, biết vận dụng các thao tác lập luận để trình bày vấn đề một cách sáng rõ, thuyết phục; khuyến khích điểm cho những bài viết sáng tạo, lập luận sắc bén, tư duy độc lập, mạch lạc rõ ràng.  
Câu 1 (3 đ)
a. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận 0,50

Ảnh hưởng của game nói chung và game online nói riêng đối với giới trẻ đặc biệt là học sinh, sinh viên.

0,5
b. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; thể hiện sự hiểu biết sâu sắc về vấn đề cần nghị luận và vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng

+ Trình bày hiểu biết về game online: là sản phẩm của trí tuệ và công nghệ có sự kết nối tương tác người chơi thông qua internet, trò chơi giải trí phổ biến được giới trẻ yêu thích, bên cạnh những lợi ích mà game online mang lại còn có cả những ảnh hưởng tiêu cực tới người chơi. Hiện tượng nghiện game online đã được bàn luận nhiều lần và sự gia tăng ở giới trẻ, đặc biệt là học sinh, sinh viên. (1 đ)

+ Bàn luận mở rộng: Học sinh nêu lên hiểu biết của bản thân về thực trạng của chơi game online của giới trẻ hiện nay, giải thích nguyên nhân và hậu quả. (0.5 đ)

+ Bài học nhận thức và hành động: Học sinh rút ra được ý kiến đánh giá của mình về game online đối với giới trẻ thông qua liên hệ thực tế từ đó đề xuất  những giải pháp về hành động. (0.5 đ)

2 đ

 

 

 

 

 

 

 

 

c. Chính tả, dùng từ, đặt câu. Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu. 0.5
Câu 2 (4 đ)
a. Xác định được vấn đề cần nghị luận: Vẻ đẹp bức tranh thiên nhiên và sự sống con người trên đường chuyển lao qua sự cảm nhận của người tù cách mạng 0.5
b. Học sinh có thể trình bày theo các cách khác nhau nhưng cần đảm bảo việc triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; thể hiện sự hiểu biết sâu sắc về vấn đề cần nghị luận và vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng. Phần mở bài nêu lên được vấn đề cần nghị luận. Phần thân bài đảm bảo nội dung kiến thức theo yêu cầu của đề bài. Phần kết bài tổng kết được vấn đề nghị luận.

– Giới thiệu được khái quát về tác giả, xuất xứ tác phẩm và vấn đề cần nghị luận(0.5 đ)

– Cảm nhận về bức tranh thiên nhiên và sự sống con người được thể hiện trong bài thơ

+ Hai câu thơ đầu: Hình ảnh thiên nhiên được cảm nhận qua hệ thống hình ảnh đậm màu sắc cổ điển: hình ảnh cánh chim về tổ, chòm mây vừa mang ý nghĩa không gian lại chứa cả ý niệm thời gian, gợi nhiều hơn tả. Bức tranh thiên nhiên đẹp, tĩnh lặng nhưng đượm buồn, thể hiện sự nhạy cảm trước vẻ đẹp thiên nhiên, phong thái ung dung, tự tại của người tù trên đường chuyển lao nhưng cũng ẩn chứa tâm sự sâu kín của một của người chiến sĩ cách mạng nơi đất khách quê người.(1 đ)

+ Hai câu thơ sau: Cuộc sống con người bình dị nơi xóm núi ven đường được miêu tả qua hình ảnh lao động khỏe khắn của cô gái xay ngô tối bừng sáng trong ánh sáng và hơi ấm của bếp lửa. Chữ Hồng – nhãn tự của bài thơ chứa đựng nhiều ý nghĩa: xua đi bóng tối, sự lạnh lẽo, tỏa sáng cho bức tranh Chiều tối, thể hiện sự vận động của mạch cảm xúc trong bài: từ bóng tối đến ánh sáng, từ nỗi buồn đến niềm vui… Hai câu thơ mang vẻ đẹp của tinh thần hiện đại, niềm tin và tinh thần lạc quan cách mạng đồng thời thể hiện vẻ đẹp trữ tình trong tâm hồn của Bác, luôn rộng mở lòng mình với thiên nhiên và con người.(1 đ)

– Đánh giá thành công về nội dung và nghệ thuật: Bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Hồ Chí Minh, là sự hòa quyện giữa tâm hồn nghệ sĩ với tinh thần của người chiến sĩ cách mạng, là sự kết hợp hài hòa giữa màu sắc cổ điển và tinh thần hiện đại, giữa chất thép và chất tình. (0.5 đ)

3 đ
c. Chính tả, dùng từ, đặt câu. Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu. 0.5

Xem thêm :

  1. Tuyển tập đề thi Ngữ văn khối 10
  2. Tuyển tập đề thi Ngữ văn khối 11
  3. Tuyển tập đề thi Ngữ văn khối 12
  4. Tuyển tập đề thi , soạn bài Chiều tối Hồ Chí Minh

Những nội dung Ngữ văn 11 có liên quan đến kì thi THPT quốc gia

Những nội dung  Ngữ văn 11 có liên quan đến kì thi THPT quốc gia

Lên lớp 11 cần học những gì ? Bài viết dưới đây Thống kê những bài quan trọng, những nội dung môn Ngữ văn lớp 11 có liên quan trực tiếp đến kì thi THPT Quốc gia. Hướng dẫn ôn tập môn văn lớp 11

Kì thi THPT Quốc gia chủ yếu vào chương trình lớp 12. Tuy nhiên có một số kiến thức của lớp 11 , các em không thể bỏ qua .Admin định hướng cho các em ôn tập phần Ngữ văn 11 như sau :Đề thi THPT Quốc gia 2 năm gần đây có 2 phần :

+ Đọc hiểu

+ Tạo lập văn bản : có 1 câu nghị luận văn học và 1 câu nghị luận xã hội.

