Hướng dẫn ôn tập truyện Chí Phèo Nam Cao

KIẾN THỨC CƠ BẢN CHÍ PHÈO NAM CAO

TÁC GIẢ:

  • Nam Cao (1917 – 1951) tên khai sinh là Trần Hữu Tri, sinh trong một gia đình nông dân ở làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, phủ Lí Nhân (nay là xã Hòa Hậu, huyện Lí Nhân), tỉnh Hà Nam.
  • Học hết bậc Thành chung, Nam Cao vào Sài Gòn kiếm sống và bắt đẩu sáng tác. Sau đó, ông trở vê quê dạy học ở một trường tư thục ở ngoại ô Hà Nội. Năm 1996 Nam Cao đã được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật

Nam Cao có quan điểm nghệ thuật vị nhân sinh, phê phán thứ nghệ thuật xa rời thực tế  đòi hỏi nghệ thuật phải phản ánh chân thực đời sống, phục vụ cho đời sống xã hội

Sáng tác của Nam Cao trước Cách mạng tập trung vào hai để tài chính;người nông dân và người trí thức nghèo.

TÁC PHẨM  CHÍ PHÈO

XUẤT XỨ

Truyện ngắn Chí Phèo nguyên có tên là Cái lò gạch cũ; khi in thành sách lần đầu (NXB Đời mới, Hà Nội, 1941), nhà xuất bản tự ý đổi tên là Đôi lứa xứng đôi. Đến khi in lại trong tập Luông cày (Hội Văn hóa cứu qưôc xuâ’t bản, Hà Nội, 1946), tác giả đặt lại tên ỉà Chí Phèo.

Tóm tắt tác phẩm

Chí Phèo là một đứa trẻ mổ côi, bị bỏ rơi ớ cái lò gạch cũ, được người dân làng Vũ Đại nhặt về nuôi nấng. Đến năm 20 tuổi Chí Phèo đi ở làm canh điền cho nhà bá Kiến. Chí Phèo thường xuyên được bà ba – vợ của bá Kiên — gọi lên bóp chân. Do ghen tức với Chí Phèo, bá Kiế n đã tìm cách đẩy Chí Phèo đi tù. Sau mấy năm đi tù, Chi trở về làng nhưng đã thay đổi hoàn toàn từ ngoại hình đến tính tình . Chí trở thành một thằng lưu manh chuyên nghề rạch

mặt ăn vạ. Sau lần hứ hai đến ăn vạ nhà bá Kiến, Chí bị lão ta lừa gạt, lợi dụng, biến thành tay sai đắc lực cho mình , Từ đó, Chí càng hung hăng, gây biết bao tội ác để rồi trở thành con quỷ dữ trong con mắt của dân làng.

Một đêm trăng sáng, như mọi khi, Chí lại say và sau khi uống rượu với Tự lãng, hắn ngật ngưỡng trở vể túp lều của mình ở vườn chuối ven sông. Ở đây, Chí đã gặp thị Nở, một người đàn bà xấu xí, dở hơi đang nằm ngủ dưới gốc chuối . Chí ăn nằm với thị Nở. Sau đêm gặp thị Nở, nhất là sau trận ốm, khi thị Nở mang bát cháo hành đến, Chí đã thức tình và hắn đã xúc động, khát khao hoàn tương.

Thị Nở ở nhà Chí đúng năm ngày chẵn, ở cả ngày lẫn đêm, trừ những lúc đi kiếm tiền. Đến hôm thứ sáu, thì thị bỗng nhớ rằng thị còn có một người cô ở đời. .Thị nghĩ bụng: hãy dừng yêu để  hỏi cô thị đã. Nghe lời bà cô, thị đã cự tuyệt với Chí khiến hắn đau đớn, thất vọng. Và trong cơn phẫn uất, hắn đã đến nhà bá Kiến lương thiện rồi đâm chết lão cường hào ác bá này. Sau đó, hắn tự sát.

Những nội dung chính

Tác phẩm Chí Phèo phản ánh về cuộc đời bi thảm của người nông dân nghèo trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 mà điển hình là nhân vật Chí Phèo. Cuộc đời và số  phận của Chí Phèo được miêu tả qua hai quá trình: quá trình bị tha hóa và quá trình hồi sinh nhưng lại bị cự tuyệt quyền làm người.

Vốn dĩ Chí Phèo là một người nông dân hiền lành, lương thiện nhưng từ khi đi tù về hắn đã trở thành một thằng lưu manh. Hắn nguyên là một đứa trẻ mồ côi được người dân làng Vũ Đại nhặt về nuôi. Năm 20 tuổi, Chí làm canh điền cho nhà bá Kiến. Khi đó, Chí “hiềh lành như đất”, thậm chí còn nhút nhát,Chí cùng từng có những mơ ước giản dị và lương thiện: “một gia đình nho nhỏ. chồng cuốc mướn cày thuê vợ dệt vải. chúng lại bỏ một con lợn nuôi làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm . Nhưng chỉ vì ghen tức với Chí mà Bá Kiến đã đẩy Chí đi tù . Chỉ qua mấy năm , nhà tù thực dân đã biến Chí thành một tên lưu manh với những cơn say triền miên chuyên nghề rạch mặt ăn vạ . Hơn thế nữa, sau khi ra tù , hắn còn bị Bá Kiến biến từ một thằng lưu manh trở thành con quỷ dữ trong con mắt người dân làng Vũ Đại. Chí đã thành tay sai cho Bá Kiến và ngày càng hung hăng hơn . Trong những cơn say triền miên, Chí đã tự hủy hoại nhân hình và nhân tính của mình . Đây chính là bi kịch tha hóa của Chí bởi hắn tự hủy hoại con người mình mà không hề hay biết , lại còn lấy đó làm vênh vang , đắc chí ( điều này mãi tới khi tỉnh rượu , Chí mới thật sự thấm thía nhận ra, cảm thấy đau đớn và ăn năn)

Cứ tưởng Chí Phèo mãi mãi sống kiếp thú vật, rồi kết thúc  cuộc đời bằng cách vùi xác tại một bờ bụi nào đó. Nhưng không, sau cuộc gặp gở thị Nở, trái qua một cuộc tình và một trận ốm , phần “Người” bị vùi lấp bấy lâu của Chí đã hồi sinh và trỗi dậy. Chí đã cảm nhận được những tín hiệu của cuộc sống xung quanh. Chí đã nhớ lại quãng đời và những ước mơ trước đây của mình. Hắn đã khao khát hoàn lương và làm người lương thiện: “Hắn thèm lương thiện “Thị Nở sẽ mở đường cho hắn”. Chính tấm lòng và bát cháo hành của thị đã  giúp cho Chí “thấy mắt hình như ươn ướt”,biết ăn năn, thấy lòng thành trẻ con và khi tỉnh táo hắn cười nghe thật hiền.

Rõ ràng, tấm lòng của thị Nở đã đánh thức trong Chí cái lương tri và tính người . Chi tiết này đã nói lên một quan niệm mang tính nhân văn của nhà văn : chỉ có tình người mới cứu vớt được tính người . Và đây cũng chính là chi tiết  nghệ thuật độc đáo trong truyện. Chí bát cháo hành thôi, nó lại được bàn tay  của một người đàn bà xấu “ma chê quỷ hờn” nấu nhưng kì lạ nó lại trở thành một liều thuốc hổi sinh rất kì diệu và công hiệu,

Tiếc thay, đang trên ngưỡng cửa trở về với cuộc đời lương thiện thì Chí lại rơi vào bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người, Xã hội không chấp nhận Chí nữa, cả làng  Vũ Đại cũng không chấp nhận. Thị Nở cùng nghe lời cô mình mà cự tuyệt Chí một cách phũ phàng. Chí đau đón, phẫn uất và rơi vào tuyệt vọng. Chí chi còn một cách là cẩm dao đi đòi lương thiện. Rổi Chí đén nhà bá kiến kẻ  đã hại cuộc đời Chí – đế giết chết hắn và tự kết liễu đời minh. Hành động của Chí là tất yếu, không phải là hành động mù quáng do hơi men mà là kết quả của việc Chí đã hồi sinh, nhận ra cảnh ngộ bi thảm của mình và nhận là kẻ chủ yếu hại cuộc đời mình. Chí cũng nhận ra, kẻ thù đâu chỉ riêng bá Kiến mà là cả cái xã hội phi nhân tính bây giờ. Cho nên, hành động tự sát cúa Chí cũng là tất yếu, là sự giải thóat duy nhất cho chính hắn.

Khác với nhiểu nhà văn hiện thực đương thời thường đi sâu miêu tả sự bần cùng hóa của người dân, Nam Cao đi sâu phản ánh quá trình tha hóa – lưu manh hóa và bị cự tuyệt quyền làm ngươi của người dân trong xã hội cũ. Chính vì thế truyện Chí Phèo có sức tố  cáo mạnh mẽ chế độ thực dân nửa phong kiên tàn bạo đã cướp đi cả nhân hình và nhân tính von lương thiện của con người Tuy nhiên, qua đó nhà văn cũng đã phát hiện và trân trọng bản chất tốt đẹp của người nông dân dù bị xã hội đẩy vào con đường lưu manh hóa. Điều này đã làm nên giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc cho tác phẩm.

Đặc sắc nghệ thuật

Bằng cái nhìn tinh tế một trí tuệ sâu sắc và tinh thần sáng tạo “khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những cái gì chưa có”, Nam Cao đã khắc họa thành công một thực tế đã trở thành quy luật ở nông thôn Việt Nam thời trước Cách mạng: một bộ phận người dân bị lưu manh hóa. Nhà văn cũng đã thành công xuát  sắc trong nghệ thuật xây dựng nhân vật điển hình. Nhân vật Chí Phèo không chi là một nhân vật mà còn trở thành tên gọi chung cho một loại người, trở thành một hiện tượng xã hội. Ngoài ra, thành công của thiên truyện này còn phải kể đến nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật nghệ thuật kể chuyện mới lạ,  những đoạn đố i thoại và độc thoại được kếthợp nhuần nhị…

Chủ đề tư tưởng

Thông qua việc xây dựng hình tượng nhân vật Chí Phèo bị lưu manh hóa và bị cự tuyệt quyền làm người, nhà văn cho ta thấy được cuộc đời và số phận bi thảm của người dân Việt Nam thời trước Cách mạng, đổng thời, qua đó nhà văn thể hiện niềm cảm thông và trân trọng đối với họ. Tác phẩm cũng đã góp lên tiếng nói tố cáo mạnh mẽ bản chất tàn bạo của xã hội thực dân phong kiến đối với con người Việt Nam ta.

HƯỚNG DẪN ÔN TẬP DẠNG CÂU HỎI TÁI HIỆN KIẾN THỨC

Câu 1. Truyện Chí Phèo của Nam Cao từng có những tên gọi nào? Hãy nêu những nhận xét về những tên gọi đó.

Gợi ý trả lời

Truyện Chí Phèo của nhà văn Nam Cao từng có nhiều tên gọi khác nhau cả về  câu chữ lẫn giá trị nghệ thuật:

  • Ban đầu truyện mang tên là Cái lò gạch cũ.

+ Cách gọi này được gọi ra từ hình ảnh cái lò gạch bỏ không ở đầu truyện ( nơi Chí Phèo xuất hiện) và cuối truyện. Và với nghĩa này, Cái lò gạch cũ muốn nhân mạnh tính chất quy luật của “hiện tượng Chí Phèo” (nghĩa là Chí Phèo này chết thì có Chí Phèo khác tiếp tục ra đời), tạo ra sự ám ảnh, day dứt trong tâm trí người đọc.

+ Mặt khác cũng cần thấy , nhan để Cái lò gạch cũ bộc lộ cái nhìn không khá quan của tác giá về số phận của người nông dân.

 

  • Trong lần xuất bản tiếp sau, nhà xuất bản tự ý đổi lại là Đôi lứa xứng đôi.

+ Nhan đề này được đặt dựa vào tình tiết về mối tình của Chí Phèo và  thị Nở nhằm tạo nên sự lôi cuốn, kích thích trí tò mò của người đọc.

+ Nhan đề này cũng chưa thế khái quát hết được ý nghĩa tư tưởng của truyện.

  • Sau cùng, truyện được tác giả đổi lại là Chí Phèo.

+ Cách gọi này dựa vào tên của nhân vật chính: nhân vật Chí Phèo.

+ Tên gọi Chí Phèo của truyện vừa khái quát được ý nghĩa tư tưởng của truyện vừa tạo được sự hứng thú ở độc giả.

Câu 2. Trình bày xuất xứ và nêu chủ để tư tưởng của tác phẩm Chí Phèo (Nam Cao).

Gợi ý trả lòi: Tham khảo mục 1

ĐỂ NGHỊ LUẬN VĂN HỌC VỀ TRUYỆN NGẮN CHÍ PHÈO

Đề 1 : Phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao từ buổi sáng sau khi gặp thị Nở đến khi kết thúc cuộc đời để thấy rõ bỉ kịch của nhân vật này.

Đáp án : http://vanhay.edu.vn/bai-van-cua-hoc-sinh-gioi-phan-tich-dien-bien-tam-trang-chi-pheo-tu-buoi-sang-sau-khi-gap-thi-no

Đề2: Phân tích đặc điểm ngôn ngữ kể chuyện của Nam Cao qua đoạn văn mở đầu của truyện ngắn Chí Phèo:

“Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi. Bắt đầu chửi trời, có hề gì? Trời có của riêng nhà nào? Rồi hắn chửi đời. Thế cũng chẳng sao: Đời là tất cả nhưng cũng chẳng là ai. Tức mình hắn chửi ngay tất cả làng Vũ Đại. Nhưng cả làng Vũ Đại ai cũng nhủ: “Chắc nó trừ mình ra!”. Không ai lên tiếng cả. Tức thật! Ồ thế này thì tức thật! Tức chết đi được mất! Đã thế, hắn phải chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn. Nhưng cũng không ai ra điều. Mẹ kiếp! Thế thì có phí rượu không? Thế thì có khổ hắn không? Không biết đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn cho hắn khổ đến nông nỗi này! A ha! Phải đấy hắn cứ thế mà chửi, hắn chửi đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn, đẻ ra cái thằng Chí Phèo? Mà có trời biết! Hắn không biết, cả làng Vũ Đại cũng không ai biết.

Bài văn tham khảo

Chí Phèo đúng là một kiệt tác, là một truyện ngắn có thể “làm lu mờ hết các tấc phẩm cùng ra một thời” viết về đề tài nông dân trước Cách mạng tháng Tám. Do đâu? Phải chăng là do Nam Cao đã xây dựng thành công hình tượng một nhân vật điển hình cho nông dân cùng khổ bế tắc trong bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người? Hay do nhà văn đã đưa ra trong tác phẩm một vấn đề xã hội sâu sắc bức xúc? Hai lí do vừa nêu đều đúng. Ngoài ra còn một lí do khác cũng không kém phần quan trọng, đó là tài năng kể chuyện, nghệ thuật kể chuyện và sử dụng ngôn ngữ của Nam Cao mà đoạn trích sau đây là một minh chứng:

“Hắn vừa đi vừa chửi… cả làng Vũ Đại cũng không ai biết”.

Phân tích đoạn văn trên ta sẻ thấy điều  vừa nói.

Trong truyện ngắn Chí Phèo, đầy là đoạn mở đầu kể về nhân vật chính Chi Phèo đã trở thành một tên côn đồ hung hãn dưới bàn tay nham hiểm và thâm độc của bá Kiến, một tên cường hào “cáo già trong nghề thống trị”.

Thông thường trong văn xuôi tự sự, ngoài nhân vật cốt truyện, các tính cách điển hình, các chi tiết đời sống. còn phải chú ý đến  các hình thức biểu đạt của ngôn ngữ như lời đối đáp, lời độc thoại, ngôn ngữ nhân vật và đặc biệt là ngôn ngữ của người kể chuyện đều là những yếu tố có ý nghĩa nghệ thuật. Ở đây phải nói yếu tố ngôn ngữ của người kể chuyện đóng vai trò rất quan trọng trong việc dẫn dắt sự kiện, miêu tả nhân vật, phân tích tâm lí cung cấp một cách nhìn, một giọng điệu tạo không khí đế người đọc cảm nhận chúng một cách thuận lợi, dễ dàng.

Ở đây, trong đoạn văn trên, Nam Cao đã sáng tạo được một hình thức ngôn ngữ kể  chuyện thật phong phú sinh động và biến hóa. Ở đây, ngôn ngữ người kê’ chuyện chủ yếu được kê’ ở ngôi thứ ba. Nhân vật kể chuyện có thể là chính tác giả,  là Nam Cao. Có thể ngôi chứ tuyệt đối không nên đồng nhất nhân vật người kể chuyện vói tác giả. Nhà văn như một chứng nhân kể lại cho người đọc nghe một cách khách quan về  “hắn”, về sự xuất hiện, trạng thái và hành động của “hắn”. “Hắn” đây chính là Chí Phèo. Chí Phèo say rượu, đi và chửi.

Trước tiên là một thông báo: “Hắn vừa đi vừa chửi… Không ai lên tiếng cả”. Tuy đã nói thái độ của người kể chuyện là khách quan nhưng đúng là ở đây đã bao hàm một sự nhận định và đánh giá: “Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi ,Điều này góp phần điển hình một tính cách, một kiểu người, nói rõ hơn là góp phần thê’ hiện con người, tính cách của Chí Phèo.

Tiếng chửi và cách chửi của anh chàng này cũng thật độc đáo. Hắn chửi cả trời đất  cả làng rồi cha mẹ. Tấtcả đều là những cái thiêng liêng, lớn lao về hình thức nhưng lại là vu vơ, trừu tượng. Như vậy, đúng là Chí Phèo chưa rõ hay chưa dám kêu thẳng mặt chửi thẳng tên những kẻ thù đích thực và cụ thể của anh chàng. Trong đoạn văn này, ngôn ngữ tác giả đã trộn lẫn, kết dính với gôn ngữ nhân vật. Lời khẳng định của nhà văn — người kể chuyện, nhận định về hiệu quả của hành động say và chửi của Chí Phèo: “Có hề gì ?Thế cũng chẳng sao?”, “Không ai lên tiếng cả”, “chẳng ai ra điều” mặc nhiên cho thâý Chí Phèo chỉ  là một thằng dở hơi, một thằng điên, một thằng nát rượu không ai thèm chấp nhặt. Tiếp đó là mấy câu: “Ờ! Thế này thì tức thật! Tức chết đi được mất… Mẹ kiếp !thế  thì có phí rượu không? Thế thì có khổ hắn không?” Đây là lối trần thuật gián tiếp xen lẫn với trần thuật nửa trực tiếp nửa gián tiếp, vừa bộc lộ được nội tâm nhân vật ớ đây là Chí Phèo. Tâm trạng của anh chàng lúc này là một nỗi uất  ức, tức bực vì không ai chịu đương đầu đối  chọi để mình phải đấm vào không khí một mình như vậy. Điều này cũng cho thấy là Chí Phèo đã mất cả nhân tính khiến người làng Vũ Đại ai cũng sợ “con quỷ dữ kia” nên ai cũng tự nhủ là hắn không đụng chạm đến mình. Làm như vậy, vô tình người làng Vũ Đại đã loại Chí Phèo ra khỏi cái cộng đồng bình thường của mình.

Trong đoạn văn trên, tác giả đã sử dụng cùng một lúc nhiều giọng điệu làm nên một màu sắc đa thanh rất rõ. Người đọc bắt gặp ở đây từ ngôn ngữ tường thuật: “Hắn vừa đi vừa chửi. Bắt đầu hắn chửi trời… Rổi hắn chửi đời…” đến ngôn ngữ bình luận: “Có hề gì? Trời của riêng nhà nào? Đời là tất cả nhưng chẳng là ai”, từ ngôn ngữ nhân vật đến ngôn ngữ của tác giả khi thì lãnh đạm: “Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng thế,  cứ rượu xong là hắn chửi. Bắt đầu hắn chửi trời. Có hề gì ?” lúc lại trữ tình và gắn bó: “Thế thì có khổ hắn không?”

Tác giả lại sử dụng câu ngắn gọn ở đây. Nhiều câu trong đoạn văn này chỉ có  hai chữ, ba chữ, bố n chữ hay năm chữ. Các kiểu câu lại đa dạng và phong phú: câu kể, câu cảm, câu hỏi xen lẫn nhau.

Chính vì thế  qua đoạn văn, người đọc tưởng như thấy được bóng dáng Chí Phèo đang ngất ngưởng vừa đi vừa chửi. Thậm chí, chúng ta ngỡ  như nghe được tiếng chửi của anh chàng và hình dung được cả điệu bộ, diện mạo và đặc biệt han là thấu hiếu cả thân phận, thái độ và tính cách của anh chàng nữa.

Ai cũng đoán ra đây là một kẻ hận đời, bị đời đẩy ra khỏi cộng đổng bình thường nên phải đi một minh trên một con đường và chỉ một mình phát ra tiếng nói độc địa chửi bới phủ nhận cả mọi thứ. Đằng sau tiếng chửi bới vô lối và đầy tính gây sự đó là một nỗi khát khao được hòa nhập vào với mọi người nhưng Chí Phèo đang gào lên trong vô vọng vì đang bị dân làng Vũ Đại tẩy chay.

Sự biến hóa trong việc sử dụng ngôn ngữ kể chuyện của nhà văn trong đoạn ván trên như vừa nói đã  khiến cho truyện càng trở nên chân thực sống động nhất là góp phần biếu đạt một nội dung đẩy tính thấm mĩ sâu xa.

Tóm lại, qua đoạn văn trên, Nam Cao đã kết hợp giữa lời văn tường thuật và lòi văn bình luận, đặc biệt là kết hợp nhiều giọng điệu trong một lời văn. Đó là sự kết hợp giữa giọng điệu của nhân vật và của ngươi kể chuyện với hai giọng kể: một giọng sắc lạnh, khách quan và một giọng thì cảm thông tha thiết. Cách viết này không phải theo cách kể chuyện thông thường của một người chứng kiến ngoại cuộc mà theo cách nhập thân vào nhân vật. Chính vì vậy, nhà văn có điều kiện đế đi sâu vào nội tâm nhân vật nắm bắt và thế hiện thật tinh tế và sâu sắc, tạo ra được một thứ ngôn ngữ kể chuyện biến hóa linh hoạt có s ức hấp dẫn lôi cuốn người đọc một cách lạ thường.

(Theo Trần Ngọc Hưởng – Lê Thị Mai Hương)

Tài liệu sưu tầm

Xem thêm những đề thi về bài Chí Phèo : soạn bài : Chí Phèo

Hướng dẫn ôn tập truyện ngắn Chí Phèo Nam Cao

Giữa mênh mông kiến thức, hầu như các bạn học sinh chưa xác định được trọng tâm ôn tập cho phần Nghị luận văn học lớp 11. Bài viết dưới đây khái quát những kiến thức cơ bản và hướng dẫn cách ôn tập truyện Chí Phèo SKG Ngữ văn 11.

Kiến thức cơ bản về tác phẩm Chí Phèo

 Giới thiệu tác giả và tác phẩm:

Nam Cao là cây bút hiện thực phê phán xuất sắc, là nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn của nền văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945. Sáng tác của ông chủ  yếu ở hai mảng đề tài : viết về người trí thức nghèo và về những người nông dân cùng khổ. Ở mảng đề tài viết về người nông dân, “Chí Phèo” là một kiệt tác. (Nêu vấn đề theo đề bài).

 Khái quát về tác phẩm:

Truyện ngắn “Chí Phèo” ra đời trước Cách mạng tháng Tám, ban đầu truyện có tên là “Cái lò gạch cũ”, khi in thành sách lần đầu, nhà xuất bản tự ý đổi thành “Đôi lứa xứng đôi”, sau này, khi in lại trong tập “Luống cày” (1946) nhà văn đổi lại thành “Chí Phèo”.

Truyện kể về nhân vật Chí Phèo. Thưở nhỏ, Chí bị cả cha lẫn mẹ bỏ rơi, sống bơ vơ bất hạnh. Lớn lên đi làm thuê cho nhà Bá Kiến, bị Bá Kiến ghen, đẩy vào tù. Khi ra tù, Chí thay đổi hẳn cả nhân hình lẫn nhân tính. Hắn trở thành tay sai của Bá Kiến, là con quỉ dữ của làng Vũ Đại. Rồi hắn gặp Thị Nở, một cô gái xấu “ma chê quỉ hờn”. Bát  cháo hành cùng với tình thương yêu, sự quan tâm chăm sóc của Thị đã thức tỉnh phần người bấy lâu nay bị vùi lấp sâu trong tâm hồn Chí. Chí Phèo ao ước được trở lại làm người lương thiện, hắn hi vọng rằng Thị Nở sẽ mở đường cho hắn. Nhưng bà cô Thị ngăn cấm. Chí nhận ra bi kịch đau đớn : bị cự tuyệt quyền làm người. Chí bèn xách dao đến nhà Bá Kiến, kẻ đã gây ra bi kịch của hắn, giết chết Bá Kiến rồi tự vẫn.

Nội dung văn bản:

Theo chuẩn kiến thức – kĩ năng: Hình tượng nhân vật Chí Phèo; Gía trị tác phẩm (giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo).

Hình tượng nhân vật Chí Phèo

Phân tích đặc điểm nhân vật:

Chí Phèo – người nông dân lương thiện: có một hoàn cảnh riêng đặc biệt (Vừa sinh ra, Chí đã bị người ta vứt bỏ không thương tiếc. “Một anh đi thả ống lươn, một buổi sáng tinh sương, nhặt được Chí trần truồng và xám ngắt trong một cái váy đụp bên cái lò gạch cũ bỏ không”. Rồi khi được đưa về làng, số phận của Chí lại như một đồ vật, bị người ta chuyền tay nhau. Anh đi thả ống lươn đem về cho bà góa mù nuôi, được vài năm, bà góa mù đem bán hắn cho một bác Phó Cối trong làng. Khi bác Phó qua đời, hắn bơ vơ, không nơi nương tựa, hông nhà cửa, không gia đình, không người thân thích chăm sóc), nhưng vẫn có nét chung của những người nông dân lao động (chăm chỉ : tự nuôi bản thân mình bằng cách đi làm thuê, làm mướn; trong sáng, giàu tự trọng : khi làm thuê cho nhà Lí Kiến, bị bà bà gọi làm việc không chính đáng, Chí Phèo thấy “nhục hơn là thích”; có những ước mơ thật giản dị: có một gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải…)

Chí Phèo – thằng lưu manh, “con quỷ dữ” : Bá Kiến ghen vu vơ đã nhẫn tâm đẩy Chí Phèo vào tù, nhẫn tâm biến người dân hiền lành trở thành tù nhân. Nhà tù thực dân đã tiếp tay cho lão cường hào, bắt giam là anh Chí vô tội nhưng thả ra là một Chí Phèo lưu manh, tha hóa. Sau bảy, tám năm ở tù, Chí Phèo trở về thì thay đổi hẳn cả nhân hình lẫn nhân tính. “Ban đầu, không ai nhận ra hắn”: “cái đầu cạo trọc lóc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất cơng cơng, hai mắt gườm gườm, ngực và cánh tay chạm trổ đầy những rồng, phượng với hình một ông tướng cầm chùy…”. Sự biến đổi nhân hình của Chí còn thể hiện ở khuôn mặt hắn sau một thời gian sống ở làng: “cái mặt hắn bây giờ không còn là cái mặt người nữa, nó là mặt của một con vật lạ. Nó vằn lên không biết bao nhiêu là sẹo, không thứ tự”. Tuy nhiên, cái biến đổi đáng sợ hơn ở Chí là sự biến đổi nhân tính. Trở về làng, không gia đình, không người thân thích, không nơi nương tựa, không nghề nghiệp mưu sinh, hắn trở thành tay sai của Bá Kiến.  Hắn sống bằng chửi bới, dọa nạt, đập đầu, rạch mặt ăn vạ. Hắn trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại, tác oai tác quái gây họa cho bao nhiêu dân làng. Hắn “phá tan bao nhiêu cơ nghiệp, đạp đổ bao nhiêu hạnh phúc, đập nát bao nhiêu cảnh yên vui, làm chảy máu và nước mắt của không biết bao nhiêu là người lương thiện”. Người ta thấy hắn “triền miên trong những cơn say”. “Hắn ăn trong lúc say, dọa nạt chửi bới trong lúc say, đập đầu rạch mặt trong cơn say, ngủ trong lúc say, tỉnh dậy vẫn còn say, lại uống rượu trong lúc say, để rồi say nữa, say mãi, say vô tận”. Cuộc đời hắn lúc này là một chuỗi dài của sự vô thức, hắn không còn biết đến thời gian, không biết đến những gì đang xẩy ra quanh hắn. Ý thức của hắn đã bị tê liệt hoàn toàn. Hắn chỉ biết uống rượu rồi chửi đổng. Lúc nào người ta cũng thấy Chí ngật ngưỡng “vừa đi vừa chửi”. Người nông dân Chí Phèo lương thiện, hiền lành trước đây đã bị nhà tù thực dân cùng với tầng lớp thống trị phong kiến biến thành con quỷ dữ. Dân làng Vũ Đại ai cũng ghê sợ, xa lánh hắn. Dần dần, hắn không được coi là con người nữa. Không một ai giao tiếp với Chí, dù chỉ là một tiếng chửi.

Chí Phèo – bi kịch của người sinh ra là người nhưng không được làm người : cuộc gặp gỡ với Thị Nở và sự yêu thương chăm sóc chân thành của thị đã đánh thức dậy tính người trong Chí. Hắn muốn làm người lương thiện, muốn làm hòa với mọi người. Bị thị Nở từ chối, Chí rơi vào bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người, bị dồn đến đường cùng. Trong cơn phẫn uất, tuyệt vọng, Chí Phèo đã giết bá Kiến rồi tự sát. Cái chết ấy cho thấy niềm khao khát cháy bỏng được sống lương thiện của Chí Phèo và có sức tố cáo mãnh liệt xã hội thuộc địa phong kiến.

Nghệ thuật xây dựng nhân vật:

          “Chí Phèo” là  minh chứng tiêu biểu nhất cho tài năng truyện ngắn Nam Cao. Bằng nghệ thuật xây dựng nhân vật điển hình, nhà văn tố cáo sâu sắc xã hội thực dân nửa phong kiến phi nhân đạo bóp nghẹt sự sống của con người, đẩy con người vào “bước đường cùng”. Kết cấu truyện theo kiểu tâm lí, không theo thứ tự thời gian mà bắt đầu truyện bằng tiếng chửi đổng của Chí vừa gây sự chú ý, tò mò cho người đọc, vừa nhấn mạnh cái bi kịch đau đớn của Chí. Đồng thời, lời văn kể chuyện nửa trực tiếp cũng góp phần tạo nên sự hấp dẫn của câu chuyện: trong tác phẩm, có đoạn là lời người kể chuyện hoàn toàn; cũng có đoạn nhà văn như hóa thân vào nhân vật, làm cho đoạn văn như là lời của chính nhân vật tự kể chuyện mình khiến người đọc thực sự khám phá được chiều sâu tâm hồn nhân vật. “Đôi mắt” đầy tình người của Nam Cao cùng với tài năng nghệ thuật của ông đã đưa “Chí Phèo” vào hàng những kiệt tác văn xuôi hiện đại.

Kết luận :

Xây dựng thành công hình tượng nhân vật Chí Phèo, Nam Cao vừa tố cáo sâu sắc xã hội phi nhân tính vừa thể hiện tấm lòng thương yêu đồng cảm của mình với người nông dân đương thời. Với “Chí Phèo”, Nam Cao đã khắc tên mình vào nền văn học hiện đại Việt Nam.

Gíá trị tác phẩm

– Gía trị hiện thực : phản ánh tình trạng một bộ phận nông dân bị tha hóa; mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ, giữa các thế lực ác bá ở địa phương.

– Gía trị nhân đạo : cảm thương sâu sắc trước cảnh người nông dân cố cùng bị lăng nhục; phát hiện và miêu tả phẩm chất tốt đẹp của người nông dân ngay khi tưởng như họ bị biến thành thú dữ; thể hiện niềm tin tưởng vào bản chất lương thiện của con người.

*

Nghệ thuật truyện :

Xây dựng những nhân vật điển hình vừa có ý nghĩa tiêu biểu vừa sống động, có cá tính độc đáo và nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật sắc sảo.

Kết cấu truyện mới mẻ, tưởng như tự do nhưng lại rất chặt chẽ, lô ghích.

Cốt truyện và các tình tiết hấp dẫn, biến hóa giàu kịch tính.

Ngôn ngữ sống động, vừa điêu luyện lại vừa gần gũi, tự nhiên; giọng điệu đan xen biến hóa, trần thuật linh hoạt.

Ý nghĩa văn bản :

Chí Phèo tố cáo mạnh mẽ xã hội thuộc địa phong kiến tàn bạo cướp đi cả nhân hình và nhân tính của người nông dân lương thiện đồng thời nhà văn phát hiện và khẳng định bản chất tốt đẹp của con người ngay cả khi tưởng như họ đã bị biến thành quỷ dữ.

Một số đề luyện tập

Dựa vào kiến thức cơ bản và phương pháp làm bài nghị luận văn học về tác phẩm, đoạn trích văn xuôi, học sinh luyện tập với các đề văn sau :

Đề 1. Phân tích bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn “Chí Phèo” của nhà văn Nam Cao.

Đề 2. Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Chí Phèo từ sau khi gặp thị Nở trong truyện ngắn “Chí Phèo” của nhà văn Nam Cao.

Đề 3. Phân tích quá trình tha hóa của nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn “Chí Phèo” của nhà văn Nam Cao.

Hướng dẫn luyện tập đề 1 :

Tìm hiểu đề

Dạng đề : Phân tích một vấn đề (bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người) trong tác phẩm truyện.

Yêu cầu của đề :

Yêu cầu về nội dung : Làm nổi bật bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của nhân vật Chí Phèo..

Yêu cầu về thao tác : Phân tích là thao tác chính, cần kết hợp các thao tác khác như: chứng minh, bình luận, so sánh…

Yêu cầu về tư liệu : Dẫn chứng là những từ ngữ, câu văn, chi tiết tiêu biểu ở văn bản trong sách giáo khoa Ngữ văn 11.

Lập dàn ý

Mở bài : Giới thiệu tác giả Nam Cao, dẫn vào truyện ngắn “Chí Phèo”. Nêu vấn đề : Trong tác phẩm này, nhà văn đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật Chí Phèo với bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người.

Thân bài :

Khái quát : Nêu xuất xứ, thời gian sáng tác, tóm tắt truyện.

Phân tích :

Bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người trước hết thể hiện trong tiếng chửi của Chí Phèo ngay đầu tác phẩm.

Bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người được bắt đầu ngay từ khi Chí sinh ra..

Bà cô Thị Nở – đại diện của dân làng Vũ Đại và hành động ngăn cấm cô cháu gái của bà đến với Chí Phèo cũng là một biểu hiện của bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người.

Lời nói và hành động của Chí cuối tác phẩm là minh chứng tiêu biểu nhất cho bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí Phèo.

Nghệ thuật xây dựng nhân vật

Xây dựng những nhân vật điển hình vừa có ý nghĩa tiêu biểu vừa sống động, có cá tính độc đáo và nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật sắc sảo.

Kết cấu truyện mới mẻ, tưởng như tự do nhưng lại rất chặt chẽ, lô ghích.

Cốt truyện và các tình tiết hấp dẫn, biến hóa giàu kịch tính.

Ngôn ngữ sống động, vừa điêu luyện lại vừa gần gũi, tự nhiên; giọng điệu đan xen biến hóa, trần thuật linh hoạt.

Kết bài :

Kết luận chung về bi kịch của Chí Phèo. Ý nghĩa của bi kịch.

Cảm nghĩ về tác giả.

Phân tích bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người

Bài làm

Nam Cao là cây bút hiện thực phê phán xuất sắc, là nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn của nền văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945. Sáng tác của ông chủ  yếu ở hai mảng đề tài : viết về người trí thức nghèo và về những người nông dân cùng khổ. Ở mảng đề tài viết về người nông dân, “Chí Phèo” là một kiệt tác. Trong tác phẩm này, nhà văn đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật Chí Phèo với bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người. Đây là bi kịch phản ánh sâu sắc nỗi thống khổ của Chí Phèo nói riêng, của người nông dân Việt Nam trước cách mạng tháng Tám nói chung.

Truyện ngắn “Chí Phèo” ra đời trước Cách mạng tháng Tám. Ban đầu truyện có tên là “Cái lò gạch cũ”, khi in thành sách lần đầu, nhà xuất bản tự ý đổi thành “Đôi lứa xứng đôi”, sau này, khi in lại trong tập “Luống cày” (1946) nhà văn đổi lại thành “Chí Phèo”.

Truyện kể về nhân vật Chí Phèo. Thưở nhỏ, Chí bị cả cha lẫn mẹ bỏ rơi, sống bơ vơ bất hạnh. Lớn lên đi làm thuê cho nhà Bá Kiến, bị Bá Kiến ghen, đẩy vào tù. Khi ra tù, Chí thay đổi hẳn cả nhân hình lẫn nhân tính. Hắn trở thành tay sai của Bá Kiến, là con quỉ dữ của làng Vũ Đại. Rồi hắn gặp Thị Nở, một cô gái xấu “ma chê quỉ hờn”. Bát  cháo hành cùng với tình thương yêu, sự quan tâm chăm sóc của Thị đã thức tỉnh phần người bấy lâu nay bị vùi lấp sâu trong tâm hồn Chí. Chí Phèo ao ước được trở lại làm người lương thiện, hắn hi vọng rằng Thị Nở sẽ mở đường cho hắn. Nhưng bà cô Thị ngăn cấm. Chí nhận ra bi kịch đau đớn : bị cự tuyệt quyền làm người. Chí bèn xách dao đến nhà Bá Kiến, kẻ đã gây ra bi kịch của hắn, giết chết Bá Kiến rồi tự vẫn.

Bi kịch vốn được hiểu là những khát vọng chân chính, cháy bỏng, mãnh liệt của một con người nhưng không có điều kiện thực hiện trên thực tế, cuối cùng người mang khát vọng bị rơi vào kết cục của một thảm kịch bi thương. Chí Phèo suốt đời mang khát vọng cháy bỏng được làm người lương thiện thế nhưng lại trở thành kẻ bất lương, sinh ra là người nhưng không được làm người để rồi chết trên con đường trở về lương thiện.

Bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người trước hết thể hiện trong tiếng chửi của Chí Phèo ngay đầu tác phẩm. Bước vào câu chuyện, người đọc ấn tượng ngay với hình ảnh một thằng say “vừa đi vừa chửi”: “Hắn chửi trời…Rồi hắn chửi đời…chửi cả làng Vũ Đại…chửi đứa nào không chửi nhau với hắn…chửi đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn…”. Mới đọc, ai cũng hình dung ra hình ảnh Chí Phèo ngật ngưỡng trong cơn say, bước đi liêu xiêu và lè bè chửi; và chắc rằng ai cũng cảm thấy bật cười trước hình dung này. Tuy nhiên, đọc và ngẫm cho kĩ, sau cái cười lại là niềm thương cảm, đau đớn cho Chí Phèo. Hắn chửi và mong người ta đáp chửi lại hắn bởi như thế người ta còn coi  hắn là con người. Nhưng không ai lên tiếng vì không còn ai công nhận hắn là người. Đằng sau tiếng chửi ấy là nỗi khao khát được giao tiếp với đồng loại dẫu bằng hình thức tồi tệ nhất, là nỗi cô đơn khủng khiếp của  một người  bị xã hội dứt khoát cự tuyệt quyền làm người, không được coi là con người .

Từ cách mở đầu ấn tượng đó, Nam Cao dẫn dắt người đọc trở lại với quá khứ, giúp người đọc nhận thấy bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người từ thấp đến cao của Chí , đồng thời hiểu ra căn nguyên nào đẫn đến tình trạng ấy.

Bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người được bắt đầu ngay từ khi Chí sinh ra.. Sinh ra, Chí đã bị ba mẹ cự tuyệt quyền làm người: sự ra đời của nó không ai chờ đợi, cha nó không thừa nhận, mẹ nó bỏ nó trong một lò gạch hoang mặc cho sống chết. Được cứu sống nhưng ngay lập tức hắn trở thành hàng hóa mua qua bán lại. Sau khi bác phó cối chêtt, hắn trở thành kẻ bơ vơ. Đời Chí bọt bèo , lênh đênh tội nghiệp chẳng khác nào cây hoang, cỏ dại trôi hết góc này đến xó nọ, không người chăm sóc, dạy dỗ. Nhưng không vì thế mà hắn trở nên hư hỏng mà trái lại, “hắn hiền như cục đất”, ai sai gì hắn làm nấy, ai bảo gì hắn nghe vậy. Làm thuê trong nhà Bá Kiến, hắn là anh canh điền chăm chỉ, cần cù, chỉ biết làm ăn, biết tự trọng, có nhân cách.

Nhưng Bá Kiến, nhà tù thực dân đã ra sức hủy diệt  sự lương thiện ở Chí. Bá Kiến ghen vu vơ đã nhẫn tâm đẩy Chí Phèo vào tù, nhẫn tâm biến người dân hiền lành trở thành tù nhân. Nhà tù thực dân đã tiếp tay cho lão cường hào, bắt giam là anh Chí vô tội nhưng thả ra là một Chí Phèo lưu manh, tha hóa. Trở về, không gia đình, không người thân thích, không nơi nương tựa, không nghề nghiệp mưu sinh, hắn trở thành tay sai của Bá Kiến.  Hắn sống bằng chửi bới, dọa nạt, đập đầu, rạch mặt, ăn vạ. Cái mặt của hăn trở nên méo mó thê thảm, “nó là mặt của một con vật lạ, nó vằn lên không biết bao nhiêu là sẹo, không thứ tự”. Hắn trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại, tác oai tác quái gây họa cho bao nhiêu dân làng. Hắn “phá tan bao nhiêu cơ nghiệp, đạp đổ bao nhiêu hạnh phúc, đập nát bao nhiêu cảnh yên vui, làm chảy máu và nước mắt của không biết bao nhiêu là người lương thiện”. Bây giờ hắn không là con người nữa mà phải sống kiếp con vật, hắn sống trong vô thức, sống triền miên những cơn say. Sự thay đổi đáng sợ của Chí từ khi ra tù có nguyên nhân ban đầu là bởi sự xa lánh của mọi người khi hắn trở về. Nếu như, khi về làng, hắn có được tình yêu thương chăm sóc của một số người, thậm chí chỉ là một người như Thị Nở, thì hắn đã không bị bóp méo cả nhân hình lẫn nhân tính. Thực tế không như thế. Người ta kì thị trước một kẻ đi tù về, không ai cho hắn một nguồn giao tiếp, không ai coi hắn là con người nên hắn cứ phải say, phải chửi cho quên hết. Lâu dần, người ta lại không coi hắn là con người nữa, hắn làm tay sai cho Bá Kiến để rồi ngày càng sa vào vũng lầy tội ác và không thể trở lại làm người nữa.

Bà cô Thị Nở – đại diện của dân làng Vũ Đại  và hành động ngăn cấm cô cháu gái của bà đến với Chí Phèo cũng là một biểu hiện của bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người. Từ khi gặp Thị Nở, Chí Phèo bắt đầu tỉnh táo. Tình yêu và sự chăm sóc của thị đã đánh thức phần người lương thiện bấy lâu nay bị vùi lấp sâu trong hình hài con quỉ dữ. Hắn “thèm được sống lương thiện, thèm được làm hòa với mọi người”. Hắn hi vọng Thị Nở sẽ mở đường cho hắn, bởi hắn nghĩ rằng, Thị Nở có thể sống được với hắn thì tại sao mọi người lại không thể. Thế nhưng, bà cô Thị Nở – một đại diện của dân làng Vũ Đại – đã dập tắt ngay niềm hi vọng ấy. Sự ngân cấm của bà cô khiến hắn bừng tỉnh nhận ra bi kịch đau đớn mà bấy lâu nay hắn đã mơ hồ nhận thấy: bị cự tuyệt quyền làm người. Lời bà cô Thị Nở làm hắn nhận ra những định kiến khắt khe của xã hội với hắn. Định kiến xã hội đã không coi Chí như là con người, nó chối phắt Chí, đẩy Chí ra khỏi phạm vi loài người. Định kiến ấy không chịu nhận ra phần người lương thiện đã quay về, không chịu chấp nhận một kẻ như Chí. Có thể khẳng định rằng, bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người lần này là đau đớn nhất.

Lời nói và hành động của Chí cuối tác phẩm là minh chứng tiêu biểu nhất cho bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí Phèo. Bà cô Thị Nở làm hắn nhận ra bi kịch đau đớn của cuộc đời mình, hắn lại uống rượu, nhưng lần này càng uống hắn càng tỉnh. Hắn xách dao ra đi, vừa đi vừa chửi “giết cả nhà nó”, “giết con khọm già nhà nó”, nhưng bước chân hắn lại đi thẳng đến nhà Bá Kiến. Có lẽ, khi phần người quay về thì nỗi đau, nỗi phẫn uất khiến lí trí hắn tỉnh táo, hắn nhận ra kẻ thù. Đến nhà  Bá Kiến, hắn lên tiếng đòi lương thiện thống thiết.  Tuy lên tiếng đòi lương thiện nhưng đồng thời Chí cũng đau đớn nhận ra không thể là người lương thiện được nữa: “ai cho tao lương thiện, làm thế nào cho mất hết những vết mảnh chai trên mặt này”. Nhận thức được bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người và nguyên nhân của bi kịch, Chí hành động quyết liệt: giết Bá Kiến. Giết lão bá rồi, Chí cũng không còn có thể sống mà làm người được, bây giờ, nếu Chí tiếp tục sống, hắn sẽ phải tiếp tục là con quỷ, hắn “chỉ còn một cách” là tự vẫn. Hai vũng máu thảm khốc cuối tác phẩm chính là lời tố cáo sâu sắc nhất chế độ nhà tù thực dân và tầng lớp thống trị phong kiến. Những thế lực này đẩy Chí vào bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người, và cùng với thế lực hủ tục phong kiến tước đoạt hẳn con đường trở về làm người của Chí.

“Chí Phèo” là  minh chứng tiêu biểu nhất cho tài năng truyện ngắn Nam Cao. Bằng nghệ thuật xây dựng nhân vật điển hình, nhà văn tố cáo sâu sắc xã hội thực dân nửa phong kiến phi nhân đạo bóp nghẹt sự sống của con người, đẩy con người vào “bước đường cùng”. Kết cấu truyện theo kiểu tâm lí, không theo thứ tự thời gian mà bắt đầu truyện bằng tiếng chửi đổng của Chí vừa gây sự chú ý, tò mò cho người đọc, vừa nhấn mạnh cái bi kịch đau đớn của Chí. Đồng thời, lời văn kể chuyện nửa trực tiếp cũng góp phần tạo nên sự hấp dẫn của câu chuyện: trong tác phẩm, có đoạn là lời người kể chuyện hoàn toàn; cũng có đoạn nhà văn như hóa thân vào nhân vật, làm cho đoạn văn như là lời của chính nhân vật tự kể chuyện mình khiến người đọc thực sự khám phá được chiều sâu tâm hồn nhân vật. “Đôi mắt” đầy tình người của Nam Cao cùng với tài năng nghệ thuật của ông đã đưa “Chí Phèo” vào hàng những kiệt tác văn xuôi hiện đại.

Xây dựng thành công hình tượng nhân vật Chí Phèo và bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí, Nam Cao vừa tố cáo sâu sắc xã hội phi nhân tính vừa thể hiện tấm lòng thương yêu đồng cảm của mình với người nông dân đương thời. Với “Chí Phèo”, Nam Cao đã khắc tên mình vào nền văn học hiện đại Việt Nam.

Hướng dẫn luyện tập đề 2 :

Tìm hiểu đề

Dạng đề : Phân tích một vấn đề (diễn biến tâm trạng của nhân vật Chí Phèo từ sau khi gặp Thị Nở) trong tác phẩm truyện.

Yêu cầu của đề :

Yêu cầu về nội dung : Làm nổi bật diễn biến tâm trạng của nhân vật Chí Phèo từ sau khi gặp Thị Nở.

Yêu cầu về thao tác : Phân tích là thao tác chính, cần kết hợp các thao tác khác như: chứng minh, bình luận, so sánh…

Yêu cầu về tư liệu : Dẫn chứng là những từ ngữ, câu văn, chi tiết tiêu biểu ở văn bản trong sách giáo khoa Ngữ văn 11.

Lập dàn ý

Mở bài : Giới thiệu tác giả Nam Cao, dẫn vào truyện ngắn “Chí Phèo”. Nêu vấn đề : Trong tác phẩm này, nhà văn đã miêu tả sâu sắc diễn biến tâm trạng của nhân vật Chí Phèo từ sau khi gặp Thị Nở.

Thân bài :

Khái quát : Nêu xuất xứ, thời gian sáng tác, tóm tắt truyện.

Phân tích :

Tâm trạng của Chí Phèo khi hắn vừa tỉnh dậy, thị Nở chưa đến : bắt đầu có những cảm giác của một con người. Phần người trong Chí Phèo đang dần dần hồi sinh.

Tâm trạng của Chí Phèo từ khi thị Nở đến, mang theo nồi cháo hành : Chí Phèo có những cảm giác của một người bình thường. Hắn thèm lương thiện, muốn được làm hòa với mọi người, hi vọng được mọi người đón nhận trở về giữa những người thân thiện.

Tâm trạng của Chí Phèo từ khi bị thị Nở từ chối : rơi vào bi kịch không lối thoát; trả thù : giết bá Kiến; tự vẫn để kết thúc bi kịch.

Nghệ thuật miêu tả tâm trạng :

Xây dựng những nhân vật điển hình vừa có ý nghĩa tiêu biểu vừa sống động, có cá tính độc đáo và nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật sắc sảo.

Kết cấu truyện mới mẻ, tưởng như tự do nhưng lại rất chặt chẽ, lô ghích.

Cốt truyện và các tình tiết hấp dẫn, biến hóa giàu kịch tính.

Ngôn ngữ sống động, vừa điêu luyện lại vừa gần gũi, tự nhiên; giọng điệu đan xen biến hóa, trần thuật linh hoạt.

Kết bài :

Kết luận chung về bi kịch của Chí Phèo. Ý nghĩa của bi kịch.

Cảm nghĩ về tác giả.

Bài viết

Nam Cao là cây bút hiện thực phê phán xuất sắc, là nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn của nền văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945. Sáng tác của ông chủ  yếu ở hai mảng đề tài : viết về người trí thức nghèo và về những người nông dân cùng khổ. Ở mảng đề tài viết về người nông dân, “Chí Phèo” là một kiệt tác. Trong tác phẩm này, nhà văn đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật Chí Phèo, ông đặc biệt khắc họa rõ nét diễn biến tâm trạng của nhân vật này từ sau khi gặp Thị Nở. Đây là một thành công đáng kể của tác giả trong truyện ngắn này.

Truyện ngắn “Chí Phèo” ra đời trước Cách mạng tháng Tám. Ban đầu truyện có tên là “Cái lò gạch cũ”, khi in thành sách lần đầu, nhà xuất bản tự ý đổi thành “Đôi lứa xứng đôi”, sau này, khi in lại trong tập “Luống cày” (1946) nhà văn đổi lại thành “Chí Phèo”.

Truyện kể về nhân vật Chí Phèo. Thưở nhỏ, Chí bị cả cha lẫn mẹ bỏ rơi, sống bơ vơ bất hạnh. Lớn lên đi làm thuê cho nhà Bá Kiến, bị Bá Kiến ghen, đẩy vào tù. Khi ra tù, Chí thay đổi hẳn cả nhân hình lẫn nhân tính. Hắn trở thành tay sai của Bá Kiến, là con quỉ dữ của làng Vũ Đại. Rồi hắn gặp Thị Nở, một cô gái xấu “ma chê quỉ hờn”. Bát  cháo hành cùng với tình thương yêu, sự quan tâm chăm sóc của Thị đã thức tỉnh phần người bấy lâu nay bị vùi lấp sâu trong tâm hồn Chí. Chí Phèo ao ước được trở lại làm người lương thiện, hắn hi vọng rằng Thị Nở sẽ mở đường cho hắn. Nhưng bà cô Thị ngăn cấm. Chí nhận ra bi kịch đau đớn : bị cự tuyệt quyền làm người. Chí bèn xách dao đến nhà Bá Kiến, kẻ đã gây ra bi kịch của hắn, giết chết Bá Kiến rồi tự vẫn.

Trước cuộc gặp gỡ đầy tình cờ với thị Nở trong đêm trăng ở vườn chuối cạnh bờ sông, Chí Phèo là một “con quỷ dữ” của làng Vũ Đại. Hắn triền miên trong những cơn say dài bất tận và sống trong tình trạng vô thức. Sau cái đêm định mệnh ấy, cuộc đời Chí Phèo tưởng như được lật sang một trang mới. Sáng sớm hôm sau, hắn tỉnh dậy. Hắn bắt đầu cảm nhận được cuộc sống xung quanh mình và có những cảm xúc của một con người. Lần đầu tiên từ khi ra tù, Chí Phèo tỉnh rượu và có cái cảm giác “miệng đắng, lòng mơ hồ buồn”. Lần đầu tiên, Chí Phèo nghe được những âm thanh quen thuộc của cuộc sống hằng ngày xung quanh hắn : “tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá”, “tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá”, tiếng trò chuyện của những người đi chợ về…Những âm thanh ấy đã gợi nhớ trong hắn ước mơ giản dị từ thuở xa xưa : “có một gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải”. Qúa khứ tuy nghèo khổ ấy nay với Chí cũng là một điều thực xa vời. Thực tại giờ đây của hắn là “già mà vẫn còn cô độc”. Điều ấy khiến hắn buồn và lo lắng cho tương lai : đói rét, ốm đau và cô độc sẽ đày đọa hắn khi về già. Và hắn sợ nhất là cô độc. Một kẻ chỉ biết sống bằng giật cướp và dọa nạt, một kẻ đã làm đổ máu và nước mắt của bao nhiêu người lương thiện, vậy mà giờ đây cũng biết sợ, mà lại sợ nhất là cô độc. Hình như, bản chất người trong hắn đang mơ hồ tỉnh dậy.

Hắn đang nghĩ vu vơ thì thị Nở đến, mang theo một nồi cháo hành còn nóng nguyên. Đầu tiên, Chí Phèo “rất ngạc nhiên”. Hết ngạc nhiên thì hắn thấy “mắt hình như ươn ướt”. Con quỷ dữ Chí Phèo đã biết khóc. Hắn cảm động đến như vậy là bởi đây là lần đầu tiên hắn được người ta cho, xưa nay, muốn có cái gì, hắn phải giật cướp và dọa nạt. Hắn nhìn bát cháo bốc khói mà lòng “bâng khuâng”, rồi hắn nhìn thị Nở đang cười toe toét mà cảm thấy thị “có duyên”. Có cái gì đó đang trỗi dậy trong lòng Chí Phèo, phải chăng đó là tình yêu ? Có thế thì mới nhìn một người đàn bà “ma chê quỷ hờn” thành ra “có duyên” chứ ! Rồi thì hắn thấy “vừa vui vừa buồn” và “một cái gì nữa giống như là ăn năn”. Chí vui bởi vẫn đang còn một người quan tâm đến hắn. Chí buồn và ăn năn bởi tội ác mình gây ra quá nhiều, con đường trở về làm một người bình thường của hắn có lẽ là sẽ lắm chông gai. Đưa bát cháo lên miệng, Chí Phèo thấy cháo “mới thơm làm sao” và húp một húp, Chí cảm thấy “cháo hành ăn rất ngon”. Cháo hành vốn là thứ quê mùa, không phải cao lương mĩ vị gì, lại được nấu bởi bàn tay của một người “dở hơi” thì chắc là dở lắm; thế mà với Chí Phèo thì nó thật ngon. Bát cháo từ tay người đàn bà là thị Nở ấy làm Chí Phèo nhớ về bà Ba vợ Bá Kiến. Chí Phèo thừa hiểu, “cái con quỷ cái” ấy chỉ lợi dụng hắn chứ yêu đương gì. Hắn chưa bao giờ được một người đàn bà nào yêu cả. Bởi vậy, bát cháo hành của Thị Nở làm hắn suy nghĩ nhiều. Ngồi ăn cháo hành cạnh thị Nở, hắn thấy “lòng thành trẻ con”, “hắn muốn làm nũng với thị như với mẹ”. Ngòi bút Nam Cao thật sắc sảo và tràn đầy tình thương khi miêu tả tinh tế diễn biến tâm trạng của Chí. Ông nhận ra phần người không bao giờ mất trong hình hài con quỷ dữ Chí Phèo. Phần người ấy đã hoàn toàn trở về với Chí và khiến hắn “thèm lương thiện”, hắn muốn “làm hòa” với mọi người biết bao. Hắn hi vọng thị Nở sẽ mở đường cho hắn. Hắn hi vọng tràn trề “họ sẽ lại nhận hắn vào cái xã hội bằng phẳng, thân thiện của những người lương thiện”. Niềm hi vọng được làm người lương thiện làm Chí Phèo thấy “lòng rất vui”. Chí thấy mình và thị Nở sẽ làm thành một cặp rất xứng đôi, và quyết định lấy thị. Năm ngày sau đó là năm ngày hạnh phúc nhất cuộc đời Chí Phèo. Hắn và thị Nở sống với nhau như vợ chồng. Hắn đã không còn kinh rượu nữa nhưng cố uống cho thật ít để tỉnh táo. Bây giờ hắn “say” thị Nở chứ không còn say rượu. Bây giờ, hắn là con người chứ không còn là “con quỷ”.

Thế nhưng, năm ngày ấy thật ngắn ngủi. Đến ngày thứ sáu thì thị Nở nhớ ra thị đang còn một bà cô đi làm ăn xa sẽ về trong ngày hôm ấy. Thị phải dừng yêu để về nhà hỏi cô thị đã. Thị trở về nhà rồi quay lại nhà Chí Phèo với cơn tức giận sau những lời xỉa xói đay nghiến của bà cô. Thị tới và “trút vào mặt hắn tất cả lời bà cô”. Nghe những lời ấy, Chí Phèo “nghĩ ngợi một tí rồi hình như hiểu”. Đầu óc bị tê liệt bấy lâu của hắn phải nghĩ ngợi một tí rồi mới “hiểu” được những lời của bà cô thị Nở. Hắn hiểu một cách sâu sắc về những lời ấy. Hắn hiểu rằng không còn ai coi hắn là con người nữa. Một người cuối cùng mà hắn hi vọng nhất cũng đã từ chối hắn. Hắn hiểu ra rằng người ta không chấp nhận hắn trở lại làm người lương thiện. Đó là bi kịch đau đớn của cuộc đời hắn : bị cự tuyệt quyền làm người. Nhận ra bi kịch thê thảm ấy, Chí Phèo lại uống rượu. Nhưng bây giờ, càng uống, hắn “càng tỉnh ra” và lại càng “buồn” hơn. Hắn cứ thấy hơi cháo hành thoang thoảng đâu đây. Hắn “ôm mặt khóc rưng rức”. Thương thay, hắn sinh ra là người mà giờ đây muốn làm người cũng không thể được. Hắn cứ thế uống, uống cho đến say mềm đi. Rồi hắn ra đi với một con dao ở thắt lưng. Trong cơn say, đầu óc của hắn vẫn không thể nào quên được bi kịch đau đớn của đời mình, và càng không thể nào quên được kẻ đã đẩy hắn vào bi kịch ấy. Không ai khác ngoài Bá Kiến. Bởi vậy mà hắn không đến nhà “con đĩ Nở” như dự định ban đầu mà đi thẳng đến nhà lão bá. Đến đấy, hắn cất tiếng đòi lương thiện thống thiết : “Tao muốn làm người lương thiện” nhưng cũng đồng thời hiểu rằng “tao không thể làm người lương thiện được nữa”. Những câu nói cuối cùng của Chí nghe sao thật xót xa, cay đắng. hắn chỉ còn một cách nữa, cách để được nhẹ nhàng, thanh thản, đó là ra đi cùng với bản chất người của mình. Nhưng trước khi ra đi, hắn phải trả thù, phải giết kẻ đã khiến hắn không được làm người nữa. Hắn hành động dứt khoát, quyết liệt : giết bá Kiến và tự vẫn. Chí Phèo tự vẫn bởi hắn có sống tiếp cũng không thể được làm người lương thiện nữa. Cái chết đau đớn, tức tưởi của Chí Phèo vừa là tiếng nói tố cáo tội ác của tầng lớp thống trị phong kiến vừa là lời khẳng định, tin tưởng vào bản chất lương thiện không bao giờ mất đi trong những người nông dân cùng khổ đáng thương.

            “Chí Phèo” là  minh chứng tiêu biểu nhất cho tài năng truyện ngắn Nam Cao. Bằng nghệ thuật xây dựng nhân vật điển hình, nhà văn tố cáo sâu sắc xã hội thực dân nửa phong kiến phi nhân đạo bóp nghẹt sự sống của con người, đẩy con người vào “bước đường cùng”. Kết cấu truyện theo kiểu tâm lí, không theo thứ tự thời gian mà bắt đầu truyện bằng tiếng chửi đổng của Chí vừa gây sự chú ý, tò mò cho người đọc, vừa nhấn mạnh cái bi kịch đau đớn của Chí. Đồng thời, lời văn kể chuyện nửa trực tiếp cũng góp phần tạo nên sự hấp dẫn của câu chuyện: trong tác phẩm, có đoạn là lời người kể chuyện hoàn toàn; cũng có đoạn nhà văn như hóa thân vào nhân vật, làm cho đoạn văn như là lời của chính nhân vật tự kể chuyện mình khiến người đọc thực sự khám phá được chiều sâu tâm hồn nhân vật. “Đôi mắt” đầy tình người của Nam Cao cùng với tài năng nghệ thuật của ông đã đưa “Chí Phèo” vào hàng những kiệt tác văn xuôi hiện đại.

Tóm lại, truyện ngắn “Chí Phèo” đã miêu tả sinh động diễn biến tâm trạng của Chí Phèo từ sau khi gặp thị Nở. Qua đó, nhà văn thể hiện tình yêu thương, sự đồng cảm sâu sắc với hoàn cảnh bi đát của người nông dân trong xã hội cũ, đồng thời khẳng định và tin tưởng vào bản chất lương thiện tốt đẹp của họ. Đó cũng chính là tư tưởng nhân đạo sâu sắc, mới mẻ của Nam Cao trong dòng văn học hiện thực Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945.  Truyện ngắn này đã đưa tên tuổi Nam Cao vào hàng những nhà văn hiện thực xuất sắc của nền văn học hiện đại Việt Nam.

Tài liệu sưu tầm

Xem thêm những đề thi về bài Chí Phèo : soạn bài : Chí Phèo

Bài văn của học sinh giỏi: Phân tích diễn biến tâm trạng Chí Phèo từ buổi sáng sau khi gặp Thị Nở

Tuyển tập những bài văn hay về truyện ngắn Chí Phèo.

Đề bài : Phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật  Chí Phèo trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam cao từ buổi sáng sau khi gặp Thị Nở đến khi kết thúc cuộc đời để thấy rõ bi kịch của nhân vật này

Bài văn tham khảo

Nam Cao là người hay băn khoăn về vấn đề nhân phẩm, về thái độ khinh trọng đối với con  người. Ông thường dễ bất bình trước tình trạng con người bị lăng nhục chỉ vì bị đày đọc vào cảnh nghèo đói cùng đường” (Nguyễn Đăng Mạnh). Với tấm lòng nhân đạo ấy, Nam cao đã khước từ thứ văn chương lãng mạn đế đến với dòng văn học hiện thực. Đây cũng chính là nơi Nam Cao đã kí thác toàn bộ những tâm tư tình cảm, triết lí nhân sinh của mình về cuộc đời, con người. Hàng loạt các tác phẩm đã ra đời nhằm “minh oan”, “chiêu tuyết” cho những con người  bị miệt thị một cách bất công: Chí phèo, Một bữa no, Lang Rận, Tư cách mõ... Trong đó Chí Phèo là một tác phẩm tiêu biểu nhất của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám, viết về đề tài người nông dân nghèo và đánh dấu một bước phát triển đáng kế của văn xuôi Việt Nam. Có thể nói nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm là một điển hình nghệ thuật về người nông dân nghèo từ lương thiện sa vào tha hóa rồi lại rơi vào bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người nhưng luôn cố vẫy vùng để đến với ánh sáng của thiên lương. Chi tiết để lại ấn tượng sâu  sắc nhất trong lòng người đọc đó chính là mối tình giữa Chí Phèo và thị Nở. Mối tình có một không hai trong làng văn Việt Nam khiến ta phải đọc rồi suy ngẫm rất nhiều về tình người trong cõi  nhân thế.

 

Chí Phèo tự lúc nào đã đi vào trang văn Nam Cao và rồi lại từ  trang văn Nam Cao bước ra. Nhân vật điển hình đến mức gấp sách lại ta vẫn thây day dứt về một anh Chí vốn hiền lành lương thiện thế nhưng do sự áp bức ghê gớm cùa bọn chúa đất, thực dân đã khiến anh trở thành “con quỷ dữ” của làng Vũ Đại. Tưởng chừng Chí Phèo đã bị tha hóa hoàn toàn với một tâm hồn chai đá, những hành động mất lí trí, bị hủy hoại cả về nhân tính lẫn nhân hình, bản chất lương thiện bị che lấp. Nhưng trong trái tim anh vẫn len lỏi một thứ ánh sáng nhiệm mầu, đó chính là ánh sáng của lương tri. Nam Cao là thế đó. Ông không bao giờ để nhân vật của mình chìm trong bóng tối mà luôn để  nhân vật  trượt trên mặt phẳng nghiêng”, luôn cố vùng vẫy để thoát khỏi cái thế giới của con thú trở về  với thế giới con người. Ranh giới ấy rất mong manh và vô cùng khó khăn. Liệu Chí có thê thực hiện được không? Ai sẽ là người giúp anh làm được điều này? Thị Nở ?Chính thị Nở là người hé mở cánh cửa để  Chí trở về với ánh sáng của lương tri. Đọc đoạn văn này người đọc vô cùng sảng khoái  trước nghệ thuật phân tích nội tâm tâm lí nhân vật rất tinh tế của Nam Cao.

Nhưng cái hay của Nam Cao không chỉ là những đoạn văn phân tích tâm lí nhân vật sắc sảo mà còn là Nam Cao đã xây dựng được một nhân vật hết sức ấn tượng – thị Nở một người ngấn ngơ như những người đần trong cổ tích và xấu ma  chê quỷ hờn nhưng lại có một sức hút, sức hút của tình người đã kéo Chí về với ánh sáng nhân tâm. Nếu ta vẽ một chân dung thj Nở riêng biệt chắc ta phải hoảng hốt bỏ chạy vì cái “dung nhan” ấy. Nhưng nếu ta vẽ hình ảnh của thị với nồi cháo hành nghi ngút khói trên tay đem đến cho Chí khi hắn đang đói cào ruột bởi “trận thổ đêm qua”, khi hắn đang buồn bã cô đơn nhất, đang “thèm khát người” nhất, đang đau khổ tuyệt vọng nhất… thì hình ảnh ấy rung động người đọc biết bao! Đó là sự rung động của nhân tâm rất  tự nhiên, rất vô tư không hề “sợ hãi” như những người dân khác ở làng Vũ Đại mỗi khi gặp Chí và cũng không hề tính toán thiệt hơn. Thị không biết tính toán và cũng chẳng cần tính toán. Cái nghĩa tình có ai tính toán bao giờ. Tình cảm của thị thô mộc, nguyên sơ khiến ta cảm động quá!

Chính Nam Cao cũng không thể kìm lòng trước vẻ đẹp ấy. Nên ở trang văn này, ta bắt gặp những đoạn miêu tả khung cảnh thiên nhiên rất đỗi thơ mộng. Đó là những ánh sáng dịu hiền của trăng, trăng in cái bóng dáng xệch xạc, méo mó của Chí Phèo trên đường làng, trăng trên vườn chuối, hình ảnh cả hai ngủ say dưới trăng… Và trong khung cảnh ấy ông đã ghép một đôi tâm sự rất xứng đôi: Chí Phèo – thị Nở. Đương nhiên hai con người ấy có ngôn ngữ tâm sự riêng của họ, ta không bàn đến mà chi biết rằng: từ sau cái đêm trăng thanh gặp thị, Chí Phèo đã nhận thầy một thứ thèm khát (không phải thèm rượu) đang sôi sục lên trong anh đó chính là sự mong muốn làm người. Niềm mong muốn ấy được Nam Cao miêu tả một cách tỉ mỉ, tinh tế những thay đổi rất tinh vi từ trong từng tế bào của Chí.

Điều đầu tiên nhà văn để cho Chí nhận ra thực tại của mình qua hình ánh cái túp lều. Đó là cái túp lều ngoài bờ sông (thuộc đất lưu không) mà anh đã phải đánh đổi bằng máu, bằng lương tri, làm tay sai cho bá Kiến mà có được ấy. Một cái túp lều ẩm thấp, tối tăm: “Ở đây người ta thấy chiều lúc xế trưa gặp đêm khi bên ngoài vẫn sáng”. Đây không phải nơi ở của con người, nó là địa ngục trần gian mà Chí đang chết dần chết mòn trong đó. Vậy mà chưa bao giờ Chí Phèo nhận thây thế bởi Chí Phèo chưa bao giờ hết say. Đây là lần đâu tiên Chí nhận ra cái hiện thực cay đắng phũ phàng ấy.

Tiếp đó, nhà văn để cho Chí Phèo cảm nhận được những thanh âm của cuộc sống: tiêng chim ríu rít, tiêng trò chuyện của các người buôn hàng, tiêng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá… Những ầm thanh quen thuộc đó ngày nào chả có. Nhưng đã bảy, tám năm trời nay, từ khi ra khỏi tù, lúc nào Chí cũng chìm trong cơn say thì làm sao Chí nghe được. Cuộc đời của anh là những cơn say dài mênh mông, vô tận, “tràn từ cơn say này sang cơn say khác…” đến mức “…Hắn ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say, thức dậy vẫn còn say…Hắn làm tấtcả trong lúc người hắn say…”. Thế đấy, đã bao giờ hắn tình để mà nghe những thanh âm của cuộc sống thường nhật chứ. Đây là lần đầu tiên sau một giấc ngủ dài Chí nghe thấy những thanh âm ấy. Những thanh âm của cuộc sống giản dị đã thức kéo thiên lương trong anh,   lòng anh bỗng mơ hổ buồn. Chao ôi buồn rồi  lại nao nao buồn! Cái buồn đó cứ như một cơn gió lúc thì ổ ạt lúc thì nhẹ nhàng. Bằng bút pháp phân tích nội tâm sâu sắc, tinh tế, Nam Cao đã mô tả  quá trình  thức tỉnh lương tri của Chí Phèo theo trình tự logic biện chứng.

Nhận ra được thực tại, đón nhận được giọt âm thanh của cuộc đời, nhà văn để cho Chí nhớ về quá khứ “hình như có một thời hắn đã ao ước có một gừ đình nho nhỏ, . chồng cuốc mướn cày thuê vợ dệt vải. Chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm”. Cái ước mơ chân chính, nhỏ nhoi nhưng sao lại quá khó đốì với Chí. Rồi Chí nhìn về hiện tại và tương lai “Chí Phèo hình như đã trông thấy tuổi  già của hắn; đói rét, ốm đau và cô độc Chí sợ cô độc nhất. Khi đã sợ cô đơn là lúc con người ta cô đơn nhất và khao khát sự sum vầy. Nhưng Chí vốn là con hoang, không gia đình, không nhà cửa, không họ hàng thân thích. Hắn lại là con quỷ dữ trong mắt người dân ở làng Vũ Đại, không ai chấp nhận hắn chứ đừng nói đến chuyện sum vầy.

Và khi Chí đang nhìn về tương lai đen tối kia với tâm trạng cô độc, sợ hãi, cũng may là thị Nở đến nếu không thì Chí khóc mất. Thị Nở bước vào cùng với bát cháo hành, một hình tượng đẹp nhất, một chi tiết nghệ thuật đem đến nhiều mĩ cảm. Chí Phèo ngạc nhiên, hết ngạc nhiên thì mắt Chí ươn ướt. Có lẽ vì đây là lần đầu tiên Chí được một người đàn bà cho ăn, bởi vì xưa nay Chí  vẫn phải “dọa nạt hay giật cướp” của người khác thì mới có được. Nhưng thứ thị ho Chí không đơn giản chì là bát cháo hành mà còn là một tình yêu thương mộc mạc , là sáng soi rọi vào sâu thẳm tâm hổn Chí làm bừng lên chất người trong anh, làm cho anh khát khao trở về lương thiện, “thèm làm hòa với mọi người”. Nhìn bát cháo hành bốc khói, nhìn nụ cười tình tứ của thị, Chí vừa vui mà vừa buồn, ta thây được sự ăn năn và hạnh phúc từ trong nụ cười của Chí. Cầm bát cháo húp, mổ hôi đổ ra những giọt to như giọt nước nhưng Chí vẫn cười, vẫn đắm say trong niềm hanh phúc mà bát cháo hành mang lại. Ôi! Nếu không có bát cháo hành kia liệu ta có thấy được nụ cười của Chí không hay chỉ thấy sự lưu manh hung tàn của một con quỷ dữ? Bát cháo hành là sức mạnh của tình yêu nồng thắm, là biểu tượng của tình người duy nhất ờ làng Vũ Đại. Nếu đặt trong mối tương quan với nhân vật bà Ba vợ bá Kiến – người đàn bà đẹp nhât làng nhưng lại là “con quỷ cái” (bà ta chỉ biết lợi dụng Chí, kêu Chí lên bóp chân, lúc ấy anh chỉ thấy nhục chứ yêu đương gì), thì thị Nở rất đẹp. Vẻ đẹp của tình nghĩa nguyên sơ. Quả thật, thị Nở càng xâu lại càng đẹp! Thị Nở càng xấu, tác phẩm lại càng hay! Đó là một thành công tuyệt vời của Nam Cao khi ông đã xây dựng được một hình tượng Tất thú vị.

Trước sự chăm sóc của thị, lòng Chí bỗng trở nên trẻ con. Chí làm nũng với Thị  như với mẹ vậy. Chí muốn làm người lương thiện “Trời ơi! Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hoà với mọi người biết bao”. Đó là lời kệ, lời miêu tả nội tâm Nam Cao hay đó chính là tiếng lòng thẳm sâu của Chí? Chỉ có điều là nó bị vùi lấy  bảy, tám năm trời nay. Hôm nay nó đã trỏ về. Chính thị Nở đã dánh thức lòng thèm khát lương tri của Chí. Nói cho cùng đây là sự kết duyên của hai tâm hồn đồng điệu. Tuy Thị Nở xấu xí nhưng tâm hồn lại đẹp. Chí Phèo đã bị tha hóa nhưng vẫn còn bản chất lương thiện của người nông dân. Và khi bản chất ấy sống dậy là khi Chí khao khát gia đình” Giá cứ thế này mãi thì thích nhỉ?”. Như thế này mãi nghĩa là Chí muốn có cuộc sống bình yên và hạnh phúc không chỉ riêng bên Thị Nở mà còn bên mọi người. Cái tình yêu của Thị và Chí nói đúng nghĩa hơn là vừa cho vừa nhận” Đó là cái lòng yêu của một người làm ơn. Nhưng cũng có lòng yêu của người chịu ơn”.Mối tình của Chí Phèo Thị Nở quả thực là”đôi lứa xứng đôi”. Nhưng dụng ý của Nam Cao không dừng lại ở đây. Nếu cứ để Chí và Thị sống hạnh phúc bên nhau thì đâu còn là hiện thực phê phán nữa. Mối tình định mệnh của Chí chỉ diễn ra chóng vánh trong năm ngày. Đó là năm ngàu hạnh phúc nhất trong cuộc đời của Chí, là năm ngày Chí được sống trong sự chăm sóc bởi tay một người đàn bà. Và khi hắn đã đến cái dốc bên kia của cuộc đời rồi, hắn mới cảm nhận được mùi thơm của cháo hành” trời ơi cháo mới thơm làm sao”Mùi vị cháo thơm hay đây lòa vị ngọt của cuộc đời ? Hay là tấm lòng săn sóc của Thị Nở? Hình ảnh thị Nở cũng trở nên đẹp đẽ từ việc chăm sóc Chí Phèo bằng bát cháo hành. Hình ảnh ấy gợi cho ta cái không khí đầm ấm của gia đình nông thôn xưa, thế nhưng họ lại vấp phải rào cản lớn nhất : ” Bà cô thị Nở”” Ai lại đi lấy thằng Chí Phèo” Bà đại diện cho định kiến khắt khe cổ hủ của xã hội phong kiến đã làm đầy tràn li bi kịch của Chí, đẩy Chí Phèo đến tận cùng của tuyệt vọng, cắt đứt cái cầu nối  cuối cùng không cho Chí hòa nhạp với cộng đồng . Khi bị cự tuyệt, hắn bỗng nhiên ngẩn người,  Hắn sửng sốt, đứng lên  gọi lại”Hắn đuối theo thị”. Hoàn toàn vô vọng Chí cố  uống rượu đế say, để tìm quên đau khổ. Nhưng “càng uống lại càng tỉnh”; “hơi rượu không sặc sụa, hắn cứ thoảng thoảng thấy hơi cháo hành, hắn ôm mặt khóc rưng rức”. Nam Cao đã thật tinh tế  thật sâu sắc khi miêu tả những biến đổi tâm trạng của nhân vật. Từ tâm trạng ấy, ta thấy những khát khao chân chính của Chí. Nhưng khi lương tri đã trở về lại là lúc bi kịch ập đến. Đó là bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người.

Nếu ta đánh giá cao tài năng của Nam Cao trong nghệ thuật miêu tả, phân tích nội tâm nhân vật và đặc biệt là nghệ thuật thắt nút – tháo nút – thắt nút trong tác phẩm thì chính đoạn văn miêu tả mối tình Chí – thị là sự tháo nút của nhà văn nhưng lại là để lần thắt nút cuối cùng giải quyết toàn bộ xung đột bằng hành động quyết liệt của Chí ở cuối tác phẩm.

Đó là hành động đi đòi lương thiện của Chí. Trong tận cùng đớn đau tuyệt vọng, trong cơn khát thèm lương thiện, mơ ước gia đình, Chí đã tìm đến nhà bá Kiến (kẻ đã cướp đi đời lương thiện của Chí) không phải đế rạch mặt ăn vạ hay xin đi tù đế có chỗ trú thân như mọi lần mà là để đòi lương‘ thiện : “Tao  muốn làm người lương thiện”. Thế nhưng, Chí không còn đường nào khác, khi anh nhận ra được một bi kịch: “Không được! Ai cho tao lương thiện, làm thế nào mất được những vết mảnh chai trên mặt này? Tao không thể là người lương thiện nữa . Biết  không ?”. Chí nói rất dõng dạc câu nói đòi quyên làm người và đó cũng Bà những tiếng kêu tuyệt vọng của Chí. Bởi trong cái xã hội “Chó đểu” (Vũ Trọng Phụng) ấy, quyền sổng chính đáng của con người không được chấp  nhận. Vậy nên chỉ có một cách: giết bá Kiến và tự sát. Hành động của Chí Phèo  như là một quy luật tất yếu . Nó không đơn giản là hành động trả  thù cá nhân mà là hành động trả thù giai cấp. Bị đè nén, bị áp bức nhiều thì họ phải đứng lên chống lại. Nhưng hiện thực lúc bấy giờ, giết bá Kiến rồi Chí Phèo cũng chỉ có một con đường chết. Đó cũng chính là kết cục chung của các tác phẩm hiện thực phê phán: nhân vật hoặc lâm vào ngõ cụt không lối thoát , hoặc là chết. Cái chết của Chí để  lại thương tâm cho người đọc. Không ít người lên án, cho rằng Nam Cao quá nhẫn tâm hoặc gắn cái hạn chế cho nhà văn. Nhung không phải thế, yêu thương sâu sắc người nông dân, gắn bó máu thịt với cuộc sống của họ.Nam Cao chắc sẽ rất đau trước cái chết của Chí. Nhưng thời đại ấy, không thể viết khác được. Đó là hạn chế của thời đại chứ không phải của nhà văn.

Tác phẩm khép lại là hình ảnh thị Nở nhìn nhanh xuống bụng và đâu đó hiện ra một cái lò gạch bỏ hoang (nơi Chí Phèo ra đời). Hình ảnh ấy tạo cho tác phẩm kết cấu vòng tròn, đầu cuối tương ứng đổng thời cũng gọi ra cái vòng luẩn quẩn tối tăm của người nông dân nghèo. Hiện thực xã hội cũng lại phơi bày ,Lại một quy luật “tre già măng mọc”:  Chí Phèo chết sẽ có một Chí Phèo con ra đời, Bá Kiên chết rổi nhưng còn trăm ngàn bá Kiến khác… Biết khi nào người  nông dân mới thoát khỏi bốì cảnh ây? Đó là trăn trớ của nhà văn, là sự day dứt của người đọc. Trang văn Nam Cao bề ngoài lạnh lùng nhưng bên trong chan chứa tấm  lòng nhân hậu, nhân đạo, nhân văn cao cả là vậy.

Tóm lại đoạn văn miêu tả tâm trạng, sự đổi thay, những khát khao và cả cái bi kịch dẫn đên thảm kịch của Chí là đoạn văn thành công nhất của Nam Cao. Có thể coi đây là một bước ngoặt lớn trong cuộc đời Chí. Là đoạn văn thế hiện lòng  yêu thương con người và cả lòng tin tưởng vào “thiện căn” ở con người Nam Cao. Cũng từ đó mà tác phẩm thêm sức sông kì diệu, tô đậm hơn giá trị hiện  thực và làm ngời sáng giá trị nhân đạo của tác phẩm.

Đến đây ta có thể mạnh dạn mà đồng tình với một ý kiến của ai đó khi nói  “Nếu không viết  Chí Phèo, Nam Cao đã để lại cho văn học Việt Nam một khoảng trống lớn”. Đúng vậy qua Chí Phèo, Nam Cao đã đóng góp cho dòng văn học hiện thực phê phán nói riêng và văn học Việt Nam nói chung một tiếng nói nhân đạo, một nhân vật mang tính điển hình cho người nông dân trước Cách mạng bị tha hóa, lưu manh hóa nhưng luôn dám đấu tranh để chống lại bất công. Nỗ lực không ngừng, cái tâm – cái tài của Nam Cao đã được chi nhận xứng  đáng: “Trong văn hóa Việt Nam, với ngòi bút Nam Cao ta bắt đầu thấy thật có sự sống, thật có con người trong truyện ngắn” (Nguyên Hồng).

Bài văn sưu tầm

(Lê Thi Thanh Thảo – THPT Mĩ Quý, Tháp Mười, Đồng Tháp)

Xem thêm : Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về Chí Phèo : Chí Phèo

So sánh Chí phèo và Vợ Nhặt- Luyện thi THPT Quốc gia môn Văn

Đề bài : Truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao và  truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân đều viết về tình cảnh người nông dân trước Cách mạng tháng Tám 1945

 a) Phân tích những khám phá riêng của mỗi tác giả về số phận và cảnh ngộ của người nông dân trong mỗi tác phẩm.

b) Chỉ ra sự khác nhau trong cách kết thúc hai thiên truyện. Giải thích vì sao có sự khác nhau ấy. Nêu ý nghĩa của mỗi cách kết thúc?

c) Phân tích nét đặc sắc trong tư tưởng nhân đạo của mỗi tác phẩm.

Đáp án:

Ý chính cần có:

Giới thiệu khái quát về Nam Cao và truyện ngắn “Chí Phèo”, Kim Lân và truyện ngắn: “Vợ nhặt”.

Khám phá riêng của mỗi tác gia

Khám phá riêng của Nam Cao trong “Chí Phèo”

– Thân phận khốn khổ của người nông dân: Chí Phèo từ đứa trẻ bị bỏ rơi, bơ vơ, không nhà cửa, không họ hàng thân thích đến khi làm canh điền cho nhà Bá Kiến rồi bị đẩy vào tù.

– Bị đẩy vào con đường tha hoá, lưu manh hoá, bị huỷ hoại từ nhân tính đến nhân hình, bị gạt bỏ ra ngoài xã hội loài người, trở thành “con quỷ dữ của làng Vũ Đại.”

– Khi thức tỉnh nhân tính, Chí Phèo khao khát trở về cuộc sống lương thiện, nhưng bị xã hội làng Vũ Đại lạnh lùng cự tuyệt. Chí phèo rơi vào bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người dẫn đến cái chết đầy bi phẫn.

– Qua “Chí Phèo”, Nam Cao khái quát một hiện tượng xã hội phổ biến ở nông thôn Việt Nam trước Cách mạng: một bộ phận người dân lao động lương thiện bị đẩy vào con đường tha hoá, lưu manh hoá.

Khám phá riêng của Kim Lân trong “Vợ nhặt”

– Thân phận nghèo hèn của mẹ con Tràng (dân ngụ cư, nghèo túng không lấy nổi vợ).

– Tình cảnh thê thảm của người nông dân trong nạn đói khủng khiếp năm 1945. Cảnh ngộ của người đàn bà vợ Tràng, câu chuyện nhặt được vợ của Tràng và cảnh rước nàng dâu về nhà chồng đã phơi bày tất cả sự nghèo đói và tình trạng thê thảm của thân phận con người.

Về kết thúc của hai thiên truyện

Sự khác nhau

Truyện “Chí Phèo” kết thúc bằng cách lặp lại hình ảnh cái lò gạch cũ đã xuất hiện ở phần đầu tác phẩm. Khi nghe tin Chí Phèo chết, Thị Nở nhìn nhanh xuống bụng và trong đầu thị thoáng hiện ra hình ảnh cái lò gạch cũ bỏ không và vắng người qua lại.

Còn truyện “Vợ nhặt” kết thúc bằng hình ảnh hiện lên trong đầu Tràng: đoàn người đi phá kho thóc của Nhật cùng với lá cờ đỏ của Việt Minh bay phấp phới. Hình ảnh này đối lập với hình ảnh về cuộc sống thê thảm của người nông dân được miêu tả ở những phần trước của thiên truyện.

Giải thích vì sao có sự khác nhau

– Do hoàn cảnh sáng tác và hoàn cảnh lịch sử: “Chí Phèo”  viết trước cách mạng (viết năm 1940, in năm 1941) trong hoàn cảnh đen tối của xã hội Việt Nam đương thời. Còn  “Vợ nhặt”  viết sau 1945 khi quần chúng đã được cách mạng giải phóng.

“Chí Phèo” thuộc khuynh hướng văn học hiện thực phê phán, chưa nhìn thấy lối thoát của người nông dân. . Còn “Vợ nhặt” là tác phẩm của nền văn học cách mạng từ sau 1945 có khả năng và cần thiết phải chỉ ra chiều hướng phát triển tích cực của đời sống xã hội.

Kết thúc của “Chí Phèo” đầy ám ảnh, góp phần tạo nên kết cấu theo kiểu vòng tròn, thể hiện sự bế tắc của số phận người nông dân; đồng thời cho ta thấy “hiện tượng Chí phèo” vẫn tiếp tục tồn tại trong xã hội cũ. Còn kết thúc của “Vợ nhặt” mở ra một hướng giải thoát cho số phận các nhân vật, chỉ ra con đường sống của người nông dân, và cho thấy khi bị đẩy vào tình trạng đói khát cùng đường thì những người nông dân nghèo khổ sẽ hướng đến cách mạng.

 

Phân tích nét đặc sắc trong tư tưởng nhân đạo của mỗi tác phẩm.

Nét đặc sắc trong tư tưởng nhân đạo của “Chí Phèo”

– Tố cáo tội ác của xã hội cũ đẩy người nông dân lương thiện vào tình trạng tha hoá, lưu manh hoá, huỷ hoại cả nhân hình và nhân tính của con người.

– Tiếng kêu khẩn khiết đòi quyền sống, quyền làm người lương thiện cho những người cùng khổ trong xã hội.

– Thể hiện niềm tin vào bản chất lương thiện của người lao động. Khẳng định khát vọng lương thiện của người lao độngngay cả khi họ bị đẩy vào tình trạng lưu manh hoá. Với “Chí Phèo”, Nam Cao là nhà văn đồng tình với khát vọng lương thiện của con người.

Nét đặc sắc trong tư tưởng nhân đạo của”Vợ nhặt”

– Sự cảm thông với tình trạng đói khổ cùng cực của người dân lao động.

– Khẳng định bản chất tốt đẹp của người nông dân lao động. Trong cảnh cùng đường, đói khát, họ vẫn cưu mang, đùm bọc lẫn nhau.

– Thể hiện khát vọng đầy tính nhân bản của con người. Khi bị đẩy tới bước đường cùng, người dân lao động vẫn không bao giờ mất hết niềm tin, vẫn khát khao có một mái ấm gia đình, khao khát hạnh phúc.

Xem thêm :

  1. Tuyển tập đề thi học sinh giỏi môn văn
  2. Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về Chí Phèo Ngữ văn 11
  3. Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về Vợ nhặt Ngữ văn 12

Phân tích bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của nhân vật Chí Phèo

Những bài văn hay phân tích, cảm nhận tác phẩm Chí Phèo- Nam Cao. Hình tượng nhân vật Chí Phèo, Phân tích tiếng chửi mở đầu Truyện, ý nghĩa đoạn kết và câu nói của Chí, Hình ảnh cái lò gạch cũ,Giáo án Chí Phèo soạn theo phương pháp mới,… Tất cả đều có ở blog Văn Hay

Đề bài : Phân tích nhân vật Chí Phèo để làm nổi bật bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người.

Bài văn mẫu

 Bình luận về nhân vật Chí Phèo một nhà phê bình văn học viết: “Khi chị Dậu, anh Pha xuất hiện trên những trang sách của dòng văn học hiện thực phê phán, người ta cứ nghĩ nỗi khổ của người nông dân ở một nước thuộc địa nửa phong kiến đến như thế là cùng. Nhưng khi Chí Phèo khật khưỡng bước ra từ những trang sách của Nam Cao, người ta liền mới nhận ra rằng đây là hiện thân của những gì khốn khổ, tủi nhục nhất”. Chị Dậu phải bán chó, bán con, bán cả dòng sữa ngọt ngào của đời mình nhưng dầu sao chị vẫn được gọi là người. Còn Chí Phèo phải bán cả diện mạo và linh hồn của mình để trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại. Và khi ý thức nhân phẩm được trở về thì lại bị xã hội lạnh lùng cự tuyệt để phải tìm đến cái chết thảm thương. Tấn bi kịch thê thảm và độc đáo của nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên được Nam Cao diễn tả thấm thía và cảm động là ở chỗ đó.

Lai lịch = đoạn đời 1 – xuất thân của Chí Phèo là một người nông dân lương thiện.

Lai lịch của Chí Phèo là một số không tròn trĩnh. Hắn là một thằng không cha, không mẹ, không bà con thân thích, không một tấc đất cắm dùi. Ngay từ khi mới sinh ra, hắn đã bị vứt bên cái lò gạch cũ bỏ không. Hắn được một người thả ống lươn mang về nuôi, sau đó cho người đàn bà goá mù. Và người đàn bà goá mù bán cho bác Phó Cối. Suốt quãng đời niên thiếu, Chí Phèo không có tuổi thơ. Hắn phải sống kiếp bơ vơ đi ở cho hết nhà này sang nhà nọ. Đến tuổi trưởng thành, Chí Phèo làm anh canh điền cho nhà Bá Kiến, một tên địa chủ kiêm cường hào khét tiếng độc ác, gian hùng. Tuy phải làm thân trâu ngựa, bị áp bức bóc lột thậm tệ nhưng đã có một thời Chí Phèo là người nông dân lương thiện, khoẻ mạnh về thể xác, lành mạnh về tâm hồn.

Bi kịch 1 = đoạn đời 2 – Chí Phèo đặt ra vấn đề xã hội: người nông dân bị tha hoá, đầy đoạ, lăng nhục…

Nhưng quãng đời lương thiện của Chí Phèo đã bị chấm dứt nhanh chóng bởi bàn tay độc ác của giai cấp thống trị. Chỉ vì một cớ ghen tuông vu vơ, Bá Kiến đã đẩy Chí Phèo vào tù. Mỉa mai thay, nhà tù, cái công cụ cải tạo con người của chế độ thực dân đã tiếp tay cho bọn cường hào phong kiến để giết chết phần người trong Chí Phèo. Từ làng Vũ Đại vào tù, Chí Phèo là một con người; ở tù ra, về làng Vũ Đại, Chí Phèo là một con quỷ. Sau bảy, tám năm biệt tích trở về, Chí Phèo xuất hiện trước mắt dân làng với một bộ dạng rất kì quái: “cái đầu trọc lóc, cái răng cạo trắng hớn, hai con mắt gườm gườm trông gớm chết. Nhìn mặt hắn người ta nghĩ là mặt của một con vật lạ”.

Nam Cao vốn là một nhà văn chú trọng đi sâu vào đời sống nội tâm nhân vật hơn là chú trọng vẻ bề ngoại, rất ít khi ông tả ngoại hình nhân vật kĩ lưỡng như tả Chí Phèo lúc này. Bởi một khi đã trở thành quỷ dữ, Chí Phèo không thể mang khuôn mặt khoẻ mạnh và lành như đất của anh Chí ngày nào. Quá trình tha hoá, lưu manh hoá của hắn là quá trình diễn ra trên cả hai phương diện: ngoại hình và tính cách, nhân hình và nhân tính. Trên đường đến nhà Bá Kiến, tay cầm cổ chai, Chí Phèo vừa đi vừa chửi bới, nguyền rủa nhưng dường như đằng sau tiếng chửi lảm nhảm của Chí Phèo là ý thức mơ hồ về bi kịch về cuộc đời mình, là nỗi căm phẫn vật vã, tuyệt vọng của một con người thèm khát được giao tiếp với đồng loại. Mà tội nghiệp thay, khát khao được giao tiếp của Chí đơn giản chỉ là có được một tiếng người chửi lại hắn. Làng Vũ Đại để mặc hắn trong sự im lặng đáng sợ. Trong nỗi cô đơn, đáp lại hắn hoạ may chỉ có mấy con chó. Thành ra Chí Phèo cũng chỉ là một con vật sống giữa sự lạnh nhạt của xã hội loài người.

Giờ đây, để tồn tại với bọn cường hào (ăn thịt người không biết tanh), Chí Phèo không thể hiền lành nhẫn nhục như trước nữa. Bởi càng hiền lành, nhẫn nhục thì càng bị nhấn xuống bùn. Muốn sống phải gây gổ, cướp giật, ăn vạ, muốn thế phải liều lĩnh, mạnh mẽ, những thứ ấy Chí Phèo tìm thấy ở rượu. Cho nên, cuộc đời Chí Phèo giờ đây được tính bằng những cơn say, những tội ác. Đó là một cuộc đời sống vô thức, một công cụ tội ác trong tay bọn thống trị… “Hắn say thì hắn làm bất cứ việc gì người ta sai hắn làm… Hắn tác oai tác quái cho bao nhiêu dân lành, phá bỏ bao nhiêu cơ nghiệp, đập nát bao nhiêu cảnh yên vui, đạp đổ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu và nước mắt của bao nhiêu người dân lương thiện”. Mọi hành động, tội ác của Chí Phèo là sự phản ứng gay gắt, quyết liệt của người nông dân lương thiện bị dồn tới bước đường cùng. Nhưng tính chất tha hoá, lưu manh của Chí Phèo đã làm cho những phản ứng đó trở nên mất phương hướng, tiêu cực, rất nguy hiểm, dễ bị kẻ thù mua chuộc, lợi dụng. Càng ngày, Chí Phèo càng rơi sâu vào vực thẳm của đau thương và tội lỗi, trượt dài trên con đường tha hoá, lưu manh không lối thoát. Hắn lâm vào một tấn bi kịch đầy nghịch lí: vừa là nạn nhân đau thương của giai cấp thống trị, vừa là con quỷ dữ đối với dân làng Vũ Đại. Mọi người đều sợ và tránh mặt Chí Phèo mỗi lần hắn đi qua.

Như vậy, đẻ ra người nông dân lương thiện là một bà mẹ hiền lành, tội nghiệp nào đó lén lút vứt đứa con vào một cái lò gạch bỏ không. Nhưng đẻ ra một thằng Chí Phèo lưu manh, tha hoá bị đầy đoạ, lăng nhục, bị cướp cả nhân tính và nhân hình, bị đối xử như một con vật là toàn bộ xã hội thực dân phong kiến bất công, tàn bạo, vô nhân đạo thời bấy giờ.

 Bi kịch 3 = đoạn đời 3: bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người

Nhưng bi kịch của Chí Phèo không chỉ dừng lại ở đó. Chí Phèo còn lâm vào một tấn bi kịch đau đớn hơn: bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người. Giữa bóng tối mênh mông của cuộc đời, vào một đêm trăng thơ mộng, Chí Phèo được gặp Thị Nở, một người đàn bà xấu đến ma chê quỷ hờn. Được sự săn sóc giản dị bằng tình yêu thương mộc mạc, chân thành không tính toán của người đàn bà khốn khổ là Thị Nở, bản chất người nông dân lao động lương thiện trong Chí Phèo đã thức dậy. Nam Cao đã giành cho Chí Phèo những trang văn xuôi cảm động đầy chất thơ để miêu tả tình yêu và qúa trình thức tỉnh chất người trong hắn. Lần đầu tiên tỉnh dậy sau những cơn say vô tận, Chí Phèo lắng nghe từng âm thanh náo nức của cuộc sống vang động vào tâm hồn mình: những âm thanh quen thuộc như tiếng chim hót, tiếng gõ mái chèo anh thuyền chài đuổi cá trên sông, tiếng chuyện trò của mấy người đàn bà đi chợ về… Đó là âm thanh cuộc sống gia đình hạnh phúc ngày nào cũng diễn ra nhưng chỉ hôm nay Chí Phèo mới nghe thấy. Bởi sau một thời gian dài, Chí Phèo bị xã hội thực dân phong kiến với bọn cường hào độc ác, nhà tù tàn bạo làm cho mù điếc tâm hồn. Giờ đây tâm hồn hắn đã được Thị Nở với bát cháo hành chứa đựng bên trong hương vị của tình yêu chân thành và hạnh phúc giản dị thấm thía làm cho sáng tỏ. Lần đầu tiên hắn biết buồn vì sự cô độc; cũng là lần đầu tiên hắn biết nhớ, biết hồi tưởng về quá khứ với ước mơ một gia đình hạnh phúc, yên vui, bình dị. Cuộc gặp gỡ với Thị Nở có ý nghĩa như một tia chớp loé lên trong cuộc đời tăm tối triền miên của Chí Phèo. Nó giúp Chí Phèo nhận ra tình trạng bi đát và tuyệt vọng của số phận mình:

Nhìn phía trước người thân chẳng có

                                    Ngó sau lưng quá khứ rợn ghê người

Tình yêu thương đã thức tỉnh con người, khơi dậy trong hắn nỗi khát khao lương thiện. Chí Phèo rưng rưng cảm động. Chí Phèo muốn làm hoà với mọi người biết bao, nghĩa là hắn vô cùng tha thiết muốn kết nạp trở lại cái xã hội bằng phẳng của những con người lương thiện. Thị Nở là cái cầu đưa Chí Phèo trở về cuộc sống lương thiện và câu trả lời của Thị Nở quyết định số phận của Chí: được kết nạp trở lại xã hội loài người hay vĩnh viễn bị đầy đoạ trong kiếp sống thù hận. Chí Phèo hồi hộp hi vọng. Nhưng cánh cửa hi vọng vừa hé mở thì lại bị đóng sầm ngay lại vì bà cô của Thị không cho Thị đâm đầu đi lấy một thằng chỉ có một nghề là rạch mặt ăn vạ. Nhưng trách gì bà cô – bà cô là hiện thân của thành kiến, định kiến bất công, vô nhân đạo của làng Vũ Đại, của xã hội cũ. Lâu nay, mọi người trong làng quen coi hắn là quỷ dữ mất rồi! Chí Phèo đã sống những giây phút hạnh phúc nhất của cuộc đời trong tình yêu, lại rơi vào những giây phút đau đớn nhất của tấn bi kịch tinh thần. Rượu không thể làm hắn say… “hắn cứ thoang thoảng thấy hơi cháo hành” – cái hương vị của tình người, tình thương yêu mà Chí không thể quên được dù chỉ nếm trải trong một lần ngắn ngủi; hắn ôm mặt khóc rưng rức. Giọt nước mắt của Chí Phèo là sự thể hiện cao nhất đỉnh điểm của nỗi đau đớn khi nhận ra mình đã bị cự tuyệt quyền làm người.

Chí Phèo lại uống rượu và xách dao ra đi. Nhưng hắn không rẽ vào nhà Thị Nở như dự định ban đầu mà đến thẳng nhà Bá Kiến. Trong cơn đau khổ và tuyệt vọng, Chí Phèo trở thành người nô lệ thức tỉnh, một đầu óc sáng suốt nhất làng Vũ Đại, hắn hiểu ra, thấm thía tội ác của kẻ đã cướp cả hình người và hồn người của mình là Bá Kiến. Chí Phèo lần này quyết đến để trả thù. Đứng trước Bá Kiến, Chí Phèo đã chỉ tay vào mặt lão và dõng dạc đòi quyền làm người, đòi được làm lương thiện. Chí Phèo đã vung dao lên giết chết Bá Kiến. Giết xong Bá Kiến, Chí Phèo quay lại tự giết mình. Chí Phèo chết vì không tìm được lối thoát, vì xã hội không cho hắn sống. Ý thức nhân phẩm đã trở về, Chí Phèo không bằng lòng kiếp sống thú vật nữa nên đã tìm đến cái chết. Chí Phèo chết trên ngưỡng cửa trở về cuộc sống và cái chết của Chí cũng là một cái chết thê thảm của một con vật. Nó có ý nghĩa tố cáo xã hội một cách sâu sắc và mãnh liệt.

Trước đây để bám lấy cuộc sống, Chí Phèo đã từ bỏ nhân phẩm. Giờ đây ý thức nhân phẩm đã trở về thì Chí Phèo lại phải thù tiêu cuộc sống của mình. Gấp trang sách lại ta còn nghe văng vẳng đâu đây câu hỏi của Chí Phèo: “Ai cho tao lương thiện?”. Đó là một câu hỏi chứa chất phẫn uất đau đớn làm day dứt hàng triệu trái tim người đọc: làm thế nào để cho con người được sống cuộc sống con người trong cái xã hội tàn bạo vùi dập nhân tính ấy? Câu hỏi của Chí Phèo là “Một câu hỏi lớn. Không lời đáp” thật ai oán, tuyệt vọng! Đấy cũng chính là bi kịch lớn nhất ở nhân vật yêu quý này.

Từ số phận nhân vật Chí Phèo, Nam Cao muốn khái quát một hiện tượng phổ biến ở nông thôn nước ta trước Cách mạng: một bộ phận nông dân lao động lương thiện bị đẩy vào con đường tha hoá, lưu manh hoá.

Kết luận:

Sáng tạo ra nhân vật Chí phèo với gương mặt không tuổi, chằng chịt đầy vết sẹo và với tâm hồn mang nỗi đau quằn quại của một con người bị cự tuyệt quyền làm người,Nam Cao đã mang lại cho người đọc một cái nhìn hoàn toàn mới, ở một góc độ mới về nông dân: cái nhìn vào cõi tinh thần, vào chiều sâu bi kịch. Viết những trang văn đau đớn thấm đẫm nước mắt về bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí, Nam Cao đã cắm cho mình một cái mốc vinh quang trên con đường trở thành nhà văn lớn của văn học hiện thực và văn xuôi Việt Nam thế kỉ XX.

Bài văn sưu tầm

Xem thêm : Tất tần tật về Chí Phèo

Cảm nhận về hình ảnh giọt nước mắt của chí Phèo và A Phủ

Đề: cảm nhận về hình ảnh giọt nước mắt của Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao và  giọt nước mắt của A Phủ trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài.

Bài làm.

Đề tài về người nông dân từ lâu đã trở thành cảm hứng sáng tác của nhiều nhà văn. Ngô Tất Tố khắc họa tình cảnh của người nông dân trong nạn sưu cao thuế nặng qua nhân vật Chị Dậu trong “Tắt đèn”. Kim Lân lại viết về cuộc sống nghèo đói của người nông dân trong nạn đói qua “Vợ nhặt”. Cùng chung cảm hứng sáng tác ấy, Nam Cao và Tô Hoài đã tìm đến người nông dân để bày tỏ lòng cảm thông sâu sắc trước số phận đáng thương của họ mà tiêu biểu là qua hai tác phẩm “Chí Phèo” và “Vợ chồng A Phủ”. Qua truyện mỗi nhà văn không chỉ cho ta thấy được số phận khổ cực của người nông dân mà cao hơn cả là cho ta thấy phẩm chất tốt đẹp, đáng quý của họ. Điều đó được thể hiện rất rõ khi Nam Cao và Tô Hoài dụng công miêu tả những giọt nước mắt trong hai tác phẩm. Đó là giọt nước mắt của Chí Phèo và A Phủ.

Nam Cao và Tô Hoài đều là hai nhà văn tiêu biểu trong nền văn học Việt Nam. Sáng tác của Nam Cao tập trung ở giai đoạn trước cách mạng với hai đề tài chính là về người nông dân và người trí thức nghèo. Còn Tô Hoài có nhiều sáng tác nổi bật sau cách mạng tháng Tám. Ông có một lượng tác phẩm đồ sộ đạt kỉ lục trong kho tàng văn học Việt Nam. Truyện “Chí Phèo” và “Vợ nhặt” đều viết về cuộc sống khổ cực của người nông dân bị đè nén áp bức. Tuy nhiên ở họ luôn có những phầm chất cao đẹp. Tiêu biểu cho những con người ấylà nhân vật Chí Phèo và A Phủ. Trong số rất nhiều chi tiết, hình ảnh quan trọng thì hình ảnh giọt nước mắt của hai nhân vật ấy mang lại nhiều sức gợi và gợi nhiều suy nghĩ trong người đọc.

Ta cần hiểu “chi tiết nghệ thuật” là những biểu hiện cụ thể lắm khi nhỏ nhặt nhưng lại mang sức chứa lớn về cảm xúc và tư tưởng, tạo ra sức hấp dẫn cho người đọc. Thường có những chi tiết miêu tả thiên nhiên, chi tiết miêu tả không gian, chi tiết miêu tả về hành động, nội tâm của nhân vật…Chi tiết đóng vai trò quan trọng trong một tác phẩm văn học. Nó tạo ra tính hình tượng, thẩm mĩ cho tác phẩm. Chi tiết còn mang bản chất sáng tạo của người nghệ sĩ thể hiện quan niệm về con người và cuộc sống của nhà văn góp phần làm nổi bật chủ đề tưởng của tác phẩm. Chi tiết cũng là tiền đề cho sự phát triển của cốt truyện, là bước ngoặt trong hành động của nhân vật. Như vậy, tất cả các chi tiết ấy đều là kì công, tìm tòi, sáng tạo của mỗi nhà văn. Với vai trò quan trọng như vậy, chi tiết nghệ thuật giọt nước mắt trong “Chí Phèo” và “Vợ chồng A Phủ” đã góp phần làm rõ chủ đề tư tưởng, những thông điệp mà mỗi nhà văn muốn gửi tới bạn đọc.

Trước hết đến với hình ảnh trong tác phẩm “Chí Phèo”. Tác phẩm viết về nhân vật Chí Phèo, một người nông dân bị đày đọa đến mức bị tha hóa. Dưới sự tàn bạo của bọn địa chủ phong kiến, Chí Phèo từ một anh canh điền hiền lành lương thiện bị tha hóa đến cùng đường. Nhưng rồi chính con người ấy lại được thức tình nhờ sự chăm sóc ân cần của Thị Nở. Khi Chí Phèo say, Thị Nở đã mang cho hắn một bát cháo hành làm hắn rất ngạc nhiên “Thằng này rất ngạc nhiên. Hết ngạc nhiên hắn thấy mắt mình hình như ươn ướt”. Chí Phèo đã khóc bởi đây là lần đầu hắn được người ta cho. Xưa nay hắn phải đi cướp bóc, dọa nạt người khác chứ đã bao giờ có ai cho không hắn cái gì. Hơn nữa đây lại là của một người đàn bà cho hắn, hắn cầm bát cháo hành khói bốc lên nghi ngút mà lòng bâng khuâng. Lần đầu tiên hắn được ăn cháo hành  và cũng là lần đầu tiên hắn được chăm sóc bởi bàn tay của một người đàn bà. Giọt nước mắt ấy thể hiện một niềm vui, xúc động bởi hắn còn được người ta quan tâm. Trong các xã hội làng Vũ Đại hắt hủi, xa lánh, coi Chí như một con quỷ dữ thì vẫn còn có một người như thị quan tâm đến hắn. Hắn xúc động bởi xã hội loài người vẫn đón nhận hắn. Đó còn là giọt nước mắt của niềm vui, niềm hạnh phúc bởi hắn thấy mình còn có ý nghĩa trong cuộc đời, cuộc sống vẫn còn có ý nghĩa. Chí vui sướng hạnh phúc khi nghĩ rằng Thị Nở chấp nhận được hắn thì mọi người cũng sẽ yêu quý hắn. Và giọt nước mắt ấy còn khơi nguồn cho sự thức tỉnh bởi chính từ ấy mà Chí đã biết hối hận về tội ác trước đây và có khao khát làm người lương thiện, làm người có ý nghĩa trong cuộc sống. Giọt nước mắt hạnh phúc của Chí Phèo tạo ra bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời của Chí. với giọt nước mắt ấy, có lẽ cuộc sống của Chí sẽ đổi khác. Chí sẽ thành người lương thiện được mọi người chấp nhận. Chí muốn làm người lương thiện “Trời ơi hắn thèm lương thiện”, “hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao” và mong muốn Thị Nở sẽ mở đường cho hắn. Con quỷ dữ của làng Vũ Đại ấy đã được thức tỉnh và khát khao được hoàn lương.

Thế nhưng hạnh phúc đến với Chí Phèo chưa được bao lâu thì hắn đã bị hắt hủi, bị Thị Nở cự tuyệt. Chỉ với mấy lời nói tưởng chừng như gián tiếp của bà cô thị đã đẩy Chí một lần nữa vào hố sâu của sự xa lánh, bị tước đoạt quyền làm người. Sau khi bị Thị Nơ cự tuyệt, Chí Phèo đã “ngồi ngẩn mặt ra không nói gì”. Chí Phèo muốn níu kéo Thị Nở nhưng bị thị gạt tay ra, hắn đau đớn “ôm mặt khóc rưng rức”. Chí Phèo khóc là bởi hắn đã bị Thị Nở cự tuyệt, và cũng đồng nghĩa với việc Chí bị cả xã hội loài người cự tuyệt. Bởi một người xấu ma chê, quỷ hờn như thị mà cũng không chấp nhận Chí thì trong cái xã hội ấy có ai sẽ có thể chấp nhận được y. Chí đã từng mơ ước chính Thị sẽ cái cầu nối đưa hắn trở về với thế giới loài người nhưng bây giờ chính thị lại cắt đứt cái cầu nối kì diệu ấy. Hắn “ôm mặt khóc rưng rức” bởi cứ thoảng thấy hương vị của cháo hành, hương vị của tình yêu thương, chăm sóc. Càng nghĩ, Chí càng cảm thấy đau đớn, xót xa. Hắn khóc bỏi đau khổ, tuyệt vọng. Ý định làm người  lương thiện của y vừa mới chớm nở thì nay đã vụt tắt. Giọt nước mắt của Chí còn thể hiện cho sự căm phẫn đối với xã hội bất lương lúc bấy giờ mà tiêu biểu là qua Bá Kiến và bà cô Thị Nở. Đó còn là sự thức tỉnh của Chí Phèo khi nhận ra bi kịch của mình. Hắn nhận ra mình không thể trở thnahf người lương thiện được nữa. Chí nhận ra kẻ thù của mình chính là Bá Kiến. Đây là những giọt nước mắt đau đớn, giọt nước mắt ấy đã tạo ra bước ngoặt quan trọng trong nhận thức và hành động của Chí Phèo, từ đó dẫn đến việc Chí tự kết liễu được mình sau khi đâm chết Bá Kiến. Viết về sự thức tỉnh ấy của chí Phèo, Nam Cao thể hiện tiếng nói nhân đạo sâu sắc, nhà văn đã nhận ra bên trong mỗi con người tưởng như đã bị tha hóa, tưởng như đã mất đi phần lương tiện thì ở họ vẫn nhen nhóm lên ánh sáng của lương tri. Nhà văn cũng dụng công khi nói về giọt nước mắt của sự hoàn lương mà ông thường ca ngợi đó là “giọt châu của loài người”.  Giọt nước mắt của sự thức tỉnh ấy cũng được Nam Cao nói đến trong tác phẩm “Đời thừa” qua nhà văn Hộ. Nam Cao đã miêu tả giọt nước mắt của nhân vật Hộ “Nước mắt hắn bật ra như nước một quả chanh người ta bóp mạnh”. “Hắn khóc. Hắn khóc nức nở, khóc như thể không ra tiếng khóc”. Hộ khóc vì ân hận khi nhận ra hành động thô bạo của mình với vợ con. Như vậy sáng tác của Nam Cao đều rất dụng công miêu tả sự thức tỉnh nhân phẩm trong mỗi con người.

Đến với nhà văn Tô Hoài trrong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ”. Tác phẩm viết về cuộc sống đau khổ của người dân miền núi trong đó có A Phủ, họ phải chịu thống trị của bọn phong kiến miền núi. A Phủ vì đánh con quan nên bị bắt và bị nộp phạt và trở thành người ở trong nhà quan thống lí. Một lần chăn bò, A Phủ sơ ý đã hổ bắt mất một con bò, quan thống lí đã trói A Phủ vào cột nhà gần với nơi Mị (người con dâu gạt nợ cho nhà thống lí) thưòng trở dậy ngồi thổi lửa hơ tay vào mỗi đêm. Giọt nước mắt của A Phủ được cảm nhận bởi Mị khi cô ngồi sưởi lửa. Một lần ngồi sưởi lửa, Mị lé mắt trông sang thấy “Hai mắt A Phủ vừa mở. Một dòng nước mắt bò xuống hai hõm má đã xám đen lại”. Đó là giọt nước mắt hiếm hoi của một người đàn ông mà lại là một người gan bướng như A Phủ, Giọt nước mắt ấy thể hiện cho nỗi đau đớn đến tận cùng. Đau đớn vì những sợi dây mây thít chặt vào người nhưng có lẽ đau đớn hơn cả là trong lúc này A Phủ nghĩ đến tình cảnh đáng thương của mình. A Phủ khóc nhưng không hề cam chịu. Đó là giọt nước mắt của con người giàu nghĩa khí. Giọt nước mắt của A Phủ lại “lấp lánh” thể hiện cho khát vọng được sống, được tự do. A Phủ là một chàng trai mạnh mẽ, đã dám đánh lại con quan thống lí Pá Tra mà trong hoàn cảnh này lại khóc. Khát khao được sống, được tự do trong con người của một chàng trai miền núi như đang trào dâng mãnh liệt để rồi nó bật thành những giọt nước mắt. Giọt nước mắt của A Phủ cũng phần nào giống với Chí Phèo bởi nó thể hiện sự căm phẫn tận cùng tội ác của bọn địa chủ phong kiến. Chính bọn địa chỉ phong kiến đã tước đi quyền sống của Chí Phèo, của A Phủ và của bao người nông dân khác.

Nhưng nếu như giọt nước mắt của Chí Phèo làm hắn rơi vào bế tắc thì giọt nước mắt của A Phủ đã tìm được sự đồng điệu cảm thông. Nhà văn không để cho nhân vật của mình rơi vào “bước đường cùng” mà giúp cho họ một hướng đi khi đã giúp họ có những thay đổi trong tình cảm và nhận thức. Giọt nước mắt của A Phủ đã tác động đến nhận thức và tình cảm của Mị. Nhìn A Phủ khóc, Mị đã nhớ lại “đêm năm trước, A Sử trói Mị, Mị cũng phải đứng như thế kia. Nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ mà không biết lau đi được”. Cô đồng cảm sâu sắc với A Phủ, đó là niềm đồng cảm của những con người cùng cảnh ngộ. Từ người khác, nghĩ đến hoàn cảnh của mình rồi từ lòng thương mình dẫn đến thương người. Từ đó Mị có sự thay đổi nhận thức rất quan trọng. Mị nhận thấy sự bất công vô lí của xã hội, thấy sự oan ức trong tình cảnh của APhủ “người kia việc gì mà phải chết”. Mị cũng nhận ra sự tàn bạo của bọn của bọn địa chủ phong kiến “chúng nó thật độc ác”. Như vậy chính từ giọt nước mắt của A Phủ đã làm lay động, thức tỉnh tâm hồn Mị. Đó chính là tiền đề quan trọng để tạo ra bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời Mị và A Phủ. Từ những nhận thức đáng quý ấy, Mị đã có hành động quyết liệt là cứu thoát A Phủ và tự giải thoát cho chính mình. Nếu không có sự thức tỉnh từ giọt nước mắt của A Phủ thì cô Mị không thể có hành động táo bạo và quyết liệt như vậy và cuộc sống của người nông dân miền núi vẫn là sự bế tắc cùng đường.  Chi tiết “giọt nước mắt của A Phủ’ là một chi tiết nhỏ nhưng mang lại rất nhiều ý nghĩa, nó góp phần quan trọng trong việc thể hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Hình ảnh đó cũng thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc khi nhà văn đã đồng cảm sẻ chia với những bất hạnh của con người. Đồng thời Tô Hoài cũng trân trọng khát vọng tự do ở người nông dân. Và chỉ bằng chi tiết nhỏ đó thôi nhà văn cũng đã hé mở về cuộc sống tốt đẹp cho họ.

Như vậy, chi tiết về giọt nước mắt của Chí Phèo và giọt nước mắt của A Phủ đều thể hiện được những nỗi đau và sự bế tắc của những người nông dân trong tình cảnh bị đè nén. Đằng sau đó là một niềm khát khao về sự sống, khát khao tự do. Tuy nhiên hai tác phẩm được viết trong những hoàn cảnh cụ thể khác nhau với dụng ý nghệ thuật khác nhau nên mỗi chi tiết có sức biểu đạt và ý nghĩa riêng. Giọt nước mắt của Chí Phèo thể hiện sự thức tỉnh của người nông dân nhưng cuối cùng lại rơi vào bế tắc. Điều đó thể hiện rõ nét đặc trưng của văn học phê phán thời kì trước cách mạng Tháng Tám. Giọt nước mắt của A Phủ làm lay động thức tỉnh con người và hướng họ đến cuộc đời tươi sáng. Đó chính là dấu ấn của văn học sau 1945, khi các nhà văn đã được cách mạng soi sáng nên nhìn cuộc đời bằng cái nhìn lạc quan để mở ra cuộc sống tốt đẹp cho người nông dân. Qua điều đó Tô Hoài muốn khẩng định chỉ cách mạng mới đem lại cho người nông dân một cuộc đời mới.

Qua việc khắc họa những chi tiết tiêu biểu như trên, nhà văn Nam Cao và Tô Hoài đã khẳng định tài năng của mình trong việc xâu dựng các chi tiết điển hình để xây dựng thành công tâm lí nhân vật từ đó mà góp phần quan trọng vào việc khắc họa chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Với ý nghĩa đó, tác phẩm “Chí Phèo”- Nam Cao, “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài trở thành những tác phẩm tiêu biểu trong dòng văn học Việt Nam.

Hs Vũ Thị Đan Hạ – Lớp 12 năm học 2015- 2016.

Dẫn theo  :Phạm Thị Thanh Nhàn

Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về vợ chồng a phủ, Chí Phèo,

Dạng đề so sánh văn học

Tổng hợp kết bài mẫu về các tác phẩm lớp 11-Hay và đầy đủ

Tuyển tập những kết bài mẫu tham khảo.Kết bài về các tác phẩm lớp 11 : Hai đứa trẻ, Chữ người tử tù, Hạnh phúc một tang gia, Chí Phèo, Vội vàng, Tràng giang, Đây thôn Vĩ Dạ, Từ ấy

Tổng hợp những kết bài hay về tác phẩm Hai đứa trẻ ( Thạch Lam)

  1. Thạch Lam đã mô tả thế giới nội tâm của nhân vật bằng ngòi bút tinh vi. Tài năng của nhà văn đã làm sống dậy những cảm xúc vốn mong manh, hư ảo của hồn người. Vượt qua bóng đêm, vượt của sự buồn tẻ của kiếp người, Hai đứa trẻ chính là bài ca về niềm tin yêu cuộc sống. Niềm tin yêu đó được kết tinh từ ánh sáng tư tưởng tiến bộ, từ ánh  sáng lòng nhân ái của nhà văn. “Không có ước mơ nào là quá muộn” nhà văn Anatole France đã nói như vậy. Còn Eleannor Roosevelt thì phát biểu “Tương lai thuộc về những ai tin tưởng vào cái đẹp của ước mơ”. Tôi tin ánh sáng nhà văn Thạch Lam nhen lên  trong tâm hồn hai đứa trẻ sẽ trở thành ngọn đuốc soi rọi cho con người bước qua bóng  tối. Niềm tin vào sự đổi thay của cuộc đời chính là chỗ dựa để con người sống có mơ  ước, sống có ý nghĩa.
  2. Không có những tình huống li kì, những tính cách sắc nét, không đi sâu những cảnh áp bức bóc lột, những số phận thương tâm,…mọi thứ trong Hai đứa trẻ cứ nhẹ nhàng diễn ra trên từng trang viết, lặng lẽ đưa ra những hình ảnh xoàng xĩnh quen thuộc ở một phố huyện nghèo qua con mắt một đứa trẻ. Nhưng chính vẻ đẹp của những cái bình thường, lặng lẽ, xoàng xĩnh ấy qua ngòi bút tinh tế, giọng văn nhỏ nhẹ của tác giả lại tạo nên sức hút kì lạ. Bức tranh đời sống nghèo trong truyện vừa rất mực chân thực, vừa chan chứa niềm cảm thương, chân thành của Thạch Lam đối với những người lao động nghèo khổ sống quẩn quanh, bế tắc, bị chôn vùi trong kiếp tối tăm. Tất cả để lại ấn tượng, sự đồng cảm sâu sắc nơi người đọc một cách rất tự nhiên nhưng lắng đọng, khó quên vô cùng.

Tổng hợp những kết bài hay về tác phẩm Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân)

  1. “Vang bóng một thời” là một tiếng vọng đầy cuốn hút trong trào lưu văn học lãng mạn 1930 – 1945 và “Chữ người tử tù” là một tiếng nói góp phần làm nên sự thành công của tập truyện này. Có thể nói rằng, những đặc trưng của phương pháp sáng tác lãng mạn chủ nghĩa không phải đã tập trung đầy đủ ở đây nhưng nhà văn đã thực sự đem chúng ta đến một thế giới mà trong đó nhân vật lãng mạn vượt lên khỏi hoàn cảnh để sống khác biệt với những tầm thường, tăm tối quanh mình. Cái Đẹp, cái Thiện và sự tài hoa đã cùng nhau châu tuần về đó.
  2. Chữ người tử tù đã thể hiện tư tưởng thẩm mĩ của Nguyễn Tuân. Cái đẹp, cái tài đã chiến thắng tất cả. Nó nâng đỡ và dìu dắt con người xích lại với nhau tạo nên sức mạnh chiên thắng mọi gông xiềng, quyền uy và thế lực. Nghệ thuật khắc họa nhân vật của cụ Nguyễn đầy ấn tượng đã tạo ra cho tác phẩm những bức tranh, hình ảnh đầy kịch tính với một ngôn ngữ khỏe khoắn, gân guổc đầy cảm giác và tân kỳ. Người ta thường nói đến phong cách của Nguyẽn Tuân gói gọn trong chữ “ngông” song thực tế không phải vậy. vẻ đẹp của quản ngục là biểu tượng cho thiên lương của con người, ở đây nó còn là hiện thân của cái đẹp. Nói như Vũ Ngọc Phan giá trị của tác phẩm “gần đạt đến sự toàn mĩ” là từ nhân vật này chăng?

Tổng hợp những kết bài hay về đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia (Số đỏ)

Có thể kết luận rằng: Từ cái “chết thật” của “ông cụ già” đến đám ma giả của tang gia, và từ cái đám ma giảtang gia đến niềm vui thật của bọn người hám danh, hám lợi, đạo đức giả được kể trong chương truyện này là cả một hành trình sáng tạo của một tài năng lớn – tài năng trào phúng Vũ Trọng Phụng.

Tổng hợp những kết bài hay về tác phẩm  Chí Phèo (Nam Cao)

  1. Chí Phèo – một tấn bi kịch của một người nông dân nghèo bị tha hóa trong xã hội cũ, một con người điển hình. Ở cuối tác phẩm, “đột nhiên thị thoáng thấy hiện ra một cái lò gạc cũ bỏ không, xa nhà cửa, và vắng người qua lại…”, chi tiết ấy muốn nói với chúng ta rằng, một ngày gần đây thôi,Thị Nở lại bụng mang dạ chửa vượt cạn giữa đồng không mông quạnh,giữa con mắt thờ ơ của người dân làng Vũ Đại,lai một Chí Phèo con xuất hiện. Điều này chứng tỏ rằng “Chí Phèo” không phải là bi kịch của một con người mà là bi kịch của người nông dân tồn tai trong lòng nông thôn trước Cách mạng tháng Tám. Mang đậm giá trị tố cáo rất cao, lên án giai cấp phong kiến thống trị tha hoá, những bị kịch như vậy sẽ còn tiếp.
  2. Hình tưcmg nhân vật Chí Phèo đế lại trong lòng người đọc nhiều niềm xúc động và lòng cảm thông sâu sắc đối với nhũng kiếp người tàn tạ trước Cách mạng tháng Tám. Cùng với những chị Dậu, anh Pha, lão Hạc,… hình tượng nhân vật Chí Phèo khẳng định tính tất yếu phải có một cuộc cách mạng dân tộc và cách mạng giai cấp đế đòi lại quyền sống cho người dân Việt Nam khi đó. Cho đến ngày nay, những nhân vật văn học ấy vẫn là những lời nhắc nhở, cảnh tỉnh chúng ta phải biết yêu hon, trân trọng hon hạnh phúc mình đang có và ra sức cống hiến xây dựng cuộc đời tươi đẹp này.

Tổng hợp những kết bài hay về tác phẩm Vội vàng (Xuân Diệu)

  1. Nhà thơ Thế Lữ, trong lời Tựa cho tập Thơ Thơ củaXuân Diệu, đã có nhận xét khá tinh tế: “Xuân Diệu là một người của đời, một người ở giữa loài người. Lầu thơ của ông xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian” . Qua những ý thơ của Vội vàng, ta càng cảm nhận sâu sắc hơn lời nhận xét ấy. Sống là hạnh phúc. Muốn đạt tới hạnh phúc phải sống vội vàng. Thế là, vội vàng là cách đến với hạnh phúc, là chính hạnh phúc, và hình như cũng là cái giá phải trả cho hạnh phúc vậy ! Tahiểu vì sao khiXuân Diệuxuất hiện, lập tức thi sĩ đã thuộc về tuổi trẻ!
  2. Với bài thơ “Vội vàng”,  Xuân  Diệu đã phảvào  nền  thi  ca  Việt  Nam  một trào lưu “Thơ mới”. Mới lạnhưng táo bạo, độc dáo ởgiọng điệu và cách dùng từ, ngắt nhịp, nhất là cách cảm nhận cuọc sống bằng tất cảcác giác quan, với một trái tim chan chứa tình yêu. “Vội vàng” đã thểhiện một cảm quan nghệthuật rất đẹp, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Đó là lòng yêu con người, yêu  cuộc đời. Đó là tình yêu cảnh  vật,  yêu  mùa  xuân  và  tuổi  trẻ…  Và  là  ham  muốn  mãnh  liệt muốn níu giữthời gian, muốn tận hưởng vịngọt ngào của cảnh sắc đất trời “tươi non mơn mởn”. Phải chăng trời đất sinh ra thi sĩ Xuân Diệu trên xứsởhữu tình này, là đểca hát vềtình yêu, đểnhảy múa trong những điệu nhạc tình si?! Thơ Xuân Diệu -vội vã với nhịp đập của thời gian

Tổng hợp những kết bài hay về tác phẩm Tràng giang (Huy Cận)

  1. Bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận với sựkết hợp bút pháp hiện thực và cổđiển đã vẽlên một bức tranh thiên nhiên u buồn, hiu quạnh.Qua đó khắc họa được tâm trạng cô liêu, đơn độc của con người và một tình yêu quê hương, mong ngóng vềquê hương chân thành, sâu sắc của Huy Cận.
  2. Tràng giang – Bài thơ sẽ còn mãi đi vào lòng người với phong cách tiêu biểu rất “Huy Cận”, với vẻ đẹp cổ điển trang nhã sâu lắng và vẻ đẹp hiện đại mang nặng một tấm lòng yêu nước, yêu quê hương.

Tổng hợp những kết bài hay về tác phẩm Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử)

  1. Đây thôn Vĩ Dạlà một bức tranh đẹp vềcảnh và người của miền quê đất nước qua tâm hồn thơ mộng, giàu tưởng tượng và đầy yêu thương của nhà thơ với nghệthuật gợi liên tưởng, hòa quyện thiên nhiên với lòng người. Trải qua bao năm tháng, cái tình Hàn Mặc Tửvẫn còn tươi nguyên, nóng hổi, lay động day dứt lòng người đọc. “Tình yêu trong ước mơ của con người đau thương ấy có sức bay bổng lạkì” nhưng nó cũng giản dị, trong sáng, tươi đẹp như làng quê Vĩ Dạ. Xin thành kính thắp một nén nhang trước một nghệsĩ tài hoa, một trái tim suốt cuộc đời thổn thức vì tình yêu, một tâm hồn thi sĩ đã thăng hoa nỗi đau thương, bất hạnh của đời mình thành những đóa hoa thơ mà trong đó thơm ngát nhất, thanh khiết nhất là Đây thôn Vĩ Dạ
  2. “Đây thôn Vĩ Dạ” là một bức tranh đẹp vềcảnh và người của một miền quê đất nước qua tâm hồn thơ mộng, giàu trí tưởng tượng và đầy yêu thương của một nhà thơ đa tình đa cảm. Bằng thủpháp nghệthuật liên tưởng cùng với những câu hỏi tu từ xuyên suốt bài thơ, tác giả Hàn Mặc Tửđã phác họa ra trước mắt ta một khung cảnh nên thơ, đầy sức sống và ẩn trong đấy là nỗi lòng của chính nhà thơ: nỗi đau đớn trước sựcô đơn, buồn chán trần thế, đau cho số phận ngắn ngủi của mình. Dầu vậy nhưng ông vẫn sống hết mình trong sựđau đớn của tinh thần và thể xác. Điều đó chứng tỏ ông không buông thả mình trong dòng sông số phận mà luôn cố gắng vượt lên nó để khi xa lìa cõi đời sẽ không còn gì phải hối tiếc.
  3. “Thơ đi từ cái thực tới cái ảo ảnh, từảo ảnh đi tới cái huyền diệu, từ huyền diệu đi tới chiêm bao. Bao trùm cả bài thơ là thế giới mơ”, đó là lời của Hàn Mặc Tử về thơ và có lẽ chính là vềĐây thôn Vĩ Dạ. Với hình ảnh độc đáo giàu sức gợi, giàu giá trị thẩm mĩ, ngôn ngữ ngữ cực tả luôn trong trong sáng, súc tích, cách sử dụng xuyên suốt những câu hỏi tu từ, cách sử dụng nhịp điệu thơ theo cảm xúc có khi là tha thiết đắm say, có khi là chậm rãi buồn tẻ, Đây thôn Vĩ Dạ thể hiện tình yêu tha thiết của tác giả đối với xứ Huế, nơi nhà thơ đã từng có nhiều kỷ niệm ngọt ngào, đồng thời thểhiện khát khao được sống, được yêu của một con người. Nhà thơ đã vẽ nên một bức tranh phong cảnh thật đẹp về thiên nhiên xứ Huế, từ đó thể hiện tình yêu và khát vọng sống mãnh liệt.

Tổng hợp những kết bài hay về tác phẩm Từ ấy (Tố Hữu)

  1. “Từ ấy” là tiếng reo vui không chỉ của nhà thơ, mà còn là của cả một thế hệ thanh niên khi tìm thấy lí tưởng của Đảng, nguyện chiến đấu hết mình vì lí tưởng, vì nhân dân, vì đất nước. Họ là những người chiến sĩ trẻ, mang trong mình nhiệt huyết, mang trong mình lí tưởng, và lòng yêu thương đồng bào, yêu thương đất nước. Có thể nói, thơ của Tố Hữu là thơ của nhân dân, những lí tưởng cao đẹp được diễn tả bằng những từ ngữ lãng mạn nhưng cũng vô cùng giản dị, gần gũi, là đại diện cho một lớp nhà thơ mới
  2. Bài thơ “Từ ấy” của Tố Hữu là một bài thơ vừa có tính triết lý sâu sắc, vừa rất gần gũi, bình dị, thân thuộc. Sau mấy chục năm đọc lại, những vần thơ đó vẫn là một câu hỏi thấm thía mà những người cộng sản hôm nay không thể không suy ngẫm một cách nghiêm túc để tự mình tìm ra lời giải đáp thấu đáo. Giữa cái chung và cái riêng, giữa cộng đồng -tập thể và cá nhân, giữa vật chất tầm thường và tinh thần –tư tưởng của người cộng sản.

Tài liệu sưu tầm. Nguồn : Page Cô Diễm Hằng

Xem thêm :

  1. Tổng hợp những mở bài mẫu hay nhất
  2. Cách viết phần kết bài trong bài văn nghị luận
  3. Tuyển tập những kết bài về các tác phẩm lớp 12

Suy nghĩ về cách kết thúc truyện Chí Phèo- Nam Cao

Bộ đề luyện thi Ngữ văn lớp 11. Những đề văn hay về tác phẩm Chí Phèo – Nam Cao. Hướng dẫn ôn tập bài Chí Phèo

Kết thúc tác phẩm “ Chí Phèo” của Nam Cao là chi tiết:

…“ Đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa, và vắng người lại qua…”

Suy nghĩ của anh/ chị về chi tiết kết thúc trên?

Hướng dẫn cách làm bài

a.Yêu cầu về kỹ năng:
– Viết đúng bài văn nghị luận văn học, bố cục rõ ràng.
– Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt lưu loát; không mắc lỗi chính tả, dùng từ và ngữ pháp.

b. Yêu cầu về kiến thức
Có thể trình bày theo nhiều cách, nhưng lí lẽ phải hợp lí; cần làm rõ các ý chính sau:

Mở bài : Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm và vấn đề cần nghị luận : Hình ảnh cái lò gạch cũ hiện lên trong tâm trí Thị Nở.

Thân bài
– Tóm tắt ngắn gọn tác phẩm, nêu vị trí chi tiết “ cái lò gạch bỏ không” là một ám ảnh về nỗi buồn nhân sinh của Nam Cao
– Kết thúc mở với kết cấu vòng tròn gợi cho người đọc nhiều suy ngẫm, gửi gắm triết lý của nhà văn (Dẫn chứng- Phân tích)
– Nếu không thay đổi thực tại, sẽ tiếp tục những bi kịch quẩn quanh không lối thoát của con người, sẽ có một Chí Phèo con ra đời, thị Nở sẽ lặp lại bi kịch chửa hoang…(Dẫn chứng- Phân tích)
– Kết thúc có tính chất dự báo: những cảnh “quần ngư tranh thực”, tình trạng tha hóa lưu manh hóa sẽ còn tiếp diễn. (Dẫn chứng- Phân tích)
– Cái chết của Chí Phèo: bi kịch bị đẩy đến đường cùng của con người, phải lựa chọn giữa sự sống lương thiện và cái chết. Đó là kết cục tất yếu cho những con người muốn làm lại cuộc đời như Chí Phèo. (Dẫn chứng- Phân tích)
Đánh giá chung:- Giá trị phản ánh hiện thực và tư tưởng nhân đạo
+ Không né tránh những mặt xấu của hiện thực mà vạch trần, phơi bày tất cả
+ Miêu tả c/s con người lưu manh, tha hóa, nhà văn luôn có cái nhìn đau đáu, lo lắng và day dứt cho số phận con người
+ Cố gắng tìm ra “con người trong con người”, khơi dậy những nét nhân văn, nhân bản nhất từ những con người ở đáy cùng xã hội.
– Hạn chế: Cái chết của Chí Phèo là sự bế tắc, quẩn quanh đến cùng cực, nhà văn chưa tìm ra lối thoát trước hiện thực tăm tối.

Kết bài : Khái quát về giá trị và ý nghĩa  của chi tiết.

Xem thêm : Tuyển tập những đề thi và bài văn hay về truyện ngắn Chí Phèo -Nam Cao : Chí Phèo

Đề thi kết thúc học kì 1 môn Ngữ văn lớp 11

 

Bộ Đề thi học kì môn Ngữ văn lớp 11 có đáp án.Phân tích cuộc đời của Chí Phèo sau khi ra tù đến khi gặp Thị Nở ? (tác phẩm “Chí Phèo” Nam Cao)

ĐỀ THI HỌC KÌ I MÔN NGỮ VĂN 11 Năm học: 2016 – 2017

Thời gian: 90 phút

PHẦN ĐỌC HIỂU: (2,0 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 3.

TRƯỜNG THPT AN PHƯỚC ĐÓN NHẬN BẰNG KHEN CỦA  THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ.

Ngày 19 – 11, Trường THPT An Phước (Ninh Phước) tổ chức kỷ niệm 40 năm thành lập và đón nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ. Đến dự có đồng chí Lê Văn Bình, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, lãnh đạo các sở, ngành và địa phương.

Trường THPT An Phước được thành lập, đi vào hoạt động từ năm học 1976 – 1977. Nhà trường hiện có 92 cán bộ, giáo viên, nhân viên đều đạt chuẩn, trên chuẩn nghiệp vụ chuyên môn, 12 giáo viên có trình độ thạc sĩ. Ngành GD&ĐT đầu tư nhiều tỷ đồng, kết hợp nguồn lực đóng góp của phụ huynh, doanh nghiệp chăm lo xây dựng Trường THPT An Phước ngày càng khang trang với nhiều thiết bị hiện đại đáp ứng tốt nhu cầu dạy và học. Trong 40 năm qua, Trường THPT An Phước có trên 12.000 học sinh tốt nghiệp THPT, học sinh thi đậu vào các trường đại học, cao đẳng hàng năm đạt 35 – 40% … Nhiều học sinh trở thành cán bộ quản lý, cán bộ khoa học, doanh nhân, có nhiều đóng góp cho sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội tỉnh nhà […]

(Báo Ninh Thuận, ngày 21/11/2016)

 

Câu 1 (0,5đ): Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản trên ?

Câu 2 (0,5đ): Nêu nội dung của văn bản ?

Câu 3 (1,0đ): Thông tin nào trong văn bản khiến anh/chị quan tâm nhiều nhất? Hãy lí giải vì sao?

 PHẦN LÀM VĂN: (8,0 điểm)

Câu 1 (3,0 điểm):

Từ văn bản trên, hãy viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày suy nghĩ của mình khi được vinh dự là học sinh của Trường THPT An Phước.

Câu 2 (5,0 điểm):

Phân tích cuộc đời của Chí Phèo sau khi ra tù đến khi gặp Thị Nở ? (tác phẩm “Chí Phèo” Nam Cao)

 

———————————- Hết  ———————————-

 

ĐÁP ÁN ĐỀ THI HK I MÔN VĂN 11

 

Phần Câu Nội dung Điểm
I   ĐỌC HIỂU (2.0)
Câu 1 Văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ báo chí. 0.5
Câu 2 Nội dung chính của văn bản: Trường THPT An Phước tổ chức kỷ niệm 40 năm thành lập và đón nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ. 0.5
Câu 3 – Học sinh có thể lựa chọn một trong những thông tin khác nhau để lí giải. 0.25
– Lí giải ngắn gọn, rõ ràng, thuyết phục 0.75
II TẠO LẬP VĂN BẢN (8.0)
Câu 1 Từ đoạn trích được đọc hiểu ở trên, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày suy nghĩ của mình khi được vinh dự là học sinh của Trường THPT An Phước. 3.0
1.1. Yêu cầu kĩ năng: 0.5
Yêu cầu ngắn gọn, súc tích (khoảng 150 chữ – gần một trang giấy vở h/s). Lập luận chặt chẽ, thuyết phục. Trình bày rõ ràng, sạch đẹp, không mắc lỗi diễn đạt, chính tả…
1.2. Yêu cầu kiến thức: 2.5
– Niềm tự hào, vui sướng được học tập trong ngôi trường có nhiều thành tích. 1.5
– Nâng cao ý thức trách nhiệm, phấn đấu phát huy thành tích của trường. 1.0

 

Câu 2 Phân tích c/đời của Chí Phèo sau khi ra tù đến khi gặp Thị Nở? 5.0
2.1. Yêu cầu kĩ năng: 0.5
Biết viết bài văn nghị luận văn học: cảm xúc, sáng tạo. Lập luận chặt chẽ, thuyết phục. Trình bày rõ ràng, sạch đẹp, không mắc lỗi diễn đạt, chính tả…  
2.2. Yêu cầu kiến thức: 4.5
MB Giới thiệu về tác giả, tác phẩm, nhân vật. 0.25
 

 

 

 

 

 

TB

* Ý 1: Cuộc đời Chí Phèo sau khi ra tù: 2.0
+ Bị tha hóa về nhân hình:

– “Cái đầu trọc lóc, cái răng …. chết”; Mặt đầy sẹo…; Ngực chạm trổ…(xăm); Bộ dạng của con quỷ dữ….

0.5
+ Bị tha hóa về nhân tính: 1.0
– Tiếng chửi của Chí Phèo….; Đập đầu, rạch mặt ăn vạ, phá hoại hạnh phúc mọi người…; Sống vô thức, làm tay sai cho Bá Kiến…; Triền miên trong cơn say…; Là con quỷ dữ của làng Vũ Đại…; Không ai xem Chí  Phèo là người…

-> Nêu dẫn chứng

 
– Chí Phèo là nạn nhân của chế độ -> giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm. 0.5
* Ý 2: Cuộc đời Chí Phèo khi gặp Thị Nở: 1.5
+ Bản tính lương thiện được đánh thức: Nghe âm thanh của cuộc sống …; Xúc động khi Thị Nợ đem cháo hành tới (mắt hắn ươn ướt, cảm nhận được sự quan tâm của một người đàn bà, nhớ về quá khứ…); Hắn hạn chế uống rượu… -> Chí thèm được làm người lương thiện.  
* Ý 3: Nghệ thuật: 0.5
– Phân tích diễn biến hành động và tâm lí nhân vật. 0.25
– Giọng văn gay gắt mà chân thật, xúc động. 0.25
KB Cảm nhận về nhân vật và tác phẩm 0.25

Xem thêm : Bộ đề thi học kì 2 lớp 11 môn Ngữ Văn

Tuyển tập đề thi, những bài văn hay, những nhận định văn học về Chí Phèo- Nam Cao: Chí Phèo Nam Cao

Đề thi kết thúc học kì 1 môn Ngữ văn lớp 11

Đề thi học kì lớp 11 môn Ngữ Văn. Đề đọc hiểu Hạnh Phúc của một tang gia. Nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn Nam Cao

PHẦN I. Đọc – hiểu (3 điểm)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Với một đám ma theo cả lối Ta, Tàu, Tây, có kiệu bát cống, lợn quay đi lọng, cho đến lốc bốc xoảng và bú dích , và vòng hoa, có đến ba trăm câu đối, vài trăm người đi đưa, lại có cậu tú Tân chỉ huy, những nhà tài tử chụp ảnh đã thi nhau như ở hội chợ. Thật là một đám ma to tát có thể làm cho người chết nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng, nếu không gật gù cái đầu…!

(…)Kèn Ta, kèn Tây, kèn Tàu, lần lượt thay nhau mà rộn lên. Ai cũng làm ra bộ mặt nghiêm chỉnh, song le sự thật thì vẫn thì thầm với nhau chuyện về vợ con, về nhà cửa, về một cái tủ mới sắm, một cái áo mới may. Trong mấy trăm người đi đưa thì một nửa là phụ nữ, phần nhiều tân thời, bạn của cô Tuyết, bà Văn Minh, cô Hoàng Hôn, bà Phó Đoan vân vân… Thật là đủ giai thanh gái lịch, nên họ chim nhau, cười tình với nhau, bình phẩm nhau, chê bai nhau, ghen tuông nhau, hẹn hò nhau, bằng những vẻ mặt buồn rầu của những người đi đưa ma.

1.Đoạn văn trên trích trong văn nào đã học? của ai ?

2.Xác định biện pháp nghệ thuật đặc sắc của văn bản? Tác dụng của các biện pháp nghệ thuật đó?

3.Tình cảm của những người đi đưa tang đối với người đã khuất thể hiện như thế nào?

PHẦN II. Làm văn (7 đ)

Phân tích sự thay đổi của nhân vật Chí Phèo từ khi gặp thị Nở trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Nam Cao.Từ đó bày tỏ suy nghĩ của em về tình yêu giữa Chí Phèo -thị Nở và liên hệ với tình yêu trong xã hội ngày nay.

………………Hết……………………

 

                                  

HƯỚNG DẪN CHẤM 

Phần Nội dung Điểm
 

 

 

 

 

I

 

 

1.Đoạn văn trên trích trong văn nào đã học? của ai ?

Hạnh phúc của một tang gia-Trích Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng

 

2. .Xác định biện pháp nghệ thuật đặc sắc của văn bản? tác dụng của các biện pháp nghệ thuật đó?

-NT: liệt kê,điệp từ, tương phản đối lập,phóng đại,giọng văn châm biếm, mỉa mai, hài hước với lối nói ngược….

-Tác dụng: -làm nổi bật bề ngoài đám tang thật to tát,long trọng, linh đình, đầy đủ nhưng thực chất để nói lên một đám tang hỗn độn,nhố nhăng không theo một nghi lễ trang nghiêm,không theo một lề thói truyền thống của người Việt.

 

3.Tình cảm của những người đi đưa tang như thế nào đối với người đã khuất?

-Không ai chia sẻ với gia chủ nỗi đau mất mát người thân,không mảy may động lòng thương đối với người đã khuất mà tỏ thái độ lạnh lùng đến tàn nhẫn.

 

 

 

0,5

 

0,75

 

0,75

 

 

 

1,0,

 

 

 

II

1.      Cảm nhận về nhân vật Chí Phèo

v Mở bài:Giới thiệu vấn đề cần nghị luận

v Thân bài:

– Nội dung.

v Khi gặp thị Nở

– Cảm nhận được âm thanh cuộc sống…..=> Thay đổi tính cách, ý thức về cuộc đời.

-Được ăn cháo hành: Ngạc nhiên, xúc động, mắt ươn ướt, vừa vui, vừa buồn, vừa ăn năn, thèm lương thiện.

-Ý nghĩa bát cháo hành

v Sau khi gặp thị Nở

-Giết Bá Kiến

-Tự sát

Ý nghĩa của cái chết

 

– Nghệ thuật.

-Kết cấu truyện linh hoạt, sáng tạo.

-Xây dựng nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình

– Miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế, sâu sắc.

-Ngôn ngữ kể chuyện giản dị gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày.

2.      Suy nghĩ về tình yêu giữa Chí phèo – thị Nở và liên hệ với tình yêu của tuổi trẻ trong xã hội ngày nay.

Học sinh có thể tự do bày tỏ suy nghĩ cá nhân, nhưng cần đảm bảo các ý cơ bản sau:

-Tình yêu giữa Chí Phèo và thị Nở là tình yêu mộc mạc, chân thành, nguyên thủy

– Tình yêu mang tính bản năng

-Tình yêu trong xã hội ngày nay

+ Khẳng định có những mối tình trong sáng, đẹp đẽ và đầy cảm động.

+ Có một số mối tình thực dụng…. cần phê phán

+ Rút ra bài học cho bản thân: Phân biệt giữa tình yêu thực dụng và tình yêu chân chính- chọn cho mình một tình yêu đúng đắn

Kết bài: Đánh giá tổng quát về nhân vật

 

 

0,5

6,0

 

 

1,5

 

 

 

 

 

 

 

1,5

 

 

 

 

1,0

 

 

 

 

 

2,0

 

 

 

 

 

 

0,5

 

 

 

Xem thêm :