Sáng kiến kinh nghiệm: Đặc trưng chủ nghĩa lãng mạn qua các tác phẩm trong chương trình Ngữ văn THPT

By | 30 Tháng Tám, 2016

TÊN SÁNG KIẾN:

ĐẶC TRƯNG CHỦ NGHĨA LÃNG MẠN QUA NHỮNG TÁC PHẨM VĂN HỌC LÃNG MẠN VIỆT NAM TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THPT 

BẢN ĐĂNG KÝ SÁNG KIẾN NĂM HỌC 2014 – 2015

Tên sáng kiến

 ĐẶC TRƯNG CHỦ NGHĨA LÃNG MẠN QUA NHỮNG TÁC PHẨM VĂN HỌC LÃNG MẠN VIỆT NAM TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THPT

III. Nội dung sáng kiến 

Giải pháp cũ thường làm

– Trước đây, khi giảng dạy, hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản văn học, đôi khi giáo viên chỉ hướng dẫn  học sinh tìm hiểu những chi tiết, câu từ, biện pháp nghệ thuật vụn vặt rồi khái quát đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. Vì vậy, những lớp trầm tích ý nghĩa và nhiều phương diện nghệ thuật của tác phẩm chưa được phát lộ.

– Qua thực tế giảng dạy, tìm hiểu thực trạng dạy và học môn Ngữ văn ở các trường THPT, chúng tôi thấy một nhược điểm phổ biến là học sinh chỉ nắm được từng tác phẩm cụ thể, mà chưa có cái nhìn tổng thể hay kiến thức lý luận khái quát về đặc trưng thể loại, hay đặc trưng của trào lưu, phương pháp sáng tác… Vì vậy, trong quá trình đọc hiểu và làm văn, học sinh chưa có một phương pháp khoa học, hệ thống, chưa có kỹ năng so sánh các tác phẩm cùng trào lưu, xu hướng trong những nền văn học khác nhau (theo kiểu so sánh đồng đại và lịch đại).

Ví dụ: Sách giáo khoa phổ thông hiện hành đều giới thiệu, chọn lọc những văn bản ở văn học trong nước và nước ngoài có cùng thể loại nhưng hầu như học sinh chỉ chú trọng các văn bản văn học Việt Nam, bỏ qua văn học nước ngoài, học một cách chiếu lệ (vì văn học nước ngoài không sử dụng trong những bài thi, kiểm tra quan trọng giữa kì, cuối kì). Chính vì vậy khi tìm hiểu các tác phẩm văn học Việt Nam, thì hầu hết các em chưa có ý thức so sánh với văn học nước ngoài. Đặc biệt là sự tiếp thu ảnh hưởng của văn học Việt Nam thời trung đại với văn học cổ Trung Hoa và văn học lãng mạn Việt Nam 1932-1945 với văn học lãng mạn Pháp…. Nếu có kiến thức lí luận và cái nhìn so sánh, các em sẽ thấy rằng, tuy cùng viết theo đặc trưng của văn học trung đại hoặc văn học lãng mạn, nhưng các tác giả văn học Việt Nam đã có sự cách tân, thổi vào trong sáng tác của mình điệu hồn riêng của con người Việt Nam. Vì vậy, một nhược điểm phổ biến là nhiều bài viết của học sinh thường khá hời hợt, rơi vào cảm nhận chung chung, không đạt kết quả cao.

– Một nền văn học mới ra đời bao giờ cũng gắn liền với quan niệm về con người mới và thể loại hình thức mới của sáng tác nghệ thuật. Mỗi tác giả khi cầm bút sáng tác, bản thân tác giả đã “hít thở” bầu không khí của thời đại, chứng kiến những đổi thay của lịch sử, điều đó góp phần không nhỏ khơi nguồn, nuôi dưỡng cảm hứng sáng tạo cho tác giả. Cũng chính vì thể mà mỗi trang văn đều soi bóng thời đại mà nó ra đời (Tô Hoài), tác phẩm nào cũng  có mối quan hệ mật thiết với thời đại mà nó sinh ra, đồng thời nó mang dấu ấn phong cách, cá tính sáng tạo của tác giả, mang dấu ấn kế thừa văn học thời đại trước và dự báo những phát triển tiếp theo của văn học giai đoạn sau. Khi tìm hiểu các tác phẩm văn học Việt Nam học sinh thường tách rời văn bản với hoàn cảnh ra đời (hoàn cảnh rộng và hoàn cảnh hẹp) mà không hiểu rằng chính những chi phối tác động của hoàn cảnh đã góp phần không nhỏ tạo nên đặc trưng thể loại văn bản, quan niệm thẩm mĩ, thi pháp của văn học thời đại đó mà tác giả thể hiện qua nội dung và hình thức của văn bản nghệ thuật.

Như vậy có thể kết luận rằng để hướng dẫn học sinh đọc hiểu, phân tích, khám phá, giải mã văn bản nghệ thuật đạt hiệu quả cao, để học sinh có những rung động thẩm mĩ thì giáo viên cần cung cấp, trang bị cho học sinh cho học sinh không đơn giản là kiến thức cơ bản về tác phẩm (vì những nội dung kiến thức về tác phẩm đã được tập hợp trình bày ở rất nhiều nguồn tài liệu tham khảo, hướng dẫn học tốt của các em) mà quan trọng hơn giáo viên giúp các em có kĩ năng tự tìm hiểu, tự khám phá, nhìn nhận vấn đề trên phương diện tư duy lí luận chắc chắn, vững vàng, tích hợp tri thức từ nhiều nguồn, nhiều lĩnh vực để hiểu tác phẩm như một chủ thể độc lập và sáng tạo. Đây cũng chính là một trong những đích cần đạt tới của giáo dục Việt Nam hiện nay.

Giải pháp mới cải tiến

– Chủ nghĩa lãng mạn là một hiện tượng văn học quan trọng nhất của thế kỷ XIX ở phương Tây, đồng thời đây cũng là một khuynh hướng lớn của văn học Việt Nam từ 1932 – 1945, có ý nghĩa tích cực thúc đẩy nền văn học nước nhà phát triển theo hướng hiện đại.

Nói về các nhà thơ lãng mạn, nhà phê bình Hoài Thanh trong bài Một thời đại trong thi ca đã có những quả quyết đầy chắc chắn và tự hào: Tôi quyết rằng trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại phong phú như thời đại này. Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lúc hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên…, và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu. Bên cạnh đó là những cây bút văn xuôi lãng mạn như Nguyễn Tuân, Thạch Lam. Họ đều là những trí thức dân tộc có công lớn trong công cuộc cách tân, hiện đại hoá, đưa văn học Việt Nam trong một thời gian ngắn ngủi có bước chuyển mình mạnh mẽ, đủ sức hoà nhập cùng dòng chảy của văn học thế giới hiện đại. Nói về điều này, nhà phê bình Vũ Ngọc Phan đầy cảm kích : ở nước ta một năm có thể kể như ba mươi năm của người.

Vì vậy tìm hiểu Đặc trưng của chủ nghĩa lãng mạn chúng ta đã có trong tay chìa khóa để mở ra thế giới muôn màu sắc của văn chương nhân loại và văn học Việt Nam. Đặc biệt, với đề tài này chúng tôi sẽ có điều kiện đối chiếu văn học lãng mạn Việt Nam và phương Tây để thẩm thấu được bản sắc riêng của văn học mỗi dân tộc.

– Khi tìm hiểu Đặc trưng của chủ nghĩa lãng mạn, giáo viên sẽ trang bị cho học sinh những kiến thức lý luận quan trọng về đặc trưng của một phương pháp sáng tác lớn trong văn học Việt Nam và văn học nước ngoài, đây là kim chỉ nam góp phần giúp các em đọc hiểu được các tác phẩm văn học lãng mạn một cách chủ động và khoa học.

Tìm hiểu Đặc trưng chủ nghĩa lãng mạn qua những tác phẩm cụ thể trong chương trình, học sinh còn có cái nhìn tích hợp, tổng quát  về mối quan hệ giữa tác phẩm với phong cách tác giả, bối cảnh thời đại (những vấn đề về lịch sử, chính trị xã hội ảnh hưởng đến tác giả và tác phẩm). Đồng thời học sinh sẽ được so sánh các hiện tượng vănhọc trong cùng một giai đoạn (mối quan hệ giữa văn học hiện thực và lãng mạn…)

– Hơn nữa, các tác phẩm văn học lãng mạn (thơ và văn xuôi) được chọn lọc đọc hiểu trong chương trình THPT đều là những tác phẩm xuất sắc của những tác giả lớn. Trong xu hướng đổi mới  của giáo dục theo hướng phát triển năng lực học sinh, đây vẫn là những tác phẩm có giá trị vững bền, góp phần không nhỏ trong việc bồi đắp tâm hồn, hoàn thiện nhân cách cho học sinh biết sống yêu thương, nhân ái, hoà nhập cùng cộng đồng, nhận biết và trân trọng giữ gìn những giá trị đích thực của cuộc sống. Đây cũng là những tác phẩm thuộc trọng tâm kiến thức để ôn thi THPT Quốc gia, thi học sinh giỏi các cấp… Vì vậy nghiên cứu về Đặc trưng của chủ nghĩa lãng mạn có ý nghĩa thiết thực với giáo viên và học sinh trong cả quá trình dạy và học.

Từ những lí do trên, chúng tôi thấy việc tìm hiểu Đặc trưng của chủ nghĩa lãng mạn có ý nghĩa hết sức cần thiết và quan trọng.

Thời gian áp dụng:

Các năm học : 2010 – 2011; 2011-2012; 2012-2013; 2013-2014; 2014-2015

Hiệu quả kinh tế và xã hội dự kiến đạt được

Là giáo viên dạy văn cấp THPT, tìm hiểu đặc trưng của chủ nghĩa lãng mạn, cũng là một cách chúng tôi tự học, tự nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Hơn nữa, chúng tôi mong muốn qua đề tài này sẽ giúp học sinh tìm được một con đường đi hiệu quả, để khám phá thế giới nghệ thuật phong phú trong những sáng tác đặc sắc của các tác giả lớn. Đồng thời, đây cũng là cơ hội để chúng tôi được trao đổi với đồng nghiệp về một vấn đề lý luận văn học quan trọng.

Chúng tôi đã vận dụng sáng kiến này để, ôn thi học sinh giỏi tỉnh, thi Ôlimpic Đồng bằng và duyên hải Bắc Bộ, bồi dưỡng học sinh giỏi quốc gia… ôn thi Đại học, ôn thi THPT Quốc gia và đã đạt được những kết quả khả quan.

Cụ thể :

Năm học Kết quả
Thi HSG tỉnh Thi HSG Khu vực ĐBDH và BB Thi HSG Quốc gia Thi ĐH
2010-2011 Lớp 12 Văn : 11 giải (1 nhất, 4 nhì, 6 ba ) 6/6 HS đạt giải (2 nhì, 1 ba, 2 khuyến khích Điểm TB môn Văn đạt 7,87
2011-2012 Lớp 10 Văn: 3/3 hs đạt giải (2 Ba, 1 khuyến khích)
2012-2013 Lớp 10 Văn: 3/3 hs đạt giải (1 nhì, 2 ba.)
2013-2014  Lớp 11 và 12 Văn : 15 giải ( 1 nhất, 8 nhì, 6 ba) Lớp 11 Văn : 3/3 hs đạt giải (2 nhất, 1 ba )  3/6 hs đạt giải (3 giải ba ) Điểm TB môn văn đạt 7,81
2014-2015 Lớp 12 Văn: 15 giải (7 giải nhì, 8 giải ba)  Đạt 5/6 hs đạt giải (2 nhì, 2 ba, 1 khuyến khích)

 

Điều kiện và khả năng áp dụng

          Nội dung sáng kiến này có thể vận dụng rộng rãi trong quá trình dạy và học các tác phẩm văn học lãng mạn Việt Nam, bậc TH. Các thầy cô giáo và học sinh có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, hội thảo chuyên đề; vận dụng tài liệu trong quá trình soạn giảng, thiết kế giáo án, ôn luyện học sinh giỏi các cấp…để dạt hiệu quả thiết thực, phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục theo hướng phát triển năng lực học sinh hiện nay 

 

PHỤ LỤC

Chương 1: Khái quát chung về văn học lãng mạn

Đây là một trong những trào lưu văn hóa lớn nhất ở Âu – Mĩ vào cuối thế kỉ XVIII, nửa đầu thế kỉ XIX, có ảnh hưởng và có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển của văn học toàn thế giới.

1, Cơ sở hình thành

1.1. Cơ sở xã hội

Thời đại của chủ nghĩa lãng mạn là một thời đại đặc biệt giàu biến động (riêng nước Pháp, một trung tâm quan trọng của nền văn học châu Âu, vào đầu thế kỉ đã trả qua hai mươi lăm năm liền cách mạng và chiến tranh liên tiếp). Cuộc đại cách mạng tư sản năm 1789 đánh đổ chế độ phong kiến, thiết lập chế độ tư sản là một bước ngoặt lịch sử vĩ đại, không những đối với nước Pháp, mà còn đối với cả châu Âu. “Cả thế kỉ XIX diễn ra dưới khẩu hiệu của cách mạng Pháp” (Lê Nin). Sự sụp đổ của chế độ phong kiến, và sự kiến tạo những quan hệ xã hội mới đã tác động sâu xa đến tư tưởng, tình cảm của mọi tầng lớp xã hội. Một mặt, cách mạng tư sản đã làm dấy lên sự bất mãn của những người đại biểu cho ý thức hệ quý tộc, bất bình trước trật tự xã hội mới, lo sợ trước phong trào quần chúng, hoang mang dao động vì tương lai mờ mịt, luyến tiếc thời oanh liệt nay không còn nữa. Mặt khác, xã hội tư bản ra đời cũng vấp phải sự chống đối của nhiều tầng lớp nhân dân lao động. Không phải họ chống lại lý tưởng của cách mạng, mà chỉ bất bình với những thành quả thực tế của cách mạng. Cách mạng tư sản đã giương cao khẩu hiệu đem lại “tự do – bình đẳng – bác ái” cho con người. Nhưng khi giai cấp tư sản trở thành ông chủ của xã hội mới, họ đã quy định lại nội hàm của những khái niệm này: Ai có tiền người ấy có tự do; không có tiền phải bán sức lao động. Xã hội trở thành một đấu trường khốc liệt, nơi diễn ra những cảnh cá lớn nuốt cá bé. Thương trường là đấu trường, quan hệ giữa người với người là quan hệ tiền nong sòng phẳng đến ghê rợn. “Phương châm bác ái được thực hiện bằng những sự lừa bịp và đố kị trong cạnh tranh… Thay cho thanh kiếm, đồng tiền đã trở nên đòn bẩy quan trọng nhất của xã hội” (Ăngghen). Tâm lý thời đại dẫn đến sự ra đời của chủ nghĩa lãng mạn là sự vỡ mộng của nhiều tầng lớp nhân dân trước cơ chế xã hội mới. Nếu như chủ nghĩa hiện thực nhìn thẳng vào thực tại với thái độ phê phán; văn học cách mạng nhìn vào thực tại với mong muốn cải tạo thế giới; thì chủ nghĩa lãng mạn khi không bằng lòng với thực tại, đã khát khao vươn tới một xã hội lý tưởng trong mơ ước.

