Đề đọc hiểu và Nghị luận xã hội suy nghĩ về tình yêu biển đảo Việt Nam

Đề đọc hiểu văn bản : Lính đảo hát tình ca trên đảo

Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu :

Đá san hô kê lên thành sân khấu 
Vài tấm tôn chôn mấy cánh gà 
Em đừng trách bọn chúng anh tạm bợ 
Chẳng phông màn nào chịu nổi gió Trường Sa

Gió rát mặt, đảo luôn thay hình dạng 
Đá củ đậu bay như lũ chim hoang 
Cứ mặc nó! Nào hỡi các chiến hữu 
Ta bắt đầu thôi. Mây nước đã mở màn…

Sân khấu lô nhô mấy chàng đầu trọc 
Người xem ngổn ngang cũng… rặt lính trọc đầu 
Nước ngọt hiếm, không lẽ dành gội tóc 
Lính trẻ, lính già đều trọc tếu như nhau

[…] Nào hát lên cho đêm tối biết 
Rằng tình yêu sáng trong ngực ta đây 
Ta đứng vững trên đảo xa sóng gió 
Tổ quốc Việt Nam bắt đầu ở nơi này

(Trích Lính đảo hát tình ca trên đảo, Trần Đăng Khoa, Bên cửa sổ máy bay, NXB Tác phẩm mới, 1985)

Câu 1. (0,5 điểm) Xác định những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn thơ trên.

Câu 2. (0,5 điểm) Buổi liên hoan văn nghệ ở Trường Sa có gì đặc biệt khác thường so với ở đất liền?

Câu 3. (1,0 điểm) Hình ảnh những người lính trọc đầu trong đoạn thơ gợi cho anh/chị liên tưởng đến câu thơ nào về người lính trong cuộc kháng chiến chống Pháp? ở họ có điểm chung gì về hoàn cảnh chiến đấu  và bảo vệ tổ quốc

Câu 4. (1,0 điểm) Trình bày ngắn gọn cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp tâm hồn, tình cảm của những người lính đảo được đề cập trong đoạn thơ trên.

LÀM VĂN  Nghị luận xã hội (2,0 điểm)

Từ những câu thơ “Ta đứng vững giữa muôn trùng sóng gió / Tổ quốc Việt Nam bắt đầu ở nơi này… ”, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của mình về tình yêu biển đảo Việt Nam.

Đáp án

Câu 1: Những phương thức biểu đạt :  biểu cảm, miêu tả. 0,50
Câu 2: Buối liên hoan văn nghệ ở Trường Sa đặc biệt khác thường so với ở đất liền là ở chỗ: sân khấu được kê bằng đá san hô, cánh gà dựng lên bởi mấy tấm tôn, không có phông màn hay trang trí, sỏi cát bay bụi mù vì gió… Tất cả cho thấy sự tạm bợ cùng cuộc sống thiếu thốn nơi biển đảo. 0,50
Câu 3: – Hình ảnh những người lính trọc đầu trong đoạn thơ gợi liên tưởng đến hình ảnh người lính Tây Tiến thời kháng Pháp qua câu thơ “Tây Tiến đoàn bỉnh không mọc tóc” (Tây Tiến của Quang Dũng).
– Điểm chung về hoàn cảnh chiến đấu và bảo vệ Tổ quốc:
+ Sự thiếu thốn về vật chất (nước ngọt, thuốc men..)
+ Phải đối đầu với thiên nhiên khắc nghiệt (rừng thiêng, sóng gió.. .)• 0,50
0,50
Câu 4: HS trình bày cảm nhận cá nhân về vẻ đẹp tâm hồn, tình cảm của những người lính đảo được đề cập trong đoạn thơ:
– Tâm hồn lạc quan, lãng mạn: hình ảnh những người lính đảo vui tươi, trẻ trung, tràn đầy sức sống; những tiếng hát bay bổng ngàn vang giữa đảo xa.
– Tình yêu Tổ quốc nồng nàn: sẵn sàng đương đầu với sóng cả gió to, những thiếu thốn về vật chất lẫn tinh thần để bảo bệ biển đảo quê hương, bảo vệ chủ quyền độc lập dân tộc. 0,50

Câu Nghị luận xã hội  :

Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về tình yêu biển đảo Việt Nam từ những câu thơ “Ta đứng vững giữa muôn trùng sóng gió / Tồ quốc Việt Nam bắt đầu ở nơi này… ” 2,00
* Yêu cầu chung:
– Viêt đúng một đoạn văn, khoảng 200 chữ; trình bày mạch lạc, rồ ràng; không măc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.
– Thí sinh có thể triển khai vấn đề theo nhiều cách khác nhau; có thể bày tỏ quan điểm, suy nghĩ riêng nhưng phải có lí lẽ, căn cứ xác đáng, với thái độ chân thành, nghiêm túc, phù hợp chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
* Yêu cầu cụ thể:
a. Đảm bảo đúng yêu cầu về cấu trúc. 0,25
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Tình yêu biển đảo Việt Nam. 0,25
c. Triển khai vấn đề thành các luận điểm; thể hiện sự cảm nhận sâu sắc và vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng.
– Giải thích:
Tình yêu biển đảo là tình cảm yêu quý và ý thức bảo vệ, xây dựng biển đảo. Đấy là một tình cảm thiêng liêng, cao quý của mỗi con người đối với Tổ quốc. 0,25
– Phân tích:
+ Biển đảo là chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, không thế lực thù địch nào có thể xâm chiêm được.
+ Dân tộc Việt Nam có truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm; bao thế hệ đã chiến đấu, hi sinh quên mình để bảo vệ biển đảo, bảo vệ chủ quyền độc lập dân tộc.
+ Những người lính đảo đang ngày đêm canh gác biển trời; họ thường xuyên phải đối đầu với những gian nan, thử thách để bảo vệ chủ quyền Tổ quốc, bảo vệ sự bình yên cho đất nước. 0,25
– Bàn luận:
+ Lên án những hành vi sai trái, xâm phạm lãnh hải Việt Nam.
+ Trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc tiếp nối truyền thống yêu nước: bảo vệ và xây dựng biển đảo nói riêng, Tổ quốc nói chung. 0,25
– Bài học:
+ Luôn nêu cao ý thức trách nhiệm và lòng tự hào dân tộc.
+ Cần có hành động thiết thực trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải.
+ Biến tình yêu biển đảo, tình yêu đất nước thành niềm tin, động lực, lí tưởng sống… 0,25
Đề thi của Sở GD DDT tỉnh Đồng Tháp.

Xem thêm đề đọc hiểu và Nghị luận xã hội : Đọc hiểu + Nghị luận xã hội

Nghị luận xã hội: Thước đo của cuộc đời không phải là thời gian mà là sự cống hiến

Đề bài : Viết đoạn văn khoảng 200 từ, trình bày suy nghĩ của anh/chị về câu nói: “Thước đo của cuộc đời không phải là thời gian mà là sự cống hiến (Peter Marshall)

Đoạn văn NLXH tham khảo :

Mọi người sẽ nhớ gì đến ta, khi ta tồn tại trên thế gian này? Chắc lẳn không phải là thời gian tồn tại, vì có những người sống rất lâu nhưng vẫn không được mọi người nhớ đến. Chắc cũng không là tiền bạc lay danh vọng vì có người rất giàu có, danh vị cao nhưng vẫn lu mờ rong xã hội. Chỉ có thể là sự cống hiến, thật vậy khi nói về điều này,Jeter Marshall đã nói “Thước đo của cuộc đời không phải là thời gian mà là sự cống hiến”. Cuộc đời quá ngắn để chúng ta có thể làm điều gì đó lớn lao, nhưng cũng đủ để cho ta đóng góp một việc gì đó có ích cho xã hội. Cống hiến là khi ta làm việc không màng đến lợi ích cá nhân, hết mình vì người khác, vì một tập thể, một cộng đồng. Con người sống mà không có mục đích, lý tưởng, không biết cống hiến thì thời gian cũng chỉ là đơn vị vật lý tầm thường. Nếu chỉ sống vu vơ, sống nhờ,sống gửi vào người khác thì đó là sự tồn tại vô nghĩa lý. Vì vậy, sống là chúng ta phải biết cống hiến cho xã hội, không buông thả, hoài phí thời gian quý giá của cuộc đời. Câu nói như một lời nhắn nhủ giá trị của đời người không phụ thuộc vào thời gian sống mà phụ thuộc vào chất lượng cuộc sống, cách sống.