Trong chương trình lớp 11, các em cần ưu tiên học những bài quan trọng , cụ thể :

(Các em bấm vào link  để xem chi tiết)

1.Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân :

Bài này có liên quan đến phần đọc hiểu văn bản.

2.  Phân tích đề, lập dàn ý bài văn nghị luận :

Bài này rèn kĩ năng  Phân tích đề, lập dàn ý bài văn nghị luận , phần tạo lập văn bản.

3.  Thao tác lập luận phân tích :

Có liên quan đến câu hỏi xác định thao tác lập luận trong đề đọc hiểu. Bài này còn rèn kĩ năng lập luận trong bài văn nghị luận.

4. Thực hành về thành ngữ, điển cố:

Có liên quan đến câu hỏi đọc hiểu, phân tích – cảm nhận tác phẩm ( đặc biệt là thành ngữ )

5. Thực hành nghĩa của từ trong sử dụng :

Bài này rèn kĩ năng đọc hiểu văn bản. Câu hỏi đọc hiểu có thể yêu cầu học sinh giải thích nghĩa của từ trong ngữ cảnh, hoặc lựa chọn từ ngữ phù hợp để điền vào dấu (…) trong để  bài.

6. Thao tác lập luận so sánh :

Có liên quan đến câu hỏi xác định thao tác lập luận trong đề đọc hiểu. Bài này còn rèn kĩ năng lập luận trong bài văn nghị luận.

7. Hai đứa trẻ (Thạch Lam) :

Có trong chương trình thi THPT quốc gia. Nội dung cần nắm vững : Tâm trạng nhân vật Liên, Phân tích cảnh đợi tàu,Bức tranh thiên nhiên và bức tranh cuộc sống nơi phố huyện nghèo, Nghệ thuật miêu tả của nhà văn Thạch Lam.

8. Ngữ cảnh

9. Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân) :

Có trong chương trình thi THPT quốc gia : Nhân vật Huấn Cao, Cảnh cho chữ, Đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm.

10. Phong cách ngôn ngữ báo chí :

Có liên quan đến câu hỏi : Xác định phong cách ngôn ngữ ” trong đề đọc hiểu.

11. Chí Phèo (Nam Cao):

Có trong chương trình thi THPT quốc gia : Nhân vật Chí Phèo : Diễn biến tâm trạng và hành động, tiếng chửi đầu truyện, Hình ảnh bát cháo hành, cái lò gạch cũ, Đắc sắc nghệ thuật

12. Thực hành lựa chọn các bộ phận trong câu:

Có liên quan đến câu hỏi trong đề đọc hiểu.

HỌC KỲ 2

1.  Nghĩa của câu :

Có liên quan đến câu hỏi trong đề đọc hiểu : Cần nắm được hai thành phần nghĩa của câu: Nghĩa sự việc và nghĩa tình thái trong câu

2.  Vội vàng:

Có trong chương trình thi THPT quốc gia : Cần nắm được niềm khao khát sống mãnh liệt, sống hết mìn và quan niệm về thời gian, tuổi trẻ và hạnh phúc của Xuân Diệu, Những sáng tạo về nghệ thuật.

3. Tràng Giang:

Có trong chương trình thi THPT quốc gia : Phân tích được bài thơ

4.  Thao tác lập luận bác bỏ:

Có liên quan đến câu hỏi xác định thao tác lập luận trong đề đọc hiểu. Bài này còn rèn kĩ năng lập luận trong bài văn nghị luận.

5.  Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử):

Có trong chương trình thi THPT quốc gia, : Bức tranh thiên nhiên Xứ Huế và tâm trạng của thi nhân, Bút pháp nghệ thuật độc đáo của Hàn Mặc Tử

6. Chiều tối (Hồ Chí Minh) :

Bài này khả năng thi thấp.

7. Từ ấy (Tố Hữu):

Bài này khả năng thi thấp. Nếu thi vào tác giả Tố Hữu thì bài Việt Bắc xác suất thi nhiều hơn bài Từ ấy.

8.Đặc điểm của loại hình tiếng Việt:

Có liên quan đến câu hỏi trong đề đọc hiểu. Cần nắm được 3 đặc điểm của tiếng Việt về mặt loại hình

9. Thao tác lập luận bình luận.

Có liên quan đến câu hỏi xác định thao tác lập luận trong đề đọc hiểu. Bài này còn rèn kĩ năng lập luận trong bài văn nghị luận.

10. Phong cách ngôn ngữ chính luận.

Có liên quan đến câu hỏi :” Xác định phong cách ngôn ngữ ” trong đề đọc hiểu.
Trên đây là những bài trọng tâm lớp 11, có liên quan đến kì thi THPT  Quốc gia. Những bài khác các em vẫn học để  kiểm tra ở lớp .

Xem thêm :

Những nội dung Ngữ văn 10 có liên quan đến kì thi THPT Quốc Gia

Tuyển tập đề thi ngữ văn khối 11

Đề thi thử THPT quốc gia ngữ văn tỉnh Bắc Ninh

Giới thiệu với thầy cô và các em học sinh đề thi thử THPT quốc gia môn ngữ văn của Sở GD ĐT tỉnh Bắc Ninh

Thời gian làm bài: 180 phút

Đề thi được soạn theo cấu trúc cũ, các em bấm vào link này để  cập nhật những đề thi theo cấu trúc mới nhất của Bộ : Đề thi thử THPT Quốc gia môn văn có đáp án

Câu I (2,0 điểm)

Đời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận.

(Một thời đại trong thi ca- Hoài Thanh, Ngữ văn 11, Tập hai, NXB Giáo dục, tr.102)

Đọc đoạn văn trên và thực hiện các yêu cầu sau:

1. Đoạn văn có gì đặc sắc. (0,5 điểm)

2. Chủ đề bao trùm của đoạn văn là gì? Chủ đề đó được triển khai thành mấy phần? (0,5 điểm)

3. Văn phong tác giả trong đoạn văn có gì đáng chú ý? (1,0 điểm)

Câu II (3,0 điểm)

Có người khuyên: Tuổi trẻ cần trong sạch từ thể chất đến tinh thần, từ lời nói đến việc làm.

