Sáng kiến kinh nghiệm: Hướng dẫn học sinh ôn luyện phần Đọc hiểu văn bản

By | 1 Tháng Chín, 2016

Đề tài sáng kiến kinh nghiệm : Hướng dẫn học sinh ôn luyện phần Đọc hiểu trong đề thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn đạt kết quả cao.

PHẦN MỞ ĐẦU :LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Cơ sở lý luận

           Tháng 10/2013, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã thông qua Nghị quyết 29 – NQ/TW về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”. Xác định được nhiệm vụ quan trọng đó nên những năm qua Bộ giáo dục đã không ngừng đưa ra những giải pháp mang tính cải tiến như: chuẩn bị đổi mới chương trình giáo khoa, đổi mới kiểm tra đánh giá, đổi mới phương pháp dạy học… Những thay đổi đó nhằm phát triển năng lực người học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng nhu cầu hội nhập Quốc tế của đất nước.

Ngày 01/4/2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đã gửi Công văn
số 1656/BGDĐT-KTKĐCLGD về việc hướng dẫn tổ chức thi tốt nghiệp Trung
học phổ thông (THPT) năm 2014, trong đó có nội dung: Đề thi môn ngữ văn có 2 phần: Đọc hiểu và làm văn. Bộ GD&ĐT đề nghị các Sở giáo dục, các trường THPT lưu ý việc thực hiện việc đổi mới kiểm tra đánh giá chất lượng học tập môn Ngữ văn trong kì thi tốt nghiệp THPT, thực hiện theo hướng đánh giá năng lực học sinh nhưng ở mức độ phù hợp. Cụ thể là tập trung đánh giá hai kỹ năng quan
trọng: kĩ năng đọc hiểu văn bản và kĩ năng viết văn bản. Đề thi gồm hai phần:
Đọc hiểu Tự luận (làm văn), trong đó tỷ lệ điểm của phần viết nhiều hơn phần Đọc hiểu.

Ngày 15/04/2014, Bộ GD & ĐT gửi văn bản đến các Sở GD&ĐT, các trường THPT trong cả nước về hướng dẫn ôn thi tốt nghiệp cho học sinh THPT. Đây là
xu hướng đổi mới kiểm tra đánh giá sự ghi nhớ những kiến thức của học sinh
chuyển sang kiểm tra đánh giá năng lực đọc hiểu của học sinh (tự mình khám phá văn bản.) Cũng từ năm đó dạng câu hỏi Đọc hiểu bắt đầu được  đưa vào đề thi để thay thế cho dạng câu hỏi tái hiện kiến thức. Có thể nói đây là sự đổi mới tích cực trong cách ra đề Ngữ văn theo định hướng mới. Nếu dạng câu hỏi tái hiện kiến thức chỉ có thể kiểm tra học sinh ở mức nhận biết, thông hiểu, có biết, hiểu, nắm được những kiến thức văn học đã được dạy trong chương trình hay không thì dạng câu hỏi Đọc hiểu đã nâng cao hơn một mức vận dung thấp, vận dụng sáng tạo, kiểm tra, phát triển được năng lực tự cảm nhận một văn bản bất kì. (có thể văn bản đó hoàn toàn xa lạ đối với các em) Như vậy có thể thấy, bên cạnh việc ôn tập, rèn kỹ năng viết phần tự luận thì việc ôn tập và rèn kỹ năng làm dạng câu hỏi đọc hiểu là điều cần thiết phải trang bị cho học sinh.

Cơ sở thực tiễn

Câu hỏi Đọc hiểu là một kiểu dạng khá mới mẻ được đưa vào đề thi THPT Quốc gia nên chưa được cụ thể hóa thành một bài học riêng trong chương trình Ngữ văn bậc trung học phổ thông. Dạng này cũng không có nhiều tài liệu, bài viết chuyên sâu để tham khảo. Nó chưa “lộ diện” thành một bài cụ thể trong sách giáo khoa, hơn nữa kiến thức đọc hiểu nằm rải rác trong chương trình học môn Văn từ cấp II đến cấp III.  Chính vì thế mà không ít  giáo viên ôn thi THPT Quốc gia  tỏ ra lúng túng khi hướng dẫn học sinh làm bài. Điều đó cũng ảnh hưởng ít nhiều đến chất lượng, kết quả bài thi của học sinh.

Đọc hiểu văn bản là một trong hai phần bắt buộc có trong một đề thi THPT Quốc gia. Phần này tuy không chiếm phần lớn số điểm nhưng lại có vị trí rất quan trong bởi nó quyết định điểm cao hay thấp trong một bài thi. Nếu học sinh làm sai hết phần này thì chắc chắn điểm toàn bài còn lại dù có tốt mấy cũng chỉ đạt khoảng 6,0 điểm. Ngược lại nếu học sinh làm tốt phần đọc hiểu các em sẽ có nhiều cơ hội đạt điểm văn 7,0 hoặc 8,0. Như vậy phần Đọc hiểu góp phần không nhỏ vào kết quả thi môn Văn cũng như tạo cơ hội cao hơn cho các em xét tuyển Đại học. Có thể nói ôn tập và làm tốt phần Đọc hiểu chính là giúp các em gỡ điểm cho bài thi của mình. Vì vậy việc ôn tập bài bản để các em học sinh lớp 12 làm tốt phần đọc – hiểu, làm tốt bài thi của mình càng trở nên cấp thiết.

Đối với học sinh trường THPT Dương Quảng Hàm, nhất là lớp 12, đây là phần kiến thức mà các em đang rất quan tâm, mong muốn được các thầy cô củng cố để chuẩn bị cho kì thi THPT Quốc gia. Hơn nữa, đa phần các thầy cô dạy môn Văn là giáo viên trẻ tuổi đời, tuổi nghề nên có phần lung túng khi ôn thi phần Đọc hiểu.

Xuất phát từ thực tiễn giảng dạy cũng như vai trò của một giáo viên tâm huyết với nghề, nhiều năm ôn thi Tốt nghiệp, Đại học, đồng thời góp phần tháo gỡ những khó khăn trên, tôi đã lựa chọn đề tài sáng kiến kinh nghiệm : Hướng dẫn học sinh ôn luyện phần Đọc hiểu trong đề thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn đạt kết quả cao.

MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Đưa ra đề tài này, thông qua việc hướng dẫn các em học sinh ôn luyện kiến thức lý thuyết, lưu ý cách làm bài, luyện tập các dạng đề Đọc hiểu, tôi muốn nâng cao chất lượng làm dạng câu hỏi Đọc hiểu của học sinh THPT nói chung, học sinh trường THPT Dương Quảng Hàm nói riêng, nhất là các em học sinh lớp 12 chuẩn bị bước vào kì thi THPT Quốc gia . Vì thế khi nghiên cứu và thực hiện đề tài này tôi đã hướng tới các mục đích cụ thể sau:

– Nắm vững những kiến thức lý thuyết liên quan đến câu hỏi Đọc hiểu

– Nhận diện, phân loại các loại câu hỏi Đọc hiểu theo phạm vi kiến thức.

– Hiểu được phương pháp, cách thức làm dạng câu hỏi này đạt kết quả cao.

– Luyện tập một số đề Đọc hiểu để rèn kĩ năng làm bài

– Góp phần nâng cao chất lượng bộ môn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn

– Đề tài này cũng có thể coi  tài liệu để các giáo viên  tham khảo khi dạy các tiết ôn tập, ôn thi THPT Quốc gia, ôn thi đại học, ôn thi học sinh giỏi.

 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU      

– Học sinh trung học phổ thông, học sinh lớp 12 chuẩn bị thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn. Trong ba năm ôn luyện dạng đề này tôi đã chọn 3 lớp để nghiên cứu: 12A6 (năm học 2013-2014)12A9 (năm học 2014-2015) 12a4 (năm học 2015-2016)

–  Dạng câu hỏi Đọc  hiểu

PHẠM VI NGHIÊN CỨU

     Trong văn học thực tế dạng câu hỏi Đọc hiểu  rất phong phú, đa dạng. Lý thuyết đọc – hiểu nằm ở diện rộng: rải rác từ chương trình học ngữ văn THCS (lớp 6,7,8,9) đến ngữ văn THPT (lớp 10,11,12). Ngữ liệu có thể nằm trong chương trình sách giáo khoa và cả ngoài sách giáo khoa. Song tôi đã cố gắng nghiên cứu và xếp vào các phạm vi kiến thức cụ thể để học sinh dễ nhận diện và luyện đề, nhất là những kiến thức có liên qua trực tiếp, thường hay gặp trong kì thi THPT Quốc gia (hay còn gọi là kì thi Tốt nghiệp THPT và tuyển sinh Cao đẳng, Đại học) :

– Ôn luyện lý thuyết Đọc hiểu: Các phong  cách ngôn ngữ, thao tác lập luận, các biện pháp tu từ, các phương thức biểu đạt, luật thơ, xác định nội dung chính, viết một đoạn văn ngắn bàn về chủ đề có liên qua đến ngữ liệu đã cho…

– Rèn kĩ năng, phương pháp làm câu hỏi Đọc hiểu qua văn bản cụ thể: Văn bản văn học, văn bản nhật dụng….

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Sáng kiến đã sử dụng các phương pháp sau

– Phương pháp thống kê

– Phương pháp phân tích, tổng hợp

– Phương pháp so sánh

– Phương pháp điều tra

THỜI GIAN BẮT ĐẦU NGHIÊN CỨU VÀ HOÀN THÀNH ĐỀ TÀI

– Thời gian bắt đầu tìm hiểu, nghiên cứu đề tài này đã diễn ra từ năm học  2013 -2014. Đề tài được bổ sung 3 năm, qua quá trình dạy chuyên đề, ôn thi THPT Quốc (ôn thi tốt nghiệp, ôn thi Đại học, Cao đẳng) và đội tuyển học sinh giỏi cấp tỉnh.

– Báo cáo cấp trường tháng 2 năm 2016 và hoàn thiện tháng 4 năm 2016

PHẦN NỘI DUNG

CƠ SỞ LÍ LUẬN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Quan niệm về Đọc hiểu .

Đọc hiểu là hoạt động cơ bản của con người để chiếm lĩnh văn hóa. Khái niệm Đọc hiểu (comprehension reading) có nội hàm khoa học phong phú có nhiều cấp độ gắn liền với lí luận dạy học văn, lí thuyết tiếp nhận tâm lí học nghệ thuật, lí thuyết giao tiếp thi pháp học, tường giải học văn bản học …

Đọc là một hoạt động của con người, dùng mắt để nhận biết các kí hiệu và chữ viết, dùng trí óc để tư duy và lưu giữ những nội dung mà mình đã đọc và sử dụng bộ máy phát âm phát ra âm thanh nhằm truyền đạt đến người nghe. Hiểu là phát hiện và nắm vững mối liên hệ của sự vật, hiện tượng, đối tượng nào đó và ý nghĩa của mối quan hệ đó. Hiểu còn là sự bao quát hết nội dung và có thể vận dụng vào đời sống. Hiểu là phải trả lời được các câu hỏi Cái gì? Như thế nào? Làm thế nào?
Đọc hiểu là đọc kết hợp với sự hình thành năng lực giải thích, phân tích, khái quát, biện luận đúng- sai về logic, nghĩa là kết hợp với năng lực, tư duy và biểu đạt. Mục đích trong tác phẩm văn chương, Đọc hiểu là phải thấy được
+ Nội dung của văn bản.
+ Mối quan hệ ý nghĩa của văn bản do tác giả tổ chức và xây dựng.
+ Ý đồ, mục đích.
+ Thấy được tư tưởng của tác giả gửi gắm trong tác phẩm.
+ Giá trị đặc sắc của các yếu tố nghệ thuật.
+ Ý nghĩa của từ ngữ được dùng trong cấu trúc văn bản.
+ Thể lọai của văn bản, hình tượng nghệ thuật…

Lâu nay trong dạy học văn, người ta thường dùng thuật ngữ là giảng văn, phân tích văn…song từ khi thay sách đã thay bằng thuật ngữ Đọc hiểu văn bản. Đây không chỉ là sự thay đổi về tên gọi mà thực chất là sự thay đổi thay đổi quan niệm về bản chất của môn văn, cả về phương pháp dạy học văn và các hoạt động khi tiếp nhận tác phẩm văn học cũng có những thay đổi. Theo Giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Thanh Hùng “Đọc hiểu là một khái niệm khoa học chỉ mức độ cao nhất của hoạt động đọc; đọc hiểu đồng thời cũng chỉ năng lực văn của người đọc”.“Đọc hiểu là hoạt động truy tìm và giải mã ý nghĩa văn bản”. Còn với Giáo sư Trần Đình Sử “Đọc hiểu văn bản như một khâu đột phá trong việc đổi mới dạy học và thi môn Ngữ văn, là yêu cầu bức thiết đối với việc đào tạo nguồn nhân lực mới cho đất nước tiến theo các nước tiên tiến”. Phó giáo sư, tiến sỹ Nguyễn Thị Hạnh, dựa trên cơ sở ngôn ngữ học, khẳng định : “ Đọc hiểu là một hoạt động giao tiếp ở đó người đọc lĩnh hội lời nói đã được viết thành văn bản nhằm làm thay đổi những hiểu biết, tình cảm hoặc hành vi của chính mình, đọc hiểu là hoạt động đọc cho mình”

               Như vậy, Đọc hiểu là hoạt động đọc và giải mã các tầng ý nghĩa của văn bản thông qua khả năng tiếp nhận của học sinh. Đọc hiểu là tiếp xúc với văn bản, hiểu được nghĩa hiển ngôn, nghĩa hàm ẩn, các biện pháp nghệ thuật, thông hiểu các thông điệp tư tưởng, tình cảm của người viết và giá trị tự thân của hình tượng nghệ thuật. Với quan điểm phát huy vai trò chủ thể của học sinh, xuất phát từ đặc thù của văn chương (nghệ thuật ngôn từ), mà vấn đề Đọc hiểu văn bản ngày càng được quan tâm .

Văn bản Đọc hiểu

Trong chương trình Ngữ văn của Việt Nam nêu hai loại văn bản để dạy Đọc hiểu, đó là: Văn bản văn học và văn bản nhật dụng. Trong đó các văn bản được sếp theo tiến trình lịch sử hoặc theo thể loại. Các văn bản văn học đa dạng hơn các văn bản nhật dụng. Hai loại văn bản này cũng chính là các ngữ liệu để học sinh khai thác.

Thực tế cho thấy văn bản Đọc hiểu nói chung và văn bản Đọc hiểu trong nhà trường nói riêng rất đa dạng và phong phú. Có bao nhiêu loại văn bản trong cuộc sống thì có bấy nhiêu loại được dạy trong nhà trường. Điều đó cũng có nghĩa là văn bản Đọc hiểu trong các đề thi rất rộng. Đề thi có thể là văn bản các em đã được tiếp cận, đã được học, hoặc cũng có thể là văn bản hoàn toàn xa lạ. Từ năm 2014 Bộ GD & ĐT đưa phần Đọc hiểu vào đề thi môn Ngữ văn đã đổi mới kiểm tra, đánh giá năng lực Đọc hiểu của học sinh. Việc làm này có tác động tích cực đến quá trình rèn khả năng tiếp nhận văn bản Đọc hiểu của các em.

Vấn đề Đọc hiểu môn Ngữ văn trong nhà trường THPT

Nhằm phát huy khả năng chủ động tiếp cận văn bản của học sinh, từ đề thi Tốt nghiệp năm 2014 Bộ GD&ĐT chính thức đưa câu hỏi Đọc hiểu vào đề thi. Khi có quyết định nhiều học sinh, các thầy cô tỏ ra lung túng vì cho rằng đây là vấn đề hoàn toàn mới mẻ. Nhưng thực chất bản chất của vấn đề không hoàn toàn mới. Vì hoạt động đọc hiểu vẫn diễn ra thường xuyên trong các bài giảng văn. Các thầy cô vẫn thường cho học sinh tiếp cận văn bản bằng cách đọc ngữ liệu, sau đó đặt câu hỏi để học sinh trả lời, nghĩa là đang diễn ra hoạt động đoc hiểu. Tuy nhiên giữa hoạt động đọc hiểu và dạng câu hỏi đọc hiểu có nét tương đồng và khác biệt. Nét tương đồng là phương thức tiếp cận văn bản là giống nhau: bắt đầu từ đọc rồi đến hiểu. Còn nét khác biệt là Đọc hiểu trong dạy học văn nói chung là hoạt động trên lớp có sự định hướng của người thầy, còn câu hỏi Đọc hiểu trong đề thi là hoạt động độc lập, sáng tạo của học sinh, nhằm đánh giá năng lực người học. Hơn nữa những kiến thức trong dạng câu hỏi Đọc hiểu rất phong phú, học sinh phải biết huy động những kiến thức đã học ở các lớp dưới để trả lời câu hỏi. Như vậy hoạt động đọc hiểu vẫn thường xuyên diễn ra trong môn Ngữ văn ở các nhà trường.

Đọc hiểu là quá trình thâm nhập vào văn bản với thái độ tích cực, chủ động. Đây là một năng lực cần thiết mà người học nói chung và học sinh THPT cần quan tâm. Nếu chúng ta không có trình độ năng lực đọc thì hiểu đúng, đánh giá đúng văn bản. Không nắm vững, đánh giá được văn bản thì không thể tiếp thu, bồi đắp được tri thức và cũng không có cơ sở để sáng tạo. Vì thế vấn đề Đọc hiểu  môn ngữ văn trong nhà trường là rất cần thiết

Hiện nay Đọc hiểu văn học trong nhà trường THPT thường hướng tới các vấn đề cụ thể sau:

– Nhận biết đúng, chính xác về văn bản

+ Thể loại của văn bản: các phong cách ngôn ngữ (phong cách ngôn ngữ khoa học, báo chí, chính luận, nghệ thuật, hành chính, sinh hoạt)

+ Hiểu đề tài, nhan đề, chủ đề, tóm tắt được các nội dung của văn bản

+ Hiểu các phương thức biểu đạt của văn bản (phương thức tự sự, biểu cảm, thuyết minh…)

+ Hiểu các thao tác lập luận (thao tác phân tích, bình luận, chứng minh, bác bỏ…)

– Thông hiểu, đánh giá đúng văn bản

+ Cảm nhận được những đặc sắc, nổi bật của văn bản: từ ngữ, hình ảnh,chi tiết quann trọng, đặc sắc, các biện pháp tu từ…

+ Hiểu được ý nghĩa hàm ẩn của văn bản, đánh giá được nội dung, ý nghĩa của văn bản bằng kiến thức, kinh nghiệm của mình.

– Vận dụng văn bản để giải quyết một vấn đề cụ thể.