Dẫn theo thầy Phan Danh Hiếu, Nguyễn Phước Bảo Khôi ( chủ biên )

Xem thêm Những đoạn văn Nghị luận xã hội hay : Nghị luận xã hội

Viết đoạn văn khoảng 200 từ trình bày suy nghĩ về vấn đề Sống cho ý nghĩa

Tuyển tập đề NLXH về tư tưởng đạo lí.

Đề bài :Viết đoạn văn khoảng 200 từ trình bày suy nghĩ của anh/ chị về vấn đề: “Sống cho ý nghĩa”.

Đoạn văn mẫu NLXH hay :

Cuộc sống là một món quà mà Thượng Đế trao tặng cho mỗi chúng ta. Món quà ấy chính là sự tồn tại. Và cách để sự tồn tại ấy trở nên vô giá, chính là cách làm người, cách sống có ý nghĩa. Ý nghĩa cuộc sống hình thành trên vô vàn phương diện khác nhau. Khi ta trải qua những xúc cảm hỉ, nộ, ái, ố, biết yêu thương đồng loại, biết phẫn nộ trước những thói đời tầm thường, rẻ rúng là khi ta tự hoàn thiện chính mình. Khi ta vượt lên mọi thử thách, chiến thắng cả bản thân, học hỏi, tiếp  thu kinh nghiệm không ngừng để đạt đến vinh quang, là khi ta có ý thức và trách nhiệm hơn với cuộc đời mình. Khi chúng ta biết dấn thân, biết cống hiến hết mình là khi tim ta đang đập những nhịp điệu tích cực nhất — sống ý nghĩa nhất. Sự thật là mọi thứ tồn tại trên đời này đều có nguyên do của nó. Bông hoa tồn tại để góp hương sắc, làm đẹp cho đời. Con ong tồn tại để dâng cho đời những giọt mật ngọt lành. Và con người, tồn tại để làm cuộc sống của chính mình, của mọi người xung quanh trở nên ý nghĩa. Vì vậy chứng ta ” phải sống sao cho khỏi xót xa, ân hận vi những năm tháng sống hoài sống phi, cho khỏi hổ thẹn những dĩ vãng đớn hèn của mình” (N.Ostrovski).

Dẫn theo thầy Phan Danh Hiếu, Nguyễn Phước Bảo Khôi ( chủ biên )

Xem thêm Những đoạn văn Nghị luận xã hội hay : Nghị luận xã hội

Viết đoạn văn khoảng 200 từ trình bày suy nghĩ về sự cống hiến

Tuyển tập đề NLXH tham khảo.

Đề bài : Viết đoạn văn khoảng 200 từ trình bày suy nghĩ của anh/ chị về sự cống hiến.

Đoạn văn mẫu NLXH hay:

Peter Marshall -Thượng nghị sĩ Mỹ từng nói: “Thước đo của đời người không phải thời gian mà là sự cống hiến”. Cống hiến là đóng góp công sức và những thứ quý giá cho sự nghiệp chung của dân tộc, đất nước xuất phát từ cái tâm không mưu cầu danh lợi. Để làm được điều đó, ta cần phải mở rộng tầm nhìn, tránh xa những nông cạn, vị kỉ, nhỏ nhen. Việc cống hiến còn giúp chúng ta hoàn thiện nhân cách và tâm hồn của mình, như biết bao dung và yêu thương con người nhiều hơn. “Cống hiến” khiến ta liên tưởng đến điều gì lớn lao và nghĩ rằng những người xuất chúng mới có khả năng cống hiến. Như những sáng tạo, phát minh, tìm kiếm khoa học của Mark Zuckerberg – ông chủ của trang mạng xã hội lớn nhất thế giới – Facebook, Marie Curie với phát hiện vĩ dại cho nền công nghiệp phóng xạ – uranium. Nhưng “cống hiến” thật ra rất đơn giản. Đó là sự chăm chỉ lao động của người nông dân, là sự miệt mài với công việc của người trí thức, là sự hăng say trong học tập của lớp trẻ… Và cống hiến chính là hy sinh. Hãy nhớ về những vị anh hùng hữu danh, vô danh, họ đã hy sinh cả mạng sống để cho đất nước được yên tiếng súng, từ đó, nhắc nhở bản thân bài học về sự cống hiên này.

Dẫn theo thầy Phan Danh Hiếu, Nguyễn Phước Bảo Khôi ( chủ biên )

Xem thêm Những đoạn văn Nghị luận xã hội hay : Nghị luận xã hội

Viết đoạn văn khoảng 200 từ trình bày suy nghĩ của về tính trung thực

Đề bài : Viết đoạn ván khoảng 200 từ trình bày suy nghĩ của anh/ chị về tính trung thực.

Đoạn văn mẫu NLXH  bàn về lòng trung thực của con người trong cuộc sống :

Đôi lúc hiện thực bản thân tàn khốc đến nỗi giết chết dũng khí vốn đã nhỏ bé của bạn, khiến bạn không dám nhìn thẳng vào đó và thừa nhận, để rồi khi cùng đựờng, bạn vội vã tìm đến với những thứ giả tạo sáo rỗng, tự lừa mình và tự dối người. Nhưng, bạn hãy nhớ, dù cho khát khao trốn tránh sự thật của bạn có lớn đến đâu chăng nữa, dù cho tiểu xảo che mắt thiên hạ có hoàn mĩ đến độ nào thì sự thật vẫn chỉ có một .Vậy, tại sao ta không tự tập cho mình thói quen sống thật, sống trung thực? Hà cớ gì ta phải mệt mỏi với chính mình khi lúc nào củng “tốt khoe xấu che”? Trung thực là tính cách không phải tự nhiên mà có, cũng không phải là thứ dành cho những kẻ hèn nhát, dễ nản lòng. Trung thực là dám nhìn thẳng, dám chấp nhận, dám làm dám chịu và còn là cơ sở tạo nên niềm tin. Có niềm tin con người mới có thể tạo ra cho mình hy vọng để yên tâm, và cống hiến trọn vẹn. Vậy nên, ngay từ giờ phút này, hãy chung tay loại bỏ thói dối trá ra khỏi đời sống xã hội, hãy cùng nhau tạo nên một thế giới nơi con người tin tưởng và sống với nhau bình đẳng và bác ái.

(Lê Phùng Tú Lệ)

Dẫn theo thầy Phan Danh Hiếu, Nguyễn Phước Bảo Khôi ( chủ biên )

Xem thêm Những đoạn văn Nghị luận xã hội hay : Nghị luận xã hội

Viết đoạn văn Nghị luận xã hội về vai trò của ý chí trong cuộc sống

Đề bài : Viết đoạn văn khoảng 200 từ trình bày suy nghĩ của anh/ chị về vai trò của ý chí.

