Phân tích bài Chiếc thuyền ngoài xa đầy đủ

Đề bài : Cảm nhận của anh/ chị về truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, SGK Ngữ văn 12.

Bài văn mẫu hoàn chỉnh

Giới thiệu truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa

Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa được Nguyễn Minh Châu hoàn thành vào tháng 8 năm 1983, in trong tập ếên quê (1985). Năm 1987, khi Nhà xuất bản Văn học làm một tuyển tập truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu viết sau năm 1975 thì Chiếc thuyền ngọài xa được nhà văn chọn làm tên chung cho tập ấy. Như thế đủ thấy Chiếc thuyền ngoài xa là một trong những truyện ngắn mà nhà văn Nguyễn Minh Châu tâm đắc, và quả thực tác phẩm đã chứa đựng nhiều suy ngẫm, phát hiện của tác giả về đời sống, về con người và về nghệ thuật.

Phân tích truyện

Cốt truyện

Cốt truyện của Chiếc thuyền ngoài xa có hai mạch truyện đan lồng vào nhau : chuyện vế một chuyến đi “săn ảnh” của phóng viên nhiếp ảnh Phùng ở một vùng ven biển miền Trung và chuyện về những cảnh ngộ ngang trái của một gia đình ngư dân tại vùng biển đó mà Phùng bất ngờ biết được. Phùng được ông trưởng phòng giao một nhiệm vụ khó khăn : phải chụp được một bức ảnh đẹp về cảnh thuyền và biển, có sương mù buổi sáng và “không có người. Hoàn toàn thế giới tĩnh vật”. Anh xách máy ảnh tìm đến một vùng biển miền Trung, nơi có những đầm, phá ăn sâu vào đất liến vì nơi đó từng là vùng chiến trường quen thuộc với anh trong thời chiến tranh, hơn nữa anh biết rằng chỉ ở đó mới có thể còn gặp được sương mù trên biển vào lúc đã sang tháng bảy. Sau cả tuần lễ lang thang, tìm kiếm và đã chụp khá nhiều ảnh, vào một buổi sáng sớm, Phùng đã tình cờ, may mắn bắt gặp được một khung cảnh tuyệt đẹp, và bức ảnh nghệ thuật anh chụp được đúng là một tặng vật quý giá hiếm hoi mà trời đất hay là số phận đã đem đến cho anh : “trước mặt tôi là một bức tranh mực tàu của một danh hoạ thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ loè nhoè vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hổng hổng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ em ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ. Tất cả khung cảnh ấy nhìn qua những cái mắt lưới và tấm lưới nằm giữa hai chiếc gọng vó hiện ra dưới một hình thù y hệt cánh một con dơi, toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hoà và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích khiến đứng trước nó tôi trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào. Trong giây phút ấy, người nghệ sĩ được thăng hoa trong cảm xúc ngây ngất, cũng chính là niềm hạnh phúc tràn ngập tâm hồn “do cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh vừa mang lại””. Nhưng cũng liền ngay sau đó, anh lại bất ngờ chứng kiến một cảnh 1 hoàn toàn trái ngược cũng từ chiếc thuyền ấy : gã đàn ông dẫn người vợ từ trên thuyền xuống, đi vào phía sau một chiếc xe rà phá mìn của Mỹ bỏ lại và đánh đập tàn bạo chị vợ bằng chiếc thắt lưng da lính ngụỵ  còn người vợ thì im lặng chịu đựng, không hề chống lại cũng không van xin. Tình huống bất ngờ đầy nghịch lý còn tiếp tục diễn ra truớc mắt Pằung khiến anh vô cùng kinh ngac thằng Phác — đứa con trai cua cặp vợ chồng làng chài, để bảo vệ mẹ đã xông đến đánh lại người bố, rồi tiếp đó là cảnh người mẹ khóc van xin đứa con. Tình tiết câu chuyện diễn 1 ra liên tiếp những cảnh, hành động bất ngờ, đột ngột như trong một đoạn phim  quay nhanh và liên tục chuyển cảnh. Đặt nhân vật Phùng trước hai cảnh tượng thật  trái ngược và những cảm xúc đối nghịch, nhà văn muốn đưa ra sự đối sánh nghệ  thuật với đời sống. Đằng sau bức ảnh nghê thuật tuyệt đẹp và đầy thơ mộng kia lại là  một hiện thực trần trụi, cay đắng của cuộc đời người dân chài lam lũ, cực nhọc.

Cũng như trong sáng tác của Nam Cao-Nhà văn Nguyễn Minh Châu rất cảm phục-trong nhiều truyện ngắn sau năm 1975 của Nguyễn Minh Châu cũng thường có nhân vật nghệ sĩ :Nhà văn, họa sĩ , nhà nhiếp ảnh. Loại nhân vật này là phương tiện hũư hiệu để tác giả gửi gắm những suy ngẫm, quan niệm về đời sống và về nghệ thuật. Trong Chiếc thuyền ngoài xa, qua câu chuyện bức ảnh nghệ thuật của một phóng viện ảnh, ngựời đọc nhận ra tư tưởng của Nguyễn Minh Châu  về quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống. Nghệ thuật không thể chỉ dừng lại ở vẻ 1 đẹp bề ngoài nhất là cái vẻ đẹp tuyệt vời thơ mộng, mà còn phải thấu thị tới bề   sâu, bề sâu của cuộc đời không hề đơn giản, mà tâm điểm chính là con người với số phận đa đoan, với mọi nhọc nhằn và cả khổ đau, không hiếm những ngang trái và bi kịch. Ở đây, có thể gợi nhớ đến một quan niệm văn chương từng được Nam Cao phát biểu qua suy nghĩ của nhân vật nhà văn Điền trong truyện Giăng sáng : “Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than”. Trong truyện của mình, Nguyễn Minh Châu không hể phủ định cái đẹp của nghệ thuật, nhưng nhà văn muốn người thưởng thức hãy nhìn sâu hơn vào những gì ở bên trong, ở phía sau của vẻ đẹp ấy, Đoạn kết truyện càng làm rõ thêm tư tưởng nói trên : “Không những trong bộ lịch năm ấy mà mãi mãi vể sau, tám ảnh chụp của tôi vẫn còn được treo ở nhiều nơi, nhất là trong các gia đình sành nghệ thuật. Quái lạ, tuy là ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm kỹ, tôi vẫn thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai lúc bấy giờ tôi nhìn thấy từ bãi xe tăng hỏng và nếu nhìn lâu hơn, bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh”. Là một nhà văn luôn trăn trở về công việc viết văn và trách nhiệm của người cầm bút, Nguyễn Minh Châu đã nhiểu lần phát biểu những suy nghĩ của mình về mối quan hệ giữa văn học và đời sống. Ngay trong thời kỳ chiến tranh, năm 1971 trong bài Trang sổ tay viết văn, khi nhìn lại các sáng tác văn học ữong giai đoạn đầu cuộe kháng chiến chống Mỹ, Nguyễn Minh Châu đã nhận ra một hạn chế của nhiều tác phẩm : “Hình như cuộc chiến đấu anh hùng sôi nổi hiện nay đang được văn xuôi và thơ ca tráng lên một lớp men “trữ tình” hơi dày, cho nên ngắm nó thấy mỏng manh, bé bỏng và óng chuốt quá khiến người ta phải ngờ vưc”. Trong một lần khác, Nguyễn Minh Châu lại khẳng định một cách dứt khoát : “Văn học bao giờ cũng phải trả lời những câu hỏi của ngày hôm nay, bao giờ cũng phải đối thoại với những ngửời đương thời về những câu hỏi cấp bách của đời sống” Ngày nay trong tinh thần dân chủ hoá đã có rất nhiều quan niệm khác nhau về văn học được đưa ra, kể qả những quan niệm văn chương chỉ là một trò chơi, hay một giả tưởng của nhà văn, nhưng dù thế nào thì ngẫm cho cùng, không một nhà văn chân chính nào lại không quan tâm đến quan hệ giữa văn học và đời sống.

  1. Chiếc thuyền ngoài xa dù mang tính triết lý khá rõ, nhưng không đơn thuần là một truyện ngắn luận đề về quan hệ nghệ thuật với đời sống. Sức hấp dẫn và cũng là điều ám ảnh người đọc ở tác phẩm còn là mối quan hoài đến xót xa, day dứt của nhà văn về những nỗi nhọc nhằn, khổ đau của con người, những nghịch lý ngang trái của cuộc đời mà ở đây là trong một gia đình dân chài ở ven biển miền Trung.

Chiếc thuyền lưới vó vừa là phương tiện kiếm sống, vừa là nơi cư ngụ duy nhất của cái gia đình ngư dân đông đúc, lênh đênh trôi nổi trên sóng nước, là hình ảnh cụ thể của những thân phận con người trong cuộc mưu sinh, hình ảnh chiếc thuyền được xuất hiện nhiều lần trong thiên truyện, có lúc mang vẻ đẹp mơ màng, nhưng phần nhiều được hiện ra trong sự hối hả của công việc làm ăn trên biển. Ở đoạn gần cuối, chiếc thuyền ấy còn được dặt trong khung cảnh dữ dội của một cơn động biển : “Gần sáng trời trở gió đột ngột, từng tảng mây đen xếp ngổn ngang trên mặt biển đen ngòm, và biển bắt đầu gào thét, sóng bạc đầu ngoài cửa lạch nổi cồn lên, cao như những ngọn núi tuyết trắng* Trong phá, các thứ tàu thuyền đều tìm vào bờ để trú, duy ở giữa phá chẳng hiểu tại sao vẫn còn… thấy một chiếc thuyền vó bè đang đậu”. Cuộc vật lộn mưu sinh nhọc nhằn và còn luôn phải đối mặt với hiểm nguy rình rập trên biển, lâu dần đã biến người chồng của gia đình thuyền chài ấy từ một người thanh niên hiền lành, thương vợ thành một kẻ cục súc, vũ phu đến mức tàn bạo. Cứ sau mỗi chuyến đĩ biển, gã lại dẫn người vợ lên bờ để trút mọi nỏi chán chường, bực bội, bế tắc vào những trận đòn man rợ, cứ “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng”. Tình trạng bạo hành trong gia đình thuyền chài ấy còn dẫn đến điều tệ hại hơn nữa : Lòng căm ghét đến thành thù hận của đứa con trai — thằng Phác – với bố. Mặc dù người vợ đã xin được gã chồng đưa mình lên trên bãi xe tăng hỏng mà đánh, đừng đánh trên thuyền, trước mặt lũ con, nhưng rồi những trận đòn dã man ấy cũng lọt vào mắt những đứa con lớn. Nhân vật Phùng đã hai lần chứng kiến sự căm hận cửa thằng bé Phác với bố nó. Vì yêu mẹ muốn bảo vệ người mẹ mà thằng bé đã bất chấp tất cả, xông đến đánh lại bố như đánh một kẻ tử thù. Thậm chí, lần thứ hai nếu như con chị không kịp đuổi theo giữ nó lại và rút con dao găm từ trong cạp quần của nó ra thì rất có thể nó đã gây nên một tội ác khủng khiếp. Lòng căm hận trong tâm hồn đứa trẻ không chỉ dẫn đến những hành động mù quáng như thế mà còn làm tổn thương, thui chột tâm hồn đứa trẻ. Người mẹ có lẽ đã cảm nhận được điều này, nên đã gửi thằng bé lên bờ, cho đi theo ông ngoại, nhưng rồi vẫn không thể tránh được, bởi thế, sau khi phải chứng kiến việc thằng Phác dang thẳng tay quật Ghiếc thắt lưng có đầu khoá sắt vào giữa ngực bố thì người mẹ thấy vô cùng đau đớn, nhục nhã, “người đàn bà ngồi xệp xuống trước mặt thằng bé, ôm chầm lấy nó rồi lại buông ra, chắp tay vái lấy vái để, rồi lại ôm chầm lấy”. Vì sao người đàn bà hàng chài ấy lại cam chịu gần như là nhẫn nhục trước những trận đòn vô lý của gã chồng ? Phải chăng chị ta là một người u mê, tăm tối, một người không có ý thức về sự sống của mình hay đã bị gánh nặng của đói nghèo của sự bạo hành làm cho tê liệt tinh thần ? Câu ưả lời chỉ có được ở phần sau của truyện, trong cuộc gặp của vị chánh án toà án huyện với người đàn bà hàng chài, tại phòng làm việc của ông ta. Diễn biến của cuộc đối thoại giữa họ cũng đầy bất ngờ.

Đáp lại những lời thuyết phục đầy nhiệt tình của người chánh án, người đàn bà lại trả lời bằng một lời van xin : “Con lạy quý toà […] Quý toà bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó”. Đến lúc này, trước sự ngạc nhiên sững sờ của vị chánh án và anh phóng viên nhiếp ảnh, người đàn bà vừa mới sợ sệt van xin bỗng chốc hiện ra là người từng trải, hiểu biết cuộc đời và chính chị lại là người thức tỉnh cho vị quan toà nọ. Lời lẽ của chị thay đổi hẳn : “Chị cám ơn các chú […] Lòng các chú tốt, nhưng các chu đâu có phải là người làm ăn… cho nên các chú đâu có hiểu được cái việc của các người làm ăn lam lũ, khó nhọc”. Thì ra, trong một gia đình chài lưới trên một chiếc thuyền vó bè lênh đênh, không thể thiếu bàn tay và sức lực của một người đàn ông dù anh ta có man rợ, hung bạo, nhất là những khi gặp dông bão, biển động. Họ phải hợp sức lại mà làm lụng quần quật để nuôi một đàn con – mà nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Tình cảnh của gia đình chị cũng như của bao gia đình hàng chài khác, trừ phi như chị nói : “Giá tôi đẻ ít đi hoặc chúng tôi sắm được một chiếc thuyền rộng hơn”.

  1. Đến đây, truyện lại mở ra một tình huống mới. Cuộc trò chuyện với người đàn bà hàng chài đã khiến cho “Một cái gì mới vừa vỡ ra trong đầu vị Bao Công của cái phố huyện” và cả ở nhà nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng. Cái gì đã vỡ ra trong đầu óc họ ? Trước hết, đó là sự hiểu ra những nhọc nhằn, vất vả trong công việc làm ăn của những ngư dân ở vùng biển. Cuộc sống cực nhọc, lam lũ, bấp bênh khiến họ phải chấp nhận cả không ít những nghịch cảnh, những ngang trái. Cái vỡ ra trong đầu của Đẩu, của Phùng còn là sự thức tỉnh với chính mình, để từ bỏ cái nhìn đơn giản, nặng về duy ý chí trước cuộc đời và con người, cùng với nó là những ảo tưởng về sự thay đổi dễ dàng cho cuộc sống của người dân sau khi được cách mạng giải phóng. Những người lính như Đẩu từng góp phần vào việc giải phóng cho nhân dân khỏi ách xâm lược, nhưng họ lại chưa thể có cách gì để có thể giải phóng cho những người dân lao động ấy thoát khỏi cảnh sống lam lũ, cay cực và cả sự tăm tối. Sự thức tỉnh ở nhân vật Đẩu cũng chỉ là một trường hợp mang ý nghĩa biểu trưng mà Nguyễn Minh Châu muốn qua đó để thức tỉnh xã hội, thức tỉnh mọi người cần vượt lên, từ bỏ cách nhìn và lối nghĩ giản đơn, dễ dãi, để nhìn thấu cái phức tạp đa đoan của hiện thực cuộc đời, trong đó còn không ít những nghịch lý, những bóng tối. Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa được viết năm 1983, nghĩa là ba năm trước khi công cuộc đổi mới được phát động, với khẩu hiệu : “Đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật”. Điều đó cho thấy khả năng dự cảm tinh nhạy và vai trò tiên phong của Nguyễn Minh Châu trong buổi đầu, công cuộc đổi mới văn học.
  1. Trong lần trả lời phỏng vấn của báo Văn nghê đầu năm 1986 Nguyễn Minh Chấu có nói: “tôi không thể nào tưởng tượng nổi một nhà vàn mà lại không mang nặng trong mình tình yêu cuộc sống và nhất là tình yêu thương con người. Tình yêu này của người nghệ sĩ vừa là một niềm hân hoan say mê, vừa là một nỗi đau đớn khắc khoải, một mối quan hoài thường trực về số phận, hạnh phúc của những người chung quanh mình. Cầm giữ cái tình yêu lớn ấy trong mình, nhà văn mới có khả năng cảm thông sâu sắc với những nỗi đau khổ, bất hạnh của người đời, giúp họ có thể vượt qụa những khủng hoảng tinh thần và đứng vững được trước cuộc sống. Truyện Chiếc thuyên ngoài xa và nhiều truyện ngắn khác của Nguyễn Minh Châu là những minh chứng cho tình yêu thương lớn của nhà văn đối với con người, thể hiện trong sự thấu hiểu, đồng cảm sâu sắc trước những đau khổ, bất hạnh của con người. Nhưng hơn thế nữa, ở Nguyễn Minh Châu bao giờ cũng thường trực một niềm tin ở con người, được thể hiện trong sự tìm kiếm để khẳng định các giá trị nhân bản bền vững, trong việc hướng con người tới sự thức tỉnh, tự nhận thức để hoàn thiện nhân cách.

Nhân vật người đàn bà hàng chài trong Chiếc thuyền ngoài xa không chỉ là một thân phận lam lũ, cay cực, nạn nhân của sự bạo hành từ người chồng vũ phu, mà chị còn hiện lên với vẻ đẹp sâu xa. Ẩn sau cái vẻ ngoài thô kệch, thậm chí xấu xí, khuôn mặt rỗ chằng chịt, lại là một sức sống bền bỉ, một tâm hồn đầy tình thương và đức hy sinh. Ở người phụ nữ ấy chứa đựng mẫu tính sâu xa như một bản năng : “Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ. Đàn bà ở thuyền chúng tồi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được” Đó là những lời của chị nói với Đẩu và Phùng, được thốt lên thành thực với một niềm tin đơn giản nhưng vững chắc vào cái thiên chức mà trời đã giao phó cho người đàn bà. Khi được hỏi : “Cả đời chị có một lúc nào thật vui không?”, chị đã trả lời: “Có chứ, chú ! Vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no”. Niềm Vui đã như thế, còn nỗi lo cũng tất cả chỉ là về những đứa con, mà nỗi lo sợ nhất của chị là về thằng Phác, đứa con mà chị yêu quý nhất trong đám trẻ, nhưng chị lại phải nhìn thấy lòng hận thù với người cha đang làm cằn cỗi tâm hồn thằng bé, đang biến Phác thành một đứa trẻ độc ác, dữ dằn.. :.’

Hình ảnh người đàn bà làng chài là hình tượng ám ảnh nhất trong các nhân vật của thiên truyện và cũng góp thêm một chân dung nhân vật nữ thành công của Nguyên Minh Châu.                                     ^

Cuối cùng cũng cần phải lưu ý thêm rằng, việc tác giả không đặt tên cho nhân vật người đàn bà hàng chài cũng như gã chồng của chị, hẳn là một dụng ý nghệ thuật chứ không phải ngẫu nhiên, càng không phải là sự một sơ xuất của tác giả.

Hãy chú ý chi tiết cuối cùng của truyện. Người kể chuyện – phóng viên nhiếp ảnh Phùng – kể rằng mỗi khi ngắm thật kỹ bức ảnh mình đã chụp, anh lại thấy người đàn bà hàng chài ấy từ trong bức ảnh bước ra : “Mụ bước những bước chậm rãi, bàn chân dậm trên mặt đất chắc chắn, hoà lẫn trong đám đông….”. Nghĩa là, người đàn bà ấy chỉ là một người trong đám đông của nhũng con người lam lũ, nhọc nhằn, những con người lao khổ, đông đúc và vô danh.

  1. Trở lại với nhan đề tác phẩm – Chiếc thuyền ngoài xa, Cũng như nhan đề nhiều truyện ngắn khác của Nguyễn Minh Châu, tên truyện ở đây xuất phát từ một hình ảnh trong truyện nhưng đã mang ý nghĩa biểu tượng. Chiếc thuyên ngoài xa gợi ra ý nghĩa về khoảng cách giữa nghệ thuật và đời sống. Dường như lâu nay, nghệ thuật, trong đó có văn chương, vẫn tiếp cận đời sống ở một cự li khá xa. Qua cái nhìn từ một khoảng cách xa, chiếc thuyền hiện ra vói những vẻ đẹp thơ mộng như bức ảnh nghệ thuật tuyệt đẹp mà người phóng viên nhiếp ảnh trong truyện đã chụp được. Nhưng ở bên trong con thuyền ngoài xa ấy còn chứa đựng biết bao sự thật của cái cuộc đòi rất đa sự đa đoan, trong đó có bao nhiêu sự nhọc nhằn, cay đắng, khổ đau của nhân sinh. Chiếc thuyền ngoài xa là biểu tượng về đời sống hiện thực còn đầy bí ẩn vẫn mời gọi người nghệ sĩ tìm đến để khám phá, hiểu thấu và đồng cảm.

Nguyễn Văn Long

(Tài liệu sưu tầm )

Xem thêm : Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về   chiếc thuyền ngoài xa

Sự biến đổi nhận thức của Phùng và Đẩu trong Chiếc thuyền ngoài xa

Soạn bài chiếc thuyền ngoài xa.

