Phân tích hình tượng Sóng trong bài thơ Xuân Quỳnh, liên hệ vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu

Đề bài: Phân tích hình tượng sóng trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh.

Anh/chị cảm nhận được gì về vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu qua hình tượng này?

Dàn ý phân tích hình tượng sóng

Giới thiệu tác giả, tác phẩm

– Xuân Quỳnh (1942 – 1988) là một nhà thơ nữ xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại. Thơ Xuân Quỳnh thể hiện một trái tim phụ nữ hổn hậu, chân thành, khao khát tình yêu, biết nâng niu hạnh phúc đời thường bình dị.

– Sóng (in trong tập Hoa dọc chiến hào) được sáng tác năm 1967, tiêu biểu về nhiều mặt cho hồn thơ Xuân Quỳnh.

Phân tích hình tượng sóng

Sóng là hình tượng trung tâm của bài thơ và là một hình tượng ẩn dụ. Cùng với hình tượng em (hai hình tượng này song hành suốt tác phẩm), sóng thể hiện những trạng thái, quy luật riêng của tình yêu cùng vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ rất truyền thống mà rất hiện đại.

Sóng có nhiều đối cực như tình yêu có nhiều cung bậc, trạng thái và như tâm hồn người phụ nữ có những mâu thuẫn mà thống nhất (Phân tích hai câu đầu với kết cấu đôi lập – song hành và với việc đặt các từ dịu êm, lặng lẽ ở cuối câu tạo điếm nhấn ).Hành trình của sóng tìm tới biến khơi như hành trình của tình yêu hướng về cái vô biên, tuyệt đích, như tâm hồn người phụ nữ không chịu chấp nhận sự chật hẹp, tù túng (Phân tích hai câu sau của khổ 1 với kiểu nói nhân mạnh như không hiểu nổi, tìm ra tận…).

Điểm khởi đầu bí ẩn của sóng giống điểm khởi đầu và sự mầu nhiệm,khó nắm bắt của tình yêu (Phân tích các khổ 3, 4 của bài thơ vói điệp từ nghĩ và sự xuất hiện của nhiều câu hỏi…).

Sóng luôn vận động như tình yêu gắn liền  với những khát khao trăn trở không yên,  như người phụ nữ khi yêu  luôn da diết nhớ  nhung, cồn cào ước vọng về một tình yêu vững bền, chung thủy ( phân tích các  khổ 5 6 7 8 của bài thơ với lối sử dụng điệp từ , điệp ngữ , điệp cú pháp , với hiệu quả của hình thức đối lập trên – dưới, thức- ngủ, bắc- nam, xuôi- ngược, với kiểu giãi bày tình cảm bộc trực như Lòng em nhớ đến anh/ cả trong mơ còn thức…).

— Sóng là hiện tượng thiên nhiên vĩnh cửu như tình yêu là khát vọng muôn đời của con người, trước hết là người phụ nữ (nhân vật trữ tình) muôn dâng hiến cả cuộc đời cho một tình yêu đích thực (Phân tích khổ cuối của bài thơ với  ý nghĩ và cách nói rất táo bạo của một người con gái hiện đại: Làm sao được tan ra…).

Nêu cảm nhận về vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu qua hình tượng sóng

Trước hết, hình tượng sóng cho ta thấy được những nét đẹp truyền thống của người phụ nữ trong tình yêu: thật đằm thắm, dịu dàng, thật hồn hậu dễ thương, thật chung thủy.                                                                  ;

Hình tượng sóng cũng thể hiện được nét đẹp hiện đại của người phụ nữ trong tình yêu: táo bạo, mãnh liệt, dám vượt qua mọi trở ngại đế giữ gìn hạnh phúc, dù có phấp  phỏng trước cái vô tận của thời gian, nhưng vẫn vững tin vào sức mạnh của tình yêu.

Kết luận về bài sóng

Sóng là bài thơ tình thuộc loại hay nhất của Xuân Quỳnh nói riêng và thơ Việt Nam hiện đại nói chung.

Riêng việc sử dụng hình tượng sóng làm ẩn dụ thì không mói, nhưng những tâm sự về tình yêu cùng cách khai thác sức chứa của ẩn dụ này lại c ó những nét thực sự mới mẻ. Xuân Quỳnh quả đã tìm được một hình tượng thơ đẹp đê giãi bày tình yêu dịu dàng mà mãnh liệt, gần gũi, riêng tư mà rộng mở, phóng khóang của người phụ nữ.                                                                                                                                                 I

Bài văn phân tích hình tượng sóng

Trước Xuân Quỳnh đã có không ít thi sĩ viết  về tình yêu – đề tài muôn thuở và không bao giờ vơi cạn của thi ca – thế nhưng, cũng với đề tài này, nữ sĩ Xuân Quỳnh đã thực sự để  lại dấu ấn  trên thi đàn Việt Nam. Từ những năm khói lửa chiến tranh, những vần thơ của Xuân Quỳnh đã làm bổi hồi bao trái tim người đọc. Thi sĩ đã đem đến cảm nhận về một tình yêu thuần khiết, dung dị và hết sức dạt dào, tha thiết. Sóng có thế coi là một trong số những bài thơ về tình yêu hay nhất của nữ sĩ. Có người đã từng nói Sóng của Xuân Quỳnh là một bài ca về một tình yêu giản dị mà đẹp đến mê lòng. Tình yêu luôn có nhu cầu được chia sẻ và giãi bày. Xuân Quỳnh đã mượn “sóng” – một hình ảnh đặc biệt – để bộc lộ tình yêu của mình. Ngay từ khổ thơ đầu tiên, nhà thơ đã có những phát hiện mới mẻ về “tính cách” của “sóng”:

Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ

Thi sĩ đã khám phá ra những trạng thái đôi lập trong con sóng: dữ dợi, ổn ào, mạnh mẽ đến cuồng nhiệt và “dịu êm”, “lặng lẽ”, sâu lắng đến dịu dàng. Bản tính của sóng thật thất thường như tâm hồn người con gái đang yêu. Đây là hai câu thơ tự bạch, tự thú táo bạo mà dịu dàng. Táo bạo vì nó quá mãnh liệt và chân thực. Dịu dàng vì sau những dữ dội, ồn ào, tình yêu vẫn đổ  về phía cuối câu thơ để lắng vào dịu êm lặng lẽ – đó là cái dịu dàng con gái làm nên chất nữ tính của hình tượng sóng. Xuân Quỳnh đã tinh tế  biết bao khi nhận ra hai trạng thái tưởng chừng như đối lập của con sóng để khám phá về tình yêu. Tinh yêu đâu phải dễ lí giải, nó cũng “nắng mưa thất thường”, cũng đầy mâu thuẫn. Trước trạng thái ấy, Xuân Quỳnh đã thổi vào con sóng một niềm khao khát:

Sông  không hiểu nổi mình 
Sóng tìm ra tận bể 

Ngay từ đầu, con sóng tâm trạng đã ùn vào, vỗ sóng trong tâm hồn người đọc. Ta bỗng nhận ra trong bản thân mình sự đồng cảm với thi sĩ và với chính con sóng kia. Con người đâu phải lúc nào cũng hiếu rõ về mình. Chính vì thế trong khổ tiếp theo, tứ thơ chuyên từ hình tượng sóng sang những suy nghĩ về tình cảm con người, vừa đột ngột vừa tự nhiên:

Ôi con sóng ngày xưa

Và ngày sau vẫn thế

Nỗi khát vọng tình yêu

Bồi hồi  trong ngực trẻ

Từ ngày xưa đến ngày sau, liên tưởng thơ đã vươn tới cái muôn đời. Ta cảm nhận sâu sắc về một tình yêu thủy chung, cháy bỏng lúc nào cũng phập phồng “trong ngực trẻ”. Từ sóng cho tới tình yêu vốn là tứ thơ quen thuộc xưa nay. Người xưa từng mượn sóng mà hạ lời thề:

Bao giờ cho sóng bỏ ghềnh,

Cù lao bỏ biển anh mới đành bỏ em.

(Ca dao)

Con sóng si tình của Xuân Diệu từng khát khao:

Cho anh làm sóng biếc

Hôn mãi cát vàng em

Hôn thật khẽ, thật êm

Hôn ôm đềm mãi mãi

(Biển)

Nét riêng của Xuân Quỳnh là tạo cho con sóng sự nữ tính đấy sức sống qua các trạng thái khác nhau: Có cái bồi hồi rất trẻ trung; có cái dữ dội, mãnh liệt nhưng còn có cá cái dịu đàng sâu lắng. Xuân Quỳnh xoay trở con sóng yêu đầy lo âu để cảm nhận nó trên nhiều chiều đối lập. Đó là cách cảm nhận nồng nàn mà có chiều sâu trên cả hai mặt cảm xúc và nhận thức.

Những khổ thơ tiếp theo, sóng từ đối tượng cảm nhận được chuyển thành đối tượng để suy tư. “Trước muốn trùng sóng bể, dòng suy tư cuộn lên như sóng không cùng, những câu hỏi hóa thành cuộc đối thoại lớn với vũ trụ về tình yêu:

Sóng bắt đầu từ gió 
Gió bắt đầu từ đâu? 
Em cũng không biết nữa 
Khi nào ta yêu nhau 

Vói những câu hỏi, Xuân Quỳnh đang muốn truy tìm nguyên nhân, truy tìm ngọn nguồn của tình yêu. Song dường như những câu hỏi ấy chẳng bao giò có thể tìm được một câu trả lời thích đáng. Thiên nhiên bí ấn còn có thể cắt nghĩa nhưng “làm sao cắt nghĩa được tình yêu?” (Xuân Diệu), Xuân Quỳnh đã diễn đạt sâu sắc cái mà người ta gọi là “Trái tim có những quỵ luật riêng mà lí trí không thể hiểu được”. Tình yêu cần  có lí trí nhưng trước hết đó là câu chuyện của trái tim, cho nên không thể dùng lí trí tính táo để xác định sự bắt đầu của tình yêu. Chính sự tưởng chừng như bất lực trong những câu trả lời đã đưa tình yêu trở về với bản chất của nó. Đặc biệt, câu thơ: “Em cũng không biết nữa/ Khi nào ta yêu nhau” có một giọng điệu hết sức đáng yêu. Nếu đảo lại trật tự; “Khi nào ta yêu nhau – Em cũng không biết nữa”, ý thơ sẽ lăn về  phía lí trí tỉnh táo. Bằng sự khéo léo tài tình của Xuân Quỳnh trong cách sử dụng ngôn ngữ, ta thấy những vần thơ dường như diễn tả rất chính xác nỗi choáng váng của cô gái khi vừa chạm vào cái vùng chói sáng của trái tim con người – tình yêu. Hai câu thơ không chỉ nói về tình yêu mà ta có cảm giác những câu chữ cũng đang rung động theo trái tím thiếu nữ, nó giống như cái lắc đầu đầy yêu thương và bối rối của một cô gái đáng yêu. Nỗi thổn thức ấy tiếp tục lăn mình cùng sóng nước, vươn dài theo thời gian, mênh mang cùng những câu thơ của Xuân Quỳnh:

Con sóng dưới lòng sâu 
Con sóng trên mặt nước 
Ôi con sóng nhớ bờ 
Ngày đêm không ngủ được 
Lòng em nhớ đến anh 
Cả trong mơ còn thức 

Tình yêu von gắn liền với nỗi nhớ. Đến đây mỗi câu thơ dường như đểu chan chứa một nỗi nhớ – nỗi nhớ da diết, khắc khoải. Đoạn thơ có hai cặp hình ảnh so sánh song song, khá đắc địa: sóng vỗ bờ cả ngày lần đêm, em nhớ anh ” cả trong mơ còn thức”. Hai cặp hình ảnh song hành, cộng hưởng nhằm diễn tả tình yêu sâu sắc hơn. “Cả trong mơ còn thức” – câu thơ là một phát hiện đầy tinh tế về quy luật của tình yêu: sinh hoạt thường ngày của con người còn có giới hạn bởi thức và ngủ nhưng tình yêu phá vỡ mọi giới hạn, thông trị cả tiềm thức, giấc mơ, thao thức đến khôn cùng. Chỉ có những trái tim yêu hết mình mới thống trị cả thời gian, cả ý thức lẫn tiềm thức như vậy. Tình yêu quả là một sự “bất thường” giữa đời thường. Xuân Quỳnh đã thực sự thông suốt mọi ngỏ ngách của tình yêu vì bà chính là một con người có trái tim yêu không bao giờ mệt mỏi, luôn khát yêu, khát sống bằng cả trái tim. Tình yêu có mặt trong thơ, lên ngôi và tỏa sáng trong phần lớn các tác phẩm của bà. Ta đã bắt gặp không ít những tình yêu vượt qua mọi giới hạn của không gian, của thời gian để hướng tới cái vĩnh cửu trong thơ Xuân Quỳnh:

Những ngày không gặp nhau

Biển bạc đầu thương nhớ

Những ngày không gặp nhau

Lòng thuyền đau rạn vỡ

Nếu từ giã thuyền rồi

Biển chỉ còn sóng gió

Nếu phải cách xa anh

Em chi còn bão tố

(Thuyền và biển)

Thời gian chật chội  bởi giới hạn, suy tư lại mở ra không gian:

Dẫu xuôi về phương bắc 
Dẫu ngược về phương nam 
Nơi nào em cũng nghĩ 
Hướng về anh – một phương 

Hai chữ xuôi, ngược thấp thỏm một linh cảm lo âu trước cuộc đòi bất trắc. Vì thế câu thơ “Hướng về anh— một phương” nôm na mà chắc nịch như một sự khẳng định tuyệt vời cho một tình yêu mãnh liệt. Người ta thường nói ngược vẽ phương bắc và xuôi về phương Nam nhưng có lẽ trong tình yêu luôn có những thứ trái ngang, những điều đi ngược lại cái bình thường nhưng suy cho cùng, điều quan trọng nhất của tinh yêu phải chăng chính là sự nhung nhớ, sự gặp gỡ của những trái tim yêu? Và đối với người con gái đang yêu, trái tim họ luôn chỉ hướng về một phương “anh” duy nhất. Những suy tư lấy hình ảnh “sóng” làm trung tâm là sự kết hợp tuyệt vời giữa cảm xúc vàlí trí, tạo cảm giác vừa bổi hồi vừa lắng sâu.

Cao trào của bài thơ dồn thành khát vọng trào dâng trong ba khổ thơ cuối – khát vọng tìm đến tựa từ một niềm tin:

 

Ở ngoài kia đại dương 
Trăm nghìn con sóng đó 
Con nào chẳng tới bờ 
Dù muôn vời cách trở 

Cuộc đời tuy dài thế 
Năm tháng vẫn đi qua 
Như biển kia dẫu rộng 
Mây vẫn bay về xa 

Cái hay của lỗi diễn đạt của Xuân Quỳnh không chỉ ở chỗ mượn quy luật của sóng biển, mây trời để nói về quy luật của tình yêu. Độ sâu của nó bắt nguồn từ nhận thức rất đời thường : cuộc sống là dài, là rộng, là muôn vời cách trở, cuộc sống tràn đầy những điều bất ngờ  vì thế mà cũng đầy bất trắc. Lời thơ như nỗi lo đau đáu luôn âm thầm  giày vò, như những đợt sóng ngầm trong trái tím khát yêu của nữ sĩ  Xuân Quỳnh. Song dù thế nào đi chăng nữa, tình yêu vẫn sẽ  vượt qua mọi trở ngại để  vươn tới đích như những con sóng “Con nào chẳng tới bờ
Dù muôn vời cách trở “.Với niềm tin ấy, khát vọng cúa Xuân Quỳnh vừa mạnh mẻ vừa ấm áp:

Làm sao được tan ra 
Thành trăm con sóng nhỏ 
Giữa biển lớn tình yêu 
Để ngàn năm còn vỗ

Mong ước hóa thân vào sóng thật lớn lao. Khát vọng được “tan ra” để bất tử cùng tình yêu (“ngàn năm còn vỗ”) thật cháy bỏng. Tứ tha có sự phát triển giống như sự nhận thức và lí giải về sự tồn tại mãnh liệt của tình yêu. Có lẽ chưa bao giờ ta thấy trên thi đàn Việt Nam có một nữ thi sĩ bộc lộ tình yêu một cách mãnh liệt mà cũng thật dung dị đến vậy.

Lưu Khánh Thơ nhận xét về thơ Xuân Quỳnh như sau: “Ở Xuân Quỳnh, tình yêu không bao giờ chỉ đơn thuần là tình yêu, nó còn tượng trưng cho cái đẹp, cái tôl, cái cao quý của con người, tượng trưng cho niềm khát khao được hoàn thiện mình”. Với sự hóa thân vào sóng, Xuân Quỳnh đã truyền sức sống dào dạt vào tác phẩm như sự khao khát tình yêu luôn cháy bỏng trong trái tim nữ sĩ, làm cho những Sóng hay Thuyền và biển sống mãi với thời gian nhu truyền thuyết về tình yêu mãi mãi làm say đắm bao trái tim người đọc.

( Mai Phương Thảo )

Dẫn theo : Trần Liên Quang, Đỗ Thị Yên

Xem thêm : Tuyển tập đề thi về bài Sóng Xuân Quỳnh, những bài văn phân tích về tác phẩm : Sóng Xuân Quỳnh

Phân tích bức tranh tứ bình trong bài Việt Bắc Tố Hữu SGK văn 12

Bức tranh tứ bình Việt Bắc

Mở bài cho bài thơ Việt Bắc

Việt Bắc là một trong những đỉnh cao của Tố Hữu và cũng là của thơ ca Việt Nam thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp. Mượn lời đối đáp của một đôi bạn tình trong phút chia tay, bài thơ thể hiện tình sâu nghĩa nặng của các dân tộc Việt Bắc đối  với cách mạng, với Đảng và Bác Hồ; đồng thời bộc lộ tình cảm mặn nồng thủy chung của người cán bộ cách mạng, cán bộ kháng chiến đối với Việt Bắc mà nhà thơ gọi một cách trân trọng là “quê hương cách mạng”. Rời Việt Bắc, bao nhiêu nỗi nhớ dâng đầy trong lòng người ra đi. Người cán bộ cách mạng không quên dành một khoảng nhớ thiết tha cho thiên nhiên và con người Việt Bắc. Nội dung ấy được thể hiện bằng năm cặp thơ lục bát vừa mượt mà, đằm thắm, vừa êm ả như ca dao lại vừa trang trọng như những vần thơ cổ điển:

Ta về, mình có nhớ ta 
Ta về ta nhớ những hoa cùng người 
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi 
Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng. 
Ngày xuân mơ nở trắng rừng 
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang 
Ve kêu rừng phách đổ vàng 
Nhớ cô em gái hái măng một mình 
Rừng thu trăng rọi hoà bình 
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung. 

Thân bài

 

Đoạn thơ này thể hiện nỗi nhớ của người miền xuôi đối  với quê hương cách  mạng nhưng nếu tách ra thì nó giống như một bài thơ hoàn chỉnh – bài thơ ca ngợi thiên nhiên và con người Việt Bắc, mảnh đất đã từng gắn bó máu thịt với người cán bộ miền xuôi. Những câu thơ tự nhiên như tuôn chảy từ trong lòng,  không một chút dụng công mà thiên nhiên Việt Bắc cũng như con người nơi đây hiện lên trên trang thơ đẹp như một bộ tứ bình. Vì sao vậy? Có lẽ vì thi nhân đã bao nhiêu năm trời sống cùng đồng bào Việt Bắc, mến thương từng  hoạt động của họ, đã bao nhiêu mùa ngắm nhìn phong cảnh, thuộc các mùa  hoa của núi rừng. Nói cách khác,thiên nhiên và con người Việt Bắc đã có chỗ đứng danh dự trong tâm hồn nhà thơ, làm nên máu thịt của thi sĩ để lúc này,  khi chia tay Việt Bắc, cảm xúc yêu thương đã đến độ chín ấy như tự nó chảy trên trang giấy mà thành thơ vậy. Phải chăng đó là chân lí mà Chế Lan Viên đã [từng khái quát: “Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”?