Anh/Chị có suy nghĩ gì về lời khuyên ấy?

Hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày chủ kiến của mình?

Câu III (5,0 điểm)

Bàn về thơ Hồ Chí Minh có ý kiến cho rằng: Thơ ca thể hiện sâu sắc và tinh tế vẻ đẹp tâm hồn của Hồ Chí Minh.

( Sách Ngữ văn 12,Tập một, NXB Giáo dục, tr 28).

Lại có ý kiến khác nhấn mạnh: Đây là bằng chứng của một tài thơ lớn, một tâm hồn nghệ sĩ phong phú, tinh tế trước vẻ đẹp của tạo vật và tình người.

( Sách Ngữ văn 12 Nâng cao, Tập một, NXB Giáo dục, tr 34).

Từ cảm nhận của mình về bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh, anh/chị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.

———- Hết ———

SỞ GD & ĐT BẮC NINH TRƯỜNG THPT HÀN THUYÊN

Câu  I

Đọc đoạn văn trích trong bài Một thời đại trong thi ca của Hoài Thanh và thực hiện các yêu cầu 2.0

Yêu cầu chung

– Câu này nhằm kiểm tra năng lực đọc hiểu văn bản của thí sinh; đòi hỏi thí sinh phải huy động kiến thức và kĩ năng đọc hiểu một văn bản văn học thuộc thể văn xuôi nghị luận để làm bài.

– Để không yêu cầu đọc hiểu mọi phương diện của đoạn trích, chỉ kiểm tra một số khía cạnh. Cảm nhận của học sinh có thể phong phú nhưng cần nắm bắt được dụng ý chính của tác giả, hiểu được cấu tứ và văn phong của tác giả.

Yêu cầu cụ thể

1 Đặc sắc của đoạn văn là ở những khái quát rất chính xác, súc tích lại được viết bằng một lối văn giàu hình ảnh và nhịp điệu. Điều đó khiến cho văn phê bình mà chẳng khác gì thơ. 0.5

2 – Chủ đề bao trùm của đoạn văn là luận giải về lỗ lực đào sâu mà cũng là trốn chạy vào ý thức cá nhân của thơ mới.

– Chủ đề được triển khai thành hai phần chính: Một là, khái quát về hướng tìm tòi và hệ quả chung; hai là, điểm qua những gương mặt điển hình cùng những lãnh địa riêng tiêu biểu của thơ mới qua một số nhà thơ, để thấy được sự phân hóa đa dạng cùng sự quẩn quanh, bế tắc của ý thức cá nhân. 0.5

3 Đoạn văn sử dụng ngôn từ phi khái niệm (không phải là những khái niệm trừu tượng) dung dị, dễ hiểu mà vẫn súc tích, diễn đạt được bản chất của đối tượng. Cách cấu tứ của tác giả rất độc đáo: tạo ra hình ảnh một độc giả cứ theo chân của những nhà thơ tiêu biểu bước vào cõi riêng của mỗi người. Đặc biệt nhịp điệu câu văn hết sức mềm mại, uyển chuyển, phong phú, linh hoạt. 1.0

II Bày tỏ suy nghĩ, ý kiến của mình về lời khuyên: “Tuổi trẻ cần trong sạch từ thể chất đến tinh thần, từ lời nói đến việc làm”.

3.0 Yêu cầu chung

– Câu này kiểm tra năng lực viết bài nghị luận xã hội của thí sinh; đòi hỏi thí sinh phải huy động những hiểu biết về đời sống xã hội, kĩ năng tạo lập văn bản và khả năng bày tỏ thái độ và chủ kiến của mình để làm bài.

– Thí sinh có thể làm bài theo nhiều cách khác nhau nhưng phải có lí lẽ và căn cứ xác đáng; được tự do bày tỏ ý kiến của mình, nhưng phải có thái độ chân thành, nghiêm túc, phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội.

Yêu cầu cụ thể

1 Giải thích ý kiến: 0.5

“Tuổi trẻ cần trong sạch từ thể chất đến tinh thần, từ lời nói đến việc làm”.

– Tuổi trẻ: lứa tuổi đang phát triển cả về thể chất lẫn tinh thần, tuổi năng động, say mê học hỏi và khát khao lý tưởng, song cũng rất dễ chao đảo, dễ bị ảnh hưởng bởi những tư tưởng quá khích, những thú vui không lành mạnh. Tuổi trẻ là thế hệ nối tiếp là chủ nhân tương lai của gia đình, xã hội. Lời khuyên nhấn mạnh đến tính thống nhất, cân bằng trong quá trình phát triển, lớn lên theo thời gian của mỗi con người.

– Trong sạch từ thể chất đến tinh thần, từ lời nói đến việc làm: Về thể chất phải sống khoa học, lành mạnh, điều độ; Về tinh thần cần siêng năng học tập, rèn luyện, tu dưỡng nâng cao kiến thức, nhận thức, làm chủ suy nghĩ, hành vi. 2 Bàn luận 1.5

– Thí sinh cần làm rõ lời khuyên trên có ý nghĩa như thế nào: Tuổi trẻ năng động, 2/3 sáng tạo khao khát lý tưởng nhưng dễ bị chao đảo, dễ bị ảnh hưởng tiêu cực nên cần thiết phải trong sạch từ thể chất đến tinh thần, từ lời nói đến việc làm. Nếu không trong sạch từ thể chất đến tinh thần, từ lời nói đến việc làm sẽ dễ dàng rơi vào mâu thuẫn lớn dẫn đến những kết quả tồi tệ.

