Vẻ đẹp trữ tình của sông Đà và sông Hương Ngữ văn 12

Phân tích vẻ đẹp trữ tình của sông Đà và sông Hương qua hai tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân, Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Giới thiệu về hai tác giả,hai tác phẩm:

– Nguyễn Tuân(1910- 1987) là người có ý thức cao về cái tôi cá nhân tài hoa, uyên bác. Ông tìm đến với thể tùy bút như một điều tất yếu. Tùy bút Người lái đò sông Đà là kết quả của chuyến đi thực tế Tây Bắc, tác phẩm được in trong tùy bút Sông Đà.

– Hoàng Phủ Ngọc Tường(1937), là nhà văn có sở trường về thể bút ký, tùy bút, với một phong cách nghệ thuật độc đáo. Ai đã đặt tên cho dòng sông được viết vào tháng 1-1981 tại Huế. Bài ký đã thể hiện một lối hành văn phóng túng, tài hoa của nhà văn.

Phân tích vẻ đẹp trữ tình của sông Đà và sông Hương

* Vẻ đẹp trữ tình của sông Đà

– Được gợi ra từ lời đề từ: “Đẹp vậy thay tiếng hát trên dòng sông

– Nhìn từ trên cao xuống: Sông Đà mềm mại thướt tha với vẻ đẹp xuân sắc: “tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”.

– Sự biến ảo của sắc nước sông Đà qua các mùa: mùa xuân dòng xanh ngọc bích, mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da người bầm đi vì rượi bữa.

– Qua kỷ niệm, sông Đà như một cố nhân. Xa lâu thì nhớ, gặp lại thì cuống quýt mừng vui: “Bờ sông Đà, bãi sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên sông Đà…”

– Cảnh hai bên bờ sông: vẻ đẹp lặng tờ hoang dại, trong trẻo nguyên sơ: “thuyền tôi trôi trên sông Đà. Cảnh ven sông ở đây lặng tờ …”

-> Nhận xét: Miêu tả sông Đà trữ tình, ngòi bút của Nguyễn Tuân biến hóa liên tục với những hình ảnh nhân hóa, so sánh, những liên tưởng độc đáo thú vị. Câu văn của Nguyễn Tuân co duỗi nhịp nhàng, chuyển đến người đọc những cảm giác của cảm xúc. Không phân biệt đâu là ngoại giới, đâu là tâm giới, tiếng lòng của thiên nhiên hòa với tấm lòng yêu thương của người nghệ sĩ. Cùng với sông Đà trữ tình ta bắt gặp một Nguyễn Tuân tình nhân, thi nhân.

* Vẻ đẹp trữ tình của sông Hương:

– Là dòng sông chảy giữa lòng thành phố Huế, tạo nên vẻ đẹp riêng cho xứ Huế.

– Trong rừng thượng nguồn:Sông Hương sống một nửa cuộc đời mình như một cô gái digan man dại và phóng khoáng, tự do mà phóng túng. Nhưng rừng già đã chế ngự sức mạnh bản năng của sông Hương tạo cho nó một vẻ đẹp dịu dàng và trí tuệ.

-> Tác giả đã nhấn mạnh đến hai đặc điểm quan trọng của sông Hương: một con sông tạo nên bản sắc văn hóa của Châu Hóa; một thiếu nữ đẹp sống hết mình say đắm trong tình yêu.

– Trên đường đến Huế: Sông Hương chuyển dòng liên tục đột ngột như một cuộc tìm kiếm có ý thức. Tác giả lần theo dòng chảy của sông Hương như một nhà địa lý, như một chàng trai khám phá tính cách của người đẹp (sắc nước xanh thẳm, dòng sông mềm như tấm lụa, màu sắc nhạy cảm với ánh sáng, vẻ kiêu hãnh âm u…)

-> Sông Hương như một người con gái đẹp làm duyên: vốn đã có vẻ đẹp dịu dàng, trí tuệ nay lại càng quyến rũ hơn với vẻ đẹp lịch lãm, kiêu sa và trầm mặc.

– Trong lòng Huế: sông Hương chảy thực chậm. Đó là điệu slow tình cảm mà sông Hương dành riêng cho Huế.

-> Sông Hương đẹp một cách hạnh phúc. Nó đã bị Huế chinh phục, ngả trọn vào vòng tay của Huế. Tình yêu với Huế tạo nên bản sắc văn hóa của dòng sông.

– Khi rời xa Huế: như sực nhớ điều gì chưa kịp nói, dòng sông đột ngột đổi dòng rẽ ngoặt sang hướng đông tây gặp lại Huế ở thị trấn Bao Vinh.

->Dòng sông mang vẻ đẹp của người con gái lưu luyến với tình nhân. Hành động đột ngột quay trở lại gặp Huế là một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu.

=> Nhận xét: Sông Hương được miêu tả sát với bản đồ địa hình. Nó tạo nên không gian văn hóa đôi bờ với vẻ đẹp quyến rũ. Từ thực tế ấy nhà văn ví sông Hương như một thiếu nữ đẹp cùng với Huế làm nên một tình yêu nồng thắm, say mê. Ngôn ngữ giàu hình ảnh, mượt mà, nhiều liên tưởng độc đáo tạo nên một dòng sông quyến rũ, đắm say lòng người.

* Đánh giá

 Người lái đò sông ĐàAi đã đặt tên cho dòng sông là những trang hoa , tờ hoa thể hiện tình yêu quê hương đất nước, tinh thần dân tộc của Nguyễn Tuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường.

– Điểm gặp gỡ trong phong cách viết của hai tác giả;

+ Một cái tôi uyên bác với những hiểu biết sâu sắc về sông Đà, sông Hương xứ Huế.

+ Vốn hiểu biết về lịch sử, địa lý, thi ca, âm nhạc… soi chiếu đối tượng ở nhiều góc độ khác nhau tạo nên những liên tưởng độc đáo.

+ Một cái tôi tài hoa tinh tế với trí tưởng tượng phong phú kỳ diệu.

+ Ngôn từ phong phú, gợi cảm đem đến cho người đọc cảm giác câu văn như những câu thơ trữ tình.

Xem thêm : Người lái đò sông Đà, Ai đã đặt tên cho dòng sông

Phân tích Ai đã đặt tên cho dòng sông- Bài văn mẫu hay nhất

Tuyển tập những bài văn hay, dàn ý phân tích Ai đã đặt  tên cho dòng sông- Hoàng Phủ Ngọc Tường, SGK  Ngữ văn 12. Những dạng đề về tác phẩm

Đề ra: Phân tích bài “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường

Mở bài Ai đã đặt tên cho dòng sông :

Bằng một trái tim nghệ sĩ đắm say, một vốn từ ngữ giàu có chính xác, gợi tả, một  kho tri thức phong phú và một tấm lòng ân tình với sông Hương xứ Huế, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã sáng tác nên một thiên tuỳ bút rất hấp dẫn: “Ai đã đặt tên cho dòng sông” bằng những áng văn vừa đẹp đẽ sang trọng, vừa lấp lánh trí tuệ, vẫn mê đắm tài hoa.

 

THÂN BÀI:

Giới thiệu chung Về Ai đã đặt tên cho dòng sông.

Ai đã đặt tên cho dòng sông” là một tuỳ bút đặc sắc, thể hiện phong cách tài hoa, uyên bác, giàu chất thơ của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Bài kí đã ca ngợi dòng sông Hương như một biểu tượng của Huế (đặc biệt là đoạn từ thượng nguồn đến thành phố Huế).

Sông Hương ở thượng nguồn.

Sông Hương – “bản trường ca của rừng già” và sông Hương – cô gái di gan phóng khoáng, man dại.

Trong con mắt của Hoàng Phủ Ngọc Tường, dòng sông Hương hiện lên như một cô gái đẹp, một vẻ đẹp rất Huế, rất độc đáo; vừa dịu dàng, vừa “phóng khoáng, man dại”. Ngay từ ngọn nguồn của dòng chảy, gắn liền với đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ, sông Hương toát lên một vẻ đẹp tràn đầy sức sống, vừa hùng tráng, vừa trữ tình như một bản “trường ca của rừng già”, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn lốc vào đáy vực bí ẩn. Cũng có lúc nó trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên.

Bằng biện pháp nhân hoá đặc sắc, tác giả như đã hình tượng hoá con sông Hương: “Giữa lòng Trường Sơn, sông Hương đã sống một nửa cuộc đời của  mình như một cô gái di gan phóng khoáng và man dại. Rừng già đã hun đúc cho nó một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng”.

Sông Hương – “người mẹ phù sa của một vùng văn hoá xứ sở”.

Nhưng cũng chính rừng già nơi đây, với cấu trúc đặc biệt… đã chế ngự sức mạnh bản năng ở người con gái của mình để khi ra khỏi rừng, sông Hương nhanh chóng mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành “người mẹ phù sa của một vùng văn hoá xứ sở”. Tác giả cho rằng “người ta sẽ không hiểu được một cách đầy đủ bản chất của sông Hương với cuộc hành trình gian truân mà nó đã vượt qua, không hiểu thấu phần tâm hồn sâu thẳm của nó mà dòng sông hình như không muốn bộc lộ, đã đóng kín lại ở cửa rừng và ném chìa khoá trong những hang đá dưới chân núi Kim Phụng”. Cái điều mà sông Hương “không muốn bộc lộ đã đóng kín lại” đó, hình như giờ đây bằng một cách kín đáo, tác giả đã hé mở cho độc giả thấy được: sông Hương chính là người mẹ hiền hàng ngày, hàng giờ không ngừng duy trì “bồi đắp phù sa” màu mỡ cho cả một vùng văn hoá lịch sử đã được hình thành nơi đôi bờ sông Hương – xứ Huế.

 

 Sông Hương ở ngoại vi thành phố Huế (trong mối quan hệ với Kinh thành Huế)

1. Trước khi trở thành người tình dịu dàng và chung thuỷ của Kinh thành Huế có hàng trăm năm văn hiến, sông Hương đã trải qua một hành trình đầy gian truân và những thử thách. Trong cái nhìn tinh tế, lãng mạn và rất phong tình của tác giả, toàn bộ thuỷ trình của dòng sông Hương tựa như cuộc tìm kiếm có ý thức người tình nhân đích thực của người con gái trong một câu chuyện tình yêu nhuốm màu cổ tích.

Đoạn tả sông Hương chảy xuôi về đồng bằng và ngoại vi thành phố bộc lộ một nét lịch lãm, tài hoa với những hình ảnh mỹ lệ, vốn ngôn ngữ giàu có, sự hiểu biết phong phú của tác giả. Giữa cánh đồng Châu Hoá đầy hoa dại, sông Hương là “cô gái đẹp ngủ mơ màng”. Nhưng ngay khi ra khỏi vùng núi, sông Hương bỗng bừng lên sức trẻ như “người đẹp bừng tỉnh sau một giấc ngủ dài” với niềm khát khao của tuổi thanh xuân trong sự “chuyển dòng liên tục”, rồi “vòng những khúc quanh đột ngột”, “vẽ một hình cung thật tròn”, “ôm lấy chân đồi Thiên Mụ”, “vượt qua”, “đi giữa âm vang”, “trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách”.

Vừa mạnh mẽ, vừa tình tứ mà dịu dàng kín đáo, đó là cái nét phẩm chất đẹp đẽ mang nét riêng của sông Hương – cô gái Huế được tác giả diễn tả bằng những nét vẽ, những hình ảnh cũng thật tình tứ, dịu dàng. Khi qua Vọng Cảnh, Tam Thai, Lưu Bảo “dòng sông mềm như tấm lụa”; khi qua “hai dãy đồi sừng sững như thành quách”, dòng sông ánh lên vẻ đẹp biến ảo với những phản quang nhiều màu sắc “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”. Khi qua bao lăng tẩm, đền đài mang niềm kiêu hãnh âm u được phong kín  trong những rừng thông u tịch toả lan khắp cả một vùng thượng lưu “Bốn bề núi phủ , mây phong; Mảnh trăng thiên cổ bóng tùng Vạn Niên”, dòng sông Hương, mang vẻ đẹp “trầm mặc như triết lí, như cổ thi, kéo dài mãi đến lúc mặt nước phẳng lặng của nó bỗng sinh động bừng sáng lên khi gặp tiếng chuông Thiên Mụ ngân nga tận bờ bên kia giữa những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà”.

Tóm lại, với những nét bút giàu màu sắc hội hoạ tinh tế, với cảm xúc say đắm, ở đoạn này Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tạo dựng được một bức tranh sông Hương thật đẹp bởi sự phối cảnh kì thú giữa nó với thiên nhiên xứ Huế đa dạng và rất hài hoà.

Sông Hương giữa lòng thành phố Huế.

Từ đây như đã tìm đúng đường về, gặp lại thành phố thân yêu của mình “sông Hương vui tươi hẳn lên giữa những biển bãi xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long, kéo một nét thẳng thực, yên tâm theo hướng Tây Nam – Đông Bắc. Phía đó, nơi cuối đường, nó đã nhìn thấy chiếc cầu trắng của thành phố in ngần lên nền trời, nhỏ nhắn như những vành trăng non”. Đúng là một hình ảnh so sánh rất độc đáo và thi vị. Nó không chỉ được vẽ bằng bàn tay hoạ sĩ tinh tế mà còn được vẽ bằng trái tim của một thi sĩ tài hoa, đa tình. Cũng với bút pháp ấy, dòng sông “uốn một cánh cung rất nhẹ sang Cồn Hến” khiến “dòng sông mềm hẳn đi như một tiếng vâng không nói ra của tình yêu”. Đúng là dòng sông Hương dịu dàng và kín đáo như chính cô gái Huế vậy! Nằm ngay giữa lòng thành phố yêu quý của mình, sông Hương được ví như sông Xen của Paris, sông Đa-nuýp của Bu-đa-pét, sông Nê-va của Pê-téc-bua. Nhưng Huế vẫn giữ nguyên dáng một đô thị cổ trải dọc hai bờ sông với “cây đa, cây cừa cổ thụ toả vầng lá u sầm xuống những xóm thuyền xúm xít, từ nơi ấy vẫn lập loè trong đêm sương những ánh lửa thuyền chài của một linh hồn xưa cũ mà không một thành phố hiện đại nào còn nhìn thấy được”. Phải chăng đây là nét độc đáo nhất của Huế? Bởi nó vẫn còn mang vẻ đẹp cổ kính nghìn xưa. Bằng cảm nhận âm nhạc, tác giả thấy con sông Hương của mình ở đây “có điệu chảy lặng lờ, đó là điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế, có thể cảm nhận được bằng thị giác qua trăm nghìn ánh hoa đăng bồng bềnh trong những đêm rằm tháng bảy từ điện Hòn Chén trôi về, qua Huế bỗng ngập ngừng như muốn đi muốn ở chao nhẹ trên mặt nước như vấn vương của một nỗi lòng”. Quả là một hình ảnh rất trữ tình, lãng mạn. Đúng như một nhà thơ đã viết về sông Hương – Huế:

Con sông dùng dằng, con sông không chảy

                                    Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu

Hình như trong khoảnh khắc chững lại của sông nước ấy, sông Hương đã trở thành một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya. Trong con mắt thi sĩ – nhạc sĩ của tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường, sông Hương đã trở thành con sông của “thơ ca nhạc hoạ”. Vì “toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đã được sinh thành trên mặt nước của dòng sông này”. Từ đó, tác giả mường tượng thấy sau lớp sương khói của thời gian, hình như “Nguyễn Du đã bao năm lênh đênh trên quãng sông này, với một phiếm trăng sầu” để viết nên những trang Kiều tuyệt bút, với “những bản đàn đã đi suốt đời Kiều”. Trong đó, nổi bật nhất là bản “Tứ đại cảnh”, một bản nhạc cổ của Huế. Đây quả là một cuộc gặp gỡ kì thú giữa những tâm hồn nghệ sĩ cổ kim trên dòng sông Hương thơ mộng. Trong cái nhìn đắm say của trái tim đa tình Hoàng Phủ Ngọc Tường, sông Hương khi chảy vào lòng thành phố Huế bỗng hiện lên như “người tình rất dịu dàng và thuỷ chung”. Điều này được diễn tả trong một hình ảnh khá độc đáo, đầy phát hiện “Rời khỏi Kinh thành, sông Hương chếch về hướng Bắc, ôm lấy đảo Cồn Hến quanh năm mơ màng trong sương khói, đang xa dần thành phố để lưu luyến ra đi giữa màu xanh biếc của tre, trúc và những vườn cau vùng ngoại ô Vĩ Dạ. Và rồi như sực nhớ lại một điều gì chưa kịp nói, nó đột ngột đổi dòng rẽ sang hướng Đông Bắc để gặp lại thành phố lần cuối ở góc thị trấn Bao Vinh xưa cổ”,  “vốn đang chảy giữa cánh đồng phù sa êm ái của nó, khúc quanh này  thực bất ngờ biết bao. Có một cái gì rất lạ với tự nhiên và rất giống với con người ở đây”. Tác giả gọi đấy là “nỗi vương vấn, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu”. Nhà văn hình dung sông Hương ở đây giống như nàng Kiều đã “chí tình trở lại tìm Kim Trọng của nó, để nói một lời thề ước trước khi về biển cả. Lời thề ấy vang vọng khắp lưu vực sông Hương thành giọng hò dân gian; ấy là tấm lòng người dân nơi Châu Hoá xưa mãi mãi chung tình với quê hương xứ sở”. Đây là một liên tưởng thật bất ngờ, thú vị, đậm màu sắc văn chương cổ điển của tác giả về dòng sông yêu quý của mình. Dòng sông Hương trong sâu thẳm của nó mang vẻ đẹp tâm hồn dân tộc. Bởi như Chế Lan Viên đã viết:

Chạnh thương cô Kiều như đời dân tộc

                                    Sắc tài sao mà lại lắm truân chuyên

Và nhà thơ Ngô Viết Dinh cũng viết:

Nghìn năm gửi lại một chữ trinh

                                    Tâm hồn dân tộc kết tinh tim Kiều

Sông Hương – thiên “sử thi viết giữa màu lá cỏ xanh biếc

Gọi sông Hương là một áng văn trữ tình như một thiếu nữ dịu dàng, mơ mộng và kín đáo thì ai nấy đã rõ nhưng gọi sông Hương là một “thiên sử thi”, “một bản anh hùng ca” thì thật đáng ngạc nhiên. Đây là một phát hiện bất ngờ và thú vị nữa của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Qua “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi và tài liệu khảo cổ học về thành cổ Hoá Châu, tác giả khám phá ra rằng sông Hường vốn có tên là Linh Giang, nghĩa là dòng sông thiêng đã đấu tranh oanh liệt để bảo vệ biên giới phía Nam của Tổ quốc Đại Việt qua những thế kỉ trung đại như Bạch Đằng, Như Nguyệt “Tự cổ huyết do hồng” ở phía Bắc. Thế kỉ XVIII, nó vẻ vang soi bóng Kinh thành Phú Xuân của anh hùng Nguyễn Huệ, nó sống hết lịch sử bi tráng của thế kỉ XIX với máu của những cuộc khởi nghĩa và từ đây sông Hương đi vào thời đại Cách mạng tháng tám, chiến dịch Mậu Thận và cuộc tổng tiến công hoàn toàn giải phóng dân tộc mùa xuân năm 1975 bằng những chiến công rung chuyển.

Như vậy, sông Hương đâu chỉ có vẻ đẹp mềm mại, duyên dáng, đầy trữ tình mà trong thời gian ngân vang của lịch sử, nó còn tiềm ẩn một sức mạnh quật cường, bất khuất của dân tộc, của “sử thi viết giữa màu lá cỏ xanh biếc”. “Khi nghe lời gọi, nó biết cách tự hiến đời mình làm một chiến công để rồi nó trở về với cuộc sống hình thường, làm một người con gái dịu dàng của đất nước”, của Huế thân yêu. Đúng là sử thi mà vẫn rất đỗi trữ tình, thơ mộng. Và đột nhiên, tác giả liên tưởng đến màu áo tím ẩn hiện thấp thoáng theo bóng cô dâu Huế “vẫn mặc sau tiết sương giáng”. Đấy cũng chính là màu của sương khói trên sông Hương, giống như tấm voan huyền ảo của tự nhiên, sau đó ẩn giấu khuôn mặt thực của dòng sông Hương – cô gái Huế.

Dòng sông Hương – dòng sông khơi nguồn cho cả một dòng sông thi ca phong phú.

Với tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường, vẻ đẹp của sông Hương không hề đơn điệu mà biến hoá đa dạng. Vì vậy, mỗi phong cách thơ đều có thể khám phá được những chất thơ khác nhau của nó. Từ xanh biếc thường ngày nó bỗng thay màu thực bất ngờ “dòng sông trắng – lá cây xanh” trong cái nhìn tinh tế của Tản Đà; từ tha thướt mơ màng, nó chợt nhiên hùng tráng lên như “kiếm dựng trời xanh” trong khí phách Cao Bá Quát; từ nỗi quan hoài vạn cổ với bóng chiều bảng lảng trong hồn thơ Bà Huyện Thanh Quan; nó đột khởi thành sức mạnh phục sinh của tâm hồn trong thơ Tố Hữu.

Kết bài Ai đã đặt tên cho dòng sông

Bằng một tình cảm thiết tha với Huế, với một vốn văn hoá phong phú và một kho từ ngữ giàu có đậm chất thơ, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã khắc hoạ được một dòng sông như một công trình nghệ thuật tuyệt vời của tạo hoá, một vẻ đẹp rất thơ, khơi nguồn cho cảm hứng thi ca và gắn liền với nền âm nhạc cổ điển Huế, tạo nên bề dày lịch sử văn hoá của cố đô. Nhờ đó, sông Hương đã trở thành dòng sông bất tử chảy mãi trong trí nhớ và tình cảm của độc giả, bồi đắp phù sa màu mỡ làm xanh tươi thêm tình yêu đối với quê hương đất nước.

Bài viết sưu tầm

Xem thêm : Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về Ai đã đặt tên cho dòng sông

Giáo án bài Ai đã đặt tên cho dòng sông theo định hướng phát triển năng lực

Soạn bài Ai đã đặt tên cho dòng sông, SGK ngữ văn lớp 12. Giáo án soạn theo phương pháp dạy học tích cực

AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG?

(Trích)

Hoàng Phủ Ngọc Tường

Ngày soạn:………………                                Ngày……………….  dạy lớp 12
 Tiết

  MỤC TIÊU
1.Về kiến thức

Giúp HS:

– Cảm nhận được vẻ đẹp, chất thơ từ cảnh sắc thiên nhiên của sông Hương từ bề dày lịch sử, văn hóa của Huế và tâm hồn con người vùng đất cố đô. Hiểu được tình yêu, niềm tự hào tha thiết, sâu lắng của tác giả dành cho dòng sông quê hương, cho xứ Huế thân yêu và cũng là cho đất nước.

–  Hiểu được những đặc sắc về phong cách nghệ thuật của HPNT.

2.Về kĩ năng

– Đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại

– Kết nối, vận dụng những kiến thức đã học được từ bài học vào việc đọc hiểu các tác phẩm văn học có cùng thể loại.

3.Về thái độ

– Yêu mến, tự hào, trân trọng vẻ đẹp của quê hương đất nước, con người

– Có cách ứng xử thân thiện, tích cực với môi trường; ý thức giữ gì các giá trị văn hóa truyền thống.

  1. Năng lực

– Đọc, viết, nghe, nói

– Năng lực giao tiếp

– Năng lực thẩm mỹ

– Thu thập thông tin liên quan đến văn bản

– Năng lực trình bày những nhận xét, đánh giá của cá nhân

– Năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận về nội dung và ý nghĩa của VB.

CHUẨN BỊ

  1. Giáo viên: SGK, SGV, Tài liệu tham khảo, thiết kế bài học, máy chiếu
  2. Học sinh: SGK, Tài liệu tham khảo, soạn bài

 QUÁ TRÌNH TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC CHO HỌC SINH

Hoạt động của GV và HS Sản phẩm cần đạt
I. Hoạt động 1- Khởi động

– GV cho HS nghe một bài hát về sông Hương.

– HS thực hiện các yêu cầu sau:

+ Dòng sông nào được nhắc đến trong lời bài hát? Có những địa danh nào được nhắc đến ở đây?

+ Ghi lại những từ ngữ những từ ngữ, hình ảnh, chi tiết đặc sắc về sông đó.

+ Qua những từ ngữ đó, trình bày cảm nhận về dòng sông này…

+ GV kết nối để giới thiệu về tác phẩm

 

 

 

 

+ Dòng sông Hương được nhắc đến

Địa danh: Huế

 

 

+ Từ ngữ, hình ảnh, chi tiết đặc sắc: Ai đặt tên, người đi nhớ Huế không quên…

 

+ Dòng sông đẹp, gợi nhớ thương về Huế

 

 

 

II. Hoạt động 2- Hình thành kiến thức

 

1. HS tìm hiểu chung về tác giả, tác phẩm

* GV chiếu yêu cầu:

– HS làm việc cá nhân

+ Đọc tiểu dẫn

+ Phần Tiểu dẫn gồm mấy đoạn văn? Hãy nêu chủ đề mỗi đoạn.

+ Những thông tin nào trong TD gợi ý, định hướng rõ nhất cho việc tìm hiểu tp? Tại sao?

 

 

 

I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

– Tiểu sử

+ Sinh ra, nhiều năm sống và hoạt động cách mạng, công tác tại Huế > gắn bó với đất và người nơi đây, am hiểu sâu sắc cội nguồn và linh hồn văn hóa xứ sở.

–  Sáng tác:

+ Sở trường: bút kí, tùy bút.

+ Phong cách nghệ thuật:

• Sự kết hợp nhuần nhuyễn

o Giữa chất trí tuệ và chất trữ tình.

o Nghị luận sắc bén với suy tư đa chiều trên nền tảng hiểu biết sâu rộng về triết học, văn hoá, lịch sử…

• Hành văn: hướng nội (hướng vào bên trong, vào thế giới nội tâm nhiều trăn trở, thâm trầm, sâu lắng), súc tích, mê đắm, tài hoa.

2. Tác phẩm

– Xuất xứ:

+ Viết tại Huế, 1981.

+ In trong tập sách cùng tên,  lấy tác phẩm làm nhan đề cho một tập bút kí , vị trí văn học sử: tác phẩm bút kí tiêu biểu của nhà văn.

2. HD HS tìm hiểu văn bản theo đặc trưng thể kí hiện đại VN (cái tôi trữ tình của tác giả theo đặc trưng thể kí thong qua VB) II. Đọc hiểu văn bản

1. Hình tượng sông Hương

– Hình tượng sông Hương được miêu tả từ những góc độ nào?

 

– Sông Hương nhìn từ nguồn cội

– Sông Hương trong mối quan hệ với kinh thành Huế

– Trong lòng TP Huế

– Khi rời khỏi TP Huế

* GV chiếu yêu cầu:

Hs làm việc cá nhân (ở nhà)

+ Liệt kê các chi tiết, hình ảnh đặc sắc t/g sd để khắc họa sông Hương.

+ Xác định các bpnt.

+ Trình bày cảm nhận của em về vẻ đẹp của sông Hương.

– HS làm việc cặp đôi (tại lớp): đọc bài của bạn, trao đổi, bổ sung, hoàn thiện sản phẩm.

– HS trình bày, 1 HS ghi vắn tắt nội dung lên bảng (cặp đôi)

– HS lắng nghe, ghi chép, nhận xét, bổ sung

– GV nhận xét, bổ sung, chốt

– Đánh giá sản phẩm, kĩ năng thuyết trình

 

* GV chiếu yêu cầu:

Hs làm việc cá nhân (ở nhà)

+ Liệt kê các chi tiết, hình ảnh đặc sắc t/g sd để khắc họa sông Hương.

+ Xác định các bpnt.

+ Trình bày cảm nhận của em về vẻ đẹp của sông Hương.

– HS làm việc cặp đôi (tại lớp): đọc bài của bạn, trao đổi, bổ sung, hoàn thiện sản phẩm.

– HS trình bày, 1 HS ghi vắn tắt nội dung lên bảng (cặp đôi)

– HS lắng nghe, ghi chép, nhận xét, bổ sung

– GV nhận xét, bổ sung, chốt

– Đánh giá sản phẩm, kĩ năng thuyết trình

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tiết 2

 

* GV chiếu yêu cầu:

Hs làm việc cá nhân (ở nhà)

+ Liệt kê các chi tiết, hình ảnh đặc sắc t/g sd để khắc họa sông Hương.

+ Xác định các bpnt.

+ Trình bày cảm nhận của em về vẻ đẹp của sông Hương.

– HS làm việc cặp đôi (tại lớp): đọc bài của bạn, trao đổi, bổ sung, hoàn thiện sản phẩm.

– HS trình bày, 1 HS ghi vắn tắt nội dung lên bảng (cặp đôi)

– HS lắng nghe, ghi chép, nhận xét, bổ sung

– GV nhận xét, bổ sung, chốt

– Đánh giá sản phẩm, kĩ năng thuyết trình

 

 

 

 

 

 

* GV chiếu yêu cầu:

Hs làm việc cá nhân (ở nhà)

+ Liệt kê các chi tiết, hình ảnh đặc sắc t/g sd để khắc họa sông Hương.

+ Xác định các bpnt.

+ Trình bày cảm nhận của em về vẻ đẹp của sông Hương.

– HS làm việc cặp đôi (tại lớp): đọc bài của bạn, trao đổi, bổ sung, hoàn thiện sản phẩm.

– HS trình bày, 1 HS ghi vắn tắt nội dung lên bảng (cặp đôi)

– HS lắng nghe, ghi chép, nhận xét, bổ sung

– GV nhận xét, bổ sung, chốt

– Đánh giá sản phẩm, kĩ năng thuyết trình

 

 

 

a. Sông Hương nhìn từ nguồn cội

+ Nhìn từ cội nguồn: có mối quan hệ sâu sắc với dãy Trường Sơn: như một “bản trường ca của rừng già” với nhiều tiết tấu  trầm bổng.

– Rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn > hùng tráng.

– Mãnh liệt vượt qua ghềnh thác > ào ạt.

– Cuộn xoáy như những cơn lốc vào những đáy vực sâu > dữ dội.

– Dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi của hoa đỗ quyên rừng > nên thơ, tình tứ, mê đắm.

+ Biện pháp nhân hoá: Sông Hương như “cô gái Di – gan phóng khoáng và man dại”, với “bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng” > nữ tính, vừa dịu dàng vừa mãnh liệt hoang sơ >  không chỉ ngắm  nghía “khuôn mặt kinh thành”, nhà văn còn khơi về nguồn cội để khám phá vẻ đẹp tâm hồn thăm thẳm mà chính dòng sông cũng không muốn bộc lộ.

 

 

b. Sông Hương trong mối quan hệ với kinh thành Huế

+ Quan hệ giữa sông Hương và có đô: “người tình mong đợi” >hành trình về cố đô được hình dung như “một cuộc tìm kiếm có ý thức” một người tình trong mộng của người con gái.

+ Hành trình về xuôi tìm “người tình mong đợi”

– Giữa cánh đồng Châu Hoá đầy hoa dại: là “cô gái đẹp ngủ mơ màng” > vẻ đẹp lãng mạn của câu chuyện cổ.

– Khi ra khỏi vùng núi: “chuyển dòng liên tục, vòng những khúc quanh đột ngột’, “vẽ một hình cung thật tròn, ôm lấy chân đồi Thiên Mụ > linh hoạt, rạo rực sức trẻ và sự khao khát.

– Qua Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo: “mềm như tấm lụa”

– Qua những dãy đồi tây nam thành phố: ánh lên “những mảng phản quang nhiều màu sắc” “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”

– Qua lăng tẩm đền đài: “vẻ đẹp trầm mặc nhất” “như triết lí, như cổ thi” > so sánh độc đáo, giàu sức gợi > tả mặt nước phẳng lặng và không gian bờ bãi u tịnh bằng liên tưởng tới triết học, thơ cổ → thấp thoáng hình ảnh một “cái tôi” giàu suy tư.

– Khi gặp tiếng chuông chùa Thiên Mụ: tươi tắn và trẻ trung

* Nhận xét:

– Sông Hương chảy qua nhiều địa danh khác nhau, mỗi địa danh cho thấy bao tầng sâu văn hiến > nhiều dáng vẻ Sông Hương được khám phá ở nhiều góc nhìn.

– Diện mạo: vừa mạnh mẽ vừa dịu dàng.

– Bút pháp: kể và tả, sự liệt kê được thơ hoá bằng cảm thụ tài hoa, tinh tế.

 

 

 

 

c. Sông Hương trong lòng thành phố Huế

– Giữa những biền bãi xanh biếc của ngoại ô Kim Long: Vui tươi hẳn lên > tâm trạng của một người đi xa “tìm đúng đường về”, nao nức bồi hồi giữa bờ bãi thân thuộc của quê hương.

– Giáp mặt thành phố ở Cồn Giã Viên: uốn một cánh cung rất nhẹ sang Cồn Hến > làm cho dòng sông mềm hẳn đi, như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu > so sánh lạ, dùng tiếng “vâng” vốn trừu tượng, e ấp, ngập ngừng, ý vị, thiêng liêng trên bờ môi cô gái đang yêu để tả hình dáng mềm mại nơi cánh cung của dòng sông > cái nhìn tình từ, thống nhất, đem lại cho người đọc những khoái cảm thẩm mĩ độc đáo.

– Khám phá: điệu chảy êm đềm, chậm mềm, lặng lẽ, …

– Sông Hương “trong khoảnh khắc trùng lại của sông nước”: người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya > liên tưởng:

• Nền âm nhạc cổ điển Huế: “được sinh thành trên mặt nước của dòng sông này”

• Nguyễn Du và Truyện Kiều > linh hồn, niềm tự hào của quốc văn Việt Nam

d. Khi rời khỏi TP Huế

+ Nỗi lưu luyến khi rời khỏi kinh thành:

– Rời khỏi kinh thành, chếch về hướng chính bắc.

– Sực nhớ điều gì chưa kịp nói > đột ngột đổi dòng dể gặp lại thành phố lần cuối

– Liên tưởng:

• Rất lạ với tự nhiên và rất giống với con người ở đây > nỗi vương vấn, chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu

• So sánh: sông Hương, kinh thành Huế – nàng Kiều, Kim Trọng; Tấm lòng người dân Châu Hóa xưa mãi mãi chung tình với quê hương xứ sở

→ mượn tình cảm riêng để khái quát mối tình chung, làm cho tình yêu đất, yêu nước trở nên đằm thắm, thiêng liêng, sâu sắc.

 

Từ hình tương sông Hương, GV HD HS tìm hiểu cái tôi trữ tình của tác giả

– Qua hình tượng một dòng sông Hương với những vẻ đẹp đầy ấn tượng, mê đắm lòng người, em hình dung được những gì về nhân vật trữ tình?

 

* Phương án kiểm tra, đánh giá hoạt động và kết quả học tập của học sinh:

– Đánh giá tiến trình thực hiện

– Đánh giá ý thức, thái độ, tinh thần khi thực hiện nhiệm vụ

– Đánh giá kĩ năng hợp tác, khả năng ứng xử trong việc thực hiện

– Đánh giá sản phẩm, kĩ năng thuyết trình

 

e. Cái tôi trữ tình của tác giả

– Cái tôi tài hoa, vốn hiểu biết phong phú

– Cái tôi tinh tế, dạt dào cảm xúc, hướng nội

– Tình yêu, sự gắn bó sâu sắc với xứ Huế

III. Hoạt động thực hành

* Làm việc cá nhân: tìm những chi tiết để làm sáng tỏ những luận điểm sau:

– Cái tôi tài hoa, vốn hiểu biết phong phú

– Cái tôi tinh tế, dạt dào cảm xúc, hướng nội

– Tình yêu, sự gắn bó sâu sắc với xứ Huế

* Thảo luận cặp đôi: trao đổi, bổ sung, hoàn thiện bài viết

* Trình bày sản phẩm

 

 

 

 

– Dẫn chứng trong đoạn trích  thể hiện cái tôi tài hoa, vốn hiểu biết phong phú

– Dẫn chứng trong đoạn trích  thể hiện cái tôi tinh tế, dạt dào cảm xúc, hướng nội

– Dẫn chứng trong đoạn trích  thể hiện tình yêu, sự gắn bó sâu sắc với xứ Huế

 

IV. Hoạt động vận dụng/mở rộng (hoạt động ở nhà)

– Đọc toàn bộ tác phẩm

– HS sưu tầm thêm một số tài liệu về TP/ Đọc tài liệu GV giới thiệu.

– Sưu tầm đề, đáp án, biểu điểm

– Chọn 1 đề bài, viết thành bài văn hoàn chỉnh.

4. Vận dụng/mở rộng

 

– Đọc toàn bộ tác phẩm

– Sưu tầm thêm một số tài liệu về TP/ Đọc tài liệu GV giới thiệu.

 

– Sưu tầm đề, đáp án, biểu điểm

– Chọn 1 đề bài, viết thành bài văn hoàn chỉnh.

Hướng dẫn học bài

a/ Bài cũ

– Đọc toàn bộ tác phẩm

– Sưu tầm thêm một số tài liệu về TP/ Đọc tài liệu GV giới thiệu.

– Sưu tầm đề, đáp án, biểu điểm

– Chọn 1 đề bài, viết thành bài văn hoàn chỉnh.

b/ Bài mới

– Đọc trước và soạn bài “….” theo câu hỏi SGK

– Chuẩn bị ….

– Giờ sau chúng ta học bài….

Giáo án sưu tầm

Xem thêm : Giáo án ngữ văn 12

Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về Ai đã đặt tên cho dòng sông

 

SKKN: Một số phương pháp về việc giảng dạy tác phẩm kí hiện đại Việt Nam

Sáng kiến kinh nghiệm môn văn

Đề tài: Một số phương pháp về việc giảng dạy tác phẩm kí hiện đại Việt Nam (chương trình Ngữ văn 12, ban cơ bản)

A; Lý do chọn đề tài

B; Thực trạng trước khi chọn đề tài

I; Thuận lợi

II; Khó khăn

C; Nội dung đề tài

I; Cơ sở lý luận

II; Nội dung và phương pháp thực hiện

1; Nội dung

1.1; Khái quát về thể kí

1.2; Những đặc điểm cơ bản của kí Hoàng Phủ Ngọc Tường

1.3; Những đặc điểm cơ bản của tùy bút (kí) Nguyễn Tuân

2; Một số phương pháp về việc giảng dạy tác phẩm kí hiện đại Việt Nam (Chương trình Ngữ văn 12, ban cơ bản)

2.1; Về phương pháp

2.1.1; Dạy học tác phẩm theo đặc trưng thể loại

2.1.2; Rèn luyện phương pháp đọc – hiểu cho học sinh

2.1.3; Sử dụng phương pháp bản đồ tư duy

2.2; Giáo án tiết dạy thực nghiệm

D; Hiệu quả do sáng kiến đem lại

E; Kết luận

G; Cam kết không sao chép và vi phạm bản quyền

Tư liệu tham khảo 

A; LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

– Để đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới, ngành giáo dục đã có những bước tiến khả quan trong cải cách giáo dục, đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy ở các cấp phù hợp với mục tiêu giáo dục, đào tạo. Thông qua các hội nghị chuyên đề môn Ngữ văn được Sở giáo dục , nhà trường tổ chức hàng năm, chúng tôi đã trao đổi, rút kinh nghiệm về đổi mới phương pháp dạy học. Nghị quyết hội nghị trung ương 8 khóa XI nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại, phát huy tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học, khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực, chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học”.

Một trong những bài học khó của chương trình Ngữ văn ở trường phổ thông là: Các văn bản học như thơ ca, truyện ngắn, kịch và kí, trong khuôn khổ hạn hẹp, sách giáo khoa không thể trích toàn bộ văn bản văn học mà có chỗ đã lược bỏ (hoặc mỗi tác giả chỉ học một tác phẩm), phần chú thích nhiều khi không đầy đủ, điều đó gây khó khăn cho học sinh khi tiếp cận văn bản văn học ấy (hoặc phong cách sáng tác của tác giả ấy), nhất là đối với thể loại kí nói chung, kí hiện đại nói riêng. Trong bài viết này, tôi xin nêu ra một số ý kiến cùng trao đổi với đồng nghiệp về “Một số phương pháp dạy tác phẩm ký hiện đại Việt Nam” trong chương trình Ngữ văn 12 (ban cơ bản)

B; THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI CHỌN ĐỀ TÀI

I; Thuận lợi

– Trong sách giáo khoa ngữ văn 12 (ban cơ bản), có 2 tác phẩm chính khóa thuộc thể loại ký, đó là: “Người lái đò Sông Đà” của tác giả Nguyễn Tuân, “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường. Thông thường ta vẫn gọi “Người lái đò Sông Đà” của tác giả Nguyễn Tuân là tùy bút, “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường là bút kí. Do vậy thể loại kí dùng để chỉ chung cho cả tùy bút và bút kí. Đây là 2 tác phẩm hay trong chương trình, hơn nữa thể loại này các em học sinh đã được học ở lớp 11 “Thượng kinh kí sự” của Lê Hữu Trác, đọc thêm “Vũ trung tùy bút” của Phạm Đình Hổ. Vì vậy khi tiếp cận với 2 tác phẩm thuộc thể loại này, các em học sinh gặp nhiều thuận lợi trong việc đọc hiểu tác phẩm hơn.

II; Khó khăn

– Thực trạng cho thấy nhu cầu xã hội hiện nay, trào lưu học sinh dự thi vào các trường đại học thường chọn các môn tự nhiên như Toán, Lý, Hóa, Sinh (như học sinh các lớp 12A1,2,3,4 của trường THPT Trực Ninh) nên với môn Ngữ văn, các em không chú ý đầu tư học tập, không có hứng thú học tập. Vì lý do đó thầy cô cũng mất đi niềm say mê truyền đạt kiến thức cho học sinh. Trong các tác phẩm là truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ thì việc truyền đạt tương đối thoải mái và các thầy cô cũng có những cảm hứng để truyền đạt, bởi vì những thể loại này “chất văn” “chất thơ” phong phú, đã làm cho thầy cô ít nhiều làm tốt được công việc của mình. Nhưng riêng đối với tác phẩm văn học viết theo thể loại kí thì ngược lại. Vì lẽ việc giảng dạy ký đòi hỏi người dạy phải bám chắc đặc điểm cơ bản của thể loại kí, đó là tính xác thực. Tác phẩm kí thường không hư cấu mà tác giả chỉ lựa chọn ngay những sự việc, những con người vốn đã có giá trị nổi bật trong cuộc sống để phóng bút. Nếu thầy cô chỉ thỏa mãn với kiến thức có sẵn trong bài văn thì khó mà giảng hay được, dẫn đến giờ học bài kí muôn thuở vẫn khô khan, học sinh khó tiếp nhận được văn bản. Vì thế, chúng ta có thể nói rằng: Giảng dạy một tác phẩm kí là sự khó khăn, vất vả, công phu đối với giáo viên.

– Cả 2 tác phẩm “Người lái đò Sông Đà” và “Ai đã đặt tên cho dòng sông” là 2 tác phẩm kí dài, sách giáo khoa đã lược bớt nội dung ở một số đoạn văn, điều đó lại gây khó cho học sinh khi tiếp cận văn bản. Thời lượng số tiết dạy chính khóa cho 2 tác phẩm này ít (4 tiết), một số học sinh chưa quen phương pháp học mới, nhất là việc tự học, làm việc theo nhóm, thảo luận, thuyết trình, tìm tư liệu ở các nguồn, báo chí, intơnet…, một số học sinh còn thụ động, thiếu nhiệt tình, ỷ lại vào các thầy cô…

– Từ thuận lợi và khó khăn trên, tôi mạnh dạn đưa ra một vài phương pháp về việc dạy tác phẩm kí hiện đại Việt Nam trong chương trình Ngữ văn lớp 12, ban cơ bản, mà cụ thể là 2 tác phẩm “Người lái đò Sông Đà” của tác giả Nguyễn Tuân, “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường.

C; NỘI DUNG ĐỀ TÀI

I; Cơ sở lý luận

Nghị quyết số 40/2000/QH 10, ngày 09 tháng 12 năm 2000 của Quốc hội khóa X đổi mới về chương trình giáo dục phổ thông đã khẳng định, mục tiêu của chương trình đổi mới giáo dục phổ thông lần này là “xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ thông mới, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình độ phổ thông các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới” . Văn bản đồng thời yêu cầu “đổi mới chương trình giáo dục phổ thông phải quán triệt mục tiêu, yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục của các bậc học, cấp học quy định trong luật giáo dục, nhằm khắc phục những hạn chế của chương trình, sách giáo khoa; tăng cường thực tiễn, kỹ năng thực hành, năng lực tự học, coi trọng kiến thức xã hội nhân văn; bổ sung những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại, phù hợp với khả năng tiếp thu của học sinh. Bảo đảm sự thống nhất kế thừa và phát triển của chương trình giáo dục”. Xét thấy việc đổi mới nội dung, chương trình sách giáo khoa, phương pháp dạy và học, phải thực hiện đông bộ với việc nâng cấp, đổi mới trang thiết bị dạy học, đánh giá, thi cấp, đổi mới trang thiết bị dạy học, đánh giá thi cử. Đứng trước yêu cầu trên, là một giáo viên môn Ngữ văn, tôi có những suy nghĩ là làm sao để giờ học phải  thực sự hấp dẫn, học sinh nắm vững bài học, thỏa mãn nhu cầu tình cảm, tâm hồn, phát triển trí tuệ học sinh, biết cảm thụ được cái hay, cái đẹp, giá trị của mỗi tác phẩm văn học. Trên cơ sở đó, tôi xin đưa ra một số ý kiến để cùng chia sẻ, bàn bạc, trao đổi về việc dạy tác phẩm kí hiện đại Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 12 (ban cơ bản), mà cụ thể là 2 tái phẩm; đọc hiểu văn bản chính khóa: “Người lái đò Sông Đà” của nhà văn Nguyễn Tuân và “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường.

II; Nội dung và những phương pháp về việc giảng dạy kí hiện đại Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 12 (ban cơ bản)

1; Nội dung

1.1; Khái quát về thể kí

Kí là một loại văn xuôi tự sự, có nguồn gốc từ kí lịch sử, dùng để ghi chép về con người, sự vật, phong cảnh…kí bao gồm nhiều thể như: Bút kí, hồi kí, du kí, phóng sự, kí sự, nhật kí, tùy bút…

Trong văn học cổ phương Đông, thể kí vốn có mặt từ thời kỳ tiền Tần và về sau phân thành 2 nhánh: có kí của sử và kí của truyện. Trong một thời gian khá dài thì kí là tiền thân của tiểu thuyết, có khi tên gọi kí cũng dùng cho tiểu thuyết hay một câu chuyện có kịch tính như Tây du kí, Tây sương kí…

Trong nền văn học Việt Nam, kí có từ rất lâu đời, nhưng phải đến thế kỉ XVII, đặc biệt là từ thế kỷ XIX, khi đời sống các dân tộc ngày càng phát triển nâng cao, khi kỹ nghệ in ấn và báo chí phát triển, khi văn học cũng đã thâm nhập vào các lĩnh vực hoạt động tinh thần khác của xã hội và nhà văn có ý thức tham gia vào các cuộc đấu tranh xã hội, kí mới thực sự phát triển và là thể loại phức tạp nhất trong văn xuôi tự sự thời trung đại.

Kí có những đặc trưng cơ bản sau:

– Kí viết về cuộc đời thực tại, viết về người thật, việc thật, kí đòi hỏi sự trung thực, chính xác. Người viết kí thường quan tâm, tôn trọng những sự kiện xã hội lịch sử, những vấn đề nóng bỏng đang đặt ra trong đời sống. Người viết kí miêu tả thực tại tinh thần của sử học. Mẫu hình tác giả kí gần gũi với nhà sử học. Tác giả kí coi trọng việc thuật lại có ngọn ngành, có thời gian, địa điểm, hành động và không bao giờ quên miêu tả khung cảnh gợi không khí.

– Tác giả kí khéo sử dụng tài liệu đời sống kết hợp với tư tưởng, cảm thụ, nhận xét, đánh giá. Tất nhiên đan xen vào mạch tự sự con có những đoạn thể hiện suy tưởng nhận xét chân thực, tường minh của nhà văn trước sự việc. cái thú vị của kí là những ý riêng, suy nghĩ riêng của tác giả được đan cài với việc tái hiện đối tượng.  Vì vậy sức hấp dẫn của kí là khả năng tái hiện sự thật một cách sinh động của tác giả. Kí chấp nhận sự hư cấu, do đó phải dựa vào những liên tưởng, tưởng tượng bất ngờ, tài hoa của tác giả khi phản ánh sự vật, cuộc sống. Điều đó làm nên cái đẹp của tác phẩm kí.

– Nổi bật lên trong tác phẩm kí chính là chất chủ quan, chất trữ tình sâu đậm của cái tôi tác giả. Cho nên sức hấp dẫn của kí còn phụ thuộc vào sức hấp dẫn của cái tôi ấy (thường là những cái tôi phong phú, uyên bác, tài hoa, độc đáo…)

1.2; Những đặc điểm cơ bản của kí Hoàng Phủ Ngọc Tường

– Kí Hoàng Phủ Ngọc Tường bộc lộ một trí tuệ sắc sảo, uyên bác: Nhà văn hiểu tường tận những gì mà mình viết. Kí Hoàng Phủ Ngọc Tường giàu lượng thông tin, đọc tác phẩm của ông, người đọc được tiếp xúc với một kho kiến thức phong phú. Nhà văn hiểu sâu sắc về văn hóa, triết học, lịch sử, địa lý, âm nhạc, điện ảnh, văn chương nghệ thuật…

– Kí Hoàng Phủ Ngọc Tường thiên về tùy bút. Đọc những trang kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường cảm nhận về thể kí có sự thay đổi thú vị. Thể loại chuyên ghi chép các sự kiện xác thực qua ngòi bút Hoàng Phủ Ngọc Tường lại thấm đẫm chất trầm tư, trữ tình như: “Ai đã đặt tên cho dòng sông”, “Hoa trái quanh tôi”…chính là sản phẩm của một phong cách kí độc đáo, với những trang viết vừa trí tuệ, vừa nặng trĩu trầm tư.

– Kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường có chất tự do, tản mạn. Sự kiện đôi khi chỉ là cái cớ để nhà văn bộc lộ những cảm xúc, suy nghĩ chủ quan của mình. Cách tổ chức văn bản mang tính nghệ thuật cao, văn phong giàu chất thơ, hình ảnh gợi cảm. “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là một trong những bút kí mang đậm dấu ấn phong cách Hoàng Phủ Ngọc Tường.

– Xuyên suốt các tác phẩm kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường là lòng yêu quê hương đất nước, là tâm huyết với tinh hoa dân tộc. Ông luôn gắn cái đẹp, gắn nghệ thuật với những truyền thống văn hóa dân tộc. Những mẩu kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường, dù viết về vùng nào, dù viết về những năm tháng chiến tranh hay cuộc sống đương đại, đều lấp lánh niềm tự hào về những nét đẹp của quê hương đất nước. Viết về vùng đất Mũi, nhà văn truyền cho người đọc niềm vui sướng tự hào về “món quà tặng của biển cả dành cho đất nước ta” (Rừng nước mặn). Viết về Lạng Sơn bằng những con chữ lóng lánh tài hoa, nhà văn thổi vào người đọc hương thơm nhẹ nhàng quyến rũ của cây hồi “nó thân thiết và mơ hồ như một kỉ niệm” (Rừng hồi). Viết về Huế, Hoàng Phủ Ngọc Tường lại đưa người đọc về vùng đất cố đô trầm mặc, thơ mộng với những khu vườn xanh, thiên nhiên xanh, dòng sông xanh (Ai đã đặt tên cho dòng sông?).

1.3; Những đặc điểm cơ bản của tùy bút (kí) Nguyễn Tuân

– “Người lái đò Sông Đà” mang đặc điểm phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân. Nguyễn Tuân là người đã đóng dấu “cái tôi độc tấu” của ông lên thể loại tùy bút. Ông là nhà văn đem đến cho tùy bút những phẩm chất nghệ thuật mới theo cách nói vui vui của ông: Tùy bút là tùy vào bút mà viết, tùy bút của ông có những đặc điểm in đậm cá tính sáng tạo và phong cách nghệ thuật của ông. Vì vậy, khi giảng dạy tác phẩm, thầy cô giáo cần lưu ý một số đặc điểm sau về tùy bút của nhà văn:

+ Tùy bút của Nguyễn Tuân có nhiều yếu tố truyện. Nguyễn Tuân bén duyên với truyện trước, sau đó mới gặp gỡ với tùy bút. Vì vậy truyện ngắn của ông xen chất tùy bút và tùy bút lại pha chất truyện ngắn. Tùy bút của ông thường phát huy sức mạnh của trí tưởng tượng, liên tưởng, so sánh để dựng cảnh, dựng truyện, có mô tả tâm lý, khắc họa tính cách nhân vật ở một chừng mực nhất định.

+ Tùy bút của Nguyễn Tuân rất đậm chất kí. Ghi chép sự thật và thông tin thời sự, chính xác, đó là nét riêng của tùy bút Nguyễn Tuân. Cũng do quan niệm đi, sống và viết, xê dịch nên tùy bút của ông pha chút du kí, kí sự hay phóng sự điều tra. Chính nét riêng này khiến tùy bút của ông có lượng thông tin đáng tin cậy và có nhiều giá trị tư liệu.

+ Tùy bút của Nguyễn Tuân giàu tính trữ tình. Những trang tùy bút của Nguyễn Tuân giàu tính cảm xúc, lắng thấm những cảm nghĩ của ông, thông qua cái “tôi” chủ quan của ông mà phản ánh hiện thực cuộc sống.

+ Tùy bút của Nguyễn Tuân đúng nghĩa tự do về phép tắc. Tùy bút là một tác phẩm tự sự có kết cấu lỏng lẻo, nhưng không buông tuồng dễ dãi. Ở tùy bút của Nguyễn Tuân, mạch văn cứ theo dòng suy nghĩ mà tràn chảy miên man từ truyện nọ tạt sang truyện kia. Nhà văn cứ theo hứng bút, cứ nhởn nhơ theo trí nhớ bông lông, theo năng lực cảm thụ cái đẹp rất tài hoa nghệ sĩ của mình mà liên tưởng so sánh, tạo những bước nhảy vọt bất ngờ của ý tứ, của hình ảnh, nhưng không chệch ra ngoài vẻ đẹp độc đáo của nghệ thuật.

+ Tùy bút của Nguyễn Tuân có phẩm chất văn chương qua sự tìm tòi sáng tạo về cách diễn ý, tả cảnh, đặt câu, dùng từ. Văn tùy bút của Nguyễn Tuân là cả một kho tu từ đầy ắp và thú vị những ví von, ẩn dụ, hoán dụ, tượng trưng. Nhà văn tả cảnh theo sự thay đổi cảm giác rất tinh tế “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử…hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích thuở xưa” (Người lái đò Sông Đà). Câu văn tùy bút của Nguyễn Tuân có kiến trúc đa dạng, giàu nhạc tính.

+ Tùy bút của Nguyễn Tuân là sự kết tinh tài hoa và uyên bác, khi tập trung miêu tả con Sông Đà bằng sự huy động vốn liếng tri thức chuyên môn cực kỳ giàu có của nhiều ngành văn hóa nghệ thuật khác nhau (sử học, địa lí học, quân sự, tri thức về võ thuật, nghệ thuật văn chương, hội họa, điêu khắc âm nhạc, điện ảnh…). Và một khi đã miêu tả thì ông tả đến cùng sự vật hiện tượng, đúng là tả đến “Sơn cùng thủy tận”, uống rượu cả cấn “Dĩ tận vi độ”.

* Những đặc trưng cơ bản trên đây của các tác phẩm kí sẽ là điểm tựa cho thầy cô giáo trong việc giảng dạy tác phẩm kí hiện đại Việt Nam.

2; Một số phương pháp về việc giảng dạy kí hiện đại Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 12 (ban cơ bản) qua 2 tác phẩm “Người lái đò Sông Đà” của nhà văn Nguyễn Tuân và “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường.

2.1; Về phương pháp

Do đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh là những bạn đọc còn hạn chế về vốn sống, kinh nghiệm thực tế nhưng lại có khả năng rung động và có cảm xúc đặc biệt với tác phẩm văn học. Vì vậy vai trò của thầy cô giáo là phải bổ sung, bồi dưỡng vốn sống, phát triển các năng lực cảm thụ cho học sinh và hướng dẫn họ đến với tác phẩm văn học một cách đúng nhất, gần nhất. Để làm được nhiệm vụ cao quý và nặng nề này, thầy cô giáo cần có những phương pháp thích hợp, đồng thời phải biết cách sử dụng phối hợp các phương pháp phân tích tác phẩm một cách nhuần nhuyễn nhất, nhằm giúp học sinh vừa nắm bắt tri thức, vừa nắm bắt phương pháp học tập nghiên cứu.

2.1.1; Dạy học tác phẩm theo đặc trưng thể loại.

Chú ý đến đặc trưng của thể loại vừa là một yêu cầu vừa là một nguyên tắc của quá trình phân tích và giảng dạy tác phẩm văn học. Với thể loại kí, việc tìm hiểu đặc trưng thể loại lại càng có ý nghĩa quan trọng hơn. Nắm vững và bám sát vào đặc trưng của thể kí, người đọc sẽ khám phá được cái hay, cái đẹp của tác phẩm. Qua thực tế giảng dạy, tôi rút ra một số kinh nghiệm cơ bản khi dạy 2 tác phẩm “Người lái đò Sông Đà” của nhà văn Nguyễn Tuân và “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường như sau:

2.1.1.1; Cho học sinh phát hiện ra nét tương đồng và khác biệt của đối tượng được tác giả phản ánh trong 2 tác phẩm kí so với đối tượng tương tự có thật ở ngoài đời. Vì kí viết về sự thật, người thật, việc thật nên đòi hỏi phải chính xác, trung thực. Việc này là rất cần thiết.

– Sông Đà và sông Hương khi đi vào 2 tác phẩm của Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường đã trở thành đối tượng thẩm mỹ của nhà văn. Con sông Đà nếu chỉ được Nguyễn Tuân ghi chép bằng những số liệu đơn thuần như một nhà địa lý (tên khai sinh, độ dài…) thì cái phần hồn hung bạo và thơ mộng của nó sẽ không được phát hiện. Dòng sông Hương của xứ Huế thơ mộng cũng vậy. Nếu Hoàng Phủ Ngọc Tường chỉ ghi lại các khúc đoạn trong dòng chảy của nó từ thượng nguồn về với Huế không thôi thì sẽ không có gì hấp dẫn, mà cái hấp dẫn chính là ở chỗ tác giả tưởng tượng sông Hương như một con người có số phận, có tâm hồn (cô gái Digan) có hành động cụ thể dưới những điểm nhìn khám phá khác nhau. Khi thì sông Hương như một cô gái mang trong mình tình yêu tha thiết với thành phố Huế, khi lại là một người mẹ sản sinh cho xứ Huế những giá trị văn hóa truyền thống cùng âm nhạc, thi ca, khi lại là một nhận chứng của lịch sử đầy oai hùng hiển hách.

2.1.1.2; Học sinh phát hiện và đánh giá óc quan sát, trí liên tưởng, tưởng tượng năng lực sử dụng ngôn ngữ của 2 nhà văn.

Sức hấp dẫn của kí chính là ở khả năng tái hiện sự thật một cách sinh động của tác giả. Nếu chỉ đơn thuần là ghi chép thì tác phẩm kí hết sức khô khan không gây được ấn tượng với người đọc. Ở đây Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường đều rất “tài hoa”, luôn nhìn cuộc sống, sự vật, con người ở phương diện, góc độ văn hóa thẩm mỹ, nên phát hiện ra nhiều vẻ đẹp của hiện thực cuộc sống. Đồng thời cả 2 nhà văn cũng rất “uyên bác”: hiểu biết sâu rộng nhiều lĩnh vực, nhiều ngành và có thể cung cấp, đóng góp, lí giải những kiến thức đó cho người khác.

– Với tác phẩm “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân

+ Khi khám phá vẻ đẹp hung bạo của con sông, Nguyễn Tuân đã vận dụng tri thức của nhiều ngành để miêu tả tính cách của con sông mà ông gọi là “loài thủy quái khổng lồ” là “kẻ thù số một” của con người. Nhà văn đã huy động vốn kiến thức của điện ảnh, hội họa, kiến trúc, điêu khắc, thậm chí cả lĩnh vực quân sự, võ thuật, thể thao để miêu tả thác nước, hút nước và những hòn đá, tảng đá trên sông Đà mà nó đã bày sẵn những thạch trận trên sông nước để chờ “ăn chết cái thuyền nào qua đấy”.

Như vậy, nhờ vào khả năng sử dụng ngôn ngữ liên ngành và trí tưởng tượng tài hoa của tác giả, học sinh vừa hiểu được đặc điểm thực của sông Đà, vừa bị cuốn hút vào tài năng miêu tả của Nguyễn Tuân.

+ Khi khám phá vẻ thơ mộng, trữ tình của con sông, lại cần phát hiện ra sự thay đổi, di chuyển điểm nhìn và cách miêu tả. Dòng sông ấy được chiêm ngưỡng từ trên cao nhìn xuống. Hình dáng con sông Đà được ví như một “sợi dây thừng ngoằn ngoèo” và dễ thương, đáng yêu biết bao, qua phép so sánh liên tưởng độc đáo “sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình”. Đó là cái dáng mềm mại nên thơ như một người phụ nữ kiều diễm đang làm duyên trước trùng điệp thiên nhiên Tây Bắc…sông Đà không còn là kẻ thù của con người nữa mà đã là một “cố nhân, tình nhân” đầy nỗi niềm lâu ngày gặp lại. Cảm nhận sông Đà ở vẻ đẹp trữ tình, nhà văn còn quan sát nước sông Đà thay đổi theo mùa, của bờ bãi hoang sơ, của mặt nước lặng yên như tờ, hay của đàn hươu thơ ngộ ngẩng đầu ngốn búp cỏ non.

+ Với hình tượng ông lái đò: Nhân vật này không được khắc họa thành số phận như trong tác phẩm tự sự. Thực ra đó chỉ là một khoảnh khắc trên sông nước để qua đó Nguyễn Tuân tôn vinh con người lao động trong thời kỳ mới – thời kỳ miền Bắc xây dựng Chủ nghĩa xã hội. Để chứng minh tài nghệ của ông đò, tác giả đã hư cấu một cuộc vượt thác sông Đà có một không hai để thấy được “tay lái ra hoa” của một người nghệ sĩ có tâm hồn cao thượng, một phong thái ung dung tự tại, một trí thông minh lão luyện và lòng dũng cảm được tôi luyện trong lao động và chiến đấu. Viết ông lái đò cũng là cách Nguyễn Tuân tôn vinh vẻ đẹp của con người lao động bình thường, giản dị nhưng phi thường trong nghề nghiệp, đó là chất “vàng mười” mà Nguyễn Tuân suốt đời đi tìm cái đẹp đó.

– Với tác phẩm “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường Ở Hoàng Phủ Ngọc Tường, ông huy động nguồn tri thức phong phú thuộc các lĩnh vực địa lí, lịch sử, văn hóa để xây dựng một hình tượng sông Hương.

+ Vẻ đẹp thiên nhiên của sông Hương là kết quả của những tri thức địa lí và khả năng quan sát sắc sảo của người trần thuật.

  • Ở thượng nguồn: Sông Hương mang vẻ đẹp hùng vĩ “chảy rầm rộ…”, sông Hương “phóng khoáng và man dại” như một con người có “bản lĩnh gan dạ…”
  • Ra khỏi đại ngàn, sông Hương chuyển dòng, sông Hương giấu kín cuộc hành trình gian truân giữa lòng Trường Sơn, nhà văn đã sử dụng biện pháp nhân hóa để biến sông Hương từ một cô gái Digan thành “người gái đẹp nằm mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại…”
  • Ra khỏi vùng núi, sông Hương trở nên dịu dàng “uốn mình theo những đường cong thật mềm”… “dòng sông mềm như tấm lụa…” ở chặng này, sông Hương trở thành “người mẹ phù sa” mang “vẻ đẹp dịu dàng và trí tuệ”.
  • Giữa lòng thành phố Huế, dòng sông trở nên tĩnh lặng, trôi thật chậm in bóng cầu Tràng Tiền trông “nhỏ nhắn như những vành trăng non” “uốn một cánh cung rất nhẹ”. Dòng sông như “vui tươi hẳn lên” và đặc biệt chậm rãi, êm dịu mềm mại…dòng sông như “một tiếng vâng không nói ra của tình yêu”.
  • Trước khi rời khỏi thành phố thân yêu, sông Hương lưu luyến mà nhà văn đã ví sự “dùng dằng” của sông Hương như nàng Kiều “chí tình trở lại tìm Kim Trọng của nó, để nói một lời thề trước khi về biển cả”. Đây đúng là một phát hiện, một liên tưởng thú vị, độc đáo và đậm màu sắc văn chương của tác giả về dòng sông thân thương của xứ Huế.

+ Từ góc nhìn văn hóa:

Vẻ đẹp văn hóa của sông Hương là kết quả của những tri thức văn hóa về một thành phố, từng là cố đô. Sông Hương tự bản thân nó đã mang những phẩm chất văn hóa độc đáo. Nhà văn có sự liên tưởng độc đáo khi cho rằng toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế được sinh thành trên mặt nước dòng sông này. Và hơn hết dòng sông thi ca và âm nhạc ấy là nguồn cảm hứng bất tận của nghệ thuật. Sông Hương không bao giờ tự lặp lại trong cảm hứng của các nghệ sĩ.

+ Từ góc nhìn lịch sử:

Vẻ đẹp lịch sử của sông Hương là kết quả của những tri thức về lịch sử, sông Hương gắn với lịch sử anh hùng của xứ Huế, của đất nước…sông Hương gắn với dòng sông thiêng Linh Giang oai hùng một thuở, gắn với thế kỷ XVIII với người anh hùng áo vải Quang Trung, gắn với cách mạng tháng Tám hào hùng bi tráng, gắn với Mậu Thân rung chuyển cả miền Nam. Sông Hương là một minh chứng của lịch sử từ thời cổ đại, qua trung đại đến hiện đại.

* Thế đấy, sông Hương của Hoàng Phủ Ngọc Tường không đơn thuần chỉ là một dòng chảy của quê hương, nó còn là dòng sông của lịch sử, của văn hóa, của tình yêu Huế và con người nơi đây.

2.1.1.3; Học sinh phát hiện được đặc điểm của “cái tôi” tác giả trong mỗi bài kí.

Nổi bật lên trong tác phẩm kí chính là tính chủ quan, chất trữ tình sâu đậm của cái tôi tác giả. Cho nên sức hấp dẫn của kí còn phụ thuộc vào sức hấp dẫn của cái tôi ấy (thường là những cái tôi phong phú, uyên bác, tài hoa, độc đáo)

“Cái tôi” của Nguyễn Tuân trong “Người lái đò sông Đà”.

Sở dĩ Nguyễn Tuân tìm đến và thành công với thể tùy bút, bởi vì nó là thể văn phóng túng, tự do, đáp ứng được cá tính “ngông” trên trang viết của Nguyễn Tuân. Là nhà văn có phong cách nghệ thuật đặc sắc Nguyễn Tuân hấp dẫn người đọc bởi “cái tôi” độc đáo, sự tài hoa, uyên bác, giác quan sắc nhọn, tinh tế, nghệ thuật sử dụng ngôn từ điêu luyện, giàu hình ảnh, cảm xúc. Sức hấp dẫn của ngòi bút Nguyễn Tuân trong tác phẩm “Người lái đò sông Đà” là ở sự độc đáo, sự giàu có về chữ nghĩa, sự công phu trong quan sát và lựa chọn ngôn từ…

+ Đó là một cái tôi tài hoa: Luôn nhình cuộc sống, sự vật, con người ở phương diện, góc độ văn hóa thẩm mỹ nên phát hiện ra nhiều vẻ đẹp hùng vĩ và mỹ lệ của thiên nhiên, đất nước. Với đôi mắt của nhà văn suốt đời “duy mĩ”, Nguyễn Tuân đã nhìn sông Đà ở góc độ thẩm mỹ để phát hiện ra vẻ đẹp trữ tình của con sông: Sông Đà được ông ví như một người con gái đẹp kiều diễm với “áng tóc mun ngàn ngàn vạn vạn sải” với màu sắc của nước sông Đà thay đổi theo mùa, sông Đà gợi cảm, sông Đà “hoang dại như một bờ tiền sử, bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”. Không chỉ nhìn cảnh vật ở điểm nhìn văn hóa thẩm mỹ, Nguyễn Tuân còn nhìn người lái đò ở góc độ nghệ sĩ để phát hiện ra tài năng trong nghệ thuật vượt thác leo ghềnh, khi đã nắm chắc được “binh pháp” của thần sông, thần đá “thuộc lòng các luồng sinh tử” của các con thác dữ nên chủ động trong mọi tình huống, có thể lái con thuyền vút vút qua hàng trăm ghềnh đá ngổn ngang hiểm hóc và Nguyễn Tuân đã gọi đó là “tay lái ra hoa” của một người nghệ sĩ có tâm hồn cao thượng, một phong thái ung dung, tự tại, một trí thông minh lão luyện và lòng dũng cảm được tôi luyện trong lao động và chiến đấu.

+ Ở Nguyễn Tuân còn là một cái tôi “uyên bác”: “Uyên bác” là sự hiểu biết sâu rộng nhiều lĩnh vực, nhiều ngành nghệ thuật và có thể cung cấp, đóng góp, lý giải những kiến thức đó cho người khác.

  • Trong tác phẩm ông hay vận dụng những tri thức của rất nhiều ngành nghệ thuật, thậm chí cả những ngành không liên quan gì đến nghệ thuật để miêu tả, khám phá hiện thực. Nó có tác dụng làm cho người đọc nhìn nhận hiện thực ở nhiều góc độ và cung cấp cho người đọc một lượng thông tin hết sức phong phú ngoài văn chương.
  • Chẳng hạn, ông mô tả cái hút nước khủng khiếp của sông Đà bằng kỹ thuật phim ảnh “tôi sợ hãi mà nghĩ đến một anh bạn quay phim táo tợn nào muốn truyền cảm giác lạ cho khán giả…” nhà văn còn sử dụng tri thức của quân sự, võ thuật để miêu tả nước, đá ở sông Đà: Nào là cửa sinh, của tử, đánh khuýp vu hồi, đánh du kích, phục kích, đánh giáp lá cà, nào là đòn tỉa, đòn âm, đá trái, thúc gối, túm thắt lưng…
  • Ngoài ra nhà văn còn vận dụng những tri thức của nhiều bộ môn khoa học trong tác phẩm của mình, một vốn văn hóa phong phú, lịch lãm hiếm thấy, làm cho bài tùy bút của ông có giá trị văn hóa cao. Tác phẩm “Người lái đò sông Đà” đã giúp người đọc hiểu được rất nhiều điều bổ ích về lịch sử, địa lí sông Đà, về lịch sử cách mạng xung quanh con sông này, về địa hình địa thế của nó, về những con thác đủ loại, về các tài nguyên đất nước vùng sông Đà, về những bài thơ của Nguyễn Quang Bích, Tản Đà…về con sông miền Tây của Tổ quốc này.

* Ở “Người lái đò sông Đà”, lâu nay người ta chỉ quen thấy một cái tôi tài hoa, uyên bác. Nhưng rõ ràng thông qua cái tôi ấy, người đọc còn nhận thấy được tác phẩm còn là cảm hứng ngợi ca đầy say mê của một con người yêu tha thiết vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước, con người như Nguyễn Tuân – suốt đời đi tìm cái đẹp, cái đẹp của một cây bút tài hoa độc đáo…

“Cái tôi” trong “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường

+ Cái tôi say mê kiếm tìm cái đẹp, dạt dào cảm xúc và luôn gắn bó với thiên nhiên.

  • Trong kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”, cái tôi tác giả gắn kết, hòa nhập thật sự với sông nước, trời mây, cây cỏ, ngàn thông. Những trang kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường mang đến cho người đọc những miền không gian xanh thắm, ẩn chìm những viết trầm tích văn hóa từ thiên nhiên. Sự hòa nhập với thiên nhiên khiến nhà văn đã viết lên những trang văn vừa giàu lượng thông tin, vừa mượt mà, đẹp như một bài thơ.
  • Thiên nhiên trong kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường chính là phiên bản tâm hồn của nhà văn. Sông Hương trong thơ ông không chỉ là biểu tượng của thiên nhiên thuần khiết mà còn lấp lánh chất nhân văn của một triết lí sống. Cái tôi có lúc thoát hẳn sự ràng buộc của bản thể để hoà nhập vào sông nước.
  • Cảm xúc vô cùng phong phú, có khi nó được bộc lộ trực tiếp với các trạng thái nội tâm: vừa thích thú, vừa lãng đãng, miên man trong vẻ đẹp của dòng sông đang đổi sắc không ngừng “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím” hay cái điệu chảy “như một điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế” trong trăm nghìn ánh hoa đăng…có khi cảm xúc yêu thương da diết với xứ Huế lại được bộc lộ dán tiếp trong cuộc hành trình lặng lẽ với rất nhiều những tìm kiếm và phát hiện: ngỡ ngàng nhận ra điểm tương đồng giữa con sông và con người ở “nỗi vương vấn và chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu”, đồng thời cùng hoài niệm đến khắc khoải khi phát hiện ra một sắc màu xưa cũ của chiếc áo cưới ở Huế ngày xưa, rất xưa “màu áo lục điều…”
  • Rõ ràng Hoàng Phủ Ngọc Tường đã đem tình yêu đằm thắm lắng sâu và những cảm xúc sôi nổi say sưa phổ vào trang viết để rồi mỗi dòng văn như một nốt nhạc, bản đàn để tôn vinh vẻ đẹp của sông Hương.

+ Cái tôi yêu quê hương đất nước hướng về cội nguồn: “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là một bài ca, ca ngợi sông Hương gắn với thiên nhiên văn hóa và con người xứ Huế. Bằng tấm lòng yêu thương gắn bó với quê hương đất nước, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã trân trọng, tự hào về bề dày lịch sử, bề dày văn hóa và tâm hòn con người ở vùng đất cố đô. Phải yêu sông Hương lắm, nhà văn mới xem sông Hương như một cô gái thùy mị mà đa tài, như: “một tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya”. Phải yêu sông Hương lắm nhà văn mới nhìn thấy dòng sông như một cô gái đa tình, kín đáo và một chút lẳng lơ, duyên dáng chung tình. Phải yêu dòng sông này lắm nhà văn mới cứ băn khoăn trăn trở “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”, và để trả lời cho câu hỏi này Hoàng Phủ Ngọc Tường mượn một câu chuyện huyền thoại đẹp khép lại trang kí, tô đậm thêm vẻ đẹp lấp lánh của dòng sông Hương, đồng thời bộc lộ cái tôi nồng cháy suy tư “có nhiều cách trả lời câu hỏi ấy. Trong đó tôi thích nhất một huyền thoại kể rằng vì yêu quý con sông xinh đẹp của quê hương, con người hai bên bờ đã nấu nước trăm loài hoa đổ xuống lòng sông, để làm nước thơm tho mãi…”, “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”câu hỏi bâng khuâng khơi gợi sự kiếm tìm cái đẹp tiềm ẩn trong sông Hương và thiên nhiên, con người xứ Huế.

  • Hoàng Phủ Ngọc Tường miêu tả sông Hương và không gian Huế với tình yêu nồng thắm, với trái tim thi sĩ đa cảm, đồng thời bằng con mắt của một thi sĩ tinh tường. Nhà thơ Ra-xun Ham-đa-tốp đã từng bình luận: “Nếu nhà thơ không tham gia vào việc hoàn thành thế giới, thì thế giới đã không được đẹp đẽ như thế này”. Bằng những trang viết tài hoa, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã góp phần tạo nên một thế giới đẹp và thơ.

+ Một cái tôi tài hoa uyên bác

Hoàng Phủ Ngọc Tường tỏ ra am hiểu tường tận những gì mình viết. Với xứ Huế dường như nhà văn hiểu sâu sắc những cành cây ngọn cỏ, tường tận từ tên đất, tên làng. Với sông Hương, nhà văn thông thuộc từng khúc sông, từng dòng nước, chỗ ghềnh thác cuộn xoáy, chỗ phẳng lặng như mặt hồ yên tĩnh. Nhà văn am hiểu sâu sắc về văn hóa Huế, nền âm nhạc cổ điển hay những trang thơ về sông Hương. Vốn kiến thức uyên bác ở nhiều lĩnh vực, đó là kết quả của một chuyến đi và một trí nhớ “phi thường”. Bằng những hiểu biết phong phú, nhà văn cung cấp cho người đọc một lượng thông tin lớn về địa lý, dòng chảy của sông Hương, về lịch sử, về văn hóa, về văn học nghệ thuật. Bằng những con chữ lóng lánh tài hoa Hoàng Phủ Ngọc Tường đã góp phần làm nổi bật dòng sông, thiên nhiên cũng như con người Huế. Cái tôi ấy thật giàu tình cảm, say mê cái đẹp của cảnh cũng như con người xứ Huế: Tất cả những phát hiện về vẻ đẹp của sông Hương, xét đến cùng bắt nguồn từ tình cảm thiết tha đến đắm say của tác giả đối với cảnh và con người xứ Huế. Nếu không có tình yêu với xứ Huế thì không thể có những trang văn hay và đẹp đến thế về xứ Huế.

* Như vậy, những dòng sông quê hương chảy về trong tâm tưởng ta qua ngòi bút và tâm hồn nhà văn, giúp ta yêu hơn những dòng sông đất Việt. Điều mà chúng ta thấy sở dĩ họ có những điển chung trong việc mang đến hai hình tượng nghệ thuật đặc sắc ấy là: Cả hai nhà văn đều là người có tài, rất mực tài hoa uyên bác. Đều là những con người có tâm, là những trí thức giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. Đều là những nhà văn có phong cách nghệ thuật độc đáo, do đó tìm đến với những thể tùy bút, bút kí như một sự thỏa mãn với tình yêu lớn, mà chỉ có những thể loại ấy mới chuyên chở được tình yêu của họ. Tuy nhiên, mỗi nhà văn lại có ý thức cá nhân sâu sắc, có cá tính sáng tạo riêng, Nguyễn Tuân thiên về lối duy mỹ, cảm giác mạnh, Hoàng Phủ Ngọc Tường thiên về tự sự trữ tình, cảm xúc nồng nàn yêu thương. Đó cũng chính là quy luật tất yếu của sáng tạo nghệ thuật.

* Phải xuất phát từ đặc trưng thể loại, đó là một nguyên tắc cơ bản của quá trình cảm thụ và bình giá tác phẩm văn chương. Điều mà chắc chắn ai cũng biết. Hơn nữa với thể loại bút kí, chất trữ tình bao giờ cũng chiếm ưu thế của người viết, nên khi dạy tác phẩm kí thầy cô giáo phải tạo được tình huống nhiều hơn để khơi gợi cho học sinh sự đồng điệu, ngưỡng vọng trước cái tôi giàu cảm xúc, tinh tế, chân thành của người nghệ sĩ. Những tình cảm cao đẹp đối với quê hương xứ sở chắc chắn sẽ có điêu kiện nảy sinh, góp phần vào việc hoàn thiện nhân cách học sinh và học sinh cũng có điều kiện hơn để rèn luyện tư duy văn học theo đặc trưng thể loại.

2.1.2; Rèn luyện phương pháp đọc hiểu cho học sinh

Môn Ngữ văn được coi là môn học công cụ, môn học bắt buộc ở cả 3 cấp học, hướng tới việc hình thành phát triển năng lực đọc, viết tiếng Việt (năng lực tiếp nhận và xử lý thông tin, năng lực cảm thụ thẩm mỹ, năng lực trình bày, năng lực tạo lập các loại văn bản cần thiết trong cuộc sống). Dạy học đọc hiểu là một trong những nội dung cơ bản của đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn trong tiếp nhận văn bản. Nếu như trước đây chúng ta coi phân tích tác phẩm hay giảng văn là một phương pháp đặc thù của dạy văn, thì hiện nay đã có những thay đổi trong cách tiếp cận này. Hướng dẫn học sinh đọc hiểu không có nghĩa là nhằm cảm thụ một chiều cho học sinh những cảm nhận của giáo viên về văn bản được học mà hướng dẫn cung cấp cho học sinh cách đọc, cách tiếp cận, khám phá những vấn đề về nội dung và nghệ thuật của văn bản, từ đó hình thành cho học sinh năng lực tự đọc một cách tích cực, chủ động, có sắc thái cá nhân. Hoạt động đọc hiểu của học sinh cần được thực hiện theo một trình tự từ dễ đến khó, từ thấp đến cao, từ đọc đúng, đọc thông, đến đọc hiểu, từ đọc tái hiện sang đọc sáng tạo. Khi hình thành năng lực đọc hiểu của học sinh cũng chính là hình thành năng lực cảm thụ thẩm mỹ, khơi gợi liên tưởng, tưởng tượng và tư duy.

Trong quá trình đọc hiểu học sinh cần thực hiện các nội dung cơ bản sau:

– Huy động vốn kiến thức và kinh nghiệm của bản thân – là những hiểu biết về chủ đề hay hiểu biết về các vấn đề văn hóa xã hội có liên quan đến chủ đề, thể loại của văn bản.

– Thể hiện những hiểu biết về văn bản

+ Tìm kiếm thông tin, đọc lướt để tìm ý chính, đọc kỹ tìm các chi tiết

+ Giải thích, cắt nghĩa, phân loại, so sánh, phân tích, kết nối, tổng hợp…thông tin để tạo nên hiểu biết chung về văn bản.

+ Phản hồi và đánh giá thông tin trong văn bản

– Vận dụng những hiểu biết về văn bản đã đọc hiểu vào việc đọc các loại văn bản khác nhau, sẵn sang thực hiện các nhiệm vụ học tập, các nhiệm vụ trong đời sống yêu cầu dùng đến hoạt động đọc hiểu.

+ Đọc các văn bản khác (ngoài chương trình, sách giáo khoa) có cùng đề tài/ chủ đề hoặc hình thức để thực hiện củng cố hiểu biết và rèn luyện kỹ năng đọc hiểu.

+ Trình bày những giải pháp để giải quyết một vấn đề cụ thể từ việc vận dụng những hiểu biết về văn bản đã đọc hiểu.

– Đọc tác phẩm “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân

Học sinh cần làm nổi bật được:

+ Đề tài: Viết về dòng sông quê hương Việt Nam

+ Thể loại: Tùy bút (bút kí) có cấu trúc tự do phóng túng, hầu như không có luật lệ, quy phạm gì chặt chẽ, câu thúc bởi cốt truyện cụ thể nào…Tùy bút mang tính chất chủ quan, chất trữ tình rất đậm, nhân vật chính là cái tôi của nhà văn, bộc lộ cảm xúc suy tư và nhận thức đánh giá của mình về con người và cuộc sống hiện tại. Ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu chất thơ.

+ Cảm hứng sáng tạo

  • Nguyễn Tuân đề từ cho tác phẩm:

“Đẹp vậy thay tiếng hát trên dòng sông”

(Wladyslow  Broniewski)

“Chúng thủy giai Đông tẩu

Đà giang độc Bắc lưu”

(Thơ Nguyễn Quang Bích)

  • Nguyễn Tuân đã cảm nhận vẻ đẹp độc đáo của sông Đà

Không chỉ sông Đà, sông nước quê hương, sông tuyến (Bến Hải), sông Gianh – đã chảy vào tâm hồn nhà văn, đã hóa thân thành những trang viết đẹp. Viết “sông Đà”, Nguyễn Tuân muốn đề thơ, phổ nhạc vào sông nước quê hương. Cảm hứng sông Đà đã thành nghệ thuật “thành một gợi cảm mênh mang” về sông quê, về con người Việt Nam trong bối cảnh ấy. Và ông cũng là “Đà giang độc Bắc lưu” trên bình diện nghệ thuật.

+ Nội dung của văn bản

  • Hình tượng con sông Đà: Hung bạo, trữ tình
  • Hình tượng người lái đò: Tài hoa, điêu luyện trong nghệ thuật vượt thác leo ghềnh

+ Đặc sắc nghệ thuật của Nguyễn Tuân

Nhìn con người ở phương diện tài hoa, nghệ sĩ: tài hoa uyên bác và dụng nhiều tri thức của nhiều ngành văn hóa, nghệ thuật khác nhau để quan sát miêu tả (địa lý, lịch sử, nghệ thuật, quân sự, võ thuật, hội họa, điêu khắc, điện ảnh, thơ ca…) thiên nhiên và con người Tây Bắc. Thể tùy bút phóng túng ngôn từ phong phú và điêu luyện.

+ Yêu cầu học sinh tìm đọc toàn văn bản “Người lái đò sông Đà”

– Đọc tác phẩm “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường, học sinh cần làm nổi bật được:

+ Thể loại: “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” thuộc thể kí (nghiêng về tùy bút) giàu chất trữ tình, giàu lượng thông tin.

+ Cảm hứng sáng tạo: Huế trở thành một phần trong đời sống tinh thần của nhà văn. Những mẩu kí viết về Huế thể hiện tình cảm gắn bó sâu nặng của Hoàng Phủ Ngọc Tường với mảnh đất giàu trầm tích văn hóa. Về “chất Huế” trong kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường, nhà văn Tô Hoài đã nhận xét thú vị: “Nếu có thể so sánh, thì tôi nghĩ rằng Sơn Nam thuộc đến ngõ ngách những sự tích xưa của Sài Gòn-Bến Nghé, tôi thì nhớ được ít nhiều tên phố tên làng Hà Nội, Hoàng Phủ Ngọc Tường thì trằm cả tâm hồn trong khuôn mặt cuộc đời cùng với đất trời, sông nước của Huế”.

+ Ý nghĩa nhan đề “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”

Nhan đề bài bút kí là một câu hỏi ngỡ như bâng quơ, câu hỏi khó trả lời, nhưng lại là một tín hiệu thẩm mỹ mở ra nội dung của tác phẩm. Câu hỏi đặt ra “với trời với đất” đã đưa nhà văn làm một cuộc hành trình lịch sử tìm về cội nguồn của dòng sông và cảm nhận, miêu tả vẻ đẹp của sông Hương từ góc nhìn huyền thoại-văn hóa – lịch sử.

+ Đọc và tìm hiểu bố cục của đoạn trích.

Dựa vào văn bản có thể chia đoạn trích thành 2 phần.

  • Phần đầu: Từ đầu đến “quê hương xứ sở”: Hành trình của Hương giang
  • Phần còn lại: Sông Hương – dòng sông của lịch sử và thơ ca

+ Nghệ thuật đặc sắc:

Với ngòi bút tài hoa lịch lãm của Hoàng Phủ Ngọc Tường, nhà văn đã sáng tạo được những trang văn đẹp, được dệt nên bởi một kho từ vựng phong phú, uyển chuyển và rất giàu hình ảnh. Các biện pháp nghệ thuật: Ẩn dụ, nhân hóa, so sánh…gắn liền với liên tưởng bất ngờ, thú vị đã tạo nên một góc nhìn đa sắc về sông Hương.

Yêu cầu học sinh tìm đọc toàn văn bản hoặc giáo viên gọi học sinh đọc diễn cảm một số đoạn mà các em yêu thích.

Ví dụ đoạn “phải nhiều thế kỷ đi qua…bát ngát tiếng gà”. Sau mỗi bài học giáo viên cho học sinh viết đoạn văn cảm nhận về vẻ đẹp của dòng sông quê hương mình, để giáo dục cho các em tình yêu quê hương cũng bắt nguồn từ những cái giản dị và đời thường gần gũi nhất với mỗi con người: Dòng sông quê hương.

* Như vậy: Việc đọc hiểu không chỉ rèn luyện cho học sinh đọc-hiểu văn bản mà còn rèn luyện năng lực tạo lập văn bản, đặc biệt là năng lực viết sáng tạo. Viết sáng tạo là khả năng trình bày, thể hiện những cảm nhận, suy nghĩ của cá nhân về đối tượng, vấn đề được đặt ra…viết sáng tạo được thể hiện ở nhiều phương diện khác nhau, với các mức độ khác nhau, vì vậy cần tạo ra được những cơ hội để học sinh thể hiện ngay trong quá trình đọc hiểu, đồng thời phát triển các năng lực khác trong học tập.

2.1.3; Sử dụng phương pháp bản đồ tư duy.

Bản đồ tư duy là phương pháp được đưa ra như là một phương tiện mạnh để tận dụng khả năng ghi nhận hình ảnh của bộ não. Đây là cách ghi nhớ chi tiết để tổng hợp hay để phân tích một vấn đề thành một dạng của lược đồ phân nhánh. Cách ghi chép này khoa học, giúp cho học sinh dễ nhớ và dễ ôn tập hơn. Việc nhớ và ghi lại các thông tin sau này sẽ dễ dàng, đáng tin cậy hơn so với khi sử dụng phương pháp truyền thống. Sử dụng phương pháp bản đồ tư duy sẽ có những ưu điểm sau:

– Ý chính sẽ ở trung tâm và được xác định rõ ràng

– Quan hệ hỗ trợ tương ứng giữa mỗi ý được chỉ ra tường tận. Ý càng quan trọng thì sẽ nằm vị trí càng gần ý chính.

– Liên hệ giữa các khái niệm then chốt sẽ được tiếp nhận lập tức bằng thị giác.

– Ôn tập và ghi nhớ sẽ rất hiệu quả và nhanh hơn.

– Thêm thông tin (ý) dẽ dàng hơn bằng cách vẽ chèn thêm vào bản đồ.

– Mỗi bản đồ sẽ phân biệt nhau tạo sự dễ dàng cho việc gợi nhớ.

– Các ý mới có thể được đặt vào đúng vị trí trên hình một cách dễ dàng, bát chap thứ tự của sự trình bày, tạo điều kiện cho việc thay đổi một cách nhanh chóng và linh hoạt cho việc ghi nhớ.

Như vậy, bản đồ tư duy là một công cụ lý tưởng cho việc giảng dạy và trình bày các khái niệm trong lớp học. Bản đồ tư duy giúp cho giáo viên tập trung vào các vấn đề cần trao đổi cho học sinh, cung cấp một cái nhìn tổng quan về chủ đề mà không có thông tin thừa. Học sinh sẽ không phải tập trung vào việc đọc chép dài dòng, mà thay vào đó sẽ lắng nghe những gì mà thầy cô giáo diễn đạt. Hiệu quả bài học sẽ tăng lên.

Khi dạy học bài “Người lái đò sông Đà” của nhà văn Nguyễn Tuân, giáo viên có thể tóm tắt hoặc cho học sinh ghi lên bảng tóm tắt lại nội dung bài học theo bản đồ tư duy.

A; Mục tiêu bài học

(Nguyễn Tuân)
Tiết 48, 49. Đọc hiểu văn bản “Người lái đò Sông Đà”

2.2; Tiết dạy thực nghiệm

Với phương pháp bản đồ tư duy, giáo viên có thể cho học sinh tổng kết lại ở phần kết thúc bài học hoặc trong quá trình giảng bài, vừa tổng kết kiến thức và vừa là để ghi nhớ bài học một cách ngắn gọn, dễ nhớ nhất. Có một điều thú vị nữa là trong quá trình giảng dạy, thầy cô giáo có thể thêm ngay vào bản đồ tư duy bài giảng của mình những ý tưởng hay, đột phá mà thầy cô chợt nghĩ ra hay từ sự đóng góp, phát hiện của học sinh. Làm như vậy bài học sẽ không bị nhàm chán mà lại gây được sự hứng thú cho học sinh, học sinh sẽ không còn sợ cảm giác học môn văn dài, ghi chép mỏi tay đáng sợ nữa. Môn văn sẽ trở nên khoa học hơn, ngắn gọn và súc tích hơn.
Giúp học sinh:

1; Kiến thức:

– Cảm nhận được vẻ đẹp của con sông Đà và hình tượng người lái đò. Từ đó hiểu được tình yêu, sự đắm say của Nguyễn Tuân đối với thiên nhiên và con người lao động ở miền Tây Bắc của Tổ quốc.

– Thấy được sự tài hoa, uyên bác của Nguyễn Tuân: Vốn từ ngữ dồi dào, biến hóa; câu văn đa dạng, nhiều tầng, giàu hình ảnh và nhịp điệu; những so sánh ví von, liên tưởng, tưởng tượng độc đáo, bất ngờ.

2; Kỹ năng:

– Đọc hiểu tùy bút theo đặc trưng thể loại

3; Thái độ:

– Có thái độ trân trọng, cảm mến tài năng độc đáo của những con người lao động giản dị nhưng kiên cường, dũng cảm.

– Bồi dưỡng tình yêu quê hương đất nước Việt Nam

4; Năng lực:

– Nâng cao năng lực cảm thụ nghệ thuật, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực tự học, sáng tạo và giải quyết vấn đề năng lực đọc hiểu kí hiện đại theo đặc điểm thể loại.

Thiết kế bài học

Chuẩn bị của giáo viên và học sinh

  1. Giáo viên:

– SGK, SGV, thiết kế bài dạy, tài liệu tham khảo, máy chiếu minh họa hình ảnh về sông Đà(1958) và thủy điện sông Đà (hiện nay), phiếu học tập.

  1. Học sinh:

– Đọc văn bản, sách giáo khoa, vở soạn văn, đọc các tài liệu, trả lời câu hỏi hướng dẫn học bài.

Tổ chức hoạt động dạy học

Hoạt động 1: Trải nghiệm

Câu hỏi? Nêu ngắn gọn những đặc điểm phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân? (Học “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân ở lớp 11)

HS: – Xây dựng hình tượng nhân vật độc đáo, đề cao cái đẹp, con người tài hoa, tài tử, uyên bác của “một thời vang bóng”

– Giọng điệu kết hợp trữ tình và tả thật, nghệ thuật dẫn truyện hấp dẫn.

– Ngôn ngữ cổ kính trang nghiêm, dùng nhiều từ ngữ của người xưa tạo cho câu chuyện cái không khí của “một thời vang bóng”

Hoạt động 2: Dẫn vào bài mới.

Nguyễn Tuân là nhà văn có nhiều trang viết rất sống động về những con người phi thường, tính cách phi thường. Nhân vật của ông mỗi khi đã xuất hiện thì dứt khoát phải có dấu ấn đặc biệt. Nếu trước cách mạng tháng tám, ông cho rằng cái đẹp chỉ có trong quá khứ của một thời vàng son và ông đã xây dựng nhân vật Huấn Cao dựa trên nguyên mẫu lịch sử là Cao Bá Quát: một người có tài có tâm nhưng phải chịu án tử hình vì đứng về nhân dân chống lại triều đình. Nhưng sau cách mạng tháng tám, do “xê dịch” nhiều nên ông có sự thay đổi trong cách cảm nhận miêu tả về con người. Ngòi bút tài hoa của ông đã tìm thấy vẻ đẹp của con người ngay trong hiện tại, một người vô danh lặng thầm trong công việc mà ông gọi đó là “vàng mười” của đất Tây Bắc đó chính là “ Người lái đò” trong tùy bút “Người lái đò Sông Đà”- Nguyễn Tuân.

Hoạt động của Giáo viên và  học sinh Phương pháp, phương tiện Kết quả đạt được
Hoạt động 3: Tìm hiểu phần tiểu dẫn

GV: Gọi học sinh đọc phần tiểu dẫn sách giáo khoa, nêu những nét chính về hoàn cảnh sáng tác, cảm hứng chủ đạo của tác phẩm.

HS trả lời, GV nhận xét bổ sung ý trả lời của học sinh.

.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hoạt động 4: Đọc hiểu văn bản.

– GV gọi 1 HS đọc đoạn từ “Cuộc sống của người lái đò/187….Thế là hết thác/190;

GV gọi HS khác đọc đoạn “ Tôi có bay tạt ngang sông Đà-…/190 đến hết /192).

GV hướng dẫn học sinh đọc Đoạn 1: Giọng nhanh, mạnh, có khí thế, thể hiện không khí của một trận chiến gấp gáp căng thẳng.

Đoạn 2: Giọng đọc chậm rãi, nhẹ nhàng, toát lên vẻ đẹp dịu dàng, trữ tình của Sông Đà.

GV gọi HS trả lời câu hỏi ?Có những hình tượng nào hiện lên trong 2 đoạn văn vừa đọc? Em có cảm nhận được điều gì về các hình tượng ấy?

HS phát biểu, giáo viên nhận xét, kết luận.

 

 

Đọc hiểu chi tiết:

Hình tượng con sông Đà.

– GV Khái quát về hình tượng con sông Đà => Tác giả tái hiện một Đà giang như là một sinh thể, có hoạt động, biết tri giác, cảm giác và có cá tính tâm trạng, với 2 tính cách: hung bạo và trữ tình. GV dẫn dắt và nêu câu hỏi.

Tính cách hung bạo của Sông Đà được tác giả miêu tả thông qua những chi tiết hình ảnh gì?

(Đá bờ sông dựng thành vách, mặt ghềnh Hạt loóng, những cái hút nước, thác và đá sông Đà ).

Mỗi nhóm tìm chi tiết, hình ảnh và phân tích.

Giáo viên chia:

Nhóm 1: Đá bờ sông

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhóm 2: Mặt ghềnh

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhóm 3: Hút nước

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhóm 4: Thác và đá

HS trao đổi thảo luận, các nhóm khác bổ sung, giáo viên nhận xét, bổ sung.

 

GV lưu ý các biện pháp nghệ thuật: điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc…

– Biện pháp nghệ thuật: so sánh, nhân hóa, kể, tả, liên tưởng bất ngờ, sáng tạo.

– những tri thức về nhiều lĩnh vực khác nhau (giao thông, điện ảnh)…

– Biện pháp nghệ thuật nhân cách hóa, so sánh độc đáo ->lấy lửa tả nước.

– GV gợi mở: có thể thấy, dưới ngòi bút của người nghệ sĩ ngôn từ, sự hùng vĩ và hung bạo của Đà giang đã hiện ra ở nhiều vẻ khác nhau. Tất cả đều toát lên một sự hoang dại, một sức mạnh thiên nhiên kì vĩ. Nhưng Nguyễn Tuân đến với sông đà trước tiên là tìm chất vàng của thiên nhiên, “thứ vàng của màu sắc sông núi Tây Bắc”. Theo em nhà văn đã tìm thấy thứ vàng nào của con sông Đà nói riêng và thiên nhiên Tây Bắc nói chung đằng sau sự hung bạo của Đà giang?

HS thảo luận, trả lời.

GV chốt ý kiến, nhận xét.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

GV  chuyển ý : Rất hung dữ, hiểm ác, gây hại cho con người, nhưng ngược lại đó là công trình nghệ thuật tuyệt vời của tạo hóa, vừa hùng vĩ vừa thơ mộng tạo nên chất men say cho sự sống của con người.

GV dẫn dắt và nêu câu hỏi:

Sự hung bạo của sông Đà là một sự thật rõ ràng. Nhưng nhà văn đã viết “ Tôi có bay tạt qua sông Đà mấy lần…”. Tức là sông Đà không chỉ có sự dữ dằn, độc hiểm mà con sông còn có vẻ đẹp trữ tình. Từ những “góc độ” khác nhau, Nguyễn Tuân đã có những phát hiện tinh tế và miêu tả vẻ đẹp trữ tình của dòng sông như thế nào?

Học sinh trả lời, giáo viên nhận xét, bổ sung.

GV gợi mở: Tác giả ngắm sông Đà ở những thời điểm nào?

GV diễn giảng:

Đây là kết quả của những công phu tìm tòi khó nhọc của một con người nhất quyết không bao giờ chịu bằng lòng với những tri thức hời hợt…

=> Như vậy không sự hào hoa nào thay thế được công sức lao động nghiêm túc, cần cù kiên nhẫn của con người.

 

 

 

 

 

 

 

 

– Giáo viên chốt lại: với cách liên tưởng ví von, so sánh, dường như sông Đà của Nguyễn Tuân còn có vẻ đẹp của một con sông bền bỉ chảy qua năm tháng lịch sử, mang dấu tích văn hóa ngàn xưa của dân tộc. Nói văn Nguyễn Tuân cổ kính trang nghiêm mà hiện đại phải chăng có phần vì thế?

=> Tác giả gọi sông Đà là “cố nhân”

GV dẫn dắt, nêu vấn đề: Có thể khẳng định Nguyễn Tuân đã rất công phu khi tìm hiểu và miêu tả những vẻ đẹp đa dạng của Đà giang. Trên cả 2 khía cạnh hung bạo và trữ tình của Sông Đà, ta đều thấy người nghệ sĩ đã dồn nhiều tâm sức và tài năng của mình để khắc họa những đặc tính, vẻ đẹp của con sông Tây Bắc. Theo em tại sao Nguyễn Tuân lại kì công đến như vậy?

=> HS trả lời: Giáo viên nhận xét, bổ sung.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

GV dẫn dắt:

Chẳng phải tình cờ khi để nói về màu sắc của sông Đà, Nguyễn Tuân chỉ dùng một chữ “vàng”. Để rồi sau đó ông sẽ dùng chữ “vàng mười”để gọi tên vẻ đẹp và giá trị quý báu của con người lao động. Điều đó chứng tỏ trong cảm xúc thẩm mỹ của tác giả người lái đò sông Đà

– Con người lao động chân chính là đẹp hơn tất cả, quý giá hơn tất cả.

GV: Vậy ông lái đò đã được tác giả miêu tả như thế nào?

HS: trao đổi, thảo luận, tìm chi tiết hình ảnh.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nguyễn Tuân đã tạo ra một cuộc vượt thác có một không hai, bằng vốn từ vựng giàu có và kiến thức uyên bác về nhiều lĩnh vực đặc biệt là võ thuật và quân sự.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

GV nhận xét: Nguyễn Tuân đã sáng tạo được một đoạn văn đặc sắc, tràn đầy không khí trận mạc, miêu tả sinh động cuộc chiến đấu của người lái đò với thác, đá hung bạo và xảo quyệt.

 

 

 

 

 

GV: gợi mở Nguyễn Tuân là nhà văn suốt đời đi tìm cái đẹp. Các nhân vật trong sáng tác của ông thường mang những phẩm chất của người nghệ sĩ tài hoa. (Huấn Cao: “ Chữ người tử tù”. Vậy người lái đò có được coi là một nghệ sĩ tài hoa hay không? Giáo viên gọi học sinh đọc lại đoạn ông lái đò vượt thác…để có thể cảm nhận về tư cách nghệ sĩ của ông lái đò)

HS đọc, cảm nhận, giáo viên nhận xét.

Theo Nguyễn Tuân nét tài hoa nghệ sĩ của con người không chỉ thể hiện ở hoạt động sáng tạo nghệ thuật mà còn thể hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Đối với bất kì công việc gì khi đạt tới trình độ khéo léo, điêu luyện, con người sẽ bộc lộ nét tài hoa nghệ sĩ rất đáng trân trọng.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Giáo viên hướng dẫn học sinh tiểu kết:

Theo em đâu là chất “vàng mười” của những con người lao động Tây Bắc mà Nguyễn Tuân đã tìm thấy và ngợi ca?

 

 

 

 

 

 

 

Theo Nguyên Tuân chủ nghĩa anh hùng đâu chỉ ở nơi giáp mặt với quân thù, mà có thể xuất hiện hàng ngày trong cuộc sống lao động của bao con người bình thường giản dị, không tên tuổi, ở ngay cả những nơi xa xôi hẻo lánh của Tổ quốc. Chính công việc sẽ vinh danh nghề nghiệp của họ, Hình ảnh “Khoanh nâu tròn”ở ngực ông lão do cán chèo tì vào mỗi lần vượt thác, tác giả gọi đó là huân chương lao động nghề nghiệp vinh danh cho ông lái đò.

Hoạt động 5: Tổng kết

GV? Qua thiên tùy bút em có nhận xét gì về tài năng nghệ thuật và phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân?

Hs có thể trình bày cách đánh giá khác nhau, giáo viên nhận xét chốt các ý chính.

 

 

Phỏng vấn, thuyết giảng, máy chiếu.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phương pháp: Đọc hiểu văn bản, đọc sáng tạo.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– Phương pháp nêu vấn đề, thảo luận nhóm(chia lớp làm 4 nhóm)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tiết 2: Phương pháp phát vấn; diễn giảng; nêu vấn đề.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– phương pháp thảo luận, phát vấn đề, nêu vấn đề.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

I. Tiểu dẫn

1. Hoàn cảnh sáng tác

– “Người lái đò sông Đà” trích trong tập tùy bút “Sông Đà”(1960). Đây là thành quả nghệ thuật đẹp đẽ của Nguyễn Tuân trong chuyến đi đến miền Tây Bắc rộng lớn của Tổ quốc. “Sông Đà” gồm 15 thiên tùy bút và một bài thơ ở dạng phác thảo.

– Tấc phẩm ra đời trong bối cảnh miền Bắc đang tiến hành xây dựng cuộc sống mới.

2. Cảm hứng chủ đạo

– Là tìm kiếm chất vàng của thiên nhiên Tây Bắc và nhất là chất vàng mười “thứ vàng đã được thử lửa” ở tâm hồn những con người lao động, chiến đấu trên miền núi sông hùng vĩ và thơ mộng.

3. Thể loại: Tùy bút (bút kí) ghi chép người thật, việc thật, in đậm cảm xúc chủ quan của người viết, đậm chất trữ tình

 

II; Đọc – hiểu văn bản

1. Đọc văn bản

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– Hiện lên trong hai đoạn trích là hình tượng con sông Đà (hung bạo, trữ tình ) và người lái đò (tài trí, dũng cảm).

2. Đọc – hiểu chi tiết văn bản.

a. Hình tượng con sông Đà

* Sông Đà – con sông Tây Bắc “hung bạo”

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– Sự hùng vĩ của sông Đà trước hết thể hiện ở cách đã bờ sông “dựng vách thành” “lúc đúng ngọ mới có mặt trời” “vách đá thành chẹt lòng sông Đà như một cái yết hầu” “có quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ bên này sang bờ bên kia”… “ngồi trong khoang đó quãng ấy đang mùa hè mà cũng thấy lạnh”

=> Nguyễn Tuân khắc sâu ấn tượng về độ cao của những vách đá, sự lạnh lẽo, u tối của đoạn sông và sự nhỏ hẹp của dòng chảy bằng những liên tưởng độc đáo, bằng những so sánh thú vị. Để miêu tả cảnh tượng hùng vĩ có phần huyền bí của dòng sông, nhà văn chẳng những sử dụng thị giác mà còn kết hợp sử dụng các giác quan khác(như xúc giác) với những so sánh mới mẻ táo bạo

-> vách thành dựng đứng gợi lên sự hiểm trở, hùng vĩ, lòng sông hẹp

-> gợi sức chảy ghê gớm của thác lũ.

– Ghềnh sông Đà:

“gùn ghê suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt…” “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió”…

=> Đoạn văn cung cấp đầy đủ những hình ảnh cần thiết cho một họa sĩ nào ưa vẽ những cảnh thác lũ rùng rợn, mãnh liệt câu văn diễn đạt theo lối điệp từ, điệp cấu trúc và tăng tiến, tạo nhịp điệu khẩn trương, dồn dập gấp gáp giống như sự chuyển vận của sóng to, gió lớn.

– Hút nước: “nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc”

“nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào”=> sự ghê gớm của những cái hút nước.

“Nhiều bè gỗ rừng đi nghênh ngang vô ý là những cái giếng hút ấy nó lôi tuột xuống…”

-> Đó là những hình ảnh đầy chất hiện thực mà bất cứ ai khi đọc đến đều hình dung ra sự tàn nhẫn của những cái hút nước ấy.

– Thác nước sông Đà

“ nghe như là oán trách” “van xin”

“khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo”

“rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng…”, hòn đá thì “ngỗ ngược” “nhăn nhúm” sẵn sàng giao chiến cả một trận địa đá với những âm mưu thủ đoạn nham hiểm đã được bày ra để sẵn sàng dìm chết con thuyền.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– Nhận xét chung: Đó là vẻ đẹp man dại, sức mạnh huyền bí của sông Đà hiện ra ở nhiều góc độ khác nhau. Đây chính là tiềm năng to lớn của Đà giang khi nó được con người chinh phục. Đấy là “vàng trắng”quý báu của đất nước ta. Chính vì vậy Nguyễn Tuân nghĩ tới hình ảnh của những “tuốc bin thủy điện”. Điều đó nghĩa là nhà văn nghĩ tới vai trò, vị trí của sông Đà trong sự nghiệp xây dựng đất nước.

 

 

 

 

 

* Sông Đà con sông Tây Bắc trữ tình.

– Trữ tình, dịu dàng: Từ trên cao nhìn xuống, nhà văn đã thấy dòng chảy uốn lượn của con sông như mái tóc của người phụ nữ kiều diễm “Sông Đà tuôn dài, tuôn dài như một áng tóc trữ tình…”.

=> Trong văn Nguyễn Tuân có cả thơ, cả hoa và cả nhạc.

 

 

 

-> Vẻ đẹp trữ tình trẻ trung và duyên dáng.

– Thơ mộng: Tác giả ngắm sông Đà ở nhiều thời gian, nhiều không gian khác nhau, màu sắc nước sông Đà thay đổi theo mùa mùa xuân “xanh ngọc bích”, mùa thu “lừ lừ chín đỏ”….

=> Nguyễn Tuân không chỉ tôn vinh vẻ đẹp của dòng sông mà còn trực tiếp bày tỏ tình cảm yêu mến đối với sông Đà, niềm tự hào về vẻ đẹp của con sông xứ sở.

 

– Hiền hòa: “Sông Đà như một cố nhân” “đằm đằm ấm ấm”-> nhất là chất thơ như ngấm vào trong từng cảnh sắc thiên nhiên sông Đà. Đó là cái nắng tháng ba Đường thi “yêu hoa tam nguyệt”

“Cảnh ven sông ở đây lặng tờ…”

-> yên bình, một vẻ đẹp tươi mới, tràn nhựa sống “nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa”

“đàn hươu cúi đầu ngốm búp cỏ gianh”

-> Còn có vẻ đẹp hoang sơ cổ kính

“Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử…”

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

* Tiểu kết: + Miêu tả sông Đà với hai tính cách hung bạo và trữ tình là nhà văn đã phản ánh dòng sông này đúng như ở ngoài đời (thể ký, ghi chép người thật, cảnh thật…)

+ Với Nguyễn Tuân, thiên nhiên không thuần túy là thiên nhiên, thiên nhiên cũng là một sản phẩm nghệ thuật vô giá của tạo hóa. Cần phải trân trọng các vẻ đẹp của nó.

+ Qua hình tượng sông Đà, nhà văn thể hiện tình cảm yêu mến thiết tha đối với thiên nhiên đất nước.

+ Việc miêu tả Đà giang với hai đặc điểm hung bạo và trữ tình còn có tác dụng làm nền để khắc họa hình ảnh ông lái đò: dũng cảm, trí tuệ trong nghệ thuật vượt thác leo ghềnh.

 

 

 

 

 

 

 

b, Hình tượng người lái đò.

 

 

– Lai lịch: sinh ra bên bờ sông đà…

– Ngoại hình: thân hình cao to,”gọn quánh như chất rừng, chất mùn, tay “lêu nghêu”, chân “khuỳnh khuỳnh” giọng “ào ào như tiếng nước trước mặt ghềnh sông nhỡn giới “vòi vọi…”

=> Đây là con người đã gắn bó với nghề sông nước từ nhiều năm.

– Từng trải, am hiểu tường tận về dòng sông: “nắm chắc binh pháp của thần sông, thần đá” thuộc quy luật phục kích…”nắm được quy luật tất yếu của dòng nước sông Đà => Ông luôn tự tin trong vượt thác leo ghềnh.

– Tài nghệ đặc biệt:

+ Ông đò xuất hiện như một viên tướng tả xung hữu đột trong một trận đồ bát quái “ nhiều cửa nhiều vòng, mỗi vòng đều có những viên tướng đã dữ dằn, nham hiểm đón đánh:

“Đòi ăn chết cái thuyền” mặt nước hò la vang dậy xung quanh mình” “ùa vào mà bẻ gãy cán chèo” “thúc gối vào bụng vào hông thuyền” “túm lấy thắt lưng ông đò đòi lật ngửa mình ra”  => ông lái đò luôn tỉnh táo, bình tĩnh.

+ Nén chịu nỗi đau thể xác  do cuộc vận lộn với sóng thác, ông điều khiển con thuyền lần lượt vượt qua trùng vi thạch trận, chiến thắng thác dữ bằng những động tác táo bạo mà chuẩn xác: “Ông đò ghì cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh …” “ đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè rắn lên mà chặt đôi ra …”

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– Tài hoa, nghệ sĩ:

Dù đoạn trích không có nhiều trang viết tô đậm nét tài hoa, nghệ sĩ ở người lái đò nhưng người đọc vẫn nhận thấy tư cách tài hoa nghệ sĩ trong từng động tác thuần thục của ông lái: “Ông đò” lái miết một đường chéo về phía cửa đá con thuyền “như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước vừa xuyên vừa tự động lái được lượn được…” đã cho thấy “tay lái ra hoa” của người lái đò.

+ Là con người có tâm hồn phong phú khi vượt qua thác nước, mọi việc vất vả nguy hiểm “xèo xèo tan trong trí nhớ”, họ coi việc đối mặt với sóng nước hung bạo với cái chết là chuyện thường nhật, thường tình… Khi đốt lửa trong hang đá nướng ống cơm lam “không ai bàn thêm một lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua”=>gắn bó tha thiết với bản làng quê hương.

* Tiểu kết

– Người lái đò trí dũng và tài hoa trên sông hung bạo và trữ tình. Vẻ đẹp của người lái đò- vẻ đẹp bình dị, thầm lặng nhưng đầy trí tuệ và sức mạnh, ý chí và nghị lực, tài năng và tài hoa, có khả năng chinh phục thiên nhiên, bắt nó phải phục vụ con người . Đây chính là chất “vàng mười”  của con người Tây Bắc nói riêng, người lao động Việt Nam nói chung trong thời kỳ mới.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

III. Tổng kết

1. Đặc sắc nghệ thuật

– Một ngòi bút tài hoa độc đáo, uyên bác. Nhà văn nhìn nhận và miêu tả thiên nhiên ở phương diện văn hóa, mĩ thuật, khắc họa con người ở khía cạnh tài hoa nghệ sĩ.

– Vốn sống phong phú và trí tưởng tượng dồi dào đã giúp nhà văn tạo nên những trang viết hết sức độc đáo và giá trị nghệ thuật cao.

– Sử dụng nhiều tri thức nghệ thuật hội họa, điện ảnh, địa lý, lịch sử, võ thuật, quân sự, văn học…

Đúng là một nghệ sĩ ngôn từ.

2. Nội dung

– Là bài ca thiên nhiên Tây Bắc vừa hoang sơ, hùng vĩ, vừa kiều diễm thơ mộng, con người Tây Bắc vừa cần cù dũng cảm, vừa khéo léo, tài hoa…

III. Luyện tập

GV hướng dẫn HS luyện tập

Phát biểu cảm nghĩ về một đoạn văn mà em thích nhất trong tác phẩm?

(Viết khoảng 600 từ)

Hướng dẫn học sinh tự học

– Tìm đọc trọn vẹn tùy bút “Người lái đò sông Đà”

– Tổng kết nội dung và nghệ thuật của tác phẩm theo bản đồ tư duy

Tài liệu tham khảo

SGK, SGV, chuyên đề dạy học ngữ văn 12 “Người lái đò sông Đà” (Nguyễn Tuân)- NXB GD

Dạy học theo chuẩn kiến thức ngữ văn 12 NXB Đại học sư phạm

Bồi dưỡng ngữ văn 12 NXB Đại học sư phạm

Rút kinh nghiệm

– Rút kinh nghiệm cho học sinh về các hoạt động nhóm, sự chuần bị bài ở nhà (12A1 chuẩn bị tốt hơn 12D)

– Giáo viên tự rút kinh nghiệm về cách tổ chức các phương pháp, hoạt động của học sinh.

 

Tiết 50, 51: Ai đã đặt tên cho dòng sông?

(Trích) – Tác giả: Hoàng Phủ Ngọc Tường

Mục tiêu bài học

Giúp học sinh:

Kiến thức:

– Cảm nhận được vẻ đẹp độc đáo, đa dạng của sông Hương qua ngòi bút tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường và tình yêu, niềm tự hào của tác giả đối với dòng sông quê hương, với xứ Huế thân thương và đất nước.

– Lối hành văn uyển chuyển, ngôn ngữ gợi cảm, giàu hình ảnh và nhịp điệu, nhiều so sánh, liên tưởng mới mẻ, bất ngờ, thú vị…

Kỹ năng

Đọc – hiểu thể kí văn học theo đặc trưng thể loại.

Thái độ

Bồi dưỡng, yêu mến, trân trọng tình yêu quê hương đất nước

Năng lực

– Năng lực đọc – hiểu kí theo thể loại, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực tự học, sáng tạo và giải quyết vấn đề, năng lực cảm thụ văn học nghệ thuật.

Thiết kế bài học

Chuẩn bị của Giáo viên – Học sinh

GV: Giáo án, SGV, SGK, tài liệu tham khảo, máy chiếu minh họa (hình ảnh về sông Hương ở Huế, phiếu học tập)

HS: Đọc SGK, soạn bài, đọc tài liệu tham khảo..

Tổ chức hoạt động dạy, học

Hoạt động 1: Trải nghiệm

Câu hỏi 1: Nêu những đặc trưng cơ bản của thể tùy bút? Biểu hiện trong tác phẩm  “Người lái đò sông Đà” – của Nguyễn Tuân như thế nào?

Câu hỏi 2: Khái quát nội dung và nghệ thuật của bài tùy bút “Người lái đò sông Đà” bằng bản đồ tư duy?

Hoạt động 2: Dẫn vào bài mới

Huế  là di sản văn hóa của Việt Nam đã được UNESCO công nhận. Đây là mảnh đất cố đô có nhiều đặc điểm đặc biệt về địa lý tự nhiên, văn hóa, lịch sử…Nhắc đến Huế là nhắc đến dòng sông Hương thơ mộng, khởi nguồn cảm hứng cho biết bao thi nhân mà nhà thơ Thu Bồn đã viết:

“Con sông dùng dằng con sông không chảy

Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu”

Vẻ đẹp và sức hấp dẫn của Huế lại một lần nữa được khẳng định và ngợi ca trong tác phẩm của một nhà văn xứ Huế, mang tính cách Huế đó là nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Trường với nhiều tác phẩm hay về Huế. Một trong số đó là tùy bút “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”, (GV trình chiếu về cảnh xứ Huế với dòng sông Hương để học sinh cảm nhận).

 

 

Hoạt động của GV và HS Phương pháp Kết quả đạt được
Hoạt động 3: Tìm hiểu chung

GV gọi học sinh đọc phần tiểu dẫn sgk. Nêu những nét chính về tác giả, tác phẩm? Vị trí đoạn trích HS đọc và trình bày, giáo viên nhận xét, bổ sung.

Nguyên Ngọc đánh giá Hoang Phủ Ngọc Tường là “một trong mấy nhà văn viết kí hay nhất của văn học ta hiện nay”

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hoạt động 4: Đọc hiểu văn bản

Giáo viên gọi học sinh đọc đoạn từ đầu …bát ngát tiếng gà/199”

Đọc diễn cảm, đọc chậm, tha thiết ở phần “Phải nhiều thế kỉ đi qua…l”/198

GV? Xác định thể loại và chia bố cục?

Học sinh suy nghĩ trả lời có thể bằng nhiều ý khác nhau, giáo viên định hướng.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đọc hiểu chi tiết văn bản

Giáo viên chia lớp thành 4 nhóm phân công nhiệm vụ.

Nhóm 1: Sông Hương ở thượng lưu

Nhóm 2: Sông Hương ở ngoại vi thành phố

Nhóm 3 và nhóm 4: Sông Hương giữa lòng thành phố

(các nhóm làm nhiệm vụ, nhận xét, đặt câu hỏi cho các nhóm bạn)

GV đặt câu hỏi cho từng nhóm

Nhóm 1: Nhà văn đã miêu tả sông Hương ở thượng lưu như thế nào?

(gọi sông Hương bằng tên gọi nào? Ví nó với ai?tác giả dùng những biện pháp nghệ thuật nào )

(gọi sông Hương bằng tên gọi nào?ví nó với ai?tác giả dùng những biện pháp nghệ thuật nào để làm nổi bật vẻ đẹp và đặc tính của con sông?)

HS thảo luận, trả lời

GV nhận xét.

Các nhóm khác bổ sung

 

 

 

 

GV dẫn dắt và nêu câu hỏi: Nhà văn đã hình dung về sông Hương như thế nào khi nó còn ở “giữa Cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại” Từ đó hãy phát hiện điều thú vị trong cảm nhận của Hoàng Phủ Ngọc Trường về hành trình của sông Hương?

Nhóm 2: làm việc, trả lời câu hỏi. GV gợi mở: Vẻ đẹp cũng như hành trình đến với người tình đích thực của “người gái đẹp” Sông Hương được khắc họa như thế nào?

(GV lưu ý nghệ thuật đặc sắc của tác giả, hành văn, biện pháp tu từ..,.)

GV nhận xét, bổ sung.

(nghệ thuật: nhân cách hóa, so sánh, ngôn ngữ uyển chuyển, đa dạng, giàu hình ảnh…)

GV định hướng. Đã có một cảm nhận đầy chất thơ về sông Hương nhưng Hoàng Phủ Ngọc Tường còn thấy ở dòng sông này một vẻ đẹp khác nữa? Theo em đó là vẻ đẹp gì?

GV gợi ý: So với trước khi vào thành phố, Sông Hương đã có thêm những vẻ đẹp mới, độc đáo và hiếm thấy ở các dòng sông khác. Đó là những vẻ đẹp nào?

 

 

 

 

 

Nhóm 3,4 thảo luận, đại diện trả lời

GV nhận xét, bổ sung.

GV diễn giảng: Khi rời khỏi kinh thành Sông Hương chếch về hướng chính bắc. Do đặc điểm địa lý (hầu hết con sông đều chảy về hướng đông đổ ra biển)-> Sông Hương phải chuyển dòng sang hướng đông và sẽ quay lại qua một góc của thành phố Huế. Đó là đặc điểm địa lý tự nhiên của dòng sông

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Gv hướng dẫn học sinh tiểu kết. Hãy lập sơ đồ tóm lược lại những vẻ đẹp đặc trưng, độc đáo của Hương giang trên hành trình từ thượng lưu -> rời thành phố.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– Giáo viên gợi mở: Trong lịch sử và trong đời thường, Sông Hương đã hiện lên với những vẻ đẹp nào đáng trân trọng? Vì sao?

HS thảo luận, trả lời giáo viên nhận xét, bổ sung.

Sông Hương là một nhân chứng của lịch sử, trải qua các cuộc khởi nghĩa của dân tộc Việt Nam

Giáo viên diễn giảng: Điều làm nên vẻ đẹp đáng trân trọng và đáng mến của con sông là khi nghe lời kêu gọi của Tổ quốc “nó biết cách tự hiến đời mình làm một chiến công “nhưng khi” trở về cuộc sống bình thường Sông Hương tự nguyện “làm một người con gái dịu dàng của đất nước”…

GV nêu vấn đề: Vì sao sông Hương lại có thể trở thành dòng sông thi ca, là nguồn cảm hứng bất tận cho người nghệ sĩ?

Học sinh thảo luận, giáo viên nhận xét.

 

 

 

GV chuyển ý: Có một nhà thơ từ Hà Nội đến đây, tóc bạc trắng, lặng ngắm dòng sông, ném mẩu thuốc lá xuống chân cầu hỏi với trời với đất một câu hỏi thật bâng khuâng:

– Ai đã đặt tên cho dòng sông?

Em hãy lí giải điều này?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hoạt động 5: Tổng kết

GV Qua bài kí hãy nêu giá trị nội dung?

 

 

 

 

 

 

 

 

GV Về phương diện nghệ thuật những yếu tố nào đã làm nên vẻ đẹp và sức hấp dẫn của bài kí?

Học sinh thảo luận, trả lời.

 

 

 

 

 

– Nêu vấn đề

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đối thoại, nêu vấn đề, thảo luận nhóm

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tiết 2

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bản đồ tư duy

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phát vấn

I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

– Hoàng Phủ Ngọc Tường gắn bó chặt chẽ với xứ Huế và có vốn hiểu biết sâu rộng trên nhiều lĩnh vực nhất là lịch sử, địa lý, văn hóa Huế, là nhà văn chuyên viết về thể loại bút kí.

– Nét  đặc sắc trong phong cách nghệ thuật của Hoàng Phủ Ngọc Tường là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và trữ tình với những liên tưởng mạnh mẽ và một lối hành văn mê đắm tài hoa.

2. Hoàn cảnh sáng tác

Ai đã đặt tên cho dòng sông? Là bài kí xuất sắc được viết tại Huế ngày 4/1/1981 sau đó được in trong tập sách cùng tên.

3. Vị trí đoạn trích

Bài bút kí có 3 phần, đoạn trích học là phần thứ nhất.

II. Đọc – hiểu văn bản

1. Đọc

2. Thể loại và bố cục

– Thể loại: Bút kí (tùy bút) nghiêng về trữ tình.

– Bố cục: Chia làm 2 phần.

+ Phần 1: Từ đầu -> quê hương xứ sở

Hành trình của Hương giang

Sông Hương ở thượng lưu

“Trong những dòng sông…chân núi kim phụng

Sông Hương ở ngoại vi thành phố

“Phải nhiều thế kỷ…tiếng gà”

Sông Hương giữa lòng thành phố

“Từ đây…quê hương xứ sở”

+ Phần 2 (còn lại)

Sông Hương dòng sông của lịch sử và thi ca

Sông Hương với lịch sử dân tộc.

“Hiển nhiên… một lời thề”

Sông Hương với cuộc đời và thi ca

“Sông Hương là vậy…hết”

3. Đọc hiểu chi tiết văn bản

a. Hành trình của Hương giang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– Sông Hương ở thượng lưu:

+ Sông Hương được ví như “bản trường ca của rừng già”

-> vẻ đẹp của một sức sống mãnh liệt vừa hùng tráng vừa trữ tình.

+ Sông Hương hình dung như “ cô gái Digan phóng khoáng và man dại”

-> Vẻ đẹp hoang dại nhưng cũng rất tình tứ của con sông.

+ Sông Hương được nhân hóa như “người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở”->Sông Hương không chỉ đẹp mà còn là một khởi nguồn sự bắt đầu của không gian văn hóa

=>  Sông Hương ở thượng lưu trát lên vẻ đẹp của một sức sống mãnh liệt, hoang dại, đầy cá tính.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

– Sông Hương ở ngoại vi thành phố Huế

+ Sông Hương giống như “người gái đẹp nằm ngủ mơ màng” -> lãng mạn, nhuốm màu cổ tích…

 

 

+ Dưới ngòi bút tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường, sông Hương như người gái đẹp bừng tỉnh sau một giấc ngủ dài “ Sông Hương chuyển dòng…” hành trình đến với người tình mong đợi của “người gái đẹp” khá gian truân qua Hòn Chén, Ngọc Trản, Nguyệt Biều, Lương Quán. Mỗi bước đi của sông Hương gắn với những địa danh khác nhau của xứ Huế, sông Hương như người con gái đẹp, gợi cảm “ôm lấy chân đồi thiên Mụ” “ xuôi dần về Huế”; sông Hướng biết tự làm mới mình, trang điểm cho mình đẹp hơn…

+ Đó là “vẻ đẹp trầm mặc” “như triết lí, như cổ thi”. Con sông hiền hòa ở ngoại vi thành phố Huế như đang nép mình bên “giấc ngủ nghìn năm của những vua chúa” được phong kín trong lòng “những dòng sông u tịch”

=> Dòng sông hay chính là dòng chảy của lịch sử vẫn bền bỉ chảy qua năm tháng và đang vọng về trong ngày hôm nay.

– Sông Hương giữa lòng thành phố Huế.

+ Sông Hương “vui tươi hẳn lên”

“uốn một cánh cung rất nhẹ…”

“dòng sông mềm hẳn đi như một tiếng vâng không nói ra của tình yêu”

+ Sông Hương “điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế”-> lưu tốc của sông Hương chảy chậm, tác giả lí giải là do đặc điểm địa lí, so sánh với các dòng sông trên thế giới=>sông Hương chảy chậm vì nó quá yêu thành phố của mình, nó muốn được ngắm nhìn nhiều hơn trước khi phải chia xa.

+ Sông Hương gắn liền với nền âm nhạc cổ điển Huế, tác giả gọi Sông Hương là “người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya”

+ Sông Hương là “người tình dịu dàng và chung thủy”, trước khi rời khỏi thành phố, nó còn quay trở lại ngắm nhìn thành phố một lần nữa, nhà văn hình dung sông Hương như nàng Kiều quay lại tìm Kim Trọng trong đêm tình tự để nói một lời trước khi đi xa.

* Tiểu kết

 

→ Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tiếp cận và miêu tả dòng sông từ nhiều không gian, thời gian khác nhau. Ở mỗi góc độ nhà văn đều thể hiện một cảm nghĩ sâu sắc và mới mẻ về con sông biểu tượng của Huế => Tình cảm yêu mến, gắn bó thiết tha, một niềm tự hào và thái độ trân trọng của nhà văn đối với vẻ đẹp của dòng sông quê hương .

b. Dòng sông của lịch sử cuộc đời và thi ca.

– Sông Hương trong mối quan hệ với lịch sử dân tộc và cuộc đời.

+ Trong lịch sử sông Hương mang vẻ đẹp của một bản hùng ca ghi dấu bao chiến công oanh liệt của dân tộc-> Dòng sông biên thùy thời Hùng Vương – thế kỉ XV- dòng viên châu của nước Đại Việt. Thế kỉ XVIII gắn với chiến công anh hùng Nguyễn Huệ. Thế kỉ XIX với các cuộc khởi nghĩa. Thế kỉ XX với cách mạng tháng 8 => có mặt trong cuộc kháng chiến chống Mĩ ác liệt.

+ Trong cuộc sống đời thường Sông Hương mang vẻ đẹp giản dị của một người con gái dịu dàng, thủy chung với tà áo tím Huế rất dịu dàng, thấp thoáng ẩn hiện tự nhiên…

 

 

 

 

 

– Vì vẻ đẹp độc đáo và đa dạng của sông Hương vì con sông không bao giờ tự lặp lại mình nên nó luôn có những vẻ đẹp mới -> khởi nguồn cảm hứng mới cho người nghệ sĩ. Từ câu hò Đập Đá đến thơ Tản Đà, Cao Bá Quát, Bà huyện Thanh Quan, Tố Hữu.

=> Nhà văn đã chọn cách trả lời cho câu hỏi ấy thật ấn tượng, đậm chất trữ tình “Tôi thích nhất một huyền thoại kể rằng, vì yêu quý con sông xinh đẹp của quê hương nhân dân hai bờ sông Hương đã nấu nước của trăm loài hoa đổ xuống dòng sông để làn nước thơm tho mãi mãi “Mượn huyền thoại này giải thích cho câu hỏi “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” phải chăng nhà văn muốn khằng định hai phẩm chất cao quý của sông Hương cũng là hai vẻ đẹp còn mãi với thời gian của con sông này: Cái đẹp vĩnh hằng và danh thơm muôn thuở.

III. Tổng kết

1. Nội dung: Bài kí nói chung và đoạn văn nói riêng là kết tinh và tổng hòa đẹp đẽ của một tình yêu say đắm đối với dòng sông với quê hương xứ sở và tài năng của một cây bút giàu trí tuệ, am hiểu sâu rộng về văn hóa, lịch sử, địa lí và văn chương cùng một sức liên tưởng, tưởng tượng phong phú độc đáo.

2. Nghệ thuật

– Bố cục phóng khoáng, khả năng liên tưởng phong phú.

– Một cách viết tài hoa uyên bác

– Ngôn ngữ giàu có sinh động – Văn phong vừa giàu chất triết lí vừa giàu chất thơ.

– Các biện pháp nghệ thuật: ẩn dụ, so sánh, nhân hóa, liên tưởng bất ngờ thú vị…

III. Luyện tập

Câu hỏi: Qua tìm hiểu đoạn trích “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” em có thể rút ra bài học gì trong việc phân tích tác phẩm kí?

HS trả lời:

+ Dựa trên hiện thực khác quan tôn trọng sự thật nhưng các tác phẩm kí văn học lại thể hiện nhiều hơn cảm nghĩ chủ quan của người viết với đối tượng được phản ánh.

+ Cách nhìn cách thể hiện, cách cảm nhận về  đối tượng và khuynh hướng cảm nghĩ của tác giả.

+ Tiếp cận và đọc hiểu một bài bút kí cần chú ý: Xác định đối tượng được phản ánh – phân tích những cảm nhận phong phú, độc đáo của tác giả về đối tượng đồng thời khám phá giọng điệu trữ tình và sự tài hoa của người viết.

Hướng dẫn học sinh tự học

– Tìm đọc trọn vẹn tác phẩm.

– Sưu tầm những câu thơ, bài thơ, ca khúc viết về sông Hương

Tài liệu tham khảo.

SGK, SGV, Thiết kế bài giảng Ngữ văn 12 tập 1- NXB GD – Nguyễn Văn Đường chủ biên.

Bồi dưỡng Ngữ văn 12 NXB Đại học sư phạm – Đỗ Kim Hảo

Chuyên đề dạy học Ngữ văn 12 Ai đã đặt tên cho dòng sông? NXB Giáo dục Lê Thị Hường chủ biên.

Rút kinh nghiệm

– Các em có chuẩn bị  bài. Sưu tầm được nhiều tranh ảnh về Sông Hương, về Huế

– Lớp 12 A1 hoạt động nhóm không tích cực

– Giáo viên rút kinh nghiệm về phương pháp dạy đọc hiểu kí theo đặc trưng thể loại.

Hiệu quả do sáng kiến đem lại

Trên thực tế khi tôi áp dụng sáng kiến này để giảng dạy tại hai lớp 12, 12A1, 12D ở trường THPT Trực Ninh có kết quả như sau:

Đối với học sinh

Khi đối chiếu kết quả đánh giá kiến thức, kĩ năng qua bài kiểm tra giữa 2 lớp 12 A1(sử dụng các phương pháp trên ) và 12D (dạy học truyền thống), tôi nhận thấy rõ hiệu quả của giải pháp. Lớp 12A1 có kết quả cao hơn, nhiều em viết khoa học cảm xúc hơn, tư duy nhanh nhẹn hơn và có tính tự học cao hơn. Đây cũng chính là một trong những giải pháp rèn luyện kĩ năng, phát triển năng lực của người học.

* Về kết quả của bài kiểm tra

Kết quả kiểm tra sau bài dạy thực nghiệm

Đề kiểm tra 90’

Phần 1: Chọn một đáp án đúng

Câu 1: Trong các lời đánh giá sau đây, lời nào nói đúng nhất về nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường.

  1. Một ngòi bút đậm chất sử thi và lãng mạn.
  2. Một nhà nghệ sĩ ngôn từ.
  3. Một ngòi bút tiểu thuyết đậm chất sử thi.
  4. Một cái tôi hào hoa và một tấm lòng gắn bó với cảnh sắc, con người xứ Huế.

Câu 2: Theo Hoàng Phủ Ngọc Tường đặc điểm của sông Hương là:

  1. Chảy qua nhiều vùng đất nước.
  2. “Con sông dùng dằng con sông không chảy”
  3. Con sông thuộc về một thành phố duy nhất.
  4. Dòng sông “độc bắc lưu”

Câu 3: Nhắc đến “cái nhìn thắm thiết tình người của tác giả Từ ấy Hoàng Phủ Ngọc Tường muốn đề cập đến bài thơ nào?

  1. Quê mẹ
  2. Tiếng hát sông Hương
  3. Từ ấy
  4. Trên dòng Hương Giang

Câu 4: Viết một đoạn văn ngắn khoảng 5->7 câu về dòng sông quê hương em.

Phần 2. Tự luận

Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường là hai nhà văn có phong cách nghệ thuật độc đáo và đặc biệt sở trường về thể tùy bút, bút kí. Qua hai đoạn trích “Người lái đò sông Đà”(Nguyễn Tuân) và “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”(Hoàng Phủ Ngọc Tường). Anh(chị) hãy so sánh sự giống nhau và khác nhau trong phong cách nghệ thuật của hai nhà văn.

Kết quả bài kiểm tra.

Lớp Sĩ số Điểm 9 -10 Điểm 7-8 Điểm 5 – 6 Điểm <5
12A1 46 7 25 13 0
12D 37 3 27 25 2

Thông qua bài kiểm tra đánh giá năng lực của học sinh bằng việc áp dụng một số phương pháp giảng dạy tác phẩm kí hiện đại Việt Nam đã cho thấy rõ những phương pháp này có hiệu quả hơn, kết quả tốt hơn và đặc biệt gây được sự hứng thú cho học sinh, khiến giờ dạy Đọc hiểu kí vốn khô khan thì bây giờ trở nên có cảm xúc hơn, học sinh say sưa học hơn. Giờ học Ngữ văn không còn là chán nản và áp lực đối với các em vốn là dân tự nhiên Toán lý hoá nữa. Tiết học Ngữ văn học sinh không phải cắm cúi ghi chép hay học thuộc lòng những bài văn mẫu nữa, mà với phương pháp dạy học này học sinh được cuốn hút vào các hoạt động học tập do thầy cô giáo tổ chức, thông qua đó các em khám phá những điều mình chưa rõ, các em quan sát, thảo luận, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức mới và làm chủ kiến thức của mình.

  1. Đối với giáo viên

Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ các phương pháp dạy học truyền thống quen thuộc. Tuy nhiên các phương pháp dạy học truyền thống có những hạn chế tất yếu. Vì vậy trước yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá hiện nay, mỗi thầy cô giáo phải nghiên cứu tìm tồi phương pháp kỹ thuật tối ưu nhất cho phù hợp với từng bài dạy ở trên lớp. Sáng kiến “ Một số phương pháp cho việc dạy tác phẩm kí hiện đại Việt Nam” (trong chương trình Ngữ văn 12 cơ bản) đã đem lại hiệu quả cho bản thân tôi. Sau tiết dạy thực nghiệm “Người lái đò sông Đà” (Nguyễn Tuân) và “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” (Hoàng Phủ Ngọc Tường) tôi nhận thấy giờ học văn không còn là sự truyền đạt kiến thức thụ động một chiều với những lời giảng, lời bình miên man của thầy cô giáo nữa, ngược lại học sinh được thực hiện các hoạt động học để chủ động khám phá tri thức. Thầy cô giáo đưa ra các phương pháp, giải pháp để dẫn dắt học sinh đến với tác phẩm văn học một cách tự nhiên, đó cũng là cách thầy cô rèn luyện kĩ năng làm việc độc lập và theo nhóm, nâng cao năng lực giao tiếp, phát huy khả năng sáng tạo tư duy cho học sinh.

  1. Khả năng áp dụng vào thực tế của sáng kiến.

– Sáng kiến “Một số phương pháp cho việc dạy tác phẩm kí hiện đại Việt Nam”(trong chương trình Ngữ văn 12 ban cơ bản) bắt nguồn từ yêu cầu thực tế và hoàn toàn có khả năng áp dụng vào thực tiễn giảng dạy hiện nay. Cụ thể:

– Áp dụng vào giảng dạy chủ đề kí hiện đại Việt Nam (chương trình ngữ văn 12 ban cơ bản). Sử dụng các phương pháp: Dạy học theo đặc trưng thể loại; Đọc – hiểu văn bản; Bản đồ tư duy chắc chắn sẽ tạo được hứng thú cho học sinh, học sinh không cần phải nhớ những trang sách dài dầy kín chữ nữa mà với Bản đồ tư duy sẽ giúp các em hệ thống hóa được kiến thức cơ bản nhất, một cách khoa học nhất.

– Áp dụng vào giảng dạy các chủ đề khác: Như Truyện hiện đại Việt Nam (chương trình lớp 12 ban cơ bản) với ba phương pháp trên chắc chắn các em sẽ thích học giờ văn hơn vì các em thể hiện rõ được năng lực tư duy và khả năng sáng tạo của mình.

– Ngoài ra, các phương pháp dạy học trên có thể xem xét áp dụng linh hoạt vào các giờ dạy học môn văn nói riêng và các môn khác nói chung để giờ học trong nhà trường có hiệu quả cao nhất.

  1. Đề xuất, kiến nghị

– Trong quá trình thực hiện các phương pháp dạy học trên tôi thấy cần đề xuất với cấp trên một số vấn đề như sau:

– Trang bị thêm về cơ sở vật chất (các lớp cần được lắp máy chiếu, máy H) để việc áp dụng những phương pháp dạy học mới đạt hiệu quả hơn.

– Đổi mới về hình thức kiểm tra đánh giá năng lực của học sinh, tránh kiểm tra hình thức học thuộc lòng, ghi chép dài, không phát huy được năng lực sáng tạo, năng lực cảm thụ, năng lực tư duy của học sinh.

– Đối với học sinh lớp 12 nội dung ôn tập thi THPT Quốc gia cần mở rộng kiến thức hơn, bao quát hơn, tránh tình trạng học tủ, học lệch.

– Không có một phương pháp dạy học toàn năng phù hợp với mọi mục tiêu và nội dung học. Mỗi phương pháp và hình thức dạy học có những ưu điểm và nhược điểm riêng. Vì vậy việc phối hợp sử dụng các phương pháp dạy học cần phải linh động cho phù hợp với từng tiết học, tránh áp đặt dập khuôn. Tuy có đổi mới nhưng mỗi thầy cô giáo hãy nhớ rằng giờ học văn dù có khoa học đến mấy nhưng nếu không có cảm xúc, thẩm mỹ, sự đồng cảm, sự thăng hoa, tính giáo dục thì không còn là giờ Văn nữa. Tránh tình trạng chỉ đổi mới về hình thức mà chất lượng giờ học không thay đổi, thậm chí giờ dạy trở nên lúng túng, rối rắm và tẻ nhạt hơn.

Kết luận

– Một trong những đòi hỏi thiết thực nhất của chất lượng giáo dục đối với môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông hiện nay là nâng cao khả năng chủ động, tiếp thu tri thức và khả năng vận dụng tri thức vào đời sống. Bước đầu thử nghiệm những phương pháp dạy học này đối với thể loại kí hiện đại Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 12 ban cơ bản có những kết quả rất khả quan.

– Trong điều kiện xã hội đang phát triển như hiện nay, việc rèn luyện kỹ năng làm việc độc lập và theo nhóm phát huy khả năng sáng tạo tư duy sẽ có tác động rất lớn tới việc phát triển nâng cao năng lực giao tiếp, năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh.

– Tùy bút là thể văn xuôi, tự sự, trữ tình, phản ánh chân thực và khách quan cuộc sống. Trên cơ sở đó tôi xây dựng một vài phương pháp nhằm phát huy tối đa những nét độc đáo của thể tùy bút vào việc rèn các kỹ năng cần thiết cho học sinh và tạo được hứng thú niềm say mê yêu thích môn Văn của học sinh.

Cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền.

Trên đây là sáng kiến tôi đã áp dụng trong thực tế tại Trường THPT Trực Ninh.

Tôi xin cam kết không sao chép lại sáng kiến của cá nhân, đơn vị nào.

TƯ LIỆU THAM KHẢO

  1. Tài liệu tập huấn: Dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh môn Ngữ văn cấp THPT (vụ giáo dục trung học, Hà Nội -2014).
  2. Tài liệu tập huấn: Xây dựng các chuyên đề dạy học và kiểm tra đánh giá (2015)
  3. Một số phương pháp kĩ thuật dạy học tích cực (www. sch.vn)
  4. Đặc trưng của dạy học tích cực (www.giaoduc .edu.vn)
  5. SKKN: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu văn bản bút kí trong trường THPT – Tài liệu text -123.org.
  6. SGK Ngữ văn 12 Tập 1(NXB Giáo dục 2009)
  7. SGV Ngữ văn 12 Tập 1(NXB Giáo dục 2009)
  8. Chuyên đề dạy – học Ngữ văn 12. Ai đã đặt tên cho dòng sông?

(Hoàng Phủ Ngọc Tường)

– Lê Thị Hường chủ biên(NXB GD 2008)

  1. Chuyên đề dạy – học Ngữ văn 12: Người lái đò Sông Đà (Nguyễn Tuân)

Hoàng Dục chủ biên (NXB Giáo dục 2008)

  1. Dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ văn lớp 12

(Phạm Trọng Luân – chủ biên – NXB ĐH Sư phạm 2010)

  1. Bồi dưỡng Ngữ văn 12(Đỗ Kim Hồi chủ biên) – NXB ĐH Sư phạm – 2010
  2. Những điều cần biết kì thi THPT QG Ngữ văn

(Phan Danh Hiếu) – NXB ĐH Quốc Gia Hà Nội

  1. Thiết kế bài giàng Ngữ văn 12 Tập 1(Nguyễn Văn Đường chủ biên) NXB Hà Nội 2009.
  2. Thực hành làm văn lớp 12 (Lê A chủ biên) NXB Giáo dục Việt Nam.

Hình ảnh tư liệu về sông Đà:

“Lại hình dung một thế kỷ không xa

Thủy điện sẽ nuốt tươi sức phóng túng sông Đà

Đà gửi thần linh vào tùy bút

Văn như thuyền độc mộc, thác thăng hoa”

(Nguyễn Vũ Tiềm)

Hình ảnh tư liệu về sông Hương

(Tài liệu sưu tầm),

Xem thêm : Kho sáng kiến kinh nghiệm môn Văn

Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về Người lái đò sông Đà

Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về Ai đã đặt tên cho dòng sông

Đề đọc hiểu đoạn mở đầu Ai đã đặt tên cho dòng sông

Bộ đề đọc hiểu ôn thi THPT Quốc gia có đáp án,

Đề đọc hiểu đoạn mở đầu bài kí  Ai đã đặt tên cho dòng sông- Hoàng Phủ Ngọc Tường

Đọc đoạn văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

“ Trong những dòng sông đẹp ở các nư­ớc mà tôi thư­ờng nghe nói đến, hình như­ chỉ sông Hư­ơng là thuộc về một thành phố duy nhất. Trư­ớc khi về đến vùng châu thổ êm đềm, nó đã là một bản tr­ường ca của rừng già, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như­ cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn, và cũng có lúc nó trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng. Giữa lòng Trư­ờng Sơn, sông Hư­ơng đã sống một nửa cuộc đời của mình như­ một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại. Rừng già đã hun đúc cho nó một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng. Như­ng chính rừng già nơi đây, với cấu trúc đặc biệt có thể lí giải đ­ược về mặt khoa học, đã chế ngự sức mạnh bản năng ở ng­ười con gái của mình để khi ra khỏi rừng, sông Hư­ơng nhanh chóng mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành ng­ười mẹ phù sa của một vùng văn hoá xứ sở. Nếu chỉ mải mê nhìn ngắm khuôn mặt kinh thành của nó, tôi nghĩ rằng người ta sẽ không hiểu một cách đầy đủ bản chất của sông H­ương với cuộc hành trình gian truân mà nó đã vư­ợt qua, không hiểu thấu phần tâm hồn sâu thẳm của nó mà dòng sông hình như­ không muốn bộc lộ, đã đóng kín lại ở cửa rừng và ném chìa khoá trong những hang đá d­ưới chân núi Kim Phụng.”

Câu 1. Đoạn văn trên được trích trong tác phẩm nào? Văn bản đó thuộc thể loại gì ?

Câu 2. Đối tượng miêu tả của đoạn kí ? Đối tượng ấy hiện lên như thế nào qua đoạn văn ?

Câu 3. Trong đoạn văn, tác giả đã sử dụng các biện pháp tu từ gì ? Tác dụng của những biện pháp nghệ thuật ấy ?

Câu 4. Nhân vật “tôi” hiện lên như thế nào trong đoạn văn?

Câu 5. Đặc điểm Sông Hương ở đoạn này có điểm gì tương đồng với đặc điểm sông Đà ở thượng nguồn trong Người lái đò sông Đà  của Nguyễn Tuân?

ĐÁP ÁN

Câu 1. Đoạn văn trích trong tác phẩm  “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”. Văn bản thuộc thể kí (bút kí)

Câu 2.

  • Đối tượng miêu tả của đoạn văn đoạn văn : Sông Hương ở thượng nguồn
  • Dòng sông hiện lên với vẻ độc đáo :

+ Dòng chảy phong phú: vừa mãnh liệt vừa dịu dàng, say đắm

+ Dòng sông mang vẻ đẹp nữ tính: từ cô gái di-gan đến người mẹ phù sa

+ Dòng sông mang vẻ đẹp kín đáo với tâm hồn sâu thẳm

Câu 3.

  • Trong đoạn văn, tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật: đối lập (tương phản), so sánh, nhân hóa.
  • Tác dụng:

+ Nghệ thuật đối lập (tương phản) nhằm làm nổi bật vẻ độc đáo của dòng sông

+ Nghệ thuật so sánh, nhân hóa khiến sông Hương trở nên sinh động, có hồn, dòng sông gần với tâm hồn của con người xứ Huế.

Câu 4. Nhân vật “tôi” hiện lên rõ nét :

– Kiến thức phong phú, am tường về Huế

– Trí tưởng tượng phong phú độc đáo, mãnh liệt

– Ngôn ngữ phong phú, tài hoa

– Tình yêu đối với xứ Huế

Câu 5. Điểm tương đồng giữa sông Hương ở đoạn này và sông Đà ở thượng nguồn là: sự hùng vĩ

Xem thêm :

Cảm nhận về hai hình tượng Sông Đà và Sông Hương ngữ văn 12

Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về Người lái đò sông Đà

Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về Ai đã đặt tên cho dòng sông

Xem thêm :Tuyển tập bộ đề đọc hiểu ôn thi THPT Quốc gia ngữ văn

Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về các tác phẩm lớp 12 ( phần 2 )

Tổng hợp những Kết bài Nghị luận văn học Ngữ văn 12 hay nhất :  Tây Tiến, Đất nước, Vợ nhặt, Vợ chồng A Phủ, Rừng xà nu, Chiếc thuyền ngoài xa, Việt Bắc, Sóng, Người lái đò sông Đà, Ai đã đặt tên cho dòng sông

Tài liệu bài luyện tập rèn kĩ năng viết mở bài, kết bài trong văn nghị luận

1, Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Tây Tiến– Quang Dũng

  1. Từ sự kết hợp một cách hài hoà giữa cái nhìn hiện thực với cảm hứng lãng mạn, Quang Dũng đã dựng lên bức chân dung, một bức tượng đài người lính cách mạng vừa chân thực vừa có sức khái quát, tiêu biểu cho vẻ đẹp sức mạnh dân tộc ta trong thời đại mới, thời đại cả dân tộc đứng lên làm cuộc kháng chiến vệ quốc thần kỳ chống thực dân Pháp. Đó là bức tượng đài được kết tinh từ âm hưởng bi tráng của cuộc kháng chiến ấy. Đó là bức tượng đài được khắc tạc bằng cả tình yêu của Quang Dũng đối với những người đồng đội, đối với đất nước của mình. Vì thế từ Tây Tiến, từ bức tượng đài đã vút lên khúc hát ngợi ca của nhà thơ cũng như của cả đất nước về những người con anh hùng ấy.
  2. Quang Dũng vào “làng” thơ cách mạng với bài Tây Tiến . Như có mối duyên gì ràng buộc, bài thơ ấy gắn bó với người làm ra nó đến mức cứ nói đến Quang Dũng là người ta nhớ đến bài thơ Tây Tiến và ngược lại.Có lẽ bởi từ sự kết hợp một cách hài hoà giữa cái nhìn hiện thực với cảm hứng lãng mạn, Quang Dũng đã dựng lên bức chân dung, một bức tượng đài người lính cách mạng vừa chân thực vừa có sức khái quát, tiêu biểu cho vẻ đẹp sức mạnh dân tộc ta trong thời đại mới, thời đại cả dân tộc đứng lên làm cuộc kháng chiến vệ quốc thần kỳ chống thực dân Pháp.
  3. Đọc xong những ý thơ mà tôi có cảm giác vẻ đẹp của thiên nhiên, con người miền Tây còn chập chờn, mien man đâu đó. Bằng tình cảm sâu đậm của mình với mảnh đất này, Quang Dũng đã tạo nên mối tơ tình đồng điệu, gắn bó giữa độc giả với nhà thơ, giữa độc giả với thiên nhiên, con người miền Tây trong những năm tháng kháng chiến gian nan. Quả là “ Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy / Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”.

2. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Đất Nước- Nguyễn Khoa Điềm:

Những vần thơ rất đẹp trong Đất Nướcđã vượt qua thử thách của thời gian, tiếp tục toả sáng, giúp thế hệ học sinh hôm nay hiểu hơn về thế hệ cha ông trong những ngày tháng hào hùng nhất của dân tộc. Trong thời đại mới, những giá trị của ngày hôm qua góp phần khơidậy lòng tự hào và ý thức trách nhiệm, tình cảm cho mỗi con người trong khát vọng đưa Đất Nước đi xa đến những tháng ngày mơ mộng

3. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Việt Bắc Tố Hữu

  1. Như vậy nhà thơ Tố Hữu đã thể hiện những tâm sự của mình nói riêng và của tất cả những chiến sĩ và nhân dân Việt Bắc nói chung. Mười lăm năm kháng chiến với biết bao nhiêu kỉ niệm và giờ đây khi phải xa nhau thấy lòng mình thật muốn vỡ òa trong nức nở. Chân không muốn rời xa. Qua đây ta thấy được tình nghĩa đoàn kết keo sơn của con người Việt Nam mà cụthể đó là tình quân dân. Để đạt được những thắng lợi trên mặt trận ấy thì không thể nào quên ơn những người nhân dân Việt Bắc được
  2. Trong câu chuyện với một nhà nghiên cứu văn học người Pháp, Tố Hữu tâm sự rằng: “Mình phải lòng đất nước và nhân dân của mình. Nói về đất nước, nói về nhân dân như nói về người mình yêu”. Phải chăng, tâm sự đó là những lời mà Tố Hữu nói về Việt Bắc, nói về những vần thơ chan chứa tình quân dân gắn bó, tình yêu nước thiết tha. Những tình cảm thiêng liêng ấy cứ vấn vương mãi trong lòng người đọc.

4. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Sóng- Xuân Quỳnh

  1. Sóng – bài thơ thành công trong phương thức biểu hiện cảm xúc của thi sĩ. Kết cấu song trùng, sự tương xứng giữa hai hình tượng Sóng và Em là sáng tạo nghệ thuật đặc sắc, giàu tính thẩm mĩ của Xuân Quỳnh. Với sự sáng tạo ấy, Xuân Quỳnh đã nói lên một cách nồng thắm mà không kém phần tế nhị những khát khao rạo rực của trái tim yêu. Đó cũng là những khát khao đời thường, dung dị, cao quý. Tiếng nói ấy chân thành, tự nhiên mà sâu sắc được diễn tả qua hình tượng thơ gợi cảm, đa nghĩa. Xuân Quỳnh thực sự là thi sĩ của tình yêu, thi sĩ của những rung động nữ tính trong trái tim.
  2. Bài thơ Sóng là bài thơ giàu giá trị nội dung và nghệ thuật. Thành công của bài thơ là nhờ vào thủ pháp nghệ thuật nhân hóa, ẩn dụ, so sánh, đối lập… nhất là thể thơ ngũ ngôn giàu nhịp điệu. Nhịp điệu của sóng, nhịp điệu của tâm hồn. Tất cả đã làm hiện lên vẻ đẹp rất Xuân Quỳnh giàu trắc ẩn suy tư và khát vọng trong tình yêu. Đọc xong bài thơ “Sóng” ta càng ngưỡng mộ hơn những người phụ nữ Việt Nam, những con người luôn thuỷ chung, luôn sống hết mình vì một tình yêu. Xuân Quỳnh xứng đáng là một nhà thơ nữ của tình yêu lứa đôi, chị đã làm phong phú hơn cho nền thơ ca nước nhà

5. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài  Ai đã đặt tên cho dòng sông– Hoàng Phủ Ngọc Tường

Hoàng Phủ Ngọc Tường đã dẫn người đọc vào cuộc hành trình khám phá nét đẹp của thiên nhiên Huế. Lần lượt theo dòng chảy của Hương giang, tôi bắt gặp khung cảnh thiên nhiên Huế lúc nguyên sơ, trong trẻo, lúc mượt mà khi kì ảo, lúc dịu dàng say đắm khi thâm trầm trang nghiêm. Sông Hương tôn lên vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên Huế, hòa nhập với không khí của văn hóa Huế. Tất cả đều sống động qua tình yêu tha thiết của Hoàng Phủ Ngọc Tường với con sông này. Qua hình tượng sông Hương tôi còn cảm nhận vẻ đẹp cái tôi Hoàng Phủ Ngọc Tường: một cái tôi trí tuệ uyên bác qua những tri thức phong phú với nhiều lĩnh vực, một cái tôi tài hoa phóng túng với những liên tưởng bất ngờ. Và trên hết là một cái tôi sâu nặng tình yêu và tự hào với Huế – quê hương của mình.Tất cả làm nên sức sống của thiên kí này.

6. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Người lái đò sông Đà– Nguyễn Tuân

Phong cách Nguyễn Tuân độc đáo và phong phú.Ở tùy bút “Người lái đò sông Đà” chúng ta thấy phong cách giá trị của ông thể hiện rõ nhất là sự nhọn sắc của giác quan nghệ sĩ đi đôi với một kho chữ nghĩa giàu có và đầy màu sắc, lối văn rất mực tài hoa. Dòng sông Đà “hung bạo và trữ tình” cùng hình tượng người lái đò tài hoa chảy mãi trong dòng văn học nước nhà như niềm yêu mến và tự hào về con người, cỏ cây sông núi quê hương của nhà văn Nguyễn Tuân

7. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Vợ chồng A Phủ– Tô Hoài

Gấp lại những trang sách mà dư âm về nhân vật Mị, về cô gái Mèo với sức sống mãnh liệt trong đêm tình mùa xuân, về số phận đáng thương của người dân dưới xã hội phong kiến đương thời vẫn còn in đậm trong tâm hồn tôi. Mị hay Vợ chồng A Phủ mãi là những rung động sâu sắc mà Tô Hoài để lại nơi người đọc.

8. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Vợ nhặt– Kim Lân

  1. “Cái đẹp cứu vớt con người” (Đôxtôiepki). Vâng, “vợ nhặt” củanhà văn Kim Lân thể hiện rõ sức mạnh kì diệu ấy. Ánh sáng của tình người, lòng tin yêu vào cuộc sống là con nguồn mạch giúp Kim Lân hoàn thành tác phẩm. Ông đã đóng góp cho văn học Việt Nam nói chung, về đề tài nạn đói nói riêng một quan niệm mới về lòng người và tình người. Đọc xong thiên truyện, dấu nhấn mạnh mẽ nhất trong tâm hồn bạn đọc chính là ở điểm sáng tuyệt vời ấy.
  1. Bằng ngòi bút miêu tả chân thực, sinh động, cách khắc họa tâm lý nhân vật sắc sảo,độc đáo và cốt truyện đầy bất ngờ Kim Lân đã vẽ lại trước mắt người đọc khung cảnh đói nghèo tràn lan của xã hội Việt Nam những năm 1945. Qua đó tác giả cũng nhấn mạnh tình yêu thương giữa người với người luôn bất diệt.

 

9. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Rừng xà nu– Nguyễn Trung Thành

Rừng xà nu là truyện của một người nhưng qua đó ta thấy được số phận của cả một dân tộc . Đó là bức tranh hoành tráng , hoành tráng trong hình ảnh, với vóc dáng vạm vỡ của cao cả của rừng núi và của con người và hoành tráng trong âm hưởng với lời văn đầy nhịp điệu, khi vang động, khi tha thiết trang nghiêm .

10. Tuyển tập những kết bài hay và độc đáo về bài Chiếc thuyền ngoài xa– Nguyễn Minh Châu

Qua truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu đã nêu lên bài học về cái nhìn đa diện, cái nhìn khám phá trong sáng tạo nghệ thuật đối với các nghệ sĩ chân chính. Từ tình huống truyện có ý nghĩa khám phá, phát hiện về sự thật đời sống và qua sự thay đổi nhận thức của Phùng, của Đẩu, tác giả đã khẳng định mối quan hệ giữa nghệ thuật và hiện thực. Theo ông, bổn phận của người nghệ sĩ là phải phát hiện ra bản chất của cuộc đời. Cái Đẹp, cái Thiện trước hết phải là sự chân thực, Cuộc sống vốn phức tạp, chúng ta không thể đơn giản, sơ lược khi nhìn nhận con người và cuộc sống mà cần có cái nhìn tỉnh táo, sâu sắc cùng với sự tìm tòi, phát hiện để hiểu đúng bản chất của nó.

Tài liệu sưu tầm và tổng hợp

Xem thêm :

  1. Tổng hợp những kết bài hay về các tác phẩm lớp 12 ( phần 1 )
  2. Tuyển tập những kết bài mẫu  về các tác phẩm lớp 11 
  3. Cách viết phần kết bài trong văn nghị luận
  4. Tuyển tập những mở bài hay nhất về các tác phẩm lớp 12

Full bộ đề thi thử THPT Quốc gia môn văn , số 86

Đề thi thử kì thi THPT Quốc gia năm 2017, đề minh họa kì thi THPT Quốc gia môn văn soạn theo cấu trúc mới, có đáp án chi tiết

Đề số 86

ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

Sáu con người, do sự tình cờ của số phận, mắc kẹt vào cùng một cái hang rất tối và lạnh. Mỗi người chỉ còn một que củi nhỏ trong khi đống lửa chính đang lụi dần.

Người phụ nữ đầu tiên định quẳng que củi vào lửa, nhưng đột nhiên rụt tay lại. Bà vừa nhìn thấy một khuôn mặt da đen trong nhóm người da trắng. Người thứ hai lướt qua các bộ mặt quanh đống lửa, thấy một người trong số đó không đi chung nhà thờ với ông ta. Vậy là thanh củi cũng bị thu về. Người thứ ba trầm ngâm trong một bộ quần áo nhàu nát. Ông ta kéo áo lên tận cổ, nhìn người đối diện, nghĩ thầm:“Tạo sao mình lại phải hi sinh thanh củi để sưởi ấm cho con heo béo ị giàu có kia?”. Người đàn ông giàu lui lại một chút, nhẩm tính: “Thanh củi trong tay, phải khó nhọc lắm mới kiếm được, tại sao ta phải chia sẻ nó với tên khố rách áo ôm lười biếng đó?”. Ánh lửa bùng lên một lần cuối, soi rõ khuôn mặt người da đen đang đanh lại, lộ ra những nét hằn thù: “Không, ta  không cho phép mình dùng thanh củi này sưởi ấm những gã da trắng!”.

Chỉ còn lại người cuối cùng trong nhóm. Nhìn những người khác trầm ngâm trong im lặng, anh ta tự nhủ: “Mình sẽ cho thanh củi, nếu có ai đó ném phần của họ vào đống lửa trước.”

Cứ thế, đêm xuống dần. Sáu con người nhìn nhau căng thẳng, tay nắm chặt những que củi. Đống lửa chỉ còn than đỏ rồi lụi tắt. Sáng hôm sau, khi những người cứu hộ tới nơi, cả sáu đều đã chết cóng…

(Theo Quà tặng cuộc sống)

Câu 1. Kể tên các phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản trên?

Câu 2. Người viết văn bản trên đã đặt các nhân vật vào một tình huống như thế nào? Ý nghĩa của cách tạo dựng tình huống đó?

Câu 3. Theo anh/chị, trong văn bản trên, có những nguyên nhân nào khiến cả sáu người chết cóng?

Câu 4. Hãy đặt tiêu đề cho văn bản.

LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm)

Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về cách nghĩ và hành động của sáu con người trong câu chuyện trên.

Câu 2 (5,0 điểm)

Nhận xét về bài kí Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường, có ý kiến cho rằng: Từ thượng nguồn dòng chảy đến lúc đổ ra biển sông Hương đã đi với Huế cả một mối tình trọn vẹn. 

Bằng việc cảm nhận vẻ đẹp của sông Hương qua thủy trình của nó, anh/chị hãy làm sáng tỏ nhận định trên.          

Đáp án:

. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Câu 1. Các phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản trên là: tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm.

Câu 2. Các nhân vật bị đặt vào một tình huống đặc biệt:

– Sáu người bị mắc kẹt vào một cái hang, thời tiết lạnh lẽo, khắc nghiệt, đống lửa duy nhất lại đang tàn dần trong khi đó mỗi người đều đang sở hữu một que củi.

– Ý nghĩa của tình huống: Tình huống có tính chất thử thách các nhân vật, qua đó tính cách các nhân vật bộc lộ rõ nét: tất cả đều hẹp hỏi, nhỏ nhen, ích kỉ, thiếu tình yêu thương đồng loại, thiếu tinh thần đoàn kết…

Câu 3. Nguyên nhân khiến sáu người chết cóng:

– Trước hết là vì hoàn cảnh khắc nghiệt: cái lạnh của hang đá làm họ kiệt sức.

– Tuy nhiên, nếu các nhân vật biết cách chia sẻ thanh củi của mình thì có lẽ họ đã không chết cóng. Họ không chỉ chết vì cái lạnh của hang đá mà còn chết vì chính cái lạnh từ tâm hồn họ. Đó là sự phân biệt chủng tộc, sự kì thị tôn giáo, sự phân biệt giàu nghèo… Nói cách khác là do lối sống hẹp hòi, ích kỉ, thiếu tình yêu thương đồng loại, thiếu tinh thần đoàn kết cộng đồng trong hoàn cảnh thử thách.

Câu 4. Thí sinh có thể đặt nhiều tiêu đề khác nhau những cần ngắn gọn, phù hợp với nội dung văn bản và gây được ấn tượng.

Ví dụ: Lạnh, Nơi lạnh nhất ở đâu

LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm)

Thí sinh viết một đoạn văn có dung lượng khoảng 200 chữ, đảm bảo đúng yêu cầu về nội dung và hình thức của một đoạn văn. Có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần có lập luận hợp lí, thuyết phục, bày tỏ quan điểm rõ ràng, không vi phạm các chuẩn mực đạo đức và quy định của pháp luật. Sau đây là gợi ý:

– Cách nghĩ và hành động của sáu con người trong câu chuyện trên thể hiện lối sống cá nhân, ích kỉ, thiếu tình thương, thiếu tinh thần đoàn kết, nhất là trong hoàn cảnh thử thách. Chính cách hành xử và lối sống ấy đã đẩy họ đến kết cục bi thảm.

– Cuộc sống không tránh khỏi những trở ngại, thử thách. Để vượt qua, ý chí, nghị lực của con người là chưa đủ, cần lắm tinh thần tập thể, ý thức đoàn kết cộng đồng, sự đồng cảm sẻ chia giữa người với người.

– Phê phán lối sống ích kỉ, định kiến, vô cảm.

Câu 2 (5,0 điểm)

Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm, vấn đề cần nghị luận

– Hoàng Phủ Ngọc Tường là nhà văn gắn bó sâu sắc với Huế. Ông viết về Huế bằng tất cả tài năng và trái tim say đắm của mình.

Ai dã đặt tên cho dòng sông? là bài bút kí xuất sắc, viết tại Huế, năm 1981 in trong tập sách cùng tên. Với cái nhìn tình tứ của một nghệ sĩ, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã diễn tả hành trình của sông Hương như một cuộc tìm kiếm người tình mong đợi, và từ thượng nguồn dòng chảy đến lúc đổ ra biển sông Hương đã đi với Huế cả một mối tình trọn vẹn

Phân tích, làm sáng tỏ nhận định

* Khái quát: Ngay từ dòng văn mở đầu đoạn trích, tác giả đã không dấu nổi niềm tự hào khi giới thiệu Trong những dòng sông đẹp ở các nước mà tôi thường nghe nói đến, hình như chỉ có sông Hương là thuộc về một thành phố duy nhất. Câu văn không chỉ nâng sông Hương lên sánh ngang với các dòng sông đẹp trên thế giới mà còn nhấn mạnh đặc điểm riêng biệt của dòng Hương: tạo hóa sinh ra sông Hương là để dành riêng cho Huế, chỉ cho Huế mà thôi. Đây cũng là ý tưởng bao trùm khi viết bài kí này của Hoàng Phủ Ngọc Tường: nhìn sông Hương và Huế như một cặp tình nhân lí tưởng, gắn bó với nhau trong một tình yêu muôn thuở.

Nếu như chẳng có dòng Hương

                                Câu thơ xứ Huế nửa đường đánh rơi

(Nếu như chẳng có sông Hương –  Huy Tập)

* Sông Hương đã đi với Huế cả một mối tình trọn vẹn: có một điểm nhất quán trong cái nhìn của Hoàng Phủ Ngọc Tường khi miêu tả sông Hương đó là luôn nhìn dòng sông này như một người con gái với tình yêu tha thiết dành cho Huế.

Ở thượng nguồn dòng chảy:

+ Sông Hương mang trong mình sức sống mãnh liệt như một bản trường ca của rừng già với tiết tấu khi thì hùng tráng dữ dội (rầm rộ giữa những bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như những cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn), lúc lại dịu dàng và say đắm. Nhà văn đã so sánh sông Hương với một cô gái Di gan phóng khoáng và man dại, mang vẻ đẹp nguyên sơ, thuần khiết của núi rừng.

+ Tuy nhiên, sông Hương không chỉ mải mê với cảnh sắc thiên nhiên của đại ngàn Trường Sơn. Trong hành trình ở núi đồi nơi đây, sông Hương đã tích tụ cho mình một lượng phù sa lớn để đến khi rời khỏi rừng nó đã trở thành bà mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở. Có thể nói sẽ không thể có kinh thành Huế hôm nay nếu không nhờ dòng Hương chuyên chở phù sa, miệt mài bồi đắp qua bao thế kỉ.

+ Đặc biệt, ngay từ thượng nguồn dòng chảy, dù còn ở rất xa kinh thành Huế, sông Hương đã mang tâm hồn sâu thẳm của con người ở vùng đất cố đô: dòng sông hình như không muốn bộc lộ, đã đóng kín lại ở cửa rừng và ném chìa khóa trong những hang đá dưới chân núi Kim Phụng. Có lẽ vì thế mà ngay từ khi ra khỏi núi, sông Hương đã là một cô gái đầy bí ẩn và cuốn hút.

Ở ngoại vi thành phố Huế:

+ Từ một cô gái Di gan phóng khoáng và man dại ở thượng nguồn, đến cánh đồng Châu Hóa, sông Hương đã trở thành người gái đẹp nằm ngủ mơ màng chờ người tình đến đánh thức. Cách so sánh đầy gợi cảm này đã lồng câu chuyện tình yêu nhuốm màu cổ tích vào mối quan hệ giữa sông Hương và Huế. Để rồi, hành trình của sông Hương như cuộc tìm kiếm có ý thức để đi tới nơi gặp thành phố tương lai của nó

+ Hành trình để tìm gặp người tình mong đợi của sông Hương cũng khá gian truân: dòng sông đã phải chuyển dòng một cách liên tục – vòng giữa khúc quanh đột ngột – uốn mình theo những đường cong thật mềm, đã phải vượt qua bao núi đồi, vực thẳm…

+ Qua hành trình ấy, sông Hương lại có những vẻ đẹp mới: với màu sắc trẻ trung (trở nên xanh thẳm, sớm xanh, trưa vàng, chiều tím) như sức trẻ và niềm khao khát của tuổi thanh xuân. Đặc biệt là vẻ đẹp trầm mặc… như triết lí, như cổ thi mang chiều sâu tâm linh của cảnh sắc và con người Huế.

Về đến Huế:

+ Nhìn thấy Huế từ xa, Sông Hương vui tươi hẳn lên như một người con gái đã tìm được người tình mà nó hằng mong đợi. Đến khi giáp mặt thành phố sông Hương uốn một cánh cung thật nhẹ khiến dòng sông mềm hẳn đi, như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu. Cách so sánh độc đáo khiến người đọc liên tưởng đến hình ảnh các cô gái Huế e lệ, kín đáo, dịu dàng.

+ Đi giữa lòng thành phố thân yêu, sông Hương trôi đi chậm, thực chậm, cơ hồ chỉ còn là một mặt hồ yên tĩnh, nhà văn gọi đó là điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế. Có lẽ bởi vì quá yên mến thành phố Huế mà sông Hương không nỡ rời xa.

+ Không chỉ yêu mến, sông Hương còn dâng tặng Huế tất cả vẻ đẹp thơ mộng của mình, để rồi nó trở thành người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya. Như vậy, sông Hương từng là bà mẹ phù sa đem màu mỡ cho đất đai nuôi sống con người, nay sông Hương lại sản sinh ra âm nhạc để bồi đắp tâm hồn con người. Tình cảm của người gái đẹp sông Hương dành cho Huế thật sâu đậm biết bao!

Khi chi tay Huế để về biển cả: đang chảy theo hướng chính bắc, sông Hương đột ngột đổi dòng, rẽ ngoặt sang hướng đông tây để gặp lại thành phố lần cuối ở góc thị trấn Bao Vinh xưa cổ. Nhà văn gọi đó là nỗi vương vấn, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu, như Thúy Kiều chí tình trở lại tìm Kim Trọng cuả nó, để nói một lời thề trước khi về biển cả. Cuộc chia tay giữa sông Hương với Huế cũng dùng dằng, nấn ná, đầy lưu luyến như một cặp tình nhân.

=> Đến đây, sông Hương đã đi với Huế cả một mối tình trọn vẹn, một mối tình đầy tâm trạng, đầy cảm xúc, một mối tình có đầu có cuối, có thủy có chung.

Đánh giá chung:

– Dưới cái nhìn lãng mạn của Hoàng Phủ Ngọc Tường, sông Hương không chỉ là một dòng sông đơn thuần mà còn gắn bó với Huế như một cặp tình nhân chung thủy. Qua bài kí, tác giả thể hiện tình yêu tha thiết với mảnh đất mà ông gắn bó. Tình yêu Huế từ thâm căn cốt tủy đã chảy thành những dòng văn vừa đẹp, vừa sang, vừa tha thiết khiến ai chưa một lần đến Huế cũng có thể cảm nhận được vẻ đẹp độc đáo của Hương giang.

– Vốn ngôn ngữ phong phú, tài hoa, giàu chất thơ kết hợp với trí tưởng tượng phóng khoáng đã tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt của bài kí và cũng là nét riêng trong nghệ thuật viết kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Đề sưu tầm

Xem thêm những đề thi khác ở link này :http://vanhay.edu.vn/tag/de-thi-thpt-quoc-gia-ngu-van

Tải trọn bộ tài liệu ôn thi môn văn :http://vanhay.edu.vn/bai-viet-noi-bat

Đề thi thử THPT Quốc gia Ngữ văn , số 44

Đề thi thử THPT Quốc gia môn văn có đáp án.Đề thi thử THPT Quốc gia Ngữ văn , số 44. Nghị luận xã hội : Cứ như vậychúng ta đánh mất bản năng của gà rừng và biến thành con chim trong lồng lúc nào không biết nữa.”Cái tôi của Hoàng Phủ Ngọc Tường trong đoạn trích Ai đã đặt tên cho dòng sông?

 

SỞ GD&ĐT NGHỆ AN, ĐỀ  THI  THỬ THPTQG LẦN 1

NĂM HỌC 2016-2017, Môn thi: NGỮ VĂN (Đề thi có 02  trang)         

  TRƯỜNG THPT  HÀ HUY TẬP

Thời gian làm bài:120  phút, không kể thời gian phát đề 

ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

Trang Tử nói: “Gà rừng đi mười bước mới nhặt được một hạt thức ăn, đi trăm bước mới uống được một ngụm nước. Nhưng chúng không mong cầu được sống trong lồng”. Chúng ta có giống được những con gà rừng không ? Nếu chúng ta vì ưa thích thóc gạo bày sẵn mà chịu chui vào chiếc lồng. Rồi từ sau những song tre đó, chúng ta đòi trả tự do?

Từ xúc cơm, xếp quần áo, sách vở, đến chọn trường, chọn nghề, tìm việc, kiếm sống, chọn chồng chọn vợ, chọn tương lai… Chúng ta sẽ quá quen với việc được sắp sẵn. Chúng ta ưa làm việc đã được người khác lên kế hoạch hơn là tự mình vạch ra. Chúng ta chuộng thói quen hơn sáng tạo. Chúng ta chỉ vui khi có người tâng bốc, chỉ hết buồn nếu có người an ủi vuốt ve. Chúng ta thậm chí không muốn tự phân biệt sai đúng trừ khi có người làm thay. Chúng ta không thể làm chủ đời mình. Cứ như vậy, chúng ta đánh mất bản năng của gà rừng và biến thành con chim trong lồng lúc nào không biết nữa. Thậm chí, một con chim trong rất nhiều lớp lồng.

  […] Robert Fulghum từng trở thành tác giả best seller với một cuốn sách có tựa đề thú vị “Tất cả những gì cần phải biết tôi đều được học ở nhà trẻ”. Đó là những nguyên tắc sống: chia sẻ, chơi công bằng, không đánh bạn, để đồ đạc vào chỗ cũ, không lấy những gì không phải của mình, dọn dẹp những gì bạn bày ra, nói xin lỗi khi làm tổn thương ai đó, rửa tay trước khi ăn, học một ít, suy nghĩ một ít, vẽ và hát và nhảy múa và chơi và làm việc một ít mỗi ngày, ngủ trưa, có ý thức về những điều kỳ diệu, cây cối và các con vật đều chết – và chúng ta cũng vậy, từ đầu tiên và quan trọng nhất cần phải học: quan sát.

Hãy đếm xem: 100 chữ. Những gì cần phải học chỉ như vậy. Chúng ta được học ở nhà trẻ nhưng đã đánh rơi dần trong quá trình lớn lên. Cũng như khi sinh ra, ta đã có sẵn bản năng độc lập nhưng lại đánh mất nó trong quá trình sống. Không có bản năng độc lập, chúng ta không thể nắm giữ được tự do. Nghĩa là trước khi đòi tự do, bạn phải tìm lại bản năng độc lập của mình.

(Nếu biết trăm năm là hữu hạn, Phạm Lữ Ân, Nxb Hội nhà văn, 2012, tr 135)

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích.

Câu 2. Vấn đề chính được tác giả nêu trong đoạn trích là gì ?

Câu 3. Anh/chị hiểu như thế nào về câu nói: “Gà rừng đi mười bước mới nhặt được một hạt thức ăn, đi trăm bước mới uống được một ngụm nước. Nhưng chúng không mong cầu được sống trong lồng”.

Câu 4. Trong tất cả các nguyên tắc sống được học ở nhà trẻ, anh/chị thấy nguyên tắc nào có giá trị với mình nhất ? Vì sao ?

LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm)

 “Cứ như vậy, chúng ta đánh mất bản năng của gà rừng và biến thành con chim trong lồng lúc nào không biết nữa.”

Trong tư cách của người thanh niên tuổi 18, anh/chị có đồng tình với nhận định về giới trẻ như trên? Hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị.

Câu 2 (5,0 điểm)

Cái tôi của Hoàng Phủ Ngọc Tường trong đoạn trích Ai đã đặt tên cho dòng sông?

                                                         (Ngữ văn 12, Tập 1, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2016)

—————-Hết—————-

SỞ GD& ĐT NGHỆ AN

TRƯỜNG THPT HÀ HUY TẬP  

              KÌ THI  THỬ THPTQG LẦN 1 NĂM HỌC 2016-2017

                                HƯỚNG DẪN CHẤM MÔN NGỮ VĂN

                                             (Đề thi có 03 trang)    

ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Câu 1. (0,5 điểm) Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích trên: phương thức nghị luận.

Câu 2. (0,75 điểm)  Thí sinh có thể diễn đạt theo nhiều cách khác nhau nhưng phải nêu được ngắn gọn vấn đề chính trong đoạn trích là: chúng ta đang dần đánh mất bản năng độc lập, chủ động, tự do.

Câu 3. (0,75 điểm)  Thí sinh có thể có nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng đảm bảo nội dung: Con người phải rất vất vất vả để sinh tồn, nhưng đó là sự sinh tồn trong tự do. Đó là một cuộc sống đáng sống hơn sống trong an nhàn đầy đủ nhưng thụ động, mất tự do.

Câu 4. (1,0 điểm) Thí sinh nêu được ít nhất một nguyên tắc sống có giá trị với bản thân (như tự lập, hoà đồng, chia sẻ, yêu thương…) và giải thích lí do vì sao. Có thể có nhiều cách diễn đạt khác nhau, nhưng về cơ bản, thí sinh trả lời được tác động tích cực của nguyên tắc sống đó.

LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1. (2,0 điểm)

Yêu cầu về kĩ năng: HS biết viết đoạn nghị luận xã hội, có dung lượng khoảng 200 chữ, biết triển khai luận điểm, diễn đạt mạch lạc

Yêu cầu về nội dung: Bài làm có thể diễn đạt theo nhiều cách khác nhau nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật, đảm bảo các nội dung chính sau:

*Giải thích ý kiến:

Bản năng của gà rừng: bản năng sống độc lập; con chim trong lồng: cuộc sống thụ động, không làm chủ cuộc đời mình.

– Câu nói nhận định thực trạng con người đang đánh mất bản năng sống độc lập, rơi vào cuộc sống thụ động, lệ thuộc, không làm chủ cuộc đời mình.

*Bàn luận:

Từ điểm nhìn của người trẻ tuổi nói về thế hệ mình, thí sinh có thể bàn luận theo nhiều hướng khác nhau:

– Đồng tình với ý kiến: giới trẻ ngày nay thiếu khả năng tự lập:

+ Được bố mẹ bao bọc, thiếu kĩ năng sống.

+ Không có ý thức về giá trị của bản thân trong việc chọn nghề, trong suy nghĩ và hành động trước các vấn đề của cuộc sống…

+ Hành động theo tâm lí đám đông.

– Không đồng tình với ý kiến: giới trẻ ngày nay có khả năng tự lập cao, có kĩ năng sống, có trách nhiệm với bản thân và các xã hội: các tấm gương vượt khó, các tình nguyện viên, các tấm gương khởi nghiệp…

  • Cái nhìn đa chiều về ý kiến: kết hợp cả hai ý trên trong lập luận

*Bài học và liên hệ bản thân:

– Nhận định trên hướng cho chúng ta có thái độ và hành động đúng đắn trong cuộc sống: sống là không thụ động, phụ thuộc mà phải chủ động, tích cực.

– Luôn tin tưởng vào bản thân, tích cực, dám nghĩ, dám làm.

– Trang bị kiến thức, kĩ năng cho bản thân để có khả năng tự lập; ngay từ bây giờ tránh lối sống thụ động, ỷ lại vào người khác.

Thang điểm:

Điểm 2:  Đạt các yêu cầu về kĩ năng và kiến thức nêu trên, có ý tưởng mới mẻ, sáng tạo, văn viết lưu loát.

Điểm 1. – Đáp ứng cơ bản các yêu cầu của đề, còn mắc lỗi diễn đạt

– Đạt các yêu cầu về kiến thức, văn viết lưu loát, chưa đảm bảo yêu cầu hình thức (đoạn văn)

Điểm 0,5: không hiểu rõ đề, bài quá sơ sài

Câu 2 (5,0 điểm)

Yêu cầu về kĩ năng:

– Thí sinh biết kết hợp kiến thức, kĩ năng để viết một bài văn nghị luận văn học.

– Bài viết có bố cục rõ ràng, chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, ngôn ngữ trong sáng, có cảm xúc.

– Vận dụng tốt các thao tác lập luận.

Yêu cầu về kiến thức

Trên cơ sở những hiểu biết về tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường qua đoạn trích Ai đã đặt tên cho dòng sông?, thí sinh có thể trình bày những biểu hiện  cái tôi của nhà văn theo những cách khác nhau  nhưng phải hợp lí, có sức thuyết phục. Sau đây là một số ý cần đạt:

Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm

Cái tôi là gì?

Cái tôi là nét riêng, điểm khác biệt của mỗi cá nhân (Ở phương diện khác, cái tôi là biểu hiện cao độ của ý thức cá nhân, xuất hiện khi con người có nhu cầu được là chính mình). Với văn học, cái tôi không chỉ thể hiện con người mà còn thể hiện phong cách nghệ thuật của mỗi nhà văn.

– Trong thể loại tuỳ bút, bút kí, cái tôi của người viết trở thành một hình tượng trung tâm và xuất hiện trực tiếp thành nhân vật tôi. Nếu trong truyện ngắn,  nhân vật tôi là hình tượng hư cấu thì trong kí, nhân vật tôi đồng nhất với tác giả. Sự hấp dẫn của thể loại này, xét đến cùng là là sự hấp dẫn của cái tôi tác giả.

Đặc điểm của cái tôi Hoàng Phủ Ngọc Tường trong đoạn trích Ai đã đặt tên cho dòng sông?

*Một cái tôi uyên bác

– Thể hiện ở vốn tri thức, vốn sống phong phú. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã vận dụng vốn hiểu biết từ nhiều phương diện khác nhau như địa lí, lịch sử, văn hoá (thơ ca, âm nhạc, phong tục tập quán…) để cảm nhận vẻ đẹp của dòng sông Hương.

– Thể hiện ở vốn tri thức, vốn sống sâu sắc. Chẳng hạn, khám phá phương diện địa lí của dòng sông xứ Huế, tác giả đã tìm hiểu tận thượng nguồn của nó trong mối quan hệ với dãy Trường Sơn; khám phá vẻ đẹp lịch sử của con sông, tác giả đã tìm hiểu nó từ thời Hùng Vương, thời Nguyễn Trãi, thời Quang Trung đến thời hiện đại.

*Một cái tôi tài hoa, tinh tế, lãng mạn

– Thể hiện ở cái nhìn mang tính phát hiện về một dòng sông vốn đã quen thuộc với tất cả mọi người. Do tìm hiểu sông Hương từ cội nguồn của nó giữa lòng Trường Sơn, do gắn sông Hương với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã phát hiện ra vẻ đẹp hùng tráng của dòng sông vốn chỉ được biết là dòng sông thơ mộng.

– Thể hiện ở khả năng quan sát tinh tường, sức tưởng tượng và liên tưởng phong phú.

+ Sông Hương được nhìn nhận bằng cặp mắt của nghệ sĩ giàu cảm xúc nên hiện lên với vẻ đẹp phong phú: khi mãnh liệt và sâu lắng, khi phóng khoáng man dại mà bình thản, khi trầm mặc cổ kính, khi chỉ là mặt hồ yên tĩnh…

+ Sông Hương được hình dung như người con gái, người phụ nữ với nhiều dáng vẻ, cung bậc cảm xúc khác nhau.

– Thể hiện  ở tài năng nghệ thuật của nhà văn khi miêu tả vẻ đẹp của sông Hương.

+ Liên tưởng phóng túng, tài hoa (qua sử dụng các biện pháp tu từ).

+ Vốn ngôn ngữ phong phú.

+ Câu văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường giàu nhạc điệu, giàu chất thơ.

*Một cái tôi có tình yêu sông Hương, yêu xứ Huế tha thiết, gắn bó sâu nặng với quê hương đất nước.

– Tác giả miêu tả vẻ đẹp sông Hương bằng một tình yêu say đắm, miêu tả sông Hương bằng nhiều phương diện, nhiều góc độ, hiểu nỗi niềm dòng sông trong dòng chảy, khúc cua của nó; đề xuất cho người đọc cách cảm nhận về sông Hương. Hoàng Phủ Ngọc Tường trở thành tri kỉ của sông Hương.

– Từ tình yêu sông Hương, tác giả thể hiện tình yêu thiên nhiên, con người, văn hoá Huế tha thiết.

– Trách nhiệm của một công dân với đất nước khiến Hoàng Phủ Ngọc Tường lật từng trang sử, giở từng trang địa lí, tìm hiểu từng phong tục để viết về sông Hương, từ đó bài kí giúp người đọc hiểu và yêu sông Hương hơn.

  1. Đánh giá

Cái tôi của nhà văn trong Ai đã đặt tên cho dòng sông? có thể đồng nhất với con người Hoàng Phủ Ngọc Tường: uyên bác, tài hoa và tình yêu sâu nặng với quê hương đất nước

– Qua cái tôi của nhà văn ta hiểu rõ hơn nét riêng trong phong cách nghệ thuật Hoàng Phủ Ngọc Tường: lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm và tài hoa.

Thang điểm

Điểm 5: Đáp ứng tốt các yêu cầu trên. Bố cục rõ ràng, diễn đạt logic, lập luận chặt chẽ. Bài viết có cảm xúc và sáng tạo. Bài làm có thể còn mắc một vài sai sót nhỏ không đáng kể về chính tả, dùng từ.

Điểm 4. Đáp ứng phần lớn các yêu cầu trên. Bố cục rõ ràng, lập luận hợp lí. Bài làm còn mắc một số lỗi về chính tả, dùng từ, đặt câu.

Điểm 3. Tỏ ra hiểu đề, bố cục rõ ràng nhưng bài làm phân tích chưa sâu, mắc một số lỗi về diễn đạt.

Điểm 2-1: Hiểu chưa đúng trọng tâm của đề, mắc nhiều lỗi về diễn đạt.

Điểm 0: Sai lạc cả nội dung và phương pháp/ bỏ giấy trắng.

(Giám khảo dựa vào những tiêu chuẩn trên để đề ra các mức điểm khác, linh hoạt trong chấm và cho điểm)

Xem thêm :

Đề thi thử THPT Quốc gia môn Văn , đề số 33

Bộ đề thi thử THPT Quốc gia soạn theo cấu trúc mới, có đáp án chi tiết. Cảm nhận đoạn văn Người lái đò sông Đà, Ai đã đặt tên cho dòng sông.

 SỞ GD&ĐT VĨNH PHÚC

MÃ ĐỀ: 147

ĐỀ KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG THPT QUỐC GIA

NĂM HỌC 2016 – 2017 – MÔN NGỮ VĂN 12

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian giao đề

Lưu ý: Trước khi làm bài, học sinh ghi mã đề vào tờ giấy thi

I.PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

… Những người hí hửng hôi của bên chiếc xe cháy trụi, chỉ vài chai dầu ăn, sữa tắm. Gương mặt bất lực ứa nước mắt của một người đàn ông phong trần. Và gương mặt bẽn lẽn khi xóm làng vận động người hôi của trả lại cho người lái xe số vật phẩm trên.

Những tàn ác, tham lam, ti tiện… cũng giống như rều rác trên bề mặt một con sông đang cuộn trào. Nhìn ngang, nó dày đặc lắm, tưởng chừng hung hãn lấp kín cả mặt sông. Nhưng nhìn sâu, dưới bề mặt đó là một khối nước khổng lồ gấp bội. Khối nước đó trong veo, cuồn cuộn và miệt mài lao đi, tưới đẫm và cho vẫy vùng.

Cuộc đời này có chuyện xấu xa, nhưng cuộc đời này không hề và chẳng bao giờ toàn là chuyện xấu xa. Khối nước kia mới thực là nguồn sức mạnh nguyên thủy và vĩnh hằng nuôi dưỡng sự sống, vẽ màu xanh lên bầu trời, nở ra những thảm hoa rực rỡ trong tâm hồn mỗi con người.

(Trích Chuyện anh phụ xe bật khóc vì bị hôi của: Nó rất ám ảnh, nhưng cuộc đời này không phải toàn là thứ xấu xa… Hoàng Xuân, Tri thức trẻ, 05/11/2016).

Câu 1: Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích trên. (0,5 điểm)

Câu 2: Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu: “Những tàn ác, tham lam, ti tiện… cũng giống như rều rác trên bề mặt một con sông đang cuộn trào”. (1,0 điểm)

Câu 3: Hình ảnh “khối nước” trong đoạn trích tượng trưng cho điều gì?(0,5 điểm)

Câu 4: Anh/Chị hiểu như thế nào về câu nói: “Khối nước kia mới thực là nguồn sức mạnh nguyênthủy và vĩnh hằng nuôi dưỡng sự sống, vẽ màu xanh lên bầu trời, nở ra những thảm hoa rực rỡ trong tâm hồn mỗi con người.”(1,0 điểm)

II.PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm)

            Hãy viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến được nêu trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu:Cuộc đời này có chuyện xấu xa, nhưng cuộc đời này không hề và chẳng bao giờ toàn là chuyện xấu xa.”.

Câu 2 (5,0 điểm)

Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn văn sau:

(…) Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân. Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên Sông Đà, tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống dòng nước Sông Đà. Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước Sông Đà không xanh màu xanh canh hến của Sông Gâm, Sông Lô. Mùa thu nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về (…)

(Người lái đò Sông ĐàNguyễn Tuân, Ngữ Văn 12, Tập 1, NXBGD Việt Nam, 2015).

                                                                                                           

(…) Từ Tuần về đây, sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn, vượt qua một lòng vực sâu dưới chân núi Ngọc Trản để sắc nước trở nên xanh thẳm, và từ đó nó trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách, với những điểm cao đột ngột như Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo mà từ đó, người ta luôn luôn nhìn thấy dòng sông mềm như tấm lụa, với những chiếc thuyền xuôi ngược chỉ bé vừa bằng con thoi. Những ngọn đồi này tạo nên những mảng phản quang nhiều màu sắc trên nền trời tây nam thành phố, “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím” như người Huế thường miêu tả. Giữa đám quần sơn lô xô ấy, là giấc ngủ nghìn năm của những vua chúa được phong kín trong lòng những rừng thông u tịch và niềm kiêu hãnh âm u của  những lăng tẩm đồ sộ tỏa lan khắp cả một vùng thượng lưu “Bốn bề núi phủ mây phong – Mảnh trăng thiên cổ bóng tùng Vạn Niên”. Đó là vẻ đẹp trầm mặc nhất của sông Hương, như triết lí, như cổ thi, kéo dài mãi đến lúc mặt nước phẳng lặng của nó gặp tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga tận bờ bên kia, giữa những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà (…)

(Ai đã đặt tên cho dòng sông?,Hoàng Phủ Ngọc Tường Ngữ Văn 12, Tập 1,NXBGD Việt Nam, 2015).

————- Hết ————-

Thí sinh không sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.

 

Họ tên thí sinh…………………………………………………………..SBD………………………….……...…..


SỞ GD&ĐT VĨNH PHÚC

MÃ ĐỀ: 147

HƯỚNG DẪN CHẤM KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG THPT QUỐC GIA

NĂM HỌC 2016 – 2017 – MÔN NGỮ VĂN

 

   

ĐỀ ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)Câu 1

Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích: Nghị luận

0,5

Câu 2

Biện pháp tu từ được sử dụng trong câu:

So sánh: Những tàn ác, tham lam, ti tiện với rều rác trên bề mặt một con sông đang cuộn trào.

– Tác dụng:

Tạo nên cách diễn đạt hình ảnh, ấn tượng về những điều ác, điều xấu đang diễn ra tràn lan, có thể nhìn thấy rất rõ ràng.

Câu 3

Hình ảnh “khối nước” trong đoạn trích tượng trưng cho lòng tốt, những điều tốt đẹp trong cuộc sống.

0,5

Câu 4

– Câu nói thể hiện niềm tin của tác giả về những điều tốt đẹp trong cuộc đời luôn tồn tại và có sức sống mãnh liệt.

– Những điều tốt, lòng tốt của con người sẽ làm cho cuộc đời này luôn tươi đẹp – vẽ màu xanh lên bầu trời;và bồi đắp cho tâm hồn con người những giá trị chân, thiện, mĩ – nở ra những thảm hoa rực rỡ trong tâm hồn mỗi con người.

0,5

0,5

PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)

Yêu cầu về kĩ năng:

– Biết cách viết đoạn văn nghị luận xã hội, vận dụng tốt các thao tác lập luận để giải quyết vấn đề một cách thuyết phục.

– Đoạn văn có bố cục mạch lạc; lập luận chặt chẽ; dẫn chứng tiêu biểu, xác đáng; hành văn trong sáng, giàu cảm xúc; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

Yêu cầu về kiến thức:

Có thể có những quan điểm khác nhau nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức, lẽ phải. Dưới đây chỉ là những định hướng cơ bản:

 

1.Giải thích:“Cuộc đời này có chuyện xấu xa, nhưng cuộc đời này không hề và chẳng bao giờ toàn là chuyện xấu xa.”.

0,25

– chuyện xấu xa: là nhữngtàn ác, tham lam, ti tiện… những mặt trái trong xã hội.

Câu nói khẳng định: Cuộc đời này vẫn tồn tại những chuyện xấu xa, nhưng đồng thời cũng thể hiện niềm tin mãnh liệt vào những điều tốt đẹp luôn tồn tại trong cuộc đời.

2. Bàn luận, chứng minh

a. Tại sao “Cuộc đời này có chuyện xấu xa”:

0,5

– Cái ác, cái xấu luôn tồn tại song song cùng với những điều tốt đẹp.Đó chính là hai mặt của cuộc sống và của con người. Trong mỗi con người luôn có phần con và phần người, phần bản năng và phần ý chí. Khi để phần bản năng chế ngự, con người sẽ dễ rơi vào những tàn ác, tham lam, ti tiện… và vì thế mà sẽ gây ra cho cuộc đời này những chuyện xấu xa.

b. Tại sao “cuộc đời này không hề và chẳng bao giờ toàn là chuyện xấu xa”:

0,75

– Nhân chi sơ tính bản thiện – lương thiện là bản chất nguyên thủy của con người, hướng thiện luôn là khát khao tiềm ẩn và mãnh liệt của nhân loại tiến bộ.

– Chứng kiến những điều xấu xa, thẳm sâu trong lương tâm mỗi người sẽ cảm thấy ghê sợ, từ đó hoặc tránh xa, hoặc đấu tranh, lên án để loại bỏ những điều xấu xa trong xã hội.

– Bản thân mỗi con người khi làm điều ác, điều xấu sẽ rơi vào cảm giác day dứt, ăn năn, hối hận, để từ đó đấu tranh với chính mình mà vươn lên những điều tốt đẹp.

 

3. Bài học nhận thức và hành động:

0,5

– Cần có cách nhìn đúng đắn để thấy rằng các ác, cái xấu có thể đang hiện hữu, lan rộng, nhưng đó chỉ là nhìn bên ngoài bề mặt, còn thực chất những điều tốt đẹp luôn được nhân loại trân trọng và gìn giữ.

– Cần có thái độ, hành động đúng đắn: tránh xa và lên án, đấu tranh loại bỏ các ác, cái xấu, nhân rộng những điều tốt đẹp trong cuộc sống.

Lưu ý: Nếu viết không đúng hình thức đoạn văn thì trừ 0,5 điểm.

Câu 2 (5,0 điểm)

Yêu cầu về kĩ năng:

Hiểu đề, biết cách làm bài văn nghị luận văn học. Biết phân tích dẫn chứng để làm sáng tỏ vấn đề. Bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ. Hành văn trôi chảy. Văn viết có cảm xúc. Không mắc các lỗi diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp, chính tả.

Yêu cầu về kiến thức: Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau song cần đáp ứng được những ý cơ bản sau:

I. Giới thiệu chung

Tác giả Nguyễn Tuân, tác phẩm Người lái đò Sông Đà

2Tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường, tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông?

II. Phân tích

1 Về đoạn văn trong tác phẩm Người lái đò sông Đà:

– Nội dung:

+ Đoạn văn tập trung miêu tả vẻ đẹp trữ tình của dòng sông Đà với dòng chảy uốn lượn mền mại, ẩn hiện, thơ mộng trong mây trời Tây Bắc; đặc tả sắc nước sông Đà biến đổi tương phản theo mùa, tạo ấn tượng mạnh.

+ Hiện diện một cái tôi Nguyễn Tuân đắm say, nồng nhiệt với cảnh sắc thiên nhiên, tinh tế, độc đáo trong cách cảm nhận cái đẹp.

– Nghệ thuật:

+ Hình ảnh, ngôn từ mới lạ, câu văn trùng điệp, nhịp nhàng.

+ Cách so sánh, nhân hóa táo bạo, độc đáo, kì thú; lối tạo hình giàu tính mĩ thuật, phối hợp nhiều góc nhìn theo kĩ xảo ảnh.

2

Về đoạn văn trong tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông?:

– Nội dung:

+ Đoạn văn miêu tả vẻ đẹp của sông Hương theo thủy trình, tập trung ở khúc đoạn chảy quanh ngoại vi thành phố. Dòng sông hiện lên với sự uyển chuyển, mền mại của dòng chảy; với sự biến ảo của sắc nước; với vẻ uy nghi, trầm mặc của cảnh quan đôi bờ.

+ Hiện diện cái tôiHoàng Phủ Ngọc Tường: có tình yêu sâu nặng với quê hương, xứ sở; có cảm nhận bình dị mà tinh tế về vẻ đẹp trữ tình của dòng sông Hương.

– Nghệ thuật:

+ Hình ảnh chân thực mà gợi cảm; câu văn kéo dài mà khúc chiết, thanh điệu hài hòa, tiết tấu nhịp nhàng.

+ Lối so sánh gần gũi và xác thực, sử dụng nhuần nhuyễn các địa danh và cách nói của người Huế.

III

Sự tương đồng và khác biệt giữa hai đoạn văn:

– Tương đồng:

+ Miêu tả vẻ đẹp phong phú, biến ảo của sông nước trên nền cảnh không gian khoáng đạt.

+ Bộc lộ tình yêu mãnh liệt của tác giả dành cho quê hương, xứ sở với một mĩ cảm tinh tế, dồi dào.

+ Câu văn đậm chất trữ tình giàu hình ảnh, nhịp điệu.

– Khác biệt:

+ Đoạn văn miêu tả dòng sông Đà: Cảm xúc nồng nhiệt; cảm giác sắc cạnh; liên tưởng phóng túng, so sánh táo bạo; cảnh sắc được bao quát từ nhiều góc cạnh, được qua sát theo nhiều mùa trong năm.

+ Đoạn văn miêu tả sông Hương: Cảm xúc sâu lắng, cảm giác gắn với chiều sâu suy tư; cảnh sắc được bao quát từ cùng một góc nhìn, nương theo thủy trình để nắm bắt sự biến đổi của sông nước theo từng chặng, từng buổi trong ngày.

+ Thể hiện phong cách độc đáo của hai nhà văn: Hoàng Phủ Ngọc Tường – hướng nội, mê đắm, tài hoa; Nguyễn Tuân – thiên về những cảm giác sắc cạnh, tài hoa, uyên bác.

 

Điểm toàn bài là điểm tổng của các câu cộng lại, làm tròn đến 0,25

 

————- HẾT ———–

 Xem thêm :

Khái quát các tác giả và tác phẩm trong chương trình thi THPT Quốc Gia môn văn

Khái quát các tác giả và tác phẩm trong chương trình thi THPT Quốc Gia môn văn

CÓ THỂ CÁC EM BỊ MẤT 0,5 ĐIỂM MÀ KHÔNG BIẾT !Trong phần thân bài, các em cần giới thiệu khái quát về  tác giả và tác phẩm  trước khi đi vào luận điểm chính của bài văn. Ý này chiếm 0,5 điểm trong đề thi, nhiều em bỏ qua bước này. Các em cần nêu được những ý chính sau :

1. Hồ Chí Minh và Tuyên ngôn Độc lập

-Trong sự nghiệp sáng tác của Hồ Chí Minh, thơ và truyện chỉ chiếm một phần nhỏ còn chủ yếu là văn nghị luận, những tác phẩm chủ yếu phục vụ cho sự nghiệp chính trị cuả Người. Trong số những tác phẩm của Bác có những kiệt tác sánh ngang với các thiên cổ hùng văn của dân tộc thì Tuyên ngôn Độc lập là tác phẩm tiêu biểu nhất.

– Tuyên ngôn Độc lập được viết ngày 26/8/1945 tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang, Hà Nội. Ngày 2/9/1945 Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội.
– Trên thế giới, phe Đồng minh vừa thắng phát xít. Ở Việt Nam nhân cơ hội Nhật hàng Đồng minh, Việt Minh đã lãnh đạo nhân dân ta tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Nhưng chính quyền non trẻ bị đe doạ bởi dã tâm xâm lược của các thế lực đế quốc, thực dân Anh, Pháp, Mĩ và hai mươi vạn quân Tưởng Giới Thạch.
– Hồ Chí Minh viết Tuyên ngôn Độc lập để cảnh cáo, ngăn chặn âm mưu xâm lược của các nước đế quốc; tuyên bố khai sinh nước Việt Nam độc lập; kêu gọi khích lệ tinh thần chiến đấu của nhân dân ta.

– Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện lịch sử vô giá tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới về quyền tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam và khẳng định quyết tâm bảo vệ nền độc lập, tự do ấy.

2.Kim Lân và  Vợ nhặt

– Kim Lân (1920 – 2007), là cây bút chuyên viết truyện ngắn.
– Những sáng tác của Kim Lân thường viết về nông thôn và người nông dân. Ông có những trang viết đặc sắc về phong tục và đời sống làng quê. Dù viết về phong tục hay con người, trong tác phẩm của Kim Lân ta vẫn thấy thấp thoáng cuộc sống và con người làng quê Việt Nam nghèo khổ nhưng tâm hồn trong sáng, lạc quan, thật thà. Tác phẩm chính : Nên vợ nên chồng (1955), Con chó xấu xí (1962)…
Vợ nhặt in trong tập Con chó xấu xí (1962), được viết dựa trên một phần tiểu thuyết Xóm ngụ cư.
Nội dung
– Tình cảm thê thảm của người nông dân nước ta trong nạn đói khủng khiếp năm 1945 do thực dân Pháp và phát xít Nhật gây ra.
– Niềm khát khao hạnh phúc gia đình, niềm tin bất diệt vào cuộc sống và tình thương yêu đùm bọc lẫn nhau giữa những con người lao động nghèo khổ ngay trên bờ vực của cái chết.

Tác phẩm xây dựng được tình huống truyện độc đáo : Tràng nghèo, xấu, lại là dân ngụ cư, giữa lúc đói khát nhất, khi cái chết đang cận kề lại “nhặt” được vợ, có vợ theo. Tình huống éo le này là đầu mối cho sự phát triển của truyện, tác động đến tâm trạng, hành động của các nhân vật và thể hiện chủ đề của truyện.

3. Tô Hoài và Vợ chồng A Phủ

– Tô Hoài (1920) quê Hà Nội, là một trong những nhà văn lớn của văn học Việt Nam hiện đại. Ông có vốn hiểu biết phong phú sâu sắc về phong tục, tập quán nhiều vùng khác nhau của đất nước.
– Văn Tô Hoài có lối trần thuật hóm hỉnh, sinh động của người từng trãi, vốn từ vựng phong phú. Năm 1996 được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật. Tác phẩm chính : Dế Mèn phiêu lưu kí (truyện, 1941); Truyện Tây Bắc (tập truyện,1953); Miền Tây (tiểu thuyết, 1967)
Vợ chồng A Phủ (1952) in trong tập truyện Tây Bắc, là kết quả chuyến đi thực tế của Tô Hoài cùng bộ đội giải phóng Tây Bắc
Nội dung
Cuộc sống cơ cực, tối tăm của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng cao dưới ách áp bức kìm kẹp của thực dân và chúa đất thống trị; quá trình người dân các dân tộc thiểu số thức tỉnh cách mạng và vùng lên tự giải phóng đời mình, đi theo tiếng gọi của Đảng.

4.  Nguyễn Trung Thành và  Rừng xà nu

Nguyễn Trung Thành (Nguyên Ngọc), trong hai cuộc kháng chiến gắn bó mật thiết với mảnh đất Tây Nguyên. Những tác phẩm thành công của ông gắn với mảnh đất ấy.
– Đầu năm 1965, Mĩ đổ quân ồ ạt vào miền Nam và tiến hành đánh phá ác liệt ra miền Bắc. Nguyễn Trung Thành và các nhà văn miền Nam lúc đó muốn viết “hịch thời đánh Mĩ”. Rừng xà nu được viết vào đúng thời điểm mà cả nước ta trong không khí sục sôi đánh Mĩ. Tác phẩm được hoàn thành ở khu căn cứ của chiến trường miền Trung Trung bộ.
– Truyện “Rừng xà nu” được Nguyễn Trung Thành viết năm 1965, xuất hiện lần đầu trên Tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng miền trung Trung Bộ, số 2 năm 1965 – năm 1969, in trong tập truyện ký “Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc”.
– Truyện ngắn Rừng xà nu trước hết phản ánh hiện thực đau thương nhưng kiên cường, bất khuất của người dân Tây Nguyên thông qua hình tượng cây xà nu.
– Qua câu chuyện bi thương của của nhân vật Tnú và cuộc nổ dậy của dân làng Xô Man, nhà văn khẳng định : dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng đấu tranyh vũ trang là con đường tất yếu để tự giải phóng.

5. Nguyễn Thi và Những đứa con trong gia đình (trích)

Nguyễn Thi:
Là một trong những cây bút văn xuôi hàng đầu của văn nghệ giải phóng miền Nam trong thời kì chống Mĩ. Sinh ra ở miền Bắc nhưng gắn bó máu thịt với mảnh đất miền Nam và được mệnh danh là nhà văn của người nông dân Nam Bộ. Có biệt tài phân tích tâm lí sắc sảo.
Truyện ngắn Những đứa con trong gia đình được hoàn thành vào tháng 2 năm 1966, trong những ngày chiến đấu chống Mĩ ác liệt, khi nhà văn công tác ở tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng.
Nội dung
– Truyện ngắn Những đứa con trong gia đình phản ánh hiện thực đau thương nhưng rất đỗi anh dũng, kiên cường của nhân dân miền Nam trong những năm kháng chiến chống Mĩ cứu nước.
– Vẻ đẹp tâm hồn của người dân Nam Bộ : lòng yêu nước, căm thù giặc, tình cảm gia đình là sức mạnh tinh thần to lớn trong cuộc chiến chống Mĩ cứu nước.
– Tình huống truyện : Việt – một chiến sĩ Quân giải phóng – bị thương phải nằm lại chiến trường. Truyện kể theo dòng nội tâm của Việt khi liền mạch (lúc tỉnh), khi gián đoạn (lúc ngất) của “người trong cuộc” làm câu chuyện trở nên chân thật hơn ; có thể thay đổi đối tượng, không gian, thời gian, đan xen tự sự và trữ tình.

6.  Nguyễn Minh Châu và Chiếc thuyền ngoài xa

– Nguyễn Minh Châu ( 1930– 1989), trước năm 1975 là ngòi bút sử thi có khuynh hướng trữ tình lãng mạn.,ông là  1 trong số những người mở đường tinh anh và tài năng nhất của văn học Việt nam thời kì đổi mới.

– Chiếc thuyền ngoài xa được viết 8/1983 – khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã đi qua được sáu năm, đất nước trở lại với cuộc sống đời thường. Nhiều vấn đề của đời sống văn hóa, nhân sinh mà trước đây do hoàn cảnh chiến tranh chưa được chú ý, nay được đặt ra.
– Tác phẩm nằm trong xu hướng nghệ thuật chung của văn học thời kỳ đổi mới: hướng nội, khai thác sâu sắc số phận cá nhân và thân phận con người đời thường.
Nội dung
– Qua suy nghĩ của người nghệ sĩ nhiếp ảnh khi phát hiện ra mâu thuẫn éo le trong nghề nghiệp của mình ; ta thấu hiểu: mỗi người trong cõi đời, nhất là người nghệ sĩ, không thể đơn giản và sơ lược khi nhìn nhận cuộc sống và con người.
– Vẻ đẹp của ngòi bút Nguyễn Minh Châu là vẻ đẹp toát ra từ tình yêu tha thiết đối với con người. Tình yêu ấy bao hàm cả khát vọng tìm kiếm, phát hiện, tôn vinh những vẻ đẹp con người còn tiềm ẩn, những khắc khoải, lo âu trước cái xấu, cái ác. Đó cũng là vẻ đẹp của một cốt cách nghệ sĩ mẫn cảm, đôn hậu, điềm đạm chiêm nghiệm lẽ đời để rút ra những triết lí nhân sinh sâu sắc. Chiếc thuyền ngoài xa là một trong số rất nhiều tác phẩm của Nguyễn Minh Châu đã đặt ra những vấn đề có ý nghĩa với mọi thời, mọi người không thể tách rời, thoát li cuộc sống. Nghệ thuật chính là cuộc đời và phải vì cuộc đời.

7.   nguyễn Tuân và Người lái đò sông Đà

Nguyễn Tuân : ( 1910-1987).
– Nhà văn lớn, một nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp, có vị trí và đóng góp quan trọng cho nền văn học hiện đại, đưa thể tùy bút, bút ký đạt đến trình độ nghệ thuật cao làm phong phú cho ngôn ngữ dân tộc, đem đến cho nền văn học hiện đại một phong cách văn học tài hoa, độc đáo.
Người lái đò sông Đà là thành quả nghệ thuật đẹp đẽ của Nguyễn Tuân trong chuyến đi gian khổ và hào hùng tới miền Tây Bắc rộng lớn của Tổ quốc. Sông Đà gồm 15 thiên tùy bút và một bài thơ ở dạng phác thảo.
Nội dung
– Qua hình tượng sông Đà, Nguyễn Tuân thể hiện tình yêu mến tha thiết đối với thiên nhiên đất nước. Với ông, thiên nhiên cũng là một tác phẩm nghệ thuật vô song của tạo hoá. Cảm nhận và miêu tả sông Đà Nguyễn Tuân đã chứng tỏ sự tài hoa, uyên bác và lịch lãm. Hình tượng sông Đà là phông nền cho sự xuất hiện và tôn vinh vẻ đẹp của người lao động trong chế độ mới.

 

8.  Hoàng Phủ Ngọc Tường và Ai đã đặt tên cho dòng sông ?

– Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trí thức yêu nước, gắn bó mật thiết với xứ Huế, có vốn hiểu biết sâu sắc trên nhiều lĩnh vực. Có sở trường về tuỳ bút, bút kí
– Lối viết : sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và chất trữ tình với những liên tưởng mạnh mẽ và một lối hành văn mê đắm, tài hoa.

– Ai đã đặt tên cho dòng sông? viết tại Huế năm 1981, in trong tập sách cùng tên
– Tác phẩm gồm ba phần, đoạn trích học trong SGK là phần thứ nhất.
Ý nghĩa văn bản:
Thể hiện những phát hiện, khám phá sâu sắc và độc đáo về sông Hương ; bộc lộ tình yêu tha thiết, sâu lắng và niềm tự hào lớn lao của nhà văn đối với dòng sông quê hương, với xứ Huế thân thương.

 

9. Việt Bắc – Tố Hữu

-Tố Hữu là nhà thơ trữ tình chính trị, thơ ông theo sát những chặng đường của cách mạng Việt Nam.

-Bài thơ “Việt Bắc” – kiệt tác của Tố Hữu cũng được sáng tác trong một thời điểm trọng đại của đất nước. Năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, hoà bình được lập lại. Chủ tịch Hồ Chí Minh, trung ương Đảng, cán bộ, bộ đội rời Việt Bắc trở về Thủ đô Hà Nội. Trong không khí chia tay đầy nhớ thương lưu luyến giữa nhân dân Việt Bắc và những người cán bộ cách mạng, nhà thơ Tố Hữu đã sáng tác bài thơ “Việt Bắc”. Với tầm nhìn của một nhà thơ cách mạng, một nhà tư tưởng, Tố Hữu đã phản ánh sâu sắc hiện thực kháng chiến mười lăm năm của Việt Bắc và dự báo những diễn biến tư tưởng trong hoà bình.

Đoạn trích bài thơ “Việt Bắc” miêu tả cuộc chia li đầy thương nhớ lưu luyến giữa Việt Bắc và những người cán bộ kháng chiến và gợi lại những kỉ niệm kháng chiến anh hùng mà đầy tình nghĩa.
Tác giả đã chọn thể thơ lục bát và lối hát đối đáp như trong ca dao dân ca và hình tượng hoá Việt Bắc và những người cán bộ kháng chiến là Ta – Mình. Cuộc chia li giữa nhân dân Việt Bắc và những người chiến sĩ cách mạng như là cuộc chia tay của một đôi bạn tình đầy bịn rịn, nhớ nhung, lưu luyến.

 

10. Sóng – Xuân Quỳnh

 

– Nhà thơ của hạnh phúc đời thường: tiếng thơ khao khát tình yêu,  hạnh phúc đời thường bình dị.
– Cái tôi độc đáo: giàu vẻ đẹp nữ tính, thành thật, giàu đức hi sinh và lòng vị tha, khát vọng yêu chân thành, mãnh liệt gắn với cảm thức lo âu về sự phai tàn, đổ vỡ., cùng những dự cảm bất trắc.
Tác phẩm
+ Xuất xứ: 1967, nhân chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình), in trong tập thơ Hoa dọc chiến hào.
+ Là bài thơ tình nổi tiếng của Xuân Quỳnh, góp phần tạo nên vị trí “nữ hoàng thơ tình Việt Nam”.

 

11. Đàn ghi ta của Lor-Ca – Thanh Thảo

Nhà thơ Thanh Thảo:

– Một trí thức nhiều suy tư, trăn trở về các vấn đề xã hội và thời đại.

– Muốn cuộc sống được cảm nhận và thể hiện ở chiều sâu nên luôn khước từ lối biểu đạt dễ dãi; đào sâu vào cái tôi nội cảm, tìm kiếm những cách biểu đạt mới qua hình thức câu thơ tự do, giải phóng mọi ràng buộc nhằm mở đường cho một cơ chế liên tưởng phóng khoáng, xoá những khuôn sáo bằng những nhịp điệu bất thường, đem đến cho thơ một mĩ cảm hiện đại bằng hệ thống hình ảnh và ngôn từ mới mẻ.

– Kiểu tư duy: giàu suy tư, mãnh liệt, phóng túng trong xúc cảm và nhuốm màu sắc tượng trưng siêu thực.

-Bài thơ được viết như một khúc tưởng niệm Lorca, làm sống dậy hình ảnh Lorca và thể hiện sự tri âm, đồng cảm và ngưỡng vọng một người nghệ sĩ tài hoa có cốt cách anh hùng và số phận bi thương.

 

12. Tây Tiến– Quang Dũng

Quang Dũng.
– Quang Dũng (1921-1988) tên khai sinh là Bùi Đình Diệm, quê ở Hà Tây.
– Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài: làm thơ, viết văn, vẽ tranh, soạn nhạc. Nhưng Quang Dũng được biết đến nhiều là một nhà thơ. Thơ Quang Dũng hồn hậu, phóng khoáng, đậm chất lãng mạn và tài hoa. Các tác phẩm chính: Mây đầu ô, Thơ văn Quang Dũng…

– Tây Tiến vừa chỉ hướng hành quân, vừa là tên một đơn vị quân đội được thành lập đầu năm 1947.
– Tây Tiến có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào, bảo vệ biên giới Việt –Lào, đồng thời đánh tiêu hao lực lượng quân đội Pháp ở Thượng Lào cũng như ở miền tây Bắc Bộ Việt Nam. Địa bàn đóng quân và hoạt động của đoàn quân TT khá rộng nhưng chủ yếu là ở biên giới Việt – Lào. Chiến sĩ Tây Tiến phần đông là thanh niên, học sinh, trí thức Hà Nội, chiến đấu trong những hoàn cảnh gian khổ thiếu thốn về vật chất, bệnh sốt rét hoành hành dữ dội. Tuy vậy, họ sống rất lạc quan và chiến đấu rất dũng cảm.
– Quang Dũng là đại đội trưởng ở đơn vị Tây Tiến từ đầu năm 1947, rồi chuyển sang đơn vị khác. Rời đơn vị cũ chưa bao lâu, tại Phù Lưu Chanh, Quang Dũng viết bài thơ Nhớ Tây Tiến. Khi in lại, tác giả đổi tên bài thơ là Tây Tiến. Tây Tiến là một bài thơ xuất sắc, có thể xem là một kiệt tác của Quang Dũng, xuất hiện ngay trong thời gian đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

 

13.  Kịch: Hồn Trương Ba da Hàng thịt– Lưu Quang Vũ

Lưu Quang Vũ là một cây bút tài hoa đã để lại dấu ấn trong nhiều thể loại : thơ, văn xuôi, đặc biệt là kịch. Thiên hướng và năng khiếu nghệ thuật của LQV sớm bộc lộ từ nhỏ và vùng quê Bắc Bộ đã in dấu nhiều trong sáng tác của ông sau này. Ở thể loại nào người đọc cũng bắt gặp một LQV với tâm hồn nổi gió, sức sống mãnh liệt và khả năng sáng tạo miệt mài. Năm 2000, Lưu Quang Vũ được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về nghệ thuật sân khấu. Các tác phẩm chính : Thơ : Hương cây, Mây trắng, Bầy ong trong đêm sâu Kịch : Sống mãi tuổi 17, Mùa hạ cuối cùng, Hồn Trương Ba da hàng thịt, Tôi và chúng ta, Nàng Si-ta,…

– Đây là một vở kịch mà Lưu Quang Vũ đã dựa vào cốt truyện dân gian, tuy nhiên chiều sâu của vở kịch chính là phần phát triển sau của truyện dân gian.

Admin (tổng hợp)

Xem thêm : Tuyển tập đề thi về các tác phẩm lớp 12