Tóm lại: Sự sụp đổ của thể chế phong kiến, sự thắng lợi của quan hệ xã hội tư sản và lòng bất bình của nhiều tầng lớp, giai cấp đối với trật tự xã hội mới là tiền đề lịch sử của nền văn học lãng mạn châu Âu. Pha-ghê, một nhà nghiên cứu văn học Pháp đã viết rằng: “Cơ sở của chủ nghĩa lãng mạn là sự ghê tởm đối với thực tại và nguyện vọng mãnh liệt muốn thoát ra khỏi thực tại đó.”

1.2. Cơ sở ý thức

Chủ nghĩa lãng mạn ra đời còn do sự tác động của chủ nghĩa xã hội không tưởng, mơ ước mang đến một tương lai hạnh phúc, tốt đẹp cho con người.

Thêm vào đó, triết học duy tâm cổ điển Đức cũng có mối liên hệ mật thiết với sự ra đời của chủ nghĩa lãng mạn, ngay cả với chủ nghĩa lãng mạn Pháp. Bởi vì như Mác và Ăngghen đã nói, trong thời đại tư bản “khi mà những mối quan hệ phổ biến đối với nhau giữa các dân tộc đang phát triển, thay thế cho tình trạng cô lập trước kia giữa các dân tộc vẫn tự cung tự cấp” thì “những thành quả tinh thần của một dân tộc trở thành tài sản chung của tất cả các dân tộc” (Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản). Sự thực thì chủ nghĩa duy tâm cổ điển Đức, tự bản thân nó cũng là một trào lưu lãng mạn trong triết học. Đặc biệt chủ nghĩa duy tâm chủ quan của Căng đã nâng tâm linh con người lên địa vị làm chủ sáng tạo thế giới, nhấn mạnh thiên tài, linh cảm, tính năng động chủ quan. Chủ nghĩa duy tâm khách quan của Hêghen lại khẳng định con người là tuyệt đối vô hạn, là đỉnh cao của sự phát triển của tinh thần thế giới. Gớt lại rất nhấn mạnh đặc trưng của cá tính… Những quan điểm triết học và mĩ học đề cao con người này đã phản ánh sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa cá nhân trong xã hội tư sản cận đại. Mặt tích cực của nó là nâng cao sự tôn nghiêm, khẳng định ý thức tự chủ ở con người. Tuy vậy, triết học và mĩ học duy tâm cổ điển Đức lại đề cao con người tách khỏi thực tế xã hội và lịch sử. Những tư tưởng triết học ấy có ảnh hưởng nhất định tới các nhà văn lãng mạn tích cực và tiêu cực.

Trong bối cảnh đó đã xuất hiện nhiều khuynh hướng, nhiều trào lưu nghệ thuật, trong đó có chủ nghĩa lãng mạn, có mặt trong lĩnh vực văn chương, hội họa, âm nhạc…

2. Giới thuyết về khái niệm: chủ nghĩa lãng mạn trong văn học

Từ lãng mạn (romanticism, romantisme) xuất phát từ tình ca (romances) của thời trung cổ, để chỉ những bài thơ dài nói về những chàng kỵ sĩ, những anh hùng, về những vùng đất xa xôi và những cuộc tình lỡ làng…. Biêlinxki trong bài Văn học Nga, năm 1841, định nghĩa: “Chủ nghĩa lãng mạn, đó là thế giới nội tâm của con người, thế giới của tâm hồn và trái tim”.

Chủ nghĩa lãng mạn xuất hiện vào cuối thế kỉ XVIII, nghĩa ban đầu là những cái không có thực, chỉ tồn tại trong sách vở, trong trí tưởng tượng. Sang thế kỷ XIX, chủ nghĩa lãng mạn không chỉ dừng lại ở đó, mà trở thành thế giới quan của thời đại: cách nhìn, cách đánh giá, thẩm định thế giới. Đó là sự phản ứng mang tính tích cực chống lại sự thống trị của tư sản. Chủ nghĩa lãng mạn là tiếng nói của những con người có văn hóa, có lương tri, của những trí thức tiến bộ. Họ căm ghét sự thống trị tư sản, vì giai cấp tư sản đã biến những lời hứa tốt đẹp của những nhà triết học ánh sáng thành những bức tranh châm biếm, biến xã hội mơ ước thành hiện thực đau thương, đẫm máu.

Chủ nghĩa lãng mạn như là sự tiếp nối của chủ nghĩa tình cảm. Đặc biệt là Rút-xô, thể hiện tình yêu thương con người một cách hào hiệp. Nên các nhà văn lãng mạn đã thể hiện thái độ chống lại thực tại tư sản, tạo ra một xã hội mới, tìm lối thoát cho nhân loại bằng cách: Tìm về với quá khứ, với ánh hào quang của xã hội nguyên thủy, với những đấng mình quân của xã hội phong kiến; hoặc tìm đến một tương lai mới, mà ở đó chưa có giai cấp tư sản. Tuy nhiên cả hai lối thoát này đều không có thực. Chủ nghĩa lãng mạn đã trở thành thế giới quan của châu Âu, đem đến một luồng sinh khí, tạo nên sức mạnh cho nhân loại.

Văn học lãng mạn là tiếng nói của cá nhân tràn đầy tình cảm, cảm xúc, đồng thời phát huy cao độ trí tưởng tượng để diễn tả những khát vọng, ước mơ. Nó coi con người là trung tâm của vũ trụ, khẳng định “cái tôi” cá nhân, đề cao con người thế tục, quan tâm đến những số phận cá nhân và những quan hệ riêng tư. Bất hòa nhưng bất lực trước thực tại, văn học lãng mạn tìm cách thoát khỏi thực tại đó bằng cách đi sâu vào thế giới nội tâm, thế giới của mộng ước. Xu hướng văn học này thường tìm đến các đề tài: tình yêu, thiên nhiên, quá khứ, thể hiện khát vọng vượt lên trên thực tại chật chội, tù túng, dung tục, tầm thường. Văn học lãng mạn thường chú trọng diễn tả những cảm xúc mạnh mẽ, những tương phản gay gắt, những biến thái tinh vi trong tâm hồn con người. Sự ra đời của văn học lãng mạn đã góp phần quan trọng vào việc thức tỉnh ý thức cá nhân, đấu tranh chống luân lý, lễ giáo phong kiến cổ hủ để giải phóng cá nhân, giành quyền hưởng hạnh phúc cá nhân, đặc biệt là trong lĩnh vực tình yêu, hôn nhân, gia đình. Nó góp phần làm cho tâm hồn con người thêm tinh tế, phong phú, giúp họ thêm yêu thương mảnh đất quê hương, quý trọng tiếng mẹ đẻ, tự hào về nền văn hóa lâu đời của dân tộc và biết đau buồn tủi nhục trước cảnh mất nước.

 

Chương 2: Những nguyên tắc mĩ học của chủ nghĩa lãng mạn

  1. Đề cao tình cảm của cá nhân con người

“Văn học và cuộc sống là hai vòng tròn đồng tâm, mà tâm điểm là con người” (Nguyễn Minh Châu). Văn học là hình thái ý thức xã hội luôn phản ánh tồn tại xã hội, mà trung tâm là hình tượng con người. Con người trong xã hội tư bản bị o ép, bị bóc lột trên mọi phương diện, họ chìm trong đau khổ và không tìm thấy cứu cánh cho cuộc đời. Vì vậy, họ đã chạy trốn thực tại, rúc sâu vào trong tâm hồn, trong bản ngã, tìm về cái tôi của mình và sống với thế giới tâm hồn riêng. Con người đã phát hiện ra thế giới tâm hồn của mình vô cùng phong phú đa dạng như cây đàn muôn điệu, và thể hiện nó một cách ám ảnh và xúc động trên trang giấy. Nếu như chủ nghĩa hiện thực phản ánh cuộc sống một cách khách quan, thì chủ nghĩa lãng mạn lại phản ánh cuộc sống một cách chủ quan thông qua tình cảm, cảm xúc của người nghệ sỹ. Nhà lãng mạn thời kỳ đầu của Pháp Lamactin đã nói: “Tôi là người đầu tiên làm cho thơ ca rời khỏi núi Pacnatxo (núi thơ). Tôi đã tặng cho nàng thơ không phải là cây đàn Lia bảy dây quy ước, mà là những thớ của con tim đang thổn thức.” Đó là cơ sở cho sự phát triển của một thể loại đặc sắc trong văn học, đó là thơ, đặc biệt là thơ trữ tình.

Nếu chủ nghĩa cổ điển đề cao cái ta lỗi thời thì chủ nghĩa lãng mạn đề cao cái tôi cá nhân. Con người có điều kiện bộc lộ vẻ đẹp của riêng mình. Đó chính là một hình thức đề cao con người. Nhưng cái tôi ở đây không phải là cá nhân riêng tư của một người nào, mà là tiếng lòng của cả một thời đại. Cái tôi mang một phẩm chất mới, cái tôi cộng đồng, tập thể. Bởi vậy, tiếng nói của trái tim mới đến được với trái tim và văn học lãng mạn đã trở thành món ăn tinh thần của cả thời đại. V. Huy-gô đã nói: “Ôi, con người khờ khạo. Anh không biết rằng tôi đang nói về tôi, chính là đang nói về anh đó”.

Ở Việt Nam những năm 1932 – 1945 đã diễn ra một cuộc cách mạng trong thi ca, với sự xuất hiện của phong trào thơ Mới lãng mạn. Thơ Mới được hiểu là thơ đổi mới cả về nội dung lẫn hình thức. Nội dung đổi mới bao gồm: đổi mới cả tư duy và thi pháp thơ. Thơ Mới là thơ của cái tôi cá nhân cá thể, lần đầu tiên xuất hiện trên thi đàn Việt Nam. Cái tôi có ý thức về sự tồn tại của chính nó. Tinh thần của thơ Mới là ở cái Tôi cá nhân. Thơ Mới đã làm cho cái Tôi bộc lộ hết sức phong phú, hấp dẫn như một bản lĩnh tích cực trong cuộc sống, như một chủ thể sáng tạo độc đáo trong nghệ thuật. Lần đầu tiên trong lịch sử thi ca Việt Nam, xuất hiện một cái tôi cá thể hóa trong cách cảm thụ tự nhiên và thế giới.

Nền văn học trung đại tồn tại và phát triển trong khuôn khổ của ý thức hệ phong kiến chủ yếu là một nền văn học phi ngã. Xã hội phong kiến không chấp nhận con người đề cao cái tôi, đề cao bản ngã. Văn xuôi lãng mạn ra đời đã góp phần đấu tranh đòi giải phóng cá nhân, nhất là giải phóng người phụ nữ ra khỏi sự ràng buộc khắt khe của lễ giáo phong kiến. Thơ Mới lãng mạn ra đời cũng mang theo một cái tôi cá nhân, một cái tôi cá thể hóa trong cảm thụ thẩm mĩ. Cái tôi trong thơ Mới, ở một chừng mực nào đó, đã nói lên một nhu cầu lớn về mặt giải phóng tình cảm, phát huy bản ngã, tự do cá nhân. Nó làm cho tâm hồn con người được mở rộng, ngày càng phong phú hơn. “Ngày thứ nhất – ai biết đích ngày nào – chữ tôi xuất hiện trên thi đàn Việt Nam, nó thực bỡ ngỡ. Nó như lạc loài nơi đất khách. Bởi nó mang theo một quan niệm chưa từng thấy ở xứ này: quan niệm cá nhân” (Hoài Thanh – Thi nhân Việt Nam). Lần đầu tiên trong 13 năm trời xuất hiện nhiều phong cách nghệ thuật độc đáo đến như vậy. Sự giải phóng cái tôi của chủ thể sáng tạo đã làm mở ra một thời kỳ văn học với những bông hoa giàu hương sắc: “Tôi quyết rằng trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại phong phú như thời đại này. Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lúc một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu”.

Xuân Diệu – nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ Mới” (Hoài Thanh) luôn khao khát khẳng định cái Tôi. Với Xuân Diệu, sự tồn tại của cái Tôi được đẩy lên với ý nghĩa tuyệt đối của nó. Thơ Xuân Diệu tràn ngập chữ “tôi”, 25/47 bài trong tập “Thơ thơ” xuất hiện chữ tôi (tôi buồn, tôi nhớ, tôi sung sướng, tôi không chờ, tôi là con nai,…). Cái tôi được khai thác, biểu hiện ở nhiều cung bậc tình cảm, nhiều trạng thái cảm xúc. Nhà thơ luôn có nhu cầu bộc bạch, phơi trải lòng mình một cách thành thực nhất, táo bạo nhất:

– Tôi chỉ là một cây kim bé nhỏ

Mà vạn vật là muôn đá nam châm

– Tôi là con chim đến từ núi lạ

– Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi

…….

Có thể nói sự chân thực, độ nồng nàn của cảm xúc đã tạo nên sức hút riêng, cái duyên riêng của Xuân Diệu đối với bạn trẻ, khiến cho thơ ông được đón nhận một cách nhiệt liệt. Và chính thi sĩ đã tâm sự: “Tôi gửi tâm hồn tôi cho những người trẻ tuổi và nhất là trẻ lòng”. Điều tạo nên cái “mới nhất” của Xuân Diệu so với các nhà thơ mới là Xuân Diệu luôn khẳng định cái tôi trong quan hệ gắn bó với cuộc đời trần thế. Thế Lữ nuôi giấc mộng lên tiên, Lưu Trọng Lư ru người đọc nhập vào thế giới mộng mơ, hư ảo, “cảnh không có ở thời nay mà cũng không có ở thời nào” (Hoài Thanh). Đến Xuân Diệu, thi nhân đã gạt bỏ giấc mộng sầu man mác của Lưu Trọng Lư, những nuối tiếc về một thời oanh liệt của Thế Lữ, Huy Thông, Xuân Diệu say sưa khẳng định cái tôi đứng giữa cuộc đời, Xuân Diệu đã xây lầu thơ “trên đất của một tấm lòng trần gian” (Thế Lữ) bằng những vật liệu thực của trần gian. Xuân Diệu là con người của cuộc đời, một người ở giữa muôn người. Quá trình khẳng định cái tôi của thi sĩ diễn ra song song với quá trình khẳng định ý nghĩa của cuộc sống hiện tại. Nói như Hoài Thanh: “Xuân Diệu đốt cảnh bồng lai và xua ai nấy về hạ giới”. Thi sĩ là người duy nhất tìm được lối thoát cho cái tôi cá nhân giữa cõi trần ai:

– Ta ôm bó cánh tay ta làm rắn

Làm dây da quấn quýt cả mình xuân

Không muốn đi mãi mãi ở vườn trần

Chân hóa rễ để hút mùa dưới đất.

Những vần thơ rạo rực men say của thi sĩ họ Ngô đã thể hiện được một cách sinh động đặc trưng của văn học lãng mạn.