Xem thêm : Tuyển tập những đề thi , bài văn mẫu, giáo án Chiếc thuyền ngoài xa soạn theo định hướng phát triển năng lực. Xây dựng bài học theo tiến trình hoạt động của học sinh: Chiếc thuyền ngoài xa

Đề bài :Sự biến đổi nhận thức của nghệ sĩ Phùng và chánh án Đẩu trong tác phẩm

Đặt vấn đề:

– Nguyễn minh Châu (1930 – 1989) thuộc lớp nhà văn chiến sĩ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ. Sau năm 1975, ông chủ yếu tiếp cận đời sống ở góc độ thế sự. Các nhà nghiên cứu đánh giá NMC là một trong những cây bút tiên phong “người mở đường tinh anh và tài năng nhất” của văn học Việt Nam thời kì đổi mới.

– Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” được Nguyễn minh Châu sáng tác năm 1983, sau đưa vào tập truyện ngắn cùng tên xuất bản năm 1987. Tác phẩm là một minh chứng tiêu biểu, thể hiện những nhận thức mới mẻ của ông trong cách nhìn hiện thực. Chúng ta có thể thấy rõ điều đó qua tìm hiểu sự biến đổi nhận thức của hai nhân vật nghệ sĩ Phùng và Chánh án Đẩu trong tác phẩm.

Giải quyết vấn đề:

Giới thiệu chung:

Tuy là hai nhân vật, hai con người khác nhau – một người là nghệ sĩ, một người là chánh án toà án, nhưng hành trình biến đổi nhận thức lại giống nhau. Đều xuất phát từ những mục đích tốt đẹp và đầy thiện ý song cả hai đều ngạc nhiên, ngỡ ngàng… rồi vỡ ra nhiều điều mới mẻ: cuộc đời này còn có nhiều góc khuất mà nghệ thuật cần vươn tới; còn có nhiều trái ngang mà lí thuyết sách vở chưa soi tỏ.

Phân tích:

* Nghệ sĩ Phùng:     

– Đứng trước một sản phẩm nghệ thuật tuyệt vời của hoá công:

+ Người nghệ sĩ trở nên “bối rối” và “trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào”. Tức là bức ảnh đã khiến cho tâm hồn người nghệ sĩ rung dộng thật sự và một cảm xúc thẩm mĩ đang dấy lên trong lòng anh.

+ Trong giây lát, người nghệ sĩ còn “khám phá thấy cái chân lí của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”. Nói cách khác, trong một khoảnh khắc của cuộc sống, nghệ sĩ Phùng đã cảm nhận được cái Chân, cái Thiện, cái Mĩ của cuộc đời, thấy tâm hồn mình như được gột rửa, trở nên thật trong trẻo, tinh khôi. Điều này có nghĩa là cái đẹp đã có tác dụng thanh lọc tâm hồn con người. (Với tác dụng ấy, cái đẹp chẳng phải là “đạo đức” hay sao?).

Tuy nhiên, ngay sau những phút giây bay bổng trong những cảm xúc thẩm mĩ ấy, khi chiếc thuyền vào bờ, Phùng đã chứng kiến một bức ảnh phong cảnh khác, không thơ mộng, không hài hoà, mà là sự thực trần trụi, sự thực thô bạo, sự thực méo mó chênh vênh, và nó chính là “cận cảnh” từ cái bức tượng đài thơ mộng kia:

+ Trước hết là hai con người với những nét thô kệch bước ra từ chiếc thuyền ngư phủ đẹp như trong mơ.

+ Sau đó, một cảnh tượng khủng khiếp, tàn nhẫn, không thể nào tin nổi và không thể nào chấp nhận: người chồng đánh vợ.

Ò Điều đáng sợ không chỉ ở chỗ lão dân chài đánh vợ, mà ở cách đánh bài bản như thói quen, coi việc hành hạ, đánh đập, nguyền rủa vợ như một phương cách để giải toả những uất ức, khổ đau, nhọc nhằn. Còn đáng sợ hơn nữa, người đàn bà cam chịu một cách bình tĩnh như thực hiện một nghĩa vụ.

+ Rồi đến sự xuất hiện của thằng bé Phác. Đứa con vì thương mẹ đã đánh lại cha để rồi nhận lấy hai cái bạt tai của bố ngã dúi xuống cát…

Ò Bức ảnh biển cả buổi sớm có sương thì đẹp như bức cổ hoạ bằng mực tàu, còn bức ảnh nhân sinh lại như một vết nhơ của cuộc sống, một nỗi sỉ nhục nhân loại.

– Chứng kiến những cảnh tượng đó, nghệ sĩ Phùng ngạc nhiên đến thẫn thờ. Người nghệ sĩ như “chết lặng”, không tin vào những gì đang diễn ra trước mắt. Phùng đã từng là người lính cầm súng chiến đấu để có vẻ đẹp thanh bình của thuyền biển mênh mông, anh không thể chịu được khi chứng kiến cảnh lão đàn ông đánh vợ một cách vô lí và thô bạo. Nhưng anh chưa kịp xông ra thì thì thằng Phác xuất hiện che chở cho người mẹ đáng thương. Đến lần thứ hai, khi lại phải chứng kiến cảnh ấy, Phùng mới thể hiện được bản chất người lính là không thể làm ngơ trước sự bạo hành của cái ác. Phùng trở thành người hùng, anh quật ngã người đàn ông vũ phu.

Ò Sở dĩ nghệ sĩ Phùng trở nên như vậy là vì anh không thể ngờ rằng đằng sau cái vẻ kì diệu của tạo hoá lại có cái ác, cái xấu đến mức không thể tin được. Vừa mới lúc trước anh còn cảm thấy “bản thân cái đẹp chính là đạo đức”, thấy “chân lí của sự hoàn thiện” thế mà chỉ ngay sau đó chẳng còn cái gì là “đạo đức” là cái “toàn thiện” của cuộc đời. Phùng cay đắng nhận thấy những cái trái ngang, xấu xa, những bi kịch trong gia đình thuyền chài làm cho tấm ảnh mà anh chụp được kia như nhuốm màu đau thương, ghê sợ.

– Phùng nhờ Đẩu mời người đàn bà đến toà án huyện vì muốn giúp đỡ. Và tại đây, anh đã tận mắt chứng kiến cuộc gặp gỡ giữa người đàn bà ấy với chánh án Đẩu, nghe những lời trải lòng và biết được câu chuyện cuộc đời của người đàn bà. Phùng đã lặng im sau câu chuyện của chị. Có lẽ, người nghệ sĩ nhiếp ảnh cũng đang trầm ngâm suy nghĩ sau những gì vừa diễn ra. Câu chuyện mà người đàn bà hàng chài kể ở toà án đã giúp nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng hiểu rõ hơn về Đẩu, về người đàn bà hàng chài và ngay cả chính mình:

+ Người đàn bà: Không hề cam chịu một cách vô lí, không hề nông nổi một cách ngờ nghệch mà thực ra chị ta là người rất sâu sắc, thấu hiểu lẽ đời. Người phụ nữ này có một cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ nhưng biết chắt chiu những hạnh phúc đời thường. Sống cam chịu và kín đáo, hiểu sâu sắc lẽ đời nhưng chị không để lộ điều đó ra bên ngoài. Đây là người phụ nữ có ngoại hình xấu xí, thô kệch nhưng tâm hồn đẹp đẽ, thấp thoáng bóng dáng của người phụ nữ Việt Nam nhân hậu, bao dung, giàu đức hi sinh và lòng vị tha.

+ Người đồng đội cũ – chánh án Đẩu: Anh có lòng tốt, sẵn sàng bảo vệ công lí nhưng anh chưa thực sự đi sâu vào đời sống nhân dân. Lòng tốt là đáng quý nhưng chưa đủ. Luật pháp là cần thiết nhưng cần phải đi vào đời sống. Cả lòng tốt và luật pháp đều phải được đặt vào những hoàn cảnh cụ thể, không thể áp dụng với mọi đối tượng.

+ Chính mình: Mình đơn giản khi đã nhìn nhận cuộc đời và con người.

* Chánh án Đẩu:

Đẩu là một chánh án, vừa làm công việc, vừa thực hiện mệnh lệnh của trái tim. Sau khi thấy các biện pháp giáo dục, răn đe người chồng không có kết quả, thẩm phán Đẩu đã mới người đàn bà hàng chài đến toà án giải quyết chuyện gia đình.

– Trước khi nghe câu chuyện của người đàn bà vùng biển, thái độ của anh là rất cương quyết. Anh muốn giải thoát khỏi những trận đòn bất công người đàn bà khỏi những trận đòn bất công, ngược đãi bằng một “phán quyết”: li hôn. Anh khuyên người vợ bỏ chồng để giảI thoát cho chị khỏi cảnh bị ngược đãi và nạn bạo hành trong gia đình. Anh hào hứng, say mê và tin tưởng vào giải pháp của mình. Cái lí lẽ của pháp luật và lí lẽ của trái tim làm cơ sở, chỗ dựa vững vàng để anh tự tin, chủ động và ngạo nghễ.

– Nhưng anh đã lầm. Người đàn bà khốn khổ ấy đã từ chối sự giúp đỡ của Đẩu cũng như Phùng, chị cầu xin đừng bắt chị phải bỏ chồng vì cuộc sống tăm tối của chị còn những lí lẽ khác. Sau khi nghe những gì mà người phụ nữ vùng biển giãi bày, trong đầu “vị Bao Công của cái phố huyện vùng biển” có “một cái gì mới vừa vỡ ra”, “lúc này trông Đẩu rất nghiêm nghị và đầy suy nghĩ”. Có lẽ Đẩu đã vỡ lẽ ra rằng lòng tốt của anh là phi thực tế; kiến thức sách vở mà anh đã được học trở thành vô nghĩa trước những lí lẽ sâu sắc nhưng đầy nhân sinh của người đàn bà quê mùa, thất học. Anh bảo vệ luật pháp bằng sự thông hiểu sách vở nhưng trước cuộc sống, anh thành kẻ quá nông nổi, ngây thơ. Qua thái độ và sự lí giải của người đàn bà khốn khổ làng vạn chài có thể trong Đẩu vừa mới giác ngộ ra những nghịch lí của đời sống, cái nghịch lí buộc những con người khốn khổ phải chấp nhận một cách thật bất công: “Mong các chú cách mạng thông cảm cho, đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn, nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa… Trên thuyền phải có một người đàn ông…, dù hắn man rợ, tàn bạo”. Cũng có thể, Đẩu bắt đầu hiểu ra rằng, muốn con người thoát ra khỏi cảnh man rợ, tăm tối, cơ cực thì cần phải có những giải pháp thiết thực chứ không phải chỉ là thiện chí hoặc các lí thuyết  đẹp đẽ, xa rời thực tiễn.

Ò Đến đây có thể nói, thông điệp nghệ thuật về cách nhìn nhận con người và cuộc đời mà Nguyễn minh Châu muốn chuyển đến người đọc, nhất là người nghệ sĩ là: Đừng bao giờ nhìn nhận cuộc đời và con người một cách dễ dãi, xuôi chiều. Cần phải nhìn nhận mọi sự việc, hiện tượng trong hoàn cảnh cụ thể của nó và trong quan hệ với nhiều yếu tố khác nữa

Kết bài:

Với sự biến đổi nhận thức của hai nhân vật Đẩu và Phùng, “Chiếc thuyền ngoài xa” một lần nữa khẳng định vẻ đẹp của văn xuôi Nguyễn minh Châu giai đoạn sau năm 1975: vẻ đẹp toát ra từ tình yêu tha thiết đối với con người và sự sống, trong đó bao hàm cả khát vọng kiếm tìm, phát hiện, tôn vinh những vẻ đẹp con người còn lẫn trong lấm láp, lam lũ thường ngày, và cả những nguy cơ tiềm ẩn của cái xấu, cái ác,…

Dàn ý phân tích Người đàn bà hàng chài trong Chiếc thuyền ngoài xa

Soạn bài chiếc thuyền ngoài xa. Cảm nhận về hình tượng người đàn bà ở tòa án huyện.

Xem thêm : Tuyển tập những đề thi , bài văn mẫu, giáo án Chiếc thuyền ngoài xa soạn theo định hướng phát triển năng lực. Xây dựng bài học theo tiến trình hoạt động của học sinh: Chiếc thuyền ngoài xa

Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu

Đặt vấn đề:

Cách Mở bài trực tiếp về tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa

– Nguyễn minh Châu (1930 – 1989) thuộc lớp nhà văn chiến sĩ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ. Sau năm 1975, ông chủ yếu tiếp cận đời sống ở góc độ thế sự. Các nhà nghiên cứu đánh giá ông là một trong những cây bút tiên phong “người mở đường tinh anh và tài năng nhất” của văn học Việt Nam thời kì đổi mới.

– Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” được Nguyễn minh Châu sáng tác năm 1983, sau đưa vào tập truyện ngắn cùng tên xuất bản năm 1987.

– Nêu vấn đề: Đây là một tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Minh Châu trong thời kì đổi mới. Tác phẩm thành công trên nhiều phương diện trong đó đáng chú ý là nghệ thuật xây dựng nhân vật người đàn bà hàng chài – một nhân vật đã để lại nhiều ấn tượng trong lòng người đọc.

Thân bài : Giải quyết vấn đề

Tình huống để nhân vật xuất hiện.

Chiếc thuyền ngoài xa” được khai thác từ một tình huống độc đáo:

+ Theo đề nghị của trưởng phòng, nghệ sĩ Phùng đến một vùng ven biển miền Trung chụp một tấm ảnh cho cuốn lịch cuối năm. Anh đã bắt gặp cảnh chiếc thuyền ngoài xa, trong làn sương sớm đẹp như tranh vẽ. Anh nhanh chóng bấm máy và có được bức ảnh ăn ý không dễ gì có được trong một đời làm nghệ thuật.

+ Nhưng khi chiếc thuyền vào bờ, Phùng đã chứng kiến một cảnh tượng không đẹp của đời sống. Hai vợ chồng hàng chài bước xuống, người chồng đánh vợ, đứa con ngăn bố. Những ngày sau, cảnh đó lại tiếp diễn. Phùng không thể ngờ rằng sau những cảnh đẹp như mơ lại là bao ngang trái, bao nghịch lí của đời thường.

Ò Từ tình huống này tác giả dẫn người đọc đến với thế giới nhân vật trong tác phẩm với những chân dung và tính cách khác nhau: một người nghệ sĩ đã từng là chiến sĩ đi tìm cái đẹp với những phát hiện bất ngờ, một vị chánh án cũng đã từng vào sinh ra tử đối diện với cái chết, một người chồng vũ phu, độc ác, một đứa bé thương mẹ bằng một thứ tình yêu thơ dại, trong sáng nhưng cũng không ít đắng cay…Trong số đó, nhân vật người đàn bà có lẽ là nhân vật để lại nhiều dư vị xót xa, cay đắng, cảm phục trong lòng người đọc.

Số phận nhân vật.

– Người đàn bà vùng biển trong truyện ngắn hiện lên qua cái nhìn của Phùng – người nghệ sĩ nhiếp ảnh đã tình cờ chứng kiến những bi kịch gia đình của chị. Chị không hề có tên. Tác giả chỉ gọi chị là “người đàn bà” một cách phiếm định. Có lẽ đây là một dụng ý nghệ thuật của nhà văn. Tuy không có tên tuổi cụ thể, một người vô danh như biết bao người đàn bà vùng biển khác, nhưng số phận con người ấy lại được tác giả tập trung thể hiện và được người đọc quan tâm nhất trong truyện ngắn. Cách gọi tên nhân vật như vậy vừa cụ thể nhưng lại vừa khái quát, vừa phiếm định nhưng lại vừa xác định.

– Chị là một người phụ nữ lao động lam lũ ở làng vạn chài, cả nhà sống lênh đênh trên một chiếc thuyền đánh cá.

– Chị là một người phụ nữ đau khổ – nạn nhân đáng thương của sự lạc hậu đói nghèo, chị thường xuyên bị chồng đánh đập, ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng.

Ò Nhân vật người đàn bà trong “Chiếc thuyền ngoài xa” là hiện thân cho những mảnh đời tăm tối cơ cực vẫn còn tồn tại trong cuộc sống quanh ta.

Ngoại hình.

Vốn sinh ra trong một gia đình khá giả nhưng người đàn bà hàng chài lại là một người phụ nữ có ngoại hình thô kệch, xấu xí, gợi sự liên tưởng cho người đọc về một người đàn bà với cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ như tất cả những người người đàn bà ở vùng biển – nơi mà con người ta luôn phải đối diện với hiểm nguy, cuộc sống luôn phải đặt trong vòng vây của sự đói khát, bấp bênh.

Phẩm chất, tính cách

– Sức chịu đựng ghê gớm: Cam chịu, nhẫn nhục chịu để chồng đánh một cách bình tĩnh như thực hiện một nghĩa vụ. Chị chấp nhận những đòn roi như một phần cuộc đời mình, chấp nhận nó như cuộc sống của người đi biển đánh cá phải đương đầu với sóng to, gió lớn vậy.

– Rất tự trọng. Sau khi biết được hành động vũ phu của chồng đã bị thằng Phác và người khách lạ (Phùng) chứng kiến, chị thấy “đau đớn – vừa đau đớn vừa vô cùng xấu hổ, nhục nhã”. Và chị đã khóc.

– Thương chồng: Chị cầu xin vị chánh án  đừng bắt mình phải li hôn với gã chồng thường xuyên hành hạ chị: “Con lạy quý toà… Quý toà bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó”.

– Chị là người mẹ thương con:

+ Chị lo sợ thằng Phác sẽ có những hành động nông nổi với bố, chị đã gởi con cho bố ruột mình nuôi. Không muốn con nhìn thấy cảnh cha đánh mẹ, chị xin với chồng mỗi lần đánh chị thì lên bờ mà đánh khi không có mặt con. Đó cũng là một cách ứng xử rất nhân bản.

+ Chị nhẫn nhục chịu đựng đòn roi của chồng vì chị nghĩ đến đàn con: “Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ. Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được!”. Hoá ra, chị không thể bỏ chồng vì cuộc sống trên thuyền không thể thiếu một người đàn ông trong những lúc phong ba, bão táp,  các con chị phải được nuôi nấng, phải được lớn lên,…

– Chị là một người hiểu thấu lẽ đời, tuy ít học mà tỉnh táo và sáng suốt.

+ Chị xưng hô: quý toà – con tự nhận mình là thân phận thấp hèn. Khi chánh án Đẩu khuyên chị bỏ chồng. Chị cảm ơn Phùng và Đẩu về lời khuyên ấy và khẳng định: “Lòng các chú tốt, nhưng các chú đâu phải là người làm ăn… cho nên các chú đâu có hiểu được cái việc của những người làm ăn lam lũ, khó nhọc…”. Chị quả rất hiểu lẽ đời.

+ Không chỉ hiểu mình, chị hiểu cả tấm lòng của những người phụ nữ hàng chài. Họ biết mình đau khổ nhưng vẫn nhẫn nại, hi sinh, bao dung chịu đau khổ để cho đàn con được dưỡng nuôi, khôn lớn. Bởi người phụ nữ hàng chài không thể sống như những người phụ nữ khác, do hoàn cảnh rất riêng của họ, lúc nào cũng sống trên sóng nước, gia đình nào cũng trên dưới chục đứa con. Câu chuyện của chị ở toà án huyện đã mang lại cho chánh án Đẩu và nghệ sĩ Phùng những nhận thức mới mẻ mà trước đó họ chưa từng nghĩ tới.

– Chị yêu thương gia đình và cuộc sống đạm bạc của gia đình. Như chị nói: trên thuyền cũng có những lúc cha con, vợ chồng vui vẻ với nhau, nhất là khi nhìn đàn con được ăn no. Chính vì vậy, khi chánh án Đẩu đề nghị chị li hôn với chồng chị đã nhất định không chấp nhận.

Ở Chị là người phụ nữ bao dung, vị tha, giàu lòng yêu thương và đức hi sinh.

Nghệ thuật xây dựng nhân vật.

Nhà văn đã có dụng ý tạo nên ấn tượng cho người đọc về hình ảnh ngừơi đàn bà bằng ngôn ngữ rất linh hoạt, sáng tạo kết hợp với thủ pháp đối lập giữa ngoại hình và nội tâm, giữa một số phận bất hạnh và tấm lòng nhân hậu, bao dung, thương con hơn tất cả mọi thứ trên đời.

Kết bài Chiếc thuyền ngoài xa:

Khép lại câu chuyện về người đàn bà vô danh vùng biển, nhưng người đọc không khỏi băn khoăn, day dứt. Vấn đề dặt ra là làm thế nào để số phận những người phụ nữ như người đàn bà kia thoát khỏi những bi kịch của cuộc đời? Bằng việc khắc hoạ rõ nét chân dung người đàn bà hàng chài, Nguyễn Minh Châu đã gửi đến người đọc một thông điệp đầy tinh thần nhân văn: Thời đại nào con người ta cũng cần phải có sự thương yêu, lòng thông cảm, phải có niềm tin vào cuộc đời.

Giáo án hội giảng Chiếc thuyền ngoài xa ngữ văn lớp 12

Soạn giáo án bài Chiếc thuyền ngoài xa theo định hướng phát triển năng lực tuyển tập giáo án Ngữ văn lớp 12 hay nhất

Tiết 70

 Đọc văn:CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA

Nguyễn Minh Châu-

MỤC TIÊU:

  1. Về kiến thức:

           HS nắm được những nét chính về cuộc đời và sự nghiệp văn học của tác giả. Đồng thời nắm được cốt truyện, bố cục của tác phẩm, tìm hiểu về hai phát hiện của nghệ sĩ Phùng.