+ Liên hệ mở rộng một vấn đề nào đó từ văn bản bằng suy nghĩ, ý kiến của mình

+ Vận dụng văn bản để trình bày phương hướng, biện pháp giải quyết một vấn đề cụ thể của cuộc sống, của xã hội.

THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.Thực trạng nghiên cứu đề Đọc hiểu môn Văn THPT

Ngay từ khi Bộ GD&ĐT thông báo và hướng dẫn ngành các trường THPT thực hiện đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá trong kì thi tốt nghiệp THPT năm học 2013-2014. Vấn đề Đọc hiểu thu hút sự chú ý của rất nhiều các thầy cô và học sinh nhất là học sinh lớp 12. Cùng với việc chuyên viên của Bộ GD & ĐT giải đáp những thắc mắc về hướng ra đề phần Đọc hiểu (liên quan đến phần ngữ pháp, Tiếng Việt, ngữ liệu chủ yếu lấy phần đọc thêm) thì nhiều thầy cô giáo luyện thi có nhiều kinh nghiệm cũng đăng trên trang cá nhân của mình những bài ôn tập Đọc hiểu. Song những hướng dẫn ôn tập đó chưa chi tiết, chưa cụ thể và chưa có tính hệ thống.

Hội thảo: Đổi mới kiểm tra đánh giá chất lượng học tập môn ngữ văn ở trường THPT diễn ra ngày 10/04/2014 tại Hà Nội cũng là tâm điểm chú ý. Lúc đó các sỹ tử và giáo viên đang trông chờ những ý kiến hướng dẫn bổ ích khi kì thi chỉ còn hơn một tháng. Tại hội nghị, một số thầy cô giáo có nhiều kinh nghiệm, đang trực tiếp đứng trên bục giảng đã có những ý kiến đề xuất việc ôn tập môn văn nói chung và ôn tập phần Đọc hiểu nói riêng. Cô Phạm Thị Thu Hiền hướng dẫn phần Đọc hiểu với ngữ liệu Mẹ và quả. Tiến sỹ Trịnh Thị Thu Tuyết giáo viên của trường THPT Chu Văn An và một số thầy cô khác cũng có nhiều ý kiến bổ ích. Nhiều thầy cô cũng đăng trên trang cá nhân những ví dụ về ôn tập phần Đọc hiểu. Tuy nhiên trong năm đó chưa có một cuốn tài liệu chính thống nào hướng dẫn các dạng hoặc cách ôn luyện phần Đọc hiểu một cách bài bản.

Bước sang năm 2015, 2016 vấn đề ôn luyện phần Đọc hiểu vẫn là đề tài thu hút sự chú ý của các thầy cô ôn thi và các em học sinh THPT. Một số cuốn sách phục vụ cho ôn luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn đã ra mắt bạn đọc. Cuốn Hướng dẫn ôn luyện thi THPT Quốc gia môn ngữ văn, tác giả Lê Quang Hưng, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2015 và cuốn Bộ đề luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn của tác giả Lê Quang Hưng, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2016 có đề cập tới dạng câu hỏi Đọc hiểu. Song ở trong hai cuốn sách đó có đề Đọc hiểu nh sách nhưng sách không cung cấp kiến thức lý thuyết, hướng dẫn học sinh ôn luyện phần Đọc hiểu một cách chi tiết,cụ thể, bài bản mà chỉ hướng dẫn chung chung.

Như vậy các bài nghiên cứu, các cuốn sách hướng dẫn ôn luyện đều đề cập tới tất cả các phần trong đề thi môn văn THPT Quốc gia. Chưa có sách nghiên cứu riêng phần Đọc hiểu một cách bài bản những kiến thức lý thuyết, bài tập thường gặp trong đề Đọc hiểu và cũng chưa phân loại quy củ, chi tiết, hệ thống kiến thức để học sinh dễ ôn tập. Chính vì thế đề tài sáng kiến kinh nghiệm: Hướng dẫn học sinh ôn luyện phần Đọc hiểu trong đề thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn đạt kết quả cao vẫn là một đề tài mới, có tính ứng dụng, cần thiết rất cao.

Thực trạng đề thi môn Văn có câu hỏi Đọc hiểu

Năm học 2013- 2014  Bộ GD& ĐT quyết định đổi mới kiểm tra đánh giá. Đề thi môn Ngữ văn bắt buộc có thêm phần Đọc hiểu. Trong đề thi Tốt nghiệp THPT phần Đọc hiểu chiếm 3/10 điểm toàn bài. Trong đề thi Ngữ văn tuyển sinh vào Đại học, Cao đẳng khối C, D năm 2014, phần Đọc hiểu chiếm 2/10 điểm của toàn bài thi với 1 văn bản và 3 câu hỏi nhỏ theo các mức độ khác nhau. Xét về mức độ kiến thức và tương quan thời gian trong toàn bài thi thì cấu trúc phần Đọc – hiểu như thế là hợp lí.
Năm 2015, Bộ GD & ĐT hợp nhất hai kì thi Tốt nghiệp THPT và tuyển sinh vào Đại học, Cao đẳng thành một kì thi chung. Từ chỗ có nhiều đề thi Ngữ văn (đề thi tốt nghiệp THPT; đề thi tuyển sinh vào Đại học, Cao đẳng khối C, D), năm nay chỉ có một đề thi duy nhất vừa lấy điểm để xét tốt nghiệp, vừa lấy điểm để xét vào Đại học, Cao đẳng.
Phần Đọc hiểu trong đề thi từ chỗ chiếm số điểm 2/10 điểm  nay được nâng lên 3/10 điểm. Nhưng thay vì 1 văn bản với 3 câu hỏi nhỏ như năm 2014, đề thi năm 2015 ra 2 văn bản khá dài với 8 câu hỏi nhỏ. Đến năm 2016 cấu trúc đề thi môn văn cũng không có gì thay đổi so với năm học trước.

Như phần đặt vấn đề chúng tôi có giới thiệu, dạng câu hỏi đọc hiểu đã xuất hiện thường niên trong các kì thi Đại học, Cao đẳng, các kì thi Học sinh giỏi… Thậm trí trong các nhà trường phổ thông trung học dạng đề này cũng thường xuyên được các thầy cô sử dụng cho các bài kiểm tra, thường xuyên, định kì. Minh chứng cho điều này tôi giới thiệu vắn tắt một số câu hỏi thuộc phần Đọc  hiểu trong đề thi học sinh giỏi tỉnh Hưng Yên và trong đề thi THPT Quốc gia (thi tốt nghiệp, Đại học, Cao đẳng từ  năm 2013 đến nay của Sở GD & ĐT Hưng Yên và Bộ giáo dục đào tạo.  (Các đề chỉ trích dẫn phần Đọc hiểu)

* ĐỀ THI TỐT NGHIỆP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NĂM 2014

ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

             Những ngày đầu tháng 5/2014, Trung Quốc ngang nhiên xâm nhập và hạ đặt giàn khoan HD 981 trái phép ở vùng đặc quyền kinh tế và quyền tài phán của Việt Nam, có những hành động hung hăng cản phá lực lượng thực thi pháp luật Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982. Trước tình hình đó, trái tim của hơn 90 triệu người dân Việt Nam ở trong nước, hơn 4 triệu kiều bào Việt Nam ở nước ngoài, nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới luôn nóng bỏng hướng về Biển Đông, hướng về Hoàng Sa và Trường Sa, dõi theo từng tin tức được truyền đi từ hiện trường vụ việc. Những ngày qua, chúng ta lại một lần nữa chứng kiến tinh thần yêu nước trong mỗi một người dân Việt Nam, kiều bào ta ở nước ngoài, thể hiện sự đoàn kết trong quyết tâm bảo vệ vùng biển, đảo, chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, lên án mạnh mẽ những hành động sai trái, phi lý của Trung Quốc. Tuy nhiên, trước tình hình hiện nay chúng ta phải bình tĩnh, sáng suốt nhận định những sự kiện đang diễn ra trên Biển Đông để có hành động phù hợp.

(Bình tĩnh, sáng suốt thể hiện lòng yêu nước –                                     Nguyễn Thế Hanh, Báo Giáo dục & Thời đại số 116 ra ngày 15 – 5 – 2014)

Đọc văn bản trên và thực hiện các yêu cầu sau:

  1. Nêu những ý chính của văn bản.
  2. Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản. Việc dùng các từ được gạch dưới trong câu: “Những ngày đầu tháng 5/2014, Trung Quốc ngang nhiên xâm nhập và hạ đặt giàn khoan HD 981 trái phép ở vùng đặc quyền kinh tế và quyền tài phán của Việt Nam, có những hành động hung hăng cản phá lực lượng thực thi pháp luật Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982.” có hiệu quả diễn đạt như thế nào? 3. Viết một đoạn văn ngắn bày tỏ thái độ của anh/chị về sự kiện trên.

* ĐỀ THI ĐẠI HỌC KHỐI C MÔN VĂN NĂM 2014 

Câu I: (2 điểm)
Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá
níu váy bà đi chợ Bình Lâm
bắt chim sẻ ở vàng tai tượng Phật
và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần

                       Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị
chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng
mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm
điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng

                       Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế
bà mò cua xúc tép ở đồng Quan
bà đi gánh chè xanh Ba Trại
Quán cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn

(Đò Lèn – Nguyễn Duy, Ngữ văn lớp 12
Tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, 2013, tr.148)

Đọc đoạn thơ trên và thực hiện các yêu cầu sau:

  1. Xác định những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn thơ.(0,5 điểm)
  2. Các từ “lảo đảo”, “thập thững” có vai trò gì trong việc thể hiện hình ảnh cô đồng và người bà(0,5 điểm)
  3. Sự vô tâm của cháu và nỗi cơ cực của bà hiện lên qua những hồi ức nào? Người cháu đã bày tỏ nỗi niềm gì qua những hồi ức đó?(1,0 điểm)

*ĐỀ THI ĐẠI HỌC MÔN NGỮ VĂN KHỐI D – NĂM 2014

Câu I: (2 điểm)
Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta
Những cánh đồng thơm mát
Những ngả đường bát ngát
Những dòng sông đỏ nặng phù sa
Nước chúng ta
Nước những người chưa bao giờ khuất
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về

(Đất nước – Nguyễn Đình Thi, Ngữ văn 12,
Tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, 2013, tr.125)

Đọc đoạn thơ trên và thực hiện các yêu cầu sau:

  1. Đoạn thơ thể hiện tâm tư, tình cảm gì của tác giả.(0,5 điểm)
  2. Nêu ý nghĩa tu từcủa từ láy“rì rầm” trong đoạn thơ (0,5 điểm)
  3. Xác định các dạng của phép điệp trong đoạn thơ và nêu hiệu quả nghệ thuật của chúng?(1,0 điểm) 

* ĐỀ THI THPT QUỐC GIA MÔN VĂN  2015

  1. PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm

Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4:
Chúng tôi đứng đây trần trụi giữa trời
Cho biển cả không còn hoang lạnh
Đứa ở đồng chua
Đứa vùng đất mặn
Chia nhau nỗi nhớ nhà
Hoàng hôn tím ngát xa khơi
Chia nhau tin vui
Về một cô gái làng khểnh răng, hay hát
Vầng trăng lặn dưới chân lều bạt
Hắt lên chúng tôi nhếnh nhoáng vàng
Chúng tôi coi thường gian nan
Dù đồng đội tôi, có người ngã trước miệng cá mập
Có người bị vùi dưới cơn bão dữ tợn
Ngày mai đảo sẽ nhô lên
Tổ quốc Việt Nam, một lần nữa nối liền
Hoàng Sa, Trường Sa
Những quần đảo long lanh như ngọc dát
Nói chẳng đủ đâu, tôi phải hát
Một bài ca bằng nhịp trái tim tôi
Đảo à, đảo ơi!
Đảo Thuyền Chài, 4 – 1982
(Hát về một hòn đảo – Trần Đăng Khoa, Trường Sa, NXB Văn học, 2014, tr.51)
Câu 1. Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ nào?
Câu 2. Cuộc sống gian khổ và hiểm nguy trên đảo của người lính được miêu tả qua những từ ngữ, hình ảnh nào?
Câu 3. Chỉ ra và nêu hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ: Những quần đảo longlanh như ngọc dát.
Câu 4. Đoạn thơ đã gợi cho anh/chị tình cảm gì đối với những người lính đảo? (Trình bày khoảng 5 đến 7 dòng)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 5 đến câu 8:
Hội chứng vô cảm hay nói cách khác là căn bệnh trơ cảm xúc trước niềm vui, nhất là nỗi đau của người khác, vốn là một mặt trong hai phương diện cấu trúc bản chất Con – Người của mỗi sinh thể người.Tính “con” và tính “người” luôn luôn hình thành, phát triển ở mỗi con người từ khi lọt lòng mẹ cho đến khi nhắm mắt xuôi tay. Cái thiện và cái ác luôn luôn song hành theo từng bước đi, qua từng cử chỉ, hành vi của mỗi con người trong mối quan hệ với cộng đồng, với cha mẹ, anh chị em, bạn bè, bà con làng xóm, đồng bào,đồng loại. Trong cuộc hành trình lâu dài, gian khổ của một đời người, cái mất và cái được không phải đã được nhận ra một cách dễ dàng. Mất một đồng xu, một miếng ăn, mất một phần cơ thể, mất một vật sở hữu,con người nhận biết ngay. Nhưng có những cái mất, cái được nhiều khi lại không dễ gì cảm nhận được ngay. Nhường bước cho một cụ già cao tuổi, nhường chỗ cho bà mẹ có con nhỏ trên tàu xe chật chội, biếu một vài đồng cho người hành khất,… có mất có được nhưng không phải ai cũng đã nhận ra cái gì mình đã thu được;có khi là sự thăng hoa trong tâm hồn từ thiện và nhân ái. Nói như một nhà văn lớn, người ta chỉ lo túi tiền rỗng đi nhưng lại không biết lo tâm hồn mình đang vơi cạn, khô héo dần. Tôi muốn đặt vấn đề là cùng với sự báo động những hiểm họa trông thấy, cần báo động cả hiểm họa không trông thấy hay khó trông thấy. Hiện nay đã có quá nhiều dấu hiệu và sự kiện trầm trọng của hiểm họa vô cảm trong xã hội ta, nhất là trong tuổi trẻ. Bạo lực đã xuất hiện dữ dằn những tháng ngày gần đây báo hiệu nguồn gốc sâu xa ở sự xuống cấp nghiêm trọng về nhân văn, về bệnh vô cảm.
(Trích Nguồn gốc sâu xa của hiểm họa, Bài tập Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2014, tr.36-37)
Câu 5. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích.
Câu 6. Theo tác giả, nguồn gốc sâu xa của nạn bạo lực xuất hiện gần đây là gì?
Câu 7. Tác giả đã thể hiện thái độ gì khi bàn về hiểm họa vô cảm trong xã hội nay?
Câu 8. Anh/Chị suy nghĩ như thế nào khi có những người “chỉ lo túi tiền rỗng đi nhưng lại không biết lo tâm hồn mình đang vơi cạn, khô héo dần”? (Trình bày khoảng 5 đến 7 dòng)

* ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI MÔN VĂN TỈNH HƯNG YÊN 2015

Câu 1 (4,0 điểm):

                       MÙA XUÂN XANH

                 Nguyễn Bính

  Mùa xuân là cả một mùa xanh
Giời ở trên cao, lá ở cành
Lúa ở đồng tôi và lúa ở
Đồng nàng và lúa ở đồng anh.

               Cỏ nằm trên mộ đợi thanh minh
Tôi đợi người yêu đến tự tình
Khỏi lũy tre làng tôi nhận thấy
Bắt đầu là cái thắt lưng xanh.

(Nguyễn Bính – Tác phẩm và lời bình, NXB Văn học. 2011, tr.20)

Đọc bài thơ trên và trả lời những câu hỏi sau:

Màu xanh của mùa xuân được nhà thơ khơi gợi qua những hình ảnh nào? Trong những hình ảnh đó, hình ảnh nào được nhân vật tôi đón đợi nhất?

Lúa ở đồng tôi và lúa ở

                Đồng nàng và lúa ở đồng anh.

Cấu trúc của hai câu thơ trên có điểm gì đáng lưu ý? Kiểu cấu trúc ấy có tác dụng gì?

Chỉ ra và nêu hiệu quả của hai biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu thơ dưới đây:

                Cỏ nằm trên mộ đợi thanh minh

                Tôi đợi người yêu đến tự tình

Trình bày ngắn gọn cảm nhận của anh/chị về bức tranh mùa xuân trong bài thơ.

III. ĐỀ XUẤT CÁCH HƯỚNG DẪN HỌC SINH ÔN LUYỆN PHẦN ĐỌC HIỂU ĐẠT KẾT QUẢ CAO

Thực trạng đề thi có dạng câu hỏi Đọc hiểu xuất hiện phong phú như vậy nhưng trong chương trình sách giáo khoa môn Ngữ văn của trung học phổ thông lại không có một kiểu bài dạy riêng để hướng dẫn cho thầy cô giáo cũng như các em học sinh nắm được phương pháp làm dạng đề này một cách hiệu quả nhất. Chính vì vậy mà như đã trình bày ở phần lí do chọn đề tài nhiều em học sinh tỏ ra rất lúng túng, băn khoăn về cung cấp kiến thức lý thuyết như nào, rèn luyện kĩ năng ra sao để các em tự làm tốt được phần đọc hiểu trong bài thi. Đứng trước thực trạng đó, bằng kinh nghiệm của bản thân đang trực tiếp ôn thi THPT Quốc gia, qua những năm dạy đội tuyển học sinh giỏi, dạy chuyên đề đại học cũng như trao đổi với đồng nghiệp, tôi đề xuất cách hướng dẫn học sinh thi THPT Quốc gia ôn tập dạng câu hỏi Đọc hiểu theo hướng sau:

*Bước 1: Ôn luyện lý thuyết Đọc hiểu: Giáo viên nghiên cứu tài liệu và hướng dẫn cho học sinh nắm bắt được những dạng kiến thức lý thuyết liên quan đến câu hỏi Đọc hiểu trong đề thi. Bao gồm các dạng như:

– Các loại phong cách ngôn ngữ

– Các phương thức biểu đạt

– Các thao tác lập luận

– Các biện pháp tu từ

– Các phép liên kết

– Phân biệt các thể thơ

– Xác định nội dung, chi tiết, hình ảnh chính trong văn bản (nhan đề, chủ đề, chi tiết, hình ảnh đặc sắc)

– Viết một đoạn văn ngắn trình bày quan điểm của cá nhân về một vấn đề của cuộc sống có liên quan đến văn bản.