Xuất phát từ khát khao khẳng định cái tôi cá nhân, trong văn học lãng mạn phương Tây xuất hiện cảm hứng ra đi. Và cảm hứng này cũng tràn vào văn học lãng mạn Việt Nam trong các tác phẩm như: “Đoạn tuyệt” (Khái Hưng), “Giây phút chạnh lòng” (Thế Lữ), “Tống biệt hành” của Thâm Tâm… Tuy cùng khai thác về một chủ đề, nhưng những sáng tác về cảm hứng ra đi đã thể hiện rõ cách ứng xử khác nhau của con người phương Đông và phương Tây. Ở phương Tây, ý thức cá nhân được hình thành từ rất sớm, ngay từ khi mới chào đời những em bé đã ngủ riêng giường với cha mẹ, và lớn lên người phương Tây luôn có óc phiêu lưu mạo hiểm, đi để khẳng định cá tính, để khám phá thế giới. Con người không lệ thuộc quá nhiều vào gia đình. Nhưng ngược lại, con người Việt Nam sống trong hai cộng đồng, nhỏ là gia đình, rộng là làng nước. Cái tôi cá nhân của ta chìm đắm trong cộng đồng như giọt nước hòa vào biển cả. Con người Việt Nam nói riêng và người phương Đông nói chung ý thức cá nhân yếu hơn phương Tây. Những rường mối nghiệt ngã đã thủ tiêu con người cá nhân (vua xử thần chết, thần không chết là bất trung; cha bảo con chết, con không chết là bất hiếu, cha mẹ còn sống con không được đi xa…). Hơn nữa, do người Việt Nam luôn mang nặng trong tim tình yêu quê hương, gia đình, khi đi xa luôn khắc khoải nhớ về nơi chôn rau cắt rốn. Người ly khách trong “Tống biệt hành” của Thâm Tâm khao khát ra đi để khẳng định cái tôi, khát vọng lên đường để thoát khỏi cuộc sống quẩn quanh, bế tắc nhưng trong anh luôn diễn ra sự giằng xé giữa khát vọng lên đường và tình cảm gia đình sâu nặng. Người ra đi được gọi bằng từ “ly khách” trang trọng, mang dáng dấp của những đấng trượng phu thuở xưa, một trang nam nhi mang chí lớn, ôm ấp một sự nghiệp lớn:

“Li khách! Li khách! Con đường nhỏ,

Chí nhớn chưa về bàn tay không,

Thì không bao giờ nói trở lại

Ba năm, mẹ già cũng đừng mong.”

Khổ thơ mang âm hưởng trầm hùng, với nhịp điệu dồn dập, từ ngữ rắn rỏi, đặc biệt là một loạt từ ngữ mang ý nghĩa phủ định (chưa, không, đừng), đã diễn tả quyết tâm ra đi vì nghĩa lớn. Gia cảnh nặng nề, đáng lẽ anh phải ở nhà để gánh vác gia đình, mới làm tròn bổn phận. Nhưng anh lại là một chàng trai mang chí lớn, li khách rơi vào bi kịch giằng co giữa bổn phận và khát vọng, giữa tình và chí. Khát vọng giục anh lên đường, bổn phận níu kéo anh ở nhà. Anh phải tự làm rắn lòng mình, phải dùng cả ý chí và lí trí để dằn lòng, để cưỡng chế tình cảm. Anh phải quyết lòng dửng dưng, dứt khoát giã từ:

“Một giã gia đình, một dửng dưng…”

Hai chữ “một” điệp lại thể hiện bước chân dứt khoát của li khách, quyết một đi không trở về, không vương vấn gia đình.

Nếu chỉ lắng nghe khẩu khí bề ngoài, hẳn mọi người sẽ nghĩ li khách là một kẻ vô tình, vô tâm, bạc bẽo. Nhưng chỉ duy nhất một người hiểu thấu lòng anh, đó chính là người đưa tiễn – tri âm tri kỉ của anh:

“Ta biết người buồn chiều hôm trước”

“Ta biết người buồn sáng hôm nay”

Ở li khách có sự đối lập giữa bề ngoài và bên trong. Thái độ dửng dưng, dứt khoát  bên ngoài mâu thuẫn với bao tình cảm sâu nặng dành cho người thân yêu ruột thịt. Tình cảm ấy khiến trong lòng li khách chất chứa bao nỗi buồn dai dẳng, triền miên. Những trạng ngữ chỉ thời gian nối tiếp “hôm trước, hôm nay” đã diễn tả nỗi nhớ thương dằng dặc, những dằn vặt, đau đớn đến xé lòng. Và đến tận giây phút chia tay, nỗi buồn vẫn dâng đầy trong mắt “sao đầy hoàng hôn trong mắt trong”. Thì ra đằng sau vẻ lạnh lùng, kiêu bạc kia là một trái tim rất nặng tình. Song dẫu tình cảm gia đình vô cùng quyến luyến, vẫn không lay chuyển được chí lớn của li khách. Đoạn kết giống như cao trào của cơn sóng lòng đã âm ỉ từ khổ một. Bài thơ kết lại trong giọng nghẹn ngào, tức tưởi:

“Mẹ thà coi như chiếc lá bay

Chị thà coi như là hạt bụi

Em thà coi như hơi rượu say”

Khổ thơ gợi cho ta nhiều cách hiểu khác nhau. Cách hiểu thứ nhất: Người ra đi coi mẹ, coi chị, coi em là chiếc lá bay, là hạt bụi, là hơi rượu say, anh phải dằn lòng, hy sinh bổn phận của mình vì chí lớn. Cách hiểu thứ hai: Người ra đi khẩn khoản mong người thân, “thà coi” mình như “chiếc lá bay, như “hạt bụi”, như “hơi rượu say”, những thứ rất nhẹ, thoáng qua, không có nghĩa, để xoa dịu, an ủi nỗi đau xót trong lòng người ở lại. Dù hiểu theo cách nào, thì chúng ta thấy li khách nói ra điều đó chẳng dễ dàng. Ba chữ “thà coi” như lên gân, như dằn lòng, nghẹn ngào, đắng chát mặc cảm bất hiếu của một con người vốn nặng tình và lại trót mang chí lớn. Hai nét tinh thần đối lập ấy đã góp phần xây dựng nên vẻ đẹp của li khách: vừa cao cả, lại đầy nhân tính.

Như vậy, tuy ảnh hưởng của văn học lãng mạn Pháp, nhưng cảm hứng ra đi trong “Tống biệt hành” của Thâm Tâm đã thấm đượm văn hóa cộng đồng và nhịp đập trái tim của con người Việt Nam. Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam” đã nhận xét: “Hồn thơ Pháp hễ chuyển được vào thơ Việt là đã Việt hóa hoàn toàn… Thi văn Pháp không làm mất bản sắc Việt Nam”.

Trong văn xuôi lãng mạn, ta cũng bắt gặp cảm hứng ra đi trong những trang văn của Nguyễn Tuân về đề tài “xê dịch”. Trước Cách mạng tháng Tám, cái tôi Nguyễn Tuân về cơ bản là cái tôi cá nhân chủ nghĩa đối lập với xã hội, thể hiện tâm trạng tù túng của một thanh niên giàu sức sống, đầy khát vọng tự khẳng định mình, nhưng lại bị vây riết giữa môi trường sống quẩn quanh, trì trệ, buồn tẻ của xã hội thực dân nửa phong kiến. Ảnh hưởng tư tưởng của Nitsơ, Gitđơ ở phương Tây, giang hồ, xê dịch với ông nhiều khi chỉ là để tìm mình, để thực hiện cái cá nhân mình cho đến kì cùng: “Rồi tôi vẫn vênh váo đi giữa cuộc đời như một viễn khách không có quê hương nhất định, cái gì cũng ngờ hết, duy chỉ có tin chắc ở cái kho, cái vốn tình cảm và cảm giác của mình”. Nhưng cái tôi Nguyễn Tuân vẫn không hoàn toàn đóng kín với cuộc đời. Ta tìm thấy bóng dáng của ông hóa thân vào nhân vật Bạch trong “Thiếu quê hương”. Với Bạch nhiều khi đi là lẽ sống, để tìm “thực đơn” mới mẻ cho tâm hồn, đi là “hạnh phúc”. Nhưng đôi khi chính anh ta lại mâu thuẫn: “Ta đi để mà đau khổ cả lúc đi lẫn lúc nghỉ, ơi ta ơi là ta ơi”. Ảnh hưởng thuyết siêu nhân của Nitsơ: siêu nhân là phải biết tàn nhẫn, phải biết vượt lên thứ luân lý của tình thương, Bạch thích lên giọng khinh bỉ tình cảm gia đình, những kẻ lên đường bịn rịn, những cuộc tiễn đưa sụt sùi nước mắt. Nhưng thực tế anh ta vẫn rất nặng lòng với gia đình. Đối với cha, anh ta phải thú nhận: “Lòng thương cha, ai mà không nặng”. Còn đối với vợ, anh ta tìm cách bới móc mọi khuyết điểm của vợ để có thể li dị, nhưng rồi anh ta lại nhận ra điều đó “thật không xứng đáng một tí nào với cái vẻ ngây thơ, thành thực của vợ chàng”. Như vậy, khác với nhân vật trong văn học phương Tây, họ sẵn sàng thoát ly gia đình để được sống phiêu lưu, mạo hiểm, để khẳng định cái tôi. Nhân vật của Nguyễn Tuân vẫn mang nặng tình cảm của con người Việt Nam, thoát ly gia đình nhưng vẫn nặng lòng với người thân. Đáng trân trọng hơn, họ xê dịch quẩn quanh, lẫn vào thú giang hồ lãng tử, nhưng trong lòng vẫn “yêu thương mà ngợi ca đất nước muôn vẻ muôn màu của mình”, và ghi lại những phong cảnh tuyệt đẹp của giang sơn Tổ quốc, trên mỗi bước đường đi qua đều đặt cả tâm hồn mình vào cỏ cây sông nước. Nhân vật của Nguyễn Tuân chính là hình bóng của nhà văn.  “Con người luôn cảm thấy “thiếu quê hương” ấy, thực sự lại gắn bó tha thiết với quê hương mình bằng biết bao sợi dây tình cảm tế nhị. Mà chính vì tha thiết với quê hương nên mới cảm thấy bơ vơ trong hoàn cảnh mất nước và mới có tâm trạng khắc khoải day dứt “thiếu quê hương… Đó là một tấm lòng An Nam hoàn toàn” (Nguyễn Đăng Mạnh). Sức hấp dẫn, giá trị muôn đời của những trang văn Nguyễn Tuân là ở đó.

Qua sự phân tích một số ví dụ ở trên đã cho chúng ta thêm căn cứ để hiểu sâu sắc hơn đặc trưng đầu tiên của chủ nghĩa lãng mạn, đó là đề cao tình cảm của cá nhân con người, hiểu con người là một “tiểu vũ trụ” với sự phong phú, vô bờ bến của tâm hồn và trí tuệ.

  1. Nhân vật trung tâm

Nhân vật là hình ảnh con người được miêu tả cụ thể trong tác phẩm. Nhân vật luôn là phương tiện để nhà văn phản ánh hiện thực và ký thác tư tưởng tình cảm của mình. Mỗi phương pháp sáng tác lại có kiểu nhân vật đặc trưng. Nếu như chủ nghĩa hiện thực phê phán xây dựng được những nhân vật điển hình sắc nét, thì nhân vật của chủ nghĩa lãng mạn lại có vẻ đẹp phi thường, độc đáo.

2.1. Kiểu nhân vật cô độc

Kiểu nhân vật đặc trưng của văn học lãng mạn được thai nghén từ sự đấu tranh giữa cá nhân và xã hội. Đó là những người bất mãn với thực tại thối nát của xã hội tư sản. Họ không chấp nhận và chối bỏ xã hội. Ngược lại, xã hội cũng chối từ những con người ấy. Mâu thuẫn giữa cá nhân và xã hội là mâu thuẫn không thể giải quyết. Nhưng họ chỉ là những con người đấu tranh đơn độc, những con người cô độc. Trong cuộc đấu tranh ấy, phần thắng không thuộc về cá nhân. Nhưng những người anh hùng đơn độc ấy vẫn kiên quyết không từ bỏ lý tưởng của mình. Vì vậy họ thường mang vẻ mặt u buồn, không cười. Tiêu biểu cho kiểu nhân vật này là Ăng-giôn-rax trong tiểu thuyết “Những người khốn khổ” của V.Huygô. Vẻ đẹp của anh đã được nhà văn lý tưởng hóa cao độ. Theo quan điểm của Huygô, Ăng-giôn-rax là biểu tượng trọn vẹn cho cái cao cả, là lý tưởng của cách mạng. Và để hiển minh điều đó, nhà văn đã thể hiện nhân vật với những nét tuyệt đối và đặc biệt: “Vừa là đao phủ, vừa là thánh tăng, vừa là ánh sáng, vừa là pha lê”, lại “cứng như tảng đá”. Anh mang vẻ đẹp trẻ trung, thần thánh, là mẫu người anh hùng lý tưởng nhưng luôn mang “vẻ buồn trang nghiêm” của những người anh hùng đơn độc, khao khát đấu tranh với xã hội tư sản tàn ác để đem lại ấm no cho “những người khốn khổ”. Ăng-giôn-rax là người hy sinh cuối cùng trên chiến lũy với tám phát đạn. Chi tiết đó gợi cho ta liên tưởng đến hình tượng Chúa đóng đinh trên cây thánh giá để chuộc tội cho thiên hạ. Ăng-giôn-rax là biểu tượng cho những con người sẵn sàng hy sinh vì hạnh phúc của mọi người.

Điều đặc biệt, những nhân vật này vẫn tự hào và đầy kiêu hãnh, ở họ toát lên vẻ đẹp kiêu kỳ. Nhân vật lãng mạn gắn liền với chữ KIÊU:

Ta là một, là riêng, là thứ nhất

Không có chi bè bạn nổi cùng ta

………….

Ta bỏ đời mà đời cũng bỏ ta

Giữa vắng ngắt, giữa lạnh lùng thê tuyệt.

(Hi Mã lạp sơn – Xuân Diệu)

Xuân Diệu – thi sĩ đại diện đầy đủ nhất cho thời đại chữ Tôi đã tự ví mình với đỉnh Himalaya, ngọn núi cao nhất thế giới thật kì vĩ biết bao, nhưng cũng cô độc biết nhường nào!

2.2. Kiểu nhân vật tướng cướp – nhân vật nổi loạn

          Trong những tác phẩm văn học lãng mạn còn xuất hiện kiểu nhân vật tướng cướp – nhân vật nổi loạn, nhưng là những tên cướp cao thượng, mang tính lý tưởng: lấy hành động của mình để cưu mang, cứu vớt đời. Đó là những con người thừa “đầu thai nhầm thế kỉ”.