Đoạn thơ gồm năm cặp thơ lục bát thì cặp thơ đầu tiên giới thiệu chung về nội dung và cảm xúc, vừa là lời thoại lại vừa là cái có đế tác giả bày tỏ lòng mình:

Ta về, mình có nhớ ta 
Ta về ta nhớ những hoa cùng người 

Cuộc chia tay giữa những người kháng chiến và Việt Bắc, giữa miền ngược và miền xuôi đã trở thành cuộc chia tay giữa những người yêu nhau với lối hát giao duyên, vói cách xưng hô “mình” – “ta” thân thiết, trìu mến. Đây cũng chính là sự nổi tiếp giọng điệu trữ tình thông nhất trong toàn bài. Cách điệp từ ” ta về”  ở đau câu đã tạo ra một sự đăng đối rat tinh tế. Câu trên là hòi người, câu dưới lại là giãi bày lòng mình với một giọng điệu chân tình, ngọt ngào, tha thiết. Đặt câu hỏi trước khi giãi bày tâm sự, tác giả Tố Hữu đà khiến cho tình cảm của kẻ ở người đi có quan hệ hai chiều và nhờ đó mà quân quýt, khắng khít, khiến cho lòng người vương vấn nhiều hơn. Có lẽ đó cùng là lí do khiên cho cách xưng hô “mình” — “ta” cứ trở đi trở lại trong hai dòng thơ và chiếm tới một nửa dung lượng của câu thơ sáu chữ. Cùng với phong vị phảng phất ca dao, câu thơ đã tạo ra một lối nói đưa đẩy mặn mà, thắm thiết. Nỗi nhớ về những tháng ngày gắn bó với cảnh và người Việt Bắc cứ hiện dần lên trong tâm trí người đi: nhớ trước nhất  là “hoa cùng người”. Từ “cùng” được sử dụng không chỉ biểu hiện sự phong phú của vẻ đẹp miền đất này mà còn gợi lên một cảm giác giao hòa, đăng đốì. Hoa và người cùng hòa quyện, cùng sóng đôi trong nỗi nhớ cũng như cái đẹp thiên nhiên Việt Bắc không thể tách ròi vẻ đẹp của con người noi đây.

Bốn cặp lục bát tiếp theo thực sự là một bộ tranh tứ bình ngợi ca thiên nhiên và con người Việt Bắc – một bộ tranh lộng lẫy những sắc màu và ánh sáng, được hiện lên qua nỗi nhớ của tác giả. Đầu tiên là hình ảnh một cánh rừng xanh với hoa chuối đỏ, mà lại đỏ tươi như những bó đuốc bập bùng cháy xua đi cái giá rét của mùa đông;

“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi” Câu thơ miêu tả mùa đông nơi núi rừng Việt Bắc nhưng không gợi lên cái lạnh lẽo, hoang vu, thê lương mà thể hiện ấn tượng về một cuộc sống đang hồi sinh trên quê hương cách mạng. Mùa đông xuất hiện trong câu thơ tươi tắn và ấm áp. Trên cái nền xanh mênh mông của núi rừng Việt Bắc bỗng tràn ngập một gam màu rực rờ, ấm nóng với hình ảnh của hoa chuối rừng. Nó giống như những đổm lửa lớn mang một vẻ đẹp lạ kì, đầy ân tượng. Như sự tiếp nối của thời gian, đông qua thì xuân đến, hai câu tiếp theo, nhà thơ tiếp tục miêu tả mùa xuân Việt Bắc:

 

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Tác giả giúp ta cảm nhận một màu trắng lung linh, tinh khiết làm bừng sáng cả không gian, bừng sáng cả đất trời, bừng sáng cả bức tranh thơ. Tác giả tả cảnh mùa xuân bằng màu trắng tinh khôi, một màu trắng choáng ngợp như dâng tràn sức sống mới mẻ của mùa xuân đẹp đẽ, thơ mộng đên bâng khuâng. Nó khiến ta không thể không liên tưởng đến màu trắng cùng trong trẻo nhu thế trong câu thơ của Nguyễn Du:

Cỏ non xanh tận chân trời

 Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

(‘Truyện Kiều)

Có lẽ Tố Hữu rất tâm đắc vói hình ảnh mơ nở trắng rừng này nên trong bài thơ Theo chân Bác, nó lại xuất hiện một lần nữa:

Ôi sáng xuân nay xuân 41

Trắng rừng biên giới nở hoa mơ.

Sẽ thật thiếu sót nếu không miêu tả mùa hè Việt Bắc. Nơi đây có những vẻ đẹp, lãng mạn, mộng mơ mà không nơi nào có. Đó chính là hình ảnh:

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Ai đã từng đến Việt Bắc hẳn còn nhó vẻ đẹp kì ảo của rừng phách. Những ngày cuối xuân, rừng phách tràn ngập một màu xanh nhưng kì diệu thay, những nụ hoa vàng đã núp mình trong những kẽ lá ,Khi hè sang , chúng nhất loạt trổ hoa. Chỉ vài ba ngày, cả rừng phách như được nhuộm một sắc vàng kì ảo. Nhà thơ dùng chữ “đổ’ thật hay, với từ này, màu vàng như một thứ nước nhuộm vàng cả mặt đất và chân trời, nó khiến ta liên tưởng đến câu thơ của Xuân Diệu: “Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá”. Nhưng cái hay của câu tho Tố Hữu là chỗ: Khi tiếng ve kêu thì rừng phách đổ vàng. Tố Hữu làm ta liên tưởng đên mối quan hệ kì lạ giữa sắc màu và âm thanh . Ta có cảm giác bản nhạc của mùa hè – ve kêu – đã tạo nên một sắc vàng kì ảo. Và dường như, sắc vàng của rừng phách đã gọi dậy tiếng ve. Một sự tương giao kì lạ trong thiên nhiên. Chỉ mấy câu thơ mà bạn đọc đã cảm nhận được nhiều sự chuyển biến: chuyển đổi về không gian từ xanh sang vàng, chuyển đổi về thời gian từ xuân sang hạ, chuyên đổi về cảm giác từ thính giác sang thị giác,…

Cuối cùng, sau những gam màu rực rõ, tươi vui, Tố  hữu đem đến cho người đọc cảm giác mênh mông, êm ái qua màu vàng dịu mát của ánh trăng huyền diệu tỏa xuống cánh rừng trong một đêm thu:

Rừng thu trăng rọi hòa bình

Điều kì diệu là rừng ấy , trăng ấy lại hiện lên trong nỗi nhó nên nó càng lung linh, thơ mộng. Trăng tròn vành vạnh trong đêm rằm tháng tám, tỏa sáng núi rừng, phủ lên cỏ cây hoa lá màu trắng sữa tinh khiết. Bầu trời thu cao rộng, núi rừng trong sắc thu cũng thật yên bình. Điều quan trọng là bầu trời rộng lớn và vầng trăng thu tròn trịa ấy  đã để thương, để nhớ trong lòng tác giả với những kỉ niệm thật lãng mạn, nên thơ nơi “Quê hương cách mạng dựng nên Cộng hòa”.

Qua đoạn thơ như một bộ tranh tứ bình trên, ta thấy thiên nhiên Việt Bắc đâu có phải là nơi xa xôi, hẻo lánh, hoang vu mà với Tố  Hữu nó thật sự đẹp như một xứ mơ, như xứ sở của truyện thần tiên mà cũng gần gũi, thân thương như ca dao, cổ tích.

Hình ảnh thiên nhiên đẹp như một xứ mơ ấy chính là cái nền để con người xuất hiện. Bức tranh thiên nhiên không lạnh lẽo hoang vu mà trái lại rất  ấrn áp là bởi trên đó đã xuất hiện những hình ảnh của con người Việt Bắc. Người Việt Bắc hiện lên trong thơ Tố Hữu không gây cảm giác lạ như những chàng thợ săn, những ông mo, bà ké trong những tiểu thuyết đường rừng trước năm 1945. Họ hiện lên trên trang thơ với vẻ đẹp của người lao động cần cù, chịu khó. Đó là một tư thế hiên ngang trên đèo cao lộng gió và ánh sáng:

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng

Con người chính là trung tâm của bức tranh thiên nhiên với tư thế àm chủ đất trời, tự do và phóng khoáng. Có cảm giác như trên vùng rẻo cao lồng lộng ấy, giữa một màu xanh ngút ngàn của cây cỏ/ con người tỏa sáng như một mặt trời thứ hai giữa thiên nhiên. Đọc câu thơ, trưóc mắt người đọc như hiện ra bức tranh sinh động về Việt Bắc mà nối bật trên đó là hình ảnh con người, những người dân lao động đang làm nương, làm rẫy. Bóng dáng con người xuất hiện trong câu thơ thật độc đáo (không xuất hiện trực tiếp mà qua ánh nắng phản chiêu từ “dao gài thắt lưng” – một công cụ lao động quen thuộc của người Việt Bắc). Một câu thơ tám chữ có sự trầm bổng của thanh điệu: mở đầu là vần bằng rồi lên cao dần ở chữ “nắng ánh” là vần trắc và rồi lại hạ thấp ờ chữ “lưng” ở cuối dòng thơ. Có cảm giác như nhịp điệu câu thơ lên xuống chính là nhịp điệu đều đặn của những tâm lưng nhấp nhô lúc ẩn lúc hiện sau bóng cây, nhịp điệu của lao động hòa lẫn với sự trùng điệp bất tận của núi đồi.

Cũng có khi con người xuất hiện trực tiếp qua dáng ngồi cần mẫn, chăm chú đan nón, đẹp như một nghệ nhân:

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

Như vậy, con người lao động Việt Bắc không chỉ có tư thế khỏe khoắn, khóang đạt mà còn ẩn chứa sự tài hoa, khéo léo trong đôi bàn tay chăm chỉ , chịu thương chịu khó của mình. Chữ “chuốt” thật hay. Nó không chi thể hiện sự cần cù mà còn giúp ta cảm nhận được cái đẹp nảy sinh từ đôi bàn tay ấy. Chữ “từng” gợi tả đức tính cần mẫn, cách làm ti mỉ, công phu. Có khéo tay mới “chuốt từng sợi giang” mỏng và bóng để đan thành những chiếc nón xinh xắn, một trong những sản phẩm thú công mĩ nghệ đặc trưng của Việt Bắc. Con người cần cù và tài hoa ấy  thật đáng nhớ vì như Nguyễn Đình Thi từng ca ngợi:

Tay người như có phép tiên

Trên tre lá cũng dệt nghìn bài thơ.

Hình ảnh con người Tây Bắc lại tiếp tục hiện ra qua câu thơ “Nhớ cô em gái hái măng một mình”, một câu thơ hay ở vần điệu, sự hiệp vần “gái” – “hái” (vần lưng) và cách điệp phụ âm đầu trong các từ măng – một — mình” tạo cho câu thơ nhạc điệu riêng. Cô gái Việt Bắc trẻ trung, xinh tươi, lạc quan yêu đời, đi hái măng giữa rừng vầu, rừng nứa một mình trong khúc nhạc rừng, tuy chỉ có “một mình” mà chẳng cô đơn. Con người ấy đang làm chủ thiên nhiên, làm chủ cuộc đời. Giữa một không gian nghệ thuật đầy màu sắc và âm thanh của suối rừng, cô gái Việt Bắc xuất hiện thật hồn nhiên và đáng yêu lạ! Đến câu kết của đoạn thơ “Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”, ta thấy hiện lên vẻ đẹp tâm hồn của con người Việt Bắc.” Ai” là đại từ phiếm chỉ gợi lên bao hoài niệm, bâng khuâng. Tiếng hát ân tình thủy chung giữa “ta” và “mình”, giữa “ta” với “ai” được thử thách trong cay đắng ngọt bùi, trong máu lửa “Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng” nên không bao giờ có thể quên được.

Đoạn thơ của Tố Hữu viết về thiên nhiên và con người Việt Bắc là đoạn thơ tràn đầy tình cảm nhớ nhung và thương mến vói niềm tự hào đô’i với Việt Bắc “Quê hương cách mạng dựng nên Cộng hòa”, và chiến khu bất khả xâm phạm “Rừng che hộ đội, rừng vây quân thù”. Có thể nói, Tố Hữu không chỉ ca ngợi Việt Bắc mà còn viết nên những vần thơ đẹp nhất ca ngợi đất nước và con người Việt Nam trong lửa đạn. Nguyễn Đình Thi nhận xét “những hình ảnh thơ này đã làm bừng sáng cả núi rừng Việt Bắc, và nó dường như cũng làm xôn xao cả khoảng trời hồi tưởng của thi nhân và người đọc”. Người lao động xuât hiện trên trang thơ Tô’ Hữu không phải là anh hùng, những người làm nên chiến công phi thường trong kháng chiên. Trái lại, họ chỉ là những người lao động bình thường với những vẻ đẹp gần gũi, đáng yêu. Viết về họ, Tố Hữu bộc lộ lòng yêu thương thắm thiết và sự cảm phục sâu xa.

Bốn cặp câu lục bát còn là bức tranh tứ bình làm nên bộ tứ bình về bốn mùa trong năm. Bốn cặp thơ lục bát này có cùng một kết câu: câu lục tả cảnh, câu bát tả người. Cặp nọ nối tiếp cặp kia, mùa nọ nối tiếp mùa kia, hài hòa, cân xứng, nhịp nhàng như bước đi của vũ trụ. Nó làm ta nhớ đến những đoạn thơ rất hay trong Chinh phụ ngâm, Truyện Kiều hay bài thơ Nhớ rừng của Thế Lữ. Nó làm ta liên tưởng đến những bức tranh tứ thời, tứ mùa, tứ quý, tứ linh; nói cách khác, nó làm cho đoạn thơ nhuốm màu sắc cổ điển. Bình luận về bộ tranh tứ bình này của Tố Hữu nhà thơ Xuân Diệu khẳng định “Không thua kém bất kì bộ tranh thơ nào trong văn chương phương Đông”.

Tuy nhuốm màu cổ điển nhưng bức tranh thơ này của Tố  Hữu vẫn có những nét rất hiện đại. Phủ lên bức tranh ấy không phải là cái màu trang trọng quý phái như tranh tứ bình cổ điển mà trái lại, nó bình dị thậm chí vô cùng dân dã như một biểu tượng của cái đẹp nhân dân. Các bộ tranh tứ bình thời cổ điển thường bắt đẩu bằng mùa xuân và khép lại bằng mùa đông như diễn tả nhịp đi đều đặn, tròn trịa của vũ trụ trong một năm. Trái lại, bộ tranh của Tố Hữu bắt đầu từ mùa đông và kết thúc từ mùa thu — thời điểm Tố Hữu viết bài thơ này. Phải chăng Tố Hữu muốn dùng nó như biểu tượng cho bước đi của cách mạng từ mùa đông giá lạnh khó khăn đến mùa thu huy hoàng thắng lợi? Cách viết ấy vừa có cái lí của logic tâm trạng lại vừa thóat khỏi những quy phạm của văn chương cổ điển.

Kết bài cho bài thơ Việt Bắc Tố Hữu

Đoạn thơ vẽ nên bức tranh về cảnh vật và con người Việt Bắc mà ai đã đọc dù chỉ  một lần sẽ không thể nào quên. Nó đem lại cho bài thơ Việt Bắc vốn ấm áp tình người có thêm cái huy hoàng xanh tươi của núi rừng Việt Bắc. Nói cách khác, nó đã góp phần hoàn chỉnh bức tranh Việt Bắc trong trái tim người ra đi. Đây là một đoạn thơ ngắn mà lời thơ vừa bình dị, trang nhã vừa giản dị hàm súc. Cảnh vừa như thực lại vừa như mơ, vừa như một cuộn phim lại vừa nhịp nhàng, thanh thoát như một bức tranh tả cảnh. Nó đã bộc lộ nét tài hoa của “nhà thơ của cách mạng, của lí tưởng cộng sản”. Từ những vấn đề của cuộc sống cách mạng và kháng chiến, Tố  Hữu có thể viết những tứ thơ nên nhạc, nên tình làm xôn xao tâm hồn bạn đọc và nói như Xuân Diệu “Tố Hữu đã đưa thơ chính trị đạt đến  trình độ là thơ rất đỗi trữ tình”.

(Nguyễn Thu Huyền)

Dẫn theo Trần Liên Quang, Đỗ Thị Yên

Xem thêm : Dàn ý phân tích, đề thi và bài văn mẫu về Việt Bắc Tố Hữu,  phân tích bài thơ Việt Bắc SGK Ngữ văn 12 :  Việt Bắc Tố Hữu

 

Cảm nhận đoạn thơ trong bài Việt Bắc Tố Hữu: Nhớ khi giặc đến giặc lùng

Bình giảng đoạn thơ sau trong bài Việt Bắc của Tố Hữu:

Nhớ khi giặc đến giặc lùng 
Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây 
Núi giăng thành luỹ sắt dày 
Rừng che bộ đội rừng vây quân thù 
Mênh mông bốn mặt sương mù 
Ðất trời ta cả chiến khu một lòng. 

Ai về ai có nhớ không? 
Ta về ta nhớ Phủ Thông, đèo Giàng 
Nhớ sông Lô, nhớ phố Ràng 
Nhớ từ Cao-Lạng nhớ sang Nhị Hà… 
Những đường Việt Bắc của ta 
Ðêm đêm rầm rập như là đất rung 
Quân đi điệp điệp trùng trùng 
Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan 
Dân công đỏ đuốc từng đoàn 
Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay. 
Nghìn đêm thăm thẳm sương dày 
Ðèn pha bật sáng như ngày mai lên. 
Tin vui chiến thắng trăm miềm 
Hoà Bình, Tây Bắc, Ðiện Biên vui về 
Vui từ Ðồng Tháp, An Khê 
Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng. 

Bài văn mẫu

Mở bài cho bài thơ Việt Bắc

Trong gian khổ, khó khăn, ý chí quật cường và tính thần đoàn kết của dân tộc ta càng được nhân lên gấp bội. Cũng chính nhờ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, nhân dân ta đã đánh tan những thế lực ngoại xâm hùng mạnh nhất. Cuộc kháng chiến trường kì chống thực dân Pháp của cả dân tộc đã khép lại song lớp lớp thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau vẫn luôn được nhắc nhớ về quá khứ hào hùng của cha ông. Theo dòng hồi tưởng của nhà thơ Tố Hữu trong bài Việt Bắc, bạn đọc lại một lần nữa cảm nhận về cuộc kháng chiến của dân tộc ta với sức mạnh vô song của khôi đại đoàn kết của tình quân dân để tạo nên những chiên công lẫy lừng. Tình đoàn kết và sức mạnh của nhân dân ta được thể hiện rất đậm nét trong đoạn thơ: ( Chép nguyên văn đoạn thơ )

Nhớ khi giặc đến giặc lùng 
Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây 

…..Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng. 

Thân bài

Trong mạch hồi tưởng của tác giả, những kỉ niệm thời kháng chiến cứ dần dẩn hiện lên trong tâm trí nhà thơ trong đó có nỗi nhớ về những ngày tháng cách mạng còn trong trứng nước, về con người Việt Bắc ân tình, thủy chung và cả những nỗi nhớ về những trận đánh:

Nhớ khi giặc đến giặc lùng 
Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây 

Làm sao quên được cái cảnh càn quét, săn lùng của kẻ thù như một bầy chó săn khát máu. Đã bao lần chúng tắm nhân dân ta trong những bể máu, trong tiếng kêu khóc đau thương dậy cả đất trời. Quân giặc tìm mọi cách đàn áp, khủng bố hòng làm nhụt chí vùng lên tự giải phóng của nhân dân ta. Không chi trong thơ Tố  Hữu mà trong tác phẩm của những nhà thơ khác, bao tiếng thơ ai oán, căm hờn đã nêu bật tội ác quân xâm lược:

Quê hương ta từ ngày khủng khiếp

Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn

Ruộng ta khô                                                              I

Nhà ta cháy

Chó ngộ một đàn

Lưỡi dài lê sắc máu

Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang.

(Hoàng Cầm – Bên kia sông Đuống)

Những âm mưu nham hiểm và dã tâm của kẻ thù không thể  cản trở điíỌQ lòng yêu quê hương đât nước của nhân dân ta. Trong giờ khăc quyết định sổ phận của mình, quân dân ta đã vùng lên. Không chỉ con người mà cả rừng núi cũng chung sức đánh Tây. Thiên nhiên đất trời Việt Bắc đã trở thành những người đồng đội, những chiên sĩ anh hùng trong cuộc chiến:

Núi giăng thành lũy sắt dày

Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù.

