Các hình thức đoạn văn: Diễn dịch, Quy nạp, tổng phân hợp, nêu phản đề, so sánh, phân tích nhân quả, vấn đáp

Rate this post

Các hình thức đoạn văn: Diễn dịch, Quy nạp, tổng -phân -hợp, nêu phản đề, so sánh, phân tích nhân quả, vấn đáp

Hướng dẫn  phân biệt các hình thức trình bày đoạn văn.
Có nhiều cách trình bày, trong đó có 7 cách chính sau: Diễn dịch, Quy nạp, tổng -phân -hợp, nêu phản đề, so sánh, phân tích nhân quả, vấn đáp

Bản quyền bài viết này thuộc về http://vanhay.edu.vn. Mọi hành động sử dụng nội dung web xin vui lòng ghi rõ nguồn
  1. Diễn dịch

Diễn dịch là từ một chân lí chung, quy luật chung mà suy ra các hệ luận, các biểu hiện cụ thể.
Ví dụ :
Đau thương bao giờ cũng là nguồn cảm hứng nhân đạo chủ nghĩa lớn lao của văn học nghệ thuật. Nguyễn Du, Tônxtôi, Lỗ Tấn… đã trở thành những nghệ sĩ lớn trước hết là vì hơn bất cứ ai họ đã thông cảm sâu sắc và đau đớn da diết những nỗi đau nhân tình trong thời đại họ…
(Hoàng Ngọc Hiến)
Câu thứ nhất là một nguyên lí phổ biến {bao giờ cũng là). Câu thứ hai là một nhận định mới về các nhà văn cụ thể được suy ra từ quan điểm của câu thứ nhất (nhấn mạnh trước hết).

  1. Quy nạp

Quy nạp là từ những chứng cớ cụ thể mà rút ra những nhận định  tổng quát. Ví dụ :
Bộ Sử kí Tư Mã Thiên mà các nhà nho vẫn công nhận làm kiểu mẫu văn hay kia, nếu không phát sinh từ trong buồng gan uất ức của ông “Thái sử” thì ở đâu ra ? Gần chúng ta hơn là các nhà tiền bối như là Nguyễn Du, Cao Bá Nhạ, Nguyễn Công Trú Yên Đổ, Tú Xương, Phan Sào Nam, Nguyễn Khắc Hiếu cũng vậy Những câu văn mà hiện còn truyền tụng cũng đều biểu hiện những) buồng tim đã chán chê hay tê tái với thế cuộc nhân tình : Không có một khối óc sôi nổi, không có một thế giới quan, nhân sinh quan sinh động thì không thể sản sinh được một áng danh văn.
(Đặng Thai Mai)
Phần đầu, tác giả nêu lên các luận cứ cụ thể, và phần cuối, quy nạp thành luận điểm.

  1. Phối hợp diễn dịch với quy nạp (tổng – phân – hợp)

Ví dụ : Trong hoàn cảnh “trăm dâu đổ đầu tằm”, ta càng thấy chị Dậu thật là một người phụ nữ đảm đang, tháo vát. Một mình chị phải giải quyết mọi khó khăn đột xuất của gia đình, phải đương đầu với những thế lực tàn bạo : quan lại, cường hào, địa chủ và tay sai của chúng. Chị có khóc lóct có kêu trời, nhưng chị không nhắm mắt khoanh tay, mà tích cực tìm cách cứu được chồng ra khỏi cơn hoạn nạn. Hình ảnh chị Dậu hiện lên vững chãi như một chỗ dựa chắc chắn của cả gia đình.
(Theo GS. Nguyễn Đăng Mạnh)
Câu mở đầu đoạn văn trên nêu lên môt nhận định chung về nhân vật. Hai câu khai triển đoạn đưa ra các biểu hiện cụ thể minh họa cho nhận định chung ấy. Từ những chứng cớ cụ thể này, câu kết đoạn đúc kết thành một nhận định mới vừa phù hợp với nhận định ban đầu, vừa được nâng cao hơn. Đó là mô hình tổng hợp – phân tích – tổng hợp (tổng – phân – hợp).
Mô hình tổng – phân – hợp cũng thường là mô hình cấu tạo của toàn bài văn nghị luận.

  1. Nêu phản đề

Nêu phản đề là nêu ra một luận điểm giả định và phát triển nó cho đến tận cùng để chứng tỏ đó là luận điểm sai và từ đó mà khẳng định luận điểm của mình. Đây là cách lật ngược vấn đê để xem xét. Ví dụ :
Giả sử, nếu không có Thơ mới thì sau Cách mạng tháng Tám, tình hình thơ ca sẽ ra thế nào ? Chắc chắn là từ các thể thơ cũ, bát cú, tuyệt cú, cổ phong mà nhảy vọt lên để sớm có được những thành tựu như của Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu… trong kháng chiến làn thứ nhất, là chuyện khó quan niệm nổi. Lịch sử là sợi dây chuyền mà mỗi khâu trong đó đều có vai trò trong quá trình phát triển.
(Lê Đình KỊ)

  1. So sánh

a) So sánh tương đồng (loại suy)

So sánh tương đồng là từ một chân lí đã biết suy ra một chân lí tương tự, có chung     một   lôgic bên trong. Ví dụ :
“Tất cả mọi người   đều   sinh ra có quyền bình đẳng.    Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được’; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.
Lời bất hủ ấy trong bản Tuyên ngôn độc lập   năm 1776    của nước Mĩ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là : tất cả các    dân tộctrên thế giới đều sinh ra bình đẳng ; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do
( Hồ Chí Minh)

b) So sánh tương phản

So sánh tương phản là đối chiếu các mặt trái ngược nhau đê’ làm nổi bật luận điểm.
Ví dụ, để bênh vực cho sự xuất hiện của Thơ mới, diễn đạt những tình cảm mói mang màu sắc riêng của thời đại, Lưu Trọng Lư viết :
Các cụ ưa những màu đỏ choét, ta lại ưa những màu xanh nhạt… Các cụ bâng khuâng vì tiếng trùng đêm khuya, ta nao nao vì tiếng gà lúc đúng ngọ. Nhìn một cô gái xinh xắn, ngây thơ, các cụ coi như đã làm một việc tội lỗi, ta thì cho là mát mẻ như đứng trước một cánh đồng xanh. Cái ái tình của các cụ thì chỉ là sự hôn nhân, nhưng đối với ta thì trăm hình muôn trạng : cái tình say đắm, cái tình thoảng qua, cái tình gần gụi, cái tình xa xôi…, cái tình trong giây phút, cái tình ngàn thu…

  1. Phân tích nhân quả

a. Trình bày nguyên nhân trước, chỉ ra kết quả sau.

Ví dụ :
Câu chuyện lẽ ra chấm hết ở đó, nhưng dân chúng không chịu nhận cái tình thế đau đớn ấy, và có đem một nét huyền ảo để an ủi ta. Vì thế mới có đoạn thứ hai, kể chuyện nàng Trương xuống thủy cung, và sau lại còn gặp mặt chồng một lần nữa.
(Nguyễn Đình Thi)

b. Chỉ ra kết quả trước, trình bày nguyên nhân sau.

Ví dụ
Tính nhân dân bộc lộ một cách trực tiếp và dễ thấy nhất trong văn học dân gian, vì đây là những sáng tác tập thể, truyền miệng, “vô danh” của chính quần chúng, phản ánh chủ yếu sinh hoạt của những người lao động, nói lên tư tưỏng, tình cảm của họ, thể hiện cách suy nghĩ, cách diễn đạt, lời ăn tiếng nói của họ.
(Nguyễn Văn Hạnh)

c) Trình bày hàng loạt sự việc theo quan hệ nhân quả liên hoàn.

Ví dụ :
Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải tăng gia sản xuất. Muốn tăng gia sản xuất tốt thì phải có kĩ thuật cải tiến. Muốn sử dụng tốt kĩ thuật thì phải có văn hóa. Vì vậy, công việc bổ túc văn hóa là cực kì cần thiết.
(Hồ Chí Minh)

  1. Vấn đáp

Vấn đáp    là nêu câu hỏi rồi trả lời hoặc   để người  đọc tự trả lời.
Ví dụ :
Những câu thơ này của Nguyễn Du :
Một vùng cỏ áy bóng tà
Gió hiu hiu thổi một và bông lau
thì có quan hệ gì với “đạo đức ?” Câu thơ tưởng như chẳng dính líu gì đến đạo đức cả. Nó không dạy cho người ta phải làm việc này thiện, việc kia thiện. Nhưng một câu thơ như thế làm cho ngưòi ta nhìn            thấy cảnh mà động lòng  thương,  nó     cho ta      thấy        ngọn “gió hiu hiu      thổi”    và cảm   thấy đằng   sau đó còn có cái gì  nữa.
Con người đã giàu lòng thông cảm như thế, đã động lòng được với từng ngọn cỏ, lá cây, thì làm sao mà không động lòng thương những nỗi khổ của con người được ?
(Nguyễn Đình Thi)
Câu hỏi trước nêu vấn đề. Câu hỏi sau đã hàm chứa một câu trả lờí, bởi vì không dễ trả lời phủ định được.
Xem thêm :TRÌNH TỰ LẬP LUẬN/CÁCH THỨC TRÌNH BÀY ĐOẠN VĂN

Cách thức trình bày đoạn văn: Diễn dịch- quy nạp- song hành- móc xích- tổng phân hợp…


 

Bài viết liên quan

52 Comments

      • phép thế :Sử dụng ở câu đứng sau các từ ngữ có tác dụng thay thế các từ ngữ đã có ở câu trước
        Ví dụ:
        “Trường học của chúng ta là trường học của chế độ dân chủ nhân dân, nhằm mục đích đào tạo những công dân và cán bộ tốt, những người chủ tương lai của nước nhà. Về mọi mặt, trường học của chúng ta phải hơn hẳn trường học của thực dân phong kiến.
        Muốn được như thế thì thầy giáo, học trò và cán bộ phải cố gắng hơn nữa để tiến bộ hơn nữa” . (Hồ Chí Minh – Về vấn đề giáo dục)
        Các phép liên kết được sử dụng là:
        – Phép lặp: “Trường học của chúng ta”
        – Phép thế: “Muốn được như thế”… thay thế cho toàn bộ nội dung của đoạn trước đó.
        “Trường học của chúng ta là trường học của chế độ dân chủ nhân dân, nhằm mục đích đào tạo những công dân và cán bộ tốt, những người chủ tương lai của nước nhà. Về mọi mặt, trường học của chúng ta phải hơn hẳn trường học của thực dân phong kiến.
        còn phép đối:Nhận biết phép đối: là cách sử dụng những từ ngữ, hình ảnh, các thành phần câu, vế câu song song, cân đối trong lời nói nhằm tạo hiệu quả diễn đạt: nhấn mạnh về ý , gợi liên tưởng, gợi hình ảnh sinh động, tạo nhịp điệu cho lời nói, biểu đạt cảm xúc tư tưởng…
        -Số lượng âm tiết của hai vế đối phải bằng nhau.
        – Các từ ngữ đối nhau phải có số âm tiết bằng nhau, phải có thanh trái nhau về B/T.
        – Các từ ngữ đối nhau phải cùng từ loại với nhau (danh từ đối với danh từ, động từ – tính từ đối với động từ – tính từ).
        – Các từ đối nhau hoặc phải trái nghĩa với nhau,hoặc phải cùng trường nghĩa với nhau, hoặc phải đồng nghĩa với nhau để gây hiệu quả bổ sung, hoàn chỉnh về nghĩa..
        Có hai loại đối:
        + Tiểu đối (tự đối): Các yếu tố đối xuất hiện trong nội bộ một câu, một dòng.
        + Trường đối ( bình đối ): dòng trên và dòng dưới, đoạn trên và đoạn dưới đối nhau
        Tác dụng của đối:
        -Gợi sự phong phú về ý nghĩa (tương đồng và tương phản).
        -Tạo ra sự hài hoà về thanh.
        -Nhấn mạnh ý.

  1. cô ơi nếu nghị luận xã hội mà người ta cho đề về thực phẩm bẩn , nguồn nước ô nhiễm thì mình nói về thưc trạng xong thì nói về phần gì nữa ạ e cảm ơn

      • biện pháp tu từ ẩn dụ chuyển đổi cảm giác. “Tiếng rơi” của lá vốn được cảm nhận bằng thính giác nhưng nhà thơ đã cảm nhận bằng xúc giác “rất mỏng” và hơn nữa là bằng thị giác “rơi nghiêng”. Bằng cách sử dụng biện pháp tu từ ấy, nhà thơ đã khiến người đọc như được chạm tay, như được nhìn thấy hình ảnh chiếc lá đa rơi nhẹ bên thềm

      • tìm và phân tích tác dụng của 2 biện pháp tu từ trong văn bản trên : Vẫn như xưa vườn dừa quê tôi
        Sao lòng tôi vẫn thấy yêu hơn
        Ôi thân dừa đã hai lần máu chảy
        Biết bao đau thương biết mấy oán hờn
        Dừa vẫn đứng hiên ngang cao vủt
        Lá vẫn xanh rất mực dịu dànng
        Rễ dừa bám sâu trong lòng đất
        Như dân làng bám chặt quê hương

  2. Theo cô thì hình ảnh “buồm trăng” trong câu thơ : ” Thuyền ta lái gió với buồm trăng” (Huy Cận – Đoàn thuyền đánh cá) có sử dụng biện pháp tu từ nào không? Nếu có thì là biện pháp gì và tác dụng của nó ạ? Mong cô sớm hồi đáp. Cảm ơn cô nhiều

    • – Hình ảnh ẩn dụ : “buồm trăng” được xây dựng trên sự quan sát rất thực và sự cảm nhận lãng mạn của nhà thơ Huy Cận
      + Từ xa nhìn lại, trên biển có lúc thuyền đi vào khoảng sáng của vầng trăng. Trăng và cánh buồm chập vào nhau , trăng trở thành cánh buồm.
      + Vẻ đẹp của thiên nhiên làm nhòa đi cánh buồm vất vả, làm cho công việc trở nên nhẹ nhàng,lãng mạn . Thuyền ra khơi làm công việc đánh bắt nhọc nhằn trở hành một du thuyền.

  3. Cô ơi! Cho em hỏi, trong truyện kiều các hình ảnh cửa bể chiều hôm, hoa trôi man mác, nội cỏ rầu rầu và chân may mặt đất, tiếng sóng là ẩn dụ hay hoán dụ ạh?

  4. Dạ cô ơi đề bài yêu cầu phân tích cấu tạo ngữ pháp bài thơ sau:
    Nào đâu cái yếm lụa sồi?
    Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân?
    Nào đâu cái áo tứ thân?
    Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen?
    Nói ra sợ mất lòng em
    Van em em hãy giữ nguyên quê mùa
    Thì em phải phân tích như thế nào ạ?
    cô giúp em với

  5. dạ. em chào cô. CÔ ơi, cô có thể cho em số đt hay địa chỉ mail của cô được không ah. khi nào có việc em có thể nt hỏi cô được không ah?

  6. Cô ơi, cho em hỏi,e vẫn chưa hiểu rõ về từ cách thức trong ẩn dụ cách thức và lấy cái cụ thể gọi cái trìu tượng trong hoán dụ, cô giảng lại hộ em ạ, và cho em một số dấu hiệu phân biệt 4 loại ẩn dụ và hóa dụ, cảm ơn cô, mong cô trả lời !

  7. chào cô . cô cho em hỏi là làm sao để phân biệt nhân hóa với hoán dụ và ẩn dụ . cô cho em vài ví dụ rồi giải thích rõ giúp em luôn nhé. em cảm ơn cô nhiều lắm ạ

  8. Cô ơi, câu
    Chỉ có thuyền mới hiểu
    Biển mênh mông nhường nào
    Chỉ có biển mới hiểu
    Thuyền đi đâu về đâu
    Đây là ẩn dụ hay hoán dụ ạ
    Tác dụng như nào ạ
    ????

  9. Cô ơi cô có thể phân tích tác dụng của biện pháp hoán dụ trong câu này đc k
    ” Bàn tay ta làm nên tất cả
    Có sức người sỏi đá cũng thành công”

  10. Cô ơi cô , cô giúp em làm bài văn từ 5-7 câu về cảm nhận của em về phép hoán dụ trong 2 câu sau :
    Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà
    Miền Nam mong Bác nỗi mong cha

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*