  1. Về kĩ năng:

          Rèn luyện kĩ năng đọc- hiểu, kĩ năng phân tích tác phẩm văn xuôi. Tích hợp giáo dục kỹ năng sống.  

  1. Về thái độ:

          Bồi dưỡng học sinh biết trân trọng giá trị cuộc sống.

  1. Năng lực cần đạt:

– Năng lực tự học.

– Năng lực thẩm mĩ.

– Năng lực giải quyết vấn đề.

– Năng lực hợp tác.

– Năng lực sử dụng ngôn ngữ.

CHUẨN BỊ:

1.Giáo viên:

          Sgk+ sgv Ngữ văn 12 và các tài liệu tham khảo khác.

Giáo án.

-Phiếu bài tập, trả lời câu hỏi, giấy A4, giấy Ao

-Tranh ảnh về nhà văn, hình ảnhvề nhà văn Nguyễn Minh Châu.

   2.Học sinh:

          –Đọc và soạn bài theo hệ thống câu hỏi phần Hướng dẫn học bài trong sgk.

-Đồ dùng học tập .

QUÁ TRÌNH TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC CHO HỌC SINH:

  1. Khởi động:

GV giao nhiệm vụ:

+Trình chiếu tranh ảnh, cho hs xem tranh ảnh về thiên nhiên và cuộc sống con người vùng biển.

Yêu cầu HS chuẩn bị giấy A4.

Trình bày cảm nhận của em về những hình ảnh vừa xem?

Dẫn vào bài:

Cái đẹp luôn là đối tượng để nghệ thuật có thể chào đời, thăng hoa. Song nghệ thuật muốn tồn tại cần có sự kết nối với cuộc sống. Vậy nhà văn Nguyễn Minh Châu sẽ xử lí mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống ntn chúng ta cùng tìm hiểu truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa.

 

  1. Hình thành kiến thức mới:

* Hoạt động 1: TÌM HIỂUTÁC GIẢ, TÁC PHẨM

– Mục tiêu: Giúp HS nắm được những nét chính về tác giả, tác phẩm.

Nhiệm vụ: HS đọc ngữ liệu SGK, nêu những nội dung chính.

Phương thức: trả lời cá nhân, nhóm  bằng hình thức thuyết minh giới thiệu tác giả, tác phẩm.

Sản phẩm: HS phát biểu, thể hiện năng lực giao tiếp ngôn ngữ.

Tiến trình thực hiện:

Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung cần đạt
 

 

Hướng dẫn học sinh tìm hiểu phần Tiểu dẫn. (trình chiếu ảnh về tác giả Nguyễn Minh Châu)

GV sử dụng kĩ thuật đặt câu hỏi.

(?)Bằng hiểu biết của mình, em hãy trình bày những nét chính về cuộc đời và sự nghiệp văn học của nhà văn Nguyễn Minh Châu?

HS làm việc cá nhân, trình bày.

– GV chốt lại các ý chính và yêu cầu học sinh gạch chân trong SGK.

 

 

GV yêu cầu hs làm việc nhóm theokĩ thuật mảnh ghépđể trả lời câu hỏi:

Hãy tóm tắt ngắn gọn truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa?

HS trao đổi, thảo luận nhóm, đại diện báo cáo kết quả.

 

 

Theo em có thể chia văn bản thành mấy đoạn, nêu nội dung của mỗi đoạn?

HS suy nghĩ, trả lời. GV nhận xét.

I. TÌM HIỂU CHUNG

1. Tác giả:

-Cuộc đời:

-Sự nghiệp văn học:

+Trước năm 1975 là ngòi bút sử thi có thiên hướng trữ tình lãng mạn.

+Từ đầu thập kỉ 80 của thế kỉ XX chuyển hẳn sang cảm hứng thế sự với những vấn đề đạo đức và triết lí nhân sinh,

->Là một trong những người mở đường tinh anh và tài năngnhất của VHVN thời kì đổi mới.(Nguyên Ngọc).

2. Tác phẩm

a. Tóm tắt tác phẩm;

 

 

 

 

 

 

 

b. Bố cục:

Truyện chia  làm 3 đoạn:

+ Đoạn 1: (Từ đầu đến “chiếc thuyền lới vó đã biến mất”). Hai phát hiện của  nghệ sĩ nhiếp ảnh.

+ Đoạn 2: (Từ “Ngay lúc ấy … với sóng gió giữa phá”): Câu chuyện của người đàn bà làng chài.

+ Đoạn 3: Còn lại: Tấm ảnh trong bộ lịch năm ấy.

* Hoạt động 2: Đọc hiểu văn bản:

Mục tiêu:giúp HS nắm được hai phát hiện của nghệ sĩ nhiếp ảnh.

Nhiệm vụ:HS đọc, trả lời.

– Phương thức: hoạt động cá nhân,nhóm.

Sản phẩm: HS đưa ra kết quả qua phiếu học tập.

Tiến trình thực hiện:

Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung cần đạt
 

 

 

 

GV sử dụng kĩ thuật đọc tích cực và trả lời câu hỏi:

GV yêu cầu HS đọc sgk từ đầu đến …ở chơi thêm vài bữa(trang 70-71 )

HS đọc và trả lời các câu hỏi.

Tìm những từ ngữ, hình ảnh về bức tranh thiên nhiên dưới sự chứng kiến của nghệ sĩ Phùng?

 

 

 

 

 

 

Tâm trạng và hành động  của Phùng khi chứng kiến cảnh đó?

 

 

 

 

 

Qua cảnh này, tác giả muốn nói điều gì?

 

 

 

 

 

GV yêu cầu HS đọc văn bản từ Ngay lúc ấy…chiếc thuyền lưới vó đã biến mất trong sgk (tr 71-73)

 

Tuy nhiên ngay sau khi tâm hồn đang bay bổng với những xúc cảm thẩm mĩ, đang tận hưởng cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn thì anh đã phát hiện ra điều gì?

 

GV sử dụng kĩ thuật khăn trải bànđể tìm những chi tiết về ngoại hình của nhân vật người đàn ông và người đàn bà.

GV phát phiếu học tập có yêu cầu câu hỏi cho từng nhóm.

Nhóm 1 và 3:

Tìm những chi tiết miêu tả ngoại hình của người đàn bà?  Ngoại hình đó đã hé mở điều gì về số phận của nhân vật?

Nhóm 2,4:

Tìm những chi tiết miêu tả ngoại hình, hành động của người đàn ông?  Ngoại hình đó đã hé mở điều gì về số phận của nhân vật?

GV kiểm tra đánh giá sản phẩm hoạt động của học sinh.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

GV sử dụng kĩ thuật đặt câu hỏi.

Thái độ của Phùng khi ấy ntn?

 

 

 

 

Vì sao anh kinh ngạc đến như vậy?

 

 

 

 

 

 

 

Qua hai phát hiện của nghệ sĩ Phùng, Nguyễn Minh Châu muốn người đọc nhận thức được điều gì về cuộc đời?

 

II.  ĐOC- HIỂU :

1.  Hai phát hiện của người nghệ sĩ nhiếp ảnh:

a. Phát hiện thứ nhất:

 

 

 

 

 

-Bức tranh thiên nhiên:

+ Cảnh đắt trời cho.

+ Bức tranh mực tàu cảu một danh họa thời cổ.

+ Chiếc thuyền…. chiếu vào.

+ Vài bóng người lớn… đang hướng mặt vào bờ.

->Cảnh đẹp hài hòa, đơn giản, toàn bích.

– Tâm trạng:

+ Đứng trước cảnh đó…bóp thắt vào.

+ Chẳng biết…tâm hồn.

-Hành động: Chẳng phải…vừa mang lại.

-> Sự thăng hoa trước cái đẹp.Cái đẹp có khả năng giáo dục con người.

=> Với một nghệ sĩ chân chính, không niềm vui nào bằng khám phá được vẻ đẹp bất ngờ của thiên nhiên và cuộc sống. Nhưng để có được khoảnh khắc hiếm hoi ấy phải kiên trì, đam mê và sống hết mình với nghệ thuật.

b.Phát hiện thứ hai:

 

 

 

– Phát hiện của Phùng:

+ Chiếc thuyền tiến vào bờ, một người đàn ông và một người đàn bà rời thuyền.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

-Ngoại hình của người đàn bà:

+ Trạc ngoài bốn mươi.

+ Thân hình cao lớn với những đường nét thô kệch.

+ Mụ rỗ mặt, khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm…buồn ngủ.

+ Tấm lưng áo bạc phếch..nửa thân dưới ướt sũng.

->Cuộc đời nhọc nhằn, vất vả.

– Ngoại hình, hành động của người đàn ông:

+  Ngoại hình:

Tấm lưng rộng và cong như lưng một chiếc thuyền

 Mái tóc tổ quạ

 Chân chữ bát

 Hàng lông mày cháy nắng hai con mắt đầy vẻ độc dữ.

+ Hành động:

Rút trong người một chiếc thắt lưng..nghiến ken két.

->Cuộc đời lam lũ, nghèo khổ.

 

– Thái độ: kinh ngạc đến sững sờ: “…cứ há mồm ra mà nhìn.”. người nghệ sĩ như chết lặng không tin vào những gì đang diễn ra trước mắt mình. Vì :

+ Anh không thể ngờ đằng sau cái vẻ đẹp diệu kì của tạo hoá kia lại có cái ác, cái xấu đến không thể tin được.

+ Hơn nữa vừa mới lúc trước anh còn cảm nhận thấy bản thân cái đẹp là đạo đức, thấy chân lí của sự toàn thiện thế mà ngay sau đó chẳng còn gì là đoạ đức, là toàn thiện của cuộc đời.

=> Cuộc đời không đơn giản xuôi chiều mà chứa đựng nhiều nghịch lí. Cuộc sống luôn tồn tại những mặt đối lập, những mâu thuẫn: đẹp- xấu, thiện- ác…

* Hoạt động 3: Luyện tập, vận dụng, mở rộng:

Mục tiêu:Củng cố kiến thức đã học

Nhiệm vụ:HS đọc, trả lời.

– Phương thức: hoạt động cá nhân

– Sản phẩm:HS đưa ra kết quả.

Tiến trình thực hiện:

Bài tập : Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi từ câu 1 đến câu 3:

      (1)Từ chỗ chiếc xe tăng mà tôi đang đứng với chiếc máy ảnh, đi quá mươi bước sâu về phía trong có một chiếc xe rà phá mìn của công binh Mĩ, chiếc xe sơn màu vàng tươi và to lớn gấp đôi một chiếc xe tăng. Hai người đi qua trước mặt tôi. Họ đi đến bên chiếc xe rà phá mìn. Người đàn bà đứng lại, ngước mắt nhìn ra ngoài mặt phá nước chỗ chiếc thuyền đậu một thoáng, rồi đưa một cánh tay lên có lẽ định gãi hay sửa lại mái tóc nhưng rồi lại buông thõng xuống đưa cặp mắt nhìn xuống chân.

(2) Lão đàn ông lập tức trở nên hùng hổ mặt đỏ gay, lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng của lính ngụy ngày xưa, có vẻ như những điều phải nói với nhau họ đã nói hết, chẳng nói chẳng rằng, lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà, lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi nhát quật xuống lão lại nguyền rủa bằng giọng rên rỉ đau đớn: “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết cho ông nhờ”

( Trích Chiếc thuyền ngoài xa- Nguyễn Minh Châu, sgk Ngữ văn 12, tập hai, NXBGD)

Câu 1: Xác địnhphương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn 1 ?

Câu 2: Nêu nội dung chính của đoạn trích trên?

Câu 3: Trong đoạn 1, tại sao người đàn ông lại chọn địa điểm là chiếc xe tăng của công binh Mĩ ngày xưa để đánh người đàn bà?

Câu 4: Thông điệp nào của đoạn trích trên muốn gửi gắm tới anh, chị? Hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng từ 5 đến 7 câu).

HS đọc và soạn tiếp văn bản theo hệ thống câu hỏi trong sgk.

 

 

Dự kiến tiết 2:

  1. Đọc- hiểu:

2.Câu chuyện của người đàn bà ở tòa án huyện.

  1. Ý nghĩa của tấm ảnh.

III. Tổng kết:

Giáo án sưu tầm

Xem thêm : Trọn bộ giáo án và chuyên đề dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh

Giáo án ngữ văn 10 

Giáo án ngữ văn 11

Giáo án ngữ văn 12

Tuyển tập đề thi , tài liệu, và những bài văn hay về  Chiếc thuyền ngoài xa

Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về các tác phẩm lớp 12 ( phần 2 )

Tổng hợp những Kết bài Nghị luận văn học Ngữ văn 12 hay nhất :  Tây Tiến, Đất nước, Vợ nhặt, Vợ chồng A Phủ, Rừng xà nu, Chiếc thuyền ngoài xa, Việt Bắc, Sóng, Người lái đò sông Đà, Ai đã đặt tên cho dòng sông

Tài liệu bài luyện tập rèn kĩ năng viết mở bài, kết bài trong văn nghị luận

1, Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Tây Tiến– Quang Dũng

  1. Từ sự kết hợp một cách hài hoà giữa cái nhìn hiện thực với cảm hứng lãng mạn, Quang Dũng đã dựng lên bức chân dung, một bức tượng đài người lính cách mạng vừa chân thực vừa có sức khái quát, tiêu biểu cho vẻ đẹp sức mạnh dân tộc ta trong thời đại mới, thời đại cả dân tộc đứng lên làm cuộc kháng chiến vệ quốc thần kỳ chống thực dân Pháp. Đó là bức tượng đài được kết tinh từ âm hưởng bi tráng của cuộc kháng chiến ấy. Đó là bức tượng đài được khắc tạc bằng cả tình yêu của Quang Dũng đối với những người đồng đội, đối với đất nước của mình. Vì thế từ Tây Tiến, từ bức tượng đài đã vút lên khúc hát ngợi ca của nhà thơ cũng như của cả đất nước về những người con anh hùng ấy.
  2. Quang Dũng vào “làng” thơ cách mạng với bài Tây Tiến . Như có mối duyên gì ràng buộc, bài thơ ấy gắn bó với người làm ra nó đến mức cứ nói đến Quang Dũng là người ta nhớ đến bài thơ Tây Tiến và ngược lại.Có lẽ bởi từ sự kết hợp một cách hài hoà giữa cái nhìn hiện thực với cảm hứng lãng mạn, Quang Dũng đã dựng lên bức chân dung, một bức tượng đài người lính cách mạng vừa chân thực vừa có sức khái quát, tiêu biểu cho vẻ đẹp sức mạnh dân tộc ta trong thời đại mới, thời đại cả dân tộc đứng lên làm cuộc kháng chiến vệ quốc thần kỳ chống thực dân Pháp.
  3. Đọc xong những ý thơ mà tôi có cảm giác vẻ đẹp của thiên nhiên, con người miền Tây còn chập chờn, mien man đâu đó. Bằng tình cảm sâu đậm của mình với mảnh đất này, Quang Dũng đã tạo nên mối tơ tình đồng điệu, gắn bó giữa độc giả với nhà thơ, giữa độc giả với thiên nhiên, con người miền Tây trong những năm tháng kháng chiến gian nan. Quả là “ Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy / Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”.

2. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Đất Nước- Nguyễn Khoa Điềm:

Những vần thơ rất đẹp trong Đất Nướcđã vượt qua thử thách của thời gian, tiếp tục toả sáng, giúp thế hệ học sinh hôm nay hiểu hơn về thế hệ cha ông trong những ngày tháng hào hùng nhất của dân tộc. Trong thời đại mới, những giá trị của ngày hôm qua góp phần khơidậy lòng tự hào và ý thức trách nhiệm, tình cảm cho mỗi con người trong khát vọng đưa Đất Nước đi xa đến những tháng ngày mơ mộng

3. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Việt Bắc Tố Hữu

  1. Như vậy nhà thơ Tố Hữu đã thể hiện những tâm sự của mình nói riêng và của tất cả những chiến sĩ và nhân dân Việt Bắc nói chung. Mười lăm năm kháng chiến với biết bao nhiêu kỉ niệm và giờ đây khi phải xa nhau thấy lòng mình thật muốn vỡ òa trong nức nở. Chân không muốn rời xa. Qua đây ta thấy được tình nghĩa đoàn kết keo sơn của con người Việt Nam mà cụthể đó là tình quân dân. Để đạt được những thắng lợi trên mặt trận ấy thì không thể nào quên ơn những người nhân dân Việt Bắc được
  2. Trong câu chuyện với một nhà nghiên cứu văn học người Pháp, Tố Hữu tâm sự rằng: “Mình phải lòng đất nước và nhân dân của mình. Nói về đất nước, nói về nhân dân như nói về người mình yêu”. Phải chăng, tâm sự đó là những lời mà Tố Hữu nói về Việt Bắc, nói về những vần thơ chan chứa tình quân dân gắn bó, tình yêu nước thiết tha. Những tình cảm thiêng liêng ấy cứ vấn vương mãi trong lòng người đọc.

4. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Sóng- Xuân Quỳnh

  1. Sóng – bài thơ thành công trong phương thức biểu hiện cảm xúc của thi sĩ. Kết cấu song trùng, sự tương xứng giữa hai hình tượng Sóng và Em là sáng tạo nghệ thuật đặc sắc, giàu tính thẩm mĩ của Xuân Quỳnh. Với sự sáng tạo ấy, Xuân Quỳnh đã nói lên một cách nồng thắm mà không kém phần tế nhị những khát khao rạo rực của trái tim yêu. Đó cũng là những khát khao đời thường, dung dị, cao quý. Tiếng nói ấy chân thành, tự nhiên mà sâu sắc được diễn tả qua hình tượng thơ gợi cảm, đa nghĩa. Xuân Quỳnh thực sự là thi sĩ của tình yêu, thi sĩ của những rung động nữ tính trong trái tim.
  2. Bài thơ Sóng là bài thơ giàu giá trị nội dung và nghệ thuật. Thành công của bài thơ là nhờ vào thủ pháp nghệ thuật nhân hóa, ẩn dụ, so sánh, đối lập… nhất là thể thơ ngũ ngôn giàu nhịp điệu. Nhịp điệu của sóng, nhịp điệu của tâm hồn. Tất cả đã làm hiện lên vẻ đẹp rất Xuân Quỳnh giàu trắc ẩn suy tư và khát vọng trong tình yêu. Đọc xong bài thơ “Sóng” ta càng ngưỡng mộ hơn những người phụ nữ Việt Nam, những con người luôn thuỷ chung, luôn sống hết mình vì một tình yêu. Xuân Quỳnh xứng đáng là một nhà thơ nữ của tình yêu lứa đôi, chị đã làm phong phú hơn cho nền thơ ca nước nhà

5. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài  Ai đã đặt tên cho dòng sông– Hoàng Phủ Ngọc Tường

Hoàng Phủ Ngọc Tường đã dẫn người đọc vào cuộc hành trình khám phá nét đẹp của thiên nhiên Huế. Lần lượt theo dòng chảy của Hương giang, tôi bắt gặp khung cảnh thiên nhiên Huế lúc nguyên sơ, trong trẻo, lúc mượt mà khi kì ảo, lúc dịu dàng say đắm khi thâm trầm trang nghiêm. Sông Hương tôn lên vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên Huế, hòa nhập với không khí của văn hóa Huế. Tất cả đều sống động qua tình yêu tha thiết của Hoàng Phủ Ngọc Tường với con sông này. Qua hình tượng sông Hương tôi còn cảm nhận vẻ đẹp cái tôi Hoàng Phủ Ngọc Tường: một cái tôi trí tuệ uyên bác qua những tri thức phong phú với nhiều lĩnh vực, một cái tôi tài hoa phóng túng với những liên tưởng bất ngờ. Và trên hết là một cái tôi sâu nặng tình yêu và tự hào với Huế – quê hương của mình.Tất cả làm nên sức sống của thiên kí này.

6. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Người lái đò sông Đà– Nguyễn Tuân

Phong cách Nguyễn Tuân độc đáo và phong phú.Ở tùy bút “Người lái đò sông Đà” chúng ta thấy phong cách giá trị của ông thể hiện rõ nhất là sự nhọn sắc của giác quan nghệ sĩ đi đôi với một kho chữ nghĩa giàu có và đầy màu sắc, lối văn rất mực tài hoa. Dòng sông Đà “hung bạo và trữ tình” cùng hình tượng người lái đò tài hoa chảy mãi trong dòng văn học nước nhà như niềm yêu mến và tự hào về con người, cỏ cây sông núi quê hương của nhà văn Nguyễn Tuân

7. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Vợ chồng A Phủ– Tô Hoài

Gấp lại những trang sách mà dư âm về nhân vật Mị, về cô gái Mèo với sức sống mãnh liệt trong đêm tình mùa xuân, về số phận đáng thương của người dân dưới xã hội phong kiến đương thời vẫn còn in đậm trong tâm hồn tôi. Mị hay Vợ chồng A Phủ mãi là những rung động sâu sắc mà Tô Hoài để lại nơi người đọc.

8. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Vợ nhặt– Kim Lân

  1. “Cái đẹp cứu vớt con người” (Đôxtôiepki). Vâng, “vợ nhặt” củanhà văn Kim Lân thể hiện rõ sức mạnh kì diệu ấy. Ánh sáng của tình người, lòng tin yêu vào cuộc sống là con nguồn mạch giúp Kim Lân hoàn thành tác phẩm. Ông đã đóng góp cho văn học Việt Nam nói chung, về đề tài nạn đói nói riêng một quan niệm mới về lòng người và tình người. Đọc xong thiên truyện, dấu nhấn mạnh mẽ nhất trong tâm hồn bạn đọc chính là ở điểm sáng tuyệt vời ấy.
  1. Bằng ngòi bút miêu tả chân thực, sinh động, cách khắc họa tâm lý nhân vật sắc sảo,độc đáo và cốt truyện đầy bất ngờ Kim Lân đã vẽ lại trước mắt người đọc khung cảnh đói nghèo tràn lan của xã hội Việt Nam những năm 1945. Qua đó tác giả cũng nhấn mạnh tình yêu thương giữa người với người luôn bất diệt.

 

9. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Rừng xà nu– Nguyễn Trung Thành

Rừng xà nu là truyện của một người nhưng qua đó ta thấy được số phận của cả một dân tộc . Đó là bức tranh hoành tráng , hoành tráng trong hình ảnh, với vóc dáng vạm vỡ của cao cả của rừng núi và của con người và hoành tráng trong âm hưởng với lời văn đầy nhịp điệu, khi vang động, khi tha thiết trang nghiêm .

10. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Chiếc thuyền ngoài xa– Nguyễn Minh Châu

Qua truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu đã nêu lên bài học về cái nhìn đa diện, cái nhìn khám phá trong sáng tạo nghệ thuật đối với các nghệ sĩ chân chính. Từ tình huống truyện có ý nghĩa khám phá, phát hiện về sự thật đời sống và qua sự thay đổi nhận thức của Phùng, của Đẩu, tác giả đã khẳng định mối quan hệ giữa nghệ thuật và hiện thực. Theo ông, bổn phận của người nghệ sĩ là phải phát hiện ra bản chất của cuộc đời. Cái Đẹp, cái Thiện trước hết phải là sự chân thực, Cuộc sống vốn phức tạp, chúng ta không thể đơn giản, sơ lược khi nhìn nhận con người và cuộc sống mà cần có cái nhìn tỉnh táo, sâu sắc cùng với sự tìm tòi, phát hiện để hiểu đúng bản chất của nó.

Tài liệu sưu tầm và tổng hợp

Xem thêm :

  1. Tổng hợp những kết bài hay về các tác phẩm lớp 12 ( phần 1 )
  2. Tuyển tập những kết bài mẫu  về các tác phẩm lớp 11 
  3. Cách viết phần kết bài trong văn nghị luận
  4. Tuyển tập những mở bài hay nhất về các tác phẩm lớp 12

Đề thi thử THPT Quốc gia môn Văn- đề 24

ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA NĂM  2017 MÔN:   NGỮ VĂN

Viết một đoạn văn nói về trách nhiệm của tuổi trẻ đối với đất nước. Nghị luận hai ý kiến Về nhân vật Phùng trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu.

 Thời gian: 120 phút, không kể phát đề

ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)

Đọc bài thơ và thực hiện các yêu cầu sau

 Nếu có thể đo xương máu tiền nhân

Trường Sơn ngút ngàn dễ gì so được

Bao người mẹ, người vợ, người em – nước mắt

Hồng Hà, Cửu Long đâu thể sánh cùng

Bão trường chinh ào ạt mấy ngàn năm…

Ào ạt mấy ngàn năm châu thổ

Những bờ đê chắn lũ, ngăn thù

Cùng bọc trứng trăm con đi muôn ngả

Vẫn thắm lòng dưa hấu chốn biển xa

Ào ạt mấy ngàn năm… Thánh Gióng

Mới lên ba đã giáp sắt, tre ngà

Câu thơ thần nhuộm đỏ sông Như Nguyệt

Đỏ Bạch Đằng cuồn cuộn sóng bể xa

Mấy ngàn năm… Vọng Phu xứ Bắc

Phụ Tử bùi ngùi doi đất trời Nam

Những cuộc chia ly, những vành khăn trắng

Chẳng nguôi ngoai dù xác giặc chất chồng

Chẳng thể dịu nỗi Rạch Gầm, Xoài Mút

Hiền Lương, Khâm Thiên, Sơn Mỹ, Thổ Chu

Máu Vị Xuyên, Gạc Ma bầm chát

Vạn nghĩa trang hương khói nguyện cầu

Ôi Tổ quốc, biên cương chưa yên giấc

Đêm quặn lòng máu thịt Hoàng Sa

Ngày đỏ mắt Trường Sa giông bão

Lại bút, gươm giữ cõi, xây nhà.

                   (Tổ quốc, Nguyễn Thế kỷ, http://thanhnien. vn/van-hoa)

Câu 1. Bài thơ nhắc đến những tác phẩm tự sự dân gian nào?

Câu 2. Xác định thể thơ và phương thức biểu đạt chính của bài thơ?

Câu 3. Phân tích giá trị của điệp ngữ “ào ạt mấy ngàn năm”.

Câu 4. Thông điệp của bài thơ là gì?

LÀM VĂN (7.0 điểm)

Câu 1 (2.0 điểm)

 Từ bài thơ ở phần đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn nói về trách nhiệm của tuổi trẻ đối với đất nước?

 Câu 2 (5.0 điểm)

Về nhân vật Phùng trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu, có ý kiến cho rằng: nét nổi bật ở người nghệ sĩ này là một tâm hồn nhạy cảm và say mê cái đẹp. Ý kiến khác thì nhấn mạnh: vẻ đẹp sâu xa của nghệ sĩ Phùng chính là một tấm lòng trăn trở, lo âu về thân phận con người.

Anh/chị có suy nghĩ gì về những ý kiến trên?

 

          SỞ GD&ĐT  THANH HÓA

TRƯỜNG THCS&THPT THỐNG NHẤT

 

ĐỀ THI THPT QUỐC GIA NĂM  2017

                MÔN:   NGỮ VĂN

 Thời gian: 120 phút, không kể phát đề

 

ĐÁP ÁN VÀ THANG ĐIỂM

 

I. Đọc hiểu

1, Các tác phẩm tự sự dân gian được nhắc đến: Con Rồng, cháu Tiên; Sự tích quả dưa hấu; Thánh Gióng; Sự tích Hòn vọng phu 0.5

2

– Thể thơ: Tự do

– Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm

3

Giá trị điệp ngữ “ào ạt mấy ngàn năm”

– Khẳng định lịch sử và truyền thống ngàn đời của dân tộc chưa bao giờ đứt gãy

– Khẳng định sức mạnh dân tộc và khao khát giữ gìn độc lập từ ngàn xưa vẫn cuộn chảy mạnh mẽ

– Nhấn mạnh nỗi đau chiến tranh

4. Thí sinh có thể nêu thông điệp: Niềm tự hào về Tổ quốc qua bao bão giông vẫn vươn lên mạnh mẽ 1.0

II.Làm văn

1 Học sinh viết đoạn văn đảm bảo về cấu trúc, diễn đạt mạch lạc, tập trung vào các nội dung sau:

– Bất cứ thời đại nào, mỗi con người chúng ta nhất là thế hệ thanh niên cũng luôn phải ý thức vai trò trách nhiệm của mình đối với đất nước.

– Xác định tư tưởng, tình cảm, lí tưởng sống của mình.

– Cần phải học tập tích lũy tri thức để góp phần phát triển đất nước theo kịp thời đại, hội nhập với xu thế phát triển chung của quốc tế.

– Cần  quan tâm theo dõi đến tình hình chung của đất nước, tỉnh táo trước hành động của mình không bị kẻ xấu lợi dụng. 2.0

Câu 2

1. Kỹ năng: đảm bảo bố cục một bài văn nghị luận văn học, có hệ thống luận điểm rõ ràng, lập luận chặt chẽ, hành văn trong sáng, giàu cảm xúc, giàu hình ảnh, không mắc lỗi chính tả, diễn đạt.

2. Kiến thức: cần đảm bảo những kiến thức cơ bản sau

a. Khái quát về tác giả, tác phẩm

– Nguyễn Minh Châu, nhà văn của những người lính, đã rất thành công với nhiều tác phẩm mang cảm hứng lãng mạn và khuynh hướng sử thi trước 1975, lại tiếp tục sáng tác với nhiều trăn trở về cách khám phá hiện thực cũng như phương thức thể hiện. Nhờ những nỗ lực không ngừng của một người lao động nghệ thuật dũng cảm và đầy bản lĩnh, Nguyễn Minh Châu đã có mặt trong hàng ngũ những nhà văn tiên phong trong công cuộc đổi mới văn học.

– Chiếc thuyền ngoài xa xuất hiện vào đầu những năm 80 của thế kỷ XX. Truyện ngắn là thành công mới trong phong cách tự sự triết lý.

b. Giải thích ý kiến

– Nét nổi bật ở người nghệ sĩ này là một tâm hồn nhạy cảm và say mê cái đẹp:  khả năng khám phá, phát hiện tinh tế và sự rung động mãnh liệt trước cái đẹp.

– Vẻ đẹp sâu xa của nghệ sĩ Phùng chính là một tấm lòng trăn trở, lo âu về thân phận con người: mối quan tâm đến số phận con người, nhất là những mảnh đời bất hạnh, thái độ bất bình trước những ngang trái.

c.  Cảm nhận về nhân vật Phùng

– Một tâm hồn nhạy cảm và say mê cái đẹp

+ Nhạy bén với vẻ đẹp trời cho khi chụp được hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa trong bối cảnh trời biển

+ Sung sướng đến ngây ngất khi bắt gặp cái đẹp, nhanh chóng nắm bắt và thu vào ống kính khoảnh khắc tuyệt mỹ đó.

– Một tấm lòng trăn trở, lo âu về thân phận con người

+ Thái độ khi chứng kiến cảnh bạo lực trong gia đình hàng chài: sửng sốt, bức xúc, căm phẫn, xông vào can thiệp để bảo vệ người đàn bà hàng chài…

+ Lắng nghe, day dứt với chuyện đời người đàn bà hàng chài; lo lắng, ám ảnh về thân phận và tương lai của họ; thay đổi quan niệm về nghệ thuật và cuộc đời.

– Nhân vật Phùng là đại diện tiêu biểu cho người nghệ sĩ chân chính với niềm đam mê nghệ thuật và trái tim nhạy cảm, nhân hậu.

– Nhân vật Phùng và quan niệm về người nghệ sĩ của Nguyễn Minh Châu: sáng tạo nghệ thuật phải gắn với đời sống, luôn biết tự nhận thức để hoàn thiện.

c. Bình luận

– Hai ý kiến trên bàn về những vẻ đẹp khác nhau trong tâm hồn người nghệ sĩ Phùng: ý kiến thứ nhất đề cao phẩm chất hàng đầu của một người nghệ sĩ- sự nhạy cảm và niềm say mê cái đẹp; ý kiến thứ hai nhấn mạnh phẩm chất đáng quý của người nghệ sĩ là tấm lòng hướng đến cuộc sống và con người.

– Hai ý kiến không đối lập mà bổ sung cho nhau, hợp thành cái nhìn cái nhìn thống nhất và toàn diện về vẻ đẹp phẩm chất của nhân vật nghệ sĩ Phùng.

Xem thêm : Tuyển tập những bài văn hay, mở bài Chiếc thuyền ngoài xa hay, những đề thi về Chiếc thuyền ngoài xa Ngữ văn 12 :

  1. Chiếc thuyền ngoài xa
  2. Bộ đề thi thử THPT Quốc gia môn văn
  3. Nghị luân ý kiến bàn về văn học

Đề thi Giáo viên dạy giỏi môn Ngữ văn THPT

Đề thi Giáo viên dạy giỏi môn Ngữ văn THPT

HỘI THI CHỌN GIÁO VIÊN DẠY GIỎI THPT CẤP TRƯỜNG NĂM HỌC 2016- 2017

Môn thi: Văn

Thời gian: 180 phút, không kể thời gian phát đề

Đề thi này có 1 trang

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

TRƯỜNG THPT Lam Kinh

ĐỀ THI CHÍNH THỨC


Câu 1
(1,0 điểm): Đồng chí hãy nêu nhiệm vụ của giáo viên bộ môn trường THPT theo điều lệ trường THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học ( Ban hành kèm theo thông tư số 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3/2011 của Bộ trưởng Bộ giáo dục & đào tạo) PHẦN I. Dành cho tất cả thí sinh (2,0 điểm)

Câu 2 (1,0 điểm): Một học sinh lớp 10 A1 ban khoa học tự nhiên ở trường THPT X có kết quả học tập và rèn luyện cả năm như sau:

Toán Vật lý Hóa học Sinh học Tin học Ngữ văn Lịch sử Địa lý Anh văn GD

CD

Thể dục GD

QP-AN

CN HK

Cả năm

Số buổi nghỉ CN
8.0 9.2 8.8 8.2 9.0 7.5 7.9 8.3 5.0 9.3 Đ 9.1 9.2 Tốt 02

Với vai trò là  giáo viên chủ nhiệm lớp đồng chí hãy đánh giá xếp loại cuối năm học sinh trên theo quy chế đánh giá, xếp loại học sinh THCS và THPT ban hành kèm theo thông tư số 58/2011/TT-BGDĐT ngày 12 tháng 12 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ giáo dục & đào tạo với các nội dung sau: điểm TB các môn học cả năm; Xếp loại học lực CN; lên lớp, ở lại, kiểm tra lại hay rèn luyện lại trong hè; Đạt học sinh giỏi CN hay học sinh tiên tiến CN.

PHẦN II. Dành riêng cho môn Văn(8,0 điểm)

Đồng chí hãy giải đề và xây dựng hướng dẫn chấm cho đề thi sau theo thang điểm 10 và cho điểm thành phần tối thiểu đến 0,25 điểm

Câu 1 : (4.0 điểm)

NGƯỜI ĂN XIN

Một người ăn xin đã già. Đôi mắt ông đỏ hoe, nước mắt ông giàn giụa, đôi môi tái nhợt, áo quần tả tơi. Ông chìa tay xin tôi.

Tôi lục hết túi nọ đến túi kia, không có lấy một xu, không có cả khăn tay, chẳng có gì hết. Ông vẫn đợi tôi. Tôi chẳng biết làm thế nào. Bàn tay tôi run run nắm chặt lấy bàn tay run rẩy của ông:

– Xin ông đừng giận cháu! Cháu không có gì cho ông cả.

– Ông nhìn tôi chăm chăm, đôi môi nở nụ cười:

– Cháu ơi, cảm ơn cháu! Như vậy là cháu đã cho lão rồi.

Khi ấy tôi chợt hiểu ra: cả tôi nữa, tôi cũng vừa nhận được một cái gì đó của ông.

(Theo nhà văn Tuốc-ghê-nhép)

Suy nghĩ của anh chị về cách ứng xử của con người trong xã hội qua câu chuyện trên.

Câu 2: (6.0 điểm)

Nhà văn Nguyễn Minh Châu quan niệm rằng: “Mỗi người đều chứa đựng trong lòng những nét đẹp đẽ, kỳ diệu đến nỗi cả một đời cũng chưa đủ để nhận thức, khám phá tất cả những cái đó”, vì vậy ông coi thiên chức của nhà văn là: “Cố gắng tìm kiếm những hạt ngọc ẩn dấu trong bề sâu tâm hồn con người”.

Qua truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa anh (chị) hãy làm rõ quan niệm trên?

Hết.

 

SỞ GD&ĐT THANH HÓA                                  THI CHỌN GVG CẤP TRƯỜNG

TRƯỜNG THPT Lam Kinh

NĂM HỌC 2016 – 2017

                                                                                           MÔN NGỮ VĂN

                                                                             ĐÁP ÁN VÀ HƯỚNG DẪN CHẤM

                                                                                       (Đáp án gồm 5 trang)

Phần chung

Câu 1 (1 điểm)         Điều 31. Nhiệm vụ của giáo viên trường trung học

  1. Giáo viên bộ môn có những nhiệm vụ sau đây:
  2. a) Dạy học và giáo dục theo chương trình, kế hoạch giáo dục, kế hoạch dạy học của nhà trường theo chế độ làm việc của giáo viên do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định; quản lý học sinh trong các hoạt động giáo dục do nhà trường tổ chức; tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn; chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả giáo dục; tham gia nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng;
  3. b) Tham gia công tác phổ cập giáo dục ở địa phương;
  4. c) Rèn luyện đạo đức, học tập văn hoá, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục; vận dụng các phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo, rèn luyện phương pháp tự học của học sinh;
  5. d) Thực hiện Điều lệ nhà trường; thực hiện quyết định của Hiệu trưởng, chịu sự kiểm tra, đánh giá của Hiệu trưởng và các cấp quản lý giáo dục;

đ) Giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo, gương mẫu trước học sinh; thương yêu, tôn trọng học sinh, đối xử công bằng với học sinh, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của học sinh; đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp; tạo dựng môi trường học tập và làm việc dân chủ, thân thiện, hợp tác, an toàn và lành mạnh;

  1. e) Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, các giáo viên khác, gia đình học sinh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh trong dạy học và giáo dục học sinh;
  2. g) Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.

Câu 2: (1 điểm)

Theo thông tư số 58/2011/TT-BGDĐT ngày 12/12/2011 của Bộ trưởng Bộ giáo dục kết quả đánh giá, xếp loại của học sinh cuối năm học lớp 10 cụ thể là:

– Điểm TB các môn học cả năm: 8,3 ( Cách tính lấy TB cộng điểm TB cả năm các môn học đánh giá theo cho điểm)

– Xếp loại học lực: loại khá

– Được lên lớp 11

– Đạt học sinh tiên tiến cả năm

Phần riêng

Yêu cầu chung: Đáp án xây dựng theo quan điểm mở, đảm bảm một số nội dung cơ bản sau:

CÂU Ý NỘI DUNG ĐIỂM
1   Suy nghĩ về cách ứng xử của con người trong cuộc sống 4.0
1 Tóm lược và giải thích truyện: Truyện kể về việc cho và nhận của cậu bé và người ăn xin, qua đó ngợi ca cách ứng xử cao đẹp, nhân ái giữa con người với con người. 1.0
2 Bình luận: Sự đồng cảm, tình yêu thương chân thành và cách ứng xử lịch sự là món quà quý giá ta tặng cho người khác.Và khi ta trao món quà tinh thần quý giá ấy ta cũng nhận được món quà quý giá tương tự.

Truyện gợi cho chúng ta nhiều suy ngẫm về việc cho và nhận trong cuộc sống: cái cho và nhận là gì? Đâu phải chỉ là vật chất, có thể là giá trị tinh thần, có khi chỉ là một câu nói, một cử chỉ… và thái độ khi cho và nhận cần phải chân thành, có văn hóa.

1.5
3 Liên hệ thực tế cuộc sống. 1.0
4  Gửi gắm thông điệp: mỗi người cần tôn trọng, quan tâm chia sẻ với người khác… 0.5
2

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

  Qua truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa làm rõ cho quan niệm của nhà văn Nguyễn Minh Châu về con người và thiên chức của nhà văn. 6.0
1 Nguyễn Minh Châu là nhà văn tài năng, giàu tâm huyết. Ông là người sớm ý thức về sự đổi mới tư duy văn học, từ sau năm 1975 ông trở thành “người mở đường tinh anh và tài năng” của nền văn học mới với những tác phẩm giàu tính triết luận, giá trị nhân bản, về hành trình nhọc nhằn kiếm tìm hạnh phúc và hoàn thiện nhân cách con người… 0.5
2 Vẻ đẹp của cuộc sống và con người nhiều khi không hiển hiện lung linh, rực rỡ. Có lúc vẻ đẹp chúng ta hằng kiếm tìm tiềm ẩn nay trong cái vẻ xù xì, gai góc mà không phải ai và lúc nào cũng có thể nhận ra được. Đó chính là vấn đề có ý nghĩa cơ bản trong Chiếc thuyền ngoài xa – một tác phẩm tiêu biểu cho sáng tác của Nguyễn Minh Châu thời kì đổi mới.

Tác phẩm thể hiện quan niệm sâu sắc và rất nhân văn của ông về con người: “Mỗi người đều chứa đựng trong lòng những nét đẹp đẽ, kỳ diệu đến nỗi cả một đời cũng chưa đủ để nhận thức, khám phá tất cả những cái đó”.

0.5
3 Trong truyện, nhân vật để lại nhiều dư âm, trăn trở cho người đọc đồng thời hiện thân cho vẻ đẹp tiềm ẩn trong tâm hồn con người là nhân vật người đàn bà hàng chài.