– Thí sinh có thể có những kiến giải khác nhau, nhưng dù trình bày thế nào cũng phải có lý lẽ xác đáng, có thái độ bàn luận nghiêm túc. 3 Bày tỏ quan điểm của bản thân 1.0

– Từ nhận thức và trải nghiệm riêng thí sinh bày tỏ quan điểm của mình về những yêu cầu đối với tuổi trẻ, về sự cần thiết phải giữ được sự cân bằng, trong sạch từ thể chất đến tinh thần.

– Đánh giá cao khi thí sinh làm rõ được vai trò, tác dụng, hệ quả của sự cân bằng và mất cân bằng giữa thể chất và tinh thần, giữa lời nói và việc làm.

III Cảm nhận về bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh và làm sáng tỏ ý kiến .5.0

Yêu cầu chung Câu này kiểm tra năng lực viết bài nghị luận văn học của thí sinh; đòi hỏi thí sinh phải huy động kiến thức về tác phẩm văn học, lí luận văn học, kĩ năng tạo lập văn bản và khả năng cảm nhận văn chương của mình để làm bài.

– Thí sinh có thể cảm nhận và kiến giải theo những cách khác nhau, nhưng phải có lí lẽ, có căn cứ xác đáng, không được thoát li văn bản tác phẩm. Yêu cầu cụ thể 1 Vài nét về tác giả, tác phẩm 0.5

– Hồ Chí Minh là nhà yêu nước, nhà cách mạng vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Người là anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới. Đóng góp to lớn nhất của Người là sự nghiệp cách mạng. Bên cạnh Hồ Chí Minh – nhà cách mạng, còn có Hồ Chí Minh – nhà văn, nhà thơ, nhà văn hóa lớn.

– Chiều tối là bài thơ tiêu biểu cho thơ trữ tình Hồ Chí Minh: Nhà thơ không trực tiếp bộc lộ cảm nghĩ nội tâm mà biểu hiện qua cách cảm nhận hình ảnh, cảnh vật khách quan. Bài thơ thể hiện được vẻ đẹp tâm hồn và tài năng thơ Hồ Chí Minh.

2 Giải thích ý kiến 0.5

– Ý kiến thứ nhất: Thơ ca thể hiện sâu sắc và tinh tế vẻ đẹp tâm hồn của Hồ Chí Minh. Qua những bức tranh thơ đẹp đẽ, sinh động thấy được những nét đẹp tâm hồn của một nhà thơ chiến sĩ. Đó là lòng yêu thiên nhiên, yêu con người, yêu cuộc sống, phong thái ung dung tự chủ và niềm lạc quan, nghị lực kiên cường vượt lên trên mọi hoàn cảnh khắc nghiệt, tối tăm của cuộc sống.

– Ý kiến thứ hai: Đây là bằng chứng của một tài thơ lớn, một tâm hồn nghệ sĩ phong phú, tinh tế trước vẻ đẹp của tạo vật và tình người. Thơ Hồ Chí Minh có thể chia làm hai loại, mỗi loại có những nét phong cách riêng. Những bài thơ thơ tuyên truyền cách mạng hình thức, lời lẽ giản dị, mộc mạc dễ nhớ, mang màu sắc dân gian hiện đại. Những bài thơ viết theo cảm hứng thẩm mĩ hầu hết là thơ tứ tuyệt cổ điển, có sự kết hợp hài hòa giữa màu sắc cổ điển với bút pháp hiện đại. 3 Cảm nhận khái quát về bài thơ Chiều tối 1.0

Thí sinh có thể có những cảm nhận phong phú, nhưng cần bám sát các ý kiến nêu trong đề. Dưới đây là những ý tham khảo:

– Bài thơ có vẻ đẹp sinh động của bức tranh thiên nhiên (hai câu đầu) và bức tranh đời sống con người (hai câu sau).

– Qua bức tranh cảnh vật thấy được những nét đẹp tâm hồn của nhà thơ: Lòng yêu thiên nhiên, yêu con người, yêu cuộc sống, phong thái ung dung, nghị lực phi thường vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt..

– Bài thơ mang vẻ đẹp cổ điển: thể thơ tứ tuyệt hàm súc, hình ảnh đậm tính ước lệ, tượng trưng, bút pháp gợi tả, chấm phá. Tính hiện đại thể hiện ở việc miêu tả con người như là trung tâm của bức tranh cuộc sống, mạch thơ có sự vận động hướng về sự sống và ánh sáng.

Chứng minh ý kiến 3.0

Hai ý kiến khác nhau nhưng không đối lập mà bổ sung cho nhau, hợp thành một cái nhìn khái quát về thơ Hồ Chí Minh. Từ bài thơ Chiều tối thí sinh có thể trình bày cảm nhận và làm sáng tỏ một cách linh hoạt với những cách thể hiện cảm nhận khác nhau. Dưới đây là những ý tham khảo:

– Ý kiến thứ nhất: Thơ ca thể hiện sâu sắc và tinh tế vẻ đẹp tâm hồn của Hồ Chí Minh. Bài thơ Chiều tối trước hết là một bức tranh phong cảnh: cảnh rừng núi vào lúc chiều tối, ánh sáng ban ngày lụi dần đến khi tắt hẳn; bút pháp diễn tả rất chân thật, tự nhiên. Cảnh vật mang đậm tính ước lệ của thơ xưa: buổi chiều chim bay về tổ, trời tối dần. Màn đêm buông xuống người ngắm cảnh hướng về phía có ánh sáng – không phải là ánh sáng thiên nhiên mà là ánh sáng của cuộc sống con người. Nơi xóm núi cô gái nhà ai đang xay ngô. Nhà thơ không nói trời tối mà lấy ánh sáng để tả bóng tối. Ngọn lửa đỏ rực lên nghĩa là trời đã tối hẳn. Nhưng bài thơ không chỉ tả cảnh thiên nhiên. Cần thấy ở bài thơ ngoại cảnh cũng là tâm cảnh. Hai câu đầu phảng phất buồn phần nào thể hiện tâm trạng người tù phải trải qua một ngày đi đường mệt mỏi, đường xa, đi từ lúc gà gáy lần thứ nhất, đêm còn tối đến khi chiều tối vẫn còn phải đi giữa rừng hoang xóm vắng nơi đất khách quê người. Nhưng bài thơ không dừng lại ở đấy: giữa núi rừng, một lò lửa rực đỏ, soi sáng một cô gái lao động đang chuẩn bị bữa ăn chiều. Cùng với hình ảnh ấy ta cảm thấy tâm hồn nhà thơ như cũng reo vui cùng ngọn lửa hồng. Người tù bỗng quên đi nỗi cô quạnh, u buồn của cảnh ngộ, cảm thông với niềm vui nho nhỏ của một người dân lao động. Có thể gọi đây là lòng nhân ái đã đạt đến độ quên mình.