*Bước 2. Một số lưu ý về phương pháp làm Đọc hiểu

Ở phần này người viết đưa ra những lưu ý về phương pháp làm bài như: cách trình bày, kĩ năng nhận diện các loại câu hỏi, cách trả lời…

*Bước 3. Bài tập rèn kĩ năng Đọc hiểu

Sau khi giáo viên ôn tập, hướng dẫn học sinh nắm chắc lý thuyết, tôi cung cấp cho các em  học sinh các đề Đọc hiểu thuộc văn bản nhật dụng và văn bản văn học. Phần này người viết đưa 5 đề với các loại câu hỏi thường gặp trong đề thi để học sinh luyện tập, rèn kĩ năng làm bài. Các câu hỏi thể hiện ở các mức: nhận biết, thông hiểu, vận dụng. Sau mỗi đề có đáp án để các em đối chiếu, giáo viên sửa bài cho học sinh.

Ôn luyện kiến thức lý thuyết Đọc hiểu.

Đây là một bước không mấy dễ dàng đối với những thầy cô ôn thi THPT Quốc gia nói chung, đặc biệt là các giáo viên mới ra trường hoặc năm đầu ôn thi THPT Quốc gia. Vì phần kiến thức lý thuyết liên qua đến dạng câu hỏi Đọc – hiểu này khá rộng, kiến thức không quy tụ thành một bài, hay ở một khối lớp nào mà kiến thức đó nằm rải rác từ lớp 6 cho đến lớp 12. Vì vậy giáo viên mất nhiều thời gian thu thập, thanh lọc, xử lý kiến thức, chia thành các mảng, với các chủ đề cụ thể cùng các ví dụ tương ứng để hướng dẫn học sinh.

Tháo gỡ khó khăn trên tôi đã nghiên cứu và phân loại kiên thức lý thuyết có liên quan đến dạng câu hỏi Đọc hiểu để ôn tập cho học sinh. Đặc biệt ở những phần kiến thức lý thuyết dễ nhầm lẫn tôi kẻ thành bảng kiến thức trọng tâm nhằm giúp các em học sinh nhận diện đúng từng thể loại, dễ dàng khắc sâu kiến thức. Sau mỗi phần lý thuyết đều có ví dụ minh họa để học sinh củng cố, kiểm chứng lại lý thuyết.

1.1.Các loại phong cách ngôn ngữ

a.Phong cách ngôn ngữ khoa học 

– Khái niệm: là phong cách được dùng trong lĩnh vực nghiên cứu, học tập và phổ biến khoa học. Ðây là phong cách ngôn ngữ đặc trưng cho các mục đích diễn đạt chuyên môn sâu.

Phong cách này bao gồm các văn bản: khoa học chuyên sâu,  giáo khoa  phổ cập.

Ðặc trưng: có 3 đặc trưng

+Tính trừu tượng- khái quát: Mục đích của khoa học là phát hiện ra các quy luật tồn tại trong các sự vật, hiện tượng nên phải thông qua trừu tượng hoá, khái quát hoá khi nhận thức và phản ánh hiện thực khách quan. Trừu tượng hoá chính là con đường của nhận thức lí tính giúp ta thoát khỏi những nhận biết lẻ tẻ, rời rạc ở giai đoạn cảm tính.

+ Tính lí trí -lôgic: Cách diễn đạt của phong cách khoa học phải biểu hiện năng lực tổng hợp của trí tuệ, phải tuân theo quy tắc chặt chẽ từ tư duy logic hình thức đến tư duy logic biện chứng. Các nội dung ý tưởng khoa học của người viết phải được sắp xếp trong mối quan hệ logic, tránh trùng lặp hoặc mâu thuẫn

+Tính khách quan – phi cá thể: Một văn bản khoa học chỉ có giá trị thực sự khi đưa đến người tiếp nhận những thông tin chính xác về các phát hiện, phát minh khoa học. Muốn vậy, văn bản khoa học phải đảm bảo tính một nghĩa. Nghĩa là nó không cho phép nhiều cách hiểu khác nhau hoặc hiểu một cách mơ hồ. Chân lí khoa học luôn phụ thuộc vào các quy luật khách quan, không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con người

Phong cách ngôn ngữ báo chí (hoặc thông tấn)

– Khái niệm:  Phong cách báo chí (thông tấn) là phong cách được dùng trong lĩnh vực thông tin của xã hội về tất cả những vấn đề thời sự trong nước và quốc tế. (Thông tấn : có nghĩa là thu thập và biên tập tin tức để cung cấp cho các nơi.)

Phong cách báo chí tồn tại cả ba dạng: dạng nói (kênh nói được dùng ở các đài phát thanh); dạng hình và nói (kênh nói và hình được dùng ở đài truyền hình); dạng viết (kênh viết được dùng trên báo và tạp chí…).

Ðặc trưng : có 3 đặc trưng

+ Tính thông tin thời sự: Thông tin phải truyền đạt kịp thời, nhanh chóng. Chỉ có những thông tin mới mẻ, cần thiết mới hấp dẫn người đọc, người nghe.

+ Tính ngắn gọn: Văn bản báo chí thường là lối văn ngắn gọn nhưng lượng thông tin cao.

+ Tính sinh động, hấp dẫn: Tin tức của báo, đài cần phải được trình bày và diễn đạt hấp dẫn để  khơi gợi hứng thú của người đọc, người nghe. Về nội dung: Thông tin phải luôn luôn mới, đa dạng, chính xác và phong phú. Về hình thức: Ngôn ngữ phải có sức thu hút, lôi cuốn người đọc, đặc biệt là ở các tiêu đề.

Phong cách ngôn ngữ chính luận

– Khái niệm: Phong cách chính luận được dùng trong lĩnh vực chính trị xã hội. Người giao tiếp ở phong cách này thường bày tỏ chính kiến, bộc lộ công khai quan điểm chính trị, tư tưởng của mình đối với những vấn đề thời sự nóng hổi của xã hội.

– Đặc trưng : có ba đặc trưng

+ Tính công khai về quan điểm chính trị: Người nói, người viết bao giờ cũng bộc lộ công khai một cách rõ ràng trực tiếp quan điểm, thái độ của mình đối với sự kiện.

+Tính chặt chẽ trong diễn đạt và suy luận: Ðể bày tỏ chính kiến, giải thích, thuyết phục và động viên mọi người tham gia vào việc giải quyết những vấn đề thời sự nóng hổi của đất nước, sự  diễn đạt ở  phong cách này đòi hỏi có tính chất lập thuyết. Một văn bản chính luận hay thường là những văn bản chưá đựng nhiều hàm ý sâu sắc, có sức chinh phục lòng người, có sức cuốn hút mãnh liệt.

+ Tính truyền cảm và thuyết phục: diễn đạt hùng hồn, sinh động  có sức hấp dẫn và đạt hiệu quả cao, thuyết phục cả bằng lí trí, cả bằng tình cảm, đạo đức.

Phong cách ngôn ngữ hành chính.

– Khái niệm : Phong cách hành chính được dùng trong giao tiếp thuộc lĩnh vực hành chính. Ðấy là giao tiếp giữa Nhà nước với nhân dân, giữa nhân dân với cơ quan Nhà nước, giữa cơ quan với cơ quan, giữa nước này và nước khác.

– Đặc trưng: có 3 đặc trưng

+ Tính minh xác : Văn bản hành chính viết ra chủ yếu để thực thi vì vậy cần minh xác. Mỗi từ chỉ có một ý, mỗi câu chỉ có một nghĩa.

+ Tính khuôn mẫu: Văn bản hành chính được soạn thảo theo những khuôn mẫu nhất định do nhà nước quy định.

+ Tính công vụ: Là tính chất chung của cộng đồng hay tập thể vì vậy những biểu đạt cá nhân bị hạn chế ở mức tối đa.

Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

– Khái niệm: được dùng trong sáng tác văn chương. Phong cách này là dạng tồn tại toàn vẹn và sáng chói nhất của ngôn ngữ toàn dân. Nó không chỉ có chức  năng thông tin mà còn thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người

– Đặc trưng: có ba đặc trưng

+ Tính hình tượng: Ngôn ngữ văn chương được xem là công cụ cơ bản để xây dựng hình tượng văn học. Tính hình tượng của ngôn ngữ văn chương bắt nguồn từ chỗ đó là ngôn ngữ của một chủ thể tư tưởng thẩm mĩ xã hội có tầm khái quát nhất định. Chính vì thế ngôn ngữ văn chương dễ đi vào lòng người, nó trở thành ngôn ngữ của muôn người.

+ Tính cá thể hoá: Tính cá thể hoá được hiểu là dấu ấn phong cách tác giả trong tác phẩm văn chương; Khuynh hướng ưa thích và sở trường sử dụng những loại phương tiện ngôn ngữ , sự sáng tạo ngôn ngữ của tác giả …

+ Tính truyền cảm: Làm cho người đọc, người nghe cùng vui, buồn, yêu thích… như chính người nói, người viết

Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt/ khẩu ngữ

– Khái niệm: Phong cách sinh hoạt là phong cách được dùng trong giao tiếp sinh hoạt hàng ngày, thuộc hoàn cảnh giao tiếp không mang tính nghi thức. Giao tiếp ở đây thường với tư cách cá nhân nhằm để trao đổi tư tưởng, tình cảm của mình với người thân, bạn bè, hàng xóm, đồng nghiệp, đồng hành,…

Phong cách này có các dạng biểu hiện như : chuyện trò, nhật kí, thư từ.

– Đặc trưng:có  3 đặc trưng

+ Tính cụ thể: cụ thể về hoàn cảnh, con người, về cách nói, từ ngữ, diễn đạt.

+ Tính cảm xúc: Khi giao tiếp ở phong cách này người ta luôn luôn bộc lộ thái độ tư tưởng, tình cảm của mình đối với đối tượng được nói đến.

+ Tính cá thể: giọng nói, cách dung từ, cách lựa chọn kiểu câu của mỗi người khác nhau.

* Lưu ý: Sau khi cung cấp kiến thức về các loại phong cách ngôn ngữ, giáo viên cần nhấn mạnh lại đặc điểm nhận diện của các loại phong cách để học sinh dễ phân biệt khi xác định phong cách đó trong một văn bản.

Phong cách ngôn ngữ Đặc điểm nhận diện
1 Phong cách ngôn ngữ khoa học Dùng trong những văn bản thuộc lĩnh vực nghiên cứu, học tập và phổ biến khoa học, đặc trưng cho các mục đích diễn đạt chuyên môn sâu
2 Phong cách ngôn ngữ báo chí (thông tấn) Kiểu diễn đạt dùng trong các loại văn bản thuộc lĩnh vực truyền thông của xã hội về tất cả các vấn đề thời sự.
3 Phong cách ngôn ngữ chính luận Dùng trong lĩnh vực chính trị – xã hội, người giao tiếp thường bày tỏ chính kiến, bộc lộ công khai quan điểm tư tưởng, tình cảm của mình với  những vấn đề thời sự nóng hổi của xã hội
4 Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật -Dùng chủ yếu trong tác phẩm văn chương, không chỉ có chức năng thông tin mà còn thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người; từ ngữ trau chuốt, tinh luyện…
5 Phong cách ngôn ngữ hành chính -Dùng trong các văn bản thuộc lĩnh vực giao tiếp điều hành và quản lí xã hội.
6 Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt – Sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp hàng ngày, mang tính tự nhiên, thoải mái và sinh động, ít trau chuốt…trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm  trong giao tiếp với tư cách cá nhân

* Bài tập thực hành nhận diện các phong cách ngôn ngữ: Hãy xác định phong cách ngôn ngữ của các ví dụ sau :

Ví dụ 1

…”Tôi muốn nhấn mạnh rằng, Việt Nam kiên quyết bảo vệ chủ quyền và lợi ích chính đáng của mình bởi vì chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển đảo là thiêng liêng. Chúng tôi luôn mong muốn có hòa bình, hữu nghị nhưng phải trên cơ sở bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, và nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó.”                            (Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng)

Ví dụ  2

Em trở về đúng nghĩa trái tim em
Biết khao khát những điều anh mơ ước
Biết xúc động qua nhiều nhận thức
Biết yêu anh và biết được anh yêu
Mùa thu nay sao bão mưa nhiều
Những cửa sổ con tàu chẳng đóng
Dải đồng hoang và đại ngàn tối sẫm
Em lạc loài giữa sâu thẳm rừng anh

(Trích Tự hát – Xuân Quỳnh)

Ví dụ 3:  “ Nhà di truyền học lấy một tế bào của các sợi tóc tìm thấy trên thi thể nạn nhân từ nước bọt dính trên mẩu thuốc lá. Ông đặt chúng vào một sản phẩm dùng phá hủy mọi thứ xung quanh DNA của tế bào.Sau đó, ông tiến hành động tác tương tự với một số tế bào máu của nghi phạm.Tiếp đến, DNA được chuẩn bị đặc biệt để tiến hành phân tích.Sau đó, ông đặt nó vào một chất keo đặc biệt rồi truyền dòng điện qua keo. Một vài tiếng sau, sản phẩm cho ra nhìn giống như mã vạch sọc ( giống như trên các sản phẩm chúng ta mua) có thể nhìn thấy dưới một bóng đèn đặc biệt. Mã vạch sọc DNA của nghi phạm sẽ đem ra so sánh với mã vạch của sợi tóc tìm thấy trên người của nạn nhân”.

(Nguồn : Le Ligueur, 27 tháng 5 năm 1998)

Ví dụ  4

Tôn vinh 122 thủ khoa năm 2006  Theo tin từ Trung ương Đoàn Thanh niên

Cộng sản Hồ Chí Minh, 122 thủ khoa sẽ được tuyên dương tại Hà Nội từ ngày 29

đến 31.3.

Trong số đó có 98 thủ khoa của kỳ tuyển sinh đại học và đoạt huy chương

 vàng ở các kỳ thi O-lim-pích quốc tế, 24 thủ khoa tốt nghiệp đại học năm 2006.

Chương trình tôn vinh thủ khoa năm nay mở rộng về đối tượng , không chỉ tôn vinh trong kỳ tuyển sinh mà còn tuyên dương cả những thủ khoa tốt nghiệp đại học.

50 thủ khoa tiêu biểu đại diện cho 122 thủ khoa đến từ mọi miền tổ quốc sẽ tham gia các hoạt động như dâng hương tại Văn Miếu, báo công và vào lăng viếng chủ tịch Hồ Chí Minh, tham gia buổi gặp gỡ với một số vị lãnh đạo của chính phủ và giao lưu với học sinh, sinh viên thủ đô.Sắp tới, Trung ương Đoàn sẽ thành lập câu lạc bộ thủ khoa Việt Nam nhằm liên kết, tập hợp những sinh viên giỏi để cùng trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm học tập

                                        (Thời báo Việt.com.Giáo dục – Thứ ba 27.03.2007)

Ví dụ 5

NHÀ… CHẰN TINH

– Ở thành phố ta vừa có thêm một sự lạ.

– Lạ gì? Không lẽ lại nắn đường?

 – Nắn đường là chuyện xưa rồi Diễm. Đây là xây nhà.

 – Ối! Xây nhà thì cũ mèm. Nhưng sao?

 – Cấp phép ba tầng rưỡi, nay… mọc thêm năm tầng rưỡi  sau 16 lần sai phạm bị

 xử lí.

–  Ơ hơ ! Thế là cứ chém lại mọc thêm. Bác ơi ! Chắc là nhà… chằn tinh. Này, sao

 họ không thừa thắng xốc tới nhỉ?

 – Xốc tới làm gì?

 – Sai phạm thêm vài lần để nâng… thêm vài tầng. Nhưng họ có phép thuật gì nhỉ?

 – Có chứ! Một phép thuật vạn năng.

 – Phép thuật nào?

 – Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền. 

(Theo báo Sài gòn giải phóng, ngày 13-4-2007)

Ví dụ 6

 CÔNG TY NHẬT MINH

Số: 09-QĐ-GĐ

 

              CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
                ———————— Hà Nội, ngày 15 tháng 03. năm 2016.

QUYẾT ĐỊNH CỦA TỔNG GIÁM ĐỐC
Về việc tăng lương cho nhân viên

TỔNG GIÁM ĐỐC

Công ty Nhật Minh

– Căn cứ Giấy chứng nhận đầu tư số 1978 ngày 10 tháng 8 năm 2000 về việc thành lập Công ty Nhật Minh

– Căn cứ Điều lệ Công ty Nhật Minh

– Căn cứ những đóng góp thực tế của Ông/Bà Nguyễn Văn Thắng đối với sự phát triển của Công ty

                                                 QUYẾT ĐỊNH

Điều 1: Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 mức lương của Ông/Bà Nguyễn Văn Thắng sẽ là: 8.000.000 (Bằng chữ: Tám triệu đồng).

Điều 2: Các Ông/Bà Phòng Nhân sự, Phòng Tài chính Kế toán và Ông/Bà Nguyễn Văn Thắng căn cứ quyết định thi hành.

         Nơi nhận:

-Tổng giám đốc
-Như Điều 2
– Lưu HS, HC

  CÔNG TY NHẬT MINH

 

Tổng Giám đốc

(Đã ký)

 

* Đáp án :

 Ví dụ  Phong cách                    Lý giải
1 Chính luận Bày tỏ chính kiến về của Thủ tướng về kiên quyết bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam…
2 Nghệ thuật Tác phẩm thơ, có dấu ấn riêng của tác giả…
3 Khoa học Bài nghiên cứu chuyên sâu về ADN…
4 Báo chí Thông tin nhanh về Thủ khoa năm 2006…
5 Sinh hoạt Tiểu phẩm với ngôn ngữ suồng sã…
6 Hành chính Văn bản viết theo mẫu quy định sẵn …

1.2.Các phương thức biểu đạt

Ở phần lý thuyết về phương thức biểu đạt giáo viên  cung cấp cho học sinh kiến thức lý thuyết về 6 phương thức thường xuất hiện trong văn bản. Chú ý đến các đặc điểm để nhận diện các phương thức

Lưu ý cho học sinh: trong một văn bản thường xuất hiện nhiều phương thức như tự sự và miêu tả, thuyết minh và biểu cảm… song sẽ có một phương phương thức nổi bật. Tôi kẻ bảng lý thuyết để học sinh dễ so sánh, nhận diện tiếp thu kiến thức.

Phương thức        Đặc điểm nhận diện Thể loại
Tự sự

 

Trình bày các sự việc (sự kiện) có quan hệ nhân quả dẫn đến kết quả. (diễn biến sự việc)

 

– Bản tin báo chí

– Bản tường thuật, tường trình

– Tác phẩm văn học nghệ thuật (truyện, tiểu thuyết)

Miêu tả  Tái hiện các tính chất, thuộc tính sự vật, hiện tượng, giúp con người cảm nhận và hiểu được chúng. – Văn tả cảnh, tả người, vật…

– Đoạn văn miêu tả trong tác phẩm tự sự.