Ngoại hình: Vốn sinh ra trong một gia đình khá giả, nhà ở phố huyện, nhưng ngay từ nhỏ chị đã có một ngoại hình xấu xí “Từ nhỏ tuổi tôi đã là một đứa con gái xấu, lại rỗ mặt, sau một bận lên đậu mùa”. Những nét xấu xí, thô kệch ấy, qua bao nhiêu năm tháng lam lũ, vất vả, lo toan vì cuộc sống nghèo khổ nên càng hằn sâu hơn: “trạc ngoài bốn mươi”, “đường nét thô kệch”, “rỗ mặt”, “khuôn mặt mệt mỏi”, “tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá”, “cặp mắt nhìn xuống chân”, tay “buông thõng xuống” ra vẻ nhẫn nhục, cam chịu…

Cuộc sống: Nghèo khổ, lam lũ, lênh đênh sóng nước, đông con…thường xuyên bị người chồng vũ phu hành hạ dã man…

 

 

0.5

 

 

 

 

 

0.5

 

4 Vượt lên trên hoàn cảnh, ngoại hình, cuộc sống lam lũ, cực nhọc, người phụ nữ này mang nhiều vẻ đẹp tiềm ẩn đáng trân trọng.

Sức chịu đựng phi thường và giàu lòng tự trọng.

Cuộc đối thoại với Phùng, Đẩu và việc từ chối bỏ chồng cho thấy người phụ nhữ này không nhu nhược, yếu hèn mà là người sâu sắc và từng trải.

Có cái nhìn thấu hiểu và đầy lòng vị tha: hiểu được tính cách, tâm lí và sự cùng quẫn, bế tắc của người chồng vũ phu…

Đặc biệt người phụ nữ này có tình yêu thương con vô bờ bến, sẵn sàng hi sinh tất cả cho con; hạnh phúc khi con có được bữa ăn no; không muốn con thấy những hành động vũ phu của người cha; đau đớn khi thấy con (thằng Phác) có hành động thù địch với cha…

Đây chính là vẻ đẹp tiềm ẩn mà nhà văn cố công kiếm tìm bên trong tâm hồn con người lao động nghèo khổ giữa cuộc đời còn nhiều nghịch lí.

 

 

0.5

0.5

 

0.5

 

1.0

 

5 Trong tác phẩm, nhà văn còn phát hiện vẻ đẹp trong tâm hồn các nhân vật khác bằng cái nhìn thấu hiểu.

Phùng, Đẩu – những người lính trở về với đời thường, mang bầu nhiệt huyết chiến đấu chống lại cái xấu, cái ác, cái nghèo, chiến đấu cho cuộc đời tốt đẹp hơn.

Thằng bé Phác yêu mẹ bằng hành động quyết liệt.

Ngay người chồng vũ phu cũng được nhà văn cảm thông qua cái nhìn vị tha của người vợ…

1.0
6 Qua truyện ngắn, ta thấy một Nguyễn Minh Châu rất sâu sắc, có cái nhìn nhiều chiều về con người và cuộc sống. Ông nhận thấy cuộc sống này có cả ánh sáng và bóng tối, thiện và ác, xấu và đẹp…Ông kêu gọi con người cần có cái nhìn thấu hiểu, vị tha để nhận thấy những hạt ngọc ẩn dấu trong tâm hồn mỗi con người. 0.5

 

 

Hướng dẫn cho điểm:

Cán bộ chấm thi cần linh hoạt trên cơ sở hướng dẫn chấm, ghi nhận những bài thi có sáng tạo

Câu 1:

Cho từ 3 điểm: Đáp án và hướng dẫn chấm đảm bảo kiến thức bộ môn, sát với yêu cầu của đề bài. Phân phối điểm cho từng ý hợp lý. Phát huy tính sáng tạo và năng lực văn chương của học sinh.

Cho từ 2 đến dưới 3 điểm: Đáp án và hướng dẫn chấm đảm bảo từ 2/3 yêu cầu của đề bài. Phân phối điểm hợp lý. Phát huy tính sáng tạo và năng lực văn chương của học sinh.

Cho từ 1 đến dưới 2 điểm: Đáp án và hướng dẫn chấm đảm một số yêu cầu cơ bản đề bài. Phân phối điểm chưa hợp lý ở một vài ý.

Cho từ 0.25 đến dưới 1 điểm: Đáp án và hướng dẫn chấm sơ sài, chưa đảm bảo yêu cầu của đề bài. Phân phối điểm chưa phù hợp.

Cho 0 điểm: Không làm bài hoặc sai kiến thức cơ bản.

Câu 2:

Cho từ 6.5-8 điểm: Đáp án và hướng dẫn chấm đảm bảo kiến thức bộ môn, sát với yêu cầu của đề bài. Phân phối điểm cho từng ý hợp lý. Phát huy tính sáng tạo và năng lực văn chương của học sinh.

Cho từ 5 đến dưới 6.5 điểm: Đáp án và hướng dẫn chấm đảm bảo từ 2/3 yêu cầu của đề bài. Phân phối điểm hợp lý. Phát huy tính sáng tạo và năng lực văn chương của học sinh.

Cho từ 3.5 đến dưới 5 điểm: Đáp án và hướng dẫn chấm đảm một số yêu cầu cơ bản đề bài. Phân phối điểm chưa hợp lý ở một vài ý.

Cho từ 2 đến dưới 3.5 điểm: Đáp án và hướng dẫn chấm sơ sài. Phân phối điểm chưa phù hợp ở một vài ý.

Cho từ 1 đến dưới 2 điểm: Đáp án và hướng dẫn chấm sơ sài. Phân phối điểm chưa phù hợp. Chưa hoàn thành bài.

Cho dưới 1 điểm: Xây dựng đáp án được một vài ý. Chưa phân phối điểm.

Cho 0 điểm: Không làm bài hoặc sai kiến thức cơ bản.

Hết

Xem thêm : Tuyển tập đề thi học sinh giỏi môn văn

Sáng kiến kinh nghiệm : Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu

Sáng kiến kinh nghiệm : Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu. Tổng hợp sáng kiến và các chuyên đề môn văn. Tài liệu tham khảo dành cho giáo viên

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 1.TÊN SÁNG KIẾN

Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án vào việc dạy học môn Ngữ Văn ở trường THPT (Áp dụng cụ thể vào dạy học tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” tích hợp nghị luận xã hội trong chương trình lớp 12)

2.  NỘI DUNG SÁNG KIẾN

Giải pháp cũ thường làm

Đã từ rất nhiều năm nay, việc dạy học môn Ngữ Văn ở Việt Nam vẫn theo phương pháp truyền thống là giáo viên giảng bài, học sinh ghi chép, ghi nhớ kiến thức sau đó viết lại những kiến thức đó trong các bài kiểm tra, bài thi. Gần đây, theo yêu cầu đổi mới về phương pháp dạy học, việc dạy học môn Ngữ Văn cũng có một số thay đổi nhất định như chú ý đối thoại hai chiều giữa giáo viên và học sinh, tăng cường thảo luận nhóm để học sinh tự tìm hiểu…Tuy nhiên nhìn chung sự đổi mới đó còn nặng về hình thức, chưa thực sự hiệu quả. Đa phần các giờ học Văn vẫn rất thụ động: giáo viên giảng bình theo cách hiểu của giáo viên, học sinh ghi chép và nhớ… Phương pháp dạy và học như trên có những ưu, nhược điểm như sau:

* Ưu điểm:

– Cung cấp cho học sinh kiến thức chuẩn của từng bài, đảm bảo nhu cầu nắm “cấp tốc” kiến thức để phục vụ kiểm tra, thi cử.

* Nhược điểm: Có thể nói nhược điểm của phương pháp truyền thống là rất nhiều:

– Người học càng ngày càng mất hứng thú học tập; hạn chế, thậm chí triệt tiêu sự sáng tạo, luôn thụ động ghi nhớ kiến thức máy móc. Thực tế cho thấy càng ngày học sinh càng không thích học môn Ngữ Văn. Nếu học chỉ là học thuộc để chống đối với các kì thi.

– Kiến thức thu nhận từ các bài học không gắn với thực tế cuộc sống, không phát triển năng lực, kĩ năng sống…cho học sinh. Trong khi đây là mục tiêu quan trọng hàng đầu của giáo dục nói chung và việc dạy học môn Ngữ Văn trong nhà trường.

– Phương pháp cũ cũng không đáp ứng được yêu cầu tích hợp, liên môn theo hướng đổi mới giáo dục hiện nay.

Giải pháp mới cải tiến

Sau một thời gian vận dụng phương pháp dạy học cũ, tôi và nhiều đồng nghiệp càng nhận ra những mặt hạn chế đã nêu. Với mong muốn cải tiến phương pháp để hiệu quả giảng dạy được tốt hơn, tôi đã tìm hiểu và nhận thấy cần phải tích cực hơn nữa trong việc vận dụng các phương pháp dạy học hiện đại trong dạy học môn Ngữ Văn. Theo sự tìm hiểu về các phương pháp dạy học, dựa vào đặc thù bộ môn, tôi nhận thấy phương pháp phù hợp nhất, có khả năng khắc phục được hầu hết các nhược điểm của phương pháp truyền thống, có tính khả thi cao chính là phương pháp dạy học theo dự án.

2.1. Khái quát về phương pháp dạy học theo dự án

2.1.1. Khái niệm: Dạy học theo dự án (DHDA) là một hình thức dạy học, trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, có tạo ra các sản phẩm có thể giới thiệu. Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch, đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện. Làm việc nhóm là hình thức cơ bản của DHDA.

2.1.2 Đặc điểm của DHDA

Trong các tài liệu về dạy học dự án có rất nhiều đặc điểm được đưa ra. Các nhà sư phạm Mỹ đầu thế kỷ 20 khi xác lập cơ sở lý thuyết cho PPDH này đã nêu ra 3 đặc điểm cốt lõi của DHDA: định hướng HS, định hướng thực tiễn và định hướng sản phẩm. Có thể cụ thể hoá các đặc điểm của DHDA như sau:

Định hướng thực tiễn: Chủ đề của dự án xuất phát từ những  tình huống của thực tiễn xã hội, thực tiễn nghề nghiệp cũng như thực tiễn đời sống. Nhiệm vụ dự án cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng của người học.

Có ý nghĩa thực tiễn xã hội: Các dự án học tập góp phần gắn việc học tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống, xã hội. Trong những trường hợp lý tưởng, việc thực hiện các dự án có thể mang lại những tác động xã hội tích cực.

Định hướng hứng thú người học: HS được tham gia chọn đề tài, nội dung học tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân. Ngoài ra, hứng thú của người học cần được tiếp tục phát triển trong quá trình thực hiện dự án.

Tính phức hợp: Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực hoặc môn học khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp.

Định hướng hành động: Trong quá trình thực hiện dự án có sự kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết và vận dung lý thuyết vào trong hoạt động thực tiễn, thực hành. Thông qua đó, kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết lý thuyết cũng như rèn luyện kỹ năng hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học.

Tính tự lực cao của người học : Trong DHDA, người học cần tham gia tích cực và tự lực vào các giai đoạn của quá trình dạy học.  Điều đó cũng đòi hỏi và khuyến khích tính trách nhiệm, sự sáng tạo  của người học. GV chủ yếu đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ. Tuy nhiên mức độ tự lực cần phù hợp với kinh nghiệm, khả năng của HS và mức độ khó khăn của nhiệm vụ.

Cộng tác làm việc: Các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm, trong đó có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm. DHDA đòi hỏi và rèn luyện tính sẵn sàng và kỹ năng cộng tác làm việc giữa các thành viên tham gia, giữa HS và GV cũng như với các lực lượng xã hội khác tham gia trong dự án. Đặc điểm này còn được gọi là học tập mang tính xã hội.

Định hướng sản phẩm: Trong quá trình thực hiện dự án, các sản phẩm được tạo ra. Sản phẩm của dự án không giới hạn trong những thu hoạch lý thuyết, mà trong đa số trường hợp các dự án học tập tạo ra những sản phẩm vật chất của hoạt động thực tiễn, thực hành. Những sản phẩm này có thể sử dụng, công bố, giới thiệu.

2.1.3. Các dạng của dạy học theo dự án

DHDA có thể được phân loại theo nhiều phương diện khác nhau. Sau đây là một số cách phân loại dạy học theo dự án:

  1. Phân loại theo chuyên môn

– Dự án trong một môn học: trọng tâm nội dung nằm trong một môn học.

– Dự án liên môn: trọng tâm nội dung nằm ở nhiều môn khác nhau.

– Dự án ngoài chuyên môn: Là các dự án không phụ thuộc trực tiếp vào các môn học, ví dụ dự án chuẩn bị cho các lễ hội trong trường.

  1. Phân loại theo sự tham gia của người học: dự án cho nhóm HS, dự án cá nhân. Dự án dành cho nhóm HS là hình thức dự án dạy học chủ yếu. Trong trường phổ thông còn có dự án toàn trường, dự án dành cho một khối lớp, dự án cho một lớp học
  2. Phân loại theo sự tham gia của GV: dự án dưới sự hướng dẫn của một GV, dự án với sự cộng tác hướng dẫn của nhiều GV.
  3. Phân loại theo quỹ thời gian:

– Dự án nhỏ: thực hiện trong một số giờ học, có thể từ 2-6 giờ học.

– Dự án trung bình: dự án trong một hoặc một số ngày (“Ngày dự án”), nhưng giới hạn là một tuần hoặc 40 giờ học.

– Dự án lớn: dự án thực hiện với quỹ thời gian lớn, tối thiểu là một tuần (hay 40 giờ học), có thể kéo dài nhiều tuần (“Tuần dự án”).

  1. Phân loại theo nhiệm vụ

Dựa theo nhiệm vụ trọng tâm của dự án, có thể phân loại các dự án theo các dạng sau:

– Dự án tìm hiểu: là dự án khảo sát thực trạng đối tượng.

– Dự án nghiên cứu: nhằm giải quyết các vấn đề, giải thích các hiện tượng, quá trình.

– Dự án thực hành: có thể gọi là dự án kiến tạo sản phẩm, trọng tâm là việc tạo ra các sản phẩm vật chất hoặc thực hiện một kế hoạch hành động thực tiễn, nhằm thực hiện những nhiệm vụ như trang trí, trưng bày, biểu diễn, sáng tác.

– Dự án hỗn hợp: là các dự án có nội dung kết hợp các dạng nêu trên.

Các loại dự án trên không hoàn toàn tách biệt với nhau. Trong từng lĩnh vực chuyên môn có thể phân loại các dạng dự án theo đặc thù riêng.

2.1.4. Tiến trình thực hiện DHDA

Dựa trên cấu trúc chung của một dự án trong lĩnh vực sản xuất, kinh tế nhiều tác giả phân chia cấu trúc của dạy học theo dự án qua 4 giai đoạn sau: Quyết định, lập kế hoạch, thực hiện, kết thúc dự án. Dựa trên cấu trúc của tiến trình phương pháp, người ta có thể chia cấu trúc của DHDA làm nhiều giai đoạn nhỏ hơn. Sau đây trình bày một cách phân chia các giai đoạn của dạy hoc theo dự án theo 5 giai đoạn.

– Chọn đề tài và xác định mục đích của dự án : GV và HS cùng nhau đề xuất, xác định đề tài và mục đích của dự án. Cần tạo ra một tình huống xuất phát, chứa đựng một vấn đề, hoặc đặt một nhiệm vụ cần giải quyết,  trong đó chú ý đến việc liên hệ với hoàn cảnh thực tiễn xã hội và đời sống. Cần chú ý đến hứng thú của người học cũng như ý nghĩa xã hội của đề tài. GV có thể giới thiệu một số hướng đề tài để học viên lựa chọn và cụ thể hoá. Trong trường hợp thích hợp, sáng kiến về việc xác định đề tài có thể xuất phát từ phía HS. Giai đoạn này được K.Frey mô tả thành hai giai đoạn là đề xuất sáng kiến và thảo luận sáng kiến.

– Xây dựng kế hoạch thực hiện: trong giai đoạn này HS với sự hướng dẫn của GV xây dựng đề cương cũng như kế hoạch cho việc thực hiện dự án. Trong việc xây dựng kế hoạch cần xác định những công việc cần làm, thời gian dự kiến, vật liệu, kinh phí, phương pháp tiến hành và phân công công việc trong nhóm.

– Thực hiện dự án : các thành viên thực hiện công việc theo kế hoạch đã đề ra cho nhóm và cá nhân. Trong giai đoạn này HS thực hiện các hoạt động trí tuệ và hoạt động thực tiễn, thực hành, những hoạt động này xen kẽ và tác động qua lại lẫn nhau. Kiến thức lý thuyết, các phương án giải quyết vấn đề được thử nghiệm qua thực tiễn. Trong quá trình đó sản phẩm của dự án và thông tin mới được tạo ra.

-Thu thập kết quả và công bố sản phẩm : kết quả thực hiện dự án có thể được viết dưới dạng thu hoạch, báo cáo, luận văn… Trong nhiều dự án các sản phẩm vật chất được tạo ra qua hoạt động thực hành. Sản phẩm của dự án cũng có thể là những hành động phi vật chất, chẳng hạn việc biểu diễn một vở kịch, việc tổ chức một sinh hoạt nhằm tạo ra các tác động xã hội. Sản phẩm của dự án có thể được trình bày giữa các nhóm sinh viên, có thể được giới thiệu trong nhà trường, hay ngoài xã hội.

– Đánh giá dự án: GV và HS đánh giá quá trình thực hiện và kết quả cũng như kinh nghiệm đạt được. Từ đó rút ra những kinh nghiệm cho việc thực hiện các dự án tiếp theo. Kết quả của dự án cũng có thể đuợc đánh giá từ bên ngoài. Hai giai đoạn cuối này cũng có thể được mô tả chung thành giai đoạn kết thúc dự án.

Việc phân chia các giai đoạn trên đây chỉ mang tính chất tương đối. Trong thực tế chúng có thể xen kẽ và thâm nhập lẫn nhau. Việc tự kiểm tra, điều chỉnh cần được thực hiện trong tất cả các giai đoạn của dự án. Với những dạng dự án khác nhau có thể xây dựng cấu trúc chi tiết riêng phù hợp với nhiệm vụ dự án. Giai đoạn 4 và 5 cũng thường được mô tả chung thành một giai đoạn (giai đoạn kết thúc dự án).

2.1.5. Ưu điểm và nhược điểm của dạy học theo dự án

* Ưu điểm

Các đặc điểm của DHDA đã thể hiện những ưu điểm của phương pháp dạy học này. Có thể tóm tắt những ưu điểm cơ bản sau đây của dạy học theo dự án:

– Gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội;

– Kích thích động cơ, hứng thú học tập của người học;

– Phát huy tính tự lực, tính trách nhiệm;

– Phát triển khả năng sáng tạo;

– Rèn luyện năng lực giải quyết những vấn đề phức hợp;

– Rèn luyện tính bền bỉ, kiên nhẫn;

– Rèn luyện năng lực cộng tác làm việc;

– Phát triển năng lực đánh giá.

* Nhược điểm

– DHTDA không phù hợp trong việc truyền thụ tri thức lý thuyết mang tính trừu tượng, hệ thống cũng như rèn luyện hệ thống kỹ năng cơ bản

– DHTDA đòi hỏi nhiều thời gian. Vì vậy DHDA không thay thế cho PP thuyết trình và luyện tập, mà là hình thức dạy  học bổ sung cần thiết cho các PPDH truyền thống.

– DHTDA đòi hỏi phương tiện vật chất và tài chính phù hợp.

     Tóm lại DHDA là một hình thức dạy học quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học định hướng vào người học, quan điểm dạy học định hướng hoạt động và quan điểm dạy học tích hợp. DHDA góp phần gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội, tham gia tích cực vào việc đào tạo năng lực làm việc tự lực, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp, tinh thần trách nhiệm và khả năng cộng tác làm việc của người học.

2.2. Ứng dụng cụ thể của phương pháp

Dựa trên lí thuyết về phương pháp DHTDA, tôi đã ứng dụng trong nhiều bài dạy. Việc vận dụng phương pháp mới này được thể hiện bằng những việc làm cụ thể sau:

– Đề xuất được quy trình thiết kế dự án dạy học cho việc dạy học bộ môn Ngữ Văn.

– Thiết kế được một số dự án dạy học từ các bài cụ thể trong chương trình.

2.2.1. Quy trình thiết kế dự án dạy học bộ môn Ngữ Văn theo phương pháp DHDA.

Chúng tôi đưa ra quy trình khái quát gồm 6 bước như sau:

Bước 1:        Xác định nội dung kiến thức có thể hình thành dự án

(Tìm trong chương trình những bài dạy có nội dung liên quan đến các vấn đề đang diễn ra trong thực tế, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của các em)

 

Bước 2:         Thiết lập dự án (xây dựng dự án sao cho phù hợp với nội dung và phù hợp với trình độ nhận thức, khả năng thực hiện của người học)

 

Bước 3:         Giao nhiệm vụ (Phân chia học sinh thành các nhóm, giao nhiệm vụ cho từng nhóm, yêu cầu về thời gian, đưa ra tiêu chí đánh giá cụ thể)

 

Bước 4:         Thực hiện dự án (Học sinh trực tiếp thực hiện dự án, GV là người hướng dẫn, đôn đốc và giúp đỡ khi cần thiết)

 

Bước 5:          Trình bày sản phẩm (Tổ chức buổi tổng kết để các nhóm báo cáo kết quả, sản phẩm)


Bước 6:  Tổng kết, đánh giá (các nhóm và GV nhận xét, cho điểm. GV chốt lại những nội dung quan trọng liên quan trực tiếp tới bài học)

 2.2.2 Quy trình tổ chức dạy học văn bản “Chiếc thuyền ngoài xa” tích hợp nghị luận xã hội theo phương pháp DHDA

Bước 1:    Xác định nội dung kiến thức có thể hình thành dự án

– Tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu là tác phẩm mang cảm hứng thế sự đời tư, khám phá cuộc sống con người trong phương diện đời thường. Vì vậy khá gần gũi với cuộc sống thực tế của học sinh.