– Ý kiến thứ hai: Đây là bằng chứng của một tài thơ lớn, một tâm hồn nghệ sĩ phong phú, tinh tế trước vẻ đẹp của tạo vật và tình người. Bài thơ Chiều tối có vẻ đẹp cổ điển (thể thơ tứ tuyệt hàm súc, bút pháp chấm phá, ước lệ), rất gần gũi với thơ Đường. Thơ nghiêng về cảm hứng trước thiên nhiên, cảnh thơ bao quát rộng lớn, chỉ vài nét chấm phá đã thu được cả linh hồn tạo vật. Nhưng bài thơ cũng rất hiện đại (bút pháp tả thực, hình ảnh bình dị) nếu thơ xưa thường tả cảnh tĩnh thì ở bài thơ lại có sự vận động theo một hướng thống nhất hướng về sự sống, ánh sáng và tương lai.

Lưu ý chung 1. Đây là đáp án mở, thang điểm không quy định chi tiết đối với từng ý nhỏ, chỉ nêu mức điểm của các phần nội dung lớn nhất thiết phải có.

2. Chỉ cho điểm tối đa theo thang điểm với những bài viết đáp ứng đầy đủ những yêu cầu đã nêu ở mỗi câu, đồng thời phải được triển khai chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, có cảm xúc.

3. Khuyến khích những bài viết có sáng tạo. Chấp nhận bài viết không giống đáp án, có những ý ngoài đáp án, nhưng phải có căn cứ xác đáng và lí lẽ thuyết phục.

4. Không cho điểm cao đối với những bài chỉ nêu chung chung, sáo rỗng. 5. Cần trừ điểm đối với những lỗi về hành văn, ngữ pháp và chính tả.

Đề được sưu tầm bởi vanhay.edu.vn

Xem thêm : Bộ đề thi thử THPT Quốc gia môn văn có đáp án

Màu sắc cổ điển và tinh thần hiện đại trong bài thơ “Chiều tối” Hồ Chí Minh

Đề bài : Màu sắc cổ điển và tinh thần hiện đại trong bài thơ “Chiều tối” (“Mộ” – Nhật ký trong tù-) của Hồ Chí Minh?

Định hướng cách làm

Trên cơ sở hiểu biết về phong cách thơ Hồ Chí Minh và bài thơ “Chiều tối” (Mộ), thí sinh cảm nhận được đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của bài thơ, đó là sự kết hợp hài hoà giữa màu sắc cổ điển và tinh thần hiện đại. Bài viết có thể trình bày theo nhiều cách, cần đảm bảo những ý sau:

a) Giới thiệu tác giả, tác phẩm (0,5 điểm)

– Tác giả Hồ Chí Minh:

+ Bậc anh hùng cứu quốc của dân tộc Việt Nam.

+ Là nhà văn hoá lớn, nhà thơ lớn. Người đã để lại một di sản văn học phong phú, đa dạng, trong đó có tập thơ Nhật kí trong tù với nhiều bài thơ rất đặc sắc cả về nội dung lẫn nghệ thuật.

– Tác phẩm: Bài thơ là một trong số 134 bài thơ trong tập Nhật kí trong tù, thể hiện sâu sắc phong cách thơ của Hồ Chí Minh: Đó là sự kết hợp hài hoà giữa màu sắc cổ điển và tinh thần hiện đại.

b) Cảm nhận về màu sắc cổ điển và tinh thần hiện đại trong bài thơ (4 điểm)

– Màu sắc cổ điển:

+ Đề tài: Bài thơ là bức tranh thiên nhiên và bức tranh cuộc sống của con người lúc chiều tối. Đây là đề tài quen thuộc của thơ ca cổ.

+ Hình ảnh thơ: tác phẩm sử dụng những thi liệu quen thuộc trong thơ ca cổ với ý nghĩa tượng trưng tạo nên tính chất hàm súc cho bài thơ.

  • Hình ảnh cánh chim: biểu tượng cho không gian lẫn thời gian, là tín hiệu cho buổi hoàng hôn.
  • Hình ảnh chòm mây: biểu tượng cho không gian cao rộng của bầu trời.

* Hình ảnh đơn giản mà vẽ nên được không gian rừng núi lúc chiều tối âm u, vắng lặng, chứa đựng trong đó bao nỗi niềm của người tù trên đất khách quê người: nỗi cô đơn, niềm khao khát một mái nhà, một tổ ấm. Đó là nghệ thuật lấy cảnh để nói tình.

+ Thể thơ tứ tuyệt, lời ít ý nhiều, để lại nhiều dư ba.

+ Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình: chỉ bằng vài nét chấm phá mà ghi lại linh hồn của tạo vật và gợi được nỗi niềm của nhà thơ.

– Tinh thần hiện đại:

+ Hình ảnh thơ: cánh chim, chòm mây, người con gái xay ngô là những hình ảnh của hiện thực.

. Cánh chim mỏi: chữ “mỏi” thể hiện sự cảm nhận rất sâu cái bên trong của sự vật. Đó là cánh chim bay theo cái nhịp điệu bất tận của cuộc sống: sáng: bay đi kiếm ăn, tối: bay về tìm chốn ngủ. Đó là cánh chim của tự do, của ước mơ sum họp. Đấy cũng là niềm khao khát của người tù.