Những dãy núi trùng điệp dàn trải như thành lũy kiên cố bất khả xâm phạm che chở bộ đội, dân quân, du kích,… Núi rừng vừa bao vây quân thù, vừa chở che bộ đội. Núi rừng vốn là những vật vô tri, song dưới con mắt của nhà thơ, trong cuộc kháng chiến trường kì toàn dân, toàn diện, núi rừng thiên nhiên cũng trở nên có ý chí, có tình người. Chúng cùng quân dân ta tham gia chiến đấu. Tư thế hiên ngang kiêu hùng của những vách núi làm cho kẻ thù bất lực. Cái dáng ngay thẳng của tre nứa đầy dũng khí đâm thẳng lên trời xanh như thách thức kẻ thù. Với nghệ thuật nhân hóa, Tố Hữu đã biên núi rừng, thiên nhiên thành những người lính anh dũng kiên cường:

Mênh mông bốn mặt sương mù 
Ðất trời ta cả chiến khu một lòng. 

Khung cảnh chiến đấu vừa hào hùng vừa thơ mộng, đất trời bao la chìm trong sương mù dày đặc. Màn sương ấy như che chở cho quân ta và cản bước quân thù. Cả núi rừng Việt Bắc giờ đây đang cùng chung một nhịp đập trái tim. Tât cả đang hướng về cuộc chiến đấu , hướng về sứ mệnh bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ quê hương yêu dấu. Cụm từ “cả chiến khu một lòng” đã nhấn mạnh tình đoàn kết quân dân, sự gắn bó giữa con người và thiên nhiên. Tất cả bừng lên ngọn lửa căm hờn, ngọn lừa hừng hực tinh thần quyết chiến, quyết thắng. Qua câu thơ này, Tố Hữu thế hiện lòng tự hào trước sức mạnh của dân tộc ta. Khi Tổ quốc, quê hương cần, tất cả thiên nhiên và con người đều sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng hi sinh. Sáu câu thơ đã phần  nào thể hiện lòng yêu mến, tự hào và cảm phục của nhà thơ trước mảnh đất và con người Việt Bắc nói riêng cũng nhân dân Việt Nam nói chung.

Sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân cùng ý chí quyết chiến quyết thắng đã tạo nên sức mạnh của nhân dân ta, làm nên những chiến công anh hùng. Hàng loạt những địa danh được nhắc tới. Mỗi  nơi đều gắn với một thắng lợi vinh quang. Đây Phủ Thông, kia đèo Giàng, rồi những trận thủy chiến trên sông Lô… Cuộc kháng chiến đã nổ ra khắp mọi nơi. Những chiến thắng đó không những trải dài theo chiều rộng không gian mà còn trải cả trong chiều dài nỗi nhớ. Nhà thơ đặt câu hỏi, nói đúng hơn là người ở lại hỏi người ra đi: “Ai về ai có nhớ không?”. Người ra đi làm sao mà quên được những trận đánh, những chiến công ấy bởi trong những vinh quang đó có máu của đồng đội, bạn bè. Nhớ về những chiến công cũng là tường nhớ về những người anh hùng đã ngã xuống để hôm nay, đồng đội, bạn bè và con cháu được sống và được tự hào về thắng lợi, về sức mạnh anh hùng của dân tộc. Bằng biện pháp liệt kê, nhà thơ đã nhắc lại những chiên công hào hùng của quân và dân ta. Thật tự hào và đáng trân trọng xiết bao.

Từ những chiến công, trong nỗi nhớ của người ra đi và người ở lại, những đêm hành quân thật hùng dũng đã hiện về:

Những đường Việt Bắc của ta

Đêm đêm rầm rập như là đất rung

Cả núi rừng, đất trời vang dậy bước hành quân. Thiên nhiên chuyên mình cũng chính là lúc nhân dân ta chuyển sang giai đoạn phản công của cuộc kháng chiến. Từng đoàn quân nối nhau ra tiền tuyến. Trong trái tim họ, những lời thề vang vọng, mãi thúc giục họ đi lên, chiến đấu và chiến thắng kẻ thù.

Tất cả những lo toan bề bộn của cuộc sống hằng ngày đều được dẹp lại sau lưng. Từng dòng chữ trong câu thơ như cũng đang run lên theo nhịp bước quân hành của những đoàn quân ra trận. Những người chiến sĩ anh hùng cứ tiến lên phía trước, tiến đến một ngày mai tươi sáng, vẻ đẹp hùng dũng của đoàn quân được tái hiện rất cụ thể qua phép so sánh:

Đêm đêm rầm rập như là đất rung

Hình tượng người lính trong đêm hành quân gợi nhớ tới câu thơ của Quang Dũng

Tây Tiên đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm.

(‘Tây Tiên )

Trong bài Tây Tiến, hình ảnh người lính hiện lên hào hùng trong gian khổ. thơ Tô’ Hữu, những khó khăn gian khổ đã phẩn nào được làm mò để nêu bật chân dung của một đoàn quân dũng mãnh:

Quân đi điệp điệp trùng trùng

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan.

Từng đoàn binh “điệp điệp, trùng trùng” tiên đi. Trong họ là cả một bầu dũng khí Cảnh tượng đoàn quân đông đảo, trùng điệp như những dây núi kế tiếp nhau. Miêu tả cảnh hành quân, nhà thơ sử dụng cụm từ “điệp điệp, trùng trùng”. Có lẽ chẳng còn từ ngữ nào có thể diễn tả được sức mạnh của đoàn binh hơn thế. Trong đoàn quân đó có những con người không chi biết cầm súng chiên đấu mà còn có tâm hổn lãng mạn. Họ làm bạn với trăng sao. Trong đêm tốì, ánh sao soi đường cho các chiến sĩ, chia sẻ với họ những tâm tư tình cảm. Cảnh thật đẹp và mơ mộng quả, không gian đang sục sôi bỗng như lặng đi  trước một cảnh tượng đậm chất lãng mạn. Âm điệu câu thơ trở nên trầm lắng. Hình ảnh “ánh sao đầu súng” không mới. Chính Hữu đã từng viết:

Đầu súng trăng treo

Song sự chuyến đổi nhịp nhàng giữa hai câu thơ: “Quân đi điệp điệp trùng trùng / Ánh sao đầu súng bạn cùng mũi nan” khiến hình ảnh người lính bỗng đẹp thêm lên. Ở họ có cốt cách của người chiến sĩ và tâm hổn của người thi sĩ. Họ thật đáng cảm phục biết bao. Trong đêm tối hình ảnh đoàn binh hiện lên càng rõ nét. Họ làm chủ đất trời, vũ trụ bao la. Đó là những con người anh hùng của mảnh đất anh hùng. Cùng với bộ đội chủ lực, những đoàn dân công cũng xung phong ra tiền tuyến:

Dân công đỏ đuốc từng đoàn

Bước chân nát đá, mụôn tàn lửa bay.

Anh đuốc bập bùng sáng lên trong đêm tối. Đoàn dân công trên con đường ra trận được miêu tả thật hùng dũng, hiên ngang. Họ muốn đem tiếng  hát của mình, sức lực của mình góp chung vào sự nghiệp chung của dân tộc. Khắc họa hình tượng những đoàn dân công, tác giả sử dụng hình ảnh “Bước chân nát đá” cho thấy sức manh của họ thật phi thường. Muôn tàn lửa bay sau lưng họ như những khó khăn đã bị dẹp lại phía sau. Đoàn binh và những người dân công là hình ảnh tượng trưng cho quân dân Việt Nam. Vói sức mạnh phi thường, dân tộc ta đã vượt qua:

Nghìn đêm thăm thẳm sương dày

để đón chào tương lai tươi sáng:

Đèn pha bật sáng như ngày mai lên.

Khó khăn gian khổ như bóng đêm đã khép lại. Trước mắt đoàn quân, ánh đèn pha bật sáng như niềm tín tưởng vào thắng lợi tất yêu của cuộc kháng chiến và tương lai tươi sáng của dân tộc. Đoàn quân cứ bước đi trong niềm tin và hi vọng. Toàn bộ tâm trí và dũng khí của họ đều hướng về tương lai. Có thể  nói, câu thơ thế hiện niềm lạc quan của nhà thơ và cũng là dự cảm về ngày chiến thắng.

Kết bài cho bài Việt Bắc

Chỉ với một đoạn thơ ngắn, Tố Hữu đã tái hiện được vẻ đẹp anh hùng của nhân dân, núi rừng Việt Bắc nói riêng và sức mạnh anh hùng của dân tộc Việt Nam nói chung trong cuộc kháng chiến chổng thực dân Pháp. Sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc chính là sức mạnh làm nên chiến thắng. Vì thế, đoạn thơ nói riêng, cả bài Việt Bắc nói chung mang âm hưởng sử thi khá đậm nét. Và đây cũng chính là một nét tiêu biếu của phong cách thơ TốHữu: vừa giàu chất lí tưởng vừa ngọt ngào tha thiết và thâm đẫm chất dân tộc.

(Phạm Thúy Hồng)

Dẫn theo : Trần Liên Quang, Đỗ Thị Yên

Xem thêm : Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về   việt bắc

 

Đề thi thử THPT Quốc gia môn văn có đáp án, số 95

ĐỀ  THI THỬ QUỐC GIA THPT NĂM 2017
Môn: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề
I. Đọc hiểu (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ Câu 1 đến Câu 4:
Xin đừng vội nghĩ cứ có học vấn, bằng cấp cao là nghiễm nhiên trở thành người có văn hoá. Trình độ tri thức văn hoá cũng mới chỉ là tiền đề. Nếu sự rèn luyện nhân cách kém thì tiềm năng hiểu biết đó sẽ tạo nên thói hợm hĩnh, khinh đời; phong cách sống càng xấu đi, càng giảm tính chất văn hoá. Trong thực tế, ta thấy không hiếm những người có học mà phong cách sống lại rất trái ngược. Họ mở miệng là văng tục, nói câu nào cũng đều có kèm từ không đẹp. Mặt vênh vênh váo váo, coi khinh hết thảy mọi người. Trò chuyện với ai thì bao giờ cũng hiếu thắng, nói lấy được, nhưng khi gặp khó khăn thì chùn bước, thoái thác trách nhiệm. Trong lúc đó, có người học hành chưa nhiều, chưa có học hàm, học vị gì nhưng khiêm tốn, lịch sự, biết điều trong giao tiếp, khéo léo và khôn ngoan trong cách ứng xử trước mọi tình huống của cuộc sống. Rõ ràng là chất văn hoá trong phong cách sống phụ thuộc nhiều vào ý thức tu dưỡng tính nết, học tập trường đời và kết quả của giáo dục gia đình.
Tất nhiên, tác động của trình độ học vấn đến sự nâng cao phong cách văn hoá của một người rất lớn. Cách suy nghĩ, cách giải quyết mâu thuẫn, sự ước mơ, kì vọng và sự trau dồi lí tưởng có liên quan mật thiết đến tiềm năng hiếu biết. Đa số những người có học vấn cao thường có phong cách sống đẹp. Không thể phủ nhận thực tế đó, chỉ có điều cần nhớ là trình độ học vấn và phong cách sống văn hoá không phải lúc nào cũng đi đôi với nhau.
(Trích Học vấn và văn hoá — Trường Giang)
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt  chính của văn bản?

Câu 2. Theo tác giả, trình độ học vấn có tác động như thế nào đến phong cách văn hoá của một người?
Câu 3. Đọc đoạn trích, anh/ chị hiểu yếu tố cốt lõi làm nên cốt cách văn hóa của một con người là gì?
Câu 4. Theo anh/ chị, quan điểm của tác giả có phù hợp với cuộc sống hiện đại không? Vì sao?

II. Làm Văn (7,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm):
Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về câu văn được gợi ra từ phần đọc hiểu: Rõ ràng là chất văn hoá trong phong cách sống phụ thuộc nhiều vào ý thức tu dưỡng tính nết, học tập trường đời và kết quả của giáo dục gia đình.

Câu 2 (5,0 điểm): Vẻ đẹp của hình tượng nhân dân trong đoạn thơ sau :
Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng
Họ truyền lửa qua mỗi nhà, từ hòn than qua con cúi
Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói
Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân
Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái
Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm
Có nội thù thì vùng lên đánh bại
Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân…
( Trích Đất nước nguyễn khoa điềm )

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
Phần/ Câu/ Nội dung /Điểm
I ĐỌC HIỂU 3.0
1 Đoạn văn trên sử dụng phương thức biểu đạt chính: Nghị luận 0,25
2 Theo tác giả, trình độ học vấn có tác động đến phong cách văn hoá của mỗi con người:
-Tiềm năng hiểu biết, vốn tri thức sâu rộng là cơ sở hình thành lối suy nghĩ, cách ứng xử, cách giải quyết mâu thuẫn, khát vọng và lí tưởng sống của một con người.
-Trên thực tế, đa số những người có học vấn cao thường có phong cách sống đẹp. 1,00
3 Đọc đoạn trích, có thể thấy yếu tố cốt lõi làm nên cốt cách văn hoá của một con người là:
-Sự giáo dục của gia đình, nhà trường.
-Đặc biệt là ý thức tu dưỡng đạo đức, hoàn thiện nhân cách và không ngừng học tập từ thực tế đời sống của mỗi cá nhân. 0,75
4 HS trình bày theo quan điểm cá nhân. Có lí giải cụ thể. Diễn đạt bằng một đoạn văn ngắn. 1,00
II LÀM VĂN 7.0
1 Bày tỏ suy nghĩ về ý kiến… 2,0
a. Đảm bảo cấu trúc đoạn văn nghị luận 200 chữ
Có đủ các phần mở đoạn, phát triển đoạn, kết đoạn. Mở đoạn nêu được vấn đề, phát triển đoạn triển khai được vấn đề, kết đoạn kết luận được vấn đề.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Sự thay đổi cách xây dựng cổng làng ngày nay làm cho những nét văn hoá xưa bị mai một. 0,25

c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; rút ra biện pháp khắc phục hiện tượng. 1,5
– Câu mở đoạn: Dẫn ý liên quan để nêu vấn đề cần nghị luận: Rõ ràng là chất văn hoá trong phong cách sống phụ thuộc nhiều vào ý thức tu dưỡng tính nết, học tập trường đời và kết quả của giáo dục gia đình.
– Các câu phát triển đoạn:
+ Giải thích: Văn hoá là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần mà con người sáng tạo ra.Phong cách sống là những nét điển hình, được lặp đi lặp lại và định hình thành phong cách, thói quen trong đời sống cá nhân, nhóm xã hội, dân tộc, hay là cả một nền văn hóa. Ý thức tu dưỡng tính nết là mỗi người phải biết tự rèn luyện đạo đức của bản thân. Trường đời là đời sống xã hội, vượt ra ngoài mái ấm gia đình và trường học. Gia đình là tế bào của xã hội, nơi con người được sinh ra, lớn lên và trưởng thành trong vòng tay yêu thương của người thân yêu. Ý cả câu: Con người có văn hoá là nhờ sự kết hợp của ba yếu tố: tự thân rèn luyện, từng trải trong đời và sự giáo dục của gia đình.
+ Phân tích ý nghĩa tác dụng của câu nói:
+ Sự tu dưỡng là một yêu cầu tự nhiên của mỗi cá nhân ở trình độ nhận thức đã phát triển. Mọi cá nhân đều cần làm cho mình tốt lên, bồi bổ tình cảm và ý chí của mình, khắc phục những thói hư tật xấu, làm cho mình biết phân biệt điều thiện với điều ác. Do đó, sự tu dưỡng là con đường nhằm hình thành những phẩm chất đạo đức ở mỗi cá nhân. Tạo cho con người khả năng tự tu dưỡng là một yêu cầu giáo dục đạo đức trong xã hội. ( dẫn chứng thực tế)
+ Muốn hình thành chất văn hoá trong phong cách sống, con người còn phụ thuộc vào trường đời. Bởi vì trường đời là nơi thử thách lớn nhất của con người. Những gì tiếp thu ở gia đình, nhà trường chỉ là một phần nhỏ, là hành trang để ta bước vào đời. Cuộc sống vốn dĩ vô cùng phong phú và phức tạp. Chỉ khi ta bước qua những trở ngại, thách thức thì mới thực sự trưởng thành về nhận thức và hành động… ( dẫn chứng thực tế)
+ Gia đình là cái nôi hình thành văn hoá trong phong cách sống mỗi người. Nhờ có gia đình, mỗi người không những được nuôi dưỡng mà còn được dạy dỗ về tình thương, cách ứng xử trong quan hệ.( dẫn chứng thực tế)
+ Ba yếu tố trên có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, hình thành nên chất văn hoá trong phong cách sống của mỗi người.( dẫn chứng thực tế)
+ Phê phán những người tuy có trình độ học vấn nhưng văn hoá thấp, nhất là trong ứng xử giao tiếp, trong nhận thức và hành động, trở thành kẻ đạo đức giả, có thái độ tự cao, hống hách, coi thường người khác… 0,25

– Câu kết đoạn: Rút ra bài học nhận thức và hành động cho bản thân: Ý thức được văn hoá của con người rất quan trọng. Cần phải tu dưỡng đạo đức hằng ngày, biết tự trọng, biết xấu hổ, sống vị tha, nhân ái… 0,25
d. Sáng tạo
Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận. 0,25
e. Chính tả, dùng từ, đặt câu
Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu. 0,25

2 Vẻ đẹp của hình tượng nhân dân trong đoạn thơ … 5,0
a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận 0,25
Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận 0,50
Vẻ đẹp của hình tượng nhân dân trong đoạn thơ …
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; thể hiện sự cảm nhận sâu sắc và vận dụng tốt các thao tác lập luận để triển khai các luận điểm (trong đó phải có thao tác phân tích, bình luận); biết kết hợp giữa nêu lí lẽ và đưa dẫn chứng. 3.50
– Mở bài:
+Giới thiệu về Nguyễn Khoa Điềm, trường ca Mặt đường khát vọng và chương V Đất Nước;
+ Nêu vấn đề cần nghị luận: Vẻ đẹp của hình tượng nhân dân trong đoạn thơ…
-Thân bài:
+ Nhân dân đã sáng tạo nên mọi giá trị vật chất và tinh thần cho đất nước: hạt lúa, ngọn lửa, giọng nói, tên xã, tên làng,… Những hình ảnh cụ thể và giàu sức gợi ấy được nhà thơ sử dụng để khẳng định công lao vĩ đại của nhân dân :
++ Trong những hạt lúa tưởng chừng bé nhỏ kia, có công sức, tâm huyết, trí tuệ của bao nhiêu thế hệ con người. Người tìm ra cây lúa giữa ngàn cây hoang dại, người tìm ra cách cấy trồng, chăm bón để có những vụ mùa bội thu, người sáng tạo nên những xay, giã, dần, sàng để biến hạt lúa thành hạt gạo trắng ngần…
++Trong tiếng nói ta thừa hưởng của ông cha có tình yêu và sức sống mãnh liệt của tâm hồn Việt – vẫn tồn tại bền vững bất chấp cả ngàn năm bị đô hộ trong mưu toan đồng hoá của giặc ngoại xâm : “Tiếng chẳng mất khi Loa thành đã mất/ Nàng Mỵ Châu quỳ xuống lạy cha già” (Lưu Quang Vũ)…
+Nhân dân đóng vai trò là chủ thể trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.
++Họ “đắp đập be bờ” tạo nên ruộng đồng, bờ bãi phì nhiêu cho đời sau cấy trồng, thu hái…
++Họ đánh đuổi cả ngoại xâm lẫn nội thù để gìn giữ tự do, độc lập cho quê hương, xứ sở…
+ Nghệ thuật thể hiện vẻ đẹp nhân dân trong đoạn thơ:
++ Sử dụng chất liệu văn hóa dân gian: ngôn từ, hình ảnh bình dị, dân dã, giàu sức gợi.
++ Giọng điệu thơ biến đổi linh hoạt.
++ Sức truyền cảm lớn từ sự hòa quyện của chất chính luận và chất trữ tình.
+ Đánh giá chung:
++Trong phần 2 của đoạn trích, nhà thơ tập trung thể hiện tư tưởng đất nước là của nhân dân. Tư tưởng này bao trùm, thấm đượm trong tất cả các chiều, các phương diện cảm nhận về đất nước: không gian địa lí, thời gian lịch sử, bản sắc vãn hoá…
++ Đoạn thơ là bức tượng đài kì vĩ ngợi ca công lao vĩ đại của nhân dân trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước.
– Kết bài
+ Tóm lại vấn đề đã nghị luận;
+ Nêu cảm nghĩ riêng của bản thân về vẻ đẹp nhân dân qua đoạn thơ. 0,50

d. Sáng tạo 0,50
Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận.
e. Chính tả, dùng từ, đặt câu 0,25
Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.
ĐIỂM TOÀN BÀI THI : I + II = 10,00 điểm

Đề văn sưu tầm

Xem thêm : Bộ đề thi thử THPT Quốc gia môn văn có đáp án

Cảm hứng lãng mạn và âm hưởng bi tráng trong bài Tây Tiến Quang Dũng

Tây Tiến Quang Dũng

Dàn ý phân tích bài thơ , những bài văn hay bình giảng bài Tây Tiến Quang Dũng. Hình tượng người lính Tây Tiến.

Đề bài : Phân tích cảm hứng lãng mạn và âm hưởng bi tráng trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng

Bài văn tham khảo

Mở bài Tây Tiến

Tây Tiến (1948) là bài thơ tiêu biểu  nhất của đời thơ Quang Dũng, đồng thời cũng là một thành tựu đáng ghi nhớ của nền thơ ca kháng chiến chống Pháp. Là sản phẩm của một hồn thơ trẻ trung, phóng khoáng, hơn nữa nội dung lại nói về một thời gian nan mà hào hùng của lịch sử dân tộc, thật dễ hiểu khi bài thơ có hai nét đặc sắc cơ bản bao trùm là cảm hứng lãng mạn và âm hưởng bi tráng.

Thân bài

Một tác phẩm có cảm hứng lãng mạn bay bổng là tác phẩm mà ở đó những cảm xúc của nhân vật trữ tình được thể hiện với cường độ mạnh, trí tưởng tượng được phát huy hết mức, những cái phi thường tuyệt mĩ được tô đậm và thủ pháp đối lập được sử dụng một cách rộng rãi, thường xuyên.

Tây Tiến quả là một tác phẩm hết sức lãng mạn. Điều dễ nhận thây trước tiên là độ sâu, độ mạnh trong cảm xúc của nó. Cả bài được bao bọc trong một nỗi nhớ ăm ắp, nổng nàn, vừa xoáy sâu, vừa lan tỏa. Không có nỗi nhớ đó thì chắc chắn không có cả bản thân bài thơ, bời tất cả những điều được nói tới trong bài đều thuộc về quá khứ, giò đây nhờ kí ức, nhờ nỗi nhớ mà sống dậy. Không phải tình cờ mà từ “nhớ” xuâ’t hiện nhiều lần trong bài và cũng chẳng phải ngẫu nhiên mà thoạt đầu tên của tác phẩm gồm ba chữ: Nhớ Tây Tim. Mở đầu bài tho, tác giả đã viết

Sông Mã xa rồi Tây tiến ơi ! 
Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi 

Hai câu này đã nói lên rất rõ niềm thôi thúc bên trong khiên tác giả đã viết nên Tâỵ Tiến. Chính nỗi “nhớ chơi vơi” chứ không phải cái gì khác đã dẫn ngòi bút của tác giả đi miên man trong thế giới thơ. “Nhớ chơi vơi” có thể hiểu là nỗi nhớ vừa có vẻ xa xôi, vời vợi lại vừa có vẻ gần gũi, lửng lơ, ám ảnh hoài không cho người ta được yên, buộc người ta phải đắm chìm trong hoài niệm.

Như mọi bài thơ thấm dẫm cảm hứng lãng mạn khác; bài thơ Tây Tiến chứa đựng nhiều hình ảnh gây ấn tượng mạnh cho độc giả. Đối tượng miêu tả ở đây có thật nhiều nét phi thường. Hãy đọc một đoạn tả dốc trong bài:

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm 
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời 
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống 
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi 

Dốc cứ cao lên, cao mãi hút mắt nhìn để rồi đổ gập xuống, sâu dường như vô cùng tận. Ta tưởng như gặp lại mảnh núi non hiểm trở, hùng vĩ, đầy thách thức từng được thi hào Lí Bạch nói tới trong bài Thục đạo nan (Đường Thục khó): “Thục đạo chi nan, nan ư thướng thanh thiên (Đường Thục khó đi, khó hơn cả lên trời xanh). Dốc đã thế, mưa cũng mịt mùng bùa vây tứ phía khiến cho trong mắt của các chiến sĩ đang  hành quân, những ngôi nhà sàn như đang   trôi bồng  bềnh trong biển nước. Cái dữ dội của thiên nhiên Tây Bắc còn được tô đậm trong hai câu có âm điệu hết sức mạnh mẽ:

Chiều chiều oai linh thác gầm thét 
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người 

Thật là một cuộc “diễu võ dương oai” đầy ngoạn mục của núi rừng, khiến cho những kẻ yếu bóng vía có thể run lên vì sợ hãi.

Nhưng địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến không phải chỉ thuần những cảnh ghê gớm như thế. Đã bao lần nó phô ra vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng, say đắm của mình trước con mắt háo hức quan sật của người lính chiến:

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy 
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ 
Có nhớ dáng người trên độc mộc 
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa 

Đúng là một vẻ đẹp quá đỗi nguyên sơ, thanh khiết, gợi cảm đến nao lòng. Những bông lau xám bạc phất phơ bên bờ suối, những cánh hoa rừng chòng chành, “đong đưa” trên dòng nước lũ nhự giấu trong mình cả một câu chuyện cổ tích về núi rừng miền Tây mà ta chưa có điều kiện khám phá hết được.

 

Việc miêu tả những nét độc đáo khác thường của thiên nhiên là một trong những điều kiện quan trọng tạo nên cảm hứng lãng mạn cho bài thơ. Cảm hứng lãng mạn đó còn được đẩy lên một mức nữa khi tác giả đi sâu khám phá bản tính lãng mạn, mộng mơ của những người lính Tây Tiến. Thật ra thì tất cả những câu nói về vẻ đẹp của thiên nhiên Tầy Bắc đã dẫn ra trên kia đều đã bao hàm ý khẳng định chất thi nhân của các anh “bộ đội Cụ Hồ”. Trên đường hành quân, họ chưa một lần bỏ lỡ cơ hội ngắm nhìn những vẻ đẹp hiếm thấy trong đời. Mắt nhìn dốc cao, đầu gội trong mưa lớn, tai nghe tiếng thác thét gầm, cả sinh mạng đối diện cùng thú dữ, chừng ấy trải nghiệm đã khiến cho máu phiêu lưu trong họ bị kích thích rnạnh. Còn khi được sống với cảnh “Mường Lát hoa về trong đêm hơi”, với cảnh chiều sương” nơi Châu Mộc, chắc chắn họ cảm thây nổi niềm thơ thức dậy dạt dào. Chẳng thế mà giữa những ngày gian khổ, họ vẫn hào hứng tổ chức các đêm lửa trại tưng bừng náo nhiệt. Trong cái đêm vui đó, những “dáng hồng” sơn cước đã làm họ ngất ngây say:

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa 
Kìa em xiêm áo tự bao giờ 
Khèn lên man điệu nàng e ấp 
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ 

Làng mạn đến mức ấy, quả khó ai hơn được!

Trong các tác phẩm được viết theo cảm hứng lãng mạn, thủ pháp đối lập thường rất được chú ý khai thác, Bài Tây Tiến cũng nằm trong thông lệ đó. Sự đối lập ở đây có nhiều cấp độ, trước hết là đối lập về hình ảnh. Ta có thế thấy rõ điều này qua các đoạn của bài thơ. Ở đoạn một, ngòi bút tác giả nghiêng về miêu ta sự hào hùng, dữ dội của thiên nhiên, còn ở đoạn hai, nét thơ mộng của nó được ưu tiên nhấn mạnh. Cũng có khi, sự đối lập đó được thể hiện trong hai câu liền kề nhau:

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi.

Câu trên nhấn mạnh sự khắc nghiệt, đe dọa, còn câu dưới lại diễn tả một cảnh tượng làm ấm lòng người; Cũng qua hai câu này, đặc biệt là câu sau, ta còn nhận ra sự đối lập về thanh điệu đã được Quang Dũng sử dụng rất tài tình trong cả bài thơ: có những câu thơ “khổ độc” (khó đọc) dày đặc thanh trắc đi kèm những câu toàn thanh bằng gợi cảm giác nhẹ nhõm, lâng lâng. Thử so sánh câu “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm” với câu “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”, ta sẽ thấy rất rõ điều đó. Tất nhiên không phải sự đối lập nào cũng bao gồm những nét tương phản loại trừ nhau. Trên thực tế, các mặt đối lập, tương phản có thể gắn với nhau trong một thể thống nhất, như phẩm chất can trường gắn với phẩm chất lãng mạn trong bản thân mỗi người lính Tây Tiến vậy.

Ở bài Tây Tiến, Quang Dũng thường sử dụng những cách ví von độc đáo, táo bạo làm nổi bật tính chất khác thường của sự vật. Chẳng hạn theo góc nhìn  từ dưới hắt lên, nhà thơ thấy mũi súng trên vai người lính đi trên đỉnh dốc đang “ngửi trời”. Ở một câu khác, tác giả diễn tả sự rình rập của cọp dữ bằng hai chữ “trêu người” rất ấn tượng… Tấ’t cả những điều này đều góp phần nhất định làm nên phong vị lãng mạn đậm đà của tác phẩm.

Có một thời kì dài bài thơ Tây Tiến bị ngại nhắc đến. Những người không thích nó chắc có lẽ dị ứng với âm hưởng bi tráng vốn thấm đẫm trong từng chữ từng câu của bài thơ. Giờ đây, đọc lại Tây Tiến, có lẽ không còn ai cảm thấy cấn cái với nó nữa, và chất bi tráng cũng đã được nhìn nhận khác đi. Khi nói đến chất bi tráng của một tác phẩm văn học nào đó, người ta thường nói sự tổn tại song song, hòa quyện giữa hai yếu tố “bi” và “tráng”. “Bi” là đau buồn, bi ai và “tráng” là khỏe khoắn, mạnh mẽ. Tác phẩm có giọng bi tráng thường không tránh né những chuyện xót xa, đau lòng nhưng bao giờ cũng đưa đến được  cho độc giả những xúc cảm mạnh và rắn rỏi.

Đọc suốt bài thơ Tây Tiến, người ta dễ nhận ra một điều: Quang Dũng không ít lần viết về cái chết và chưa bao giờ nói cho nhẹ đi những gian khổ chất chồng mà các chiến sĩ phải đương đầu. Lắng nghe âm điệu của những câu tả dốc, ta thấy dội lên tiếng thở nặng nhọc của các anh lính Tây Tiến. Hành quân đường dài qua núi cao, vực sâu, trong “đoàn quân mỏi” có người đã ngã xuống:

Anh bạn dãi dầu không bước nữa 
Gục lên súng mũ bỏ quên đời ! 

Dù đã cố dùng lối diễn tả khô, gọn, nhà thơ vẫn không giấu nổi lòng mình. Trong hai chữ “dãi dầu” ta đọc thấy có biết bao niềm xót xa thương cảm vô bờ bến.

Là người đã từng trải qua những ngày Tây Tiến, Quang Dũng nhìn rõ hơn ai hết khuôn mặt hung tợn của tử thần có tên gọi là “sốt rét”. Chính căn bệnh quái ác nơi núi rừng âm u này đã tàn phá thể chất các chiến sĩ một cách phũ phàng. Tóc họ không mọc nổi, da xanh mét như tàu lá, con người luôn đứng chân noi biên giới mong manh giữa cái chết và sự sống. Đã bao lần nhiều người trong họ đành phải ôm hận lìa đời. Các anh là ai trong số những nấm “mồ viễn xứ” nằm “rải rác biên cương’ dài vô tận? Đọc thơ Quang Dũng, có lẽ tất cả chúng ta đều cảm thấy đau nhói trong lòng. Chi tiết “Áo bào thay chiếu anh về đất” đã cực tả những thiếu thốn khó tưởng tượng nổi của đoàn quân Tây Tiến. Một chiến sĩ hi sinh, nhiều khi đồng đội không tìm nổi một mảnh chiếu để liệm xác.

Mặc dù thường đề cập những chuyện đau buồn, bài thơ Tây Tiến vẫn không đưa đến cho ta cảm xúc bi lụy. Đọc tác phẩm, chúng ta thường thấy có một cái gì đó mạnh mẽ và to lớn cứ dâng lên choáng ngợp lòng mình, khiến ta trở nên trầm tình hơn, cứng cỏi hơn. Cái gốc của vấn đề là ờ chỗ: một mặt bản thân Quang Dũng nói về mất mát với thái độ chấp nhận lặng lẽ mà kiên quyết, mặc khác, nhà thơ rất chú ý nêu lên các chi tiết về nghị lực sống vô tận cũng như chất trượng phu của những người chiến sĩ. Ví như hai câu nói về cái chết đã dẫn ra ở trên. Cái  chết ấy một mặt gợi lên niềm xót thương, mặt khác, gợi sự kính trọng, ngưỡng  mộ. Quang Dũng đã rất có ý thức nhấn mạnh tư thế người chiến  sĩ lúc hi sinh. Các anh hi sinh ngay trên đường hành quân, trong lúc làm nhiệm vụ. Sức lực đã tàn và   vẫn bước, đến khi không bước được nữa thì gục lên súng mũ và ra đi – một sự ra đi quá đỗi nhẹ nhàng như vịệc đắm mình vào giấc ngủ. Mấy từ “bỏ  quên   đời”   được dùng rất sáng tạo đã góp phần chuyển biến am hưởng câu thơ từ ” bi” sang “tráng” . Hãy đọc tiếp những câu thơ có lối diễn tả khác thường này nữa :

Tây tiến đoàn binh không mọc tóc 
Quân xanh màu lá dữ oai hùm 
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới 
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm 

Rải rác biên cương mồ viễn xứ 
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh 
áo bào thay chiếu, anh về đất 
Sông Mã gầm lên khúc độc hành 

Ai chẳng hiểu cái sự ” không mọc tóc” kia là hậu quả của bệnh bốt rét, nhưng khi tác giả đã viết “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc” thì ta lại có cảm tướng rằng đoàn binh ấy không thèm mọc tóc, rằng họ chù động như vậy (ý của Chu Văn Sơn). Tiếp theo, khi tác giả đặt cụm từ “dữ oai hùm” bên cạnh cụm từ “Quân xanh màu lá” thì âm điệu toàn bộ câu thơ không còn bi ai nữa mà trợ nên cứng cỏi lạ thường. Vũ Quần Phương từng khen Quang Dũng “tả lính ốm mà không thấy lính yếu’ – điều đó thật chí lí! Cần phải nói ngay rằng sở dĩ nhà thơ chọn cách diễn tả đó là bởi vì trong thực tế những người lính Tây Tiến vốn có cốt cách trượng phu khá rõ. Dù cuộc sông có gian nan thế nào, họ vẫn giữ được sự bình thản, yên tĩnh của tâm hồn. Trong giấc mơ, hình ảnh nhũng kiều nữ chốn đô thành thỉnh thoảng vẫn cứ hiện lên, tiếp thêm nguồn sinh lực mói cho họ. Từ ngày ra đi, họ đã xác định được những gian khổ của đời lính chiến, đã chấp nhận nó, xem nó như sự thủ thách đối với chí làm trai. Đến lúc hi sinh, nỗi hận lớn nhất cùa họ là việc lớn chưa thành. Có lẽ trong tiếng “gầm” của dòng sông Mã đổ về xuôi có tiêng “gầm” của nỗi hận đó. Chính nó đã được trời đất chứng kiến, cảm thông và nâng lên một tầm vóc mới khiến chúng ta phải kính cẩn nghiêng mình.

Có thể thấy thêm ở bài thơ Tây Tiến, Quang Dũng đã dùng rất nhiều từ Hán Việt trang trọng, cố kính như “đoàn binh”, “biên cương”, “viễn xứ*» “độc hành”… Việc dùng từ như vậy đã góp phần đắc lực thể hiện tráng khí và chất chinh phu hào hùng của những người lính cũng có nghĩa là nó có tác dụng làm tăng thêm âm hưởng bi tráng cho tác phẩm.

Kết bài Tây Tiến

Nửa thế kỉ trôi qua kể từ ngày bài thơ Tây Tiến ra đời. Đã có nhiều vấn đề , nhiều sự việc bị phôi pha cùng năm tháng , nhưng bài thơ Tây Tiến vẫn còn đó, sừng sững như một tượng đài bất tử về những người lính vô danh thời chống Pháp. Với cảm hứng lãng mạn và âm hưởng bi tráng của mình, bài thơ luôn làm sống dậy trong ta kí ức  về một thời kì lịch sử không được phép quên, không thể nào quên.

( Nguyễn Đăng Điệp)

Dẫn theo Trần Liên Quang, Đỗ Thị Yên

Xem thêm : Kiến thức cơ bản cần nhớ, tất tần tật đề thi liên quan đến bài thơ Tây Tiến, những bài văn mẫu hay nhất, hình tượng người lính tây tiến : Tây tiến  

Bài văn của học sinh giỏi phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ Hàn Mặc Tử

Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ, tài liệu tham khảo, những bài văn hay phân tích Đây Thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử.

Mở bài cho bài Đây thôn Vĩ Dạ

 

 

Trong vườn Thơ mới với trăm hương sắc ngọt ngào, người ta đã phong cho Hàn Mặc Tử là thống soái của một trường thơ: Thơ điên. Chỉ với 28 tuổi đời (1912 — 1940) mà ông đã để lại cho nền văn học dân tộc hàng trăm vần thơ đẹp. Đến với thơ Hàn Mặc tử, ta bắt gặp một tâm hổn say trăng đến kì lạ:

Mở cửa nhìn trăng, trăng tái mặt

Khép phòng đốt nến, nến châu rơi

Thơ của ông rợn ngợp trong “hồn” và “trăng” vừa thực vừa mơ. Hồn thơ của ông mãnh liệt nhưng luôn quằn quại đau đớn, dường như có một vật lộn và giằng xé dữ dội giữa linh hồn và thể xác. Những tưởng bước vào đó chỉ có “hồn” và “trăng”, cuồng điên và bệnh hoạn nhưng những vần thơ trong trẻo như Đây thôn Vĩ Dạ buộc mỗi độc giả chúng ta phải có cái nhìn khác đi về nhà thơ đa tài nhưng bạc mệnh này. Đây thôn Vĩ Dạ khiến lòng người phải nghiêng nghiêng về một tình yêu vô bờ bến của tác giả đối với Vĩ Dạ, với những con người Huế

Sao anh không về chơi thôn Vĩ? 
Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên, 
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc 
Lá trúc che ngang mặt chữ điền. 

Gió theo lối gió, mây đường mây 
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay… 
Thuyền ai đậu bến Sông Trăng đó, 
Có chở trăng về kịp tối nay? 

Mơ khách đường xa, khách đường xa, 
Áo em trắng quá nhìn không ra… 
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh, 
Ai biết tình ai có đậm đà ?

Thân bài

Nhắc đến Đây thôn Vĩ Dạ, ta không thể quên được mối tình tuyệt vọng của thi nhân và giai nhân xứ Huế là Hoàng Thị Kim Cúc. Bệnh tật đã dứt lìa nhà thơ  ra khỏi nhiều ước mơ của tuổi trẻ trong đó có khát khao về tình yêu đôi lứa. Những năm cuối đời, Hàn Mặc Tử đã nhận được một bức bưu ảnh “có mây, có nước, có chiếc đò ngang với cô gái chèo đò, có mấy khóm tre, có cá ánh trăng hay ánh mặt trời chiếu xuống nước” cùng mây lời thăm hỏi của cố nhân, xúc động với tấm lòng của bạn cũ, tác giả đã sáng tác bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ với 3 khố thơ 12 câu tả cảnh ngụ tình để đáp lại tình cảm của người xưa. Nhớ đến người xưa, cảnh xưa ta sẽ nhớ đến Vĩ Dạ thôn.

Mở đầu cho một bức tranh thiên nhiên đầy màu sắc ấy, không phải là một câu miêu tả mà là một câu hỏi tu từ, một câu trách yêu hờn dỗi, là lời mời tha thiết, nhẹ nhàng với giọng thơ êm dịu, tình tứ như giọng nói dịu dàng của người con gái Huế:

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Câu hỏi như hàm chứa lời trách yêu rằng: lâu quá rồi “Sao anh không vể chơi thôn Vĩ, về thăm em?”. Cảnh cũ, người xưa vẫn cứ thấp thoáng gợi lên bao hoài niệm thân quen. Câu hỏi sử dụng từ “chơi” thay cho từ “thăm” càng tạo nên sự gần gũi, thân thương đối với cảnh vật và con người nơi thôn Vĩ. Chúng ta ngẫm kĩ thêm chút nữa sẽ thấy ẩn chứa bên trong câu hỏi là một lời tự vấn của chính bản thân tác giả. Ông mượn những lời thôn nữ Vĩ Dạ hỏi “anh” nhưng cũng chính là câu hỏi tự đặt ra để hỏi chính bản thân của mình rằng sao lâu quá rồi không về thăm nơi thôn Vĩ? Đây cùng chính là nỗi giãi bày nỗi niềm thương nhớ của tác giả làm cho bao kỉ niệm xa xưa nay lại sống dậy trong lòng, trong một hồn thơ. Nó gắn liền với cảnh sắc vườn tược và con người nơi xứ Huế mộng mơ, với những khu vườn tươi tốt, hoa trái ngọt, phong cảnh hữu tình. Như lời ca ngợi của nhà thơ Bích Khê về Vĩ Dạ:

Vĩ Dạ thôn! Vĩ Dạ thôn!

Biếc che cành trúc không buồn mà say.

Đối với riêng Hàn Mặc Từ, Vĩ Dạ đã từng in đậm dấu ấn của người thương để lại trong lòng bao nỗi khắc khoải:

Ngày mai tôi bỏ làm thi sĩ

Em lấy chồng rồi hết ước mơ.

Về với Vĩ Dạ là về  với bao cảm xúc mới và đón chào những điều đặc biệt:

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Cảnh vật được mở ra với muôn cây tươi tốt, một bức tranh thiên nhiên toàn đầy sức sống. Cau từng hàng mọc vươn lên trong nắng mới như đón chào những vị khách phương xa. Cảnh sắc bình minh rực rõ với ánh “nắng mới lên” là những ánh nắng sớm, là những nắng đầu tiên trong ngày, nắng còn lẫn sương vói khơi một cảm giác hư vô trong trẻo tinh khôi đến lạ thường. Cấu trúc câu thơ rất đẹp (nắng – cau – nắng), gợi sự quân quýt giữa cau thôn Vĩ và ánh nắng ban mai. Cảnh thật hữu tình! Dường như hàng cau được phát sáng nhờ những tia nắng mới và ngược lại, nắng đẹp hơn lung linh hơn khi chiếu rọi xuống những hàng cau thôn Vĩ. Cả hai tô điếm cho nhau làm nên một ý thơ đầy thi vị.

Sang đến dòng thơ sau, không gian nghệ thuật hạ xuống thấp hơn. E ấp dưới hàng cau xanh vững chãi là “vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. Sương đêm ướt đẫm cây cỏ hoa lá, màu xanh mơn mởn non tơ ngòi lên, bóng lên dưới ánh bình minh trông “mướt quá”. Mưót” là vì mượt mà, óng ả, mướt của một màu xanh rất đặc trung được liên tưởng độc đáo “xanh như ngọc”. Xanh như ngọc chứ không phải là xanh ngọc. Cách so sánh tinh tế khiên cả khu vườn thôn Vĩ đẹp tuyệt vời như một viên ngọc bích. Câu thơ gợi vẻ quyến rũ, long lanh tươi trẻ đầy sức sông dưới bàn tay chăm sóc của ngườ Vĩ Dạ cần cù và đất đai màu mỡ, khí hậu ôn hòa nên cảnh vật quanh năm tươi tốt, xum xuê. Nhưng khu vườn ấy là của ai? Có cụ thể không? Với cách sử dụng đại từ phiếm chỉ “ai”, thi nhân đã nhìn cảnh vật bằng đôi mắt trữ tình, bởi lẽ từ ai không xác định cụ thể, rõ ràng, nó gợi lên những tình cảm sâu kín, những yêu thương e ấp.

Nhớ ai dãi nắng dầm sương

Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao.

Từ “ai” được nhắc đến và cụ thể  hơn ở: Lá trúc che ngang mặt chữ điền “Ai” ở đây là giai nhân, người xuất hiện sau lá trúc e lệ, kín đáo và tình tứ của người con gái xứ Huế mộng mơ. Dùng một vài nét ước lệ, nhà thơ mượn thơ trong nhân gian để gợi tâm hồn, gợi lên tâm lòng của người thiếu nữ:

Mặt em vuông tựa chữ điền

Da em thì trắng áo em đen mặc ngoài

Lòng em có đất có trời

Có câu nhân nghĩa có lời thủy chung.

(Ca dao)

Gương mặt chữ điền phúc hậu lại ẩn hiện qua đường nét thanh mảnh của lá  trúc gợi ra sự duyên dáng, dằm thắm của các cô gái xứ Huê. Nhưng đằng sau cái cảnh vật nên thơ ấy đang chứa đựng những tình cảm kín đáo nơi niềm nhớ thương mong đợi của thi nhân. Dù xa xôi nhưng tác giả  vẫn hướng mình về Vĩ Dạ. Và Vĩ Dạ mãi mong anh trở về thăm. Lời thơ tha thiết một chân tình chưa thế nói hết. Người ấy, tình ấy, khiến cảnh thôn Vĩ càng thơ mộng hơn.

Sang đến khố thơ thứ hai vẫn nổì tiếp mạch thơ, vẫn là những vần thơ trong trẻo, dịu dàng, Nhưng một không gian thoáng đãng, mơ hồ, xa xăm lại được mở ra cảnh vật giờ đây chỉ còn là sự tan tác chia li                                                   ;

Gió theo lới gió, mây đường mây   

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay    

Làn gió ở đây thổi rất nhẹ không đủ sức đế cuốn trôi mây, không đù sức để  làm  cho nước gợn, bởi thế nên dòng nước đã phớt lờ nhưng không buồn cuộn chảy. Gió chỉ  đủ sức làm cho hoa bắp lay động càng gợi lên nổi buồn hiu hắt Trong tiếng Việt từ “lay” vốn không nảy sinh cảm xúc nhưng đặt trong hoàn cảnh này thì nó lại chất chứa một nỗi niềm tâm sự. Đã  hơn một lần ta bắt gặp động từ này trong ca dao Huế.

Ai về Giồng Dứa qua truông

Ció lay bông sậy bỏ buồn cho em.


Với giọng thơ nhẹ  nhàng thoáng buồn, cảnh vật trở nên êm đềm, không gian vắng lộng, mơ buồn. Nghệ thuật đối lập “Gió theo lối gió” đối với “mây đường mây” khiến câu thơ như gãy đôi ra gợi sự chia lìa đôi ngả. Nhưng cái đáng nói ở đây lại là sự chia lìa giữa những hình ảnh thiên nhiên vốn đi liền với nhau (Gió thổi mây theo về), đằng này thì gió đường gió // mây đường mây. Phải chăng trong hình ảnh thiên nhiên ấy chứa đựng nỗi sầu chia li của lòng người? Một dự cảm buổn và lòng khao khát giao hòa với đời, với người cúa thi nhân đã lan tỏa ra cảnh vật, khiến dòng nước cũng trở nên buồn thiu trĩu nặng một tâm sự, một niềm trắc ấn khôn nguôi.

Nỗi niềm ấy bật lên thành hai câu hỏi da diết, khắc khoải:

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?

Câu thơ gợi tả cảnh Vĩ Dạ đò giang tuyệt đẹp nhưng đượm buồn. Hỏi nhưng thật ra tác giả đang hỏi chính lòng mình khi nhớ đến đò xưa bến cũ. Sông Hương bây giò là sông trăng/ hình ảnh trăng là hình ảnh quen trong thơ Hàn Mặc Tử. Thơ anh ngập tràn ánh trăng, thừa mứa ánh trăng đến mức đem đi rao bán. Trăng đối vớii thi nhân là bạn tri âm tri ki. Nói vậy, ta có thể hiếu trăng theo nghĩa đó. Trăng chính là hình ảnh tượng trưng cho tình người tình đời mà Tử đang khao khát. . Khao  khát lại càng tội nghiệp hơn khi ta chợt nhớ đến bi kịch của thiên tài đang phải đối mặt. Đó chính là căn bệnh quái ác đang hành hạ lính hồn và thể xác anh.

Chính bi kịch ấy khiến cho một người yêu trăng, say trăng, giờ đây lại đang đói trăng, đang khát thèm trăng. Hai dòng thơ bật lên, vẽ ra hai không gian đối lập: Ngoài ấy (cuộc đời) và trong này (thi nhân). Nếu ngoài ấy trăng dư giả, đầy tràn cả không gian (sông trăng, bến trăng, thuyền trăng), cả thời gian (cả một đêm trăng). Thì ngược lại, trong này, thi nhân đang khao khát trăng đến cháy bỏng đến khắc khoải thành một nỗi niềm băn khoăn, trăn trở:

“Có chở trăng về kịp tối nay?”. Câu thơ là một nỗi đau, nỗi đau giày vò về  thể xác, cơn đau tính thần giằng xé, bệnh tật, cô độc, tuyệt vọng:

Mây chết đuối ở dòng sông vắng lặng

Trôi thây về xa tận cổ vô biên

Giữa lớp lớp những dòng thơ điên loạn, ma quái khổ đau đó, chính tác giả đang mang trong mình một tâm trạng lo lắng. Từ “kịp” làm tăng thêm sự băn khoăn, lo âu, đau buồn của tác giả. “Chở trăng” như chờ những tình yêu thương nhưng lại phải kịp tối nay. Câu thơ nghe sao mà xót xa lòng. Phải chăng chỉ tối  nay? Chỉ tối nay thôi sao? Đúng vậy. Nếu không kịp tối nay thì rất có thể đây sẽ là lần chia tay vĩnh viễn. Câu thơ khắc khoải một nồi niềm, một dự cảm xót xa, đồng thời cũng thể hiện một niềm khát khao muốn được giao cảm với đời của thi nhân. Thật không nỗi khổ đau nào hơn là phải sống trong xa lánh, cô độc với người đời. Đối với thi nhân thì đây là một án tử mà anh phải đeo mang, gánh chịu.

Ông sợ cuộc sống của ông không thể kéo dài được nữa, ông sợ mình sẽ không còn co hội để  về thăm Vĩ Dạ, về thăm những con người nơi xứ Huế. Giũa muôn trùng câu nhớ và vẻ đẹp hữu tình nơi xứ Huế dã nói lên một tình yêu thầm kín cùa tác giả, một tình yêu kín đáo dịu dàng.

Để cho kỉ niệm đưa tâm hồn mình về với thôn Vĩ, Hàn Mặc Tử như chìm đắm trong cảnh vật nhưng cũng không thôi trăn trở với tâm trạng của một người luôn mang mặc cảm của tình yêu đơn phương, mặc cảm bệnh tật, mặc cảm bị xa lánh. Và, trước hình ảnh người thiếu nữ Huế thoáng  hiện, trắng trong, kín đáo, gần mà như xa, thực mà mơ khiến tác giả phải thốt lên:

Mơ khách đường xa, khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra

“Khách đường xa” gợi sự xa vắng. “Khách đường xa” ở đây có thể là con người thôn Vĩ, những người du khách hay chính những người giai nhân mà chính tác giá đã từng mơ ước. Với nghệ thuật điệp từ “Mơ khách đường xa, khách đường xa” gọi ta liên tưởng đến trong giấc mơ khắc khoải mà dường như mĩ nhân đó đang đi xa nhà thơ, nên câu thơ giống như một tiêng lòng thảng thốt. Hình ảnh “áo trắng” kết hợp với ” khách đường xa” trong không      gian mơ hồ tựa như trinh nữ. sắc trắng thường đem đến cảm giác thanh thoát tinh khôi. Nhung ở đây, ta lại có cảm giác bất thường. Bởi sắc trắng đó nhu làm mờ nhòe thị lực của nhà thơ, khiến “nhìn không ra”. Câu thơ chập chờn bâng khuâng, mờ ảo của “sương khói” Vĩ Dạ:

 

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà

Tất cả ý thơ của hai câu đầu tạo nền đề cho hai câu sau, bao dồn nén cho trăn trở, nhức nhối của “sương khói”, của đại từ phím chỉ “ai”. Vĩ Dạ mưa nhiều, những buổi sớm mai và chiều tà phủ qnờ sương khói. “Sương khói” trong thơ Đường gắn liền với tình cố hương. Ở đây “sương khói” đã làm nhòe đi, đã che khuất  bóng người. Còn tác giả thì đã biết mình mắc căn bệnh hiếm nghèo, một bên là cõi sống non tơ và tình thơ hé mở, một bên là nỗi cô đơn, bệnh tật với cỏi hư vô đang ám ảnh giày vò. Cuộc đời của Hàn Mặc Tử càng trớ nên cay đăng, đau khổ ở trong lòng thể hiện rõ nhất ở câu thơ cuối:                                                        fl

Ai biết tình ai có đậm đà?

Một câu hỏi tu từ không lời đáp và đó còn là tiếng kêu tuyệt vọng đớn đau, hai đại từ  phiếm chỉ “ai” cùng tô đậm thêm tính đa nghĩa cho câu thơ và nhất là đã khơi gợi lên một nỗi niềm u ẩn, mênh mang sâu lắng trong lòng thi nhân. Và đây cũng  như là câu trả lời cho câu hỏi  đầu bài “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?  Kết cấu đầu cuối hô ứng lạo nên một bài thơ đặc sắc. với cấu tứ rất đẹp va tình của thi nhân đối với Huế cũng rất sâu sắc. Không chỉ thế bài thơ giúp người đọc thêm cảm thương cho nhà thơ tài hoa, đa tình mà bạc mệnh, từng say đắm với mối tình tha thiết nhưng suốt đời  phải sống trong bệnh tật. Ngoài ra, ta cũng cần  nhìn nhận đôi chút về đại lừ “ai”, “ai” trong bài thơ có tất cả 4 lần xuất hiện, cả 4 lần đều mơ hồ, ảo ảnh. Đều nói về cái xa vời, khó với, nhà thơ cảm thấy mình hụt hẫng, chới với  giữa hư và thực; mộng và ảo. Một chút hi vọng mong manh mà tha thiết như đang nhạt nhòa và mờ đi trong sương khói.

Kết bài cho bài Đây thôn Vĩ Dạ

Hàn Mặc Tử đã để lại cho to một tứ thơ đẹp : cảnh và người, mộng và thực ,say đắm và bâng khuâng, ngạc nhiên và thẫn thờ, bao hình ảnh đẹp hội tụ trong 3 khổ thơ thất ngôn, câu chữ toàn bích. Đây thôn Vĩ Dạ là một bài thơ tình tuyệt vời. Tuy có ngậm ngùi xót xa nhưng vẫn thiết tha yêu đời, , yêu thiên nhiên. Bài thơ đã tô  đậm thêm tình thương, tình yêu, tình người, tình đời  và cả tình yêu quê hương đất nưóc, làm nên một kiệt tác xinh xắn của thi ca Việt Nam.  Chế Lan Viên đã nhìn nhận “Mai sau những cái tầm thường mực thước sẽ biến tan đi, và còn lại của cái thời kì này chút gì đáng kể đó là Hàn Mặc Tử”

(Trần Thị Kiều Oanh – THPT Mĩ Quý, Tháp Mười, Đồng Tháp)

Dẫn theo Trần Liên Quang, Đỗ Thị Yên

Xem thêm : Phân tích bài Đây thôn Vĩ Dạ Ngữ văn 11 : Đây thôn Vĩ Dạ

Đề đọc hiểu và nghị luận xã hội về lời xin lỗi

Đề bài : đoạn văn bản sau và thực hiện các yêu cầu

“Chiều tối qua ngày 11/11/2016, một tấm hình lan truyền trên mạng gây xúc động và nhận được biết bao nhiêu lời khen ngợi. vô tình va quẹt và làm vỡ một chiếc gương ô tô bên đường, một cậu học trò Hải Phòng đã viết một lời xin lỗi với nội dung sau : “Do vô tình nên cháu đâm vào gương ô tô. Cháu xin lỗi ạ! Liên lạc với cháu theo số điện thoại…để cháu đền ạ vì cháu không biết chủ ô tô là ai” lá thư được dán trên kính ô tô khiến  nhiều người bày tỏ sự cảm kích, khen ngợi hành động trung thực, dám làm, dám chịu của người viết lá thư này.

Anh Chung, chủ nhân xe ô tô bị vỡ gương, dù không tin lắm nhưng cũng gọi điện vào số điện thoại ghi trên giấy. Bất ngờ khi biết đó là em Nguyễn Thế Tùng học sinh lớp 11 trường Trần Nguyên Hãn-Hải Phòng… “Tôi rất cảm động vì trong xã hội ngày nay không ít người gây hậu quả nhưng không dám nhận lỗi, thậm chí thoái thác trách nhiệm, đổ lỗi cho người khác. Đây là hành động dũng cảm cho thấy em được gia đình và nhà trường giáo dục rất tốt.” anh Chung chia sẻ”

(Theo kinh HTV7, chương trình tin tức 60S)

Câu 1 : Xác định phong cách ngôn ngữ và phương thức biểu đạt chính của văn bản.
Phong cách ngôn ngữ: báo chí

Phương thức biểu đạt  : tự sự

Câu 2 : Nêu ngắn gọn nội dung chính của văn bản
Văn bản kể lại việc em Nguyễn Thế Tùng viết lời xin lỗi và dũng cảm nhận lỗi sai khi vô tình làm vỡ kính. Hành động đó đã lan truyền trên mạng xã hội và được khen ngợi vì dũng cảm và trung thực.

Câu 3 : Theo anh/chị hành động của em Nguyễn Thế Tùng có ý nghĩa gì?
Hành động của em Nguyễn Thế Tùng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong cuộc sống bởi đó là hành động đẹp, là tấm gương tiêu biểu cho mọi người noi theo.

Câu 4: Văn bản trên đã gửi gắm người đọc thông điệp gì? Thông điệp nào quan trong nhất với anh chị?
Văn bản trên đã gửi đến thông điệp cho người đọc về tính trung thực trong cuộc sống. Không chỉ vậy còn là lòng dũng cảm. Thông điệp quan trong nhất với tôi chính là tính trung thực. Tính trung thực là một đức tính cần thiết để rèn luyện, bồi đắp  tâm hồn mỗi con người. Khi có tính trung thực bản thân cũng như xã hội sẽ tốt đẹp hơn. Bên cạnh đó còn có những người thiếu tính trung thực, sẽ bị mọi người xa lánh, xem thường. Họ đáng phê phán và lên án. Bản thân tôi sẽ luôn rèn luyện, tu dưỡng để có tính trung thực.

Làm văn:

Viết đoạn văn 200 chữ trình bày suy nghĩ về lời xin lỗi trong cuộc sống ?

