Đề đọc hiểu bài thơ Tự hát của Xuân Quỳnh

Đề bài đọc hiểu

Đọc đoạn thơ sau đây và thực hiện các yêu cầu ::

Tự hát ( Xuân Quỳnh)

Chẳng dại gì em ước nó bằng vàng

Trái tim em anh đã từng biết đấy

Anh là người coi thường của cải

Nên nếu cần anh bán nó đi ngay.

 

Em cũng không mong nó giống mặt trời

Vì sẽ tắt khi bóng chiều đổ xuống

Lại mình anh với đêm dài câm lặng

Mà lòng anh xa cách với lòng em

 

Em chở về đúng nghĩa trái tim

Biết làm sống những hồng cầu đã chết

Biết lấy lại những gì đã mất

Biết rút gần khoảng cách của yêu tin

 

Em chở về đúng nghĩa trái tim em

Biết khao khát những điều anh mơ ước

Biết súc động qua nhiều nhận thức

Biết yêu anh và biết được anh yêu…

1 (0,5đ). Những thông tin sau đây đúng hay sai:

– Bài thơ thuộc đề tài tình yêu

– Tác giả là một nhà thơ thời chống Pháp.

– Bài thơ viết theo thể thất ngôn bát cú

– Bài thơ viết theo ngôn ngữ tự sự

2 (0,5đ). Tác giả sử dụng phương thức liên kết nào trong đoạn thơ?

3 (0,5đ). Trong bài thơ, hình ảnh ” trái tim” được dùng với những ý nghĩa gì?

4 (0,5đ).  Xác định hình thức ngôn ngữ biểu đạt trong bài thơ? Hình thức ngôn ngữ biểu đạt này được phát huy tác dụng bởi những thủ pháp nghệ thuật nào là chủ yếu?

5 (0,5đ).  ” Một túp lều tranh hai trái tim vàng” hay “Tấm lòng vàng” là những thành ngữ thường dùng để chỉ điều gì? Từ “vàng” trong câu thơ đầu có cùng ý nghĩa với từ “vàng” trong thành ngữ trên hay không?

6 (0,5đ).  Nhận xét về mối quan hệ giữa hai câu thơ: “Biết làm sống những hồng cầu đã  chết – Biết lấy lại những gì đã mất“? Từ mối quan hệ đó, em hiểu hãy chỉ ra nội dung chính của khổ thơ?

7 (0,5đ).  Ý nghĩa phủ định trong hai khổ đầu cùng với tâm nguyện trong hai khổ sau thể hiện quan niệm của nhà thơ về tình yêu như thế nào?

8 (0,5đ). Ý nghĩa nhan đề Tự hát?

9 (1,0đ). Từ hai câu thơ của Xuân Quỳnh:

Em trở về đúng nghĩa trái tim em

Biết khao khát những điều anh mơ ước,

Hãy viết một bài văn khoảng 200 từ trình bày quan niệm của em về 2 câu thơ trên.

( Tài liệu sưu tầm)

Xem thêm bộ đề đọc hiểu theo cấu trúc mới, có đáp án chi tiết : đề đọc hiểu

Xem thêm :Bộ đề nghị luận xã hội hay, bộ đề nghị luận xã hội 200 chữ , có đáp án và đoạn văn mẫu tham khảo :http://vanhay.edu.vn/tag/nghi-luan-xa-hoi

Đề thi bán kì II ngữ văn, 2014-2015. Lớp 10

Đề thi bán kì II năm học 2014-2015 , Môn ngữ văn lớp 10 , Thời gian làm bài 60 phút

Câu I: (4 điểm)

Tìm và phân tích biện pháp tu từ (ẩn dụ hoặc hoán dụ ) trong những câu sau:

a. Vì sao trái đất nặng ân tình

Nhắc  mãi tên người Hồ Chí Minh.

( Tố Hữu)

b. Con cò lặn lội bờ sông

Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non

Nàng về nuôi cái cùng con

Cho anh đi trẩy nước non Cao Bằng

( ca dao )

Câu II: (6 điểm)

Hãy viết bài văn thuyết minh ( ngắn gọn )về tác phẩm Chuyện chức Phán sự đền Tản Viên của Nguyễn Dữ.

Lưu ý: Đây là đề thi theo cấu trúc cũ, các bạn có thể vào link này để cập nhật những đề thi theo cấu trúc năm nay nhé :  Tuyển tập đề thi ngữ văn 10

Hướng dẫn chấm môn ngữ văn lớp 10

Câu 1:

  1. Câu thơ sử dụng biện pháp hoán dụ ( 0,5 đ) : trái đất (0,5đ) để biểu thị đông đảo quần chúng nhân dân →liên hệ giữa vật chứa đựng và vật được chứa đựng ( 1đ)…..phân tích
  2. Bài ca dao sử dụng biện pháp ẩn dụ ( 0,5 đ) : hình ảnh con cò ( 0,5 đ) để biểu thị hình ảnh người phụ nữ Việt Nam thời xưa…. Phân tích ( 1đ)

Câu 2:

Về kĩ năng: HS biết vận dụng kiến thức đã học để viết bài văn thuyết minh về tác phẩm văn học, bố cục chặt chẽ, diễn đạt lưu loát…

Về nội dung, bài viết cần đảm bảo các ý cơ bản sau:

1 .Giới thiệu khái quát về tên tác giả, tập truyền kì mạn lục, thể loại truyền kì

2.Giới thiệu về giá trị nội dung và nghệ thuật của Chuyện chức Phán sự đền Tản Viên

  • Nội dung: HS tóm tắt ngắn gọn nội dung cốt truyện
  • Ý nghĩa tác phẩm:

-Tác phẩm thể hiện niềm tin công lí: chính nghĩa nhất định sẽ thắng gian tà

– Thể hiện niềm tự hào dân tộc

-Ngợi ca Ngô Tử Văn ( dũng cảm, cương trực, dám đấu tranh bảo vệ công lí…)

-Phê phán hồn ma tên Bách Hộ họ Thôi, phê phán thánh thần quan lại cõi âm tham của hối lộ ,tiếp tay cho cái xấu…

→thông qua đó tác phẩm phản ánh và phê phán hiện thực xã hội đương thời.

Đặc sắc nghệ thuật:

– Cách kể chuyện lôi cuốn với những tình tiết giàu kịch tính, sử dụng nhiều yếu tố hoang đường kì ảo tạo sức hấp dẫn…

-Nhân vật được xây dựng sắc nét, sinh động…Lưu ý: Giám khảo cần linh hoạt khi chấm điểm, vì thời gian chỉ 60 phút nên học sinh có thể thuyết minh ngắn gọn nhưng phải đủ những ý cơ bản. Nếu HS sa đà vào việc kể nội dung tác phẩm hoặc phân tích lan man thì cho không quá 3đ.

 

Đề Nghị luận xã hội tính ích kỉ và lòng vị tha

Bộ đề nghị luận xã hội hay , có đáp án chi tiết. Tổng hợp những đề nghị luận xã hội dành cho học sinh lớp 12 luyện thi THPT Quốc gia

Đề bài:

Anh/chị hãy bày tỏ suy nghĩ của mình về “tính ích kỉ và lòng vị tha .

Yêu cầu về kĩ năng:

– Biết cách làm bài văn nghị luận xã hội. Xác định được các luận điểm đúng đắn, luận cứ xác thực và biết lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp.

– Bài viết có bố cục  rõ ràng, mạch lạc, thuyết phục, không mắc lỗi dùng từ, chính tả, ngữ pháp.

Yêu cầu về kiến thức:

* Học sinh có thể trình bay theo những cách khác nhau nhưng cần nêu được những ý chính sau:

Giải thích khái niệm:

  • Thế nào là tính ích kỉ?
  • Ích kỉ là chỉ biết vì lợi ích cho riêng mình. Còn ích kỉ hại nhân là chỉ biết vì lợi ích riêng mình mà làm hại người khác.
  • Biểu hiện của tính ích kỉ
  • Kẻ có tính ích kỉ thường so đo, tính toán để trong bất cứ việc gì cũng có lợi cho mình. Phương châm sống của họ là: Ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau.
  • Tính ích kỉ thể hiện dưới nhiểu hình thức và ở nhiều mức độ khác nhau như: lười biếng, tham ăn, dối trá, gian xảo, tham nhũng…Trong học tập, tính ích kỉ bộc lộ qua thái độ thiếu quan tâm tới bạn bè, tới công việc của lớp, của trường. (Dẫn chứng).
  • Tác hại của tính ích kỉ:
  • Gây ra sự chia rẽ mất đoàn kết, làm suy giảm sức mạnh của tập thể, của cộng đồng. (Dẫn chứng)
  • Những người có chức có quyền mà ích kỉ thì chỉ làm hại dân, hại nước. (Dẫn chứng).
  • Thế nào là lòng vị tha?
  • Vị tha là có tinh thần chăm lo một cách vô tư đến lợi ích của người khác, có thể vì người khác mà hi sinh lợi ích của cá nhân mình.
  • Biểu hiện của lòng vị tha.

Lòng vị tha là đức tính cần thiết mà mỗi người cần phải có. Trong xã hội, giữa mọi người có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau. Mỗi cá nhân không chỉ thể biết tới quyền lợi của riêng mình mà phải biết nghĩ tới quyền lợi của người khác.

Trong một gia đình, cha mẹ làm gì cũng phải nghĩ tới con cái và ngược lại, con phải hiếu thảo với cha mẹ.

Trong một lớp, học sinh phải biết quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau để cùng tiến bộ.`

Truyền thống nhân ái và đoàn kết của dân tộc ta từ xưa tới nay; phong trào từ thiện phát triển rộng rãi trong cả nước hiện nay… là biểu hiện của lòng vị tha. Trong lịch sử của nước ta có rất nhiều gương sáng tiêu biểu cho đức tính tốt đẹp đó. (Dẫn chứng).

Bình luận về ích kỉ và vị tha:

+Đây là 2 nét tính cách phổ biến trong cộng đồng. Đó cũng là 2 mặt trong phẩm chất của mỗi người : trong bạn, trong tôi… ít nhiều đều có tính ích kỉ.Đôi khi chúng ta chỉ nghĩ đến bản thân mình mà quên đi việc quan tâm, giúp đỡ những người xung quanh…

+Người sống vị tha sẽ được mọi người yêu mến, tôn trọng và ngược lại.

+Người nào sống ích kỉ, vụ lợi, chỉ nghĩ đến mình thì cũng sẽ không được mọi người tôn trọng

Bày tỏ suy nghĩ của mình về ích kỉ và vị tha: cần lên án , tránh xa lối sống ích kỉ, vụ lợi,…

Kết bài:Bàn bạc mở rộng về biện pháp, phương châm sống đúng đắn

Chúng ta cần rèn luyện lòng vị tha như thế nào?

Làm thế nào để khắc phục tính ích kỉ trong bản thân mỗi người?

nghi luan xa hoi ve ich ki va vi tha

Xem thêm đề nghị luận xã hội về Sống đẹp

Bộ đề Nghị luận xã hội 200 chữ, luyện thi THPT Quốc gia:

(Tài liệu sưu tầm )

Đề thi khảo sát chất lượng khối 10 môn Ngữ văn

ĐỀ THI KHẢO SÁT KHỐI 10

MÔN THI: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 150 phút (không kể thời gian giao đề)
Câu 1 (2 điểm):
Suy nghĩ của anh/chị về chữ “thẹn” trong bài thơ tỏ lòng  (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão.
Câu 2 (3 điểm):
Anh (chị) hãy viết một bài văn Nghị luận xã hội (khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ về câu tục ngữ: “Thất bại là mẹ thành công”.
Câu 3 (5 điểm):
“Sức cảm thông lạ lùng” của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du với những khổ đau và khát vọng của con người qua hai đoạn trích “trao duyên” và “Nỗi thương mình”( trích Truyện Kiều).

Lưu ý: Đây là đề thi theo cấu trúc cũ, các bạn có thể vào link này để cập nhật những đề thi theo cấu trúc năm nay nhé :  Tuyển tập đề thi ngữ văn 10
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI:
Câu 1:
– Thẹn: là cảm xúc xấu hổ với người hoặc với mình khi chưa được bằng người khác hoặc chưa làm được điều mình trông đợi.
– Trong bài thơ, “thẹn” chỉ cảm xúc của tác giả. Phạm Ngũ Lão xấu hổ khi nghe chuyện Vũ Hầu – tức Gia Cát Lượng, vị quân sư tài giỏi đã giúp Lưu Bị lập nên nhà Thục Hán. Có lẽ tác giả thấy mình chưa lập được sự nghiệp lớn lao, chưa giúp đỡ được nhiểu cho vua, cho đất nước như Vũ Hầu. Vì thế mà tác giả thấy thẹn với người đời, với chủ tướng Trần Hưng Đạo với chính mình. Đây là cái thẹn của một nhân cách lớn.
– Nói thẹn với Vũ Hầu chính là gián tiếp muốn lấy Vũ Hầu là tấm gương để nỗ lực noi theo. Vì thế, câu thơ có thể hiểu là lời thề suốt đời tận tụy, suốt đời phấn đấu vì chủ tướng. Đằng sau chữ “thẹn” là khát vọng lập công lớn lao, là lẽ sống cao đẹp của trai thời loạn.
– Từ xuất thân bình dân, Phạm Ngũ Lão đã lập được những chiến công lớn trong hai cuộc kháng chiến chống Mông-Nguyên và công cuộc bảo vệ biên giới phía Nam. Ông đã sống một cuộc đời không phải hổ thẹn với bất cứ ai bởi lẽ ông đã có những cảm xúc “thẹn” rất đáng quý, đáng trọng đến như vậy.
Câu 2:
1. Giải thích:
Câu tục ngữ thật ngắn gọn nhưng đã sử dụng cách nói so sánh. So sánh thất bại – không đạt đựơc mục đích, với thành công- thực hiện đựơc mục đích đề ra. Lời nói trên mới nghe như chứa một mâu thuẫn. Nhưng nếu giải thích ta có một ý nghĩa rất thực tế. Thất bại là kết quả xấu, là thiệt hại, hư hỏng. “Mẹ” ở đây có ý nói là lớn, là đầy hiệu lực. Đó là một lời khuyên để mọi người vững chí bền lòng, kiên trì không nản trước khó khăn thất bại. Nếu biết học tập rút kinh nghiệm thì “thất bại” sẽ dạy cho ta cách đạt tới kết quả cao hơn.
2. Bàn luận:
– Thất bại là khi con người không đạt được mục đích của mình. Trong cuộc đời mỗi con người, ai cũng có lần thất bại trong công việc. Công việc càng khó khả năng thất bại càng nhiều.
– Tuy nhiên, có thất bại thì ta càng có kinh nghiệm. Mỗi lần thất bại là một lần rút ra bài học để sửa đổi( lối suy nghĩ, cách làm viêc…), từ đó giúp ta tiến gần đến thành công.
– Con người có được những thành công trong cuộc sống chính là đi từ những thất bại. Những thành công có được sau những thất bại thường có giá trị chắc chắn, vững bền đem lại cảm giác hạnh phúc thực sự cho con người.
– Không phải thất bại nào cũng dẫn đến thành công. Vấn đề là ở chỗ con người thu hoạch được điều gì sau mỗi lần thất bại. Yếu tố quan trọng vẫn là nghị lực và trí tuệ của con người.
– Trên thực tế cũng có những người thành công dễ dàng, và dường như chưa bao giờ thất bại. Tuy nhiên đó không phải là số nhiều.
3. Bài học nhận thức và hành động:
– Rèn luyện ý chí và không nản lòng trước thất bại. Xem thất bại là thử thách đối với con người.
– Cũng không nên lấy câu nói này để chỉ tự an ủi mỗi lần thất bại trong học tập và trong công việc. Phải biết biến “ thất bại” trở nên “ người mẹ ” của thành công.
Câu 3:
1. Giải thích vấn đề:
– Sức cảm thông lạ lùng: Lời nhận xét rất đúng đắn thể hiện tập trung tư tưởng nhân văn sâu sắc, mới mẻ của tác giả. Nguyễn Du nhập thân vào Kiều, sống trong cảnh ngộ và tâm trạng của Kiều để rồi có niềm cảm thông đặc biệt, hơn người và hơn đời với nàng..Ông đã cảm thương trước bi kịch của Kiều, khẳng định nhân cách đẹp đẽ của nàng, khẳng định sự ý thức về nhân phẩm và sự ý thức cá nhân. Nói như Mộng Liên Đường chủ nhân là từng câu thơ ở đây như có máu rỏ trên đầu ngọn bút của Nguyễn Du, như có nước mắt của nhà thơ thấm qua trang giấy. Dẫu có bao lớp bụi thời gian phủ lên nhưng những giọt nước mắt nhân tình ấy không khi nào ráo được
– Sức cảm thông lạ lùng: xuất phát từ một trái tim lớn, giàu lòng yêu thương.
2. “Sức cảm thông lạ lùng” của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du với những khổ đau và khát vọng của con người qua từng văn bản:
* Trong Trao duyên: Bi kịch tình yêu tan vỡ và khát vọng hạnh phúc của Kiều:
– Nặng lòng với lời thề, vì lo cho Kim Trọng, Thúy Kiều thuyết phục em để nối “ tơ thừa”, cũng là để mong lòng được thanh thản, yên tâm, dù có phải chết. Nhưng khi trao kỉ vật tình yêu, trong nàng có sự mâu thuẫn giữa lí trí và tình cảm, mâu thuẫn giữa lời nói ban đầu và tâm trạng hiện tại, cõi lòng đầy nuối tiếc, xót xa. Nàng không quên được Kim Trọng, vẫn mang nặng lời thề và không nguôi khao khát tình yêu, hạnh phúc.
– Đối diện với hiện tại là đối diện với sự mất mát, đổ vỡ, lỡ làng với bao xót xa, đau đớn. Nhưng nàng vẫn không quên quá khứ ngày nào với bao hạnh phúc. Nàng oán thán số phận bac bẽo và luôn tự dằn vặt, thấy mình có lỗi, là người phụ bạc.
– Trao duyên xong, dường như trong nàng càng dằn vặt, đau khổ và tuyệt vọng hơn bởi nàng cảm nhận rõ hơn sự mất mát: mất Kim Trọng, mất hạnh phúc, mất tương lai.
→ Nguyễn Du nhập rất sâu vào nội tâm nhân vật, thấu hiểu và cảm thông tâm trạng phức tạp mâu thuẫn của Kiều. Từ đó giúp người đọc cảm nhận được một nàng Kiều giàu đức hi sinh với nhân cách cao thượng.
* Trong nỗi thương mình: Bi kịch về nhân phẩm bị chà đạp và khát vọng sống trong sạch. Đoạn trích cho ta thấy tình cảnh trớ trêu, đau đớn của Thúy Kiều khi phải sống ở lầu xanh.:
+ Thương mình cô đơn giữa chốn nhơ nhớp “ cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm”…
+ Thương mình đến đau đớn khi nghĩ về thực tại phũ phàng, “ tan tác như hoa giữa đường”… Nàng chua chát, tủi hổ, bẽ bàng cho thân phận của mình.
+ Thương mình phải “vui gượng”, bởi “ ai tri âm đó mặn mà với ai”. Nỗi sầu từ lòng người lan tỏa lên cảnh vật.
→ Nhà thơ cảm thương trước bi kịch của nàng Kiều, khẳng định nhân cách đẹp đẽ của nàng, khẳng định ý thức về nhân phẩm và khát vọng được sống là mình, đúng nghĩa con người của nàng Kiều.
3. Đánh giá chung
– Cả hai đoạn trích đều cho ta hiểu rõ về thân phận của người phụ nữ, của những người “ tài sắc bạc mệnh” trong xã hội xưa.
– Cả hai đoạn trích đã thể hiện sự thành công ở việc sử dụng từ ngữ chọn lọc, biện pháp ẩn dụ, câu hỏi tu từ, ngắt nhịp, đối, sử dụng cách nói ước lệ…;
– Thề hiện tài năng nghệ thuật của Nguyễn Du trong việc miêu tả nội tâm nhân vật.
→Tấm lòng đồng cảm, xót xa của Nguyễn Du trước cảnh ngộ của con người là tư tưởng nhân đạo, nhân văn cao cả.