. Chòm mây cô đơn trôi chậm chạp giữa bầu trời là hình ảnh ẩn dụ về người tù đang bị giải đi trên đường xa vạn dặm chưa biết đâu là điểm dừng. Thế nhưng phong thái của người tù vẫn rất ung dung, tự tại, phong thái của một chiến sĩ cách mạng kiên cường, luôn làm chủ hoàn cảnh.

. Hình ảnh người con gái xóm núi xay ngô tối là hình ảnh của con người lao động, hiện lên sinh động, khỏe khoắn, tích cực, là trung tâm của bức tranh “Chiều tối”.

Cùng với nhịp quay của cối xay ngô và sự rực hồng của bếp lửa, hình ảnh này đã xua tan đi bóng tối, giá rét, mang đến cho người tù niềm vui của sự sống, của hơi ấm.

* Hình ảnh thơ giản dị mà chứa đựng được những tình cảm rất đỗi đời thường và một nghị lực phi thường của người chiến sĩ cách mạng Hồ Chí Minh.

+ Sự vận động của tứ thơ: đi từ bóng tối ra ánh sáng, từ nỗi buồn đến niềm vui. Từ đó thể hiện được tinh thần lạc quan, ý chí kiên cường của Bác.

+ Tâm hồn tư duy:

  • Yêu cảnh vật, yêu cuộc sống “nâng niu tất cả, chỉ quên mình”. (Tố Hữu).
  • Đồng cảm, chia sẻ với muôn loài, đặc biệt là nỗi vất vả của những con người lao động. Đó cũng là tình cảm quốc tế vô sản trong sáng mà Bác đã giành cho nhân dân Trung Hoa.
  • Giọng thơ khoẻ khoắn biểu hiện một tâm hồn lạc quan, giàu nghị lực.

* Đó là một tâm hồn nghệ sĩ mà rất chiến sĩ.

c. Đánh giá chung: (0,5 điểm):

+ Bài thơ thông qua bức tranh tả cảnh đã làm toát lên hình tượng nhân vật trữ tình: hình ảnh người tù Hồ Chí Minh với lòng yêu thương rộng lớn, luôn nâng niu, trân trọng mọi sự sống trên đời; ý chí bất khuất, kiên cường, tâm hồn lạc quan luôn hướng về tương lai, ánh sáng.

+ Nội dung ấy được thể hiện bằng một hình thức nghệ thuật vừa đậm đà màu sắc cổ điển, vừa phơi phới tinh thần hiện đại, tạo nên vẻ đẹp đặc sắc cho bài thơ.

+ Bài học cho bản thân

(Tài liệu sưu tầm )

Xem thêm : nghị luận xã hội về bài chiều tối hồ chí minh

Xem thêm: Tuyển tập đề thi về các tác phẩm lớp 11

Chiều tối Hồ Chí Minh (Hướng dẫn ôn tập)

Hướng dẫn ôn tập bài thơ ” Chiều tối ” của Hồ Chí Minh. Các câu hỏi về bài thơ “Chiều tối” của Hồ Chí Minh

Câu hỏi về bài chiều tối:

Câu 1: Hoàn cảnh ra đời bài thơ

Câu 2: Phân tích bài thơ ” chiều tối” Hồ Chí Minh”

Câu 3: Vẻ đẹp cổ điển và hiện đại của bài thơ ” chiều tối” Hồ Chí Minh”

Câu 4: Phân tích vẻ đẹp tâm hồn của tác giả trong bài thơ Chiều tối,  qua đó bàn về ý chí và nghị lực của con người trong cuộc sống

Đáp án:

Câu 1:“Nhật ký trong tù ” của Hồ Chí Minh được viết từ 2/8/1942 đến 10/9/1943 khi Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam một cách vô cớ, đầy đoạ khắp các nhà lao tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc.

Bài thơ được sáng tác khi Bác bị giải từ nhà lao Tĩnh Tây đến nhà lao Thiên Bảo.

Câu 2:

Bài viết tham khảo:

Nhật kí trong tù (1942 – 1943) tỏa sáng tâm hồn cao đẹp của người chiến sĩ cộng sản vĩ đại Hồ Chí Minh. Tâm hồn tha thiết yêu con người, đất nước bao nhiêu thì cũng thiết tha yêu thiên nhiên cuộc sống bấy nhiêu. Tâm hồn ấy trong những tháng ngày tù đày tăm tối luôn hướng về tự do, ánh sáng, sự sống và tương lai. Trên đường bị giải đi trong chiều buồn ở tỉnh Quảng Tây – Trung Quốc lòng nhà thơ – người tù bỗng ấm lên và phấn chấn vui vẻ trước thiên nhiên đẹp và hình ảnh cuộc sống bình dị ấm cúng. Cảm xúc nhà thơ viết bài thơ Mộ. Bài thơ được sáng tác cuối thu 1942.

 

Bức tranh chiều tối được nhìn qua cặp mắt của người tù tay đeo gông chân vướng xiềng :
“Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ

Cô vân mạn mạn độ thiên không.”

Dịch thơ:

“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ,

Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không.”

Buổi chiều thường là lúc đoàn tụ, nhưng cũng là khi con người ta thấy vô cùng cô đơn nếu không có một chốn để  về. Cánh chim mỏi sau một ngày kiếm ăn cũng đã bay về tổ của mình. Trên không trung chỉ còn lững lờ một chòm mây. Giữa thiên nhiên bao la hùng vĩ, con người và cảnh vật đều như dừng lại, chỉ có chòm mây ấy vẫn nhẹ nhàng trôi, càng làm nổi bật lên sự yên ắng, êm ả của buổi chiều tối nơi rừng núi. Chòm mây ấy cũng giống như Bác, đang trong tình cảnh tù tội, vẫn phải cô độc bước đi. Chòm mây cô đơn, lặng lẽ, Bác cũng lặng lẽ, cô đơn. Tuy thế, phải là một người có lòng yêu thiên nhiên, phải có một tâm thái ung dung, bình tĩnh, lạc quan, vượt lên mọi gông cùm về thể xác để ngắm thiên nhiên, hòa mình với thiên nhiên như thế. Thân xác mỏi rã rời vì phải đi cả ngày đường vất vả, nhưng Bác vẫn dõi mắt theo cánh chim về tổ, tầng mây lững lờ trôi lúc chiều về.