Trong cuộc sống chắc hẳn không ai trọn vẹn và không mắc những sai lầm, điều quan trọng là biết nói lời xin lỗi . Vậy “xin lỗi” là gì? Xin lỗi là khi ta biết nhận sai khi bản thân mắc lỗi, xin lỗi chính là  một nét tế nhị cần có trong xã hội thể hiện sự thiện cảm và kính trọng người khác. Khi xin lỗi chúng ta có thể cảm hóa cơn giận và ngăn chặn những hiểu lầm. Khi xin lỗi chân thành thì có thể hóa giải những hành động tiêu cực. Nó giúp cho những mối quan hệ trở nên tốt đẹp hơn, giúp bản thân mỗi người trở nên lịch sự, khiêm tốn, có lòng tự trọng và tinh thần trách nhiệm trong mắt người khác. Em Nguyễn Thế Tùng là minh chứng tiêu biểu cho điều đó. Những người biết xin lỗi xứng đáng để chúng ta ngưỡng mộ và khâm phục. bên cạnh đó vẫn có những người sai phạm , được góp ý nhưng không chịu nhận lỗi, không xin lỗi. Họ đáng bị phê phán và lên án. . Mỗi chúng ta phải luôn rèn luyện tính trung thực và dũng cảm để khi sai phạm thì sẵn sàng nhận lỗi và nói lời xin lỗi. bản thân em sẽ luôn cố gắng rèn luyện bản thân để biết xin lỗi khi sai phạm trong cuộc sống.\

Đề đọc hiểu văn nghị luận xã hội bàn về hạnh phúc

Đề bài :
“Đừng nói cuộc đời tẻ nhạt nhé em
Hạnh phúc ở trong những điều giản dị
Trong ngày, trong đêm
Đừng than phiền cuộc sống tẻ nhạt nhé em
Hạnh phúc ngay cả khi em khóc
Bởi trái tim buồn là trái tim vui
Hạnh phúc bình thường và giản dị lắm
Là tiếng xe về mỗi chiều của bố
Cả nhà quay quần trong căn phòng nhỏ
Chị xới cơm đầy bắt phải ăn no
Hạnh phúc là khi đêm về không có tiếng mẹ ho
Là ngọn đèn soi tương lai em sáng
Là điểm 10 mỗi khi lên bảng
Là ánh mắt một người lạ như quen
Hạnh phúc là khi mình có 1 cái tên
Vậy đừng nói cuộc đời tẻ nhạt nhé em
Tuổi 18 còn khờ khạo lắm
Đừng tô vẽ một chân trời xa toàn màu hồng thắm
Hạnh phúc vẹn nguyên giữa cuộc đời thường”
( “Hạnh phúc”-Thanh Huyền)
1. Xác định phương thức biểu đạt chính và phong cách ngôn ngữ của văn bản trên?
Phương thức biểu đạt: tự sự
Phong cách ngôn ngữ: nghệ thuật
2. Thanh Huyền quan niệm về hạnh phúc như thế nào trong bài thơ trên? Quan niệm ấy được thể hiện cụ thể ở những hình ảnh, từ ngữ nào?
Thanh Huyền quan niệm hạnh phúc xuất phát từ những điều giản dị, gần gũi. Hạnh phúc được biểu hiện cụ thể qua hình ảnh, từ ngữ như “ tiếng xe về mỗi chiều của bố”,“Cả nhà quây quần trong căn phòng nhỏ”, “Chị xới cơm đầy bắt phải ăn no”
“khi đêm về không có tiếng mẹ ho”, “Là ngọn đèn soi tương lai em sáng”, “ điểm 10 mỗi khi lên bảng”, “Là ánh mắt một người lạ như quen”, “Hạnh phúc là khi mình có 1 cái tên”

3. Cho biết hiệu quả nghệ thuật của của phép tu từ so sánh trong những câu thơ in đậm?
Hiệu quả của nghệ thuật phép tu từ so sánh với hàng loạt hình ảnh giàu sức biểu cảm tác giả gợi ra hạnh phúc là những điều giản dị, gần gũi với mỗi người.
4. Anh chị suy nghĩ gì về lời nhắn nhủ của nhân vật trữ tình dành cho em mình?
Tác giả nhắn nhủ em bằng tình cảm chân thành và tình yêu thương của người chị dành cho em, hạnh phúc xuất phát từ những điều giản dị, hãy biết trân trọng nó. Hạnh phúc trong cuộc sống chính là từ bản thân mỗi chúng ta xây dựng nên. Không tô thắm màu hồng của hạnh phúc mà chắt chiu nó bằng những điều đơn giản, đời thường. Biết trân trọng hạnh phúc chắc chắn hạnh phúc sẽ mỉm cười với mỗi chúng ta. Bên cạnh đó vẫn có những người luôn ảo tưởng về những hạnh phúc xa xôi, không thực tế vì vậy rất dễ rơi vào cảm giác bất hạnh. Mỗi chúng ta hãy trân trọng hạnh phúc của mình trong những điều giản dị nhất.
Nghị luận xã hội
Hãy viết đoạn văn 200 chữ trình bày suy nghĩ của anh chị về hạnh phúc của nhà thơ Thanh Huyền ?

Trong cuộc sống của mỗi người có thể đi tìm cho mình những mục tiêu khác nhau để đi đến hạnh phúc của bản thân nhưng mấy ai biết kiếm tìm hạnh phúc như thế nào. Chính vì vậy nhà thơ Thanh Huyền đã viết “ Hạnh phúc ở trong những điều giản dị”. vậy “hạnh phúc” là gì? Đó là một trạng thái cảm xúc của con người khi được thỏa mãn nhu cầu nào đó mang tính trừu tượng, hạnh phúc là một cảm xúc bậc cao, được cho rằng chỉ có ở loài người, nó mang tính nhân bản sâu sắc và thường chịu tác động của lí trí. Như vậy cả câu nói“ Hạnh phúc ở trong những điều giản dị”. nghĩa là hạnh phúc tồn tại trong những điều bình thường,gần gũi trong cuộc sống. Hạnh phúc không phải lúc nào cũng cao sang, đôi khi tình yêu lại bắt đầu từ những điều giản dị nhất mà những lúc vô tình bạn không nhận ra. Như Thanh Huyền định nghĩa hạnh phúc vô cùng giản đơn có thể đó chỉ là “tiếng còi xe mỗi chiều của bố” hay “chị xới cơm đầy bắt phải ăn no”, đó là những yêu thương quan tâm những điều nhỏ nhặt trong cuộc sống của những người thân yêu trong gia đình. Những điều ấy bình dị mộc mạc thôi nhưng gợi cho lòng người bao nhiêu ấm áp, yêu thương. Bên cạnh đó không phải ai cũng cảm nhận được hạnh phúc giản dị mà có những người chạy theo những thứ phù phiếm, xa hoa, chạy theo những ảo tưởng mà quên mất hạnh phúc giản đơn bình dị quanh mình. Vì vậy khi nhận ra thì hạnh phúc đã tuột khỏi tầm tay. Những người như vậy đáng phê phán và lên án. Mỗi chúng ta hãy biết trân trọng hạnh phúc và cố gắng đừng tham lam những điều xa vời với bản thân. Bản thân em sẽ trân trọng những hạnh phúc giản đơn mà mình đang có. Đó là sự yêu thương và được yêu thương của gia đình cũng như mọi người xung quanh!

Đề văn sưu tầm

Tất tần tật về bài Vội Vàng Xuân Diệu, dàn ý và bài văn mẫu

Phân tích bài Vội vàng, Xuân Diệu

Bố cục bài thơ

Bài thơ Vội vàng có thể chia bố cục thành ba đoạn với những nội dung tương ứng sau:

Đoạn đầu (từ câu thơ đầu đến “Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”): Tình yêu tha thiết đối với thiên đường trên nơi trần thế ‘của nhà thơ.

Đoạn giữa (từ câu tiếp theo đến “Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa”): Nỗi băn  khoăn, tiếc nuối của nhà thơ về sự ngắn ngủi của đời  người trước sự trôi đi nhanh chóng của thời gian.

Đoạn cuối (còn lại): Lời giục giã vội vàng, cuống quýt của nhà thơ.

Nhiều bài thơ của Xuân Diệu có lối cấu tứ dựa theo sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa mạch cảm xúc và mạch luận lí. Bố cục của Vội vàng thể hiện rõ mạch cảm xúc và mạch luận lí ấy của cái tôi nhà thơ. Mùa xuân của đất trời đầy hương sắc, rạo rực và tràn trề nhựa sống như mời gọi và khiến nhà thơ “sung sướng”, ngất ngây, đắm say cảnh sắc ấy. Nhưng bất ngờ nhận ra tất cả chi thực sự thần tiên trong cái xuân thì của nó, nên thi sĩ cảm thây “vội vàng một nửa”, “không chờ nắng hạ mới hoài xuân” (đoạn 1). Thi sĩ đã lí giải những điều mình nhận ra và cảm nhận được. Đó là sự nghịch lí giữa đời người và thời gian. Đời người thì ngắn ngủi trong khi đó thời gian qua đi rất nhanh, kéo theo sự già nua I và “hẽì”, “mẩì” cả tuổi xuân và “tôi” (đoạn 2). Và đê’ chiên thắng được thời gian, chỉ  có một cách duy nhất là phải sống nhanh lên, vội vàng lên, đừng phí tuổi trẻ để kịp tận hưởng những gì đẹp nhất  của cuộc đời (đoạn cuốì).

Phân tích bài thơ

Mở đầu bài thơ Vội vàng là khổ thơ ngũ ngôn thể hiện ước muốn kì lạ,  phi hiện thực của thi sĩ: đoạt quyền của tạo hóa.

Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất;

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi.

Ước muốn ấy rất lạ và không thể thành hiện thực. Tuy nhiên, ước muốn  ấy đã cho thấy sự táo  bạo và phong cách độc đáo trong cái tôi của nhà thơ. Chính điều đã chứng tỏ rằng khát vọng giữ lại hương sắc cuộc đời của nhà thơ rất mãnh liệt.

Tiếp sau bổn câu thơ ngũ ngôn, nhà thơ đã vẽ ra một bức tranh trần thế  tuyệt mĩ. Bức tranh ấy chính là sự lí giải của nhà thơ vì sao mình lại có những ước muốn lạ kì như trên. Bức tranh cuộc sống ấy  không chỉ đẹp mà nó còn rất quen thuộc, nó có ngay cạnh tất cả chúng ta:

Của ong bướm này đây tuần tháng mật;

Này đây hoa của đồng nội xanh rì;

Này đây lá của cành tơ phơ phất

Của yến anh này đây khúc tình si;

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,

Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửa;

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;

Hình ảnh thiên nhiên và sự sống được hiện ra với đầy đủ nét tươi trong, thanh khiết và tràn trề nhựa sống. Mọi vật như chứa đựng hoi thở nồng ấm và cả niềm hạnh phúc của cuộc đời, nó hiện hữu trong thế có đôi có cặp rất hữu tình: ong bướm, hoa lá, yến anh… Nhà thơ đã cảm nhận được vẻ đẹp diệu kì của thiên nhiên, cuộc sống và thổi vào đó một tình yêu say đắm. Tình yêu đó được bộc lộ ra ở giọng điệu, nhịp thơ tuôn chảy, sôi nổi và một so sánh rất mới mẻ, thể hiện sự táo bạo trong tình yêu thiên nhiên của nhà thơ: “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”.

Tuy nhiên, ngay chính lúc cảm xúc “sung sướng”, ngất ngây đang dâng trào, giao hòa với mọi vật thì cũng là lúc nhà thơ bắt đầu cảm thây nuôi tiếc trước sự trôi cháy của thòi gian:

Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa:

Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.  

Cảm nhận về sự trôi chảy của thòi gian, nhà thơ đã có những phát hiện rất mới mẻ về quy luật của nó. Đó là quy luật “một đi không trở lại”. Và như thế thì tuổi trẻ cũng vậy: “tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại”. Nên nhà thơ đã phủ nhận cách cảm nhận trước đây của người xưa về thời gian: “Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn”. Với Xuân Diệu, thời gian là tuyến tính, mỗi phút giây qua đi là mất đi vĩnh viễn. Chính thế, nên ông đã lây sinh mệnh cá nhân, hơn thế là  tuổi trẻ –  khoảng ngắn ngủi nhất của đời người – làm thước đo thời gian. Điều này người xưa chi thấp thóang trong dự cảm, Xuân Diệu thì ráo riết, quyết liệt khẳng định:

Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua       
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già, 
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất. 
Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật, 
Không cho dài thời trẻ của nhân gian; 
Nói lam` chi rằng xuân vẫn tuần hoàn, 
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lạị 
Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi, 
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời; 

 

Rõ ràng đoạn thơ trên đã cho thấy mùa xuân chính là cái đẹp của thiên nhiên tuổi trẻ là cái đẹp của con người. Theo đó, mùa xuân của đất trời thì sẽ qua đi, còn tuổi xuân của con người thì chẳng bao giờ “thắm lại”, Nói như một triết gia khác thì: “Không ai tắm hai lần trên một dòng sông”.

Chính sự nhận thức về thời gian trôi chảy, lây tuổi trẻ, khoảng ngắn ngủi nhất của cuộc đời, để đo đêm thời gian đã khiến nhà thơ nhìn đâu cũng thấy sự li biệt, thấy mất mát. Nhà thơ thấy thời gian như ngọn gió, bay nhanh, lướt qua và mang đi tất cả. Nêu tạo vật đang ớ thời kì đẹp nhất, sung mãn nhất thì cũng có nghĩa là lúc chúng đối mặt với sự tàn phai, hủy diệt bới ngọn gió thời gian ấy. Cho nên, đâu đâu cũng thấy mùi, vị chia phôi của thời gian:

Mùi tháng, năm đều rớm vị chia phôi, 
Khắp sông, núi vẫn than thầm tiễn biệt…. 
Con gió xinh thì thào trong lá biếc, 
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi ? 
Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi, 
Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa ? 

Qua những câu thơ trên, ta thây rõ như cả đất trời, núi sông, vạn vật đang dáng lên một âm thanh thảng thốt đáng sợ nhất: âm thanh của sự chia phôi li biệt.

Con người không thể đoạt quyển tạo hóa, không thế “buộc gió” hay “tắt ‘”nắng” được, cũng càng không thể nắm giữ lại thời gian. Để chiến  thắng được qua đi nhanh của thời gian, thi sĩ thấy cách duy nhất là phải chạy đua với thời gian bằng cường độ sống vội vàng và quyết liệt:

Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm.

Hơn thế  ta phải có khát vọng sống mãnh liệt, phải nhanh lên tận hiến và tận hưởng cuộc sống bằng tất cả các giác quan:

Ta muốn ôm 
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn; 
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn, 
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu, 
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều 
Và non nước, và cây, và cỏ rạng, 
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng 
Cho no nê thanh sắc của thời tươi; 
– Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!

Việc sử dụng hàng loạt các điệp từ, những động từ, tính từ mạnh và câu thơ cuối đã toát lên tất cả cái mạnh mẽ, quyết liệt, táo bạo và hối hả đến cuồng say của cái tôi rất Xuân Diệu! Quả thật, Xuân Diệu là một “nguồn sống dào dạt chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này” (Hoài Thanh).

Đặc sắc nghệ thuật

Đặc sắc nghệ thuật của Vội vàng là ờ sự kết hợp đan xen giữa mạch cảm xúc và mạch triết luận một cách hài hòa, nhuần nhuyễn. Bài thơ còn thể hiện nét mới mẻ tong cách vận dụng thể thơ tự do, nhịp điệu đa dạng, linh hoạt thủ pháp trùng diệp, đặc biệt là hình ảnh mới lạ trong cách so sánh đầy cá tính sáng tạo.

Chủ đề tư tưởng

Vội vàng thể hiện một quan niệm rất mới của cái tôi thơ mới về thời gian, tuổi trẻ, hạnh phúc: Thời gian qua đi rất nhanh và một khi đi thì không trở lại, tuổi trẻ là phần đẹp nhất của đời người thì “chẳng hai lần thắm lại”. Vậy, để tận hưởng vẻ đẹp của tuổi trẻ, của cuộc đòi thì phải sống “vội vàng”. Đây cũng là niềm khao khát sống mãnh liệt và cũng là triết lí sống của nhà thơ.

Bộ đề luyện thi về bài Vội Vàng

Câu 1. Trình bày về kết cấu và mạch cảm xúc của bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu.

Gợi ý trả lời: Tham khảo mục 1

Câu 2. Anh/chị hãy nhận xét ngắn gọn về cái tôi trữ tình trong bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu.

Gợi ý trả lời

  • Một cái tôi có ý thức cá nhân mạnh mẽ: ham sống, yêu đời, khát khao giao cảm.
  • Một cái tôi tràn đầy cảm xúc lãng mạn.
  • Một cái tôi mới mẻ về quan niệm thẩm mĩ, thời gian và tuổi trẻ, nhân sinh.
  • Một cái tôi độc đáo thể hiện qua hình thức nghệ thuật: thể thơ, giọng điệu, hình ảnh, từ ngữ.

Đề 3 :Phân tích hình ảnh thiên nhiên và cái tôi trữ tình trong đoạn thơ sau

Tôi muốn tắt nắng đi 
Cho màu đừng nhạt mất; 
Tôi muốn buộc gió lại 
Cho hương đừng bay đi. 

Của ong bướm này đây tuần tháng mật
Này đây hoa của đồng nội xanh rì; 
Này đây lá của cành tơ phơ phất; 
Của yến anh này đây khúc tình si. 
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi; 
Mỗi sáng sớm, thần vui hằng gõ cửa; 
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần; 
Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa: 
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân. 

(Vội vàng – Xuân Diệu, Ngữ văn 11, Tập hai, NXB Giáo dục, 2008 tr 22)


Bài văn tham khảo

Xuân Diệu, một cái tên tiêu biếu trong phong trào Thơ mới ở Việt Nam, ông cống hiến cho nền văn học nước ta trên dưới 1.000 bài thơ. Mỗi bài thơ đều mang một cái tôi riêng, một tính cách riêng của ông, trong số đó Vội vàng là bài thơ thâu tóm toàn bộ lối sống  riêng biệt của Xuân Diệu một lối sống vội vàng, một lối sống cuống quýt, sống để đắm say tình yêu, say đắm cảnh trời, muốn  tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình bằng những vần thơ êm lãng mạn, tràn đầy sức sống, với những ước muốn táo bạo, mạnh mẽ mang  đầy cá tính của một nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh) . Sự sáng tạo mạnh mẽ, và tình yêu say đắm cuộc đời, thiên nhiên được thể hiện rõ  nét qua những dòng thơ đầu của thi phẩm:

Tôi muốn tắt nắng đi 
Cho màu đừng nhạt mất; 
Tôi muốn buộc gió lại 
Cho hương đừng bay đi. 

Của ong bướm này đây tuần tháng mật
Này đây hoa của đồng nội xanh rì; 
Này đây lá của cành tơ phơ phất; 
Của yến anh này đây khúc tình si. 
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi; 
Mỗi sáng sớm, thần vui hằng gõ cửa; 
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;

Xuân Diệu, một cái tên hết sức quen thuộc trong làng thơ Việt Nam, ông sinh năm 1916, mất 1985, quê ở làng Trảo Nha, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh .Ông bắt đầu sự nghiệp thơ văn với bút danh Trảo Nha. Đói với thơ ca đương thời, Xuân Diệu đem lại một sức sống mới, thể hiện quan niệm sống mới lạ cũng những cách tân nghệ thuật đầy sáng tạo. Ông là nhà thơ của tình yêu,, của mùa xuân và tuổi trẻ với giọng thơ sôi nổi đắm say, yêu đời tha thiết. Ở hồn thơ Xuân Diệu, ta luôn bắt gặp một sự đồng điệu tuyệt vời giữa những trái tim trẻ tuổi trẻ lòng mà như Thơ Xuân Diệu còn là một nguồn sống dào dạt chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này, Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình. Khi vui cũng như khi buồn, người đều nồng nàn tha thiết.

Quả thực, với cặp mắt xanh non, ngơ ngác, vói niềm yêu đòi đến vổ vập, cuồng nhiệt, “Tôi chỉ là một cây kim nhỏ bé mà vạn vật là muôn đá nam châm”, Xuân Diệu đã phát hiện ra bao vẻ đáng yêu của con người, của cuộc sống đủ thanh âm, hương sắc này. Với Xuân Diệu, tất cả đều là tình yêu thứ nhất  là mùa xuân đầu, là tình không tuổi và xuân không ngày tháng. Thế nên phải vội vàng, phải gấp gáp, phải hưởng thụ tất cả thôi:”Em mười tám tuổi hai mươi tuổi / Đừng để mất một cái gì mà không hưởng”. Quá vội vàng, quá tham lam nhưng thật dễ đồng cảm và thương quý một trái tim yêu thiết tha cuộc sống Đó chính là quan niệm sống rất riêng, rất cá tính của Xuân Diệu trước Cách mạng mà Vội vàng là một tuyên ngôn cho quan điểm nhân sinh ấy. Cùng chính từ hồn thơ đó, Xuân Diệu đã thổi vào phong trào Thơ mới một sức sống mãnh liệt, nồng nàn xiết bao!

Ngày từ nhan đề của bài thơ Vội vàng, ta đã cảm nhận được sự hăm hở, sôi nổi cùa Xuân Diệu đối với cuộc ống này. Một cách sống khác biệt, sống đế chạy đua với thời gian, chạy đua với thực tại để rồi níu kéo và có những ước muố trái ngược với quy luật tự nhiên và dường như muôn tước đoạt quyền của tạo hóa nhằm muốn bắt thiên nhiên ngừng lại để tận hưởng hương sắc của mùa xuân.

Tôi muốn tắt nắng đi 
Cho màu đừng nhạt mất; 
Tôi muốn buộc gió lại 
Cho hương đừng bay đi. 

Mở đầu bài tha là một khổ thơ ngũ ngôn thể hiện mạnh mẽ được khát vọng sống xen lẫn trong đó là sự lặp lại hai lần cấu trúc “Tôi muốn… cho../’ đã gợi iên sự cuống quýt, vội vàng của Xuân Diệu khi ông đã dần ý thức được sự trôi qua lặng lẽ của thời gian. Khi ấy, thi nhân quá khát khao, ước vọng nên đã thốt lên thành lời “tôi muốn”… Ngay sau đó là những vần thơ vói những hành động táo bạo vô cùng và sự hăm hở hết sức lạ thường mà chỉ có ở Xuân Diệu đó là hành động “tắt nắng”, “buộc gió”. “Tắt nắng” và “buộc gió” là những hành động phi lí không thể thực hiện được. Nhưng trong thơ ca, có rất nhiều hành động phi lí lại trở nên có lí và dễ đồng cảm mà ước muốn táo bạo của Xuân Diệu là một điển hình. Bởi vì đôi với Xuân Diệu, khi ông đã có khát khao sống được trọn vẹn chữ sống, ông luôn muôn giữ cho mình cái màu của nắng, cái hương của mùa xuân để đừng bao giờ nhạt mất và bay đi. Đây cũng chính là đoạn thơ thế hiện rõ nhất cái tôi của tác giả. Hơn thế nữa, Xuân Diệu luôn khát khao, thèm sống đến ngông cuồng, táo bạo:  “Muôn nỗi ấm với muôn ngàn nỗi mát/ Ta đều ăn nhấm nhía rất ngon lành”. Như vậy hương – sắc kia của cuộc sống đẹp biết nhường nào thì lí do gì mà không yêu được chứ? Nhung quy luật nghiệt ngã muôn thuở hương có nồng nàn, màu có sặc sỡ rồi cũng sẽ tàn phai, héo úa. Thế nên thi nhân phải ước muôn đoạt quyền tạo hóa “tắt nắng”,buộc gió” để giữ lại hương sắc cho đời thì thật đáng trân trọng biết bao tình yêu ấy!

Đây mới chỉ là khúc dạo đầu cho bản tình ca. Tinh yêu, niềm khát khao giao cảm của nhà thơ sẽ được tuôn trào trong những dòng thơ rất mãnh liệt, đắm say. Ta hã  lắng lòng mình đế thưởng thức khúc nhạc du dương tình ái ấy.

Của ong bướm này đây tuần tháng mật;

Này đây hoa của đồng nội xanh rì; 
Này đây lá của cành tơ phơ phất; 
Của yến anh này đây khúc tình si. 
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi; 
Mỗi sáng sớm, thần vui hằng gõ cửa; 
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần; 

 

Nếu như khổ thơ đầu tác giả sử dụng những hành động táo bạo thì ở khổ thơ này là  những câu thơ mang đầy sự liên tưởng, thi vị. Các hình ảnh xuất hiện trong khổ thơ là tất cả các sự vật đều đang ở thì  đẹp nhất, tươi non nhất Nói như Thế Lữ: “Xuân Diệu là một người của đời, một người ở giữa loài người. Lầu thơ của ông xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian”

Ta ôm bó, cánh tay ta làm rắn,

Làm dây da, quẫn quýt cả mình xuân.

Không muốn đi ,mãi mãi ờ vườn trân,

Chân  hóa rễ để hút mùa dưới đất.

Là người sinh ra để sống ,để yêu, Xuân Diệu luôn cảm nhận cuộc sống bằng mọi giác quan. Với ngôn từ rất Tây, cách nói rất Tây, Xuân Diệu đã vẽ nên một thiên đường trên mặt đất. Trong thiên đường ấy, Xuân Diệu như một con ong say mật ngọt cuộc đời. Bằng nghệ thuật điệp từ, điệp lại năm lần từ “này đây”‘ như một nốt nhạc chủ đạo, Xuân Diệu muốn khẳng định: ở ngay tại đây, ngay chốn trần gian này, cuộc sống, thiên nhiên luôn tồn tại những điều kì diệu nhất. Không phải tìm kiếm đâu xa, hãy tận hưởng những mật ngọt ấy. Cùng với việc sở hữu một kho từ vựng mới mẻ đậm sắc phương Tây và nhuốm màu tình ái, Xuân Diệu vẽ nên những hình ảnh căng tràn sức sông, tất cả như đang cựa quậy, trào sôi mãnh liệt. Các chú ong, chú bướm đang say và bị cuốn hút bởi những tuần tháng mật ngọt ngào. Cánh đồng nội thì được phủ lên một màu xanh mơn mởn “xanh rì” làm nền đế các bông hoa chen nhau đua nở, cùng khoe sắc màu rực rỡ của mình. Trên những tán cây, điểm trang là sự trỗi lên của các “cành tơ” non đến nõn nà quyến rũ. sắc màu, đường nét, không thế thiếu thanh âm. Và đây, một khúc nhạc tình si lãng mạn đã được hòa âm bởi các chú chim yến, anh làm cho cảnh xuân thêm lung linh, thơ mộng và tràn đầy sức sống. Pha vào đó là một nguồn ánh sáng ấm áp dịu dàng của mùa xuân làm chớp đôi mi của người con gái xinh đẹp.

Thế đấy, hồn thơ Xuân Diệu khiến cho cảnh vật như cũng có linh hổn. Từ ong bướm, cỏ cây, vạn vật đều không phải là vô tri mà luôn chứa đựng linh hồn và cảm xúc như con người. Vậy còn chần chừ gì nữa? Hãy tận hưởng, hãy mở lòng mình để đón nhận những ngày vui.

Mỗi sáng sớm, thần vui hằng gõ cửa; 
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần; 

Mỗi ngày một niềm vui, vui đến ngất ngây như “rượu tối tân hôn”, Xuân Diệu hằng khát khao như thế. Vậy nên thi nhân luôn làm mới mình, làm mới cảm xúc hằng ngày, hằng giờ. Với Xuân Diệu cuộc đời không đơn điệu mà lúc nào cũng tràn ngập niềm vui, mỗi ngày mới đến là niềm vui cũng gõ cửa ùa vào mà ở đây hình ảnh tác giả sử dụng là vị thần độ lượng, luôn muôn đem đến hạnh phúc niềm vui cho từng người: “Mỗi buổi  sớm thần Vui hằng gõ cửa”. Vị thần ấy không ở đâu xa, không phải trong cổ tích xa xăm mà ngay quanh ta. Vấn đề là ta có mở cửa ra mà đón nhận hay không.

Ý thơ Xuân Diệu thật thi vị vô cùng. Chất thi vị đó chính là tình yêu của thi nhân đối với cuộc sống. Thật đáng trân trọng nhường nào! Cũng bởi quá yêu cuộc sống mà Xuân Diệu đã đi ngược lại với lôi miêu tả của thơ ca truyền thống. Nêu thơ xưa thường lấy thiên nhiên làm trung tâm, làm thước đo chuẩn mực cho mọi vẻ đẹp của con người, thì ngày nay Xuân Diệu lại lấy  con người làm chuẩn mực của thiên nhiên. Đặc biệt thức ngon nhất trong cuộc sống trần thế này, với Xuân Diệu không nằm ngoài Xuân – Tình – Thiếu nữ. Ba điều đẹp nhất của trần thế ấy đều hài hòa với nhau trong thơ Xuân Diệu. Ta hãy xem thi nhân làm phép so sánh:

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;

Một lối so sánh táo bạo, rất Tây, rất Xuân Diệu không trộn lẫn vào đâu được. Bằng trường liên tưởng vô cùng sáng tạo, tác giả đã tạo nên cái hồn cho tháng giêng, cái tháng bắt đầu của mùa xuân rực rỡ, thơ mộng nhất. Cả tháng giêng như một bữa tiệc hấp dẫn mà thi nhân nhấm nháp, thưởng thức một cách khoái khẩu “ngon như một cặp môi gần”. Tác giả cảm nhận được sự ngọt ngào từ đôi môi cũng  như cảm nhận được sự ngọt ngào của tết xuân đem lại cho đời.

Xuân Diệu làr thế đấy, hễ yêu là phải yêu đến “toàn tâm toàn ý toàn hồn”. Thế nên, thi nhân thường thức nhận bằng mọi giác quan đê khao khát, để hưởng thụ đến vồ vập say mê. Xuân Diệu từng nói : Ta kẻ đưa răng bấu mặt trời/ Kẻ uống tình yêu dập cả môi” . Yêu như thế thì thật không ai vượt qua khỏi. Ngôi vị ông hoàng của tình yêu thật xứng đáng dành cho ông.

 

Mùa xuân đẹp lắm, tuyệt vời lắm. Ai cũng không muốn nó mất đi để rồi thương nhớ. Nhưng điểu đó chỉ là mơ ước đen khi nó mất rồi thì tất cả những sự vật đều phải  ngậm ngùi xót xa và từ đó những câu thơ của Xuân Diệu ở những dòng thơ sau trở nên buồn bã. Buồn cũng bởi vì yêu và rồi lại khát khao cuồng nhiệt hơn nữa. Nói tóm lại, nếu Vội vàng là tuyên ngôn của quan niệm sống gấp, sống vội thì khổ thơ đầu đã  thay lời cho sự lí giải căn nguyên tại sao Xuân Diệu lại phải sống như vậy. Đơn giản chỉ  vì chữ “tình” bời quá yêu cuộc đời, khát khao vô biên mà ra.

Vội vàng là một tâm trạng đắm say của một con ngưòi ham sống mãnh liệt. Bài thơ là một quan niệm sống mang đầy triết lí rất phi lí nhưng cũng đẩy nghĩa lí. Bài thơ rất tự do, hình ảnh giàu sức gợi cảm, âm điệu và liên tưởng rất thực. Từ ngữ là những  làn sóng sáng tạo vỗ vào bờ bên tâm hồn người đọc không ngớt. Sống là hạnh phúc, là phải vội vàng và ta đã hiểu vì sao Xuân Diệu xuất hiện và vì sao tuổi trẻ cần thơ mói, cần nét sống vội vàng của ông?

(Lê Ngọc Sơn – THPT Mỹ Quý, Tháp Mười Đồng Tháp)

Dẫn theo Trần Liên Quang, Đỗ Thị Yên

Xem thêm : Tổng hợp kiến thức trọng tâm cần nắm vững, những bài phân tích hay nhất, đề thi dàn ý hay và bám sát về bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu

Link : Vội vàng

Tất tần tật về bài thơ Tràng Giang Huy Cận

Ôn tập bài Tràng Giang Huy Cận

TÁC GIẢ HUY CẬN

  • Huy Cận (1919 – 2005) tên khai sinh là Cù Huy Cận, quê ở làng Ân Phú, huyện Hương Sơn (nay là xã Đức Ân, huyện Vũ Quang), tình Hà Tình.
  • Năn 1939, ông ra Hà Nội học ở trường Cao đẳng Canh nông. Từ năm 1942, ông tích cực hoạt động trong Mặt trận Việt Minh. Ông tham dự Quốc dân đại hội Tân Trào, được bầu vào ủy ban Dân tộc giải phóng toàn quốc. Sau Cách mạng tháng Tám, ông liên tục tham gia chính quyền cách mạng, giử nhiều trọng trách khác nhau. Năm 1996, ông được Nhà nước tặng Giải thưởng Hổ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
  • Trước Cách mạng, Huy Cận là một trong những tác giả tiêu biểu nhấtcúa phong trào Thơ mói, nổi tiêng vói tập Lửa thiêng. Sau Cách mạng, ông sáng tác dồi dào và có nhiêu đổi mới, tìm thấy sự hòa điệu giữa con người và xã hội tiêu biểu là các tập thơ: Trời mỗi ngày lại sáng, Đất nở hoa, Bài thơ cuộc đời,…
  • Huy Cận vốn yêu thích thơ ca Việt Nam, thơ Đường và chịu nhiều ảnh của văn học Pháp. Thơ của Huy Cận hàm súc, giàu chất suy tưởng, triết  lí.

TÁC PHẨM TRÀNG GIANG

Hoàn cảnh ra đời

Tràng giang là một trong những bài thơ hay nhất, tiêu biếu nhất Huy Cận, được viết vào mùa thu năm 1939 (in trong tập Lửa thiêng) và cảm xúc được khơi gợi chủ yếu từ cảnh sông Hổng mênh mang sóng nước…

Những nội dung chính

 a, Nhan đề Tràng giang và lời đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” đã thâu tóm được mạch cảm xúc chủ đạo vừa gọi ra nét nhạc chủ âm cho cả bài thơ. Tràng giang miêu tả một con sông vừa dài vừa rộng, lại vừa gợi ra cảm giác mênh mang và đượm buồn. “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” vừa mang nghĩa khái quát về không gian nghệ thuật của bài thơ – khung cảnh sông nưóc mênh mông,  vô biên – vừa khái quát lên tâm trạng buồn, cô đơn giữa “trời rộng” “sông dài”. Cả nhan đề và câu đề từ gợi cho ta cảm nhận được sự đối lập giữa không gian rộng dài, mênh mông với cái mong manh, bé nhỏ của con người. Toàn bộ bài thơ thấm đẫm một nỗi buồn của con người trước thiên nhiên, vũ trụ bao la. Mỗi một khố thơ là một sự triển khai và cũng là một nét biếu hiện của nỗi buồn lớn đó.

b) Ở khổ thơ thứ nhất, tác giả đã miêu tả không gian sông nước mênh mang  với hình ảnh của “sóng gợn tràng giang”,”nước… trăm ngả ‘, lạc mấy dòng”. Trong không gian sông nước mênh mông ấy, hình ảnh của cõi nhân thế con người -bắt đầu  hiện ra. Hình ảnh “Con thuyền xuôi mái” gợi sự nổi trôi, phó mặc trước dòng đời đến đâu thì đến. “thuyền về nước lại” gợi sự chia li, không cùng chung hướng đi. Đặc biệt, hình ảnh “Củi một cành khô lạc mấy dòng” đã gợi sự liên tưởng đen hình ảnh lẻ loi, trơ trọi và nhỏ bé của con người trước dòng đời xuôi ngược:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng

Cả khổ thơ đã gợi được cả cảm xúc và ấn tượng về một nồi buồn triền miên kéo dài theo không gian (tràng giang, trăm ngả) và theo thời gian (điệp điệp). Với nghệ thuật đối của thơ Đường, thanh điệu hóan vị bằng trắc đều đặn đà tạo nên một âm điệu, tiết tàu nhịp nhàng, chậm rãi, trầm buồn cho cả khổ thơ.

c) Bức tranh tràng giang tiếp tục được cảm nhận cụ thể và có thêm nhiều chi tiết ở khổ thơ thứ hai. Ở hai câu đầu, không gian được thu về một tiêu điểm: “cồn nhỏ”. Các từ láy “lơ thơ”, “đìu hiu” đi liền với hình ảnh “cồn nhỏ” đã cho thấy cảnh vật nơi đây rất hoang sơ và vắng lặng. Câu thơ thứ hai càng tô đậm thêm nét tĩnh lặng ủa cảnh vật: “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”. Câu này có hai cách hiểu. Cách thứ nhất: đâu (đâu đây) tiếng làng xa vãn chợ chiều. Cách thứ hai: đâu (không có, đâu có) tiếng làng xa vãn chợ chiều. Dù hiểu theo cách  nào thì không gian ở đây cùng mang vẻ vắng lặng cô tịch, chỉ có thiên nhiên trong khi sự sống của con người thì xa vắng, mơ hồ:

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.

Đến hai câu sau, không gian tràng giang được mờ ra ba chiều đến  mênh mông, vô tận:

Nắng xuống trời lên sâu chót vót 

Sông dài trời rộng bến cô liêu

Không gian được mở ra nhiều chiều khác nhau: chiều cao (trời lên), chiều dài (sông dài) và cả chiều rộng (trời rộng). Một không gian càng rộng, càng dài, càng sâu thì cảnh vật càng trở nên vắng lặng, bờ bên càng trở nên bé nhỏ, lẻ loi: “bến cô liêu”. Nỗi buổn trong khổ thơ này như bao trùm khắp không gian, vũ trụ, lan sang cả mọi vật và thấm sâu vào lòng người.

d) Khổ thơ thứ ba tiếp tục hòa điệu cùng hai khổ tho đầu càng làm tăng thêm cảm giác buồn:

Bèo dạt về đâu, hàng nốihàng;

Mênh mông không một chuyến đò ngang.

Không cầu gợi chút niềm thân mật,

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

Hình ảnh những cánh bèo trôi dạt trên sông nước cùng với những hình ảnh “con thuyền xuôi mái”, “củi một cành khô lạc mấy dòng” càng gợi ấn tượng về sự lênh đênh, phiêu dạt vô định và sự tan tác, chia li. Thêm vào đó, cảnh vật càng gợi buồn hơn bời cái vắng vẻ, tĩnh lặng, chỉ có thiên nhiên sông nước mà không có sự sống của con người: không chuyến đò, không cầu, chi có bờ xanh tiếp bãi vàng. Chuyến đò ngang và cấy cầu bắc qua sông là những phương tiện kết nối đôi bờ, giúp con người qua lại tượng trưng cho sự giao hòa, kết nối sự sống. Thế mà bây giờ cũng  đều “không” có! Cái tôi trữ tình ờ đây không những buồn vô tận mà còn rất khao  khát những dấu hiệu của sự sống, sự hòa hợp giữa con người với nhau,

e) Khổ thơ cuối của bài thơ vừa vẽ ra một khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ, vừa thể hiện tâm lòng của thi nhân. Bức tranh ấy được dựng bằng hình ảnh lớp lớp mây chồng xếp lên nhau thành núi mây trắng trông như dát bạc. Ở đó xuất hiện một cánh chim nhỏ, tương phản với “lớp lớp mây cao” càng làm cho khung cảnh thêm hùng vĩ hơn nhưng cũng càng gợi ra sự cô đơn, bơ vơ và nhỏ nhoi đên tội nghiệp:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.

Hai câu cuối diễn tả một nỗi niềm nhớ quê da diết của nhà thơ. Hai câu này nhà thơ “học” ý từ hai câu thơ trong bài Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu: “Quê hương khuất bóng hoàng hôn – Trên sông khói sóng cho buôn lòng ai” (Tản Đà dịch)-

Nhưng Huy Cận đã có sáng tạo riêng:                              I

Lòng quê dợn dợn vời con nước,

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Vói ông, ông không hể thây “khói hoàng hôn” mà vẫn nhớ nhà. Vậy, nỗi nhớ ấy đã luôn thường trực ở ông còn gì? Và suy rộng ra, ông nhớ nhà cũng là nhớ quê, một trong những biểu hiện của tình yêu nước.

Đặc sắc nghệ thuật

Bức tranh Tàng giang mang đầy tâm trạng được vẽ ra bằng bút pháp cổ điển và bút pháp hiện đại.

 

Chủ đề tư tưởng

Qua việc miêu tả bức tranh thiên nhiên sông nước mênh mông, nhà thơ bộc lộ nỗi sâu của một cải tôi cô đơn trước thiên nhiên rộng lớn, trong đó thấm đượm tinh người, tình đời, lòng yêu nước thầm kín mà thiết tha.

HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP DẠNG CÂU HỎI TÁI HIỆN KIẾN THỨC

Câu 1, Nêu hoàn cảnh ra đời, cảm hứng chủ đạo và câu tử bài thơ Tràng giang Huy Cận

Gợi ý trả lời

Hoàn cảnh ra đời của bài thơ

Tràng giang là bài thơ được sông Hồng gợi tứ. “Một buổi chiều mùa thu năm 1939, khi đứng ở bờ nam bến Chèm nhìn ngắm cảnh sông Hông mênh mông sóng nước, bốn bề bao la vắng lặng, nghĩ về kiếp người trôi nổi  tứ thơ Tràng giang đã được hình thành” (Huy Cận). Bài thơ được in trong tập Lửa thiêng.

Cảm hứng chủ đạo của bài thơ

Đứng trước không gian mênh mông của đất trời, trong sâu thẳm lòng người trào dâng nỗi bâng khuâng trước cảnh sông dài trời rộng. Cảm hứng chủ đạo này được nhà thơ thâu tóm trong nhan đề “Tràng giang” và câu đề tù “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài

Cấu tứ của bài thơ

Toàn bộ bài Tràng giang là một nỗi buồn. Bài thơ gồm bốn khố thơ giống như bôn bài tứ tuyệt Đường thi, mỗi khổ thơ là một sự triển khai cửa nồi buồn đó. Mặc dù trong mỗi khổ thơ, cảnh vật và tâm trạng con người được thể hiện khác nhau ở mức độ nào đó nhưng đều có điếm chung hệ thống trong một chỉnh thể là cảnh sóng nước mênh mang bao la và con người với cái tôi  nhỏ bé, mang  tâm trạng cô đơn, buồn sầu.

Câu 2. Anh/chị hiếu thế nào về câu thơ đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” (Tràng giang – Huy Cận)? Đề từ đó có mối liên hệ gì với bực tranh thiên nhiên và tâm trạng của tác giả trong bài thơ?

Gợi ý trả lời

  • “Trời rộng”, “sông dài” mang nghĩa khái quát về không gian nghệ thuật của bài thơ. Đó là một khung cảnh sông nước mênh mông, vô biên. “Bâng khuâng”, “nhớ” khái quát lên tâm trạng buồn, cô đơn giữa “trời rộng”, “sông dài”.
  • Mối liên hệ của câu đề từ với bức tranh thiên nhiên và tâm trạng của tác giả trong bài thơ :

+ Câu đề từ như thâu tóm hết nội dung tư tưởng của cả bài thơ. Đối  diện với cái mênh mông của không gian và cái vô tận của thòi gian, nhân vật trữ tình cảm nhận một cách thâm thía nỗi cô đơn, nhỏ nhoi của chính mình, thấy mình trớ nên bơ vơ  lạc lõng giữa dòng đời vô tận. Càng phát hiện sự mênh mông của cảnh vật, con ngươi ở đây càng lạc lõng. Đó là nỗi niềm của cái tôi nhà thơ.

+ Lời đề từ vừa tô đậm thêm cảm giác “tràng giang” vừa thâu tóm cảm xúc chủ đạo vừa gợi ra nét nhạc chủ âm cho cả bài thơ.

ĐỂ NGHỊ LUẬN VĂN HỌC

Đề 1 : Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ sau:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,

Con thuyền xuôi mái nước song song,

Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;

Củi một cành khô lạc mấy đòng.

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.

Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.

(Tràng giang – Huy Cận, Ngữ văn 11, Tập hai, NXB Giáo dục, 2008, tr.29)

Gợi ý bài làm

Mở bài

  • Huy Cận là một trong những tác giả xuât sắc của phong trào Thơ mới .Tác phẩm đáng chú ý nhất của ông trước Cách mạng là tập thơ Lửa thiêng. Thơ của Huy Cận hàm súc, giàu chất suy tường triết lí.
  • Tràng giang là một trong những bài thơ hay nhất, tiêu biếu nhất của Huy Cận. Bài thơ này được viết vào mùa thu năm 1939 (in trong tập Lửa thiêng) và cảm xúc được khơi gợi chú yếu từ cảnh sông Hồng mênh mang sóng nước.Một trong những đoạn thơ hay của bài thơ là đoạn sau: (trích dẫn nguyên văn đoạn thơ).

Thân bài

Khổ thơ đầu

Nội dung

Hình ảnh thiên nhiên trên sông nước: sóng gợn, nước – trăm ngả, lạc mấy dòng. Hình ảnh con người của cõi nhân thế được gợi lên từ hình ảnh: con thuyền xuôi theo dòng nước, một cành củi khô trôi dạt. Tât cả như hòa điệu, gợi nên nỗi sầu buồn triền miên của cái tôi trữ tình.

Nghệ thuật

Khổ  thơ mang âm điệu của Đường thi, nhưng cũng rất mới mẻ, hiện đại bởi  hình ảnh một cành củi khô trôi dạt giữa dòng nước.

Khố thơ sau

Nội dung

Ở hai câu thơ đầu, không gian được thu về một tiêu điểm : cồn nhỏ”. Các từ láy lơ thơ”, “đìu hiu” và câu thơ “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều’ đểu gợi lên sự hoang vắng, tĩnh lặng cùa thiên nhiên tràng giang.

Ở hai câu thơ sau, không gian dường như được mở rộng theo những chiều bát ngát, sâu thăm thẳm (nắng xuống – trời lên – sâu chót vót; sông dài — trời rộng – cô liêu) và bao trùm lên toàn bộ cảnh vật vẫn là một nỗi buồn, một tâm trạng cô đơn của con người được gợi ra từ chính cảnh vật ấy (bến cô liêu).

Nghệ thuật:

Phép đối nhiều từ láy cùng với hình ảnh mới lạ, độc đáo (lơ thơ cồn nhỏ, nắng xuống trời lên, sâu chót vót, bến cô liêu…) đã tạo nên những câu thơ giàu sức gợi, nhịp nhàng với âm điệu thiết tha sâu lắng.

Kết bài                       ,

Đoạn thơ trên góp phần thể hiện sâu sắc tâm trạng buồn, cô đơn của cái tôi nhà thơ. Đó cũng là “một nỗi buồn thế hệ”.

Tràng giang nói chung vừa mang phong vị cổ điển vừa mang vẻ đẹp hiện đại của Thơ mới.

Bài văn phân tích Tràng Giang

“Là người đi lượm lặt những chút buồn rơi rớt để rồi sáng tạo ra những vần thơ ảo não, người đời sẽ ngạc nhiên vì không ngờ với một ít cát bụi tầm thường thỉ nhân lại có thể đúc thành bao nhiêu châu ngọc”. Đó là lời nhận xét đầy trân trọng của Hoài Thanh dành cho Huy Cận, một trong những cây bút nổi tiếng trong phong trào Thơ mới 1930 – 1945. Huy Cận (1919 – 2005) tên khai sinh là Cù Huy Cận sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo ở Hương Sơn – Hà Tĩnh. Huy Cận – một dấu chấm cảm thán khẳng định tính cổ điển có sức lay động lòng nguời! Bằng phong cách độc đáo, với chấ  thơ hàm xúc giàu chất suy tuởng, triết lí ông đã nhà nước trao tặng giải thưởng danh giá Hồ Chí Minh (1996) với những tập thơ nổi tiếng: Vũ trụ ca, Trời mỗi ngày lại sáng, Đất nở hoa,… Nhất là tập thơ đẩu tay Lửa thiêng đã đánh dâu tên tuổi của ông trên thi đàn cũng như chỗ đứng trong lòng đọc giả mà bài thơ Tràng giang đã thực sự đi vào lòng người. Men say của thi phẩm chính là chất cổ điển và hiện đại lồng ghép hài hòa cùng niềm yêu nhớ quê hương đất nước tha thiết của thi nhân mà hai khổ thơ đầu trong bài thơ là điển hình nhất:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,

Con thuyền xuôi mái nước song song,

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả;

Củi một cành khô lạc mây dòng.

Lơ thơ cồn nhò gió đìu hiu,

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.

Nắng xuống, trời lên sâu chót vót

Sông dài trời rộng bến cô liêu.

Tràng giang là một trong những bài thơ nổi tiếng nhất của Huy Cận “hầu như trở thành cố điển” (Xuân Diệu) đuợc viết vào năm 1939 thuộc thể thơ thất ngôn Đường luật. Tác phẩm được gợi cảm hứng từ một buổi chiều mùa thu năm 1939 khi Huy Cận đên bên bờ Nam bên Chèm nhìn ra cảnh sông Hồng mênh mông sóng nuớc. Trong một buổi chiều mùa thu, trước một khung cảnh đượm buồn giữa một không gian bao la rộng lớn, nhà thơ đang trĩu nặng tâm trạng của một người dân mất nước tha thiết yêu quê hương nhưng chưa tìm được hướng đi. Chính vì thế mà từng câu từng từ trong mỗi khổ tha của Tràng giang cũng chính những tâm sự mà Huy Cận đang chôn giấu – tất cả được nhà thơ gửi gắm vào dòng sông trước mặt để dòng nưóc kia cuốn trôi đi, kéo đi. những u buồn sầu lụy. Ta nhận thấy trong tâm trạng Huy Cận bây giờ như đang nhấp nhô theo từng con sóng nưóc, hòa quyện vào cảnh vật thiên nhiên tạo cho bài thơ nét đẹp cổ điên lại vừa đượm nét hiện đại để lại ấn tượng khó quên trong lòng độc giả.

Trước hết ngay từ thi đề, Huy Cận đã khéo léo gợi lên vẻ đẹp cổ điển lại rất hiện  đại cho bài thơ Tràng giang- cách nói đầy sáng tạo mang sắc thái trang nhã và truyền thông. Với việc láy vần “ang”, “tràng giang” như đã thể hiện khá rõ nét về không gian trước mắt Huy Cận. Đó là một dòng sông không chỉ dài vô cùng mà còn rộng mênh mông, bát ngát gọi liên tưởng về sông Trường Giang trong thơ Đường với những bản ca bất hủ Hoàng Hạc lâu (Thôi Hiệu), Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng (Lí Bạch), một dòng sông muôn thuở vĩnh hằng, dòng sông của tâm tưởng. Đổng thời Tràng giang còn góp phần tạo dư âm vang xa, trầm lắng và lan sang cả câu thơ đề từ:”Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”. Đây là cách diễn đạt mới về cảm xúc và tâm trạng. Giản dị, hàm súc, câu đề từ đã thâu tóm tất cả những cảm xúc chú đạo của toàn bài thơ. ” trời rộng – nhớ – sông dài” sao mà miên man, da diết thế ? Sự chia li giữa khoảng trờ rộng mênh mông vói dòng sông dài tít tắp được từ láy “bâng khuâng” thể hiện cụ thể, sinh động về một nỗi buồn man mác, mênh mang lan tỏa khắp không gian mang cảm hứng vũ trụ; gọi cho bài thơ âm điệu buồn lặng lẽ, da diết và sâu lắng. Cái tôi trữ tình giờ đây nhỏ bé, cô đơn và lạc lõng trước một khung cảnh thiên nhiên rộng lón. Dòng sông Hồng cũng dần hiện lên trong tâm tưởng của độc giả với những con sóng vỗ về đều đặn khắp các khổ thơ.

Chúng ta cùng lắng lòng mình để lắng nghe những tâm sự của thi nhân cũng như cùng ngắm nhìn dòng sông tâm trạng đang dần mở ra với:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mây dòng

Dòng sông Hồng thòi đại hiện ra mênh mông, bát ngát vói những con sóng gợn chạy dài tít tắp nhưng lại mang một nỗi buồn không xô, không đập, không dữ dội mà chỉ nhẹ nhàng trồi lên thành những làn sóng nhỏ lăn tăn trên mặt sông. “Buồn” nhưng lại “điệp điệp” – láy nguyên – gợi lên một cảm giác về nỗi buồn miên man, nó nối tiếp nhau theo những con sóng chạy về vô tận. Sóng lòng hay sóng của dòng sông? Sao mà nó vô tận? Huy Cận đã rất tinh tế khi lấy hữu hình của sóng trên tràng giang mà đặc tả cái vô hình của nỗi buồn con người, càng thể hiện rõ hơn một nỗi buồn của thi sĩ mất nước.

Nhấp nhô, nổi trôi trên những con sóng “điệp điệp” là chiếc thuyền nhỏ bé và đơn độc. Hình ảnh chiếc thuyền xuôi mái theo dòng nước song song như có một nỗi buồn chia li, xa cách. Thuyền 1 nước là hai vật thể hiện hữu song song nhau nhưng lại chẳng liên quan gì nhau, “về – lại” – hai trạng thái, hai hướng trái ngược nhau gợi nỗi xa cách hững hờ nổi lên giữa nỗi “sầu trăm ngả”. Bất thình lình chiếc thuyên biến mất chỉ còn đó, “củi một cành khô lạc mấy dòng”. Sự lạc lõng ây là sự khủng hoảng về đường lôi,về lí tưởng sống, quan điểm sống.

Nó không phải là sự trốn tránh thực tại tìm vào những cảm giác mơ hồ của tâm hồn. Trong tâm trạng đó, hoàn cảnh đó, con người vẫn yêu đời, vẫn nhìn thấy vẻ đẹp của cuộc sống, của thiên nhiên.

“Con thuyền” đã nhỏ bé nay cành củi khô kia lại càng nhỏ bé hơn. Nó đơn lẻ bồng bênh lạc giữa dòng với những con sóng cứ chạy mãi về cõi vô định, không biết đâu là  bở. Hình ảnh mang đầy tính chất thi vị gợi sự đồng cảm vói nhà thơ về thân phận nhỏ bé, cô độc, lạc loài của những kiếp người tội nghiệp.

Chi tiết  “củi một cành khô” cùng nghệ thuật đảo ngữ kết hợp vói các điệp từ “điệp điệp”, “song song”, hình ảnh vận động trái chiều “thuyền về   nước lại'”  gợi lên khoảng mênh mông của sóng nước, nó đổi lập vói con người cõi nhân sinh nhỏ bé, cô đơn, sự sông yếu ớt giữa khoảng vũ trụ bao la. Huy Cận trước Cách mạng cũng rơi vào hoàn cảnh khủng hoảng sâu sắc. Ông đứng trên lập trường người trí thức tiểu tư sản và nhìn xã hội bằng đôi mắt buồn ảo não. Huy Cận cô đơn bê’ tắc giữa dòng đời mênh mông, lạc lõng trước những biên động của cuộc sống. Ta có cảm giác như có một sự sợ hãi trong tâm hồn thi nhân, giông như một cành củi khô không biết đi đâu về đâu.

Nỗi buồn cứ như thế tan vào cảnh vật, hòa quyện cùng thiên nhiên đát trời, cùng sóng nước sông Hồng mênh mang, tầm nhìn của Huy Cận như được mở rộng hơn. Nhà thơ đưa mắt nhìn toàn cảnh sông Hồng trong khung cảnh tĩnh lặng, cô quạnh và im lìm của một buổi chiều tà buồn tẻ:

Lơ thơ côn nhỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Nắng xuống, trời lên, sâu chót vót

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.

Bao phủ trên cảnh vật là một nỗi sầu trăm ngả. Cảnh thật vắng vẻ, đưa mắt ra nhìn chỉ thấy thấp thóang đâu đó “cồn nhỏ” lơ thơ trổi lên mặt nước, xung quanh là sóng nưóc bao vây gần như bị cách li tuyệt đối. Khổ thơ phảng phất nét đẹp trong thơ truyền thống.

Non Kì quạnh quẽ trăng treo

Bến Phì gió thôi đìu hiu mấy gò.

(Bản dịch – Chinh phụ ngâm)

Từ láy “đìu hiu” trong “gió đìu hiu” kết hợp vói “lơ thơ” được Huy Cận khéo léo sắp xếp trên cùng một dòng thơ đã vẽ lên một quang cảnh vắng lặng và cô tịch. Cụm từ “lơ thơ” gợi chút ít ỏi nhỏ bé, đìu hiu” gợi sự tiêu điều cô độc. Tất cả những điều đó càng diễn tả sâu sắc hơn vẻ u buồn vắng lặng của buổi hoàng hôn. Cái tôi trữ tình bỗng trở nên cô đơn và rợn ngợp đến nỗi phải thốt lên “đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”? Chỉ một câu thơ mà mang nhiều sắc thái vừa gợi đâu đó hình ảnh phiên chợ chiều thưa thớt vắng vẻ với những âm thanh, tiếng nói xa xăm không rõ rệt và mơ hồ. Nhà thơ đã thật sự thành công với nghệ thuật lấy động tả tĩnh càng làm tăng thêm vẻ hiu hắt vắng vẻ của một phiên chợ chiều thưa thớt và cô tịch. Đồng thời câu thơ còn là một câu hỏi tu từ, Huy Cận tự vấn lòng để từ đó, tận sâu trong đáy tâm sự bật lên tiếng lòng. Một nỗi khát khao mong mỏi được hòa nhập vào thiên nhiên, tìm thấy đâu đó sự sổng để thắp lên tia hi vọng cho cuộc đời, cho con đường cách mạng giữa những khó khăn trăm bề của thời đại cũng như chính Huy Cận cũng đang cố vẫy vùng để thoát ra khỏi sự vắng vẻ, lẻ loi, thoát li nỗi u buồn lạc lõng. Nhưng đáng buồn thay! Càng bươn trải càng vẫy vùng, Huy Cận càng bị lún sâu hơn vào tâm trạng mà bản thân đeo mang. Và, quang cảnh trước mặt ông dần dần lấn áp tất cả, thâu tóm cả con người và tâm trạng Huy Cận.

Nắng xuống, trời lên, sâu chót vót

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.

Trên dòng sông mênh mông rộng lớn, hoàng hôn đang dần buông xuông bao phủ cả dòng sông. Ở đây có sự vận động trái chiều: trong khi ánh hoàng hôn đang dần buông xuống bên kia bến Chèm thì bầu trời càng trờ nên chót vót và mênh mông vô tận. Giữa tràng giang và bầu rời càng xa cách. Khoảng cách ấy đã trờ nên đặc biệt với cái nhìn của thi sĩ “trời lên, sâu chót vót”. Ở đây với cảm nhận của Huy Cận, bầu trời không còn cao nữa mà đã “sâu chót vót”, chiều sâu bao trùm cả chiều cao tạo nên một cảm giác mới mẻ, hun hút mờ ra một không gian bao la vô tận, với sông dài trời rộng càng làm tăng thêm vẻ vắng vẻ cô liêu của không gian sông nước. Điều đó cũng cho phép ta thử liên tưởng đến cảnh sông Hồng lúc bây giờ được nắng chiếu rọi xuống đỏ rực lan ra khắp nơi như được đổ lửa, nền trời sâu và rộng. Trên bến  Chèm, Huy Cận như một chấm điểm khuyết tượng trưng cho sự sống, một tia hi vọng sống nhỏ bé. Quang cảnh thật quạnh quẽ, nhưng cũng thật hùng vĩ và tráng lệ càng khiến nỗi cô đơn trông vắng thêm thâm thía  trong cõi lòng thi sĩ.

Mỗi khổ thơ là một bức tranh tâm cảnh, chất chứa trong cảnh mênh mông, xa vắng là tâm tư tình cảm sâu lắng thiết tha của thi nhân. Huy Cận cũng giống như bao nhà thơ mới cùng thời không tránh khỏi những sầu muộn, ủy mị. Nhưng vượt lên trên tất cả là tình yêu quê hương trong cảnh non sông mờ cát bụi. Bối cảnh ấy, thân phận mất nước thật không thể khác được. Hai đoạn tho trên có thể coi là hai lát cắt tâm hồn thể hiện cảm xúc chôn giấu kín trong “sâu chót vót” tâm hổn không thể nói ra của thi nhân.

Tóm lại, một Lửa thiêng làm nên một tên tuổi Huy Cận, làm nên vị trí xứng đáng cua Huv Cận trong làng thơ mới. Thi phẩm Tràng giang gắn liền với tên tuổi của ông. Dầu thời gian có phôi phai theo năm tháng thì vẫn còn mãi nguyên vẹn một tấm lòng, một nỗi sầu rất thật, rất  Huy Cận:”Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”.

(Đinh Thị Mộng Trinh – 11CB1, THPT Mỹ Quý, Đồng Tháp)

Dẫn theo Trần Liên Quang -Đỗ Thị Yên