Đoạn văn mẫu NLXH tham khảo :

Có ý chí, con người mới có đủ quyết tâm đế chinh phục những tầm cao mới. Bản thân ý chí vốn không có một định nghĩa cụ thể. Hiểu đơn giản, đó là quyết tâm cố gắng vượt qua gian khổ thử thách, còn hiểu theo nghĩa phức tạp, ý chí là mồi lửa giúp cho bản lĩnh bùng cháy. Ông bà ta có câu “có  chí thì nên” cũng là vì lẽ đó. Chưa bàn đến khả năng, chỉ riêng việc bạn có ý chí sắt đá cùng niềm tin vững vàng thì bạn đã đi trước người khác một bước. Nhưng, để có được một tinh thần thép khi đứng trước bão  tố của cuộc đời, bạn sẽ phải bỏ ra rất nhiều thời gian và công sức để mài sắ luyện kim. Nên người nói được câu “Tôi có ý chí” thì rất nhiều, nhưng hành động để chứng minh điều đó thì quả thực không dễ dàng. Những người chì mới giáp mặt cơn lốc xoáy hung tợn đã chấp nhận xin hàng, hay những kẻ sẵn sàng quỳ gối trước những thế lực mạnh mẽ đều vì thiếu đi ý chí cần thiết. Những người như thế, chung quy lại, cũng chỉ mãi là kẻ thất bại mà thôi. Còn bạn? Bạn sẽ lựa chọn con đường gập ghềnh hướng tới tương lai hay biến mình thành một con ốc chỉ biết thu mình trong vỏ?

Dẫn theo thầy Phan Danh Hiếu, Nguyễn Phước Bảo Khôi ( chủ biên )

Xem thêm Những đoạn văn Nghị luận xã hội hay : Nghị luận xã hội

Đề đọc hiểu và Nghị luận xã hội về bài thơ Tự Tình Hồ Xuân Hương

Bộ đề luyện thi về bài thơ Tự tình Ngữ văn 11. Đề đọc hiểu và nghị luận xã hội 200 chữ về bài Tự Tình Hồ Xuân Hương

Đọc hiểu (3,0 điểm)

Đọc bài thơ sau và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 4:

Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,

Trơ cái hồng nhan với nước non.

Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.

Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám,

Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.

Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,

Mảnh tình san sẻ tí con con!

(Tự tình II,Hồ Xuân Hương, Ngữ văn 11, tập 1, NXBGDVN 2010, tr.18).

  1. Bài thơ trên được viết theo thể thơ nào?
  2. Xác định các từ Hán Việt trong bài thơ.
  3. Xác định biện pháp tu từ  cú phápđược sử dụng trong 2 câu đầu của bài thơ? Nêu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ đó.
  4. Từ xuân trong hai câu thơ Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại có nghĩa là gì?

Phần Làm văn Nghị luận xã hội (2,0 điểm )

Từ nội dung bài thơ Tự tình, anh chị hãy viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về ước mơ hạnh phúc của người phụ nữ Việt Nam.

Đáp án : 

Đề đọc hiểu (3,0 điểm)

Câu 1. Bài thơ viết theo thể thất ngôn bát cú đường luật/ tám câu bảy chữ đường luật/ thất ngôn bát cú.

-Điểm 0,5: Trả lời đúng theo cách trên.

-Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời.

Câu 2.Từ Hán Việt là hồng nhan.

-Điểm 0,5: Trả lời đúng.

-Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời.

Câu 3.Biện pháp tu từ đảo ngữ (trơ cái hồng nhan…). HS không nêu rõ dẫn chứng ( )cho 0,25 đ).

Ý nghĩa: thái độ buồn, chán và bực dọc của nhân vật trữ tình.

-Điểm 1,0: Trả lời đúng và khá đủ; diễn đạt hợp lý.

– Điểm 0,5: Nêu được ý hiểu và biện pháp tu từ.

– Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời.

Câu 4.

Từ xuân hiểu theo 2 nghĩa: từ (xuân lại lại): mùa xuân của trời đất; từ (xuân đi) chỉ tuổi xuân, tuổi trẻ của người con gái.

-Điểm 1,0: Trả lời đúng và khá đủ; diễn đạt hợp lý.

– Điểm 0,5: Nêu một ý nghĩa trong hai.

– Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời

Phần Làm văn Nghị luận xã hội  (2,0 điểm)

* Yêu cầu chung: Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng về đoạn văn nghị luận xã hội để viết đoạn khoảng 200 chữ, tương đương ½ trang giấy thi. Đoạn văn viết có cảm xúc; diễn đạt dễ hiểu, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.

* Yêu cầu cụ thể:

a) Đảm bảo cấu trúc đoạn văn nghị luận (0,5 điểm):

– Điểm 0,5 điểm: Đoạn văn đầy đủ phần Mở đoạn, Thân đoạn, Kết đoạn. Câu Mở đoạn nêu được đúng chủ đề; phần Thân đoạn, các câu văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; câu Kết đoạnnêu được ý khái quát về vấn đề.

– Điểm 0,25: Viết được đoạn văn nhưng chưa đảm bảo mạch lạc, chính xác về bố cục ba phần.

– Điểm 0: Không biết viết đoạn văn hoặc quá ngắn, sơ sài vài câu.

b) Nêu đúng vấn đề: (1,25 điểm)

Suy nghĩ về ước mơ hạnh phúc của người phụ nữ, yêu cầu thí sinh diễn đạt cụ thể nội dung trả lời của câu hỏi 3, phần đọc hiểu.Thí sinh có thể viết theo cách trình bày đoạn văn khác nhau nhưng cần làm rõ các gợi ý sau:được sống trong tình yêu, hạnh phúc trọn vẹn, được bình đẳng, được yêu thương, được trân trọng vàbảo vệ…

– Điểm 1,25 : Cơ bản đáp ứng được các nội dung; diễn đạt rõ ràng; liên kết câu chặt chẽ.

– Điểm 0,75: Đáp ứng 1/2 đến 2/3 các nội dung; diễn đạt, liên kết câu còn lúng túng.

– Điểm 0,25: Đáp ứng được 1/3 các nội dung trên; có thể còn lỗi câu và dùng từ, chính tả.

– Điểm 0: hiểu sai lạc nội dunghoặc không viết được đoạn văn.

c) Sáng tạo (0,25 điểm)

– Điểm 0,25: cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo (viết câu, sử dụng từ ngữ, hình ảnh và các yếu  tố biểu  cảm,…)  ;  thể hiện được cảm xúc chân thành và sâu sắc về nội dung.

– Điểm 0: cách diễn đạt lan man; mắc nhiều lỗi dùng từ, dựng câu; chữ viết cẩu thả hoặc sai chính tả nhiều.

Đề văn sưu tầm

Xem thêm :

Những đề thi và bài văn mẫu phân tích bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương : tự tình

Hình ảnh con người Nam Bộ qua truyện Những đứa con trong gia đình

Đề bài : Phân tích Hình ảnh con người Nam Bộ qua truyện ngắn Những đứa cơn trong gia đình của Nguyễn Thi.

Bài văn tham khảo

Mở bài Những đứa con trong gia đình

[…] Truyện ngắn (Những đứa con trong gia đình) đã khắc họa thành công hình tượng những con người trong một gia đình nông dân Nam Bộ có truyền thống yêu nước thương nhà, căm thù giặc sâu sắc, thuỷ chung son sắt vói cách mạng, gắn bó máu thịt với quê hương. Trong dòng sông truyền thống gia đình ấy “mỗi người một khúc?’, không ai giống ai nhưng chung một nguồn nước và “trăm sông đổ về biển, con sông của gia  đình ta cũng chảy về biển”. Chú Năm chính là khúc thượng nguồn,

Thân bài

1. Nhân vật chú Năm

Nhân vật chú Năm- hình tượng kết tinh truyền thống của một gia đình Chú Năm xuất hiện như con người của đất đai, sông nước, kênh rạch, nồng nàn hơi thở Nam Bộ. Chú là người nông dân từng trải “đi đây đi đó nhiều” và cũng “ham sông ham biển”. Mỗi lời nói của chủ Năm giản dị, môc mac. nhưng sâu xa ý nghĩa, như đúc kết lại một nhận xét có rinh triết lí, không phải thứ triết lí sách vở, mà triết lí cuộc đời. Chú ví “chuyện gia đình ta nó cũng dài như con sông, để rồi chú chia cho mỗi người một khúc mà ghi vào đó”. Trong phép ví von mộc mạc, cụ thể ấy, Chú Năm muôn nói rằng: con cháu là sự nối tiếp huyết thống và truyền thống của một gia đình; muốn hiểu một người phải hiếu truyền thống và cội nguồn của gia đình sinh ra người ấy.

Bản thân chú Năm cũng là người chuộng đạo nghĩa, thường trực trong chú là tình thần “trọn tình nhà, vẹn nghĩa nước”. Hài lòng với những lo toan, thu xếp của hai cháu, chú Năm khen: “Việc nhà nó thu được gọn thì việc nước nó mở được rộng, gọn bề gia thế, đặng bề nước non”. Âm vang trong lời chú là đạo lí của người dân nước ta truyền lại từ ngàn xưa. Đọc truyện, ta thấy chú Năm luôn hướng về truyền thống, vun đắp bề dày cho truyền thống, giữ gìn cho truyền thông bằng câu hò và cuốn sổ: “Chú hay kể sự tích của gia đình và cuối câu chuyện, thế nào chú cũng hò lên mây câu”, “những câu nói về cuộc đời cơ cực của chú và những chiến công của đất này”. Trong câu hò của chú Năm có đủ cả trời sao, sông nước, con người,tấm áo , ngọn đèn… như là ngọn nguồn, là hồn thiêng của đất nước, của cha ông đang nhập vào chú Năm mà truyền đến các thế hệ sau: “Theo từng câu hò, khi thì Việt biến thành tâm áo vắt quàng hoặc con sông dài cá lội của chú, khi thì Việt biến  thành người nghĩa quân Trương Định ngọn đèn biển Gò Công, hoặc ngôi sao sáng ở Tháp Mười”.

 

Cuốn sổ gia đình trong tay chú Năm là một cuốn gia phả đặc biệt, ở đó mỗi dòng, thậm chí mỗi chữ đều có máu và nước mắt. Chú năm là người thư kí trung thành, là tác giả của cuốn biên niên sử ấy. Chữ viết của chú “lòng còng’, lời văn thô mộc, nhưng kĩ càng, tỉ mỉ, chú ghi lại không thiếu một chút nào nỗi đau thương của từng người trong gia đình và tội ác của quân giặc. Đó là việc ông nội bị lính tổng Phòng bắn vào giữa bụng; chuyện bọn lính chửi bác Hai một câu, ngày bà nội bị chúng đánh ba roi; ngày thím Năm bị bắn bể xuồng khi đi rọc lá chuối “chết còn mặc cái quần mới, trong túi  có hai đồng bạc”… Đó là những bằng chứng về tội ác của kẻ thù và truyền thống dũng cảm, can trường của dòng họ trong chiến đấu. Chính thế hệ trẻ như Chiến và Việt sẽ là người viết iếp những trang mới, vẻ vang cho truyền thống,cho nên chú Năm mới nói: “Đây rồi tao giao cuốn  sổ gia đình cho chị em bây”.

2. Nhân vật người má của Việt

Nhân vật người má của Việt- hiện thân cho truyền thống gia đình. Ngòi bút Nguyễn Thi có lần đã làm chức năng điêu khắc, tạo nên những bức tượng đài bất hủ về người mẹ trong chiến tranh – Người mẹ cầm súng. Trong các tác phẩm của Nguyễn Thi, hình tượng người má, người mẹ mang đậm chất Nam Bộ bao giờ cũng gợi cảm hứng sáng tạo mạnh mẽ nhất cho ông. Họ là một nguồn sinh lực dồi dào, họ sinh ra những đứa con để nối tiếp huyết thống, họ dạy con đế nối tiếp truyền thông, bản thân họ là hiện thân cho truyền thốdng gia đinh để các con noi theo. Họ có thể ngã xuống  vì bom đạn kẻ thù, nhưng họ sẽ tái sinh trong máu thịt và sống lại trong cuộc đời của những  đứa con. Họ bát tử , má của Việt và Chiến trong thiên truyện này là người như vậy. Trước khi nhập ngũ, Chiến và Việt đều cảm thấy má trở về ngồi  đó.

Những người phụ nữ nông dân Nam Bộ như má Việt sinh ra và lớn lên trong máu lửa của hai cuộc chiến tranh khốc liệt những người như má Việt phải chắc khỏe về thể  chất và kiên cường, mạnh mẽ về mặt tinh thần đế đủ  sức chống chọi với gian nguy, khó nhọc. Hãy xem Nguyễn Thi khắc họa bức chân dung người phụ nữ nông dân Nam Bộ ấy: “Má bơi xuồng thiệt khỏe, đầu hơi cúi xuống, cái nón rách mướp để lộ cái gáy đo đỏ và đôi vai lực lưỡng,[…] xuồng cập bến mặt má vẫn  đỏ rực, cái nón rách được ngả ra làm quạt, lưng áo bà ba đẫm mồ hôi đã  đen lại không còn thấy bạc nữa […]tiếng chân má đi bịch bịch vào nhà. . Lần này má rinh thúng lúa lên một mình và đặt ngay trên giường ngủ”. Người má ấy thật tần tảo xốc vác , sáng sáng lời dặn dò vừa tới tai con thì má và xuồng đã ở tít giữa sông. Chiều chiều mặt còn đỏ rực và đẫm mồ hôi đã lại bơi thuyền đì, mãi  canh hai khuya khoắt má mới trở lại nhà, người sực mùi lúa gạo và mồ hôi, mùi của đồng áng và một nắng hai sương.

Trên đất nước như đất nước mình, ở một thời như thời kì chống Mĩ cứu nước mới có thể có những người má như má Việt, mới có nghị lực cắn răng nén chặt đau thương để sống, nuôi dạy, che chở cho đàn con và tiếp tục chiến đấu làm mẹ là một nguồn sống mạnh mẽ mà không sự tàn bạo, đau thương nào khuất phục nổi. Tận mắt Chiến và Việt chứng kiến người má của mình cố nén đau không rơi lệ khi ba bị giặc giết, mãi “Chiều hôm đó về tới nhà má mới khóc… Bao nhiêu năm sau đó cũng vậy, lúc nào nói đến chuyện trên má cũng không khóc”. Nếu có lúc nào không chịu nổi lệ ứa ra, thì “má chỉ nằm khóc chứ không kể gì hết”. Bao nhiêu đau thương ngườì mẹ vùi sâu vào cõi lòng, tự mình gánh lấy.

Tình yêu thương khiến má Việt không biết sợ, không chùn bước. Tình thương chồng , thương con ờ xứ sở này thời chiến tranh hiện ra dưới hình thức thật dữ dội, đau đớn: một người vợ tay bồng con, tay cắp rổ đi theo thằng giặc đòi đầu chồng, một người mẹ hiên ngang đối đáp với kẻ thù mà “hai bàn tay to bản” vẫn  “phù lên đầu đàn con đứng nép dưới chân”. Đó là bức tượng đài sừng sững mà Nguyễn Thi đã tạo nên trong tác phẩm của mình để lưu lại mãi mãi hình tượng người mẹ ở một xứ sở đau thương, cuộc sống quá nhiều khốc liệt ma rất đỗi kiên cường, bất khuất, hết sức đau thương mà cao cả.

3.Nhân vật Chiến – sự nối tiếp người mẹ

Đúng như chú Năm đã nói, con sông truyền thống của gia đình ví cho mỗi người một khúc, nhưng vẫn liền một dòng “con sông của gia đình ta cũng chảy về biển”. Người mẹ ngã xuống như dòng sông truyền thống vẫn tuôn chảy dào dạt. Và hình ảnh của má hiện hình trong sức sống của Chiến, con gái của má.

Chiến thừa hưởng của má cả vóc dáng hình hài và linh hồn: “hai bắp tay tròn vo sạm đỏ màu cháy nắng…, thân người to và chắc nịch”. Đó là con người sinh ra để xốc vác, để chống chọi, chịu đựng, đế chiến đấu và chiến thắng. Trong cái đêm trước khi lên đường nhập ngũ chiến đấu, Chiến mới thật sự giống má. Chiến lo liệu việc nhà thật chu đáo, trọn vẹn y hệt má: nào là gửi út em ở đâu, nhà cửa, ruộng nương giao cho ai trông nom, trồng hái, gửi bàn thờ má sang nhà chú Năm… Chị Chiến “nói in như má vậy”, cũng nằm với thằng út em trên giường ở trong buồng nói ra, hứ một cái “cóc” rồi trở mình. Trong thời gian ngắn ngủi đêm ấy, ba lần Việt phải thốt lên thấy chị Chiến giống in như má, nếu có gì khác thì đó là chị Chiến “không bẻ tay rồi đập vào bắp vế than mỏi”. Chính Chiến cảm thấy mình đang làm theo điều má nghĩ nên nói với cậu em: “Tao cũng lựa ý nếu má còn sống chắc má tính vậy, nên tao cũng tính vậy”. Trong giờ phút thiêng liêng ấy, người mẹ sống mãnh liệt trong tâm hồn những đứa con chí hiếu: “Cả chị cả em cùng nhớ đến má. Hình như má cũng đã về đâu đây. Má biến theo ánh đom đóm trên nóc nhà hay đang ngồi dựa vào mấy thúng lúa mà cầm nón quạt? Đêm nay, dễ gì má vắng mặt.

Là con gái, Chiến có sự kiên nhẫn đến gan lì của người từng trải cực khổ. Chiến đã ngồi cả ngày kiên nhẫn đánh vần cuổn sổ gia đình mà mỗi dòng thấm máu và nước mắt để nuôi dưỡng cho mình khát vọng không nguôi — chiên đấu và trả thù: “Tao đã thưa với chú Năm rồi. Đã làm thân con gái ra đi thì tao chỉ có một câu:

“Nếu giặc còn thì tao mất, vậy à!”. Là người  chị, lúc nào Chiến cũng nhường nhịn em, từ việc lớn đến việc nhỏ. Trong cả truyện ngắn này, chỉ có một lần Chiến không nhường em, ấy là lần cả hai chị em tranh nhau nhập ngũ. Người đọc dễ dàng chấp nhận hành động “nhanh hơn” này, nó không trái với tính cách của Chiến. Hành động ấy của chị còn bộc lộ một ý nghĩ cảm động: Chiến chưa muốn em mình sớm phải bước vào cuộc chiến đâu gian khổ, ác liệt,

4.Nhân vật Việt

Nhân vật Việt— từ tuổi thơ đi thẳng tới chiến trường Nhân vật Việt xuất hiện nhiều lần trên những trang viết của Nguyễn Thi. Việt là một chàng trai, rồi thành một người lính dũng cảm, nhưng dẫu sao anh cũng chi là một chàng trai mới lớn. Trong gia đình, Việt vẫn là một cậu bé. Cái chất trẻ con, lộc ngộc, vô tư của một chàng trai đang tuổi ăn, tuổi lớn của Việt bộc lộ sự hiếu động: suốt ngày Việt mải mê bắt ếch, câu cá, bắn chim..lúc nào cũng có cái ná thun trong người, Việt hiếu thắng, lúc nào cũng tranh hơn với chị (từ việc bắt ếch đến “vết đạn bắn thằng Mĩ trên sông Định Thủy”…). Thật ra, Việt không phải là người không thương yêu chị, nhất  là khi cha mẹ đã mất cả. Nhưng có một người chị hay nhường nhịn như chị Chiến thì Việt không thể  khác được. Cho đến khi nhập ngũ, chuẩn bị thành người lính, hay đã thành người lính, Việt vẫn lộc ngộc, vô tư, có phần trẻ con như thế. Nghe chị Chiến lo toan, bàn bạc việc nhà nghiêm trang thì Việt lúc “lăn kềnh ra ván, cười khì khì, lúc lại rình môt con đom đóm úp trong lòng bàn tay “, rồi ngủ quên lúc nào không biết”. Vào bộ đội, cầm cây súng đánh giặc mà Việt vẫn mang theo cây ná thun. Đặc biệt “trẻ con” là anh không dám hé cho ai biết mình có một người chị “Việt giấu chị như giấu của riêng vậy. Cậu ta sợ mất chị mà. Đánh giặc rất dũng cảm, dùng thủ pháo tiêu diệt xe bọc thép cùng “sáu thằng Mĩ lẻ”, nhưng khi bị thương lạc trên chiến trường Việt lại… sợ ma! (“Bóng đêm vắng lặng và lạnh lẽo bao tròn lấy Việt, kéo theo đến cả con ma cụt đầu vẫn ngồi trên cây xoài mồ côi và thằng chỏng thụt lưỡi hay nhảy nhót trong những đêm mưa ngoài vàm sông,…”). Sau những cố gắng phi thường, gặp lại anh Tánh và đồng đội, Việt vừa khóc, vừa cười hệt như một đứa trẻ “khóc đó rồi cười đó”…

Xây dựng nhân vật Việt hồn nhiên và trẻ thơ như thế Nguyễn Thi muôn nói với bạn đọc về một thế hệ trẻ Việt Nam bước vào cuộc chiến đấu rất sớm như là đi thẳng từ tuổi thơ đến chiến trường. Thế hệ trẻ ấy có thể rất hồn  nhiên, trẻ con, vô tư trong các mốì quan hệ gia đình và xã hội khác, nhưng cực kì nghiêm túc  trong những suy nghĩ về kẻ thù, về cuộc chiến đấu chống Mĩ xâm lược. Cho nên trong dòng sông truyền thống của gia đình, có lẽ Việt là người sẽ đi xa hơn cả. Không chỉ vì Việt lập được chiến công lớn nhất mà còn vì Việt là người luôn ở tư thế chủ động tiến công, tìm giặc mà đánh. Anh tân binh ấy chỉ có một mình trên trận địa, hai tay đau đớn, đôi mắt không còn nhìn thây gì vẫn quyết sông mái với kẻ thù: “Trên đời có mày, dưới đất  có mày, khu vừng này còn có mình tao. Mày có bắn tao thì tao cũng bắn được mày”. Trong một trận đọc lê ở rừng cao su , nhìn thấy bọn Mỹ sống sót thua tháo chạy, Việt tự hào nghĩ :. “Mày chỉ giỏi giết gia đình tao, còn đối với tao thì mày là thằng chạy”. Việt là hiện thân của sức trẻ tiến công, là hiện thân của ngày mai chiến thắng. Ngòi bút cúa Nguyễn Thi thật tinh tế khi nói về sự trưởng thành của những đứa con trong một gia đình có truyền thống yêu nước thương nhà.

Đoạn văn tả chị em Chiến và Việt khiêng bàn thờ má sang nhà chú Năm là một đoạn tuyệt bút của Nguyễn Thi. Một không khí thiêng liêng cảm động bao trùm lên cảnh vật và con người. Hai chị em khiêng bàn thờ má như đang đỡ má trên đôi vai lực lưỡng của tuổi trẻ đã trưởng thành, bước đi những bước vững chắc trên con đường gian nan mà trước đây má đã chọn, cùng má đi trong hương thơm của đất đai, hoa trái quê mình: “Hai chị em khiêng má băng tắt qua dãy đất cày trước cửa, men theo chân vườn thoảng mùi hoa cam, cơn đường hồi trước má vẫn đi để lỗi hết đồng này  này sang bưng khác”. Không khí linh thiêng ấy đã biến Việt thành một con người khôn lớn. Nghe tiếng chân “bịch bịch” của chị Chiến ở phía sau, “Việt thấy thương chị lạ. Lần đầu tiên Việt mới thấy lòng mình rõ như thế. Còn mối thù thằng Mĩ thì có thể rờ thây được, vì nó đang đè nặng ở trên vai”. Ba má và cả chú Năm có thể vui lòng vì thế hệ cháu con đã vượt lên đau thương để trường thành, bước tiếp, đi xa hơn trên con đường cách mạng mà gia đình đã lựa chọn. Dòng sông truyền thống của gia đình không bao giò cạn, vẫn dào dạt đổ về biển cả hùng vĩ, bao la..

Kết bài Những đứa con trong gia đình

Thiên truyện nói về những người con trong một gia đình nông dân Nam Bộ có truyền thống yêu nước thương nhà, căm thù giặc, thủy chung son sắt với quê hương. cách mạng.    Chính sự gắn bó sâu nặng giữa tình cảm gia đình vói tình yêu đất nước, giữa truyền thống gia đình với truyền thông dân tộc đã tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Nội dung tư tưởng sâu sắc nói trên được thể hiện bằng một bút pháp nghệ thuật già dặn, điêu luyện: trần thuật qua dòng hồi tưởng của nhân vật, miêu tả tính cách và tâm lí sắc sảo; ngôn ngữ phong phú, tính tế và đậm chất Nam Bộ

(Theo Nguyễn Kim Phong).

Xem thêm những đề thi khác về tác phẩm Những đứa con trong gia đình : những đứa con trong gia đình

Bài văn phân tích nhân vật Việt trong truyện Những đứa con trong gia đình

Đề bài :Phân tích nhân vật Việt trong truyện Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi

Bài làm

Mở bài:

Những đứa con trong gia đình là một trong số những sáng tác tiêu biểu của Nguyễn Thi. Thiên truyện thành công ở nhiều mặt, nhưng nổi bật nhất là nghệ thuật xây dựng nhân vật. Tác giả đã dành nhiều trang miêu tả những nét tính cách độc đáo của Việt, nhân vật trung tâm đã tạo nên sức hấp dẫn của tác phẩm.

Ta hãy phân tích nhân vật Việt.

Thân bài

Truyện Những đứa con trong gia đình được kết cấu theo những đợt hồi tưởng của người lính trẻ tên Việt bị trọng thương, thất lạc đồng đội trong mấy ngày đêm. Diễn biến truyện hết sức linh hoạt, xáo trộn không gian lẫn thời gian, đan chéo quá khứ với hiện tại, trong đó nhân vật Việt hiện lên với đầy đủ các nét về tính tình, tình cảm và tinh thần chiến đấu.

Là một chiến sĩ trẻ, Việt vẫn giữ tính hồn nhiên của một chàng trai mới lớn. Việt luôn luôn giữ trong mình cái ná thun mà từ nhỏ Việt đã từng bắn chim. Còn hiện tại, Việt cầm súng tự động, bá súng còn thơm gỗ, đánh Mĩ bằng lê, cái ná thun vẫn còn nằm gọn trong túi áo. Bị thương nặng đến đêm thứ hai, trong bóng đêm vắng lặng và lạnh lẽo, Việt không sợ chết mà lại sợ bóng đêm và sợ ma. Tính hồn nhiên còn thể hiện trong việc hay tranh giành với chị, từ những đêm Việt soi ếch ngoài ruộng đến việc lập chiến công. Soi ếch thì chú Năm phải đứng ra phân xử vì chị Chiến và Việt ai cũng giành phần nhiều là của mình, và chị Chiến bao giờ cũng nhường Việt. Sau này lớn lên,vết dạn bắn trên sông Định Thủy, chị cũng nhường… đi đến  đêm mít-tinh ghi tên tòng quân, hai chị em cùng tranh giành đi bộ đội, thật cảm động. Buồn cười hơn nữa là ở đơn vị Việt rất yêu quý đồng đội nhưng không nói thật là mình có chị. Việt giấu chị như giấu của riêng vậy. Cậu sợ mất chị mà.

Tình cảm đối  với gia đình của Việt được thể hiện thật sâu sắc. Vốn là hai chị em mồ côi, chị Hai ở xa, đứa em út còn nhỏ, tình cảm thương yêu của Việt đối với  chị thật sâu đậm. Sau khi cùng ghi tên vào bộ đội, sắp xếp việc nhà xong, Việt và Chiến khiêng bàn thờ mẹ sang gởi bên nhà chú Năm. Việt khiêng trước. Chị Chiến khiêng bich bịch phía sau. Nghe tiếng chân chị, Việt thấy thương chị lạ. Lần đầu tiên Việt mới thấy lòng mình rõ như thế. Còn mối thù thằng Mĩ thì có thể rờ thấy được, vì nó đang đè nặng ở trên vai.

Ngoài tình thương chị, Việt còn rất thương mến chú Năm. Tình cảm đó hình thành từ những ngày Việt còn nhỏ Việt thương chú Năm vì hồi đó chứ hay bênh  Việt. Mỗi khi cất giọng hò, chú làm như Việt chính là nơi cụ thể để chú gởi gắm những câu hò đó, hoặc chính Việt là những câu hò đó. Theo từng hình ảnh liên tưởng của chú Năm, có khi Việt biến  thành tấm áo vá quàng hoặc con sông dài cá lội..khi người Việt biến thành nghĩa quân Trương Định, ngọn đèn biển  Gò Công hoặc ngôi sao sáng ở Tháp Mười.

Trong lúc Việt bị thương, hình ảnh của cha mẹ thân yêu luôn chập chờn ẩn hiện trong hổi ức của Việt với bao kỉ niệm chua xót lẫn ngọt ngào. Dường như cả cuộc đời vất vả của má, mọi ý nghĩa lặng lẽ trong đêm của má, cả những hiểm nguy gian lao mà mà đã trải qua một cách không hề sợ hãi,tất cả điều được gom lại và dồn vào trong ý nghĩ cuối cùng này: “Để má ráng nuôi bây lớn coi bây có làm được việc gì cho cha bây vui không”.

Việt nhớ tất cả những ngày má kể ngày mấy mẹ con ôm rổ đi đòi đầu ba. Việt nhớ thật kĩ hình ảnh má đi làm suốt ngày… Canh hai má mới về… má rinh thúng lúa lên một mình… Việt ngửi thấy lúa gạo và mùi mồ hôi của má…

Phải sống, chiến đấu như thế nào, trả thù nhà, đền nợ nước ra sao cho xứng đáng là những đứa con trong một gia đình có truyền thống yêu nước, gắn bó vói cách mạng từ thời chống Pháp đến thời chống Mĩ? Việt đã chiến đấu bằng tất cả sức mạnh thể chất lẫn tinh thần, bằng ý chí bất khuất thừa hưởng từ một gia đình cách mạng. Ông nội của Việt, chú Năm, ba Việt đều tham gia kháng chiến chống Pháp. Cha bị Tây chặt đầu, mẹ bị trúng pháo của giặc,những hình ảnh thê thảm đó mãi in sâu trong tâm trí Việt. Chính mối thù nhà là động lực tinh thần và tình cảm thúc đẩy chị em Việt dũng cảm chiến đấu.  Do vậy, giữa trận đánh, bị thương nặng, mất liên lạc với đồng đội, trơ trọi một thân, chịu đói, chịu khát, mình đầy thương tích, Việt vẫn cam đảm chịu đựng, Việt mới cảm thấy chân tay tê dại, khắp người nước hay máu không biết chỗ ướt sũng, chỗ dẻo quẹo, chẽ khô cứng… Trời tối kì  lạ. Việt cho mũi lê đi trước, rồi tới hai cùi tay, hai cái chân nhức nhối cho nó đi sau cùng. Sau đó Việt bò gấp qua những cái gì nữa Việt không cần biết ,quên khắp cả người đang rỉ máu, quên cả trận địa sắt thép ngổn ngang mà một cành cây nhỏ đụng vào người Việt bây giờ cũng làm nặng thêm thương tích. Dù lúc tính lúc mê, Việt vẫn sẵn sàng chiến đấu mỗi khi choàng dậy. Việt day họng súng về hướng đó “Nếu mày đổ quân thì súng tao còn đạn”, Việt ngầm bảo bọn địch khi nghe tiếng xe bọc thép của chúng chạy mỗi lúc một gần. Tỉnh dậy lần thứ tư giữa đêm sâu thẳm, nghe tiếng súng đồng đội từ nơi xa, Việt vẫn cố gắng bò về hướng đó. Việt đã cố gắng bò đi được một đoạn, cây súng đẩy đi trước, ha cùi tay lôi người theo. Việt cũng không ý thức rằng mình đang bò đi, mà chính trận đánh đang gọi Việt đến.  Cuối cùng, đồng đội đã tìm được Việt. Dù kiệt sức, Việt vẫn giữ tư thế sẵn sàng chiến đấu sinh tử với kẻ thù: một ngón tay của cậu vần còn nhúc nhích, một viên đạn đã lên  nòng và chung quanh cậu, dấu xe bọc thép còn nằm ngang dọc. Hình ảnh người lính bị thương vẫn giữ tư thế ‘sẵn sàng chiến đấu đến hơi thở cuối cùng đã thể hiện được tính cách anh hùng của nhân vật.

Kết bài

Nguyễn Thi đã miêu tả nhân vật một cách sắc nét, từ tính tình, tình cảm đến tinh thần chiến đấu, không bằng những sắc màu tráng lệ mà qua hàng loạt hình ảnh sống thực, hồn nhiên đầy cảm động. Vói ngôn ngữ mang màu sắc Nam Bộ, tả những chi tiết về dáng cách, cử chi,lời nói của nhân vật phát huy tôi đa lời độc thoại nội tâm  những hồi ức khi đứt khi nối tưởng chừng như rời rạc nhưng thật ra r ất chặt chẽ, truyện đã khắc họa hình tượng một nhân vật tuổi trẻ anh hùng, đại biểu cho thế hệ thanh niên miền Nam anh hùng trong thòi kì kháng chiến chống Mĩ.

(Theo cuốn 200 Bài và đoạn văn hay 12 – ThS. Phạm Văn Đan Trường)

Xem thêm những đề thi khác về tác phẩm Những đứa con trong gia đình : những đứa con trong gia đình

Hình ảnh con người Tây Nguyên qua truyện ngắn Rừng Xà nu Nguyễn Trung Thành

Đề bài: Hình ảnh con người Tây Nguyên qua truyện ngắn Rừng Xà nu Nguyễn Trung Thành

Bài văn mẫu

Mở bài Rừng xà nu

Nói về các tác phẩm: Đất nước đứng lên và Rừng xà nu, có nhầ nghiên cứu văn học đã nhận định rằng:  Có thể  coi đây là những bản anh hùng ca mang đậm  tính sử thi và cảm hứng lãng mạn về cuộc chiến đấu của nhân dân Tây Nguyên , nói rộng ra là về hai cuộc chiến tranh nhân dân kì diệu của dân tộc ta. Tác giả Nguyễn Trung Thành (Nguyên Ngọc) thật sự đã khắc họa được những nhẵn vật anh hùng gắn bó thành một tập thể anh hùng vừa mang dấu ấn của thời đại, vừa đậm đà dáng nét Tây Nguyên.

Thân bài

Ta hãy phân tích vẻ đẹp của hình tượng các nhân vật nổi bật lên trong bôi cảnh hùng vĩ cùa Rừng xà nu: Tnú, cụ Mết, Dit và bé Heng.

Nhân vật trung tâm của truyện là nhân vật Tnú được tác giả khắc họa bằng những nét tính cách anh hùng, giàu chất sử thi. Trước hết Tnú rất gắn bó với cách mạng. Từ nhỏ Tnú đã từng nuôi giấu cán bộ và hoàn thành xuất sắc công tác giao liên. Khi bị giặc bắt, Tnú dũng cảm chịu đựng những đòn tra tấn của giặc. Sau khi vượt ngục, anh cùng cụ Mết tiếp tục lãnh đạo dân làng Xô Man mài giáo mài rựa chiến đấu chống lại kẻ thù.

Tnú tha thiết thương yêu bản làng. Sau ba năm chiến đấu trở về làng, anh nhớ rõ từng hàng cây, từng con đường, từng dòng suối, bổi hổi xúc động khi nghe tiếng chày chuyên cần, rộn rã của những người đàn bà và những cô gái Strá, cùa mẹ anh ngày xa xưa, của Mai, của Dít, từ ngày lọt lòng anh đã nghe tiếng chày ấy rồi. Anh yêu thương vợ con tha thiết. Chứng kiến cảnh kẻ thù man rợ dùng cây sắt đập chết mẹ con Mai, mỗi đau thương của T nú dâng lên tột đỉnh. Anh lao vào lũ giặc với một tiếng thét dữ dội và anh dang hai cánh tay rông như hai cánh lim chắc của anh Ồm chặt lây mẹ con Mai. Càng đau thương, Tnú càng căm thù giặc. Vợ con bị giết, lòng căm hận biến đôi mắt Tnú thành hai cục lửa lớn. Khi bị giặc bắt, mười đầu ngón tay Tnú bị đốt cháy, anh không kêu lên mọt tiếng nào (…). Răng anh đã cắn nát môi anh rồi.

Yêu thương, căm thù biến thành hành động. Tnú thét lên một tiếng. Chỉ một tiếng thôi. Nhưng tiêng thét của anh bỗng vang dội thành nhiều tiếng thét dữ dội hơn. Thế là cơn giông bão nổi lên. Cả làng Xô Man vùng dậy suốt đêm nghe cả rừng Xô Man ào ào rung động và lửa cháy khắp rừng… Nỗi đau xé lòng của Tnú đã khiến cho anh và đồng bào anh dứt khoát  đứng lên tiêu diệt cả một tiểu đội giặc hung ác. Riêng Tnú đi “lực lượng” để quyết tiêu diệt mọi kẻ thù tàn ác để bảo vệ bản làng, giải phóng quê hương. Chính trong thực tế chiến đấu mà nhân vật vươn lên nhận thức đó hiểu biết sâu sắc về kẻ thù và nâng lòng căm thù cá nhân lên thành căm thù chung của dân tộc.

Nhân vật tiêu biểu cho truyền thống của làng Xô Man là nhân vật cụ Mết. Lịch sử chiến đấu của làng, qua lời kể của cụ Mết, thâm sâu vào tim óc các thế hệ. Cụ là cầu nốì giữa quá khứ và hiện tại, là pho sử sống của làng. Tấm lòng cụ Mết đối với cách mạng trước sau như một. Cụ đã từng nói: “Cán bộ là Đảng, Đảng còn, núi nước này còn”. Trong những năm đen tối cụ Mết cùng dân làng Xô Man, từ thanh niên, ông già bà già, đến lũ trẻ, đi nuôi và gác cho cán bộ và năm năm chưa hề có một cán bộ bị giặc bắt hay giết trong rừng làng này.

Cụ Mết còn là linh hổn làng Xô Man. Chính cụ đã tìm ra chân lí dùng bạo lực để chiên đấu: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cam giáo” .Chinh cụ đã lãnh đạo dân làng đồng khởi. Hình ảnh ông cụ mắt sáng và xếch ngược, ngực căng như một cây xà nu lớn, cất tiếng nói vang vang như một mệnh lệnh thôi thúc họ vùng lên tiêu diệt kẻ thù… thật rực rỡ như trong một trang sử thi anh hùng: “Thế là bắt đầu rồi. Đốt lửa lên! Tất cả người già, người trẻ, người đàn ông, người đàn bà, mối người phải tìm lấy một cây giáo, một cây mác, một cây dụ, một cây rựa.

Ai không có thì vót chông, năm trăm cây chông! Đốt lửa lên”. Từ ngày ấy làng Xô Man trở thành thành làng chiến đấu. Đó là phần đóng góp không nhỏ của cụ Mết vào công cuộc giải phóng quê hương bản làng.

Nhân vật tiêu biểu cho những cô gái Tây Nguyên thời chống Mĩ, trưởng thành từ những đau thương và quật khởi của dân làng là nhân vật Dít. Trong thời gian dân làng Xô Man chuẩn bị chiến đấu, rồi bị địch bao vây, cụ Mết và Tnú dẫn đánh thanh niên vào rừng. Chỉ có  con Đít nhỏ, lanh lẹ, cứ sẫm tối lại bò theo máng nước đem gạo ra rừng cho cụ Mết, Tnú và thanh niên. Khi bị giặc bắt, Dít bị chúng bắt dọa, đạn chỉ sược qua tai sém tóc, cày đất  quanh hai chăn nhỏ… thì Dít vẫn đứng lặng giữa bọn lính, cứ mỗi viên đạn nổ, cái thân hình mảnh, dẻ của nó lại quật lên một cái nhưng đôi mắt nó thì vẫn nhìn bọn giặc bình thản… Ngày Mai bị giặc đánh chết và Tnú ra đi, trong khi mọi người, cả cụ già, đều khóc vì cái chết của Mai thì Dít vẫn lầm lì,  không nói gì cả, mắt ráo hoảnh.

Dít cũng giàu tình cảm thương yêu, khi Tnú về thăm làng, Dít đã là bí thư chi bộ vừa là chính trị viên xã đội. Như ngày nào, đôi mắt Dít vẫn mở to, bình thản, trong suốt khi gặp lại Tnú. Dù trong lòng rất vui: Dít vẫn nghiêm chỉnh thực hiện trách nhiệm kiểm tra giấy về phép của anh. Rồi từ chỗ gọi Tnú là đồng chí, Dít chuyển sang gọi anh là anh, xưng em thật tự nhiên, như người em gái nhỏ của Mai và Tnú ngày xưa và tỏ bày tình thân thiết: “Sao anh về có một đêm thôi… Bọn em miệng đứa nào cũng nhắc anh mãi”.

Cuối cùng tiêu biểu cho thế hệ trẻ tuổi nhất của dân làng Xô Man là nhân vật bé Heng. Ngày Tnú ra đi lực lượng, bé Heng mới đứng ngang bụng anh, chưa biết mang củi, chỉ  mới đeo cái xà-lét nhỏ  xíu theo người lớn ra rẫy. Ngày Tnú về phép, bé Heng lớn lên, cũng ít nói như những người dân làng Xô Man này, với cách ăn mặc và trang bị ra vẻ một người lính, một chiến sĩ du kích của bản làng. Làng Xô Man giờ đây trở thành làng chiến đấu và con đường vào làng phải qua hai cái dốc chằng chịt hầm chông, hố chông ngăn chặn địch. Bé Heng đã góp phần không nhỏ vào việc xây dựng những công sự này, nên tỏ ra rất hãnh diện. Sự trưởng thành của nhân vật còn thể hiện trong một cử chỉ nhỏ nhưng toát lên ý thức trách nhiệm và sự tiến bộ về’ sinh hoạt đời sống: Khi đưa Tnú ngang một con suối nhỏ bé Heng bảo Tnú rửa chân, nhưng đừng uống nước lạnh. Uống nước lạnh về chị Dít phê bình đó.

Nếu cụ Mết xứng đáng với hình ảnh cây xà nu đại thụ giữa rừng xà nu bạt  ngàn xanh thẫm thì bé Heng tượng trưng cho cây xà nu mới lớn ngọn xanh rờn,  hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời sẽ phát triển đến đâu, chưa ai lường được.

Kết luận cho bài Rừng Xà nu

Nghệ thuật miêu tả nhân vật của Nguyễn Trung Thành mang những nét độc đáo đượm khí vị Tây Nguyên anh hùng. Nếu rừng xà nu tượng trưng cho con  người Tây Nguyên kiên cường, thi các nhân vật cụ Mết, Tnú, Dít, bé Heng là hình ảnh những lớp cây xà nu đại diện cho thế hệ nối  tiếp nhau của dân làng Xô Man, được khắc họa bằng nhũng nét tính cách cụ thể và sinh động. Qua rừng xà nu ta hiểu biết và mến yêu thêm đất nước và con người Tây Nguyên. Họ đã đóng góp không nhỏ vào sự nghiệp chiến đấu chung để giải phóng dân tộc.

(Theo cuốn 200 bài và đoạn văn hay 12)

Xem thêm :Tuyển tập đề thi về tác phẩm Rừng Xà nu , SGK Ngữ văn 12 gồm : Phân tích hình tượng nhân vật T nú, Hình tượng cây Xà nu, ý nghĩa đoạn mở đầu và đoạn kết thúc truyện, tính sử thi trong Rừng Xà nu. Ý nghĩa hình ảnh bàn tay T nú…. Tất cả đều có ở link này :  Rừng xà nu