Tuy chỉ hai câu thơ bảy chữ, nhưng cũng đã khiến cho người đọc tưởng tượng ra được cảnh chiều muộn nơi rùng núi thật mênh mông, âm u, vắng vẻ, quạnh quẽ. Đồng thời, cũng nói lên niềm mong ước quay trở về với quê hương, ước mong được tự do như đám mây kia.

Tóm lại, hai câu thơ gợi tả cảnh thiên nhiên đẹp mà buồn, vì ‘‘người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”

Buồn vì xa Tổ quốc, buồn vì bị bắt tù oan, buồn vì mất tự do không biết đến bao giờ. Nhưng trước vẻ đẹp của cảnh ấy lòng người ít nhiều cũng tìm được niềm vui thư thái.

Điểm đặc sắc nghệ thuật của bài thơ là chỉ miêu tả không gian với hai hình ảnh đang vận động: cánh chim bay và chòm mây trôi nhưng diễn tả được sự luân chuyển của thời gian: chiều đang trôi chầm chậm về đêm.

Trong khung cảnh thiên nhiên mênh mông, đượm nét buồn lúc chiều muộn nơi rừng núi, bỗng xuất hiện con người:

“Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,

Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng.”

Dịch thơ:

“Cô em xóm núi xay ngô tối,

Xay hết, lò than đã rực hồng.”

Giữa cảnh buồn của thiên nhiên như trong thơ cổ, cô sơn nữ hiện lên như  một điểm sáng, làm cho cả bức tranh trở nên sinh động, vui tươi hơn. Đó chính là nét cố điển mà hiện đại trong thơ của Hồ Chí Minh. Bức tranh vừa có người, vừa có hoạt động khỏe khoắn của con người trong đó. Đó chính là nét đẹp, nét đáng quý của người dân lao động. Cô gái đang miệt mài xay ngô bên lò than rực hồng để chuẩn bị bữa tối. Ở đây, bản dịch thơ không đảm bảo được nghệ thuật của bản chữ Hán. Bác đã lặp lại hai chữ “bao túc” ở cuối câu thứ ba và đầu câu thứ tư, như những vòng xay nối tiếp nhau của cô gái, như sự tuần hoàn của thời gian, trời đã tối, tối dần. Bức tranh vừa ấm áp bởi cảnh tượng lao động khỏe khoắn của người thôn nữ lao động, vừa bởi cái ánh hồng của bếp lò. Đó chỉ là một thứ hạnh phúc bình dị, vậy mà Bác vẫn gạt bỏ hết những đau đớn, mệt mỏi về thân xác để cảm nhận được.

Hai câu thơ sử dụng bút pháp điểm nhãn của thơ cổ điển, nhưng hình ảnh thơ bình dị, chân thực lại được ghi bởi bút pháp hiện thực. Hình ảnh cô gái mải miết xay ngô và xay xong bên lò lửa rực hồng gợi bức tranh đời sống có vẻ đẹp bình dị, ấm cúng, yên vui. Riêng đối với người tù mệt mỏi, mất tự do thì cảnh ấy trở nên vô cùng hấp dẫn, quý giá, thiêng liêng, vì nó lệ thuộc về thế giới tự do. Chỉ có ai đã từng trải qua những cánh đời đau khổ đầy giông bão mới thấy hết giá trị của từng phút giây cảnh đời bình yên. Do đó bức tranh đời sống trở thành nguồn thơ dạt dào, thể hiện niềm xao xuyến, sự rung động mãnh liệt hồn thơ.

Lò lửa hồng là hình ảnh nổi bật trung tâm của bức tranh thơ, làm nổi rõ hình ảnh của cô gái. Nó sưởi ấm bức tranh thiên nhiên hiu hắt. lạnh lẽo và sưởi ấm tâm hồn nhà thơ. Vậy là, hình ảnh cuộc sống con người là điểm hội tụ vẻ đẹp bài thơ, tỏa sáng ánh và hơi ấm xung quanh. Hình ảnh lò lửa hừng hực đặt bên cạnh cô gái tạo ra vẻ đẹp trẻ trung, đầy sức sống của cảnh thơ. Hoàng Trung Thông cho rằng chữ hồng là nhãn tự của bài thơ là vì vậy. Ý thơ cuối khỏe, đẹp bộc lộ niềm vui, lòng yêu đời, yêu cuộc sống. tinh thần lạc quan của Bác.

Nguyên tác chữ Hán không có từ tối, bản dịch thơ thừa từ. Không miêu tả đêm tối mà vẫn cảm nhận được là nhờ ánh lửa lò than. Lấy ánh sáng để làm nổi bóng tối, nghệ thuật là ở đó.

Hình tượng thơ vận động rất tự nhiên, bất ngờ, khỏe khoắn: từ lạnh lẽo, hắt hiu đến ấm nóng, sum vầy, từ tối đến sáng, từ buồn sang vui… đó là điểm đặc sắc trong phong cách thơ của Bác, thể hiện niềm tin yêu cuộc đời dù đang ở trong những tháng ngày đau khổ nhất.

Nhà văn Nam Cao đã viết: “Khi người ta đau chân, người ta không còn tâm trí đâu để nghĩ đến người khác được.”, để nói rằng, con người ta thường có xu hướng lo cho những đau khổ của bản thân. Thế nhưng, ở Bác Hồ – một người lúc nào cũng lo nỗi lo của dân tộc, của đất nước – vậy mà cũng vẫn luôn quan tâm đến những thứ nhỏ nhặt nhất, bình dị nhất. Đó chính là nhân cách cao đẹp của vị lãnh tụ vĩ đại của chúng ta.