Các nhà văn lãng mạn tích cực đều mang thái độ bất mãn sâu sắc với xã hội tư sản. Họ nhận thức được rõ ràng cái xã hội mới đáng lẽ cho phép từng người biểu lộ tài năng của mình và “tham gia vào sự thay đổi thế giới”, thì về thực chất lại là “một xã hội đã bị chắn ngang do sự tàn bạo của đồng tiền, sự tàn bạo này còn khắc nghiệt hơn cả sự tàn bạo của đẳng cấp và của giống nòi xưa kia”. Nhận thức sáng suốt đó về thực tại không hề thủ tiêu ý chí của nhân vật trung tâm trong chủ nghĩa lãng mạn tích cực. Gắn bó với ước vọng của nhân dân về một xã hội tốt đẹp hơn, hầu hết các nhà lãng mạn tích cực đều đã thể hiện trong tác phẩm của mình “giấc mơ về hành động thực tế của cá nhân, về chỗ cá nhân có thể thâm nhập vào thế giới và làm thay đổi được nó.” Nhân vật của họ thường là nhân vật phi thường, con người nổi loạn. Họ nổi loạn để tạo ra chỗ đứng của mình, nổi loạn để thế giới phải chú ý tới họ, nổi loạn để chống lại bất công, tiêu diệt cái ác, cho dù là đơn độc. Những con người này thường sống ngoài rìa pháp luật, sống ngoài xã hội, vì vậy đã buồn họ lại càng buồn hơn.

Trong kịch của Huygô, chúng ta thường bắt gặp kiểu nhân vật này, mà tiêu biểu là Hecnani trong vở kịch cùng tên. Lần đầu tiên một nhà soạn kịch Pháp đã táo bạo đưa lên sân khấu nhân vật tướng cướp, mà lại là nhân vật chính. Một con người sống ngoài vòng pháp luật, cùng đồng đảng tung hoành khắp xứ, bị triều đình truy lùng mọi nơi. Nhưng đây không phải “tướng cướp” hiểu theo nghĩa thông thường, mà là kẻ “nổi loạn chính trị” có mối thù không đội trời chung với vua Tây Ban Nha. Con người “nổi loạn” ấy có những phẩm chất tốt đẹp, ý chí căm thù sâu sắc, tinh thần kiên cường bất khuất trong đấu tranh, tâm hồn cao thượng trong tình yêu… Những nhân vật này thể hiện thái độ chống đối của nhà văn đối với các chế độ Trung hưng và Quân chủ tư sản. Tuy nhiên, nhà văn chưa nhìn thấy sự thắng lợi tất yếu của các lực lượng dân chủ trong một tương lai không xa, hơn nữa V. Huygô lại chủ trương con đường hoà giải mâu thuẫn thay thế cho đấu tranh cách mạng quyết liệt để tiêu diệt cái ác, và con người phải biết dẹp hằn thù, mở rộng lòng khoan dung, kìm chế dục vọng. Do đó, nhân vật “nổi loạn” của ông thường dừng lại giữa đường khi chưa hoàn thành sự nghiệp (Hecnani) hoặc đi đến kết thúc bi thảm (Ruy Blax trong vở kịch cùng tên…). Đó chính là mặt hạn chế của V.Huygô.

Nhưng dẫu sao những nhân vật “nổi loạn” của nhà soạn kịch lãng mạn này vẫn để lại trong lòng người thiện cảm tốt đẹp, bởi gốc rễ nhân đạo sâu sắc trong tâm hồn V.Huygô.

Soi vào văn học lãng mạn Việt Nam chúng ta thấy, Huấn Cao trong “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân cũng mang dáng dấp của nhân vật nổi loạn. Huấn Cao thuộc loại nhân vật chân dung – tư tưởng. Đây là một chân dung sắc sảo được xây dựng theo lối lý tưởng hóa của một ngòi bút lãng mạn. Vì vậy, Huấn Cao nổi lên với vẻ đẹp phi thường, khác lạ. Cả tài hoa, thiên lương, lẫn khí phách của ông đều rất phi thường. Huấn Cao là một hào kiệt kiên cường, bất khuất, dám đứng lên chống lại triều đình phong kiến. Việc lớn không thành, ông bị bắt và sắp bị hành hình. Nhưng ông vẫn ung dung, bình thản, thể hiện khí phách hiên ngang, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời mình, Huấn Cao đã không hề run sợ, mà dồn hết tài hoa, thiên lương để cảm hóa, đưa quản ngục trở về với cuộc sống lương thiện. Qua hình tượng này, Nguyễn Tuân muốn gửi gắm tới người đọc một thông điệp: trên đời này không chỉ có quyền lực của nhà tù, mà còn có quyền uy của cái đẹp, đó chính là cái đẹp “nổi loạn”. Huấn Cao có nguyên mẫu từ Cao Bá Quát, một danh sĩ ở thế kỉ XIX, nổi tiếng hay chữ và viết chữ đẹp. Ông được tôn là “thánh Quát”, và là niềm tự hào của thời đại trong vế đối: “Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán”. Cao Bá Quát cũng là người nổi tiếng phóng túng, ngông ngạo, khao khát đổi thay xã hội trong hoàn cảnh triều đình nhà Nguyễn bảo thủ, trì trệ. Cuối cùng ông đã đi làm quân sư cho cuộc khởi nghĩa Mĩ Lương chống lại triều đình. Đó là một con người tài hoa, khí phách ngang tàng và nhân cách cao đẹp. Lấy Cao Bá Quát làm nguyên mẫu để xây dựng nhân vật chính cho truyện, Nguyễn Tuân đã thể hiện khuynh hướng của trào lưu lãng mạn, phủ định thực tại xã hội đương thời bằng cách quay về ngợi ca vẻ đẹp của một thời đã qua nay chỉ còn vang bóng. Đồng thời, tác giả cũng bộc lộ lòng yêu nước thầm kín khi ca ngợi lãnh tụ khởi nghĩa Huấn Cao, gửi gắm sự ngưỡng mộ của mình với những anh hùng, hào kiệt dám đứng lên chống Pháp bằng gươm súng.

Như vậy, “mỗi nghệ sĩ có thể đến với văn chương và cuộc đời bằng con đường riêng của mình. Nhưng… tư duy nghệ thuật dù có đổi mới đến đâu đi nữa thì cũng không vượt ra ngoài các quy luật của chân thiện mĩ, quy luật nhân bản. Nhà văn có sứ mệnh khơi nguồn cho dòng sông văn học đổ ra đại dương nhân bản mênh mông” (Lã Nguyên)

  1. Mối quan hệ giữa tính cách và hoàn cảnh

Nếu như các nhà văn hiện thực phê phán phản ánh chân thực đời sống thông qua những nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình, thì các cây bút lãng mạn gửi gắm triết lý nhân sinh của mình qua những tính cách phi thường trong những hoàn cảnh phi thường. V.Huygô – chủ soái của chủ nghĩa lãng mạn Pháp cho rằng: “Cái tầm thường là cái chết của nghệ thuật”. Và đây cũng là nguyên tắc chung của các nhà văn lãng mạn, luôn ưa thích cái vĩ đại, cái phi thường, cái “quá khổ”. Dưới ngòi bút của họ, nhân vật trung tâm đều trở nên phi thường, kì vĩ, gắn liền với hoàn cảnh phi thường. Nhân vật có thể được đặt trên bức phông nền là bức tranh thiên nhiên hoang sơ, kì bí, dữ dằn nơi đảo hoang, hay vùng núi xa xôi, hẻo lánh chưa ai đặt chân đến. Năm 1866, tác phẩm “Những người anh hùng của biển cả” , bản anh hùng chân thực về “những người đánh cá ở đảo Gớc-nơ-đi” ra đời. Chính khung cảnh của đại dương đã khơi nguồn cảm hứng cho Huy-gô. Gi-li-at, nhân vật chính của tác phẩm, là một người lao động bình thường trên biển, nhưng cũng giống như Ka-di-mô-đô (Nhà thờ đức bà Pari) và Giăng-Văn-Giăng (Những người khốn khổ), anh có sức khỏe phi thường, có lòng dũng cảm và đức hy sinh đặc biệt của những nhân vật anh hùng xuất thân từ những tầng lớp thấp hèn. Hình tượng anh nổi bật giữa những bức tranh kì diệu về đại dương, ca ngợi lao động và sự hy sinh bình dị. Bởi vậy, tiểu thuyết này được đánh giá là “một tác phẩm phóng khoáng, mở rộng với bốn phương trời và như thế thấm nhuần vô biên”.

Hoặc hoàn cảnh phi thường có thể chính là cuộc sống đầy hiểm họa của nhân loại, với bao bất công, tệ trạng, bao đau khổ lầm than. Nhân vật Giăng-Văn-Giăng trong tiểu thuyết “Những người khốn khổ” của V.Huy-gô được đặt trên khung cảnh của Pari với bóng tối của các ngoại ô, những khu phố nghèo bẩn thỉu với những ngôi nhà cũ kĩ, những cống rãnh chảy qua đường… Từ trong đêm đen của xã hội, Giăng-Văn-Giăng hiện lên sừng sững với sức mạnh vô địch, với tinh thần làm việc hăng say, ông đã giàu lên trong xứ sở của mình. Nhưng điều vĩ đại ở Giăng-Văn-Giăng, là ông không chỉ muốn mình giàu, mà còn mong cho tất cả mọi người đều giàu có. Với tấm lòng từ bi bác ái của một vị thánh đã được khai tâm, ông cứu vớt biết bao kiếp đời khốn cùng, cơ cực. Với hình tượng này, tác phẩm đã trở thành bản anh hùng ca về một con người khốn khổ vật lộn với xã hội và khoa học để vươn lên đỉnh cao của cái thiện. Ông là nhân vật đã gói trọn triết lý nhân sinh của nhà văn, người đọc không thể nào quên câu nói cuối cùng của ông với Cô-det và Mariuyt: “Trên đời này chỉ có một điều ấy thôi, đó là yêu thương nhau”. Mặc dù quan niệm của tác giả có phần ảo tưởng: dùng tình thương để cảm hóa thế giới tàn ác, nhưng Giăng-Văn-Giăng vẫn là hình tượng nhân vật phi thường trong trái tim và khát vọng cứu vớt nhân loại khổ đau. Vì vậy, thiên tiểu thuyết đẹp như một “bài thơ về lương tâm con người”.

Chính khát vọng vươn tới cái phi thường, cái cao cả đã tạo nên sự tài hoa trong ngòi bút và tầm vóc vĩ đại của một nhà “nhân đạo từ trong cốt tủy”, cây đại thụ của chủ nghĩa lãng mạn Pháp đã toả bóng gần khắp thế kỷ XIX – V.Huy-gô.

  1. Nghệ thuật tương phản

Theo nhận xét của các nhà phê bình, thì nghệ thuật lãng mạn có khả năng dung nạp rộng rãi các thủ pháp nghệ thuật đặc thù như tương phản, cường điệu, trữ tình ngoại đề, sự đối lập giữa cái trác việt (sublime) và cái thô kệch (grotesque)… Trong đó, một trong những thủ pháp đem lại hiệu quả nghệ thuật cao nhất cho những tác phẩm văn học lãng mạn chính là nghệ thuật tương phản với những cấp độ đa dạng. “Tinh thần lãng mạn chính là sự nối kết liên tục các yếu tố đối kháng nhau: Tự nhiên và nghệ thuât, thơ ca và văn xuôi, sự nghiêm túc và thú vui, kỷ niệm và dự cảm, tư tưởng trừu tượng và những cảm giác sống động, sự sống và cái chết… hòa lẫn với nhau một cách mật thiết trong thể loại lãng mạn” (A.W Sleigel).

4.1. Tương phản trong xây dựng hình tượng nhân vật

4.1.1. Tương phản trong một nhân vật

Dưới ngòi bút của các tác giả lãng mạn, nhân vật nhiều khi là sự thống nhất hài hòa của nhiều mặt đối lập: giữa ngoại hình và phẩm chất, giữa quá khứ và hiện tại,… Chúng ta không thể không kể đến nhân vật Huấn Cao trong “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân, đó là sự kết hợp giữa một nghệ sĩ tài hoa và một anh hùng “bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Hay Ka-di-mô-đô trong “Nhà thờ đức bà Pari” có vẻ bề ngoài vô cùng xấu xí, nhưng tâm hồn lại cao đẹp, thánh thiện…

Trong tiểu thuyết “Những người khốn khổ”, V.Huy-gô đã triệt để khai thác vẻ đẹp của nghệ thuật tương phản. Với bút pháp này, nhà văn đã tạo ra kiểu nhân vật đặc trưng – nhân vật kép, nhân vật phức hợp. Giăng-Văn-Giăng vừa là một người tù khổ sai, vừa là một vị thánh, điều này đã biến “Những người khốn khổ” trở thành bản anh hùng ca của lương tâm con người. Bởi tác phẩm đã bộc lộ quá trình con người đi từ bóng tối ra ánh sáng, đấu tranh với chính mình để vươn tới sự hoàn thiện. Qua đó, V. Huy-gô đã nhắn gửi tới người đọc triết lý nhân sinh sâu sắc: muốn cứu đời, cứu người trước hết phải vượt qua được cái ác trong chính bản thân mình.

4.1.2. Tương phản giữa hai nhân vật

Trong nhiều tác phẩm lãng mạn, luôn có sự song hành của hai nhân vật đối lập nhau, qua đó tư tưởng của tác giả được bộc lộ sắc nét. Chắc hẳn chúng ta không thể quên cặp nhân vật xung đột nhau gay gắt là Giăng-Văn-Giăng và Gia-ve trong “Những người khốn khổ”, một người tiêu biểu cho những con người khốn cùng, còn người kia đại diện cho quyền lực của xã hội tư bản. Một người là thánh nhân luôn tìm cách bênh vực bao kiếp đời bé nhỏ, còn kẻ kia là tên mật thám chó săn luôn rình rập để bắt bớ, hành hạ những mảnh đời yếu đuối…

Hay trong “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân, bút pháp tương phản đã góp phần tạo nên tình huống truyện độc đáo, đầy oái oăm và bi kịch: cuộc kì ngộ của hai nhân vật Huấn Cao và quản ngục. Trên bình diện chính trị xã hội, họ là những kẻ đối địch, có địa vị hoàn toàn đối lập với nhau. Một người là tên “đại nghịch”, cầm đầu cuộc nổi loạn chống lại triều đình, nay bị bắt giam, đang chờ ngày ra pháp truờng để chịu tội. Còn người kia lại đại diện cho bộ máy cai trị trong xã hội đương thời, có nhiệm vụ quản thúc, hành hạ tử tù của triều đình. Nhưng ở bình diện nghệ thuật, cả hai nhân vật này đều là những con người có tâm hồn nghệ sĩ, họ là tri âm, tri kỉ với nhau. Một người có tài viết chữ đẹp – một nhà thư pháp nổi tiếng, người kia suốt đời ngưỡng mộ cái tài ấy, bất chấp cả sự an nguy về tính mạng của mình và gia đình mình, miễn là có chữ của Huấn Cao để thỏa lòng mong ước. Ở một khía cạnh khác, tình huống này còn là sự đối mặt giữa hai kiểu nhà tù, hai kiểu tù nhân. Huấn Cao – một người hoàn toàn tự do về nhân cách nhưng đã mất mọi quyền, kể cả quyền sống. Quản ngục hoàn toàn tự do về thân thể, nhưng lại bị cầm tù về nhân cách. Hoàn toàn có thể coi đây là cuộc gặp gỡ giữa một tử tù Huấn Cao và người bị cầm tù chung thân ngay trong môi trường sống của mình. Chọn tình huống này, nhà văn đã đặt quản ngục vào một sự lựa chọn có tính xung đột: hoặc làm tròn bổn phận của một ông quan thì phải chà đạp lên tấc lòng tri kỉ, hoặc muốn trọn đạo tri kỉ thì phải phản lại bổn phận của một viên quan, bất chấp phép tắc nhà tù, và những quy định của luật pháp triều đình. Quản ngục hành động theo hướng nào, tư tưởng của truyện sẽ nghiêng theo hướng ấy. Theo cách thứ nhất, chiến thắng sẽ thuộc về sự tầm thường, đê tiện, độc ác. Theo cách hai, thì cái đẹp sẽ chiến thắng. Liệu quản ngục có dám thủy chung với tấc lòng tri kỉ, có dám coi thường bổng lộc và sự an toàn tính mạng của cá nhân và gia đình mình hay không? Quản ngục có thể thoát khỏi cái nhà tù vô hình vẫn cầm tù nhân cách của mình hay không? Có dám sống đúng là mình hay không? Tình huống truyện có sức hấp dẫn, lôi cuốn người đọc tiếp tục theo dõi câu chuyện.