Biểu cảm

 

 Bày tỏ trực tiếp hoặc gián tiếp tình cảm, cảm xúc của con người trước những vấn đề tự nhiên, xã hội, sự vật… – Điện mừng, thăm hỏi, chia buồn

– Tác phẩm văn học: thơ trữ tình, tùy bút.

Thuyết minh Trình bày thuộc tính, cấu tạo, nguyên nhân, kết quả có ích hoặc có hại của sự vật hiện tượng, để người đọc có tri thức và có thái độ đúng đắn với chúng. – Thuyết minh sản phẩm

– Giới thiệu di tích, thắng cảnh, nhân vật

– Trình bày tri thức và phương pháp trong khoa học.

Nghị luận  Trình bày ý kiến đánhgiá, bàn luận, trình bày tư tưởng, chủ trương quan điểm của con người đối với tự nhiên, xã hội, qua các luận điểm, luận cứ và lập luận thuyết phục. – Cáo, hịch, chiếu, biểu.

– Xã luận, bình luận, lời kêu gọi.

– Sách lí luận.

– Tranh luận về một vấn đề trính trị, xã hội, văn hóa.

Hành chính – công vụ – Trình bày theo mẫu chung và chịu trách nhiệm về pháp lí các ý kiến, nguyện vọng của cá nhân, tập thể đối với cơ quan quản lí. – Đơn từ

– Báo cáo

– Đề nghị

* Bài tập thực hành nhận diện các phương thức biểu đạt: Hãy xác phương thức biểu đạt nào là chính ở mỗi đoạn văn bản sau:

Ví dụ 1: Ôi ! xuân đến rồi! Cây cối bỏ đi cái áo khoác mà đã mang suốt mùa đông lạnh lẽo để thay vào đó là bộ quần áo mới mang màu xanh, màu êm dịu. Hoa khoe sắc, lộng lẫy. Xuân nhẹ nhàng gói mưa vào trong nắng, chập chờn những cơn mưa vội vã ban chiều, không mỏng manh. Xuân ôm từng hạt nắng trong từng bông cúc vàng, nhuộm sắc những cơn mưa phùn nhỏ còn đọng sương. Cơn mưa phùn vô tình đã làm mùa xuân rét ngọt, một cái rét tượng trưng. Những luồng gió nồm cứ thổi, thổi mãi thành cái đẹp của mùa xuân….

Ví dụ 2: Cái ngày đáng nhớ nhất cuộc đời tôi cách đây đã 16 sáu năm rồi, khi ấy tôi vẫn còn là một con bé học trò lớp ba. Ba má tôi li thân với nhau từ hồi tôi vừa tròn ba tuổi. Ngày ấy ba lên Sài Gòn tìm việc, bỏ lại tôi và má ở nhà đối mặt với cái nghèo dai dẳng và một đống nợ nần từ những năm không may bị mất mùa. Hàng thịt heo rong ruổi trên con đường đất quen thuộc là kế mưu sinh duy nhất của má và tôi. Tôi càng lớn khôn thì đôi vai má càng thêm nặng gánh vì những khoản chi phí cho việc ăn học của tôi. Nợ nần là vậy, khó khăn là vậy nhưng chưa bao giờ má để tôi phải thiếu thốn bất cứ thứ gì. Chính vì không bao giờ thiếu thốn bất cứ thứ gì nên tôi chẳng hề nhận ra được những sự khó khăn của má….

(Nguồn sưu tầm)

Ví dụ 3: “Trường học của chúng ta là trường học của chế độ dân chủ nhân dân, nhằm mục đích đào tạo những công dân và cán bộ tốt, những người chủ tương lai của nước nhà. Về mọi mặt, trường học của chúng ta phải hơn hẳn trường học của thực dân phong kiến.

          Muốn được như thế thì thầy giáo, học trò và cán bộ phải cố gắng hơn nữa để tiến bộ hơn nữa

(Hồ Chí Minh – Về vấn đề giáo dục)

Ví dụ 4: Bánh chưng là biểu tượng không thể thiếu trong dịp Tết cổ truyền. Từ xa xưa đến nay, mỗi dịp Tết đến xuân về, người người nhà nhà lại nô nức chuẩn bị những nồi bánh chưng rất to để đón Tết. Bởi trong tâm thức của mỗi người thì bánh chưng  là món ăn mang ý nghĩa sum vầy, ý nghĩa đoàn viên bình dị nhưng ấm áp.

Về nguyên liệu, bánh chưng được làm từ những thứ rất đơn giản và dễ chuẩn bị; kết hợp với bàn tay khéo léo của người gói bánh. Nguyên liệu chủ yếu là nếp, lá dong, thịt, đậu xanh giã nhỏ. Mỗi nguyên liệu đều được chọn lọc thật kĩ để có thể tạo nên món ăn ngon và đậm đà nhất. Về phần nếp thì người ta chọn những hạt tròn lẳn, không bị mốc để khi nấu lên ngửi thấy mùi thơm lừng của nếp. Đậu xanh chọn loại đậu có màu vàng đẹp, nấu nhừ lên và giã nhuyễn làm nhân. Người ta sẽ chọn thịt ba chỉ hoặc thịt nạc, trộn với tiêu xay, hành băm nhuyễn. Một nguyên liệu khác không kém phần quan trọng chính là lá dong để gói bánh. Ở một số vùng khác người ta dùng lá chuối gói bánh nhưng phổ thông nhất vẫn là lá dong….

(Bài viết của học sinh lớp 10- trường THPT Dương Quảng Hàm )

Ví dụ 5.

Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa
Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa…
Chiều nay con chạy về thăm Bác
Ướt lạnh vườn cau, mấy gốc dừa!

 (Trích Bác ơi! – Tố Hữu)

* Gợi ý đáp án:  

Ví dụ Các phương thức Phương thức chính
1 Biểu cảm, miêu tả Miêu tả
2 Tự sư, biểu cảm Tự sự
3 Nghị luận Nghị luận
4 Thuyết minh, biểu cảm Thuyết minh
5 Tự sự, biểu cảm Biểu cảm

1.3 Các thao tác lập luận

Trong một văn bản thường kết hợp nhiều thao tác lập luận, song thường có một thao tác chính. Vì thế phần này chúng ta cần cung cấp kiến thức lý thuyết cho học sinh để các em phân biệt được các thao tác trong một văn bản. Để học sinh dễ nắm bắt kiến thức tôi đã kẻ thành bảng kiến thức và sau bảng kiến thức là bài tập minh họa.

TT Thao tác lập luận                           Đặc điểm nhận diện
1 Giải thích Giải thích là vận dụng tri thức để hiểu vấn đề nghị luận một cách rõ ràng và giúp người khác hiểu đúng ý của mình.
2 Phân tích Phân tích là chia tách đối tượng, sự vật hiện tượng thành nhiều bộ phận, yếu tố nhỏ để đi sâu xem xét kĩ lưỡng nội dung và mối liên hệ bên trong của đối tượng.
3 Chứng minh  Chứng minh là đưa ra những cứ liệu – dẫn chứng xác đáng để làm sáng tỏ một lí lẽ một ý kiến để thuyết phục người đọc người nghe tin tưởng vào vấn đề. ( Đưa lí lẽ trước – Chọn dẫn chứng và đưa dẫn chứng. Cần thiết phải phân tích dẫn chứng để lập luận CM thuyết phục hơn. Đôi khi thuyết minh trước rồi trích dẫn chứng sau.)
4 Bác bỏ  Bác bỏ là chỉ ra ý kiến sai trái của vấn đề trên cơ sở đó đưa ra nhận định đúng đắn và bảo vệ ý kiến lập trường đúng đắn của mình.
5 Bình luận  Bình luận là bàn bạc đánh giá vấn đề, sự việc, hiện tượng… đúng hay sai, hay / dở; tốt / xấu, lợi / hại…; để nhận thức đối tượng, cách ứng xử phù hợp và có phương châm hành động đúng.
6 So sánh So sánh là một thao tác lập luận nhằm đối chiếu hai hay nhiều sự vật, đối tượng hoặc là các mặt của một sự vật để chỉ ra những nét giống nhau hay khác nhau, từ đó thấy được giá trị của từng sự vật hoặc một sự vật mà mình quan tâm.

Hai sự vật cùng loại có nhiều điểm giống nhau thì gọi là so sánh tương đồng, có nhiều điểm đối chọi nhau thì gọi là so sánh tương phản.

* Bài tập thực hành nhận diện các thao tác lập luận: Xác định thao tác lập luận nào là chính trong các ví dụ sau:  

Ví dụ 1

(1) Vấn đề nhìn nhận đánh giá đúng vị trí, vai trò của lịch sử là vô cùng quan trọng bởi vì lịch sử chính là điểm tựa của chúng ta, là nơi hội tụ, kết tinh những giá trị tinh thần vô giá của dân tộc. Lịch sử giúp cho chúng ta có quyền tự hào và tin tưởng vào truyền thống anh hùng, bất khuất, mưu trí, sáng tạo của tổ tiên và hy vọng vào tiền đồ, tương lai tươi sáng của dân tộc. Chính vì vậy, tất cả chúng ta cần phải hăng hái, tự giác học lịch sử nước nhà để có thể đón nhận được những thông tin, tiếp thu được những kinh nghiệm quí báu từ xa xưa vận dụng vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng Tổ quốc.

(2) Lịch sử không chỉ truyền dạy cho chúng ta nguồn gốc con Rồng, cháu Tiên mà lịch sử còn tiếp thêm sức mạnh cho chúng ta, truyền lại cho chúng ta quá khứ vẻ vang của dân tộc. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, thời nào đất nước ta cũng xuất hiện những nhân tài có công trị nước yên dân, xây dựng cuộc sống thanh bình, hạnh phúc. Đặc biệt là những khi Tổ quốc bị xâm lăng, từ những người nông dân áo vải bình dị đã sản sinh ra nhiều anh hùng hào kiệt có lòng yêu nước nồng nàn, có tài cầm quân thao lược đánh Bắc, dẹp Nam giữ yên bờ cõi, trở thành tấm gương sáng, để lại tiếng thơm cho muôn đời.

(TS. Phạm Ngọc Trung, Học viện Báo chí và Tuyên truyền)

Ví dụ 2:

“Từ sau khi Việt Nam hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế thị trường, tiềm lực khoa học và công nghệ của đất nước tăng lên đáng kể. Đầu tư từ ngân sách cho khoa học và công nghệ vẫn giữ mức 2% trong hơn 10 năm qua, nhưng giá trị tuyệt đối tăng lên rất nhanh, đến thời điểm này đã tương đương khoảng 1tỷ USD/năm. Cơ sở vật chất cho  khoa học và công nghệ đã đạt được mức độ nhất định với hệ thống gần 600 viện nghiên cứu và trung tâm nghiên cứu của Nhà nước, hơn 1.000 tổ chức khoa học và công nghệ của các thành phần kinh tế khác, 3 khu công nghệ cao quốc gia ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và Đà Nẵng đã bắt đầu có sản phẩm đạt kết quả tốt. Việt Nam cũng có cơ sở hạ tầng thông tin tốt trong khu vực ASEAN  (kết nối thông tin với mạng Á- Âu,  mạng VinaREN thông qua TEIN2,  TEIN4,…”

(Khoa học công nghệ Việt Nam trong buổi hội nhập, Mai Hà, Ánh Tuyết

  • Theo Báo Hà Nội mới, ngày 16/5/2014-)

Ví dụ 3

  Cái đẹp vừa ý là xinh, là khéo. Ta không háo hức cái tráng lệ, huy hoàng, không say mê cái huyền ảo, kì vĩ. Màu sắc chuộng cái dịu dàng, thanh nhã, ghét sặc sỡ. Quy mô chuộng sự vừa khéo, vừa xinh, phải khoảng. Giao tiếp, ứng xử chuộng hợp tình, hợp lí, áo quần, trang sức, món ăn đều không chuộng sự cầu kì. Tất cả đều hướng vào cái đẹp dịu dàng, thanh lịch, duyên dáng và có quy mô vừa phải”.

(Trích Nhìn về vốn văn hóa dân tộc – Trần Đình Hượu)

 

 

Ví dụ 4

“… Tiếng nói là người bảo vệ quý báu nhất nền độc lập của các dân tộc, là yếu tố quan trọng nhất giúp giải phóng các dân tộc bị thống trị. Nếu người An Nam hãnh diện giữ gìn tiếng nói của mình và ra sức làm cho tiếng nói ấy phong phú hơn để có khả năng phổ biến tại An Nam các học thuyết đạo đức và khoa học của châu Âu, việc giải phóng dân tộc An Nam chỉ còn là vấn đề thời gian. Bất cứ người An Nam nào vứt bỏ tiếng nói của mình, thì cũng đương nhiên khước từ niềm hi vọng giải phóng giống nòi. […] Vì thế, đối với người An Nam chúng ta, chối từ tiếng mẹ đẻ đồng nghĩa với từ chối sự tự do của mình...”

(Nguyễn An Ninh, Tiếng mẹ đẻ – nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức

Theo SGK Ngữ văn 11, Tập hai, NXB Giáo dục, 2014, tr. 90)

Ví dụ 5

Ai cũng biết Hàn Quốc phát triển kinh tế khá nhanh, vào loại “con rồng nhỏ” có quan hệ khá chặt chẽ với các nước phương Tây, một nền kinh tế thị trường nhộn nhịp, có quan hệ quốc tế rộng rãi. Khắp nơi đều có quảng cáo, nhưng không bao giờ quảng cáo thương mại được đặt ở những nơi công sở, hội trường lớn, danh lam thắng cảnh. Chữ nước ngoài, chủ yếu là tiếng Anh, nếu có thì viết nhỏ đặt dười chữ Triều Tiên to hơn ở phía trên. Đi đâu. nhìn đâu cũng thấy nổi bật những bảng hiệu chữ Triều Tiên. Trong khi đó thì ở một vài thành phố của ta nhìn vào đâu cũng thấy tiếng Anh, có bảng hiệu của các cơ sở của ta hẳn hoi mà chữ nước ngoài lại lớn hơn cả chữ Việt, có lúc ngỡ ngàng tưởng như mình lạc sang một nước khác”.      (Chữ ta, bài Bản lĩnh Việt Nam của Hữu Thọ)

Ví dụ 6

…Nhiều đồng bào chúng ta, để biện minh việc từ bỏ tiếng mẹ đẻ, đã than phiền rằng tiếng nước mình nghèo nàn. Lời trách cứ này không có cơ sở nào cả. Họ chỉ biết những từ thông dụng của ngôn ngữ và còn nghèo những từ An Nam hơn bất cứ người phụ nữ và nông dân An Nam nào. Ngôn ngữ của Nguyễn Du nghèo hay giàu?

Vì sao người An Nam có thể dịch những tác phẩm của Trung Quốc sang nước mình, mà lại không thể viết những tác phẩm tương tự?

Phải quy lỗi cho sự nghèo nàn của ngôn ngữ hay sự bất tài của con người?

Ở An Nam cũng như mọi nơi khác, đều có thể ứng dụng nguyên tắc này:

Điều gì người ta suy nghĩ kĩ sẽ diễn đạt rõ ràng, và dễ dàng tìm thấy những từ để nói ra. …”

(Nguyễn An Ninh, Tiếng mẹ đẻ – nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức

Theo SGK Ngữ văn 11, Tập hai, NXB Giáo dục, 2014, tr. 90)

* Đáp án

Ví dụ  Các thao tác trong văn bản Thao tác chính
1 Phân tích, bình luận, giải thích Phân tích
2 Bình luận, chứng minh Chứng minh
3 Giải thích, bình luận Giải thích
4 Giải thích, bình luận, phân tích Bình luận
5 Giải thích, so sánh So sánh
6 Phân tích , bác bỏ Bác bỏ


.4. Các biện pháp
tu từ.

Tu từ về ngữ âm: điệp âm, điệp vần, điệp thanh,… (tạo âm hưởng và nhịp điệu cho câu)

– Tu từ về từ: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa, tương phản, chơi chữ, nói giảm, nói tránh, thậm xưng,…

Tu từ về cú pháp: Lặp cú pháp, liệt kê, chêm xen, câu hỏi tu từ, đảo ngữ, đối, im lặng,…

Biện pháp so sánh
Định nghĩa: So sánh là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật sự việc khác có nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.
– Cấu tạo của phép so sánh: Một phép so sánh thông thường gồm 3 yếu tố:
(1). Vế A : Đối tượng (là sự vật, hoặc phương diện …) được so sánh.
(2). Từ so sánh.( như, giống, tựa, khác nào, tựa như, giống như, là, bao nhiêu,…bấy nhiêu, hơn, kém)
(3). Vế B : Sự vật làm chuẩn để so sánh.
+ Trong 3 yếu tố trên đây yếu tố (1) và yếu tố (3) phải có mặt. Nếu vắng mặt cả yếu tố (1) thì giữa yếu tố (1) và yếu tố (3) phải có điểm tương đồng quen thuộc. Lúc đó ta có ẩn dụ.
– Các kiểu so sánh: Dựa vào mục đích và các từ so sánh người ta chia phép so sánh thành hai kiểu: So sánh ngang bằng; So sánh hơn kém
-Tác dụng của so sánh
+ So sánh tạo ra những hình ảnh cụ thể sinh động. Phần lớn các phép so sánh đều lấy cái cụ thể so sánh với cái không cụ thể hoặc kém cụ thể hơn, giúp mọi người hình dung được sự vật, sự việc cần nói tới và cần miêu tả.
+ So sánh còn giúp cho câu văn hàm súc gợi trí tưởng tượng của ta bay bổng. Vì thế trong thơ thể hiện nhiều phép so sánh bất ngờ.
* Ví dụ minh họa: chỉ ra biện pháp nghệ thuật so sánh và phân tích hiệu quả nghệ thuật trong ví dụ sau:

Ôi tổ quốc! ta yêu như máu thịt

Như mẹ cha ta, như vợ, như chồng

Ôi Tổ quốc! Nếu cần ta chết:

Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông

(Sao chiến thắng- Chế Lan Viên)

* Gợi ý đáp án: Biện pháp tu từ so sánh:

Vế A- đối tượng:  Tổ quốc ta yêu

Từ so sánh: như

Vế B: vật làm chuẩn để so sánh: máu thịt, mẹ cha, vợ, chồng,…

Tác dụng: Tình yêu tổ quốc hiện lên cụ thể, sinh động. Đất nước như một phần sự sống của bản thân, như một thành viên trong gia đình mà ta rất yêu và “ta” quyết tâm dù hy sinh cũng phải bảo vệ, giữ gìn.