Bài thơ “Chiều tối” là một bài thơ tiêu biểu cho nét đẹp cổ điển và hiện đại trong thơ Hồ Chí Minh. Bài thơ chỉ đơn giản là tả về phong cảnh thiên nhiên và con người nơi xóm núi khi chiều muộn, đồng thời, cũng ẩn chứa trong đó nỗi niềm ước mong được tự do, được sum họp của Người. Đồng thời, ở Bác, chúng ta vẫn luôn thấy ánh lên một vẻ đẹp của tinh thần quên mình, của một trái tim giàu lòng yêu thương luôn biết quan tâm đến những điều bình dị nhất.

( Có tham khảo bài viết từ Internet )

Câu 4: xem đáp án ở đây:

http://vanhay.edu.vn/nghi-luan-xa-hoi-ve-bai-chieu-toi-ho-chi-minh

 

Nghị luận xã hội về bài “ chiều tối” Hồ Chí Minh

Nghị luận xã  hội về bài “ chiều tối” Hồ Chí Minh:

Đề bài: Phân tích vẻ đẹp tâm hồn của tác giả trong bài thơ Chiều tối,  qua đó bàn về ý chí và nghị lực của con người trong cuộc sống

MB: Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề

  • -Vẻ đẹp tâm hồn của Hồ Chí Minh trong bài thơ Chiều tối
  • -Về ý chí và nghị lực của con người trong cuộc sống

TB:

Bước 1: Bhân tích vẻ đẹp tâm hồn của Hồ Chí Minh trong bài thơ Chiều tối có một số ý cơ bản sau:

  • -Nói đến vẻ đẹp tâm hồn HCM, người ta nghĩ đến vẻ đẹp của trái tim, khối óc, vẻ đẹp của tinh thần, ý chí, nghị lực, của lòng khiêm tốn, đức hi sinh cao cả…
  • – Được viết trong một hoàn cảnh đặc biệt: Bác bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam vô cớ (Mùa thu 1942 – Mùa thu 1943), bài thơ là sự tỏa sáng của tâm hồn, lí trí, nghị lực, trí tuệ… của HCM trong hoàn cảnh ngục tù.
  • -Trong hoàn cảnh tù đầy, Bác Hồ vẫn có phong thái ung dung , lạc quan, ý chí sắt đá làm chủ hoàn cảnh:Hoàn toàn chủ động trước hoàn cảnh, đó chính là vẻ đẹp của ý chí, nghị lực, là tinh thần thép của người Cộng sản HCM
  • -Yêu thiên nhiên,cảm nhận được vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên ( dẫn chứng). Vẻ đẹp tâm hồn HCM thể hiện trong bài thơ trước hết là vẻ đẹp của một tâm hồn nghệ sĩ với những rung cảm nhạy bén, tinh tế, sâu xa trước vẻ đẹp của thiên nhiên và cuộc sống con người.
  • – Hướng về sự sống và ánh sáng ( dẫn chứng, phân tích ):Chữ “hồng” có thể hiểu là màu sắc thực của lò than… nhưng chủ yếu được hiểu theo nghĩa tượng trưng: màu của ngày mai, của tương lai tươi sáng…
    Có thể nói, chữ “hồng” từ cuối bài thơ đã tạo ra một luồng sáng rọi ngược trở lại làm “sáng rực bài thơ, làm mất đi sự mệt mỏi, uể oải, sự vội vã, nặng nề… Nó sáng bừng lên, nó cân lại, chỉ một chữ thôi, với 27 chữ còn lại”

Bước 2: bàn về ý chí và nghị lực của con người trong cuộc sống

  • (1) Giải thích Ý chí là gì :Là khả năng tự xác định mục đích cho hành động và hướng hoạt động của mình, khắc phục mọi khó khăn nhằm đạt mục đích đó

– Nghị lực là gì : Sức mạnh tinh thần tạo cho con người sự kiên quyết trong hành động, không lùi bước trước những khó khăn.

  • (2)Bình luận về vai trò của ý chí và nghị lực:

– Biểu hiện của ý chí và nghị lực:

  • Biểu hiện trong suy nghĩ, trong hành động: lạc quan trong mọi hoàn cảnh, niềm tin vào tương lai,nỗ lực vượt qua thử thách, gặp khó khăn không nản lòng, không chán nản, …

– Vai trò, ý nghĩa của ý chí, nghị lực trong cuộc sống :Cuộc sống của chúng ta luôn là một chuỗi khó khăn và thử thách. Nếu hèn nhát và yếu đuối chắc chắn ta sẽ thất bại và gục ngã.Trong cuộc sống , con người không thế sống tốt nếu không có ý chí nghị lực, ý chí nghị lự giúp ta vượt qua khó khăn, trở ngại trong cuộc sống.

-Chứng minh trong một số tác phẩm văn học và thực tế cuộc sống

(3) Bài học nhận thức và hành động

  • – Ý chí và nghị lực đóng một vai trò cực kì quan trọng trong cuộc sống của mỗi con người
  • -Mỗi người  cần rèn luyện cho mình những kĩ năng sống cần thiết. Đặc biệt là nghị lực sống, cách tốt nhất để vượt qua khó khăn và là một trong những hướng đi nhanh nhất dẫn đến thành công.
  • – Có ý thức vươn lên trong học tập và vượt qua thử thách trên đường đời.

KB: Khẳng định vấn đề

  • -Khẳng định ý chí nghị lực của Hồ Chí Minh trong bài thơ “ chiều tối”
  • -Bàn bạc mở rộng vấn đề…

Xem thêm: Tuyển tập đề thi về các tác phẩm lớp 11,  Chiều tối

Xem thêm  : Những bài văn nghị luận xã hội hay lớp 12.