Như vậy, nghệ thuật tương phản có vai trò quan trọng trong việc tạo tình huống và khắc họa chân dung nhân vật.

4.1.3. Tương phản giữa nhân vật và hoàn cảnh

Trong các tác phẩm văn học, con người không chỉ là “tổng hòa các mối quan hệ xã hội”, mà chân dung nhân vật còn hiện lên sinh động trong mối quan hệ với môi trường xung quanh. Đến với văn xuôi lãng mạn, hẳn chúng ta đều đặc biệt ấn tượng với sự thù địch giữa nhân vật và hoàn cảnh. Đọc “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân, đôi khi chúng ta chỉ chú ý tới nhân vật trung tâm – Huấn Cao mà lãng quên nhân vật quản ngục. Bởi vậy, nhiều người đã không nhận ra rằng quản ngục cũng là hình tượng mà nhà văn đã dồn rất nhiều tâm huyết để khắc họa. Quản ngục là nhân vật nghiêng về chân dung và được xây dựng bằng bút pháp lãng mạn. Ở nhân vật này, có sự tương phản giữa cái tâm trong sáng với môi trường sống bẩn thỉu, và cái nghề thất đức. Quản ngục phải sống trong một môi trường đầy oái oăm, trớ trêu – nơi mà “người ta sống bằng tàn nhẫn, bằng lừa lọc”. Nguyễn Tuân đã nhận xét: “Ông trời nhiều khi chơi ác, đem đày ải những cái thuần khiết vào giữa một đống cặn bã. Và những người có tâm điển tốt và thẳng thắn, lại phải ăn đời ở kiếp với lũ quay quắt”. Tuy nhiên, vượt lên trên hoàn cảnh, quản ngục vẫn là một người có tâm điển tốt, tiềm ẩn những phẩm chất đáng quý, “là một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn, xô bồ”. Ông đã dám sống đẹp, dám làm chính mình và luôn hiện lên là một người tri kỉ với Huấn Cao. Là một người có sở thích cao quý. Mong mỏi suốt đời của quản ngục là “một ngày kia được treo ở nhà riêng của mình một đôi câu đối do tay ông Huấn Cao viết”. Vẻ đẹp của quản ngục hiện lên ở thái độ sùng kính Huấn Cao, qua hành vi chắp tay vái người tù một cái, nghẹn ngào nói trong nước mắt: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh“. Có cái cúi đầu làm cho con người ta trở nên hèn hạ, có những cái vái lạy làm cho con người trở nên đê tiện. Nhưng cũng có cái cúi đầu làm cho con người ta trở nên cao cả hơn, sang trọng hơn. Đó là cái cúi đầu trước cái tài, cái đẹp, cái thiên lương. Viên quản ngục vái lạy Huấn Cao gợi chúng ta liên tưởng tới cái cúi đầu của Cao Bá Quát trước hoa mai: “Nhất sinh đê thủ bái mai hoa“.

Như vậy, những dẫn chứng sinh động đã phân tích ở trên cho chúng ta thấy, nghệ thuật tương phản có ý nghĩa to lớn trong việc khắc họa sinh động hình tượng nhân vật của các nhà văn lãng mạn.

4.2. Tương phản trong nghệ thuật dựng cảnh

Trong tác phẩm, hình tượng con người luôn hiện lên sinh động trên một nền cảnh nào đó. Vì vậy, việc xây dựng bối cảnh cho sự xuất hiện của nhân vật đã góp phần tạo nên sức hấp dẫn và thành công cho tác phẩm. Các nhà văn lãng mạn đã phát huy được tối đa hiệu quả của nghệ thuật tương phản trong việc tạo dựng khung cảnh.

Nguyễn Tuân không chỉ nổi tiếng với sự tài hoa trong việc dựng chân dung, mà ông còn có biệt tài dựng cảnh. Cảnh cho chữ (trong “Chữ người tử tù”) được xây dựng bằng bút pháp lãng mạn. Ở đó nghệ thuật tương phản được phát huy tận độ: sự tương phản giữa bóng tối và ánh sáng: giữa bóng đêm ken kịt, dày đặc của trại giam tỉnh Sơn với ánh sáng rừng rực của bó đuốc tẩm dầu, ánh sáng lấp lánh của tấm lụa bạch còn nguyên vẹn lần hồ, và ánh sáng trắng tinh khiết của tâm hồn con người. Đó còn là sự tương phản giữa cái thiện, cái cao cả và cái thấp hèn; giữa cái đẹp và cái xấu xa, tầm thường. “Đây là cảnh tượng xưa nay chưa từng “. Cho chữ thường diễn ra ở nơi thư phòng, thư sảnh sạch sẽ, trang nghiêm, trong hương trầm nghi ngút và giữa những tao nhân mặc khách. Nhưng ở đây, cảnh cho chữ lại diễn ra trong lao tù ẩm ướt, chật hẹp, bẩn thỉu. Nơi bóng tối, cái xấu và cái ác ngự trị – những thứ thù địch với cái đẹp, lại trở thành nơi cái đẹp sinh thành và tỏa sáng. Trong cảnh tượng này đã diễn ra một sự đảo lộn tư thế của các nhân vật: Người nghệ sĩ tài hoa, say mê tô từng nét chữ không phải là người được tự do, mà là một kẻ tử tù đang trong cảnh cổ đeo gông, chân vướng xiềng, và chỉ sớm tinh mơ ngày mai đã bị giải vào trong kinh chịu án tử hình. Huấn Cao hiện lên như một nghệ sĩ đang say mê sáng tạo nghệ thuật, sáng tạo những con chữ nói lên hoài bão tung hoành của cả một đời người. Giây phút cuối cùng của cuộc đời tử tù không than thân trách phận. Trong khoảnh khắc thiêng liêng nhất, Huấn Cao vẫn dành trọn cho cái đẹp. Hình ảnh uy nghi của Huấn Cao đối lập với hình ảnh thầy thơ lại so ro, “run run bưng chậu mực“, và viên quản  ngục “khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ”. Thái độ “khúm núm” không phải là sự run sợ, mà là sự cẩn trọng đến mức tôn kính trước cái đẹp phi phàm giữa chốn ngục tù bẩn thỉu. Trật tự, kỉ cương trong nhà tù bị đảo ngược hoàn toàn: Quản ngục, kẻ có quyền hành thì không có quyền uy. Uy quyền đã thuộc về người tù – kẻ đã bị tước đoạt hết mọi quyền hành, kể cả quyền sống. Kẻ đại diện cho chính quyền thì “khúm núm”, sợ sệt, vái lạy tù nhân; tù nhân thì ung dung, đường bệ. Kẻ có nhiệm vụ cảm hóa, giáo dục tội phạm, giờ đây lại đang được chính tội phạm răn dạy, cảm hóa. Ngục quan cung kính, lĩnh nhận từng lời của tử tù như những lời di huấn thiêng liêng về nhân cách. Người được an ủi, động viên ở đây không phải là người sắp bị chết chém, mà là người đại diện cho quyền lực tự do. Giữa chốn ngục tù tàn bạo, không phải những kẻ đại diện cho quyền lực thống trị làm chủ, mà là người tù làm chủ. Như vậy nghệ thuật tương phản đã có ý nghĩa to lớn, thể hiện được tư tưởng, chủ đề của của tác phẩm: Đó là sự chiến thắng của ánh sáng đối với bóng tối, của cái đẹp đối với cái xấu xa, nhơ bẩn, của cái thiện đối với cái ác. Đó là cái đẹp của nhân cách, của tài hoa, của khí phách và thiên lương con người.

4.3. Tương phản giữa các chi tiết

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, chi tiết nghệ thuật là: “Các tiểu tiết của tác phẩm mang sức chứa lớn về cảm xúc và tư tưởng”. Cũng theo nhóm tác giả này thì: “Tuỳ theo sự thể hiện cụ thể, chi tiết nghệ thuật có khả năng thể hiện, giải thích, làm minh xác cấu tứ nghệ thuật của nhà văn, trở thành tiêu điểm, điểm hội tụ của tư tưởng tác giả trong tác phẩm. Chi tiết nghệ thuật gắn với quan niệm nghệ thuật về thế giới con người, với truyền thống văn hoá nghệ thuật nhất định.” (2) Như vậy, chi tiết nghệ thuật gắn với quan niệm nghệ thuật và quan niệm nhân sinh của nhà văn. Đối với người đọc khi nhận biết được các chi tiết đắt giá trong tác phẩm, chúng ta có thể làm sáng tỏ được ý nghĩa của hình tượng nghệ thuật, tư tưởng chủ đề của tác phẩm và hiểu rõ ý đồ sáng tạo của nhà văn.

Nếu như chủ nghĩa hiện thực đề cao tính chân thực của các chi tiết, thì trong những tác phẩm lãng mạn, nhà văn cũng dồn nén tư tưởng trong những chi tiết đặc sắc được kiến tạo bởi bút pháp tương phản. Sau khi Giăng-Văn-Giăng (Những người khốn khổ) ra tù, tất cả mọi người đều xua đuổi và ghê tởm anh ta, nhưng đến khi vào nhà thờ, anh ta lại được giám mục Mi-ri-en đón tiếp chu đáo với tư cách một con người. Giăng-Văn-Giăng được cho ăn bằng bộ đồ ăn bằng bạc, và được ngủ như một vị khách quan trọng. Trong phòng ăn của giám mục lúc đó, nhà văn đã để hai đồ vật bên cạnh nhau: bộ đồ ăn bằng bạc và hai cây đèn. Đây là hai chi tiết đối lập nhau về ý nghĩa. Nếu như bộ đồ ăn bằng bạc tượng trưng cho giá trị vật chất, thì hai cây đèn lại tượng trưng cho ánh sáng, cho giá trị tinh thần cao quý, có ý nghĩa khai tâm cho con người. Nhưng Giăng-Văn-Giăng chỉ lấy cắp đi bộ đồ ăn bằng bạc. Bởi vì, anh ta lúc đó chưa được khai tâm, chưa được cảm hóa, nên theo tiếng gọi của bản năng, anh chỉ nghĩ đến những giá trị vật chất có thể đảm bảo cho sự sinh tồn của anh ta. Sau khi bị bắt và buộc phải quay lại nhà thờ để đối chất, giám mục Mi-ri-en đã tặng anh hai cây đèn. Đây là biểu tượng cho ánh sáng của tình yêu thương đã cảm hóa Giăng-Văn-Giăng, soi đường cho anh trở về với cuộc sống lương thiện. Như vậy, hai chi tiết tương phản này đã thể hiện được cuộc đấu tranh giữa bản năng, dục vọng và cái cao cả, hoàn thiện trong tâm hồn con người.

Không chỉ trong tiểu thuyết, mà với truyện ngắn lãng mạn, các nhà văn luôn rất dụng công khi xây dựng những chi tiết “cô đúc”, “mang nhiều ẩn ý”. Đến với “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam, người đọc đặc biệt ấn tượng với hai chi tiết tương phản là bóng tối và ánh sáng. Bóng tối là chi tiết nghệ thuật đầy ám ảnh đè nặng lên cảnh vật và con người. Bóng tối đến với tiếng trống thu không, với những đám mây hồng như hòn than sắp tàn, với dãy tre làng trước mặt đen lại. Ánh sáng của ban ngày vẫn còn nhưng yếu thế. Bóng tối mới xuất hiện nhưng bắt đầu lấn át ánh sáng. Rồi từng bước từng bước bóng tối đậm dần, ngập dần, lan tràn và ngự trị cả phố huyện: Các đường phố và các ngõ con dần dần chứa đầy bóng tối… Tối hết cả con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại càng sẫm đen hơn nữa”. Bóng tối ngập tràn đôi mắt Liên, chị đã quen lắm với đêm tối. Mọi hoạt động của con nguời đều bắt đầu từ chiều tối tới tận đêm khuya. Không dưới 30 lần hình ảnh bóng tối xuất hiện, bóng tối như một cái gì hãi hùng đang xâm lấn, luồn lách vào mọi cảnh vật, bủa vây mọi con người. Nó tạo nên không gian đen đặc cho bức tranh phố huyện. Bóng tối trở thành nỗi ám ảnh về một cuộc sống tối tăm, bế tắc, ngao ngán. Đối lập với bóng tối tràn lan, đậm đặc là hình ảnh ánh sáng nhỏ nhoi, yếu ớt, được miêu tả rất khe khắt, hiếm hoi và đơn độc, chỉ là những khe sáng, hột sáng, quầng sáng, vệt sáng, chấm lửa,… không đủ để soi sáng không gian, mà còn tô đậm thêm bóng đêm đậm đặc, mênh mông của phố huyện. Nếu ánh sáng, âm thanh là biểu tượng của sự sống, thì bóng tối, sự tịch mịch là biểu tượng của hư vô, của cái chết. Cuộc sống hiện tại của chị em Liên là phố huyện ngập chìm trong đêm tối, nghĩa là sự sống đang hụt hơi, hấp hối như một miền đời quên lãng, một vùng đất chết, thiếu vắng sự sống. Như vậy, hai chi tiết đối lập này đã góp phần thể hiện được sâu sắc thông điệp của Thạch Lam: hãy đem đến cho con người một cuộc sống khác, hãy đem đến cho hai đứa trẻ một tương lai khác, hãy cứu lấy những đứa trẻ, cứu lấy mảnh đất phố huyện, cứu lấy sự sống trên thế giới này. Con người có thể vô danh nhưng không thể sống vô nghĩa.

4.4. Tương phản giữa những tư tưởng

Trong những tác phẩm lãng mạn, đôi khi nhà văn đã sử dụng nghệ thuật tương phản để tạo ra một cuộc tranh luận ngầm, từ đó khẳng định tư tưởng, quan điểm của mình.