– Nội dung cơ bản của tác phẩm là kể về việc nhân vật Phùng chứng kiến một cảnh tượng đen tối: cảnh người chồng vũ phu đánh vợ của mình một cách dã man. Nhưng khi được khuyên bỏ chồng thì người đàn bà nhất định không chịu bỏ. Từ nghịch lí này, Phùng đã vỡ lẽ biết bao nhiêu điều về cuộc sống, về cách nhìn con người và cuộc đời.

Nội dung trên liên quan mật thiết đến một hiện tượng khá nhức nhối trong thực tế xã hội Việt Nam: Nạn bạo hành gia đình. Đề tài này rất đáng được khảo cứu vì tính thực tế và những lợi ích thiết thực từ việc khảo cứu: Điều tra để nắm bắt thông tin, tự nhận thức và tuyên truyền về tình trạng bạo lực gia đình, cung cấp kiến thức và kĩ năng cho bài viết nghị luận xã hội…

Bước 2: Thiết lập dự án  

1) Mục tiêu dự án:

– Về kiến thức: Từ những phân tích nạn bạo hành gia đình ngoài thực tế cuộc sống, so sánh với câu chuyện trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” để hiểu sâu sắc giá trị hiện thực, quan niệm về cách nhìn đời, nhìn người và tư tưởng nhân đạo của nhà văn.

– Về kĩ năng: Rèn luyện kĩ năng giao tiếp, kĩ năng hoạt động nhóm, kĩ năng sống, kĩ năng viết bài văn nghị luận xã hội…

– Về thái độ: Hình thành thái độ hứng thú, nghiêm túc trong học tập; thái độ cảm thông, chia sẻ với những người xung quanh; ý thức đấu tranh chống lại, đẩy lùi nạn bạo hành gia đình…

2) Xây dựng nội dung công việc:

– Lập phiếu điều tra thông tin về tình trạng bạo hành gia đình ở địa phương cư trú, ở các gia đình có con em học ở lớp mình.

– Dựa trên kết quả điều tra, nhận xét về: Tỉ lệ các gia đình có biểu hiện bạo hành; những biểu hiện khác nhau của hiện tượng bạo hành gia đình; nguyên nhân và hậu quả của vấn nạn trên; đề xuất những giải pháp giảm thiểu nạn này.

– So sánh kết quả thực tế với cái nhìn của nhà văn Nguyễn Minh Châu trong tác phẩm để thấy được những giá trị sâu sắc của tác phẩm.

– Viết bài thu hoạch theo yêu cầu của bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống.

3) Lập kế hoạch đánh giá:

– Phiếu đánh giá về tinh thần, thái độ làm việc.

– Phiếu đánh giá về các kĩ năng làm việc: kĩ năng hợp tác nhóm, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng khai thác thông tin, xử lí số liệu…

– Phiếu đánh giá chất lượng nội dung công việc: Kết quả thu nhận, so sánh để nhận ra giá trị của tác phẩm, viết bài nghị luận xã hội hoàn chỉnh…

Bước 3: Giao nhiệm vụ

-Phân chia học sinh thành các nhóm, giao nhiệm vụ cho từng nhóm (Chia nhóm dựa trên 2 nhiệm vụ: điều tra ở địa phương- Phạm vi xóm, làng; điều tra ở tập thể lớp)

– Yêu cầu về thời gian: 2 tuần.

– Công bố  tiêu chí đánh giá cụ thể

Bước 4: Thực hiện dự án

– Học sinh trực tiếp thực hiện dự án:

+ Nhóm thực hiện nhiệm vụ 1: Về các xóm làng nơi cư trú, trực tiếp phỏng vấn người dân để lấy thông tin điền vào phiếu điều tra. Có thể tìm hiểu thêm thông qua trưởng xóm, hội phụ nữ, đoàn thanh niên…

+ Nhóm thực hiện nhiệm vụ 2: Phát phiếu điều tra tại lớp để các bạn tự điền thông tin. Chú ý không cần khai tên để thông tin khách quan.

GV là người hướng dẫn, đôn đốc và giúp đỡ khi cần thiết

Bước 5: Trình bày sản phẩm (Tổ chức buổi tổng kết để các nhóm báo cáo kết quả, sản phẩm)

– Mỗi nhóm cử đại diện báo cáo kết quả điều tra, cách xử lí, phân tích số liệu, rút ra ưu, nhược điểm, thuận lợi và khó khăn trong quá trình đi điều tra của mình.

– Các nhóm  nhận xét về kết quả và quá trình điều tra của nhóm còn lại, từ đó rút kinh nghiệm cho mình

– Các nhóm phản biện những kết luận của nhóm khác.

– Mỗi cá nhân trong nhóm nộp bài viết về tình trạng bạo hành gia đình theo yêu cầu của bài văn nghị luận xã hội.

Bước 6:  Tổng kết, đánh giá.

– GV  chốt lại những nội dung quan trọng liên quan trực tiếp tới bài học:

+ Hiện trạng nạn bạo lực gia đình ở Việt Nam

+ Nguyên nhân của nạn trên

+ Hậu quả

+ Giải pháp khắc phục

Từ thực tế đó liên hệ ngược với tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” để đánh giá giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc của tác phẩm; cách nhìn nhận con người và cuộc sống của tác giả…

– GV nhận xét, cho điểm theo các tiêu chí đã công bố.

3. HIỆU QUẢ KINH TẾ VÀ XÃ HỘI

Hiệu quả kinh tế

– Theo chính sự đánh giá của học sinh, khi áp dụng phương pháp DHDA vào việc dạy học tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xatích hợp nghị luận xã hội , giá trị lớn nhất của nó chính là khả năng tuyên truyền rộng rãi và sâu sắc về vấn nạn bạo hành gia đình ở Việt Nam. Vì vậy nó có thể thay thế, bổ sung cho hoạt động tuyên truyền chống bạo hành gia đình ở mọi nơi. Và đương nhiên, giá trị kinh tế mà nó mang lại là rất đáng kể:

– Giá trị tương đương với những pano, áp pic, khẩu hiệu tuyên truyền: Khoảng 1 triệu đồng/cái x số lượng học sinh tham gia dự án.

– Giá trị tương đương với nhiều cuộc tổ chức vận động, tuyên truyền của các đoàn thể, các cấp chính quyền (Mỗi cuộc chi phí khoảng 50 triệu đồng).

– Có thể dùng kết quả điều tra của học sinh phục vụ công tác điều tra xã hội của các ban ngành, đoàn thể nhằm giảm bớt chi phí đi điều tra.

Hiệu quả xã hội

Sau khi áp dụng phương pháp mới vào giảng dạy tôi đã thu được một số hiệu quả sau:

– Không khí lớp học: Khi GV đưa ra dự án và yêu cầu các nhóm thảo luận để hoàn thành mục tiêu bài học thì các em rất sôi nổi và hào hứng tranh luận, nêu ý kiến để hoàn thiện dự án; Rất tích cực, hào hứng tham gia dự án, mạnh dạn, nhiệt tình đi điều tra ; Thảo luận, tranh biện để rút ra kết luận của nhóm mình, đồng thời mạnh dạn trình bày kết quả, hồi hộp chờ đợi sự đánh giá của giáo viên. Đặc biệt các em đều thấy rất hứng thú với việc mở rộng kiến thức thực tế; thấy yêu môn Văn hơn vì nó thiết thực với cuộc sống hơn… Mỗi tiết học qua đi thật nhẹ nhàng, thoải mái nhưng vẫn hiệu quả với cả thầy và trò.

– Về kiến thức: kết quả dự án thể hiện học sinh  không chỉ nắm bắt được những nội dung kiến thức mà còn hiểu rộng hơn, sâu hơn nhiều vấn đề. Tự phát hiện và giải quyết các vấn đề trong nội dung kiến thức.

– Kĩ năng sống của các em được nâng cao rõ rệt: Kĩ năng làm việc nhóm; kĩ năng giao tiếp; phương pháp xử lí tình huống, số liệu…

            – Đặc biệt, với những kiến thức được cung cấp theo phương pháp dạy học mới, học sinh sẽ dễ dàng áp dụng những gì từ tác phẩm văn chương vào trong thực tiễn cuộc sống, làm thay đổi khá nhiều những nhận thức, tư tưởng, tình cảm, thái độ của các em với mong muốn làm cuộc sống này trở nên tốt đẹp, nhân văn hơn.

  1. KHẢ NĂNG ÁP DỤNG

– Sáng kiến này có thể áp dụng rộng rãi ở tất cả các trường THPT trên nhiều đối tượng học sinh khác nhau và ở các khu vực khác nhau. Đặc biệt, từ năm 2015, phân phối chương trình được xây dựng theo chuyên đề thì càng dễ vận dụng phương pháp dạy học này.

sưu tầm

Xem thêm :

  1. Về tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa, các bạn có thể xem thêm ở link này:  Chiếc thuyền ngoài xa
  2. Xem thêm 1 dãy sáng kiến kinh nghiệm tại đây : Sáng kiến kinh nghiệm môn văn
  3. Tải miễn phí 1 dãy Sáng kiến kinh nghiệm tại link này : Tải miễn phí tài liệu môn Văn

Đề kiểm tra Ngữ văn 12 theo định hướng phát triển năng lực: chủ đề truyện hiện đại Việt Nam

Đề kiểm tra Ngữ văn 12 theo định hướng phát triển năng lực: chủ đề truyện hiện đại Việt Nam

CHỦ ĐỀ TRUYỆN HIỆN ĐẠI VIỆT NAM- NGỮ VĂN 12

 

CHUẨN KIẾN THỨC, KỸ NĂNG

– Hiểu được được những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của các truyện ngắn và đoạn trích tiểu thuyết hiện đại.

– Hiểu một số đặc điểm của truyện Việt Nam từ sau CMT8/ 1945 đến hết thế kỉ XX.

– Biết cách đọc – hiểu một tác phẩm truyện hiện đại Việt Nam theo đặc trưng thể loại.

– Biết vận dụng những tri thức và kĩ năng đã học vào làm văn nghị luận.

Từ đó, HS có thể hình thành các năng lực sau :

+ Năng lực thu thập thông tin liên quan đến văn bản.

+ Năng lực giải quyết những tình huống đặt ra trong các văn bản.

+ Năng lực đọc – hiểu truyện hiện đại Việt Nam theo đặc điểm thể loại.

+ Năng lực trình bày suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về ý nghĩa của văn bản.

+ Năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận về nội dung và nghệ thuật của văn bản.

 

BẢNG MÔ TẢ CÁC MỨC ĐỘ ĐÁNH GIÁ CHỦ ĐỀ “TRUYỆN HIỆN ĐẠI VIỆT NAM ”

 

Nhận biết Thông hiểu Vận dụng
Vận dụng thấp Vận dụng cao
– Nêu thông tin về tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác, thể loại,…

 

– Lí giải được mối quan hệ/ảnh hưởng của hoàn cảnh sáng tác với việc thể xây dựng cốt truyện và thể hiện nội dung tư tưởng của tác phẩm. – Vận dụng hiểu biết về tác giả, tác phẩm để phân tích, lý giải giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm.

 

– So sánh các phương diện nội dung, nghệ thuật giữa các tác phẩm cùng đề tài hoặc thể loại; phong cách tác giả.

 

– Nhận diện được ngôi kể, trình tự kể. – Hiểu được ảnh hưởng của giọng kể đối với việc thể hiện nội dung tư tưởng của tác phẩm. – Khái quát đặc điểm phong cách của tác giả từ tác phẩm. – Trình bày những kiến giải riêng, phát hiện sáng tạo về văn bản.

 

– Nắm được cốt truyện, nhận ra đề tài, cảm hứng chủ đạo.

 

– Lý giải sự phát triển của các sự kiện và mối quan hệ của các sự kiện.

 

– Chỉ ra các biểu hiện và khái quát các đặc điểm của thể loại từ tác phẩm. – Biết tự đọc và khám phá các giá trị của một văn bản mới cùng thể loại.
– Nhận diện hệ thống nhân vật (xác định được nhân vật trung tâm, nhân vật chính, nhân vật phụ). – Giải thích, phân tích đặc điểm về ngoại hình, tính cách, số phận nhân vật. Khái quát được về nhân vật. – Trình bày cảm nhận về tác phẩm. – Vận dụng tri thức đọc hiểu văn bản để kiến tạo những giá trị sống của cá nhân.

(Trình bày những giải pháp để giải quyết một vấn đề cụ thể (là một nhiệm vụ trong học tập, trong đời sống) từ sự học tập nội dung của VB đã đọc hiểu).

– Phát hiện và nêu được tình huống truyện. – Phân tích được ý nghĩa của tình huống truyện. – Thuyết trình về tác phẩm. – Chuyển thể văn bản (vẽ tranh, đóng kịch…)

– Nghiên cứu KH, dự án.

– Chỉ ra được các chi tiết nghệ thuật đặc sắc của mỗi tác phẩm/đoạn trích và các đặc điểm nghệ thuật của thể loại truyện. – Lí giải ý nghĩa và tác dụng của các từ ngữ, hình ảnh, câu văn, chi tiết nghệ thuật, biện pháp tu từ

 

Câu hỏi ĐT, ĐL:

– Trắc nghiệm KQ (về tác giả, tác phẩm, đặc điểm thể loại, chi tiết nghệ thuật,…)

– Câu tự luận trả lời ngắn (lí giải, phát hiện, nhận xét, đánh giá,…)

– Bài nghị luận (trình bày suy nghĩ, cảm nhận, kiến giải riêng của cá nhân,..)

– Phiếu quan sát làm việc nhóm (trao đổi, thảo luận về các giá trị của tác phẩm,..)

Bài tập thực hành:

– Hồ sơ (tập hợp các sản phẩm thực hành)

– Bài tập dự án (nghiên cứu so sánh tác phẩm, nhân vật theo chủ đề…)

– Bài trình bày miệng (thuyết trình, đọc diễn cảm, kể chuyện sáng tạo, trao đổi thảo luận…)

 

 

 III. CÂU HỎI/ BÀI TẬP MINH HOẠ

Văn bản: Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu)

 

Nhận biết Thông hiểu Vận dụng
Vận dụng thấp Vận dụng cao
Câu 1:  Nêu hoàn cảnh sáng tác của truyện ngắn “Chiếc   thuyền ngoài xa”?

Câu 2:   Xác định nhân vật trung tâm của truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”?

Câu 3:   Nêu tình huống của truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”?

Câu 4:  Trong đoạn đầu truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”, khi nhìn thấy cảnh chiếc thuyền lưới vó ẩn hiện trong biển sớm mờ sương, nghệ sĩ Phùng có thái độ và hành động như thế nào?

Câu 5:   Người đàn bà hàng chài đưa ra nhiều lý do bà không bỏ chổng, theo em, câu nào không phải là lý do bà đưa ra?

a. Cuộc đời người đàn bà vùng biển cần có người đàn ông để chèo chống khi phong ba.

b. Người đàn bà hàng chài phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được.

c. Gia đình người đàn bà hàng chài cũng có những giây phút hạnh phúc.

d. Người đàn ông chỉ đánh vợ khi thấy khổ quá.

 

Câu 1:  Nêu ý nghĩa nhan đề của truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”?

Câu 2:   Hình ảnh bãi xe tăng hỏng có ý nghĩa như thế nào?

Câu 3:   Lí giải thái độ và hành động của nhân vật Phùng trong truyện khi chứng kiến cảnh người đàn ông đánh vợ trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”?

Câu 4:   Vì sao người đàn bà hàng chài thay đổi cách xưng hô từ “con”sang “chị” khi giao tiếp với Phùng và Đẩu ở tòa án huyện?

Câu 5:   Vì sao người đàn bà hàng chài lại xin chồng đánh bà ở trên bờ:

a. Vì con cái đã lớn.

b. Vì trên thuyền quá chật hẹp.

c. Vì đánh trên thuyền thì không thể chạy trốn được.

d. Đánh trên bờ sẽ có người can thiệp.

 

Câu 1:   Viết một   đoạn văn ngắn trình bày ý kiến của anh (chị) về hành động đánh cha của thằng bé Phác?

 

Câu 2:  Trong truyện ngắn chiếc thuyền ngoài xa, người đàn bà hàng chài ở tòa án huyện đã từng nói: “Giá tôi đẻ ít đi, hoặc chúng tôi sắm được một chiếc thuyền rộng hơn…”. Câu nói đó thể hiện khát khao gì của người đàn bà hàng chài? Viết một đoạn văn ngắn trình bày ý kiến của anh chị?

Câu 3: Viết một đoạn văn ngắn trình bày cảm nhận của anh chị về nhân vật nghệ sĩ Phùng?

 

Câu 1:  Sau khi nghe xong câu chuyện của người đàn bà hàng chài, nhân vật Đẩu trong truyện ngắn“Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu đã có biểu hiện “Đẩu đi đi lại lại trong phòng, hai tay thọc sâu vào hai bên túi chiếc quần quân phục đã cũ. Một cái gì mới vừa vỡ ra trong đầu vị Bao Công của cái phố huyện vùng biển, lúc này trông Đẩu rất nghiêm nghị và đầy suy nghĩ”.
Anh (chị) hãy viết một bài văn trình bày những chuyển biến trong nhận thức của nhân vật chánh án Đẩu?Câu 2:  Qua truyện ngắn“Chiếc thuyền ngoài xa”, Nguyễn Minh Châu đã đặt ra những vấn đề gì về cuộc sống của người lao động Việt Nam sau chiến tranh. Viết một bài văn trình bày suy nghĩ của anh (chị) về những vấn đề đó? 

 

 

 

  1. MA TRẬN ĐỀ

 

Mức độ

Chủ đề

 

Nhận biết

 

Thông hiểu

 

Vận dụng thấp

 

Vận dụng cao

 

Tổng số

I. Đọc hiểu

Chiếc thuyền ngoài xa

Nhận diện phương thức biểu đạt của văn bản. Nêu nội dung chính của văn bản. Hiểu được nội dung của chi tiết, hình ảnh được sử dụng trong văn bản.

 

Số câu

Số điểm

Tỉ lệ

1

1,0

10%

1

1,0

10%

1

1,0

10%

3

3,0

30%

II. Làm văn

Chiếc thuyền ngoài xa

 

 

Vận dụng kiến thức đọc hiểu và kĩ năng tạo lập văn bản để viết bài nghị luận về một nhân vật văn học kết hợp với vấn đề xã hội.

 

Số câu

Số điểm

Tỉ lệ

1

7,0

 

70%

1

7,0

 

70%

Tổng số câu

Tổng số điểm

Tỉ lệ

  1

1,0

10%

  1

1,0

10%

1

1,0

10%

1

7,0

70%

4

10,0

100%

ĐỀ KIỂM TRA

 

 

Đề kiểm tra

Thời gian làm bài: 90 phút

Phần I – Đọc hiểu (3 điểm)

Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:

“Lão đàn ông lập tức trở nên hùng hổ, mặt đỏ gay, lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng của lính ngụy ngày xưa, có vẻ như những điều phải nói với nhau họ đã nói hết, chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà, lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, cứ mối nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn : Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ !

            Người đàn bà với một vẻ cam chịu đầy nhẫn nhục, không hề kêu một tiếng, không chống trả, cũng không tìm cách chạy trốn.

            Tất cả mọi việc xảy đến khiến tôi kinh ngạc đến mức, trong mấy phút đầu, tôi cứ đứng há mồm ra mà nhìn. Thế rồi chẳng biết từ bao giờ, tôi đã vứt chiếc máy ảnh xuống đất chạy nhào tới.”

(Trích Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu)

  1. Nêu những ý chính của đoạn văn trên?
  2. Xác định những phương thức biểu đạt trong đoạn văn trên?
  3. Viết một đoạn văn ngắn trình bày suy nghĩ của anh (chị) về tâm trạng và hành động của nhân vật xưng tôi trong đoạn văn ?

                                      

Phần II – Làm văn (7 điểm)

Trong truyện ngắn « Chiếc thuyền ngoài xa » của Nguyễn Minh Châu có đoạn :

« Lát sau mụ lại mới nói tiếp :

– Mong các chú cách mạng thông cảm cho, đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ. Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được ! Mong các chú lượng tình cho cái sự lạc hậu. Các chú đừng bắt tôi bỏ nó ! Lần đầu tiên trên khuôn mặt xấu xí của mụ chợt ửng sáng lên như một nụ cười – vả lại, ở trên chiếc thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hòa thuận, vui vẻ. »

(Ngữ văn 12, Tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam, 2013, trang 76)

Phân tích phẩm chất của người đàn bà trong đoạn trích trên. Từ đó, trình bày suy nghĩ của anh/ chị về đức hy sinh của người phụ nữ Việt Nam trong cuộc sống hiện nay.

 

HƯỚNG DẪN CHẤM

ĐỌC HIỂU : ( 3 điểm )

1/ Yêu cầu về kĩ năng :

–         Thí sinh có kĩ năng đọc hiểu văn bản

–         Diễn đạt rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.

2/ Yêu cầu về kiến thức :

Câu 1 : ( 1 điểm )

–         Người đàn ông đánh người đàn bà dã man.

–         Người đàn bà cam chịu một cách nhẫn nhục.

–         Tâm trạng và hành động của nhân vật tôi.

Câu 2 : ( 1 điểm )

Các phương thức biểu đạt :

–   Tự sự :        kể lại những sự việc mà nhân vật tôi chứng kiến.

–   Miêu tả :     hành động, tâm trạng của các nhân vật.

– Biểu cảm :  bộc lộ cảm xúc của các nhân vật.

(Lưu ý : Nếu thí sinh chỉ xác định được phương thức biểu đạt mà không có lý giải hoặc lý giải sai thì cho 0.5 điểm).

Câu 3 : ( 1 điểm )

Thí sinh có thể trình bày theo những cách khác nhau nhưng cần đảm bảo các ý sau :

– Tâm trạng kinh ngạc vì sự việc diễn ra quá bất ngờ và ngoài tưởng tượng của nghệ sĩ Phùng.

– Hành động xuất phát từ tình yêu thương con người của người nghệ sĩ.

(lưu ý : Với câu 1 và 2, thí sinh có thể viết thành đoạn văn hoặc trình bày các ý theo cách gạch đầu dòng ; với câu 3, thí sinh phải viết thành một đoạn văn hoàn chỉnh thì mới đạt điểm tối đa).

 

LÀM VĂN : (7 điểm )

  1. Yêu cầu về kĩ năng :

–         Thí sinh biết cách làm bài nghị luận văn học, từ đó trình bày suy nghĩ về một vấn đề của đời sống xã hội ;

–         Vận dụng tốt các thao tác lập luận,

–         Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp ;

–         Khuyến khích những bài viết sáng tạo.

  1. Yêu cầu về kiến thức :

–         Trên cơ sở những hiểu biết về tác giả Nguyễn Minh Châu và tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa, thí sinh có thể phân tích phẩm chất của người đàn bà hàng chài trong đoạn trích và bày tỏ suy nghĩ của mình theo những cách khác nhau nhưng phải hợp lý, có sức thuyết phục. Sau đây là một số gợi ý :

2.1. Phân tích phẩm chất của người đàn bà hàng chài :

–  Giới thiệu vài nét  về tác giả, tác phẩm, đoạn trích.

–  Phân tích phẩm chất của người đàn bà hàng chài :

+ Thấu hiểu lẽ đời, cảm thông cho chồng, nhận ra được vai trò trụ cột của người đàn ông trong gia đình cũng như trách nhiệm của  người đàn bà.

+ Tình thương  con vô bờ.

+ Biết chắt chiu những hạnh phúc nhỏ bé của cuộc sống để giữ con thuyền gia đình trước bờ vực của sự đổ vỡ .

–         Đánh giá : hình ảnh người phụ nữ thương chồng, thương con; thấu hiểu lẽ đời bao dung vị tha và giàu đức hy sinh.

2.2.  Thí sinh bày tỏ suy nghĩ của mình về vấn đề : Đức hy sinh của người phụ nữ Việt Nam trong cuộc sống ngày nay. Thí sinh cần nêu được những ý sau :

– Khẳng định đức hy sinh là một trong những phẩm chất tốt đẹp, cao quý của người phụ nữ Việt Nam.

– Đức hy sinh được thể hiện cụ thể như thế nào.

– Thái độ : ca ngợi, trân trọng, học tập.

  1. Cách cho điểm :

–         Điểm 6-7 : Phân tích được phẩm chất của nhân vật một cách thuyết phục, bày tỏ suy nghĩ sâu sắc về phẩm chất hy sinh của người phụ nữ. Bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, có cảm xúc và sáng tạo ; có thể còn vài sai sót về chính tả, dùng từ.

–         Điểm 4-5 : Cơ bản phân tích được phẩm chất của nhân vật, nêu được suy nghĩ của bản thân về đức hy sinh. Bố cục rõ ràng, lập luận tương đối chặt chẽ, còn mắc một số lỗi ngữ pháp, chính tả, dùng từ.

–         Điểm 2-3 : Chưa làm rõ được những phẩm chất của người đàn bà, phần bày tỏ suy nghĩ về đức hy sinh còn sơ sài ; mắc nhiều lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.

–         Điểm 1 : Chưa hiểu đề, sai lạc kiến thức, mắc nhiều lỗi về diễn đạt.

–         Điểm 0 : Không làm bài hoặc lạc đề

Xem thêm :

  1. Trọn bộ giáo án Ngữ văn khối 10
  2. Giáo án Ngữ văn khối 11
  3. Giáo án Ngữ văn khối 12

Sáng kiến kinh nghiệm: Khai thác tác phẩm tự sự dưới góc độ tình huống truyện

Sáng kiến kinh nghiệm: Khai thác tác phẩm tự sự dưới góc độ tình huống truyện

  Mục lục:

I.Đặt vấn đề

  1. Lí do chọn đề tài
  2. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
  3. Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài
  4. Phương pháp nghiên cứu
  5. Những luận điểm bảo vệ
  6. Những đóng góp cũng như ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

II.Giải quyết vấn đề     

  1. Khái niệm
  2. Các loại tình huống truyện trong tác phẩm tự sự
  3. Vai trò của tình huống truyện trong tác phẩm tự sự. Rèn luyện cách khai
  4.  thác tình huống truyện trong quá trình dạy tác phẩm tự sự
  5. Những dẫn chứng minh hoạ

A. ĐẶT VẤN ĐẾ:

  1. Lí do chọn đề tài :

Đặc trưng của truyện ngắn là cốt truyện và thông thường cốt truyện bắt đầu từ những sự kiện có vấn đề đó là tình huống. Chính ở đó nhà văn bộc lộ tài năng của mình. Nói cách khác, tình huống chính là một lát cắt của cuộc sống, là vực soáy trên dòng sông, là thứ nước rửa để làm nổi hình, nổi sắc của ảnh, tình huống gắn liền với cốt truyện và chủ đề tư tưởng của tác phẩm.

Một nhà nghiên cứu đã từng khẳng định : Nhân  vật là trụ cột, lời kể là không khí, là linh hồn của tác phẩm thì tình huống truyện là nền móng của tác phẩm …  Nếu như khai thác một bài thơ chú ta chú ý tới hình ảnh, cấu tứ, nhịp điệu… thì khai thác tác phẩm tự sự phải chú ý tới nhân vật ở các góc cạnh, từ đó mà phát hiện chân giá trị cuộc sống cùng thông điệp mà nhà văn gửi tới bạn đọc. Để khám phá nhân vật cần bắt đầu từ việc khai thác tình huống truyện. Muốn vậy người giáo viên phải hướng dẫn học sinh nắm vững tác phẩm, hiểu được diễn biến của câu truyện, từ đó phát hiện ra đâu là hoàn cảnh có vấn đề. Một tác phẩm hay thì bao giờ nhà văn cũng có những phát hiện độc đáo khi khai thác vấn đề trong cuộc sống. Bởi vậy khi phân tích tác phẩm tự sự, người dạy, người học cần xác định rõ vai trò của tình huống truyện – những mã khoá giúp người dạy, người học đi từ những  “phần chìm ” để tìm ra tư tưởng, chủ đề của tác phẩm văn học . Làm thế nào chúng ta – vừa là người đọc truyện, vừa là người giảng truyện để truyền cho HS cái cảm giác  “ Uống xong lại khát ” ấy.

Trong sách giáo khoa Ngữ văn 10, 11,12, tác phẩm tự sự chiếm 20,0% số lượng tiết học chính khoá và học thêm  ( Lớp 12 :17/47 bài chiếm 28,5 % . Lớp 11:  ban cơ bản 19/ 123 tiết chiếm 15,5% / , ban C, D 18 /140 tiết chiếm 13,6%). Vì vậy,dạy, học tác phẩm tự sự trong chương trình THPT chiếm một khối lượng lớn , đòi hỏi người giáo viên và học sinh phải nắm được đặc trưng , kĩ năng phân tích tác phẩm tự sự.  

=> Đó chính là những lí do đưa tôi đến với đề tài :  “ Khai thác tác phẩm tự sự dưới góc độ tình huống truyện”

  1. Mục đích , nhiệm vụ của đề tài :

2.1. Mục đích của đề tài :

– Giúp người dạy văn , học văn tìm ra một hướng tiếp cận sâu hơn đối với tác phẩm tự sự trong chương trình THPT .

– Giúp học sinh tiếp cận tác phẩm theo khuynh hướng “ mở”– Học ít hơn nhưng tiếp cận tri thức được nhiều hơn, sâu hơn.

  1. 2. Nhiệm vụ nghiên cứu :
  2. Đối tượng nghiên cứu và giới hạn đề tài :

– Các tác phẩm tự sự trong chương trình sách giáo khoa  Ngữ văn lớp 11,12

– Học sinh lớp  11, 12 trường THPT  Lam Kinh

  1. Phương pháp nghiên cứu :

4.1. Nghiên cứu lý thuyết :

* Đọc,  tìm hiểu và nghiên cứu các tài liệu viết về tình huống truyện tác phẩm tự sự  như : “ Tự sự học – một số vấn đề lí luận và lịch sử ” ; “ Từ điển tiếng Việt” .

      * Đọc nghiên cứu các tác phẩm tự sự trong chương trình Ngữ văn lớp 11,12 như : “ Chí Phèo”; “ Chữ người tử tù –  Ngữ văn 11”; “ Vợ nhặt” ; “ Những đứa con trong gia đình”; “ Chiếc thuyền ngoài xa” – Ngữ văn 12 ).

4 .2. Nghiên cứu thực tiễn :

* Dự một số tiết dạy tác phẩm tự sự  của đồng nghiệp .

* Khảo sát các đề thi đại học, đề thi học sinh giỏi của tỉnh Thanh Hoá trong các năm học.

* Chọn 2 lớp cơ bản có trình độ ngang nhau , một lớp chú ý rèn luyện năng lực khai thác tình huống truyện cho học sinh trong các giờ học và một lớp không  nhấn mạnh đến vai trò của tình huống truyện. So sánh, đối chiếu kết quả để rút ra kết luận .

  1. Những luận điểm bảo vệ :

* Khái niệm: tác phẩm tự sự, tình huống truyện.

* Các loại tình huống truyện trong tác phẩm tự sự .

* Vai trò của tình huống truyện trong tác phẩm tự sự. Rèn luyện cách khai thác tình huống truyện trong  trong quá trình dạy tác phẩm tự sự .

* Những dẫn chứng minh hoạ.

* Kết quả thực nghiệm .

*  Kết luận

  1. Những đóng góp cũng như ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài .

* Đối với giáo viên :

– Đề tài sẽ cung cấp một cẩm nang” giúp người giáo viên trong quá trình dạy văn tự sự hướng dẫn học sinh nắm vững tác phẩm hiểu được diễn biến của câu truyện, từ đó phát hiện ra đâu là hoàn cảnh có vấn đề –  những “ phần chìm” nằm im sau câu chữ  , giúp cho giờ dạy văn sinh động , dễ đi vào lòng người.

* Đối với học sinh :

– Nhằm  nâng cao năng lực trong việc chiếm lĩnh tác phẩm tự sự từ góc độ tình huống truyện. Rèn luyện cách khai thác tình huống truyện trong  trong học tác phẩm tự sự .

–  Tăng tính thực hành của học sinh .

B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

     1.Khái niệm:

   1.1. Khái niệm tác phẩm tự sự:

Theo định nghĩa của sách làm văn 11-NXB GD , 2001 . “ Tác phẩm tự sự là tác phẩm kể chuyện . Trong tác phẩm tự sự qua lời kể , lời tả , cuộc sống hiện lên với những nhân vật , những sự kiện ….để thể hiện tư tưởng thái độ đối với con người và xã hội” ( Trang 28 ) . Hay : “ Tác phẩm tự sự là câu chuyện kể về một người nào đó , một vật gì đó , hay một sự kiện nào đó . Cho nên tác phẩm tự sự bao giờ cũng có cốt truyện . Gắn liền với cốt truyện là hệ thống nhân vật được khắc hoạ về nhiều mặt . Cốt truyện được được triển khai , nhân vật được khắc hoạ thông qua các chi tiết nghệ thuật phong phú , đa dạng như : các sự kiện , xung đột , ngoại cảnh , nội thất , ngoại hình nhân vật , hoạt động nội tâm … ” ( Trang 16 ) .

1.2. Khái niệm  tình huống truyện:

Tình huống truyện ngắn là sự sắp xếp các tình tiết, các sự kiện nhằm thúc đẩy câu chuyện, tạo ra xung đột, những mâu thuẫn ….Đồng thời nhà văn phải xử lí tình huống một cách hợp lý. Tình huống phải  mang giá trị thể hiện tư tưởng của tác phẩm. ( Đáp án đề thi chọn đội tuyển dự thi học sinh giỏi quốc gia lớp 12 THPT năm học 2006 – 2007 của sở giáo dục và đào tạo Thanh Hoá)

Hay : tình huống truyện là một trong những yếu tố cơ bản của văn xuôi tự sự. Tình huống tạo nên những nét riêng của từng truyện, đồng thời thể hiện tài năng và cá tính sáng tạo của mỗi nhà văn. Nghệ thuật tạo dựng tình huống là tạo hoàn cảnh đặc trưng, đặt nhân vật vào một hoàn cảnh đặc biệt nào đấy để nhân vật bộc lộ hết tính cách tâm trạng của mình.

  1. Các loại tình huống truyện trong tác phẩm tự sự .

 2.1. Tình huống bên ngoài

2.2.Tình huống bên trong- Tình huống nhận thức:

Vai trò của tình huống truyện trong tác phẩm tự sự. Rèn luyện cách khai thác tình huống truyện trong  trong quá trình dạy tác phẩm tự sự .

 Vai trò của tình huống truyện:

Đặc biệt với truyện ngắn, tình huống giữ vai trò quan trọng trong nghệ thuật dựng truyện- có ý nghĩa đối với sự phát triển của mạch truyện . Nhà văn Nguyễn Minh Châu cũng rất chú trọng đến yếu tố này: “ Đôi khi người ta nghĩ ra được một cái tình thế xảy ra trong câu truyện thật hay và thế là coi như xong một nửa” ( Tình thế sảy ra truyện) . Trong một truyện ngắn, tình huống phải hợp với lô gíc cuộc sống thì truyện mới chân thực, tự nhiên. Qua tình huống, nhà văn phải làm nổi bật tính cách nhân vật và chủ đề, tư tưởng thì tác phẩm mới thành công. Những truyện ngắn thành công ở nghệ thuật tạo dựng tình huống là “ Vi hành” ( Nguyễn ái Quốc ) , Vợ nhặt ( Kim Lân) , Mảnh trăng cuối rừng( Nguyễn Minh Châu )…

Rèn luyện cách khai thác tình huống truyện trong  trong quá trình dạy tác phẩm tự sự .

* Phần lớn những tác phẩm được trích giảng trong chương trình THPT đều là những tác phẩm có cốt truyện độc đáo. Thông qua cốt truyện các tác giả muốn chuyển tải đến người đọc những vấn đề về nhân sinh trong cuộc sống. Việc tìm hiểu về nhân vật hay giá trị nội dung tác phẩm sẽ thuận lợi và thấu đáo hơn khi chúng ta khai thác tình huống trong truyện. Cụ thể qua các bước sau:

Bước 1: Xác định được tình huống truyện của tác phẩm.

Bước 2: Nắm được diễn biến của tình huống truyện, sự chi phối của tình huống truyện đến sự phát triển của cốt truyện và cách xây dựng nhân vật trong tác phẩm.

Bước 3: Xác định được ý nghĩa của tình huống truyện.

Ví dụ:  Truyện Chữ người tử tù ( Ngữ văn 11 tập 1 ), nhà văn Nguyễn Tuân đã đặt nhân vật trong một tình huống những ngày cuối cùng của người tử tù trước khi ra pháp trường . Còn với viên quản ngục đây là cơ hội gặp gỡ hiếm hoi để xin chữ Thánh hiền. Song Huấn Cao vốn là con người rất khoảnh tiền bạc, quyền uy không dễ gì khuất phục được. Vậy làm thế nào để viên quản ngục  xin được chữ của ông Huấn Cao? Từ tình huống này tác giả dẫn dắt người đọc khám phá về vẻ đẹp của từng nhân vật. đặc biệt là nhân vật Huấn Cao – một con người đầy tài năngcó khí phách biết trọng thiên lương. Cùng với Huấn Cao thì viên quản ngục chính là một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn độn, xô bồ. Chính việc lựa chọn tình huống này giúp cho nhà văn xây dựng thành công các nhân vật để thể hiện cho ý tưởng ngợi ca về vẻ đẹp một thời vang bóng đã đi qua.

Hay trong truyện Vợ nhặt– Kim Lân ( Ngữ văn 12 tập 2 ) là một tác phẩm rất độc đáo về tinh huống. Đó là Tràng- Một anh nông dân nhà nghèo, hình thức thô kệch, tính tình ngờ nghệch lại là dân ngụ cư giữa lúc đói kém mà lấy được vợ hơn nữa lại là vợ theo. Tình huống bất thường đó gây sự chú ý ngạc nhiên tới người xung quanh và ngay cả bản thân Tràng. Bởi đói khát, người Tràng nuôi thân chẳng xong lại còn đèo bòng. Và không chỉ lạ mà nó còn đan xen giữa mừng và lo, vui và buồn. Hạnh phúc đặt trên bối cảnh thê lương ảm đạm của nạn đói năm 1945 trong khi gia đình Tràng đang đứng  trước cái đói quay,  đói quắt. Tình huống đó sẽ chi phối tới sự phát triển của truyện và cách xây dựng các nhân vật. Như vậy bắt đầu từ việc khai thác tình huống khi tiếp cận tác phẩm mà người giáo viên có thể dẫn dắt học sinh phân tích nhân vật Tràng, người vợ nhặt, bà cụ Tứ. Các lớp nghĩa của truyện sẽ được sáng tỏ cùng các giá trị hiện thực và nhân đạo. Chủ đề tác phẩm về bài ca cuộc sống: bên lề cái chết con người ta vẫn mơ ước, vẫn khát vọng là ý nghĩa cơ bản mà nhà văn Kim Lân chuyển đến bạn đọc.

Với tác phẩm Chí Phèo ( Ngữ văn 11 tập 1 ),  để tạo sự chuyển đổi về tư tưởng nhân vật, tác giả đã cho Chí Phèo gặp thị Nở. Nguời phụ nữ ma chê quỷ hờn này đã đã làm thay đổi tâm tính của hắn. Từ sau trận ốm, Chí Phèo cảm nhận được sự cô đơn, sự chăm sóc của thị Nở đã đánh thức giấc mơ ngày xưa của hắn. Chí Phèo muốn làm hoà với mọi người. Chí muốn thị Nở sẽ là cầu nối với dân làng Vũ Đại. Rõ ràng sự gặp gỡ này chính là tình huống cho nhân vật bộc lộ những trăn trở trong khát vọng hoàn lương. Phân tích nhân vật Chí Phèo giáo viên cần hướng dẫn học sinh cần chú ý tới biến cố đó để thấy được sự tác động của nó tới diễn biến tâm lý. Cái đột biến trong tính cách suy nghĩ và tình cảm của Chí được lý giải hợp lí nhờ tác giả đã khéo léo xây dựng tình huống trên.

Nói như vậy để thấy,  tình huống có vai trò quyết định tới cách tác giả sẽ vẽ chân dung nhân vật của mình như thế nào. Do đó khi phân tích nhân vật, điều cốt yếu trước hết chúng ta phải phát hiện ra hoàn cảnh đặc biệt, cái nền mà nhân vật bộc lộ con người thực của mình. Trên cơ sở đó, chúng ta sẽ giải mã những điều thầm kín mà nhà văn gửi gắm thông qua hình tượng nhân vật.

  1. Những dẫn chứng minh hoạ.

3.1. Tình huống truyện trong tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân.

Nguyễn Tuân – nhà văn lãng mạn xuất sắc của dòng văn học lãng mạn Việt Nam 1930 – 1945 thường viết về đề tài lịch sử hoặc các nhân vật lịch sử, những nhân vật lí tưởng thể hiện ước mơ hoài bão của tác giả. Chữ người tử là truyện ngắn xuất sắc, trong đó ông đã xây dựng được những tình huống truyện kì lạ và độc đáo.

Tình huống truyện là đỉnh điểm trong sáng tạo của nhà văn, là điểm nút tập trung cảm xúc chủ đạo của nhà văn trong tác phẩm, là khoảnh khắc hiện diện tài năng sáng tạo của người nghệ sĩ . ở đấy , bộc lộ sâu sắc mọi giá trị của tác phẩm. Nó tạo ra những cuộc vận động phát triển tính cách, tạo nên bước ngoặt trong số phận nhân vật , phát triển kết cấu và các phương diện khác . ở Chữ người tử tù nhà văn đã tạo nên hai tình huống truyện đặc biệt.

     Tình huống 1: Tình huống đảo ngược: Không phải quyền uy có thể chiến thắng mà ở đây vẻ đẹp, sức mạnh tinh thần đã chiến thắng vũ lực. Đó là sự trái ngược giữa chốn nhà tù đầy uy lực với ánh sáng của văn minh, văn hoá. Tình huống khái quát đầy tính nhân văn và là một cái nhìn tiến bộ, đầy lạc quan của Nguyễn Tuân.

    Tình huống 2: Cảnh cho chữ:

Cảnh cho chữ được tác giả xây dựng trong một khung cảnh đầy kịch tính, huyền thoại. địa điểm cho chữ: Trong phòng giam người tử tù, một nơi bẩn thỉu, tối tăm. Mục đích cho chữ lại rất cao quí, rất đẹp. ở nơi đầy tội ác lại diễn ra một việc làm đẹp, trong sáng nhất. Chính tình huống này có tác dụng làm nổi bật chiều sâu tâm lý của mỗi nhân vật trong truyện. Giữa phòng giam tử tù người ta viết tặng nhau, người ta nâng niu từng nét bút, thưởng thức mùi thơm của mực, khoan thai, trang trọng. Người ta thực sự hoà đồng vào nhau, cùng nhau trút bỏ ngăn cách, toả sáng cho nhau để trở lại chính con người của họ “ Con người – những tấm lòng trong thiên hạ”. ở đây cái đẹp đã chiến thắng, cái đẹp đã lên ngôi, “ cái đẹp đã cứu vớt con người” ( Đôxtôiepxki)

Tình huống truyện được tác giả xây dựng bằng bút pháp lãng mạn đầy kịch tính. Đó là cảnh tượng xưa nay chưa từng có. Giữa cái nhà ngục đầy bóng tối, đầy rệp, muỗi lại cháy lên một ngọn đuốc, lửa rừng rực và sáng trên tấm lụa bạch còn nguyên vẹn lần hồ. Vì nhà ngục vốn là nơi giam cầm, đày đoạ con người, vậy mà tại chốn ngục tù này lại diễn ra một việc “ chưa từng có”. Người ta vẫn tự do, vẫn bình thản ngồi viết chữ tặng nhau như ở ngoài đời. Nhưng người cho chữ lại là người tử tù, cổ đeo gông, chân bị xiềng mà vẫn ung dung viết chữ, nét chữ thật vuông vắn, thật đẹp, còn thầy thơ lại và ngục quan vốn là những người coi tù lại “ khúm núm” , “ run run” như chấp nhận một sự đổi thay ngôi thứ. đó là những nghịch lí tạo nên bức tranh vừa hiện thực vừa lãng mạn.ở đấy, Huấn Cao hiện lên lồng lộng, ung dung dồn cả tâm lực trong việc cho những dòng chữ ân nghĩa nâng tâm hồn viên quản ngục và thầy thơ lại trở về với cái tâm, với khát vọng hướng thiện.

Có thể nói đây là trung tâm thẩm mĩ của truyện ngắn  bộc lộ sâu sắc tâm trạng các nhân vật trong một hoàn cảnh độc đáo, cũng bộc lộ rõ tư tưởng chủ đề của tác phẩmvà cảm hứng thẩm mĩ của nhà văn: đó là khát vọng vươn tới

cái thanh cao, cái hoàn mĩ: là ý nguyện gìn giữ một thú tao nhã trong văn hoá cổ truyền của dân tộc.

Để làm nổi bật tình huống truyện kì lạ và độc đáo, Nguyễn Tuân đã tổ chức tác phẩm theo một kết cấu đặc biệt. Chữ người tử tù được kết cấu theo kiểu truyện lồng trong truyện, hay còn gọi là kết cấu “ trùng phức”. Kết cấu “ trùng phức” được biểu hiện ở chỗ tính cách nhân vật chính được hoàn thiện dần qua lời kể, giọng kể của các nhân vật khác trong truyện. Cách xây dựng tính cách nhân vật theo kiểu “ trùng phức” là cách kết cấu hiện đại, đầy sáng tạo. Hiện đại và sáng tạo ở chỗ khi nói về nhân vật Huấn Cao, nhân vật lí tưởng của nhà văn, ta thấy yếu tố chủ quan thường ẩn đi, yếu tố khách quan thường đậm hơn. Vì vậy tính cách nhân vật chính được phản ánh chính xác hơn, nhân vật như có thật ngoài đời và nhân cách của Huấn Cao càng có sức thuyết phục hơn. Đây chính là nhân vật lí tưởng, là khát vọng thẩm mĩ của nhà văn. Nhân vật Huấn Cao được đặt trong mối quan hệ với hai nhân vật quản ngục và viên thơ lại. Thái độ kiên trì, nhẫn nhục, thía độ tôn kính, ngưỡng mộ của ngục quan và thầy thơ lại đã tôn lên vẻ đẹp cao quý của Huấn Cao rất nhiều. Có thể xem đây là một trong những nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất trong chỉnh thể của tác phẩm.

Nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nguyễn Tuân được nổi bật ở ba điểm: Nhân vật được xây dựng bằng bút pháp lãng mạn; nhân vật được lí tưởng hoá và các nhân vật chính là hình bóng, là ước mơ của nhà văn. Các nhân vật lãng mạn thường đối lập giữa tính cách và hoàn cảnh, giữa lí tưởng và hiện thực cuộc sống, nhân vật thường đứng cao hơn hoàn cảnh, không chịu sự tác động của hoàn cảnh khách quan. ở nhân vật quản ngục những đối lập ấy tạo ra chiều sâu tâm lý: Làm nghề coi tù, sống giữa tội ác, hàng ngày chứng kiến bao cảnh xô bồ, hỗn tạp, viên quản ngục lại biết kính mến khí phách, biết trọng người có tài, biết day dứt “ chọn nhầm nghề”; có một sở nguyện thiêng liêng là “ treo ở nhà riêng mình đôi câu đối do tay ông Huấn Cao viết”. Nguyễn Tuân đã nhìn thấy trong người viên quản ngục một “ tính cách dịu dàng… một thanh âm trong trẻo xen vào giữa một bản đàn hỗn độn, xô bồ”. đây chính là một cái nhìn đầy lãng mạn, nhưng cũng là một cái nhìn mang tính thẩm mĩ cao.

Trong truyện ngắn Chữ người tử tù, tài hoa của tác giả còn thể hiện ở cách xây dựng ngôn ngữ. ở đây tác giả nói về chữ viết nhưng lại nói về cách sống, về nhân cách. Chỉ cần một nét chữ “ vuông vắn, tươi tắn” đối với Huấn Cao đã là biểu hiện của một nhân cách tự do, nhân cách của thiên lương toả sáng. Cần chú ý cách sử dụng ngôn từ trong cách gọi nhân vật của nhà văn: ông không viết “ viên quản ngục” mà viết “ ngục quan”, không viết tên tù mà viết “ ngục tù”. ở đây không phải vì vị thế con người đã thay đổi mà tác giả thay đổi ngôn từ, mà chính là tấm lòng cảm kích, trân trọng Huấn Cao và người quản ngục của Nguyễn Tuân.

Mặt khác khi miêu tả nhân vật của mình, tác giả thường dùng ngôn ngữ khoa truơng, phóng đại. Tính phóng đại trong ngôn ngữ của ông đều nhằm mục đích khắc hoạ đậm nét chân dung nhân vật lãng mạn. Chẳng hạn trong cảnh cho chữ những cụm từ “ nét chữ vuông vắn, tươi tắn nói lên cái hoài bão, cái khí phách tung hoành của Huấn Cao”, các từ “ khúm núm”, “ run run”,bái lĩnh”… đều nói lên sự ngưỡng mộ, thái độ tôn kính nhân cách Huấn Cao của viên quản ngục và thầy thơ lại … Như vậy, việc xây dựng kết cấu, cách xây dựng nhân vật, cách chọn phương thức nghệ thuật, chọn giọng điệu ngôn ngữ thích hợp để dựng lại cái bầu không khí thời xưa chính là những nét phong cách riêng  của Nguyễn Tuân trong truyện ngắn. Bút pháp lãng mạn độc đáo; cách thể hiện sự đối lập giữa lí tưởng và hiện thực, giữa tính cách và hoàn cảnh. Từ sự đối lập ấy đã làm nổi bật chân dung nhân vật lí tưởng của nhà văn và làm nổi bật lên tình huống truyện độc đáo, khiến cho việc cho chữ của tử tù trở thành việc cho cái đẹp, cái tâm, cái thiên lương và lời “ di huấn” của Huấn Cao có ý nghĩa lớn như sự phục hồi nhân phẩm, một sự thanh lọc tâm hồn đối viên quản ngục, thầy thơ lại nói riêng và với những ai đang lầm đường, lạc lối. Tác phẩm vì vậy sống và có ý nghĩa mãi mãi với thời gian.

3.2. Tình huống truyện trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu.

  * Thành công của ngòi bút Nguyễn Minh Châu là đã xây dựng được một chuỗi tình huống đầy kịch tính, đan kết giữa tình huống bên ngoài và tình huống bên trong:

3.2.1: Tình huống bên ngoài – tình huống gặp gỡ:

Nhà văn đã kể khá chi tiết việc “ săn ảnh” của Phùng để làm nền chuẩn bị cho cho tình huống gặp gỡ bất ngờ xuất hiện. Cuộc gặp gỡ giữa người nghệ sĩ nhiếp ảnh và những thành viên của gia đình ngư dân thật tình cờ, nhưng lại là mấu chốt để Nguyễn Minh Châu dẫn dắt câu chuyện. Người nghệ sĩ nhiếp ảnh đã tình cờ chứng kiến và thấu hiểu tấn bi kịch chua xót, éo le trong cuộc sống những người lao động vùng biển. Hay đúng hơn, anh đã đối mặt với cuộc sống thực mà không một máy ảnh nào có thể thu chụp nổi.

– Tình huống bất ngờ, giàu kịch tính. Tình tiết phát triển nhanh như một vở kịch câm. Nhà văn tỉnh lược tối đa lời nói, tăng cường hành động. Tất cả diễn ra nhanh gọn.

+ Câu chuyện của gia đình ngư dân được nhà văn quay cận cảnh với những diễn biến chớp nhoáng: “ Ngay lúc ấy, chiếc thuyền đâm thẳng vào chỗ tôi đứng. Một người đàn ông và một người đàn bà rời thuyền…”

+ Hành động tàn nhẫn của người chồng: “ Chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà, lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két…”

+ Phản ứng mãnh liệt của thằng Phác: “ lao qua trước mặt tôi”, “ chạy một mạch”, “ nhảy bổ vào” người bố.

+ Sự cam chịu của người vợ: “ Thế rồi thật bất ngờ người đàn bà buông đứa trẻ ra, đi thật nhanh ra khỏi bãi xe tăng hỏng, đuổi theo gã đàn ông. Cả hai người trở lại chiếc thuyền…”

Những tình tiết dồn dập diễn ra trong một khoảnh khắc. Chiếc thuyền vó đã biến mất. Tất cả như “ trong câu chuyện cổ đầy quái đảm”. Sau một loạt các hành động dồn dập đó câu chuyện trở về với nhịp độ bình thường.

Cái chuyện đánh vợ của người đàn ông diễn biến nhanh đến nỗi chính Phùng là người chứng kiến từ đầu đến cuối cũng không tin là thật. Anh kinh ngạc đến mức mấy phút đầu “ cứ đứng há mồm ra mà nhìn”, và khi sự việc đã kết thúc anh “ đứng trơ giữa bãi xe tăng hỏng” , “ đưa mắt ngơ ngác nhìn ra một quãng bờ phá ban nãy chiếc thuyền vừa đậu”.

Bi kịch gia đình ngư dân diễn ra như ảo giác, chỉ có một chi tiết rất thật là chiếc thắt lưng da ( dùng để đánh vợ) thằng bé giằng được từ tay người bố vẫn còn trên tay nó. Chi tiết “ chiếc thắt lưng” lặp lại nhiều lần trong đoạn văn ngắn như một sự thật nghiệt ngã. Tình huống bất ngờ, giàu kịch tính này khiến mỗi nhân vật bộc lộ hết tính cách.

– Trong tình huống gặp gỡ ( lần 1- trên bờ) nhà văn đã dần dần bóc tách cái lớp sương mù trắng như sữa đã làm Phùng xúc cảm đến mức cảm giác như có cái gì bóp thắt vào trái tim anh. Qua sự dãn dắt của nhân vật Phùng, mặt sau của bức tranh cuộc sống ở một vùng biển hoang sơ hiện lên sinh động.

Câu chuyện càng tăng kịch tính khi nhà văn tạo tình huống gặp gỡ thứ hai ( lần 2 – trong toà án huyện). Cuộc gặp gỡ giữa Đẩu, Phùng, người vợ khiến câu chuyện về bi kịch gia đình người ngư dân bắt đầu đi vào chiều sâu. Tình huống thứ hai này( cuộc đối thoại giữa Đẩu và người vợ) chính là cái nền để Nguyễn Minh Châu xây dựng tình huống bên trong – tình huống nhận thức.

3.2.2: Tình huống bên trong – tình huống tự nhận thức :

Sau tình tiết người chồng hành hạ vợ, diễn biến câu chuyện trái ngược với   sự chờ đợi của người đọc, đồng thời cũng trái ngược với ý đồ “ tốt bụng” của chánh án Đẩu và nghệ sĩ Phùng. Toà án gọi người đàn bà để trao đổi về chuyện gia đình, chánh án Đẩu đứng về phía người phụ nữ để khuyên chị li hôn. Nhưng thật bất ngờ, bằng những lí lẽ rất thật, rất đời, người vợ từ chối, thậm chí van xin toà án cho chị không bỏ chồng. Ngòi bút Nguyễn Minh Châu thật linh hoạt, từ tình huống bên ngoài nhà văn chuyển sang tình huống bên trong – tình huống tự nhận thức. Tình huống bên trong này làm bật lên tư tưởng chủ đề tác phẩm. Bên cạnh quá trình tự ý thức của Phùng là sự thức nhận của nhân vật Đẩu.

Qua những lời đối thoại cũng như những lời tự vấn án của Đẩu, ta thấy rõ diễn biến tâm lí của nhân vật này. Từ câu hỏi có phần vô tư ‘‘  Vậy sao không lên bờ mà ở ?’’, và lời thốt lên ngạc nhiên ‘‘ Không thể nào hiểu được, không thể nào hiểu được’’, đến lời đối thoại cũng là lời nói với mình ‘‘ Phải , phải, bây giờ tôi đã hiểu…’’ là một quá trình nhận thức chớp nhoángkhiến Đẩu đồng cảm hơn với cảnh ngộ éo le của người đàn bà vùng biển. Cái vỡ ra trong Đẩu không phải là hành vi thoả hiệp với cái ác, cái lạc hậu mà là sự thức nhận sâu sắc về những nghịch lí trong cuộc đời.

Nguyễn Minh Châu không dừng câu chuyện của mình sau cuộc gặp gỡ giữa ba người ở toà án huyện. Ngòi bút của nhà văn còn muốn đào xới sâu hơn vào phần tự ý thức của con người. Câu chuyện khép lại bằng hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa.

Qua tình huống nhận thức của nhân vật Đẩu, qua những trăn trở của Phùng, người đọc nhận ra điều Nguyễn Minh Châu muốn gửi gắm: Con người ta luôn luôn phải nhìn lại mình. Hoạt động tự ý thức khiến con người ngày càng hoàn thiện hơn. Đấy là ý nghĩa sâu xa  của truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa. Nghệ thuật tạo dựng tình huống truyện độc đáo của Nguyễn Minh Châu  đã tạo điều kiện cho câu chuyện phát triển hợp lô gíc và góp phần bộc lộ sâu sắc chủ đề truyện.

III. Kết luận

         III.1. Kết quả thực nghiệm :

Với những suy nghĩ trên và bằng thể nghiệm của chính mình , cách khai thác vai trò của tình huống truyện trong dạy tác phẩm tự sự đã giúp tôi đạt được những kết quả nhất định. Những học trò trong lớp dạy của tôi đã quan tâm hơn đến giờ học Văn và có hứng thú trong quá trình học. Trên cơ sở đó  , từ những lớp bình thường có thể chọn những học sinh có khả năng học văn để bồi dưỡng. Trong kì thi tốt nghiệp THPT năm học 2007 -2008 , kết quả điểm Văn của trường rất khả quan . Cụ thể : Số học sinh dự thi : 472. Điểm 0->2: 0 ; điểm 3 -> 4,9 : 35 ; điểm 5 ->7,9 : 382 ; điểm 8->10 : 55 ( có nhiều học sinh đạt điểm 9 ). Trong kì thi đại học các năm học 2006 – 2006 ; 2006- 2007 có nhiều học sinh đạt điểm 7,0 ; 7,5 ; 8,0 ; 8,5 … Trong kì thi đại học  năm học 2007-2008 có 4 học sinh đạt điểm 8,5, có 6 em đạt điểm 8,0….

III.1.1. So sánh kết quả giờ học :

*Lớp 12B9 : Tập trung rèn luyện năng lực khai thác vai trò tình huống truyện trong giờ dạy tác phẩm tự sự :

-Tiết học sinh động, tạo tâm lí thoải mái cho học sinh. Học sinh hứng thú trong học tập làm cho tiết học sôi nổi , có chiều sâu và có hiệu quả hơn .

-Thời gian dành cho học sinh học trên lớp được  nhiều hơn

– Khả năng giao tiếp , ứng xử của học sinh được nâng lên một bước

*Lớp B5 : Không chú ý hướng dẫn học sinh sử dụng vai trò tình huống truyện trong giờ dạy tác phẩm tự sự :

-Tiết học trầm, học sinh ít hứng thú tìm hiểu bài

– Giáo viên phải làm việc nhiều hơn. Học sinh hoạt động ít hơn, kiến thức học sinh tự tìm hiểu nhiều chỗ còn hời hợt , chưa sâu .

III. 1.2. So sánh kết quả bài kiểm tra ;

Sau khi dạy thực nghiệm và đối chứng trong học kì 1 ở hai lớp , thông qua kết quả kiểm tra chất lượng học  kì 2, với đề bài kiểm tra  : Trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”, Nguyễn Minh Châu đã xây dựng được một tình huống truyện mang ý nghĩa khám phá, phát hiện về đời sống. Anh, chị hãy làm rõ điều đó. Kết quả kiểm tra tính trung bình như sau :

 

Lớp

  Số   bài      Điểm 0- 4         Điểm 5 – 6    Điểm 7- 10
Số bài % Số bài % Số bài %
12B9

(Thực nghiệm )

 

37

 

3

 

8

 

17

 

46

 

17

 

46

12B5

(Đối chứng )

 

49

 

10

 

20,4

 

25

 

51

 

14

 

28,6

 

III.1.3 .So sánh kết quả đội tuyển Văn :

Từ khi trực tiếp phụ trách lớp mũi nhọn khối C,D, ôn thi  tốt nghiệp, ôn thi học sinh giỏi, ôn thi đại học, tôi có điều kiện áp dụng tốt hơn những biện pháp trên. Kết quả là phần lớn các em có hứng thú học tập hơn và tỉ lệ điểm giỏi khá cao. Cụ thể :

 

 

Năm học

 

Số lượng HS tham dự

  

Số lượng   giải

Chất lượng giải học sinh giỏi tỉnh
 KK Ba Nhì Nhất
2004-2005 9 0 0   0 0 0
2005-2006 10 5 3   2 0 0
2006-2007 10 7 3   3 1 0
2007-2008 8 8 2   4 2 0
2008 – 2009 8 7 7   0 0 0

 

=> Căn cứ vào sự đối chứng trên , có thể thấy rằng: Rèn luyện năng lực cho HS nhận biết vai trò của tình huống truyện trong học văn tự sự là công việc cần thiết  của người giáo viên dạy văn. Bởi sẽ dành nhiều thời gian cho HS hoạt động lại vừa mang đến hiệu quả giờ dạy cao hơn , học sinh thực sự hứng thú trong học tập, nắm bài sâu hơn, chắc và lâu hơn.

       III. 2. Kết luận  

* Ngay từ thế kỉ XVI , AKOMEXKI đã viết : “ Giáo dục có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm , phán đoán đúng nhất, phát triển nhân cách …Hãy tìm ra một phương pháp cho phép giáo viên dạy ít hơn, học sinh học nhiều hơn”.

Với những suy nghĩ trên và bằng thể nghiệm của chính mình , cách khai thác vai trò tình huống truyện trong dạy văn tự sự đã giúp tôi những kết quả nhất định .

=>Trên đây là những kinh nghiệm của bản thân tôi rút ra từ thực tế giảng dạy. Tuy nhiên những điều đúc rút ấy chưa hẳn đã đúng hoặc phù hợp với mọi người , mọi nơi và mọi điều kiện. Nhưng với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng học tập của bộ môn Ngữ văn, xin được trao đổi và rất mong được các thầy cô giáo có kinh nghiệm lâu năm trong nghề tận tình chỉ bảo , góp ý.                                                            

                                 Tôi xin chân thành cảm ơn

 Tài liệu tham khảo :

  1. Từ điển Tiếng Việt – Hoàng Phê NXB Đà Nẵng -2005
  2. Tự sự học – một số vấn đề lý luận và lịch sử . NXB Đại học sư phạm Hà Nội ,2004
  3. Ngữ Văn 11, 12 NXB GD
  4. Tạp chí THPT số 30
  5. Tiếng Việt lớp 11 – NXBGD – 2002
  6. Tạp chí giáo dục số 176 ( kì 1-11-2007 )

                 

III. Kết luận 

Xem thêm : Sáng kiến kinh nghiệm môn văn