Nhân hoá

– Khái niệm: Nhân hoá là cách gọi hoặc tả con vật, cây cối, đồ vật, hiện tượng thiên nhiên bằng những từ ngữ vốn được dùng để gọi hoặc tả con người; làm cho thế giới loài vật, cây cối đồ vật, … trở nên gần gũi với con người, biểu thị được những suy nghĩ tình cảm của con người.
– Các kiểu nhân hoá
Nhân hoá được chia thành các kiểu sau đây:
+ Gọi sự vật bằng những từ vốn gọi người
+ Những từ chỉ hoạt động, tính chất của con người được dùng để chỉ hoạt động, tính chất sự vật.
+ Những từ chỉ hoạt động, tính chất của con người được dùng để chỉ hoạt động tính chất của thiên nhiên
+ Trò chuyện tâm sự với vật như đối với người

-Tác dụng của phép nhân hoá
        Phép nhân hoá làm cho câu văn, bài văn thêm cụ thể, sinh động, gợi cảm ; làm cho thế giới đồ vật, cây cối, con vật được gần gũi với con người hơn.
* Ví dụ minh họa: Đoạn thơ trên tác giả sử dụng biện pháp tu từ nào? Phân tích hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ đó.

                Trong gió trong mưa
Ngọn đèn đứng gác
Cho thắng lợi, nối theo nhau
Đang hành quân đi lên phía trước.

(Ngọn đèn đứng gác- Chính Hữu)
Gợi ý đáp án:
– Biện pháp nghệ thuật Nhân hóa: ngọn đèn như một người đứng gác
– Đứng gác, nối theo nhau, hành quân, đi lên phía trước vốn là những từ chỉ hoạt động của con người nhưng Chính Hữu dùng để chỉ ngọn đèn. Ngon đèn hiện lên như một con người đang đứng gác trong trời mưa

Ẩn dụ

– Khái niệm: Ẩn dụ là cách gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật hiện khác có nét tương đồng quen thuộc nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.
Ẩn dụ thực chất là một kiểu so sánh ngầm trong đó yếu tố so sánh giảm đi chỉ còn yếu tố làm chuẩn so sánh được nêu lên.
– Các kiểu ẩn dụ
Dựa vào bản chất sự vật hiện tượng được đưa ra so sánh ngầm, ta chia ẩn dụ thành các loại sau:
+ Ẩn dụ hình tượng là cách gọi sự vật A bằng sự vật B.

+Ẩn dụ phẩm chất: cách lấy phẩm chất của sự vật A để chỉ phẩm chất của sự vật B.
+ Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác là những ẩn dụ trong đó B là một cảm giác vốn thuộc một loại giác quan dùng để chỉ những cảm giác A vốn thuộc các loại giác quan khác hoặc cảm xúc nội tâm. Nói gọn là lấy cảm giác A để chỉ cảm giác B.
– Tác dụng của ẩn dụ
Ẩn dụ làm cho câu văn thêm giàu hình ảnh và mang tính hàm súc. Sức mạnh của ẩn dụ chính là mặt biểu cảm, lôi cuốn người đọc người nghe.

* Ví dụ minh họa: Câu  thơ  trên tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật gì? Hiệu quả của biện pháp đó ?
Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

                  Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ

                                      (Viếng lăng Bác – Viễn Phương)

* Gợi ý đáp án: – Biện pháp tu từ ẩn dụ: Mặt trời (câu 2) ẩn dụ để chỉ Bác Hồ

– Hiệu quả: Măt trời chiếu tỏa ánh sáng xuống trần gian, đem lại sự sống cho con người. Bác Hồ đem lại đọc lập tự do cho dân tộc Việt Nam . Qua hình ảnh ẩn dụ đó  tác giả muốn ngợi ca công lao vĩ đại của Bác.

Hoán dụ

-Khái niệm: Hoán dụ là tên gọi sự vật, hiện tượng, khái niệm bằng tên của sự vật hiện tượng, khái niệm khác có quan hệ gần gũi với nó nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.

– Có bốn kiểu hoán dụ thường gặp:

+ Lấy một bộ phận để gọi toàn thể.

+ Lấy vật chứa đựng để gọi vật bị chứa đựng.

+ Lấy dấu hiệu của sự vật để gọi sự vật.

+ Lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng.

*Ví dụ minh họa: Chỉ ra và phân tích biện pháp tu từ trong câu sau:

Một viên gạch hồng, Bác chống lại cả một mùa băng giá…

(Chế Lan Viên)

*Gợi ý:

Viên gạch hồng  là hoán dụ lấy đồ vật (viên gạch hồng) để biểu trưng cho nghị lực thép, ý chí thép của con người. (Bác Hồ vĩ đại).

Băng giá  là hoán dụ lấy hiện tượng tiêu biểu (cái lạnh ở Pa-ri) để gọi thay cho mùa (mùa đông)

Điệp ngữ.

– Khái niệm: Điệp ngữ là nhắc đi nhắc lại một từ, một ngữ trong câu văn, đoạn văn, câu thơ, đoạn thơ…

– Tác dụng: Điệp ngữ vừa để nhấn mạnh ý vừa tạo cho câu văn, câu thơ, đoạn văn, đoạn thơ giàu âm điệu, giọng văn trở nên tha thiết, nhịp nhàng hoặc hào hùng mạnh mẽ.

Các loại điệp ngữ:

+ Điệp ngữ cách quãng.

+ Điệp ngữ nối tiếp.

+ Điệp ngữ chuyển tiếp (điệp ngữ vòng)

* Lưu ý: Điệp ngữ khác với cách nói, cách viết lặp do nghèo nàn về vốn từ, do không nắm chắc cú pháp nên nói và viết lặp, đó là một trong những lỗi cơ bản về câu.             

Chơi chữ

– Khái niệm.- Chơi chữ là cách vận dụng ngữ âm, ngữ nghĩa của từ để tạo ra những cách hiểu bất ngờ, thú vị.

– Một số kiểu chơi chữ thường gặp:

+ Dùng từ gần nghĩa, đồng nghĩa để chơi chữ…

+Dùng từ  đồng nghĩa, trái nghĩa

+ Dùng lối nói lái

+ Dùng từ đồng âm.

– Các lối chơi chữ: Văn thơ trào phúng, ca dao, chèo cổ (vai hề) thường sử dụng nhiều lối chơi chữ rất độc đáo.

* Lưu ý: Sau khi cung cấp kiến thức lý thuyết để học sinh nhận dạng được các biện pháp tu từ thường gặp, giáo viên cần nhấn mạnh: Trong đề thi, câu hỏi thường có dạng, tìm ra biện pháp tu từ và phân tích hiệu quả của biện pháp tu từ ấy. Chính vì thế các em phải nhớ được hiệu quả nghệ thuật mang tính đặc trưng của từng biện pháp. Đáp ứng yêu cầu nhớ kiến thức trọng tâm tôi đã cung cấp cho các em bảng kiến thức sau:

Biện pháp tu từ Hiệu quả nghệ thuật (Tác dụng nghệ thuật)
So sánh  Giúp sự vật, sự việc được miêu tả sinh động, cụ thể tác động đến trí tưởng tượng, gợi hình dung và cảm xúc
Ẩn dụ Cách diễn đạt  mang tính hàm súc, cô đọng, giá trị biểu đạt cao, gợi những liên tưởng ý nhị, sâu sắc.
Nhân hóa Làm cho đối tượng hiện ra sinh động, gần gũi, có tâm trạng và có hồn gần với con người
Hoán dụ Diễn tả sinh động nội dung thông báo và gợi những liên tưởng ý vị, sâu sắc
Điệp từ/ngữ/cấu trúc Nhấn mạnh, tô đậm ấn tượng – tăng giá trị biểu cảm, tạo âm hưởng nhịp điệu cho câu văn, câu thơ.
Nói giảm Làm giảm nhẹ đi ý muốn nói (đau thương, mất mát) nhằm thể hiện sự trân trọng
Thậm xưng Tô đậm, phóng đại về đối tượng
Câu hỏi tu từ Bộc lộ, xoáy sâu cảm xúc (có thể là những băn khoăn, ý khẳng định…)
Đảo ngữ Nhấn mạnh, gây ấn tượng sâu đậm về phần được đảo lên
Đối Tạo sự cân đối, đăng đối hài hòa
Im lặng Tạo điểm nhấn, gợi sự lắng đọng cảm xúc
Liệt kê Diễn tả cụ thể, toàn diện nhiều mặt

* Bài tập minh họa.

Ví dụ 1:  Chỉ ra biện pháp tu từ chính được sử dụng trong đoạn thơ sau và nêu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ đó:

Của ong bướm này đây tuần tháng mật;

                        Này đây hoa của đồng nội xanh rì;

                        Này đây lá của cành tơ phơ phất;

                        Của yến anh này đây khúc tình si; (Vội vàng – Xuân Diệu)

Gợi ý:  Biện pháp tu từ được sử dụng là phép trùng điệp (điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc): Của…này đây…/ Này đây… của … Hiệu quả nghệ thuật của phép tu từ là nhấn mạnh vẻ đẹp tươi non, phơi phới, rạo rực, tình tứ của mùa xuân qua tâm hồn khát sống, khát yêu, khát khao giao cảm mãnh liệt của nhân vật trữ tình).

.5. Các phép liên kết (liên kết các câu trong văn bản)

 

Các phép liên kết Đặc điểm nhận diện
Phép lặp từ ngữ Lặp lại ở câu đứng sau những từ ngữ đã có ở câu trước
Phép liên tưởng (đồng nghĩa / trái nghĩa) Sử dụng ở câu đứng sau những từ ngữ đồng nghĩa/ trái nghĩa hoặc cùng trường liên tưởng với từ ngữ đã có ở câu trước
Phép thế Sử dụng ở câu đứng sau các từ ngữ có tác dụng thay thế các từ ngữ đã có ở câu trước
Phép nối Sử dụng ở câu sau các từ ngữ biểu thị quan hệ (nối kết)với câu trước

*Ví dụ: Đọc kỹ đoạn văn sau và xác định các phép liên kết được sử dụng:

Trường học của chúng ta là trường học của chế độ dân chủ nhân dân, nhằm mục đích đào tạo những công dân và cán bộ tốt, những người chủ tương lai của nước nhà. Về mọi mặt, trường học của chúng ta phải hơn hẳn trường học của thực dân phong kiến.

          Muốn được như thế thì thầy giáo, học trò và cán bộ phải cố gắng hơn nữa để tiến bộ hơn nữa .                                   (Hồ Chí Minh – Về vấn đề giáo dục)

*Gợi ý: Các phép liên kết được sử dụng là:

+ Phép lặp: “Trường học của chúng ta”

+ Phép thế:“Muốn được như thế(thay thế cho toàn bộ nội dung của đoạn trước đó.)

1.6. Phân biệt các thể thơ

Để phân biệt được các thể thơ,  xác định được đúng thể loại khi làm bài kiểm tra, chúng ta cần giúp học sinh hiểu luật thơ: những quy tắc về số câu, số tiếng, cách hiệp vần, phép hài thanh, ngắt nhịp … Căn cứ vò luật thơ, người ta phân chia các thể thơ Việt Nam ra thành 3 nhóm chính

Các thể thơ dân tộc: lục bát, song thất lục bát, hát nói

Các thể thơ Đường luật:  ngũ ngôn, thất ngôn

Các thể thơ hiện đại: năm tiếng, bảy tiếng, tám tiếng, hỗn hợp, tự do, thơ – văn xuôi,…  

– Thể lục bát:

+ Số tiếng: mỗi cặp gồm hai dòng (một câu 6 – một câu 8 )

+ Vần: Hiệp vần ở tiếng thứ 6 hai dòng và tiếng thứ 8 dòng bát với tiếng thứ 6 dòng lục

+ Nhịp: Chẵn, dựa vào tiếng có thanh không đổi (2, 4, 6 → 2/2/2)

+ Hài thanh: Tiếng 2 (B), tiếng 4 (T), tiếng 6 (B). Đối lập âm vực trầm bổng ở tiếng 6, 8 dòng bát

Thể song thất lục bát:

+ Số tiếng: cặp song thất (7 tiếng), và một cặp lục bát dòng( 6 – 8 tiếng)

+Vần: Cặp song thất: tiếng 7 – tiếng 5 hiệp vần (vần T); Cặp lục bát hiệp vần B; giữa cặp song thất và lục bát có vần liền

+ Nhịp: 2 câu thất 3/4 ; lục bát 2/2/2

+ Hài thanh: song thất: tiếng 3 linh hoạt B/T

– Các thể ngũ ngôn Đường luật

+ Ngũ ngôn tứ tuyệt: 5 tiếng 4 dòng

+ Ngũ ngôn bát cú: 5 tiếng, 8 dòng

+Vần: độc vận, vần cách

+ Nhịp: 2/3

+ Hài thanh: Có sự luân phiên B-T hoặc niêm B – B, T – T  ở tiếng thứ 2,4.

– Các thể thất ngôn đường luật  

+Thất ngôn tứ tuyệt: 7 tiếng 4 dòng (Thất ngôn bát cú: 7 tiếng, 8 dòng)

+Vần: vần chân, độc vận, gieo vần cách

+Nhịp 4/3

+Hài thanh: tiếng thứ 4 đối dấu với tiếng thứ 2 và thứ 6; tiếng thứ 2 của dòng 2 và dòng 3, dòng 1 và dòng 4 phải cùng thanh.

– Các thể thơ hiện đại:

Các thể thơ hiện đại rất đa dạng và phong phú: năm tiếng, bảy tiếng, tám tiếng, hỗn hợp, tự do, thơ – văn xuôi…câu thơ dài ngắn khác nhau, cách ngắt nhịp linh hoạt, vắt dòng…Chúng vừa tiếp nối luật thơ trong thơ truyền thống, vừa có sự cách tân.

Ví dụ 1

Viếng chồng
–   Chị ơi!…
Chỉ gọi được thế thôi
Anh chiến sĩ đưa đường bỗng thấy nghẹn lời
Không làm sao anh còn nói nổi:
– Chị đặt hoa nhầm rồi
Mộ anh ấy ở bên tay trái
Chỉ có một vòng hoa chị mang từ quê lại
Hoa viếng mộ bên này đã có chúng tôi!

– Chị hiểu ý em rồi
Xin cho chị đặt hoa bên mộ đó
Cả cánh rừng chỉ có hai ngôi mộ
Viếng mộ anh, có chị đến đây rồi!
                       (Trần Ninh Hồ – Tây Trường Sơn 1972)

* Câu hỏi: Bài thơ trên được viết theo thể thơ nào? Vì sao?

* Gợi ý: – Bài thơ được viết theo thể thơ tự do? Câu thơ dài ngắn khác nhau, ngắt nhịp linh hoạt, không chịu sự chi phối của luật thơ.

 1.7. Xác định nội dung, chi tiết chính có liên quan đến văn bản

  1. Đặt nhan đề, xác định câu chủ đề

          Văn bản thường là một chỉnh thể thống nhất về nội dung, hài hòa về hình thức. Khi hiểu rõ được văn bản, học sinh dễ dàng tìm được nhan đề cũng như nội dung chính của văn bản.

Đặt nhan đề cho văn bản chẳng khác nào người cha khai sinh ra đứa con tinh thần của mình. Đặt nhan đề sao cho đúng, cho hay không phải là dễ. Vì nhan đề phải khái quát được cao nhất nội dung tư tưởng của văn bản, phải cô đọng được cái thần, cái hồn của văn bản. Học sinh chỉ có thể đặt tên được nhan đề cho văn bản khi hiểu được nghĩa của nó.  Vì thế giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh đọc văn bản để hiểu ý nghĩa của văn bản sau đó mới xác định nhan đề. Nhan đề của văn bản thường nằm ở những từ ngữ, những câu lặp đi, lặp lại nhiều lần trong văn bản.

Muốn xác định được câu chủ đề của đoạn, chúng ta cần xác định xem đoạn văn đó trình bày theo cách nào. Nếu là đoạn văn trình bày theo cách diễn dịch thì câu chủ đề thường ở đầu đoạn. Nếu là đoạn văn trình bày theo cách quy nạp thì câu chủ đề nằm ở cuối đoạn. Còn đoạn văn trình bày theo cách móc xích hay sng hành thì câu chủ đề là câu có tính chất khái quát nhất, khái quát toàn đoạn. Câu đó có thể nằm bất cứ vị trí nào trong đoạn văn.

* Ví dụ: Hãy xác định câu chủ đề của đoạn văn và đặt nhan đề cho đoạn văn sau?

Cái đẹp vừa ý là xinh, là khéo. Ta không háo hức cái tráng lệ, huy hoàng, không say mê cái huyền ảo, kì vĩ. Màu sắc chuộng cái dịu dàng, thanh nhã, ghét sặc sỡ. Quy mô chuộng sự vừa khéo, vừa xinh, phải khoảng. Giao tiếp, ứng xử chuộng hợp tình, hợp lí, áo quần, trang sức, món ăn đều không chuộng sự cầu kì. Tất cả đều hướng vào cái đẹp dịu dàng, thanh lịch, duyên dáng và có quy mô vừa phải”.

(Trích Nhìn về vốn văn hóa dân tộc – Trần Đình Hượu)

* Trả lời: – Câu chủ đề của đoạn văn: Cái đẹp vừa ý là xinh, là khéo.

– Đặt nhan đề: Quan về cái đẹp.

Xác định nội dung chính của văn bản.

Muốn xác định được nội dung của văn bản giáo viên cần hướng dẫn học sinh căn cứ vào tiêu đề của văn bản.Căn cứ vào những hình ảnh đặc sắc, câu văn, câu thơ được nhắc đến nhiều lần. Đây có thể là những từ khóa chứa đựng nội dung chính của văn bản. Đối với văn bản là một đoạn, hoặc một vài đoạn, việc cần làm là học sinh phải xác định được đoạn văn trình bày theo cách nào: diễn dịch, quy nạp, móc xích hay song hành… Xác đinh được kiểu trình bày đoạn văn học sinh sẽ xác định được câu chủ đề nằm ở vị trí nào. Thường câu chủ đề sẽ là câu nắm giữ nội dung chính của cả đoạn. Xác định bố cục của đoạn cũng là căn cứ để chúng ta tìm ra các nội dung chính của đoạn văn bản đó.

Ví dụ . Đọc bài thơ sau rồi xác định nội dung chính ?