“Những người khốn khổ” của V.Huy-gô là một tiểu thuyết luận đề. Tác phẩm là cuộc tranh luận về “những người khốn khổ”, tranh luận về giá trị, nhân phẩm của họ. Tiểu thuyết là sự xung đột giữa hai quan điểm đối lập nhau. Một là quan điểm chính thống, quan điểm của xã hội tư sản được phát ngôn qua hình tượng nhân vật Gia-ve. Họ coi “những người khốn khổ” là “bùn”, là bụi” làm bẩn xã hội, phải truy quét, xua đuổi một cách say sưa, nhiệt tình, mẫn cán. Còn quan điểm của tác giả, được gửi gắm thông qua hình tượng Giăng-Văn-Giăng: luôn bênh vực cho “những người khốn khổ”, bảo vệ giá trị người, nhân phẩm của họ; và ở đâu có bất hạnh, ở đó có một vị thánh. Quan niệm tiến bộ, tích cực đó của V. Huy-gô phát triển lên đỉnh cao khi nhà văn xây dựng nên chiến lũy Xanh-dơ-ni. “Những người khốn khổ” ở Pari đã lên chiến lũy đấu tranh để đòi một cuộc sống ấm no. Chiến lũy đã tập hợp tất cả “những người khốn khổ”, nhưng lại rất có tổ chức (chứ không phải là những kẻ vô tổ chức như cái nhìn đầy khinh miệt của tư sản dành cho họ), đặc biệt họ sẵn sàng chiến đấu và hy sinh hết mình vì lý tưởng. Đứng đầu là người anh hùng mang vẻ đẹp trẻ trung, thần thánh Ăng-giôn-rax. Rồi cậu bé Ga-vơ-rốt lên chiến lũy với một niềm tin ngây thơ nhưng rất thiết thực: để cho cái giỏ của các bà, các cô đầy bánh mì hơn… V.Huy-gô đã nhận thức được quần chúng chính là động lực của lịch sử. Tư tưởng này đã tạo nên tầm vóc vĩ đại cho nhà văn và giá trị lớn lao cho tác phẩm của ông, và chính tác giả khi hoàn thành xong bộ tiểu thuyết đồ sộ này đã nói: “Quyển truyện này là một trái núi”. Trong lời tựa cho tiểu thuyết “Những người khốn khổ”, V. Huy-gô đã viết: “Khi pháp luật và phong hóa còn đầy đọa con người, còn dựng nên những địa ngục ở giữa xã hội văn minh và đem một thứ định mệnh nhân tạo chồng thêm lên thiên mệnh; khi ba vấn đề lớn của thời đại là sự sa đọa của đàn ông vì bán sức lao động, và sự trụy lạc của đàn bà vì đói khát, sự cằn cỗi của trẻ thơ vì tối tăm chưa được giải quyết; khi ở một số nơi đời sống còn ngạt thở, nói khác đi và trên quan điểm rộng hơn, khi trên mặt đất dốt nát và đói khổ còn tồn tại thì những quyển sách như loại này còn có thể có ích”. Với quan điểm “nghệ thuật vị nhân sinh” như vậy, tác phẩm của V.Huy-gô đã có ảnh hưởng lớn trong công cuộc đấu tranh chung của loài người chống áp bức và bóc lột.

* * *

Khái quát lại chúng ta thấy, với chủ nghĩa lãng mạn, văn học nhân loại đã tiến một bước rất dài với những thành tựu rực rỡ trên tất cả các thể loại. Chủ nghĩa lãng mạn đã tạo ra một thời kỳ thơ Mới, phá vỡ tất cả các khuôn khổ của thơ cũ, với hình thức thơ tự do, có khả năng lớn trong việc biểu đạt tình cảm của con người, tư duy của thời đại. Cùng với thơ, kịch cũng có sự cách tân táo bạo, phá vỡ quy tắc tam duy nhất của chủ nghĩa cổ điển; kịch có thể chứa đựng một dung lượng hiện thực lớn hơn, không còn là câu chuyện của một ngày, mà của một thời đại, một thế kỷ. Đặc biệt, tiểu thuyết đạt tới trình độ mẫu mực, cổ điển cả về nội dung và hình thức, với hai tiểu loại: tiểu thuyết đời tư và tiểu thuyết lịch sử. Phê bình cũng trở thành một bộ môn khoa học, thúc đẩy văn học phát triển. Cùng với những thành tựu về thể loại, thế kỷ XIX đã diễn ra một cuộc cách mạng về ngôn ngữ, ngôn ngữ phong phú, giàu nhạc điệu, gợi hình, gợi cảm. Nhờ sức mạnh của ngôn ngữ, mà cây đại thụ của văn học lãng mạn, V.Huy-gô đã tạo ra sức mạnh mới cho ngôn từ, “tôi gây một cơn bão táp dưới đáy lọ mực”, dâng hiến cho đời những kiệt tác bất hủ.

Chương III: Hướng dẫn học sinh thực hành làm văn về đặc trưng của chủ nghĩa lãng mạn

       Như chúng ta đã biết văn học lãng mạn Việt Nam xuất hiện như một trào lưu trong thời kì 1932 – 1945, bắt đầu với nhóm Tự lực văn đoàn và phong trào thơ Mới. Nhưng để phục vụ thiết thực cho việc giảng dạy của giáo viên và luyện tập của học sinh, trong phần bài tập vận dụng này, chúng tôi chỉ gợi ý những đề bài liên quan trực tiếp tới các tác giả, tác phẩm được học và đọc thêm trong chương trình THPT. Phương châm là chúng tôi sẽ soi sáng những đặc trưng chung của chủ nghĩa lãng mạn vào từng tác giả và tác phẩm cụ thể, như vậy, sẽ giúp cho các em vừa nắm vững kiến thức lý luận khái quát, vừa hiểu sâu sắc hơn tác phẩm; và quan trọng nhất là hình thành cho học sinh kỹ năng đọc-hiểu và làm văn một cách khoa học nhất.

  1. Đề bài về các tác giả, tác phẩm thơ Mới

Đặc trưng quan trọng nhất của chủ nghĩa lãng mạn là đề cao tình cảm của cá nhân con người, khẳng định cái tôi cá nhân. Do được giải phóng cá tính và khao khát được khẳng định, nên cái tôi của mỗi nhà thơ lại ngân rung một điệu tâm hồn riêng: Xuân Diệu, thi sĩ của niềm yêu đời, ham sống và khát khao giao cảm; Huy Cận – thi sĩ của nỗi “sầu vạn kỉ”, niềm “khắc khoải không gian”, luôn khao khát lắng nghe sự hòa điệu của thiên nhiên, vũ trụ và lòng người; Nguyễn Bính, nhà thơ “chân quê”, với cái tôi “lỡ dở” (lỡ làng về duyên phận và dở dang về sự nghiệp – Chu Văn Sơn);… Đó là cơ sở cho sự hình thành cá tính sáng tạo, phong cách nghệ thuật riêng của mỗi tác giả. Vì vậy, qua bài giảng và bài tập vận dụng, giáo viên phải hướng dẫn học sinh cảm nhận được gương mặt, hồn cốt riêng của mỗi thi sĩ ẩn đằng sau những trang thơ.

1.1. Một số đề bài

1.1.1. “Xuân Diệu, nhà thơ đại biểu đầy đủ nhất cho thời đại”… (Hoài Thanh – Thi nhân Việt Nam). Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào? Qua một số thi phẩm đặc sắc của Xuân Diệu đã học và đọc thêm hãy phân tích để làm sáng tỏ.

1.1.2. “Trong thơ Xuân Diệu toát lên một nhu cầu mãnh liệt: nhu cầu được cảm thông. Con người rất có ý thức về bản ngã ấy không phải là cái tôi khép kín, chỉ biết có mình, mà là cái tôi luôn mở ra với cuộc đời. Cái tôi ấy cần phơi trải trình bày, phải ân cần hơn mọi sự ân cần, là một tâm hồn luôn khao khát tìm gặp những tâm hồn”. (Nguyễn Hoành Khung)

Bằng hiểu biết về cuộc đời và thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám, anh (chị) hãy giải thích và chứng minh nhận định trên.

1.1.3. “Sự bồng bột của Xuân Diệu có lẽ đã phát biểu ra một cách đầy đủ hơn cả trong những rung động tinh vi”. (Hoài Thanh – Thi nhân Việt Nam). Anh (chị) hãy làm rõ nhận định trên qua việc phân tích một số thi phẩm của Xuân Diệu.

1.1.4. Bàn về thơ Xuân Diệu, Thế Lữ đã nhận xét: “Lầu thơ của ông xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian

Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào? Qua một số thi phẩm đặc sắc của Xuân Diệu đã học và đọc thêm hãy phân tích để làm sáng tỏ.

1.1.5. Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan viết: “Với những nguồn cảm hứng mới: yêu đương và tuổi xuân, dù lúc vui hay lúc buồn, Xuân Diệu cũng ru thanh niên bằng giọng yêu đời thấm thía” (Nhà văn hiện đại quyển 3). Qua việc phân tích các thi phẩm: “Vội vàng”, “Thơ duyên”, “Đây mùa thu tới” hãy làm sáng tỏ.

1.1.6. Hoài Thanh đã nhận định: “Huy Cận có lẽ đã sống một cuộc đời rất bình thường, nhưng người luôn lắng nghe mình sống để ghi lấy cái nhịp nhàng, lặng lẽ của thế giới bên trong” (Thi nhân Việt Nam).

Theo em cái “thế giới bên trong”, cái linh hồn của tạo vật trong bài thơ “Tràng giang” là gì?

1.1.7. Nhận xét về bài thơ “Tương tư” của Nguyễn Bính có ý kiến cho rằng: “Giá trị của bài thơ không chỉ ở việc tác giả diễn tả khá mới mẻ cái tôi tha thiết, chân thành, khao khát yêu đương mà điều chủ yếu còn ở chỗ: nó gợi lên được hồn xưa của đất nước, đó là một điều quý giá vô ngần mà người ta không thể hiểu được bằng lí trí.”

Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy phân tích bài thơ “Tương tư” để làm sáng tỏ.

1.1.8. Nhận xét về thơ Hàn Mặc Tử có ý kiến cho rằng: Hàn Mặc Tử là “một hồn thơ mãnh liệt nhưng luôn luôn quằn quại đau đớn, dường như có một cuộc vật lộn và giằng xé giữa linh hồn và xác thịt, linh hồn muốn thoát khỏi xác phàm để bay tới cõi siêu nhiên sáng láng, thơm tho, tinh khiết, nhưng thực ra vẫn gắn bó với cuộc  đời, với con người mà ông thiết tha yêu thương bằng một tình yêu trần thế.

Bằng hiểu biết về cuộc đời và thơ Hàn Mặc Tử, anh (chị) hãy giải thích và chứng minh nhận định trên.

1.1.9. Cảm hứng ra đi trong “Tống biệt hành” của Thâm Tâm.

1.2. Cách thức thực hiện

  1. Mở bài

– Giới thiệu vấn đề cần nghị luận, dẫn dắt vào nhận định (trích nguyên văn), phạm vi tư liệu.

  1. Thân bài

– Bước 1: Giải thích nhận định: Đây đều là nhận định của các nhà phê bình, nghiên cứu về nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật, hồn cốt riêng của mỗi nhà thơ kết tinh trong thi phẩm của họ. Vì vậy, học sinh cần vận dụng kiến thức lý luận về đặc trưng của chủ nghĩa lãng mạn, phong cách nghệ thuật của mỗi thi sĩ…. để giải thích; rút ra vấn đề cần nghị luận.

– Bước 2: Chứng minh: Chọn những thi phẩm tiêu biểu của tác giả, phân tích định hướng để làm sáng tỏ vấn đề.

– Bước 3: Bình luận:

+ Khẳng định lại vấn đề cần nghị luận.

+ Đưa ra phản đề (nếu có).

+ Mở rộng, nâng cao vấn đề.

  1. Kết bài

– Khẳng định lại vấn đề.

1.3. Ví dụ

1.3.1. Đề bài 1: Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan viết: “Với những nguồn cảm hứng mới: yêu đương và tuổi xuân, dù lúc vui hay lúc buồn, Xuân Diệu cũng ru thanh niên bằng giọng yêu đời thấm thía” (Nhà văn hiện đại quyển 3). Qua việc phân tích các thi phẩm: “Vội vàng”, “Thơ duyên”, “Đây mùa thu tới” hãy làm sáng tỏ.

1.3.1.1. Xác định đề

– Kiểu bài: Phân tích định hướng để làm sáng tỏ một nhận định về tác giả văn học.

– Vấn đề cần nghị luận: Thơ Xuân Diệu bộc lộ lòng yêu đời, ham sống mãnh liệt, thể hiện ở: cảm hứng, đề tài, cảm xúc, giọng điệu -> Phong cách thơ Xuân Diệu.

– Thao tác: giải thích, chứng minh, bình luận,…

– Phạm vi tư liệu: Những hiểu biết về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác, phong cách nghệ thuật Xuân Diệu; những thi phẩm “Vội vàng”, “Thơ duyên”, “Đây mùa thu tới”

1.3.1.2. Lập dàn ý

  1. Mở bài

– Giới thiệu vấn đề cần nghị luận, dẫn dắt vào nhận định (trích nguyên văn), phạm vi tư liệu.

  1. Thân bài

* Giải thích

– Ý kiến của Vũ Ngọc Phan đã khái quát lên nét đặc trưng của hồn thơ Xuân Diệu: lòng yêu đời, ham sống và khát khao giao cảm mãnh liệt.

– Khi Xuân Diệu xuất hiện trên thi đàn, “thơ Xuân Diệu là một nguồn sống rào rạt chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này”. Xuất phát từ nhu cầu khát khao được giao cảm, thơ ông đã trở thành nhịp cầu của những tâm hồn đồng điệu.

– Tiếng thơ yêu đời này đã làm rung động đến trái tim của tuổi trẻ. Thi sĩ đã từng tâm sự: “Tôi gửi hồn tôi cho những người trẻ tuổi và đặc biệt là trẻ lòng”. Trên văn đàn già cỗi bao nhiêu năm, thơ Xuân Diệu đã đáp ứng được thị hiếu thẩm mĩ của lớp thanh niên và được họ hưởng ứng nhiệt liệt. Khi Xuân Diệu mới xuất hiện, đã không ít người chê ông tây quá, nhưng thi sĩ đã tự tin mà khẳng định rằng: “Đã có thanh niên hoan nghênh tôi”.

– Lòng yêu đời thấm thía của Xuân Diệu thể hiện ở hai nguồn đề tài xuyên suốt: yêu đương và mùa xuân:

+ Văn học trung đại là nền văn học phi ngã, các tác giả trung đại quan niệm: “Thi dĩ ngôn chí, văn dĩ tải đạo”, làm thơ viết văn là để nói chí tỏ lòng. Xuân Diệu “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh) với khao khát bộc lộ cái tôi cá nhân và phơi trải lòng mình, đã viết rất nồng nàn về tình yêu, thứ tình cảm nhân bản và riêng tư nhất của con người.

+ Một năm bắt đầu từ mùa xuân, mùa tươi trẻ nhất, thiên nhiên và đất trời xanh non, biếc rờn sự sống. Cuộc đời lại bắt đầu từ tuổi trẻ, mùa xuân của đời người, nên Xuân Diệu viết rất nhiều, rất hay về mùa xuân. Xuân trong thơ ông luôn tràn trề nhựa sống, rực rỡ sắc màu, rộn rã âm thanh, và đặc biệt tình tứ, làm đắm say lòng người. Với Xuân Diệu, xuân không chỉ là xuân của đất trời, mà còn là xuân trong lòng người, và tình xuân luôn dạt dào lai láng: “Tình không tuổi và xuân không ngày tháng”. Xuân đồng nghĩa với tuổi trẻ và tình yêu:

“Xuân của đất trời nay mới đến.

Trong tôi xuân đến đã lâu rồi.

Từ lúc yêu nhau hoa nở mãi.

Trong vườn thơm ngát của hồn tôi”.

-> Với một hồn thơ yêu đời, ham sống, Xuân Diệu đã thổi vào thơ mới một luồng gió nồng nàn ít có trong thơ ca truyền thống.

– Lòng yêu đời, khát giao giao cảm của Xuân Diệu thể hiện ở hai dạng cảm xúc: vui và buồn. Xuân Diệu là thi sĩ lãng mạn, chủ nghĩa lãng mạn hướng người ta tới một thế giới lý tưởng, đòi hỏi sự hoàn mĩ, tuyệt đích. Nhưng trong tâm thế của một người dân mất nước không có tự do, cuộc sống của tầng lớp trí thức tù túng, ngột ngạt, nhạt nhẽo, cho nên khát vọng được sống hết mình, tận hiến, tận hưởng cuộc đời của thi sĩ không thực hiện được, đáp lại sự nồng nhiệt của ông chỉ là thái độ dửng dưng, nhạt nhẽo của người đời. Xuân Diệu không tìm được mối giao hòa, giao cảm với cuộc đời. Vì vậy trong thế giới nghệ thuật của ông, mùa xuân và bình minh thường đi kèm với chiều thu tàn và những đêm trăng lạnh, sự nồng nàn đi liền với cảm giác cô đơn, bơ vơ. “Thơ Xuân Diệu buồn ngay giữa những điệu ấm nóng tươi vui” (Hoài Thanh). Và dù vui hay buồn thì cũng đều là biểu hiện của cùng một cái tôi thiết tha yêu đời Xuân Diệu.

=> Tóm lại: Vũ Ngọc Phan đã khái quát lên những nét chính của phong cách thơ Xuân Diệu: Thơ Xuân Diệu bộc lộ lòng yêu đời, ham sống mãnh liệt, thể hiện ở: cảm hứng, đề tài, cảm xúc, giọng điệu.

* Chứng minh

– Phân tích định hướng ba thi phẩm “Vội vàng”, “Thơ duyên”, “Đây mùa thu tới” để làm sáng tỏ nhận định.

Lưu ý: Phân tích phải theo đúng đặc trưng của thể loại thơ trữ tình (chú ý vào các phương diện: cấu tứ, hình ảnh, ngôn ngữ, giọng điệu, nhạc điệu, khoảng trống, khoảng trắng trong thơ…); đúng phong cách thời đại thơ Mới; đúng đặc trưng của phương pháp sáng tác lãng mạn chủ nghĩa; đúng phong cách tác giả…

* Bình luận

– Đây là một nhận định đúng đắn, đã khái quát lên được những nét đặc sắc của hồn thơ Xuân Diệu.

– Chính những nét đặc sắc này đã tạo nên phong cách nghệ thuật độc đáo và sức hấp dẫn riêng của những vần thơ Xuân Diệu.

– Thơ Xuân Diệu đã khơi dậy trong ta tình yêu cuộc sống, khát vọng sống mãnh liệt, sống có ý nghĩa trong từng khoảnh khắc -> Chức năng giáo dục của văn học.

– Bàn về yêu cầu đối với nhà văn và độc giả.

  1. Kết bài

– Khẳng định lại vấn đề.

1.3.2. Đề bài 2: Nhận xét về bài thơ “Tương tư” của Nguyễn Bính có ý kiến cho rằng: “Giá trị của bài thơ không chỉ ở việc tác giả diễn tả khá mới mẻ cái tôi tha thiết, chân thành, khao khát yêu đương mà điều chủ yếu còn ở chỗ: nó gợi lên được hồn xưa của đất nước, đó là một điều quý giá vô ngần mà người ta không thể hiểu được bằng lí trí.”

Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy phân tích bài thơ “Tương tư” để làm sáng tỏ.

1.3.1.1. Xác định đề

– Kiểu bài: Phân tích định hướng để làm sáng tỏ một nhận định về một tác phẩm văn học.

– Vấn đề cần nghị luận: bài thơ “Tương tư” của Nguyễn Bính không chỉ diễn tả mới mẻ cái tôi chân thành, tha thiết yêu đương; mà còn gợi lên được hồn xưa của đất nước.

– Phạm vi tư liệu: Những hiểu biết về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác, phong cách nghệ thuật Nguyễn Bính; phong trào thơ Mới, bài thơ “Tương tư”

1.3.1.2. Lập dàn ý

  1. Mở bài

– Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề, trích nhận định.

  1. Thân bài

* Giải thích – Chứng minh (Hướng dẫn học sinh kết hợp giải thích và chứng minh theo hai luận điểm lớn)

  • Luận điểm 1:

– Nguyễn Bính là gương mặt xuất sắc trong phong trào thơ Mới. Thơ ông hội tụ đầy đủ những đặc điểm của thơ Mới, mà tiêu biểu nhất là khát khao bày tỏ tình cảm của cái tôi cá nhân. Trong bài thơ “Tương tư”, nhà thơ đã bày tỏ được những sắc thái tình cảm muôn thuở, nhưng mới mẻ của con người trong tình yêu: nhớ nhung, trách móc, giận hờn, ước ao và đọng lại là nỗi buồn da diết. Những cung bậc tình cảm ấy được bộc lộ một cách đằm thắm, chân thành và tha thiết.

– “Tương tư” đã trở thành một đề tài quen thuộc trong thơ ca đông – tây – kim – cổ:

+ Ca dao: “Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ…”, “Nhớ ai hết đứng lại ngồi”…. Nhưng nếu như ca dao thường là những bài lục bát ngắn, thì bài thơ “Tương tư” lại khá dài, có dáng dấp của lục bát trường thiên hiện đại, để diễn tả được những cung bậc cảm xúc phong phú của nhân vật trữ tình. Và mỗi bài thường là những mảnh tâm trạng, những khoảnh khắc cảm xúc, thì Nguyễn Bính lại diễn tả được mạch phong phú, trọn vẹn.

+ Truyện Kiều: “Sầu đong càng lắc càng đầy. Ba thu dọn lại một ngày dài ghê”

+Thơ ca Trung Quốc:

“Quân tại Tương giang đầu

Thiếp tại Tương giang vĩ

Tương tư bất tương kiến

Đồng ẩm tương giang thủy”

-> Cũng viết về đề tài này, nhưng bài thơ “Tương tư” của Nguyễn Bính vẫn mang một dấu ấn riêng đặc sắc: Tương tư thường là nỗi nhớ của hai người, nhưng ở đây là nỗi nhớ đơn phương của một chàng trai trong thế bị động ngồi thở than, kể lể…

– So sánh với Xuân Diệu:

“Bữa nay lạnh mặt trời đi ngủ sớm

Anh nhớ em, em hỡi! Anh nhớ em”

(Tương tư chiều)

Nếu như nỗi nhớ trong thơ của “ông hoàng thơ tình” mãnh liệt, nồng nàn; thì nỗi nhớ trong thơ Nguyễn Bính đằm thắm, nhưng không kém phần tha thiết.

– Phân tích diễn biến tâm trạng tương tư của chàng trai: từ nhớ thương, giận hờn, trách móc, ước ao, mơ tưởng, và kết lại bằng khát vọng về tình yêu bền vững, gắn liền với hôn nhân.

-> Tiểu kết: Nguyễn Bính đã bày tỏ một cách mộc mạc, hồn nhiên cái tôi cá nhân. Qua đó, chúng ta cũng cảm nhận được dấu ấn tâm hồn của cả một thế hệ thanh niên trí thức tiểu tư sản, với đời sống tâm hồn phong phú, nhạy cảm, khao khát yêu đương, và khát khao được sẻ chia, đồng điệu.

  • Luận điểm 2: bài thơ còn gợi lên được hồn xưa của đất nước

– “Hồn xưa của đất nước”: Nếu như Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân, Anh Thơ là những thi sĩ của cảnh quê, thì Nguyễn Bính lại là nhà thơ của hồn quê, thơ Nguyễn Bính đã lưu giữ mảnh hồn xưa của đất nước. Vì vậy, tác giả của “Tương tư” đã “đánh thức người nhà quê vẫn ẩn náu trong lòng ta” (Hoài Thanh).

– Bài thơ là bản nhạc lòng của một chàng trai đang yêu, nhưng ở tầng sâu của nó đã đem lại cho người đọc những rung cảm tinh tế, sâu sắc về một cái gì rộng lớn và thiêng liêng hơn. Bởi mối nhân duyên của đôi trai gái này gắn liền với khung cảnh và tạo vật thôn quê từ bao đời nay. Tình cảm của chàng trai giăng mắc cả không gian thôn làng (thôn Đoài – thôn Đông), đò giang, đầu đình, vương vấn trong những hình ảnh sóng đôi thân thuộc, gần gũi của làng quê: hoa bướm, giàn trầu, hàng cau…. Điều này tạo nên không gian quê kiểng cho nhân vật trữ tình bày tỏ nỗi tương tư; đồng thời cũng là phương tiện để nhà thơ bộc lộ lòng mình một cách tự nhiên, kín đáo, ý nhị. Đó chính là hồn quê quyện trong mối duyên quê và cảnh quê.

– Sự thể hiện “hồn xưa của đất nước” trong lối suy nghĩ, xúc cảm gắn với đất trời, cây cỏ thiên nhiên:

+ Cách tính thời gian: “Ngày qua ngày lại qua ngày. Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng”

+ Cách tính không gian của người dân quê: “Bảo rằng cách trở đò giang. Không sang là chẳng đường sang đã đành. Nhưng đây cách một đầu đình. Có xa xôi mấy mà tình xa xôi”

+ Thể hiện khát vọng: “Cau thôn Đoài nhớ trầu không thôn nào”.

– “Hồn xưa đất nước” lắng đọng trong nghệ thuật thể hiện: đậm đà phong vị ca dao:

– Giọng kể lể của điệu lục bát dân gian được sử dụng nhuần nhuyễn với những cách nói, cách ví von bóng gió mà sâu sắc.

– Cách bộc lộ tình cảm, tâm trạng kín đáo bằng lối nói vòng thông qua những hình ảnh cặp đôi đậm chất quê hương.

– Nghệ thuật dùng chất liệu ngôn từ dân gian: địa danh (thôn Đoài – thôn Đông), cách đo đếm thời gian rất quê, số từ, thành ngữ được sử dụng nhuần nhuyễn…

– Thể thơ lục bát điệu nói dân gian nhẹ nhàng, mà đằm thắm, da diết, giàu dư vị.

-> Nguyễn Bính đã dùng những hình thức dân gian để chuyển tải nội dung thẩm mĩ của thơ Mới. Với cái tôi độc đáo và sự cách tân nghệ thuật, Nguyễn Bính đã làm cho vườn hoa thơ Mới thêm giàu hương sắc bởi phong cách nghệ thuật độc đáo của riêng mình.

* Bình luận

– Nhận định rất tinh tế và sâu sắc, đã làm nổi bật được hồn cốt riêng của thơ Nguyễn Bính, vừa rất hiện đại trong việc thể hiện trực tiếp cái tôi thơ Mới khao khát yêu đương, vừa rất truyền thống khi khơi dậy được “hồn xưa của đất nước”. Điều đó đã tạo nên giá trị và sức hấp dẫn của thơ Nguyễn Bính.

– Bàn về quy luật kế thừa và cách tân trong văn học.

– Yêu cầu với nhà văn: “Trách nhiệm của nhà thơ là thể hiện rõ bản sắc của dân tộc mình trước thế giới” (Tagor)

– Yêu cầu với độc giả.

  1. Kết bài

– Khẳng định lại vấn đề.

  1. Đề mang tính chất văn học sử về phong trào thơ Mới

Trong kiểu bài này, người ra đề đưa ra một ý kiến hoặc một nhận định mang tính chất văn học sử về phong trào thơ Mới. Để giải quyết tốt vấn đề, yêu cầu học sinh phải nắm vững đặc trưng của thơ Mới lãng mạn; làm sáng tỏ được những đặc trưng đó qua việc phân tích các tác phẩm tiêu biểu của những tác giả xuất sắc. Như vậy, kiểu bài này vừa có tác dụng rèn luyện cho các em khả năng khái quát tổng hợp, vừa có kỹ năng cảm thụ, có cái nhìn bao quát, toàn diện, song không thoát ly những văn bản cụ thể. Hơn nữa, điều thiết yếu quyết định thành công của bài viết là học sinh phải có tư duy so sánh, đối chiếu để tìm ra sự khác biệt của phong trào thơ Mới so với thơ ca trung đại hoặc thơ cách mạng 1945 – 1975…

2.1. Một số đề bài

 2.1.1. Đề 1: “Được giải phóng khỏi tính quy phạm chặt chẽ và hệ thống ước lệ có tính phi ngã, mỗi nhà thơ bằng giác quan của chính mình như lần đầu tiên khám phá ra thế giới. Thế giới muôn màu sắc của ngoại cảnh, và thế giới phong phú, tinh vi của nội tâm con người.”

Bằng hiểu biết của em về thơ Mới, hãy làm sáng tỏ nhận định trên.

2.1.2.Đề 2: Từ việc phân tích, so sánh cảnh thu, tình thu, lời thơ trong bài “Thu vịnh” (Nguyễn Khuyến) và  “Đây mùa thu tới” (Xuân Diệu), anh chị hãy nêu nhận

biết của mình về sự khác biệt giữa thơ trung đại và thơ Mới.

2.1.3. Đề 3: “Phong trào thơ Mới không chỉ là cuộc cách mạng về cảm xúc thơ, thể thơ, mà còn là cuộc cách mạng về lời thơ. Màu sắc cá thể của cảm xúc in rất đậm trong mọi khía cạnh của ngôn từ như vốn từ, cá phép tu từ hay ngữ điệu, giọng điệu riêng. Lời thơ được tổ chức theo hình thức gần với chuỗi lời nói tự nhiên của cá nhân hơn, không câu nệ vào những quy định gò bó về số lượng từ, về âm thanh, về vần, về luật, về niêm…”

(Ngữ văn 11, SGK thí điểm, Ban KHXH và NV, bộ 1, trang 68)

Anh (chị) hiểu nhận định trên như thế nào? Hãy phân tích bài thơ “Vội vàng” để làm sáng tỏ?

2.2. Cách thức thực hiện

  1. Mở bài

– Giới thiệu vấn đề cần nghị luận, dẫn dắt vào nhận định (trích nguyên văn), phạm vi tư liệu.

  1. Thân bài

– Bước 1: Giải thích nhận định: Đây đều là nhận định mang tính chất văn học sử về đặc trưng, đóng góp, hay thành tựu của phong trào thơ Mới. Vì vậy, học sinh cần vận dụng kiến thức lý luận về đặc trưng của chủ nghĩa lãng mạn, đặc điểm của phong trào thơ Mới; so sánh đối chiếu với văn học trung đại…. để giải thích; rút ra vấn đề cần nghị luận.

– Bước 2: Chứng minh: Chọn những gương mặt tiêu biểu làm nên “cuộc cách mạng trong thi ca”, với những thi phẩm xuất sắc để làm sáng tỏ vấn đề.

Chú ý nguyên tắc: phân tích theo đúng đặc trưng thể loại thơ trữ tình, đúng phong cách tác giả, thời đại văn học và đặc điểm của trào lưu lãng mạn…. Đặc biệt, học sinh phải biết cách phân tích định hướng để làm sáng tỏ vấn đề cần nghị luận.

– Bước 3: Bình luận:

+ Khẳng định lại vấn đề cần nghị luận.

+ Đưa ra phản đề: Nên có sự đối sánh với văn học trung đại để đưa ra phản đề nếu có. Tránh xu hướng để ca tụng thơ Mới, lại phủ định sạch trơn mọi thành tựu của thơ trung đại.

+ Mở rộng, nâng cao vấn đề.

  1. Kết bài

– Khẳng định lại vấn đề.

2.3. Ví dụ

2.3.1. Đề bài 1: “Được giải phóng khỏi tính quy phạm chặt chẽ và hệ thống ước lệ có tính phi ngã, mỗi nhà thơ bằng giác quan của chính mình như lần đầu tiên khám phá ra thế giới. Thế giới muôn màu sắc của ngoại cảnh, và thế giới phong phú, tinh vi của nội tâm con người.”

Bằng hiểu biết của em về thơ Mới, hãy làm sáng tỏ nhận định trên.

2.3.1.1. Xác định đề

– Kiểu bài: Phân tích định hướng để làm sáng tỏ một nhận định về văn học sử.

– Vấn đề cần nghị luận: đặc điểm của phong trào thơ Mới là giải phóng cái tôi cá nhân. Cái tôi cá thể hóa trong việc bộc lộ cảm xúc và khám phá thế giới.

– Thao tác: giải thích, chứng minh, bình luận,…

– Phạm vi tư liệu: Đặc điểm của phong trào thơ Mới, thi pháp trung đại, một số bài thơ mới đã học và đọc thêm….

2.3.1.2. Lập dàn ý

  1. Mở bài

– Giới thiệu vấn đề, trích dẫn nhận định và phạm vi tư liệu.

  1. Thân bài

* Giải thích

– Giới thiệu khái quát về sự ra đời của phong trào thơ Mới: đáp ứng nhu cầu thẩm mĩ mới của một tầng lớp thanh niên, trí thức tiểu tư sản đã thức tỉnh ý thức cá nhân, khao khát được sống thành thực với chính mình và tắm trong bầu không khí của văn hóa Pháp.

– Thơ Mới được hiểu là thơ đổi mới cả về nội dung lẫn hình thức thơ, đổi mới cả tư duy và thi pháp thơ. Thơ Mới là thơ của cái tôi cá nhân cá thể lần đầu tiên xuất hiện trên thi đàn Việt Nam.

– So sánh với văn học trung đại: Tính quy phạm, hệ thống ước lệ, phi ngã là một trong những đặc điểm của thi pháp văn học trung đại – nền văn học phi ngã, gò bó về niêm, luật, đối, số câu, số chữ, vần điệu, nhịp điệu. Thơ Mới đã thoát khỏi hệ thống thi pháp của thơ ca trung đại. Tinh thần thơ Mới là ở cái tôi cá nhân. Thơ mới đã làm cho cái tôi bộc lộ phong phú, hấp dẫn.

+ Lần đầu tiên trong lịch sử thi ca Việt Nam xuất hiện một cái tôi cá thể hóa trong cách cảm thụ thiên nhiên và thế giới với cái nhìn mới mẻ, khác lạ, đầy ngỡ ngàng, ngây ngất.

+ Cái tôi thơ Mới nói lên một nhu cầu lớn về giải phóng tình cảm, khao khát được bộc lộ trực tiếp những cung bậc cảm xúc tinh tế, phức tạp của nội tâm con người.

– Lý giải tại sao thơ Mới ra đời lại đem đến những đổi mới như vậy:

+ Cuộc sống biến đổi, đòi hỏi văn học cũng phải vận động.

+ Bản chất của lao động nghệ thuật là sự sáng tạo.

+ Phong cách riêng của mỗi nhà thơ.

* Chứng minh

– Học sinh nên chọn hai thi phẩm tiêu biểu để chứng minh . Chú ý phân tích để làm sáng tỏ cái tôi cá nhân của tác giả, với cái nhìn đầy mới mẻ về thế giới và sự giãi bày thành thực những nỗi lòng sâu kín.

* Bình luận

– Nhận định đúng đắn, sâu sắc: chỉ khi thoát khỏi hệ thống thi pháp của văn học trung đại, thơ ca mới có khả năng diễn tả sự vô tận của thế giới ngoại cảnh và nội tâm con người.

– Phản đề: Thơ Mới không chỉ đổi mới về cảm xúc, nội dung tư tưởng, mà còn đổi mới cả thi pháp thơ: thể thơ tự do, hiệp vần linh hoạt, hình ảnh tươi mới, ngôn ngữ gợi cảm, giàu nhạc điệu,…

+ Nói như vậy, không phải thơ mang tính quy phạm là thiếu sáng tạo. Văn học trung đại vẫn có những tác giả tài năng có cá tính độc đáo đã phá vỡ tính quy phạm, đem đến tiếng nói nghệ thuật riêng: tiếng thơ dân dã mà duyên dáng, đáo để của Hồ Xuân Hương, tiếng thơ tài hoa uyên bác của Nguyễn Du,…

– Có được những thành tựu đó là do công lao rất lớn của các nhà thơ Mới: nhiệt huyết, tình yêu tiếng Việt và tài năng, công phu lao động nghệ thuật…

  1. Kết bài

– Khẳng định lại vấn đề.

2.3.2. Đề 2: “Phong trào thơ Mới không chỉ là cuộc cách mạng về cảm xúc thơ, thể thơ, mà còn là cuộc cách mạng về lời thơ. Màu sắc cá thể của cảm xúc in rất đậm trong mọi khía cạnh của ngôn từ như vốn từ, cá phép tu từ hay ngữ điệu, giọng điệu riêng. Lời thơ được tổ chức theo hình thức gần với chuỗi lời nói tự nhiên của cá nhân hơn, không câu nệ vào những quy định gò bó về số lượng từ, về âm thanh, về vần, về luật, về niêm…”

(Ngữ văn 11, SGK thí điểm, Ban KHXH và NV, bộ 1, trang 68)

Anh (chị) hiểu nhận định trên như thế nào? Hãy phân tích bài thơ “Vội vàng” để làm sáng tỏ?

2.3.2.1. Xác định đề

– Kiểu bài: Phân tích định hướng để làm sáng tỏ một nhận định về văn học sử.

– Vấn đề cần nghị luận: Những đóng góp và thành tựu của phong trào thơ Mới cả về cảm xúc và hình thức nghệ thuật.

– Thao tác: giải thích, chứng minh, bình luận,…

– Phạm vi tư liệu: thi phẩm “Vội vàng” của Xuân Diệu.

2.3.2.2. Lập dàn ý

  1. Mở bài

– Giới thiệu vấn đề, trích dẫn nhận định và phạm vi tư liệu.

  1. Thân bài

* Giải thích nhận định: Đánh giá công lao, thành tựu lí luận và thực tiễn to lớn của phong trào thơ Mới (1932-1945) trong công cuộc hiện đại hóa thơ tiếng Việt, đưa thơ tiếng Việt vào quỹ đạo văn học thế giới, mới về cảm xúc, thể thơ, mới về lời thơ, phủ định những yếu tố gò bó của thơ trung đại nhưng không phải không tiếp thu những tinh hoa của thơ cổ điển. Thơ Mới mang dấu ấn của cái Tôi cá nhân của nhà thơ so với thơ trung đại là cái ta cộng đồng, gò bó về niêm, luật, đối, hạn chế ngặt nghèo về câu chữ, vần điệu, nhịp điệu.

– Nguyên nhân:

+ Do sự trỗi dậy mạnh mẽ của ý thức cá nhân.

+ Sự ảnh hưởng của văn hóa văn học phương Tây, đặc biệt là văn hóa, văn học Pháp.

+ Sức sống mãnh liệt của lòng yêu nước,tinh thần dân tộc trong huyết quản của các nhà thơ Mới.

* Chứng minh:

– Phân tích bài thơ “Vội vàng” trên các phương diện: cảm hứng thời gian mới, cấu tứ mới mẻ, thể thơ mới mẻ, bố cục mới mẻ, lời thơ mới mẻ, các biện pháp tu từ mới mẻ, thi pháp mới, điệu thơ nói mang cái gấp gáp, vội vàng của hơi thở nồng đượm tình yêu cuộc sống… tất cả mang đậm dấu ấn Xuân Diệu – nhà thơ của khát khao giao cảm với đời sống, sống cuống quýt, hối hả, vội vàng. Không gian là mảnh vườn tình ái thắm sắc, đượm hương, thời gian như một đại lượng tiêu cực làm tiêu ma những giá trị sự sống, yêu thiên nhiên, yêu cuộc đời như là tình tự với thiên nhiên, ái ân với cuộc sống…

* Bình luận

– Nhận định đúng đắn, đã khái quát được những đóng góp mới mẻ của phong trào thơ Mới, có ý nghĩa to lớn thúc đẩy thơ ca Việt Nam cách tân theo hướng hiện đại.

– Bàn về quy luật sáng tạo và quy luật kế thừa – cách tân trong văn học.

– Yêu cầu với nhà thơ và độc giả.

  1. Kết bài

– Khẳng định lại vấn đề.

 

****************

 

Chủ nghĩa lãng mạn trong văn học có vai trò to lớn, thúc đẩy sự phát triển của văn học nhân loại. Khác với chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa lãng mạn có những đặc trưng riêng: đề cao tình cảm của cá nhân con người; thế giới nhân vật với những con người đơn độc nhưng đầy kiêu hãnh, kiểu nhân vật tướng cướp, nhân vật nổi loạn… Các nhà lãng mạn chủ trương xây dựng những tính cách phi thường trong những hoàn cảnh phi thường; phát huy tối đa hiệu quả của nghệ thuật tương phản, phóng đại… để tô đậm những cái khác thường, dị biệt ngay trong những cái bình thường. Với nguyên tắc mĩ học đó, các tác giả đã xây dựng được những tác phẩm bất hủ, kết tinh khát vọng về một xã hội tốt đẹp, lý tưởng cho con người. Chủ nghĩa lãng mạn với những đóng góp tích cực đã trở thành động lực của thời đại.

Tìm hiểu đặc trưng của chủ nghĩa lãng mạn không phải là một vấn đề mới. Những gì chúng tôi trình bày ở sáng kiến kinh nghiệm này chỉ là ý kiến nhỏ của bản thân, chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý giá của quý thầy cô và bạn bè đồng nghiệp.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Đặng Anh Đào (cùng các tác giả khác), Văn học phương Tây, NXBGD, H.2002.
  2. Phan Cự Đệ (cùng các tác giả khác), Văn học Việt Nam 1900 – 1945, NXBGD, H.2003.
  3. Lê Bá Hán (chủ biên), Tinh hoa thơ Mới thẩm bình và suy ngẫm, NXBGD. H.1998.
  4. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Từ điển thuật ngữ văn học, NXB ĐHQG, H.2000
  5. Phương Lựu (chủ biên) NXBGD, HN. 2002.
  6. Nguyễn Đăng Mạnh, Những bài giảng về tác gia văn học tập 1, NXB ĐHQG, H.1999.
  7. Nguyễn Đăng Mạnh (Chủ biên), Phân tích bình giảng tác phẩm văn học lớp 11 nâng cao, NXBGD, H.2007.
  8. Lữ Huy Nguyên (tuyển chọn), Xuân Diệu thơ và đời, NXBVH, H.1998.
  9. Chu Văn Sơn, Ba đỉnh cao thơ Mới, NXBGD, H.2003.
  10. Trần Đình Sử (Tổng chủ biên), Ngữ văn 11 nâng cao, tập 1, NXBGD, H. 2007.
  11. Trần Đình Sử (Tổng chủ biên), Ngữ văn 11 nâng cao, tập 2, NXBGD, H. 2007.
  12. Trần Đình Sử, Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại, NXBGD, H.1999.
  13. Hoài Thanh – Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học, H.1999.

 

MỤC LỤC

  1. Tên sáng kiến…………………………………………………………………….1
  2. Tác giả…………………………………………………………………………..1

III. Nội dung sáng kiến…………………………………………………………….1

  1. Giải pháp cũ thường làm…………………………………………………………1
  2. Giải pháp mới cải tiến…………………….……………………………………..2
  3. Hiệu quả kinh tế xã hội dự kiến đạt được………………………………………2
  4. Điều kiện và khả năng áp dụng………………………………………………….2

PHẦN PHỤ LỤC

Chương 1: Khái quát chung về văn học lãng mạn……………………………………3

  1. Cơ sở hình thành …………………………………………………………………3

1.1. Cơ sở xã hội…………………………………………………………………….3

1.2. Cơ sở ý thức……………………………………………………………………3

  1. Giới thuyết về khái niệm: chủ nghĩa lãng mạn trong văn học…………………..5

Chương 2: Những nguyên tắc mĩ học của chủ nghĩa lãng mạn……………………6

  1. Đề cao tình cảm của cá nhân con người…………………………………………6
  2. Nhân vật trung tâm………………………………………………………………12

2.1. Kiểu nhân vật cô độc…………………………………………………………12

2.2. Kiểu nhân vật tướng cướp – nhân vật nổi loạn……………………………….14

  1. Mối quan hệ giữa tính cách và hoàn cảnh……………………………………….16
  2. Nghệ thuật tương phản…………………………………………………………17

4.1. Tương phản trong xây dựng hình tượng nhân vật……………………………18

4.1.1. Tương phản trong một nhân vật……………………………………………18

4.1.2. Tương phản giữa hai nhân vật……………………………………………….18

4.1.3. Tương phản giữa nhân vật và hoàn cảnh……………………………………19

4.2. Tương phản trong nghệ thuật dựng cảnh……………………………………..20

4.3. Tương phản giữa các chi tiết…………………………………………………22

4.4. Tương phản giữa những tư tưởng…………………………………………….24

Chương III: Hướng dẫn học sinh thực hành làm văn về đặc trưng của chủ nghĩa lãng mạn…………………………………………………………………………..26

  1. Đề bài về các tác giả, tác phẩm thơ Mới……………………………………….26

1.1. Một số đề bài………………………………………………………………….26

1.2. Cách thức thực hiện ………………………………………………………….28

1.3. Ví dụ…………………………………………………………………………..28

  1. 2. Đề mang tính chất văn học sử về phong trào thơ Mới………………………..35

2.1. Một số đề bài…………………………………………………………………35

2.2. Cách thức thực hiện ………………………………………………………….36

2.3. Ví dụ………………………………………………………………………. …36

TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………………..42

 

Tác giả:

Giáo viên:  

        1. Vũ Thị Yến

  1. Lê Trâm Anh

 Xem thêm :

Sáng kiến kinh nghiệm môn Văn

 

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *