Cảm hứng sử thi trong Rừng xà nu và Những đứa con trong gia đình

Đề bài : Điểm khác biệt giữa Cảm hứng sử thi trong Rừng xà nu và Những đứa con trong gia đình

Hướng dẫn làm bài

* Mục đích của câu hỏi: Kiểm tra năng lực vận dụng kiến thức. kĩ năng tạo lập văn bản của học sinh.

* Yêu cầu:

a, Về kĩ năng: Thí sinh biết cách làm bài nghị luận văn học; sử dụng thành thạo các thao tác phân tích, so sánh, bình luận; lập luận chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, văn viết có hình tượng, không mắc, hoặc mắc rất ít lỗi về diễn đạt;

b, Về kiến thức:

Chấp nhận những cách kiến giải khác nhau miễn là đảm bảo tính lô gic chặt chẽ, có sức thuyết phục. Sau đây là một số gợi ý:

– Giới thiệu khái quát về khuynh hướng sử thi của văn học Việt Nam 1945-1975; khẳng định “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành và “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi là hai tác phẩm thể hiện rõ nhất đặc điểm cơ bản này của văn học đương thời

– Tuy nhiên, cách thể hiện khuynh hướng sử thi ở mỗi TP mỗi khác:

+ Cùng phản ánh những vấn đề có ý nghĩa sống còn của đất nước, những sự kiện có tính chất lịch sử của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, nhưng ở “RXN”, NTT tái hiện một cách sinh động phong trào cách mạng của dân làng Xô Man như một bức tranh thu nhỏ của cuộc chiến tranh nhân dân gồm đủ mọi tầng lớp, lứa tuổi hăng hái tham gia đánh giặc tỏa sáng vẻ đẹp của CNAHCMVN. Còn ở “NĐCTGĐ”, NT lại từ truyền thống yêu nước, căm thù giặc, khát khao đánh giặc trả thù nhà, đền nợ nước của một dòng sông gia đình truyền thống góp phần làm nổi bật gương mặt chung của đất nước, dân tộc, tỏa sáng truyền thống yêu nước có tự ngàn xưa của người Việt.

+ Nhân vật chính trong  các TP đều là tinh hoa và khí phách, phẩm chất và ý chí của toàn dân tộc: nồng nàn yêu nước; sục sôi lòng căm thù giặc; hiên ngang bất khuất trước quân thù; sẵn sàng chiến đấu hi sinh vì quê hương, đất nước, vì những người ruột thịt, thân yêu; lạc quan, tin tưởng vào tương lai, nhưng mỗi nhà văn có cách XD nhân vật riêng. Cụ Mết, Tnú, Mai, Dít  (RXN) kết tinh vẻ đẹp của mọi tầng lớp, lứa tuổi người dân làng XM; ba, má, chú Năm và chị em Chiến Việt (NĐCTGĐ) là những con người đại diện cho các thế hệ của dòng sông gia đình truyền thống.

+ Giọng điệu bao trùm trong 2 TP là giọng điệu ngợi ca, trang trọng và đẹp một cách tráng lệ, hào hùng, nhưng lờiv kể và giọng kể ở mỗi TP mỗi khác: Lời kể và giọng kể của cụ Mết về cuộc đời, kỳ tích của Tnú và cuộc nổi dậy của dân làng Xô Man trong không khí vừa dân dã, vừa thiêng liêng bên ánh lửa xà nu tại nhà ưng (RXN) rất gần với lối kể “khan Đăm San” của đồng bào Tây Nguyên; cảm nhận của Việt lúc bị thương về âm thanh tiếng súng đồng đội và dòng hồi ức của anh về ngày thanh niên tranh nhau đăng kí tòng quân (NĐCTGĐ) ngợi ca tình đồng chí, đồng đội keo sơn, gắn bó và không khí sục sôi của ngày hội non sông, “cả nước lên đường” ra trận…

– Nguyên nhân của sự khác biệt: Do đối tượng phản ánh và phong cách nghệ thuật của nhà văn quy định  (…).

– Mặc dù có những nét khác nhau trong cách thể hiện khuynh hướng sử thi, nhưng cả hai tác phẩm trên đều góp phần làm nổi bật không khí lịch sử một thời đau thương mà anh dũng của dân tộc.

* Cách cho điểm:

– Điểm 6- 7: Đáp ứng tốt các yêu cầu trên, có thể còn vài sai sót về diễn đạt

– Điểm 4 – 5: Đáp ứng phần lớn các yêu cầu trên: Phân tích được nét riêng trong cách thể hiện cảm hứng sử thi ở hai tác phẩm nhưng chưa đầy đủ ( 2/3 ý), hoặc chưa lí giải rõ nguyên nhân, ý nghĩa của sự khác nhau trong cách thể hiện của mỗi nhà văn. Bố cục rõ ràng, lập luận tương đối chặt chẽ, còn mắc một số lỗi về diễn đạt.

– Điểm 2-3: Chưa làm rõ được nét riêng trong cách thể hiện cảm hứng sử thi ở hai tác phẩm, chưa lí giải được nguyên nhân, ý nghĩa của sự khác nhau trong cách thể hiện của mỗi nhà văn. Bố cục chưa rõ ràng, lập luận chưa chặt chẽ, còn mắc khá nhiều lỗi về diễn đạt.

– Điểm 1: Chưa hiểu đề, sai lạc kiến thức, mắc rất nhiều lỗi về diễn đạt.

– Điểm 0: không làm bài hoặc hoàn toàn lạc đề.

Đề sưu tầm

Xem thêm  : Tuyển tập đề thi học sinh giỏi môn văn, Rừng xà nu, Những đứa con trong gia đình

Đề thi học sinh giỏi về phong cách nhà văn Nam Cao

Tuyển tập đề thi học sinh giỏi môn văn lớp 11. Đề thi về tác giả Nam Cao

Đề bài :

Nói về tính độc đáo của phong cách trong sáng tác, có ý kiến cho rằng:

Nghệ thuật là lĩnh vực của cái độc đáo, vì vậy nó đòi hỏi người sáng tác phải có phong cách nổi bật, tức là nó có nét gì đó rất riêng, mới lạ thể hiện trong tác phẩm của mình”.

Anh (chị) hãy chọn phong cách tác giả Nam Cao để phân tích, làm sáng tỏ ý kiến trên.

ĐÁP ÁN

Bài làm của học sinh cần đảm bảo những yêu cầu sau đây:

Về kiến thức:

Trên cơ sở hiểu biết về phong cách sáng tác của Nam Cao qua một số tác phẩm, học sinh đánh giá ý kiến trên. Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng phải làm rõ những nội dung cơ bản sau:

Giới thiệu về ý kiến: nghệ thuật đòi hỏi rất cao ở người nghệ sĩ năng lực sáng tạo, độc đáo. Đấy chính là phong cách nghệ thuật của mỗi nhà văn chân chính.

Giải thích ý kiến:

– Thế nào là phong cách nghệ thuật?

+ Là khuôn mặt riêng, giọng điệu riêng của từng nghệ sĩ trong thế giới nghệ thuật, là những nét riêng biệt, chủ yếu của một tài năng nghệ thuật độc đáo.

+ Cái riêng, cái mới lạ thể hiện trong các tác phẩm của nhà văn là gì? Đó là cái nhìn độc đáo đối với hiện thực cuộc sống thể hiện chiều sâu của sự cảm nhận và khám phá đời sống của nhà văn, là sự sáng tạo mới mẻ trong việc sử dụng các phương tiện hình thức nghệ thuật (như lời văn, câu văn, từ ngữ, hình ảnh, giọng điệu,…)

Phân tích phong cách Nam Cao qua một số tác phẩm tiêu biểu.

Những nét chính trong phong cách nghệ thuật Nam Cao.

+ Nam Cao nhìn đời, nhìn con người vừa bằng đôi mắt hiện thực sắc sảo, nghiêm ngặt, vừa bằng đôi mắt của tình thương và lòng vị tha.

+ Để chuyển tải nội dung cái nhìn ấy, nhà văn chú trọng xây dựng những cốt truyện tâm lí sinh động, phức tạp (với sự giằng co, dằn vặt, thao thức đến khắc khoải của nhân vật) và tập trung bút lực vào hai đề tài chính là người nông dân và người trí thức nghèo.

Phân tích một số tác phẩm của Nam Cao để làm sáng tỏ những nét phong cách trên. (ví dụ: Chí Phèo, Đời thừa…)

Đánh giá chung:

– Sức sống lâu bền của một tác phẩm phụ thuộc rất nhiều vào sự mới lạ, độc đáo trong cách nhìn, cách thể hiện của nhà văn.

– Phong cách nghệ thuật là thước đo tài nghệ, cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ.

Đề sưu tầm

Xem thêm : Tuyển tập đề thi học sinh giỏi môn văn

Đề thi học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 11

Bộ đề ôn luyện thi học sinh giỏi môn Văn lớp 11.

KÌ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI KHỐI 11
Năm học: 2016-2017
MÔN: NGỮ VĂN
(Thời gian: 150 phút)

Câu I (8,0đ):
Cháy lên để tỏa sáng.

Câu II (12,0đ):
Nhà văn I.X Tuốc- ghê- nhép cho rằng: Cái quan trọng trong tài năng văn học là tiếng nói của mình, là cái giọng riêng biệt của chính mình không thể tìm thấy trong cổ họng của bất kì một người nào khác
.( Dẫn theo Khrapchenco. Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học. Nhà xuất bản tác phẩm mới, 1978).
Anh (chị) hãy bình luận ý kiến trên và làm sáng tỏ cái giọng riêng biệt của Xuân Diệu qua một số bài thơ tiêu biểu.
ĐÁP ÁN ĐỀ CHỌN HỌC SINH GIỎI KHỐI 11
Năm học: 2016 – 2017
MÔN: NGỮ VĂN
I Cháy lên để tỏa sáng.

1 Giải thích (1,0 điểm)
– Cháy: là niềm đam mê nhiệt huyết hết mình
– Tỏa sáng: làm nên thành tựu, nâng cao tầm vóc, giá trị bản thân, được mọi người ngưỡng mộ, tôn vinh.
-> Cả câu: Đề cao niềm đam mê nhiệt huyết làm nên thành tựu giúp bản thân mình tỏa sáng của mỗi người 0,25

2 Bàn luận (6,0 điểm)
– Con người cần “cháy” hết mình với công việc:
+ Có niềm đam mê, nhiệt huyết con người sẽ làm việc quên thời gian và mệt mỏi, tạo ra hiệu quả cao. Ngược lại, thiếu đam mê, làm việc gượng ép, miễn cưỡng sẽ ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả công việc.
+ Có đam mê con người đồng thời sẽ có khát vọng, ước mơ làm những điều đẹp đẽ, có ích thậm chí là kì tích, là những phát minh sáng chế đem lại lợi ích cho cộng đồng, nhân loại (như các nhà bác học say mê nghiên cứu, phát minh…)
+ Có đam mê người ta cũng sẵn sàng dâng hiến công sức trí tuệ cho cộng đồng thậm chí sẵn sàng hi sinh riêng tư vì cái chung (như AnhXtanh hi sinh hạnh phúc cá nhân cho việc nghiên cứu)
+ Khi có đam mê nhiệt huyết con người trở nên năng động, sáng tạo, có niềm tin vào bản thân, có ý chí quyết tâm vượt qua thử thách khó khăn để hoàn thành công việc hoặc thực hiện được ước mơ…(Bill Gates vì niềm đam mê máy tính mà sẵn sàng bỏ học ĐH trong sự can ngăn của nhiều người… nhưng ông quyết tâm vượt qua và ông đã thành công).
– Thành công từ những đam mê sẽ giúp con người “tỏa sáng”:
+ Nâng cao tầm vóc, giá trị bản thân
+ Được mọi người ngưỡng mộ, tôn vinh
– Tuy nhiên:
+ Không nên đam mê thái quá để mình bị cuốn theo một vòng xoáy nào đó không dứt ra được mà vòng xoáy đó lại ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống của ta (ví dụ mê chơi game mà chểnh mảng học hành); con người quá say mê làm giàu hay làm việc gì đó muốn khẳng định bản thân một cách nóng vội thì cũng dễ dẫn đến tham lam, phạm tội…
+ Phê phán những người học tập, làm việc thiếu lòng nhiệt tình; không có ước mơ và cũng không có động lực và quyết tâm thực hiện ước mơ hay hoàn thành công việc…

3 Bài học nhận thức và hành động (1,0 điểm))
– Cháy hết mình, đam mê nhiệt huyết với học tập, lao động là yếu tố quan trọng giúp con người thành công, khẳng định được vị trí của mình trong cuộc sống và xã hội nên con người cần nuôi dưỡng đam mê.
– Con người cần phải học tập, trau dồi kiến thức, rèn luyện kĩ năng sống tích cực, bồi đắp tâm hồn để thắp sáng đam mê. 0,5
Câu 2 :Bình luận ý kiến của nhà văn I.X Tuốc- ghê- nhép và làm sáng tỏ cái giọng riêng biệt của Xuân Diệu qua một số bài thơ tiêu biểu

1 Giới thiệu vấn đề ( 1,0 điểm)
– Nhà văn I.X Tuốc- ghê- nhép cho rằng: Cái quan trọng trong tài năng văn học là tiếng nói của mình, là cái giọng riêng biệt của chính mình không thể tìm thấy trong cổ họng của bất kì một người nào khác.
– Xuân Diệu, nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới. Qua sáng tác của mình, ông đã in được dấu vào nền văn học với một giọng riêng biệt, độc đáo hiếm thấy. 0,5

0,5
II

2 Giải thích ý kiến (2,0 điểm)
– Tài năng văn học: Khả năng văn học, sự giỏi giang, điêu luyện của người nghệ sĩ ngôn từ trong sáng tạo nghệ thuật. Tài năng văn học còn là cách nói hoán dụ để chỉ những nhà văn nhà thơ có tài.
– Nói : Là thể hiện thành lời một nội dung nào đó, giọng : Là cách phát âm, cách nói. Tiếng nói của mình, cái giọng riêng biệt của chính mình : Là cách diễn đạt, cách thể hiện độc đáo của một cá nhân về vấn đề nào đó.
– Không thể tìm thấy trong cổ họng của bất kì một người nào khác: Duy nhất, không thể có người thứ hai giống mình.
=> Nhận định là cách nói hình ảnh có tính chất đúc kết về cái quan trọng của những tài năng văn học lớn. Đó là: Một nghệ sĩ có tài phải là người có phong cách riêng độc đáo, không lẫn với bất cứ ai, không giống với bất cứ người nào. 1,0

3 Bình luận ý kiến (3,0điểm)
– Phong cách nghệ thuật của nghệ sĩ là một cái gì đó bền vững, xuyên suốt, lặp đi lặp lại trong các sáng tác trên cả hai phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật. Nói cách khác phong cách là biểu hiện tài nghệ của người nghệ sĩ ngôn từ trong việc đem đến cho người đọc một cái nhìn mới mẻ chưa từng có về cuộc đời thông qua những phương thức, phương tiện nghệ thuật mang đậm dấu ấn cá nhân người sáng tạo.
– Phong cách nghệ thuật biểu hiện ở cái nhìn có tính chất khám phá, ở giọng điệu riêng biệt, ở hệ thống hình tượng, ở các phương diện nghệ thuật…
– Điều quan trọng trong tài năng của người nghệ sĩ là cái riêng biệt, độc đáo mà không ai có thể bắt chước, làm theo. Đây vừa là yêu cầu, vừa là tiêu chuẩn để đánh giá vị trí của nghệ sĩ ấy trên văn đàn. Cái riêng ấy sẽ giúp họ ghi được dấu ấn trên nền văn học, được người đọc yêu mến, tôn vinh. 1,5
4 Phân tích một số bài thơ tiêu biểu của Xuân Diệu để làm rõ phong cách nghệ thuật độc đáo của ông. (5,0 điểm)
– Thơ Xuân Diệu thể hiện đầy đủ nhất cho ý thức cá nhân của cái tôi thơ mới nhưng đồng thời cũng mang đậm bản sắc riêng của cái tôi trong thơ Xuân Diệu. Đó là cái tôi tích cực, mãnh liệt, lúc nào cũng thèm yêu, khát sống, khát khao tận hưởng, cống hiến ngay trên thiên đường trần thế này. Cái tôi mang giọng điệu vồ vập, vội vàng, cuống quýt…Dù khi vui hay khi buồn đều nồng nàn, tha thiết.
– Cái nhìn của Xuân Diệu là cái nhìn tình tứ nên thiên nhiên luôn hiện ra với vẻ đẹp xuân tình.
– Thơ Xuân Diệu tiêu biểu cho tinh thần lãng mạn. Mỗi tiếng thơ như một cơn lũ cảm xúc tuôn chảy, câu nọ gọi câu kia, hình ảnh này gọi hình ảnh kia trong một hơi thơ dồi dào, lôi cuốn.
– Mỗi thi phẩm của Xuân Diệu đều có một cấu tứ khá chặt chẽ, không chỉ phơi trải tình cảm một cách đơn thuần, thi sĩ còn đưa ra những quan niệm, những triết lí về tình yêu, tuổi trẻ, hạnh phúc, thời gian…
– Xuân Diệu có những nỗ lực, có những cách tân thơ tiếng Việt bằng sự bền bỉ học hỏi và vận dụng cấu trúc thơ phương Tây, sáng tạo những điệu nói, những cách nói mới, phát huy được triệt để các giác quan trong cảm nhận.
Lưu ý: Học sinh chọn các bài thơ tiêu biểu như Vội vàng, Thơ duyên, Đây mùa thu tới… để minh họa cho từng đặc điểm trên của phong cách thơ Xuân Diệu.

5 Đánh giá (1,0 điểm)
– Phong cách độc đáo chính là yếu tố quyết định tài năng và sức sống của tác phẩm văn học.
– Xuân Diệu đã khẳng định được vị trí của mình trên văn đàn bởi giọng điệu riêng biệt của chính mình mà không thể tìm thấy trong cổ họng của bất kì một người nào khác 0,5
0,5

Lưu ý chung: Thí sinh có thể làm bài theo những cách khác nhau, nhưng phải đảm bảo những yêu cầu về kiến thức. Trên đây chỉ là những ý cơ bản thí sinh cần đáp ứng; việc cho điểm cụ thể từng câu cần dựa vào sự vận dụng đáp án một cách khoa học và linh hoạt của người chấm.

————————Hết———————-

Đề sưu tầm

Xem thêm tuyển tập đề thi học sinh giỏi môn Văn :http://vanhay.edu.vn/hoc-sinh-gioi

Đề thi học sinh giỏi về Truyện Kiều- Nguyễn Du. đề 2

Bộ đề ôn luyện thi học sinh giỏi môn Văn lớp 11.

Có ý kiến cho rằng: Người nghệ sĩ chân chính là người suốt đời chỉ truyền bá một thứ tôn giáo: Tình yêu thương con người.

. Anh/Chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Qua các trích đoạn “Truyện Kiều” đã học trong chương trình Ngữ văn 10- THPT, anh/chị hãy làm sáng tỏ .

Đáp án :

Nhận thức đề

Đề bài yêu cầu làm rõ 2 nội dung:

– Hiểu đúng ý kiến: Người nghệ sĩ chân chính suốt đời chỉ viết về con người, ca tụng tình yêu thương con người.

– Phân tích tình yêu thương, sự đồng cảm của tác giả Nguyễn Du đối với các nhân vaath trong “Truyện Kiều”.(ý chính)

Yêu cầu kiến thức

Mở bài: nêu vấn đề 

Thân bài 

a) Giải thích nhận định (1,5 điểm)

+Người nghệ sĩ là cách gọi chung cho các nhà văn, nhà thơ…những người có đóng góp lớn lao cho nghệ thuật. (0,25 điểm)

+ Người nghệ sĩ chân chính: Những người mang lý tưởng tiến bộ của thời đại, đại diện cho lương tri của loài người, sẵn sàng đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác để bảo vệ công lí, lẽ phải, giàu tình yêu thương nhân ái, sẵn sàng xả thân cho cuộc đời và cho nghệ thuật. (0,5 điểm)

+ Sứ mệnh cao cả của người nghệ sĩ là khám phá cái đẹp của cuộc sống và chuyển tải đến người đọc thông qua tác phẩm văn học. Con người với tất cả niềm vui hạnh phúc, khát khao và nỗi buồn đau luôn trở thành nguồn cảm hứng dồi dào của văn học và là mối quan tâm hàng đầu của nhà văn. (0,5 điểm)

+Tác phẩm văn học chân chính là sản phẩm của nhà văn nhân đạo chủ nghĩa. Qua những cảnh ngộ, nhà văn muốn người đọc cùng chia sẻ và đồng cảm, bênh vực và ca tụng con người, ca ngợi tình người. Những tác phẩm như thế sẽ trường tồn và độc giả yêu thích. (0,25 điểm)

=> Ý kiến bàn về sứ mệnh của người nghệ sỹ, giá trị và chức năng của văn học nghệ thuật.

b) Bàn luận: Vì sao nhà văn chân chính lại lấy việc làm cho cuộc đời tốt đẹp hơn làm mục đích sáng tác? (2,5 điểm)

+ Vì Người nghệ sĩ chân chính  rất giàu tình yêu thương đối với cuộc đời. Họ luôn day dứt, trăn trở trước cuộc sống và con người. (họ là “người cho máu”, là “nhà nhân đạo từ trong cốt tuỷ”…) (0,5 điểm)

+ Vì họ hiểu rõ khả năng, sức mạnh to lớn của văn chương. Họ đã dùng văn chương như một công cụ đắc lực để thực hiện lí tưởng nghệ thuật của mình! Tác phẩm của họ dù viết theo đề tài nào cũng vẫn để bày tỏ “lòng thương và tình bác ái, để người gần người hơn”. (0,5 điểm)

+ Họ thực hiện chức năng giáo dục (truyền bá tình yêu thương con người) bằng cách nào? (1,5 điểm)

–  Ca ngợi, khẳng định những cái tốt đẹp của cuộc sống (những yêu thương, nhân ái, vị tha).

– Cảm thương, bênh vực những kiếp người đau khổ, bất hạnh.

– Đồng tình với những khát vọng chính đáng của con người.

-Lên án, tố cáo những cái xấu, cái ác…để bảo vệ con người khỏi những áp bức, bất công!

Phân tích biểu hiện của tình yêu thương trong các trích đoạn “Truyện Kiều”. (7 điểm)

 Khái quát :

– Văn học trung đại Việt nam từ cuối thế kỷ XIII- đầu thế kỷ XIX phát triển trong một giai đoạn lịch sử có nhiều biến cố “kinh thiên động địa” và những phen “thay đổi sơn hà”. Những biến cố xã hội đó đã có ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của nhân dân, và vấn đề con người trở thành mối quan tâm hàng đầu của các tác gia văn học.(0,5 điểm)

 Giới thiệu ngắn về tác giả, tác phẩm.

Nguyễn Du là một nhà thơ lớn của dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. “Truyện Kiều” của ông là đỉnh cao chói lọi và là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam.

Dù đã sống hơn 200 trăm năm, nhưng tác phẩm vẫn luôn mới mẻ trong lòng người đọc bởi tính nhân loại phổ quát. Đọc “Truyện Kiều” Ta  thấy cái tâm thể hiện rất rõ trên từng nét bút của tác giả – Một tình yêu thương con người vô tận theo cách của Nguyễn Du.(0,5 điểm)

Tình yêu thương con người thể hiện trong các trích đoạn “Truyện Kiều”:

  • “Truyện Kiều là tiếng nói ngợi ca những giá trị, phẩm chất tốt đẹp của con người: Ca ngợi tài sắc, hiếu nghĩa, bao dung của Thuý Kiều (Trao duyên); Sáng trong, thanh khiết (Nỗi thương mình). Ca ngợi lòng nhân hậu, đức hy sinh của Thúy Vân. Ca ngợi chí khí anh hùng của Từ Hải (Chí khí anh hùng)…(1,5 điểm)
  • Qua “Truyện Kiều”, Nguyễn Du cất tiếng khóc thương cho những cho những kiếp người đau khổ – Đặc biệt là những người tài hoa, bạc mệnh: Khóc cho tình yêu trong sáng, chân thành bị tan vỡ, khóc cho tình cốt nhục bị lìa tan (Trao duyên), khóc cho thân xác bị đày dọa hắt hủi (Nỗi thương mình)… Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Du đặt tên cho tác phẩm của mình là “Đoạn trường tân thanh”. (1,5 điểm)
  • “Truyện Kiều” là bài ca về tình yêu tự do và ước mơ công lý.

Nhà thơ đã vượt lên những quy tắc lễ giáo phong kiến để đồng cảm,nâng niu những biểu hiện tình yêu trong trong sáng, chân thành giữa Thúy Kiều với Kim Trọng. (Thề nguyền,Trao duyên, ).

Qua hình tượng Từ Hải, Nguyễn Du gửi gắm ước mơ làm chủ cuộc đời, trả ân báo oán công bằng (Chí khí anh hùng). (1,5 điểm)

  • “Truyện Kiều” là bản cáo trạng đanh thép tố cáo hiện thực đen tối của xã hội phong kiến đã vùi dập, đói xử bất công với con người.(1 điểm)

=>Nguyễn Du, nhà thơ thiên tài của dân tộc , người có“có con mắt trông thấu sáu cõi, có tấm lòng nghĩ đến muôn đời”thông qua số phận, và tính cách của nhân vật trung tâm –  Thúy Kiều đã biểu hiện trong áng thơ tuyệt tác “Đoạn trường tân thanh” cảm hứng nhân đạo sâu sắc, cao cả. (0,5 điểm)

 

3.Kết bài: ( 1 điểm)

Khẳng định lại vấn đề :

+Vai trò , thiên chức của người cầm bút.

+Tư tưởng nhân đạo là nội dung quan trọng, chủ đạo “Truyên Kiều” nói riêng và trong nhiều tác phẩm Văn học trung đại Việt Nam nói  chung.

Đề sưu tầm.

Xem thêm tuyển tập đề thi học sinh giỏi môn Văn :http://vanhay.edu.vn/hoc-sinh-gioi

Bài văn của học sinh giỏi về Thương Vợ- Trần Tế Xương

Bộ đề luyện thi học sinh giỏi môn văn.  Tổng hợp những bài văn mẫu hay nhất về bài Thương Vợ của Trần Tế Xương.

Đề ra: Tâm sự của Tú Xương qua bài thơ  “Thương vợ”

 

BÀI LÀM:

Thơ văn Việt nam xưa và nay có những bài thơ thương vợ, khóc vợ rất cảm động. Người ta còn truyền tụng một bài thơ của Tự Đức khóc một bà phi có câu:

“Đập vỡ gương ra tìm thấy

Xếp tàn y lại để dành hơi”.

Nỗi nhớ nhung đau đớn, dữ dội ấy còn được Bùi Hữu Nghĩa, Nguyến Thượng Hiền, Nguyến Khuyến thể hiện cảm động trong bài văn tế, câu đối khóc vợ sau này. Cảm phục, xót thương, tự hào… trước tấm lòng, đức hi sinh của vợ bằng giọng văn vừa có chút tính nghịch, vừa rất cảm động; giữa sự kết hợp giữa trào phúng và trữ tình Tú Xương đã làm “giàu” thêm đề tài viết về bà Tú và kịp góp vào nền văn học Trung đại Việt Nam một bài thơ về tình cảm thương vợ hay và sâu sắc.

“Thương vợ” là một bài thơ vừa cảm động, vừa dí dỏm của Tú Xương. Chỉ hai câu đầu của bài thơ đã nêu bật lên được vai trò trụ cột gia đình của bà:

“Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng”.

Ông Tú tỏ lòng thương vợ bắt đầu bằng sự tính công. Đúng hơn là sự biết ơn sâu sắc công lao của bà Tú. Có thời gian cụ thể: “quanh năm”; không gian cụ thể: “mom sông” càng làm nổi bật lên sự lam lũ, vất vả quần quật của bà Tú. Nơi buôn bán để kiếm miếng cơm manh áo của bà Tú là “mom sông”- là một chỗ đất nơi ra ở bờ sông, nơi ít người qua lại, sóng nước gập ghềnh gợi sự cheo leo, chênh vênh, nhiều bất trắc. Thế nhưng “quanh năm” nghĩa là ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác như một vòng tuần hoàn khép kín, dù ngày nắng hay mưa,ốm đau hay khỏe mạnh bà Tú lại quẩy quang gánh ra nơi “mom sông” ấy để buôn bán. Cách nói như là sự xô bồ, cường điệu của chuyện văn chươn, trong trường hợp này chính là sự bày tỏ lòng biết ơn đối với bà Tú về mặt thời gian lao dộng. Và điều cảm động, đáng để khâm phục bà Tú là nhịp độ làm việc không ngừng nghỉ tai một nơi làm ăn, buôn bán khó khăn nhưng không phải chỉ để nuôi thân mà “Nuôi đủ năm con với một chồng’. Đâu còn thấy hình ảnh:

“Trên đồng cạn, dưới đồng sâu

Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa”.

Mà trái lại đó là loại chồng: “Tiền bạc phó cho con mụ kiếm”, loại chồng “Thưng đấu nhờ lưng một mẹ mày”. Người chồng là trụ cột của gia đình, gánh vác việc nặng nhọc để cưu mang cuộc sống cho vợ con vậy mà ở đây, trong câu thơ này ông Tú cảm thấy mình như một người “thừa”, một kẻ vô dụng và như một “thứ con” đặc biệt để bà Tú pahỉ nuôi riêng. Chế độ xã hội cũ đã sản sinh ra loại ông chồng đoảng, loại ông chồng “dài lưng tốn vải, ăn no lại nằm” như ông Tú không ít. Toát lên qua hai câu thơ là một niềm htơng cảm của ông Tú dành cho vợ trước đức hi sinh, tần tảo của bà; đồng thời là một lời tự trách mình vì thân làm chồng mà để vợ gánh vác việc gia đình đồng thời còn thấp thoáng niềm tự hào về vợ của mình khi làm lụng vất vả để “Nuôi đủ năm con với một chồng”. Mặc dù, đó là một ông chồng không phải nhưng bằng lối văn dí dỏm, tình cảm chân thành, nhận ra được sự vất vả của vợ, tỏ ra biết nhận lỗi, biết đền bù lại bằng cái tình, bằng tấm lòng nên người đọc không hề trách mà ngược lại có chút thông cảm đối với “ông chồng’ này.

Tình thương vợ được thể hiện trọn ven trong hai câu thơ 3, 4:

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng

Eo sèo mặt nước buổi đò đông”.

Hai câu thơ gợi lên cảnh làm ăn vất vả, tội nghiệp cuat bà Tú. Chẳng hay, ông Tú đã đón nhận câu ca dao “Con cò lặn lội bờ sông/ Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non”, từ bào giờ? Qua tiếng ru con cua một bà mẹ láng giềng hay chính trong lời ru của bà cụ Nhuận đã đi vào tiềm thức của tế Xương? Chắc chắn từ “con cò lặn lội bờ sông”, hình ảnh những bà vợ Việt Nam ngàn xưa trong xã hội cũ, ngược xuôi tần tảo, gian nan cực nhọc để nuôi chồng con cũng từ lâu đã đi vào hồn thơ giàu rung động của Tú Xương với bao nhiêu xót xa, thương cảm. Để giờ đây, trong lúc nghĩ đén bà Tú thì con cò ấy bỗng vụt dậy vỗ cacnhs bay vèo thi hứng “Thương vợ” của Tú Xương. Phép đảo ngữ “lặn lội thân cò” càng khắc họa rõ nét nỗi khổ cực, đức hi sin, sự chịu đựng của bà Tú. Hai từ “lặn lội” chen lên đứng đầu câu. Cảnh lặn lội lại càng “lặn lội”. Ca dao nói “con cò”, Tú Xương nói “thân cò”. Ý thơ cổ như xoáy sâu vào sự cực khổ.  “Thân cò” gợi thân phận lẻ loi, yếu ớt, cô đơn và nó lại càng cô quạng, lạc lõng hơ khi đi cùng với từ “eo sèo”- một sự mặc cả, nhỏ nhoi, cô đơn, tội nhgiệp. Vì “năm con với một chồng”, vì “miếng cơm manh áo” mà bà Tú phải chen chúc với nhau trên những chuyến đò đưa khách sang sông. Chật hẹp, bấp bênh, mỏng manh, chơi vơi đến quá chừng! Và dường như sông nước càng mênh mông bao nhiêu thì cái độ chơi vơi, mỏng manh, bấp bênh đó lại càng tăng lên bấy nhiêu. Từ đó càng làm nổi bật tấm lòng “thương vợ” của Tú Xương và qua đó ông tỏ ra thấu hiểu hết những vất vả của bà Tú:

“Một duyên, hai nợ âu đành phận

Năm nắng mười mưa dám quản công”.

Câu thơ như nói lên ý nghĩ của bà Tú. Cuộc đời như thế là duyên, mà cũng là nợ, duyên một thì nợ hai, thôi đành chịu theo số phận, không giám nề hà, không kể công gì nữa. Nhưng câu thơ còn làm nhứ đến câu ca dao:

“Một duyên, hai nợ, ba tình,

Chiêm bao lẩn khuất bên mình năm canh”.

Ngoài cái duyên, cái nợ còn có cái tình; cái tình nghĩa vợ chồng của bà Tú dành cho chồng mình. Thành ra nói “nợ” mà thực ra là nói “tình”, mà đã là tình thì ai lại kể công. Số từ tăng tiến: “một”, “hai”, “năm”, “mười” càng dồn nén sự chịu đựng của bà Tú, càng làm trào dâng lên nỗi niềm xót thương, cảm thông trước sự hi sinh vất vả, tảo tần của bà Tú.

Bài thơ kết bằng một cấu chửi- một câu chửi yêu:

“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc

Có chồng hờ hững cũng như không”.

Nhìn cuôck đời bà Tú như vậy có chửi cũng là lẽ tất yếu. Nhưng ở đây ai chửi? chửi ai? Và chửi cái gì? Thì cũng chỉ là ông Tú thương xót cho bà Tú mà chửi thay cho bà Tú. Ông Tú đã tự chửi mát mình về cái thói “ăn ở bạc”, cái tội “làm chồng mà hờ hững cùng như không”, làm chồng mà để vợ phải trăm cơ, nghìn cực như thế. Hai câu kết khép lại bài thơ vừa như là một lời chửi, vừa như là một lời than. Nhà thơ tự phán xét chính mình, tự trách mình và tha cho hoàn cảnh  của vợ. Câu thơ cũng chỉ ra nguyên nhân dẫn đến nỗi khổ của bà Tú là do “thói đời” bạc bẽo.  “Thói đời” bạc bẽo đã biến ông Tú trở thành kẻ vô tích sự, chính vì thế ông trở thành gánh nặng cho vợ. Lời chửi vừa thể hiện nỗi niềm tâm sự cay đắng ch hoàn cảnh của ông Tú, vừa thể hiện nỗi xót thương, ngậm ngùi của ông Tú đối với vợ.

Bài thơ đã dựng lên hai bức chân dung: ông Tú và bà Tú. Bà Tú hiện lên phía trước, ông Tú khuất lấp phía sau. Vượt lên trên tất cả là tấm lobngf yêu thương, quí trọng và tri ân của ông Tú đối với người vợ tần tảo. Nhà thơ Xuân Diệu đã từng bình phẩm về bài thơ “Thương vợ” rằng: “ Thơ hay, hay ở ý tình; hay ở chữ, tiếng, hay ở sự việc; hay ở nhạc điệu: lặn lộ, eo sèo, thân cò, mặt nước, quãng vắng, đò đông, mỗi chữ đều tình cảm”. Qua đó, tấm lòng yêu thương, trân trọng cũng như những trăn trở, day dắt đã tạo nên nhân cách cao đẹp của Tú Xương, một con người dám sòng phẳng với bản thân, tự nhận ra thiếu sót của mình và không trút bỏ trách nhiệm./.

Xem thêm những đề thi về bài Thương Vợ : http://vanhay.edu.vn/tag/thuong-vo

Bộ đề thi học sinh giỏi môn Văn có đáp án : http://vanhay.edu.vn/hoc-sinh-gioi

Đề thi học sinh giỏi về bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc – Nguyễn Đình Chiểu

Đề ra: Bàn về bài “ Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” sách văn 11 cho rằng:

“Lần đầu tiên trong lịch sử văn học dân tộc có một tượng đài nghệ thuật sừng sững về người nông dân tương xứng với phẩm chất vốn có ngoài đời của họ”.

Anh/chị hiểu ý kiến trên như thế nào và qua bài văn tế hãy làm sáng tỏ./.

 

BÀI LÀM:

 

“Không ai nhớ mặt đặt tên

  Nhưng họ đã làm nên đất nước.”

Vâng, có những bông hoa không rực rỡ nhưng ngát hương, có những cuộc đời thầm lặng nhưng cao cả. Tên tuổi, thể xác và linh hồn của các anh- những người lính, người nghĩa sĩ đã hóa vào hồn thiêng sông núi “ để lại dáng đứng Việt Nam tạc và thế kỉ”, đã hóa thân vào những trang văn làm nên những bức tượng đài bất tử. Đến với “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu mỗi người đều xúc động trước hình tượng người nông dân nghĩa sĩ được khắc tạc dưới ngòi bút chân thực, sinh động của nhà thơ. Có lẽ chăng xuất phát từ đó mà bàn về bài văn tế sách văn 11 đã cho rằng:

“Lần đầu tiên trong lịch sử văn học dân tộc có một tượng đài nghệ thuật sừng sững về người nông dân tương xứng với phẩm chất ngoài đời của họ.”

Nguyễn Đỉnh Chiểu đã vận dụng thể văn tế theo  đặc điểm của thể loại bốn phần: phần lung khởi nêu khái quát về cuộc chiến đấu, hi sinh của nghĩa sĩ; phần thích thực nêu lên những đóng góp, công lao của người nghĩa sĩ đối với nhân dân, với đất nước; phần ai vãn thể hiện nỗi niềm tiếc thương của những người ở lại; phần kết là lời hứa về những việc làm của người còn sống để đền ơn những người đã khuất. Thế nhưng làm nên điều khác biệt ở đây là đối tượng trong bài văn tế là những nghĩa sĩ Cần giuộc đã hi sinh trong trận chiến chống thực dân Pháp, đây là một trong những yếu tố thể hiện quan điểm tiến bộ của ông để “ lần đầu tiên trong lịch sử văn học dân tộc có một bức tượng đài nghệ thuật sừng sững về người nông dân tương xứng với phẩm chất vốn có ngoài đời của họ.”

Đọc “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” ta không chỉ thấy ở đó một tấm lòng cảm phục, kính trọng đối với những nghĩa sĩ mà còn bắt gặp một bức tranh chân thực về cuộc sống lao động và chiến đấu của họ- những người nông dân khoác áo nghĩa binh. Hơn bao giờ hết, hình ảnh những người nông dân nghĩa sĩ, hình ảnh về cuộc chiến đấu cam khổ của họ hiện lên chân thực đến sống động trước mắt người đọc bởi nó được viết nên bằng chính xương máu và nước mắt của họ; được viết nên bằng hồn thiêng sông núi; bằng tất cả niềm cảm phục, biết ơn của nhân dân đối với họ… Xương máu, nỗi lòng kí thác cho đời của người đã khuất; nước mắt, niềm đau của người ở lại; lòng biết ơn, nỗi quốc hận của nhân dân.. tất cả…tất cả đã làm nên nghiên mực để Nguyễn Đỉnh Chiểu viết nên bài văn tế với tất cả tấm lòng, tài năng khắc tạc vào lòng người một bức tượng đài bi tráng về người nông dân nghĩa sĩ, một niềm xúc động đén nghẹn lòng, dội vào hậu thế một bài học lịch sử khắc cốt ghi tâm… Sự sáng suốt của Nguyễn Đỉnh Chiểu là đã dồn bút lực, tài hoa để ca ngợi những người anh hùng thất thế.

Trong tiếng hkóc cao cả của nhà thi sĩ, trong những giọt nước mắt thương tiếc của nhân dân hình ảnh người nông dân nghĩa sĩ hiện lên rõ ràng:

“Hỡi ôi!

            Súng giặc đất rền; lòng dân trời tỏ.”

Hình ảnh đối lập trên đã diẽn tả được mâu thuẫn sâu sắc, quyết liệt của thời đại, mâu thuẫn xâm lược và chống xâm lược, khẳng định vai trò người nông dân trong công cuộc bảo vệ đất nước. “Lòng dân” đã sáng rực lên trong lửa đạn, trong âm vang của chiến tranh. Chỉ có nhà nghệ sĩ của nhân dân mới tạc tượng người nông dân một cách thiêng liêng giữa trời cao đất rộng, trong thời đại bão táp như vậy.

Bức “ tượng đài nghệ thuật” còn được người nghệ sĩ của nhân dân dựng lên chi tiết hơn với những nét hoành tráng, sống động. Họ vốn là những người nông dân chất phác, hiền lành chỉ cần mẫn với gió sương:

          “Trông trười, trông đất, trông mây

                             Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm

                                        Trông cho chân cứng đá mềm

                             Trời yên biển lặng mới yên tấm lòng.”

Họ sinh ra là những người con của đất, chỉ biết “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” để cày xới trên mảnh đất quên hương, làm lụng vất vả vì miếng cơm manh áo để mưu sinh cuộc sống. Cái nghèo, cái khó đã khiến họ suốt cả một đời chỉ biết lao động hăng say, không biết đến binh đao, chiên trận. Họ hiền lành, chân thật đến mức:

“Cui cút làm ăn; toan lo nghèo khó

            Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung; chỉ biết ruộng trâu ở trong làng bộ.

            Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm; tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.”

Chân thực và giản dị người nông dân Nam Bộ đã hiện ra với những vè đẹp vốn có của họ. Hình ảnh họ hiện lên- hình ảnh những người nông dân chất phác với làn da ngăm sạm vì dạn dày sương gió của đồng áng chứ không phải là nắng mưa của thao trường; bàn tay họ chai sạn nhưng là do cầm cuốc, cầm cày chứ không phải cầm khiên, cầm mác chiến đấu… Tất cả đã khẳng định một vẻ đẹp của họ, tiêu biểu cho vẻ đẹp của người nông dân Việt Nam đó là: yêu lao động, yêu hòa bình.

Khi thực dân Pháp kéo quân vào giày xéo đất nước ta, giết hại nhân dân ta tới mức:

“Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy

                                        Mất ổ đàn chim dáo dác bay.”

thì thử hỏi lòng dân ai không oán giận? Nhưng trong hoàn cảnh ấy không phải ai cũng có sức mạnh để đứng lên, ai cũng đủ dũng cảm để chiến đấu và hi sinh để bảo vệ từng tấc đất của quê hương. Chỉ có những người nông dâ n vốn yêu chuộng hòa bình họ bỗng “rũ bùn đứng dậy sáng lòa”, trở thành những nghĩa sĩ kiên cường mang trên đôi vai sức vóc của cả dân tộc. Vẫn là người nông dân ấy nhưng trước họa xâm lăng Nguyễn Đình Chiểu đã nhận thấy ở họ một sức mạnh chiến đấu, một sức sống tiềm tàng, khỏe khoắn, cương trực- một vẻ đẹp đặc trưng của con người Nam Bộ: “Làm ơn há dễ trông người trả ơn”.  Với lòng yêu quê hương sâu sắc, với lòng căm thù giặc cao độ, những người nông dân lương thiện đã trở thành những nghĩa sĩ kiên cường, bất khuất, tuyệt vời:

“Bữa thấy bòng bòng che trắng lốp, muốn tới ăn gan; ngày xem ống khói chạy đen sì muốn ra cắn cổ.

            Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu; hai vầng nhật nguyệt chói lòa, đâu dung lũ treo dê bán chó.”

Chỉ đặt trong những hoàn cảnh cam go thì sức mạnh tiềm tàng của họ mới tỏa sáng để làm nên những điều kì diệu của cả dân tộc. Họ vốn là những người hiền lành, mộc mạc, chấn chất, hoàn toàn xa lạ với việc quân “ chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung”, còn nói gì đến việc “ tập khiên, tập sung, tập mác, tập cờ”, còn nói gì đến “ mười tám ban võ nghệ”. Nhìn thấy những chiếc tàu Pháp ngày càng nghênh ngang đi lại trên sông ngòi quê hương, chứng kiến cảnh nhân dân lầm than, khốn khố dưới chế độ phong kiến thối nát, vua quan nhà Nguyễn chỉ là một lũ bù nhìn, phát xít thực dân thì ra sức vơ vét, bóc lột, “quần ngư tranh thực”… những người nông dân yêu chuộng hòa bình ấy không khỏi căm phẫn. Họ chỉ “muốn tới ăn gan”, “muốn ra cắn cổ”- một lòng căm thù giặc sục sôi nhưng vẫn còn mạng đậm chất nông dân thật thà, chân chất, rất đời thường. Họ vẫn ngày đêm trông ngóng, hi vọng, hướng mắt về phương Bắc- nơi vẫn còn giữu chủ quyền, nhưng càng hi vọng lại càng thất vọng:

  “Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa.”

Biết tới khi nào “thánh đế soi ân thấu” để họ có thể đón lấy  “một trận mưa nhuần rửa núi sông”. Bản chất hiền lành, mộc mạc, cần lao của những người nông dân càng hiệnlên rõ nét qua những phép so sánh: “ trông tin quan như trời hạn trông mưa”, “ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ”… rất thực, rất “nông dân’ nhưng cũng rất dầy đủ, rất sâu sắc khi lột tả niềm căm hận, phẫn uất của họ.

Thưong biết bao nhiêu những người nông dân nghĩa sĩ ấy thì ta lại càng biết ơn, cảm phục bấy nhiêu trước tinh thần, ý chí của họ; càng căm thù lũ bán nước và cướp nước. Họ chỉ là những người nông dân nghèo khổ, họ không được học hành tử tế, họ chẳng có của cải giàu sang, họ chỉ có tinh thần và đôi cánh sức mạnh. Thế nhưng khi vận mệnh quốc gia dân tộc lâm nguy thì vua chẳng hay, quan cũng chẳng màng… đó là những ngươi có thế lực, có nhận thức, được coi là cha mẹ của nhân dân nhưng khi quân giặc giày xéo thì vua đâu? Quan đâu? Chỉ có những người nông dân rũ bùn đứng lên chiến đấu. Hơn bao giờ hết họ đẹp một vẻ đẹp sáng ngời cả dân tộc. Động lực nào đã khiến cho những con người nhỏ bé ấy an đảm đứng lên chống lại một thế lực bạo tàn như thực dân Pháp? Đó là tình yêu quê hương,đất nước; đó là tình yêu hòa bình; là để gìn giữ từng tấc đất thớ thịt mà cha ông ta đã 4000 năm bảo vệ và xây dựng… Là nghĩa sĩ nhưng họ không mang giáp trụ, không súng, không khiên, trến tâm thân ấy chỉ là một manh áo vải- một manh áo vải màu đất, màu quê hương bền bỉ, đậm đà. Họ mang cả hương lúa đượm nồng, mùi đất cày đất cấy quê hương cù với lòng yêu nước sục sôi và lòng căm thù giặc tột cùng để làm động lực đem ra chiến trường:

“Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu bầu ngòi; trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ.

            Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia; gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai họ.

            Chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không; nào sợ thằng Tây bắn đạn to đạn nhỏ,x ô cửa xông vào liều mình như chẳng có.”

          Một khí thế ào ào như thác đổ, mạnh mẽ như vũ bão khiến cho quân giặc kinh hoàng. Còn thấy đâu hình ảnh một người nông dân chỉ biết “ cui cút làm ăn, toan lo nghèo khó” mà giờ họ là những người lính khoác áo vải. Chỉ bằng những vật dụng thô sơ thường ngày: “ngọn tầm vông”, “rơm con cúi”, “lưỡi dao phay”… họ đã xông lên đánh bại kẻ thù với những vũ khí tân trang, chẳng sợ “đạn to đạn nhỏ” mà “liều mình như chẳng có”. Hàng loạt động từ mạnh đã bắt nhịp cho dòng máu nóng đang sục sôi trong huyết quản của những người nông dân khoác áo nghĩa binh: “đốt”, “chém”, “đạp rào lướt tới”, “xô cửa xông vào”… Những màu sắc, đường nét sắc sảo và hình khối gồ ghề khiến người đọc có thể hình dung được những hành động quyết liệt, những âm thanh cuồng nộ của những người nông dân vùng lên đánh giặc;

“Sống làm chi, theo quân tả đạo quăng vùa gươm, xô bàn độ, thấy lại thêm buồn

            Sống làm chi ở lính Mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.”

          Với những đường nét hoành tráng, nhà nghệ sĩ nhân dân đã tạc nên “tượng đài nghệ thuật” một cách hùng tráng. Hùng tráng vì đây là hànhđộng của những anh hùng có nghĩa lớn. Hùng tráng vì ở lí tưởng tốt đẹp, phẩm chất cao cả của những người nghĩa sĩ nông dân. Hùng tráng vì nó được dựng lên trong một thời đại sóng gió, bão táp, trong những giờ phút nghiêm trọng của đất nước.

Hùng tráng mà bi thương vì họ là những anh hùng chiến bại. Bức tượng đài về những người anh hùng cao cả ấy được dựng nên trong nước mắt, trong tiếng khóc của nhà thơ và của nhân dân. Nhưng bi tráng mà không bi lụy, tuy họ là những người chiến bại nhưng trong lòng nhân dần, trong quốc hồn quốc túy thì họ là những người thắng trận, họ lag những anh hùng vĩ đại. Đó là tiếng khóc dành cho người nông dân nghĩa sĩ, là tiếng khóc cho một thời đại của tác giả, gia đình, thăm quyến, dân tộc. Tiếng khóc mang tầm sử thi, tiếng khóc mang trọn niềm kiêu hãnh, tự hào không phải của một người khóc cho một người mà của sông núi, cỏ cây, đất nước… đang ngưỡng vọng đối với linh hồn họ. Những người con “ưu tú” của dân tộc ấy đã ra đi, đã chiến đấu để lại mẹ già, con thơ; để lại gốc đa , sân đình và xả thân vì nghĩa lớn, thanh thản như cày xong một thửa ruộng. Để rồi đằng sau sự ra đi ấy là niềm thương tiếc, đau buồn; nỗi mất mát lớn lao khi con mất cha, vợ mất chồng, mẹ mất con, gia đình mất đi trụ cột:

“Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây; trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ.

            Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng; nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng lụy nhỏ.”

Họ sống mãi trong tình thương, trong trái tim của những người thân yêu, trong lòng nhân dân:

“Chùa Tân Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm

            Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đỏ.”

Họ đã trở thành người bất tử. tưởng chừng cuộc chiến đáu anh dũng của họ vẫn tiếp diễn cùng với sự nghiệp giữ nước vĩ đại của dân tộc:

“Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia.”

Hình tượng người nông dân nghĩa sĩ là một thành công lớn của Nguyễn Đình Chiểu. Những người nông dân ấy hiện lên rất gần gũi, thân thương mà lại lớn lao, sừng sững. Nguyễn Đình Chiểu không viết về họ bằng những lời ngợi ca, những hình ảnh bóng bẩy, ngôn từ trau chuốt mà ông chấm phá những nét vẽ mộc mạc, gần gũi, giản gị thậm chí còn có đôi chút quê mùa nhưn chính người nông dân Nam Bộ để làm nên hình tượng người nông dân “ tương xứng với vẻ ngoài vốn có của họ”. Khi hòa bình họ là những người nông dân hiền hòa như mảnh đát quê hương, miệt mài, hăng say trong lao động để tô điểm cho đất nước, nhưng khi có bóng quân thù họ với tay cày tay cuốc, với tâm hồn và tấm lòng, với tinh thần và ý chí đã mạng trọn mùi mẫn chân quê ra chiến trường trận địa quyết dốc sức xả thân để bảo vệ từng tấc đất thớ thịt của quê hương. Vẻ đẹp sức mạnh của người nông dân ít được khắc họa trong văn học cổ. Nếu như Nguyễn Trãi đã bộc lộc sự tiến bộ trong tư tưởng của mình qua việc “lấy dân làm gốc” thì có lẽ Nguyễn Đình Chiểu là người thứ hai sau Nguyễn Trãi đã phát hiện, trân trọng và ngợi ca vẻ đẹp tiềm ẩn của người nông dân. Phạm Văn Đồng đã từng cho rằng: “Ngòi bút, nghĩa là tâm hồn của Nguyễn Đỉnh chiểu đã diễn tả thật là sinh động và não nùng, cảm tình của dân tộc đối với người nghĩa sĩ của nghĩa quân, vốn là người nông dân,  xưa kia chỉ quen cày cuốc, bỗng chốc trở thành người anh hùng cứu nước.”

Và rồi, chúng ta- mỗi người con Lạc cháu Hồng, mỗi người dân Việt Nam hôm nay lại không khỏi xúc động, tự hào, biết ơn trước sự hi sinh quên mình của nững người nông dân nghĩa sĩ ấy. Chính họ đã góp phần làm ngời sáng thêm trang sử vẻ vang của cách mạng dân tộc sau này. Hình tượng người nông dân nghĩa sĩ trong tác phẩm còn gợi chúng ta nhớ về quá khứ với dáng vóc của vị vua áo vải Quang Trung- Nguyễn Huệ; gợi mở trong lòng chúng ta về hình ảnh của người nông dân khoác màu áo lính trong thời hiện đại:

Ruộng nương anh gửi bạn thân cày

                                         Gian nhà không mặc kệ gió lung lay

                                         Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính

                                         Áo anh rách vai

                                         Quần tôi có vài mảnh vá

                                         Chân không giày

                                          Miệng cười buốt giá

                                        Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.”

                 (“Đồng chí”- Chính Hữu)

Hay;

                                      “Lũ chúng tôi

                                        Bọn người tứ xứ

                                        Gặp nhau từ hồi chư biết chữ

                                        Quen nhau từ buổi một mai

                                        Súng bắn chưa quen

                                        Quân sự mươi bài

                                        Lòng vẫn cười vui kháng chiến.”

                                                                        (“Nhớ”- Hồng Nguyên)

Đó đều là hình tượng người nông dân trong chiến đấu được khắc họa thành công và trở thành một đề tài trong văn học Việt nam thời kì kháng chiến cách mạng.

Gấp trang sách lại, hình ảnh về người nông dân nghĩa sĩ trong tác phẩm “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” hiện lên trong lòng người đọc đầy dư ba, gợi ta nhớ về quá khứ, nhắc nhở mỗi người về lịch sử, về cuộc sống hôm nay. Như con chim trước lúc chết kịp để lại tiếng hót cho đời, bông hoa trước lúc tàn cũng kịp để lại hương sắc cho cuộc sống; họ- những người nông dân nghĩ sĩ đã cống hiến cho dân tộc, cho nhân dântấm lòng yêu nước kiên trung, tinh thần xả thân vì nghĩa lớn trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Sự thành công trong việc khắc họa hình tượng ấy lại một lần nữa khẳng định tính đúng đắn của ý kiến trên và khẳng định tài năng của Nguyễn Đỉnh Chiểu- “một ngôi sao sáng trên bầu trời văn học Việt Nam”, một nhà văn, nhà thơ, một nhà yêu nước vĩ đại của dân tộc ta thời kì đầu chống thực dân Pháp.

Xem thêm những đề thi về Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc- Nguyễn Đình Chiểu : http://vanhay.edu.vn/tag/van-te-nghia-si-can-giuoc

Bộ đề thi học sinh giỏi môn Văn có đáp án : http://vanhay.edu.vn/hoc-sinh-gioi

Đề thi học sinh giỏi: : “Truyện cổ tích thần kì là những hư cấu kì ảo về một hiện thực chỉ có trong mơ ước”

Bộ đề ôn luyện thi học sinh giỏi môn Văn. Tổng hợp những đề thi học sinh giỏi Ngữ văn lớp 10

Đề ra: Có ý kiến cho rằng: “Truyện cổ tích thần kì là những hư cấu kì ảo về một hiện thực chỉ có trong mơ ước”.

Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào? Chứng minh qua một số truyện cổ tích đã được học.

BÀI LÀM

Con người luôn hướng đến những điều tốt đẹp về một cuộc sống đủ đầy, hạnh phúc hơn, một cuộc sống bình đẳng, nơi đó cái thiện sẽ lên ngôi chiến thắng cái ác. Những ước mơ ngàn đời ấy được thể hiện rõ nét qua những câu chuyện cổ tích bình dị, mang cả điệu hồn dân tộc, ru ta lớn khôn từ thời tấm bé. Khi thực tại quá tối tăm thì những người dân lao động chỉ biết tìm thấy chút ánh sáng le lói cháy lên qua những ngọn nến ước mơ nơi cuối đường hầm. Chính vì thế mà đã có nhận định cho rằng: “Cổ tích thần kì là những hư cấu kì ảo về một hiện thực chỉ có trong mơ ước”.

Truyện cổ tích thần kì là loại tiêu biểu nhất của truyện cổ tích. Những truyện thuộc tiểu loại này thường ra đời từ rất sơm và những đặc trưng cơ bản của truyện cổ tích đều có thể tìm thấy ở kiểu truyện này. Đặc trưng nổi bật của truyện cổ tích là sử dụng yếu tố kì ảo một cách đậm đặc. Đó là một yếu tố không thể thiếu được của cốt truyện, phản ánh mhữmg ước mơ, nguyện vọng về một xã hội lí tưởng của nhân dân và kết thúc truyện thường có hậu.

Truyện cổ tích tập trung phản ánh số phận của những con người nhỏ bé, khốn khổ, tủi nhục trong xã hội đầy áp bức bất công… Mỗi nhân vật có một số phận khác nhau mhưng đều có chung những phẩm chất tốt đẹp: hiền lành, tốt bụng, tài năng. Đó là anh Khoai nghèo khó, bần hàn nhưng cần cù, chất phác; là chàng Sọ Dừa đội lốt xấu xí nhưng chăm chỉ, hiền lành; là chàng Thạch Sanh có số phận bất hạnh nhưng tài năng, thương người… Họ đại diện cho tầng lớp nhân dân thấp cổ bé họng, sống trong lầm than, khổ cực nhưng vẫn giữ tâm hồn trong sáng, lương thiện, đức tính chăm chỉ, cần cù vốn có.

Truyện cổ tích thần kì xây dựng thành công một thế giới trong mơ ước. Thông qua những câu chuyện ấy một ánh sáng lí tưởng của nhân dân được nêu lên về một xã hội công bằng, dân chủ. Trong đó, người lương thiện, tốt bụng, tài năng sẽ được hưởng hạnh phúc xứng đáng với những phẫm chất tốt đẹp của họ. Một cô Tấm thảo hiền trở thành hoàng hậu; một chàng Thạch Sanh trở thành phò mã… Tất cả đều là những ước mơ, những giấc mơ giản dị mà đẹp đẽ thể hiện cho khát vọng của con người trong cuộc sống. Họ mong muốn những người ở hiền sẽ được gặp lành, còn những kẻ độc ác, xấu xa sẽ bị trừng trị thích đáng. Mơ ước và con người sống trong mơ ước ấy không ngừng đấu tranh để đạt được mơ ước, để biến mơ ước ấy thành hiện thực. Họ mơ ước trong hiện thực và mơ ước về hiện thực, không phải những điều tốt đẹp ở cõi tiên hay một nơi nào khác mà ngay chính giữa cuộc đời họ. Nó vẫn là thế giới ở trần gian, tồn tại, biến động với tất cả sự phong phú, đa dạng, phức tạp của nó. Chỉ có điều, thế giới ấy được hoàn thiện hóa, lí tưởng hóa lên mà thôi.

Trong xã hội loài người, xã hội mà con người đã, đang và sẽ sống luôn luôn tồn tại biết bao nhiêu sự phức tạp, đa dạng thẫm chí cả những mâu thuẫn hết sức gay gắt nóng bỏng. Bên cạnh những điều tốt đẹp, tươi sáng vẫn còn không ít những cái xấu xa, đen tối nhởn nhơ giữa cuộc đời, đặc biệt trong xã hội phong kiến- hoàn cảnh ra đời chủ yếu của truyện cổ tích. Mà con người ngay từ khi xuất hiện đã không ngừng vươn tới chân, thiện, mĩ. Do đó, người ta không thể chấp nhận những điều xấu xa, giả dối kia. Người ta phải xây dựng nên trong khát vọng và trí tưởng tượng của mình một thế giới khác tươi đẹp hơn. Đó cũng là một hình thức phủ nhận hiện thực đen tối. Khi ước mơ không thể thực hiện thì qua những câu chuyện cổ tích ánh sáng kì ảo, chói ngời hạnh phúc vào cuộc đời tối tăm, bất hạnh của con người, khiến họ yêu đời và sống mạnh mẽ hơn. Trong thế giới truyện cổ tích, người hiền sẽ gặp lành, kẻ ác bị trừng trị; sự công bằng được thực hiện, lao động được nhẹ nhàng, tuổi già và cái chết bị đẩy xa; người dị dạng, xấu xí trở nên đẹp đẽ; người mất vợ hoặc người yêu được đoàn tụ; người nghèo sẽ giàu có, người bị áp bức, đau khổ sẽ có địa vị và quyền thế cao sang…

Có thể nói, truyện cổ tích thần kì là sự phản ánh mơ ước của nhân dân về một thế giới tốt đẹp hơn trong tương lai bằng những hư cấu kì ảo. Họ không khoanh tay đứng nhìn để cho mơ ước của mình mãi mãi là điều không tưởng. Chính vì mơ ước là cái không có thực trong hiện tại nên sự phản ánh mơ ước phải là những hư cấu kì ảo do trí tưởng tượng của con người tạo ra. Do đó, nói: “Cổ tích thần kì là những hư cấu kì ảo về một hiện thực chỉ có trong mơ ước” có nghĩa là: truyện cổ tích thần kì là sự phản ánh mơ ước của nhân dân ta về một thế giới tốt đẹp hơn trong tương lai bằng những hư cấu kì ảo. Đồng thời nó cũng phản ánh quyết tâm của người lao động, là đấu tranh cho mơ ước ấy thành hiện thực…

Trong truyện “Tấm Cám” có một bức tranh cuộc sống với những mâu thuẫn gay gắt trong xã hội. Truyện kể “mẹ Tấm chết từ hồi Tấm mới biết đi”, lời kể ấy đã xác định thân phận mồ côi của Tấm. Trong bao nỗi đau buồn của một đứa trẻ, có lẽ đau khổ, thiệt thòi nhất là thiếu mẹ. Tục ngữ có câu: “Cha chết ăn cơm với cá, mẹ chết liếm lá đầu chợ” để khái quát nỗi đau khổ, thiệt thòi vô cùng của đứa con mồ côi mẹ. Mồ côi cha đã khổ, mồ côi mẹ lại càng thiệt thòi, đau khổ hơn nhiều.

Mọi đau khổ của Tấm đều bắt nguồn từ quan hệ với mẹ con dì ghẻ. Tấm cô đơn chỉ biết khóc mỗi khi bị hành hạ. Bị Cám lừa trút mất giỏ tép, mất hi vọng cái yếm đào, Tấm khóc. Bị lừa đi chăn trâu đồng xa để ở nhà mẹ con Cám làm thịt chú bống bé nhỏ bầu bạn với Tấm, cô lại khóc. Lần thứ ba Tấm khóc là khi cô không được đi hội làng. Tấm lại khóc và dường như tiếng khóc lại một lần nữa đẩy nỗi đau của cô lên cao hơn. Tiếng khóc hay tiếng lòng, hay nỗi uất hận đã đè nén thành hình, thành khối để rồi bật ra nơi từng tiếng khóc nghẹn ngào, ấm ức.

Thân phận đầy đau khổ của cô Tấm trong truyện cổ là thân phận chung của những người nghèo, người mồ côi lương thiện trong xã hội. Mâu thuẫn giữa Tâm với mẹ con dì ghẻ không chỉ là mâu thuẫn là mâu thuẫn dì ghẻ- con chồng mà còn là hình thức biểu hiện cụ thể của xung đột Thiện- Ác trong cuộc đời. Tấm đại diện cho nhân vật thiện chămm chỉ, lương thiện, đôn hậu. Cái ác hiện hình trong mẹ con mụ dì ghẻ qua hành động: lừa gạt lấy mất giỏ tép để tước đoạt ước mơ nhỏ bé của Tấm là cái yếm đào; lén lút giết chết con bôngd là giết chết người bạn nhỏ bé của Tấm; đang tâm trộn thóc với gạo nhằm dập tắt niềm vui được đi hội làng, được giao cảm với đời của cô… Tiếng khóc tội nghiệp của Tấm mỗi lần bị chèn ép, áp bức có sức lay động mọi trái tim nhân hậu, gọi dậy niềm cảm thông chia sẻ với mọi người.

Sống giữa vũng lầy của cuộc đời, “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” Tấm- đại diện cho người nông dân vẫn vươn lên tỏa ngát như những bông sen mảnh mai mà bền bỉ sức sống. Tước vùi dập của cái ác Tấm hay chính là nhân dân vẫn đấu tranh vì hạnh phúc đến cùng.  Tấm tuy đã trở thành hoàng hậu nhưng vẫn bị cái ác tiêu diệt, săn đuổi. Cô Tám lương thiện, hiếu thảo trèo cau hái quả cúng hca đã bị mẹ con Cám chặt cây giết chết. Cô Tấm hiền lành, ngây th vừa ngã xuống một cô gái mạnh mẽ và quyết liệt hơn sống dậy, hóa thân trở về với cuộc đời, công khai chống lại cái ác đòi hạnh phúc. Cuộc chiến đấu đó thật gian nan, quyết liệt nhưng cũng thật hấp dẫn đối với độc giả. Bởi trong cuộc đời, những gì người mồ côi, nhỏ nhoi, yếu thế không làm được thì Tấm đã thay họ thự hiện “oán thì trả oán, ân thì trả ân” đến tận cùng.

Tấm thảo hiền thì dì ghẻ chặt cây sát hại mà không cam chịu chết. Cô hóa vàng an, bay vào cung vua báo hiệu sự có mặt của mình trong lời nhắc nhỏ: “Giặt áo chồng tao phơi lao, phơi sào/ Chớ phơi bờ rào rách áo chồng tao”, vàng anh bị giết chết Tấm hóa cây xoan đào tuyên chiến với kẻ thù trực tiếp và dữ dội hơn: “Lây tranh chồng chị, chị khoét mắt ra”, khug cửi bị đốt cháy. Từ đống tro tàn chết chóc, Tấm hóa cây thị trở lại với đời. Trong sự hóa thân ấy có sự kiên nhẫn và lòng dũng cảm. Phải chăng trong nhân vật Tấm đã hội tụ sự dịu dàng và tính cách bất khuất của người pụ nữ Việt Nam xa xưa.

Tấm đã hóa thân, cái thiện không chịu chết một cách oan ức trong im lặng đã vùng dậy còn cái ác cũng tìm mọi cách tiêu diệt cái thiện. Những lần chết đi sống lại của tấm phản ánh cuộc đấu tranh quyết liệt, gay gắt của cuộc chiến đấu giữ cái thiện với cái ác; đồng thời cũng thể hiện sức sống mãnh liệt, không thể bị triệt tiêu của cái thiện.

Chim vàng anh, cây xoan đào, quả thị là những nơi Tấm gửi gắm linh hồn, cũng là những vật bình dị, thân thương trong cuộc sống dân dã. Nếu như lần đầu câu chuyện, mỗi lần Tấm khóc Bụt thường hiện lên ban tặng vật thần kì, thì phần sau cuộc đấu tranh với cái ác quyết liệt hơn nhưng Tấm không còn khóc, cũng không còn thấy sự xuất hiện của Bụt, chỉ thấy tấm hành động liên tiếp để chống lại kẻ thù. Cũng chính nhân dân lao động, những người có thân phận như Tấm, những người thấu hiểu và cảm thương cô Tấm thiệt thòi, đã gửi vào cô Tấm ý thức mãnh liệt giành và giữ hạnh phúc của mình. Đằng sau câu chuyện đã ẩn chứa một chân lí: Hạnh phúc chỉ có bền chặt khi ta biết dành và giữ lấy. Vì vậy, nếu lúc đầu mỗi lần Tấm uất ức chỉ biết ngồi khóc, còn bụt làm thay tất cả thì đến đây chim vàng anh, khug cửi, quả thị không thay tấm trong cuộc chiến đấu mà chỉ là nơi hóa thân, tạm ẩn mình để trở về đấu tranh với cái ác quyết liệt hơn.

Nhưng sau nhiwuf lần chết đi sống lại của Tấm, trong lốt chim, cây, quả… Tấm hiểu rằng không thể có hạnh phúc trọn vẹn chừng nào cái ác còn tồn tại, chừng nào mẹ con Cám còn hiển diện. Cô lừa cám để sai người đào hố, dội nước sôi tự tìm đến cái chết. Kết thúc đó nêu lên một triết lí dân gian “ác giả ác bào”, phù hợp với mong ước của nhân dân về sự trừng phạt tận gốc kẻ thù. Cuối cùng hạnh phúc đã trở về với Tấm như món quà tặng quý giá cho lòng thủy chung và sự dũng cảm của cô.

Sự hóa thân nhiều lần rồi trở về cuộc đời của tấm là biểu hiện sinh động của quan niệm về công bằng xã hội và hạnh phúc. Người lương thiện phải được hạnh phúc, còn kẻ ác nhất định bị trừng phạt, đó là quy luật của lòng nhân đạo, tình yêu thương con người. Người lao động không chờ đợi hạnh phúc và mơ hồ ở cõi nào khác mà tìm và giữ hạnh phúc thực sự ngay trên mảnh đất mình từng gắn bó ở nơi trần thế.

Truyện cổ tích thần kì thường giải quyết mâu thuẫn theo hướng: Thiện thắng Ác và nười lương thiện nhất định sẽ được hưởnh hạnh phúc. Con đường dẫn đến hạnh phúc của nhân vật thiện chính là xu hướng giả quyết mâu thuẫn rất đặc trưng của truyện cổ tích. Để giải quyết mâu thuẫn đó, truyện cổ tích thường dử dụng yếu tố kì ảo.

Trong truyện “Tấm Cám” các yểu tố kì ảo được đưa vào sử dụng với “mật độ” dày đặc. Đó là những thế lực siêu nhiên như ông Bụt. Bụt thường xuất hiện đúng lúc mỗi khi tấm khóc, an ủi, nâng đỡ cô mỗi khi Tấm gặp khó khăn hay đau khổ. Tấm mất yếm đào- Bụt cho cá bống, Tấm mất cá bống- Bụt cho hi vọng đổi đời. Tấm không được đi hội- Bụt cho đàn chim sẻ đến giúp. Bụt cho tấm có ngựa, có quần áo mới… đưa Tấm đến hội, gặp nhà vua, được làm hoàng hậu và đạt đến đỉnh cao hạnh phúc. Cùng với Bụt, con gà cũng là yếu tố kì ảo, biết cảm thông với Tấm, chim sẻ cũng giúp Tấm nhặt thóc ra thóc, gạo ra gạo, trợ giúp Tấm trên đường tới hạnh phúc. Hoàng hậu Tấm là hình ảnh cao nhất về hạnh phúc mà nhân dân có thể mơ ước cho cô gái mồ côi nghèo, cô đơn trong xã hội xưa. Những hình ảnh chim vàng anh, khung cửi, quả thị… cũng đều là những yếu tố kì ảo, là vật hóa thân của tấm hỗ trợ cô trên con đường tìm đến hạnh phúc. Mỗi lần hóa thân sức sống ấy lại càng trỗi dậy mãnh liệt hơn, tràn trề hơn khiến cho cuộc chiến giữ Thiện và Ác càng cam go, quyết liệt.

Những đau khổ của nfười mồ côi là có thật và phổ biến, còn hạnh phúc mà họ được hưởng rất hiếm hoi, phần lớn chỉ là mơ ước. Để phản ánh mơ ước về hạnh phúc thông qua nhân vật mồ côi, truyện cổ tích đã “chữa lại” số phận không may mắn cho họ thông qua những yếu tố thần kì. Điều đó thể hiện tinh thần lạc quan, yêu đời, hi vọng ở tương lai công bằng, dân chủ của nhân dân lao động.

Cùng với truyện “Tấm Cám”, đến với truyện “Chử Đồng Tử” những ước mơ ấy của nhân dân cũng được thể hiện một cách sâu sắc. Nhân vật Chử Đồng Tử là chàng trai nghèo đánh cá có cuộc sống bần hàn, nghèo khó. Cả “gia tài” của hai cha con chỉ có mỗi một cái khố chung nhau mặc. Trong khi đó, cuộc sống nơi cung đình thì xa hoa, giàu sang tột đỉnh. Chỉ một chuyến đi chơ của công mà có biết bao kẻ hầu người hạ, thuyền, lọng nườm nượp.

Như một sự tình cờ khi Tiên Dung vào bờ tắm thì gặp phải Chử Đồng Tử đang vùi mình dưới cát và duyên số kết thành hai người đã đến vớ nhau. Cuộc hôn nhân của công chúa Tiên dung và chàng trai đánh cá nghèo Chử Đồng Tử vượt ra ngoài khuôn khổ phong kiến, điều đó thể hiện cho khát vọng bình đẳng giữa con người với con người của nhân dân ta.

Hoàn cảnh hai người gặp nhau thật độc đáo. Đó là khung cảnh giữa đất trời bao la, phóng khoáng và Tiên Dung là người ngỏ lời trước. Sống trong xã hội phong kiến thì con người luôn phải chịu ảnh hưởng của tư tưởng nam nữ “Trâu đi tìm cọc”, hành động ấy của Tiên Dung đã nêu lên khát vọng tình yêu trong tự do, thuận theo tình cảm.

Khi bị vua Hùng phản đối, hai vợ chồng Chử Đồng Tử đã tự mình gây dựng nên cuộc sống và họ đã sống trong nhân dân, làm ăn thịnh vượng. Đó là lời ca ngợi tinh thần tự lực cánh sinh, phấn đấu thực hiện ước mơ. Đồng thời, khi cuộc sống đã yên bề gia thất hai vợ chồng vẫn không đối đầu với vua cha mà vẫn hào hảo. Đó chính là tiếng nói của nhân dân không muốn xảy ẻa chiến tranh. Biểu hiện cao đẹp cho giá trị nhân đạo, khát vọng dân chủ mãnh liệt của nhân dân ta.

Và để thực hiện được ước mơ ấy, tác giả dân gian đã thổi vào những yếu tố kì ảo để giúp nhân vật của mình trong bước đường đi tìm hạnh phúc. Để có được tòa thành lớn, có kẻ hầu người hạ đó là nhờ nhà sự Phật Quang truyền cho phép mầu. Tất cả các chi tiết như được “sắp xếp” một cách cẩn trọng, khi Chử Đồng Tử lên núi lấy nước đã vô tình gặp được nhà sư Phật Quang và được ông truyền đạo để rồi có khả năng siêu biệt có thể hóa phép thành nhà cao cửa rộng. Chi tiết cả người lẫn lâu đài thành quách cùng bay về trời để mãi được sống tự do là một chi tiết kì ảo được nhân dân sáng tạo ra để gửi gắm vào đó chân lí “ở hiền gặp lanh”, ước mơ được sống tự do…

Con người muốn hoàn thiện mình, xã hội muốn tiến lên thì phải luôn luôn mơ ước đến những điều tốt đẹp hơn và không ngừng đấu tranh để đạt đến điều mơ ước ấy. “Là những hưb cấu kì ảo về một hiện thực chỉ có trong mơ ước”, truyện cổ tích thàn kì và văn học dân gian nói rộng ra đúng là kho báu tinh thần của dân tộc, rất đáng chúng ta trân trọng và học hỏi.

Xem thêm : Tuyển tập đề thi học sinh giỏi môn văn có đáp án và bài văn mẫu : http://vanhay.edu.vn/hoc-sinh-gioi

Đề thi học sinh giỏi : Cảm hứng yêu nước trong văn học trung đại Việt Nam

Bộ đề ôn luyện thi học sinh giỏi môn Văn. Tổng hợp những đề thi học sinh giỏi Ngữ văn lớp 10

Đề ra: Về cảm hứng yêu nước của văn học Việt Nam thời Trung đại sách giáo khoa Ngữ    Văn 10 có viết:

“ Điều đáng lưu ý là văn thơ nói đến những nội dung yêu nước đã không chỉ tồn      tại ở dạng quan niệm, tư tưởng đơn thuần mà quan trọng hơn là sự tồn tại ở dạng cảm xúc, cảm hứng, tâm huyết với đủ màu vẽ và cung bậc”.

Hãy chứng minh và phân tích 1 số tác phẩm để làm sáng tỏ.

 

 BÀI LÀM

Trong dòng chảy của nền văn học dân tộc, cảm hứng yêu nước và cảm hứng nhân đạo tựa như hai mạch ngầm xuyên suốt, cuôn chảy qua bao chặng đường lịch sử. Đặc biệt trong thời kì văn học Trung đai trước nhiều biến cố lịch sử lòng yêu nước ấy lại hừng hực cháy trong tâm hồn các thi nhân để rồi tuôn trào nơi đầu bút lực những nỗi lòng,tâm sự ngân lên như những nốt nhạc trầm bổng trong 1 bản đàn. Có lẽ chăng xuất phát từ đó mà sách giáo khoa Ngữ văn 10 đã cho rằng:

“ Điều đáng lưu ý là văn thơ nói đến những nội dung yêu nước đã không chỉ tồn tại ở dạng quan niệm, tư tưởng đơn thuần mà quan trọng hơn là sự tồn tại ở dạng cảm xúc, cảm hứng, tâm huyết với đủ màu vẽ và cung bậc”.

Thế nào là cảm hứng yêu nước? Nói đến cảm hứng yêu nước là nói đến nội dung tình cảm trong mỗi tác phẩm tình văn học. Cảm hứng yêu nước được bộc lộ qua thơ bằng muôn hình vạn trạng. Đó là tình yêu quê hương, đất nước, yêu cảnh sắc thiên nhiên, xứ sở. Đó là ý chí chống xâm lăng vì khát vọng ấm no, hạnh phúc, được sống trong tự do, độc lập, hòa bình bền vững. Đó là niềm tự hào về truyền thống lịch sử, truyền thống văn hiến Việt Nam lâu đời, giàu bản sắc. Đó còn là ý thức tự lập, tự cường, xây dựng và bảo vệ đất nước muôn đời giàu đẹp.

Bước vào kỉ nguyên xây dựng quốc gia phong kiến độc lập sau hàng nghìn năm đô hộ, biểu hiện trước hết của tư tưởng yêu nước là ý thức tự cường, tự tôn dân tộc, ý thức về chủ quyền độc lập. Đó là lời thơ hào sảng trong “Nam quốc sơn hà” của Lí Thường Kiệt:

“Sông núi nước nam vua Nam ở

Rành rành định phận ở sách trời”.

Chủ quyền độc lập thiêng liêng bất khả xâm phạm được khẳng định qua những câu thơ chắc nịch, giọng thơ đanh thép, hùng hồn. Đó là một “bài thơ thần”, xứng đáng là Bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của đất nước Đại Việt.

Đến bài “Cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi- bản tuyên ngôn độc lập thứ hai, chân lí lịch sử ấy nâng lên ở một tầm cao mới với cái nhìn toàn diện, đầy đủ và sâu sắc hơn. Từ việc dừng lại ở việc khẳng định chủ quyền độc lập ở bài “Nam quốc sơn hà” thì bài “Cáo bình Ngô” đã tiếp nối và phát triển lên thành chân lí muôn đời: Đại Việt là đất nước có nền văn hiến lâu đời, có biên giới riêng, có phong tục tập quán riêng, có quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước vẻ vang và cùng tồn tại với các vương triều phong kiến phương Bắc. Sự phát triển ấy về khái niệm quốc gia dân tộc được thể hiện rõ nét qua tư tưởng lấy dân làm gốc, tập hợp sức mạnh của nhân dân để xây dựng lực lượng nòng cốt, tạo dựng sức mạnh chiến đấu và chiến thắng.

Với ý thức sâu sắc như vậy về quốc gia, dân tộc, khi tổ quốc bị xâm lăng, yêu nước là căm thù giặc sục sôi, là tinh thần quyết chiến quyết thắng để bảo vệ chủ quyền độc lập dân tộc, là đoàn kết toàn dân “Tướng sĩ một lòng phụ tử”, bền gan chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn.

Yêu nước không chỉ dừng lại ở đó, mà khi đất nước thanh bình, nội dung của tư tưởng yêu nước thể hiện ở khát vọng xây dựng đất nước hòa bình và hạnh phúc lâu bền:

“Thái bình nên gắng sức

Non nước ấy ngàn thu”.

Hai câu thơ thể hiện cho ước mơ, niềm tin vô hạn của tác giả và cũng là ước mơ ngàn đời của nhân dân về một đất nước thái bình, thịnh trị, trường tồn đến muôn đời. Đó là hào khí sục sôi, vang dội của một đời, của một thời, sáng ngời cả hồn thiêng sông núi, âm vang đến muôn đời.

Nhưng sức sống lâu bền của một tác phẩm văn chương khồn chỉ ở chỗ là chứa đựng nội dung tư tưởng đơn thuần mà điều cốt yếu hơn, quan trọng hơn là những nội dung, tư tưởng tồn tại ở dạng cảm xúc, cảm hứng, tâm huyết với đủ màu vẽ và cung bậc. Với những hoàn cảnh khác nhau, những cảnh ngộ khác nhau, cá tính sáng tạo khác nhau cảm hứng yêu nước được thể hiẹn dưới nhiều dọng điệu khác nhau. Mỗi tác phẩm là một nốt nhạc, có nốt trầm, có nốt bổng hòa quyện làm nên một bản anh hùng ca bất diệt, ca lên đến muôn đời âm vang của thời đại.

Đó là giọng điệu dõng dạc, hào sảng động vọng trong không gian với khí thế ngùn ngụt, hình ảnh thơ tráng lệ, kì vĩ trong bài thơ “Nam quốc sơn hà” của Lí Thường Kiệt:

“Sông núi nước nam vua Nam ở

Rành rành định phận ở sách trời”.

Là giọng thơ đĩnh đạc, lời văn rắn rỏi, chắc nịch như khắc, như tạc qua bài “Cáo bình Ngô”:

“Như nước Đại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

Núi sông bờ cõi đã chia

Phong tục Bắc Nam cũng khác

Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương”.

Những tình cảm nồng cháy như được khơi dậy qua từng câu, từng chữ, từng lời thơ, ánh lên trong tâm hồn mỗi người một niềm tự hào mãnh liệt về dáng đứng oai hùng của dân tộc trong lịch sử.

Ta như hừng hực bầu máu nóng trong những lời nói gan ruột của Trần Quốc Tuấn trong “Hịch tướng sĩ” : “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức chưa xả thịt, lột da, nuốt gan, uống máu quân thù. Dẫu trăm thây phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa ta cũng vui lòng”. Đó là nỗi đau đớn, xót xa đến xé lòng của vị tướng sĩ hét mực yêu nước. Để rồi từ khí thế xung thiên ấy ta như nghe vang vọng tiếng đồng thanh: “Quyết đánh!” của các bô lão trong Hội nghị Diên Hồng, như thấy rực cháy ánh lửa quân sĩ tướng tá sáng bừng dưới ánh trăng mài gươm giáo để xung trận, thích lên cánh tay hai chữ “Sát thát” với một ý chí kiên định. Tinh thần, ý chí sắt đá, kiên định ấy đã làm nên chiến thắng quân Mông- Nguyên vang dội núi sông trong lịch sử.

Nỗi căm thù, uất hận vút lên thành lời, thành những bản cáo trạng đanh thép: “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con nhỏ xuống dưới ầm tai vạ”, trở thành tiếng thét vang dội, thành lời thề quyết chiến:

“Ngẫm thù lớn hà đội trời chung

Căm giặc nước thề không cùng sống”.

Ta như thấy hiện lên trước mắy không gian hào hùng, khí thế, chiến công nối tiếp chiến công làm nên một bản tráng ca ngân lên cao vút, dài vô tận khi đọc những vần thơ hả hê của Nguyễn Trãi trong “Cáo bình Ngô”:

“Đánh một trận sạch không kình ngạc

Đánh hai trận tan tác chim muông

Cơn gió to trút sạch lá khô

Tổ kiến hỏng sụt toang đê vỡ…”

Giọng thơ cuồn cuộn như triều dâng thác đổ,. Niềm tự hào, kiêu hãnh, niềm vui sướng bất tận, hả hê tạo ra nhạc điệu bay bổng dồn dập, âm thanh giòn giã nối đuôi nhau mạnh mẽ như có gươm đao loảng xoảng trong một trận tuyến vang trời.

Nội dung yêu nước trong văn học trung đại được thể hiện bằng những cảm xác, giọng điệu đa dạng, không chỉ là lòng căm thù giặc sục sôi, tinh thần quyết chiến quyết thắng hừng hực, như một nét vẽ tinh tế mà sâu sắc về lòng yêu nước sự hổ thẹn trong bài thơ “Thuật hoài” của Phạm Ngũ Lão cũng là một cách tỏ bày độc đáo:

“Công danh nam tử còn vương nợ

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”.

“Thẹn” vì chưa trả hết nợ công danh, lập công báo quốc; thẹn vì chưa có được tài năng như Gia Cat Lượng để phò vua giúp dân. Nỗi “thẹn” ấy là biểu hiện cao đẹp cho lí tưởng sống, hoài bão sống lớn lao của người con trai đời Trần làm sáng bừng lên hào khí Đông A một thời.

Đó còn là nỗi niềm hoài vọng về quá khứ đã qua trước di tích vẫn còn để rồi tiếc ngậm ngùi trong lòng một niềm tiếc nuối:

“Đến nay sông nước tuy chảy hoài, mà nhục quân thù khôn rửa nổi”.

Là sự suy ngẫm về lẽ tồn vong của muôn đời, sự thành bại của sự nghiệp cũng ngân lên giọng điệu hùng tráng:

“Giặc tan muôn thuở thái bình

Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao”.

Và khi đất nước trở về thái bình, thịnh trị lòng yêu nước ấy lại hóa thân vào sông núi, một cành hoa, một cây cỏ, một cánh chim trời chao liệng:

“Nước biếc, non xanh, thuyền gối bãi

Đêm thanh nguyệt hạc, khách bên lầu”.

Trong cảnh nước mất nhà tan, nỗi đau đời, uất hận khi vận nước đổi thay dồn lại, nén chạt tạo nên giọng điệu trầm uất, bi tráng. Bài thơ “Cảm hoài” nổi tiếng của Đặng Dung với hai câu kết:

“Thù nước chưa xong đầu đã bạc

Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày”.

Đặng Dung đã kí thác cho đời thăm thẳm một nỗi đau đời, một niềm bi phẫn, trầm uất, đắng cay, xót xa vì người anh hùng sinh lầm thế kỉ. Hình ảnh một dũng tướng mái đầu đã bạc mải miết mài gươm dưới ánh trăng khơi gợi biết bao cảm xúc liên tưởng, chẳng khác nào “con ngựa già còn ham rong ruổi’. cái ánh sáng lóe lên trong câu thơ thần là ánh sáng vằng vặc của bóng trăng khuya giữa bầu trời mênh mông, bát ngát, cũng là ánh sáng lưỡi gươm chính khí chưa cất lên được để tiêu diệt kẻ thù, cũng là ánh sáng của tấm lòng yêu nước trung trinh của nhà thơ. Lời đã hết, bài thơ đã khép lời mà cảm xúc thơ vẫn lai láng, bồi hồi, xúc động. Đó là bài thơ có giọng điệu bi tráng bậc nhất trong thơ ca Việt Nam thời Trung đại- tiếng lòng của một dũng tướng chiến bại.

Sống trong những triều đại khác nhau, chịu sự chi phối khác nhau của lịch sử, đồng thời mỗi người với một tâm tính, một cá tính sáng tạo đã làm nên những cảm hứng riêng về cảm hứng yêu nước. Có nỗi buồn, có niềm vui, niềm say mê hứng khởi, có giận thương, có buồn tủi, có bâng khuâng hổ thẹn, có rạo rực hả hê…Nguồn cảm hứng vô tận được thể hiện bằng nhiều cách nói, nhiều giọng điệu riêng. Có giọng điệu hùng tráng ở nhiều cấp độ, hình thái khác nhau. Có giọng điệu bi tráng, phẫn uất thành tiếng than, lời gọi. Có giọng điệu nhẹ nhàng, say sưa trước cảnh sắc thiên nhiên, đất nước… Tất cả tạo nên sự đa thanh, đa sắc, thể hiện sâu sắc, phong phú nội dung tư tưởng yêu nước- một vẻ đẹp rực rỡ của tâm hồn dân tộc./.

Xem thêm : Tuyển tập đề thi học sinh giỏi môn văn có đáp án và bài văn mẫu : http://vanhay.edu.vn/hoc-sinh-gioi

Đề thi học sinh giỏi :Hào khí Đông A qua một số tác phẩm đã học

Bộ đề ôn luyện thi học sinh giỏi môn Văn. Tổng hợp những đề thi học sinh giỏi Ngữ văn lớp 10

Đề ra: Qua một số tác phẩm đã được học trong chương trình phổ thông anh chị hãy làm  sáng tỏ “ Hào khí Đông A”

BÀI LÀM

 

“ Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập” có triều đại nào không trải qua những cuộc chiến đấu chống ngoại xâm, có thời đại nào không vang dội những chiến công nức lòng, có người dân nào không sôi sục trong huyết quản một dòng máu yêu thương tha thiết. Tinh thần ấy được biểu hiện rõ nét qua Hào khí Đông a làm ngời sáng cả trang sử vàng dân tộc, kết đọng lại qua từng vần thơ bất hủ.

Trong tiếng Hán chữ Trần gồm hai bộ A và Đông, như vậy có thể hiểu Hào khí Đông A là hào khí thời nhà Trần, là chí anh hùng lẫm liệt thời đại nhà Trần, là không khí hào hùng của những trận chiến đấu và chiến thắng quân Mông – Nguyên xâm lược.

Thời đại nhà Trần(1225-1400) là một mốc son chói lọi trong bốn nghìn năm lịch sử của dân tộc ta với ba lần đánh thắng quân Nguyên – Mông. Làm sao có thể lí giải được những chiến thắng huyền thoại ấy của một đất nước nhỏ bé trước một thế lực tàn bạo như quân Mông – Nguyên; “ Vó ngựa Mông Cổ đi tới đâu cỏ cây chết rạp tới đó” nếu như không nghe qua những lời kể hùng tráng của các thi sĩ, những nỗi lòng của bậc tướng sĩ trướ thế sự quốc gia, hay đơn giản chỉ là một kẻ “ khách” không thôi. Tất cả đều rần rật cháy lên ngọn lử của Hào khí Đông A, ngùn ngụt một niềm kiêu hãnh tự hào:

“ Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu

Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu.”

(  Múa giáo non sông đã mấy thu

Ba quân hùng khí nuốt trôi trâu )

( “ Thuật hoài” _ Phạm Ngũ Lão)

 

Câu thơ dịch từ “ hoàmh sóc” bằng từ “ múa giáo” chưa thật sat nghĩa. “ Múa giáo” thiên về biểu diễn cung kiếm, tay nghề, gợi một vẻ phô trương, đưa chủ thể vào thế động làm mất đi cường độ, nội lực của hình ảnh thơ. Còn nguyên văn lời thơ là “ hoành sóc”-cắp ngang ngọn giáo, chỉ 2 tiếng mà đầy sức gợi, gợi một dáng đứng tự tin, kiêu hãnh, gợi một phong thái đường hoàng,đĩnh đạc, gợi một ý chí sắt, một tinh thần thép chủ động trước tình thế, sẵn sàng đối mặt với hiểm nguy. Tư thế ấy, dáng đứng ấy dường như bất tử khi đặt trong sự rộng lớn của núi sông. Đây không phải là một vị tướng trấn giữu một thành trì hay một vùng biên ải mà trấn giữ cả non sông, đất trời với tư thế hiên ngang, kì vĩ sánh với núi sông. Trước sự rộng lớn của đất trời con người không trở nên nhỏ bé mà ngược lại càng trở nên tầm vóc hơn, dường như trong tư thế “cắp ngang ngọn giáo” ấy con người đã làm chủ cả thiên nhiên, đất trời. Sức mạnh ấy lan tỏa từ chiều sâu chuyển sang chiều cao của không gian, từ một người mà tới muôn người: “ Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu”. Từ một thế đứng hiên ngang, điệu thơ đã thăng hoa một cách rực rỡ và tỏa sáng hào quang lên tận trời xanh, át cả ánh sáng sao Ngưu- một khí thế xung thiên đã đưa đất nước đi lên từ trong kiên cường, lầm than, vùng dậy từ trong biển máu để chiến thắng những thế lực cường bạo như quân Nguyên – Mông. Hào khí Đông A ấy không chỉ rần rật cháy qua những nỗi niềm sục sôi bầu màu nóng của lòng căm thù giặc, không chỉ hân hoan trong lòng tự hào, tự tôn dân tộc mà còn tha thiết qua chữ “thẹn”. “ Thẹn” là cái hổ thẹn, sự thẹn thùng và đặt trong trường hợp này vị tướng sĩ ấy đã “ thẹn” vì thấy kém cỏi trước tài năng của Gia Cát Lượng. Đó là một nỗi thẹn cao cả tiêu biểu cho chí khí người con trai đời Trần, nỗi “thẹn” ấy vì một lẽ thật lớn lao, “thẹn” vì chưa trả được nợ công danh, chưa báo đền nợ nước vì sức mạnh không được như Gia Cát Lượng giúp nhà Hán ngày xưa.

Hào khí Đông A không dừng lại ở lòng yêu nước, căm thù giặc, tinh thần quật khởi chóng xâm lăng, lòng tự hào, tự tôn dân tộc mà hơn thế nữa nó còn là khía cạnh tâm sự sâu kín của con người, cũng là tâm trạng của thế hệ trai tráng lúc bấy giờ. Lúc nào cũng canh cánh thù nhà nợ nước, cũng đặt sự nghiệp gánh vác sự an nguy của đất nước trên đôi vai của mình. Hào khí ấy đã làm nên những chiến thắng lẫy lừng lưu danh sử sách đến muôn đời, dội vào lòng mai hậu một niềm tự hào dấy lên một khí thế hào hừng của lịch sử khi đi qua những chiến địa mang huyền thoại của lịch sử dân tộc.

Cũng trong domngf mạc cảm xúc ấy Trần Quang Khải đã gợi lại những âm vang chiến trận với những chiến thắng lẫy lừng qua bài thơ “ Phò giá về kinh”:

“ Đoạt sáo Chương Dương độ

Cầm hồ hàm Tử quan

Thái bình tu trí lực

Vạn cổ thử giang san.”

Hai câu thơ đầu làm sống dậy không khí hào hùng, hồ hởi của hai cuộc kháng chiến diễn ra tại hai chiến địa oai hùng, thiêng liêng: Chương Dương, Hàm Tử. Những từ ngữ “cướp giá giặc”, “bắt quân thù” gợi lại chiến thắng oai hùng, chiến công nối tiếp chiến công. Tất cả dấy lên tjhành ngọn sóng đẹp đẽ nhấn chìm, cuốn trôi những thế lực quân thù mạnh như vũ bão. Từ những chiến thắng vang dội ấy tác giả thể hiện một niềm tin vô hạn, một ước mơ vĩnh hằng vào tương lai :

“ Thái bình tu trí lực

Vạn cổ thử giang san.”

Hai câu thơ thể hiện cho ước mơ của tác giả và cũng là ước mơ ngàn đời của nhân dân về một đất nước thái bình, thịnh trị, trường tồn đến muôn đời. Đó là hào khí sục sôi, vang dội của một đời, của một thời, sáng ngời cả hồn thiêng sông núi, âm vang đến muôn đời.

Bốn dòng thơ là sự kết tinh của hào khí thời đại, hừng hực, bừng sáng cả một trang vàng lịch sử. Sừng sững giữa đất trời một dáng đứng uy nghiêm, lẫm liệt của vị anh hùng, hiên ngang, sánh tầm vũ trụ giữa trận mạc binh đao.

Và để rồi hân hoan trong niềm vui thắng lợi ấy Trương Hán Siêu lại ngậm ngùi hạ bút, viết nên nỗi lòng qua những vần thơ “ Bạch Đằng giang phú”.  Đó là một bức tranh tuiyệt đẹp về hào khí một thời:

“Thuyền tàu muôn đội

Tinh kì phấp phới

Hùng hổ sáu quân

Giáo gươm sáng chói.”

Cả một chiến trận với một hùng khí mạnh mẽ, kiên cường dội về với núi sông, dội về với người đời sau bằng những vần thơ như tô, như vẽ. Dường như cả chiến địa bừng sáng bởi những chiến công khiến cho Trương Hán Siêu phải thốt lên trong niềm cảm khái:

“Khác nào

Trận Xích Bích quân Tào Tháo tan tác tro bay

Trận Hợp Phì, giặc Bồ Kiên hoàn toàn chết trụi.”

Niềm vui nối tiếp niềm vui, lòng tự hào tự tôn dân tộc ấy còn được nâng lên một tầm cao mới qua hai câu thơ:

“ Đến nay sông nước tuy chảy hoài

Mà nhục quân thù khôn rửa nổi.”

Dòng sống lấp lánh ánh lửa binh sĩ trong đêm với lời thề vang vọng, quyết đền nợ nước trả thù nhà, dòng sông như còn in máu quân thù khi bại trận, “giày xéo lên nhau mà chết”. Dòng chảy ấy sẽ chảy đến ngàn đời khắc ghi một thời kì hoàng kim của lịch sử.

Trong niềm hân hoan với núi sông, đắm chìm trên trận địa linh thiêng có màu cờ tổ quốc ấy, tác giả đã ca lên những vần thơ ngời sáng một chân lí đẹp đẽ:

“ Những người bất nghĩa tiêu vong

Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh”

Câu thư là một lời ca, một lời triết lí làm nên nét xoáy trong tâm hồn vị tướng sĩ -nhà thơ. Đồng thời lời thơ còn như khắc, như tạc sự vĩnh hằng, bất diệt của chiến thắng sông Bạch Đằng- một dòng sông chảy mãi đến muôn đời. Kết thúc tác phẩm là sự hụt hẫng cuỉa người anh hùng trước thời cuộc làm cho hào khí Đông A càng mang tính chất bi hùng của một công dân có trách nhiệm đối vợi nợ nước thù nha, lập công báo quốc.

Khi nhìn lại cả một chiều dài lịch sử chống ngoại xâm của nhân dân ta, nhà văn Nguyễn Thành Trung đã cảm khái mà thốt lên rằng: “ Nếu như phải vẽ lại lịch sử Việt Nam thì trang nào cũng phải vẽ một thanh gươm tự vệ và tô đậm một màu máu.” Thật vậy, Hào khí Đông A rừng rực trong lịch sử, bừng lên qua từng trang thơ và lan tỏa đến muôn đời. Vẫn là hào khí mạnh mẽ của hồn thiên sông núi ấy nhưng mõi tác phẩm là một tấc lòng riêng, một cá tính sáng tạo riêng làm nên sự đa dạng của văn học đời nhà Trần tiêui biểu cho hình ảnh người con trai đời Trần. Hào khí ấy đã tiếp thêm sức mạnh để ngọn sóng dân tộc cuộn trào quia từng trận chiến.

Xem thêm : Tuyển tập đề thi học sinh giỏi môn văn có đáp án và bài văn mẫu : http://vanhay.edu.vn/hoc-sinh-gioi

Đề thi chọn đội tuyển học sinh giỏi Ngữ văn 12

Tài liệu ôn thi học sinh giỏi môn văn lớp 12. Bộ đề luyện thi học sinh giỏi có đáp án.

Đề bài :

Bàn về nghề văn, có người đã mượn một câu thơ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du : “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” . Nhưng có người lại cho rằng : “Văn chương trước hết phải là văn chương” .

Anh /chị hãy bình luận ý kiến trên

I.Mở bài

-Bản chất của nghệ thuật là sáng tác ,người nghệ sĩ phải có tâm huyết và tài năng

-Giới thiệu hai ý kiến trong đề bài .

II.Thân bài

1.Giải thích

-“Tâm” là tâm hồn , tình cảm , tấm lòng của người nghệ sĩ đối với con người và cuộc đời .

Vì sao phải có cái tâm ? cái tâm là yếu tố trước hết của nghệ thuật , là điều không thể thiếu trong tác phẩm của người nghệ sĩ . Không có một tấm lòng trước cuộc đời người nghệ sĩ sẽ không có những rung cảm chân thật , mãnh liệt . Người đọc trân trọng trí tuệ nhưng trước những trái tim cao cả thì lại càng trân trọng , yêu quý hơn. Có người đã nói : “Trước một trí tuệ vĩ đại tôi cúi đầu , trước một trái tim vĩ đại tôi quỳ gối”.

-“Tài” là tài năng của người nghệ sĩ . Cái tài của người nghệ sĩ một phần do thiên phú , một phần do quá trình rèn luyện , trau dồi mà có .

-Trong văn chương , chữ tâm chiếm một vai trò rất lớn nhưng không thể phủ định , quên đi tài năng của người nghệ sĩ . Không có tài năng , không thể gọi đó là văn chương . Phải có cả hai yếu tố “tâm” và “tài” thì nhà văn mới tạo nên một tác phẩm thật sự có giá trị .

Ý kiến “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” là đề cao chữ tâm nhưng vẫn khẳng định vị trí tài năng , khẳng định cái thiên phú  của người cầm bút . Có thể nói ý kiến này đã bao quát cả quá trình sáng tạo ra tác phẩm nghệ thuật , đặt ra yêu cầu lớn với người nghệ sĩ , phải kết hợp giữa cái tài năng với cái tâm huyết của mình .

-Nhưng khi đề cao cái tâm lại cần chú ý đến quan niệm cho rằng : “Văn chương trước là văn chương” . Quan niệm này có đối lập với quan niệm “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” của Nguyễn Du hay không ? Một bên đề cao cái tâm , cái lòng của người nghệ sĩ ; một bên lại đặt ra “Văn chương trước hết là văn chương” . Nếu chú ý đến hai chữ “trước hết” thì ý kiến này muốn chỉ muốn khẳng định tác phẩm văn học trước hết phải có chất nghệ thuật . Một tác phẩm nghệ thuật mà không có chất văn chương thì không còn là tác phẩm văn học nữa rồi mà nó sẽ là một thứ thuyết giáo , một sự thật lịch sử , là một bản sao chép cuộc đời…

-Như vậy , ý kiến “Văn chương trước hết là văn chương” không phải là sai nhưng chưa đầy đủ . Văn chương phải đặt song hành tài năng và tâm huyết của người sáng tạo nghệ thuật . Nếu tác phẩm chỉ có “văn chương” mà không có tấm lòng thì chỉ như một bông hoa đẹp mà vô hương .Phải có cái tâm trong sáng cao đẹp thì tài năng mới tỏa sáng . Đọc một câu văn , ta ngạc nhiên khâm phục trước sự sử dụng câu chữ tài tình của tác giả ; đọc một cuốn truyện ta cảm thấy thích thú trước sự sắp đặt những tình tiết bất ngờ của nhà văn …Và đằng sau những hấp dẫn về văn chương ấy ta nhận ra được tấm lòng thiết tha của tác giả thì câu chuyện ấy sẽ đọng lại trong tâm trí ta sâu sắc biết bao !. Như vậy “Văn chương trước hết là văn chương” nên hiểu theo một cách thật đầy đủ là bao hàm cả tài năng và tâm huyết của người cầm bút . Thiếu một trong hai yếu tố ấy thì “văn chương” đâu còn là văn chương nữa .

2.Bình luận và chứng minh

-Không thể coi “Văn chương trước hết là văn chương” mà cái “trước hết” ấy phải là tấm lòng , tư tưởng của người nghệ sĩ . Nguyễn Tuân cũng từng quan niệm : “Văn chương trước hết là văn chương , nghệ thuật trước hết phải là nghệ thuật”, nhưng cũng chính ông , hơn ai hết đã suốt đời cống hiến cho một nền nghệ thuật vì con người . Mỗi tác phẩm của ông của ông đều hướng con người tới “thiên lương”.

-Tài năng và tâm huyết , là hai yếu tố không thể tách rời trong sáng tạo nghệ thuật . Cái tài nhờ cái tâm để “cháy lên” . Cái tâm nhờ cái tài mà “tỏa sáng”.Đưa hết tâm linh vào sáng tác , suy nghĩ , dằn vặt , trăn trở cho những vấn đề cuộc sống , người nghệ sĩ sẽ có được những giây phút “xuất thần” , tài năng sẽ bừng sáng . Lec-môn-tốp nói : ‘Có những đêm không ngủ , mắt rực cháy và thổn thức , lòng tràn ngập nhớ nhung …khi đó tôi viết”. Nhà thơ Tố Hữu : “Mỗi khi có cái gì chất chứa trong lòng , không nói ra , không chịu được thì lại thấy cần làm thơ

-Nhà văn phải là người “đi tìm cái hạt ngọc ẩn dấu sâu trong tâm hồn con người”(Nguyễn Minh Châu). Quá trình “đi tìm” ấy không đơn giản , người nghệ sĩ ngoài cái tâm ra , phải có tài năng nắm bắt , khám phá , phải nhận ra viên ngọc quý lấp lánh bên trong . Cái tài đi liền với cái tâm. Anh không thể trở thành nhà văn nếu anh không có tài năng , nhưng để trở thành một nhà văn  vĩ đại thì không chỉ cần có tài năng mà nhất thiết phải có một cái tâm cao quý . Viên Mai nói : “Tài gia tình chi phát, tài thịnh tình tắc thâm” (tài là ở tình phát ra , tài cao ắt tình sâu)

-Chứng minh

+Nguyễn Du viết Truyện Kiều bằng tài năng xuất sắc nhưng cũng chính là bằng “Những điều trông thấy mà đau đớn lòng

  • Tài năng qua miêu tả tâm trạng , cảnh vật , ngôn ngữ …
  • Tấm lòng thể hiện ở chỗ lên án , tố cáo xã hội phong kiến tàn bạo chà đạp nhân phẩm con người , đau nỗi đau của người phụ nữ …

+Nam Cao là nhà văn có cái tài và cái tâm hết sức nhuần nhuyễn . Mỗi từ , mỗi chữ, mỗi chi tiết , mỗi cốt truyện… của ông , chỗ nào cũng thấm nhuần tình cảm , tấm lòng của nhà văn .

  • Chính tài năng và tâm huyết ấy đã giúp Nam Cao dựng lên một Đời thừa , một Trăng sáng , một Sống mòn với những cuộc sống “áo cơm ghì sát đất” để người đọc cùng đau đớn nỗi đau của nhân vật , dằn vặt , trăn trở trước mỗi số phận , mỗi cuộc đời …(phân tích sự dằn vặt của Hộ )àĐó chính là cái tâm luôn giữ vững niềm tin vào con người của Nam Cao đã khiến nhà văn hiểu sâu xa cuộc vật lộn giữa cái thiện và cái ác, giữa lí trí cao cả và dục vọng thấp hèn của mỗi con người , nhận ra khát vọng hướng về ánh sáng của con người.
  • Trong truyện ngắn Chí Phèo khi dựng lên hình ảnh “con quỷ dữ của làng Vũ Đại”, Nam Cao vẫn phát hiện ra ánh sáng lương tri còn le lói trong con người Chí , để có lúc nó bùng cháy lên dữ dội , mãnh liệt “Ai cho tao lương thiện?’, “Làm thế nào …trên mặt này?”…Câu hỏi đau đớn ,nhức nhối ấy của Chí , phải chăng cũng chính là câu hỏi xoáy vào lòng NC về số phận của những con người .

+Nam Cao được xếp vào hàng những nhà văn lớn của chúng ta vì những tác phẩm của ông đả sinh ra từ tài năng , nước mắt , từ khát vọng hạnh phúc của con người và sự thấu hiểu con người : “Chao ôi ! Đối với những người xung quanh ta nếu ta không cố tâm mà tìm hiểu họ , ta chỉ thấy họ gàn dở , ngu ngốc , xấu xa , bần tiện…toàn những cớ để ta ta tàn nhẫn , không bao giờ ta thấy họ đáng thương, không bao giờ ta thương

+Nguyễn Minh Châu là nhà văn luôn “đi tìm cái hạt ngọc ẩn dấu sâu trong tâm hồn con người”(chứng minh qua tác phẩm Mảnh trăng cuối rừng , Chiếc thuyền ngoài xa)

III.Kết luận

-Mỗi nghệ sĩ có một cá tính sáng tạo riêng, nhưng điều không thể thiếu của một nghệ sĩ đó là cái tài và cái tâm. Cái tài và tâm là vấn đề đặt ra với người nghệ sĩ muôn đời, dù xưa hay nay, phương Đông hay phương Tây ……

– Người nghệ sĩ muốn tác phẩm của mình bất hủ với thời gian thì phải mở lòng ra với cuộc đời, vì cuộc đời.

Xem thêm Bộ đề luyện thi học sinh giỏi môn văn có đáp án : http://vanhay.edu.vn/hoc-sinh-gioi

Dạng đề nghị luận ý kiến bàn về văn học :http://vanhay.edu.vn/tag/nghi-luan-y-kien-ban-ve-van-hoc