      Thời gian

Thời gian qua kẽ tay

Làm khô những chiếc lá

Kỉ niệm trong tôi

Rơi

      như tiếng sỏi

                     trong lòng giếng cạn

Riêng những câu thơ

                                  còn xanh

Riêng những bài hát

                                   còn xanh

Và đôi mắt em

                      như hai giếng nước.

(Văn Cao, , NXB Tác phẩm mới, Hà Nội, 1998)

*Gợi ý đáp án: Để nêu ra chính xác nội dung chính ta căn cứ vào nhan đề là thời gian và bố cục bài thơ chia làm 2 phần (phần 1: 4 câu đầu, phần 2: 3 câu sau) ta xác định được nội dung chính của bài thơ như sau:

– Bài thơ nói về sự tàn phá của thời gian: thời gian có thể xóa nhòa nhiều thứ kể cả kỉ niệm

– Nhưng thời gian không thể xóa nhòa được nghệ thuật (câu thơ, bài hát) và tình yêu (đôi mắt em)

Yêu cầu xác định từ ngữ, hình ảnh biểu đạt nội dung cụ thể trong văn bản

           Phần này trong đề thi thường hỏi anh/ chị hãy chỉ ra một từ ngữ, một hình ảnh, một câu nào đó có sẵn trong văn bản. Sau khi chỉ ra được có thể lý giải phân tích vì sao lại như vậy. Vì thế giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh đọc kĩ đề, khi lý giải phải bám sát vào văn bản. Phần này phụ thuộc nhiều vào khả năng cảm thụ thơ văn của học sinh.

Ví dụ : Bức tranh mùa xuân  được tác giả vẽ lên bằng những hình ảnh nào?

Trong làn nắng ửng khói mơ tan.

Đôi mái nhà gianh lấm tấm vàng.

Sột soạt gió trêu tà áo biếc,

                             Trên giàn thiên lí. Bóng xuân sang

              ( Mùa xuân chín – Hàn Mặc Tử)

* Trả lời: Bức tranh mùa xuân  được tác giả vẽ lên bằng những hình ảnh: nắng ửng, khói mơ tan, đôi mái nhà gianh, tà áo biếc, giàn thiên lí. Đó là một bức tranh xuân trong sáng, rạo rực, say mê, thơ mộng thơ mộng . Hàn Mặc Tử vơi cảm hứng thiên nhiên trữ tình, màu sắc cổ điển hài hòa với chất dã, trẻ trung bình dị đã làm hiện lên một bức tranh xuân tươi tắn thơ mộng.

1.8. Dựa vào văn bản cho sẵn viết một đoạn văn khoảng 5-7 dòng.
Trong đề Đọc hiểu phần câu hỏi này thường là câu cuối cùng. Sau khi các em học sinh nghiên cứu, tìm hiểu và trả lời các câu trên, đến câu này là câu có tính chất liên hệ mở rộng. Nó thuộc câu hỏi vận dụng. Học sinh dựa vào văn bản đã cho, bằng sự trải nghiệm của bản thân để viết một đoạn văn theo chủ đề. Phần này giáo viên cần lưu ý cho các em viết đủ số câu quy định, viết thành một đoạn văn trả lời trực tiếp vào câu hỏi.

*Ví dụ: Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi:

                       Thời gian chạy qua tóc mẹ

Một màu trắng đến nôn nao

Lưng mẹ cứ còng dần xuống

Cho con ngày một thêm cao.

(Trong lời mẹ hát – Trương Nam Hương)

* Dựa vào đoạn thơ, viết một đoạn văn (khoảng 5-7 dòng) nói về sự hi sinh thầm lặng của người mẹ ?

* Gợi ý đáp án. Học sinh có thể diễn đạt theo nhiều cách khác nhau nhưng cần có ý sau: Mẹ tần tảo sớm hôm nuôi ta khôn lớn, lo lắng cho ta từ miếng ăn giấc ngủ. Khi ta trưởng thành âm thầm dõi theo bước ta đi, khi ta vấp ngã trên đường đời, bàn tay mẹ ấm áp nâng ta dậy…

 

Một số lưu ý về phương pháp làm đề Đọc hiểu

Để bài làm của học sinh đạt kết quả cao, ngoài việc các em nắm vững kiến thức lý thuyết để vận dụng làm bài tập thì kĩ năng trình bày, phương pháp làm bài cũng góp phần không nhỏ vào kết quả đó. Trước khi luyện đề giáo viên cần lưu ý cho học sinh cách làm bài như sau:

Về trình bày:  Học sinh cần phải trình bày khoa học, không nên tẩy xóa , viết chèn dòng trong bài. Nếu có sai thì gạch chéo và làm lại. Cần dùng các kí hiệu thống nhất với đề bài

Về nhận diện câu hỏi:Đọc kĩ yêu cầu đề để xác định nội dung câu hỏi có mấy ý, từ đó trả lời cho đúng, trúng vấn đề. Ví dụ nếu đề hỏi chỉ ra các phương thức/ các thao tác lập luận trong văn bản trên thì câu trả lời sẽ từ hai phương thức/ hai thao tác trở lên. Nhưng nếu câu hỏi chỉ ra thao tác nào/ phương thức nào là chính hoặc chủ yếu thì câu trả lời chỉ là một phương thức/ một thao tác.

        Về cách trả lời: Văn bản đọc hiểu thường không dài nên yêu cầu học sinh đọc văn bản để chọn câu trả lời cho phù hợp. Các em cần đọ lướt để tìm chủ đề hoặc ý chính, đọc kĩ để tìm chi tiết, thông tin. Câu trả lời cần trực tiếp, ngắn gọn, chính xác, đầy đủ. Hỏi gì trả lời đó, không trả lời thừa.

Thực tế chấm thi cho thấy, nhiều học sinh làm phần Đọc hiểu lan man, nhất là những dạng câu hỏi: nêu nội dung chính, lý giải vì sao tác giả lại cho là vậy, hoặc viết một đoạn văn … có em viết gần một trang giấy. Các em làm không đúng yêu cầu phương pháp vừa mất thời gian mà điểm số cũng không cao hơn được. Ví dụ phần câu hỏi liên tưởng thực tế đề thường yêu cầu viết khoảng 5-7 dòng. Giáo viên nhắc nhở học sinh viết khoảng 7 dòng và nếu viết thêm thì không quá 10 dòng. Ở câu hỏi này học sinh cũng không cần dẫn dắt vào đề tránh bài viết lan man, quá quy định.

Thời gian làm phần Đọc –hiểu khoảng từ 20 đến 30 phút.

Bài tập ôn luyện, rèn kĩ năng Đọc- hiểu

Sau khi giáo viên hướng dẫn các em học sinh ôn luyện lý thuyết có liên quan đến câu hỏi Đọc hiểu và lưu ý các em về cách làm bài. Giáo viên cần rèn kĩ năng làm bài Đọc hiểu cho các em thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập.

Hệ thống câu hỏi bài tập giáo viên cung cấp cần đa dạng, bao quát được các dạng kiến thức lý thuyết đã ôn tập . Đặc biệt để đánh giá cũng như rèn kĩ năng Đoc- hiểu, cảm thụ của học sinh chúng ta cũng nên soạn các câu hỏi theo cách làm của PISA. Như  các câu hỏi, bài tập mở yêu cầu trả lời ngắn, câu hỏi bài tập mở, yêu cầu trả lời dài, câu hỏi bài tập đóng yêu cầu trả lời dựa trên văn bản.

Các câu hỏi, bài tập Đọc hiểu tôi soạn ở ba mức độ : Nhận biết, thông hiểu, vận dụng thấp.

+ Nhận biết :Câu hỏi thường ra  về xác định đề tài, thể loại, phương thức biểu đạt, phng cách ngôn ngữ, chỉ ra các biện pháp tu từ, các chi tiết chính ….trong văn bản; Nhận biết các thông tin được thể hiện, phản ánh trực tiếp trong văn bản;  Diễn đạt hoặc mô tả lại nội dung của văn bản bằng ngôn ngữ của mình.

+ Thông hiểu:Nêu chủ đề hoặc nội dung chính của văn bản; Sắp xếp, phân loại được thông tin trong văn bản. Kết nối, đối chiếu, lý giải, mối quan hệ của các thông tin để lý giải nội dung của văn bản. Cắt nghĩa, lý giải nội dung, hiệu quả các biện pháp tu từ, các chi tiết, các sự kiện thông tin …có trong văn bản. Dựa vào nội dung văn bản để lý giải hoặc giải quyết các tình huống, các vấn đề trong văn bản.

+ Vận dụng: Viết một đoạn văn trình bày quan điểm riêng của cá nhân về văn bản theo yêu cầu của đề bài, vận dụng ý nghĩa hoặc bài học rút ra từ văn bản để giải quyết những vấn đề của thực tiễn cuộc sống, thể hiện được những trải nghiệm của bản thân.

Định  hình cho các em dung lượng trả lời hợp lý cho một câu hỏi Đọc hiểu, tôi thường soạn thảo câu hỏi ra giấy A4 và cho học sinh trả lời ngay vào giấy. Đây cũng là cách rèn kĩ năng trình bày và phương pháp làm bài cho học sinh

            Dưới đây là một số đề thi thử tại trường THPT Dương Quảng Hàm và một số đề tôi sưu tầm chỉnh sửa để luyện tập cho học sinh. (Đề số 1, đề số 2 có tính minh họa – phụ lục có kèm theo bài làm của học sinh)

Họ và tên Điểm             Nhận xét
Lớp:    
Năm học:

                           ĐỀ SỐ 1 –  ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)

Đọc đoạn trích sau đây và trả lời câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4:

          (1) Vấn đề nhìn nhận đánh giá đúng vị trí, vai trò của lịch sử là vô cùng quan trọng bởi vì lịch sử chính là điểm tựa của chúng ta, là nơi hội tụ, kết tinh những giá trị tinh thần vô giá của dân tộc. Lịch sử giúp cho chúng ta có quyền tự hào và tin tưởng vào truyền thống anh hùng, bất khuất, mưu trí, sáng tạo của tổ tiên và hy vọng vào tiền đồ, tương lai tươi sáng của dân tộc. Chính vì vậy, tất cả chúng ta cần phải hăng hái, tự giác học lịch sử nước nhà để có thể đón nhận được những thông tin, tiếp thu được những kinh nghiệm quí báu từ xa xưa vận dụng vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng Tổ quốc.

          (2) Lịch sử không chỉ truyền dạy cho chúng ta nguồn gốc con Rồng, cháu Tiên mà lịch sử còn tiếp thêm sức mạnh cho chúng ta, truyền lại cho chúng ta quá khứ vẻ vang của dân tộc. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, thời nào đất nước ta cũng xuất hiện những nhân tài có công trị nước yên dân, xây dựng cuộc sống thanh bình, hạnh phúc. Đặc biệt là những khi Tổ quốc bị xâm lăng, từ những người nông dân áo vải bình dị đã sản sinh ra nhiều anh hùng hào kiệt có lòng yêu nước nồng nàn, có tài cầm quân thao lược đánh Bắc, dẹp Nam giữ yên bờ cõi, trở thành tấm gương sáng, để lại tiếng thơm cho muôn đời.

(TS. Phạm Ngọc Trung, Học viện Báo chí và Tuyên truyền)

 

Câu 1. Hãy ghi lại câu văn nêu khái quát chủ đề của đoạn trích? (0,25 điểm)

…………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………….

Câu 2. Vì sao tác giả của bài viết lại cho rằng: tất cả chúng ta cần phải hăng hái, tự giác học lịch sử nước nhà ?(0,5 điểm)

……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

…………………………………………………………………………………………………………………….

Câu 3.  Đoạn văn trên tác giả chủ yếu sử dụng  thao tác lập luận nào? (0,25 điểm)

……………………………………………………………………………………………………………………..

Câu 4. Anh/chị hãy nêu vai trò của môn lịch sử trong trường THPT theo quan điểm riêng của mình? (Trả lời trong khoảng 5-7 dòng). (0,5 điểm).

……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………….

Đọc đoạn trích sau đây và trả lời câu hỏi từ Câu 5 đến Câu 8:

       Thời gian

Thời gian qua kẽ tay

Làm khô những chiếc lá

Kỉ niệm trong tôi

Rơi

      như tiếng sỏi

                     trong lòng giếng cạn

Riêng những câu thơ

                                  còn xanh

Riêng những bài hát

                                   còn xanh

Và đôi mắt em

                      như hai giếng nước.

(Văn Cao, , NXB Tác phẩm mới, Hà Nội, 1998)

Câu 5. Bài thơ được chia làm mấy phần? Nội dung chính của từng phần?(0,25 điểm)…………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………..

Câu 6. Các câu thơ Kỉ niệm trong tôi/ Rơi như tiếng sỏi trong lòng giếng cạn  tác giả sử dụng  biện pháp tu từ nào? tác dụng của biện pháp tu từ ấy ? (0,5điểm)

…………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………..

Câu 7. Tìm điểm chung về hình thức của các câu thơ 4,5,6,7 ?  (0,25 điểm)

……………………………………………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………………………………………

Câu 8. Qua cảm nhận về bài thơ anh, chị hãy trình bày tầm quan trọng của thời gian đối với học sinh ? (Trả lời dưới 10 dòng).(0,5 điểm).

……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………….

ĐÁP ÁN – ĐỀ SỐ 1

 

 

Câu                                   Nội dung Điểm
1 Câu văn nêu khái quát chủ đề của văn bản: Vấn đề nhìn nhận đánh giá đúng vị trí, vai trò của lịch sử là vô cùng quan trọng bởi vì lịch sử chính là điểm tựa của chúng ta, là nơi hội tụ, kết tinh những giá trị tinh thần vô giá của dân tộc. 0,25
2 Tác giả cho rằng tất cả chúng ta cần phải hăng hái, tự giác học lịch sử nước nhà vì :

+ Lịch sử chính là điểm tựa của chúng ta, là nơi hội tụ, kết tinh những giá trị tinh thần vô giá của dân tộc.

+ Lịch sử làm chúng ta tự hào và tin tưởng vào truyền thống anh hùng, bất khuất, mưu trí, sáng tạo của tổ tiên và hy vọng vào tiền đồ, tương lai tươi sáng của dân tộc.

0,5
3 Thao tác chủ yếu : Phân tích 0,25
4 Học sinh trình bày được quan điểm riêng của mình (không chép lại nguyên quan điểm của tác giả). Ví dụ : Hiểu về lịch sử quá khứ của dân tộc; học lịch sử để không đánh mất quá khứ, bản sắc của đất nước…. 0,5
5 Chia làm 2 phần :

+ Phần 1(4 câu thơ đầu): Sức tàn phá của thời gian

          + Phần 2(3 câu cuối): Những điều có sức sống mãnh liệt, trường tồn với thời gian

0,25
6 Biện pháp so sánh : BPTT so sánh : Kỉ niệm của đời người cũng rơi vào quên lãng như hòn sỏi rơi vào cái giếng cạn, bị bùn cát lấp,chẳng có tiếng vang gì. Nhấn mạnh sự tàn phá của thời gian. 0,5
7  Điểm chung : Đều là những câu thơ có hình thức vắt dòng

 

0,25
8 Học sinh có thể diễn đạt theo nhiều cách khác nhau nhưng cần có ý : Thời gian là vô cùng quan trọng đối với học sinh, nhất là học sinh lớp 12. Chúng ta cần tranh thủ thời gian để đi học, ôn luyện, vui chơi…Nếu không thời sử dụng thời gian vào việc học, vào việc có ích, chúng ta sẽ làm lãng phí thời gian bởi thời gian không quay lại được…. 0,5
  *Lưu ý, các câu thang điểm 0,5 điểm, nếu học sinh làm được 1/2số ý thì giáo viên cho 0,25 điểm

 

 

 

 

Họ và tên Điểm             Nhận xét
Lớp:    
Năm học:

                                           ĐỀ SỐ 2 – ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4:

         Dự án chặt 6.700 cây xanh để thay thế của Thành phố Hà Nội đang khiến người dân Hà thành nói riêng và những người yêu Thủ đô nói chung cảm thấy sốc và buồn vì số lượng cây xanh bị chặt quá nhiều. Người Hà Nội vốn đã gắn bó với những con đường quen thuộc phủ đầy màu xanh mát trước kia nay ngỡ ngàng, đau xót trước những con đường chỉ còn trơ trụi gốc cây, vết tích còn sót lại sau khi bị đốn hạ. Việc chặt và thay thế các cây đã mục rỗng là hợp lý song có nhất thiết phải thay một loạt nhiều như vậy không là điều mà những người yêu Hà Nội đang rất băn khoăn. Trên các mạng xã hội, cư dân mạng đã chế ra nhiều ảnh, clip mang thông điệp bảo vệ môi trường, bảo vệ cây xanh, bảo vệ “lá phổi” của Thành phố vì hòa bình. Ẩn sau những bức ảnh tưởng như hài hước là biết bao niềm trăn trở, những tiếng thở dài…

(theo ictnews.vn)

Câu 1. Ghi lại câu văn nêu khái quát chủ đề của đoạn trích trên? (0,5 điểm)

……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

Câu 2. Đoạn trích trên được viết theo phong cách ngôn ngữ  nào? (0,25 điểm)

…………………………………………………………………………………………

Câu 3. Hãy giải thích vì sao người viết cho rằng: Việc chặt và thay thế các cây đã mục rỗng là hợp lý song có nhất thiết phải thay một loạt nhiều như vậy không là điều mà những người yêu Hà Nội đang rất băn khoăn. (0,5điểm)

………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

Câu 4. Anh chị hãy viết một đoạn văn ngắn khoảng 5-7 dòng nói về lợi ích của cây xanh? (0,25 điểm)

…………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………..

 Đọc văn đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi từ Câu 5 đến Câu 8:

 Ôi Tổ Quốc ta yêu như máu thịt

Như mẹ cha ta như vợ như chồng

Ôi Tổ Quốc nếu cần ta chết

Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông

(Chế Lan Viên)

Câu 5. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ trên? (0,25điểm)

……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

Câu 6. Xác định biện pháp tu từ được tác giả sử dụng trong hai câu thơ đầu của đoạn thơ trên? Phân tích hiệu quả của biện pháp đó? (0,5 điểm)

……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………….

Câu 7. Nêu nội dung chính của đoạn thơ? (0,5 điểm)

………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

Câu 8. Từ đoạn thơ trên anh,chị hãy viết môt đoạn văn khoảng 5- 7 dòng bàn về trách nhiệm của thanh niên ngày nay đối với Tổ Quốc? (0,25 điểm)

……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………..

ĐÁP ÁN – ĐỀ SỐ 2

Câu Nội dung Điểm
1 Câu văn nêu khái quát chủ đề của văn bản: Dự án chặt 6700 cây xanh để thay thế của Thành phố Hà Nội đang khiến người dân Hà thành nói riêng và những người yêu Thủ đô nói chung cảm thấy sốc và buồn vì số lượng cây xanh bị chặt quá nhiều .

 

0,5
2 Phong cách ngôn ngữ Báo chí 0,25
3 Tác giả cho rằng Việc chặt và thay thế các cây đã mục rỗng là hợp lý song có nhất thiết phải thay một loạt nhiều như vậy không là điều mà những người yêu Hà Nội đang rất băn khoăn. Vì người viết hiểu việc chặt cây đã mục rỗng là hợp lí bởi những cây đó đến mùa mưa bão có thể gẫy, đổ ảnh hưởng tới giao thông và tính mạng con người. Nhưng nếu chặt hàng loạt sẽ ảnh hưởng tới lá phổi của thủ đô -> Vì thế mọi người băn khoăn.

 

0,5
4  Nêu lợi ích của cây xanh: Làm sạch không khí, cung cấp ô xy, tạo bóng mát, chống sói mòn đất….

 

0,25
5 Phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ: phương thức biểu cảm/biểu cảm. 0,25
6 Biện pháp so sánh : Yêu Tổ Quốc như máu thịt, như mẹ cha, như vợ chồng ( Một A được đem so sánh với nhiều B) Tình yêu Đất nước hiện ra cụ thể, rõ ràng

-> Yêu tổ quốc như chính cơ thể và những người thân yêu ruột thịt của mình.

0,5
7 Nội dung chính của đoạn thơ: Đoạn thơ thể hiện tình yêu Tổ quốc sâu sắc của thi nhân. Tình yêu ấy đượ so sánh với tình yêu những người thân, ruột thịt trong gia đình(mẹ cha, vợ chồng, như chính cơ thể của mỗi con người). Chính vì thế mà khi Tổ quốc lâm nguy, khi Đất Nước cần chúng ta phải biết hi sinh để bảo vệ Tổ quốc, làm nên sự trường tồn của dân tộc. 0,5
8 Trách nhiệm của thanh niên ngày nay đối với Tổ quốc: Học tập, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, hoàn thành tốt những nhiệm vụ mình đang đảm nhiệm để khẳng định là một người công dân có ích cho Đất nước. Có ý thức xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, chống lại các thế lực thù địch, chống phá nhà nước một cách đúng pháp luật…

 

0,25
  *Lưu ý, các câu thang điểm 0,5 điểm, nếu học sinh làm được ½ số  ý thì giáo viên cho 0,25 điểm  

 

                                               ĐỀ SỐ 3

Đọc đoạn trích sau đây và trả lời câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4:

         (1) Đưa những cuốn sách về với quê hương mình, với mái trường cũ thân thương của mình, để các em nhỏ sẽ không còn “khát” sách đọc. Đó là công việc thiện nguyện của những người tham gia chương trình “Sách hóa nông thôn Việt Nam”, đang chung tay đeo đuổi mục tiêu để 10 triệu trẻ em nông thôn có quyền đọc sách và có sách đọc như trẻ em thành phố.

         (2) Anh Nguyễn Quang Thạch, người khởi xướng chương trình hiện đang trong quá trình đi bộ xuyên Việt từ Hà Nội vào TP Hồ Chí Minh. Chuyến đi được khởi hành từ ngày mồng 1 Tết Ất Mùi và dự kiến sẽ hoàn thành vào trung tuần tháng 6-2015. Anh là cử nhân tiếng Anh, đã từng trải qua nhiều vị trí ở cơ quan nhà nước và từng làm việc cho một số tổ chức quốc tế. Chuyến đi bộ xuyên Việt của anh lần này là mong muốn kêu gọi cộng đồng chung tay nhân rộng tủ sách trong trường học, dòng họ… để đạt con số 300 nghìn tủ sách được xây dựng trên toàn quốc vào năm 2017, giúp hơn 10 triệu học sinh nông thôn có sách đọc.

         (3) Chương trình Sách hóa nông thôn Việt Nam ra đời theo mong muốn của anh là nhằm giải quyết vấn đề thiếu sách ở nông thôn mà theo anh là để nâng cao dân trí, xây dựng tinh thần chia sẻ trách nhiệm xã hội trong cộng đồng. Tâm nguyện của anh là tạo ra một hệ thống thư viện mi-ni rộng khắp cả nước để mọi người dân thôn quê có thể tiếp cận tri thức. Chương trình Sách hóa nông thôn Việt Nam đến nay đã thực hiện thành công năm loại tủ sách, với hơn 3.800 tủ sách được xây dựng, giúp hơn 200 nghìn người dân nông thôn, đặc biệt là 100 nghìn học sinh nông thôn có cơ hội đọc 40 đầu sách/năm.”

(Đưa sách về làng, Nhân dân cuối tuần, 26/04/2015)

Câu 1. Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản. (0,25 điểm)

Câu 2. Đoạn (2) giới thiệu những thông tin gì về hành động “đi bộ xuyên Việt” của anh Nguyễn Quang Thạch? (0,5 điểm)

Câu 3. Từ nội dung văn bản, hãy nêu mục tiêu và kết quả đạt được của chương trình “Sách hóa nông thôn Việt Nam”. (0,25 điểm)

Câu 4. Theo số liệu của Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch: hiện nay, trung bình người Việt đọc 0,8 cuốn sách/năm. Từ thực trạng này, anh/chị hãy nhận xét ngắn gọn về anh Nguyễn Quang Thạch và chương trình “Sách hóa nông thôn Việt Nam” do anh khởi xướng. Trả lời trong khoảng 5-7 dòng. (0,5 điểm)

Đọc đoạn trích sau đây và trả lời câu hỏi từ Câu 5 đến Câu 8:

Trên bãi cát những người lính đảo

Ngồi ghép nhau bao nỗi nhớ nhà

Chiều áo rộng vài vạt mây hờ hững

Họ cứ ngồi như chum vại hứng mưa

Đảo tái cát

Khóc oan hồn trôi dạt

Tao loạn thời bình

Gió cắt ngang cây

Đất hãy nhận những đứa con về cội

Trong bao dung bóng mát của người

Cây hãy gọi bàn tay về hái quả

Võng gọi về nghe lại tiếng à ơi…

 

À ơi tình cũ nghẹn lời

Tham vàng bỏ ngãi kiếp người mong manh.

(Lời của sóng 4, trích Trường ca Biển, Hữu Thỉnh – 2012)

Câu 5. Chỉ ra phương thức biếu đạt chính của đoạn thơ trên? (0,25 điểm)

Câu 6. Đoạn thơ viết theo thể thơ gì? Theo em, tại sao tác giả lại chọn thể thơ đó? (0, 5điểm)

Câu 7. Chỉ ra phép liên kết được sử dụng và giá trị của nó trong đoạn thơ trên. (0,5 điểm)

Câu 8. Viết đoạn văn từ 5 đến 7 dòng nói lên suy nghĩ của riêng em về hình ảnh những người lính đảo. (0,25 điểm).

                                                ĐÁP ÁN – ĐỀ 3

Câu Nội dung Điểm
1 Phong cách ngôn ngữ báo chí 0,25
2 Hành động đi bộ xuyên Việt của anh Nguyễn Quang Thạch:

-Về hành trình: từ Hà Nội vào TP Hồ Chí Minh

-Về thời gian: khởi hành từ ngày mồng 1 Tết Ất Mùi và dự kiến sẽ hoàn thành vào trung tuần tháng 6-2015.

-Về mục đích: kêu gọi cộng đồng chung tay nhân rộng tủ sách trong trường học, dòng họ… để đạt con số 300 nghìn tủ sách được xây dựng trên toàn quốc vào năm 2017, giúp hơn 10 triệu học sinh nông thôn có sách đọc.

0,5
3 – Mục tiêu: 10 triệu trẻ em nông thôn có quyền đọc sách và có sách đọc như trẻ em thành phố.

– Kết quả đạt được của chương trình “Sách hóa nông thôn Việt Nam”: thực hiện thành công năm loại tủ sách, với hơn 3.800 tủ sách được xây dựng, giúp hơn 200 nghìn người dân nông thôn, đặc biệt là 100 nghìn học sinh nông thôn có cơ hội đọc 40 đầu sách/năm

0,25
4 Thí sinh nêu được quan điểm của bản thân về anh Nguyễn Quang Thạch và ý nghĩa của chương trình “Sách hóa nông thôn Việt Nam”. Câu trả lời phải chặt chẽ, có sức thuyết phục.

– Anh Nguyễn Quang Thạch: là một người có tâm huyết với cộng đồng, có lí tưởng sống đẹp, biết chăm lo cho sự phát triển của thế hệ trẻ, đặc biệt là trẻ em nông thôn.

– Chương trình “Sách hóa nông thôn Việt Nam”: là một chương trình thiết thực, ý nghĩa, giúp cho mỗi người có nhận thức đúng hơn về sách và quan tâm nhiều hơn đến việc đọc sách.

0,5
5 Phương thức chính: biểu cảm

 

0,25
6 -Thể thơ của đoạn thơ: Thể loại trường ca, thể thơ tự do.

-Tác dụng: Thể loại trường ca, thể thơ tự do đem đến lối viết phóng khoáng, theo dòng cảm xúc của nhà thơ, không phụ thuộc vào quy tắc lề lối câu chữ. Đề tài của bài thơ là biển đảo quê hương, thể thơ phù hợp để nói cảm xúc mênh mang rộng lớn, phong phú của đề tài này.

0,5
7 Các phép liên kết được sử dụng:

– Phép thế: những người lính đảo – họ

– Phép điệp : à ơi.

Giá trị các phép liên kết: Thể hiện nội dung thống nhất của đoạn trích nói về hình ảnh người lính đảo bình dị, chân thật khi nhớ về những kỉ niệm ở quê nhà.

0,5
8 Thí sinh viết đoạn văn nêu được những cảm nhận của bản thân về vẻ đẹp của người lính đảo không giống trong đoạn thơ. 0,25
  *Lưu ý, các câu thang điểm 0,5 điểm, nếu học sinh làm được ½ số ý thì giáo viên cho 0,25 điểm  

                             ĐỀ SỐ 4 – ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4
      “Khi mạng xã hội ra đời, những người cổ xúy thường cho rằng chức năng quan trọng nhất của nó là kết nối. Nhưng trên thực tế phải chăng mạng xã hội đang làm chúng ta xa cách nhau hơn?

      Tôi đi dự đám cưới, bữa tiệc được chuẩn bị chu đáo, sang trọng từ khâu tiếp khách, lễ nghi cho đến cách chọn thực đơn, loại nhạc biểu diễn trong suốt bữa tiệc, chứng tỏ bạn rất trân trọng khách mời.

     Vậy mà suốt buổi tiệc, nhìn quanh mình đâu đâu tôi cũng thấy có người chăm chú dán mắt vào màn hình điện thoại, mà khỏi nói tôi cũng biết họ đang xem gì qua cách họ túm tụm thành từng nhóm vừa chỉ trỏ vào chiếc điện thoại vừa bình luận, nói cười rôm rả.

  (…)Trẻ trung có (số này chiếm đông hơn cả), tầm tầm cũng có. Nói đâu xa, ngay trong bàn tôi cũng thế, mọi người xúm lại chụp ảnh rồi “post” lên Facebook ngay tức thì “cho nó “hot”!”, một người bảo vậy. ”…
                                                (Lê Thị Ngọc Vi- Tuổi trẻ Online 04/05/2014)
Câu 1: Đoạn văn trên nói về thực trạng gì đang phổ biến hiện nay ?
Câu 2: Em hãy đặt nhan đề cho bài báo?

Câu 3: Những người đi dự đám cưới ở đoạn văn trên quan tâm tới điều gì ? Điều đó trái với sự tiếp đón của gia chủ ra sao ?
Câu 4 : Anh / hãy nêu sũy nghĩ của mình về tác hại của việc lạm dụng Facebook ?

Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi từ Câu 5 đến Câu 8

Anh ra khơi
Mây treo ngang trời những cánh buồm trắng
Phút chia tay, anh dạo trên bến cảng
Biển một bên và em một bên.

Biển ồn ào, em lại dịu êm
Em vừa nói câu chi rồi mỉm cười lặng lẽ
Anh như con tàu, lắng sóng từ hai phía
Biển một bên và em một bên.

Ngày mai, ngày mai khi thành phố lên đèn
Tàu anh buông neo dưới chùm sao xa lắc
Thăm thẳm nước trôi nhưng anh không cô độc
Biển một bên và em một bên….

1981.

(Trích Thơ tình người lính biển – Trần Đăng Khoa)

Câu 5. Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ nào? (0,25 điểm)

Câu 6. Xác định 02 biện pháp tu từ được tác giả sử dụng trong hai dòng thơ: “Anh như con tàu, lắng sóng từ hai phía. Biển một bên và em một bên.” (0,25 điểm)

Câu 7. Nhân vật trữ tình trong đoạn thơ là ai? Nêu nội dung chính của đoạn thơ. (0,5 điểm)

Câu 8. Anh/chị hãy nhận xét về dòng thơ cuối cùng ở mỗi khổ. Trả lời trong khoảng 5-7 dòng. (0,5 điểm)

                                                 ĐÁP ÁN – ĐỀ 4

Câu Nội dung Điểm
1   Đoạn văn nói về thực trạng: giới trẻ ngày nay đang có nguy cơ chìm vào thế giới ảo của “mạng xã hội” mà quên đi cuộc sống thực: ít quan tâm, trò chuyện với những người xung quanh hơn là cập nhật thông tin cá nhân và trao đổi bằng những tin nhắn, bình luận…trên Facebook.  
2   Gần mặt- cách long  
3 Những người đi dự đám cưới tập trung vào chiếc điện thoại: ở đó, họ bình luận về những gì diễn ra trên Facebook, chụp hình rồi đưa lên Facebook… Trái với sự tiếp đón chu đáo của gia chủ: từ khâu tiếp khách, lễ nghi, chọn thực đơn, loại nhạc biểu diễn  
4 Nếu lạm dụng Facebook chúng ta sẽ quên đi các công việc khác, có những ứng sử khiếm nhã khi dùng Facebook vào những thời điểm không hợp lý, tự do ngôn luận, đăng tải những thông tin hình ảnh thiếu văn hóa…  
5 Viết theo thể thơ tự do 0.25
6 biện pháp tu từ: so sánh (ở dòng thơ Anh như con tàu…), ẩn dụ/điệp ngữ (trong câu Biển một bên…). 0, 25
7 Nhân vật trữ tình trong đoạn thơ là anh – người lính.

Nội dung chính: Đoạn thơ kể về phút chia tay của nhân vật anh, của tác giả với nhân vật em để lên đường làm nhiệm vụ của người lính biển. Phút giây đó có sự hòa quyện tình yêu đôi lứa với tình yêu quê hương; đồng thời, nhắn nhủ anh không cô độc vì được sống trong tình em và tình biển, tình quê hương.

0,5
8 Nhận xét về các dòng thơ cuối cùng ở mỗi khổ: Biển một bên và em một bên.

Nghệ thuật: Có thể trả lời theo các cách: lặp câu/ điệp khúc/ láy lại/ lặp nguyên vẹn ý

Nội dung: Nhấn mạnh tình cảm cá nhân hòa vào vào tình cảm cộng đồng.

0,5
  *Lưu ý, các câu thang điểm 0,5 điểm, nếu học sinh làm được ½ số ý thì giáo viên cho 0,25  

                        

                         ĐỀ SỐ 5 – ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc khổ thơ sau trả lời câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4

                       Có nơi nào như Đất Nước chúng ta

                       Viết bằng máu cả ngàn chương sử đỏ

                       Khi giặc đến vạn người con quyết tử

                       Cho một lần Tổ Quốc được sinh ra

(“Tổ quốc ở Trường Sa” – Nguyễn Việt Chiến)

Câu 1. Đoạn thơ trên được trình bày theo phong cách ngôn ngữ nào? (0,25 điểm)

Câu 2. Phương thức biểu đat nào được sử dụng trong đoạn thơ? (0,25 điểm)

Câu 3. Hai câu thơ đầu của đoạn thơ tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật gì? Tác dụng của biện pháp nghệ thuật đó? (0,5 điểm)

Câu 4.Anh/chị viết một đoạn văn ngắn (khoảng 5-7 dòng) bàn về lòng yêu nước của học sinh ngày nay? (0,5 điểm)

Đọc đoạn trích sau đây và trả lời câu hỏi từ Câu 5 đến Câu :

“… Tiếng nói là người bảo vệ quý báu nhất nền độc lập của các dân tộc, là yếu tố quan trọng nhất giúp giải phóng các dân tộc bị thống trị. Nếu người An Nam hãnh diện giữ gìn tiếng nói của mình và ra sức làm cho tiếng nói ấy phong phú hơn để có khả năng phổ biến tại An Nam các học thuyết đạo đức và khoa học của châu Âu, việc giải phóng dân tộc An Nam chỉ còn là vấn đề thời gian. Bất cứ người An Nam nào vứt bỏ tiếng nói của mình, thì cũng đương nhiên khước từ niềm hi vọng giải phóng giống nòi. […] Vì thế, đối với người An Nam chúng ta, chối từ tiếng mẹ đẻ đồng nghĩa với từ chối sự tự do của mình…”

(Nguyễn An Ninh, Tiếng mẹ đẻ – nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức
Theo SGK Ngữ văn 11, Tập hai, NXB Giáo dục, 2014, tr. 90)

Câu 1. Đoạn trích trên sử dụng phép liên kết nào? (0,25 điểm)

Câu 2.Trong đoạn trích, tác giả chủ yếu sử dụng thao tác lập luận nào ? (0,5điểm)

Câu 3. Anh chị giải thích vì sao người viết cho rằng: Tiếng nói là người bảo vệ quý báu nhất nền độc lập các dân tộc. (0,25 điểm)

Câu 4. Theo anh/chị là một người học sinh, chúng ta cần phải làm gì để giữ gìn tiếng mẹ đẻ. (Viết một đoạn văn khoảng 5 đến 7 dòng). (0,5 điểm)

                                          ĐÁP ÁN – ĐỀ SỐ 5

Câu Nội dung Điểm
1 Phép nối: sử dụng quan hệ từ vì thế  để nối các câu 0,25
2 Phương thức biểu cảm, phương thức tự sự 0,25
3 Ẩn dụ: máu, sử đỏ -> chỉ những hi sinh, mất mát đau thương do chiến tranh gây ra

Tác dụng: tác giả nhấn mạnh lịch sử Việt Nam không chỉ nghi lại các sự kiện chính trị của đất nước mà còn ghi bằng máu của nhân dân, nghi lại những đau thương mất mát hi sinh của cả dân tộc trong những cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại -> ngàn trang sử đỏ.

0,5
4 Lòng yêu nước của học sinh hôm nay: rèn luyện tu dưỡng đạo đức, cố gắng học tập đạt kết quả cao, sống theo đạo đức xã hội, pháp luật nhà nước, sẵn sàng nhập ngũ… 0,5
5 Phong cách ngôn ngữ chính luận 0,25
6 Thao tác lập luận bình luận 0,5
7 – Vì tiếng nói có thể giúp chúng ta bảo lưu, phổ biến với các nước những giá trị văn minh, bản sắc văn hóa của dân tộc mình…

– Vì đánh mất tiếng mẹ đẻ là đánh mất sự tự do, độc lập dân tộc…

-> Nên tiếng nói (tiếng mẹ đẻ) giúp ta bảo vệ nền độc lập dân tộc.

0,25
8 Có tình cảm yêu mến tiếng mẹ đẻ; sử dụng (nói và viết) đúng quy tắc, chuẩn mực của tiếng mẹ đẻ làm cho tiếng nói dân tộc thêm phong phú giàu đẹp; không nói tục chửi bậy làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt;  không lai căng, pha tạp tiếng nói dân tộc …. 0,5
  *Lưu ý, các câu thang điểm 0,5 điểm, nếu học sinh làm được ½ số ý thì giáo viên cho 0,25 điểm  

 

III. KẾT QUẢ ÁP DỤNG ĐỀ TÀI

Kết quả điều tra nhận thức của học sinh

Thực hiện ý tưởng của mình, trên cơ sở bám sát chương trình phân môn. Trong các bài kiểm tra thường xuyên và định kì về nghị luận văn học của học sinh, tôi đã kiểm tra câu hỏi Đọc hiểu. Đồng thời tôi đã trao đổi với đồng nghiệp về cách hướng dẫn học sinh ôn tập về dạng đề này, được các thầy cô ủng hộ và cũng nhân rộng ra các lớp, nhất là các lớp học chuyên đề Văn. Sau ba năm ứng dụng  tôi làm phiếu thăm dò học sinh hai lớp, kết quả như sau:

Khi chưa ôn luyện và rèn kĩ năng Đọc hiểu  

Năm

học

Lớp Tổng số HS điều tra Nắm chắc lý thuyết, tự tin làn bài Năm được một phần lý thuyết, biết làm bài Không nắm rõ lý thuyết, lúng túng khi làm bài
SL % SL % SL

 

%
2014-2015 12A9 42 4 9% 15 34% 24 57%
2015-2016 12A4 38 6 16% 12 31% 19 53%

                     

Khi đã ôn luyện và rèn kĩ năng Đọc hiểu 

Năm

học

Lớp Tổng số HS điều tra Nắm chắc lý thuyết, tự tin làn bài Nắm được một phần lý thuyết, biết làm bài Không nắm rõ lý thuyết, lúng túng khi làm bài
SL % SL % SL

 

%
2014-2015 12A9 42 29 69% 12 28% 1 3%
2015-2016 12A4 38 27 71% 11 29% 0 0%

                          (Xem phụ lục- Có kèm theo phiếu thăm dò)

                             

Kết quả cho thấy khi chưa hướng dẫn ôn luyện Đoc hiểu, phần lớn học sinh tỏ ra hiểu một phần lý thuyết nên lúng túng khi làm bài.

Sau khi tôi tiến hành ôn luyện cho học sinh lớp 12 phần Đọc hiểu theo phương pháp trình bày trong sáng kiến, nhiều học sinh nắm chắc tại lớp lý thuyết và vận dụng làm được bài tập. Kết quả phiếu thăm dò cho thấy, sau khi được ôn luyện phần Đọc hiểu, khoảng 70% học sinh nắm chắc lý thuyết, tự tin làm bài thi THPT Quốc gia. Điều đó dự báo các em sẽ làm tốt phần Đọc hiểu.

 

Kết quả điểm thi THPT Quốc gia môn Văn

Kết quả trên tôi đã thống kê trong 2 năm khi tôi ôn thi THPT Quốc gia môn văn. Điểm thi môn văn lớp tôi giảng dạy đều vượt chỉ tiêu nhà trường đặt ra. Có thể nói kết quả môn Văn những năm qua đã góp phần không nhỏ để trường THPT Dương Quảng Hàm giữ vững được vị trí tốp đầu trong khối THPT của tỉnh nhà.

DANH SÁCH HỌC SINH ĐỖ ĐẠI HỌC – CAO ĐẲNG NĂM 2014
LỚP 12A6
Stt Họ tên Quê quán Trường trúng tuyển Khối Điểm thi
TOÁN ANH VĂN Tổng
1 Nguyễn Thùy Linh Mễ Sở ĐH Kinh tế – Kĩ thuật công nghiệp 6.25 4.75 4.5 15.5
2 Hoàng Thị Ngọc Huyền Tân tiến ĐH Quốc gia Hà Nội 6.75 7 7.5 21.25
3 Phạm thị Thanh Dung Liên Nghĩa Học Viện Báo Chí và Tuyên truyền D 7 6.5 7.5 21
4 Đinh Nam Phương Liên Nghĩa Học viện Khoa học quân sự D 9 8.5 7.5 25
5 Lý Thị Thảo Liên Nghĩa ĐH Kinh tế – Kĩ thuật công nghiệp A1 7 2.75 7.25 17
6 Chu Thị Trang Tân tiến ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn D 7.25 7 7 21.25
7 Nguyễn Thị Hồng Ngát Mễ Sở ĐH Công nghệ Việt Hung D 4.75 3.5 4.5 12.75
8 Nguyễn Thị Lệ Giang TT Văn Giang Học Viện Báo Chí và Tuyên truyền C 7.25 6 6.5 19.75
9 Cao Thị Thiết Thắng lợi ĐH Kinh doanh công nghệ D 5.25 2.75 4 12
10 Lý Thị Thanh Loan Liên Nghĩa Học viện Quản lý giáo dục A1 6.25 2.75 6.5 15.5
11 Lý Như Quỳnh Liên Nghĩa ĐH Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên D 5.75 7.25 7 20
12 Chu Thị Thơm Tân tiến ĐH Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên D 4.25 5 7.5 16.75
13 Lý Diệu Linh Liên Nghĩa ĐH Bách Khoa D 7.25 7.75 7.5 22.5
14 Nguyễn Ngọc Quỳnh Tân tiến ĐH Kinh tế – Kĩ thuật công nghiệp A1 5.5 4.75 7.5 17.75
15 Nguyễn Thị Admin Tân tiến ĐH Kinh tế – Kĩ thuật công nghiệp A1 6.75 4 7.25 18
16 Nguyễn Thị Admin Thắng lợi ĐH Hà Nội D 5 7.5 8 20.5
17 Triệu Thị Vân Anh Liên Nghĩa ĐH Tài chính – Quản trị kinh doanh A1 4.25 3.5 6.75 14.5
18 Nguyễn Thị Hạnh Liên Nghĩa ĐH Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên D 2.25 3.5 6.5 12.25
19 Lý Hồng Ngát Liên Nghĩa ĐH TDTT  Bắc Ninh G 5.25 3.75 8 17
20 Nguyễn Thị Mai Phương Liên Nghĩa ĐH Kinh tế – Kĩ thuật công nghiệp D 6.75 3.75 5.5 16
21 Nguyễn Thị Thành Thắng lợi ĐH Quốc Gia Hà Nội D 6.75 7 7.25 21
22 Nguyễn Thị Thảo Tân Tiến Học viện chính sách và phát triển A1 7 2.5 7.25 16.75
23 Nguyễn Thị Trang Mễ Sở Đại Học Mỹ Thuật V 8 7.75 6.5 22.25
24 Lê Thị Thu Giang Liên NGhĩa ĐH THương Mại D 5.75 5.5 7.5 18.75
25 Lê Thị Phương Thảo Bình Minh ĐH mở Hà Nội A1 6.75 4.5 7.5 18.75
26 Lê Thị Vân Anh Tân Tiến ĐH Văn Hóa D 6 5.75 6.5 18.25
27 Đỗ Thị Ngọc Lan Mễ Sở ĐH Kinh doanh công nghệ A1 4 3 4.75 11.75
28 Đinh Thúy Hường Liên Nghĩa ĐH Kinh doanh công nghệ D 3.25 2.75 6 12
29 Đỗ Thị Hương Thắng lợi ĐH Văn Hóa D 5.75 4.75 7 17.5
30 Chu Thi Nhung Tân Tiến ĐH Tài chính – Quản trị kinh doanh D 3.5 5.5 4.75 13.75
31 Nguyễn Tiến Đạt Mễ Sở ĐH Kinh doanh công nghệ D 4 6 5 15
32 Chu Thi Thoan Tân Tiến Học Viện Quản Lí GD D 4.25 6.5 4.5 15.25
33 Nguyễn Thị Lộc Liên NGhĩa ĐH Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên D 2 4.25 7.75 14
34 Nguyễn Thị Uyên Tân tiến Học viện nông nghiệp việt Nam D   14.5
35 Nguyễn Thị Thu Hương Liên Nghĩa CĐ Sư Phạm TW N 8 5 7.5 20.5
36 Nguyễn Thị Yên TT Văn Giang CĐ Truyền Hình D 1.5 2.75 5 9.25
37 Lý Thị Hồng Thắm Liên Nghĩa CĐ Sư phạm Hưng Yên D 2.75 4.75 6.5 14
Đại học: 34 Cao đẳng: 3
Môn Toán Môn Anh Môn Văn
5.34   6.39

THỐNG KÊ KẾT QUẢ THI THPT QUỐC GIA NĂM 2015

Lớp : 12A9

TT Họ và tên                                                     Điểm số các bài thi
Toán Ngữ văn Vật lí Hóa học Sinh học Lịch sử Địa lý Ngoại ngữ
1 LÊ NGUYÊN MINH 3.25 4.75 5.50 1.50
2 ĐÀO THỊ LAN ANH 6.75 5.50 7.00 6.25 6.00
3 NGUYỄN THỊ TRÂM ANH 5.00 7.00 6.50 5.00
4 VÕ THỊ ANH 5.25 6.00 5.00 4.00
5 BÌ NGỌC ÁNH 6.50 6.50 3.50 5.50
6 ĐÀM THỊ DUNG x X  x  Bỏ
7 LƯƠNG THÙY DƯƠNG 4.75 7.50 5.00 4.00
8 NGUYỄN THỊ HƯƠNG GIANG 7.75 8.00 6.00 8.25
9 ĐỖ THỊ THU HÀ 3.00 5.25 3.75 3.75
10 HOÀNG TRUNG HÀ 3.25 7.00 5.25 5.00
11 NGUYỄN THỊ THU HÀ 7.25 7.50 7.25 3.25
12 NGUYỄN THỊ HẢI 2.50 6.00 5.75 1.75
13 NGUYỄN THỊ HỒNG HẠNH 7.00 7.50 5.75 5.50
14 NGUYỄN THỊ THU HIỀN 7.25 7.50 7.50 6.50
15 TRIỆU THỊ HOA 6.75 6.75 5.75 5.75
16 VŨ THỊ HỒNG 4.50 7.00 5.00 1.75
17 THIỀU THỊ THÚY HUỆ 6.25 7.50 7.00 7.50
18 TẠ QUỲNH HƯƠNG 6.75 7.50 5.75 7.50
19 PHÓ THỊ THU HƯỜNG 8.75 7.50 6.25 7.50
20 LÊ HOÀNG LAN 8.00 7.00 6.75 8.50
21 BÌ DIỆU LINH 6.00 7.00 4.00 3.75
22 LÝ THỊ MỸ LINH 6.25 7.25 5.75 8.50
23 HOÀNG THỊ MAI 4.50 6.50 3.25 3.75
24 HOÀNG HỒNG NGÁT 6.50 7.50 5.00 4.75
25 LẠI THỊ TÚ NGÂN 5.50 6.75 5.25 6.75
26 NGUYỄN THỊ NGOAN 6.50 7.00 4.75 3.50
27 NGUYỄN THỊ NHINH 3.50 7.25 4.50 3.75
28 ĐỖ THỊ BÍCH PHƯỢNG 6.50 7.00 6.50 5.75
29 HOÀNG THỊ THÚY QUỲNH 7.00 7.50 7.50 8.75
30 NGUYỄN THỊ HỒNG THÁI 6.00 7.00 4.25 3.25
31 NGUYỄN THU THỦY 5.75 6.75 3.50 3.75
32 TRIỆU THỊ THỦY 4.25 6.00 5.50 5.50
33 NGUYỄN THỊ MINH THÚY 5.50 5.75 5.00 3.00
34 NGUYỄN MẠNH TIẾN 4.25 7.50 3.50 7.25 8.50 2.25
35 VŨ THỊ THU TRÀ 3.50 6.00 5.50 5.50
36 ĐỖ THỊ TRANG 7.50 8.50 6.25 7.50
38 GIANG THỊ QUỲNH TRANG 8.25 7.50 6.50 9.25
38 LÊ NGỌC TRANG 6.25 6.50 6.00 4.25
39 LÊ THỊ QUỲNH TRANG 7.00 7.50 5.75 5.50
40 NGUYỄN QUỲNH TRANG 4.25 6.50 3.75 5.00
41 NGUYỄN THỊ TRANG 7.50 7.75 5.50 6.00
42 ĐÀO THỊ YẾN 5.00 6.75 5.00 3.75
43 LÝ THỊ KIM YẾN 5.75 7.00 4.75 5.25
44 TRẦN HẢI YẾN 5.75 6.25 5.50 4.00
TRUNG BÌNH MÔN 5.66 6.89           5.03

        Theo thống kê năm học 2013- 2014 có 24/37 học sinh đạt từ 6,5 -> 8,5 điểm môn văn, chiếm 65%. Năm 2015 -2016 có 34/44 học sinh đạt từ 6,5 -> 8,5 điểm môn văn, chiếm 79%. Bảng kết quả trung bình môn cho thấy điểm thi năm sau cao hơn năm trước. Điều đó chứng tỏ việc áp dụng sáng kiến kinh nghiệm ôn luyện phần Đọc hiểu cho học sinh đã mang lại kết quả tốt. Vì có làm tốt phần Đọc hiểu  các em mới nâng được tổng điểm bài thi của mình lên điểm Khá, Giỏi.

    

 PHẦN  KẾT LUẬN

I. Nội dung ý nghĩa

Đọc hiểu là một phần thi bắt buộc được đưa vào kì thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn năm 2014 nên đang là vấn đề được nhiều thầy cô và học sinh quan tâm, nhất là học sinh lớp 12. Vốn là giáo viên tâm huyết với nghề, luôn trăn trở làm thế nào để học sinh yêu thích môn văn, làm thế nào để kết quả thi môn Văn ngày một nâng cao nên tôi đã nghiên cứu và lựa chọn đề tài Hướng dẫn học sinh ôn luyện phần Đoc hiểu trong đề thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn đạt kết quả cao. Qua ba năm trực tiếp ôn luyện cho học sinh lớp 12 của trường THPT Dương Quảng Hàm, tôi đã giảng dạy và áp dụng thành công đề tài này. Với các bước thực hiện như hướng dẫn ở trên, tôi nhận thấy sau khi giáo viên ôn luyện lý thuyết cũng như luyện đề cho học sinh các em không còn lung túng khi làm phần Đọc – hiểu trong kì thi THPT Quốc gia.  

           Vẫn biết rằng trong một đề thi có nhiều câu, để có kết quả cao còn phụ thuộc  nhiều yếu tố, phụ thuộc vào chất lượng các câu khác.Tuy nhiên câu hỏi này chiếm 3,0/10,0 điểm vì thế nó không chỉ là phần gỡ điểm mà nó còn là phần quyết định nâng điểm số của toàn bài. Nếu học sinh chỉ làm tốt phần tự luận thì điểm tối đa cũng chỉ đạt 6/7 điểm. Nhưng nếu làm tốt câu hỏi Đọc hiểu học sinh sẽ có thể đạt 7, 8 điểm. Vì vậy giáo viên hướng dẫn học sinh làm tốt phần Đọc hiểu là rất cần thiết và quan trong.

Trong khi nhiều thầy cô, học sinh vẫn đang lung túng khi ôn luyện phần Đọc hiểu thì sáng kiến kinh nghiệm này có thể coi như cuốn tài liệu hữu ích tháo gỡ những khó khăn trên. Sáng kiến cung cấp phương pháp ôn luyện với một hệ thống kiến thức lý thuyết bài tập minh họa chi tiết, thiết thực sẽ giúp các em học sinh, nhất là các em học sinh lớp 12 tự tin khi làm bài thi. Mở ra cho học sinh xét tuyển môn Văn nhiều cơ hội vào trường Đại học hơn.

II Triển vọng của đề tài

Đề tài đã được bản thân nghiên cứu ba năm và được áp dụng thành công tại trường THPT Dương Quảng Hàm. Tôi đã chia sẻ kinh nghiệm ôn luyện phần Đọc  hiểu cho đồng nghiệp, được mọi người ủng hộ nhiệt tình, nhân rộng ứng dụng, thu lại kết quả tốt. Vì vậy đề tài này có triển vọng cao. Đề tài có thể áp dụng rộng rãi trong toàn ngành để giáo viên ôn luyện cho học sinh THPT, đặc biệt là các em học sinh khối 12 đang chuẩn bị bước vào kì thi THPT Quốc gia.

III. Kiến nghị đề xuất

            Đoc – hiểu văn bản một phần thi bắt buộc trong đề thi THPT Quốc gia  nhưng thực tế trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn bậc THPT chưa xuất hiện một bài học riêng để giáo viên và học sinh được trang bị phương pháp, kĩ năng dạy học kiểu bài này. Vậy thiết nghĩ Bộ giáo dục nhân kì thay sách lần tới nên bổ sung tiết dạy về kiểu bài Đoc-hiểu có tính đặc thù vào chương trình sách giáo khoa bậc THPT.

Sở giáo dục nên tiếp tục tổ chức lớp tập huấn về phương pháp ôn luyện phần Đoc- hiểu để thầy cô ôn luyện cho học sinh dự thi THPT Quốc gia một cách bài bản, giúp học sinh tự tin trong kì thi, đem lại kết quả học tập cao hơn.

Trên đây là một vài suy nghĩ của cá nhân tôi, vì vậy không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của hội đồng khoa học và đồng nghiệp để sáng kiến được đầy đủ , hoàn thiên hơn.

                                    Tôi xin trân trọng cảm ơn

Người viết

Lê Thị Quỳnh Sen

 Xem thêm :

Bộ đề đọc hiểu văn bản

Sáng kiến kinh nghiệm môn Văn

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *